TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

Từ thơ trên Tạp chí Xứ Thanh 2006

nghĩ về thơ Thanh Hóa

                                                                                LƯU ĐỨC HẠNH

        Mấy năm đầu thế kỉ XXI các tập thơ của các tác giả ở Thanh Hóa công bố ngày một thưa thớt. Trên báo Văn nghệ tạp chí Thơ của Hội Nhà văn thoảng hoặc gặp những gương mặt quen cũ (Văn Đắc Mạnh Lê Nguyễn Ngọc Quế Huy Trụ) nên rất khó nói về lực lượng làm thơ và thơ Thanh Hóa. Vậy nên muốn nhìn lại xem thơ Thanh Hóa bây giờ thế nào chủ yếu chỉ còn trông đợi vào tạp chí Xứ Thanh mà thôi. Tôi đã đọc lại tạp chí Xứ Thanh 2000 - 2006 nhất là đọc kỹ vào năm 2006 với ý tưởng này. Và tôi đã thấy gì cho tôi suy nghĩ gì ?

       1- “Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người”

       Đã gặp Huy Trụ Nguyễn Ngọc Quế Mạnh Lê Văn Đắc ngoài Hà Nội nay lại gặp ở Thanh Hóa. Cũng thường gặp trên tạp chí Xứ Thanh những người quen cũ: Lê Đăng Sơn Nguyễn Minh Khiêm Cao Sơn Hải Phạm Khang và thấy hai người nữa Từ Nguyên Tĩnh Kiều Vượng tay thì thanh la não bạt ở vườn văn miệng thì thổi sáo hay kèn trôm pét ở vườn thơ. Có mấy cố nhân vừa trông thấy đã lại thành cố nhân là Lê Hai Hải Minh Trịnh Minh châu Bùi Kim Quy. Hình như bạn cũ nhưng không ấn tượng lắm hồi cuối thế kỉ bây giờ năng xuất hiện hơn là Nguyễn Trọng Liên Nguyễn Xuân Nha Phạm Khang.

      Chỉ có số ít người mới. Tạt qua rồi đi hoặc giả một đôi người vẻ như muốn lưu lại nhưng nhìn chung chẳng thêm hương sắc nào.

       2- “Quanh quẩn mãi cũng vài ba dáng điệu”

       Trong văn chương nghệ thuật ai chẳng muốn tạo cho mình dáng điệu/vẻ riêng và một khu vườn như thế cũng mong có “vai ba dáng điệu” là đã quý lắm rồi. Có điều dáng điệu ở đây phải được xây trên cái gốc cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật. Do thế cần phải luôn đổi mới để mới mẻ hấp dẫn trong mắt bạn đọc. Nhưng những tên tuổi thành danh của thơ Thanh Hóa thường chậm tự đổi mới mình. Thành ra đọc thơ cứ thấy như là các anh “mang lì chiếc áo độ thu tàn”. Không lạc mốt vải tốt song dầu sao cũng cũ rồi không dấu được vẻ nghèo nàn - cho là nghèo mà sang đi chăng nữa- của người “mặc” nó. Không phải các tác giả này không có ý thức đổi mới song đường ray truyền thống cứ kéo trôi đi chẳng thấy cải tạo thành đường hiện đại mét tư mét rưỡi gì cả. Hoặc nói khí không phải khi đọc thơ các anh tôi cứ nghĩ đến lời quảng cáo của các hãng mĩ phẩm “ Không có người phụ nữ không đẹp chỉ có người phụ nữ không biết làm đẹp mà thôi”. Bởi vì quả tôi không thấy các anh đổi mới hấp dẫn thật sự. Chỉ thấy các anh cũng biết “làm đẹp” thơ mình. Vẻ mặn mòi hấp dẫn vẫn phải tìm trong nét đẹp phảng phất ngày xưa mà thế hệ các anh lại chưa thể cho mình chưa thể xếp vào “ngày xưa được”. Đấy xin mời đọc những gì mới nhất ta vẫn sẽ gặp Văn Đắc ngoài say đắm thêm phần nghĩ ngợi kết luận cho “tỉnh táo” và tạo thêm chút ít vẻ “cổ trang”. Mạnh Lê trên nền cũ cảm xúc được diễn đạt bằng những câu thơ có luật bây giờ văn xuôi một tí. Nguyễn Ngọc Quế thì làm cho giọng kể gồ ghề xù xì hơn. Huy Trụ cố đảo đi đảo lại 14 chữ sáu tám để phát triển nhưng hình như không thể vượt lên trên những gì đã có. Vũ Thị Khương đâu rồi lâu rồi không thấy. Chắc có gặp cũng sẽ được nghe chị bày tỏ nỗi niềm giống trước.

       3- Từ sau 1975 đến nay vẫn chưa có thêm tác giả định hình mới

     Tính đến hồi cuối thế kỉ trước người làm thơ trong Hội Văn nghệ Thanh Hóa khá hùng hậu nhất là những năm còn bao cấp. Bây giờ nhiều người không viết nữa hoặc phiêu bạt nơi nào lòng chẳng bao giờ “bồi hồi cố quận”. Tôi xin xếp những Mai Hảo Ân Phạm Minh Dũng Nguyễn Thị Kim Quy Ngô Quang Huệ Trịnh Ngọc Dự Trịnh Minh Châu Lê Hai Hải Minh Bùi Nhị Lê Đinh Ngọc Diệp Đào Phụng Lã Hoan rồi Đỗ Trọng Thân...đều vào số này. Thôi xem như những người tuởng như có thể làm nên thế hệ mới của đội ngũ thơ Thanh Hóa nhưng họ đã đi qua.

       Nguyễn Minh Khiêm Lê Đăng Sơn Lâm Bằng Nguyễn Xuân Nha Phạm Khang sau thêm Cao Sơn Hải Nguyễn Trọng Liên Nguyễn Đình
ẤT người trước người sau có thể được xem là các cây bút chiếm mặt tiền trang thơ Xứ Thanh nhưng quả đến nay thời gian họ dạo gót vườn thơ đã quen mặt nhưng họ chưa(hay không thể) có người có dáng vẻ chủ nhân. Nhưng dẫu sao đây cũng là những tác giả thơ Xứ Thanh đích thực. Những người lạ mới đến : Trương Vạn Thành Thái Minh Đức Lê Ngọc Sáng Ngô Ngọc Tuấn Duy Dưỡng Thu Hường Phạm Hà May đều chưa mới đã cũ hoặc trong mới đầy cũ dù cho trong số họ có người hồn nhiên chân thành có người từng trải có người đâu đó bộc lộ chất thơ thật sự có người làm thơ bằng cách trang trí trí thức cho thơ.

      Những năm cuối thế kỉ XX về trước dù không xuất hiện như một tài năng năng khiếu nhưng các tác giả góp mặt trong vườn thơ đều có “phong vận thơ”. Bây giờ đầu thế kỉ này ngay cái chất đề pa ấy cũng đã biến mất. Phần thơ các tác giả Thanh Hóa mới trên tạp chí Xứ Thanh Thơ câu lạc bộ đã thay cho thơ tạp chí văn chương mất rồi. Thành thử nếu nhìn lại thơ Thanh Hóa trên đất Thanh Hóa lại chỉ “Quanh quẩn mãi cũng vài ba dáng điệu tới hay lui cũng chừng ấy mặt người” từ nửa sau chống Mĩ đến cuối 1999. Họ vẫn là chủ nhân chủ lực của thơ. Gắng gỏi mà đảm nhận lấy vai trò ấy.

     Thế nên tạp chí Xứ Thanh mới phải mời thêm nhiều gương mặt nơi khác - quen và lạ - đến để vườn thơ tỉnh ta mà tạp chí là địa điểm trung tâm giữ được “độ” tấp nập.

                                                              L.Đ.H

 

 

 

 

 

Đào Phan Toàn

Những bước chân
Tặng CCB Lê văn Cam

Anh trở về sau cuộc chiến tranh
Cánh rừng xa nhớ thương ở lại
Những Đồng đội Anh còn trẻ mãi
Tuổi hai mươi máu thắm sắc Cờ

Quân phục sờn ruộng rẫy nắng mưa
Gió chuyển mùa lại nhớ rừng da diết
Tuổi trẻ đi qua tháng ngày khốc liệt
Thương lứa tuổi xanh biền biệt ko về

Đồng đội yên nằm dưới ánh sao khuya
Lớp lớp thẳng hàng nghiêm trang đội ngũ
Người lạc rừng xa chưa về đông đủ
Xót lòng đau thao thức gió Đại ngàn

Khăn gói lên đường tìm lại những dấu chân
Người lính Quân bưu của Linh Hồn Đồng đội
Mỗi bước chân đi nghe trái tim thầm gọi
Đồng đội thân yêu! Đồng đội ở nơi nào...

Đào Phan Toàn

Chè xanh

Nước chè xanh

Anh mời tôi uống nước Chè xanh
Cồn cào nhớ đất Vĩnh linh ngày ấy
Máu loang đỏ thắm dòng Bến hải
Lòng kiên trung đất thép rạng ngời

Qua Vĩnh tân nghe tiếng Mẹ À ơi!
Thương lứa trẻ đêm hầm Vĩnh mốc
Những đứa trẻ ra đời không khóc
Nước mắt khô chảo lửa Quê mình

Bước chân trần trên cát Vĩnh giang
Vi vút gió rừng Phi lao đang hát
Có nụ cười líu lo trong ánh mắt
Mát trưa hè rười rượi nước chè xanh

Lớp Người sinh trong đất chiến tranh
Bên hầm chữ A trồng bông Vạn thọ
Địa đạo thẳm sâu lòng ta gọi nhớ
Vĩnh linh ơi! Đất lửa của một thời!

Đào Phan Toàn

THÁNG CHẠP
Tháng Chạp về đưa Ông Táo lên Trời
Gió bấc như roi quất tím ngồng hoa Cải
Ruộng nước mênh mang đang vào vụ cấy
Em lội dưới bùn nhánh mạ cũng run run

Cặp môi xinh lắp bắp với mưa phùn
Đôi mắt ánh lên như thay lời chào hỏi
Hình như rét cũng làm anh bối rối
Gặp dấu chân quen trên ruộng năm xưa

Hạt gạo quê nghèo năm nắng mười mưa
Bàn chân Mẹ lội qua mùa tháng Chạp
Miếng Sắn củ Khoai trong ngày giáp hạt
Bóng Mẹ tảo tần đi sớm về khuya...

Tháng Chạp này Mẹ ở tận nơi xa
Nén hương cháy không ấm lòng con trẻ
Cơn gió lạnh buốt tê người như xé
Nâng bát cơm lên thấy bóng Mẹ hiện về!

Đào Phan Toàn

TỜ LỊCH CUỐI CÙNG
Vương vấn trên tay tờ lịch cuối cùng
Bâng khuâng giã từ năm tháng cũ
Bầu bạn vong niên chưa lần hội ngộ
Câu thơ bên đời vàng mơ nắng Xuân

Xuân mặn mòi trong tấm áo tứ thân
Mắt lúng liếng trầu têm lời đón bạn
Bến sông Xuân vần thơ theo cánh Nhạn
Đếm tuổi mình bịn rịn những miền xa

Rượu xuân nồng Ta rót vợi lòng Ta­!
Người viễn xứ nhoà khói sương mờ ảo
Nợ Nhân gian quẩn quanh vòng cơm áo
Tình Tri âm bất Lão sóng Ba đào...

Những tơ lòng gửi gắm với Trăng sao
Chợt xốn xang mùa Xuân về trước cửa
Có nhành Xuân đang đến nơi Người ở
Tách Trà đêm! Nghi ngút nhớ...Miên man!

Đào Phan Toàn

ùng cao

NGỌN LỬA VÙNG CAO

Lạnh đầu đông Anh lại thương Em

Vùng cao ấy mấy mùa Em bám Bản

Rét tê lòng run run trang giáo án

Câu chữ lèo tèo trên rẫy trên nương

*

Trường của Em thung núi mù sương

Sớm sớm lạnh con chim rừng không hót

Qua đèo dốc em thấp cao tới lớp

Học trò phong phanh cơn gió ê a...

*

Đã mấy lần cây Phượng đỏ thay hoa

Bàn chân nhỏ quen rừng quen suối

Con chữ Em gieo cánh rừng thêm tuổi

Trăng hạ huyền đụn địn góc trời xanh

*

Đợt gió mùa đông bắc thổi chông chênh

Rung mái lá ngăn ngắt lòng Em nhớ!

Học trò Em quây quần nhen thành lửa

Hơi ấm nồng nàn tan giá lạnh Vùng Cao.

Đào Phan Toàn

THU ĐI...

Thế là Mùa thu đã bỏ Ta đi
Chiếc lá rơi không nói lời từ biệt
Bông Cúc nở tần ngần trong giá rét
Xám trời mây run rẩy tiếng tơ đồng

Những giọt buồn trên mái lá hư không
Vầng trăng lạnh nửa trời đêm thao thức
Hương hoa Sữa nồng nàn triền ký ức
Dọc con đường rích rắc ánh sao rơi...

Đã biết Mùa Thu khuất nẻo xa vời
Ngày tháng cũ heo gầy theo cơn gió
Vội vã mang đi lời nguyền dang dở
Đêm đầu đông lớ ngớ gió giao mùa

Một mình đêm nhấm nháp ngày xưa
Rượu đã cạn nhưng lòng thì cứ tỉnh
Bồng bềnh thu cuối Trời phiêu lãng
Áng Mây trôi chạng rạng thức hay Mơ...