Truyện ngắn dự thi

 
 
 


Phạm Văn Liệu



Mùa dừa bánh tẻ


Truyện ngắn dự thi

 
       - Con có cái này làm quà cho mẹ đây!
Nguyệt hạ cái túi xách xuống bàn cô vạch khóa lấy ra tập sách! Chị Thắm mắng yêu con:
- Cái con này phụ nữ nhà quê như mẹ lúc nào mà đọc sách! - Chị tò mò - Mà sách gì vậy con.
- Đây là tập bút ký có tựa đề “Nghi Sơn ngày nay Bãi Ngọc ngày xưa”. Sách viết về đơn vị thanh niên xung phong 117. Tác giả mô tả cô cán bộ thống kê của đơn vị với một tình cảm đặc biệt. Thế nào mẹ đã thích chưa?
Mặt Thắm nóng bừng:
- Ai biết chuyện của mẹ ngày ấy mà viết thế?
Nguyệt lật bìa hai tập sách:
- Đây là mấy dòng tóm tắt lí lịch tác giả con đọc cho mẹ nghe: Lê Vũ - tên thật Lê Nguyệt Minh sinh năm 1944 tại Hà Nội đã từng là sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã tu nghiệp tại nước ngoài hiện nay là thạc sĩ văn chương cán bộ giảng dạy trường đại học. Có cả ảnh tác giả đấy mẹ!
Nguyệt chỉ vào chỗ tấm ảnh chân dung của tác giả.
Chị Thắm như bị tấm ảnh thôi miên. Chị không tin vào mắt mình “chả lẽ là người này” Mặt chị biến sắc người rã ra. Thấy vậy. Nguyệt lo lắng đặt tay lên trán mẹ:
- Mẹ! Mẹ làm sao thế này?
Chị cố gượng:
- Mẹ có làm sao đâu
- Không phải mẹ ốm rồi để con...
Chị gắt con:
- Đã bảo mẹ không sao mà!
Mười bảy tuổi Thắm đi thanh niên xung phong sau đó chuyển về cơ quan huyện làm văn phòng. Thắm kết hôn với Đàm một bộ đội phục viên người cùng làng.
Mẹ Đàm mất sớm anh phải ở với gì ghẻ. Bố Đàm bất lực trong công việc điều hành gia đình. Cô em gái cùng cha khác mẹ ốm o nhõng nhẽo đành hanh. Công việc lớn nhỏ trong nhà dồn vào vai Đàm mà tình yêu thương anh nhận được lại quá ít ỏi. Chính vì vậy nên Đàm sớm có tình cảm sâu sắc với những người nghèo khó cô đơn. Chỉ vì lực học mới qua lớp bốn nên bị gạch tên khỏi danh sách đi học sĩ quan anh phục viên với cấp bậc thượng sĩ.
Về hôm trước hôm sau anh đã chạy thăm hỏi khắp các gia đình trong nhà. Nhà ai đứt bữa nhà ai mái dột cột xiêu lui tới giúp đỡ. Không phải vì cương vị bí thư chi bộ mà ở con người anh tinh thần trách nhiệm với cộng đồng rất cao cũng một phần được rèn luyện trong ba năm quân ngũ.
Mẹ Thắm ở một mình mà nhà lại nghèo nên Đàm thường xuyên qua lại thăm hỏi. Có lần bà bị sốt rất cao Đàm chạy đi lấy lá hương nhu lá sả vào bếp nấu nồi trước cho bà xông đuổi cảm. Thấy bà ho nhiều anh lên tận hiệu thuốc Đông Y huyện cân cho bà mấy thang thuốc. Đêm hôm mưa gió anh chạy đến đắp lại chỗ mái nhà bị dột cài lại cái rèm che gió...
Đàm thì vô tư. Đối với thắm Đàm cũng chả quen biết gì nhiều. Tiếng là cùng làng nhưng Thắm hơn Đàm đến ba tuổi. Ngày Thắm đi thanh niên xung phong thì Đàm chưa biết gì anh đi bộ đội về thì Thắm lại đi “thoát ly”.
Hôm Đàm vác cuốc đi đắp mương trông thấy một cô gái đang cố nhảy lên ý chừng để vít cành bưởi xuống hái lá. Cành bưởi thì cao cô gái nhảy nhiều lần vẫn không với được. Tóc cô xõa ra che kín cả mặt đến nỗi Đàm đến bên cô vẫn không biết.
- Để tôi hái giúp!
Đàm thoăn thoắt trèo lên cây bưởi hái lá tung xuống cho cô gái làm cho cả những chùm hoa bưởi mỏng tang trắng muốt rắc xuống đậu đầy mái tóc đen nhánh của cô.
- Cám ơn anh!
Cô vén mái tóc ngẩng nhìn anh cái miệng rộng khi cười khuôn mặt người con trai tươi tắn lạ! Anh cao to vai rộng ngực nở bắp thịt nổi cuồn cuộn trông như một vận động viên thể hình.
- Kìa tay anh chảy máu rồi!
Cô gái hốt hoảng. Đàm dấu tay mình ra sau lưng thản nhiên:
- Sớt tí da thôi mà!
-    Không ! Anh phải vào nhà tôi xoa thuốc kẻo bị nhiễm trùng!
Cô gái thu vén nắm lá bưởi đi trước. Đàm lưỡng lự đi theo cô.
Cô gái nhẹ nhàng xoa thuốc đỏ tươi rồi quấn những vòng vải băng trắng tinh quanh tay anh. Nhìn thấy bàn tay nhỏ nhắn nuột nà của cô gái Đàm ngượng ngùng rút vội bàn tay thô nhám của mình về.
Bà cụ trong bếp đi ra:
- Kìa anh Đàm anh đau tay à?
- Dạ vâng thế đây là...?
- ừ đây là Thắm con gái tôi hôm nay nó về nghỉ...
- Thế ạ... à cháu... cháu bỏ quên cái cuốc ngoài kia... cháu...
Từ đó chủ nhật Thắm về Đàm lại đem nắm lá bưởi sang cho cô nấu nước gội đầu. Có hôm Đàm đem vài cái đinh con đóng lại cái quai guốc bị bong cho Thắm (Dạo ấy nữ công chức thường đi guốc cao gót). Có hôm Đàm ôm cả đống sổ sách sang nhà Thắm hai người cộng cộng trừ trừ đến khuya... Thắm biết Đàm yêu mình.
- Ai chứ cái nhà anh Đàm mẹ cho là tốt nhất! Mà cái số long đong vậy cũng phải tìm người thật thà yêu thương mình mà nhờ con ạ - Mẹ Thắm nhẹ nhàng khuyên nhủ con.
Vì hoàn cảnh nhà Thắm neo người nên Đàm tự nguyện đến ở rể.
Cứ chiều thứ bảy là Đàm bất kể thời tiết đạp xe lên tận cổng huyện đón đợi đưa Thắm về. Cá dưới ao đã vào nơm bắt lên thấy to quá Đàm vuốt đuôi thả xuống đợi chủ nhật Thắm về mới bắt.
Cứ mỗi lần cơ quan có hàng phân phối Thắm lại nói khó với chị thư ký công đoàn nhường cho mình cái áo lót nam Trung Quốc hay mảnh vải ka ki đem về tặng chồng
Họ hiểu nhau tôn trọng nhau chiều nhau từ miếng ăn đến giấc ngủ. Trong tình cảm Đàm toàn tâm toàn ý còn Thắm không giả dối nhưng từ đáy sâu tâm hồn có cái gì đó cứ u hoài khắc khoải. Cả hai đều biết điều đó. Đàm vốn là người đàn ông độ lượng biết thông cảm nên cũng chiều vợ điều đó. Họ sống với nhau cũng hạnh phúc.
Chưa được một năm thì Đàm được lệnh tái ngũ.
Một năm sau nữa thì có giấy báo tử Trần Đình Đàm.
Thắm nuốt đau thương vào trong nuôi con. Chị đem mẹ lên cơ quan để chăm nom đứa cháu trứng nước. Suất lương hành chính ba chục đồng nuôi ba bà cháu mẹ con.
Hết giờ hành chính chị chạy về bê mẹt hàng lagim ra ngồi hè phố huyện bán bán mua mua. Miệng chị đon đả chào người khách qua đường tai dỏng lên nghe tiếng kẻng báo giờ làm của cơ quan lại chạy về ôm sổ sách lên văn phòng. Có hôm chị đứng ngoài cửa nghe bà nựng cháu: Cún con của bà nhẻ... ở đây bức bách lắm. Ăn miếng trầu cũng không có bạn nhạt thếch cái mồm. Không có bạn ngồi khảo lại cái tích Tống Trân thi đỗ trạng nguyên... Bà có bài ru Kiều càng sắc sảo mặn mà dài lắm hay lắm mà ở đây ru cháu chẳng dám ru to sợ làm nhà bên mất giấc ngủ cháu bà nhẻ... ở quê cái gì chẳng nói chứ con cua con ốc rau khoai rau má quanh vườn vơ vào hàng rổ tha hồ ăn hỗn. Bà muốn về quê bỏ “anh” lợn choai vào chuồng nhen vài “ả” gà mái ri kiếm ổ trứng quấy bột cho cháu cùn của bà nhẻ... Là sợ mẹ cháu buồn nên bà không dám nói ra chứ ... cún con của bà nhẻ...
Chị nghĩ mà thương mẹ quá!.
Chị xin nghỉ việc cơ quan bà cháu mẹ con bồng trống nhau về quê nuôi nhau. Người ta bảo: Gái có chồng như rồng thêm vây. Đằng này mẹ con đàn bà góa ai thèm ngó ngàng. Được cái chị bấm bụng chịu thiếu thốn không vay công lĩnh nợ của ai.
Mấy năm sau đó mẹ chị qua đời.
Trong thôn chuyển sang phương thức khoán ruộng đất đến người lao động. Ưu tiên vợ liệt sĩ chị được nhận gần mẫu ruộng. Chị hùn vốn tậu chung với hàng xóm được hai cẳng con trâu. Ngoài đồng khoai lúa tốt như chiêm bao. Trong vườn mùa nào thức ấy. Đủ ăn trong nhà còn thừa đem bán lấy tiền dầu đèn sách vở cho con. Trời đã nhìn lại. Cái Nguyệt càng lớn càng xinh chăm ngoan học giỏi. Mười bảy tuổi Nguyệt đã đậu vào đại học.
Khó khăn rồi cũng lui dần về dĩ vãng của mỗi cuộc đời. Cũng như cái cày cái cuốc càng làm càng sáng chói ra. ở cái tuổi bốn bảy thân thể chị như dãn nở viên mãn đằm sâu. Mái tóc dài gần chấm gót trước đây chị chỉ thấy vướng bận bức bối phiền toái chị phải đưa tay cào cào bới bới rồi búi tó lại phía sau cho gọn bây giờ khẽ đặt cái lược nhẹ nhàng lướt đi lướt lại cho nó mượt mà óng ả rồi quấn tràn mấy vòng quanh đầu để lộ cái gáy cổ trắng ngần. Chị soi gương thấy mắt mình đen láy lúng liếng như có nước bên trong bất giác chị cười. Đôi môi hơi dày đỏ sậm hé lộ hàm răng trắng ngà. Lòng chị thấy rưng rưng. Chị chỉ muốn những kỷ niệm trôi tuột khỏi cuộc đời mình để mặc chị âm thầm mà sống.
Vậy mà bỗng dưng con bé lại đem tập sách ấy về...
Hè năm sau. Nguyệt mời thầy Vũ về thăm nhà mình.
Làng của Nguyệt như một rừng dừa. Những cây dừa lâu năm da mốc thếch lá rũ xuống đứng nghiêng hiền lành che chở cho lớp dừa tơ thân mập mạp căng hằn những vòng bẹ mới bóc. Lớp dừa mới trồng cao hơn đầu người tầu lá còn dóc lên mỗi khi có ngọn gió thổi nó khua khoắng lên không trung như những lưỡi kiếm ngộ nghĩnh. Lá dừa tầng thấp tầng cao đan xen lọc ánh mặt trời vẽ mặt đất thành tấm khăn thêu muôn ngàn đóa hoa kỳ thú. Tháng tư âm lịch dừa đang mùa bánh tẻ. Cây nào cây ấy ôm trên ngọn vô số những quả no tròn lùng lục.
                   *
Thắm đứng ở sân tung nắm thóc cho đàn gà đông đúc vây quanh. Ngoảnh nhìn chị suýt đánh rơi cái rá đựng thóc.
Hai người ngồi đối diện nhau cách một cái bàn con.
Thầy Vũ nhìn ra sân nơi đám gà đang quây quần nhặt thóc. Chị Thắm ngồi đầu cúi xuống mím chặt như cố giữ một cái gì đong bị kiếm thúc cứ chực bung ra.
Hè năm sau nữa. Mưa rào ào ào kéo đến.
Thắm nhìn ra sân nơi những bong bóng nước phập phồng. Chị nói một mình
- Mưa to thế này chắc cái Nguyệt phải ở lại nhà bạn nó thôi!
Chị quay lại nói với anh:
- Mà sao hôm nay con bé lại đốc chứng ra thế. Chị nhại lại tiếng con: “...Con xin phép bố mẹ đến chơi nhà bạn!...” - Cái mồm nó leo lẻo đáng ghét làm sao.
Anh cười nhẹ nhàng:
- Em... thật là... nó nhớ bạn thì xin đến thăm mà...
-    Anh lại bênh con rồi!.
Đột nhiên cả hai cùng ngượng. Họ vừa xưng hô với nhau bằng “anh - em” thật ngọt ngào êm ái làm sao! Kể từ cái ngày năm ngoái về đây anh vẫn gọi chị là chị Thắm” còn chị vẫn xưng một thầy giáo hai thầy giáo mà! Chị lại thẽ thọt:
- Anh này... Anh có thấy cái Nguyệt có gì lạ lắm không? Mấy hôm nay nó hay sang nhà ông chú chuyện trò gì đấy. Ông cháu có vẻ ăn ý lắm!
Anh hỏi lại như người ngẩn ngơ:
- Có chuyện đó thật sao?
Chị nhìn vào mặt anh thăm dò:
- Anh... anh không vui vì chuyện đó phải không ạ?
Anh lạnh lùng vô cảm. Chị quay mặt đi hờn dỗi:
- Vậy là em biết rồi. Chả trách vào Nam được một năm thì anh cắt đứt quan hệ thư từ với em. Ngày thống nhất người ta tìm về với nhau đôi lứa dập dìu. Còn anh? Anh không hề nhắm cho em lấy một lời. Em chạy đôn chạy đáo tìm anh. Gặp đoàn quân nào đi ra em cũng tìm gặp anh bộ đội nào em cũng hỏi. Em ra tận Hà Nội quê anh thì biết khi sơ tán về gia đình anh đã chuyển đi nơi khác... Vậy mà em vẫn đợi chờ vẫn hy vọng! Em cứ ước sao có phép lạ xảy ra. Chị thổn thức:
- Mới đây cái Nguyệt nói rằng anh vẫn chưa lập ra đình em lại cứ tưởng... Em lại hy vọng... cứ nghĩ đến chuyện anh đi vào Nam rồi đi luôn ra khỏi cuộc đời em em lại hận anh vô cùng nhưng không hiểu vì sao em lại không thoát ra khỏi anh được!
Anh vẫn im lặng não nề.
Chị chạy vào buồng đổ ập xuống giường. Tay chị cào cấu chân đạp tứ tung làm chăn chiếu trên giường lộn tùng phèo.
Không ngờ tình huống lại nghiêm trọng đến vậy. Anh hoảng hốt chạy vào theo ngồi xuống cạnh chị dỗ dành:
- Là...  
Chị ngồi bật dậy cay nghiệt:
 - Tôi biết bây giờ anh là giáo sư là nhà văn. Xung quanh anh thiếu gì người trẻ đẹp giàu có học cao tha hồ anh kén chọn. Còn tôi tôi là gái góa nhà quê nghèo hèn nhiều tuổi xấu xí - Giọng chị trở nên đắng đót - Mà nghĩ lại tôi với anh đã có hôn thú gì đâu. Tôi đã đi lấy chồng có con thì bây giờ tôi có quyền đòi hỏi ở anh điều gì kia chứa. Chị khóc nức nở.
Anh vẫn u sầu chịu trận. Nhưng chính sự im lặng của anh làm bốc thêm sự phẫn nộ ở chị:
- Vậy tại sao anh còn về đây? Tại sao anh lại chu cấp cho cái Nguyệt ăn học? Tại sao anh lại mua sắm bao nhiêu đồ dùng đem về cái nhà này? Tại sao anh lại quan tâm lo lắng cho tôi? Có phải anh đang đùa giỡn tôi? Hay anh thương hại tôi? Hay anh định trả cái giá mười năm tuổi xuân tôi chờ đợi anh?
Anh lựa lời giãi bày:
 - Là... anh chỉ sợ em phải chịu thiệt thòi...
- Anh lại còn biện bạch? Thiệt thòi gì cơ chứ? Mà thiệt thòi gì tôi cũng chấp nhận kia mà?
Tay anh run run kéo đầu chị vào ngực mình anh áp mặt vào mái tóc thơm mùi hoa bưởi. Nước mắt anh thấm đẫm tóc chị. Anh đã khóc. Trong đời anh đã trải qua bao cay đắng ngay cả khi vào mưa bom lửa đạn ôm thi thể đồng đội về phía sau anh vẫn giữ được “bản lĩnh đàn ông”. Vậy mà bây giờ anh đã khóc! Chị không biết rằng anh yêu chị vô hạn. Nhưng anh chỉ có thể đứng ngồi giữ một khoảng cách để chăm lo bảo vệ cho mẹ con chị.
Bất thần đôi cánh tay trần của chị khóa chặt lấy cổ anh kéo ghì anh lại. Chị hôn như mưa lên mặt môi anh - những nụ hôn đầy nhục cảm. Chị hổn hển:
- Anh Minh anh đã quên chuyện ngày ấy rồi sao?
- Anh quên sao được!
Ngày ấy...
Đảo Nghi Sơn trong những thập niên của thế kỷ hai mươi khi cuộc chiến giữa ta và đế quốc Mỹ bước vào gian đoạn khốc liệt nhân dân trên đảo phải đi sơ tán chỉ còn lại dân quân phối hợp với đơn vị pháo phòng không trực chiến. Cũng thời gian này nhà nước quyết định đắp con đê quai nối đất liền với mỏm phía bắc của đảo tạo ra phía trong nó một cánh đồng muối rộng lớn và phục vụ đắc lực cho công tác quốc phòng. Công trường đắp đê này lấy tên là công trường Bãi Ngọc.
Trong một cuộc chiến đấu chiếc máy bay Mỹ bốc cháy tên phi công rơi xuống biển. Chúng huy động các loại máy bay đến định cứu tên chỉ huy quan trọng này. Vừa trút bom đạn thành vòng tròn ngăn không cho ta tiếp cận tên giặc đang ngoi ngóp dưới nước chúng vừa thả thang dây xuống định vớt đồng bọn. Trong bờ xé nước lao ra quyết không để cho nó thoát. Hàng chục chiếc máy bay bâu vào gầm rú lộn nhào điên cuồng. Đạn pháo của ta từ các trận địa trong đất liền vươn ra quấn chặt lấy chúng. Cả vùng biển sôi lên. Mấy chiếc máy bay tóe lửa phụt khói đen cắm đầu xuống biển. Nhiều chiếc thuyền bè của ta bật tung lên văng ra nhiều mảnh. Chiếc thủy phi cơ khổng lồ mang cờ hiệu Mỹ vè vè đáp xuống mặt nước gần tiếp cận được tên giặc liền bị quả đạn pháo từ vị trí cầu Đồi cắt đứt đôi. Nó thành một đụn lửa khói chìm nghỉm xuống đáy biển.
Thua cuộc cay cú chúng quay lại tập trung hỏa lực trả thù các trận địa pháo của ta. ác liệt nhất là trận địa pháo trên đảo Nghi Sơn. Cả hòn đảo rung chuyển chìm trong khói lửa. Người ta không còn phân biệt tiếng nổ từ phía nào nữa. Mỏm núi phía Bắc bị biến dạng vì bom đạn cày xới. Lửa trùm lên các hầm chứa đạn pháo. Một vài khẩu đội pháo bị trúng bom. Các nòng pháo cong lên im lặng. Đơn vị thanh niên xung phong 117 lao lên tiếp sức chiến đấu. Thắm dẫn đầu vượt tốp đang chuyển các đạn đến nơi an toàn. Một quả bom nổ gần cũng may họ kịp nép vào các hòn đá lớn nên không ai việc gì. Nhìn thấy khẩu đội pháo 135 ly bị trúng bom Thắm chạy ào tới. Một chiến sĩ bị thương nặng nằm sấp bất động trong vũng máu. Thắm xốc anh lên cõng về trạm phẫu. Mọi người lo lắng vì anh bộ đội mất nhiều máu sắp có nguy cơ đến tính mạng mà máu dự trữ đã hết phải chờ tuyến sau tiếp viện. Thắm gặp bác sĩ biết mình có cùng nhóm máu với người bị thương cô xung phong tiếp máu trực tiếp cho anh.
Hôm có anh bộ đội đến tìm Thắm ngờ ngợ đã gặp anh ở đâu? Tuy mầu da sạm nắng gió nhưng khuôn mặt anh vẫn trẻ măng. Nhất là khi anh cười nụ cười hiền dịu và đôi mắt trong sáng lạ thường. Anh tự giới thiệu:
- Tôi là lính phòng không trên đảo...
Nhìn thấy đầu dải băng trắng tòi ra ngoài áo Thắm đã đoán được đôi phần.
- Có phải anh là...?
- Vâng! Cô là Vũ Thị Thắm phải không?
- Sao anh biết?
- Tôi được bác sĩ cho biết chính cô đã cứu sống tôi.
Miệng tếu táo nhưng mặt anh đã đỏ nhừ:
- Dòng máu của cô đang chảy trong tim tôi!
- Anh anh nói quá đi...
Anh nhìn sâu vào mắt Thắm. Đôi mắt có ma lực quyến rũ đến kỳ lạ. Trong rừng phi lao im ắng - cái im ắng hiếm hoi giữa hai cuộc oanh tạc của giặc Mỹ - họ đã nói nhiều với nhau. Họ yêu nhau từ cái phút đầu tiên ấy và sau đó cứ hễ có dịp là họ hẹn hò...
Chuẩn bị chuyển vào Nam đơn vị cho Minh nghỉ một ngày cùng Thắm về quê thăm mẹ cô.
Nhà Thắm nằm ở cuối vùng chiêm trũng phía tây của huyện. Ngôi nhà nhỏ lợp lá kè khiêm tốn nép mình giữa vườn dừa. Chỉ những cây dừa bị bom Mỹ phạt đứt ngang trong trận oanh tạc hồi đầu tháng mẹ Thắm than thở:
- Anh xem những cây dừa sai quả đang mùa bánh tẻ... Đau xót quá!
Minh hỏi riêng Thắm:
- Sao lại gọi là dừa bánh tẻ?
- Là mùa quả dừa không còn non nhưng cũng chưa gì. Trong cuộc đời ngắn ngủi của quả dừa thì thời kỳ bánh tẻ là ngọt nước nhất... ngốc ạ!
Mẹ Thắm cười rất hiền lộ hàm răng nhuộm đen nhức tô đậm thêm vẻ thật thà chăm chỉ. Bà kể chuyện con gái:
- Bố nó mất lúc 14 tuổi. Học hết lớp 7 nhà nghèo lại đơn người không có điều kiện theo học tiếp. Thắng anh nó đi bộ đội đến hôm nay đã được hai năm bốn tháng tám ngày... Năm ngoái người về xã tuyển thanh niên xung phong. Thấy bạn bè ghi tên nó khóc thầm vì thương mẹ không dám nói ra... Tôi dắt nó ra giao cho anh cán bộ tuyển quân. Cả hai mẹ con đều khóc. Nghĩ mà thương nó lớn măng lớn sữa không biết có làm được việc gì hay chỉ tổ làm bận chân các anh các chị...
Minh cười:
- Không phải đâu mẹ ạ cô Thắm tiến bộ lắm. Cô ấy vừa được đề bạt cán bộ thống kê của đơn vị đấy ạ!
- Thế kia đấy !- Mẹ cười rạng rỡ. Thế mà thư về nó tịnh không nói! Cái con...
Giờ lâu mẹ hỏi:
- Hỏi khí không phải thế anh quê ở đâu ta?
- Dạ quê cháu ở Hà Nội ạ.
- Thế ông bà làm nghề gì có trường mạnh không?
- Bố cháu là bộ đội chống Pháp đã nghỉ hưu mẹ cháu đang dạy học.
- Anh được mấy anh chị em?
- Chỉ có chị cháu đang là cán bộ nhà nước. Còn cháu đi bộ đội hai năm rồi ạ!
Tiễn Minh và Thắm ra ngõ mẹ còn dặn với theo:
- Các con đi chân cứng đá mềm nhớ gửi thư về cho mẹ!
11 giờ đêm họ đến bến đò Du Độ.
Bến đò này cũng là điểm đánh phá thường xuyên của máy bay địch. Chúng nhằm cắt đứt huyết mạch giao thông giữa miền đất  xôi đậu phía Tây với miền cá muối mặn mòi phía Đông của huyện. Những khi cầu Vằng cầu Hổ trên quốc lộ 1A bị chúng cắt đứt chưa kịp nối được thì bến đò này là cái vạch duy nhất nối con đường từ quốc lộ rẽ ngang với con đường 4C vắt qua truông Đông Hồi chạy vào Nam. Khi triều xuống con sông chỉ rộng khoảng 300 mét nhưng khi chiều cường như thế này nó rộng gấp ba bốn lần.
Con đò chở quá tải trường ra sông rộng. Chưa được hai phần hành trình bỗng máy bay Mỹ kéo đến. Chúng thả vô số những dây pháo sáng xanh lét như lưỡi ma trơi. Chúng đã phát hiện ra con đò như một vết mực đậm đang di chuyển giữa trang giấy trắng. Chúng vãi đạn “đum đum” xuống quanh con đò như vãi trấu. Bom nổ đằng trước đằng sau bên trái bên phải làm mặt sóng như nghiêng đi dựng lên những cột sóng cao hàng chục mét. Con đò đầy thương tích bị nhấn chìm. Máu người loang lổ mặt nước. Hành lý trôi bập bềnh. Minh và Thắm nắm tay nhau chới với giữa dòng nước xiết. Tóc Thắm xõa qua quấn quanh cổ Minh. Cả hai đều  không biết bơi bị dòng nước ngụm lấy quăng quật. May sao họ dạt vào bãi xú vẹt. Minh dắt tay Thắm chạy vào bờ rồi cùng chạy vào hầm trú ẩn.
Máy bay Mỹ dính đạn pháo của ta kéo theo ngọn đuốc dài cắm xuống đất nổ tung.
Trận oanh tạc chấm dứt.
Bây giờ họ mới nhận ra hai người đang đứng nép vào nhau vì hầm trú ẩm quá hẹp. Trong bóng tối mắt Thắm như hai đốm lửa rực lên. Bộ ngực cô nõn nà căng tròn đang phập phồng. Da thịt họ cọ sát nào nhau không vướng một lần vải mỏng. Cơ thể Thắm căng lên chờ đợi. Tay Thắm run rẩy đụng vào chỗ nhạy cảm nhất của người đàn ông Minh bỗng né ra nói nhỏ vào tai cô:
-    Em ạ ta để dành đến ngày...!
Minh nhảy lên khỏi hầm rồi nghiêng người bế Thắm lên theo đi tiếp.
Thắm róng riết:
- Anh Minh anh đừng tự dối mình nữa! Em biết rõ anh vẫn còn yêu em đúng không anh?
Anh im lặng nhìn chị. Chị biết đó là lời thú nhận của anh sự thú nhận thật cảm động.
Tê mê và bồng bềnh
Tay chị mải miết trên da thịt anh. Bỗng chị hốt hoảng kêu lên:
- Sao thế này anh?
- Khi vào Nam được một năm trong một trận chiến đấu một mảnh bom kẻ thù đã...
Im lặng đến tận cùng của im lặng.
Rồi chị chính chị tỉnh táo hơn bao giờ hết chị lau nước mắt cho cả hai. Chị nói với anh: Anh vẫn là chồng em... suốt đời!...

                                                                               P.V.L