Sign up
DỰ THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ
vannghexuthanh | 29 Nov, 2011, 19:07 | XỨ THANH THÁNG 10/2011 | (17 Reads)

 HÀ MẠNH LUÂN

 

 

 

DƯƠNG THỊ HẰNG

(Lớp 12V. THPT Lam Sơn)

PHẠM TÚ ANH

 

(Trường Phổ thông Dân tộc nội trú

huyện Ngọc Lặc)

 

PHẠM TÚ ANH

 

 

 

 Hương quê

  

Em quen với mùi bùn đất

Em quen với mùi cỏ cây

Quen với dòng sông xanh ngắt

Mùa đông anh ghé nơi này

 

Chiều nay gió về lạnh giá

Chợ phiên họp muộn vắng người

Se se lòng như chiếc lá

Cuộn tròn giữa mùa đơn côi

 

Anh về kịp ngày hội mới

áo khăn xúng xính ra đình

Hội làng thêm nhiều người mới

Có người kế nghiệp liền anh

 

Em quen ao làng lá rủ

Bờ tre hồn hậu quanh làng

Cỏ may tím chiều nhắc nhở

Ngày em theo chồng, sang ngang

 

L.T.P.L

 

 

 Thu xưa

  

Đừng trách em nhé mùa thu

Lối xưa em không trở lại

Thời gian hững hờ đi mãi

Cuốn theo tuổi em đôi mươi

 

Đừng trách em nhé người ơi

Ước thề xưa đành để ngỏ

Kỷ niệm rơi vàng trong gió

Em về khắc khoải heo may.

 

Đường xưa chắc lá rụng đầy

Xao xác lòng người qua phố

Có ai nhắc gì nỗi nhớ

Mà nghe tê tái trong nhau...?

 

Tất cả đã hóa thương đau

Cả mùa thu vàng cũng vậy

Chỉ lối xưa còn đứng mãi

Nuối tiếc ngày thu xa xôi.

P.T.A

 

 

  

Giêng hai

 

 

Gió giêng tiếc thì con gái

Qua chiều thở buốt vườn quê

Day dứt hoa xoan tím rụng

Chông chênh biếc lối ai về.

 

Giêng đi khép lòng mùa hội

Người về cuối nẻo trời xuân

Tròng trành câu duyên trao vội

Đa mang ta gánh ưu buồn.

 

Sân làng phơi mùa lặng ngủ

Nát lòng cỏ giữ dấu chân

Vắng tênh cuộc chơi bỏ ngỏ

“Duyên kỳ ngộ”...? được bao lần...!

 

Người mang tháng giêng sang hội

Về đem câu hát theo mùa

Hoa xoan tím lòng thương nhớ

Tháng hai mưa ướt tương tư.

P.T.A

 

 

 LÊ THỊ PHƯƠNG LAN

 

Đen

 

Truyện ngắn

 

Không còn ai nói với tôi về Đen, con mèo có cái tên cũng là màu lông của nó ấy, đã vĩnh viễn bỏ đi từ cái đêm mưa cuối hạ dạo đó...

Lần trở về này của tôi như một điều tất yếu. Như cún con đói lòng lần đến buồng vú mọng căng hay như én nhỏ tìm về với nắng xuân ấm áp. Bao nhiêu năm rồi! Bụi bặm Hà Nội nhuộm sạm da tôi, và đôi mắt trong veo giờ đã hoen nâu màu khói!

Nhưng tôi vẫn thấy Đen của ngày xưa! Sự thực: không hiểu vì sao lần trở lại này tôi đã âm thầm nuôi hi vọng được gặp lại nó. Xem nào: nó chắc hẳn cũng đã già lắm, lông sẽ không dày không đen mượt, đôi mắt ngả vàng thiểu não cùng phản xạ tinh nhanh học được từ một cuộc sống hoang! Đen sẽ nhận ra tôi!...

Bố rao bán căn nhà. Cái biển đề “bán đất” cùng hàng số điện thoại bị tôi nhổ đi. Ông trừng mắt, nhưng tia máu giận dữ rân rân trên mặt ông lặn đi ngay tức khắc. Là vì trên má tôi: những giọt nước mắt đuổi nhau hòa nhập. Tôi đã quỳ xuống van ông, như cái cách người ta xin tha mạng sống!

Căn nhà được giữ lại. Bố tôi bay vào Nam theo người đàn bà mới. Từ đó, cánh cổng gỗ- lúc ấy còn thơm nước sơn - khép lại, khóa chặt những gì nằm phía sau nó...

Hà Nội. Một ngày xám. Trời tuôn mưa ào ạt như nước mắt tôi tỉ tê trong lòng. Mưa không thấy mặt người, phố phường ngập trong biển nước. Xe cộ được dịp nghỉ ngơi, đây đó một vài chiếc thuyền tôn hiếm hoi xuất hiện. Nước dâng ngang bụng, tôi bước đi từng bước nặng nề, càng nặng hơn khi đột ngột có vật gì đó bám chặt lấy chân phải tôi. Tôi quờ tay xuống, giật mình chạm phải một thân người mềm nhũn...

Người con gái được tôi cứu khi nàng chẳng may xẩy chân xuống miệng cống bật nắp dạo ấy, chính là vợ tôi bây giờ! Cảm kích trước ơn huệ trời biển của tôi, bố nàng đã đưa tôi về nhà, xin cho học cấp ba cùng nàng - hai đứa chạc tuổi. Thời gian thấm thoắt trôi đi, tôi và nàng yêu nhau lúc nào chẳng hay. Nghiễm nhiên tôi trở thành người thành phố!

Người thành phố! Căn hộ ba tầng mặt đường khu Cầu Giấy, lúc nào cửa kính cũng đóng chặt. Mỗi sáng, tôi phải đứng rất lâu trước tấm gương bồn rửa mặt. Mọi thứ đều ngăn nắp bóng loáng, nhìn có vẻ sạch sẽ. Nhưng mũi tôi lúc nào cũng nhiều hỉ! Bụi! Thứ bụi vô hình và tổng hợp, chỉ khi nó ken chặt lỗ mũi rồi mới hay! Ngày ngày tới tòa soạn rồi trở về như một con ong cặm cụi, tôi vẫn thấy nơi đây ngột ngạt. Hình như ở thành phố thiếu ô xi...

Không phải nhiều lần, mà là thường xuyên hình ảnh Đen xuất hiện trong tâm trí tôi. Mỗi khi đêm về, tôi thường giành một tiếng để ngả mình trên chiếc ghế bành trên tầng thượng. Đêm tối nhiều hôm trời không trăng sao, giống như cả vùng trời câm trong kí ức mà tôi vẫn âm thầm giấu kín...

Lần trở về này của tôi như một điều tất yếu. Chắc hẳn vợ con tôi giờ này đã dậy và đang hoảng hốt trước sự vắng mặt đột ngột của tôi kèm dòng tin nhắn lại “anh đi công tác đột xuất”.

Ngoài ba mươi tuổi. Nhiều nơi tôi đến và đi, chỉ kịp ghi nhớ bằng các bài báo để lại, cùng sự tìm hiểu qua loa về vùng đất ấy đủ để nhận được cái gật đầu của sếp. Duy có nơi này, mọi sự hiện hữu hay vô hình đều đã ăn sâu vào mạch máu, nhưng tôi chỉ có ý định đào xới nó trong góc khuất trái tim...

Cỏ dại mọc ngang hông người trên khoảng sân gạch trước nhà. Cánh cửa gỗ xanh mục ruỗng, chỉ đợi bàn tay người ẩy nhẹ là xiêu vẹo. Vụn gạch và cát vữa rải đầy trên lớp nền bê tông. Không khí đã mốc, kỷ niệm cũng lên rêu!

Đây rồi! căn buồng có ô cửa sổ rộng nhìn ra khoảng ao lăn tăn sóng. Đó là vương quốc ăm ắp mộng mơ của thằng bé tôi một thời.

Cửa sổ trông ra làn nước lấp loáng. Cái bờ ao có những mỏm đất bạc đầu, mỗi độ gió bấc xé lá chuối ràn rạt, dáng mẹ gầy lại liêu xiêu bên làn nước, cắt lá chuối khô đem về nấu cám lợn. Có những tên chẫu chàng tinh ranh hay phụt nước tiểu khi mẹ hạ buồng chuối tiêu quả đều tăm tắp. Có dàn muống nước thân đỏ tía giăng hoa tím phai bên các miệng lỗ chuột đồng đùn lên đầy vụn đất...

Chỉ trách mẹ đã không còn là mẹ như của ngày xưa.

Mẹ đã rời xa cái bờ ao có những mỏm đất bạc đầu ấy, để đem về những thứ xa lạ tôi chẳng thể quen...

Kể từ năm cuối cấp hai, những hình ảnh thân thương phía sau ô cửa sổ không còn nữa. Xuân về, mưa phùn lích tích ngân trên khoảng ao sáng nước, nhìn bóng những đàn én nhỏ sải cánh về miền xa xôi, lòng tôi quặn lên nối nhớ mong khôn xiết.

Tròn một năm, mẹ về. Chiếc giường đơn kê sát ô của sổ của tôi bị thay thế bằng chiếc giường đôi gỗ lim đen lịm. Con trai đã lớn, nhưng mẹ nhớ mùi con trai mẹ, mẹ vào ngủ chung. Nhớ mùi con, nhưng mẹ chẳng thể ngửi, bởi mùi nước hoa sực nức trên người mẹ đã át đi tất cả; bởi mái tóc xoăn nhuộm vàng của mẹ không còn là ngọn tóc đen mượt hương bồ kết ngày xưa để con hít hà. Bởi mẹ nằm cạnh con, nhưng mẹ đam mê hơi ấm khác! mẹ hít hà mùi lông của con mèo đen mà mẹ mang về từ Đức!

Con mèo đen bị bố ghét. Nó chỉ quen ăn pho-mát, xúc-xích, hăm-bơ-gơ... không quen ăn tôm cá tanh nồng đồng đất quê mình!

Năm tôi học lớp mười một, mẹ lại về. Có những chuyến trở về, để mà đi mãi mãi. Tôi còn nhớ như in ánh mắt đục mờ và nụ cười méo sệch của bố tôi hôm ấy! Bố cầm cục tiền bọc lớp giấy báo mẹ trao, bất động trong làn khói thuốc lào xanh eo óc...

Chiếc ô tô con nháy đèn, bấm tuyn tuyn ngoài cổng. Mẹ gọi tìm con mèo Đen. Lạ là nó không ngoan ngoãn ùa tới mẹ như mọi bữa nữa, lặng lẽ nó men vào cuộn tròn trong lòng tôi. Mẹ chạy đến bên chiếc va li để sẵn ngoài hiên, bật ô. Bóng mẹ nhanh chóng nhạt nhòa theo màn nước.

Khi ấy trời mưa rất to...

Con Đen sau đấy cuốn tôi như hình với bóng. Mẹ đi được một tuần, chiếc xúc xích cuối cùng cũng hết. Vào cái đêm con Đen bắt đầu ngấu nghiến nhai con cá đầu tiên, bố lặng thầm đến bên, thình lình phang vào mạng sườn nó một cú đấm. Khi tôi giật mình quay lại sau tiếng kêu óe, chỉ thấy một bóng đen lao vụt qua cửa. Đêm ấy, cũng lại là đêm mưa tầm tã...

Hôm sau bố gọi tôi dậy sớm, dúi vào tay tôi cục tiền. Trước cổng, tấm biển “bán đất” được dựng lên...

Ngoài ba mươi tuổi. Nhiều nơi tôi đến và đi. Một lần có chuyến công tác vào thành phố Hồ Chí Minh, cách đây mấy năm, tình cờ tôi được biết đến cuộc sống riêng của bố tôi. Ông đang rất hạnh phúc bên người vợ mới cùng hai đứa con gái sinh đôi xinh xắn. Ông thoáng giật mình khi bắt gặp ánh nhìn như trăn trối của tôi về phía ông, trong một nhà hàng sang trọng ven đường quốc lộ. Không ai hỏi ai. Chắc ông không thể nhận ra đứa con trai bỏ rơi của mình, vì tôi đã khác xưa nhiều lắm. Còn về phần tôi, nhìn vẻ mặt mãn nguyện của người mẹ kế cùng hai đứa em gái chung huyết thống, tôi đã nghĩ: chẳng nên khuấy đục cốc nước đã lắng cạn làm gì...

Có tiếng sột soạt phía sau lưng. Đôi mắt vàng thiểu não tròn xoe sợ sệt. Roạt, bóng đen lao nhanh ra cửa, mất hút...

                                                                                           H.M.L

  

 

 

  

Tìm xưa

 

Nỗi buồn như khúc sông sâu

Niền vui đến, tựa cơi trầu ngày xưa

Giọt buồn rớt những đêm mưa

Người đi hoa sữa cuối mùa tàn phai

Lê thê nỗi nhớ ngày dài

Bờ đê trăng tỏ chờ ai bây giờ

Thôi xin khép những mộng mơ

Cho tìm lại cái dại khờ thuở nao

D.T.H

 

 

  

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=340055

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN
vannghexuthanh | 29 Nov, 2011, 19:00 | XỨ THANH THÁNG 10/2011 | (5 Reads)

 

 

 

 

                 

 

                         NGUYỄN VIỆT CHIẾN

 CHIÊM NGHIỆM 'TỔ QUỐC NHÌN TỪ BIỂN'

 

 

 

Tổ quốc nhìn từ biển

 

 

 

 

 

 

Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển 

 

 

 

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo

Lạc Long cha nay chưa thấy trở về

Lời cha dặn phải giữ từng thước đất

Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể

Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù

Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ

Thương Hòn Mê bão tố phía âm u

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích

Những đau thương trận mạc đã qua rồi

Bao dáng núi còn mang hình góa phụ

Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa

Đã mười lần giặc đến tự biển Đông

Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử

Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng

Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo

Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn

Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy

Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân

Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả

Những chàng trai ra đảo đã quên mình

Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước *

Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát

Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời

Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất

Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi

(Trại viết Văn nghệ Quân đội, Hạ Long, 4-2009)

N.V.C

(* Mới đây người dân huyện đảo Lý Sơn đã tìm thấy một sắc chỉ của vua triều Nguyễn năm 1835 cử dân binh ra canh giữ đảo Hoàng Sa).

 

"Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển/ Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa/ Ngàn năm trước con theo cha xuống biển/ Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa", những vần thơ được Nguyễn Việt Chiến viết ra từ năm 2009, đang được lan truyền mạnh mẽ trong cộng đồng. Dưới đây là cuộc trò chuyện của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.

- Sau khi được đăng tải trên báo Thanh Niên, bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” của ông được lan truyền mạnh mẽ trên mạng. Ông có thể chia sẻ về sự ra đời của bài thơ?

Sau khi bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” đăng trên báo Thanh Niên ngày 29-5, tôi cũng không ngờ nó lại có sức lan tỏa nhanh đến thế. Bài thơ đã được rất nhiều trang mạng điện tử trong và ngoài nước cùng hàng nghìn blog đưa lại.

Người ta vẫn nói, nhà thơ thường có những câu thơ tiên tri. Tôi nghĩ giản đơn hơn, nhà thơ phải nói lên tiếng nói của nỗi đau và khát vọng dân tộc mình. “Tổ quốc nhìn từ biển” là bài thơ đầu tiên tôi viết sau chuỗi ngày hoạn nạn.

Ba tháng sau khi trở về tiếp tục nghề báo tại báo Thanh Niên, tháng 4-2009, tôi được mời đi dự trại sáng tác văn học của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Hạ Long. Trại sáng tác do tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp với Cục chính trị quân chủng Hải quân tổ chức với đề tài sáng tác "Biển, đảo và người chiến sĩ hải quân” với sự tham gia của đông đảo các cây bút sung sức trong và ngoài quân đội. Hôm khai mạc trại sáng tác, một sĩ quan cao cấp của quân chủng hải quân đã nói chuyện cả một buổi sáng với các nhà văn về tình hình biển - đảo của chúng ta hiện nay. Có lẽ đã rất lâu, tôi và một số nhà văn mới tiếp cận được những thông tin có thể gọi là khá nhạy cảm và nóng bỏng từ nhiều phía về đề tài này.

Tôi nghĩ, đối với những người cầm bút hôm nay, vượt lên trên tất cả vấn đề thời sự nhạy cảm ấy là tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đó được nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam qua nhiều thăng trầm, và hình như lại đang được khơi dậy trong những tháng năm này. Chính tình yêu đó đã thôi thúc tôi viết bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” ngay trong ngày đầu dự trại sáng tác văn học Hạ Long.

- Ông sáng tác bài thơ trong bao lâu?

Tôi viết bài thơ khá nhanh. Tôi dự trại viết có một ngày, hôm sau phải về Hà Nội vì có công việc báo chí. Trên đường về, có nhà văn quân đội hỏi tôi: “Ông đi dự trại sáng tác có một ngày thì liệu viết được gì?”. Tôi tự tin nói: “Tôi sẽ có một bài thơ để đời về đề tài biển - đảo vì tôi đã nghĩ ra một tứ thơ khá hay và độc đáo. Điều quan trọng là vốn sống văn học đã được tích lũy nhiều năm và trên hết là tài năng, sự hứng khởi và tấm lòng của người cầm bút đối với đất nước”. Chỉ cần một buổi sáng nghe lãnh đạo hải quân thuyết trình về những hiểm họa đang rình rập đất nước, tôi đã thấy mình như lên cơn sốt, muốn viết ngay một khúc tráng ca về những người con của Tổ quốc đã hy sinh ở Hoàng Sa và Trường Sa. Bài thơ tôi hoàn thành trong có một ngày.

- Tâm trạng của ông khi viết ra những câu thơ trong "Tổ quốc nhìn từ biển"?

Đó là sự thao thức, bồn chồn trước những hiểm họa đang đến gần trên các vùng biển đảo của Tổ quốc thân yêu. Đất nước của chúng ta liên miên trận mạc suốt bao đời, những nỗi đau thương chiến tranh còn ghi dấu nơi rừng sâu, biển thẳm. Và qua nhiều thế kỷ, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc chúng ta đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình, đã vĩnh viễn nằm dưới cỏ để gìn giữ non sông này, để mang lại tự do và hạnh phúc cho thế hệ mai sau... Những cảm xúc trên đã thao thức trong tôi suốt một ngày dài ở trại sáng tác văn học Hạ Long.

- Những câu thơ nào khiến ông phải day dứt nhất khi viết ra?

Ngay câu thơ đầu tiên mở đầu bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” tôi đã phải cân nhắc rất kỹ, nâng bút lên, đặt bút xuống nhiều lần. Câu thơ nguyên bản ban đầu là: “Nếu Tổ quốc bị xâm lăng từ biển / Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa” - ba chữ “bị xâm lăng” ở đây nghe có vẻ rất phù hợp vì Hoàng Sa của ta bị chiếm cứ rồi. Nhưng sau khi xem xét lại, tôi cho rằng, nếu để ba chữ “bị xâm lăng” ở đây thì câu thơ nghe có vẻ hơi nặng nề, nên tôi quyết định thay ba chữ ấy bằng “đang bão giông”. Do vậy khi in ra, câu thơ chính thức trên mặt báo là: “Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển / Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa”. Tương tự như vậy, có nhiều câu thơ khác tôi cũng phải suy ngẫm và xem xét khá kỹ trước khi cho công bố.

- Bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Minh Thuận phổ nhạc. Ông nhận xét thế nào về bản nhạc này?

Thật ra, tôi không biết ký xướng âm và cũng chỉ nghe nhạc sĩ Phạm Minh Thuận hát cho nghe đôi câu qua máy điện thoại nên cũng chưa dám có nhận xét gì về bản nhạc phổ bài thơ của tôi. Điều quý giá là tấm lòng của người nhạc sĩ phổ thơ tôi. Nhạc sĩ Phạm Minh Thuận cho rằng “Bài thơ này đã quá nổi tiếng rồi nên khi phổ nhạc cũng phải cân nhắc lắm”. Tuy nhạc sĩ đã cắt bỏ một số đoạn trong bài thơ và có sửa một số chữ, nhưng nhìn chung vẫn giữ được cái tinh thần cốt lõi của bài thơ.

- Tổ quốc và đất nước là nguồn cảm hứng lớn trong thơ ông. Sau “Thời đất nước gian lao”, ông lại tiếp tục gây xúc động với “Tổ quốc nhìn từ biển”. Theo ông, điều quan trọng nhất để những bài thơ Tổ quốc trở nên gần gũi, đi vào lòng người là gì?

Có người cho rằng, có thể tình yêu tổ quốc đồng nghĩa với trách nhiệm công dân của mỗi một con người trước số phận của dân tộc, của đất nước mình. Thôi, xin hãy bớt nói những điều lớn lao, những lời vĩ đại như vậy. Chúng ta là con dân của đất Việt, ông cha ta từ ngàn năm trước đã lên rừng, đã xuống biển để khai phá, dựng xây non nước này. Và, biển đảo ấy là một phần gia tài nghèo khó mà ông cha ta tự ngàn xưa đã không tiếc máu xương, công sức để giữ gìn, để truyền đời lại cho cháu con hôm nay.

Có thể nói, khi viết bài thơ này, tôi đã vượt được qua nỗi đau đời thường của riêng mình để nghĩ về Tổ quốc, để xúc động theo cách một nhà thơ khi cảm nhận tự do trong mỗi ngày đang sống. Không hiểu đấy có phải là điều đáng mừng hay đáng lo, bởi bài thơ đầu tiên khi tôi trở lại cầm bút lại là bài thơ viết về Tổ quốc - một đề tài lớn lao. Tôi nghĩ rằng hình tượng Tổ quốc trong thơ tôi (và trong thơ của nhiều nhà thơ Việt Nam yêu nước) là một chủ đề bất tận, có tính sử thi xuyên suốt qua nhiều năm tháng. Điều quan trọng là nhà thơ phải thở hơi thở đời sống của dân tộc mình và trái tim nhà thơ phải đập cùng nhịp với những khổ đau, mơ ước của nhân dân mình.

(Tư liệu từ giaoduc.net.vn)

 

 

 

 

TRƯỜNG CA ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH

 MỘT SỰ TRI ÂN ĐỒNG ĐỘI

 

(Lược thuật hội thảo trường ca đường Hồ chí Minh của tác giả Ngô Xuân Tiếu)

 

                                                               Bùi Lâm

 

 

 

Sáng 16 tháng chín năm 2011, tại phố Giáng, thị trấn trung du miền tây xứ Thanh, Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa và UBND huyện Vĩnh Lộc đã phối hợp tổ chức hội thảo tập trường ca Đường Hồ Chí Minh của tác giả Ngô Xuân Tiếu, hội viên Hội VHNT Thanh Hóa, người cựu chiến binh từng vượt Trường Sơn đánh Mỹ năm xưa. Đại diện lãnh đạo huyện Vĩnh Lộc, toàn bộ Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Hội, các nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học thuộc Hội VHNT Thanh Hóa và những người yêu thơ... đã dự hội thảo. Nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm, Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa và ông Nguyễn Văn Tâm, Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Lộc chủ trì hội thảo.

Trường ca Đường Hồ Chí Minh của tác giả Ngô Xuân Tiếu, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2009, được ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam tặng giải thưởng (năm 2010) “Là bản sao hiện thực nóng bỏng của chiến trường Trường Sơn những ngày khói lửa hơn 35 năm trước; Trùng điệp hối hả một thế hệ trực diện với bom đạn, đối mặt với kẻ thù: Có thể bất ngờ bom nổ/ Có thể phải hy sinh/ Nhưng đường phải thông là thước đo duy nhất. Thước đo lòng quả cảm và phẩm chất người lính” (Lời đề dẫn). Tại hội thảo, 13 tham luận đã được trình bày: Trường ca Đường Hồ Chí Minh, một kiểu chép sử bằng thơ, một sự tri ân Trường Sơn, đồng đội của nhà thơ Đào Phụng; Đường Hồ Chí Minh những trang sử của con đường huyền thoại của đại tá cựu chiến binh Trường Sơn Trịnh Xuân Bằng; Đường Hồ Chí Minh, con đường huyền thoại của nhà thơ Trịnh Ngọc Dự; Cái sự, cái tình và chất trường ca Đường Hồ Chí Minh của Ngô Xuân Tiếu của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Mạnh Hùng; Một vài cảm nhận về trường ca Đường Hồ Chí Minh của nhà thơ Nguyễn Trọng Liên; Cách xử lý hiện thực trong trường ca Đường Hồ Chí Minh của Ngô Xuân Tiếu của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm,v.v...

Hầu hết các tham luận đều thống nhất nhận định, bằng giọng thơ tự sự, kết hợp với tả thực với nhiều thể thơ đan xen đã lột tả được sắc thái bi tráng, hào sảng trong từng cảnh huống và nội tâm các nhân vật trong mỗi chương, mục. Với trường ca Đường Hồ Chí Minh đây cũng là một dịp chúng ta ôn lại, làm rõ thêm ý nghĩa to lớn của con đường huyền thoại Hồ Chí Minh, cũng như khẳng định tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Qua đó tri ân và tôn vinh những người anh hùng đã tham gia tuyến đường vận tải trong những năm tháng khó khăn chi viện cho chiến trường miền Nam để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Trong tham luận Trường ca Đường Hồ Chí Minh, thiên ký sự về đường Trường Sơn chống Mỹ, thạc sỹ Trịnh Quốc Tuấn viết “Hơn 170 trang sách mang tính hồi ức đầy xúc động, sống lại con đường mòn Hồ Chí Minh năm xưa mà vẫn tươi rói đến hôm nay, với tất cả những buồn, vừa bi thương, vừa hào sảng, tác phẩm như một thiên ký sự để dựng một tượng đài đường Hồ chí Minh trong thơ”; “Tác giả viết về Trường Sơn với tư cách là người trong cuộc, là chứng nhân của lịch sử. Điểm nhìn hiện thực và nghệ thuật của tác giả là điểm nhìn từ hiện tại nhìn về quá khứ, từ hiện đại nhìn về lịch sử. Ngô Xuân Tiếu bình tâm và xúc động xâu chuỗi các sự kiện, chi tiết, tình huống, con người vào từng trang viết. Hiện thực dần hiện lên một cách sinh động (...) Tất cả hiện thực ấy làm nên âm hưởng hoành tráng của tráng ca và bi ca thời đại. Cái được, cái thành công nổi bật của tác giả là đã thể hiện được chất trường ca từ tiêu chí ấy”.

Nhà thơ Trịnh Ngọc Dự tham luận “Bằng vốn sống thực tế, bằng những trải nghiệm dọc dài Trường Sơn, trên cương vị trợ lý Tuyên huấn trung đoàn thuộc Cục Công binh đoàn 559, tác giả Ngô Xuân Tiếu đã dựng lại không khí chiến đấu, lao động, mở đường, những tình cảm sâu đậm tình người, tình đồng đội, nghĩa hậu phương của những người lính công binh, những chiến sỹ vận tải Trường Sơn. Đó là những số liệu thuyết phục qua trải nghiệm của người trong cuộc nên tác phẩm của ông hừng hực khí thế của một thời cả nước chiến đấu và chiến thắng, đặc biệt là những con người chiến đấu trên mặt trận giao thông vận tải. (...) Đan xen giữa những con người, những sự kiện là kỷ niệm về tình người, tình yêu của tuổi trẻ ở chiến trường, là những mất mát hy sinh... Ta gặp nhiều khổ thơ cảm động “Xe ai đang còn cháy/ Mộ ai đắp vội đây/ Ngọn đèn đường vẫn đấy/ Em đi đâu giờ này/ Một cánh chim giã bạn/ Cô thanh niên xung phong/ Vệt lửa bom đêm ấy/ Giết em rồi phải không?” và rồi “Xe đã băng qua đèo/ Mà lòng anh gửi lại/ Gương mặt em đêm ấy/ Suốt đời anh mang theo...”

Trong tham luận của mình, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Mạnh Hùng lại đi sâu nghiên cứu Cái sự, cái tình và chất trường ca trong trường ca Đường Hồ Chí Minh của Ngô Xuân Tiếu: “Cái sự trong trường ca của Ngô Xuân Tiếu ta nhận ra ngay từ kết cấu, chương mục của tác phẩm, thuộc hình thức tác phẩm. (...) Chất trữ tình trong trường ca Đường Hồ Chí Minh là tình cảm chân thật của tác giả đối với quê hương, đất nước, đồng đội, người thân và bao trùm lên là cuộc sống, con người anh từng trải nghiệm, anh từng mang nặng ân tình”. Còn cái chất trường ca mà Nguyễn Mạnh Hùng rút ra là “Tất cả hiện thực ấy làm nên âm hưởng hoành tráng của tráng ca và bi ca thời đại. Và đó là chất trường ca nói chung, chất trường ca Đường Hồ chí Minh của Ngô Xuân Tiếu nói riêng”.

Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm lại tập trung nghiên cứu Cách xử lý hiện thực trong trường ca Đường Hồ Chí Minh của Ngô Xuân Tiếu: “Chất liệu hiện thực trong trường ca Đường Hồ Chí Minh gồm: Chất liệu hiện thực của bản thân tác giả...; hiện thực của con đường 559, chiến trường 559; hiện thực của thời đại, của lịch sử. (...) Chất liệu hiện thực được ông xử lý, chế biến cho nó chảy qua ý nghĩ, biến nó thành tư liệu gián tiếp, như “Đêm Củ Chi trong tầm bom dội/ Một ngôi sao sáng cả bầu trời/ Nón lá khăn rằn Bến Tre đồng khởi/ Giặc thất kinh con gái Mỏ Cày”. Đây là cách xử lý khôn khéo, tránh được nhược điểm bị phê bình là tạo dựng, thiếu tin cậy. (...) Cái ấn tượng rõ nhất khi đọc trường ca Đường Hồ Chí Minh là cách xử lý chất liệu thực tế của tác giả chủ yếu sử dụng dưới dạng nguyên liệu trực tiếp, gần với thông tấn thời sự, tích kê, thống kê, tổng hợp. (...) Mỗi người đọc sẽ tìm thấy ở Đường Hồ Chí Minh một cảm xúc riêng. Dưới góc độ thủ pháp nghệ thuật, tác giả Ngô Xuân Tiếu đã có đóng góp nhất định về cách xử lý chất liệu hiện thực trong trường ca”.

Góp phần khẳng định những thành công của tập trường ca, nhà thơ Nguyễn Trọng Liên trong tham luận “Một vài cảm nhận về trường ca Đường Hồ Chí Minh” đã trích những câu thơ mà anh cho là “đẹp”, “lấp lánh”, “lay động”, “dung dị” (chữ dùng của N.T.L):

Võng bạt chông chênh bên suối

Mái tăng lấp ló trăng soi.

...

Chông chênh võng đêm rừng lặng gió

Điếu thuốc rê lập lòe tàn canh.

...

Chôn xong bạn không sao ngủ được

Chim từ quy khắc khoải trăng suông.

...

Tôi không nghĩ là mình can đảm

Nhưng, vào trận là chẳng ngại hy sinh.

Với hai câu thơ này, nhà thơ Nguyễn Trọng Liên nhận xét “Hai câu thơ như một câu tâm tình. Hay quá, chân tình quá”.

Bên cạnh đó, tác giả bản tham luận cũng nêu “một số hạn chế của tác phẩm”: Tính chất anh hùng ca chưa được khai thác qua thơ. Tính đơn điệu của những dụng cụ làm đường như cuốc xẻng được tác giả khai thác liên tục nhưng chưa đủ sức lay động, chưa biến được chúng thành những vật dụng mang tính huyền thoại; Nhiều mục lẫn trong các chương có tít mà nội dung không hề đề cập đến; Một số nhân vật được đưa vào thì nhợt nhạt như chỉ là sự điểm danh. Nếu trường ca này được xây dựng như một trường ca có nội dung (tức là có một lớp nhân vật điển hình) thì thú vị và xác đáng hơn nhiều; Trong khi trường ca giành một mục nói về Tư lệnh mà không vẽ được hình bóng của ông; Một điều đáng tiếc là tác giả thường ngắt khổ thơ một cách tùy tiện. Nhiều câu thơ một nửa thì ở đoạn trên còn một nửa ý thì rơi xuống khổ dưới. Và, lỗi chính tả khá nhiều,v.v...

Hội thảo còn có các tham luận và phát biểu ý kiến của các nhà thơ, nhà văn: Trọng Nghĩa, Lê Khắc Tuế, Lê Văn Sự là những người đồng hương Vĩnh Lộc của nhà thơ Ngô Xuân Tiếu. Nhà thơ Lê Khắc Tuế tham luận “Vấn đề nghệ thuật trong thơ cũng được tác giả dụng công tìm tòi và cân nhắc để có được những câu thơ hay, đoạn thơ hay: Võng bạt chông chênh bên suối/ Mái tăng lấp ló trăng soi/; và Leo vách đá có đường sạn đạo/ Vượt dốc cao ta bám thang dây/ Dòng người đánh đu lên phía trước/ Những đôi dép lốp bước trong mây. Chữ bước đưa vào câu thơ thật đắt. Rồi Ngày luồn rừng lội suối/ Đêm ngủ dưới vòm cây/ Trăng treo trên đầu võng/ Mở lòng cùng ai đây...”

Nhà văn Trọng Nghĩa viết “Tác giả miêu tả trường ca này chẳng khác bức tranh lớn, ngang bằng hàng trăm bức tranh nhỏ hợp thành. Mỗi bức tranh thể hiện đầy đủ một binh chủng hào hùng, xen kẽ những mất mát, đau thương...”

Còn nhà thơ Lê Văn Sự lại khẳng định: “Với thời gian hơn một năm đầu tư viết, vì có chất liệu của mười năm lính Trường Sơn mà tác giả đã cho người đọc và các thế hệ mai sau hiểu rõ về cha ông trong cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc. Với nội dung và cách thể hiện, cách cấu tứ, với chủ đề tư tưởng cao, tôi vẫn nghĩ rằng trường ca Đường Hồ Chí Minh là một tập khá”.

Đề cập đến những hạn chế của tập sách, nhà thơ Lê Văn Sự phân tích: “Với một trường ca 5 chương 22 mục 2560 câu thơ khó tránh khỏi những non yếu trong cách viết, cách diễn tả, diễn đạt ý mình. Đôi chỗ câu thơ như nói không phải ngôn ngữ thơ”; Còn nhà thơ Lê Khắc Tuế lại phát hiện: “Về thể thơ lục bát tác giả sử dụng trong trường ca 140 câu nhưng có nhiều câu không vần khiến người đọc khó chịu... và anh nhặt ra làm ví dụ: Giữa rừng đọc lại thư nhà/ Tình thư nét chữ biết bao nỗi niềm; Võng giăng mắc kín rừng khuya/ Tên người ra trận khắc đầy trên cây; Người thành đạt kẻ giàu sang/ Những ai còn nhớ tên đồng đội ta; v.v... Trong khi đó, nhà thơ Trịnh Ngọc Dự nhìn nhận: “Có lẽ vì tham vọng muốn gộp thành một đề tài giữa con đường cụ thể với con đường Hồ Chí Minh là con đường cách mạng của nhân dân ta kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nên trường ca có phần dàn trải. Những chương cuối của trường ca bị tãi ra làm loãng đề tài... Bố cục của trường ca vì thế thiếu chặt chẽ, không liền mạch, các diễn biến chưa lôgich, nhiều chương mục nội dung không ăn nhập với tiêu đề...”. Và, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Mạnh Hùng thì nhận xét: “Cái chưa được của Ngô Xuân Tiếu là tính khái quát, sự khái quát về sự kiện, con người, cảm xúc...”. V.v...

Phát biểu tại hội thảo, tác giả tập trường ca, nhà thơ Ngô Xuân Tiếu tâm sự: “Sự bi hùng trận mạc đã ám ảnh tôi suốt mấy chục năm qua. Cho nên đôi khi muốn viết một cái gì đó giải tỏa cho mình. Và tôi viết, viết say mê như có ai đọc cho mà viết. Những câu thơ cứ chảy ra từ đáy lòng mình. Tôi nghĩ đây là nén hương tưởng nhớ đến đồng đội đã anh dũng hy sinh trên đường Trường Sơn năm xưa...”

Kết luận hội thảo, nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm, Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa nhận định: Các tham luận hội thảo được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, được khai thác những chiều khác nhau của cùng một tác phẩm, nhưng tựu chung đều khẳng định sự đóng góp của cây bút Ngô Xuân Tiếu trong quá trình sáng tạo đối với thể loại trường ca; Mặc dù còn nhiều hạn chế, sự dàn trải, lỏng lẻo trong kết cấu chương mục, loãng trong cấu tứ, mạch suy tưởng còn tự do, lan man, chi tiết rườm rà... hay tập trường ca chưa hội đủ các yếu tố của thể loại,v.v... nhưng bằng thủ pháp tự sự, kết hợp liên tưởng và miêu tả, bằng cách sử dụng nhiều thể thơ khác nhau, và đặc biệt là bằng tấm lòng tri ân những chiến sỹ Trường Sơn, trường ca Đường Hồ Chí Minh của Ngô Xuân Tiếu đã góp phần tái hiện một cách sinh động con đường huyền thoại, với tất cả những vui buồn, bi thương, hùng tráng. Một con đường có đóng góp hết sức quan trọng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Với trường ca Đường Hồ Chí Minh, tác giả Ngô Xuân Tiếu đã góp phần dựng một tượng đài bằng thi ca cho con đường huyền thoại nhân dịp kỷ niệm nửa thế kỷ ra đời.

Hội thảo tập trường ca Đường Hồ Chí Minh của tác giả Ngô Xuân Tiếu đã thành công, cả về phương diện tổ chức và những vấn đề đặt ra của một hội thảo tác phẩm văn học và của một tác phẩm văn học. Hy vọng rằng hoạt động này duy trì thường xuyên sẽ góp phần thúc đẩy và làm phong phú hơn nữa không khí sinh hoạt văn học của văn nghệ xứ Thanh.

                                                                                         16-9-2011

                                                                                              B.L

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=340054

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN
vannghexuthanh | 29 Nov, 2011, 18:54 | XỨ THANH THÁNG 10/2011 | (5 Reads)

CÁI SỰ CÁI TÌNH VÀ CHẤT TRƯỜNG CA

 

“ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH” CỦA NGÔ XUÂN TIẾU

 

 

 

                                                  NGUYỄN MẠNH HÙNG

 

 

Dẫn luận

Trường ca (poo`me) là một thể loại lớn của văn học. Thời cổ đại đã xuất hiện thể loại này. Bấy giờ gọi là sử thi (epopee). Thời cổ đại và trung đại rất phát triển về thể loại trường ca. Trường ca dung nạp một hiện thực vô cùng lớn của lịch sử, cuộc sống xã hội. Trường ca còn ngợi ca những chiến công hiển hách của con người trong lao động sản xuất và chiến đấu. Do đó trường ca vẫn được tiếp nối phát triển trong thời hiện đại.

Thời cổ đại và trung đại ở Việt Nam đã xuất hiện những trường ca có tầm vóc nhân loại như trường ca “Đam San” trường ca “Xinh Nhã” trường ca “Đẻ đất đẻ nước”...

Thời hiện đại, đặc biệt là thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, thể loại trường ca lại nở rộ như một tất yếu của sự phát triển văn học dân tộc. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là hiện thực hào hùng, vĩ đại nhất trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc và thời đại.

I. Cái sự

Cái sự là chất tự sự của thơ nói chung, của trường ca nói riêng. Chất tự sự là các sự kiện, con người, tình huống, số liệu... mà tác giả trần thuật, kể ra cho người đọc, người tiếp nhận tác phẩm.

Cái sự trong trường ca của Ngô Xuân Tiếu, ta nhận ra ngay từ kết cấu, chương mục của tác phẩm. Đó là các tên của từng chương, các tiểu mục trong từng chương ấy. “Đường Hồ Chí Minh” bao gồm 5 chương, 21 tiểu mục. Các chương có tiểu mục ít nhất là chương I và chương II: có 3 tiểu mục. Chương IV có số lượng tiểu mục nhiều nhất: 7 tiểu mục.

Mỗi tên gọi của các chương, từng tiểu mục đã nói lên khá đầy đủ cái sự, chất tự sự của trường ca. Ví dụ: Chương II: “Ngọn lửa”, tiểu mục 2: “Ra trận”. Chương III: “Những con đường”, tiểu mục 2: “Tin chiến sự”...

Ngô Xuân Tiếu còn tự sự bằng cả một hệ thống số liệu mà anh chú thích ở nhiều trang thơ. Thực ra chú thích chỉ xuất hiện ở công việc sưu tầm, nghiên cứu mà rất ít trong công việc sáng tạo, nhất là sáng tạo thơ ca. Trong sáng tạo thi ca, các tác giả có chú thích thường là ở các vần thơ mượn ý thơ của tác giả nào đó vốn nổi tiếng. Chú thích các nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại ở một quốc gia, đân tộc nào đó để làm rõ ý thơ... ở một bài thơ mà xuất hiện đến 2 hoặc 3 chú thích thì còn gì là thơ nữa vì đó là thông điệp thuần túy về sự kiện, con người. Trong trường ca thì sao? Trường ca chấp nhận nhiều chú thích, thậm chí là cả một hệ thống chú thích dài. ở một phương diện khác ta có thể nêu khái niệm trường ca là bách khoa toàn thư về cuộc sống xã hội, thời đại và con người. Chú thích trong trường ca là sự bổ sung cái sự, chất tự sự cho đủ đầy cuộc sống. Chú thích trong trường ca của Ngô Xuân Tiếu là như vậy. Theo thống kê, “Đường Hồ Chí Minh” của tác giả có tới 35 chú thích. Nguồn chú thích này, Ngô Xuân Tiếu khai thác từ sách, báo, thư tịch, cuộc sống, câu nói của danh nhân, ý thơ của các nhà thơ... Ví dụ: chú thích 1 trang 4 “Đường dài hai mươi ngàn cây số” (Báo Văn nghệ số 2365, ngày 14-5-2005). Chú thích 1 trang 157: “Vì quyền bình đẳng con người” (Tuyên ngôn về quyền con người ở nước Mỹ). Thậm chí ở một trang có tới 3 chú thích, trang 39. (1 - Chồng ra Bắc theo tinh thần Hội nghị Giơnevơ 1954 về Việt Nam. 2 - Thơ Bế Kiến Quốc. 3 - Huyện Mỏ Cày trung tâm Đồng Khởi của tỉnh Bến Tre). Có những chú thích thật cảm động và thú vị ở trang 25: “Những đứa trẻ sinh trong địa đạo” (Nguyên mẫu: Đoàn Cát - Vũ Thị Lý sinh con trong địa đạo quân y Viện đoàn 559. Kỹ sư Ngọc Hải bây giờ chính là đứa bé “nhìn đời qua lỗ thông hơi”).

Và rất nhiều, rất nhiều những câu thơ tự sự viết về sự khốc liệt, gian khổ trong cuộc sống chiến đấu ở Trường Sơn; những con người bền gan dũng cảm hy sinh cho con đường sống làm nên chiến thắng; những tình huống, những sự kiện, con người chỉ có trong huyền thoại... thì ở Trường Sơn luôn hiện hữu diễn ra hàng ngày, hàng giờ:

Dây phơi không thấy áo quần

Lán nép khe suối bao lần hứng bom

Sặc mùi chất độc trong sương

Đèo cao vẳng tiếng từ trường gió đưa.

(Trang 45)

Chôn bạn xong không sao ngủ được

Chim từ quy khắc khoải trong sương

Mai sau xương cốt kia ai còn ai mất

Những tấm bia khắc vội bên đường.

(Trang 49)

Và đám cưới diễn ra êm ả

Giữa bom đạn hoa rừng vẫn nở

Những điếu thuốc trên môi không đỏ lửa

Nhiều bím tóc dài dồn lại phía nàng dâu.

(Trang 120)

II. Cái tình

Cái tình hay tính trữ tình trong thơ và trường ca luôn song hành cùng cái sự, tính tự sự của thơ và trường ca. Nếu chất tự sự là thân xác, cơ thể sống của thơ và trường ca thì chất trữ tình là linh hồn, tư tưởng, tình cảm phong phú, muôn điệu của thơ và trường ca. Chất trữ tình trong thơ và trường ca là những cung bậc tình cảm, những tình huống nảy sinh cảm xúc, là thế giới giàu đời sống nội tâm của con người. Nói một cách khái quát là đời sống tinh thần phong phú của con người trong thơ và trường ca.

Nói cụ thể, chất trữ tình trong trường ca “Đường Hồ Chí Minh” của Ngô Xuân Tiếu là tình cảm chân thật của tác giả đối với quê hương, đất nước, lãnh tụ, những đồng đội, người thân và bao trùm lên là cuộc sống, con người, anh từng trải nghiệm, anh từng mang nặng ân tình.

Trường ca của Ngô Xuân Tiếu không có một chương mục nào về tuyên ngôn thơ, về định nghĩa thơ làm điểm tựa, làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm. Cầm súng là trách nhiệm của ý chí, tư tưởng thì cầm bút là trách nhiệm của tình cảm, tâm hồn. Và anh đã hoàn thành trách nhiệm bằng cả tâm huyết, gan ruột của mình:

Chân thật những câu thơ anh viết

Là tính cách Việt Nam nhân hậu trung kiên

Bao đồng đội hy sinh oanh liệt

Đang nhắc ta trong trận đánh cuối cùng.

Và:

Vịn vào thơ

Đi qua những mùa mưa sạt lở

Hầm ngập nước, thiếu rau hết gạo

Cứ xô đẩy nhường nhau bát cháo.

“Chân thật những câu thơ”, “Vịn vào thơ” là xuất phát điểm, là sợi dây xuyên suốt cái tình, cảm xúc trữ tình của Ngô Xuân Tiếu.

Chỉ trong chiến tranh mới có những hoàn cảnh éo le, khắc nghiệt. Hành quân từ Bắc vào Nam chiến đấu, qua quê nhà, người lính bỏ hàng quân chạy nhanh về thăm mẹ chừng mười lăm phút. Hoàn cảnh ấy, tình huống ấy nảy sinh cảm xúc trữ tình rơi nước mắt:

Mười lăm phút ghé quê nhà

Rưng rưng khóe mắt mẹ già ta thương

Hôn em dưới ánh trăng suông

Mà lòng day dứt nẻo đường còn xa...

Tình cảm với đồng đội là tình cảm thường trực hai tư trên hai tư giờ đồng hồ trong ngày. Lời thề thứ 7 của người lình là “Thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như lúc ra trận” đã hình thành lẽ sống, nhân sinh quan cách mạng, là phẩm chất của “Bộ đội cụ Hồ”, người lính nào cũng khắc ghi, làm theo:

Từng chia nhau đạn lửa

Và chia cả nhớ thương

Và nhường cơm khi đói

Cõng nhau khi bị thương...

Và không dừng lại ở những cảm xúc, tình cảm trữ tình sâu nặng với đồng chí mình. Hành quân chiến đấu, sát cánh cùng quân đội cách mạng anh em nước bạn Lào chống quân thù chung là giặc Mỹ. Trên đất nước bạn, tác giả da diết nhớ quê hương, tổ quốc Việt Nam:

Đất nước Lào như viên ngọc quý

Mây ấp núi bồng bềnh

Sương giăng như bể

Chung lưng sát cánh với Việt Nam.

Cái sự, cái tình trong trường ca của Ngô Xuân Tiếu luôn đan xen, quện lẫn vào nhau trong từng câu thơ, trang thơ. Nhưng công bằng mà nói, chất trữ tình trong tác phẩm của anh dồn nén nhất, sâu đậm nhất và cũng bùng phát nhất là ở chương V, chương cuối cùng của bản trường ca mang tên “Con đường huyền thoại”.

Tác giả là người chiến thắng đúng với nghĩa bóng và nghĩa đen. Anh chiến thắng trở về mang theo bao chiến công hiểm hách là những tấm huân chương đầy ngực. Anh trở về đời thường làm ruộng, làm thơ về chiến trường Trường Sơn.

Anh có dịp cùng đồng đội thăm lại con đường Trường Sơn lịch sử và huyền thoại, anh đã có những cảm xúc đúng với tư chất nghệ sỹ, thi nhân:

Trăm nỗi đau lớn nhỏ

Việc cần rõ lại mờ

Có cái gì dang dở

Xoáy sâu vào trong thơ.

Và:

Trở lại đường xưa ấy

Ta hiểu rõ mình hơn

Giữa cái “tôi” cao cả

Và cái “tôi” thấp hèn

Trở lại đường xưa ấy

Vui buồn bao kiếp người

Với con đường huyền thoại

ám ảnh suốt đời tôi.

Lịch sử là như thế. Cuộc sống là như thế. Mỗi một cuộc đời là như thế. Nhưng cuộc sống chẳng thể dừng. Anh lại trở về với thực tại hôm nay. Anh càng nhớ đến công ơn trời biển của Bác, cảm xúc của anh lại bùng phát. Anh tiếp tục sống cho mình, cho đồng đội và cho “ta”:

Đường Trường Sơn được mang tên Bác

ánh mắt Người xuyên suốt thời gian

Con đường ấy đã tạc vào thế kỷ

Chỉ lối ta đi tiếp bước chân Người.

 

III. Chất trường ca

ở phần dẫn luận đã đề cập đến tính lịch sử của trường ca, cũng là một phần khái niệm về trường ca. Trường ca có nhiều loại: Loại tập hợp các khúc ca như Iliát và Ôđixê ở Hy Lạp. Loại tập hợp các bài hát, mo như “đẻ đất, đẻ nước” ở Việt Nam. Loại trường ca có cốt truyện tình lãng mạn như “Đam San”, phổ biến là loại trường ca lịch sử phản ánh về một thời đại hào hùng, một sự kiện lớn trong lịch sử hay một anh hùng dân tộc. Trường ca “Đường Hồ Chí Minh” là loại trường ca gắn liền với sự kiện, con người lịch sử có thật.

Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Trịnh Quốc Tuấn cho rằng “Đường Hồ Chí Minh” của Ngô Xuân Tiếu như một thiên ký sự lịch sử. Điều này là đúng nhưng chưa đủ. Trường ca của Ngô Xuân Tiếu còn nặng tính trữ tình như đã đề cập ở phần trên. Ký sự lịch sử chiếm một phần trong trường ca lịch sử. Trường ca của Ngô Xuân Tiếu có ký sự - biên niên sử. Anh ghi lại bằng thơ ngày mở đường Trường Sơn do Bác hồ ký sắc lệnh:

Vâng mệnh Bác Hồ mở đường Trường Sơn.

Ngày 19 - 5 - 1959.

Bộ đội mở đường Trường Sơn được gọi với cái tên bí mật: Đoàn 559.

Tác giả viết về Trường Sơn khi chiến tranh đã kết thúc. Tác giả viết về Trường Sơn với tư cách người trong cuộc, là chứng nhân lịch sử. Điểm nhìn hiện thực và nghệ thuật của tác giả là điểm nhìn từ hiện tại về quá khứ, từ hiện đại nhìn về lịch sử. Ngô Xuân Tiếu bình tâm và xúc động xâu chuỗi các sự kiện, chi tiết, tình huống, con người vào từng trang viết. Hiện thực dần hiện lên một cách sinh động. Hiện thực đó là gì? Từ mở những cung đường đầu tiên đến những đoàn quân và đoàn xe đầu tiên vào chiến trường miền Nam, chiến trường được mở rộng ra Đông Dương với hai nước Lào và Campuchia và cuối cùng là con đường dẫn đến chiến dịch đại thắng 30-4-1975. Hiện thực đó là gì? là sự khốc liệt của chiến tranh với những mất mát, đổ máu, hy sinh. Là tình người trong khói lửa chiến tranh. Là sự sàng lọc, loại trừ của chính nghĩa và phi nghĩa, của lòng trung thực và sự dối lừa...

Tất cả những hiện thực ấy làm nên âm hưởng hoành tráng của tráng ca và bi ca thời đại. Và đó là chất trường ca nói chung, chất trường ca “Đường Hồ Chí Minh” của Ngô Xuân Tiếu nói riêng. Cái được, cái thành công nổi bật của tác giả đã thể hiện được chất trường ca của tiêu chí ấy.

Trường ca được quan niệm là một thể loại tổng hợp: Nhiều thể loại thơ, tư liệu, số liệu, người thực được kể ra như tự sự. Cảm xúc trữ tình được bộc bạch từ những tình huống, hoàn cảnh, nỗi niềm, hoài vọng, nhân vật trữ tình. Nhưng bao trùm lên tính hoành tráng, sử thi, bi hùng của hiện thực lịch sử, con người.

Tất cả những yếu tố đó làm nên thể loại trường ca và chất trường ca đậm đặc. Tác phẩm của Ngô Xuân Tiếu có chất đậm đặc của trường ca dẫu còn nhiều hạn chế về nghệ thuật.

ở một phương diện khác về trường ca, cái chưa được của Ngô Xuân Tiếu là tính khái quát, sự khái quát về sự kiện, con người, cảm xúc. 171 trang thơ là những trang ký sự - biên niên sử xen lẫn những cảm xúc. Có lẽ tính khái quát của tác phẩm đều tập trung ở nội dung các chương mục như tên gọi của nó.

Nhiều câu, nhiều khổ thơ của Ngô Xuân Tiếu thường đan xen cái cụ thể và cái khái quát:

Mắt anh nào cũng nét một đường gươm

Sống mũi cay phập phồng tiễn bạn

Và những bữa cơm thừa bát đũa thật buồn

Căn hầm ấy từ nay mất bạn.

Và:

Cha nằm lại Điện Biên rồi

Vai gầy mẹ ghánh một thời đau thương

Bát cơm manh áo đời thường

Thân cò lặn lội đoạn đường gió mưa.

ít câu, ít khổ thơ của tác giả có sự khái quát cô đọng, khái quát cao như thế này:

Giữa đường thông - không ngại hy sinh

Nối lại những dòng sông chia cắt

Thắp sáng lòng tin trên trái đất

Là mỗi khi ta vượt chính mình.

Và:

Đêm là lúc mở màn tái sinh chiến dịch

Là khi ta tìm diệt địch

Là khi cả nước gặp nhau

Ôi nhân dân - tấm lá chắn nhiệm màu.

Cái cụ thể đan xen cái khái quát có sức gợi và liên tưởng về hình tượng thơ. Cái khái quát làm nên tính tư tưởng, tính hào sảng và hoành tráng của trường ca. Cái sự này thì Ngô Xuân Tiếu còn hạn chế trong trường ca “Đường Hồ Chí Minh” của anh.

Không có nhiều những khổ thơ thế này. Nó vừa mang tính hình tượng vừa mang tính tư tưởng và lãng mạn, kiêu hùng:

Nghỉ chân trên đỉnh dốc

Ôm hôn ngọn gió lành

Yêu con đường xuyên Việt

Mây gió tràn thung xanh.

Và:

Chị vục nón đong trong nhiều nhẫn nại

Vắt kiệt mình theo những mùa vui

Cứ thắc thỏm chờ ngày gặt hái

Bao đường cày cắt vệt bom rơi.

 

Lời kết

Cuộc sống cách mạng hào hùng sẽ sản sinh ra nền văn học cách mạng và anh hùng. Nền văn học cách mạng và anh hùng sẽ là cơ hội cho sự phát triển của các thể loại lớn trong văn học, trong đó có trường ca.

Văn học Thanh Hóa thập niên đầu của thế kỷ XXI thực sự được mùa về trường ca. Trước đó, nhà thơ Văn Đắc có trường ca lịch sử về thành Tây Đô, những năm đầu thập niên thế kỷ, nhà thơ Từ Nguyên Tĩnh mở màn trường ca về Hàm Rồng, tiếp đến là nhà thơ Mạnh Lê. Những năm cuối của thập niên, Thành Huy cho ra trường ca “Hàm Rồng cảm xúc lúc rạng đông” (NXB Thanh Hóa, 2009. Năm 2010, nhà thơ Mã Giang Lân cho ra tiếp trường ca mang tên “Hàm Rồng” (NXB Hội Nhà văn, 2010). Nhà thơ Lâm Bằng xuất bản trường ca đầu tay mang tên “Đò Lèn” (NXB Hội Nhà văn - 2010). Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm đã hoàn thành ba trường ca ở dạng bản thảo, đang chờ cơ hội in.

Trường ca “Đường Hồ Chí Minh” của Ngô Xuân Tiếu, tác phẩm của anh góp phần vào số lượng và chất lượng vào trường ca của các tác giả xứ Thanh, góp phần vào sự phát triển của văn học quê nhà, đất nước về mặt thể loại.

                                                                                   N.M.H

 

  

 

TÔI HỌC VĂN THỜI HỌC TRÒ

                                                 MAI NGỌC THANH

 

  Tôi mê say văn thơ khi còn chưa đến tuổi đi học. ấy là do mẹ tôi. Bà không được một ngày tới trường vì là con một gia đình công nhân xe lửa nghèo xác dưới thời Pháp thuộc trước 1945. Chỉ có người con trai út là được học hết tiểu học. Bà học lỏm ở người em này mà biết viết biết đọc. Viết thì chậm nhưng đọc thì bà đọc rất nhanh. Và có trí nhớ cực tốt. Cả một đời tần tảo lam lũ để kiếm sống cho gia đình nhưng hễ có chút thì giờ rảnh rỗi là bà đọc sách. Bà thuộc làu những truyện cổ tích, thần thoại, Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc... và các tác phẩm cổ điển Trung Quốc như Tam Quốc chí, Thủy Hử, Tây Du ký... Các con rồi đến các cháu được bà kể, bà ru cho nghe, giảng giải cho hiểu các tình tiết ý nghĩa của những áng thơ văn ấy. Ca dao tục ngữ luôn luôn được nghe thấy trong lời ăn tiếng nói của bà.

 

 Rồi đến những năm tháng tiếp nhận cái hay cái đẹp của văn thơ qua sách vở ở những năm học sơ học (từ lớp 1 đến lớp 3) kế đó là tiểu học (lớp 4 đến lớp 6). Cuốn sách Quốc văn giáo khoa thư để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi ở mấy bài Quê hương, Chăn trâu, Ông lý Tích (nuôi chị), Tử Lộ (nuôi mẹ) với ngôn ngữ bình dị, như là chẳng có văn gì hết. Tới khi lớn lên tôi mới hiểu ra rằng văn chương trước hết là phải mô tả chân thật cuộc sống bằng ngôn ngữ tình cảm chân thật.

Nhưng cái quãng thời gian đáng nhớ nhất trong việc học văn của tôi là kỳ nghỉ hè sau ba năm bậc sơ học. Đỗ yếu lược rồi mẹ tôi quyết định gửi tôi ra ở với bà ngoại ngoài thành phố để có điều kiện học tốt hơn ở bậc tiểu học. Để sửa soạn cho việc học lên ấy, cả ba tháng hè mẹ tôi bắt phải học thêm với một ông hương sư ở làng bên (hương sư là thầy giáo dạy tại làng, học trò phải trả học phí nuôi thầy). Tôi nhớ hôm ấy khi vừa bước qua cổng nhà thầy thì nom thấy một tấm biển to kẻ ba chữ Pháp rất đẹp: Cours De Vacances (lớp học hè). Ông học hết năm thứ hai cao đẳng tiểu học (còn gọi là bậc Thành chung) thì phải bỏ dở vì nhà không còn đủ sức nuôi ông trọ học mãi trên tỉnh được nữa. Ông nói và đọc tiếng Pháp rất hay và thuộc làu thơ Pháp và thơ Việt của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính... Cả ba tháng hè ấy, ông chỉ dạy chúng tôi tiếng Pháp và những bài thơ Việt của các nhà thơ vừa kể ra ở trên. Nhiều đứa tỏ ra chán cái chương trình tùy hứng mà ông tự soạn ra. Giọng ông đọc thơ Pháp thơ Việt đều hay, ông giảng lại càng mê ly. Tôi cứ như bị ông và những bài thơ ấy thôi miên vậy. Tôi viết chữ đẹp hơn nhiều bạn. Với những bài thơ ấy tôi viết lại thật nắn nót, dòng dòng thẳng tắp, hết bài thì đóng khung trang trọng.

Sau lớp học hè ấy, tôi phải xa nhà ra ở với bà ngoại. Biết là ra thành phố học thì tốt hơn đấy, nhưng cái nỗi ly quê, nỗi nhớ nhà mới đáng sợ làm sao!

Trong ba năm tiểu học, tôi may mắn được học với thầy Nguyễn Đình Tiên hai năm ở trường của Nhà chung (1). Ngoài các môn toán, Pháp văn, thầy giảng giải thật kỹ cho chúng tôi những đoạn văn trong Quốc văn trích diễn của Dương Quảng Hàm (những đoạn văn tiêu biểu trích từ các tác phẩm văn học nước nhà).

Cùng với những trích diễn ấy, khi lên bậc Trung học phổ thông (tương đương trung học cơ sở nay) tôi còn được học sâu hơn ở Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc... mà mẹ tôi đã “dạy” từ những năm tuổi nhỏ. Cũng phải kể những bài văn bài thơ hay bằng tiếng Pháp mà tôi được học. Tôi cho rằng khi đã ham thích học văn thì học giỏi văn thì lẽ thường là cũng ham thích học ngoại ngữ và có thể học giỏi ngoại ngữ. Rồi những bài văn thơ Pháp kia cũng có tác dụng trở lại cho việc học văn thơ Việt, giúp chúng tôi ngày ấy nói và viết tiếng Việt đúng văn phạm (ngữ pháp). Bởi ngày tôi đi học chưa có môn ngữ pháp tiếng Việt trong chương trình như bây giờ.

Tới khi được sang Trung Quốc học tiếng Hoa thì cũng nhờ năng khiếu học Quốc văn mà tôi học tiếng Hoa không tồi.

Thời học trò, cứ đến giờ Việt văn, Pháp văn, Anh văn (2) thì tôi cảm thấy chộn rộn thích thú lạ lùng. Ngòi bút cứ lướt lướt trên mặt giấy như là đuổi cho kịp cảm xúc. Rồi có bài luận nào (tức bài tập làm văn) được điểm cao nhất thì khi trả bài thầy đem ra đọc cho cả lớp nghe, tiếp theo thầy phân tích, diễn giải cái hay của bài đó cho cả lớp biết. Tôi may mắn là đứa học trò được nhận niềm vinh dự đó nhiều lần trong các năm học.

Văn, thơ đặc biệt là thơ ở cái thời còn đi học, cứ như là bùa mê với tôi vậy.

Tôi gần như học nhập tâm tất cả các bài văn bài thơ hay trong chương trình. Thời ấy trong lũ học trò chúng tôi có cách nói “học gạo” để chỉ những đứa học quên ăn, quên ngủ, thuộc lòng mọi bài học về văn, sử, ngoại ngữ, học để sau này kiếm được gạo, nghĩa là có một nghề để sống được bằng vốn tri thức. Tôi luôn luôn được bạn gọi là “thằng học gạo”. Tôi nghĩ rằng học thuộc lòng những bài văn bài thơ là rất có lợi cho những lúc làm bài kiểm tra, bài thi học kỳ để có tư liệu minh họa, viện dẫn.

Thời học trò tôi chưa từng nghĩ sau này mình trở thành người sáng tác. Chỉ thấy yêu thích văn thơ và học văn thơ với tất cả lòng say mê và luôn có cảm nhận do thế mà yêu cuộc sống hơn, yêu con người và thiên nhiên hơn. Do đó tôi lại có niềm thích thú khác, là chép vào sổ tay những bài thơ mà mình yêu thích nhất, nghĩa là hay. Khi cuốn sổ tay này hết giấy trắng thì chép tiếp sang cuốn mới, nhưng có bỏ bớt đi những bài mà thời gian giúp mình thẩm định lại là không còn hay nữa. Hiệu quả của việc làm ấy là thế nào, thì tôi chẳng bao giờ cắt nghĩa.

Đến khi bước vào cuộc đời người sáng tác thì tôi lại từ bỏ hẳn thói quen thuộc lòng thơ người khác. Bởi vậy tôi sợ thơ mình lại “nhiễm” ý, tình thơ người khác một cách vô thức. Suy nghĩ ấy có đúng chăng...

Không phải ai cái thời đi học yêu mê văn thơ, giỏi giang môn văn chương thì sau này cũng thành nhà văn nhà thơ. Trên đời này có những niềm vui niềm say mê để nhờ đó mà người ta sống lạc quan, sống đẹp. Văn chương đem lại cho người ta niềm vui niềm say mê như thế.

M.N.T

 

 

(1) Sau cách mạng tháng Tám thầy nhập ngũ, làm báo. Thầy là tác giả bộ sách “Chân dung tướng ngụy Sài Gòn”, 1976.

(2) Pháp văn (sinh ngữ 1) và Anh văn (sinh ngữ 2) còn được dạy cho tới năm 1951 mới bỏ, khi nền giáo dục phổ thông chuyển sang hệ thống 9 năm. ấy là một sai lầm lẽ ra không đáng có.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=340052

VĂN HÓA
vannghexuthanh | 29 Nov, 2011, 18:47 | XỨ THANH THÁNG 10/2011 | (5 Reads)

  NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐÁ QUA CÁC THỜI ĐẠI 

                                                                                         NGHIÊM THỊ HÀ  

 

 

 

 

 Xứ Thanh nổi tiếng với “đá Thanh” và những tác phẩm điêu khắc dân gian truyền thống. Nguồn đá quý, làng nghề chạm khắc đá và những điều kiện lịch sử - xã hội đã tạo điều kiện để nghệ thuật điêu khắc đá có vị thế trong dòng chảy nghệ thuật dân tộc.

 

  Nghề đục, chạm khắc đá có quan hệ mật thiết với nguồn nguyên liệu đá. Nhiều nơi ở Thanh Hóa có khai thác đá và chế tác đồ đá dân dụng nhưng chỉ có làng Nhồi là có nghề chạm khắc đá truyền thống.

Đá núi Nhồi được hình thành cách ngày nay khoảng 200 đến 300 triệu năm. Do nội lực tác động theo phương thẳng đứng từ dưới lên nên núi thuộc loại núi đoạn tầng, tạo thành những lớp đá lớn. Vì thế các khối đá này không liền tấm, cứng nhưng không giòn, không có tạp chất, mịn, dễ khai thác (1). Đây là loại đá quý được sử dụng vào việc điêu khắc nghệ thuật.

Ban đầu việc khai thác đá chủ yếu là phục vụ các công trình kiến trúc như đá tảng, đá bó nền, cột và những công cụ phục vụ đời sống. Do nhu cầu của những công trình đòi hỏi có mỹ thuật nên kỹ thuật chạm khắc đá ngày càng phát triển và hình thành một đội ngũ nghệ nhân chuyên chạm khắc đá.

Đóng góp lớn nhất của nghề chạm khắc đá ở làng Nhồi là để lại cho đất nước nhiều tác phẩm điêu khắc nghệ thuật vô giá, góp phần không nhỏ vào kho tàng mỹ thuật truyền thống Việt Nam.

Nghệ thuật điêu khắc đá truyền thống ở xứ Thanh được thể hiện khá đa dạng với nhiều loại hình khác nhau. Do ưu thế của thứ vật liệu còn mãi với muôn đời, đá thường được sử dụng trong các công trình kiến trúc có quy mô lớn và nhu cầu mỹ thuật cao. Phần lớn các công trình kiến trúc như cung điện, thái miếu nhà vua, đình, chùa, nghè, miếu... đều sử dụng đá nhưng phần mỹ thuật chủ yếu là ở phần trang trí từ chân tảng, diềm bia, khánh đến các khối tượng trang trí tại các công trình. Các tác phẩm còn lại đến ngày nay chủ yếu là các mảng hoa văn trang trí trên bia, các bệ thờ, công trình kiến trúc.

Thời Lý các tác phẩm điêu khắc đá còn lại đến nay chủ yếu là những tác phẩm có liên quan đến kiến trúc Phật giáo. Điển hình là hoa văn trang trí ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Hậu Lộc), hoa văn trên diềm bia ở chùa Linh Xứng (Hà Trung), chùa Thanh Tuyền (Nga Sơn).

Hoa văn trang trí trên các cánh sen của chân tảng cũng như hoa văn cúc dây trên diềm bia ở đây thanh thoát, mềm mại, đặc biệt là mô típ hoa văn hình rồng.

Đặc điểm của mô típ hoa văn hình rồng thời Lý là mảnh mai,thanh thoát, uốn lượn nhịp nhàng, bay bổng, thể hiện xu thế “Thăng Long”của dân tộc sau đêm trường Bắc thuộc. Các mô típ rồng thời Lý còn lại ở xứ Thanh cũng phản ánh nét chung ấy của nghệ thuật điêu khắc thời Lý ở nước ta.

Nghệ thuật điêu khắc đá thời Trần trên đất Thanh Hóa được thể hiện ở nhiều tác phẩm. Tiêu biểu là Tượng sư tử chùa Du Anh (chùa Thông), bệ tượng Tam thế chùa Hoa Long, rồng đá Tây Đô (Vĩnh Lộc), hoa văn trên bia chùa Vân Lỗi (Nga Sơn), chùa Kênh (Quảng Xương).

Tượng sư tử chùa Du Anh to khỏe, mập mạp được tạo ở tư thế thoải mái là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật dân gian thời kỳ này. Bệ đá Tam thế chùa Hoa Long với mô típ vũ nữ dâng hương, hoa văn thủy ba là nét riêng chỉ có ở vùng đất phía nam Đại Việt. Mô típ rồng trên diềm bia cũng như khối tượng rồng ở thành Tây Đô phản ánh nét chung của con rồng thời Trần to khỏe, mập mạp nhưng vẫn mang những nét kế thừa truyền thống của con rồng thời Lý.

Nghệ thuật điêu khắc đá thời Lê sơ ở Lam Kinh Thanh Hóa tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê sơ ở Việt Nam. Khu điện miếu Lam Kinh với các công trình kiến trúc lớn đã hội tụ ở đây nhiều tác phẩm điêu khắc đá có giá trị nghệ thuật tiêu biểu cho dòng nghệ thuật của một vương triều mới. Các tác phẩm điêu khắc đá ở đây gồm các khối tượng rùa và bia, bệ rồng, các mảng phù điêu, các khối tượng người (quan văn, quan võ), tượng thú (voi, ngựa, tê giác, hổ...) gắn liền với các điện miếu, lăng mộ, phản ánh bước chuyển của nghệ thuật điêu khắc Trần-Lê và một giai đoạn phát triền đỉnh cao của nghệ thuật Lê sơ.

Các tác phẩm điêu khắc đá ở Lam Kinh chủ yếu được tạo dựng trong thời Lê sơ trong một quần thể kiến trúc cung đình cho nên nó không chỉ có ý nghĩa định hướng cho dòng nghệ thuật cung đình Lê sơ mà còn phản ánh bước phát triển của nghệ thuật điêu khắc đá trong gần một thế kỷ của vương triều Lê. Khảo sát kỹ các mô típ hoa văn trên các tấm bia ở khu Lam Kinh từ mô típ hình rồng trong nửa lá đề trên diềm bia, hình lưỡng long chầu nguyệt trên trán bia, hình sóng nước, hình hoa lá; từ bia dựng sớm nhất (Bia Vĩnh Lăng dựng năm 1433) đến bia muộn (Bia Kính Lăng dựng năm 1505) có thể nhận ra sự biến đổi của nghệ thuật điêu khắc đá thời kỳ này. Các tác phẩm điêu khắc đá Lam Kinh đã góp phần không nhỏ vào văn hóa Lê sơ.

Thời Trung hưng, nghệ thuật điêu khắc dân gian khá phát triển từ điêu khắc gỗ cho đến điêu khắc đá. Các công trình điêu khắc đá thời kỳ này không bó hẹp trong các công trình cung đình hay các kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo mà mở rộng với nhiều loại hình. Tiêu biểu là các công trình điêu khắc đá ở lăng quận Đăng, lăng quận Mãn (Đông Sơn), lăng bà chúa ở Đa Bút (Vĩnh Lộc). Sự đa dạng của các loại hình điêu khắc nghệ thuật không chỉ cho thấy sự phát triển của tầng lớp nghệ nhân chạm khắc đá mà còn tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị văn hóa - nghệ thuật. Các công trình điêu khắc đá thời kỳ này từ những công trình có hình khối lớn như bia và nhà bia, tượng voi, ngựa, tượng võ sỹ cho đến các tác phẩm có kích thước nhỏ như bát hương, chân đèn, ngai thờ... đều mang phong cách dân gian nhưng vẫn phản ánh nét chung của dòng nghệ thuật thời Lê.

Thời Nguyễn, nghề chạm khắc đá ở Thanh Hóa phát triển với số lượng tăng. Nhiều công trình lớn của triều đình và khu vực có sự đóng góp của “đá Thanh, thợ Nhồi”. Tiêu biểu là một số tấm bia lớn ở các lăng vua Nguyễn ở kinh thành Phú Xuân (Huế), nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình). Trên nhiều công trình như chùa, nghè, văn chỉ ở Thanh Hóa có nhiều sản phẩm điêu khắc đá mang dấu ấn của vương triều này.

Nét đặc trưng của nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn được thể hiện ở sự biến đổi của một số họa tiết trong đó rõ nét là mô típ rồng.

Mô típ rồng thời kỳ vương triều Nguyễn có nhiều chi tiết khác biệt với hình rồng thời Lê. Đầu rồng lớn, đuôi rồng xoáy ốc, dáng dữ tợn, có nhiều yếu tố gần với con rồng phương Bắc.

Nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn không chỉ để lại trên mhững tác phẩm điêu khắc nghệ thuật mà còn vương vất trong một số loại hình sản phẩm dân dụng được tạo dựng có giá trị văn hóa.

Trong lịch sử phát triền của nghệ thuật điêu khắc đá ở Việt Nam, nhiều tác phẩm điêu khắc đá ở xứ Thanh đã trở thành những tác phẩm tiêu biểu, có vị trí xứng đáng trong dòng chảy lịch sử mỹ thuật truyền thống Việt Nam (2).

Các tác phẩm điêu khắc đá truyền thống ở Thanh Hóa có thể sưu tầm, chọn lọc để xây dựng thành một bảo tàng nghệ thuật điêu khắc đá.

Hiện nay không ít những tác phẩn điêu khắc đá có giá trị đang đứng trước nguy cơ bị mai một trước sự bào mòn của khí hậu và môi trường mưa nắng. Việc bảo vệ các tác phẩm nghệ thuật và nguồn đá quý ở núi Nhồi cũng như bảo tồn, phát huy nghề chạm khắc đá truyền thống là việc rất cần thiết.

                                                                                                 N.T.H

 

 (1) Huyện ủy-HĐND-UBND huyện Đông Sơn - Địa chí huyện Đông Sơn. Nxb KHXH, năm 2006, tr 23

 

(2) Xứ Thanh những sắc màu văn hóa NXB Thanh Hóa 2010

 

 

 

 

 

 

TÍNH NHÂN VĂN TRONG VIỆC TRANG TRÍ

 

 

          ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

 

 

 

                                                                  Họa sĩ Hoàng Hoa Mai

 

 Nghệ thuật trang trí các tác phẩm mỹ thuật trong cơ quan, công sở, phòng tiếp khách, phòng làm việc, phòng ở là một nhu cầu tinh thần rất cần thiết đối với đời sống của con người. Xã hội càng phát triển, điều đó cũng có nghĩa là tư duy kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa phát triển, trong đó có trình độ thẩm mỹ nghệ thuật của con người cũng được nâng lên không ngừng do hội nhập và giao lưu quốc tế mang lại. Vì vậy, việc đưa những tác phẩm mỹ thuật như hội họa, đồ họa, điêu khắc, v.v... vào trang trí ở những nơi làm việc, nơi ở cũng là một nhu cầu khách quan của cuộc sống hôm nay. ở những thời kỳ cổ đại, việc trang trí ở gia đình, nơi thờ cúng, đền chùa, cung điện cũng đã đi vào tiềm thức của người dân. Bởi những tác phẩm nghệ thuật ấy, sẽ đem lại cho người ta một giá trị tinh thần vừa tôn vinh vừa làm cho con người có một cảm xúc vui tươi, linh thiêng và trang nghiêm đến kỳ lạ. Ngày nay công chúng đã dùng những tác phẩm nghệ thuật như tranh ảnh điêu khắc, v.v... vào trang trí trong các công sở, nhà ở, phòng đối ngoại tiếp khách và những nơi tín ngưỡng tôn giáo tâm linh ngày một nhiều hơn. Thế nhưng việc trang trí như thế nào cho phù hợp có sức thuyết phục lòng người lại là chuyện cần phải bàn.

 

 

Trong thực tế, nhiều ý kiến khác nhau về quan niệm thẩm mỹ trong việc trang trí phòng ở, phòng làm việc công sở. Có người cho rằng sử dụng trang trí tranh ảnh gì cũng được, miễn là đẹp, bài trí cảnh vật thế nào tùy thuộc vào sở thích của người làm chủ căn phòng dù là của công hay tư. Từ những suy nghĩ khác nhau ấy mà nhiều cơ quan công quyền, doanh nghiệp, tại nơi tiếp khách, đối ngoại trang trí trong phòng làm việc của nhiều cán bộ lãnh đạo có treo những bức tranh, ảnh cỡ lớn về phong cảnh của nước ngoài như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, v.v... Cố nhiên đã là tác phẩm nghệ thuật của bất cứ một nước nào trên thế giới đều là sản phẩm lao động nghệ thuật của nhân loại sáng tạo ra, song mỗi người có quyền sử dụng những tác phẩm nào là phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc mình. Mỗi nước có sắc thái riêng, có niềm tự hào riêng cho việc tôn vinh truyền thống văn hóa đất nước con người mà mảnh đất sinh ra họ sinh sống và phát triển. Ngược lại với một số nơi ở Việt Nam như đã nói trên, hầu như các nước đó không dùng tranh, ảnh có nội dung của nước khác để trang trí ở phòng làm việc đối ngoại tại nước mình. ở nước ta không những nhiều nơi trang trí tranh nước ngoài mà còn có phong trào chép tranh nhất là chép tranh của các danh họa nổi tiếng thế giới để bán và trang trí. Việc sao chép tranh thực chất là làm tranh giả và đã thế còn làm méo mó giá trị văn hóa nội dung tư tưởng và nghệ thuật tác phẩm nguyên bản của tác giả, gây phản cảm giá trị hội họa, xúc phạm đến quyền tác giả. Để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật loại tranh ấy, ngày nay người ta đã chụp lại tranh bản gốc có độ nét cao và in xuất bản theo nhiều kích thước khác nhau để phục vụ trong việc trang trí.

Để nâng cao tính giáo dục thẩm mỹ trong quá trình tiếp xúc và cảm thụ các tác phẩm nghệ thuật được trang trí trong phòng làm việc và đối ngoại, con người rất cần sự chú ý đến nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Mỗi nước có quan niệm về sự tự hào và tôn vinh văn hóa dân tộc riêng của mình. ở Trung Quốc có Thiên An Môn, Vạn Lý Trường Thành, Di Hòa Viên, nước Nga có Cung điện Cremli, phong cảnh Bạch Dương, Cung điện Mùa Đông v.v... Campuchia có đền ăngco v.v... những di sản ấy dù là phong cảnh thiên nhiên hay những kiến trúc do con người tạo ra đều là niềm tự hào riêng có của nước đó và nó đã trở thành những hình ảnh để tôn vinh và trở thành tranh, ảnh để trang trí ở công sở, công cộng, phòng làm việc v.v... của dân tộc họ. ở nước ta có nhiều phong cảnh đẹp như vịnh Hạ Long, cố đô Huế, sông Hương, Núi Ngự, đền Hùng, Văn miếu Quốc Tử Giám, biển đảo, v.v..., những phong cảnh thiên nhiên, kiến trúc cổ xưa bên dòng sông, dưới chân núi đều là những hình ảnh đẹp thơ mộng đáng tự hào để chúng ta trang trí chiêm ngưỡng. Việc trang trí những tác phẩm nghệ thuật có nội dung dân tộc là để tôn vinh giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam, đó cũng chính là bản sắc dân tộc Việt, đang có sức hấp dẫn du khách nhất là trong thời kỳ hội nhập văn hóa quốc tế.

Ngày nay khi mà văn hóa tâm linh đang được nhiều người quan tâm đến, trong đó có văn hóa phong thủy cũng là vấn đề thu hút sức hấp dẫn đến quan niệm bài trí sắp đặt, nghệ thuật tạo hình trong phòng làm việc, nhà ở đang được xã hội chú ý một cách có bài bản, thận trọng. Nhiều người bài trí tranh ảnh, đồ vật trong nhà trong phòng làm việc nơi ở, họ rất chú trọng đến màu sắc. Thông thường người có mệnh thủy thì trang trí tranh ảnh có màu xanh, ngược lại người có mệnh hỏa thổ thì tìm màu thích hợp với mệnh cùng chủ của nó, v.v... Vì thế cách sử dụng tranh, ảnh to, nhỏ, xanh, đỏ, tím, vàng là tùy thuộc sở thích, cảm thụ của người đó.

Có thể khái quát lại là, khi người ta trang trí một tác phẩm nghệ thuật hội họa, đồ họa, điêu khắc trong phòng làm việc, nơi tiếp khách đối ngoại, v.v... là phải tính đến giá trị nhân văn của nội dung và phải đẹp về nghệ thuật. Trước hết tác phẩm ấy phải có giá trị nghệ thuật đích thực, không sao chép bản gốc của tác phẩm, sau đó phải tính đến tư tưởng của nội dung như hội họa, ảnh, v.v... là những hình ảnh đất nước con người Việt Nam, niềm tự hào văn hóa truyền thống lịch sử và thiên nhiên đất Việt và không giống nơi nào trên thế giới nhất là trang trí ở phòng đối ngoại.

Nước ta có hàng ngàn nghệ sĩ tạo hình như hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh chẳng lẽ chúng ta không có nhiều tác phẩm đẹp, quý để trưng bày trang trí ở công sở, phòng làm việc, phòng ở theo một cách thức tiên tiến phù hợp với tình cảm thẩm mỹ truyền thống của người Việt Nam hay sao. Ngay trong việc trang trí sân khấu cho hội nghị, mít tinh, các kỳ đại hội nào đó của các cấp, nhiều cơ sở, địa phương kể cả ở trung ương cũng trang trí mỗi nơi mỗi khác. Có một vấn đề rất hệ trọng cần nói ra đây thế nào là bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc đã trở thành linh thiêng của nhân dân ta?

Từ lâu đời nay, ông cha ta lập bàn thờ ở miếu mạo, đình, chùa, bàn thờ gia tiên thì hình tượng, đồ vật nào là đặt chính giữa? Có phải là bài vị, ngai, tượng phật, mặt nguyệt bát hương, hoành phi, câu đối,... không? Nói đúng hơn là tất cả những gì mà quan trọng nhất, linh thiêng nhất thì người ta đặt cao ở chính giữa nơi thờ cúng.

Vậy mà ngày nay nhiều cơ quan, địa phương trang trí ở sân khấu hội nghị, kỳ đài các cuộc mít tinh hội thảo, sinh hoạt văn hóa lại đưa cờ tổ quốc, cờ đảng, tượng Bác Hồ về một góc, có nơi đưa vào phía góc trái tới 1/5 chiều rộng của sân khấu hội trường. Đây là một việc làm không thể chấp nhận được, gây phản cảm xúc phạm đến sự linh thiêng của mỗi người dân đối với tổ quốc. Cờ tổ quốc, cờ đảng, hình tượng Bác Hồ là một biểu tượng cao đẹp của dân tộc và của Đảng ta cần được tôn vinh vì thế khi trang trí là phải đặt chính giữa, trang nghiêm. Việc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch có văn bản hướng dẫn trang trí hình tượng nói trên không đặt chính giữa mà lệch trái là không hợp lý. Lệch trái là bao nhiêu, vì sao phải lệch trái, cơ sở khoa học như thế nào phải lệch trái là không rõ vì thế Nhà nước cũng phải có quy định cụ thể cách trang trí cho từng loại hội nghị. Các hội nghị chuyên đề có nhất thiết cần phải trang trí có cờ tổ quốc, cờ đảng và hình tượng Bác không? Nếu do phần trang trí ở sân khấu có tiêu đề nội dung nhiều chữ thì nên cân đối hai bên cho phù hợp. Ví dụ: cờ đảng, cờ tổ quốc, chân dung Bác Hồ đặt chính giữa, bên trái là ghi địa điểm, thời gian, bên phải ghi tiêu đề hội nghị. ở các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,... người ta trang trí có cờ, quốc huy đều đặt chính giữa sân khấu, theo một truyền thống cổ truyền.

Trang trí trên sân khấu, hội nghị, đại hội, mít tinh, hội thảo khoa học... là một nghệ thuật tạo hình vừa mang tính trang trí đồ họa, hội họa và điêu khắc, sắp đặt... vì thế đòi hỏi người thiết kế trang trí cho một nội dung hội nghị nào đó là phải chú trọng đến truyền thống tâm linh, tôn vinh văn hóa dân tộc kết hợp với nghệ thuật tiên tiến. Có như vậy thì mới thấu suốt bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam mà ngàn năm nay ông cha đã tạo dựng cho thế hệ hôm nay và mai sau phát huy tác dụng.

Hiện nay rất nhiều ý kiến về việc vẽ đúng mẫu quốc huy và quy định trang trí cho các loại hội nghị vừa hợp lý, vừa trang nghiêm, phù hợp với sự tôn vinh của dân, đúng với quy định của Nhà nước, một việc làm rất cần thiết nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

 

                                                                                                             H.H.M

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                      

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=340050

VĂN HỌC MUÔN PHƯƠNG
vannghexuthanh | 29 Nov, 2011, 18:43 | XỨ THANH THÁNG 10/2011 | (2 Reads)

T.S.ARTHUR

 

(Mỹ)

 Một chút gì cho cơn cảm lạnh

 

Truyện ngắn

 

 

 Timothy Shay Arthur sinh ngày 6.6.1809 tại Orange County, New York, là nhà văn Mỹ nổi tiếng của thế kỷ 19. Những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông là “Ten nights in a bar-room - Mười đêm trong một quán rượu... và “What I Saw There - Những gì tôi thấy ở đó - 1854). Đây là những tiểu thuyết đả kích tệ nghiện ngập, đã làm cho rượu trở thành một thứ đáng ghét. .

Ông cũng là tác giả của nhiều truyện cho thiếu nhi, sách lịch sử, sách giáo dục hôn nhân gia đình. Ông thường xuyên viết cho tạp chí Godeys Ladys Book, đây là tạp chí ra định kỳ hàng tháng trước thời kỳ nội chiến của Mỹ, ngoài ra ông cũng xuất bản và biên tập tạp chí Arthurs Home Magazine của mình từ 1882 - 1885, theo mô hình của tạp chí Godeys.

Timothy Shay Arthur mất ở Philadelphia, Pennsylvania, Hoa Kỳ vào ngày 6.3.1885.

 

“Henry”, ông Green gọi cậu con trai tám tuổi của ông, “Ba nhờ con chạy ra cửa hàng giùm ba”.

Ông Green là một người lao động, sống trong một ngôi nhà nhỏ ấm cúng, ngôi nhà ông đã dựng lên bằng đồng tiền lương thiện của mình. Ông còn là một người mẫu mực, tử tế, được hàng xóm quý trọng, gia đình yêu thương.

“Dạ”, Henry nói. Cậu bé bỏ trò chơi đi lấy mũ, như thường lệ khi được sai làm chuyện lặt vặt.

“Tìm trong tủ ly tách, lấy cái chai nửa lít. ở ngăn dưới đó”.

Henry làm theo lời cha, rồi hỏi: “Con đi mua gì, cha?”.

“Nói với ông Brady rót cho cha nửa lít rượu Irish loại ngon”.

Thằng bé vui vẻ vừa đi vừa hát. Nó luôn thích làm những việc vặt cho cha.

Khi Henry đi rồi, ông Green nói với vợ, “Cơn cảm lạnh này của tôi quá tệ. Tôi tin và sẽ thử cách trị của ông Vendeusen già... uống một chén rượu mạnh. Ông ấy nói uống vậy luôn luôn làm ông hết bệnh. Nó làm ông ấy toát mồ hôi, rồi sáng hôm sau thì khỏe re”.

Bà Green nói, “ Không phải lúc nào để chân lông nở ra cũng tốt đâu. Khi đó còn dễ nhiễm lạnh hơn”.

“Đúng lắm. Cần phải cẩn thận tránh gió máy sau đó”.

“Em nghĩ nên nấu trà thuốc cho anh, trà thuốc sẽ làm anh khỏe cũng như rượu mạnh”, bà Green nói.

“Có thể em đúng”, ông chồng đáp, “Nhưng anh không thích thứ trà thuốc đắng của em. Nó chưa bao giờ là thứ ưa thích của anh”.

Bà Green cười cười.

Lát sau, cửa mở và Henry chạy vào, mặt tái xanh có vẻ hoảng hốt.

“Cha ơi!”, nó kêu lên, thở hào hễn, “Ông Brooks đang giết Margaret!”.

“Gì chứ!”, ông Green giật mình đứng dậy.

“Ôi!”, thằng bé nói, “ổng đang giết chị ấy! ổng đang giết chị ấy! Con thấy ổng đấm nắm đấm vào đầu chị ấy”. Nước mắt chảy dài xuống mặt thằng bé.

Biết Brooks là một người cục súc khi say rượu, ông Green không chút do dự hay suy nghĩ, mà vội vã rời nhà ngay, chạy tới nhà ông hàng xóm ở gần đó. Khi vào nhà, trong nhà là một cảnh tượng buồn. Cô con gái lớn trong gia đình - đó là một cô gái mười bảy tuổi - đang nằm trên giường, bất tỉnh, một vết bầm lớn và máu chảy trên mặt ở chỗ mà nắm đấm dữ dằn của người cha vũ phu đấm vào cú đấm gần như chí tử. Người mẹ cúi nhìn con, đang khóc, trong khi hai cô con gái nhỏ thì co ro với vẻ mặt sợ hãi nơi góc phòng.

Ông Green đảo mắt tìm người đàn ông đáng ghét, người mà trong cơn say điên rồ đã làm ra cái chuyện chết người này, nhưng không thấy ông ta.

“Ông Brooks đâu?”, ông hỏi.

“ổng đi kêu bác sĩ”, người mẹ của nạn nhân đáp.

Vài phút sau ông ta vào cùng với một bác sĩ. Ông ta đã tỉnh rượu phần nào, nét mặt lộ vẻ lo âu. ánh mắt ông có vẻ lo ngại trước cái nhìn chằm chằm có vẻ chê trách của người hàng xóm.

“Ông nói là con gái ông té cầu thang hả?”, ông bác sĩ nói, trong khi ông cúi xuống khám vết bầm tím trên gò má cô gái.

“Dạ, dạ”, người cha tội lỗi lắp bắp nói, thêm vào hành động độc ác của mình một lời nói dối.

“Nếu vết thương nhích lên vài phân, giờ này chắc con bé hết thở rồi”, ông bác sĩ nói trong khi nhìn chằm chằm vào ông Brooks, cho tới khi mắt ông ta nhìn xuống đất.

Lúc ấy có vài dấu hiệu hồi tỉnh nơi cô gái tội nghiệp, và ông bác sĩ quay lại phía cô chú ý hết sức. Một lát sau, cô gái bắt đầu rên, nhúc nhích hai cánh tay và rồi mở mắt.

Sau khi cô gái tỉnh lại rồi, ông Green trở về nhà. Vợ ông hỏi dồn dập. Sau khi kể lại những gì ông đã thấy, ông phát biểu: “Không có nhiều người tốt bằng Thomas Brooks khi ông ấy tỉnh táo, nhưng khi ông ấy say rượu thì cư xử như quỷ dữ”.

“Ông ta phải là quỷ dữ mới đánh bằng nắm đấm cứng ngắt của ông ta vào cô bé mảnh mai như Margaret. Mà nó là một đứa con gái tốt. à, thật đau lòng về những cảnh đời do rượu đưa tới!”.

“Rượu lấy mất lý trí của ông ta”, ông Green nói, “Khi sự việc xảy ra, ông ta chỉ là vật thụ động để quỷ dữ sai khiến. Ông ta thực sự không còn là con người”.

Bà Green thở dài:

“Vợ ông ấy thật tội nghiệp!”, bà nói nhỏ, “Lòng tôi đau giùm cho bà ấy, và cho những đứa nhỏ tội nghiệp nữa! Nếu mà người chồng và người cha đổi tánh, từ một người bảo vệ và lo toan cho gia đình, trở thành người vũ phu đánh đập họ, thì họ biết tìm sự bảo vệ nơi ai? Ôi, thật là buồn, buồn!”.

“Thật dễ sợ, dễ sợ!”, ông Green nói.

“Chỉ cách đây mấy năm thôi”, ông nói thêm, “lúc đó ông Brooks có biểu hiện uống rượu quá tùy tiện. Ông ấy thì lúc nào cũng thích ly rượu, nhưng mà còn biết cách kềm chế, không hề chôn vùi lý trí vào mấy cái ly. Nhưng sau này ông ấy tỏ ra thiếu tự chủ. Tôi chưa thấy người đàn ông nào đánh mất mình đột ngột như thế”.

“Tất cả mọi tác động của thứ gây say này đã bắt đầu từ những ngụm rượu nhỏ lúc ban đầu”, bà Green nói.

“Phải. Người ta không thể trở thành một kẻ nghiện rượu chỉ trong ngày một ngày hai. Nghiện ngập là một thói quen hình thành từ từ”.

“Nhưng một khi đã hình thành”, bà Green nói, “khó có sức mạnh nào đủ sức phá vỡ thói quen đó. Cơn nghiện bám riết người ta như là một phần của người đó”.

“Ta có thể nói nó là một phần của người đó”, ông Green nói, “vì bất kỳ điều gì chúng ta làm do một thói quen đã được củng cố, cố định trong đầu óc, điều đó đưa chúng ta đi tới như một con thuyền lướt băng băng trên dòng chảy của con sông”.

“Vậy thì mọi người hãy cẩn thận, đừng để mình có thói quen nguy hiểm đó. Tôi nhớ rõ hồi ông Brooks lấy vợ. ổng là một thanh niên đầy hứa hẹn khó tìm được ai hơn, cũng không ai có lòng tử tế như ông ấy. Nhưng điều tôi sợ thay cho ông ấy và bà vợ dễ thương của ổng là sự say rượu. Vậy mà... tai họa này đã rơi xuống nhà họ... Có tội ác nào, xấu xa nào hơn chứng này không?”.

“Chẳng còn hy vọng”, ông Green nói. “Tôi đã nói chuyện với ông ấy nhiều lần nhưng chẳng kết quả gì. ổng hứa hẹn sửa chữa, nhưng rồi không giữ lời hứa được một ngày”.

“Không đụng tới, không nếm thử, không cất trữ. Đó là nguyên tắc an toàn”, bà Green nói.

“Đúng, tôi cũng nghĩ vậy”, ông chồng đáp lời. “Người mà không uống rượu thì không sợ trở thành kẻ nghiện rượu”.

Ông bà Green tiếp tục nói về tai nạn đã đổ xuống nhà hàng xóm, trong khi đó cậu con trai nhỏ, qua những gì đáng sợ mà cậu đã chứng kiến vẫn còn xúc động, ngồi nghe hết những gì ba mẹ nói và hiểu rõ tất cả.

Nói một lúc thì cũng hết chuyện. Im lặng một lúc rồi chợt ông Green nhớ đến cảm giác khó chịu của cơ thể bèn nói: “Tôi đã nói là cơn cảm lạnh của tôi rất khó chịu. Tôi phải trị tiệt nó trước khi bệnh tệ hại hơn. Henry, con đã lấy rượu Irish về chưa?”.

“Dạ chưa”, thằng bé nói, “Con sợ quá khi thấy ông Brooks đánh chị Margaret, con chạy về nhà luôn”.

“à, chẳng có gì lạ! Đó là do sợ hãi. Ông Brooks rất ác khi làm vậy. Nhưng lấy cái chai và chạy ra cửa hàng đi. Nói với ông Brady là ba cần nửa lít rượu Irish loại tốt”.

Henry đi lại bên bàn để cái chai. Nó không sốt sắng như thường lệ.

“Đó là rượu mạnh”, thằng bé nói khi nó cầm lấy cái chai, “Không phải rượu đó làm ông Brooks đánh chị Margaret sao?”, nó nhìn cha nó với ánh mắt tha thiết. Câu nói lạ của thằng bé làm người cha khá khó chịu, ông thắc mắc về cách ứng xử của thằng bé.

“Phải. Đó là rượu mạnh. Ông Brooks, nếu ông ấy tỉnh táo thì sẽ không làm đau một sợi tóc của chị ấy”.

Henry nhìn cái chai, rồi nhìn cha nó theo một cách lạ lùng đến nỗi ông Green mới đầu chưa hiểu hết những suy nghĩ của thằng bé thì bây giờ không thắc mắc nữa. Tất cả thật dễ hiểu, vì Henry nước mắt dàn dụa để cái chai xuống, và chạy lại choàng tay ôm cổ cha nó, nói, “Cha ơi! Đừng uống rượu mà!”.

Ông Green xúc động sâu sắc vì tình huống này, ôm cậu con trai vào ngực mình. Ông nói: Cha chỉ muốn trị bệnh, con ạ. Nhưng đừng lo. Cha sẽ không để chất nước nguy hiểm này vào nhà mình. Mẹ sẽ nấu trà thuốc cho cha, mà nó thì cũng tốt”.

Henry nhìn lên, những lời rụt rè thốt ra từ đôi môi ngây thơ của cậu, “Cha không giận con hả cha?”.

"ồ không đâu con. Sao cha lại giận chứ?”, ông Green trả lời và hôn lên mặt con trai. Lúc ấy niềm vui lại trở về trong tâm hồn của Henry, và cậu bé lại vui vẻ như trước.

                                                                Võ Hoàng Minh dịch

                                                                (Something for a cold)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=340048

TIN TỨC SỰ KIỆN
vannghexuthanh | 29 Nov, 2011, 18:32 | XỨ THANH THÁNG 10/2011 | (5 Reads)


                                        TIN VĂN NGHỆ


* Hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức lớp tập huấn về thẩm định ảnh nghệ thuật

Trong các ngày từ 10 đến 15 - 9 - 2011 tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa, Hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam đã tổ chức lớp tập huấn về thẩm định ảnh nghệ thuật. Lớp gồm 40 học viên là những nhà nhiếp ảnh có năng lực và kinh nghiệm đến từ 24 Chi hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh thuộc 24 tỉnh thành trong khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ. Đến dự khai mạc và tham gia truyền đạt có họa sỹ Lương Xuân Đoàn - Vụ phó vụ Văn hóa văn nghệ; Đại diện Ban Tuyên giáo Trung ương; lãnh đạo Hội NSNA Việt Nam và lãnh đạo Hội VHNT tỉnh Khánh Hòa.

Hai nghệ sỹ nhiếp ảnh Lê Công Bình và Đỗ Xuân Tứ (Chi Hội NSNA Thanh Hóa) tham dự lớp tập huấn này. Đây là lớp tập huấn thứ ba trong nhiệm kỳ VII Hội NSNA Việt Nam tổ chức. Lớp tập huấn đã thu được kết quả tốt đẹp.                  

Xuân Tứ


* Hội thảo “Thơ hiện đại Việt Nam nhìn từ miền Trung”

Trong hai ngày 8 - 9 tháng 10 năm 2011, tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức hội thảo “Thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung”.

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; PGS - TS Nguyễn Hồng Vinh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình VHNT Trung ương, PGS -TS Phan Trọng Thưởng, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình VHNT Trung ương, Viện trưởng Viện Văn học; Nhà thơ Bằng Việt, Phó Chủ tịch UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam; Nhà văn Nguyễn Trí Huân, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng Biên tập báo Văn nghệ; Nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn, Trưởng ban Sáng tác; TS Nguyễn Thị Bích Hồng, Vụ phó Vụ Văn nghệ Ban Tuyên giáo Trung ương; Các ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam: Nhà thơ Nguyễn Hoa, nhà văn Đào Thắng, nhà văn Võ Thị Xuân Hà, nhà văn Đình Kính, nhà văn Khuất Quang Thụy, nhà văn Văn Công Hùng; Ông Nguyễn Hòa, Vụ Văn hóa văn nghệ báo Nhân dân; Ông Đỗ Trọng Hưng, ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa; Ông Vương Văn Việt, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa và 165 nhà văn, nhà thơ Việt Nam của 19 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và các nhà văn, nhà thơ là con em miền Trung đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội đã tham dự hội thảo.

Phát biểu ý kiến tại buổi khai mạc, Ông Vương Văn Việt, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa và Đề dẫn của nhà thơ Bằng Việt, Phó Chủ tịch UBTQ liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đã khẳng định: Miền Trung là khúc ruột, khúc eo của cả nước, nhiều chịu đựng, tự tin, tần tảo, nhiều khát vọng. Lấy nó làm điểm xuất phát để nhìn ra cả nước. Mảnh đất miền Trung là quê hương của nhiều tên tuổi lớn trong văn học và thi ca của cả nước. Từ nhiều đời, thơ miền Trung đã trở thành một bộ phận hữu cơ, đóng góp các giá trị cho sự giàu có, lớn lao và nhân hậu của tâm hồn Việt; tạo nên vẻ đẹp tổng thể toàn vẹn của nền văn hóa Việt nhưng vẫn giữ những nét riêng, điệu tâm hồn riêng; và những tìm tòi, cách tân của các nhà thơ miền Trung là rất đáng ghi nhận.

29 bản tham luận tại hội thảo đã giúp đưa lại một cái nhìn tổng quan về thơ hiện đại miền Trung và các đóng góp của các nhà thơ miền Trung cho thơ Việt. Các thành tựu đã được khẳng định của Thơ miền Trung thế kỷ XX sẽ là niềm vinh dự, là điểm tựa cho các nhà thơ lớp trẻ hôm nay đi tiếp, tìm tòi và tạo ra những thành quả lớn lao hơn nữa của thế kỷ XXI trong Thơ.

Tối ngày 8-10, các nhà thơ miền Trung tham dự hội thảo đã có buổi giao lưu tại trường đại học Hồng Đức.                                                                         

 *Cục Văn hóa cơ sở tổ chức lớp tập huấn sáng tác, dàn dựng kịch bản sân khấu hóa

Trong các ngày từ 3 đến 9 tháng 10 năm 2011, tại thị xã Sầm Sơn, Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa -Thể thao và Du lịch) đã tổ chức lớp tập huấn sáng tác, dàn dựng kịch bản sân khấu hóa. Hơn 40 cán bộ văn hóa cơ sở các tỉnh từ Thừa Thiên - Huế trở ra đã dự lớp. Lớp tập huấn đã được các giáo sư, tiến sỹ, nghệ sỹ, đạo diễn, nhà biên kịch truyền đạt, nhằm giúp cán bộ chuyên trách tại cơ sở nắm vững kỹ năng viết kịch bản, tuyên truyền lưu động, kịch bản sân khấu hóa (lễ hội mới) theo yêu cầu của địa phương và tìm phương thức hiệu quả trong thể hiện, trang bị kỹ năng dàn dựng để đạt hiệu quả tác động cao nhất cho các chương trình tuyên truyền lưu động, sân khấu hóa... Chương trình tập huấn tập trung vào những chuyên đề cơ bản, như phương pháp tự sự của sân khấu truyền thống; kịch hát truyền thống; kịch bản thông tin, kịch bản sân khấu; cấu trúc, ngôn ngữ nghệ thuật kịch,  nhất là các kỹ năng dàn dựng và tác nghiệp cụ thể cho cán bộ văn hóa cơ sở.

Kết thúc lớp tập huấn, Ban Tổ chức đã tiến hành thu hoạch và trao giấy chứng nhận cho các học viên.                                                                                       P.V               

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=340046

TRUYỆN NGẮN VÀ BÚT KÝ
vannghexuthanh | 28 Nov, 2011, 18:19 | XỨ THANH THÁNG 9/2011 | (4 Reads)

KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CHIẾN KHU DU KÍCH NGỌC TRẠO

 

 

 

  LÂM BẰNG 

Vùng đất chiến khu xưa

 

Bút ký

 

Chúng tôi đến Ngọc Trạo vào đúng tiết ngâu tháng bảy, nhưng may hôm đó mưa đã ngớt hạt, chứ trước đó trời sầm xì lắm, mưa sụt sùi, rả rích cả ngày. Công trường tôn tạo nâng cấp khu di tích chiến khu Ngọc Trạo còn ngổn ngang, bề bộn lắm. Anh Tôn Viết Phú, Bí thư Đảng ủy xã Ngọc Trạo, nói với chúng tôi:

- Theo kế hoạch đến 30 tháng tám này là phải hoàn thành đấy. Nhưng mưa gió sụt sùi thế này thợ cứ bữa làm bữa nghỉ, Mấy hôm nay mưa rả rích quá, thợ nghỉ luôn luôn. Không biết có kịp cho lễ kỷ niệm không.

Tôi hỏi Phú:

- Thế trong công trình này, xã được giao việc gì?

- Dạ, chỉ giải phóng mặt bằng và bảo vệ thôi anh, huyện là chủ đầu tư mà.

Tượng đài Chiến sỹ Ngọc Trạo bằng đá nguyên khối cao vút giữa cây rừng. Tượng do hai họa sỹ điêu khắc Lê Tạo và Vũ Tuyết Chinh thực hiện. Công việc xây dựng còn khá nhiều. Nhiều hạng mục còn dở dang, gạch đá, xi măng... bề bộn, sân hành lễ, lối lên, đường đi, bậc cấp, rồi quảng trường mít tinh... còn trơ nền đất nhão nhoét. Không hiểu với nền đất như thế này thì bê tông, cát đá có trụ vững được không.

- Tượng thì đẹp nhưng hơi nhỏ so với khung cảnh chung quanh - nhà văn Hoàng Trọng Cường sau một hồi ngắm nghía - Nhưng chả hiểu thế nào, tượng thì bằng đá nguyên khối, nhưng bệ tượng thì lại là bê tông ốp đá... thiếu hẳn tính bề thế, bền vững...

Tôi lại nghĩ, riêng cái tên của tượng đài cũng là điều cần phải bàn. Nhiều cái tên đã được dùng (khắc trên đài tượng, trong các bộ sử của huyện, xã; báo chí và truyền ngôn): “Tượng đài khu du kích Ngọc Trạo”; “Tượng đài chiến khu Ngọc Trạo”; “Chiến khu du kích Ngọc Trạo”; và ngay trên đài tượng đang xây, họa sỹ cũng đã cho khắc nghiêm cẩn dòng chữ “Tượng đài chiến khu Ngọc Trạo”,v.v... nhưng tất cả đều không ổn. Trước hết, các cụm từ trên đã thừa hai chữ Tượng đài. Có lẽ đúng hơn cả, dòng chữ dùng để khắc trên đài tượng phải là: “Chiến sỹ du kích Ngọc Trạo”. Vì rõ ràng, chủ thể của tượng đài là hình tượng Người-chiến-sỹ, chứ không phải là Khu hay Chiến khu gì đấy.

Tôi loay hoay mãi không tìm đâu ra nén hương để thắp lên mộ ba chiến sỹ Ngọc Trạo. Khi nãy, từ phòng làm việc của Bí thư Đảng ủy chúng tôi ra đây luôn, cho nên thành người vô tình. Đành chắp tay tưởng niệm những chiến sỹ quả cảm của núi rừng Ngọc Trạo.

Không gian tĩnh lặng, cây rừng như trang nghiêm... mộ phần của những anh hùng Ngọc Trạo trầm mặc giữa không gian linh thiêng như đâu đây vẫn rừng rực lên ánh đuốc từ ngọn lửa Hang Treo mùa thu năm Tân Tỵ 1941.

Tháng 9 năm 1941, phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương, dân ta lâm vào cảnh một cổ hai tròng dưới ách thống trị của cả Pháp và Nhật. Trước tình hình đó, Trung ương họp hội nghị lần thứ 8 tại Pác Pó (Cao Bằng) dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, xác định nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt của cách mạng Việt Nam là Giải phóng dân tộc, chĩa mũi nhọn vào bọn phát xít Pháp-Nhật quyết giành cho được độc lập, tự do.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, Tỉnh ủy Thanh Hóa khẩn trương tiến hành xây dựng một số căn cứ địa cách mạng. Ngọc Trạo là một trong những địa điểm được chọn đầu tiên. Ngọc Trạo là một thôn nhỏ thuộc tổng Trạc Nhật, nằm ở phía bắc huyện Thạch Thành, cách Kim Tân - Trung tâm huyện lỵ của Thạch Thành ngày nay - chừng mười lăm cây số. Trong làng có khoảng trên dưới 40 hộ, chủ yếu là bà con dân tộc Mường và một số ít người Kinh.

Ngọc Trạo cũng là nơi có phong trào cách mạng khá sớm. Từ đầu năm 1941, thôn Ngọc Trạo đã có tiểu tổ tự vệ về sau phát triển thành trung đội du kích thôn. Đây còn là nơi có địa thế tương đối thuận lợi, bởi núi non bao bọc chung quanh; là địa điểm tiếp cận với vùng đồng bằng. Đồng thời lại gần Hang Treo (Hà Long, Hà Trung), đã từng là nơi đồn trú của các nghĩa sỹ Cần vương do ông nghè Tống Duy Tân lãnh đạo cuối thế kỷ 19. Từ Ngọc Trạo có thể đi tắt sang Ninh Bình để liên hệ với đồng bằng khu Ba và trực tiếp nhận sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc kỳ.

Từ sân hành lễ tượng đài, tôi phóng tầm mắt phía xa. Quả người xưa có con mắt tinh đời. Ngọc Trạo ở vào địa thế hiểm yếu, là giao điểm của ba con đường đi về ba nơi. Một con đường nối với đường Bảy rồi xuôi Bỉm Sơn hoặc lên phố Cát, đi Rịa, Nho Quan Ninh Bình. Một đường xuôi về Bái Sơn, Hà Tiến, Hà Trung, ra cầu Cừ nối với quốc lộ số Một để xuôi hướng nam. Còn một đường ngược lên Kim Tân, huyện lỵ Thạch Thành rồi đi Hòa Bình, Sơn La. Làng Bái Sơn xã Hà Tiến cũng từng có chiến khu Bãi Sậy nổi tiếng thời tiền khởi nghĩa, hẳn cũng từng ảnh hưởng lẫn nhau về phong trào cách mạng. Cả ba con đường đều nối với ba vùng chiến lược của cả khu Hòa-Ninh-Thanh xưa, nay đã được trải nhựa tươm tất.

Tôi chầm chậm thả bước trên đường làng Ngọc Trạo. Một chút đất đá bê bết nơi công trường. Một vài nhánh đường thôn còn lầy lội, một ngõ nhỏ cây cối lườm xườm mà mường tượng về cái đêm 19 tháng 9 năm 1941, tại Hang Treo trong phòng tuyến Tam Điệp-Ba Dội lịch sử, trước sự có mặt của đặc phái viên Xứ ủy Bắc Kỳ, hai mươi mốt chiến sỹ Ngọc Trạo dưới ánh đuốc lửa sáng rực và lá cờ đỏ sao vàng, đã tuyên thệ quyết đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập cho nước nhà.

Chỉ một tuần sau khi thành lập, đội du kích Ngọc Trạo đã phát triển lên tới 40 người. Sau một tháng lên tới 86 người và được biên chế thành hai trung đội. Mỗi trung đội gồm một tiểu đội súng, một tiểu đội dao, tổ đặc vụ, tổ y tế, tổ hậu cần. Trong đó có nhiều người từ các tỉnh Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình... đang làm ăn và theo học ở Thanh Hóa cũng tham gia. Ban lãnh đạo chiến khu du kích gồm có các ông Đặng Châu Tuệ, Trịnh Huy Lãn, Đặng Văn Hỷ, do ông Đặng Châu Tuệ phụ trách.

Với ý định tăng cường lực lượng, ban lãnh đạo Chiến khu chủ trương phát triển đội du kích lên 500 đội viên để mở rộng hoạt động suốt từ tây bắc đến đông nam địa phận ven rừng núi Thanh Hóa. Nhưng địch đã phát hiện ra và quyết định xóa sổ căn cứ chiến khu. Chúng đã mở một chiến dịch bao vây, càn quét lớn, huy động một lực lượng tới 500 tên do Fleuto, Chánh cẩm Bắc Kỳ chỉ huy, tiến công vào Chiến khu bằng ba mũi quân: một mũi từ Cầu Cừ (Hà Trung), một mũi từ Kim Tân xuống và một mũi từ Bỉm Sơn lên.

Rạng sáng ngày 19-10-1941, cuộc chiến đấu ác liệt đầu tiên giữa đội du kích Ngọc Trạo và bọn lính khố xanh đã diễn ra vô cùng quyết liệt. Một đội lính hơn 100 tên dưới quyền chỉ huy của các sỹ quan Pháp, trong đó có tên quan Một, trưởng đồn Bỉm Sơn Duy-mô-ra và một lũ mật thám bí mật tiến về núi rừng Ngọc Trạo giữa đêm khuya. Một toán khác khoảng 50 tên bố trí tập kích quân ta bên đình Ngọc Trạo.

Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Quân du kích với dao, kiếm và một số ít súng kíp đã chống trả nhiều đợt tấn công của địch. Chiến sỹ Cao Ngọc Oanh đã dùng dao năm chém cụt bàn tay phải của tên lính mang số hiệu 444 và tước được khẩu súng mút cơ tông. Cuộc chiến đấu giằng co kéo dài. Bọn địch nghe chừng cũng đã ớn nên tập trung về phía trước đình Ngọc Trạo để củng cố lực lượng. Còn quân du kích thì rút về phía sau nương sắn làng Ngọc Trạo. Đồng chí Phạm Văn Hinh làm nhiệm vụ trưởng ban quân báo bị thương nặng. Biết mình không thể sống được đã đề nghị đội cho nằm lại để khỏi ảnh hưởng đến cuộc chiến đấu. Các đồng chí Hoàng Văn Môn, Đỗ Văn Tước trong tổ trinh sát đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh anh dũng. Hơn 30 chiến sỹ và đồng bào ta bị giặc bắt.v.v...

Bảy mươi năm đã trôi qua, vùng rừng núi Ngọc Trạo heo hút thuở xưa nay đã đổi thay khá nhiều. Trao đổi với chúng tôi, anh Tôn Viết Phú cho biết: Hiện nay hai trường cấp một và cấp hai đều đã cao tầng, điện sáng đến từng nhà, trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, trường mầm non, trường cấp hai... đều đạt chuẩn. Là xã miền núi nhưng hàng năm 100% các cháu trong độ tuổi đều ra lớp. Xã có 5 làng thì cả 5 làng đều đạt làng văn hóa, trong đó có 2 làng là làng văn hóa cấp tỉnh, làng Ngọc Trạo được tặng bằng “Làng có công với nước”. Về sản xuất nông nghiệp, ngoài cây lúa nước thì ngô và mía là hai cây mũi nhọn; hàng năm sản lượng mía đạt 45-50 tạ/ha; cây ngô cho năng suất 40 tạ/ha. Thu nhập bình quân đạt 9,2 triệu một người... Xã đã có 2 cây số đường nhựa; năm học vừa qua học sinh lớp 12 có 97% đậu tốt nghiệp.

*

Con sông Bưởi còn có tên là Tế Giang, phát nguyên từ huyện Tân Lạc tỉnh Hòa Bình, chảy ngoằn nghoèo như ruột gà dọc huyện Thạch Thành từ xã Thạch Lâm đến xã Thạch Long, tới hơn 60 cây số, chia huyện thành hai phần tả và hữu ngạn. Từ nơi phát tích, sông chảy theo hướng tây bắc-đông nam, tự dưng đến thị trấn Kim Tân sông Bưởi quay ngoắt 90 độ đổi sang hướng đông bắc-tây nam, gần như chảy ngược lên rừng, tạo nên một cái dạ dày khổng lồ. Chính cái đoạn chảy ngược oái oăm này khiến dòng chảy chậm lại, phình ra biến thành cái rốn nước, gây tác oai tác quái cho người dân thị trấn Kim Tân và các xã Thành Trực, Thành Kim bao phen. Năm 2005, chúng tôi lên Thạch Thành vừa lúc cơn bão số bảy đổ bộ vào Thanh Hóa gây mưa lớn khắp cả tỉnh. Chúng tôi lên đê sông Bưởi, nước sông Bưởi ngầu đục, chảy cuồn cuộn. Lúc đỉnh lũ mực nước cao hơn báo động cấp ba tới 0,47 mét. Bên kia sông, xã Thạch Định đang ngập sâu trong nước. Gần một nghìn ngôi nhà ngập nước; 376 gia đình bị mất nhà hoàn toàn; hơn mười lăm ngàn người sống trong cảnh màn trời chiếu đất trên các sườn đồi. Toàn huyện có hai nghìn héc ta lúa bị mất trắng. Thật xót xa... Lại đến năm 2007, đã cữ tháng mười ai cũng tưởng đã vào heo may là hết bão lụt. Bỗng một đợt mưa xối xả và nước thượng nguồn đổ về. Cái dạ dày nước Kim Tân cứ phình ra, đoạn đê qua thị trấn không trụ nổi đã òa vỡ. Cả thị trấn chìm sâu trong nước. Căn nhà hai tầng của anh bạn tôi - họa sỹ Cao Văn Đồng nước dâng tới hơn ba mét. Những căn nhà cấp bốn chỉ thấy nhấp nhô nóc ngói. Thiệt hại nhiều tỷ đồng, gây hậu quả nặng nề. Oái oăm thay một huyện miền núi mà cũng bị ngập lụt y như vùng đồng chiêm trũng.

Nhắc tới chuyện này, tôi muốn nói rằng, người dân Thạch Thành cũng chịu nhiều thiên tai, cũng gian nan vất vả lắm trong cuộc mưu sinh thường nhật.

*

Ngồi tiếp chuyện chúng tôi, nhưng chốc chốc anh Bùi Minh Thông, Phó Chủ tịch huyện lại phải cảm lỗi rồi quay ra ký giấy tờ. Anh nói “làm phó chủ tịch thường trực công việc bận bù đầu”. Không bận sao được, bao nhiêu chuyện lo toan, từ quản lý vĩ mô, hoạch định chiến lược cho đến lo cơm áo gạo tiền cho cả chục vạn người, nào phải chuyện đùa. Khi tôi hỏi về tình hình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội của huyện, anh cho biết: Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2005-2010 đạt 16,7%; giá trị sản xuất năm 2010 tăng gấp 2,2 lần năm 2005; thu nhập bình quân 14 triệu đồng một người; giá trị sản xuất thủy sản hàng năm tăng 25,8%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Các lĩnh vực văn hóa-xã hội; an ninh-quốc phòng đều có bước phát triển.

Nhấp một ngụm nước, tôi hỏi anh Thông:

- Dạo trước thấy lùm xùm chuyện sổ đỏ, sổ xanh của người trồng cây cao su. Bây giờ sao rồi anh?

- ổn cả rồi, anh - Anh Thông trả lời.

Ngừng một lát, anh nói tiếp:

- Cây cao su thực sự đã có chỗ đứng vững chắc ở đất Thạch Thành. Trong hai năm 2008-2009 chúng tôi đã trồng được 800 hec ta cây cao su, đưa tổng diện tích lên 2.700 héc ta, trong đó có hơn 1.600 héc ta đã cho thu hoạch; giá trị thu được hàng năm trên 30 tỷ đồng. Tới đây chúng tôi sẽ chuyển khoảng 800 héc ta rừng nghèo kiệt sang trồng cây cao su, đưa tổng diện tích lên 3.500 héc ta.

Anh Thông cũng cho biết, ở Thạch Thành, ngoài cây cao su, đặc trưng của sản xuất nông lâm là trồng mía, trồng sắn và ngô, và đương nhiên là trồng và chăm sóc rừng.

Thiên nhiên đã ban tặng cho Thạch Thành một điều kiện tự nhiên khá ưu việt. Thổ nhưỡng, địa hình vùng Thạch Thành (Thanh Hóa), Nho Quan (Ninh Bình)... đồi núi không cao lắm, độ dốc vừa phải, khả năng giữ ẩm lớn dẫn đến sự phì nhiêu, mầu mỡ của đất cũng rất cao. Do vậy khả năng tái sinh, phát triển của rừng cũng rất lớn. Cả một thảm rừng lối Thành Tâm, Thành Trực, Thạch Tượng, Thạch Quảng, Thành Yên, Thạch Lâm... sức phát triển của rừng dâng lên ngùn ngụt. Màu xanh của rừng ngút ngát, trùng điệp.

Thạch Thành có diện tích rừng và đất rừng là 34.182 héc ta, chiếm 61% diện tích tự nhiên. Trong đó, diện tích có rừng là 26.082 héc ta chiếm 76% đất lâm nghiệp. Còn lại 24% là diện tích đất trống và đất chuyển đổi mục đích sử dụng (8.099 héc ta). Trong số đất rừng thì rừng đặc dụng gần 6 nghìn héc ta; vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương là 5.886 héc ta, nằm trên hai xã Thành Yên và Thạch Lâm.

Nói đến rừng Cúc Phương, khiến tôi nhớ lại, 32 năm trước đơn vị Công an nhân dân vũ trang chúng tôi được lệnh đồn trú bảo vệ hậu cứ của Bộ Tư lệnh tại xã Thành Yên, vùng đệm của rừng Cúc Phương. Rừng Cúc Phương nhiều cây to lắm. Có những cây lát hoa vài ba chúng tôi ôm chưa kín, cao chọc trời. Tôi vẫn nhớ, sâu trong rừng có một vụng nước độ vài chục mét vuông, sâu chỉ khoảng đến đầu gối, nước trong vắt nhưng không bao giờ cạn. Mưa to mấy nước cũng chỉ ở từng nấy. Bên mép nước, có một ông hổ bằng đá chầu trực. Mỗi khi vào rừng, chúng tôi thường lấy nước ở đó để nấu ăn. Không biết vụng nước ấy nay có còn không.

Hóa ra, trong khu vực được Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang hồi ấy chọn làm hậu cứ có địa chỉ đang được thế giới biết đến: Hang Con Moong, di chỉ của người Việt cổ.

Hang Con Moong theo tiếng địa phương có nghĩa là "hang con thú". Hang được phát hiện tháng 11 năm1974 và khai quật lần đầu tiên năm1976. Đây là một hang thông hai đầu, dài khoảng 30-40 mét, trần hang cao 8,41 mét. Bằng phương pháp Cácbon 14(C14), các nhà khoa học đã chứng minh niên đại của các lớp đất đá trong hang là 15 ngàn năm (lớp cuối), 12-10 ngàn năm (lớp giữa) và 7-10 ngàn năm (lớp trên). Kết quả thu được từ việc khai quật di chỉ hang Con Moong cho thấy, những yếu tố chủ đạo của văn hóa Sơn Vi, văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn - ba nền văn hóa tiền sử tiêu biểu nhất cho Việt Nam và Đông Nam á đều hội tụ về đây. Các lớp đất đá này cho thấy quá trình phát triển liên tục của con người tiền sử. Giá trị nổi bật của Hang Con Moong là lần đầu tiên phát hiện ra địa tầng có dấu vết của quá trình phát triển liên tục của con người thời tiền sử từ thời đồ đá cũ đến đồ đá mới, từ săn bắn, hái lượm đến trồng trọt. Sự phát triển này là một thành tựu văn hóa vĩ đại của nhân loại. Chính các cư dân ở đây đã góp phần tạo dựng nên văn hóa Đa Bút là văn hóa của cư dân đầu tiên chiếm lĩnh đồng bằng ven biển Bắc Bộ ở Thanh Hóa, tạo dựng nên một văn hóa ngoài trời. Hiện nay tỉnh đã và đang cùng các nhà khoa học triển khai xây dựng hồ sơ khoa học di tích hang Con Moong để trình Thủ tướng đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Tôi nói với anh Thông: Đây quả là quà tặng quý giá mà thiên nhiên đã giành cho Thạch Thành. Với hệ thống rừng nguyên sinh quanh khu vực hang còn giữ được nguyên vẹn, với nhiều loài cây gỗ quý, có đường kính lớn. Đặc biệt, tại đây còn khá nhiều động vật hoang dã như: khỉ, gấu, hoẵng, nai... có hệ sinh thái nguyên sơ, phong phú, sẽ rất phù hợp với việc phát triển du lịch sinh thái gắn với văn hóa-lịch sử cho cả một vệt Thành Yên, Thạch Lâm, Thạch Quảng...

Họa sỹ Cao Văn Đồng, Giám đốc Trung tâm văn hóa huyện, xuýt xoa nói với chúng tôi:

- Tiếc quá, giá hôm nay trời không mưa gió, tôi sẽ đưa các anh đi chiêm ngưỡng một tuyệt tác của nhiên nhiên mới phát hiện ở Thạch Thành.

Tôi không thể thờ ơ:

- Cái gì vậy?

- Một thác nước tuyệt đẹp, chín tầng thác... anh Đồng hồ hởi.

Liền đó anh cho gọi cậu phóng viên đài truyền thanh-truyền hình huyện mở cho chúng tôi xem hình ghi được. Thác đẹp thật, cao độ của thác không lớn lắm, nhưng chồng lên nhau tới chín tầng thác, nước tung trắng xóa... Quần thể thác có chiều dài hơn 500 mét, rộng 20 mét với hơn 60 cung bậc thác chảy và hang động rơi có chiều rộng hơn 200 mét...

Tôi được biết, trong chiến lược phát triển của mình, ngành công nghiệp không ống khói này được Thạch Thành ưu tiên đặc biệt, đó là đầu tư khai thác du lịch văn hóa tâm linh đền Phố Cát, du lịch văn hóa lịch sử chiến khu Ngọc Trạo, du lịch Thác Voi, và cả cái thác Mây chín tầng tuyệt đẹp vừa nói đây, ở Bản Thượng xã Thạch Lâm,v.v...

*

Con đường Bảy nối quốc lộ 1A với quốc lộ 45 như một gạch nối công - nông nghiệp, một gạch nối kéo miền núi gần lại với đồng bằng. Con đường vài mươi năm trước heo hút hoang vắng là thế, mà bây giờ thênh thang, phẳng lỳ bê tông, hai bên đường sầm uất chẳng kém gì miền xuôi. Năm 1995 Nhà máy đường Việt-Đài chọn đất lành Vân Du để đậu lại, đã tạo dáng cho Phố Cát nổi tiếng một thời bị bỏ quên và góp phần làm cho Thạch Thành thêm bề thế. Có nhà máy đường, vùng nguyên liệu mía sáu ngàn héc ta với 350 ngàn tấn mía hàng năm được tiêu thụ ổn định. Được biết nhà máy đường Việt - Đài đang có dự án xây dựng thêm nhà máy men ở thị trấn Vân Du với vốn đầu tư 300.000 USD. Rồi một nhà máy phân vi sinh ở Thành Tâm, nhà máy gỗ ở Thạch Quảng... sẽ ra đời nay mai, sẽ giải quyết được rất nhiều việc làm cho lao động tại địa phương.

Kim Tân, Vân Du, Phố Cát, rồi Thạch Lâm, Thạch Quảng, Thành Yên, Thác Mây, hang Con Moong,... tôi mường tượng, rồi đây sẽ thêm nhiều nữa nhà máy, công trường, khu đô thị, khu du lịch sinh thái, du lịch văn hóa lịch sử, du lịch tâm linh, khu công nghiệp vừa và nhỏ,v.v... những điểm xuyết tươi tắn cho bức tranh công-nông-lâm của huyện miền núi phía bắc tỉnh Thanh. Sẽ làm đổi thay diện mạo một vùng đất oai hùng từng vinh dự có căn cứ địa Ngọc Trạo, một địa danh đã cùng với đội du kích Ba Tơ, đội du kích Bắc Sơn là ba đội du kích đầu tiên của cả nước từ những ngày cách mạng còn trong trứng nước.

                                                                     Phố Kim, tháng 8-2011

 

       

NGUYỄN NGỌC PHÚ

 

Lời nguyện biển

   

Truyện ngắn

 

Cái chết của ông Ngư làm cho cả xóm Vạn Chài xôn xao: đó là con sói biển cuối cùng ra đi. Mặc dù xóm Vạn Chài này không ai có quan hệ huyết thống gì với ông Ngư nhưng họ coi ông như người thân trong gia đình, là niềm tự hào của họ.

Người làng kể lại rằng: ông Ngư là kết quả của cuộc tình vụng trộm của một anh ngư dân xóm Vạn Chài với cô hàng buôn nước mắm. Làng tôi nổi tiếng về nghề làm nước mắm. Cái thứ nước mắm màu cánh gián, sóng sánh như mật ong được nấu từ mắm muối cá cơm: loại cá cơm tươi ròng da thịt còn anh ánh cái màu lân tinh nước biển có một cái sọc trắng kéo dài dọc thân được đánh bằng lưới mười. Ghe, thuyền của dân Cửa Bạng, lạch Quèn đổ về nườm nượp. Láng sệt mùi nước mắm. Nhưng cũng lạ thật, các cô gái buôn thứ hàng này có nước da thật trắng, giọng nói thật duyên. Và đặc biệt mái tóc, trời ơi, mái tóc thật dài. Hình như nước mắm tinh khiết đã làm thay da, đổi thịt, làm tóc xanh lại, làm răng trắng ra, làm con mắt ướt át, đa tình hơn. Các cô gái có một bí quyết mồi chài quyến rũ dân Vạn Chài bằng cách sau khi mua bán ngã giá xong, họ mời các trai làng lên thuyền uống rượu nếp ủ hương thơm nức, uống bằng bát gốm Bát Tràng có in hình cánh buồm, mỏ neo, con thuyền lướt sóng, nhìn đã thấy sóng sánh cả mặt. Sau một chầu rượu ngà ngà say, các cô bưng ra những đĩa bánh cuốn tráng rất mỏng cuộn trong đó: mộc nhĩ, nấm hương, thịt nạc băm trộn với ruột tôm càng và được chấm bằng nước mắm họ mới mua, nhưng chỉ thêm vào một thứ gia vị đặc biệt được đựng trong một ống thủy tinh nhỏ: chỉ vài giọt thôi mà thơm nức, mà nhớ đời, ăn đến đâu thấm đường gân, thớ thịt đến đó. Về sau dân Vạn Chài mới biết cái nước thần kỳ diệu đó là tinh dầu cà cuống. Các trai làng quen ăn sóng, nói gió bỗng trở nên rụt rè, vụng về trước món khoái khẩu này. Dạo ấy bão to thuyền buôn phải nằm lại. Dân Vạn Chài rỗi việc, suốt ngày mui thuyền kéo kín. Con thuyền nhỏ cứ lắc lư, lắc lư theo cái nhịp điệu không phải là của sóng, của gió mà là những cuộc giao hoan cho bõ những ngày ăn đứng, ngủ ngồi hỏm mắt rình rập với con mực ngoài khơi. Cô gái xứ Thanh phải lòng anh trai xứ Nghệ và bẵng đi một thời gian khi thuyền buôn quay lại thì cô gái choáng váng khi biết tin bố của đứa bé đang nằm trong bụng mình sắp đến ngày sinh mà cô cố buộc thật chặt giải chiếc yếm sồi với chiếc quần vải thâm do dân Đồng Môn dệt nhuộm bùn đã chết biển; chết không tìm được xác; chết biển tội lắm: Chim tha, cá rỉa. Cô như người mất hồn đếm lẫn cả tiền mua tháo, bán tháo cho xong rồi một mình bơi cái thuyền thúng tròng trành sang dãy nũi Nam Giới trèo lên cái khe Hao Hao nước trong vắt tìm lại cái tảng đá phẳng như chiếc phản gỗ mà thiên nhiên đã kê rất đẹp. Người xưa bảo đây là bàn cờ tiên khuất sau hai hòn đá chồng lên nhau thật trớ trêu, chênh vênh gọi là đá ông, đá bà. Chính tại đây họ đã dìu nhau lên tột đỉnh của khoái lạc sau khi khỏa thân tắm nước khe mát rượi và nướng cho nhau ăn những con cua lột vỏ bắt trong hốc đá. Lúc mấp mé bên vực sâu của hụt hẫng bỗng chàng trai hít hít mái tóc dài buông xõa của cô gái vè khẽ thốt lên: lá sả! trời ơi, mùi lá sả! Họ mệt lả nằm bên nhau thở dốc...

Cô gái thẫn thờ lấy hai bàn tay vuốt nhẹ mép đá, mặt đá cứ ngỡ đó là da thịt của chàng trai, còn ủ hơi người. Đêm đó cô không trở về xóm Vạn Chài mà cứ ngồi đăm đăm nhìn ra biển. Những đám mây cuộn lên mang dáng chàng trai ngư dân lực lưỡng phút chốc tan ra thành hình con cá mập và cuối cùng đùn lên nấm mộ bông như một bông hoa cúc trắng. Gần sáng cô trở dạ: và đứa bé đỏ hỏn được bọc trong miếng vải buồm mà chàng trai xé tặng cô ngày chia tay. Nhúm rau cô ném xuống biển như muốn báo tin cho chàng trai biết: Con của anh đã ra đời - một chàng trai biển hẳn hoi. Trưa, chiếc thuyền của bố cô rúc tù và, kéo buồm báo cho đám thủy thủ say rượu trên làng xuống thuyền. Cô vội vã giấu đứa bé vào bên bụi rậm gần khe đá rồi xuống chiếc thuyền thúng cứ để cho nó buông trôi. Cô mệt lả, bầu vú căng nhưng nhức. Chiếc thuyền của cha cô vớt cô lên và dong thẳng một mạch về Thanh...

Đứa bé được một chiếc thuyền câu sang lấy nước ngọt đem về nuôi. Cứ thế nó lớn dần lên bằng tất cả các bầu vú sữa của đám đàn bà xóm Vạn Chài đang nuôi con nhỏ. Cái xóm Vạn Chài lạ thật; nghe nói ngày xưa họ là dân bộ Lô, bộ Chính dạt từ Quảng Bình ra. Cứ thế họ sinh sôi nảy nở, thuyền đẻ ra thuyền. Những đứa bé bò lổm ngổm trên thuyền như cua, đứa nọ cao hơn đứa kia nửa cái đầu. Chúng được nuôi trên sóng với gan có nhám cho mắt sáng ra để nhìn tinh luồng cá. Họ ít khi lên bờ, mua bán gì cũng kẻ trên thuyền, người dưới biển chủ yếu bằng phương thức đổi. Bắp chân họ teo lại nhưng bắp tay và lồng ngực thì cuộn lên như những mũi neo. Đặc biệt là đôi mắt nhìn cứ nheo nheo xuyên thủng cả mây núi, sương gió để nhận sao, đoán sóng tìm về cửa lạch không cần la bàn. Và cái tai thật thính nghe được tiếng thở của cá để đoán biết bầy đàn đang đi là loại cá gì. Lên bờ, họ đi như chạy, người dúi về phía trước, hai tay bơi bơi. Thằng bé được xóm Vạn Chài nhận làm con nuôi chung và đặt tên là thằng Ngư, được cái nó thấm cái gien của anh trai làng kia nên nhanh chóng trở thành một con sói con - mới mười tuổi đã được các bậc kỳ cựu cho cầm lái xuôi về không bao giờ nhầm lạch, mười lăm tuổi đã một mình đứng đầu mũi thuyền dùng cước số tám để câu cá cờ, có con nặng hàng tạ, cá cờ bén câu là nhảy thẳng đứng lên như mũi tên; người và cá thường phải vật lộn với nhau hàng giờ. Thằng Ngư lỳ lợm chưa bao giờ bỏ cuộc. Mưa cũng như nắng, nó chỉ đánh độc chiếc quần đùi may bằng vải buồm, cái mảnh vải ngày xưa mẹ nó bọc tã lót, vải buồm nhuộm nâu thật bền. Tuổi mười tám thằng Ngư tập uống rượu và ăn cá gỏi. Dân Vạn Chài chọn cá trích tươi làm gỏi, họ lựa lưỡi dao bén ngọt lóc thân cá ra trộn với các thứ gia vị: chanh, tỏi, nước mắm, hạt tiêu, đường. Ăn cá gỏi khỏe người lắm. Họ chữa bệnh đau dạ dày bằng cách moi cái bao tử cá to lấy trong đó những con cá nhỏ có dính đầy nhớt rán lên rắc hạt tiêu nhắm với rượu. Thằng Ngư khoái nhất là khi câu được con đẻn - một loài rắn biển. Nó cắt tiết hứng ngay vào bát rượu và khéo léo xẻ lưng lái cái mật bỏ vào. Hai tay nó bưng bát rượu lên ngang tầm mắt lầm rầm câu gì đó và khẽ rót xuống biển một phần thứ rượu pha huyết đẻn sau đó nó tợp luôn một hơi hết cạn; lấy tay chùi mép, cứ thế lùa gần hết một góc mâm cá gỏi vào miệng. Hai mươi tuổi Ngư trở lên thẫn thờ. Nhiều ngày nó tựa vào cột buồm đăn đăn nhìn những bầy chim kéo đàn tránh bão. Nhìn những đàn cá bạc má lóc bóc búng vây rộ lên như mưa rào. Buồn nhất là khi chiều xuống hải âu từng cặp khàn giọng bay đôi lặn dần vào ráng đỏ cái tổ ấm xa vút vời tầm mắt. Trai, gái xóm Vạn Chài cứ thế khéo đôi, vừa lứa. ở tuổi Ngư họ đã có một chiếc thuyền câu riêng và một lũ con.

Một chiều nọ Ngư bỏ chuyến đi biển lên làng xem tuồng. Đội tuồng làng tôi nổi tiếng cả một vùng. Họ bôi mặt, đeo râu, gươm oai vệ. Có anh chắt Hóa người gầy đét, ốm yếu thường đi hôi cá. Nhưng bù lại anh có giọng hát tuyệt vời thường được giao đóng vua. Vua phải độn thêm trong lớp áo những túi giẻ rách cho phồng to lên nom thật oai vệ cũng: "Như ta đây..." xưng danh vung gươm, múa giáo, dân chúng sợ xanh mắt. Khác hẳn với anh chàng nhỏ thó bẽn lẽn như con gái khi xuống thuyền xin cá, xin cũng rất văn nghệ bằng cách anh đặt ra những câu vè đồng dao dạy cho bọn trẻ của xóm Vạn Chài kiểu như:

"Thương vài thằng khố bần

cực vài thằng khố chạc

giọt mưa rơi lác đác

ướt chi được lá môn"

Ngư thường há hốc mồm nuốt chửng những câu vè của anh chắt Hóa và tự mình bịa ra những câu đại loại đúc kết kinh nghiệm đi biển kiểu như: "Tháng bảy, nước chảy lo le"; "tháng chín, nhịn đi buôn" hay có câu như ca dao nghe thật ai oán: "Tháng ba trong nước em ơi, bớt cơm anh lại mà nuôi mẹ già!". Chiều đó Ngư rủ anh chắt Hóa ra quán rượu của ông cụ Mày nạp "xăng" cho anh. Rượu vào lời ra, anh chắt Hóa như một cái máy nổ đứng lên lượn vài vòng theo tích tuồng "Lưu Bình, Dương Lễ" làm cho Ngư cười lộn cả ruột. Khi anh chắt Hóa lảo đảo đi về phía sân vận động để hóa trang Ngư thấy buồn thui thủi, len lén đi ra phía cánh điếm canh bỏ hoang trong vạt phi lao. Đến gần anh bỗng nghe tiếng khóc rấm rứt, thì ra trong đó có một cô gái đang ngồi khóc sưng cả mắt. Cô gái này là dân chợ huyện, chuyên xuống bán rượu cho dân Vạn Chài. Hễ thấy gánh rượu của cô xuống là đám trai làng vây quanh. Cứ thế tiền trao, rượu múc họ ngồi vừa uống vừa tán tỉnh nhưng không có ai sàm sỡ. Có một người quá chén định giở trò bị đám trai làng vứt xuống biển uống một trận nước căng bụng mới được vớt lên, từ đó sợ khiếp hồn. Cô gái đâm nghiện cái mồ hôi nồng nặc pha vị mặn mòi gió biển của đám trai làng, cả cái giọng nói nằng nặc khê đặc pha đôi chút tiếng lóng. Cô thích xem họ ngà ngà say vừa nghêu ngao bá vai, bá cổ hát các bài vè của anh chắt Hóa đặt. Người say rượu thật hồn nhiên, họ đâm ra cởi mở và thật bụng. Họ luôn giành cho cô những món quà nhỏ: khi là một chiếc vỏ ốc đẹp, mấy con mực khô, vài cặp cá thơởng nướng. Đáp lại cô gái bao giờ cũng bán vừa phải giá, trả lại số tiền thừa mà họ quên, và đôi lúc cũng liếc mắt đa tình. Trong số họ, Ngư là anh chàng cô mến nhất. Khác với những người khác, Ngư có cặp mắt thật buồn, vui đó, buồn đó và pha chút mộng mơ. Anh Ngư ít nói, mà nói có duyên đáo để, nói thật chí lý ví như: "Không ai làm giàu bằng biển cả, làm giàu bằng biển là có tội" hay "Biển ở trong mắt o đó" làm cho cô gái đỏ mặt, rượu sánh ra ngoài ướt cả vạt cát. Chiều đó cô kể cho Ngư chuyện cô mình bị bố mẹ ép lấy một thằng chuyên nghề mổ lợn ở chợ huyện. Thằng đó nhà giàu, mắt lúc nào cũng đỏ kè kè, mặt lì ra như cái phản thịt. Và cứ hễ nhìn nó giơ con dao nhọn hua lên mấy vòng như múa trước khi chọc tiết lợn máu phun ra như cần câu cô đã tái mặt. Cô bỏ làng xuống đây chờ đêm xuống ra biển trẫm mình. Bởi cô biết dân biển có tục lệ thiêng liêng: hễ vớt được ai chết đuối cũng làm ma chay, đình đám đàng hoàng, họ xem như đó là một bổn phận, dịp may để họ làm phúc, nhất là vớt được xác đàn bà.

Ngư lựa lời nói mãi cô gái mới yên tâm chịu cùng anh đi xem tuồng. Khi anh chắt Hóa bước ra sân khấu cả đám đông nhốn nháo lặng phắc nghe anh đọc bài vè mới ứng khẩu chiều nay. Bài vè kể về một người chết biển. Tự nhiên Ngư bưng mặt khóc, khẽ thôi, nhưng cô gái biết. Dòng nước nóng hổi chảy xuống tay cô làm người cô run lên như có một luồng điện chạm vào. Hai người dìu nhau rời khỏi đám đông về cái điếm canh. Họ lót lá phi lao làm ổ. Và trong ánh trăng mờ mờ Ngư lần mở từng miếng vải trên người cô. Đây là lần đầu bàn tay chai sần quen kéo neo, kéo lưới của anh chạm vào da thịt đàn bà mát rượi. Đến lúc khuôn ngực với hai núm vú căng mây mẩy như đôi quả đào tiên lộ ra thì tự nhiên Ngư nhủn người xuống. Gân cốt căng như dây đàn lúc nãy bây giờ nhão ra, bao ham muốn trong anh đang ngùn ngụt dâng lên bỗng tắt lịm đi. Trước mắt anh không phải là một cô gái mà là một người đàn bà. Anh thốt lên như mê sảng: Mẹ ơi! môi anh lướt nhẹ trên khuôn ngực và bập vào núm vú. Anh như một chú cún con ngoan ngoãn trong vòng tay vỗ về của cô gái. Mặc dù cô gái âu yếm bằng mọi cách vẫn không làm cho Ngư nguôi đi được bởi sự ám ảnh về những người đàn bà xóm Vạn Chài cho anh bú thuở xưa. Sự thiếu hụt tình thương người mẹ bỗng trào về day dứt. Họ ôm nhau nằm thiếp đi đến gần sáng lúc gà gáy rộ lên. Xóm Vạn Chài lục đục đã có thuyền về bán cá. Ngư choàng tỉnh dậy và nhận ra bên mình là tấm thân trinh nguyên của cô gái bán rượu mà lâu nay anh vẫn thường nhìn trộm. Bản năng người đàn ông trong Ngư được đánh thức. Anh chồm lên cơ thể cô gái. Sức khỏe cường tráng pha chút hoang dã của Ngư đã tạo ra một cơn bão lốc. Hai xác thịt hút vào nhau đến kiệt cùng. Giống như đôi sam quấn nhau trong mùa hoan lạc mà Ngư thường bắt được cả đôi. Chúng cũng không chịu rời nhau cho đến lúc giội nước nóng vào các cặp chân mới duỗi ra tách rời. Họ nằm lặng bên nhau như biển lắng xuống để chốc lát dông tố bùng lên như gió đổi chiều trong mùa bão.

Ba chục năm sau ở cửa lạch làng tôi có một chàng trai về gác hải đăng. Chàng trai ít khi sang làng. Khi có việc cần mua gạo, củi thì nhờ thuyền bà chắt Hóa. Bà chắt Hóa chính là cô gái bán rượu chợ huyện. Sau đêm gặp nhau Ngư cùng cô gái dạt sang vùng dân làm muối. Họ ở tạm trong góc nhà kho đựng muối. Hàng ngày đi làm thuê cho nhà buôn Phát Đạt - một ông chủ hãng muối lớn kinh doanh thời đó. Làm muối cực lắm; bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Người ta nói: "muối là máu của đất" không sai. Một đêm, sau khi ân ái, cô gái báo tin cho Ngư biết họ sắp có con. Ngư ôm riết cô vào lòng mình khấp khởi mừng. Nhưng rồi càng ngày cô thấy anh càng thẫn thờ. Anh nhớ biển. Anh như con cá bị vứt lên bờ trói chân, trói tay. Anh thèm cái khoảng không bao la của biển. Anh khao khát trở lại xóm Vạn Chài với một ước vọng: góp tiền mua một con thuyền câu đón hai mẹ con cô về ở với mình. Đêm chia tay họ nằm bên nhau không ai nói gì cả. Ngư đưa bàn tay vuốt ve cái bụng phập phồng theo nhịp đập gấp gáp của trái tim cô gái. Anh thầm thì: Chúng mình sẽ có con! Có con! Có con. Nhưng gần đến ngày sinh thì thuyền anh bị bão dạt trôi vào đảo Hòn Mắt gần một tháng. Cô gái mỏn mòn chờ trông. Đêm trở dạ, cô yếu lắm. Bà chủ nhà đi nhờ bà mụ ở xóm trên xuống cắt rốn cho đứa bé. Cô gái ngất đi chỉ loáng thoáng nghe tiếng khóc của trẻ sơ sinh và tiếng người nói xôn xao, tiếng giành giật nhau. Mấy ngày sau tỉnh lại thì bên người cô là một khoảng trống không lạnh ngắt. Nhà buôn Phát Đạt đã cho người đến bắt trộm đứa con mới sinh để phạt vợ chồng Ngư không thực hiện đúng hợp đồng làm thuê cho họ. Cô gái như một cái xác không hồn vật vờ quay trở lại xóm Vạn Chài và ngã gục ngay trước chiếc lều của anh chắt Hóa.

Họ trở thành vợ chồng khi nghe thuyền Ngư bị nạn đắm biển trôi dạt đâu đó ở ngoài Thanh. Anh chắt Hóa bỏ nghề đi hôi cá cùng vợ làm nghề đóng đáy trên sông - dòng sông chảy ra cửa lạch. Từ ngày có ngọn đèn biển, các vụ tai nạn thuyền, bè vào cửa lạch giảm hẳn đi. Có hôm chàng trai lên cơn sốt, bà chắt Hóa bỏ cả đóng đáy lên chăm sóc, bón từng thìa cháo cho anh. Bà rất thương anh khi nghe nói anh mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Anh tình nguyện về đây gác hải đăng với mong muốn tìm lại người mẹ thưở xưa mà bố nuôi của anh bảo là người làng gần đây...

Sau tháng bão Ngư trở lại xóm Vạn Chài với một lời nguyền trước biển: không bao giờ lên làng nữa, không bao giờ lấy vợ nữa! không bao giờ! Không bao giờ. Sóng biển lấp đi tiếng gào của anh trong một đêm tối trời...

Ông Ngư thành một con sói biển kỳ cựu nhất xóm Vạn Chài. Chỉ ngửi hơi biển ông đã biết được luồng cá đang chạy ở đâu. Đánh cá như đánh bạc. Có khi cả mẻ cá vào lưới mà kéo lên vẫn trắng tay vì lưới rách hoặc neo đứt. Có những đêm sương mù dày đặc cây rạo bằng tre trồng ở làn nước sâu hai lăm sải tay cách bờ gần năm mươi cây số nhưng ông Ngư vẫn cầm lái chém sóng luồn gió ra đi. Ông huy động tất cả các giác quan linh cảm của mình để tìm tạo nhà. Mắt nhìn sao, tai nghe chiều sóng vỗ thuyền, lưỡi nếm mùi gió. Đến lúc ông cho bỏ neo, đám thủy thủ ngơ ngác vì chưa thấy rạo đâu, ông bảo: "Nó đã ở kề đây rồi, sáng mai sạch mù, khắc thấy". Quả nhiên lúc mặt trời lên, sương mù tan thì cây rạo đã kề cạnh. Ông Ngư ngày càng lầm lì, lấy rượu giải khuây. Đến một ngày gân cốt đã mỏi, ông truyền nghề cho đám con trai xóm Vạn Chài, đọc cho họ chép lịch thời tiết trong năm, ví dụ như: Ngày 7-2 là có giỗ nhà cụ Bát là ngày đó có bão cả thuyền nhà ấy chết; thời ấy ít có đài, chủ yếu dựa vào các ngày giỗ để tránh bão.

Gần đến con nước 21 tháng 6 là thời điểm mực ăn nhiều nhất trong năm. Ông Ngư quyết định cho thuyền ra rạo Cồn ở làn nước mười tám sải. ở dưới đáy biển vùng này có một cồn cát sóng lượn bồi đắp lên. Mực đóng ổ xây tổ như con ong. Gặp đêm dông mực ăn nhiều nhưng chỉ rộ lên một lúc như tằm ăn rỗi ở một độ sâu nhất định rồi lặn biệt tăm. Ông Ngư bảo đám trai làng: Muốn câu mực phải có mẹo, ông cha đã bảo: "Mực mẹo" mà!. Có lần thuyền ông Ngư đỗ đúng ổ mực cứ thả bất cứ dây gì xuống vòi mực cũng bám vào và kéo lên hàng chục con. Trong khi đó các thuyền đậu xung quanh chỉ có đứng nhìn và ngủ gật. Của biển là của trời cho, không ai gieo mà gặt.

Đêm đó quả nhiên có dông thật, thuyền lắc lư, chao đảo. Ông Ngư bỏ mồi đầu tiên. Bằng sự nhạy cảm đặc biệt ở da tay, ông giật giật sợi cước và thông báo cho các thuyền xung quanh biết mực đang ăn ở làn nước sâu mười ba sải tay. Riêng ông cứ rình rập mãi với một con mực chúa. Mọi người rộ lên vì mực ăn nhiều nhưng không thấy ông Ngư giật câu. Ông ngồi như một bức tượng, lưng dựa vào tay lái, trước mặt bát rượu đã cạn, hũ rượu còn non nửa. Đến lúc ông thét to: "Ăn rồi". Mọi người đổ xô lại. Quả nhiên trong làn nước trong xanh do ánh đèn măng - sông hắt xuống, một con mực ống dài gần một mét mắc lưỡi câu đang trườn lên mặt nước lừ lừ như một con rắn. Gần đến be thuyền nó phụt ra một luồng mực đen mạch chưa từng thấy vào người ông Ngư bắn tung tóe cả những người đứng cạnh. Ông Ngư lảo đảo, hai mắt tối mù nới lỏng dây câu. Được đà con mực quẫy đuôi trốn thoát. Hai tay ôm mặt, ông Ngư "hực" lên một tiếng và như một cái xác không hồn đổ xuống rũ rượi cạnh hũ rượu và bát lỏng chỏng. Mọi người tản ra mải mê với mực bỗng nghe tiếng rơi bõm, họ quay lại không thấy ông Ngư đâu nữa. Đêm đó tất cả các thuyền trong xóm Vạn Chài quây đi, quây lại như đan lưới vẫn không tìm ra được xác ông Ngư.

Ba ngày sau trời mưa bão, thuyền bè về cả chỉ còn dân đóng đáy trong sông bòn con tôm, con cua thì bỗng nhiên tờ mờ sáng đáy ông chắc Hóa kéo lên thật nặng. Nhưng kéo lên thì trời ơi, một cái xác. Một người đàn ông có mái tóc bạc như cước nằm sấp. Lật người ra ông chắt Hóa rụng rời: đó là ông Ngư. Gương mặt chìm trong nước ba ngày mà vẫn tươi tỉnh như lúc còn sống. Ông chắt Hóa hú hồn khấn mãi và lấy

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=339834

TRUYỆN NGẮN
vannghexuthanh | 28 Nov, 2011, 18:15 | XỨ THANH THÁNG 9/2011 | (3 Reads)

TRỊNH DUY TUÂN

 

 Cho đến ngày xưa

 

 

Truyện ngắn

 

- Vâng, không dám, chào bà !

Dẫu trước câu đáp lại lời chào vẫn còn lạnh lùng nhưng bà cảm thấy mừng lắm. Bởi đã từ lâu, hầu hết người trong làng đều đáp lời chào của bà với một khoảng cách xa vời vợi, còn xa hơn những người mới gặp lần đầu. Làng quê của bà thay đổi nhiều quá ! Đâu còn như cái ngày xưa, tình làng nghĩa xóm nồng ấm. Gặp nhau đon đả chào hỏi, ríu rít trò chuyện. Mọi người sống với nhau bằng cái tình cái nghĩa. Trọng nghĩa tình là một nét đẹp của cái làng hơn nửa trăm nóc nhà này. Thế mà... Thói đời thật ghê gớm thay!

Mà bà có làm gì nên chuyện?

Chôn rau cắt rốn, lớn lên, sinh con đẻ cái tại cái làng này, bà hiểu từng chân tơ kẽ tóc người dân trong làng. Bố bà ngày xưa làm nghề dạy học chữ Nho, sau chuyển sang dạy chữ Quốc ngữ. Bà được thừa hưởng một sự giáo dục vừa cổ vừa kim. Ngày còn con gái, bà nổi tiếng không chỉ vì xinh xắn nhất làng mà chính là ở sự khuôn phép, lễ nghi, sự lao động siêng năng, chịu khó của cô thôn nữ trong một gia đình gia giáo. Trai làng nhiều người đánh tiếng. Các ông bố bà mẹ của họ nhìn bà đầy ao ước. Bà chẳng vội nhận lời ai. Và cũng chẳng làm ai mất lòng. Con gái tuổi mười tám đôi mươi là khôn lắm! Bà cũng vậy, nhưng bà vừa khôn lại vừa ngoan. Người ta bảo, trai nào lọt được vào mắt xanh của bà là may mắn nhất. Nhưng mắt bà không xanh. Mắt bà đen nhánh, trong trẻo. Có lẽ vì vậy mà ngoài hai mươi tuổi bà vẫn một mình một bóng (ở làng này, con gái ngoài hai mươi mà chưa chồng con là muộn rồi). Tuy vậy, trai làng, nhiều người vẫn muốn theo bà đến cùng trời cuối đất. Chẳng biết trời có cùng, đất có cuối hay không, bà chỉ biết chính tại cái làng này bà đã nên gia thất. Người con trai sau này là chồng bà cũng chẳng phải đi mòn đường nhẵn lối từ sau cái lần gặp nhau tình cờ ấy...

Đầu làng có cây cổ thụ vài ba trăm tuổi. Các cụ trồng nó tự bao giờ, để làm gì chẳng ai biết. Cháu con cứ thấy tiện là sử dụng. Đi làm đồng, mưa nắng vào trú chân. Những trưa hè oi ả, trai gái kéo nhau ra hóng mát, nô đùa. Đêm trăng thanh, tiếng sáo ai vọng vào làng tha thiết, mời gọi. Bà đã đến đây không biết bao lần rồi, không nhớ nổi. Nhưng có một lần... Có muốn quên cũng không được.

Hôm đó trời đột ngột nổi cơn giông. Người làng bỏ việc đôn đáo chạy về nhà tránh mưa. Bà làm ở tận cánh đồng xa, về đến cây cổ thụ thì mưa ập xuống. Bà chui vội vào ruột cây bị rỗng, rộng đến gần nửa gian nhà. Từ bao giờ, ai đã đặt vào đây một bát hương để cúng thần cây. Lại hình hai trái tim lồng vào nhau được khắc bên cạnh lối vào. Ngồi bên trong, bà thấy giống như ngồi ở nhà. Từ ngày còn bé, bà đã rất nhiều lần vào đây. Nhưng không hiểu sao, hôm nay bà thấy nó khác lắm. Gần gũi mà thiêng liêng. Bà quay mặt vào bát hương khấn thầm. Bà cười một mình. Không hương khói mà cũng vái lạy. Ngố ơi là ngố! Bà quay ra nhìn trời. Mưa tầm tã. Sấm chớp liên hồi. Hình như bà thấy sợ. Người ta thân gái dặm trường, còn bà, con gái không hương khấn thầm. Vô duyên! Chẳng biết thần cây có qưở trách bà không. Hình hai trái tim đập vào mắt khiến bà quên đi nỗi sợ hãi. Ơ kìa ! Mọi khi, hình hai trái tim rõ nét là thế, sao hôm nay, trái rõ, trái mờ. Mà hình như trái mờ kia cứ rõ dần, rõ dần. Bà không tin vào mắt mình nữa. Bà dụi mắt để nhìn lại xem sao. Hình hai trái tim như bị cái bóng gì đó che khuất. Bóng cứ to dần, to dần… Thì ra bóng một người đang bước vào để tránh mưa. Nhận ra anh Tân, người xóm Thượng, cùng làng, bà nhỏ nhẹ:

- Anh vào nhanh lên kẻo ướt hết người bây giờ.

Tân nhìn bà, rụt rè:

- Sao cô lại ở đây? Có còn chỗ không?

- Trong này có thể chứa được hơn chục người ngồi cơ. Anh đi đâu mà về giữa lúc này?

- Tôi lên huyện nhận quyết định phân công công tác.

- Thế anh học xong rồi à? Anh về dạy ở đâu?

- Được dạy ngay tại làng ta.

- Thích quá anh nhỉ?

Thế rồi hai người chẳng biết nói gì với nhau nữa. Kẻ đứng, người ngồi. Im như thóc. Trong thân cây, tuy trời mưa song không tối lắm. Bà vẫn nhìn rõ khuôn mặt khôi ngô, đặc biệt là cái nhìn của người con trai xóm trên. Sao anh ấy cứ nhìn mình thế nhỉ? Không phải cái nhìn dò xét, soi mói. Không phải cái nhìn răn đe, dọa nạt. Càng không phải cái nhìn đắm đuối, say mê nhưng vừa đủ để bà cảm nhận được sự âu yếm của một tình cảm đang trỗi dậy trong tim… Ngực bà đập khác thường. Người cứ nóng dần lên. Cảm giác lúc ấy đến tận bây giờ bà vẫn không thể nào quên được. Hình như Tân cũng vậy. Hai người cứ đứng, cứ ngồi như thế để chờ trời tạnh mưa. Và hình như còn để tận hưởng sự giao thoa của hai trái tim lần đầu cùng rung động.

Ngoài trời, mưa bắt đầu ngớt. Tân bối rối nói trong hơi thở :

- Tranh thủ lúc bớt hạt ta về đi kẻo phía đông mây vẫn đang vần vũ.

Chạm bàn tay vào tay Tân để Tân kéo lên, khắp người bà râm ran một cảm giác khác lạ chưa bao giờ bà gặp... Hai người thong thả bước dưới trời mưa đang tạnh dần.

Cuối năm ấy, bà về làm vợ ông giáo tiểu học xóm Thượng...

Con đường tiến thân của chồng bà rất thuận lợi. Chỉ sau một thời gian làm hiệu trưởng, ông được chuyển công tác lên ủy ban huyện, làm đến chức trưởng phòng. Chẳng bao lâu, ông được điều lên tỉnh. Trước khi nghỉ hưu, ông đã là cán bộ to của cái tỉnh có tới mấy triệu dân này.

ở nơi xa huyện, xa trung tâm, làng bà rất ít người lạ ghé qua. Khách của các gia đình hầu hết đều là người làng. Không như gia đình khác, kể từ ngày ông làm hiệu trưởng, nhà bà thường xuyên có khách lạ ra vào, nhất là những dịp lễ lạt, tết nhất. Khi ông chưa làm hiệu trưởng, ngoài giờ đi làm, bà và mấy người trong xóm, quanh làng thường qua lại với nhau. Lúc xin quả cau, lá trầu ; lúc mượn con dao, cái thúng ; khi để trò chuyện … Thỉnh thoảng nhà có đồng quà tấm bánh, bà thường chia cho mấy người hay qua lại. Của chẳng đáng là bao nhưng lòng mọi người chân tình, mộc mạc. Tình cảm nồng hậu ấy những tưởng chẳng bao giờ mất đi trên mảnh đất này, trong con người bà...

Mấy năm đầu, khi ông làm hiệu trưởng, mọi người trong làng vẫn thường xuyên qua lại với bà. Sau đó cứ thưa dần, thưa dần... Không phải vì bà xa lánh họ. Mà là vì nhà bà hay có khách. Nhà người ta có khách, mình đến bất tiện lắm. Quà bánh khách biếu, bà vẫn thường mời hoặc chia cho các gia đình cùng chung bờ rào lối ngõ... Nhiều lần bà đem xuống tận xóm Hạ để biếu bố mẹ đẻ và cho mấy đứa con các cô bạn lúc tóc còn để chỏm. Ai cũng quý mến bà. Không phải vì quả cam hay miếng bánh. Lại càng không phải vì mảnh vải hay cái khăn rửa mặt. Chính là vì tấm lòng thơm thảo của bà. Của ít mấy cũng là tấm lòng. Không có để cho nhau không phải vì không quý nhau. Có mà không cho nhau thì mới đáng trách. Cái làng quê của bà ngàn đời rồi vẫn thế!

Nhưng là ngàn đời trước đây.

Đang mải nghĩ, tiếng anh trưởng thôn kéo bà về với thực tại :

- Chào bà vợ ông quan hưu trí lương cao nhất xã.

Lại cái giọng móc máy mà xưa kia, người làng bà rất ít nghe.

Lương cao thì ảnh hưởng gì đến ai cơ chứ! Ông nhà tao thoát ly từ lúc mày chưa sinh kia nhóc ạ. Tao còn thấy mặt trời trước mẹ mày mấy năm đấy, đồ vắt mũi chưa sạch ạ! Không có ông nhà tao thì bố mày đến lúc xuống mồ vẫn còn phải sấp mặt xuống ruộng. Lương bố mày làm sao bằng ông nhà tao được mà ghen tỵ. Cái thằng ăn xong quẹt mỏ. Trước kia có lúc nào mày không được tao cho bánh quà! Mà hay được phần nhiều là đằng khác. Cùng chung bờ dậu, tắt lửa tối đèn có nhau mà lỵ. Mãi khi mày lớn lên tao mới không cho nữa chứ!

Mà hình như từ khi nó lớn lên, bà cũng chẳng còn hay cho mọi người quà bánh nữa. Cũng chẳng phải vì bà tham. Chức vụ của ông nhà bà càng to thì của biếu xén càng nhiều. Bánh trái có ít hơn thật. Nhưng không phải không có. Người ta dùng túi bánh trái để đựng những thứ khác, nhỏ hơn nhưng giá trị hơn. Bánh trái bà vẫn chia cho hàng xóm. Số người nhận quà bánh bà cho ngày càng ít. Bởi lẽ nhiều người phải đội ơn ông nhà bà nên không dám nhận. Không có để biếu ông ấy thì thôi, nỡ nào lại nhận lộc của ông ấy. Ví như lộc trời cho lại khác, đằng này là “lộc” người dâng. Người ta phải đổ mồ hôi sôi nước mắt để làm ra của, ai lại nhẫn tâm hưởng không của họ. Vả lại, bà cũng bận trăm công ngàn việc, ít lúc rảnh rỗi để trò chuyện với mọi người hay đi chia bánh quà cho trẻ nhỏ như trước kia. Lâu ngày thành nếp sống. Bà cảm thấy mọi người càng ngày càng xa bà hơn và bà cũng xa dần mọi người lúc nào không biết.

Ông đi thoát ly, ngoài việc đồng áng, bà còn phải giúp ông tiếp khách. Bà nhiều lần tiếp khách thay ông. Đa số khách cứ nhè lúc ông vắng nhà mới đến. Hỏi thăm qua quýt cho xong chuyện. Chủ yếu đến để quà cáp. Xin chị nhận cho, đây là tấm lòng thành của em đối với thủ trưởng. Anh giúp em nhiều chứ em thì... Có chút quà mọn thôi mà.

Bảo nó nhỏ thì nó nhỏ thật. Mảnh vải áo. Chai rượu ngoại. Phong bì phong bao... Cồng kềnh lắm cũng đến con gà trống thiến hay cân gạo nếp. Họ cứ trao được quà xong thì xin phép ra về.

Thời gian đầu bà cũng ngài ngại thế nào ấy. Nào có họ mạc gì, kể cả họ xa. Láng giềng càng không phải. Toàn người tứ chiếng tận đẩu đầu đâu. Sao họ tốt thế! Lòng họ thơm thảo thế! Có lẽ họ cũng giàu. Chắc ở cơ quan ông, mọi người sống tốt với nhau lắm. Cũng như ông nhà bà, hầu hết họ đều từ chân lấm tay bùn mà ra. Bà tự hào vì có người chồng được mọi người quý mến, kính trọng. Chưa bao giờ ông ấy kể với bà bất cứ chuyện gì ở cơ quan nhưng qua cách cư xử của mọi người, bà cảm nhận được điều đó. Chắc ông ấy cũng hay đến chơi nhà họ. Thể nào chẳng có chút bánh quà. Có đi có lại mới toại lòng nhau mà! Bà chắc thế. Bởi vì ở làng quê bà vốn thế. Với lại, ông nhà bà cũng từ mảnh đất làng này ra đi. Thôi thì họ cho, mình nhận. Bánh quà thì chia bớt cho mọi người. Chai rượu để cúng tổ tiên. Phong bì phong bao, nói cho chồng biết để ông ấy còn tìm cách trả lại cho người ta. Của biếu là của lo. Mình có ăn không của họ đâu. Tuy nhiên, cũng đôi ba lần bà quên không nói cho ông hay, nhưng ông đều biết hết. Hơn nữa, càng về sau, quà qua tay bà càng thưa dần. Nhưng những lần ông đưa tiền, đưa vàng… cho bà cất giữ càng ngày càng nhặt hơn. Không ít lần, ông đưa cho bà sổ tiết kiệm tiền đô la. Lúc đầu, nào bà có biết mặt mũi đô la ra làm sao. Bà chỉ nghe nói qua ti vi. Nhưng rồi, một lần và nhiều lần sau đó bà không chỉ được mắt thấy mà còn được tay cầm. Té ra nó cũng là đồng bạc. Nó cũng được in trên giấy. Người ta dùng nó để mua bán, trao đổi. Có gì khác đâu! Tiền nào chẳng là tiền! Nước nào chẳng có tiền!

Cứ thế, dần dần bà chỉ quen nhận và quên cho. Làng này, mấy gia đình không chịu ơn nhà bà. Người thì ông xin cho làm việc này việc nọ. Người thì nhờ bóng của ông mà được cất nhắc lên làm ông nọ bà kia. Rồi thì xin vào trường học nghề hay bố trí nơi công tác cho thằng em, con chị... Cái thời đang còn đói kém, tháng ba ngày tám nào bà chẳng cho những gia đình khó khăn vay đấu lúa, mượn đồng bạc... Vì vậy, có cho họ cũng ít dám nhận.

Những khi trong làng có đình có đám, bà thấy mình lạc lõng làm sao ấy. Nhiều khi, bà cứ như một người thừa. Cái kẻ ăn xong quẹt mỏ thấy bà thì tìm cách trốn mặt. Những người đội ơn bà mà sống có trước có sau cũng ít khi dám ngồi cùng mâm với bà. Hình như họ ngại. Ngại vì ơn huệ của bà lớn thế, ngồi với nhau sẽ mang tiếng bất kính. Ngại vì chưa có cái gì để gọi là trả ơn cho bà, ngượng lắm! Ngại vì... Vì gì nữa không biết? Mà rất có thể cả đố kị nữa. Lòng biết ơn và sự đố kị nhiều khi vẫn có thể làm bạn được với nhau lắm ch! Thành ra bà chẳng biết ngồi mâm nào. Hay chẳng mâm nào muốn bà ngồi chung. Có lẽ cả hai. Lạc lõng là vì thế.

Về sau, mỗi khi có ai đó đến mời bà (không mời bà là không phải đạo), bà tìm mọi cách để thoái thác. Bà thoái thác chắc có người mừng thầm (cỗ bàn nhà mình thấm vào đâu so với bữa cơm thường nhà bà ấy...). Nhưng không nhà nào bà không gửi tiền mừng. Nhân thể đến mời, tiện thể cầm hộ. Chẳng ai dám nhận. Bà mà đến được là quý nhất, còn gì bằng. Bà không đến được, chẳng ai đang tâm nhận tiền mừng của bà. Nhận sao được! Ai lại làm thế bao giờ? Phải biết tự trọng chứ!

Thành ra, bà quên cho lúc nào bà cũng không hay nữa.

Cũng chẳng phải tại bà. Mà cũng chẳng biết tại ai. Chỉ biết rằng mọi người cứ xa lánh, cứ lạnh nhạt dần.

Sự lạnh nhạt của người làng lúc đầu bà chẳng để tâm. Rồi bà thấy sờ sợ. Sợ chứ không phải là sờ sợ nữa. Bà đã phải tìm cách để gần họ hơn, để xóa đi cái khoảng cách vô hình nhưng đầy cay nghiệt ấy.

- Bà ơi, ông sai cháu đi tìm bà về. Nhà ta có khách bà ạ.

- Ai đấy hả cháu?

- Cháu không biết bà ạ. Cháu chưa gặp ông ấy bao giờ cả.

Ai đấy nhỉ? Bà rảo nhanh bước chân về nhà. Hình như... hình như... Có phải là ông... Mà đúng là ông Hòa thật rồi! Ông Hòa, người bạn thân thiết của ông nhà bà từ thời học sư phạm. Hai người thân nhau lắm, xem nhau như ruột thịt. Dễ đến gần hai chục năm nay ông ấy mới đến nhà bà. Không hiểu sao xã trên xã dưới mà lâu lắm ông Hòa mới đến chơi. Ông ấy vẫn là ông giáo Tiểu học ở cái trường mà ông nhà bà từng dạy trước kia. Ông Hòa về hưu cùng năm với ông nhà bà. Xưa nay ông Hòa vốn là người sống chân tình, có thủy có chung. Lúc chồng bà được điều lên huyện, ông ta vẫn qua lại với nhà bà tuy có thưa thớt hơn. Từ khi ông nhà bà lên công tác trên tỉnh, không hiểu sao, ông ấy chẳng đến nhà bà lần nào nữa. Đôi ba lần bà có hỏi nguyên do, chồng bà chỉ lắc đầu: “Tôi cũng không biết nữa”.

Hai ông nói chuyện với nhau rôm rả lắm. Toàn chuyện thời còn học sư phạm, chuyện ngày mới ra trường. Qua câu chuyện của họ, bà thấy hai ông vẫn thân mật, quá thân mật nữa là đằng khác. Vẫn như xưa, không hề có gì khác cái thưở hàn vi, cái thời trai trẻ. Bà chẳng hiểu ra làm sao nữa cả. Nhưng lòng bà vui lắm. Thôi, mặc cho hai ông trò chuyện. Bà đi lo mâm rượu sao cho tươm tất là được...

Bà hoan hỉ bưng mâm lên nhà trên. Tiếng ông Hòa rành rọt như rót vào tai bà : “Gần hai chục năm qua, tôi quá vất vả vì đông con. Bản tính tôi ngại phiền hà người khác. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn quý ông như ngày xưa. Những gì tốt đẹp có được phải biết gìn giữ. Để mất thì rất khó lấy lại.”

Xa xa, bỗng vọng lại tiếng ru hời nghe ngọt lịm:

ầu ơ... Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài... Ơ... ầu ơ...

                                                                            Tháng 8 năm 2011

                                                                                        T.D.T

 

 

 

 

 

 NGUYỄN THÁI SƠN

 

Người chở đò đêm

  

Truyện ngắn

 

Lâu không có mưa nước sông trong vắt. ở bên bồi nhìn rõ từng con ốc đang cặm cụi vẽ những đường ngoằn nghèo, trên đất phù sa mịn thín. Bên lở, bờ đê như bức tường thành lồi lõm, dấu tích của những cơn sóng mùa lũ bão đã đi qua. Gió đông nam thoang thoảng. Mặt trời phía đông hừng lên một quầng sáng như ánh lửa đám cháy, báo hiệu một ngày nắng nôi còn sót lại của cuối hạ đầu thu. Suốt đêm qua ông Đức không sao ngủ được, vì ánh trăng lồng lộng và gió cứ thổi dọc triền đê, đưa mùi phù sa, mùi ngô non về quấn quýt. Giống hệt hôm nào, ông đưa mẹ con người phụ nữ sang sông. Sáng nay ông dậy sớm diện bộ quân phục vẫn để dành, lên đò thanh thản châm một điếu thuốc, ngả người dùng chân khua nhẹ mái chèo, sang bên kia sông...Ông Đức làm nghề chèo đò sau một bi kịch của gia đình: Năm ấy từ chiến trường Tây nam bộ ông được ra bắc điều dưỡng, rồi phục viên về quê lấy vợ. Vợ ông lần lượt sinh cho ông hai thằng con trai kháu khỉnh. Một vợ hai con chẳng giầu, chẳng nghèo, gia đình ông cũng đầm ấm như hàng trăm, hàng ngàn gia đình khác. Rồi một ngày: Gã bác sỹ chuyên khoa sản của bệnh viện huyện, trong trạng thái hoảng loạn đến gõ cửa nhà ông. Hắn bảo: “Hai đứa con mày nuôi là con của tao, hãy trả nó cho tao”. Ông như người ngủ bị đánh thức bởi những hạt mưa hắt qua cửa sổ, không kịp phản ứng gì đứng trơ ra. Vợ ông tái mặt. Bà giải thích: “Vợ và hai con nó vừa bị tai nạn giao thông, chắc nó nhầm anh với người gây ra tai nạn”. Ông hiểu ra, thông cảm: “Thôi mày về đi, không phải tao đâu”. Hắn lùi lũi ra về.Lần thứ hai hắn đến. Lần này hắn tỉnh táo đặt vấn đề: “Tôi là con trưởng, phải có người nối dõi. Ông không có con, hai đứa là con tôi, hãy cho chúng về với bố nó”. Nhìn gương mặt tái nhợt, nghĩ đến vợ và hai đứa con hắn vừa mất. Ông kìm bực tức: “Mày về đi, nếu đúng con mày tao sẽ trả”. Hắn bước ra cổng còn quay đầu lại: “Nhớ đấy”. Tưởng mọi chuyện đã đến hồi kết thúc, như câu chuyện đùa tếu. Ai ngờ. Lần thứ ba hắn lại đến. Hắn đứng, tay nắm vào cánh cổng trâng tráo: “Thế nào, ông đã đi kiểm tra chưa”? Nửa tin, nửa ngờ, ông lầm lũi bước vào nhà. Hôm sau không nói với ai, ông tìm đến bệnh viện. Để cho chính xác, ông đến kiểm tra cả ở ba viện lớn trong thành phố. Thật bất ngờ. Cả ba viện đều kết luận: ông không thể có con vì di chứng chất độc mầu da cam. Ông như phát điên, thì ra từ trước tới nay “chích chòe nuôi con tu hú”. Trên đường về ông mua can xăng, dội xuống mái nhà. Trong trạng thái khùng điên, ông châm lửa. Rất may dân làng kịp thới ngăn lại.Ném tờ bệnh án xuống trước mặt vợ, lúc đó bà đang quỳ dưới chân ông. Ông gào lên: “Mày giải thích đi”. Bà như cọng dưa ủng không che giấu được nữa, đành phải nói ra sự thật. Sau ba năm vì quá nóng lòng muốn có con, bà đến chỗ gã bác sỹ sản khoa. Hờ hững quặc chiếc ống nghe vào tai, sờ nắn người bà, hắn bảo: “Với em chỉ một liều thuốc là có con ngay. Chủ nhật đến phòng khám tư của anh mà lấy thuốc”. Nhẹ dạ, khấp khởi, đúng hẹn bà đến. Hắn hòa thuốc vào chiếc cốc nhỏ đưa cho bà. Bà uống không mảy may nghi ngờ. Uống xong bà chỉ còn ảo giác, lúc tỉnh dậy bà thấy đang trên giường với hắn. Bà có mang đứa con trai thứ nhất. Như cua trong rọ, như cá trong hom, ngựa quen đường cũ bà có đứa thứ hai.Nghe vợ nói nỗi căm tức ứ lên tận cổ, ông đẩy vợ ra khỏi chân mình. Nhục nhã ê chề vì bị lừa, bị phản bội, ngay trong đêm ông viết đơn ly dị. Khi ba mẹ con ra khỏi ngôi nhà, thì sự trống vắng và kí ức trở về thiêu đốt ruột gan ông. Ông tả tơi như tầu lá chuối ven sông gặp bão. Ông quyết định, phải thoát khỏi ngôi nhà chất chứa quá nhiều kỷ niệm. Ông gấp rút chuẩn bị cho một chuyến đi xa, về với những cánh rừng miền tây Nam Bộ. Đúng dịp đó, trại điều trị bệnh phong được chuyển từ miền trung ra, tiếp quản trường sư phạm mười cộng ba, thời chiến tranh sơ tán về nơi cửa rừng. Đường tới trại phong phải đi qua một cây cầu, rồi đi dọc bờ sông hai mươi cây số mới tới đường rẽ vào trại. Từ khi trường sư phạm về lại thị xã, nơi ấy trở thành hoang vu, lau lách um tùm, rất khó khăn cho việc đi lại. Trại phong cần một người chở đò, để rút ngắn cung đường. Vì đối diện với đường vào cửa rừng, bên sông là làng quê chợ búa. Trại đặt vấn đề với xã. Xã thông báo tìm người, nhưng dư âm của bệnh hủi, bệnh cùi còn đeo đẳng, nên không tìm được ai. Ông Đức nghe tin. Ông vội đạp xe xuống ủy ban: “Không ai nhận, các đồng chí để tôi”. Ông chủ tịch thở phào, như nhà khảo cổ vừa tìm thấy cổ vật. “Thế thì tốt quá, hoan nghênh tinh thần đồng chí”. Ngay sáng hôm sau ông chủ tịch đã dẫn ông, và đại diện của một số ban nghành có liên quan, ra bến sông. Đứng trên bờ bối ông chỉ xuống chân mình: “Ngay tại đây, chúng tôi sẽ làm cho đồng chí ngôi nhà ngói cấp bốn hai gian và cái bếp nhỏ. Xã chẳng có khoản kinh phí nào để trả lương, nên đồng bãi khu vực này giao tất cho đồng chí, để tự cung tự cấp”. Ông trở thành người chở đò từ đó.Bến đò của ông ít khách. Bởi người lành lặn không ai xuống con đò chở người bệnh phong, còn người bệnh phong thì mặc cảm ngại không dám sang đò chợ búa vì sợ bị người đời hắt hủi, ghẻ lạnh. Ông Đức thành người tiếp phẩm, và chở những chuyến đò đêm.Chiều, chiều, những bệnh nhân phong cứ đứng như xếp hàng dưới tán cây si già ở bờ sông, đợi ông mang đến những thứ mà họ nhờ mua, bán. Lần đầu tiên ông nhìn thấy họ, tim ông như bật khỏi lồng ngực, bủn rủn cả người. Không ai còn nguyên vẹn cả. Người không tai, người không mũi, người co rụt chân tay, lộ cộ như những bức phù điêu trên tường tháp cổ, bị thời gian mưa nắng làm lở lói. Nhưng ông kịp trấn tĩnh, nhủ thầm mình đang bước vào trận chiến mới, phải dũng cảm lên. Một lần, hai lần mọi cái quen dần, rồi trở thành thân thuộc. Theo nguyện vọng của họ, ông chèo những chuyến đò đêm đưa họ sang sông, để nhìn ngắm làng quê cho đỡ nhớ nhà. Có hôm cao hứng ông còn chở họ đi đò dọc lên thị xã, về đến bến cây si thì trời đã hửng sáng. Ông đã hòa nhập vào cộng đồng những người bệnh phong, từ lúc nào không biết. Ông quên đi bi kịch của chính mình.*...Từ xa ông đã nhìn thấy bà Hồng khoác chiếc túi vải thập thễnh trên đường ra bến sông. Ông khua mạnh mái chèo ghé mạn đò vào bờ. Bắc tấm gỗ cho bà xuống, ông hỏi: - Mọi thủ tục ra viện cô làm xong hết chưa?- Dạ xong rồi. Sáng qua các bác sỹ kiểm tra lại lần cuối, kết luận em đã khỏi hẳn -Bà cười - Nhưng về quê với bàn chân co quắt thế này cũng hơi ngại.- Ngại gì? Thiên hạ đầy người tật nguyền bằng mấy cô, họ vẫn tự tin mà sống đấy thôi. Mọi cái cốt ở chính mình.Ông Đức đẩy mạnh con đò ra khỏi chỗ mắc cạn, rồi bước lên khoang lái. Đò từ từ rời bến...Cái đêm ánh trăng lồng lộng và gió cứ thổi dọc triền đê, đưa mùi phù sa, mùi ngô non về quấn quýt, là cái đêm ông Đức đưa mẹ con bà Hồng sang bên kia sông. Đêm ấy, hết buổi phát thanh Quân đội nhân dân, ông Đức đặt lưng xuống giường mãi vẫn không ngủ được. Ông đẩy cửa bước ra ngoài, định ra bãi sông đi dạo một vòng về cho dễ ngủ. Vừa bước được vài bước chưa ra khỏi chiếc sân nhỏ, ông giật mình khựng lại. Có bóng người ngồi co ro dưới gốc cây trứng cá. Ông lùi bước, cất tiếng hỏi: “Ai đấy. Khuya rồi còn ngồi làm gì ở đây?” Một giọng phụ nữ yếu ớt cất lên: “Dạ em. Em nhờ anh đưa sang sông, nhưng khuya rồi ngại không dám gọi”. Ông Đức hiểu ra: “Ngại gì, thôi vào nhà đã”. Người phụ nữ chậm chạp đứng lên. Bấy giờ ông mới nhận ra, cô còn bế theo một đứa bé. “Con của cô à?” “Vâng ạ”. Ông bật điện và kéo cái ghế băng cho người phụ nữ ngồi. Chị còn trẻ, chắc phải kém ông chín mười tuổi. Mảnh mai, có khuôn mặt trắng xanh xao, tóc dài chải gọn về phía sau búi thành một búi, chân đi như người bị cứng khớp. Đứa trẻ còn rất bé, nó được quấn trong chiếc chăn trấn thủ nhỏ. Mặt ửng đỏ, tóc lưa thưa, mỏng mảnh như những sợi tơ nhện. Ngủ mà miệng nó vẫn chóp chép như dang bú. Ông Đức hỏi: “Cháu được mấy tháng rồi:? “dạ mới h...a...i”. Người phụ nữ chưa đáp xong bỗng gục xuống bàn. Ông hốt hoảng đỡ dậy, bế hai mẹ con lên giường. Lạ thật, thằng bé vẫn ngủ mơ màng. Ông xoa dầu người phụ nữ tỉnh lại. Ông hỏi: “Cô ăn uống gì chưa”? Chị lắc đầu. Ông vội pha cho chị cốc nước đường uống tạm, rồi đi nấu cơm. Khuya lắm mọi việc mới xong, ông đưa hai mẹ con ra đò. Người phụ nữ bảo: “Em có người nhà cách bến gần thôi, anh cứ cho em qua sông là được”. Ông Đức định hỏi cho ngọn nghành, bởi bên sông không có nhà dân, ngoài con đường trải đá dăm trắng vào trại phong cửa rừng, nhưng ông ngại đành thôi.Trăng sáng mặt sông lấp lánh, không gian tĩnh lặng chỉ có tiếng sóng ì oạp vỗ vào mạn đò, và tiếng mái chèo đều đều, phầm phập chém xuống mặt nước. Người phụ nữ lặng lẽ như bức tượng, ôm con ngồi trong khoang. Con đò cô đơn trôi trên sông. “Đến bến rồi đấy”. Ông Đức đánh tiếng, rồi áp mạn đò vào bờ. Trời tối sẫm, bởi có đám mây đang vần vũ che khuất vầng trăng. Ông Đức lấy đèn pin chỉ lối cho người phụ nữ: “Cô cứ đi theo đường này là lên đến bờ đê, đường ngắn và dễ đi thôi”. Người phụ nữ chần chừ. Ông tưởng chị luấn quấn vì phải bế con. Ông đứng lên: “Cô đưa tôi bế cháu cho”. Người phụ nữ như không nghe thấy ông nói. Ông Đức lại giục: “Ta đi thôi”. Chị òa khóc tức tưởi: “Anh ơi, mẹ con em đến trại phong”. Ông Đức sững người, vừa giận, lại vừa thương. Ông gắt: “Sao không nói lúc còn bên sông? Vào trại phong đêm hôm thế này ai người ta tiếp nhận, mà mẹ con cô đi thế nào được năm cây số nữa? Thôi cô bế cháu vào khoang đi, quay lại mai rồi tính”. Con đò lặng lẽ quay đầu trở lại. Bóng cây si già để lại một khoảng tối sẫm trên sườn đê. Trăng đã sáng trở lại. Giọng người phụ nữ đều đều, kể lại đoạn đời của mình, như một lời thanh minh với ông Đức.Chị tên là Hồng. Năm ấy chị gái Hồng từ quê chồng về thăm bốmẹ. Buổi tối cả nhà sum vầy. Chị nói: “Tao giới thiệu cho mày một đám trong làng, nhà có sáu chị em, hai chị đã đi lấy chồng, có mình nó là con trai út. Giầu lắm, thóc trong buồng cót to, cót nhỏ, ăn lưu năm này sang năm khác. Chỉ phải cái thành phần phú nông, nhưng khi sửa sai thì xuống trung nông rồi”. Bố nghe thấy thế bảo: “Giá thành phần bần nông thì tốt, chứ phú nông mà xuống trung nông thì phải xem xét cẩn thận”. Mẹ nguýt dài: “ối dào thành phần quan trọng gì đâu, bao giờ thế giới đại đồng đều thành vô sản hết. Con gái cứ làm dâu nhà nào, có của ăn của để cho đỡ đầu tắt mặt tối là được”. Cậu em trai thì cười: “Con gái có thì, lấy đi không lại ế sưng ế xỉa”.Tháng sau. Anh con trai được chị gái Hồng dẫnđến. Nhìn dáng người nhỏ thó, đen đúa, lại hút thuốc lào nhả khói như người ta hun chuột, Hồng không muốn nhận lời. Mẹ khuyên: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Xem ra nó cũng hiền lành chịu khó, lấy nó, về đấy cho có chị có em con ạ”. Chị gái Hồng lại nước đôi: “Khối thằng đẹp mã lại lười chẩy thây, tôi giới thiệu như thế còn tùy gì. ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên”. Bố thì chẳng quan tâm gì đến sự giầu nghèo, và hình thức con rể tương lai. Ông đặt vấn đề: “Thành phần trung nông mà chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước là được”. Thương bố mẹ, thương chị, nghĩ đến cảnh “thóc trong buồng cót to, cót nhỏ, ăn lưu năm này đến năm này đến năm khác”. Hồng gật đầu.Ngày đầu tiên về nhà chồng, đứng trước cái sân gạch rộng và hai dẫy nhà ngang dọc, có vườn cây ăn quả thân xù xì nổi những u bướu, như động vật bị biến đổi gien, Hồng mừng thầm. Nhưng tâm trạng ấy diễn ra không lâu. Khi Hồng có mang cơ thể cứ quặn quẹo và thường xuyên ốm vặt, ra bệnh xá khám. Cô y sỹ nói chắc như đinh đóng cột: “Làm nhiều, nghỉ vài hôm khắc khỏi”. Hồng cũng tin như thế. Khi sinh con thấy chân mình có những đám sát đỏ, không còn cảm giác nóng lạnh. Hồng bảo chồng đưa đi viện kiểm tra. Bệnh viện kết luận Hồng bị bệnh phong, họ giới thiệu đi trại điều trị. Hồng không tin vào mắt mình khi đọc tờ bệnh án. Cô hoảng hốt gục ngay xuống chiếc ghế trước cửa phòng khám. Chồng Hồng mặt tái ngắt, chân tay run bần bật, mặc cho vợ đang ngất xỉu, anh ra bến xe về thẳng. Gần trưa Hồng được nhân viên bệnh viện cứu chữa tỉnh lại, nhìn quanh không thấy chồng, cô như kẻ mộng du ngơ ngẩn tìm đường về nhà. Mặt trời lặn vừa về đến nhà, Hồng bủn rủn cả người. Ngõ nhà cô đã được rắc vôi bột trắng xoá. Quần áo, chăn màn của bố mẹ chồng, của các chị, đã được ngâm bồ tạt luộc sôi sùng sục. Chồng Hồng ngăn Hồng lại. Giọng anh như người xa lạ: “Cô tạm ra ngoài vườn. Chỉ tại tôi lấy vợ chẳng chịu kén tông. Mọi việc giữa chúng ta phải được giải quyết xong ngay trong đêm nay”. Nói thế nhưng không chờ đến đêm, chỉ trong chốc lát chồng Hồng đã trở lại với tờ giấy trong tay. Anh đứng từ xa: “Tôi đã viết đơn ly hôn. Cô phải thông cảm tôi là con một. Cô đồng ý thì ký vào đây. Con tôi để cho cô nuôi vì nó chắc cũng bị bệnh, cô đi điều trị thì cho nó cùng điều trị”. Tài sản tư trang cô lấy gì thì lấy, không lấy thì để tôi đốt”. Hồng nghẹn ngào, qua làn nước mắt thấy bóng chồng nhòa lẫn ánh lửa đang cháy bùng dưới chiếc chảo gang luộc quần áo, như con quái vật đen đúa, tua tủa những vòi đang chồm về phía cô. Hồng nghĩ, nơi đây không còn chỗ cho cô. Đi nhanh đến giật lấy tờ giấy, Hồng gằn rõ từng tiếng: “Đưa bút đây tôi ký”. Đêm ấy hai mẹ con Hồng ra ga đi chuyến tầu đêm, tìm đường đến trại phong.Nghe xong câu chuyện của Hồng, ông Đức ngậm ngùi: “Thôi mọi chuyện đãõảy ra rồi, đành phải chịu. Tối nay cô ở lại đây, ngày mai tôi sẽ đưa cô đến trại phong. Riêng cháu bé thì phải tính. Bệnh phong không di truyền, nếu cháu chưa bị lây thì không để cháu theo cô được”. Hồng ngạc nhiên: “Có thật thế không hở anh?” Ông Đức cười: “Thật hay không, phải đưa cháu đi kiểm tra”.Đò cập bến, họ trở lại mái nhà ven sông. Đã có tiếng gà gáy xa xa. Trời lành lạnh, sương rơi ướt đẫm những thảm cỏ. “Mẹ con cô vào giường mà ngủ, tôi ngủ võng ngoài này”. Ông Đức nói rồi mở ba lô lấy cái võng dù ra gốc cây trứng cá. Hồng bế con tần ngần không dám nằm giường, kéo manh chiếu nơi góc nhà, chị ôm con khoanh tròn như một con sâu. Sáng, mặt trời đã hắt những tia nắng hình dẻ quạt, nơi dãy núi mờ xa phía đông. Ông Đức đánh tiếng bước vào nhà. Thấy Hồng ôm con ngồi thui thủi trong xó tối, ông gắt: “Cô này lạ thật, tôi có ngại gì đâu”. Hồng như chờ dịp này khóc lên nức nở: “Cả đêm qua em không ngủ được. Anh ơi trăm sự nhờ anh. Có nơi nào tử tế cho con em làm con nuôi được không?” Nhìn đôi mắt thâm quầng và gương mặt như quắt lại của Hồng. Ông Đức rưng rưng. Ông hết đi ra rồi lại đi vào, đắn đo: “Tôi có người bạn đồng ngũ không có con, đang muốn có đứa con nuôi. Nhưng trước khi giao cháu bé cho bác ấy, phải cho cháu đi kiểm tra sức khỏe đã”. Hồng thoắt vui hẳn lên: “Vâng thế thì tốt quá. Con em chắc không bị lây đâu, vì em mất sữa ngay từ khi sinh cháu”. “Cô nghĩ kỹ đi, nếu quyết như thế thì ta cho cháu đi viện kiểm tra. Hôm nay tôi không có đò ngày, chỉ có một chuyến đò đêm, tôi đi cùng cô. Cố gắng đi sớm, chiều ta về”. Hồng gật đầu. Hai người ăn sáng bằng mấy bắp ngô luộc, rồi ra bến xe. Kết quả, bệnh viện kết luận: cháu bé hoàn toàn khoẻ mạnh. Ông Đức nói: “Thế thì tốt rồi, ta mang cháu đến nhà bác ấy thôi. Đến cổng cô phải ở ngoài vì chân cẳng thế này”. Hồng hiểu ý cười: “Vâng trăm sự nhờ anh”.Chiều mọi việc diễn ra đúng như ý định, họ đưa đứa bé cho bạn đồng ngũ của ông Đức rồi ra về. Ngay tối hôm ấy, Hồng được các bệnh nhân phong đi chuyến đò đêm của ông Đức, đưa về trại phong cùng họ.*...Mặt sông như vồng lên, những lớp sóng đua nhau xô vào bờ phủ bọt trắng xóa. Bầu trời cao xanh, có những đám mây mỏng mảnh xốp nhẹ vấn vít trôi về phương bắc. Từ phía thượng nguồn đã có những cánh buồm xuôi về phía biển, thoắt ẩn thoắt hiện trên dải nước xa mờ. Ông Đức bồi hồi nhớ lại. Kể từ cái đêm đưa Hồng sang sông đến nay đã năm năm, như vậy thằng bé cũng đã tròn năm tuổi. Nó là sợi dây nối ông với Hồng, và làm cho tình cảm giữa hai người lớn dần. Ngày mai Hồng về quê, chắc hẳn ông không bao giờ quên được cái dáng hao gầy, chiều chiều đứng dưới gốc si già đợi ông và ngóng tin con. Năm năm đã có bao lần Hồng sang sông ngày mùa giúp ông bổ từng nhát cuốc, nhặt từng cọng cỏ, cặm cụi như con ốc trên bến sông. Chị là sự bù đắp những phần hụt hẫng trong ông. Chị như cánh cửa mở ra, đón nắng và gió tràn vào phủ mờ vùng ký ức đau buồn của ông. Đã nhiều lần ông muốn nói một lời tỏ tình với Hồng, vì đã từ lâu rồi chị đã là người bạn tâm giao, nhưng tờ bệnh án năm nào cứ làm ông nghẹn lại.Hồng, lòng dạ ngổn ngang. Chị rất vui vì mình đã khỏi. Chị nghĩ tới con đường phủ đầy vôi trắng mà nước mắt cứ trào ra. Năm năm chị như chiếc lá, viên sỏi trong cơn lũ quét, nhiều lúc tưởng phải gục ngã vì cô đơn tủi nhục. Nhưng hình ảnh ông Đức lúc nào cũng thường trực trong tâm trí chị. ở ông chị tìm thấy tấm lòng một người anh bao dung, độ lượng. Ông là ân nhân của chị. Đã nhiều lần chị thầm ước một ngày nào đó được nghe ông nói lời yêu thương, bởi chị đã nghe ông kể tất cả những thăng trầm của cuộc đời ông.Ngày mai Hồng về nơi đã sinh ra. Chuyến đi không nhẹ nhàng gì. Bởi về chị chỉ mang được bàn chân queo quắt và những bước đi thập thễnh, còn cái để lại thì quá lớn. Đó là đứa con mà chị đã mang nặng đẻ đau, ở hoàn cảnh bây giờ nó trở thành tài sản thiêng liêng, không gì so sánh được. Một tài sản nữa cũng không phải là nhỏ, đó là bến sông này và người đàn ông mà chị rất mực yêu thương kính phục.Đò đã sang sông. Ông Đức bảo:- Để túi đấy tôi mang cho, cô lên trước đi.Hồng bước lên đứng chờ ông Đức lụi cụi kéo chiếc đò ghếch mũi lên bờ cát. Hai người dóng bước về nhà. Bữa  cơm được dọn ra. Ông Đức xởi lởi:- Ngày xưa ở bộ đội bữa ăn có tý đồ nhắm, gọi là ăn tăng cường. Hôm nay tôi tổ chức bữa ăn tăng cường để chia tay cô. Nhìn mâm cơm có khá nhiều món. Có cả món canh mà Hồng thích, mặt chị ửng đỏ. Thì ra ông Đức đã chuẩn bị rất chu đáo cho ngày này. Ăn xong ông cẩn thận buộc lại những gói quà, dặn dò:- Tôi chuẩn bị ít đậu xanh, ngô nếp, cô cố gắng mang về làm quà. ở đây chẳng có gì hơn.Nghe ông Đức nói chị lấy vạt áo giấu lau những giọt nước mắt. Chị cảm thấy thời gian trôi đi nhanh quá. Chị sắp mất đi cái gì đó, mà chính chị cũng không cắt nghĩa được. Chị không dám nhìn ông sợ khóc òa lên. Chị lững thững ra bến sông chỗ con đò nằm ghếch mũi lên bờ cát. Những cánh buồm với đủ sắc mầu trôi trên sông sao mà xa xôi thế, nơi cây si già thấp thoáng có bóng người bệnh phong đang đứng đợi đò, nước mắt Hồng tràn ra.Tối. Hồng ngủ trên giường. Ông Đức mắc võng ngủ chỗ cây trứng cá. Giấc ngủ như đến rất nhanh với hai người, vì chỉ còn cái âm thanh trong vắt của chiếc radiô đang đọc truyện đêm khuya, và tiếng gió thoang thoảng, xào xạc ngoài bãi ngô non. Nhưng không phải. Cả hai người đều không ngủ. Hồng cố kìm nỗi lòng mình lau đi những giọt nước mắt, để giữ giấc ngủ cho ông Đức. Ông Đức thì nằm lắng nghe mọi âm thanh của trời đêm, và cả tiếng trở mình của người bạn gái.Khuya. Có tiếng chuông nhà thờ điểm hai giờ sáng, tiếng vọng của nó lan trên sông, như tiếng được truyền về từ cánh rừng nguyên sinh sâu thẳm bên kia sông. Hồng lặng lẽ mở cửa đi ra chỗ con đò. Chờ lâu không thấy Hồng về ông Đức dậy. Ông hỏi Hồng, khi thấy chị đang ngồi lặng phắc nhìn ra bến sông:- Cô nhớ con phải không?- Vâng, em muốn gặp nó một lần trước khi về.Không đợi ông Đức trả lời, chị ôm lấy ông nức nở:- Anh ơi em về không thể bỏ con lại đây.Ông Đức thở dài:- Thôi được rồi. Từ ngày có cháu làm con nuôi, bác ấy sinh được hai đứa, một trai một gái nữa. Mai tôi lên đặt vấn đề xin lại cháu xem có được không? ừ mà cô cũng phải có đứa con sau này mà dựa.Họ quay về. Mệt mỏi Hồng ngủ thiếp đi, lúc tỉnh dậy đã thấy chiếc võng của ông Đức đã gấp gọn để trên bàn. Ông đã đi từ sớm. Chị quét dọn nhà cửa, khâu lại những chiếc áo sứt chỉ cho ông, nấu cơm đợi ông về. Phải sang tận chiều ông Đức mới về. Hồng hét đến lạc cả giọng, nhào đến ôm lấy ông và thằng bé. Ông Đức đặt đứa bé trên lưng xuống:- Cô làm quen với nó đi. Hai mẹ con ở với bác nốt chiều nay, sáng mai bác đưa ra bến xe để về.Chiều. Hồng vui vẻ hẳn lên. Chưa bao giờ mái nhà ven sông lại đầm ấm thế. Thằng bé bụ bẫm, giống mẹ ở nước da, khuôn mặt. Nó quấn lấy mẹ ngay. Ông Đức cũng lây niềm vui của hai mẹ con, trong tâm trí ông thầm ước có mái nhà nho nhỏ vui vầy như hôm nay.Sáng, bảy giờ ba người đã có mặt ở bến xe. Ông Đức chuyển đồ lên xe. Xe còn đang chờ khách. Ông bế đứa bé lên hôn chùn chụt rồi dặn dò:- Thôi hai mẹ con ở đây rồi về nhé. Khi nào rỗi thì đến thăm bác. Bây giờ bác phải về không lại muộn chuyến đò tiếp phẩm sáng nay.Ông Đức ra về. Chiếc xe đạp thũng thẵng khuất dần nơi cuối con đường. Hồng nhìn theo cái dáng cao gầy của ông, lấy khăn vội lau những giọt nước mắt.Xe đến thị xã từ xa Hồng đã nhìn thấy cánh cổng nhà bạn ông Đức. Chị nghĩ không thể vô tình đi qua như kẻ vô ơn. Chị nói với lái xe xin được xuống xe. Người mở cổng cho chị là cậu con trai khoảng mười bảy, mười tám tuổi. Thấy chị, nó hỏi:- Cô hỏi ai ạ? Nhìn thấy thằng bé nó reo lên:- Ôi em, ra với anh nào.Thằng bé lon ton chạy ra ôm lấy anh. Vì có đứa bé mà gia đình bạn ông Đức coi Hồng như người thân. Hồng xúc động:- Em không biết nói gì để cảm ơn hai bác, mấy năm qua đã nuôi nấng con em. Em xin đội ơn, và xin phép bác cho mẹ con em được đi lại giỗ tết hàng năm.Bạn ông Đức ngạc nhiên:- Ô thế không phải con của chú Đức à? Chú ấy gửi con cho tôi hàng tháng vẫn mang tiền mang gạo lên cho cháu đấy chứ.Hồng như người bước hụt. Thì ra ông Đức nuôi con chị. Bây giờ thì chị mới hiểu, tai sao ông lại mang con về cho chị một cách dễ dàng đến thế. Chị kể hết sự tình với vợ chồng bạn của ông Đức. Bạn ông Đức cười:- Chú ấy láu cá thật. Tôi có hai đứa con, thằng con trai lớn vừa ra mở cổng cho cô, còn đứa con gái đang đi học. Tôi với chú Đức là bạn đồng ngũ. Chú ấy đã từng cõng tôi đi ba mươi cây số khi tôi bị thương, về trạm phẫu sư đoàn. Tôi coi chú ấy như người ruột thịt, cô đừng áy náy gì.Mặt trời đã đứng bóng, mặc cho gia đình bạn ông Đức cố ý giữ lại, nhưng mẹ con Hồng vẫn khăng khăng ra về

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=339831

THƠ THÁNG 9
vannghexuthanh | 28 Nov, 2011, 18:07 | XỨ THANH THÁNG 9/2011 | (2 Reads)

MAI NGỌC THANH


Con mèo tôi thấy (II)

  

Tôi có lẩn thẩn không

Lại đem chuyện con mèo ra kể

Con mèo chính tôi chọn mua

Những tưởng nhà sẽ không còn chuột nữa.

 

Hóa ra con mèo đã mất bản năng trời phú

Chỉ biết kêu mỗi lúc đòi ăn

Ăn ít thôi nhưng ngày ba bốn bữa.

 

Chỉ biết kêu mỗi lúc chán chơi với quả bóng nhựa

Và đòi người bế lên vuốt ve

Nó chỉ biết kêu... kêu không hiểu để làm gì.

 

Chuột vẫn đêm ngày rúc rích láo liên

Chúng khôn ra do tiếng kêu như vậy

Biết rõ đường đi, cả những chỗ mèo ngồi

Để tạm ngưng lục lọi tìm tòi

Và nép mình im re xó tối.

 

Phải đến khi nuôi mèo

Tôi mới nhận ra điều này

Con mèo chỉ luôn mồm kêu

Là con mèo chẳng bao giờ bắt được chuột.

 

Chẳng bao giờ bắt được chuột

Là con mèo chỉ luôn mồm kêu.

M.N.T

 

 

 * Con mèo tôi thấy (I) in Xứ Thanh tháng 3-2009 và báo Văn nghệ, 13-3-2010

 

 

 

 

 

VI THÙY LINH

 

Đồng tử

 

 

Khi những ngôi sao nhảy dù khỏi bầu trời

Mẹ chỉ thấy ánh sáng con bay muôn vàn bích ngọc

Chỉ thấy mặt đất nứt theo đường chỉ tay mẹ mỏi mòn

Chờ con - đồng Tử

 

Những sinh vật cần sống, bị hủy dịêt dần hoặc

tuyệt chủng, bởi con người

(Loại người đem cho nhau bi thương và cái chết)

Thời gian đu màu tóc

Mẹ nhọc nhằn tìm miền Hạnh phúc

 

Con trai ơi! Con đã cho mẹ một sinh lực phi thường

Để biết im lặng và nhẫn nại

Để làm việc bằng hai, ba

Để đến ngày được làm người đàn bà bình thường nhất

 

Vào lúc những hạt mồ hôi cha thấm vào ngực mẹ

Mặt đất già chật chội nở dần những luồng hoa đồng trinh

Mẹ lẻ loi sống bằng mường tượng tỉ mỉ về ngày cùng

sống với Cha và con

Mùi da thịt bụ sữa của con khiến bốn bề bỗng nhiên

ngây thơ ngào ngạt

Biển rộng ra, núi rừng xanh nguyên sinh, da trời liền lại

Hoa muôn loài ùa về Việt Nam, ta nở theo mái tóc

của những bé xù

 

 Đêm tháng năm mẹ nằm chờ sáng

Bầu nước mắt hàm tiếu trong tim mẹ

Chực vỡ òa theo bầu sinh sôi

Ngôi nhà đầm đìa trăng ngân mãi đại hồ cầm

 

Con trai yêu thương của cha mẹ ơi!

Hãy dỗ mẹ: “Đừng khóc!”

Vì mặt trời thiêu đốt ngã rồi

Tất cả các loài chim đều được sống để dậy thì tiếng

hót hợp xướng cùng con bi bô

Những cánh sao măng tơ vươn vai vào ngày mai ngọt lịm

Vòng tay cha làm gối cho mẹ và chúng con

Một đời thường đẹp hơn những giấc mơ thiên đường

Không gì chia cắt, đe dọa được chúng ta

Khi những nơi cằn cỗi lụi tàn nảy lên mầm xanh hăm hở

Khi cha mẹ nhìn bằng mắt con - Đồng Tử

Chúng ta được làm người thư thả

Trong tình yêu cật lực của mình

V.T.L

 

HUY TRỤ

 

Điều ước

 

  Cả làng có một ông trăng

 Mà bao đứa trẻ tung tăng nô đùa

Ước gì gạo có một bồ

Trẻ làng đều được cơm no, đến trường...

H.T

 

 

 

 

NGUYỄN NGỌC QUẾ

 

Anh muốn nói điều này

 

  Anh muốn nói điều này em ạ!

 Anh nhớ em, nhớ thắt lòng

Ngoài kia mây trời đẹp quá

Nỗi nhớ này tím tái hoàng hôn.

 

Trời xanh vậy, có nghĩa gì em ạ!

Nếu không em gió thổi héo trời

Đừng bày đặt bướm vàng, hoa thắm

Để úa nhàu chiếc lá lẻ đơn.

 

Rượu cứ rót, có tràn đâu em ạ

Men vô tình nhạt thếch câu thơ

Anh hóa đá ngóng ngoài xa ấy

Cạn chân trời, chẳng cạn chờ mong.

 

“Cửa đóng mà then không cài” *... em ạ

Neo hồn anh thương nhớ ắp đầy

Câu hát của ngày son trẻ

Theo em về đắm đuối trái tim yêu.

Cuối thu 2005

N.N.Q

 * Câu hát dân ca Thanh Hóa

 

 NGUYỄN VƯỢNG

kiến trúc sư làm thơ

 

Nguyễn Vượng sinh năm 1953

 

Quê quán: phố Hàng Chuối, thành phố Hà Nội

Hội viên Hội Kiến trúc sư Việt Nam

Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa

Từng là học sinh giỏi toán toàn miền Bắc năm 1969. Năm 1974 học Đại học Kiến trúc Hà Nội. Tốt nghiệp về công tác tại Viện Quy hoạch xây dựng Thanh Hóa.

Đã in thơ trong các tạp chí Xứ Thanh, Xây dựng, Văn hiến.

Xứ Thanh trân trọng giới thiệu chùm thơ mới của anh.

 

 

 Đá Hàn

 

 Gió hun hút thổi khắp khe său vực thẳm

Đá toát mô hôi

Sương muối giăng

Cây tróc vỏ, rừng thưa phơi xương trắng

Ngọn gió hàn

Buốt

Thấu tim

Em

Đói khổ, quầng thâm mắt trũng

Sắn, khoai độn với măng le

Nói chi một thì con gái

Rừng ơi

Đá Hàn ơi

Cây rừng thay lá già

Rưng rưng, nứt lộc nẩy chồi

U ơ tiếng cười con trẻ

Em đã thôi một thời khổ sở

 

Váy mường vẫn trễ thắt lưng

Thương em

Lại giả mùa xuân đến

Ô kìa

Khe thạch xương bồ

Hoa hoang dã, lóng lánh sáng một màu vàng hoàng thổ

Rừng ơi

Đá Hàn...

Đá Hàn, Thạch Thành, 11-2008

N.V

 

 

 Xứ Thanh

  

Trập trùng núi

Đuổi theo sông Mã

Tự hồng hoang

Núi đã ấp ôm sông

Đâu mất cả

Những anh hùng

Hiền nhân

Sinh từ sông núi ấy

Dẫu đã biết một đi...

Vẫn hẹn ngày trở lại.

Để xứ Thanh mình

Sánh với núi sông

Thanh Hóa, 2011

N.V

 

 

Sáu đoản khúc thơ

 Thương nhớ trời xanh

 

1. Thăm thẳm

Sâu

Xanh

Trời cao ngơ ngác Thở

 

2. Xa

Thinh không

Lặng lẽ

Im

Tờ

 

3. Ngày

Bác ái, cần lao nhân vị

Trách chi

Mây trắng nhởn nhơ

 

4. Đêm

Trăng thanh, gió mát

Tình đi vội vã

Đáy trời không sóng

Dạt về đâu

 

5. Sao lấp lánh

Gọi bầy

Bỏ lạc

Rớt sông sâu

Trọn kiếp mồ côi

 

6. Thăm thẳm - sâu - xanh.

Trời cao không nói*

Trái đất trôi như giọt lệ dài *

Trời cao xanh.

Trời mãi cao xanh.

Vu Lan - Tân Mão

N.V

 * ý thơ Tam nguyên Yên Đổ và Xuân Diệu

 

 NGUYỄN XUÂN NHA

 

  

 

Hình bóng

  

Một ngày khô khát trần trụi

Dang tay ta chạy đến em

Ta chạy mãi...

Nhưng em còn rất xa.

 

Rồi một ngày

Ta thấy em ở trên cao

Mái tóc buông xõa tung bay đan vào mây trắng

Vòm ngực vệ nữ căng đầy

Ta chợt gọi vọng lên: “Ơi! Nàng tiên mộng của anh”

Không tiếng trả lời

Em không nghe thấy?

Âm thanh trở về tựa tiếng lá rơi.

5-2010

N.X.N

 

SƠN HẢI

 

 Chiều quê hương

 

  Quê hương ta đó

 Núi rừng xanh biếc

Suối ngân dài

Như tiếng hát người thương

Chiều chiều

nắng nhạt

lưng nương.

 

Lóc cóc mõ trâu

Gọi chiều về

Trong chòm nhỏ

Trên nhà sàn

Bập bùng lửa đỏ

Chân run

Mế già

Quảy nước lên thang.

S.H

 

 BÙI ĐỨC VINH

 

Đa thanh

  

 Giọt mồ hôi sóng sánh đổ cuồn cuộn vào ký ức tháng năm

 

Dấu chân cồn cào ước mơ hằn vết thời gian trên luống

cày xưa cũ

Hạt phù sa dính đỏ quạch giấc mơ sương phủ

Ôi mẹ tôi - Người đàn bà mang thai dòng sông bước

qua lời nguyền trắng

Lễnh đễnh đi ngang mùa trăng cầu nguyện thay cho

khát vọng đứa con mình

Nước mắt mẹ chảy lóng lánh dưới bình minh

Xin hạt mầm đau thương hãy bật chồi xanh bất diệt từ

cơn khát

Tôi đang vùng vẫy thỏa thích bơi với con đò chở ăm ắp

đầy lời hát

Khi cánh đồng ám chữ chợt hết hoang lạnh tự ngàn xưa

Khổ thân con sẽ bơ vơ giữa bao la xanh nhặt an ủi sót

lại trước ngày mùa

Tôi cũng khác nào loài rùa đội tháng ngày mặc khải

bầm dập trên lưng

Linh cảm có thiên sứ chạy thăm thẳm giữa nghìn trùng

Ngất ngưởng cùng tôi uống sương khuya qua tháng

ngày bão tố

Làm sao tiên đoán nổi đam mê hắt trắng ngày mưa đổ

Bàn tay đỡ những chân trời mong mỏi

Con đò mang ý tưởng tôi ào về lộng sóng bến ngàn năm.

B.Đ.V


 

LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

 

Thả một lời, trước Lam Kinh

  

 Hoa núi tàn sắc bốn bề vây trong gió quấn kẽ chân mây

 

lộc nhạc trần gian thoảng ánh nguyệt mờ quang rạng nghìn tuổi

lên non xanh biếc muôn trùng nước bay theo tiếng chim ca hoan điệu

gió thổi nghiêng tai tròng trành tiếng sáo giăng trên đỉnh Lam Sơn

bốn bề dinh điện đã hóa vàng

tiên cảnh lai phương chèo tâm hồn người đi tha hương mãi

trời Nam thương nhớ bóng người chinh phu chân dẫm nhòa đất Việt

mộng ôm trong lá thôi đành gối

tay ngần ngà vuốt mấy thiên thanh

 

Phong ca tiếng hát tan cuộc xum vầy

khúc này ru ai

bãng lãng trống ngự động nhát chèo sông Mã

khua núi cúi chầu

 

có mục đồng thả diều trên cánh đồng mè hoa trắng

thấy linh ảnh Lam Kinh vấn viếu hoàng hôn lịm ngủ

cung điện mùa thu này

cây đa nhỏ nước mắt chôn vùi giếng Ngọc tàng xưa

Đêm xứ Thanh, tháng 7-2011

L.V.T.G

 

 

CHU GIANG PHONG

 

 

 Cao nguyên

 

 

 Thế là tôi đã đến với cao nguyên

 

Một miền rất xa

Nhưng với quê tôi luôn là đứa trẻ

Chưa hiểu hết ngọn ngành

 

Phố thị cao nguyên vàng một màu dã quỳ như nắng

Gió luôn lồng lộng

Những cánh rừng cao su chờ rụng lá

Những con đường bụi ngầu sắc đỏ

Những buổi chiều chín người trong nhớ

Trao anh vào mùa khô.

 

Hoa pơ lang

Hoa pơ lang

Đỏ một góc trời thương nhớ

Ta lại mơ cây gạo đầu làng

Như mắt người chờ mong.

 

Màu dã quỳ dâng lên nhưng nhức

Ta thưong vạt cải ven sông

Ngày cuối đông

Vàng nắng ngọt.

 

 

C.G.P

 

 


 

 


 

 HUY TRỤ

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=339828

DỰ THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ
vannghexuthanh | 28 Nov, 2011, 18:03 | XỨ THANH THÁNG 9/2011 | (3 Reads)

NGUYỄN THỊ BÍCH NHÀN

 

 

 

 Kỷ niệm

 

 Truyện ngắn

 

 Ba là một bác sĩ có chuyên môn vững vàng, mẹ nhiều lần khuyên ba nên mở phòng khám tư nhưng ba nhất quyết không chịu. Mỗi lần mẹ bóng gió chuyện đó thì ba rất khó chịu, nói thẳng:

- Anh nói không mở là không mở, em đừng kiềng riềng nữa.

 

Một ngày làm việc căng thẳng đã khép lại, ba rệu rã, mềm oặt ngã ra giường. Bỗng như có gai châm ở lưng, ba ngồi phắt dậy, “cau có”, hỏi mẹ:

- Em thay vỏ gối hồi nào vậy?

- Em thấy vỏ gối của anh đã “quê” và cũ nên “mạnh dạn” thay.

Ba gằn giọng, nói nhát gừng từng tiếng:

- Sao em không hỏi ý anh?

- Có gì to tát mà phải hỏi chứ?

Ba ra lệnh rất dõng dạc:

- Em hãy bỏ lại vỏ gối cũ cho anh.

- Em bỏ vào thùng rác, xe đã mang đi rồi.

Ba thở dài, mệt mỏi, thất vọng. Những hôm sau, tôi thấy ba thức rất khuya. Vào mùa thi tốt nghiệp nên tôi phải thức học thâu đêm. Tôi thấy ba uống trà và thức tới sáng, có đêm bật điện sáng choang, đọc mãi một quyển sổ đã hoen ố, vàng cứng. Tôi tò mò vào xem ba làm gì, thì ra ba đọc nhật kí ngày còn đi học, ba say sưa kể với tôi về một kỷ niệm mà ba đã trân trọng suốt bao năm.

Năm ba học cấp 3, lớp ba có nhiều bạn xếp bút nghiên ra trận. Không khí thương nhớ, ngưỡng mộ bao trùm lên lớp học. Một hôm, ba và một số bạn được vinh dự lên ngồi họp với Ban giám hiệu. Thầy hiệu trưởng mái tóc điểm bạc, gương mặt gầy gò, hốc hác, đôi mắt thâm quầng và lõm sâu, cặp lông mày dài, quặp xuống. Thầy nhẹ nhàng, cởi mở, thân thiện:

- Sở và cấp trên đã dành cho trường ta 10 chỉ tiêu đi đào tạo nước ngoài. Nhà trường đã xét quá trình học tập, rèn luyện và quyết định chọn các em. Nếu sức khỏe tốt, các em sẽ được cử đi dự thi lớp đặc biệt tại Hà Nội do Bộ trưởng ra đề.

Lúc nghe tin này, ai cũng nôn nao, hồi hộp, hãnh diện vô cùng. Tiêu chuẩn bất di bất dịch là phải học xuất sắc cả cấp 2 và cấp 3, hạnh kiểm tốt, sức khỏe tốt. Sau đó, ba và các bạn được nghỉ học lên vùng núi xa xôi hẻo lánh - nơi sơ tán của bệnh viện tỉnh Thanh Hóa để khám sức khỏe. Qua bao dốc núi, suối đèo, mệt thì mệt nhưng vui. Mặt đứa nào cũng nhem nhuốc, bụi đỏ “nhuộm” người. Tụi con trai lém lỉnh, nhanh nhẹn cởi áo nhảy tủm xuống sông. Nước xanh um, mát lạnh, ai cũng cười tít mắt. Bọn con gái e lệ, để nguyên trang phục, thập thò ra mép sông rửa ráy cho mát, nhìn bọn con trai bơi lội mà “thèm” được tắm. Có đứa ngụp xuống gội đầu, mái tóc ướt ôm bờ vai thon, cái cổ áo tuột xuống làm lộ ra làn da trắng ngần như trứng gà bóc, làm lay lòng người. Quần áo ướt ôm chặt cơ thể, số đo ba vòng như hiện mồn một, thẹn thùng lấy tay che ngực, ngượng cứng người. Bọn con trai cười tủm tỉm.

Sau khi khám, ba đạt yêu cầu số một, chắc là nhờ ngày nhỏ vật lộn với ruộng đồng và chăm tập thể dục. Các bạn đều đạt (thua ba một tí). Riêng cô bạn gái vì thiếu cân nên không đạt. Cả đoàn buồn theo vì cô cứ khóc mãi, trên đường về, cả đoàn phải nghỉ liên tục để dỗ dành.

Rồi ba và các bạn nhận được giấy báo của Bộ Đại học ra Hà Nội dự thi. Thi xong, Ba về quê. Một hôm, đi lang thang trong làng, trong lúc đứng tần ngần dưới bóng cây đa gần giếng làng ngắm những con cá mương cứ nhảy lên nhảy xuống đớp khí mỗi khi có người lội xuống bến gánh nước, ba bỗng giật mình thấy bóng một cô gái, mặc quần đen mềm, áo trắng ngắn tay, lội xuống múc nước. Khi cô ấy xuống sâu, phải vén quần lên cao kẻo ướt, ba bắt gặp đôi chân dài, thon, trắng ngọc ngà, đôi tay trần láng mịn, trắng muốt. Nhìn lên là một dáng người mảnh mai, tóc đen xõa xuống ngực. ở quê ba, chỉ có ra đồng mới có thể nhìn thấy đùi con gái vì họ xăn quần bó hán để làm, lần này không dưng ở làng lại được thỏa thích nhìn đùi con gái. Ba ngỡ ngàng: “Hóa ra làng mình cũng có cô gái xinh thế này?”. Ba lững thững đi theo cô gái gánh đôi thùng. Nàng đi về phía một ngôi nhà nằm sau những cành cây. Một khu vườn xinh đẹp. Những cây dừa cao, buồng đã trĩu quả. Bóng nàng ẩn vào khu nhà.

Bác bưu chính đã mang bì thư của Bộ báo kết quả thi của ba đến nhà.

Ông cố trịnh trọng thắp một nén nhang, khấn khứa lâm râm rồi quay xuống, dùng kéo cắt phần đầu phong bì. Tờ giấy lộ ra. Ông nói: "Cháu đọc to lên coi”. Ba run run và đọc lướt. “Ôi! Cháu trúng tuyển rồi ông ngoại ạ!”.

Vậy là ba trở thành nhân vật của làng. Nhân vật sẽ xuất ngoại. Đó thật là một niềm vui to lớn. Bà nội vừa mừng vừa lo. Nội sợ con trai xa xứ, không tới thăm được. Hằng ngày gặp nhau, giờ xa xôi cách trở, nội sẽ lo và nhớ. Nhất là lại nghe nói ba sẽ đi xa hàng chục vạn cây số, đến một xứ mà mùa đông nước đông cứng lại như Tết nội hay làm thịt đông.

Trước khi lên đường, ba đi thăm và tạm biệt bạn bè. Ba muốn lưu lại tất cả các nét đẹp của quê hương mình, xứ Thanh thân thương. Con đường này, ngóc ngách này ba đã đi lại không đếm xuể nhưng lần này bỗng dưng thấy nó đẹp đến lạ, đúng là “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Ba đến nhà Trần Đức Hậu đầu tiên, người cùng ba đi khám sức khỏe và đã trúng, chờ ngày đi thi nhưng lại có đợt tuyển quân. Trần Đức Hậu đã không ngần ngại, xung phong tình nguyện ra mặt trận.

Ba lo giấy tờ để chuẩn bị đi Hà Nội. Thật tình cờ, hôm ba lên UBND xã lại gặp ngay cô gái gánh nước hôm nào. Hôm nay ba “ra dáng” rồi. Nội đã may cho ba hai bộ quần áo mới để đi học. Khi diện đồ mới, ba đã thành một người khác với mọi hôm. Bởi vậy khi nhận ra cô gái đó, ba tự tin hơn. Trong khi cùng chờ đợi, ba lân la làm quen. Thì ra cô gái cũng là người xứ Thanh nhưng đang học ở Hà Nội, nghỉ hè nên về thăm nhà.

Hôm nay, ba được diện kiến nàng rõ hơn. Mặt trái xoan, có duyên đáo để, miệng trái tim, môi ướt và hồng. Ra dáng con gái thị thành, rất ưa nhìn. Hai người nói toàn những chuyện trên trời dưới biển, trong chớp mắt mà đã như quen thân từ lâu lắm rồi. Có thể nói “Tình trong như đã mặt ngoài còn e”.

Đêm trước hôm ba ra Hà Nội, nội vừa vui, vừa thỉnh thoảng khóc. Đêm ba ngủ, nội cứ ra vào, lúc kéo chăn đắp, lúc tần ngần nhìn và ngồi bên cạnh canh cho ba ngủ. Mấy ngày ấy, nom nội cứ bồn chồn, lo lắng như sợ người ta bắt mất con mình. Nhưng rồi phút chia tay đã đến. Nội gói gém đồ đạc cho ba vào cái túi xách. Ba thắp nén nhang tạm biệt ông ngoại. Bà nội khấn khứa, xin ông bà linh thiêng phù hộ. Nội nói với ông nội trên bàn thờ như nói với người đang sống. Và ba đi... tiếng còi tàu hét lên. Tàu lăn bánh...

Ga Hàng Cỏ dần hiện lên. Lúc chia tay, người nhà và bạn bè đưa tiễn đều dúi ít tiền gọi là tiền nước. Ra Hà Thành, lúc rảnh rỗi, ba và các bạn trong đoàn hay rủ nhau ra quán cà phê ngắm cảnh và đi ăn phở. Những món ngon đất Hà Thành bắt đầu làm cho mấy chàng nhà quê háo hức. Riêng ba, vì đã ra Hà Nội mấy lần trước thăm người quen nên được hướng dẫn một ít kinh nghiệm của “dân chơi” Hà Thành. Ba thì thầm với mấy bạn:

- Này! Chúng mình khi uống càphê hay ăn phở phải để lại một ít dưới đáy ly. Đừng ăn cạn, uống cạn nha. “Quê” người ta cười cho đó.

ở quê, khi ăn phải ăn hết, nếu để dư, gọi là để mứa, kiêng. Uống thì phải uống hết vì trà dưới đáy là trà ngon. Mấy người bạn ba tưởng là “chân lý” nên làm theo răm rắp.

Một hôm, lang thang bên bờ hồ, hương hoa sữa nồng nàn, đang tìm ý tưởng để viết một bài thơ con cóc, bỗng nhiên ba nhìn thấy một dáng người quen quen, lại gần, thì ra là “cô nàng gánh nước”. “Ngày hôm qua” lại hiện về, ba và cô gái đã tự nhiên và thân mật hơn. Những tối xem phim, những buổi nhâm nhi cà phê bên Hồ Tây, những buổi ra ngoại thành chơi. Hai người đã nhanh chóng bước qua ranh giới của tình bạn. Một lần, cô gái hỏi:

- Mai mốt, chúng ta sẽ là gì của nhau anh nhỉ?

- Đương nhiên là anh sẽ cưới em. Chúng ta sẽ là vợ chồng.

- Nhưng anh... anh ở nước ngoài... anh và em sẽ là hai tầng lớp khác nhau, chúng ta không thuộc về một thế giới.

- Em không tin anh à? Anh nhất định sẽ cưới em sau khi “vinh quy bái tổ”.

- Khi anh “vinh quy bái tổ” chắc là có nhiều người đến chúc mừng lắm, sẽ chật nhà đấy. Anh nhớ chừa cho em một chỗ đứng nha.

- Chỗ đứng của mọi người là do em sắp xếp. Còn chỗ của em là ở trong tim anh.

Sau một thời gian nghỉ ngơi, thầy ở Bộ Đại học bắt đầu cho học sinh học những điều thuộc phong tục Châu Âu để ứng xử khi xuất ngoại. Ba và mấy bạn lạ lẫm với những điều này nhưng nhận ra rằng thế giới văn minh có nhiều cái rất hay. Họ coi trọng phụ nữ, người già và có những “luật bất thành văn” khi ứng xử nơi công cộng rất “nghệ thuật”. Thầy nhấn mạnh, đó là những điều tối thiểu mà mỗi người phải tự nhớ để thực hiện. Nếu ai không làm được thì sẽ bị đánh giá là “người thiếu văn hóa”. Mà bên đó, câu này là câu chê trách nặng nhất.

Ba sẽ đi thành phố Ki-ép, thủ đô cộng hòa Ucraina. Bộ thông báo còn mười ngày nữa tàu liên vận sẽ đưa du học sinh đi qua ga biên giới Lạng Sơn, sang ga Bằng Tường, xuôi về Bắc Kinh, qua Mông Cổ và sang Nga. Ngày hôm sau, ba và mọi người lên kho của Bộ, cũng ở ngay trong Trường đại học Kinh tế quốc dân nhận trang phục cá nhân và hành lý để chuẩn bị lên đường.

Mỗi người được lấy số đo tại chỗ và được phát hai bộ com lê màu đen bằng dạ, phía trong có một lớp lụa ngọc bích óng ánh. Hai chiếc sơ mi trắng, cổ cồn. Một valy da màu cánh gián. Hai đôi dày da màu đen và hai đôi bít tất trắng. Một đôi găng tay da màu đen. Một chiếc cavạt màu sẫm. Một cái cặp da bỏ sách vở. Cả đời ba chỉ biết ngắm người khác mặc như thế này trong phim.

Khi đứng trước guơng, ba cứ ngỡ đó là ai, là cậu ấm nào chứ không phải là gã trai nhà quê. Vóc dáng khỏe mạnh, ngực nở, thân người chắc, mập mạp nên chiếc com lê căng ra đầy đặn. Đôi dày đen mũi nhọn, mỗi khi đi lại cứ lộp cộp uy nghi, nhìn thật điệu đàng.

Ngày hôm ấy thật đặc biệt, mọi người không còn nhận ra nhau nữa. Một đoàn người ăn mặc lịch lãm, com lê, áo sơmi trắng thắt cavat, gương mặt sáng ngời, thông minh. Đặc biệt là các bạn nữ, nhìn cứ như cô gái Châu Âu. Mặc váy ngắn đến đầu gối, tất màu da kéo cao, đi dày cao gót mõm nhọn cũng đen bóng, áo vét ngoài. Sang trọng thật. Đúng là trang phục đã làm thay đổi hẳn phong cách và hình dáng bên ngoài. Lần đầu tiên ba được nghe một vị Bộ Trưởng phát biểu. Bộ trưởng nói, giọng rất trầm ấm và giản dị:

- Các em thân mến. Từ hôm nay, các em được Nhà nước giao cho nhiệm vụ học tập ở nước ngoài, tiếp xúc với nền khoa học tiên tiến trên thế giới, trong khi cả nước còn chiến tranh ác liệt. Các em phải như người lính trên mặt trận khoa học kỹ thuật, phải học và phải chiến thắng. Sang đó, các em phải trau dồi ngoại ngữ thật giỏi để tiếp thu, học tập lấy những điều bổ ích, đi sâu vào nghiên cứu khoa học, học tập có phương pháp và hiệu quả, để sau này về xây dựng lại đất nước giàu đẹp và đàng hoàng. Các em phải thật tỉnh táo để chiến thắng những cám dỗ về vật chất ở những nơi mà các em sẽ đến và sẽ sinh sống, học tập lâu dài...

Đó là ngày đầy những cảm giác mới lạ, rồi người nhà ra thăm. Tất cả đồ đạc quần áo cũ, cả tiền dư, ba và các bạn đều gửi cho người nhà hết, không mang một thứ gì, vì tất cả chỉ được bỏ gọn trong chiếc valy da.Chiều ấy, máy bay lại ra ném bom vùng lân cận. Tiếng gào rít của máy bay phản lực trên không của không quân ta và Mỹ quần nhau. Tiếng pháo nổ khắp vùng. Tất cả im lặng nhìn nhau, vậy là bạn bè đang chiến đấu, ta cũng là những người lính mặc com lê, đi đến nơi ấy để chuẩn bị cho ngày mai xây dựng lại những làng mạc phố xá bị tàn phá hôm nay.

Nhiều bạn khi xếp hành lí vào valy, đã rất cẩn thận tìm chỗ cho những kỉ vật của người thân. Riêng ba, chiếc vỏ gối vải trắng tinh thêu hình đôi chim bồ câu của bạn gái tặng, ba cất vào một nơi bí mật nhất, ba cất hình bóng người con gái xứ Thanh vào tim. Tất cả không mang theo tư trang cũ nhưng họ mang theo những kỷ niệm của người thương bên mình. Màu áo đã khác xưa, vải mặc khác, kiểu cách khác duy chỉ có tình thương là vẫn vậy.

Thời gian thấm thoắt trôi nhanh, với ba, mấy năm học ngoại quốc nó đằng đẵng như mấy thế kỷ. Người viễn xứ luôn cô đơn giữa chốn đông người. Cái hào nhoáng, uy nghi của nước bạn càng làm ba thấy cô đơn và nhỏ bé. Thèm một lần gặp người cùng quê, không ai ngoài mấy đứa bạn học. Ngày ba về, ngoại đã hom hem, lú lẫn. Xóm giềng kể, vì có lần bom dội gần quá, bà ngoại thoát chết nhưng lỉnh lảng từ đó, khờ khờ khạo khạo, nghe tiếng được tiếng mất, cái biết cái không. Ba trở thành một bác sĩ, nội lại bệnh hoạn. Những kiến thức mà ba tiếp thu từ nền khoa học kỉ thuật tiên tiến cũng không giúp ba trị hết bệnh cho nội. Đau đớn nhìn nội, nội thì “ngây ngây”, lúc nào cũng cười cười, chỉ trỏ, không biết con trai du học đã về.

Ba đến thăm bạn cũ, rụng rời khi biết Đức Hậu đã anh dũng hy sinh ngoài chiến trường. Từ đó, ba lao vào công việc, tận tình với bệnh nhân và luôn sống với danh dự của một người khoác Blue trắng, y đức là điều ba đặc biệt quan tâm. Ba không mở phòng khám tư nhưng nếu bệnh nhân khó khăn, ba sẽ tìm mọi cách để giúp đỡ, hỗ trợ điều trị.

Ba giành thời gian đến nhà bác của bạn gái. Bác ấy cho hay, cô gái đã trở thành một nữ thanh niên xung phong. Bác ấy bảo, thi thoảng cũng nhận được thư của cô ấy, cho ba địa chỉ. Ba vui lắm, vội vàng về nắn nót viết những lời yêu thương, khen ngợi sự dũng cảm và động viên người yêu. Có chờ đợi mới biết đợi chờ khổ như thế nào, thời chiến, việc gì cũng khó huống chi là thông tin liên lạc. Rồi ba cũng nhận được thư người yêu, hai người hẹn nhau, khi nào thống nhất sẽ làm cô dâu chú rể. Ba đã cống hiến nơi hậu phương, người yêu thì lăn lộn ngoài chiến trường. Tình yêu đã tiếp thêm sức mạnh cho hai người, “anh hậu phương, em tiền tuyến”. Lời nói từ trái tim được truyền cho nhau. Trong mắt người này, người kia đang vì tổ quốc, trong mắt người kia, người này đang phụng sự cho dân tộc.

Một ngày, Ba vừa tan ca, về đến nhà thì nhận được tin người bạn gái đã hy sinh trong một trận càn. Cổ họng ngẹn ứ, tim đau đớn như có ngàn mũi kim đang châm mạnh, toàn thân run rẩy. Ba điếng người, đứng trân trân như pho tượng, lồng ngực tưởng chừng như có một tảng đá không lồ đè lên, nặng trịch. Quả tim như có một bàn tay bóp chặt, khó thở.

Người mất cũng đã mất rồi, người sống thì phải sống tiếp. Ba còn nghĩa vụ với dòng họ. Là con trai duy nhất còn lại của họ tộc. “Trong ba tội bất hiếu, không có con nối dõi tông đường là tội bất hiếu lớn nhất”. Ba lấy vợ. Tối tân hôn, ba lồng vào gối mình chiếc vỏ gối ngày xưa và trân trọng nó như một báu vật. Nhiều lần mẹ đòi thay cho cùng bộ, giường hai chiếc gối, hai vỏ gối khác nhau nhưng ba nhất quyết từ chối. Mẹ bực mình:

- Có cái vỏ gối mà anh làm gì quan trọng vậy?

- Nó là kỷ niệm một thời của anh.

- Kỷ niệm rồi cũng qua đi. Có ai đâu mà cái gì cũng nhớ, ôm đồm quá thì tội cho quả não nhỏ bé của chúng ta.

- Nếu anh là một người dễ quên, có lẽ em đã không lấy anh. Với anh, quá khứ như một cái sẹo, anh không thể làm cho nó phẳng lì em ạ. Nhiều lúc muốn quên đi nhưng “cố quên thì càng nhớ”. Nó là kỷ niệm của một thời oanh liệt, kỷ niệm về một cô thanh niên xung phong dũng cảm của xứ Thanh này.

                                                                                    N.T.B.N

 

VŨ THỊ HUYỀN TRANG

 Mùa chớp nổi

 

 Mùa chớp sau lưng

 

lạnh tái.

Đẩy con về miền thơ dại

Cái chớp quẩn quanh không thoát nổi kiếp người.

 

Bữa cơm chiều lay lắt phấn hương ngô

Chớp cắt vùng đông đòi mặt trời về ngủ

Mẹ tất bật lo làm sao ủ ấm

Cho căn nhà ngói lệch cả ba gian.

 

Con xa...

Những chân trời che khuất đi mùa chớp

Con chẳng còn định vị

Đâu lời ru thương cả đến cánh cò.

 

Chớp chỉ lối cha về khi mới tan ca

Nghe tiếng xe về con ùa ra ngõ chặn

Bố cù con cười mùa rô đồng vùi ngủ

Chiếc gầu giai múc cả chớp tràn bờ.

 

Chớp gọi thời gian về bên má mẹ hom

Đêm nghe tiếng còi tàu

chờ con về thảng thốt

Lưng mẹ còng chớp chẳng lùa tới được

Ngày con về mùa chớp nổi

khoảng sân.

V.T.H.T

 

 

MINH THÚY  

Haiku dài cho em

 

 

 

 Những hạt gai nho nhỏ

 

Bám vào tóc em trong chiều nghiêng nghiêng gió

Cả một mùa hoa cỏ

Cài lên lẵng dịu êm

Cỏ thì xanh như là áo em

Và tóc đen như mắt bồ câu vậy

Để lòng tôi rưng rưng bỗng thấy

Gió rất mềm

Mùa hoa bất tử

Hương cỏ nồng nàn trên lối chân quen

                             M.T

 

 

 NGÔ THỊ THANH VÂN 

Ô cửa mở ra

 

 

Ô cửa mở ra

hàng loạt bí mật bật mí

em giải mã mình bằng ngổn ngang ký tự

có những ký tự được lập trình

 

Mặt trời nói với loài người bằng ánh sáng

mặt trăng nói bằng bóng đêm

loài giun dế sâu bọ tấu lên bản hợp ca cuối ngày rộn rã

và cỏ cây xanh đến tận cùng

 

ô cửa mở ra

thế giới em tràn ra ngoài căn phòng yên tĩnh

thoảng nhẹ hương ngọc lan và những nốt trầm

bản "sonat ánh trăng" chạy trốn chàng trai

bên cây dương cầm trong căn nhà đối diện

đến hỏi em rằng "có còn thức không?"

 

có tiếng rao đêm khản đặc qua thềm

tiếng chim ăn đêm lạc giọng kêu rên

tiếng mèo ngoao đêm rùng mình thiếu phụ

ập vào em.

Đêm.

 

ô cửa mở ra

ngàn lời gió thổi

bủa sương khuya heo hút đồi vàng

rưng rưng tiếng độc huyền thăm thẳm

đêm mở ra ô cửa. Mở ra.

N.T.T.V

 

 

NGÔ THỊ THANH VÂN

 Đêm Pleiku

 

 

Pleiku đêm

phơi những ngực trần

đồi bát úp

mỏi gối con đường heo hút

nhọc nhằn

 

pleiku đêm

lang thang dấu chân vô định

anh vẽ những đường vòng lên đôi mắt nâu

bằng khói thuốc

tan vào em vào sương

 

tay trần vuốt ve đêm

Pleiku thanh tân thiếu nữ

nhú nhú đồi vàng

ngân ngấn mắt Biển Hồ chớp động

 

Pleiku khỏa vào em nốt trầm

mặc nhiên như hàng thông câm lặng

anh khỏa vào nỗi khát thèm

đêm dậy thì mùi hương con gái

nghiêng đêm.

10-2008

N.T.T.V

 

 

  TRỊNH HẢI YẾN

Mưa…

 

 

Mưa…

Tháng bảy

Không đùa cợt với mảnh đất cằn

Mưa đập vách bên hiên trời trái dạ

Mẹ khỏa bước trên đồng bóng cả

Đất chung tình reo bài hát ngàn năm

Từng nhát cuốc bập vào lòng đất

Có oán hờn, hy vọng, yêu thương

Miếng đất cỏn con sao mà cố chấp

Tay mẹ gầy run rẩy luống đất còm

Những con run còng

Những chú rế đóng đinh bản tình ca cũ rích

Trời gắt

Mẹ cắt bóng mình trong bóng cuốc thời gian

Con mải mê trong ngôi nhà công nghiệp

Quên cơn mưa tháng bảy vắt ngang thềm

Quên những ngày theo mẹ ra đồng gặp bóng mình trong bóng nước

Mưa muôn đời chẳng yêu được gã khổng lồ mặt đất cuồng ngông

Mẹ, những người đàn bà sống trên mắt đất cằn

Chỉ biết thả ước mơ theo chiền mưa cổ tích

Chiều loang bàn chân cước

Vẫn miệt mài gặt bóng mình trong bóng cuốc ngả nghiêng

T.T.H.Y

 

 

 

 

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=339827

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN
vannghexuthanh | 28 Nov, 2011, 17:56 | XỨ THANH THÁNG 9/2011 | (2 Reads)

       NỖI HẨM HIU CỦA LÝ LUẬN PHÊ BÌNH HIỆN NAY

 

                                                                                      VĂN GIÁ

  

Bài viết này(*) tôi không nhằm vào đánh giá những ưu điểm vốn không đáng kể của nền lý luận phê bình hiện nay (vì việc này không khó), mà chủ yếu đi vào những hạn chế, khiếm khuyết của nó. Có thể những lời nói của tôi khó nghe đối với ai đó, nhưng biết làm sao được. Nói theo cách nói của người miền núi: Tôi chỉ biết nói lời cây mọc thẳng.

1.Giới làm lý luận - phê bình (LL-PB) bị bỏ rơi

Trước nhất xin nói về cái cụm từ “lý luận - phê bình”. Thực ra thì lý luận khác với phê bình, mặc dù nó có liên đới. Một đằng quan tâm trên bình diện lý thuyết mang tính trung tính về văn chương, còn một đằng quan tâm đến các giá trị cụ thể của văn chương thuộc về tác phẩm, tác giả, vấn đề của đời sống văn học đương đại. Tuy nhiên, tạm gác lại vấn đề khu biệt, tôi vẫn tạm sử dụng cụm từ quen thuộc này; vả lại, trên thực tế, có một chuyện khá phổ biến ở ta là đại đa số những người làm lý luận đều làm phê bình cả.

Trở lại với LL PB, tôi hoàn toàn không nói ngoa rằng: giới làm nghề này đã bị bỏ rơi, bỏ quên từ lâu chứ không phải đến bây giờ.

Chứng cớ là:

- Chưa bao giờ Hội Nhà văn, hoặc các Nhà xuất bản của Hội tiến hành ra các tuyển LLPB thuộc các giai đoạn, thời kỳ văn học, trong khi đó về sáng tác thì khá đều.

- Sau Hội nghị những người viết văn trẻ, hay các đợt tập huấn thường niên, Hội nhà văn chưa bao giờ ra tuyển tập LLPB, trong khi đó chỉ có các tuyển sáng tác.

- Chưa bao giờ có trại sáng tác dành riêng cho những người viết phê bình, nhất là phê bình trẻ.

- Trong một số Hội nghị LLPB vốn rất hiếm hoi, số người viết phê bình trẻ được tham gia rất ít, đã thế khi tham dự hầu như không được phát biểu, không được đối thoại, đến dự để cho có mặt gọi là.

- Trong các cuộc thi về thơ, về văn xuôi, các thành viên Ban giám khảo chưa bao giờ có một nhà LLPB nào tham gia chấm giải. Các giải chỉ do các nhà sáng tác bầu bán, không có giới LLPB phản biện. Đó cũng là một trong những lý do làm cho chất lượng giải thấp.

- Trong kế hoạch bồi dưỡng của Hội nhà văn thường niên, đã từng có để ý đến bồi dưỡng đội ngũ những người viết LLPB. Tuy nhiên, cách tiến hành thường qua loa, làm cốt để gọi là có, diễn ra khoảng tuần, với những bài nói chuyện đại ngôn tráng ngữ, không đâu vào đâu, không đi vào nghiệp vụ cụ thể, thí dụ như cách viết một bài phê bình thế nào thì không một bài giảng nào quan tâm.

- Trong các cuộc tiếp xúc với các tổ chức và cá nhân thuộc văn học nước ngoài do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, trong số các thành viên được mời, những người làm LLPB thường cũng bị bỏ quên nốt.

Như vậy, đội ngũ những người làm LLPB vốn đã thưa vắng, thời nào cũng vậy, cho đến hôm nay về cơ bản vẫn bị bỏ quên, mặc dù lời nói bên ngoài thì vẫn rằng một rằng hai đề cao LLPB. Những quan tâm kiểu ấy không đem lại giá trị thúc đẩy nâng cao LLPB, mà nhiều khi còn có màu sắc giễu cợt. Cuối cùng, LLPB chỉ còn là nỗ lực của mỗi cá nhân, những ai tha thiết với nghề (dĩ nhiên có cả những người tuy không tha thiết, nhưng không viết thì không biết làm gì khác).

2. Các tác phẩm LL-PB bị rẻ rúng

Như ta biết, làm LLPB là một nghề chứa đầy hiểm họa. Đào tạo một người làm LLPB tử tế nhất thiết phải qua bậc học vấn tối thiểu là đại học. Còn người sáng tác không nhất thiết phải như vậy.

Thế nhưng, các tác phẩm LLPB được đối xử thế nào?

Các tờ báo đều đánh đồng hoạt động LL-PB, nhất là phê bình chỉ như là những bài đọc sách, điểm sách, mạn đàm, nhàn đàm... về các vấn đề thuộc sinh hoạt thực tiễn văn học. Như vậy, nó chỉ quan tâm tới phê bình kiểu báo chí, chứ xem thường, thậm chí khinh miệt những tác phẩm LLPB chuyên nghiệp. Chứng cớ là, các tờ báo quy định viết chỉ cần mang tính phổ thông, dễ hiểu, ngắn, dung lượng chỉ cho phép đến vậy, viết theo đơn đặt hàng của các ông chủ báo. Nếu dài quá so với quy định là cắt. Nếu trình bày hàn lâm, nhiều khái niệm quá, cắt. Cuối cùng là các bài LLPB chỉ là loại phê bình kiểu báo chí. Loại phê bình này cũng quan trọng ở chỗ là nó làm báo dưới hình thức giới thiệu, đưa tin về văn học, thế thôi, chứ nó không có khả năng đi sâu vào hoạt động phê bình, tức là thẩm định cắt nghĩa, đánh giá giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm. Yêu cầu này chỉ có thể đạt được khi phê bình chuyên nghiệp lên tiếng.

Mà phê bình chuyên nghiệp lại vượt khung khổ của một tờ báo thông thường. Nó buộc phải viết có ngọn ngành, bài bản với khung lý thuyết, với khái niệm, với những diễn giải khoa học... Nên buộc nó phải có độ dài nhất định. Trong khi đó các báo không chấp nhận những bài dài. Mâu thuẫn là ở đó.

Chính vì thế, ngày nay do cung cách của báo chí, LLPB trong con mắt của đại đa số, đã tự biến thành hoạt động thông tin báo chí thuần tuý, đánh mất vai trò chuyên nghiệp và tính trí thức của nó.

Thêm nữa, việc trả công cho một tác phẩm phê bình vô cùng thảm hại. Sáng tác dẫu sao vẫn được trả khá hơn. Mỗi bài phê bình đúng nghĩa phê bình của chúng tôi đăng trên sân nhà (báo chuyên văn nghệ) được trả nhuận bút khoảng 200 đến 250 ngàn đồng. Mà viết được bài phê bình tử tế phải đọc ngày đọc đêm, phải phân loại, thống kê, so sánh, tổng hợp, khái quát, đặt trong tính hệ thống của chính tác giả, của thể loại, của nền văn học trong cả hai chiều lịch đại và đồng đại... Ôi chao, vô cùng công phu, vất vả nếu muốn thuyết phục được người đọc, nếu không muốn bị chê là cảm tính, nói vu vơ, vòng vo ngoài tác phẩm. Người đọc ít ai nghĩ để viết được một bài phê bình khoảng 2000 chữ về một tác giả, anh phải đọc hết trên nghìn trang, thậm chí vài nghìn trang tác phẩm của tác giả đó.

Ai là người kiên nhẫn viết phê bình mãi được mà không thấy chạnh lòng với cách trả nhuận bút như vậy.

ấy là chưa kể phê bình còn chịu cái nhìn định kiến từ phía không ít các nhà văn. Đại đa số họ chỉ thích đọc bài phê bình về chính mình chứ không thích đọc bài phê bình về người khác, mà lại chỉ thích bài khen chứ không thích bài chê. Cái chủng chẳng cố hữu giữa dân sáng tác và dân phê bình thời nào vẫn thế.

Có lần gặp một bạn viết vào nghề chưa lâu, anh ta nói hung hăng rằng thơ ca suy cho cùng không cần đến phê bình. Tôi nói rằng: chỉ có thơ ca tuyệt đỉnh may chăng mới không cần đến phê bình, còn lại nó luôn luôn cần phê bình, mà tuyệt đỉnh giá trị thì vô cùng hiếm, trong số đó chắc chắn không có thơ của anh.

3. Hoạt động LL-PB hiện nay đang bị... loạn

- Phê bình chuyên nghiệp hiện đang rất thiếu người. Chưa ai làm phép thống kê xem tỉ lệ giữa người làm LLPB so với giới sáng tác xem thế nào, tôi cầm chừng tỷ lệ khoảng 1/30. Thế thì làm sao có thể đọc hết, bao quát hết thực tiễn sáng tác được. Vả lại với con số ít ỏi đó, nói thật, không có ai chuyên tâm làm công việc này. Họ phải đi dạy học, làm báo, làm đủ thứ nghề để mưu sinh. Ai chăm sóc họ? Ai nuôi sống họ? Không ai! Tuy nhiên thì đôi bữa nửa tháng họ vẫn nhớ nghề, vẫn muốn tỏ mình, vẫn có đôi bài tử tế, đành đăng trên một số tạp chí, mà tạp chí thì mấy người đọc ngoài một số người trong nghề.

Trong tình hình như vậy, phê bình báo chí lên ngôi, thống trị, ngang nhiên (và có khi cả ngang ngược), khen chê búa xua, bất chấp tính khoa học. Phê bình kiểu báo chí đã làm được một điều đó là: đem lại cho người đọc một ảo tưởng rằng tất cả nền phê bình chỉ có thế. Và căn cứ vào đó người ta chê bai, đổ lỗi cho phê bình đủ thứ tội nợ.

Xin thưa, từ khi ngành phê bình ra đời, chỉ có loại phê bình chuyên nghiệp mới có thể đại diện cho tiếng nói phê bình của một nền văn học, còn phê bình báo chí và phê bình nghệ sĩ chỉ là những bổ sung, làm sinh động hóa nền phê bình mà thôi chứ chúng không có tư cách đại diện.

- Nhìn vào bản thân các tác phẩm phê bình được coi là có nghề cũng không phải không có chuyện. Theo quan sát của tôi, chúng lại rơi vào mấy căn bệnh khá nguy hiểm này:

Một là, căn bệnh hư văn, tức là nói những chuyện đẩu đâu, vu vơ, ngoài lề, không đi vào thực tiễn văn bản, vào vấn đề bình giá trực diện. Nói ra các vấn đề thấy đúng cả, nhưng đúng một cách chung chung vô ích. Nói chung chung thì dễ, nói cho thấu đáo, trách nhiệm mới khó.

Hai là, căn bệnh súng sính khái niệm, đọc vào toàn thấy khái niệm thiếu tính xác định, chưa được nghiền ngẫm cẩn thận, nghe xủng xoảng cho oai, chứ không mang lại hiệu quả gì. Trong trường hợp này, tôi thật sự quý một vài cây bút phê bình trẻ, trước khi ứng dụng tri thức lý thuyết phê bình mới, họ đã có giới thiệu những điểm căn bản nhất của lý thuyết, được khai thác từ nguồn trực tiếp, cấp một (chứ không phải nguồn thứ cấp, tức là dẫn theo), rồi sau đó mới ứng dụng vào phê bình trường hợp. Nhưng những tấm gương lao động như thế đang còn rất ít. Mong sao cách làm bài bản này sẽ ngày càng được coi trọng.

Ba là tình trạng không hiểu thực sự giá trị đích thực của văn chương là gì? Câu hỏi này tưởng như dễ mà kỳ thực vô cùng khó. Nếu hiểu thực sự văn là gì thì sẽ hiểu đâu là văn thật, đâu là văn giả, đâu là văn ngụy. Và từ đó mới thấy văn hay là thế nào. Có một số ngòi bút phê bình quen thói phức tạp hóa những điều vốn không có gì khó hiểu, và nhầm lẫn tưởng phức tạp là sâu sắc. Đọc vào bài viết của họ mới đầu thấy có vẻ thông thái, nhưng đọc xong không hiểu họ định nói gì. Đó là căn bệnh mà đại thi hào Goethe đã từng giễu cợt là bệnh thông thái rởm. Lại có không ít người sính cái lạ mà không thấy được chất văn thực sự, nên đã đồng nhất chất văn (tính nghệ thuật) với cái lạ. Nếu xét kỳ cùng, lạ mà hay thì là điều đáng mong. Sợ nhất lạ chỉ để mà lạ thì không mấy ý nghĩa, quá lắm nó chỉ có giá trị gây hấn nghệ thuật mà thôi. Không ít bài phê bình hiện nay chạy theo cái lạ, nhầm cái lạ với tính nghệ thuật, với giá trị. Bản thân cái lạ chưa là giá trị, cái lạ - hay mới là giá trị. Hiện nay không ít các cây viết trẻ tìm kiếm cái lạ một cách điên cuồng, nhưng vẫn hiếm thấy cái lạ - hay. Cái lạ hay này nó phải có máu của tư tưởng mới thành được, nếu không chỉ còn là thời thượng.

Bốn là tình trạng chữ nghĩa và diễn đạt chạy theo mốt (modern). Gần đây, một số công trình dịch thuật, nhất là dịch thuật triết học, tiêu biểu là các công trình của nhà nghiên cứu và dịch thuật triết học Bùi Văn Nam Sơn tương đối phổ biến. Trong đó, ông phải sử dụng một loạt các từ, hoặc các thuật ngữ do ông sáng tạo, hoặc ông lấy lại từ kho từ vựng/ thuật ngữ trước 1975 ở sinh hoạt học thuật miền Nam. Một số người do không có điều kiện đọc các sách LLPB phía Nam trước năm bảy nhăm, nên cứ tưởng là mới, thế là đổ xô vào bắt chước. Tầm vóc Bùi Văn Nam Sơn sử dụng có cái tư thế riêng của ông, chứ còn người khác bắt chước, đọc vào không tránh khỏi cảm giác chướng chướng.

ấy là chưa kể đến những thói tật của phê bình thời nào cũng có như viết theo kiểu cánh hẩu, hoặc quy chụp, hoặc xúc phạm cá nhân, hoặc tự cao tự đại vô lối, hoặc xem thường người khác... Nhìn chung là thiếu tính trí thức và văn hóa. Những điều này đã bàn nhiều, và chưa thể nói là đã giải quyết xong.

4. Một vài đề xuất

Bây giờ không nên khách sáo nữa, tôi có mấy đề xuất cụ thể như sau:

- Các hoạt động văn chương như hội thảo, hội nghị, tiếp xúc với văn nghệ sĩ quốc tế, các cuộc thi văn học... cần có người làm nghề LLPB tham gia. LLPB bao giờ cũng cần được hiểu như là một kênh đối thoại, một trợ lực điềm tĩnh và có chất lượng khoa học cho các hoạt động kể trên.

- Cần phân biệt giữa phê bình chuyên nghiệp và phê bình báo chí. Phân biệt không phải để đánh giá cao thấp, mà cốt để có đối xử cho công bằng, sử dụng bài vở hợp lý, và từ đấy cũng có chế độ nhuận bút công bằng, xứng đáng.

- Mỗi tờ/ trang/ chuyên trang văn nghệ nên đặt một số người thường xuyên viết phê bình về tác giả, tác phẩm mới, và trả lương xứng đáng cho họ. Cách làm này của phương Tây. Thí dụ ông Giám đốc Hội đồng Anh có cho chúng tôi biết là: mỗi tờ báo ở nước này thường thuê vài ba nhà phê bình viết đều đặn cho họ về các tác phẩm mới ra, các tác giả và các vấn đề của đời sống văn học đương đại, và trả lương xứng đáng cho họ, nên chất lượng phê bình, cả phê bình chuyên nghiệp lẫn phê bình báo chí đều được bảo đảm. Liệu chúng ta có dám bỏ tiền ra thuê các nhà phê bình không?

- Có thể thành lập một ấn phẩm riêng cho ngành lý luận - phê bình tương tự như Tạp chí Thơ, Tạp chí nước ngoài hiện nay. Đây là một diễn đàn tập hợp các tác phẩm LLPB đủ loại, thuộc nhiều phương pháp, phong cách khác nhau một cách có tổ chức và phân công hợp lý.

- Nên thường xuyên có những tập huấn, đào tạo đối với những ai muốn viết phê bình, nhất là những cây bút trẻ đi theo nghề này. Mà tập huấn nhất thiết phải đi vào chuyên môn nghiệp vụ, chứ không trang bị nghị quyết, thời sự chính trị như hiện nay.

- Tăng cường tổ chức dịch thuật, giới thiệu các lý thuyết và các tác phẩm LLPB của nước ngoài vào Việt Nam. Hiện giờ việc tiếp cận lý thuyết mới đã có triển vọng nhờ các chuyên gia truyền bá và ứng dụng, nhất là một số cây bút trẻ có ngoại ngữ được tiếp xúc lý thuyết tận nguồn. Tuy nhiên thì hiện nay vẫn là nỗ lực của mỗi cá nhân chứ hoàn toàn chưa có tính tổ chức.

- Chấn chỉnh lại các trang, chuyên trang LLPB trên các báo trung ương và địa phương. Tìm người có đầu óc tổ chức, có chuyên môn LLPB, có kiến văn rộng rãi, có tinh thần cởi mở trong tiếp cận cái mới, cái khác biệt để phụ trách, trao cho họ cái quyền được tổ chức bài vở có hiệu quả và trách nhiệm cao.

*

Muốn làm được tất cả những điều trên, chúng ta phải thực sự quyết tâm vào cuộc, chứ cứ bàn mãi như lâu nay cũng sẽ không đi đến đâu. Thí dụ các Hội từ trung ương tới địa phương nên bớt đi những khoản chi tiêu lãng phí, không cần thiết, để tập trung kinh phí, thời giờ, nhiệt huyết cho hoạt động LLPB này.

Trên đây là ý kiến của riêng tôi trong tư cách người làm nghề, tư cách hội viên. Những hạn chế mà tôi nêu lên cũng có một phần trong chính bản thân tôi. Tuy nhiên, sự tự ý thức như vậy luôn luôn có ích cho sự tiến bộ. Tôi tâm niệm điều đó.

                                                                            Hà Nội, 17-6-2011

                                                                                       V.G

 

 

(*) Tham luận Hội thảo “Nâng cao chất lượng lý luận, phê bình VHNT” trong khuôn khổ chương trình phối hợp giữa Hội VHNT các tỉnh, thành phố vùng Kinh đô Việt Nam xưa và nay: Hà Nội, Thừa Thiên- Huế, Ninh Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa do Hội VHNT Thanh Hóa đăng cai tổ chức ngày 22-6-2011

 

MỘT VÀI Ý KIẾN NHÂN GẶP GỠ, TỌA ĐÀM

TẠP CHÍ VĂN NGHỆ CÁC TỈNH BẮC MIỀN TRUNG

                                                     Nhà văn TỪ NGUYÊN TĨNH

                                                 (Nguyên Tổng Biên tập tạp chí Xứ Thanh)

...

Làm tạp chí ở địa phương bao giờ cũng gặp khó. Lượng người viết ít, không thuận lợi cho anh rộng đường lựa chọn bài vở. Tạp chí ở trung ương in bài không phải lúc nào cũng hay cả, nói thế không có nghĩa là biên tập địa phương in ẩu, bài vở dở kém chất lượng. Làm tạp chí bây giờ khó hơn trước. Chỉ riêng quảng cáo để cải thiện nhuận bút và đời sống cũng bị cạnh tranh hết sức dữ dội. Nhiều báo và tạp chí xuất hiện, các đại diện mọc lên, mà lại của trung ương chứ có phải của địa phương đâu, nên không kiên nhẫn thì không xin được quảng cáo, mà không có quảng cáo, thì "báo"- "tạp chí văn nghệ địa phương" thật khó khăn. Dẫn đến nhuận bút thấp, không thu hút được người viết.

Lực lượng cộng tác viên là sự trái chiều của hai thái cực. Già đi rất nhiều, so với thế kỷ trước. Lúc mới ra đời (hội và tạp chí) họ còn trẻ trung hừng hực tinh thần xả thân cho văn nghệ. Nay thì đã lên lão, sức viết chậm, vốn cạn dần, người có vốn muốn dốc túi để trả nợ hồi kết. Trong khi đó, cây bút trẻ lại chưa chiếm lĩnh kịp. Không phải hội, tạp chí không lo đào tạo, mở các cuộc thi, nhưng kết quả lại vẫn vắng những cây bút trẻ. Lúc ở quê, có viết cũng là đá gà đá vịt, khi lên đại học lại tẻ sang một hướng khác, có khi mừng hụt tưởng là nhân tài, nhưng sau vài tác phẩm lặn mất tăm. Tạp chí Xứ Thanh đi tìm người viết trẻ, biên tập trẻ cũng khó như tìm vàng.

ở tỉnh lẻ, không có nhiều các viện nghiên cứu, trường đại học, nên hiếm các nhà nghiên cứu văn hóa và lý luận có uy tín. Mong có cộng tác viên về mảng này, nhưng nếu có cũng không phải là đã đáp ứng được. Các giáo sự, nhà lý luận cũng mấy ai muốn in trên tạp chí "hẻo lánh" ít người xem. Vả lại họ làm gì có tác phẩm của các nhà văn địa phương bảo để viết bình luận, chê khen. Thậm chí, gửi bài về để in nhiều khi bình về tác phẩm dịch, tác phẩm in ở đâu tận Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh, hoặc là tranh luận với một ông nào đó mà độc giả địa phương chưa hề đọc chứ nói gì biết mặt. Người biên tập, không in thì nể, in thì chả khác gì đánh đố cả chính mình. Vậy ai sẽ giúp cho tạp chí địa phương làm tốt cho khâu lý luận này. Hay chỉ mong chờ vào sự xuất hiện ngẫu nhiên và ăn may?

Phát hành là khâu nan giải nhất. Nói rằng trung ương tài trợ cho văn nghệ sĩ nhiều tiền lắm. Nhưng được đồng nào, giữ ở bên Hội, tạp chí nào có chỉ thị chính sách nào đâu. Chính trong làng báo ở tỉnh anh cũng bị phân biệt. Người ta có thể mời hết mọi đại diện, nhưng riêng tạp chí văn nghệ địa phương, là một trong bốn cơ quan báo chí chính thức nhưng bị bỏ qua. (Có thể tôi nhớ thời kỳ mình làm, chứ bây giờ chắc là khác). Phát hành một ngàn bản với dân số Thanh Hóa 3,5 triệu thì bình quân trên đầu người thật là đáng phàn nàn.

Qua gặp gỡ này, mong vui bạn bè, học tập được tạp chí các tỉnh bạn nhiều điều, trong đó có khâu phát hành và nhuận bút là quan trọng. Vì nếu nhuận bút thấp, không khuyến khích được người viết, cộng tác viên sẽ ít đi, bài vở khan hiếm thì làm sao mà có điều kiện lựa chọn bài hay. Tất cả các khâu mà làm tốt, nhưng phát hành ít, không đến được người đọc, coi như giá trị bị hạn chế, kèm theo nhiều thứ khác nữa bị thiệt thòi.

Cũng xin mạnh dạn đề nghị một số vấn đề.

Đối với trung ương, cụ thể là ủy ban Toàn quốc Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam: Cần có chính sách đầu tư hàng năm, trong số tiền tài trợ của chính phủ về cho hội địa phương, cần phân định cho tạp chí địa phương một khoản nhất định, để tạp chí có điều kiện "nâng cao chất lượng".

Có sự tác động cần thiết để cơ quan báo chí văn nghệ địa phương có trụ sở phù hợp với sự đổi mới ngày nay. Nơi làm việc thật sự là nghèo và nhếch nhác, chưa xứng với tầm một cơ quan báo chí.

Đối với địa phương:

- Tạo điều kiện để tạp chí có trụ sở làm việc không thua kém nhiều công sở trong tỉnh nhà, hay khả dĩ không bệ rạc như công sở của thế kỷ trước.

- Đưa tạp chí văn nghệ địa phương vào danh mục phát hành tới đội sản xuất, xóm, với vùng núi vùng sâu vùng xa thì nên cấp không cho các xã để họ đọc, "xóa đói giảm nghèo" về văn học nghệ thuật.

- Có quỹ nhuận bút cho tạp chí, không để tạp chí tự kiếm trả cho người viết rất bị động, đã quá lạc hậu so với giá cả thị trường và định mức nhuận bút của Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch. Nhuận bút thấp không khuyến khích được người viết.

- Tạp chí địa phương được thông báo mọi hoạt động chung cùng các cơ quan báo chí khác như là một sự bình đẳng và trách nhiệm của cơ quan báo chí.

- Hàng năm, tạo điều kiện về ngân sách để tạp chí mở trại bồi dưỡng cho các cây bút trẻ, triển vọng. (Từ 10-15 người, từ 10 đến 15 ngày)

Nếu được sự quan tâm những đề nghị trên, ít nhiều tạp chí sẽ được cải thiện. Nâng cao chất lượng biên tập, in ấn là việc làm không thể thiếu được của mình trong sự tồn tại trước công chúng, bạn đọc.

Đối với tạp chí 6 tỉnh Bắc miền Trung:

Giao lưu trao đổi toàn diện, từ khâu biên tập sử dụng bài, phát hành và cả nhuận bút, cách xin quảng cáo, v.v... Có dành đôi dòng, giới thiệu tạp chí các số, để giúp tỉnh bạn có thêm đội ngũ cộng tác viên. Và quảng bá rằng đang có một tạp chí như thế tồn tại.

Sáu tỉnh trong khu vực nên đề nghị, thư viện, hoặc Hội Văn học, mua ít nhất số tạp chí đủ cho Ban Chấp hành, đó cũng là cách để Ban Chấp hành góp phần có tầm mở, nhìn nhận đúng hơn về tạp chí tỉnh mình. Cũng là điều kiện cho phép trong ngân sách tài trợ của chính phủ, không sai về quy định sử dụng. Tăng thêm sự giao lưu về văn nghệ mà cụ thể tạp chí là cách giúp cho bước đi gần mà hiệu quả nhất.

Đối với tạp chí Xứ Thanh:

Biên tập phải thực sự cầu thị, lắng nghe ý kiến góp ý của bạn đọc. Biên tập công tâm, ưu tiên sử dụng bài có chất lượng. Cương quyết không nể nang, cánh hẩu, sử dụng bài không hay, sai về kiến thức và nghệ thuật, biến tờ tạp chí thành lá cải, mất dần uy tín mà các thế hệ đã gây dựng.

Phải xây dựng được đội ngũ cộng tác viên thân thiện. Có khả năng viết bài, có tâm huyết với tạp chí để sử dụng trong những số cần và tạo ra diện mạo, uy tín của tạp chí.

Bằng mọi cách, cải thiện về chế độ nhuận bút, thấp và lạc hậu, không phù hợp mà các báo, tạp chí đã bỏ từ lâu, nhất là trong điều kiện giá cả như hiện nay. Nói là viết báo không ai nghĩ đến nhuận bút, chả khác chi phát động thi đua mà không có đánh giá và khen thưởng, không ai muốn thi đua, tạo ra sự nói xuông, làm sao tạp chí là diễn đàn nữa?

Một số ý kiến, góp phần vào nguyện vọng "nâng cao chất lượng tạp chí'' tỉnh nhà không bị tụt hậu, để hội nhập cùng các tỉnh bạn trong khu vực và cả nước.

                                                                                              Tháng 7-2011

                                                                                                     T.N.T

 

 

 TRẦN TIẾN, NGƯỜI SÁNG LẬP THỂ

 KÝ  TỰ THUẬT  TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM,

TỪ NĂM 1764


                                                                        TRẦN NHUẬN MINH

 

 

 

Trần Tiến người làng Điền Trì, nay là thôn Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông sinh giờ Dần ngày 18 tháng11 năm Kỷ Sửu (1709), tên chữ là Hậu Phủ, tên hiệu là Cát Xuyên, Khiêm Đường. Ông là con Tiến sỹ, Tham tụng Lễ bộ Thượng thư - Diệu Quận công Trần Cảnh, nhà nông học đầu tiên của Việt Nam, cháu nội Tiến sĩ, Bồi tụng, Hình bộ Thượng thư - Lễ bộ Tả thị lang, Phương Trì hầu Trần Thọ, nhà thơ và nhà ngoại giao thời Lê. Ông đỗ tiến sỹ năm Mậu Thìn (1748), làm quan Phó đô ngự sử, Công bộ Hữu thị lang, tước Sách Huân bá, là nhà sử học và nhà văn nổi tiếng thời Lê, tác giả các bộ sách: Đăng khoa lục sưu giảng (sử) Cát Xuyên thi tập (thơ) Cát Xuyên tiệp bút (ký) Niên phả lục (ký) Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (ký)...

Theo gia phả, tác phẩm Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, được Trần Tiến viết khoảng năm 1758 - 1760. Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) trong Quần thư khảo biện, viết: “về Mạc Đĩnh Chi đã có Cát Xuyên tiệp bút của Thượng thư họ Trần người Điền Trì, nay không nói thêm nữa” (dẫn theo GS Trần Văn Giáp). Sách Thần quái hiển linh lục, hiện còn lưu trong Thư viện Hán Nôm cũng ghi tương tự như vậy. Do đó có thể nói, tác phẩm này của Trần Tiến rất nổi tiếng và thông dụng đương thời. Nhiều chục năm nay, Cát Xuyên tiệp bút đã thất lạc, phần còn lại về Mạc Đĩnh Chi, in lẫn trong Tục Công dư tiệp kí, tác phẩm của Trần Trợ (Trần Quý Nha), là con của ông. PGS - TS Nguyễn Đăng Na, căn cứ vào những xác nhận trên, bóc tách ra thành một phần riêng, ghi rõ là của Trần Tiến, in ở phần Bổ di, cuối tác phẩm Tục Công dư tiệp ký (Nxb Văn học, 2008). Hơn nữa, văn phong của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với Tục Công dư tiệp ký cũng rất khác nhau. Nếu căn cứ vào tác phẩm này, rồi đối chiếu vớí tất cả những gì đã ghi về cuộc đời, giai thoại, câu đối, thơ phú... của Mạc Đĩnh Chi, trong các sách báo đã xuất bản, đều thấy trùng khớp với tác phẩm của Trần Tiến. Từ đó, có cơ sở để suy ra, hầu hết các nội dung về Mạc Đĩnh Chi có trong sách báo sau này, đều xuất phát từ một bản gốc là truyện ký của Trần Tiến ở thời Lê. Vậy mà các sách báo xuất bản lâu nay, không nêu xuất xứ để ghi nhận công lao ban đầu của Trần Tiến, là không công bằng. Nguyễn Đăng Na trong lời nói đầu khi dịch tác phẩm này, cũng khẳng định và “ghi nhận công lao này là của Trần Tiến”.

Niên phả lục (1764) là tập ký nổi bật trong các tác phẩm của Trần Tiến. PGS-TS Nguyễn Đăng Na đánh giá: đây là “bộ sách có giá trị lớn, nó đánh dấu một mốc quan trọng trên con đường phát triển văn xuôi tự sự Việt Nam, đặc biệt về thể ký...” Với thành tựu quan trọng đó, Trần Tiến đã “mở ra cho mình một lối viết riêng, không giống bất cứ một ai trước đó, đồng thời đặt nền móng cho những người đi sau noi theo, như Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ...” (Lời giới thiệu Niên phả lục, Nxb Văn học, 2003).

Niên phả lục gồm 2 tập ký riêng biệt. Tập đầu là Tiên tướng công niên phả lục, viết về cha mình, Tham tụng - Thượng thư Trần Cảnh. Tập sau là Trần Khiêm Đường niên phả lục, viết về bản thân mình, khi ông 55 tuổi, hoàn thành vào một ngày mùa đông, năm Long Tập, Giáp Thân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 25 (1764) tại lỵ sở xứ Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa) khi ông làm quan ở đó, với chức danh đầy đủ là Triều liệt đại phu, Tán trị thừa chánh sứ ty, Tham chính xứ Thanh Hoa, mà ông đã ghi ở Lời Tựa, đầu sách. Theo GS - TS Nguyễn Đăng Na, với Trần Khiêm Đường niên phả lục, Trần Tiến đã sáng tạo ra một thể loại mới trong văn xuôi Việt Nam là ký tự thuật, từ năm 1764. Nguyễn Đăng Na viết, với tác phẩm này, “lần đầu tiên trong văn xuôi tự sự Việt Nam có một tác phẩm ký tự thuật. Chỉ khi con người ý thức được về mình, ý thức về vai trò và vị trí của mình, thì loại hình tự thuật mới ra đời. ở thời trung đại, mấy ai dám làm như vậy”. Nguyễn Đăng Na nhận xét: “Khi thuật lại cuộc đời mình, tác giả luôn giữ thái độ trung thực, thật thà, kể cả khi nói về sự “quanh co” của mình”. ở đây, lần đầu tiên, cái Tôi “trở thành nhân vật trung tâm trong tác phẩm, để từ đó, mọi sự kiện được quan sát, đánh giá, miêu tả dưới điểm nhìn trực diện của anh ta. Điều này, tất cả các tác giả trước đây, chưa một ai làm được”.

Mở đầu tác phẩm tự thuật, Trần Tiến viết: “Tôi họ Trần, thuở bé tên là Tân, lớn lên tên là Kính, lại có tên là Tiến, tự là Khiêm Đường, con của Thừa tướng Trần công, do bà Quận phu nhân họ Nguyễn sinh ra. Nghiêm quân tôi từng nói rằng, ngài có số ẩn tướng, sẽ sinh quý tử, đến năm 26 tuổi thì sinh ra tôi. Thuở bé, tôi ngỗ ngược, khó dậy dỗ, người nhà đều lấy làm lo ngại...” Ông tự nhận xét: “Lại nữa, tôi bẩm tính ngu độn và không được mẫn tiệp, lại không biết nghề gì, tuy có nhã nhặn, thực thà, nhưng không tài hoa, ngoài ra chẳng có gì hơn người”.

Lời văn tự thuật chân tình, thành thật, ấm áp, mà rất già giặn, đầy sự tin cậy và chia sẻ, được viết xong từ năm 1764, mới thấy cái giá trị mở đầu vẻ vang của nó cho một thể loại văn học tự sự, do chính ông khai mở. Với lối viết điềm đạm, khiêm nhường, thân mật và thấm thía như thế, Trần Tiến thuật lại toàn bộ cuộc đời mình, từ khi sinh ra, lớn lên, rồi đi học ở An Quảng (nay là Quảng Ninh). Năm Tân Sửu (1721), “thân phụ đến nhậm chức Đốc đồng xứ An Quảng. Tôi đi theo để học”. Năm Nhâm Dần (1722) “tôi theo thân phụ, học tập tại xứ An Quảng, và làm thơ phú rất có khả quan, có câu luận như sau:

Cổ giả Quản Y phi dị ngộ

Dụng chi công hóa khởi nan thành

(Người xưa như Quản Trọng, Y Doãn không dễ gặp

Dùng họ, công hóa há khó thành)

Và một số câu đối nữa. Thân phụ hết sức khen ngợi”.

 

Như vậy, Trần Tiến viết bài thơ đầu tiên ở Quảng Ninh ngày nay, khi ông mới 13 tuổi. Trong tác phẩm, ông thuật lại nhiều việc diễn ra, từ kinh đô đến các xứ Hải Dương, An Quảng, Sơn Tây, Sơn Nam, Thanh Hoa, Kinh Bắc..., chủ yếu xoay quanh hai việc lớn, một là nông dân khởi nghĩa mà ông chứng kiến, hai là học hành thi cử mà ông trực tiếp tham gia, khi là thí sinh, khi là quan giám khảo, với rất nhiều chi tiết sinh động. Ông thuật lại năm đi thi đầu tiên (1726):

“Năm 18 tuổi, khoa Hương thí năm Bính Ngọ, phụ thân muốn tôi đi thi. Tôi cho rằng, lực học của mình chưa tới độ, nên không đi thi. Tiên quân tôi cũng không cưỡng.

Năm 19 tuổi, tôi mới vào trường Giám tập văn bài. Bấy giờ văn học đang thịnh hành, sỹ tử tới học đông như mây tụ, người trúng bảng tới gần 300, tôi trúng thứ 15. Khi đến lĩnh quyển, quan Tri giám người Thiên Kiệm, Thanh Liêm là Thượng thư họ Trương, lấy quyển của tôi xem, khen “được” đến hai ba lần và nói rằng: “Ta đỗ đại khoa năm 21 tuổi mà văn chương chưa được như thế này. Cố lên! Cố lên!”.

Và đây là sự việc diễn ra sau cuộc thi cuối cùng (thi Tiến sỹ năm 1748):

“Xem xướng danh xong, tôi ra về, giữa đường gặp con trai quan Thượng thư người Hoạch Trạch là Nhữ công, dừng lại nói chuyện. Bấy giờ, ông ta không được thủ khoa, hơi phật ý. Tôi an ủi. Ông bỗng nhiên nói: “Khoa này trúng đại danh chỉ có huynh và tôi. Người khác tuy đỗ đứng trên, nhưng không đáng ngại”. Lúc đó, tôi cũng hơi biết, tự nghĩ rằng, tuy ông nói vậy, nhưng thực ra là tự nói về bản thân, bèn đưa đẩy: “Huynh là bậc kỳ tài trong thiên hạ, chứ không phải của riêng xứ ta. Còn như danh sỹ trường ta, cũng rất nhiều người như đệ đây, sao so được với huynh”. Ông nói: “Không đúng! Tôi không phải là kẻ nịnh đời, nhưng đã từng bàn luận với các quan huyện, phủ, xin kể qua các danh sỹ đỗ cao các huyện, quyển trúng chỉ có một hai câu hay. Nhưng xem bài của huynh, không phải loại bình thường. Đại thành khoa này là huynh và đệ, không khác được”.

Về nguyên nhân thi trượt các khoa trước, tác giả cũng thành thật nhận ra:

“Bấy giờ, tôi có một người bạn ở Nhuế Đông, thường xuyên đi lại, nói rằng: “Học vấn của huynh toàn những thứ đâu đâu, thực không thể có kết quả. Cần phải theo thời thế mới được”. Nhờ đó, tôi bỗng nhiên tỉnh ngộ, bèn khổ luyện văn bài, trước tác toàn thứ văn khoa cử, rất biết cần phải chuẩn bị như thế nào cho cuộc ứng thí... (Nguyễn Đăng Na dịch).

Theo Nguyễn Đăng Na, áy tự thuật của Trần Tiến, được ông “viết rất hay. ý tứ thì sâu kín nhưng rõ ràng, mạch lạc. Nội dung tác phẩm lại phong phú và hấp dẫn. Đúng như người đời thường nói, văn của đại gia, ý tại ngôn ngoại”...

Ông mất giờ Mão ngày 7-5 năm Canh Dần (1770) tại nơi làm việc, các quan đưa về mai táng tại quê nhà, được vua Lê Hiển tông ban tên thụy là Trung Cẩn, sau truy thăng Lễ bộ Thượng thư.

                                                                                         T.N.M

 

 

 

 

 

 

 

   

 


                                                                             

 

 

     

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=339826

VĂN HÓA
vannghexuthanh | 28 Nov, 2011, 17:52 | XỨ THANH THÁNG 9/2011 | (3 Reads)

                        XỬ LÝ TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG

                  TRONG NHÀ TRƯỜNG THANH HÓA

 

                                                                              HOÀNG KHÔI

 

Theo thuật ngữ ngôn ngữ học, tiếng địa phương hay phương ngữ là những biến thể và dạng tồn tại ngôn ngữ toàn dân làm nên những đặc điểm riêng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và được sử dụng trong một môi trường địa lý hẹp.

Nói một cách đơn giản, khái niệm tiếng địa phương bao gồm chủ yếu âm sắc (giọng) và từ địa phương. Lâu nay, chúng ta có chỗ chưa phân biệt thật rõ, chẳng hạn cô phát thanh viên Hoài Anh trên VTV1 nói giọng Sài Gòn chứ không nói tiếng địa phương. Cô ấy không nói theo giọng Bắc, giọng Hà Nội chứ cô ấy không nói sai. Người Nghệ Tĩnh nói dấu ngã thành dấu nặng, người Thanh Hóa nói lẫn lộn dấu hỏi, dẫu ngã là nói theo giọng địa phương và nói sai chuẩn.

Như vậy, hiện nay có xu thế là ở một số địa phương người ta nói giọng địa phương, một số khác vừa nói giọng địa phương vừa nói sai chuẩn, một số vừa nói giọng địa phương vừa dùng một số từ ngữ riêng của địa phương ấy và đều được xem là nói tiếng địa phương.

Cách chúng ta có đến 1300 năm, một nhà thơ Trung Quốc đời Đường từng viết “Hương âm vô cải” (trong câu thơ “Hương âm vô cải mấn mao tồi”, dịch là “Giọng quê vẫn thế tóc đà khác bao”) và gần đây một nhà thơ Việt có câu “Giọng Huế yêu thương ngọt lịm đường” cả hai vị đều không dùng chữ “tiếng” mà dùng chữ “giọng”. “Giọng” là có âm sắc, còn “tiếng” là gắn với âm. Âm sắc của từng vùng là không thay đổi. Cho nên người Thanh Hóa nói giọng Thanh Hóa, người Nghệ An nói giọng Nghệ An, người Huế nói giọng Huế... là chuyện rất thường. Và như vậy để dễ bàn bạc, rất cần thiết phải thống nhất khái niệm tiếng địa phương. Theo chúng tôi, tiếng địa phương là chất giọng địa phương cộng từ địa phương cộng phương ngôn.

Chúng ta đều biết, hiện nay không có một chương trình nào của nhà nước quy định dạy và sử dụng tiếng địa phương trong nhà trường, hoặc quy định sử dụng tiếng địa phương trong giao tiếp. Những chương trình tiếng Thái, tiếng Khơme... không phải tiếng địa phương mà là tiếng dân tộc. Bởi vậy, đương nhiên không cần bàn về việc sử dụng tiếng địa phương trong nhà trường như thế nào.

Gần đây trên tạp chí Văn hóa Nghệ An có cuộc bàn luận phát thanh viên đài phát thanh và truyền hình Nghệ An nói tiếng Nghệ hay tiếng phổ thông, có nhiều điểm chưa thống nhất là vì các bài viết đều không tập trung phân biệt rõ giọng và tiếng. Tất cả người Việt đều nói tiếng Việt, nhưng người Việt xứ Huế lại nói tiếng Việt giọng Huế. Tương tự, người Việt xứ Nghệ nói tiếng Việt giọng Nghệ, người Việt xứ Thanh nói tiếng việt giọng Thanh. Sự lẫn lộn khái niệm giữa giọng và tiếng khiến cho thành ngữ cũng sai khi ta nói: chửi cha không bằng pha tiếng. Phải nói là pha giọng mới đúng. Thực tế cho thấy, những ai bắt chước hay pha trộn giọng một cách cố ý đều khiến cho người tiếp nhận khó có sự thoải mái. Không nói ra nhưng người tiếp nhận dễ nghĩ hoặc đó là kẻ học đòi, vong bản hoặc kẻ muốn diễu cợt, trừ người nói đó là người nước ngoài. Bởi vậy, nếu phát thanh viên người Nghệ bắt chước giọng Bắc thì dễ gây phản cảm không chỉ với người Nghệ, mà còn cả với những người không phải xứ Nghệ.

ở Thanh Hóa, người xứ Thanh, một bộ phận khá đông nói giọng Thanh Hóa. Cái giọng này tạo ra sắc thái Thanh Hóa. Đó là một nét độc đáo của ngôn ngữ.

Tuy nhiên cũng từ cái giọng Thanh Hóa đó mà có hiện tượng:

Về thanh điệu có sự lẫn lộn dấu hỏi, dấu ngã. Ví dụ:

- Sửa xe đạp thành Sữa xe đạp

- Sữa chua thành Sửa chua

Về tiếng và từ có những biến âm, không được sửa chữa lâu ngày thành thói quen. Chẳng hạn với phụ âm

- Gạo - cấu; dao - đao

- Gọt - khọt; da - đa

- Già - tra; nhặt - lặt

- Giun - trun; nhặng - lằng...

Với nguyên âm

- Quả chuối - quả chúi

- Con chó - cuôn chúo

- Chị - chậy

Có những từ có thể, có thể là từ không mang tính toàn dân tham gia vào lớp từ vựng dân tộc được bảo lưu như mô, tê, răng, rứa - chỉ địa điểm cách thức, tau (tao), mi (mày), choa (chúng tôi) - từ xưng gọi; ối, mê (nhiều), cả thảy (tất cả) - từ chỉ số lượng; cố (cụ), cậu (bác) - anh mẹ, o (bác) - chị bố, dượng (chú) - chồng em mẹ - từ chỉ quan hệ thân thuộc...

Về ngữ pháp không khác biệt với tiếng phổ thông, có chăng có trường hợp mai sớm, mai chiều thay cho sớm mai, chiều mai. Xin đưa ra một số câu cụ thể:

Đây là đối thoại của hai người dân xã Yên Lạc, Yên Định năm 1969

- ớ Khiếu (Khéo - tên người)! Thày (thầy) mi đi mô dầu (rồi)?

- Thày (thầy) bây tâu (bây tôi, chúng tôi) đi hậu đậu dầu (đi hội - họp đội rồi)

Đây là lời của một cán bộ lãnh đạo tỉnh dặn học sinh trường chuyên Lam Sơn năm 2004:

- Các cháu là nhửng (những) học sinh giuổi (giỏi) nên tĩnh (tỉnh) đã cữ (cử) các thầy cô giáo giuỗi (giỏi - dấu ngã) về dạy các cháu.

Đây là lời người Thanh Hóa tự lỡm mình.

- Cho tâu (tôi) đi vâu (vôi) tâu (tôi) bâu (bôi) cái đầu gấu (gối)

Còn đây là một đoạn thơ của thi sỹ Hồng Nguyên:

Tôi nhớ:

Giường kê cánh cửa

Bếp lửa khoai vùi

Đồng chí nứ vui vui

Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ

Đồng chí mô nhớ nữa

Kể chuyện Bình Trị Thiên

Cho bầy tôi nghe ví

...

Chúng tôi đi nhớ nhứt câu ni

Dân chúng cầm tay lắc lắc

Độc lập nhớ rẽ viền chơi với chắc

Từ những trình bày trên chúng ta có thể rút ra cách xử lý tiếng địa phương trong nhà trường.

- Rõ ràng những tiếng, những từ toàn dân được người địa phương biến âm và dùng lâu thành thói quen, là hiện tượng không chuẩn nên phải sửa chữa. Người dân nói chưa chuẩn, lãnh đạo cũng nói chưa chuẩn. Trong nhà trường đôi khi các thầy cô giáo cũng gặp sai sót này nên phải tự ý thức để nói đúng hơn và sửa chữa cho học sinh trong giao tiếp và học tập.

- Đối với những tiếng, những từ của riêng địa phương, tức là những từ không mang tính toàn dân cần giảm bớt tiến tới không sử dụng vì nó khó cho đối tượng tiếp nhận và làm giảm yếu tố hòa nhập.

- Tiếng địa phương không phải là một hình thái kém cỏi hay hư hỏng của ngôn ngữ. Nó là công cụ giao tiếp của tập thể người tham gia vào đời sống xã hội, văn hóa địa phương, được người địa phương quen dùng. Tiếng địa phương vẫn có khả năng hòa nhập vào ngôn ngữ văn hóa dân tộc bằng cách tham gia vào các tác phẩm văn chương. Bài thơ của Hồng Nguyên đã xử lý thật tài tình những từ địa phương và tạo ra được một giá trị đầy tính thẩm mỹ. Bởi giả sử tác giả thay “đồng chí nứ” thành “đồng chí ấy”; “đồng chí mô” thành “đồng chí nào”, “bầy tui nghe ví” thành “chúng tôi nghe với” hoặc “nhớ nhứt câu ni” thành “nhớ nhất câu này”, rồi “rẽ viền chơi với chắc” thành “rẽ về chơi với nhau”... thì mất hết cái mộc mạc, chân chất, cái sắc thái quê mùa, cái không khí dân dã rất Thanh Hóa trong âm, trong nhịp của bài thơ. Nói cách khác là mất đi cái hồn, cái cốt, cái giá trị thẩm mỹ của bài thơ.

Về điều này thì nhà trường và các thầy cô giáo nhất là thầy cô giáo dạy văn cần chú ý để hướng dẫn cho các đối tượng tiếp nhận và khai thác. Nhớ rằng, tiếp nhận và khai thác các giá trị thẩm mỹ chứ không tiếp nhận và khai thác cái sai theo thói quen hồn nhiên đã thành tập quán. Hãy học tập cách dùng ngôn ngữ của các nhà văn nhà thơ.

                                                                        Tháng 10 năm 2010

 

                                                                                       H.K

 

 

                TÊN LÀNG XƯA Ở HOẰNG HÓA

                                                  THS. TRẦN ĐỨC TUẤN

 

Trong đời sống xã hội Việt Nam cổ truyền, làng xã là một khái niệm hết sức quen thuộc, gắn bó chặt chẽ với cư dân văn hóa lúa nước. Làng là môi trường bao quát gần như toàn bộ những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc, là đơn vị cơ bản hình thành nguồn gốc quốc gia; nơi các thành tố, các giá trị văn hóa cổ truyền được sinh thành và lưu giữ từ thế hệ này đến thế hệ khác. Làng có vai trò gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, đồng thời giữ vị trí quyết định trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc: “còn làng thì còn nước”; Nước chính là làng nâng cao và làng là nước thu hẹp. Không phải ngẫu nhiên mà dân gian có câu nói “Hương thôn tiểu triều đình” (mỗi làng xã như một triều đình nhỏ). Trong phạm vi bài viết này chúng tôi muốn tìm hiểu cách đặt tên các làng xã xưa ở huyện Hoằng Hóa (tỉnh Thanh Hóa), từ đó cung cấp thêm một cái nhìn về bộ mặt của làng Việt truyền thống ở Hoằng Hóa cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Theo tác phẩm “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX”, huyện Hoằng Hóa có 7 tổng, 161 xã, thôn, trang, sở. Hiện tại toàn huyện có 204 làng trong đó có nhiều làng có lịch sử lâu đời như các làng Bột Thượng, Bột Thái (Hoằng Lộc), Vĩnh Trị (Hoằng Quang), Quỳ Chử (Hoằng Quỳ), Phú Khê (Hoằng Phú)...

ở Hoằng Hóa đa phần các làng đều có hai tên gọi, tên Hán (tên chính thức) và tên Nôm (tên dân gian); Tên gọi dân gian thường ra đời trước, tên chính thức thường ra đời sau. Cách gọi tên làng cũng rất đa dạng, những làng ban đầu sống bằng nghề khai khẩn làm ruộng, thì được gọi là “trang” như: Triều Hải trang (làng Hội Triều xã Hoằng Phong); Mỹ Nhậm trang (làng Thanh Nga xã Hoằng Trinh); Nặc Tài trang (làng Đạt Tài xã Hoằng Đạt)...

Những làng ban đầu gọi là “phường” đều ít nhiều đều có liên quan đến nghề đánh cá: Văn Bối phường (làng Thọ Văn, Hoằng Phúc); Tổ Cá phường: (làng Quỳ Chử, Hoằng Quỳ); Vạn Hà phường (làng Trinh Hà, Hoằng Trung)...

Một số làng lại được gọi là “điếm” như: Đông khu điếm (làng Đông Thôn, Hoằng Xuyên); Đoài khu điếm (làng Đoài Thôn, Hoằng Khê); Trà khu điếm (làng Trà La, Trà Mỹ, Hoằng Khánh)...

Làng xưa còn được gọi là Kẻ, ở Hoằng Hóa, trước đây cách gọi này rất phổ biến với 35 địa danh mang tên “kẻ”: Kẻ Sài (Đông Thôn, Đoài Thôn), Kẻ Thẩy (Bái Xuyên), Kẻ Mau (Phú Mao và Cát Mao), Kẻ Tào (Tào Xuyên), Kẻ Đầng (Phú Khê), Kẻ Già (Nghĩa Trang), Kẻ Đẽn (Trinh Nga), Kẻ Nhợm (Thanh Nga), Kẻ Mi (Mi Du), Kẻ Bưng (Xuân Sơn), Kẻ Lũ (Cẩm Lũ), Kẻ Cổ (Cố Bản), Kẻ Rào (Lương Quán), Kẻ Giàng (Trinh Sơn), Kẻ Vụt, Kẻ Quăng (Hoằng Lộc), Kẻ Đằng (Đằng Xá, Đằng Trung, Đằng Cao), Kẻ Vàng (Nhuệ Hoàng nay là Đại Điền), Kẻ Cuội (Nhân Vực), Kẻ Bái (Đức Giáo), Kẻ Chòm (Cát Trung), Kẻ Thử (Nội Tý), Kẻ Hành (Đoan Vĩ, Thái Hòa), Kẻ Hón (Trung Hán), Kẻ Trể (Đạt Tài), Kẻ Mỹ (Mỹ Đà), Kẻ Lam (Lam Hà), Kẻ Trọng (Hoằng Quỳ), Kẻ Tổ, Kẻ Trủ, Kẻ Chớp, Kẻ Me, Kẻ Cẩm, Kẻ Đại, Kẻ Triêng... “Kẻ” ngoài nghĩa chỉ một làng cụ thể còn được dùng để chỉ một vùng dân cư có chung một tập quán, một lề thói sinh hoạt, một nghề lao động sản xuất sinh sống.

Ví dụ:

- Mía kẻ Trủ, củ bến Giang

- Đồn rằng kẻ Trọng lắm cau

kẻ Cát lắm mía, kẻ Mau lắm tiền

- Muốn ăn tôm nhão lấy chồng kẻ Đại

Chớ có dại lấy chồng Đông Khê

Tên gọi của “kẻ” đa số là từ Việt cổ, việc Hán hóa các tên “kẻ” này xảy ra mãi về sau này theo 4 trường hợp sau:

Trường hợp 1: Theo tên Việt cổ mà phiên thành tên chữ Hán gần âm (có thêm yếu tố thứ hai): Kẻ Cổ - Cố Bản (Hoằng Sơn); Kẻ Hón - Trung Hán (Hoằng Hải)...

Trường hợp 2: Theo tên Việt cổ mà phiên thành tên chữ Hán cùng nghĩa (có thêm yếu thứ hai): Kẻ Thử - Nội Tý (Hoằng Minh); Kẻ Vàng - Nhuệ Hoàng (Hoằng Khánh)...

Trường hợp 3: Đổi hẳn tên khác: Kẻ Nhợm - Thanh Nga (Hoằng Trinh); Kẻ Cuội - Nhân Vực (Hoằng Hợp); Kẻ Bái - Đức Giáo (Hoằng Hợp)...

Trường hợp 4: Giữ nguyên tên và thêm một yếu tố Hán vào tên gọi: Kẻ Mi - Mi Du (Hoằng Kim); Kẻ Lủ - Cẩm Lủ (Hoằng Sơn); Kẻ Lam - Lam Hà (Hoằng Đại)...

ở Hoằng Hóa, các làng được đặt tên chủ yếu theo những kiểu sau:

Tên làng từ tên Nôm mà ra tên Hán: làng Khe (làng Khê Lan, Hoằng Yến), làng Sen - (làng Thụy Liên, Hoằng Phong);

Tên làng do đặc điểm địa lý mà đặt: làng Đông Thôn (Hoằng Đông), làng Đoài Thôn (Hoằng Khê)...

Tên làng lấy từ tên đình, chùa, quán, chợ nổi tiếng mà đặt: làng Chùa Gia (Hoằng Phượng), làng Chợ Huyện (Hoằng Anh); làng Nghè (Hoằng Thắng)...

Tên làng lấy từ những sự kiện lịch sử mà đặt: làng Vĩnh Trị (Hoằng Quang), làng Ông Hòa (Hoằng Thành), làng Bà Nga (Hoằng Trinh)...

Tên làng do ước muốn tốt đẹp của cả làng mà đặt: làng Khang Ninh (Hoằng Đức), làng An Lạc (Hoằng Hải)...

Tên làng lấy từ tên núi sông cây cỏ, hiện tượng tự nhiên mà đặt: làng Cồn Đình (Hoằng Trường), làng Lộc Bồi (Hoằng Hợp), làng Bãi (Hoằng Lý)...

Tên làng lấy từ tên đặc sản của làng mà đặt: làng Dừa (Hoằng Đạo), làng Bưởi (Hoằng Đức)...

Tên làng lấy từ tên nghề nghiệp đặc biệt của làng mà đặt: Làng Cửi (Hoằng Trinh), làng Mã (Hoằng Lương), làng Đò (Hoằng Ngọc)...

Trong diễn trình lịch sử của mình, nhiều làng đã được sửa hoặc đặt lại tên mới. Việc đổi tên làng chủ yếu là do nguyên nhân kiêng húy hoặc tâm lý muốn có một tên gọi theo đúng mong ước nguyện vọng của người dân. Kiêng húy là phải tránh tên trùng tên vua chúa đương thời. Chính vì phải tránh tên mẹ vua Thiệu Trị là Nguyễn Thị Hoa mà ở Hoằng Hóa các làng Lam Hoa (Hoằng Đại) phải đổi thành Lam Cầu, Hoa Bút (Hoằng Đức) phải đổi thành Phúc Thọ, Hoa Phong (Hoằng Trường) phải đổi thành Văn Phong. Làng Đường An (Hoằng Thịnh) vì kỵ húy Đồng Khánh (tên Ưng Đường) nên phải đổi thành Bình An, thường gọi là Bình Yên.

Bên cạnh đó, nguyên nhân tâm lý, muốn có một tên làng thật hay, thật đẹp cũng là lý do khiến nhiều làng xưa thay đổi tên gọi của mình. Vì lý do này mà ở thời nhà Nguyễn, sở Lỗ Đô đã được đổi thành sở Nghĩa Hương, làng Bản Triều đổi thành làng Bản Định, làng Bãi Lăng thành làng Bang Bản, làng Nỗ thành làng Dương Thanh, làng Núi thành làng Nghĩa Sơn, làng Dừa đổi là làng Dư Khánh, làng Sang đổi thành làng Cự Lộc, làng Quán Dầm đổi thành làng Lương Quán, xã Bột Trung đổi thành xã An Trung, xã Bột Thượng đổi thành xã Hoằng Đạo...

Hoằng Hóa còn có nhiều làng được đặt tên dựa vào những câu chuyện sự tích, truyền thuyết dân gian. Thông thường dựa vào những câu chuyện đặt tên cho các địa danh, người ta nhằm gửi gắm một ý nghĩa sâu xa hay để kỷ niệm một thành quả lao động, để tỏ lòng biết ơn và sùng mộ một người hay một chiến công, hoặc để lưu giữ một sự kiện lịch sử, một hiện tượng xã hội... Có lẽ sự tích đầu tiên về tên làng ở Hoằng Hóa là truyền thuyết thời Hùng Vương có một chàng trai tài giỏi ngồi trên lưng lạc đà đi chu du khắp nơi trên đất Giao Chỉ. Khi qua đất ái Châu (Thanh Hóa bây giờ) thấy vùng lưu vực sông Mã đất đai phì nhiêu, rộng rãi, cỏ cây tươi tốt. Chàng trai biết là nơi đất lành, bèn dừng chân cắm đất, chiêu mộ nhân dân lập làng, dựng trại làm ăn. Để ghi nhớ công ơn của người và vật đã có công tạo dựng nên quê hương buổi ban đầu, dân các làng đã chọn chữ “Đà” làm tên thôn xóm mới của mình. Vì thế mà ở Hoằng Hóa có các địa danh như Cự Đà (Hoằng Minh), Bột Đà (Hoằng Lộc), Mỹ Đà (Hoằng Minh). Tên làng Quỳ Chử (xã Hoằng Quỳ) lại gắn liền với sự tích bà lão bên bờ sông Dọc cứu Lê Lợi lúc bị giặc Minh truy đuổi rồi nấu cơm với canh rau quỳ (rau rền) cho ông ăn. Khi đánh tan giặc, Lê Lợi làm vua bèn đổi tên Kẻ Tổ quê bà lão thành làng Quỳ Chử (bến rau quỳ) để ghi nhớ dân làng đã cứu ông lúc hoạn nạn.

Có thể nói, tên làng xưa ở Hoằng Hóa rất đa dạng và được đặt bởi nhiều lý do, căn cứ khác nhau. Đó có thể là điều kiện tự nhiên như địa lý, thủy văn, cảnh quan, môi trường sinh thái; cũng có thể là các điều kiện xã hội như nghề nghiệp, nếp sống, tôn giáo, tập quán, tục lệ, kỵ húy hay các truyền thuyết, giai thoại... Do vậy mỗi tên làng là sự thể hiện một bộ mặt, cuộc sống, tâm lý và những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp riêng. Đó cũng chính là một hiện tượng văn hóa độc đáo của Hoằng Hóa, là cội nguồn để mỗi người Hoằng Hóa hôm nay dù ở đâu, mỗi khi nhắc đến tên gọi làng mình cũng luôn đau đáu hướng về, canh cánh trong lòng nỗi nhớ quê hương...

                                                                                   T.Đ.T

 

Tài liệu tham khảo

1. Ninh Viết Giao (chủ biên), (2000), Địa chí Văn hóa Hoằng Hóa, Nxb KHXH, H.

2. Hoàng Anh Nhân - Lê Huy Trâm (1993), Khảo sát văn hóa làng xứ Thanh, Nxb KHXH, H.

3. Hoàng Minh Tường (2007), Văn hóa dân gian Thanh Hóa, bước đầu tìm hiểu, Nxb VHDT, H.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=339825

GIẢI THƯỞNG
vannghexuthanh | 28 Nov, 2011, 17:47 | XỨ THANH THÁNG 9/2011 | (4 Reads)

       GIẢI THƯỞNG CUỘC THI ẢNH NGHỆ THUẬT

 

               “Nét Đẹp Xứ Thanh 2011” Do Hội VHNT Thanh hóa  

 

                      và sở VH-TT và Du lịch Thanh Hóa tổ chức

 

  Giải Nhất: (1 giải)

 1- Rạng rỡ của Trương Bá Vinh (Thanh Hóa)

Giải Nhì: (2 giải)

 1- Thành Nhà Hồ của Trọng Thắng (Thanh Hóa)

2- Mùa cá của Vương Yến Vy (Thanh Hóa)

Giải Ba: (3 giải)

 

  1. Hội bản của Lê Công Bình (Thanh Hóa)

2. Ngôn ngữ của Trần Đàm (Thanh Hóa)

3. Mùa vàng của Lê Đức (Thanh Hóa)

Giải khuyến khích: (6 giải)

 

  1- Công trình thủy điện của Văn Cốc (Thanh Hóa)

2- Trên đèo Ba Dội của Nguyễn Văn Chí (Thanh Hóa)

3- Tuổi hồng của Lê Dậu (Thanh Hóa)

4- Biển sớm của Nguyễn Văn Dũng (Thừa Thiên-Huế)

5- Làng mới ở Mường Lát của Trọng Đạt (Thanh Hóa)

 

 6- Về xuôi của Vũ Lâm Thảo (Thanh Hóa)

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=339824

TIN VĂN NGHỆ
vannghexuthanh | 28 Nov, 2011, 17:42 | XỨ THANH THÁNG 9/2011 | (7 Reads)

              HOẠT ĐỘNG VĂN NGHỆ CHÀO MỪNG QUỐC KHÁNH 2-9   

 

 

 

 

 

*Sáng ngày 12-8-2011, tại thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình, Hội Mỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội VHNT - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Bình, khai mạc triển lãm Mỹ thuật khu vực IV (Bắc miền Trung) lần thứ XVI.

Triển lãm trưng bầy 173 tác phẩm hội họa, đồ họa, điêu khắc và mỹ thuật ứng dụng của 153 tác giả là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và hội viên hội văn nghệ địa phương. Hội Mỹ thuật Việt Nam đã trao 1 giải A, 1 giải B, 1 giải C và 4 tặng thưởng. Tỉnh Thanh Hóa có 21 tác phẩm của 20 tác giả được trưng bầy. Tác phẩm “Khúc song tấu của biển” (sắt hàn) của nhà điêu khắc Vũ Tuyết Chinh được nhận giải tặng thưởng và tác phẩm “Bầu trời xanh” (sơn dầu) của Nguyễn Hoàng Linh được giới thiệu dự giải thưởng ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2011.

* Sáng 27 tháng 8 năm 2011, tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị, Hội NSNA Việt Nam; Hội VHNT; Sở VH - TT - DL tỉnh Quảng Trị phối hợp tổ chức Triển lãm ảnh Nghệ thuật khu vực Bắc miền Trung lần thứ 18 năm 2011 với chủ đề “Mảnh đất - Con người Bắc miền Trung hôm nay”. Triển lãm trưng bày 143 tác phẩm của 72 tác giả thuộc các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Đây là những tác phẩm mới sáng tác trong dải đất miền Trung từ năm 2010 đến năm 2011.

Liên hoan lần này, tỉnh Thanh Hóa gửi 224 ảnh của 36 tác giả, được chọn treo 26 ảnh; được Ban tổ chức trao 5 giải (trong tổng 11 giải) gồm: 1 huy chương bạc, 1 huy chương đồng và 3 giải khuyến khích, cùng giải đồng đội.

*Tối 30-8-2011, tại Trung tâm Triển lãm và xúc tiến Du lịch, Hội VHNT và Sở VH-TT-Du lịch Thanh Hóa khai mạc triển lãm ảnh "Nét đẹp xứ Thanh 2011"; đến dự khai mạc có đồng chí Đỗ Trọng Hưng, ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, đại diện một số ban, ngành cấp tỉnh và thành phố Thanh Hóa, cùng đông đảo anh chị em văn nghệ sỹ, các nghệ sỹ nhiếp ảnh và công chúng yêu ảnh nghệ thuật.

Triển lãm là kết quả của cuộc thi ảnh "Nét đẹp xứ Thanh 2011" do Hội VHNT và Sở VH-TT- Du lịch Thanh Hóa tổ chức từ tháng 4 đến tháng 7-2011; cuộc thi đã nhận được 677 tác phẩm của 70 tác giả trong và ngoài tỉnh tham dự. Ban Tổ chức đã chọn 102 tác phẩm để triển lãm và chọn 12 tác phẩm xuất sắc để trao giải, gồm 1 giải nhất, 2 giải nhì, 3 giải ba và 6 giải khuyến khích; Giải nhất thuộc về tác giả Trương Bá Vinh (Thọ Xuân) với tác phẩm "Rạng rỡ".

* Kỷ niệm ngày âm nhạc Việt Nam 3-9, tối 1-9-2011, tại Trường đại học Văn hóa-Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, Hội VHNT và Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam tại Thanh Hóa đã tổ chức tọa đàm và chương trình ca nhạc với chủ đề "Hướng về miền Thanh"; tới dự có: đại diện Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Thường trực Hội VHNT, lãnh đạo Trường đại học VH-TT-DL Thanh Hóa và đông đảo các nhạc sỹ thuộc Chi hội nhạc sỹ Việt Nam tại Thanh Hóa, Ban âm nhạc Hội VHNT và bạn bè yêu âm nhạc xứ Thanh. Tại buổi tọa đàm, đại diện lãnh đạo Chi hội nhạc sỹ Việt Nam và Ban âm nhạc đã ôn lại chặng đường phát triển của nền âm nhạc Việt Nam, đặc biệt là sự phát triển rực rỡ của âm nhạc cách mạng 66 năm qua. Cùng với tọa đàm, chương trình âm nhạc "Hướng về miền Thanh" đã giới thiệu nhiều ca khúc của các tác giả Thanh Hóa công bố trong thời gian qua, trong đó có nhiều tác phẩm đã giành được sự mến mộ của công chúng yêu âm nhạc.

                                                 (Tin của Thanh Sơn, Trần Liên Chương và P.V)

 

 

 

 

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=339823

TRUYỆN NGẮN
vannghexuthanh | 13 Oct, 2011, 18:08 | XỨ THANH THÁNG 8/2011 | (10 Reads)

ĐÀO HỮU PHƯƠNG

 

Thanh minh

 

Truyện ngắn

 

    Sau tết, lão Mùi được ủy ban xã chính thức cho ký hợp đồng làm bảo vệ nghĩa trang. Tháng lương đầu tiên cùng với số tiền còn lại trong cuốn sổ tiết kiệm của lão Thuật, lão mua gạch hoa thuê thợ ốp lại ngôi mộ cho người quá cố. Mộ lão Thuật trở thành ngôi mộ đầu tiên ở nghĩa địa này được an táng vĩnh viễn một lần. Việc lão Mùi quen biết và được lão Thuật giới thiệu với ủy ban để làm người thay mình trông coi cái nghĩa địa xã này cũng là một sự tình cờ. Dạo ấy sau khi đám ruộng cấy hai vụ cạnh quốc lộ mười lăm bị thu hồi để cấp cho một tay lạ hoắc từ thành phố lên mở xí nghiệp chế biến lâm sản lão và một số nông dân lâm vào cảnh không còn ruộng để làm. Nhận xong mấy triệu bạc tiền đền bù người còn sức khỏe thì theo cánh thợ xây đi phụ nề, người xuống thành phố kiếm việc làm thuê, riêng lão lại nảy ý định lên khai phá đám đất đồi cạnh nghĩa địa để trồng sắn. Dù biết đám đất đồi này đã được xã quy hoạch để mở rộng nghĩa địa nhưng thấy nó còn bỏ hoang nên lão vẫn cứ liều phát dọn để hạ màu. Được vụ nào hay vụ ấy còn hơn là ngồi không. Cái nghĩa địa này là nơi chôn cất người quá cố cho cả mấy làng trong xã nên diện tích khá rộng. Nó cũng là nghĩa địa duy nhất trong vùng quản trang làm nhà ngay lối vào để ở, việc trông coi được thường xuyên hai tư trên hai tư nên không có chuyện trâu bò vào phá phách, dẫm đạp lên mồ mả như các nơi khác. Lão Thuật vốn là hậu duệ của một dòng họ chuyên nghề chèo đò ngang. Dòng họ này mỗi đời chỉ sinh được một con trai. Đến lão là đời thứ tư. Lão được thừa hưởng cái gia tài là một con đò cũ nát và hai gian nhà thấp lè tè dựng dưới gốc si già bên bờ sông ngay bến đò mấy đời cha ông lão đã làm nghề để sống. Bến đò này nổi tiếng đẹp nếu không nói là thơ mộng nên đã có không ít người làm thơ ca ngợi. ấy là nói ngày xưa, chứ thời của lão thì bao vẻ đẹp người ta tả trong thơ đã không còn nữa. Mùa mưa dòng nước hung dữ, chảy cuồn cuộn, mùa khô thì đáy sông trơ ra, ngổn ngang toàn đá. Lũ về, không ai liều mạng dám lên con đò rách nát của lão để qua sông. Mùa khô thì đến con nít cũng có thể lội qua một cách dễ dàng nên không ai cần đến con đò của lão nữa. Ngày Nhà nước bắc cây cầu vĩnh cửu qua sông con đò rách của lão được kéo lên bờ để tháo dần ra làm củi. Lão còn chưa biết phải làm gì để có cái sống qua ngày thì vào dịp ấy xã đang cần một người làm bảo vệ nghĩa trang. Lão lên ủy ban xin được nhận công việc ấy và theo nguyện vọng của lão nhà chức trách đã dùng số tiền trên cấp hỗ trợ cộng với tiền trích từ ngân sách địa phương xây cho lão hai gian nhà ngay cạnh lối vào nghĩa trang để lão ở cho tiện việc trông coi.

Hôm ấy lão Mùi vừa phát được mấy mét vuông thì lão Thuật từ trong nhà vác con dao quắm lừ đừ đi lên. Lão Mùi vờ như không biết, cứ hì hục vừa phát vừa nghĩ cách đối phó. Lão Thuật chống con dao quắm xuống đất đứng nhìn lão làm việc hồi lâu rồi mới lên tiếng:

- Nghỉ tay lúc đã.

Thái độ của lão Thuật làm lão Mùi không khỏi cả nể. Lão buộc phải dừng tay, quay lại cười ngượng nghịu:

- Anh! - Lão phân bua - Lúc nãy định vào chỗ anh báo qua một tiếng, nhưng sợ anh đang ngủ nên tôi lại thôi. Có mảnh ruộng cấy xã thu hồi giao co chủ dự án mất rồi, tôi đành phải lên đây vỡ vạc một đám để trồng sắn kẻo chết đói mất. - Lão kéo vạt áo lau qua mồ hôi, nói tiếp: ở đời đúng là may hơn khôn anh ạ! Lần dồn điền đổi thửa trước tôi vớ phải hai mảnh ở tít đồng xa, đất đã xấu lại cuối nguồn nước nên công sức bỏ rất nhiều mà mùa màng vẫn chẳng ra gì. Lần dồn điền đổi thửa này tôi bắt được một mảnh ở ngay sát quốc lộ mười lăm, vừa đầu nguồn nước lại gần nhà, giao thông thuận lợi, tiện đủ đường. Ai cũng bảo số tôi gặp may. Đùng một cái các ông ấy lập dự án bán cho mấy tay ở thành phố lên mở xưởng sản xuất cái quái quỷ gì đó thế là mất toi. Anh bảo mình là con nhà nông, cầm trong tay mấy triệu bạc xem như đã bán đứt tư liệu sản xuất cho họ giờ còn biết làm gì. Con cái thì đang tuổi ăn tuổi học. Bí quá. Cũng là việc cực chẳng đã. Anh thông cảm mà làm ngơ cho tôi.

Lão Thuật gật gù ra chiều thông cảm rồi nói:

- Thôi, chuyện đâu còn đó. Xuống nhà uống nước đã.

Lão theo lão Thuật xuống nhà. Đó là lần đầu tiên lão đặt chân vào nhà lão Thuật. Ngôi nhà xây hai gian ở ngay lối vào nghĩa trang nhưng rất ít người muốn vào vì nghĩ đó là chỗ ở của một người lập dị, thích sống gần ma chắc sẽ rất luộm thuộm và nhếch nhác. Nhưng trái lại trong nhà lại rất gọn gàng và sáng sủa. Lão Thuật pha một ấm trà, lấy điếu cày nạp thuốc kéo một hơi rồi nói:

- Cái đám đất ấy xã đã quy hoạch để mở rộng nghĩa trang nên chủ trương không cho ai phát dọn. Nếu chú có nhu cầu về đất sản xuất thì cũng nên hạ màu ngắn ngày, đừng trồng cây lâu năm...

Lão Mùi trả lời ngay:

- Vâng, thì em cũng chỉ cần trồng ít gốc sắn thôi mà.

Lão Thuật chiêu một ngụm nước rồi nói:

- Hay là thế này, chú lên đây cùng làm với tôi cho có bạn đi. Công việc cũng không vất vả lắm đâu. Hoa lợi thu được tính ra cũng đủ dùng. Những chỗ người ta vừa bốc mộ tỉa lạc hoặc trồng ngô, trồng sắn thứ gì cũng tốt. Năm ngoái tôi thu hoạch có hơn chục gốc sắn mà được gần hai tạ củ. Củ nào củ ấy to bằng bắp tay, dài gần nửa mét. Hóa ra cái anh hơi người nó còn tốt hơn nhiều loại phân chú ạ. Sắn ấy lúc đầu tôi bán cho mấy người đem về luộc mang ra chợ bán. Hôm đầu họ bán rất đắt vì nó vừa bở lại vừa thơm. Sau biết đấy là sắn mua của tôi thì không ai dám ăn nữa. Bây giờ họ chỉ mua về thái phơi khô để dành xát bột nuôi lợn. Lạc cũng thế. Bụi nào cũng xum xuê, củ nào củ ấy phổng phao, lẵn lụi. Tôi phơi khô, xát vỏ lấy nhân đóng bì bán cất cho mấy bà buôn đem về thành phố, được giá lắm. Nếu chú lên đây cùng làm với tôi, phần hoa lợi hàng năm thu được cũng không ít đâu. Còn tiền lương mỗi tháng xã trả cho bốn trăm ngàn, một mình tôi tiêu cũng không hết. Lâu nay thừa đồng nào tôi lại dồn gửi ngân hàng - Lão Thuật mở tủ, lấy ra một cuốn sổ tiết kiệm, nói - Cũng được một khoản kha khá rồi.

Bất chợt một tấm ảnh kẹp trong cuốn sổ tiết kiệm rơi ra, bay xuống nền nhà. Lão Mùi cúi xuống nhặt lên. Đó là một tấm ảnh đen trắng cỡ ba nhân bốn đã cũ. Nhìn kỹ lão Mùi nhận ra đấy là chân dung một cô gái tuổi chừng mười chín, hai mươi. Lão Mùi đưa tấm ảnh cho lão Thuật, định hỏi đấy là con gái anh à, nhưng sực nhớ lão Thuật có vợ đâu nên ngập ngừng:

- ảnh này là...

Lão Thuật đón tấm ảnh, kẹp vào cuốn sổ, buồn buồn nói:

- Đây là một người khách của tôi từ hai mươi năm trước...

Lão Mùi cảm thấy thú vị nên cười vui vẻ:

- Hai mươi năm trước anh đã có một mối tình với một cô gái là khách qua sông?

Lão Thuật cười:

- Làm gì có chuyện ấy! Một thằng chèo đò ngang nghèo kiết xác lại thô lỗ, cục mịch như tôi thì ma nào để ý đến.

- Vậy sao anh lại được người ta tặng ảnh? Cô gái ấy bây giờ ở đâu?

Lão Thuật thở dài:

- Tấm ảnh này là của cô ấy bỏ quên, tôi nhặt được. Còn bây giờ cô ấy ở đâu, thậm chí còn sống hay đã chết tôi cũng không biết được. Mà thôi, chuyện giữa tôi và cô ấy là một câu chuyện buồn. Lúc nào rỗi tôi sẽ kể chú nghe. Giờ chú uống nước rồi tranh thủ lên làm kẻo nắng. Suy nghĩ đề nghị của tôi, nếu đồng ý thì cho tôi biết. Nói thật với chú là tôi đang có ý định tìm người làm thay công việc này...

- Thế còn anh?

- Tôi ấy à? - Giọng lão Thuật như trùng xuống - Không biết tôi có qua nổi năm nay không vì trong người tôi đang mang một căn bệnh hiểm nghèo...

- Anh nói gì mà nghe lạ thế? Trông anh khỏe mạnh thế kia mà?

- Bề ngoài thôi! Tháng trước tự nhiên tôi thấy đau nhói ở vùng ngực trái. Đau như bị dao đâm. Tôi xuống trạm y tế khám thì bác sỹ trưởng trạm bảo nhiều khả năng tôi bị ung thư phổi. Chú ấy khuyên tôi nên xuống bệnh viện tỉnh khám cho chắc chắn.

- Anh đã đi bệnh viện tỉnh chưa?

Lão Thuật lắc đầu:

- Đi làm gì chú? Nếu bị ung thư thật thì ngay cả người nhiều tiền cũng không chữa được, huống gì mình chỉ có mấy đồng gửi tiết kiệm. Biết chỉ tổ thêm lo. Thôi, cứ để vậy, được đến đâu hay đến đó. Người ta nói bệnh này chỉ sống được sáu tháng, vậy nên tôi rất muốn trong thời gian ấy tôi lo tìm được người thay thế để giới thiệu với các anh trên ủy ban và nhờ người ấy giúp một số việc khi tôi nằm xuống...

- Anh! Làm gì mà anh bi quan thế?

- Tôi không bi quan đâu! Nhưng có lẽ cứ phải lo dần đi là vừa. Tôi thấy chú cũng thật thà, lại đang gặp khó khăn. Nếu chú đồng ý với đề nghị của tôi thì ngay từ hôm nay chú ở lại đây làm việc luôn. Phần hoa lợi từ sản xuất chú hưởng. Tiền lương thì anh em mình tiêu chung. Còn việc tôi cần nhờ cũng đơn giản thôi. Việc thứ nhất khi tôi nằm xuống chú rút số tiền trong sổ này về lo việc ma chay cho tôi. Việc tiếp theo có liên quan đến câu chuyện về người con gái trong tấm ảnh này. Việc ấy để hôm nào kể chú nghe chuyện của tôi xong rồi tôi sẽ nói.

*

Lão Thuật kể:

- Đêm hôm ấy trời cũng mưa tầm tã như đêm nay. Lũ từ thượng nguồn đổ về rất mạnh. Giằng buộc con đò xong tôi lên nhà chuẩn bị đi ngủ vì bình thường giờ này đã rất hiếm người qua sông chứ chưa nói lúc trời mưa, lũ đang đổ mạnh. Bỗng bên ngoài có tiếng người gọi khẩn thiết:

“Bác... bác đò ơi...”

Tôi mở cửa nhìn ra thì thấy một cô gái đeo cái túi vải bước vào. Không mũ nón, không áo mưa, toàn thân cô ướt sũng. Cả cái túi vải chắc là bên trong đựng quần áo cũng sũng nước. Cô vừa vuốt nước mưa trên mặt vừa nói:

“Bác... bác làm ơn cho cháu sang sông với...”

“Cô điên à?” - Tôi gắt - Đêm hôm mưa gió thế này, lũ lại đang đổ ầm ầm, bảo tôi chèo đò đưa cô qua sông liệu xảy chuyện gì rồi ai chịu trách nhiệm?”

“Cháu cầu xin bác! Bác làm phúc giúp cháu đi. Cháu cần có mặt ở nhà trong đêm nay!” - Cô van vỉ.

“Cô đi đâu mà lại qua sông vào giờ này?” - Tôi hỏi.

“Cháu từ thị xã lên. Ô tô hỏng dọc đường nên giờ mới về đến đây. Bác... bác làm ơn...”

Tôi cương quyết:

“Cô không phải nói nhiều. Việc giúp được là tôi giúp. Tốt hơn hết bây giờ cô vào làng, tìm nhà người quen nghỉ lại. Sáng mai nước rút tôi đưa qua sông”.

“Làng này cháu không quen ai. Bác cố gắng giúp cháu đi!”

Tôi nhìn cô gái, ái ngại thật sự. Nước này, nếu là ban ngày ban mặt với kinh nghiệm của mình tôi có thể chèo đò đưa cô qua sông một cách an toàn. Nhưng đêm tối thế này, trời lại vẫn đang đổ mưa tôi không thể mạo hiểm. Tôi suy nghĩ rồi bảo cô:

“Không được đâu! ở tuổi này bác có chết cũng được rồi. Nhưng còn cháu? Tương lai của cháu còn dài lắm. Đừng mạo hiểm đánh đổi mạng sống của mình. Nghe bác đi. Nếu không quen biết ai ở làng này thì cứ tạm ở lại đây, sáng mai bác đưa qua sông mà về”.

Cách xưng hô thân mật của tôi hình như đã làm cô gái vững dạ. Cô không nài nỉ tôi chèo đò cho cô qua sông nữa. Tôi giục cô:

“Thôi, vào nhà đi để bác đốt lửa cho mà hong quần áo. Đừng ngại. Bác sống có một mình thôi mà!”

Tôi lấy củi xếp đống giữa nhà đốt rồi bảo cô ngồi gần để sưởi cho đỡ lạnh và hong cho áo quần mau khô. Thấy tay cô đeo đồng hồ, tôi hỏi:

“Mấy giờ rồi?”

“Gần một giờ sáng rồi bác ạ!”

“Đấy! Giờ này bình thường đã không có ai qua đò rồi. Thế cháu về đâu?”

“Cháu về Kha!”

Tôi thực sự kinh ngạc:

“Về Kha? Cháu biết có bao nhiêu hiểm nguy rình rập trên những quãng đường rừng vắng vẻ ấy không? Mà cháu thì lại thân gái một mình. Thôi, cứ yên tâm nghỉ lại đi. Sáng sớm bác sẽ đưa cháu qua sông mà về”.

Cô gái không nói lý do mình cần về nhà mà tôi cũng quên không hỏi. Nếu biết lý do vì sao cô phải có mặt ở nhà trong đêm thì có lẽ chuyện đồi bại sau đó sẽ không xảy ra. Khốn nạn thế. Tôi chất thêm củi vào cho lửa cháy to rồi bảo cô:

“Hong khô quần áo tí nữa cháu lên giường mà nằm. Bác phải thức để trông chừng con thuyền kẻo lũ đổ mạnh nó cuốn đi là mất nghiệp”.

Tôi khép cửa, khoác áo mưa rồi đội nón đi xuống chỗ buộc con thuyền. Lòng thuyền đầy nước mưa. Tôi hì hục tát phải mất cả tiếng đồng hồ mới hết. Mưa ngớt hạt dần rồi tạnh hẳn. Nền trời đã thấy thấp thoáng mấy vì sao. Tôi ngồi trên thuyền nhìn dòng nước chảy cuồn cuộn mà đầu óc nghĩ ngợi linh tinh. Từ ngày bị người con gái trong làng khước từ lời cầu hôn của mình tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện lấy vợ nữa. Nhưng hôm ấy không hiểu sao cái hình ảnh cô gái trẻ măng ngồi hong áo quần bên đống lửa nó cứ chập chờn trước mắt tôi. Càng cố xua đuổi nó càng hiện lên rõ nét... Tôi lần về nhà, lặng lẽ đứng ngoài nhìn qua khe hở ngắm cô gái. Hình như nghĩ tôi vẫn còn đang tát nước dưới thuyền nên cô ấy cởi cả áo ngoài để hong cho mau khô. Trong ánh lửa hồng cả bộ ngực căng tròn đầy đặn lộ ra khiến toàn thân tôi rạo rực rất là khó tả. Rồi không chịu nổi, tôi xô cửa nhảy vào, chồm đến bế thốc cô lên giường... Bị bất ngờ, cô ấy ra sức quẫy đạp, cào cấu tôi và hét lên: “Buông ra! Đồ khốn nạn!” Lúc ấy tôi đã như một con thú không làm chủ được bản thân nên mặc cho cô gái cào cấu, la hét cứ hùng hục thực hiện bằng được dục vọng của mình... Chỉ đến lúc làm xong cái công việc đồi bại ấy tôi mới bừng tỉnh. Cô gái đứng dậy mặc quần, vớ cái túi quần áo quất vào giữa mặt tôi vừa khóc vừa chửi: “Đồ khốn nạn!” Rồi xô cửa lao ra ngoài... Thoáng thấy bóng cô chạy trên con đường dốc dẫn xuống sông tôi hốt hoảng bật dậy lao theo. May mà tôi đã đuổi kịp nếu không ngoài tội cưỡng bức đàn bà con gái ở nhà mình tôi còn phải gánh thêm một cái tội giết người nữa. Tôi phủ phục dưới chân cô van lạy: “Bác xin cháu. Cháu đừng tự tử. Bác biết tội rồi!”. Thật may cho tôi là cô ấy cũng đã nghĩ lại nên chỉ co chân đạp cho tôi một cái, chửi: “Đồ khốn nạn!” rồi quay đầu chạy lên đường... Tôi thất thểu trở về nhà, mở cửa ngồi chờ công an xã đến bắt vì nghĩ thế nào cô ấy cũng vào làng báo cho mọi người biết. Nhưng chờ mãi đến sáng cũng không thấy động tĩnh gì... Tôi thu dọn các thứ và nhặt được tấm ảnh nhỏ này của cô ấy. Chắc là nó bị ướt cô ấy đem hong rồi không kịp nhặt...

- Rồi sau đó thì làm sao? - Lão Mùi hỏi.

- Sau đó mấy tháng tôi có tìm lên Kha dò hỏi thì được biết trong làng có một cô gái là người định cư đang theo học trường Cao đẳng Sư phạm nhưng đã bị nhà trường đuổi học vì tội chửa hoang. Tệ nhất là hôm mẹ chết nhà gửi điện báo xuống nhưng cô ấy cũng không về chịu tang. Tôi lặng người vì không ngờ việc làm đồi bại của mình lại gây hậu quả tày trời như vậy. Bây giờ cô ấy phiêu bạt ở đâu, còn sống hay đã chết đến người nhà còn không biết nói gì tôi. - Lão Thuật nấc liền mấy cái rồi ôm ngực ho khùng khục.

Lão Mùi hết sức bất ngờ sau khi nghe chuyện của lão Thuật. Không đợi lão Thuật nói tiếp, lão nói:

- Tôi biết việc anh muốn nhờ tôi khi anh nằm xuống là gì rồi. Anh yên tâm đi. Nếu một ngày nào đó cô ấy nghĩ lại mà đưa con về thắp hương cho anh tôi sẽ thay mặt anh xin mẹ con cô ấy tha thứ cho anh.

Lão Thuật cảm kích nói:

- Được vậy có chết tôi cũng yên tâm rồi!

*

Tháng ba, cả vùng đồi như vừa khoác lên mình một tấm áo choàng xanh. Buổi sáng ngày Thanh minh con đường bê tông dẫn vào nghĩa địa chật xe máy. Có cả những chiếc Toyota sang trọng từ thành phố về. Hoa tươi xếp đầy trên những ngôi mộ. Khói hương nghi ngút. Lão Mùi chờ đến khi người khách cuối cùng đi viếng mộ ra về mới xin đài hóa vàng cho lão Thuật. Bao hy vọng, đợi chờ đến lúc này cũng tan biến. Mẹ con người đàn bà vẫn chưa xuất hiện. Lúc lão Thuật nằm xuống lão Mùi vẫn tin thế nào rồi mẹ con người đàn bà ấy cũng trở về để thắp cho người quá cố một nén hương. Vậy mà ngày cuối năm rồi đến hôm nay là tết Hàn thực vẫn không thấy bóng dáng họ xuất hiện. Họ ở xa không biết hay mối hận ngày xưa quá lớn đã ngăn không cho họ về? Trong suy nghĩ của mình nhiều lúc lão Mùi vẫn tin cái dòng họ bốn đời độc đinh của lão Thuật chưa thể tuyệt tự. Biết đâu giọt máu tội lỗi lão để lại trong người con gái tội nghiệp kia lại không là một đứa con trai. Nhưng làm cách nào để tìm ra tung tích của mẹ con họ đối với lão quả là một điều quá khó. Lão cũng đã cất công lên Kha dò hỏi nhưng được biết ngay cả những người thân của cô cũng không biết cô còn sống hay đã chết. Bây giờ lão chỉ còn biết trông vào sự may rủi nữa thôi.

Mãi suy nghĩ lão Mùi không hay từ lúc nào có một chàng trai trẻ đã đứng sau lưng mình. Đợi khi lá vàng cuối cùng trong tay lão cháy hết chàng trai mới rụt rè lên tiếng:

- Chú ơi, chú cho con hỏi thăm mộ của ông chèo đò ngang ở đâu ạ?

Lão Mùi quay lại, giật mình ngỡ hồn ma người quá cố hiện về vì gương mặt của chàng trai rất giống lão Thuật. Lão hồi hộp hỏi lại:

- Cậu... cậu là gì với ông ấy?

- Ông ấy là... là... Chàng trai ấp úng.

Lão Mùi túm tay chàng trai, xúc động nói:

- Cậu là con trai ông ấy phải không? Ông ấy nằm đây. Thế mẹ cậu đâu?

- Mẹ con...

Lão Mùi ấn chàng trai ngồi xuống:

- Chú hiểu rồi. Thôi, cậu thắp hương cho bố đi rồi vào nhà nói chuyện. Tôi là quản trang ở nghĩa địa này. Trong nhà tôi cũng lập cho ông ấy một cái bàn thờ...

... Chàng trai kể:

“Mẹ cháu kể, hôm ấy sau khi bị cưỡng đoạt mẹ cháu chỉ kịp vơ vội cái túi quần áo rồi lao ra ngoài. Mưa đã tạnh. Mẹ cháu cứ theo con đường dẫn xuống bến đò định lao thẳng xuống dòng sông chảy xiết. Nhưng kịp nghĩ giờ này ở nhà có lẽ bà ngoại cháu cũng đã trút hơi thở cuối cùng, nếu mình chết thì hai cái tang cùng lúc ập xuống chắc ông cháu và những người thân trong nhà sẽ không chịu nổi. Cùng lúc ấy người đàn ông đã cưỡng đoạt mẹ cháu cũng đã kịp chồm tới, phủ phục xuống ôm lấy chân mẹ cháu van xin mẹ cháu đừng tự tử. Mẹ cháu đẩy ông ta ngã lăn ra rồi quay đầu chạy lên... Mẹ cháu cứ vừa chạy vừa khóc trên quãng đường vắng đến khi trời hửng sáng thì ra đến bến xe thị trấn. Vừa may chuyến xe đầu tiên trong ngày sắp chuyển bánh. Mẹ cháu tuông lên rồi cứ thế ôm cái túi quần áo ngồi bất động cho đến khi xe về đến thị xã...

Ngay chiều hôm ấy mẹ cháu nhận được bức điện báo tin bà cháu đã mất, giục mẹ cháu thu xếp về ngay. Nhưng về làm sao được. Mẹ cháu không thể nhìn mặt gã đàn ông đã cưỡng đoạt mình mà muốn về quê lại chỉ có duy nhất con đường phải đi qua cái bến đò ấy. Đành chịu tội bất hiếu. Mấy ngày liền mẹ cháu nghỉ học, ngồi nhà khóc vật vã... Một nỗi lo mơ hồ luôn ám ảnh mẹ cháu. Hơn tháng sau thì nỗi lo ấy đã thành sự thật. Mẹ cháu đã có thai! Trong tâm trạng hoảng loạn mẹ cháu còn chưa biết nên xử trí sao. Ba tháng sau thì chuyện vỡ lở, nhà trường quyết định đình chỉ việc học của mẹ cháu. Lang thang trong đêm giữa mênh mông của thành phố suốt mấy tiếng đồng hồ, cuối cùng mẹ cháu quyết định lên đường tàu để kết thúc cuộc đời mình... Nhưng số trời xui khiến thế nào mẹ cháu lại gặp bác Trầm, công nhân công ty môi trường đô thị. Bác Trầm là mẹ của một trong số học sinh lớp năm mà lâu nay mẹ cháu đang dạy kèm với danh nghĩa gia sư. Bác Trầm cùng cả tổ đang thu dọn rác ngay trên khu phố gần đường tàu. Thấy cô gái có những biểu hiện lạ thường, bác chạy lại hỏi han thì nhận ra mẹ cháu. Mẹ cháu kể hết mọi chuyện cho bác nghe. Bác khuyên mẹ cháu phải gắng gượng để sống, không nên nghĩ đến chuyện tự tử, cũng đừng tìm cách phá thai vì cái thai đã lớn, sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng. Bác báo cáo nghỉ làm một buổi rồi lấy xe đạp lai mẹ cháu về nhà. Bác chủ động đưa ra một kế hoạch: Mẹ cháu sẽ ở lại nhà bác, tiếp tục dạy kèm cho số học sinh của các gia đình trong xóm lao động nghèo để lấy tiền trang trải cho cuộc sống. Nếu không đủ bác sẽ vận động chị em trong tổ giúp đỡ. Bằng cách ấy mẹ cháu đã vượt qua được những tháng ngày gian khổ để sống và chờ ngày sinh cháu. Khi cháu được một tuổi, bằng mối quan hệ của mình bác Trầm đã xin cho mẹ cháu được vào làm việc trong công ty. Từ đó với thu nhập từ đồng lương của một công nhân công ty môi trường và nghề gia sư tự do mẹ cháu đã sống và nuôi cháu ăn học nên người. Bây giờ cháu đã là một y sĩ mới nhận bằng tốt nghiệp. Cháu chỉ buồn là cho mãi tới hôm nay, khi biết chắc chắn bố cháu đã mất mẹ cháu mới kể cho cháu biết mọi chuyện và đồng ý để cháu lên thắp hương cho bố cháu...

Lão Mùi buông một tiếng thở dài. Có một cái gì đó rất không bình thường khiến lão thật khó lý giải việc làm đầy nghĩa tình của chàng trai trẻ. Đắn đo mãi, hồi lâu lão mới đưa ra được một câu hỏi:

- Này cậu, tôi hỏi thật cậu câu này, cậu có thể trả lời tôi có được không?

- Chuyện gì vậy bác?

- Là tôi thấy trong những trường hợp như của mẹ con cậu thường rất ít khi kẻ đã gây nên tội được tha thứ. Nhưng đằng này mẹ cậu và nhất là cậu lại có cách ứng xử rất khác người. Cậu nghĩ gì về người đàn ông đã làm hại cả cuộc đời mẹ cậu?

Chàng y sỹ trả lời không cần suy nghĩ:

- Đơn giản thôi mà bác. Bố cháu có tội, nhưng dù sao chuyện ấy cũng đã qua rồi. Với mẹ cháu, có thể sẽ không bao giờ mẹ cháu tha thứ cho kẻ đã hủy hoại cả cuộc đời mình. Nhưng với cháu, cháu không thể nuôi mãi mối thù như mẹ cháu. Vì dù sao bố cháu cũng là người đã cho cháu cả cuộc đời...

- Cậu! - Lão Mùi định ôm lấy chàng trai để nói một lời cảm ơn nhưng hai tay lão lóng ngóng không biết làm gì. Lúc lâu sau lão mới nói được nên lời - Cảm ơn cậu. Tôi tin chắc rằng dưới suối vàng bố cậu sẽ rất vui vì câu nói này của cậu.

Đ.H.P

 

 

 

NGÂN HẰNG

 

Mưa về trên phố

 

Truyện ngắn

 

Lão lang thang trên con đường đẫy nước. Sau cơn mưa dường như mọi thứ trở nên láng bóng, cầy cựa sức sống, còn lão, hình hài như một bộ xương di động, vẫn cái nhìn mệt mỏi, và bộ mặt mất hết sinh khí. Lão lê đôi dép tổ ong đầy vết chó cắn nham nhở nặng như một tấm sắt dưới chân. Mọi vật xung quanh đối với lão trở nên nhầy nhụa. Thi thoảng lão lại thất thần lao ra chắn ngang một hình dáng nào đó đi qua chỉ để nhận lấy câu chửi rủa của thiên hạ. Đối với họ lão hệt như một kẻ hành khất, điên khùng. Nhưng có ai biết rằng lão đang tìm kiếm một người, một người đã khiến lão mất hết tâm trí, rách rưới hình dạng.

Dường như đã mệt mỏi với cuộc kiếm tìm vô vọng, lão đặt phịt cái mông mỏng như giấy dó xuống gốc cây xà cừ bên vỉa hè. Cũng vài bộ mặt lem luốc như lão đang thô lố hai con mắt ngắm nghía vô định, gã ngồi, ưỡm ờ ở mọi tư thế. Những hạt mưa sót lại trên tán cây tót tảy rơi xuống, đọng lại ở hố mắt lão hệt như hai giọt nước ứ lại lâu ngày. Nàng ở đâu trong hàng ngàn con người nhờn nhợt đi qua, sao nàng lại có thể nỡ bỏ lão. Cái tình yêu, hạnh phúc mà lão đã phải đánh đổi quá đắt để có nàng giờ chỉ như bong bóng thôi sao. Lão lẩm nhẩm như tụng kinh, như xám hối với chính mình.

*

ở cái vùng Tây Nguyên gió bụi này, tên tuổi lão ai mà chẳng biết. Đi đến đâu lão cũng được mọi người tán tụng bằng những lời hoa mỹ nhất, nào là nhà thơ vĩ đại, nào là cây viết xuất chúng. Từ các vị lãnh đạo cấp cao một bước lên xe, hai bước nhà hàng sang trọng, đến những người dân nhem nhuốc, đều cho lão là người đại diện cho tiếng nói của mình. Mỗi lời lão nói ra không khác gì ngọc ngà, châu báu. Lão có tất cả trong tay, trừ tiền bạc. Hẳn sẽ khó tin lắm, vì khó gì đâu nếu lão cho ra một bài thơ sẽ có hàng tá người chờ đợi mua lại với cái giá cao chót vót và lão chỉ việc ung dung ngồi đếm và tận hưởng những tờ bạc xanh đỏ. Nhưng lão không phải là người dễ dãi để giao bán đứa con tinh thần của mình như vậy. Đối với lão phụ nữ sau một cuộc vượt cạn nghỉ dăm ba ngày sẽ lại sức, còn lão "vượt cạn" ròng rã cả tuần trời, tháng trời thậm chí có lần cả năm mới thoát ra được những cảm xúc thăng hoa ấy. Vì vậy mỗi "đứa con" của lão, đứa nào cũng đẹp, cũng được bao bọc, trân trọng hơn cả tính mạng mình. Còn nhớ có lần một tay giám đốc cỡ bự muốn mua cái danh hão, người có tâm hồn đẹp đặt cả cọc tiền xuống mặt lão nói:

- Anh cho tôi xin một đứa con tinh thần mới nhất, hoặc là tôi đặt hàng để nó có thể mang họ của tôi. Như đứa này chẳng hạn...

Tay giám đốc rút phẹt một tờ trong vô số những bản thảo của lão đang nằm ềnh àng trên bàn viết. Bài thơ đó đầy lỗi tẩy xóa, chưa ráo mực. Lão nhìn con người bụng phưỡn trước mặt giây lát, rồi như người bị động kinh lão tiến đến gầm gừ:

- Cút... cút... cút khỏi nơi đây với đống tiền bẩn thỉu của mày. Tao thà đốt đi chứ không bao giờ giao chúng cho những đứa ô ế.

Nói rồi không kịp để cho tay giám đốc ú ớ hết câu, lão cầm bật lửa đánh xoẹt một cái. Lửa bốc cháy trên những con chữ như một sự siêu thoát trong tiếng cười âm âm nơi cổ lão. Tay giám đốc như bị trúng độc, vội vàng cầm tiền chạy thục mạng. Chuyện đó được truyền tụng, lan ra ngoài rồi trở thành giai thoại trong bất cứ một diễn đàn nào nói về lương tâm nghề nghiệp. Chính vì thế mà lão nghèo. Quả là nghèo thật. Một nhà thơ lớn như lão mà ở trong ngôi nhà không rộng hơn hộp cát tông là mấy với hai mặt con và một bà vợ còng keo như cọng cỏ héo. Vợ lão một phụ nữ thuần nông đúng nghĩa, cam chịu và nhẫn nhịn. Chị chàng lấy lão cũng vì những vần thơ bay bổng thời trai trẻ mà lão làm tặng chị. Thời ấy cuộc sống không quá cay độc như bây giờ. Ngày ngày chị chàng phiêu du cùng lão với những vần thơ bồng bềnh. Rồi hai đứa con ra đời nheo nhóc, đói rã, da bung bủng nước. Về cùng một nhà, lão vẫn say sưa với những thứ ngôn ngữ hỗn độn, chị chàng nhìn con rồi gạt nước mắt lao vào vòng xoáy kiếm tiền trang trải cho bốn miệng ăn. Chị chàng hãnh diện gánh trên mình những đồng tiền lẻ, nát bươm kiếm được từ những bó rau đi mót lại, vậy mà không nửa lời kêu la. Thi thoảng lão cũng mang về cho chị và các con dăm trăm, những lúc ấy mắt lão sáng lên kỳ lạ. Chứ không hề để ý đến ánh mắt người vợ nhìn lão đầy tin cậy và ngưỡng vọng.

Nơi lão làm việc là một cơ quan báo chí có tiếng trong tỉnh, đáng lẽ với tiếng tăm lão hiển nhiên phải leo lên được đến một chức danh nào đó, nhưng bao lần quyền lợi đến mình lão lại gạt đi rồi phát ngôn rằng: "Quyền lực và tiền bạc làm cho thơ phú của tớ bị thui chột. Tớ chỉ thích làm một công dân quèn để sống hết mình với nàng Thơ cho đến khi tớ chết". Có người tán tụng triết lý ấy, có người thù hằn thì cho lão là đồ dở hơi. Mặc kệ tất cả, hàng chiều lão vẫn lang thang hết con đường này đến lối ngõ khác, đánh bẹn đít quần trắng bợt từ những quán cóc hàn huyên với bạn bè hàng tiếng trời mặc kệ ngày hay đêm. Để rồi sau đó lão về "cái hộp cát tông" của mình vật lộn cho ra những tác phẩm "để đời" ai cũng phải trầm trồ xuýt xoa. Càng được ca tụng bao nhiêu lão càng thấy lòng mình bí bách bấy nhiêu. Càng ngày lão càng nhận ra mình giống như con chim đại bàng to lớn bị nhốt ở trong một cái lồng chật hẹp, muốn xải cánh bay ra giữa trời xanh mà không được thỏa mãn. ở cái nơi gió bụi chỉ có những đồi là đồi, cây là cây này, con người quanh năm suốt tháng chổng mông lên trời giữa những dãy cà phê. Có ai dư thời gian để hiểu hết được những điều lão viết, có mấy ai hiểu được hoài bão trong lão đối với thi ca đâu. Lão muốn tìm một nàng thơ mới cho mình, một nàng thơ mang lại cho lão những cảm xúc mạnh hơn, tuyệt mỹ hơn và rồi hàng loạt đứa con đẹp đẽ của lão sẽ ra đời, sẽ như một quả bom dội xuống mảnh đất mới ấy. Nghĩ vậy lão hăm hở về nhà.

- Này bà... cuối tuần bà thu xếp để tôi ra Hà Nội một chuyến. Tôi muốn đi đâu đó thời gian xem tài năng của mình với thiên hạ đến đâu.

- Sao lại thế, ở đây ông vẫn được trọng dụng lắm mà. Ra ngoài đó họ biết mình là ai đâm khổ ra, sắp có tuổi rồi...

Cái tắc lưỡi của vợ, nhất là hai từ "có tuổi" làm các cơ trên mặt lão giật lên phừng phừng. Mặc kệ vợ cúi gầm, co rúm, lão vẫn rít qua cổ họng.

- Đi là đi... biết gì mà nói trỏ vào... Đúng là đàn bà... đái không qua ngọn cỏ.

Chị chàng nhìn chồng đi khuất, mới khẽ lau những giọt nước mắt ứ lại. Chị thẫn thờ, rồi toan tính trong đầu một điều gì đấy.

Lão đi thật, hăm hở như thời trai trẻ. Cái thân hình lép kẹp của lão oằn xuống bởi chiếc ba lô con cóc còn sót lại từ thời lính, căng phồng, đầy mùi giấy mực lẫn thức ăn và số tiền chị chàng đã phải vay mượn đủ mọi nơi mới có được. Ngày lão đi chị chàng rức lên từng tiếng, hai đứa con túm lấy vạt áo vàng ệch của lão dặn dò: "Bố đi nhớ mang nàng thơ về cho bọn con nhé". Nhìn cảnh đó bỗng chốc lão thấy chững lại, nằng nặng trong lòng. Không một lời hứa hẹn với vợ con, không một cái vỗ về an ủi, bước chân lão chình chịch leo lên tàu. Gió sắt se theo tiếng rít của đường ray.

*

Lão ra Hà Nội thật, nhưng không phải để thi thố tài năng với thiên hạ, mà lão đi học. Sự học cũng đến thật bất ngờ với lão. ấy là một ngày đầu thu, thoảng hương hoa sữa, ông bạn nhà văn nói với lão:

- Hay là trong lúc rảnh rỗi, chú mày thử đăng ký một lớp học viết văn đi. Nghe thì vô lý hả? Nhưng thời buổi bây giờ văn chương cũng phải có một tấm bằng, một giấy phép hành nghề mới hợp thời.

- Thủ tục thế nào?

- Làm quái gì có thủ tục với những đứa viết lách có tài như chú mày. Chú mày cứ gật đầu một cái là xong tất.

Cũng phải, ra Hà Nội đã mấy tháng nay, công việc thì không, suốt ngày lão chè chén với vài ba ông bạn viết cũng đã chán ngây ngấy rồi. Định về nhưng thể diện với vợ con vì chưa phân cao thấp, chưa tìm được nàng thơ cho mình làm lão chần chừ. Thì ừ, tại sao lão không đi học nhỉ? Nhìn đống bằng cấp đang được xếp xéo chồng lên nhau của ông bạn nhà văn, lão chợt thấy mình thiếu hụt một tờ giấy quan trọng. Vậy là lão bước chân vào con đường học hành khi cái tuổi gần tới con số năm hai.

Ngày nhập trường lão lạc lõng giữa những gương mặt còn búng ra sữa. Đang luống cuống ngó nghiêng thì lão va vào nàng. Nàng là kiểu của lão gọi chứ mọi người bảo nàng đáng tuổi con gái lão, mặc kệ thiên hạ. ánh mắt đầu tiên chạm vào lão chính sự ngây thơ, một khuôn mặt trắng hồng với những lọn tóc xoăn đúng điệu buông lơi nơi bờ vai tròn trĩnh của nàng. Nàng cười, điệu cười mủn mỉm khiến trái tim lão nghẹn lại. Lão không cất thành lời, chỉ biết ngây người ngắm cái dáng nhỏ nhắn ấy. Đêm đó lão không ngủ cũng không thèm ngồi chè chén với mấy ông bạn già viết vài câu thơ “hú họa”. Lão muốn có một cái gì đó mát mẻ, có một cái gì đó tươi sáng, thoáng đãng nhưng phải thật thơ mộng. Vậy là lão lang thang ra khuôn viên hồ. Gió phe phẩy trên mấy ngọn tóc gần như cụt lủn ở đầu lão. Những đôi trai gái dập dìu, rồi biến mất trong những khóm cây không giấu được vạt áo người. Tiếng thủ thỉ, tiếng cấu véo đầy tình ái càng khiến lão rậm rịp hơn. Mặt hồ nổi sóng, gương mặt và điệu cười của nàng nhập nhòe. Lồng ngực lão như bị ai bóp chặt. Cố hít một hơi thật sâu nhưng lão không thể nào xua nàng ra khỏi tâm trí. Dường như không chịu nổi những cảm giác “cắn dứt” ấy, lão lôi từ trong túi quần ra tờ giấy gấp làm tư đã nhầu nhuyễn, rồi mặc nhiên những ánh mắt đang nhìn, lão ngồi phịch xuống đất, cui cui trên mặt ghế đá, từng dòng chữ hiện ra trên giấy. Trong đầu lão hàng vạn hàng nghìn câu cứ luẩn quẩn, rồi đẩy mạnh ra nơi ngòi bút hết dòng này đến dòng khác. Nàng khơi dậy trong lão nguồn cảm hứng thơ phú không ngừng nghỉ. Đêm ấy lão một mình ở ven hồ cho đến khi mặt trời sáng rõ, giấc ngủ đến với lão khá muộn màn nhưng bóng nàng từ đó cứ ấp vào trái tim si tình của thi sỹ vùng Tây Nguyên. Lão vẫn mơ có một ngày được cùng nàng sóng bước trên những con đường thơ mộng, được chìm đắm trong thế giới chỉ có hai người và hoa bướm, được tận mắt ngắm khuôn mặt bầu bĩnh, đôi mắt lúc nào cũng trong veo như hồ nước của nàng.

Nắng chói ngắt, mặt đường phả lên hơi nóng hầm hập, mọi thứ dường như muốn tan chảy. Đã quen với những cơn nóng rạt mặt người ở vùng Tây Nguyên, những cái nắng nơi xứ Bắc giữa thủ đô hoa lệ này khiến lão muốn nghẹt thở. Sự oi nồng, ngột ngạt lẫn những dòng người như nêm cứng làm cô đặc hơn cái không khí vốn quá ít ỏi nơi đây. Dưới nền nhà lát đá hoa, những tấm thân trần cong keo như lão nằm la liệt, chỗ thì sách, chỗ thì đồ ăn, khói thuốc bừa bãi. Lão căng lồng ngực lép kẹp, hai lỗ mũi vận hành nở lên mức cực đại vậy mà khí trời vẫn không có lấy một chút để phập phồng trong cơ thể. Những giọt mồ hôi nơi tấm lưng cứ lét đét ám xuống nền nhà, trả lại sự ức chế lẫn bức bối cho lão. Lão vùng dậy, vớ vội chiếc áo rồi hì hục ra khỏi phòng. Những hàng cây thẳng đứng, im lìm, thi thoảng mới hích nhau đưa đẩy trên tán lá. Vài ba con người lúp xúp dưới gốc cây gật gù, gương mặt ai cũng lộ rõ vẻ bơ phờ mệt mỏi. Lão ghé vào một quán nước ven đường, gọi một chén chè đá. Bà chủ quán dường như cũng đuối sức dưới cái nồng nã của trời đất nên nhìn vị khách hàng bằng con mắt thờ ơ. Lão mặc kệ, những dòng nước lạnh đang len lỏi mọi ngóc ngách trong cơ thể dần khiến cái lồng ngực thoi thóp ấy bỗng dưng lập cập đập trở lại. Ước gì lúc này có một cơn mưa đổ xuống sẽ tuyệt vời biết bao. Mưa là thứ nước cứu rỗi nhanh nhất trên những khuôn mặt khô cằn, nứt nẻ kia, mưa làm cho mọi vật cầy cựa một sức sống mới, mạnh mẽ hơn và sinh động hơn. Lão chán ngắt mọi thứ trì trệ, buồn tẻ.

- Bà ơi! cháu xin cốc chè đá. Xin lỗi anh làm ơn nhích chỗ dùm.

Tiếng nói trong trẻo, gương mặt trắng hồng với những lọn tóc xoăn đúng điệu buông lơi nơi bờ vai tròn trĩnh. Đôi mắt lão mở to, tim lão nghẹn lại. Nàng, đích thị nàng, nụ cười mủm mỉm ấy lấp lóa trong nắng. Nàng mặc chiếc váy mầu tím nhẹ điểm những cánh hoa mỏng. Lão luống cuống xuýt đánh rơi chiếc cốc thủy