TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

Đào Phụng và Cõi ta

Lã Hoan

      Khi cầm trên tay tập thơ “Cõi ta” của Đào Phụng tôi chợt nhớ đến tiểu thuyết Cõi người của nhà văn Từ Nguyên Tĩnh tập thơ Cõi nhớ của Mạnh Lê và tôi dự cảm được tiếp cận với nhiều nỗi vui buồn trong cõi nhân sinh.

Quả vậy. Đào Phụng rất ít khi khai thác cảm xúc và lập tứ thơ trực tiếp từ cá nhân nhà thơ (Chủ thể sáng tạo). Anh ít sử dụng đại từ “Tôi” hoặc “Ta” mà thường mượn người mượn cảnh để phát biểu thái độ và quan niệm sống của mình. Trong 49 bài thơ của tập “Cõi ta” thì đã có đến 40 bài Đào Phụng sử dụng phương pháp ấy và hầu hết là thành công. Anh mượn việc vua đi cày ruộng mượn tính cách phớt đời ngất ngưởng của Bờm chuyện người già chuyện của người về hưu chuyện chị chuyện mẹ chuyện Thần Nông bạn bè… để gửi gắm. Người đọc tinh ý còn cảm thấy hình như đối với mỗi người mỗi cảnh mỗi việc nào đấy tác giả đã phải lật trái lật phải nâng lên đặt xuống cân nhắc chán chê xem phải diễn đạt cách nào nói điều gì liều lượng thế nào… Rồi mới đặt bút viết. Lấy bài “Cổ tích về một ông vua” in ở đầu tập thơ “Cõi ta” làm ví dụ. Để nói được về một đấng minh quân Đào Phụng chọn hành vi vua đi cày và mượn lời bà kể. Đã là lời bà kể thì phải dung dị mộc mạc dễ tin. Chuyện của bà thực và chi tiết đến mức không cần biết danh tính ông vua người nghe vẫn tin là thật:

áo bào vắt vẻo ngang vai

Tay ông cộm những nốt chai thường ngày

Đến đó chỉ chờ có thế cái Tôi trữ tình của nhà thơ mới lặng lẽ hiện ra. Ta như thấy ánh mắt sáng lấp láy và nụ cười mỉm rất hóm hỉnh của Đào Phụng thấp thoáng phía sau hai câu thơ cuối cùng:

Giọng bà sau trước bâng khuâng

Nghe như bà đã một lần gặp vua

Như vậy chỉ với 8 câu thơ lục bát Đào Phụng đã cho người đọc cùng một lúc tiếp cận ba nhân vật: ông vua người bà và nhà thơ với những nét chân thực sống động ý tưởng của bài thơ vì thế cũng thật sáng rõ.

Lang thang trong “Cõi ta” của Đào Phụng tôi như lữ khách dừng lại ngẫu nhiên ở bài thơ “Miền Trung” bất ngờ nhận thấy đây quả là bài thơ hay toàn vẹn. Bài thơ tuy không trực tiếp diễn tả tâm trạng hay cảm xúc của tác giả. Nhưng chỉ với 10 câu lục bát người đọc xem một bức tranh toàn cảnh về miền Trung dằng dặc với đủ cả núi sông trời biển nắng gió ruộng đồng làng xóm và sau hết là con người. Chỉ duy nhất một lần ở câu thứ 7 của bài thơ tác giả sử dụng hình dung từ “thủy chung” còn tất cả đều được đặc tả cứ như những nét chạm khắc trên đá núi thì “tràn ra bể” mà vẫn “không nguội trời”. Đất thì “vẹt” đi mà dòng sông thì “co lại”. Cát thì “cháy ong ong” đến nỗi “môi cười rộp lên”. Tất cả tạo nên một bức tranh khô chết. Đâu có từ “cháy” mà sao vẫn cứ lạnh lẽo dẫu có “mẹ” và “em” cặm cụi cấy trồng trên cát bỏng mà sao vẫn thấy hoang lạnh trống vắng! Và thật bất ngờ cứ như từ một nơi nào đó chìm khuất ở chân trời cát cháy chợt cất lên:

Tiếng gà gáy tỉa sáng xanh khoảng trời

Cùng với “Tiếng gà gáy tỉa” cả bức tranh “Miền Trung” chợt bừng sáng ấm áp trong màu xanh cuối cùng cũng đồng thời làm bừng sáng ý tưởng bài thơ. Có bạn đọc hỏi: Câu thơ “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” trong bài thơ “Một cuộc hành quân” của nhà thơ Khương Hữu Dụng có ảnh hưởng gì đến câu của Đào Phụng? Tôi tự tin trả lời: Không! Tôi cho rằng câu thơ ấy là một sáng tạo độc đáo của Đào Phụng và đặc biệt thích chữ “gáy tỉa”. Chỉ một chữ ấy thôi đủ gợi một sức sống mãnh liệt tuy mới le lói nhưng đủ cứng cáp khỏe mạnh!

Đào Phụng ít có thơ tình yêu. ở tập “Cõi ta” này cũng thế. Nếu tính một cách máy móc cũng chỉ có 7 bài. Trong 7 bài thơ tình thì đã có quá nửa số bài nói về tình yêu của người chị một “Vọng phu làng”. Dẫu ít nhưng đọc thơ tình của Phụng ta biết anh thật lòng nâng niu chiu chắt và dành cho thứ tình cảm ấy những câu thơ đầy gợi cảm. Nói về nỗi cô đơn trong chờ đợi anh viết;

Canh khuya nghe lá rụng buồn

Chị ôm hai gối đêm còn chông chênh

(Chị tôi)

Cũng người chị ấy đã mang “một cuộc chiến tranh âm thầm” đến tận ngày “Lá bàng rụng đỏ bước chân về già”. Biết mình đang mang một niềm tin vô vọng chị vẫn:

Tránh xa nơi hỏi thăm chồng

Sợ tan sắt đá đêm đông rét về.

Còn đây là tâm trạng của hai “người xưa” trong ngày gặp lại: Mắt nhìn xây xước mây trôi /Bàn tay cầm lại mà người không nhau (Về quê). Đây nữa là tâm trạng nuối tiếc rất con người rất thi sỹ và cũng rất Đào Phụng: Vội vàng em đi lấy chồng/ Xe hoa lăn buốt thủy chung một người. Đến nỗi khi người ta đã cùng chồng bay sang tận trời Tây trời Tầu thi sỹ vẫn còn ngẩn ngơ: Cách trời tận đẩu tận đâu/ Sao còn thầm nhắc em lâu không về (Bây giờ..).

Vẫn bạn đọc yêu thơ Đào Phụng tôi đã nhắc tới ở phần trên tâm sự: Đọc thơ tình yêu của anh Phụng sao cứ thấy day dứt lạ lùng. Tôi hoàn toàn cảm thông chia sẻ với bạn. Chỉ nói mấy câu vừa trích người viết bài này cũng đã thấy day dứt có nhiều chuyện thế thái nhân tình phải suy ngẫm nữa là!

Là người cầm bút hẳn ai cũng biết câu châm ngôn: “Văn hay chẳng lọ vắn dài” và “Quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Hơn ba mươi năm bầu bạn tôi luôn quý trọng sự chỉn chu mực thước trong thơ Đào Phụng nhưng vẫn ước ao ở anh những bài thơ dạt dào cảm xúc hơn là quá kỳ khu trong cấu tứ sự tròn trịa của bố cục - Trộm nghĩ đôi khi vì quá câu nệ vào sự hoàn thiện vô tình nhà thơ đã làm hại thơ như chú ngựa ô bị ràng buộc bởi quá lắm yên cương thì làm sao có được những bước tung vó xuất thần? Xin lấy bài thơ “Về hưu” làm ví dụ. Đó là bài thơ hay. Kết hợp với sự liên tưởng ở người đọc những câu thơ về sự gợi mở nhiều điều nếu không có 3 câu kết: Về hưu bưởi cũng như bòng/ Vàng thơm mới biết ruột trong vỏ ngoài. Nó giống như cánh cổng chặn mất sức gợi mở của bài thơ và dòng liên tưởng của người đọc. Hoặc như trường hợp bài “Bây giờ…”. Bài thơ sẽ hay hơn nhiều nếu bỏ đi hai câu mở đầu: Thực lòng cái muốn quên đi/ Trái tim lại nhớ đêm về lại mong. Hai câu ấy đã nói hết những điều anh diễn tả ở phần sau tức là làm “lộ thiên cơ” rồi còn đâu!

Ước là ước vậy mà đó cũng chỉ là cảm thức cá nhân có thể chưa thấu hết ý đồ sáng tạo của tác giả. Mà thấu hết làm sao được khi đọc ngày tháng sáng tác ghi ở cuối mỗi bài thơ trong tập “Cõi ta” thấy càng ngày thơ Đào Phụng càng hay. Vậy thì trong cõi thăm thẳm vô cùng ấy sẽ còn hứa hẹn khá nhiều điều để ta đọc và suy ngẫm.

Thanh Hóa 15/4/2007

L.H