NỖI HẨM HIU CỦA LÝ LUẬN PHÊ BÌNH HIỆN NAY
VĂN GIÁ
Bài viết này(*) tôi không nhằm vào đánh giá những ưu điểm vốn không đáng kể của nền lý luận phê bình hiện nay (vì việc này không khó), mà chủ yếu đi vào những hạn chế, khiếm khuyết của nó. Có thể những lời nói của tôi khó nghe đối với ai đó, nhưng biết làm sao được. Nói theo cách nói của người miền núi: Tôi chỉ biết nói lời cây mọc thẳng.
1.Giới làm lý luận - phê bình (LL-PB) bị bỏ rơi
Trước nhất xin nói về cái cụm từ “lý luận - phê bình”. Thực ra thì lý luận khác với phê bình, mặc dù nó có liên đới. Một đằng quan tâm trên bình diện lý thuyết mang tính trung tính về văn chương, còn một đằng quan tâm đến các giá trị cụ thể của văn chương thuộc về tác phẩm, tác giả, vấn đề của đời sống văn học đương đại. Tuy nhiên, tạm gác lại vấn đề khu biệt, tôi vẫn tạm sử dụng cụm từ quen thuộc này; vả lại, trên thực tế, có một chuyện khá phổ biến ở ta là đại đa số những người làm lý luận đều làm phê bình cả.
Trở lại với LL PB, tôi hoàn toàn không nói ngoa rằng: giới làm nghề này đã bị bỏ rơi, bỏ quên từ lâu chứ không phải đến bây giờ.
Chứng cớ là:
- Chưa bao giờ Hội Nhà văn, hoặc các Nhà xuất bản của Hội tiến hành ra các tuyển LLPB thuộc các giai đoạn, thời kỳ văn học, trong khi đó về sáng tác thì khá đều.
- Sau Hội nghị những người viết văn trẻ, hay các đợt tập huấn thường niên, Hội nhà văn chưa bao giờ ra tuyển tập LLPB, trong khi đó chỉ có các tuyển sáng tác.
- Chưa bao giờ có trại sáng tác dành riêng cho những người viết phê bình, nhất là phê bình trẻ.
- Trong một số Hội nghị LLPB vốn rất hiếm hoi, số người viết phê bình trẻ được tham gia rất ít, đã thế khi tham dự hầu như không được phát biểu, không được đối thoại, đến dự để cho có mặt gọi là.
- Trong các cuộc thi về thơ, về văn xuôi, các thành viên Ban giám khảo chưa bao giờ có một nhà LLPB nào tham gia chấm giải. Các giải chỉ do các nhà sáng tác bầu bán, không có giới LLPB phản biện. Đó cũng là một trong những lý do làm cho chất lượng giải thấp.
- Trong kế hoạch bồi dưỡng của Hội nhà văn thường niên, đã từng có để ý đến bồi dưỡng đội ngũ những người viết LLPB. Tuy nhiên, cách tiến hành thường qua loa, làm cốt để gọi là có, diễn ra khoảng tuần, với những bài nói chuyện đại ngôn tráng ngữ, không đâu vào đâu, không đi vào nghiệp vụ cụ thể, thí dụ như cách viết một bài phê bình thế nào thì không một bài giảng nào quan tâm.
- Trong các cuộc tiếp xúc với các tổ chức và cá nhân thuộc văn học nước ngoài do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, trong số các thành viên được mời, những người làm LLPB thường cũng bị bỏ quên nốt.
Như vậy, đội ngũ những người làm LLPB vốn đã thưa vắng, thời nào cũng vậy, cho đến hôm nay về cơ bản vẫn bị bỏ quên, mặc dù lời nói bên ngoài thì vẫn rằng một rằng hai đề cao LLPB. Những quan tâm kiểu ấy không đem lại giá trị thúc đẩy nâng cao LLPB, mà nhiều khi còn có màu sắc giễu cợt. Cuối cùng, LLPB chỉ còn là nỗ lực của mỗi cá nhân, những ai tha thiết với nghề (dĩ nhiên có cả những người tuy không tha thiết, nhưng không viết thì không biết làm gì khác).
2. Các tác phẩm LL-PB bị rẻ rúng
Như ta biết, làm LLPB là một nghề chứa đầy hiểm họa. Đào tạo một người làm LLPB tử tế nhất thiết phải qua bậc học vấn tối thiểu là đại học. Còn người sáng tác không nhất thiết phải như vậy.
Thế nhưng, các tác phẩm LLPB được đối xử thế nào?
Các tờ báo đều đánh đồng hoạt động LL-PB, nhất là phê bình chỉ như là những bài đọc sách, điểm sách, mạn đàm, nhàn đàm... về các vấn đề thuộc sinh hoạt thực tiễn văn học. Như vậy, nó chỉ quan tâm tới phê bình kiểu báo chí, chứ xem thường, thậm chí khinh miệt những tác phẩm LLPB chuyên nghiệp. Chứng cớ là, các tờ báo quy định viết chỉ cần mang tính phổ thông, dễ hiểu, ngắn, dung lượng chỉ cho phép đến vậy, viết theo đơn đặt hàng của các ông chủ báo. Nếu dài quá so với quy định là cắt. Nếu trình bày hàn lâm, nhiều khái niệm quá, cắt. Cuối cùng là các bài LLPB chỉ là loại phê bình kiểu báo chí. Loại phê bình này cũng quan trọng ở chỗ là nó làm báo dưới hình thức giới thiệu, đưa tin về văn học, thế thôi, chứ nó không có khả năng đi sâu vào hoạt động phê bình, tức là thẩm định cắt nghĩa, đánh giá giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm. Yêu cầu này chỉ có thể đạt được khi phê bình chuyên nghiệp lên tiếng.
Mà phê bình chuyên nghiệp lại vượt khung khổ của một tờ báo thông thường. Nó buộc phải viết có ngọn ngành, bài bản với khung lý thuyết, với khái niệm, với những diễn giải khoa học... Nên buộc nó phải có độ dài nhất định. Trong khi đó các báo không chấp nhận những bài dài. Mâu thuẫn là ở đó.
Chính vì thế, ngày nay do cung cách của báo chí, LLPB trong con mắt của đại đa số, đã tự biến thành hoạt động thông tin báo chí thuần tuý, đánh mất vai trò chuyên nghiệp và tính trí thức của nó.
Thêm nữa, việc trả công cho một tác phẩm phê bình vô cùng thảm hại. Sáng tác dẫu sao vẫn được trả khá hơn. Mỗi bài phê bình đúng nghĩa phê bình của chúng tôi đăng trên sân nhà (báo chuyên văn nghệ) được trả nhuận bút khoảng 200 đến 250 ngàn đồng. Mà viết được bài phê bình tử tế phải đọc ngày đọc đêm, phải phân loại, thống kê, so sánh, tổng hợp, khái quát, đặt trong tính hệ thống của chính tác giả, của thể loại, của nền văn học trong cả hai chiều lịch đại và đồng đại... Ôi chao, vô cùng công phu, vất vả nếu muốn thuyết phục được người đọc, nếu không muốn bị chê là cảm tính, nói vu vơ, vòng vo ngoài tác phẩm. Người đọc ít ai nghĩ để viết được một bài phê bình khoảng 2000 chữ về một tác giả, anh phải đọc hết trên nghìn trang, thậm chí vài nghìn trang tác phẩm của tác giả đó.
Ai là người kiên nhẫn viết phê bình mãi được mà không thấy chạnh lòng với cách trả nhuận bút như vậy.
ấy là chưa kể phê bình còn chịu cái nhìn định kiến từ phía không ít các nhà văn. Đại đa số họ chỉ thích đọc bài phê bình về chính mình chứ không thích đọc bài phê bình về người khác, mà lại chỉ thích bài khen chứ không thích bài chê. Cái chủng chẳng cố hữu giữa dân sáng tác và dân phê bình thời nào vẫn thế.
Có lần gặp một bạn viết vào nghề chưa lâu, anh ta nói hung hăng rằng thơ ca suy cho cùng không cần đến phê bình. Tôi nói rằng: chỉ có thơ ca tuyệt đỉnh may chăng mới không cần đến phê bình, còn lại nó luôn luôn cần phê bình, mà tuyệt đỉnh giá trị thì vô cùng hiếm, trong số đó chắc chắn không có thơ của anh.
3. Hoạt động LL-PB hiện nay đang bị... loạn
- Phê bình chuyên nghiệp hiện đang rất thiếu người. Chưa ai làm phép thống kê xem tỉ lệ giữa người làm LLPB so với giới sáng tác xem thế nào, tôi cầm chừng tỷ lệ khoảng 1/30. Thế thì làm sao có thể đọc hết, bao quát hết thực tiễn sáng tác được. Vả lại với con số ít ỏi đó, nói thật, không có ai chuyên tâm làm công việc này. Họ phải đi dạy học, làm báo, làm đủ thứ nghề để mưu sinh. Ai chăm sóc họ? Ai nuôi sống họ? Không ai! Tuy nhiên thì đôi bữa nửa tháng họ vẫn nhớ nghề, vẫn muốn tỏ mình, vẫn có đôi bài tử tế, đành đăng trên một số tạp chí, mà tạp chí thì mấy người đọc ngoài một số người trong nghề.
Trong tình hình như vậy, phê bình báo chí lên ngôi, thống trị, ngang nhiên (và có khi cả ngang ngược), khen chê búa xua, bất chấp tính khoa học. Phê bình kiểu báo chí đã làm được một điều đó là: đem lại cho người đọc một ảo tưởng rằng tất cả nền phê bình chỉ có thế. Và căn cứ vào đó người ta chê bai, đổ lỗi cho phê bình đủ thứ tội nợ.
Xin thưa, từ khi ngành phê bình ra đời, chỉ có loại phê bình chuyên nghiệp mới có thể đại diện cho tiếng nói phê bình của một nền văn học, còn phê bình báo chí và phê bình nghệ sĩ chỉ là những bổ sung, làm sinh động hóa nền phê bình mà thôi chứ chúng không có tư cách đại diện.
- Nhìn vào bản thân các tác phẩm phê bình được coi là có nghề cũng không phải không có chuyện. Theo quan sát của tôi, chúng lại rơi vào mấy căn bệnh khá nguy hiểm này:
Một là, căn bệnh hư văn, tức là nói những chuyện đẩu đâu, vu vơ, ngoài lề, không đi vào thực tiễn văn bản, vào vấn đề bình giá trực diện. Nói ra các vấn đề thấy đúng cả, nhưng đúng một cách chung chung vô ích. Nói chung chung thì dễ, nói cho thấu đáo, trách nhiệm mới khó.
Hai là, căn bệnh súng sính khái niệm, đọc vào toàn thấy khái niệm thiếu tính xác định, chưa được nghiền ngẫm cẩn thận, nghe xủng xoảng cho oai, chứ không mang lại hiệu quả gì. Trong trường hợp này, tôi thật sự quý một vài cây bút phê bình trẻ, trước khi ứng dụng tri thức lý thuyết phê bình mới, họ đã có giới thiệu những điểm căn bản nhất của lý thuyết, được khai thác từ nguồn trực tiếp, cấp một (chứ không phải nguồn thứ cấp, tức là dẫn theo), rồi sau đó mới ứng dụng vào phê bình trường hợp. Nhưng những tấm gương lao động như thế đang còn rất ít. Mong sao cách làm bài bản này sẽ ngày càng được coi trọng.
Ba là tình trạng không hiểu thực sự giá trị đích thực của văn chương là gì? Câu hỏi này tưởng như dễ mà kỳ thực vô cùng khó. Nếu hiểu thực sự văn là gì thì sẽ hiểu đâu là văn thật, đâu là văn giả, đâu là văn ngụy. Và từ đó mới thấy văn hay là thế nào. Có một số ngòi bút phê bình quen thói phức tạp hóa những điều vốn không có gì khó hiểu, và nhầm lẫn tưởng phức tạp là sâu sắc. Đọc vào bài viết của họ mới đầu thấy có vẻ thông thái, nhưng đọc xong không hiểu họ định nói gì. Đó là căn bệnh mà đại thi hào Goethe đã từng giễu cợt là bệnh thông thái rởm. Lại có không ít người sính cái lạ mà không thấy được chất văn thực sự, nên đã đồng nhất chất văn (tính nghệ thuật) với cái lạ. Nếu xét kỳ cùng, lạ mà hay thì là điều đáng mong. Sợ nhất lạ chỉ để mà lạ thì không mấy ý nghĩa, quá lắm nó chỉ có giá trị gây hấn nghệ thuật mà thôi. Không ít bài phê bình hiện nay chạy theo cái lạ, nhầm cái lạ với tính nghệ thuật, với giá trị. Bản thân cái lạ chưa là giá trị, cái lạ - hay mới là giá trị. Hiện nay không ít các cây viết trẻ tìm kiếm cái lạ một cách điên cuồng, nhưng vẫn hiếm thấy cái lạ - hay. Cái lạ hay này nó phải có máu của tư tưởng mới thành được, nếu không chỉ còn là thời thượng.
Bốn là tình trạng chữ nghĩa và diễn đạt chạy theo mốt (modern). Gần đây, một số công trình dịch thuật, nhất là dịch thuật triết học, tiêu biểu là các công trình của nhà nghiên cứu và dịch thuật triết học Bùi Văn Nam Sơn tương đối phổ biến. Trong đó, ông phải sử dụng một loạt các từ, hoặc các thuật ngữ do ông sáng tạo, hoặc ông lấy lại từ kho từ vựng/ thuật ngữ trước 1975 ở sinh hoạt học thuật miền Nam. Một số người do không có điều kiện đọc các sách LLPB phía Nam trước năm bảy nhăm, nên cứ tưởng là mới, thế là đổ xô vào bắt chước. Tầm vóc Bùi Văn Nam Sơn sử dụng có cái tư thế riêng của ông, chứ còn người khác bắt chước, đọc vào không tránh khỏi cảm giác chướng chướng.
ấy là chưa kể đến những thói tật của phê bình thời nào cũng có như viết theo kiểu cánh hẩu, hoặc quy chụp, hoặc xúc phạm cá nhân, hoặc tự cao tự đại vô lối, hoặc xem thường người khác... Nhìn chung là thiếu tính trí thức và văn hóa. Những điều này đã bàn nhiều, và chưa thể nói là đã giải quyết xong.
4. Một vài đề xuất
Bây giờ không nên khách sáo nữa, tôi có mấy đề xuất cụ thể như sau:
- Các hoạt động văn chương như hội thảo, hội nghị, tiếp xúc với văn nghệ sĩ quốc tế, các cuộc thi văn học... cần có người làm nghề LLPB tham gia. LLPB bao giờ cũng cần được hiểu như là một kênh đối thoại, một trợ lực điềm tĩnh và có chất lượng khoa học cho các hoạt động kể trên.
- Cần phân biệt giữa phê bình chuyên nghiệp và phê bình báo chí. Phân biệt không phải để đánh giá cao thấp, mà cốt để có đối xử cho công bằng, sử dụng bài vở hợp lý, và từ đấy cũng có chế độ nhuận bút công bằng, xứng đáng.
- Mỗi tờ/ trang/ chuyên trang văn nghệ nên đặt một số người thường xuyên viết phê bình về tác giả, tác phẩm mới, và trả lương xứng đáng cho họ. Cách làm này của phương Tây. Thí dụ ông Giám đốc Hội đồng Anh có cho chúng tôi biết là: mỗi tờ báo ở nước này thường thuê vài ba nhà phê bình viết đều đặn cho họ về các tác phẩm mới ra, các tác giả và các vấn đề của đời sống văn học đương đại, và trả lương xứng đáng cho họ, nên chất lượng phê bình, cả phê bình chuyên nghiệp lẫn phê bình báo chí đều được bảo đảm. Liệu chúng ta có dám bỏ tiền ra thuê các nhà phê bình không?
- Có thể thành lập một ấn phẩm riêng cho ngành lý luận - phê bình tương tự như Tạp chí Thơ, Tạp chí nước ngoài hiện nay. Đây là một diễn đàn tập hợp các tác phẩm LLPB đủ loại, thuộc nhiều phương pháp, phong cách khác nhau một cách có tổ chức và phân công hợp lý.
- Nên thường xuyên có những tập huấn, đào tạo đối với những ai muốn viết phê bình, nhất là những cây bút trẻ đi theo nghề này. Mà tập huấn nhất thiết phải đi vào chuyên môn nghiệp vụ, chứ không trang bị nghị quyết, thời sự chính trị như hiện nay.
- Tăng cường tổ chức dịch thuật, giới thiệu các lý thuyết và các tác phẩm LLPB của nước ngoài vào Việt Nam. Hiện giờ việc tiếp cận lý thuyết mới đã có triển vọng nhờ các chuyên gia truyền bá và ứng dụng, nhất là một số cây bút trẻ có ngoại ngữ được tiếp xúc lý thuyết tận nguồn. Tuy nhiên thì hiện nay vẫn là nỗ lực của mỗi cá nhân chứ hoàn toàn chưa có tính tổ chức.
- Chấn chỉnh lại các trang, chuyên trang LLPB trên các báo trung ương và địa phương. Tìm người có đầu óc tổ chức, có chuyên môn LLPB, có kiến văn rộng rãi, có tinh thần cởi mở trong tiếp cận cái mới, cái khác biệt để phụ trách, trao cho họ cái quyền được tổ chức bài vở có hiệu quả và trách nhiệm cao.
*
Muốn làm được tất cả những điều trên, chúng ta phải thực sự quyết tâm vào cuộc, chứ cứ bàn mãi như lâu nay cũng sẽ không đi đến đâu. Thí dụ các Hội từ trung ương tới địa phương nên bớt đi những khoản chi tiêu lãng phí, không cần thiết, để tập trung kinh phí, thời giờ, nhiệt huyết cho hoạt động LLPB này.
Trên đây là ý kiến của riêng tôi trong tư cách người làm nghề, tư cách hội viên. Những hạn chế mà tôi nêu lên cũng có một phần trong chính bản thân tôi. Tuy nhiên, sự tự ý thức như vậy luôn luôn có ích cho sự tiến bộ. Tôi tâm niệm điều đó.
Hà Nội, 17-6-2011
V.G
(*) Tham luận Hội thảo “Nâng cao chất lượng lý luận, phê bình VHNT” trong khuôn khổ chương trình phối hợp giữa Hội VHNT các tỉnh, thành phố vùng Kinh đô Việt Nam xưa và nay: Hà Nội, Thừa Thiên- Huế, Ninh Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa do Hội VHNT Thanh Hóa đăng cai tổ chức ngày 22-6-2011
MỘT VÀI Ý KIẾN NHÂN GẶP GỠ, TỌA ĐÀM
TẠP CHÍ VĂN NGHỆ CÁC TỈNH BẮC MIỀN TRUNG
Nhà văn TỪ NGUYÊN TĨNH
(Nguyên Tổng Biên tập tạp chí Xứ Thanh)
...
Làm tạp chí ở địa phương bao giờ cũng gặp khó. Lượng người viết ít, không thuận lợi cho anh rộng đường lựa chọn bài vở. Tạp chí ở trung ương in bài không phải lúc nào cũng hay cả, nói thế không có nghĩa là biên tập địa phương in ẩu, bài vở dở kém chất lượng. Làm tạp chí bây giờ khó hơn trước. Chỉ riêng quảng cáo để cải thiện nhuận bút và đời sống cũng bị cạnh tranh hết sức dữ dội. Nhiều báo và tạp chí xuất hiện, các đại diện mọc lên, mà lại của trung ương chứ có phải của địa phương đâu, nên không kiên nhẫn thì không xin được quảng cáo, mà không có quảng cáo, thì "báo"- "tạp chí văn nghệ địa phương" thật khó khăn. Dẫn đến nhuận bút thấp, không thu hút được người viết.
Lực lượng cộng tác viên là sự trái chiều của hai thái cực. Già đi rất nhiều, so với thế kỷ trước. Lúc mới ra đời (hội và tạp chí) họ còn trẻ trung hừng hực tinh thần xả thân cho văn nghệ. Nay thì đã lên lão, sức viết chậm, vốn cạn dần, người có vốn muốn dốc túi để trả nợ hồi kết. Trong khi đó, cây bút trẻ lại chưa chiếm lĩnh kịp. Không phải hội, tạp chí không lo đào tạo, mở các cuộc thi, nhưng kết quả lại vẫn vắng những cây bút trẻ. Lúc ở quê, có viết cũng là đá gà đá vịt, khi lên đại học lại tẻ sang một hướng khác, có khi mừng hụt tưởng là nhân tài, nhưng sau vài tác phẩm lặn mất tăm. Tạp chí Xứ Thanh đi tìm người viết trẻ, biên tập trẻ cũng khó như tìm vàng.
ở tỉnh lẻ, không có nhiều các viện nghiên cứu, trường đại học, nên hiếm các nhà nghiên cứu văn hóa và lý luận có uy tín. Mong có cộng tác viên về mảng này, nhưng nếu có cũng không phải là đã đáp ứng được. Các giáo sự, nhà lý luận cũng mấy ai muốn in trên tạp chí "hẻo lánh" ít người xem. Vả lại họ làm gì có tác phẩm của các nhà văn địa phương bảo để viết bình luận, chê khen. Thậm chí, gửi bài về để in nhiều khi bình về tác phẩm dịch, tác phẩm in ở đâu tận Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh, hoặc là tranh luận với một ông nào đó mà độc giả địa phương chưa hề đọc chứ nói gì biết mặt. Người biên tập, không in thì nể, in thì chả khác gì đánh đố cả chính mình. Vậy ai sẽ giúp cho tạp chí địa phương làm tốt cho khâu lý luận này. Hay chỉ mong chờ vào sự xuất hiện ngẫu nhiên và ăn may?
Phát hành là khâu nan giải nhất. Nói rằng trung ương tài trợ cho văn nghệ sĩ nhiều tiền lắm. Nhưng được đồng nào, giữ ở bên Hội, tạp chí nào có chỉ thị chính sách nào đâu. Chính trong làng báo ở tỉnh anh cũng bị phân biệt. Người ta có thể mời hết mọi đại diện, nhưng riêng tạp chí văn nghệ địa phương, là một trong bốn cơ quan báo chí chính thức nhưng bị bỏ qua. (Có thể tôi nhớ thời kỳ mình làm, chứ bây giờ chắc là khác). Phát hành một ngàn bản với dân số Thanh Hóa 3,5 triệu thì bình quân trên đầu người thật là đáng phàn nàn.
Qua gặp gỡ này, mong vui bạn bè, học tập được tạp chí các tỉnh bạn nhiều điều, trong đó có khâu phát hành và nhuận bút là quan trọng. Vì nếu nhuận bút thấp, không khuyến khích được người viết, cộng tác viên sẽ ít đi, bài vở khan hiếm thì làm sao mà có điều kiện lựa chọn bài hay. Tất cả các khâu mà làm tốt, nhưng phát hành ít, không đến được người đọc, coi như giá trị bị hạn chế, kèm theo nhiều thứ khác nữa bị thiệt thòi.
Cũng xin mạnh dạn đề nghị một số vấn đề.
Đối với trung ương, cụ thể là ủy ban Toàn quốc Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam: Cần có chính sách đầu tư hàng năm, trong số tiền tài trợ của chính phủ về cho hội địa phương, cần phân định cho tạp chí địa phương một khoản nhất định, để tạp chí có điều kiện "nâng cao chất lượng".
Có sự tác động cần thiết để cơ quan báo chí văn nghệ địa phương có trụ sở phù hợp với sự đổi mới ngày nay. Nơi làm việc thật sự là nghèo và nhếch nhác, chưa xứng với tầm một cơ quan báo chí.
Đối với địa phương:
- Tạo điều kiện để tạp chí có trụ sở làm việc không thua kém nhiều công sở trong tỉnh nhà, hay khả dĩ không bệ rạc như công sở của thế kỷ trước.
- Đưa tạp chí văn nghệ địa phương vào danh mục phát hành tới đội sản xuất, xóm, với vùng núi vùng sâu vùng xa thì nên cấp không cho các xã để họ đọc, "xóa đói giảm nghèo" về văn học nghệ thuật.
- Có quỹ nhuận bút cho tạp chí, không để tạp chí tự kiếm trả cho người viết rất bị động, đã quá lạc hậu so với giá cả thị trường và định mức nhuận bút của Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch. Nhuận bút thấp không khuyến khích được người viết.
- Tạp chí địa phương được thông báo mọi hoạt động chung cùng các cơ quan báo chí khác như là một sự bình đẳng và trách nhiệm của cơ quan báo chí.
- Hàng năm, tạo điều kiện về ngân sách để tạp chí mở trại bồi dưỡng cho các cây bút trẻ, triển vọng. (Từ 10-15 người, từ 10 đến 15 ngày)
Nếu được sự quan tâm những đề nghị trên, ít nhiều tạp chí sẽ được cải thiện. Nâng cao chất lượng biên tập, in ấn là việc làm không thể thiếu được của mình trong sự tồn tại trước công chúng, bạn đọc.
Đối với tạp chí 6 tỉnh Bắc miền Trung:
Giao lưu trao đổi toàn diện, từ khâu biên tập sử dụng bài, phát hành và cả nhuận bút, cách xin quảng cáo, v.v... Có dành đôi dòng, giới thiệu tạp chí các số, để giúp tỉnh bạn có thêm đội ngũ cộng tác viên. Và quảng bá rằng đang có một tạp chí như thế tồn tại.
Sáu tỉnh trong khu vực nên đề nghị, thư viện, hoặc Hội Văn học, mua ít nhất số tạp chí đủ cho Ban Chấp hành, đó cũng là cách để Ban Chấp hành góp phần có tầm mở, nhìn nhận đúng hơn về tạp chí tỉnh mình. Cũng là điều kiện cho phép trong ngân sách tài trợ của chính phủ, không sai về quy định sử dụng. Tăng thêm sự giao lưu về văn nghệ mà cụ thể tạp chí là cách giúp cho bước đi gần mà hiệu quả nhất.
Đối với tạp chí Xứ Thanh:
Biên tập phải thực sự cầu thị, lắng nghe ý kiến góp ý của bạn đọc. Biên tập công tâm, ưu tiên sử dụng bài có chất lượng. Cương quyết không nể nang, cánh hẩu, sử dụng bài không hay, sai về kiến thức và nghệ thuật, biến tờ tạp chí thành lá cải, mất dần uy tín mà các thế hệ đã gây dựng.
Phải xây dựng được đội ngũ cộng tác viên thân thiện. Có khả năng viết bài, có tâm huyết với tạp chí để sử dụng trong những số cần và tạo ra diện mạo, uy tín của tạp chí.
Bằng mọi cách, cải thiện về chế độ nhuận bút, thấp và lạc hậu, không phù hợp mà các báo, tạp chí đã bỏ từ lâu, nhất là trong điều kiện giá cả như hiện nay. Nói là viết báo không ai nghĩ đến nhuận bút, chả khác chi phát động thi đua mà không có đánh giá và khen thưởng, không ai muốn thi đua, tạo ra sự nói xuông, làm sao tạp chí là diễn đàn nữa?
Một số ý kiến, góp phần vào nguyện vọng "nâng cao chất lượng tạp chí'' tỉnh nhà không bị tụt hậu, để hội nhập cùng các tỉnh bạn trong khu vực và cả nước.
Tháng 7-2011
T.N.T
TRẦN TIẾN, NGƯỜI SÁNG LẬP THỂ
KÝ TỰ THUẬT TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM,
TỪ NĂM 1764
TRẦN NHUẬN MINH
Trần Tiến người làng Điền Trì, nay là thôn Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông sinh giờ Dần ngày 18 tháng11 năm Kỷ Sửu (1709), tên chữ là Hậu Phủ, tên hiệu là Cát Xuyên, Khiêm Đường. Ông là con Tiến sỹ, Tham tụng Lễ bộ Thượng thư - Diệu Quận công Trần Cảnh, nhà nông học đầu tiên của Việt Nam, cháu nội Tiến sĩ, Bồi tụng, Hình bộ Thượng thư - Lễ bộ Tả thị lang, Phương Trì hầu Trần Thọ, nhà thơ và nhà ngoại giao thời Lê. Ông đỗ tiến sỹ năm Mậu Thìn (1748), làm quan Phó đô ngự sử, Công bộ Hữu thị lang, tước Sách Huân bá, là nhà sử học và nhà văn nổi tiếng thời Lê, tác giả các bộ sách: Đăng khoa lục sưu giảng (sử) Cát Xuyên thi tập (thơ) Cát Xuyên tiệp bút (ký) Niên phả lục (ký) Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (ký)...
Theo gia phả, tác phẩm Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, được Trần Tiến viết khoảng năm 1758 - 1760. Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) trong Quần thư khảo biện, viết: “về Mạc Đĩnh Chi đã có Cát Xuyên tiệp bút của Thượng thư họ Trần người Điền Trì, nay không nói thêm nữa” (dẫn theo GS Trần Văn Giáp). Sách Thần quái hiển linh lục, hiện còn lưu trong Thư viện Hán Nôm cũng ghi tương tự như vậy. Do đó có thể nói, tác phẩm này của Trần Tiến rất nổi tiếng và thông dụng đương thời. Nhiều chục năm nay, Cát Xuyên tiệp bút đã thất lạc, phần còn lại về Mạc Đĩnh Chi, in lẫn trong Tục Công dư tiệp kí, tác phẩm của Trần Trợ (Trần Quý Nha), là con của ông. PGS - TS Nguyễn Đăng Na, căn cứ vào những xác nhận trên, bóc tách ra thành một phần riêng, ghi rõ là của Trần Tiến, in ở phần Bổ di, cuối tác phẩm Tục Công dư tiệp ký (Nxb Văn học, 2008). Hơn nữa, văn phong của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với Tục Công dư tiệp ký cũng rất khác nhau. Nếu căn cứ vào tác phẩm này, rồi đối chiếu vớí tất cả những gì đã ghi về cuộc đời, giai thoại, câu đối, thơ phú... của Mạc Đĩnh Chi, trong các sách báo đã xuất bản, đều thấy trùng khớp với tác phẩm của Trần Tiến. Từ đó, có cơ sở để suy ra, hầu hết các nội dung về Mạc Đĩnh Chi có trong sách báo sau này, đều xuất phát từ một bản gốc là truyện ký của Trần Tiến ở thời Lê. Vậy mà các sách báo xuất bản lâu nay, không nêu xuất xứ để ghi nhận công lao ban đầu của Trần Tiến, là không công bằng. Nguyễn Đăng Na trong lời nói đầu khi dịch tác phẩm này, cũng khẳng định và “ghi nhận công lao này là của Trần Tiến”.
Niên phả lục (1764) là tập ký nổi bật trong các tác phẩm của Trần Tiến. PGS-TS Nguyễn Đăng Na đánh giá: đây là “bộ sách có giá trị lớn, nó đánh dấu một mốc quan trọng trên con đường phát triển văn xuôi tự sự Việt Nam, đặc biệt về thể ký...” Với thành tựu quan trọng đó, Trần Tiến đã “mở ra cho mình một lối viết riêng, không giống bất cứ một ai trước đó, đồng thời đặt nền móng cho những người đi sau noi theo, như Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ...” (Lời giới thiệu Niên phả lục, Nxb Văn học, 2003).
Niên phả lục gồm 2 tập ký riêng biệt. Tập đầu là Tiên tướng công niên phả lục, viết về cha mình, Tham tụng - Thượng thư Trần Cảnh. Tập sau là Trần Khiêm Đường niên phả lục, viết về bản thân mình, khi ông 55 tuổi, hoàn thành vào một ngày mùa đông, năm Long Tập, Giáp Thân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 25 (1764) tại lỵ sở xứ Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa) khi ông làm quan ở đó, với chức danh đầy đủ là Triều liệt đại phu, Tán trị thừa chánh sứ ty, Tham chính xứ Thanh Hoa, mà ông đã ghi ở Lời Tựa, đầu sách. Theo GS - TS Nguyễn Đăng Na, với Trần Khiêm Đường niên phả lục, Trần Tiến đã sáng tạo ra một thể loại mới trong văn xuôi Việt Nam là ký tự thuật, từ năm 1764. Nguyễn Đăng Na viết, với tác phẩm này, “lần đầu tiên trong văn xuôi tự sự Việt Nam có một tác phẩm ký tự thuật. Chỉ khi con người ý thức được về mình, ý thức về vai trò và vị trí của mình, thì loại hình tự thuật mới ra đời. ở thời trung đại, mấy ai dám làm như vậy”. Nguyễn Đăng Na nhận xét: “Khi thuật lại cuộc đời mình, tác giả luôn giữ thái độ trung thực, thật thà, kể cả khi nói về sự “quanh co” của mình”. ở đây, lần đầu tiên, cái Tôi “trở thành nhân vật trung tâm trong tác phẩm, để từ đó, mọi sự kiện được quan sát, đánh giá, miêu tả dưới điểm nhìn trực diện của anh ta. Điều này, tất cả các tác giả trước đây, chưa một ai làm được”.
Mở đầu tác phẩm tự thuật, Trần Tiến viết: “Tôi họ Trần, thuở bé tên là Tân, lớn lên tên là Kính, lại có tên là Tiến, tự là Khiêm Đường, con của Thừa tướng Trần công, do bà Quận phu nhân họ Nguyễn sinh ra. Nghiêm quân tôi từng nói rằng, ngài có số ẩn tướng, sẽ sinh quý tử, đến năm 26 tuổi thì sinh ra tôi. Thuở bé, tôi ngỗ ngược, khó dậy dỗ, người nhà đều lấy làm lo ngại...” Ông tự nhận xét: “Lại nữa, tôi bẩm tính ngu độn và không được mẫn tiệp, lại không biết nghề gì, tuy có nhã nhặn, thực thà, nhưng không tài hoa, ngoài ra chẳng có gì hơn người”.
Lời văn tự thuật chân tình, thành thật, ấm áp, mà rất già giặn, đầy sự tin cậy và chia sẻ, được viết xong từ năm 1764, mới thấy cái giá trị mở đầu vẻ vang của nó cho một thể loại văn học tự sự, do chính ông khai mở. Với lối viết điềm đạm, khiêm nhường, thân mật và thấm thía như thế, Trần Tiến thuật lại toàn bộ cuộc đời mình, từ khi sinh ra, lớn lên, rồi đi học ở An Quảng (nay là Quảng Ninh). Năm Tân Sửu (1721), “thân phụ đến nhậm chức Đốc đồng xứ An Quảng. Tôi đi theo để học”. Năm Nhâm Dần (1722) “tôi theo thân phụ, học tập tại xứ An Quảng, và làm thơ phú rất có khả quan, có câu luận như sau:
Cổ giả Quản Y phi dị ngộ
Dụng chi công hóa khởi nan thành
(Người xưa như Quản Trọng, Y Doãn không dễ gặp
Dùng họ, công hóa há khó thành)
Và một số câu đối nữa. Thân phụ hết sức khen ngợi”.
Như vậy, Trần Tiến viết bài thơ đầu tiên ở Quảng Ninh ngày nay, khi ông mới 13 tuổi. Trong tác phẩm, ông thuật lại nhiều việc diễn ra, từ kinh đô đến các xứ Hải Dương, An Quảng, Sơn Tây, Sơn Nam, Thanh Hoa, Kinh Bắc..., chủ yếu xoay quanh hai việc lớn, một là nông dân khởi nghĩa mà ông chứng kiến, hai là học hành thi cử mà ông trực tiếp tham gia, khi là thí sinh, khi là quan giám khảo, với rất nhiều chi tiết sinh động. Ông thuật lại năm đi thi đầu tiên (1726):
“Năm 18 tuổi, khoa Hương thí năm Bính Ngọ, phụ thân muốn tôi đi thi. Tôi cho rằng, lực học của mình chưa tới độ, nên không đi thi. Tiên quân tôi cũng không cưỡng.
Năm 19 tuổi, tôi mới vào trường Giám tập văn bài. Bấy giờ văn học đang thịnh hành, sỹ tử tới học đông như mây tụ, người trúng bảng tới gần 300, tôi trúng thứ 15. Khi đến lĩnh quyển, quan Tri giám người Thiên Kiệm, Thanh Liêm là Thượng thư họ Trương, lấy quyển của tôi xem, khen “được” đến hai ba lần và nói rằng: “Ta đỗ đại khoa năm 21 tuổi mà văn chương chưa được như thế này. Cố lên! Cố lên!”.
Và đây là sự việc diễn ra sau cuộc thi cuối cùng (thi Tiến sỹ năm 1748):
“Xem xướng danh xong, tôi ra về, giữa đường gặp con trai quan Thượng thư người Hoạch Trạch là Nhữ công, dừng lại nói chuyện. Bấy giờ, ông ta không được thủ khoa, hơi phật ý. Tôi an ủi. Ông bỗng nhiên nói: “Khoa này trúng đại danh chỉ có huynh và tôi. Người khác tuy đỗ đứng trên, nhưng không đáng ngại”. Lúc đó, tôi cũng hơi biết, tự nghĩ rằng, tuy ông nói vậy, nhưng thực ra là tự nói về bản thân, bèn đưa đẩy: “Huynh là bậc kỳ tài trong thiên hạ, chứ không phải của riêng xứ ta. Còn như danh sỹ trường ta, cũng rất nhiều người như đệ đây, sao so được với huynh”. Ông nói: “Không đúng! Tôi không phải là kẻ nịnh đời, nhưng đã từng bàn luận với các quan huyện, phủ, xin kể qua các danh sỹ đỗ cao các huyện, quyển trúng chỉ có một hai câu hay. Nhưng xem bài của huynh, không phải loại bình thường. Đại thành khoa này là huynh và đệ, không khác được”.
Về nguyên nhân thi trượt các khoa trước, tác giả cũng thành thật nhận ra:
“Bấy giờ, tôi có một người bạn ở Nhuế Đông, thường xuyên đi lại, nói rằng: “Học vấn của huynh toàn những thứ đâu đâu, thực không thể có kết quả. Cần phải theo thời thế mới được”. Nhờ đó, tôi bỗng nhiên tỉnh ngộ, bèn khổ luyện văn bài, trước tác toàn thứ văn khoa cử, rất biết cần phải chuẩn bị như thế nào cho cuộc ứng thí... (Nguyễn Đăng Na dịch).
Theo Nguyễn Đăng Na, áy tự thuật của Trần Tiến, được ông “viết rất hay. ý tứ thì sâu kín nhưng rõ ràng, mạch lạc. Nội dung tác phẩm lại phong phú và hấp dẫn. Đúng như người đời thường nói, văn của đại gia, ý tại ngôn ngoại”...
Ông mất giờ Mão ngày 7-5 năm Canh Dần (1770) tại nơi làm việc, các quan đưa về mai táng tại quê nhà, được vua Lê Hiển tông ban tên thụy là Trung Cẩn, sau truy thăng Lễ bộ Thượng thư.
T.N.M