TRUYỆN NGẮN

VŨ KIM LIÊN



 

Chuyện một người bạn



Truyện ngắn


         Tôi quen gọi anh là Minh theo đúng tên cúng cơm mà bố mẹ anh đã đặt. Nhưng anh lại muốn mọi người gọi mình là Lương Minh - cái tên nghe vừa là lạ lại vừa có vẻ như mang danh nghệ sĩ!

Lương Minh làm ở Phòng Văn hóa thể thao huyện thích làm thơ và viết báo. Thỉnh thoảng anh cũng viết được một vài truyện ngắn và được đăng báo. Nhờ thế cũng có khá nhiều người biết đến tên anh. Mỗi lần được đăng một truyện ngắn hay một cái tiểu phẩm gì gì đó Lương Minh lại pho to thành nhiều bản để tặng bạn bè và người thân của mình. Ai cũng mừng cho anh. Riêng tôi cũng có đôi chút hãnh diện vì được làm bạn với một người như Lương Minh. Chả gì thì tên tuổi của anh cũng đã được in trên báo nơi này nơi kia. Ai bảo cứ phải ở thành phố cứ phải được học hành đầy đủ các loại bằng cấp mới viết được? Như Lương Minh đấy anh ta mới chỉ học hết cấp ba thêm mười tám tháng dùi mài kinh sử ở trường Văn hóa nghệ thuật tỉnh thế là trở thành cán bộ văn hóa và rồi cũng lên được cái chức phó phòng. Song cũng phải công nhận rằng anh ta cũng có đôi chút năng khiếu thơ văn. Gặp Lương Minh ở đâu là người ta nghe thấy anh nói chuyện văn chương chữ nghĩa. Người dốt văn như tôi thì chẳng nói làm gì nhưng nhiều người nghe Lương Minh nói chuyện cứ tít mắt vào. Nào là: Hay! Cậu (anh chú...) thế mà giỏi thật đấy! Có người còn cao hứng: Lương Minh à cậu là niềm tự hào của chúng tớ đấy!

Những câu tán dương những lời khen ngợi đã đưa bạn tôi lên tận mây xanh.

Anh phấn chấn hẳn lên và càng ra sức viết. Anh đi khắp nơi trong tỉnh và ra cả ngoài tỉnh bạn để tìm cảm xúc. Người ta thấy anh lúc nào cũng tất bật: Tôi phải đi một chuyến dã ngoại mới được! Hoặc: Đợt này tôi xin nghỉ phép để đi thực tế viết bài v.v và v.v.

Sau mỗi câu nói đại loại như vậy anh lại giơ tay vuốt vuốt mấy sợi tóc vắt ngang cái trán hói như muốn làm cho nó hói thêm.

Một lần anh đến chỗ tôi làm việc. Vừa nhìn thấy tôi anh đã giở cặp lấy ra một tờ báo:

- Tặng lão tớ vừa viết xong đã được in luôn đấy!

Tôi đỡ tờ báo:

- Xem nào chuyến đi thực tế vừa rồi đã mang lại cho cậu những cảm xúc gì nào.

- Thực tế quái gì. Tay S. bên Ngân hàng bảo tớ viết về mẹ lão ấy đấy mà!

- Thế là thế nào tớ chẳng hiểu gì cả?

Lương Minh ghé tai tôi nói nhỏ:

- Lão ấy cho tớ mấy trăm bảo tớ viết. Chả là nhà lão ấy chuẩn bị làm lễ thượng thọ cho bà cụ mà lỵ!

- A thì ra "mà lỵ" nhà cậu cũng đắt giá đáo để!

Hắn cười và đưa tay vuốt tóc.

- Ông làm thế nào mà báo nó in cho ông?

- Khổ quá tớ có người bạn cũng làm nghề viết lách. Anh ta có người quen bên báo và giới thiệu mình với họ. Tớ sang chơi và làm quen nhờ tay đó xem hộ. Lúc đầu nghe chừng họ cũng ngại. Song nể bạn nên tay ấy bảo tớ cứ để đấy hắn sẽ giúp.

- Thế anh ta sửa có nhiều không?

- Cũng có nhưng chỉ là câu chữ thôi còn cốt truyện vẫn thế!

Tôi lại buột miệng;

- Cậu giỏi!

- Giỏi cái đếch gì tớ nói riêng cho cậu biết nhé còn mấy đơn vị nữa đang nhờ tớ viết cho đấy!

- Cứ cái đà này chẳng mấy chốc nữa mà cậu giàu to. Thế mà người ta cứ bảo văn nghệ sĩ nghèo lắm.

Lương Minh khoái chí vênh mặt cười khi nghe tôi dùng từ "văn nghệ sĩ". Hắn ồ lên:

- Cậu sai bét văn nghệ sĩ thời nay không thế lấy gì nuôi con? Nghèo hay giàu là ở chỗ ngòi bút của mình mềm hay cứng mà thôi!

Câu chuyện đang dở dang thì tôi có khách. Lương Minh vội ra về không quên dặn tôi thật dõng dạc:

- Lão đọc đi nhé truyện này tớ chỉ tặng mỗi lão thôi đấy!

Tiễn Lương Minh ra về tôi băn khoăn mãi về những điều anh ta nói. Thực lòng tôi không hiểu mấy về giới văn sĩ nhưng thấy bạn nói vậy tôi thấy ái ngại thay cho anh. Đành rằng trong thời buổi hiện nay cũng vẫn còn có những người uốn bút vì miếng cơm manh áo. Song đại đa số văn nghệ sĩ đều "tử vì đạo" cho dù hiện thực có nghiệt ngã đến đâu họ vẫn ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào sự thật tận tâm cống hiến sức lực của mình mong đem lại niềm vui và những điều tốt đẹp cho cuộc sống. Vậy mà bạn tôi cái anh chàng Lương Minh ấy chỉ sau một vài tác phẩm được đăng trên văn đàn đã tự vỗ ngực cho mình là "Vĩ nhân" và cũng tự cho phép đưa ngòi bút của mình đi theo xu hướng thương mại hóa.

Bẵng đi một thời gian không thấy Lương Minh lại chơi và cũng ít thấy có bài vở của cậu ấy đăng trên báo chí. Tôi tưởng anh chàng đã quá "mỏi giò" trong các chuyến đi "dã ngoại" để tĩnh tâm "thai nghén" tác phẩm. Và tôi cũng có ý chờ xem cậu ta viết những gì. Một hôm tôi đang ngồi viết báo cáo cho sếp thì Lương Minh xồng xộc đẩy cửa bước vào. Nét mặt cậu ta vẫn còn hằm hằm như tức giận ai đó. Tôi chưa kịp đứng dậy đón khách anh ta đã nói:

- Tức thật mình vừa bị một con oắt con mặt búng ra sữa "lên lớp" cho mấy bài!

Tôi không ngạc nhiên lắm:

- Đứa nào mà ghê thế dám "chọc" cả vĩ nhân cơ à?

- Vĩ vĩ cái con khỉ. Nó đến cơ quan tớ xin việc làm. Tớ hỏi nó học nghề gì? Nó bảo học văn. Vậy là tớ rút luôn mấy truyện ngắn đợt trước đưa cho nó đọc. Nó đọc liền một lúc và cậu biết nó nói cái gì không?

- Nói gì?

- Nó bảo câu chữ thì hay nhưng cốt truyện lại dở ẹc. Chả có gì mới. Tớ mới lộn ruột lên hỏi nó: Thế theo cô cốt truyện thế nào là hay? Nó nói thẳng: Muốn hay phải nhìn vào thực tế phải thấy được cái tốt và cả mặt chưa tốt của sự việc để nói và viết cho đúng. Phải làm sao cho người đọc soi mình vào tác phẩm để suy ngẫm và để hoàn thiện mình hơn. Và phải làm sao cho khi đọc xong tác phẩm người ta còn lưu luyến còn muốn giữ những cảm xúc hay những ấn tượng đẹp mà câu chuyện để lại. Đằng này cái ông hay bà Lương Minh nào đó chỉ giỏi tán dương sặc mùi thị trường mà chẳng đưa ra được cái tứ nào cho ra hồn cả...

Tôi vội chen ngang lời hắn:

- Này nó nói cũng có lý đấy chứ. Mấy lần trước tớ đã định bảo cậu nhưng thấy cậu đang "say" tớ lại thôi. Tớ nghĩ hôm nào rảnh rỗi sẽ sang thăm và đàm đạo với cậu về chuyện này. Thật may hôm nay cậu đã đến.

Lương Minh nhổ toẹt bãi nước bọt xuống nền nhà:

- Cậu thì biết cái cóc khô gì mà đàm với chả đạo. Tớ đang điên lên đây. Con bé ấy dám ngang nhiên xóc nách tớ trước mặt mấy đứa nhân viên trong phòng làm chúng nó cứ trố mắt ra nhìn mới nhục chứ!

- Thế nó không biết cậu là ai à?

- Cậu dở bỏ mẹ chả nhẽ lúc ấy lại nhận mình là tác giả?

- Lạ nhỉ! Khắp cái huyện này ai mà không biết cậu?

- Khổ lắm nó là người ở nơi khác đến. Sinh viên mới ra trường. Nếu biết tớ là tác giả lại chính là nơi nó đang cần việc làm có cho kẹo cũng không dám...

- Và cậu chịu thua nó?

- Thua là thua thế nào? Tớ bảo mời cô về khi nào cô viết được những tác phẩm vừa hay vừa tốt thì đem đến đây tôi nhận. Nó ngớ người ra nhìn tớ. Nét mặt hơi tái đi. Một phút sau nó trấn tĩnh lại và bảo: Cháu hiểu rồi Lương Minh chính là chú. Hôm nay cháu đã gặp "vĩ nhân" mà không biết. Nhưng cháu cũng rất cảm ơn chú vì đã nghe cháu nói. Nói xong nó đeo ba lô bước thẳng!

Tôi kéo ghế lại gần an ủi bạn:

- Lương Minh ạ các cụ vẫn dạy "nói thật mất lòng" nhưng tớ cũng phải công nhận rằng cái con bé ấy nó đã nói đúng. Xưa nay cậu chỉ quen nghe những lời khen ngợi nên khi gặp những lời nói thẳng nói thật cậu thấy khó chịu tưởng như người ta hạ nhục mình. Thực tế không phải vậy. Cậu bình tĩnh lại mà xét xem thời gian vừa rồi cậu chẳng đã viết những câu chuyện đáng bị phê phán lắm sao. Chẳng hạn như truyện bà cụ nhà lão S. ấy. Tớ nghĩ cậu có tài đừng nản. Hãy coi đây như một sự thử thách để vượt lên chính mình lấy lại phong độ như hồi đầu ấy...

Lương Minh thở dài:

- Vượt ư? à mà lão cho tôi cốc nước. Suốt từ chiều tới giờ chả có giọt nước nào khát khô cả cổ rồi đây này!

Tôi mang đến cho Minh ly nước lạnh. Anh chàng ngửa cổ tu một hơi hết sạch.

                                                                             V.K.L





 

Hà Thị Cẩm Anh

Con Tấc



 

Trích tiểu thuyết Râu Cọp



 

        Đứa trẻ mười hai tuổi lần tới con đường mòn dưới chân núi. Con đường nhập nhòa trong ánh sáng xanh le lạnh ngắt phát ra từ những thân cây mục và lũ sâu đất đang ngoi ngóp bò qua bò lại trên mặt đất ẩm ướt để kiếm ăn. Tiếng côn trùng rả rích. Tiếng gió rít trong hẻm núi. Tiếng kêu khắc khoải của lũ mèo con mất mẹ. Tiếng gầm của một con Cọp từ đâu đó rất xa vọng đến. Có lẽ con Tấc đang trở về. Tiếng gầm nghe nặng nề đau đớn và xót xa như tiếng khóc than của con Tấc làm cho bóng đêm như lõm sâu vào cõi chết chóc rùng rợn nơi âm tào địa phủ. Tiếng gầm của con Cọp đã đánh thức bầy khỉ lông vàng đông đúc đang ngủ rất say trên núi thức dậy. Những con khỉ cái vội vã ôm con nhỏ leo tít lên ngọn cây cao. Chúng la hét om xòm để đánh thức những con khỉ non thức dậy. Cả khu rừng rung chuyển. Cành cây gẫy răng rắc. Lá xanh đổ rào rào. Những con chim cú đang ấp trứng trên ngọn cây gạo què dưới chân núi giật mình cất tiếng kêu thảm thiết rồi vỗ cánh bay ra khỏi tổ. Tiếng xải cánh vun vút tiếng kêu thét của loài chim ác đột ngột vang lên giữa đêm hôm khuya khoắt nghe rùng rợn thê lương như tiếng của thần Lang Khay đang thét gọi những linh hồn về cõi chết. Bầu trời đêm đen khịt bị xé toang ra. Khoảng không gian đen ngòm run lên bần bật. Khu rừng già sâu thăm thẳm bị đánh thức. Những cây cổ thụ lầm lì trở nên giận dữ vặn mình răng rắc làm cho những cơn gió xoáy nổi lên. Giông bão từ đâu đó sầm sập đổ về.

Thằng Đa không hề để ý đến những gì đang xảy ra trên núi. Nó đang lắng nghe tiếng kêu khóc đau thương của con Cọp. Đúng là tiếng của con Tấc. Con thú hoang trung thành ấy đang trở về. Thằng Đa cảm thấy được an ủi một phần. Nó lại tiếp tục bước đi. Cái thân hình nhỏ nhoi của đứa trẻ mười hai tuổi không ngừng bị vặn xoắn xô đẩy tung ném vào giữa cơn lốc xoáy của rừng già lúc nửa đêm. Thằng Đa ngã dúi dụi. Lúc thì bị đẩy vào vách đá tai mèo lô nhô bên cạnh lối mòn. Lúc thì mắc vào giữa lùm cỏ giang giác. Lóp ngóp chui ra nó lại đi tiếp. Thằng Đa cứ lần theo trí nhớ mà đi. Đi còn chưa hết đường núi thì gặp một cái truông nhỏ rậm rạp cây sòng sọng gai um tùm. Không thể chui qua được đám cây gai ken dầy như một bức tường thằng Đa bỏ con đường mòn dưới chân núi đi vòng qua truông đến bên bờ một con suối nhỏ lòng suối tối đen như mực. Những cái rễ quạch xanh lè từ trên ngọn cây nuôn cao vút bên bờ suối buông thõng xuống treo lơ lửng như những con trăn khổng lồ đang treo mình để rình bắt con mồi. Những bụidiây ma vắt từ cây gạo gai cụt ngọn sang cây xộp bên kia suối cứ không ngưng đung đưa như đưa võng. Đã có lần thằng Đa nghe bố kể rằng: Lão ậu Eng ở làng Chiềng Va rất sợ những dây võng ma. Một lần đang giữa ban ngày lão ậu Eng có việc phải đi qua đường núi để về làng Chiềng Va. Đi đến quãng suối này bỗng nhiên lão nghe có tiếng xường ru đêm véo von ở đâu đó vọng lại. Rồi tiếng đưa võng kẽo kẹt và tiếng khóc oa oa của trẻ con vang lên. Lão ậu nhìn quanh quẩn. Rừng xanh thăm thẳm không một bóng người cũng không có một cái hang đá nào có dấu vết của con người trú ngụ. Lão ậu bèn trèo lên một cây cao đưa mắt nhìn quanh quất để tìm kiếm một nóc nhà một ánh lửa trong cái truông núi âm u và hoanh vắng này nhưng lão tìm mãi cũng không thấy gì ngoài những đụn mây trăng cứ vật vờ trong các vũng núi sâu hun hút. Lão ậu vẫn cứ tiếp tục tìm kiếm nhưng chỉ thấy rất nhiều sợi dây rừng to lớn có mầu xanh biếc vắt ngang qua lối mòn. Trời không có gió những sợi dây vẫn cứ đưa qua đưa lại. Hai bên đầu dây vắt trên hai cành cây cao phát ra tiếng kêu kẽo kẹt. Lão ậu Eng niệm mấy câu thần chú rồi vung dao chém đứt một sợi dây ngay trước mặt mình. Có tiếng kêu thất thanh của một người đàn bà vang lên ngay bên cạnh rồi im bặt. Sự im lặng căng cứng nhức nhối. Từ chỗ bị đứt của sợi giây rừng một thứ nhựa đỏ như máu cứ xối xả phun ra. Lão ậu còn chưa hết ngạc nhiên thì đã nhận ra cái lưỡi con lù vật gia bảo của năm đời ậu mo nhà họ Hà ở thung lũng Si Dồ đã bị long ra khỏi cái cán bằng bạc rồi văng mạnh vào một cây sòng sọng gai. Cây sòng sọng đổ gục xuống chụp gọn vào đầu lão ậu mo già. Con lù mẻ mất một miếng lớn. Lão ậu cầm cái cán con lù trong tay mắt hoa lên. Lão cảm thấy như có hàng trăm cây roi cái gậy quật tới tấp vào mặt vào đầu lão. Máu từ trong sợi dây rừng bị lão chặt đứt vẫn nhễu tong tong xuống đất. Bẩy ngày sau cái thứ máu kì lạ ấy mới ngừng chảy. Cũng mãi tới bẩy ngày sau lão ậu Eng mới lần về được đến nhà. Nhưng khi tìm về được đến nhà thì vợ và đứa con trai duy nhất của lão ậu đã chết được năm ngày. Người trong chòm đã chôn cất cho họ khi lão ậu vắng nhà. Lão ậu được báo mộng rằng: Lão đã chém chết hai mẹ con con ma trong lúc ma mẹ đang hát xường để ru cho ma con ngủ. Truông núi là nơi trú ngụ của những hồn ma lang thang. Con ma đang xường để ru con ngủ là một người đàn bà hoang thai bị gia đình chối bỏ đã chết vì đẻ khó. Ma mẹ đang chờ dịp cho con đi cớt để báo thù. Ban đêm của lũ ma lang thang là ban ngày của Mường trần. Thảo nào lão ậu nghe tiếng xường ru đêm rất rõ. Bố bảo: Lão ậu là một thầy mo cao tay nhất vùng thung lũng Si Dồ nên bọn ma vô chủ thờ cúng ấy không làm gì được. Chúng chỉ giận dữ mà đánh cho lão một trận tơi bời rồi bắt vợ và con trai lão phải chết thay khi lão còn chưa kịp trở về nhà. Vì thế lão ậu không còn vợ cũng chẳng còn con trai lão sống một mình cho đến bây giờ. Nghĩ tới câu chuyện của cha thằng Đa cũng cảm thấy chờn chợn nhưng rồi nó vẫn cứ xăm xăm bước. Những con sâu đất nghe tiếng động đã vội vã chui hết xuống đất. Tiếng gầm của con Tấc đã gần hơn. Con đường mòn hoàn toàn bị biến mất trong sự vô biên của bóng tối và sự bất tận của khoảng không gian chật hẹp giữa rừng già. Thằng Đa đành phải lội ngược theo một con suối nhỏ nước chảy róc rách để đến chỗ cây bươn cổ thụ ở một góc truông nhỏ tối tăm cách xa bãi tha ma của người làng Chiềng Va cả mươi bận quăng dao. Thằng bé dừng lại đứng tựa lưng vào gốc cây bươn đưa mắt tìm kiếm hai ngôi mộ của cha mẹ. Cây bươn già nua tàn tật đang rụng lá. Một vùng sáng hiếm hoi và lạnh lẽo hiện ra chơi vơi giữa đêm khuya trong khu rừng hoang vắng khiến cho đứa trẻ không khỏi rùng mình. Tuy rằng cuốc sống của một gia đình mang tiếng mắc bệnh hủi cùi phải sống cách biệt trong rừng nỗi đau quá lớn do hai cái tang của cha và mẹ liên tiếp xảy ra khiến cho thằng bé mười hai tuổi đã trở nên chai lì. Từ lâu lắm rồi nó không còn biết sợ là gì nữa. Nó không sợ đêm tối. Nó không sợ thú dữ nhưng bây giờ bỗng nhiên nó cảm thấy sợ hãi. Nửa đêm xăm xăm đi vào rừng. Để làm gì nhỉ? Thật ra nó cũng không biết! Cả cha cả mẹ đều đang nằm dưới kia. Họ đã chết cả rồi! Nó biết thế nhưng nó chỉ có một mình. Nó không có ai để hỏi xem nó phải làm gì? Khi cha nằm xuống thằng Đa một đứa bé mới hơn mười tuổi còn có mẹ. Hai mế con đặt cho cha nằm vào một khúc gỗ rỗng ruột rồi chằng néo thật kỹ bằng dây rừng cho chắc và cứ thế mế kéo con đẩy. Họ kéo lê khúc gỗ có cái xác của người đàn ông chỗ nương tựa duy nhất của một gia đình côi cút nơi rừng sâu núi thẳm mà đi. Họ đi đến một nơi không định trước. Hai con người khốn khổ gặp một cái hố đốt than của ai đó bỏ lại đã rất lâu họ dừng lại. Người đàn bà và đứa trẻ bèn lấy liềm phát quang những búi cỏ trùm kín miệng hố dùng thuổng đào rộng thêm cho giống một cái huyệt rồi đặt cho cha nằm xuống đấy. Nhưng dù sao cha vẫn có được một nấm mồ tử tế. Một kiếp người cơ cực đã đến hồi kết. Cha lại về với bụi đất nơi mà từ đấy cha đã được sinh ra. Thằng Đa còn sống tuy đau đớn nhưng nó vẫn cứ phải sống. Bên cạnh nó còn mế còn có đứa em gái nhỏ. Thằng Đa vẫn còn có nơi mà nương tựa. Đến khi mế chết thằng bé đã tống cả một nắm lá ngón vào miệng. Thằng bé mười hai tuổi muốn đi theo cha và mẹ. Nó không muốn sống tiếp nữa. Nó sợ. Nó sợ những ngọn núi cao vời vợi quanh năm lười biếng ngủ vùi trong những lớp mây đen mù mịt. Nó sợ những khu rừng tối tăm ướt át luôn luôn tra khảo nó hành hạ nó bằng những tiếng gào rú điên cuồng của những cơn giông và những trận mưa kéo dài vô tận nhưng khi nó định nhai ngấu nghiến nắm lá ngón thì bắt gặp đôi mắt tròn xoe của em gái. Thì ra trên đời này nó vẫn còn lại một người thân. Con bé còn nhỏ quá! Con Hĩm còn nhỏ đến nỗi chưa cảm nhận được hết nỗi đau cứ liên tiếp đổ ập xuống đầu hai anh em. Thằng Đa nhìn em gái rồi lại nhìn cái xác lạnh ngắt của mế. Bỗng nhiên nó rú lên như một con thú hoang bị mũi tên ghim vào lồng ngực. Nhưng tiếng rú của đứa trẻ khi tuyệt vọng chỉ như tiếng nấc cuối cùng của một con thú nhỏ đang hấp hối. Tiếng kêu vừa thoát ra khỏi cửa miệng của thằng bé đã làm cho khoảng không gian chật hẹp giữa rừng già như trùng xuống. Cây cối vật vã. Những ngọn núi cao u ám run lên. Hĩm em bật khóc! Tiếng khóc đơn độc của con bé kéo xuống một cơn giông bất chợt. Mưa rừng đổ xầm xập. Những con hoãng trên lưng chừng núi giật mình cất tiếng kêu thất thanh. Mấy con cú vọ đang ủ rủ trên ngọn cây sau sau già loạng choạng bay ra rồi mất hút trong khoảng không mưa gió đen ngòm:

- Trời ơi! Sao lại thế này? Tại sao mình vẫn phải sống chứ? Sống mà khổ sở thế này thà chết còn hơn!

Thằng Đa thở dốc. Con Hĩm vẫn khóc rấm dứt bên tai nó! Thì ra nó vẫn còn có Hĩm Em! Hĩm Em rất cần có người lớn bên cạnh để nuôi nấng chăm bẵm. Mình chết thì Hĩm Em sống với ai? Mình phải sống thôi! Cố lên mà sống!

Thằng Đa phun phì phì. Những mảnh lá ngón nát vụn từ miệng nó bay vọt ra rơi lả tả xuống sàn nhà. Hĩm Em lao đến ôm chặt lấy cổ anh trai. Con bé mới hơn năm tuổi. Một con bé năm tuổi ở một mình trong rừng sẽ bị chết rất nhanh. Chẳng nói gì đến chuyện chết đói chết ốm hay bị thú dữ ăn thịt mà lũ muỗi đói lũ vắt xanh và những con kiến mòn cũng có thể giết chết nó bất cứ lúc nào. Thôi thì cũng đành phải sống vậy! Cứ sống đã rồi sẽ tính sau. Nếu sống được lâu lâu một chút nhất định mình sẽ tìm đường đưa em gái thoát khỏi nơi này.

Hai anh em chặt một cành cây đặt mế nằm lên trên lớp lá cho êm lấy cái dây thắt lưng bằng lụa sồi của mế cuốn lại cho thật chắc rồi cứ thế hai anh em mỗi đứa kéo một bên đưa mế vào rừng chôn vào một cái hố đào củ mài ngay bên cạnh bố. Khi vùi mế xuống cái hố củ mài nông choèn choẹt bàn tay nhỏ xíu của đứa em gái cũng nhặt được vài hòn đất ném xuống. Như thế cũng là phúc đức lắm rồi! Có lẽ ở chốn Mường ma voong vài của mế cũng được an ủi một phần. Nhưng bây giờ thì thằng Đa chỉ còn trơ lại một mình.

*

Lần này đến phải khó khăn lắm Đa mới tìm thấy hai ngôi mộ của bố mế nằm cạnh nhau. Những vết chân Cọp vẫn còn hằn chi chít chung quanh hai ngôi mộ. Dấu chân của con Tấc đứa con nuôi của hai người. Thằng Đa cũng không biết vì sao khi bố mế qua đời nó không hề vào núi báo tin mà con Tấc vẫn biết được để trở về? Khi bố chết con Tấc đang nuôi con nhỏ nên nó không ở lại lâu. Suốt mấy ngày liền con Cọp cứ quanh quẩn bên ngôi mộ của cha nuôi. Con Tấc không chịu đi săn mồi mà cứ nằm phủ phục trước ngôi mộ nước mắt ứa ra. Hôm thằng Đa cùng với mế vào cúng ba ngày cho bố nhìn thấy hai người con Tấc cũng không đứng dậy. Nó cũng không mừng quýnh lên như những lần trở về thăm nhà. Con vật chỉ uể oải nhìn mế rồi lại nhìn thằng Đa bằng cái nhìn giận hờn và trách móc. Nó khóc! Nó khóc mãi cho đến khi mế đến bên cạnh lấy tay áo chùi nước mắt cho nó ôm chặt nó vào lòng rồi thổn thức nói:

- Con à! Nhà có chuyện buồn mế không nhắn tin cho con về. Con giận mế. Đúng không? Nhưng Tấc à! Biết làm sao được? Con đang nuôi con nhỏ mà! Để bọn trẻ ở nhà một mình không được đâu. Bọn thợ săn độc ác lắm! Ta sợ. Ta sợ nên không báo tin cho con biết đấy thôi. Con đừng trách ta. Con đừng giận thằng Đa thế nữa. Tội nghiệp lắm con à! Sữa con căng rồi đấy! Bọn trẻ cũng đói rồi! Chúng đang nhớ mẹ.

Con Tấc vẫn nằm trong lòng mế lặng lẽ khóc. Mế sờ bầu sữa căng cứng của đứa con gái nuôi rồi lại giục nó thêm lần nữa:

- Con à! Lũ trẻ đói rồi! Con hãy trở về đi! Lâu lâu con dẫn các cháu về thăm ta một lần. Bây giờ thì con hãy đi đi. Sữa con căng cứng rồi. Lũ Cọp con đang đợi đấy!

Con Tấc uể oải dời khỏi lòng mế. Trươc lúc bỏ đi con Cọp đã cào nát cả cỏ xung quanh ngôi mộ. Chắc con vật muốn đắp điếm cho cha thêm vài nắm đất. Đến khi mế chết con Tấc dẫn theo cả hai con của nó trở về. Suốt mấy đêm liền cả ba con Cọp không ngớt gầm gào bên cạnh hai ngôi mộ. Trong rừng chim muông xào xạc. Thú hoang hoảng hốt kinh hoàng. Mang tác nai kêu khỉ vàng la hét như có động rừng. Một đêm thằng Đa nghe âm vang của tiếng cồng săn từ dưới thung lũng theo gió bay lên. Thằng bé hốt hoảng choàng dậy tim đập thình thịch. Con Tấc đang gặp nguy hiểm! Đã có lần bố kể cho thằng Đa nghe về những Con Người làm nghề săn bắn ở làng Chiềng Va. Có lẽ Con Người đã đánh hơi được mùi Cọp. Gần sáng thằng Đa dựng con Hĩm dậy rồi cõng em vượt truông núi đi tìm con Tấc. Vừa đến gốc cây bươn già thằng Đa đã nhìn thấy ba mẹ con con Tấc đang ngồi vây quanh hai ngôi mộ trước mặt chúng là một con nai còn đang nhễu máu tươi. Thằng Đa trào nước mắt. Lúc còn nhỏ mỗi khi săn được con mồi lớn con Tấc thường đem về nhà. Nó đặt con mồi dưới chân thang ngồi đợi bố từ trong rẫy trở về. Bây giờ con Tấc cũng đang ngồi đợi. Nó đợi bố mế trở về. Bố sẽ xẻ con mồi và chia cho nó phần tươi ngon nhất. Hai con Cọp con háu đói thỉnh thoảng lại xấn đến định ngoạm một miếng nhưng liền bị mẹ chúng giơ tay tát cho một cái thật đau. Nhìn thấy thằng Đa và Hĩm Em hai con Cọp con nhẩy tót vào đám sa nhân cao lút đầu người rồi thu mình lại ngồi rình. Hai con Cọp còn nhỏ chúng chưa biết săn mồi nhưng một cú vồ của chúng cũng đủ làm cho cả hai anh em mất mạng. Lúc mới đến thằng Đa nhìn thấy một chút nước tiểu Cọp còn đọng lại trên chiếc lá bươn khô Đa đã lấy chỗ nước tiểu ấy xoa lên đầu lên tóc và lưng áo cho con Hĩm. Bây giờ trên người Hĩm Em đã sặc nồng mùi nước đái Cọp nhưng thằng Đa vẫn cảm thấy lo lắng. Cậu bé bế Hĩm Em định đặt nó ngồi lên chạc cây bươn cho an toàn nhưng cậu bé vừa mới xốc nách Em gái lên thì đã nghe một tiếng vút rất mạnh. Lớp không khí nặng nề của buổi sáng giữa rừng hoang bị xé toang ra. Hai anh em thằng Đa bị ngã chổng kềnh vào bụi cỏ. Một con Cọp nhỏ đã nằm úp gọn lên người Hĩm Em. Nhưng cũng chỉ nhanh bằng một cái chớp mắt thằng Đa đã nghe thấy một tiếng vút qua đầu tiếp theo là tiếng kêu tức giận của con cọp nhỏ khi nó bị ngã lăn ra đất ngay bên cạnh thằng Đa. Con Tấc đang liếm tóc cho Hĩm Em. Thì ra con Tấc đã kịp hất con nó ngã để cứu cô chủ nhỏ. Thằng Đa sung sướng ôm lấy cái đầu to tướng của con Tấc mà bảo:

- Tấc à! Cảm ơn mày lắm lắm! Nhưng con mày đói rồi mà! Hãy cho các đứa nhỏ ăn thịt đi thôi. Bố không về nữa đâu. Bố chết rồi! Mế cũng chết rồi! Mày biết thế mà!

Con cọp ngồi im lặng trong vòng tay của thằng Đa. Đôi mắt to sáng quắc của nó nhắm nghiền. Thằng Đa lại nói:

- Con Người thợ săn biết mày về rừng Chư Lẹ rồi! Mày thăm bố mế thế thôi! Mày đi đi Tấc à! Con Người thợ săn đó ác lắm! Phải đem các con Cọp nhỏ đi thôi! Phải đi thật xa. Đi xa tận nước Lào cũng được. Phải trốn Con Người thật lâu! ở đây Con Người ấy sẽ tìm đến. Họ sẽ giết mày giết chết các con mày đấy Tấc ơi!

Hình như con Tấc hiểu được những lời thằng Đa nói. Từ khi còn nhỏ hai đứa vẫn nói chuyện với nhau như thế! Cả nhà không ai nghĩ con Tấc là một con ác thú hoang giã mà nó chỉ là con vật nuôi trong nhà. Con vật được uống sữa của con người mà sống sót. Được nuôi dưỡng bằng thức ăn của con người. Được ở trong một ngôi nhà sàn có bếp lửa ấm áp. Nó được cả nhà yêu thương. Bố mế dành cho nó vị trí xứng đáng. Vị trí của một đứa con nên con vật đã mất đi cái phần thú dữ trong nó. Con Tấc tinh khôn và trung thành như một con chó. Ngoan ngoãn như một đứa trẻ. Hiền lành như một con mèo khoang. Điều con Tấc thích nhất là được chơi đùa nghịch ngợm với thằng Đa nghịch cho đến khi cả hai đứa mệt nhoài rồi cùng nhảy bùm xuống hón nước ngay trước cửa voóng nhà mà tắm táp bơi lội thật thỏa thích rồi mới lên sàn. Bữa cơm đã được dọn ra. Bố mế đang ngồi chờ. Bố chia cho con Tấc phần ăn ngon nhất. Một con gà rừng béo ngậy mới săn từ rừng về. Một tảng thịt nai tươi. Con Tấc đã no nê nhưng mế vẫn ép nó phải ăn hết cả nửa hông xôi nóng hôi hổi. Mế bảo: Con Tấc được ăn thức ăn của con người sẽ khôn hơn sẽ ngoan hiền hơn sẽ biết thân thiện biết gần gũi yêu thương con người hơn. Con Tấc biết nghe lời mế. Nó cố ăn. Khi đã ăn xong con Tấc lên gần cửa voóng chỗ mà nó ưa thích để nằm ngủ. Nó thả cái đuôi rất dài của mình qua bậu cửa cho rơi thỏng ra ngoài. Hầu như con Tấc hiểu được tất cả những gì bố mế và thằng Đa nói với nó. Con Hĩm ra đời bố mế bảo con Tấc hãy trở về ngôi nhà thật sự của nó là rừng xanh vì con Tấc chưa quen với thành viên mới của gia đình. Bố mế sợ có điều gì đó bất trắc xảy ra. Phần nữa con Tấc cũng đã trưởng thành. Nó cũng cần phải có một gia đình mới cho riêng mình. Bố cũng đã tập cho nó làm quen dần với cuộc sống nơi hoang dã. Con Tấc đã tự biết đi săn mồi mà không cần bố phải đi kèm.

Con Tấc ra đi nhưng thỉnh thoảng vẫn trở về nhà thăm bố mế nuôi. Khi con Tấc trở về bố mế có phần lo lắng cho Hĩm Em nhưng thằng Đa đã có cách riêng của mình. Cậu bé chỉ cần mặc cho hĩm Em cái áo có mùi Cọp và bảo với con vật: Đây là đứa em gái út trong nhà. Em còn nhỏ không được nghịch làm em gái bị đau. Thế là tất cả mọi sự lo lắng của bố mế đều tan biến cả. Hôm ấy Thằng Đa thật sự lo sợ từ lúc nó nghe được tiếng cồng săn từ dưới thung lũng theo gió vọng lên. Cậu bé biết con Tấc đã trở về. Con Tấc đang ở bên mộ của bố mế. Đa rất mừng vì được gặp lại con vật yêu quý nhưng cậu cũng sợ vì bây giờ con Tấc không còn được an toàn nữa. Thợ săn như một bầy quỷ giữ. Con Tấc chỉ là một cá thể yếu đuối của rừng xanh. Bọn thợ săn rất thích ngửi mùi máu tươi của những con thú vô tội. Bố bảo: Một vài kẻ muốn có được một cái râu cọp mà cả đời không ngừng săn lùng bắn giết. Cả đời đi tìm giết cho được một con Cọp để lấy râu. Bố không nói cho thằng Đa biết họ cần cái râu cọp làm gì. Nhưng bố bảo: Đó là những con người rất độc ác. Họ còn độc ác hơn cả con cọp con beo đã hóa thành tinh. Thằng Đa hiểu: Những kẻ độc ác mới làm nghề thợ săn. Họ làm thợ săn để được bắn giết! Các phường săn ở thung lũng Si Dồ cũng thế. Họ đã đánh hơi được mùi con Tấc thì không bao giờ thôi lùng sục nó.

Thằng Đa không buông vòng tay nhỏ bé của mình ra khỏi cái đầu to tướng của con Tấc. Nó vừa khóc vừa dỗ dành con vật:

- Ta biết mày thương bố mế lắm Tấc à! Bố mế cũng thương mày nhưng bố mế chết rồi không bảo vệ được mày nữa đâu. Mày phải đi thôi! Đi thật nhanh thôi! Mày đi lúc nào tao nhắn tin tìm mày thì mới trở về. Được không?

Con Tấc nhìn thằng Đa bằng đôi mắt to rất buồn. Nó hiểu những gì thằng bé nói. Bởi vì chưa bao giờ Đa nói với nó như thế cả. Cũng chưa bao giờ Đa khóc khi gặp lại nó. Con Tấc dụi mãi cái mõm lọ lem của nó vào lòng thằng Đa. Cậu bé đã quen động tác này của con Tấc. Con Cọp đang nói với thằng Đa những lời thân thiết nhất:

- Đa à! Tao biết rồi mà! Tao cũng biết lũ thợ săn đang lần theo dấu chân tao và lũ Cọp con trong rừng Chư Lẹ. Lũ Cọp con còn nhỏ. Chúng chưa biết cách tránh mũi tên viên đạn cái bẫy sập của con người. Để chúng nó ở lại rừng Chư Lẹ lâu lâu cũng nguy hiểm lắm! Bố mế chết tao thật đau lòng. Nhưng biết làm sao được! Nếu những đứa con tao bị thợ săn giết hại thì voong vài bố mế cũng chẳng được yên. Tao đã đem thịt về cúng cho hai người bây giờ tao phải đi thôi! Tao sẽ đem các con đi khỏi rừng Chư Lẹ nhưng tao đi rồi tao sẽ trở về thăm! Nhất định tao sẽ về thăm! Hãy chăm sóc cho em gái nhỏ.

Con Tấc dẫn con đi. Nó đi đâu thằng Đa không biết. Từ bấy đến nay cũng đã hai mùa cây bươn già thay lá mới. Bây giờ con Tấc lại trở về. Con Cọp trở về để tang cho em gái. Tiếng gầm của nó nghe đã rất gần...

                                                                     H.T.C.A

Tiêu Đình



 

Nơi dòng kênh nghẹn lại



Truyện ngắn



      Cánh đồng khát mưa mỏi mòn nằm chờ đợi nước như nàng Tô Thị vô vọng ôm con đợi chồng....

Ở đây từ thời nảo thời nao cây lúa vẫn chỉ được gieo cấy và thu hoạch mỗi năm hai lần. Vụ hè đất nứt trắng con cua con cá gom dần vào trong những đáy ao rặt bùn rồi cũng chết queo hay bị người ta khỏa bùn lượm về như lượm những củ khoai củ sắn. Gốc rạ ròn rụm dưới nắng chỉ cần cho một mồi lửa là biến thành tro đen trong chốc lát. Con trâu con bò gặm đến cây cỏ cuối cùng gặm đến đất cát vẫn không thấy cỏ mọc thêm ra được ngọn xanh nào. Lũ châu chấu không tìm được chỗ trú nóng đành phải đổ dồn vào các bụi dứa dại làm mồi cho lũ trẻ mình trần đen láy thường lùng sục vào những trưa vắng.

Chỉ có những trò vui như đá bóng thả diều đào hang bắt dế... là tồn tại được lâu trên cánh đồng phơi nắng suốt cả mấy tháng trời. Nhất là khi mặt trời chỉ còn cách đỉnh núi Chúa chừng một cái cán cuốc nắng yếu dần và cánh đồng bắt đầu thoảng gió núi. Chiều quê đúng nghĩa chiều quê là lúc này đây trên cánh đồng này đây. Trẻ già trai gái đổ ra đồng hóng mát như người dân phố thị tìm đến với biển. Chị dỗ em ăn cho được nhiều cơm cũng tay nách tay bưng dạo ra đồng....

Chờ mưa cha tôi di tản từ ngoài đồng về với những bóng râm trong vườn. Trưa nóng không nghỉ được ông đẫm mồ hôi ngồi vót những nan tre phận người để đan rổ vá lại chiếc gàu tát nước hay chẻ lạt để sửa cái chái củi....

Chỉ một cơn mưa giông không đủ thấm đường cày sâu cũng khiến ông khấp khởi mừng vui dậy từ mưng sáng vội vã vác cày dắt trâu ra đồng để tranh thủ thá ví cho xong dám ruộng cạn. Cha nói cày lên phơi nắng cũng phải lo cày cho rồi. Đến khi có mưa trở tay không kịp. Mà có phải một mình cha lo chạy đua với nắng đâu. Cả xóm đều hối hả cả cánh đồng rộn ràng tiếng thá ví tiếng người gọi người. Và cũng chỉ chưa đầy một ngày là nước bốc hơi rút vào lòng đất khô sạch. Nắng hạn đâu lại hoàn đó.

Không chờ không đợi được nữa rồi! Trễ mất vụ mùa sống chết. Cha huy động cả gia đình mang vồ ra đập cục. Đập lúc mơ sáng lúc chiều tối lúc có trăng đêm. Đập một lần hai lần nhiều lần... Tôi được giao xách cái ấm nhôm và cái ly nhựa mỗi buổi chạy đi về ba lần mà vẫn không đủ nước uống. Đất cày vội khô cứng thành từng mảng trắng vỡ đôi rồi vỡ tư vỡ tám... cho đến khi nhỏ rứt. Bụi bay mồ hôi chảy... Và những hạt giống gieo tỉa liều mạng được đổ ra nắng như đem cái rủi may đời người mà đánh bạc với đất trời. May chi đến đầu tháng có mưa. Cha nói mắt nhìn về hướng núi Chúa giống ánh mắt của nàng Tô Thị đợi chồng.

Có những canh bạc may lúa đón đầu được mưa bám rễ nhanh vào đất tơi xốp lớn nhanh xanh nhanh như con gái dậy thì. Nhưng cũng có khi người dân xóm tôi phải gieo tỉa đến lần thứ hai thứ ba. Con người đã phải vắt chân lên cổ chạy theo thời vụ mà cũng chỉ để cầu may. Đúng là cầu may. Trăm sự nhờ vào giọt nước trời.

Vụ nắng là vậy đã đành! Vụ mưa cũng không dễ ăn. Có những lúc tưởng như hạt lúa đã nằm gọn trong bồ trong ghè thì bỗng dưng lại trôi tụt ra sông biển. Chỉ trong chốc lát lũ về là nước trắng đồng. Đội mưa đứng nhìn ruộng lúa chín vàng chìm ngập trong nước không biết cha tôi đã nghĩ gì? Có người nhanh tay đưa vội được hạt lúa về nhà thì cũng chỉ để bó tay ngồi nhìn chúng nứt mộng trắng toát....

*

Đã quen sống chung với mưa dầm nắng quái nên người dân xóm tôi không dám mơ cái ngày mình làm chủ được nước tưới ruộng đồng. Niềm vui thăng hoa tột đỉnh khi cái không dám mơ tới lại trở thành hiện thực. Đó là từ ngày có con kênh sâu hoắm xẻ đỏ đồi ông Phi để dẫn nước về xóm. Gặp đá phá đá gặp cát chắn cát. Để nắng vẫn cứ nắng mà nước vẫn cứ xanh trong ướp mát từng gốc lúa. Cha tôi nghĩ gì lúc này khi gia tộc đã trải qua chín đời làm nông mà vẫn với tâm thế cầu may từng giọt nước trời? Cực mà sướng. Cha nói như người gàn dở nếu không được nghe ông giải thích. Từ hai vụ chuyển sang ba vụ thì suốt năm bận rộn với cây lúa. Nhưng mà vui. Vui vì không phải lo chạy thêm đồng tiền mua gạo. Làm nông mà mua gạo thử hỏi không buồn sao được. Lại vui vì nắm chắc được trong tay điều mình muốn; đêm đêm không còn thao thức vào ra để trông chờ từng đám mây từng ánh chớp. Lại vui vì mỗi sáng dạo ra đồng thấy lúa xanh mát mắt mát ruột; chỉ nhìn đã no tròn hạnh phúc.

Rồi một ngày cha tôi nói chuyện với người bạn láng giềng rằng xóm mình ngày còn sống nhờ vào nước trời thì đất thênh thang đất. Đến khi chủ động được thủy lợi đất lại teo nhanh. Ngó như một đường đi thẳng mà thực sự là vòng vo. Cuối cùng huề cả làng! Nghịch lý này cha tôi muốn ám chỉ việc khu dân cư mới của xóm lấn tràn xuống ruộng cạn cây lúa mất dần chỗ đứng co lại buồn thiu dưới trũng sâu. Vừa hết lo vì phải cá cược phận người vào rủi may nắng gió dân trong xóm lại tiếp tục buồn vì đất ruộng không tương xứng với sự phình nở dân cư. Nên lại sinh ra một nghịch lý mới: khi nhà máy nhà tầng mọc lên càng nhiều thì lao động chính trong xóm càng tỏa đi làm ăn tứ phương hết sạch. Trơ lại là người già trẻ con. "Kiểu ni chết không có người khiêng khổ thiệt!" Mấy cụ già trong xóm thường than với nhau như thế.

Thế rồi m