KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

                 ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP


           TƯ TƯỞNG VÀ CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ


         TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ


 

                                      Thượng tướng Giáo sư HOÀNG MINH THẢO



         Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa những tinh hoa truyền thống của dân tộc. Lãnh đạo quân đội ta suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến Ông đã dẫn dắt quân đội vượt qua muôn vàn khó khăn đánh bại mọi chiến lược quân sự của các viên tướng xâm lược của hai đế quốc to là Pháp và Mỹ để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và đến ngày toàn thắng trọn vẹn. Tài thao lược của Ông được thể hiện qua những quyết sách với nhãn quan sâu rộng nhạy bén và sáng tạo quyết đoán và quả cảm Ông nắm vững quy luật đặc thù của chiến tranh nhân dân Việt Nam đề ra mưu kế chiến lược truyền cảm cho bộ đội những nguyên tắc về nghệ thuật nắm thời cơ yếu tố bất ngờ nghi binh lừa địch đồng thời vận dụng thích hợp quy luật phổ biến về chiến tranh và kết thúc chiến tranh bằng những đòn đánh tiêu diệt giành thắng lợi quyết định.

Trong kháng chiến chống Mỹ đi vào xây dựng lực lượng để giáo dục cho quân đội Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết lý luận về đường lối quân sự của Đảng nêu cao tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh: Chiến tranh nhân dân là chính nghĩa chống xâm lược. Đó là sức mạnh chính trị tinh thần của toàn dân (...).

Trong lúc cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam diễn ra gay go ác liệt miền Bắc đang bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa xây dựng cơ sở vật chất để tạo thực lực cho cả nước Ông đã sớm đề xuất với Bộ Chính trị cho mở con đường chiến lược Trường Sơn. Con đường chi viện Bắc - Nam mang tên Hồ Chí Minh được hình thành từ đó (tháng 5 năm 1959) và phát triển theo dòng cách mạng tiếp sức cho miền Nam đến ngày toàn thắng. Tư tưởng lớn về đánh tiêu diệt chiến lược ở Ông luôn gắn liền với việc mở đường cho các binh đoàn chủ lực. Không có đường cơ động không thể có tác chiến binh chủng hợp thành và do đó không thể đánh tiêu diệt chiến lược giành thắng lợi quyết định. Về sau này trong mọi chiến dịch quan trọng điều mà Ông rất quan tâm bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi đó là vấn đề làm đường.

Cùng với những đóng góp rất lớn của Ông về quyết sách chiến lược xây dựng và tổ chức các lực lượng vũ trang nhân dân Ông còn rất quan tâm chỉ đạo cách đánh chỉ đạo chiến thuật cho bộ đội.

Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam đẩy mạnh "chiến tranh cục bộ" chúng ỷ lại vào hỏa lực mạnh phương tiện cơ động cao. Để đánh bại được quân Mỹ từ thực tiễn chiến trường bộ đội Tây Nguyên đã đề ra chiến thuật "chốt kết hợp với vận động". Khi chúng tôi đem chiến thuật này ra Bắc báo cáo Ông và Bộ Tổng Tham mưu góp ý và sửa lại là "vận động tiến công kết hợp với chốt" thể hiện tinh thần tiến công mạnh mẽ hơn. Nhờ đó mùa đông năm 1967 trong chiến dịch Đắc Tô I bộ đội Tây Nguyên đã thành công và hoàn thiện chiến thuật "vận động tiến công kết hợp với chốt" mở ra khả năng mới đánh tiêu diệt những đơn vị quân Mỹ trên chiến trường. Bộ đội ta đã dùng mưu lừa hai lữ đoàn Mỹ và một lữ đoàn ngụy vào nơi ta định dử dùng chiến thuật "vận động tiến công kết hợp với chốt" đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 là lữ đoàn cơ động chiến lược của Mỹ làm cho quân Mỹ choáng váng từ đó đã chùn bước tiến sâu vào các căn cứ của ta.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 Ông khẳng định sự đúng đắn sáng suốt của Bộ thống soái về chủ trương nhưng Ông lại không đồng tình cách điều hành tổng khởi nghĩa - tổng tiến công kéo dài tiếp tục các đợt 2 đợt 3 khi không còn yếu tố bất ngờ nữa địch sẽ gượng dậy ta sẽ tổn thất.

Vào giữa năm 1972 sau khi các chiến dịch Quảng Trị Bắc Tây Nguyên miền Đông Nam Bộ đã mở ra Ông sớm dự liệu được khả năng "Sắp tới Mỹ có thể cho không quân kể cả không quân chiến lược B52 đánh phá trở lại miền Bắc". Từ đó Ông gấp rút cho hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến và tài liệu hướng dẫn cách đánh B52 để bộ đội luyện tập. Đồng thời Ông cũng yêu cầu Quân chủng Phòng không - Không quân xác định chỉ tiêu bắn rơi B52 để từ đó có những quyết sách chiến lược kịp thời.

Nhớ tới lời tiên tri của Hồ Chủ tịch: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua" trong một buổi họp quan trọng của Bộ Quốc phòng tháng 11 năm 1972 Đại tướng Tổng Tư lệnh khẳng định: "Âm mưu của Mỹ cho B52 đánh Thủ đô Hà Nội linh hồn của cuộc kháng chiến sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô". Sau đó một tháng tại đại bản doanh "Nhà Rồng" ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội Ông đã theo dõi chỉ đạo từ đầu đến cuối trận đánh lịch sử 12 ngày đêm của lực lượng phòng không - không quân đánh thắng cuộc tiến công chiến lược bằng B52 của đế quốc Mỹ làm nên "Điện Biên Phủ trên không" lịch sử mới buộc quân Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Sau khi hoàn thành được một nửa chiến lược mà Bác Hồ di huấn là: "Đánh cho Mỹ cút" ta tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chiến lược còn lại là: "Đánh cho ngụy nhào" Ông đã gấp rút đề nghị với Bộ Chính trị về việc xây dựng các "quả đấm thép" sau ngày ký kết Hiệp định Pari. Được Bộ Chính trị đồng ý khi hội đủ các điều kiện cần thiết ba quân đoàn chủ lực cơ động: Quân đoàn 1 thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1973 tại miền Bắc tiếp đó Quân đoàn 2 ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại chiến trường Tây Bắc Huế và Quân đoàn 4 ngày 20 tháng 7 năm 1974 cũng tại chiến trường miền Đông Nam Bộ lần lượt ra đời.

Nhờ đó khi chiến cục Đông - Xuân 1974-1975 bước vào giai đoạn quyết định thấm nhuần tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976 và nếu có thời cơ thì giải phóng miền Nam trong năm 1975 trước hết giải phóng Tây Nguyên Ông dùng mưu kế chiến lược thật tuyệt vời do việc thành lập các quân đoàn mà hình thành: giăng địch ra hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến (Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn) để hở quãng giữa (ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên) bằng cách cho áp sát Quân đoàn 1 ở bờ Bắc sông Bến Hải; Quân đoàn 2 ở Tây Huế; Quân đoàn 4 ở Đông Nam Bộ - Bắc Sài Gòn. Địch buộc phải phòng ngự chiến lược và bố trí hai sư đoàn dự bị chiến lược ở Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn để sẵn sàng đối phó với ta.

Với hình thái chiến trường như vậy địch bộc lộ sơ hở ở quãng giữa nhất là Tây Nguyên. Mặc dù biết rõ vị trí chiến lược của Tây Nguyên nhưng địch cho rằng ở đây ta chỉ có hai sư đoàn thì cũng chẳng làm được gì lớn với những tập đoàn cứ điểm vững chắc ở Kon Tum Pleiku.

Mưu kế chiến lược của Ông là để tạo ra thế chiến lược cho Tây Nguyên. Ghìm địch ở hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến nhằm tạo thế có lợi cho quãng giữa là Tây Nguyên. Đến đây Ông cùng với Bộ thống soái quyết định chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975. Trên hướng tiến công chủ yếu lại chọn Buôn Ma Thuật làm trận mở màn then chốt quyết định. Đánh vào chỗ yếu vào nơi hiểm yếu đây chính là đòn bất ngờ chí mạng đối với địch.

Khi đã giữ chặt được sư dù và sư thủy quân lục chiến là những lực lượng cơ động chiến lược của địch ở hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến thì đó là thời cơ để ta tiến công địch ở Tây Nguyên. Điều hay hơn nữa để phá vỡ Tây Nguyên một cách chắc chuyển hóa cả thế và lực Ông đã bất ngờ nhanh chóng tăng thêm cho Tây Nguyên hai sư đoàn nữa (Sư đoàn 968 và 316). Tây Nguyên từ chỗ có hai sư đoàn (Sư đoàn 10 và 320) trở thành có bốn sư đoàn và một số trung đoàn độc lập cộng thêm sự phối hợp của Sư đoàn 3 Sao Vàng - Quân khu đã trở thành một tập đoàn chiến lược - một "quả đấm thép" thực sự.

Chiến dịch Tây Nguyên được mở màn với trận then chốt - giải phóng Buôn Ma Thuật và đòn then chốt tiếp theo đánh bại phản kích tiêu diệt sư đoàn 23 của địch tạo thành trận then chốt quyết định đã làm tê liệt mọi hoạt động tác chiến của chúng trên chiến trường Tây Nguyên thậm chí gây hoảng hốt đến tận sào huyệt ngụy Sài Gòn. Từ đây đã dẫn đến một sự đột biến chẳng còn biện pháp gì hơn Nguyễn Văn Thiệu đành phải ra lệnh "tùy nghi di tản" cho quân rút bỏ Tây Nguyên hòng về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung. Kon Tum Pleiku không đánh mà thắng đến khi toàn bộ quân địch rút chạy từ Kon Tum Pleiku trên đường số 7 đến Cheo Reo Củng Sơn rồi đến tận Tuy Hòa thì bị tiêu diệt và bị bắt sống. Đúng như tiên đoán của Đại tướng khi tiễn tôi vào chiến trường ở Hà Nội cũng đã nói: "Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên chúng sẽ về co cụm ở các tỉnh ven biển miền Trung". Một dự đoán chiến lược mà nhờ đó Mặt trận đã được Bộ chỉ đạo truy kích tiêu diệt địch kịp thời.

Từ thắng lợi của thế chiến dịch đã nhanh chóng tạo thành thắng lợi của thế chiến lược tạo ra một cục diện chiến tranh mới đẩy địch vào thế hỗn loạn về chiến lược. Ngay giữa lúc đó Ông đã chỉ đạo mở chiến dịch kế tiếp Huế - Đà Nẵng. Chiến thắng nối tiếp chiến thắng địch bị tan vỡ từng mảng trong từng ngày một cách nhanh chóng đột ngột. Như một phản ứng dây chuyền lan ra làm suy sụp tinh thần quân địch và rối loạn chỉ huy từ trung ương đến cơ sở.

Thời cơ lịch sử đã đến cả nước ra quân bước vào trận quyết chiến chiến lược: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Từ Tổng hành dinh Ông đã chỉ huy các mũi tiến công của đại quân ta với phương châm "Thần tốc táo bạo bất ngờ chắc thắng". Mệnh lệnh của Ông đã trở thành tiếng kèn xung trận:

"Thần tốc thần tốc hơn nữa; táo bạo táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng".

Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ 17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975 năm cánh quân với sức mạnh của 15 sư đoàn tiến về Sài Gòn. Đến 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975 xe tăng của ta tiến thẳng vào Dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ Bộ thống soái địch. Lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Phủ Tổng thống ngụy báo hiệu ngày toàn thắng hoàn thành nhiệm vụ chiến lược của Bác Hồ trao cho là: đánh cho ngụy nhào kết thúc 30 năm kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

                                                      Hà Nội tháng 4 năm 2003

                                                                    H.M.T

(Trích trong cuốn Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam (NXB Quân đội nhân dân - Hà Nội 2010)