TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

Tìm hiểu hồn Việt trong

truyện nôm Phương Hoa

                                                Trọng Miễn

          Truyện Nôm Việt Nam phát triển mạnh nhất trong thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX. Truyện Nôm được phân làm hai loại: Truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học. Truyện Nôm bình dân là truyện Nôm khuyết danh truyện Nôm bác học là truyện Nôm có tên tác giả (1). Truyện Nôm bình dân lấy đề tài từ dân gian đặc biệt là từ truyện cổ tích. Truyện Nôm bác học lấy đề tài từ những tích truyện Trung Quốc.

Truyện Nôm bình dân đặt vấn đề bảo vệ tình nghĩa vợ chồng bảo vệ gia đình trong thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến. Bên cạnh vấn đề cơ bản đó truyện Nôm bình dân còn đề cập đến tình yêu tự do vượt ra ngoài khuôn khổ của lễ giáo phong kiến đề cao vai trò người phụ nữ đề cao lòng hiếu thảo của con cái đối với bố mẹ…

Về nghệ thuật truyện Nôm bình dân thường kết thúc có hậu tính cách nhân vật đơn giản một chiều. Ngôn ngữ mộc mạc có nhiều khẩu ngữ thành ngữ tục ngữ. Và dùng thể thơ lục bát thể thơ truyền thống của dân tộc làm phương tiện thể hiện.

Truyện Phương Hoa cũng nằm trong tiến trình chung của truyện Nôm bình dân Việt Nam. Bản Phương Hoa xưa nhất hiện còn đến nay là bản khuyết danh có 1.160 câu. Ngoài bản khuyết danh còn có Phương Hoa bị lục do Tường Bỉnh Nghĩa An đường soạn 1278 câu; Phương Hoa tối tân truyện do Dật Sơn Nguyễn Ngạc Trì soạn 1364 câu và Phương Hoa tân truyện do Nguyễn Cảnh soạn. Nguyễn Cảnh tên là Nguyễn Hữu Duyên (1819-1859) ở làng Đoán Quyết xã Thiệu Phúc Thiệu Hóa. Ông đỗ cử nhân năm 1850 nhưng không ra làm quan làm nghề dạy học. Lâu nay ở Thanh Hóa lưu hành rất nhiều bản Phương Hoa chép tay đều được coi là của Nguyễn Cảnh (2).

Trong quá trình lưu hành Phương Hoa được nhiều người nhuận sắc viết lại nên truyện Phương Hoa ngày càng hoàn chỉnh. Đúng như Nguyễn Lộc đã viết “… ở truyện Nôm bác học vấn đề nhuận sắc tuy có ảnh hưởng nhất định đến văn bản của tác phẩm nhưng nói chung văn bản của tác phẩm căn bản đã được hoàn chỉnh trước khi nhuận sắc còn ở truyện Nôm bình dân thì nhờ “nhuận sắc” tác phẩm mới hoàn chỉnh được” (3).

Phương Hoa con quan Ngự sử Trần Điện đã hứa hôn cùng Cảnh Yên con quan Thượng thư Trương Đài. Tào Trung úy một gian thần được vua tin dùng thấy Phương Hoa là người tài sắc bèn đến hỏi làm vợ. Bị Trần Điện từ chối hắn giả mạo chiếu chỉ nhà vua khép Trương Đài vào tội vong thần mại quốc giết ông rồi cướp hết tài sản. Hai anh em Cảnh Tĩnh Cảnh Yên đưa Trương phu nhân lên Thạch Thành lánh nạn. Được ít lâu vợ Cảnh Tĩnh sinh Tiểu Thanh rồi lâm bệnh chết. Mấy năm sau Trương phu nhân cùng con cháu về quê dò tin tức. Họ dừng nghỉ ở Lôi Dương. Tình cờ Phương Hoa gặp Tiểu Thanh rồi đưa về nhà nhận làm con nuôi nhờ đó nàng biết được tin tức và tình cảnh gia đình họ Trương. Qua Tiểu Thanh Phương Hoa làm mọi việc để giúp đỡ họ. Một hôm nàng hẹn Cảnh Yên vào canh ba đến gốc vườn đào đón nhận áo quần và tiền bạc Phương Hoa gửi cho chàng. Không ngờ tên gian Hồ Nghi biết chuyện lẻn tới chỗ hẹn giết Thị Liễu người tớ gái Phương Hoa để cướp của. Cảnh Yên đúng hẹn tới nơi vô tình giẫm phải xác người chết máu bắn vào người chàng. Trần Ngự Sử hay tin cho người truy tìm thủ phạm. Cảnh Yên bị tống giam chờ ngày xét xử. Quá đau buồn Trương phu nhân sinh bệnh rồi chết. Phương Hoa lo việc tang ma cho Trương phu nhân chu đáo. Sau đó nàng xin cha mẹ lên kinh bán hàng để kén chồng nhưng sự thực là tìm cách cứu Cảnh Yên. Được cha mẹ cho phép nàng lên kinh ngày đêm luyện văn chương. Tới kỳ thi Phương Hoa đội tên Cảnh Yên đi thi nàng đỗ tiến sĩ được vua cho vào chầu. Giữa sân rồng Phương Hoa bỏ hết áo mũ cân đai tâu với vua nỗi oan ức của gia đình họ Trương và của Cảnh Yên. Sau khi rõ chuyện vua truyền lệnh xét xử kẻ trọng tội minh oan cho người vô tội Tào Trung úy bị tru di tam tộc Hồ Nghi bị xử chém; gia đình họ Trương được minh oan Cảnh Yên được đặc cách đỗ tiến sĩ cùng khoa với Phương Hoa. Hai người thành vợ thành chồng cùng vinh quy bái tổ.

Về nghệ thuật kết cấu chặt chẽ hấp dẫn cốt truyện mạch lạc dễ kể dễ nhớ. Tính cách nhân vật đa dạng có chiều sâu; ngôn ngữ trau chuốt có hình ảnh. Chính vì vậy Phương Hoa của Nguyễn Cảnh là một bước phát triển mới so với những truyện Nôm bình dân khác.

Nội dung và nghệ thuật truyện Phương Hoa đã đạt đến đỉnh cao của truyện Nôm bình dân đồng thời lại đậm chất hồn Việt nên từ khi ra đời đến nay truyện Phương Hoa luôn luôn được nhiều người yêu thích mến mộ.

“Phương Hoa thể hiện cuộc đấu tranh giữa chính nghĩa và phi nghĩa dưới màu sắc một quan niệm có tính chất lý tưởng về bác ái công bằng của quần chúng nhân dân trong chế độ phong kiến. Nhưng nét đặc sắc của nó so với các truyện Nôm khác là quá trình chiến thắng của chính nghĩa hoàn toàn dựa vào trí thông minh và phẩm hạnh của một người con gái” (4). Quả như vậy trong cuốn “Phương Hoa - Truyện Nôm và thơ vịnh” (NXB Văn học Hà Nội 2003) chúng tôi đã viết: “Phương Hoa - người con gái tài đức vẹn toàn đã dùng trí thông minh lòng dũng cảm của mình chống lại cường quyền bạo lực vạch mặt bọn quan lại gian tà để giành lấy tình yêu hạnh phúc cho mình… Phương Hoa đã đặt một vấn đề rất mới khác hẳn các truyện Nôm khác đó là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa thiện và ác giữa chính và tà thắng lợi không tự nhiên mà có cũng không do lực lượng siêu nhiên nào đem đến mà chính những con người lương thiện chân chính phải tự tổ chức để có thắng lợi ấy”. (5)

Phương Hoa là truyện thơ Nôm dựa theo truyền thuyết dân gian có liên hệ với những di tích lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu đã viết như vậy kể cả chúng tôi song nghĩ kỹ thì thấy rằng Phương Hoa là truyện thơ Nôm dựa theo truyện cổ dân gian có liên hệ với những di tích văn hóa thì đúng hơn. Đền thờ Phương Hoa miếu thờ Cảnh Tĩnh bia hành trạng Tào Trung úy… là những di tích văn hóa hoàn toàn không phải di tích lịch sử.

Việt Nam là nước có nền văn minh lúa nước cho nên tín ngưỡng dân gian chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Những thần núi thần sông những gốc cây tảng đá bình vôi… đều có thể trở thành vật thiêng được nhân dân tôn sùng thờ cúng. Làng Quỳ Chử xã Hoằng Quỳ huyện Hoằng Hóa vừa khôi phục đền thờ thánh mẫu. Đền này trước đây làm bằng tranh tre nứa lá thờ cô Mè. Cô Mè là cô gái vị thành niên từ chối kết hôn cùng con trai người giàu có trong vùng. Cô thắt cổ trên cây đại trước tam quan chùa Hưng Viên (có người kể cô chết đuối ở ao Vườn Rặm). Trong đền có câu đối:

Nhất tự thập niên trung với hiếu

ức niên hương hỏa nữ nhi thần

(Một thuở thanh xuân trung với hiếu

Ngàn năm hương hỏa gái nên thần).

Từ một cô gái tự vẫn lấy trinh tiết làm hiếu trở thành thần rồi trở thành thánh mẫu! Như vậy tín ngưỡng dân gian không hề lệ thuộc vào “lý lịch” hoặc công trạng thực của những vị thần được thờ. Những di tích về truyện Phương Hoa cũng vậy đền thờ Phương Hoa ở xã Thiệu Minh (Thiệu Hóa) miếu thờ Cảnh Tĩnh ở xã Thành Trực- Thạch Thành bia Tào Trung úy ở Tào Xuyên Hoằng Lý Hoằng Hóa… đều được hình thành khi truyện cổ tích Phương Hoa đã được lưu hành rộng rãi trong nhân dân Thanh Hóa:

Thử xem truyện cũ xứ Thanh

Trương Trần cổ tích rành rành còn in.

Từ cổ tích từ huyền thoại nhân dân ta yêu quý Phương Hoa lập đền thờ nàng thích Cảnh Tĩnh lập đền thờ Cảnh Tĩnh ghét Tào Trung úy thì tạc bia chửi Tào Trung úy… Theo nhiều cụ cao niên vùng Hoằng Hóa trước đây làng Tào Xuyên xã Hoằng Lý Hoằng Hóa có tấm bia dựng ở đầu làng ghi hành trạng Tào Trung úy. Thơ vịnh Phương Hoa của Hội Tao đàn Qùy Chử có bài “Vịnh bia Tào tặc” rằng:

Bia đá khắc gì mảnh đá đen

Bia Tào Trung úy mỏi mòn tên

Bia danh bia tiếng bia hành trạng

Danh giả tiếng gian cấp úy quèn

Tên giặc Tào Trung tên khát máu

Mặt người dạ thú đứa cuồng điên

Khen ai khéo dựng ô bia nhỉ

Để tiếng Tào man khỏi thất truyền.

Những con người những sự việc trong truyện Phương Hoa cùng những đền miếu thờ Phương Hoa thờ Cảnh Tĩnh đã in đậm trong lòng nhân dân Thanh Hóa qua các thế hệ. Họ tự hào về Phương Hoa coi Phương Hoa như người có thật. Thậm chí dựng cả bia về Phương Hoa (6). Điều đó đã góp phần lý giải vì sao truyện Phương Hoa được nhiều người yêu thích mến mộ.

Hồn Việt trong tác phẩm Phương Hoa còn thể hiện ở lý tưởng về sự bình đẳng.

Từ xưa nhân dân ta đã có câu: “Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn”. Muốn “Thuận vợ thuận chồng” thì vợ chồng phải tôn trọng lẫn nhau phải bình đẳng với nhau. ở một đất nước mà lễ giáo lúc nào cũng bắt người con gái phải giữ đạo “tam tòng” “tứ đức” thì làm sao có được thuận vợ thuận chồng. Mặc dù bị đô hộ hàng năm nhưng người phụ nữ Việt Nam luôn luôn có ý thức vượt ra ngoài sự cương tỏa của lễ giáo phong kiến. Họ muốn được gánh vác san sẻ công việc xã hội công việc gia đình cùng với người chồng cùng với nam giới.

Ngay từ những thế kỷ sau công nguyên năm 43 và năm 248 hai Bà Trưng Bà Triệu đã phất cờ khởi nghĩa chống lại giặc phương Bắc xâm lược. Rồi sau đó suốt cả chiều dài lịch sử dân tộc thời nào phụ nữ cũng có đóng góp tài năng trí tuệ và công sức của mình cho đất nước. Các triều đại phong kiến Việt Nam cấm con gái không được đi thi đó là một thiệt thòi rất lớn đối với họ đối với đất nước. Họ không được đi thi là do luật lệ của triều đình chứ tài năng thì họ có kém ai. Hồ Xuân Hương đã viết:

Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?

Không được đi thi nghĩa là không được vinh quy bái tổ với nghi thức long trọng do vua ban. Bằng hình thức văn học Phương Hoa đã đỗ tiến sĩ nàng vinh quy bái tổ cùng chồng “Một khoa tiến sĩ cả chàng lẫn cô”. Người Quỳ Chử đã có một bài thơ vịnh về sự việc này hết sức tự hào:

Nghiên bút từ xưa thẹn má hồng

Mà nay ngõ hạnh đón nàng Phương (7)

Mắt rồng ngơ ngác nhìn nghè gái

Miệng ngọc đăm chiêu kể nỗi chàng

Cô chú hoa quan mừng chấp chới

Tào Nghi trảm quyết thét rầm vang

Một keo thắng bại thành gương truyện

Một tấm ô bia một bảng vàng.

Nhân dân ta đã tạo nên một Phương Hoa đẹp người đẹp nết thông minh hiếu thảo. Con người ấy phải chiến thắng mọi khó khăn trở ngại. Con người ấy phải được hưởng hạnh phúc. Đó là ước mơ cháy bỏng của nhân dân ta trong chế độ phong kiến trước đây. Việt Nam đã có Bà Trưng Bà Triệu có tài cầm quân đánh giặc Việt Nam cũng phải có người phụ nữ học rộng tài cao đỗ đạt khoa danh ngang hàng với nam giới xứng đáng với họ. Dĩ nhiên trong xã hội phong kiến “trọng nam khinh nữ” thì đó chỉ là khát vọng là lý tưởng phấn đấu. Điều đáng chú ý là khát vọng là lý tưởng ấy của nhân dân ta lại được tập trung vào Phương Hoa - nhân vật trung tâm của một trong những truyện Nôm bình dân tiêu biểu trong thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam. Điều này thể hiện “… nhân vật chính của truyện Nôm là sự hòa hợp giữa lý tưởng của người nông dân lao động với lý tưởng xã hội của người trí thức phong kiến tiến bộ đương thời” (8).

Hồn Việt trong tác phẩm Phương Hoa thể hiện ở cả tâm lý do dựng vợ gả chồng cho con cái. Người Việt Nam có câu: “Bố chết không lo bằng có con gái to trong nhà”. Nhiều khi con gái chưa qua tuổi vị thành niên bố mẹ đã phải lo tìm chồng cho con. Những gia đình có con trai thì:

Ông xem định liệu thế nào

Mình thì một tuổi một cao một già

Có năm có bảy chi mà

Cho con yên cửa yên nhà kẻo khi…

Hỏi vợ cho con trai gả chồng cho con gái luôn là nỗi lo của các bậc cha mẹ. Trong Phương Hoa việc tìm vợ gả chồng cho con cái lại là nguyên cớ của một thiên tình sử hấp dẫn giữa Phương Hoa và Cảnh Yên. Quá trình diễn biến câu truyện là quá trình bộc lộ tư chất thông minh và phẩm hạnh của người con gái tài sắc Phương Hoa. Mở đầu nguyên cớ này là sự hứa hôn giữa Phương Hoa và Cảnh Yên - con hai ông quan cùng triều cùng hồi lưu bạn tâm giao của nhau bị Tào Trung úy chen vào oan khốc xảy ra… rồi sự việc và con người cứ dồn dập hiện lên lôi cuốn hấp dẫn như truyện cổ tích. Truyện Nôm Phương Hoa lấy đề tài từ truyện cổ Phương Hoa nhưng thời gian lưu truyền của truyện cổ Phương Hoa quá ngắn nên khi có truyện Nôm Phương Hoa người ta quên dần truyện cổ Phương Hoa (9).

Hồn Việt trong truyện Phương Hoa còn thể hiện trong việc sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ lục bát truyền thống dân tộc. Ngoài đặc trưng trữ tình thể lục bát còn có đặc trưng tự sự có thể đáp ứng được yêu cầu của thể loại diễn ca và truyện thơ. Đặc biệt thể lục bát rất thích hợp cho việc diễn ca và kể chuyện. Vì dung lượng của nó vừa hữu hạn vừa vô hạn. Hữu hạn trong hai câu gồm mười bốn từ vừa đủ diễn đạt một ý cô đọng nào đó. Ví dụ:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước thì thương nhau cùng

Nhưng lại cũng vừa vô hạn vì có thể kể một truyện dài như Truyện Kiều. Tính chất vừa hữu hạn vừa vô hạn của thể lục bát rất thích hợp với việc ghi chép sự kiện mô tả tình ý (10). Truyện thơ Nôm bình dân ở thế kỷ XVIII XIX hầu như đã hoàn toàn dùng thể thơ lục bát làm phương tiện biểu hiện nhưng có thể nói không có một tác phẩm nào sử dụng thể thơ lục bát nhuần nhuyễn như Phương Hoa của Nguyễn Cảnh. đặc biệt Nguyễn Cảnh cũng sử dụng thành công ngôn ngữ địa phương trong tác phẩm. Truyện Phương Hoa có xuất xứ từ Thanh Hóa Nguyễn Cảnh là người Thanh Hóa vì vậy tìm hiểu ngôn ngữ địa phương trong truyện Phương Hoa chỉ làm tăng giá trị của truyện Phương Hoa chứ không hề thu hẹp nội dung và giá trị tác phẩm như có người đã nói. Nguyễn Cảnh dùng không nhiều ngôn ngữ địa phương nhưng khi ông đã dùng thì người đọc cảm thấy không có từ nào khác thay thế được từ ông đã dùng. Ví dụ:

- Khi nên xa cũng như gần

ở đây với dưới huyện Thuần mấy ngay (mấy ngày)

- Chẳng thà liều một tay đao

Mà xem mặt mũi thằng nào ra răng (ra sao)

Thoắt thôi lập tập những thằng

- Vì đâu nên nỗi nước này

Thân danh há dễ một ngày chi mô (gì đâu)

Sa cơ lỡ bước giang hồ

- Ba sinh âu cũng sự trời

Thương ông mà lại ngẫm lời đến ni (đến nay)

Biết trăm năm có chuyện chi (chuyện gì)

Cháu về cháu khẽ thầm thì thử coi…

Quả Nguyễn Cảnh là người thợ ngôn ngữ tài hoa làm cho truyện Phương Hoa vừa có tính toàn quốc vừa có tính địa phương Thanh Hóa rõ nét mà vẫn say mê lòng người nhiều thế hệ.

Trước Nguyễn Cảnh Nguyễn Du cũng đã sử dụng ngôn ngữ địa phương trong Truyện Kiều rất thành công. Vùng Nghệ Tĩnh thường dùng từ “nghỉ” để chỉ nó hắn ông ấy anh ta… tùy theo văn cảnh. Câu 894 và câu 1188 trong Truyện Kiều từ nghỉ là đại từ chỉ Mã Giám Sinh và Sở Khanh. Nhưng từ này có ý nghĩa khinh bỉ (11) vì nghỉ trong trường hợp này là nó:

- Vài tuần chưa cạn chén khuyên

Mé ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe (câu 894)

- Phụ tình án đã rõ ràng

Dơ tuồng nghỉ mới kiếm đường tháo lui (câu 1188)

Nguyễn Cảnh sinh sau Nguyễn Du hơn năm mươi năm quá trình nhuận sắc hoặc viết lại truyện Phương Hoa Nguyễn Cảnh ảnh hưởng rất lớn Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đây là tâm trạng Phương Hoa khi biết tình cảnh gia đình họ Trương sau cơn tai biến:

Bàng hoàng cơn tỉnh cơn mơ

Thơ ngừng bút thảo rượu ngơ chén mời

Thẩn thơ khi đứng khi ngồi

Đàn đưa nhịp lỗi cờ dời nước cao.

Và:

Buồn trông non nọ xa xa

Cây xanh rợp lá biết là nơi nao

Buồn trông đêm vắng trời cao

Nhìn trăng trăng xế nhìn sao sao dời

Buồn trông đáy thẳm sông dài

Nước ngâm trong vắt bớn dời lan man…

Còn đây là tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích:

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu…

Đấy là tâm trạng đồng cảm tâm hồn đồng điệu của hai người con gái tài sắc sống gần như cùng thời bị xã hội phong kiến chà đạp dập vùi. Ngoài đoạn vừa dẫn Nguyễn Cảnh còn học cách viết của Truyện Kiều ở một số đoạn khác. Viết về hình ảnh “ác đã ngậm gương non đoài” (mặt trời đã xế xuống núi bị ngọn núi che lấp nửa vành xem như núi đã ngậm mất nửa gương mặt trời) để nói về ngày ngắn tình dài khi bố mẹ và hai em đi vắng Thúy Kiều tìm gặp Kim Trọng Nguyễn Du viết:

Ngày vui ngắn chẳng đầy gang

Trông ra ác đã ngậm gương non đoài

Cũng dùng hình ảnh ấy để nói về gia đình Cảnh Yên thăm mộ Thị Trinh trước khi trở về quê quán Nguyễn Cảnh viết:

Tình riêng càng kể càng dài

Trông ra ác đã non đoài ngậm gương

ở một chỗ khác Nguyễn Du dùng hình ảnh “Trải bao thỏ lặn ác tà” (mặt trăng lặn mặt trời xế hình tượng chỉ ngày tháng trôi qua) để nói về sự hoang vắng của mộ Đạm Tiên;

Trải bao thỏ lặn ác tà

ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm

Nguyễn Cảnh trong Phương Hoa cũng dùng hình ảnh ấy để nói về sự hoang tàn lạnh lẽo của gia đình Trương Công sau khi bị oan khốc:

Đã bao thỏ lặn ác tà

Nhà thì lạnh ngắt người đà vắng không

Và khi nói về sự ô nhục của Thúy Kiều phải qua hết lầu xanh nọ tới lầu xanh kia Nguyễn Du kêu lên đau đớn:

Hồng quân với khách hồng quần

Đã xoay đến thế còn vần chưa tha

Trời đất tạo hóa đối với người phụ nữ tài sắc như Thúy Kiều sao mà khắc nghiệt đến vậy. Trong Phương Hoa Nguyễn Cảnh cũng đã phải thốt lên khi những tai ương luôn luôn đè nặng lên gia đình Cảnh Yên:

Ngán thay cho khách hồng quần

Đã xoay đến thế còn vần đến đâu

Rõ ràng Nguyễn Cảnh ảnh hưởng rất lớn Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng tất cả đều hợp cảnh hợp tình mạch văn xuôi chảy không gò ép khiên cưỡng. Đúng như nhà thơ Mai Ngọc Thanh nhận xét: “Nguyễn Cảnh đã tiếp nhận cái tinh hoa của ngôn ngữ Kiều ấy vào những cảnh ngộ những nỗi niềm tâm trạng của nhân vật trong Phương Hoa rất linh diệu phù hợp không chút nào gò gẫm gượng ép không phải một sự vay mượn thô lậu” (Mai Ngọc Thanh. Đọc truyện Phương Hoa Báo Văn hóa Thông tin Thanh Hóa số 26 ngày 8/7/2004).

Nguyễn Cảnh không chỉ học tập Nguyễn Du ông cũng vận dụng văn học dân gian rất thành công:

- Thưa rằng phận gái hạt mưa

Biết đâu ấm lạnh mà đưa mình vào

- Tai nghe ruột đã tím sao

Đưa trâu ông cũng qua rào cho xong

- Ba sinh tính đã vuông tròn

Bỗng đâu chớp bể mưa nguồn xui nên

- Chẳng còn trẻ dại ngây thơ

Khôn ba năm dại một giờ đó thôi…

Đặc biệt Nguyễn Cảnh cũng mạnh dạn dùng từ rất mới lạ chẳng hạn:

Lửa tương tư dập càng bùng

Liễu phai sắc thắm mai nồng nã son

Nhận xét về cách dùng chữ mới lạ này của Nguyễn Cảnh nhà thơ Mai Ngọc Thanh viết: “Từ nồng nã đầy sắc thái tu từ biểu cảm. Tôi chỉ thường gặp các từ nồng nàn nồng thắm nồng hậu… mà thôi. Và nếu so sánh hai câu này với …mai ròng màu son (trong bản do PGS Vũ Ngọc Khánh công bố năm 1978) thì mới thấy cái nhóm từ ròng màu son thật là sáo vô hồn!” Cuối bài viết nhà thơ Mai Ngọc Thanh nói thêm: “Tôi hiểu từ nồng nã như đã lý giải. Mâu thuẫn trong tâm trạng Phương Hoa liễu thì phai mà mai thì lại nồng nã (nã chỉ là từ láy của nồng) (Mai Ngọc Thanh Đọc truyện Phương Hoa báo đd).

*

Phương Hoa là truyện Nôm nhiều tâm trạng lại đậm chất hồn Việt nên từ khi ra đời đến nay luôn được nhiều người nhiều thế hệ yêu thích mến mộ. Nếu “Văn học Việt Nam lôi cuốn chúng ta bởi vì nó là nền văn học của những tâm trạng” (12) thì truyện Phương Hoa của Nguyễn Cảnh là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học đó.

T.M

(1) Việc phân loại này chưa thật khoa học; xem Văn học Việt Nam nửa cuối thể kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX tập II của Nguyễn Lộc - NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội 1978.

(2) Bản Ninh Viết Giao Lê Hoài Nam công bố 1964 dài 1674 câu. Bản ông Vũ Ngọc Khánh công bố 1978 dài 1786 câu (chứ không phải 1790 câu). Bản chúng tôi công bố 2003 dài 1736 câu.

(3) Xem Nguyễn Lộc sđd trang 284.

(4) Nguyễn Phương Chi Từ điển Văn học tập II NXB khoa xã hội Hà Nội 1984 trang 231.

(5) Trọng Miễn sđd trang 14.

(6) (9) Trọng Miễn bia tiến sĩ “Nàng dâu khóc mẹ chồng” dựng thời nào Tạp chí Xứ Thanh số 8-2006.

(7) Ngõ hạnh: Chỉ vườn Ngự uyển vườn hoa của nhà vua. Những người đỗ từ tiến sĩ trở lên đều được nhà vua cho vào xem vườn Ngự uyển

(8) Đặng Thanh Lê Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm NXB khoa học xã hội Hà Nội 1979 trang 80.

(10)Xem Thi ca Việt Nam (Hình thức và thể loại) Bùi Văn Nguyên- Hà Minh Đức NXB KHXH 1971.

(11) Xem Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1974 trang 281.

(12) Phan Ngọc Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1985 trang 1972.