Lý luận - Phê bình

Về bài thơ  Đò Lèn của Nguyễn Duy

(Bài thơ được chọn giảng trong chương trình THPT

                              SGK lớp 12 - NXBGD - 2005)

                                           HỎA DIỆU THÚY

      Phải công nhận rằng những nhà biên tập chương trình sách giáo khoa mới đã có “con mắt xanh” khi chọn bài thơ Đò Lèn để đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông. Thế là cùng với Cây tre Việt Nam Hơi ấm ổ rơm ánh trăng và bây giờ là Đò Lèn Nguyễn Duy đứng trong danh mục những tác giả có tác phẩm được chọn giảng nhiều nhất trong nhà trường. Vinh dự thay và cũng đáng tự hào thay!

Cũng như các bài thơ đã từng được chọn giảng Đò Lèn có khả năng lay động đánh thức tâm hồn mà đánh thức một cách thật ấm áp ngọt ngào thấm thía. Bài thơ mở đầu bằng những gì rất thật:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

Níu váy bà đi chợ Bình Lâm

Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thử hỏi có cô cậu học trò nào không thiện cảm với khổ thơ này. Những câu thơ đánh thức kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo hồn nhiên như cỏ cây giữa đất trời. Những cô cậu ở vùng thôn quê thì thích thú vì sự đồng điệu tâm đắc; những cô cậu ở thành phố không có dịp “trải nghiệm” thì thích thú vì… thèm(!). Có lẽ vì vậy mà những địa danh: Cống Na Bình Lâm chùa Trần đền Sòng… bỗng trở nên gần gũi nó gợi lên hình ảnh những vùng quê bình dị nghèo khó có thể bắt gặp ở bất cứ nơi đâu trên đất nước này.

Khổ thơ còn một hình ảnh đáng nói nữa một hình ảnh giàu sức gợi và thật xúc động hình ảnh “Níu váy bà đi chợ Bình Lâm”. Chữ “níu” thật hay hiện lên trước mắt người đọc cặp hình ảnh “bà - cháu” thật sống động: thằng cháu là tác giả khi ấy khoảng lên sáu lên bảy chứ mấy (nên tầm tay mới chỉ “níu váy bà”) lần đầu được bà cho đi chợ (nên nhớ mãi) đôi mắt trong veo ngơ ngác mải nhìn (vì thấy gì cũng lạ cũng hấp dẫn) nên cậu “níu” lấy váy bà để chân bước theo vừa khỏi sợ lạc. Bà ngoại của cậu đúng là hình ảnh người bà hiền từ và tảo tần trong các câu chuyện cổ từ hình ảnh bà với chiếc váy nâu mộc mạc đến tình yêu cháu vô bờ qua cái cách bà cưng chiều cháu. Đi chợ đối với người phụ nữ lao động xưa không phải để dạo chơi kể cả ngày tết họ cũng không có thói quen “chơi chợ”. Họ đi chợ để bán và mua bán những gì trồng được như mớ rau quả ổi vườn nhà và để mua những thứ vật dụng không thể làm ra: muối dầu diêm đèn v.v… Chợ ở nông thôn xưa cũng không họp dềnh dàng cả ngày cả buổi mà chỉ ào một lúc để rồi còn tranh thủ việc đồng áng ao bèo. Bận như thế vội như thế mà cái thằng cháu ngoại - thằng “cu Duy” ấy nó cứ quấn lấy chân lẵng nhẵng thế mà bà vẫn cho cháu đi cùng. Thật hạnh phúc cho những ai khi sinh ra có bà còn bà.

Khổ thơ thứ hai thêm một nốt nhấn trong chuỗi kỷ niệm tuổi thơ song nó còn một dụng ý khá mở ra một liên tưởng so sánh bất ngờ trong sự đối lập của thế giới thực và thế giới ảo:

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

Chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Thế giới thần tiên ấy có lẽ cũng hấp dẫn Nguyễn Duy chả kém gì chuyện được đi chợ cùng bà. Một đằng đưa cậu vào những trò mê li của thế giới thực một đằng tâm hồn cậu được lơ lửng trong thế giới ảo giác mơ hồ. Tất cả đều là những kỷ niệm đẹp khiến cậu nhớ mãi. Song dường như thẳm sâu trong tâm hồn Nguyễn Duy khi ấy cái thực vẫn có sức ám ảnh lớn hơn. Tình yêu bà thương bà khiến cậu nhớ như in hình ảnh bà lam lũ

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

Bà mò cua bắt tép ở Đồng Quan

Bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo Đồng Giao thập thững những đêm hàn.

Một lần nữa Nguyễn Duy làm nhói lên trong trái tim độc giả bằng những câu chữ sống động đến đáng sợ đáng phục: “thập thững những đêm hàn”. Hai chữ “thập thững” không chỉ gợi những bước chân mệt mỏi sau một ngày tất tả nó còn gợi hình ảnh con đường đầy sống trâu ổ gà nên chân bước đi không đều mà “thập thững”; chưa hết đêm tối rét mướt đường xa mắt mờ cũng tạo nên những bước “thập thững” của bà. Tôi cho rằng những từ như từ “níu” từ “thập thững” Nguyễn Duy đã không dùng bằng sự quan sát của thị giác thông thường mà bằng linh giác. Kỷ niệm tuổi thơ sống cùng bà ngoại được ôm ấp che chở trong tình yêu của bà đã cho thi sĩ phép màu của tâm hồn nhạy cảm biết rung động cảm thông biết chia sẻ thương yêu.

Đến đây câu chuyện về tuổi thơ về Đò Lèn quê ngoại đã trở thành câu chuyện về bà ngoại từ lúc nào. Hai khổ thơ 5 6 bất ngờ bởi hai cặp so sánh thú vị: Bà với tiên phật thánh thần và thế giới thực với thế giới ảo:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực

Giữa bà tôi và tiên phật thánh thần

Cái năm đói củ rong riềng luộc sượng

Cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm

Bom Mỹ dội nhà bà tôi bay mất

Đền Sòng bay bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với phật rủ nhau đi đâu hết

Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.

Tuổi thơ ai chả tin có bà tiên cô tiên Nguyễn Duy cũng thế có điều Nguyễn Duy yêu bà ngoại của mình chẳng kém gì yêu bà Tiên trong tưởng tượng. Thi sĩ đã ngầm khẳng định điều ấy trong cấu trúc so sánh bà với tiên phật thánh thần. Hơn thế tiên phật - thánh thần còn sợ bom đi lánh nạn chứ Bà của Nguyễn Duy mặc bom đạn dội xuống vẫn “đi bán trứng ở ga Lèn”!

ở góc nhìn kết cấu Đò Lèn có một cấu trúc khá thú vị; với hai từ mở đầu bài thơ “thuở nhỏ” cứ ngỡ với giọng kể này bài thơ sẽ cấu trúc theo trật tự tuyến tính. Giọng kể còn tiếp tục ở khổ hai và ở một số chi tiết khác nữa. Song khi đọc xong toàn bộ bài thơ thì thấy kết cấu đối mới là kết cấu chính của bài. Đây nhé đối về thời gian: “thuở nhỏ” với “bây giờ”; đối không gian “xưa” và “nay”; đối ở chính chủ thể trữ tình: “tôi thuở nhỏ” với “tôi đã lớn - đi lính”; đối trong cặp hình ảnh “bà - cháu” (già - trẻ); đối trong so sánh tương quan: “bom Mỹ dội” thánh với phật “rủ nhau đi đâu hết” còn bà thì vẫn “đi bán trứng ở ga Lèn” v.v… có thể thấy tầng lớp so sánh đối sánh trong kết cấu của bài Đò Lèn. Và từ trong những cấu trúc đối ấy người ta “ngộ” ra những điều thấm thía: Tình yêu quê hương bắt đầu từ tình yêu những kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo thần tiên tình yêu quê hương bắt đầu với tình yêu bà ngoại tình yêu quê hương gắn liền với ý thức biết ơn quá khứ cội nguồn…

Vì thế khổ thơ cuối như một vĩ thanh của sự ân hận sám hối chân thành:

Tôi đi lính… lâu không về quê ngoại

Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!…

Đã có ai đó nói rằng; một bài thơ hay có khả năng đánh thức và thanh lọc tâm hồn. Đò Lèn của Nguyễn Duy là minh chứng cho khả năng tuyệt diệu ấy của thi ca.

Với Đò Lèn thơ ca Việt Nam có thêm một biểu tượng nữa về hình tượng quê hương: Từ “bờ tre” “giếng nước” đến “chùm khế ngọt” và bây giờ là “bà ngoại”!

                                                                  Tháng 10/2006

                                                                        H.D.T