TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

       Những nhà thơ - chiến sỹ cộng sản 

                          xứ Thanh




                                                                         MAI THỊ NGỌC CHÚC



 

        Từ xưa các nhà nho Việt Nam đã có ý thức rất cao về vai trò và trách nhiệm của người cầm bút là chuyên chở đạo lý và chống kẻ gian tà. Đúng như câu thơ của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Những chiến sỹ cộng sản Việt Nam nói chung Thanh Hóa nói riêng thuở đầu thế kỷ XX cũng tiếp nối truyền thống ấy trong nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng. Họ đều ý thức được rằng"Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận. Anh chị em (nghệ sỹ) là chiến sỹ trên mặt trận ấy" (Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu năm 1951). Tại Thanh Hóa những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện những nhà thơ cộng sản thành danh rất đáng ghi nhớ và trân trọng.

1-Đinh Chương Dương (1885-1972)

Ông người xã Lộc Tiến (nay là Hải Lộc) huyện Hậu Lộc sớm giác ngộ cách mạng và đã nhiều năm hoạt động tại Trung Quốc bị bắt và bị giam nhiều lần ở các nhà tù khác nhau.

Ông sáng tác nhiều thơ ca yêu nước và cách mạng. Ông có vinh dự được nhà cách mạng Hồ Chí Minh làm thơ tặng khi ở Trung Quốc (1943) nói lên tình đồng chí và ý thức nhất trí cách mạng giữa hai người. Ông là đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Dưới đây là một bài thơ của ông:

Tự thuật

Tang bồng nghìn dặm chí nam nhi

Tai mắt cùng nhau chẳng khác chi

Sương tuyết chạy qua cầu tệ thủy

Gió mưa ngồi rũ điểm tà huy

Ô hay! Tạo cũng cay chua lắm

Không lẽ mình xưa tội vạ gì

Nước có ta thì ta có nước

Nước non ước hẹn cứ đi đi

2-Lê Mạnh Trinh (1896-1983)

Là người xã Hoằng Đức huyện Hoằng Hóa đỗ tú tài (1916) đi làm công kiếm sống tại Sài Gòn giác ngộ cách mạng và hoạt động ở Xiêm (Thái Lan) đảng viên cộng sản (1930). Ông là chủ nhiệm các báo Đồng Thanh Thân ái làm công tác vận động Việt Kiều phụ trách Việt Minh ở Liên khu IV rồi làm Phó Giám đốc trường Đảng Nguyễn ái Quốc Phó Trưởng ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương.

Ông tiêu biểu cho lớp nhà nho tân tiến đi từ chủ nghĩa yêu nước và tư tưởng Khổng giáo đến với chủ nghĩa xã hội. Ông còn để lại một số bài thơ trong đó bài "Lời kèn thân ái" được phổ biến hơn cả. Xin trích một số câu:

Đồng bào hỡi! Tỉnh chưa? Chưa tỉnh?

Thù non sông ta tính sao đây

Đoàn là bạn báo là thầy

Được thua hơn thiệt tính bày dạy nhau.

3-Lê Tất Đắc (1906-2000)

Ông quê xã Hoằng Phúc huyện Hoằng Hóa thuộc gia đình nhà nho. Trước khi vào Đảng Cộng sản Đông Dương ông tham gia Tân Việt. Ông đã nhiều lần bị đối phương bắt giam nhiều lần vượt ngục. Đã từng làm Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa chủ bút báo Sao Vàng của Vệ Quốc quân ủy viên Ban Tổ chức Trung ương Đảng Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Ông làm thơ không nhiều thơ ông chân thật bộc lộ sự trung thành và tích cực của mình. Tuy nhiên khi làm ca dao ông lại gây được ấn tượng dồi dào cho người tiếp nhận.

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Thăm quân du kích thăm thành Bắc Sơn

Suối trong in mặt trăng tròn

Hai cô gái Thổ trèo non đi tuần.

4- Trần Mai Ninh (1917-1947)

Trần Mai Ninh tên thật là Nguyễn Thường Khanh xuất thân trong một gia đình công chức ở thị xã Thanh Hóa. Được giác ngộ cách mạng ông tham gia phong trào Thanh niên dân chủ Đông Dương. Trần Mai Ninh là một thanh niên trí thức có năng khiếu văn chương có sức viết khỏe và có ý thức cao về trách nhiệm của người cầm bút. Ông viết cho nhiều báo như Bạn Dân Thời Thế (1937) Tin Tức Thế Giới Người Mới (1938) và Bạn Đường (1939) bằng nhiều thể loại. Hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Nhớ máu và Tình sông núi đã được in trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960. Thơ Trần Mai Ninh có giọng điệu riêng khỏe khoắn mạnh mẽ giàu hình ảnh giàu nhịp điệu và rất phóng khoáng. Ông hy sinh trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (1947). Bài thơ dưới đây được viết năm 1938.

Tôi buồn

Tôi buồn buồn lắm buồn khôn tả

Và thấy lòng tôi nát rụng rời!

Đầu cúi xuốngaoau hồn đổ sụp

Lạnh lùng óc đứng một mình thôi

Tôi đã nghiến răng và xé mạnh

Mảnh tàn tự ái hãy còn vương

Sụp xuống đất bùn sâu xuống nữa

Quỳ tròn gối gãy bởi đau thương

- Thôi đi phải phá vỡ lòng ta

Phá vỡ bình bông tự ái và

Phá vỡ gương tàn soi trí thức

Quyết làm vang dậy sóng đầu ta.

5- Thôi Hữu (1919-1950)

Thôi Hữu và Tân Sắc là bút danh. Tên thật của ông là Nguyễn Đắc Giới. Ông còn có tên hoạt động là Trần Văn Tấn nữa. Thôi Hữu được kết nạp Đảng năm 1943. Trước đó ông đã tham gia Đoàn Thanh niên cộng sản hoạt động nhiều ở Hà Nội. Ông đã từng được cử vào Ban Chấp hành Đảng bộ phụ trách phong trào ngoại thành Hà Nội rồi phụ trách in ấn báo Hồn Nước làm báo Sự Thật sáng lập báo Thủ Đô tham gia xây dựng báo Vệ Quốc quân tiền thân của báo Quân đội Nhân dân. Ông cũng tham gia nhiều mặt trận: Việt Bắc Thu Đông 1947 Đông Bắc cuối 1948 Tây Bắc hè 1949.

Tại chiến dịch Đông Bắc Thu Đông 1949 Thôi Hữu và Trần Đăng sa vào tay bọn Tưởng Giới Thạch nhưng đã trốn thoát lại trở về báo Sự thật. Thôi Hữu viết nhiều thể loại. Thơ của ông không tìm mơ mộng không nhiều hoa lá bay bướm mà giàu lòng thương mến cảm thông. Thơ ông viết nhiều về những con người thật những cô lái đò những người dân công... với những nét thực thà và cảm động. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông là Lên Cấm Sơn. Ông hy sinh ngày 16-12-1950. Bài thơ dưới đây được viết năm 1940. Thời điểm này thực dân Pháp đàn áp cách mạng Việt Nam khá mạnh tay khiến làng quê hưu hắt. Tuy nhiên tác giả vẫn nhận ra phong trào cách mạng của nhân dân vẫn mang sức sống mãnh liệt.

Chiều thu

ào ào trúc đổ gió heo

Đứng bên sông lạnh mang theo bụi đường

Ráng chiều lạc nẻo trong sương

Đìu hiu trăm nỗi xót thương về lòng

Mây che u uất cánh đồng

Hồn thu gọn mối sầu trong tiếng diều

Bâng khuâng buồn mái tranh nghèo

Mõ đâu đã giục sao chiều lặng không.

                                           M.T.N.C

                  Chất trữ tình trong
 

              truyện ngắn Viên Lan Anh



                                                                  HỎA DIỆU THÚY



        Đêm triều cường xuất bản năm 2002 là tập truyện ngắn đầu tay của cây bút trẻ Viên Lan Anh. Tập truyện gắn liền với thành công bước đầu của tác giả - đoạt giả ba cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn nghệ năm 1996-1997 (không có giải nhất). Lần này là tập truyện ngắn thứ hai - Tiếng cuốc gọi bầy thêm một sản phẩm để khẳng định sự hiện diện của một cây bút nữ trong làng truyện ngắn.

1. Trữ tình trong "tứ truyện"

Khái niệm "tứ truyện" nghe có vẻ lạ bởi thông thường chỉ thấy nhắc đến khái niệm "tứ thơ" chỉ thơ mới có "tứ". Truyện ngắn gần với thơ bởi tính hàm súc mỗi truyện ngắn thường chỉ xây dựng trên cở sở một tình huống truyện và khi tình huống này thiên về thể hiện cảm xúc tâm trạng thì nó rất gần với một tứ thơ. Tình huống truyện trong truyện ngắn Viên Lan Anh phần lớn là những "tứ truyện" chính là ở đặc điểm ấy. Có thể coi đây là nét cá tính và cũng là ưu thế của cây bút nữ này.

Mới đọc qua cứ ngỡ truyện của Viên Lan Anh thiên về loại truyện lấy xung đột mâu thuẫn làm điểm tựa cho tình huống truyện. Cũng chẳng oan hàng loạt các truyện như: Mầm sống Bước đầu đời Đêm triều cường ấm Trương Mẫu quyền Cha tôi lại làm thầy Đò muộn Thư gửi mẹ Người đàn bà mù Chuyện tình bên bờ sóng v.v... có cốt truyện với các tình tiết khá ly kì hấp dẫn. Chưa nói đến sở thích ý thức đi tìm điểm tựa cho cốt truyện là các mâu thuẫn kịch tính để "dựng" truyện vẫn là thói quen của các cây bút trẻ. Với Viên Lan Anh có lẽ cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Tuy vậy nếu đọc kỹ sẽ thấy xu hướng truyện của Viên Lan Anh thuộc mô típ khác mô típ truyện trữ tình nghĩa là truyện thiên về thể hiện những xúc cảm tâm trạng những rung động nội tâm vì vậy mà truyện rất giàu chất thơ.

Nhìn chung Viên Lan Anh có xu hướng dựng truyện trên cơ sở xúc cảm trước một thực tế nào đấy một sự việc sự kiện nào đấy (dĩ nhiên là rất giàu kịch tính) mà tác giả được chứng kiến hoặc nghe kể. Dễ chừng tác giả đến với truyện bằng sự rung cảm của trái tim trước khi cái đầu lạnh lên tiếng. Hãy thử phân tích một truyện truyện Mầm sống mở đầu tập Đêm triều cường chẳng hạn. Truyện khá giàu kịch tính: Lan- đứa con gái được cưng chiều vì nó là "đích tôn"của dòng họ và còn bởi cha cô bé là liệt sĩ. Bà nó vẫn phải thường xuyên thắp hương cầu khấn vì cái tính khí thất thường của nó. Cùng với lũ trẻ trong xóm nó thường đến chơi với chú Việt thương binh từ mặt trận trở về sống đơn độc trong cái lều trông vó và căn bệnh mỗi khi trái gió trở trời lại chạy khắp làng và hô "đả đảo". Lần ấy nhờ nó phát hiện kịp mà chú Việt được cứu sống (do vết thương tái phát). Tình thương chú đã khiến trái tim non trẻ kia nghĩ ra một sáng kiến bất ngờ. Nó nói với ông nó hãy cưới chú Việt cho mẹ. Sự việc quá bất ngờ bà nó khóc lu loa ông nó triệu tập họp họ ai cũng nghĩ rằng đầu óc nó có vấn đề về thần kinh. Chứ sao nữa chả gì mẹ nó - vợ liệt sĩ đường đường là một cán bộ xã được mọi người vì nể còn anh ta thương binh thật đấy nhưng điên điên khùng khùng lại chỉ làm nghề kéo vó bè ở trong cái lều rách nát. Trong cuộc họp họ ai nấy mặt cúi gằm hàng xóm hóng chuyện "đứng chật như lá tre". Bị mọi người hiểu lầm cô bé tức giận đâm bổ ra đường tai nạn xảy ra... Đúng là truyện có những tình tiết "ồn ã" thật nhưng đọc lại sẽ thấy truyện được viết ra không chỉ bằng sự lôi cuốn của những tình tiết giàu kịch tính. Nó được viết ra trước hết bởi xúc cảm của tình thương yêu thương người phụ nữ trẻ phải gồng mình lên trước khát vọng hạnh phúc (chi tiết "Đêm đó bà bảo gạo đang đầy thùng nhưng mẹ vẫn xúc lúa ra xay lúa xay xong mẹ đem vào giã tôi nghe tiếng gà đã gáy sang canh") thương người thương binh nặng từ chiến trường trở về phải sống cô đơn vì không ai đủ can đảm để sẻ chia với những mất mát thiệt thòi của anh. Vì vậy đằng sau những tình tiết cố làm cho nổi đình đám lên kia mạch chính của truyện là những dòng tâm trạng dòng cảm xúc của nhân vật đã được tác giả dày công miêu tả. Đây là tâm trạng của cô bé khi chú Việt bị ngất vì vết thương tái phát và nhờ nó phát hiện kịp thời mà chú được cứu chữa: "Tôi chạy ra bờ sông chú Việt nằm còng queo trong túp lều trông vó (...) Nhìn gương mặt phương phi với những đường nét cân đối đang chìm vào giấc ngủ của chú một niềm hân hoan vô thức tràn ngập trong lòng tôi. Tôi hôn lên má chú rồi hít hà mùi hương cỏ mật xen lẫn mùi bùn đất mà gió phương nam đem đến. (...) đó là hơi thở của đất làng chùa quê tôi đồng chua nước mặn nhưng nồng nàn tinh khiết và cần thiết cho tôi biết bao..." . Hoặc cảm xúc sung sướng của nó tỉnh lại sau cú đụng xe thấy đằng sau mẹ nó là chú Việt: "...nhận ra ánh mắt tôi chú lại gần bên giường úp mặt vào hai bàn tay tôi. Những giọt nước mắt nóng ran từ từ thấm vào từng mạch máu li ti lan trên cánh tay tôi rồi háo hức chạy ngược lên vai chạy tràn khắp cơ thể. Tôi như lớn vụt bứt mình bay lên chín tầng mây bồng bềnh trôi vào cõi thiện bình yên và hạnh phúc". Có thể bắt gặp nhiều đoạn trữ tình như vậy trong truyện ngắn Viên Lan Anh. Càng về sau nhất là ở tập truyện sau xu hướng này càng bộc lộ rõ. Viên Lan Anh không mạnh trong xử lý và khái quát vấn đề. Điểm mạnh của tác giả nữ này là phân thân hóa thân vào các tình huống tâm trạng để diễn tả những xúc cảm những suy nghĩ nội tâm. Đây là lý do khiến cho truyện của Viên Lan có thiên hướng trữ tình hóa ngay ở cảm hứng truyện.

Không mấy khó khăn để gọi ra "tứ" trong các truyện ngắn của Viên Lan Anh. Với cái nhìn tổng quát có thể tạm phân ra một số nhóm "tứ truyện" sau: tứ truyện là những xúc cảm trăn trở về lối sống nhân cách của con người trước cơ chế thị trường. Con người đang bị đánh mất mình bị tha hóa trước sự lôi kéo của dục vọng và sức cám dỗ của đời sống vật chất như các truyện: Bước đầu đời Chuyện nhà Điều ước Cha và con Ngày chủ nhật nhiều mây Cha tôi lại là thầy Tiếng cuốc gọi bầy Mùa hoa dủ dẻ v.v... ở nhóm truyện này mặc dù tác giả đã tìm tới giọng "tưng tửng" cho có vẻ khách quan song nhiều đoạn đặc biệt về cuối truyện tác giả thường không dấu nổi cảm xúc và khi ấy hoặc là trực tiếp hoặc mạch trữ tình ngoại đề sẽ nói hộ tác giả cảm xúc ấy: "Làng tôi cái thuở xa xưa sao đẹp đến nghẹn lòng. Cũng mùa này vụ năm thuở ấy nắng sủi bong bóng chết cả cá cờ. Bà cô tôi áo nâu quần vấn đội cả trời nắng đội lúa về nhà không quên đi qua nhà bên xin cho tôi một chùm hoa dủ dẻ chùm hoa làm hồng môi con gái chỉ một chùm hoa trên đầu tôi trở thành nàng công chúa xinh tươi ..."(Mùa hoa dủ dẻ); Hoặc "ồ cuộc đời này đáng yêu chứ không hề buồn chán tí nào đó là điều tôi tin!" (Đi qua góc tối). Nhóm truyện như: Xuân muộn Mợ Cu kèn đi tây Anh én Mâm cỗ chiều ba mươi tết Thức trọn đêm mưa Nếp và tẻ Phơi phới mưa xuân Đêm triều cường v.v.. có "tứ truyện" tươi sáng hơn khi cảm xúc hướng tới những biểu hiện tốt đẹp của con người và cuộc sống. Nhóm truyện Mùa nhót chín Đò muộn Người đàn bà mù Chuyện tình bên bờ sóng v.v... tập trung vào chủ đề tình yêu mỗi truyện như là bản tình ca mơ mộng về tình yêu và sự chung thủy nên sắc thái lãng mạn rất rõ nét. Ngòi bút của tác giả vì vậy cũng bay bổng hơn linh hoạt hơn.

Qua hai tập truyện ngắn Viên Lan Anh bộc lộ đặc điểm của một cây bút vừa khá tỉnh táo trong nhận thức thực tiễn lại cũng khá mơ mộng trong niềm tin vào những giá trị bất diệt của con người. Với chị hiện thực cuộc sống đầy những thô nhám gồ ghề những bất trắc nghiệt ngã song cũng không thiếu ngọt ngào ấm áp và đó chính là cuộc sống.

2. Trữ tình trong cách trần thuật và ngôn ngữ truyện

Một dấu hiệu khác cũng góp phần bộc lộ sắc thái trữ tình của truyện ngắn Viên Lan Anh đó là vị trí của người trần thuật. Người trần thuật trong phần lớn truyện ngắn của Viên Lan Anh là nhân vật "tôi"- ngôi thứ nhất số ít người tham gia trực tiếp đồng thời là nhân vật chính trong tổ chức mạch truyện.

Cái cách mà người kể chuyện đồng thời là người trong cuộc này sẽ dẫn đến lợi thế là nhân vật tha hồ bày tỏ quan điểm thoải mái bộc lộ suy nghĩ cảm xúc của mình trước mọi vấn đề. Điều này đồng nghĩa với việc người đọc sẽ được thưởng thức một hiện thực chủ quan chí ít cũng là thiên kiến của tác giả trong một quan điểm nào đấy trước hiện thực và đây chính là hình thức diễn đạt của thể loại trữ tình. ở trên ta đã từng bắt gặp cảm xúc tâm trạng của nhân vật "tôi"- cô bé Lan trước tình cảnh của chú Việt mẹ nó mọi người... như hế nào. ở các truyện ngắn khác người đọc sẽ còn được chứng kiến những trang truyện kéo dài thể hiện suy nghĩ nội tâm hoặc xúc cảm của nhân vật. Hầu như các tình tiết không được kể bằng sự hiện diện của chính nó mà thường thông qua hồi tưởng qua dòng hồi ức đầy xúc cảm của nhân vật. Truyện Tiếng cuốc gọi bầy toàn bộ phần một "Ra đi từ cánh đồng" (5 trang) là những suy nghĩ cảm xúc bề bộn của nhân vật "tôi" về cảnh nhà trong cái đêm trước khi ngày mai sẽ ra thành phố làm thuê để giúp mẹ giúp gia đình thoát khỏi túng quẫn đói nghèo. Truyện Hoa dủ dẻ giống như một bài thơ văn xuôi man mác buồn trong những hoài niệm về quá khứ. Truyện là "bầu trời quá khứ" đầy thương nhớ trong xúc cảm của nhân vật "tôi" đã xa nhà nay nhân ngày giỗ bà trở về làng quê và kỷ niềm về một thời "hoa dủ dẻ" thức dậy trong trái tim thổn thức: "Tôi úp mặt xuống cái giếng sâu mà nấc thầm gọi mấy từ tiếc nuối: "ơi dủ dẻ ơi"...

Cùng với cách trần thuật lộ rõ dấu ấn chủ quan tất yếu sẽ đi cùng với một thứ ngôn ngữ nhiều cảm tính. Hầu như trước các nhân vật trước các tình huống người đọc bắt gặp kiểu ngôn ngữ bộc lộ tình cảm yêu ghét khá rạch ròi - thứ ngôn ngữ chủ quan của người viết. Điều này khiến ngôn ngữ miêu tả ngôn ngữ trần thuật thậm chí ngôn ngữ bình luận luôn có cấu trúc hoặc đi kèm với những tính từ hoặc sử dụng các thủ pháp so sánh cường điệu nhằm nhấn mạnh tô đậm sắc thái trần thuật. Có lẽ vì vậy mà giọng văn khá giàu nhạc tính. Nhạc tính từ nhịp đập của một trái tim biết hướng về những rung động khắc khoải đời thường.

*

Có thể nhận ra định hướng ban đầu của một lối viết nếu mạnh dạn gọi đó là cá tính thì e rằng ngay chính tác giả cũng chưa chắc đã nghĩ tới. Bởi sự hình thành còn chưa rõ nét chưa có dấu ấn nổi bật ấy là chưa kể tới còn khá nhiều những chỗ non tay vụng về. Song tác giả còn rất trẻ hãy cứ xem đây là "tiếng cuốc gọi bầy" tha thiết và khắc khoải lắm.

                                                                      H.D.T