TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

   Tiếng địa phương và tiếng địa phương

               trong sáng tác văn học



                                                                          NGUYỄN MẠNH HÙNG



 

I. Tiếng địa phương

Đất nước ta có 54 dân tộc sống trong cương vực lãnh thổ Việt Nam độc lập. 54 dân tộc anh em đều có ngôn ngữ tiếng nói riêng làm nên một bản sắc văn hóa đa sắc màu thẩm mỹ. Nhà nước Việt Nam quy định: Tiếng dân tộc Kinh (Việt) là tiếng phổ thông dùng cho toàn dân tộc trên các lĩnh vực chính trị văn hóa giao tiếp sinh hoạt...

Đến nay Nhà nước phân chia đất nước thành 63 đơn vị hành chính hàng tỉnh - thành phố trực thuộc Trung ương. Như vậy chúng ta có 63 địa phương (hành chính) sử dụng tiếng Kinh. Nhưng trong 63 tỉnh thành đó nhân dân ở mỗi tỉnh thành đều có cách phát âm tiếng phổ thông khác nhau. Và nói theo phong cách ngôn ngữ tiếng địa phương đều có những thổ âm thổ ngữ khác nhau.

Thanh Hóa là một trong những địa phương hàng tỉnh nói tiếng phổ thông theo thổ âm thổ ngữ của địa phương mình. Giao tiếp với thiên hạ chỉ dăm ba câu người ta dễ dàng nhận ra là người Thanh Hóa. Xin nêu một vài cứ liệu. Người Thanh Hóa phát âm dấu hỏi (?) và dấu ngã (~) lẫn lộn. Người Thanh Hóa cũng phát âm lẫn lộn giữa nguyên âm đôi "iê" với nguyên âm đơn "ê". Cứ liệu này sẽ được chứng minh ở phần tiếng địa phương trong sáng tác văn học.

Nhưng nếu xét địa phương ở khái niệm rộng (không phải địa phương hành chính hàng tỉnh - thành phố) của khoa học khí tượng thủy văn và khí hậu nước Việt có 7 vùng miền khí hậu. Thanh Hóa là vùng đệm (giữa) của hai vùng: Bắc bộ và Thanh Hóa; Thanh Hóa và Bắc miền Trung (ta thường nghe trong chương trình dự báo thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng). Xét trên phương diện khoa học ngôn ngữ tiếng địa phương thì Thanh Hóa có ngôn ngữ và tiếng địa phương gần như hòa đồng với các địa phương hàng tỉnh Bắc miền Trung: Nghệ An Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên Huế. Dấu ấn ngôn ngữ tiếng địa phương Thanh Hóa ở Bắc bộ rất ít nếu không muốn nói là không có. Điều này cũng sẽ được chứng minh tiếng địa phương Thanh Hóa trong các sáng tác văn học.


II. Tiếng địa phương trong các sáng tác văn học

Phần trên là khái lược một số cơ sở phương pháp luận về tiếng phổ thông tiếng địa phương và khái niệm địa phương được hiểu một cách rộng hẹp khác nhau để làm nền cho việc lý giải cắt nghĩa tiếng địa phương trong sáng tác văn học.

Hai vấn đề cần lý giải: Một tiếng địa phương sử dụng trong sáng tác văn học về mặt liều lượng. Hai những loại từ từ loại nào thường xuất hiện trong sáng tác văn học.

Việc dẫn chứng và phân tích sẽ thu hẹp ở thể loại trữ tình của văn học dân gian và thơ trữ tình hiện đại cùng một vài sáng tác ở các loại hình nghệ thuật khác.

Câu ca dao phổ biến mang tính toàn dân vì nó đã vào sách giáo khoa ở nhiều bậc học:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Nong xanh nước biếc như tranh họa đồ

"Vô" tiếng địa phương Nghệ An và cũng là tiếng địa phương Bắc miền Trung. Tiếng phổ thông "vô" là "vào". Tiếng Nam bộ "vô" "vào" là "dô" ta có đẳng thức về tiếng địa phương và tiếng phổ thông: vô = dô = vào.

Ta hãy nghe lời của bài hát vốn nổi tiếng về xứ Thanh thời chống Mỹ:

"Ai vô Thanh Hóa coi mát lòng trẻ già vui khắp nơi" (Hát mừng các cụ dân quân - Đỗ Nhuận). Trong lời bài hát này có hai ca từ địa phương. "Vô" đã nói ở trên và "coi" tiếng địa phương Thanh Hóa và Bắc miền Trung: "coi phim" "coi đá bóng". Tiếng Bắc bộ "xem phim" "xem đá bóng". "Coi" tiếng phổ thông chỉ dùng trong ngành giáo dục - đào tạo "cán bộ coi thi không giải thích gì thêm".

Và ca dao lịch sử Thanh Hóa:

Muốn coi lên núi mà coi

Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

Từ "vô" xuất hiện nhiều trong các sáng tác dân gian và thơ hiện đại.

Để em đến

Gục đầu vô lòng mẹ

(Những làng đi qua - Hữu Loan)

Và trong thơ Tố Hữu:

Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu

Dấn thân vô là phải chịu tù đày

(Trăng trối)

Tiếng địa phương "vô" là động từ gần với tiếng phổ thông về mặt ngữ âm "vào" nên trong quá trình giao tiếp các nhà thơ đưa vào các sáng tác văn nghệ người ở các địa phương khác đều có thể hiểu được. Thí dụ: "biển" tiếng phổ thông; tiếng địa phương "bể".

Biển vẫn cậy mình dài rộng thế

Vắng cánh buồn một chút đã cô đơn

(Thơ viết ở biển - Hữu Thỉnh)

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

(ánh trăng - Nguyễn Duy)

Cũng cần nói rõ tiếng địa phương chỉ được sử dụng một liều lượng hạn chế phải được đặt trong những văn cảnh ngữ cảnh cụ thể người địa phương khác mới có thể hiểu được. Còn nếu sử dụng tiếng địa phương dày đặc liên tiếp trong quá trình giao tiếp trong các câu ca thì người địa phương khác không thể hiểu được. Ví dụ như câu ca của người xứ Nghệ:

Mô rú mô ri mô nọ chộ

Mô rào mô bể chộ mô mồ

và phải dịch thành tiếng phổ thông:

Đâu rừng đâu núi đâu chẳng thấy

Đâu sông đâu biển thấy đâu nào

người ở địa phương khác mới hiểu được.

Dẫn chứng tản mạn thì nhiều. Khảo sát nhanh các nhà thơ sử dụng tiếng địa phương trong sáng tác thi ca ta nhận thấy có hai nhà thơ sử dụng tiếng địa phương nhiều và thành công hơn cả là nhà thơ Tố Hữu và Hồng Nguyên. Trước là nhà thơ Tố Hữu. Chỉ với hai câu thơ mỗi câu tám từ mà có tới ba từ địa phương đậm dấu ấn Huế miền Trung:

Rứa là hết chiều ni em đi mãi

Còn mong chi ngày trở lại Phước ơi

(Đi đi em)

"Rứa" "ni" "chi" đều là tiếng địa phương Bắc Trung bộ.

ở một bài thơ khác cũng chỉ với hai câu lục bát:

Chém cha ba đứa đánh phu

Choa đói choa rét bay thù chi choa

(Tiếng hát trên đê)

lại in đậm dấu ấn Thanh Hóa - miền Trung.

Tiếp là nhà thơ Hồng Nguyên. Ông nổi tiếng trên thi đàn chống Pháp chỉ từ một bài thơ "Nhớ". Nổi tiếng là bài thơ hay thấm đẫm chất trữ tình và tự sự từ đề tài chiến tranh. Nổi tiếng là bài thơ hay vì tác giả (quê Thanh) sử dụng tới 16 tiếng địa phương trong bài thơ đó. Cụ thể: "đằng nớ" (hai lần) "bắp" "o" "nứ" (hai lần) "mô" "ví" "nớ" "chừ" "ri" "ni" (hai lần) "viền" "ví chắc". Công chúng yêu thơ đều thuộc ba câu cuối:

Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni

Dân chúng cầm tay lắc lắc

Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc

Đến đây có thể rút ra một vài kết luận:

1. Chỉ có tiếng địa phương miền Trung là được sử dụng nhiều hơn cả trong sáng tác văn học. Phát âm thế nào ghi vào lời thơ thế ấy: "mô" "vô" "răng" "rứa"...

2. Các đại từ nhân xưng xuất hiện nhiều: "choa" "o" "đằng nớ"...

3. Riêng tiếng địa phương Thanh Hóa dấu hỏi (?) và dấu ngã (~) phát âm lẫn lộn trong khẩu ngữ. Lời thơ và văn tự thì đúng với tiếng phổ thông.

4. Phát âm lẫn lộn giữa nguyên âm đôi "iê" và nguyên âm đơn "ê" đều được ghi lại trong lời thơ. Văn tự viết đúng:

"Biển" lời thơ là "bể". "Về" lời thơ là "viền". Những kết luận này đã được chứng minh bằng các sáng tác thơ ca của các nhà thơ Bắc miền Trung và Thanh Hóa.

Thêm một kết luận nữa: tiếng địa phương sử dụng trong sáng tác thơ ca đã làm nên một sắc thái riêng biệt một phong cách riêng biệt và một phong bị riêng biệt cho thơ khu vực Bắc miền Trung nói chung và thơ Thanh Hóa nói riêng.

                                                                                  N.M.H



 

Đôi điều về tiếp nhận văn học
theo hướng ngôn ngữ học


 

                                                                     PHẠM THỌ XUÂN



 

      Giáo sư tiến sỹ khoa học Nguyễn Lai từng nói "Cơ chế chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng" tức là nói đến lý luận tiếp nhận văn học theo hướng ngôn ngữ học.

Tiếp nhận văn học được hình thành từ mỹ học tiếp nhận một trong những thành tựu của ngành xã hội học nghệ thuật. Từ đầu thế kỷ XX người ta bắt đầu quan niệm văn chương là một quá trình đi từ khâu sáng tác của tác giả đến khâu tiếp nhận của người đọc. Dần dần mỹ học tiếp nhận ra đời mà người đầu tiên đưa ra được một mô hình hoàn thiện cho nó là Hans Rô-be Iao-xơ (H.R.Jaus) giáo sư giảng dạy văn chương ở trường đại học Kôn-xtanz Cộng hòa Liên bang Đức. Theo ông đã đến lúc chúng ta phải có một nền văn học sử của độc giả; cũng theo ông khái niệm tác phẩm văn chương theo quan điểm mỹ học tiếp nhận phải là: tác phẩm văn chương = văn bản văn chương + sự tiếp nhận của người đọc. ở Việt Nam từ khoảng năm 1970 đến nay lần lượt các tác giả sau đây đã bàn đến lý luận tiếp nhận: Nguyễn Văn Hạnh Nguyễn Lai Nguyễn Văn Dân Trần Đình Sử Phương Lựu Nguyễn Thanh Hùng v.v...

Lý luận tiếp nhận không xem một tác phẩm văn học là cố định kiểu vật thể bất biến mà coi nó là một chỉnh thể hệ thống một quá trình. Lý luận tiếp nhận làm lộ rõ đặc trưng ký hiệu của hình tượng. Lý luận tiếp nhận rọi ánh sáng vào chủ thể tiếp nhận để cho thấy rằng trên hiện thực tính năng động của chủ thể tiếp nhận là có thật và tính năng động này đóng vai trò tích cực trong việc khách quan hóa cái chủ quan và chủ quan hóa cái khách quan trong quá trình thụ cảm nghệ thuật thông qua hình tượng.

Trở lại vấn đề cơ chế chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng thuộc phạm vi của tiếp nhận văn học theo hướng ngôn ngữ học chúng ta thấy nổi lên những vấn đề sau đây:

1. Tác phẩm nghệ thuật ngôn từ chứa những lớp nghĩa như: Lớp nghĩa của từ lớp nghĩa của hình ảnh lớp nghĩa của hình tượng và lớp nghĩa của tư tưởng. Vấn đề nội dung - hình thức luôn luôn phải được nhìn từ sự vận động gắn với quá trình tạo nghĩa (tạo nghĩa thuộc cả phía sáng tạo và phía tiếp nhận). Vấn đề tạo nghĩa không tách khỏi vai trò chủ quan của hình tượng thẩm mỹ một phạm trù vừa mang tính nội dung lại vừa mang tính hình thức. Sau rốt cái biểu đạt không đơn giản là công cụ tu từ mang tính kỹ xảo mà là một chất liệu một phương tiện để đồng hóa nhận thức thẩm mỹ làm nên một chỉnh thể nghệ thuật đó là cái được biểu đạt.

Cùng với ngôn ngữ học đang hướng về phía ngữ nghĩa khoa học văn học hướng nhiều về tín hiệu học dùng cơ chế nội dung - hình thức không tách rời của tín hiệu học làm cơ sở xuất phát để khắc phục thiên hướng tư biện về nội dung trong khi lý giải quan hệ giữa nội dung và hình thức. Ngôn ngữ tự thân không có suy nghĩ và xúc cảm. Nhưng khi sử dụng nó như một công cụ người ta sử dụng một cách có ý thức và trong chiều sâu các lớp nghĩa do ngôn ngữ hiển thị người đọc nhận ra những điều mà họ đồng cảm những điều đó không phải là bản thân ngôn ngữ như một vật thể vật lý mà là do ngôn ngữ như một hiện tượng vật lý - tâm lý xã hội.

Vì vậy nói đến chuyển mã là phải có quan niệm động để nhìn từ góc độ tín hiệu học mà xét quá trình hoạt động chuyển hóa giữa nội dung và hình thức trong mối quan hệ của những phạm trù chủ quan khách quan vật thể phi vật thể.

2. Như đã nêu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ có các lớp nghĩa: lớp nghĩa từ vựng lớp nghĩa hình ảnh lớp nghĩa hình tượng và cuối cùng là lớp nghĩa tư tưởng. Hoạt động sáng tạo là hoạt động tạo nghĩa hoạt động tiếp nhận là hoạt động giải mã. Vì vậy xét cơ chế chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng không thể không đề cập đến vấn đề tạo nghĩa.

Lớp nghĩa cuối cùng trừu tượng (tư tưởng) không phải là tổng số nghĩa từng từ trong tác phẩm được cộng lại.

Yếu tố tâm lý là hạt nhân tạo ra tiềm năng cơ động cho tín hiệu có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình sáng tạo văn chương. Tín hiệu là một tổng thể bao gồm hai mặt thống nhất: hình ảnh âm thanh và khái niệm. Tín hiệu luôn luôn hướng tới đối tượng tiếp nhận luôn luôn bị quy định bởi góc độ xã hội - lịch sử cụ thể của người được tiếp nhận. Hạt nhân tâm lý tạo ra tiềm năng cơ động cho tín hiệu có vai trò quan trọng đối với quá trình tạo nghĩa. Khảo sát văn học chính là tiếp cận tính vừa nội dung vừa hình thức của các quy mô liên kết từ nhỏ đến lớn đang chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình tạo nghĩa. Ngôn ngữ - qua dấu hiệu vật lý và tâm lý của nó - đã tự mở ra khả năng chuyển hóa nhiều mặt nhiều chiều giữa nội dung và hình thức cũng như giữa cái chung và cái riêng cho quá trình tạo nghĩa.

3. Lâu nay người ta có thói quen nhìn nhận tác phẩm văn học trong thế ổn định tĩnh tại theo hướng ý đồ sáng tác tức là cô lập hóa tác phẩm không xét tác phẩm trong một quá trình một chỉnh thể từ sáng tác đến tiếp nhận. Đó là một nhận thức lệch lạc. Cách nhìn đúng phải là nhìn thấy sự chuyển hóa tác phẩm của nhà văn vào ý thức độc giả. Như vậy khi ngôn ngữ hóa thân thành hình tượng khi ngôn ngữ trở thành cấu trúc phi ngôn ngữ ta phải thấy quá trình tạo nghĩa từ góc độ người sáng tạo chuyển sang quá trình chuyển nghĩa từ góc độ người tiếp nhận. Chính từ cơ sở ấy chúng ta mới có điều kiện nhận rõ thế nào là phẩm chất năng động của chủ thể tiếp nhận trong quá trình chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng đồng thời phẩm chất này không thể tách rời với thao tác vừa tạo nghĩa vừa chuyển hóa nghĩa.

4. Quá trình vừa tạo nghĩa vừa chuyển hóa nghĩa diễn biến như nhau: từ tiếp nhận trở thành bộc lộ từ thông tin lô-gíc khúc xạ thành thông tin thẩm mỹ theo đó lý trí và tình cảm đan kết vào nhau làm nên một chỉnh thể để rồi tác phẩm gặp nhau cộng hưởng và đồng sáng tạo. Tác phẩm văn học đi đến tận cùng con đường đi của nó và nó tồn tại trong trạng thái hoạt động chuyển hóa vào người đọc khi người đọc có một năng động tiếp nhận tương ứng.

5. Khi đề cập vấn đề cấu trúc phi ngôn ngữ thì phải chú ý đến hoạt động tiếp nhận và khi đề cập tiếp nhận phải giải quyết vấn đề chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng. Chúng ta phải phát hiện xem điều gì đã xảy ra đối với cái mà ta gọi là hoạt động năng động của chủ thể tiếp nhận vốn có liên quan đến cấu trúc phi ngôn ngữ.

Mã hình tượng là một loạt tín hiệu lấy ngôn ngữ làm tiền đề nhưng nó không đồng nhất với mã ngôn ngữ về mặt cấp độ. Phẩm chất cuối cùng của nó không còn là phẩm chất vật thể như mã ngôn ngữ. Mã ngôn ngữ trong quá trình chuyển mã không tồn tại đơn thuần tự thân mà nó chỉ là một phương tiện gợi dẫn có định hướng để làm hình thành những mã khác trừu tượng hơn và giàu ý nghĩa xã hội hơn ở người đọc đó là mã hình tượng.

6. Trạng thái chập mạch giữa nội dung và hình thức xảy ra không phải ít đối với nhiều chủ thể tiếp nhận văn học. Về hình thức có hình thức bên trong và hình thức bên ngoài. Hình thức nào cũng bắt đầu từ ngôn ngữ lấy ngôn ngữ làm điểm tựa. Hình thức không thể tự đứng tách rời một cách siêu hình.

                                                                             P.T.X


 

"KHÔN KHÔN DẠI DẠI ĐI VỀ HƯ KHÔNG"...


(Đọc Nghiệm 3 của Nguyễn Khoa Linh NXB Hội Nhà văn 2010)


 

                                                                     TRỌNG BẢO



        Trong Nghiệm 3 từ những câu thơ đầu tiên đến những câu thơ cuối cùng người đọc cảm giác như có hai thế giới đối lập cứ đan cài vào nhau một là của quá khứ thoáng buồn và một là của thực tại đầy chiêm nghiệm. Và ở thế giới nào cũng vậy Nguyễn Khoa Linh đã thành công khi để lại nhiều dư ba ám ảnh.

Tập thơ thứ ba của Nguyễn Khoa Linh đã không làm người đọc thất vọng về một hành trình bền bỉ nhẫn nại mà anh như người vừa nâng niu vừa gọt giũa cái tứ thơ cũng chính là cái xúc cảm đầy mê đắm của tâm hồn mình:

Ngựa xe xào xạc bến mê

Khôn khôn dại dại đi về hư không

(Xào)

Lẽ thường người ta viết về tình yêu say đắm thì mới có được cái rạo rực khôi nguyên. Nhưng Nguyễn Khoa Linh viết về tuổi thơ về tình bạn về cuộc đời nhiều truân chuyên nhiều thác ghềnh mà vẫn giữ cho mình cái rạo rực của sự mộc mạc:

- Lam chiều khói tỏa nhà ai

Thân thương như thể đền đài tuổi thơ

(Tỏa)

- Một gánh vô ưu một gánh nhàn

Một trời gió lộng nắng chang chang

(Ưu)

Tuy thế âm hưởng những vần thơ vui không nhiều. Có lẽ tên Nghiệm đã phần nào ứng/ vận vào - và chi phối cảm xúc của độc giả. Dường như mẫu số chung của mọi hành trình chiêm nghiệm bao giờ cũng là nỗi buồn? Mà thơ buồn có lẽ luôn nhận được nhiều hơn những sự đồng cảm.

Trăng côi chếch bóng giữa trời

Cô đơn người đứng với người... song song

(Đứng)

Cô đơn là như một quyền năng tối thượng của những cảm xúc cảm giác cô đơn bủa vây thường sẽ mang đến những giây phút thăng hoa cho thi nhân.

Những vần thơ mang dáng dấp của những bài Hai-ku trong Nghiệm 3 vẫn thể hiện liền mạch và rõ nét phong cách của Nguyễn Khoa Linh. Không ồn ào mà trầm lắng suy tư giàu sức biểu hiện anh đi từ thế giới tình cảm của riêng mình những vấn đề của chính bản thân mình để mở rộng dần tới những vấn đề rộng chung của cuộc sống đầy bon chen biến đổi:

Hư vinh chạy miết tơi bời

Vần xoay dở khóc dở cười vẫn cam

(Vần)

Có lần Chế Lan Viên khẳng định: Chúng ta ở trên đời không phải để ra lộc ra hoa mà còn để mang thương tích. Trong tập này nhiều bài thơ nói về sự cách trở sự dở dang sự nổi chìm của kiếp người ngắn ngủi: Sang sông em mấy nhịp cầu/ Nổi chìm mấy bận bể dâu đắm đò (Bận) và nhiều khi hạnh phúc tưởng có đấy mà lại hóa hư không nó nổi chìm như bóng chim tăm cá: Tưởng có hơn vợ chồng hờ/ Bóng chim tăm cá còn ngờ riêng tây (Hờ)...

Dường như mỗi lần ngoái nhìn là một lần tiếc nuối. Không ai đủ giàu có để chuộc lại quá khứ của mình (Ô-oai-tơ) và cũng vì lẽ đó Nguyễn Khoa Linh miệt mài làm thơ như một trang trải những nợ nần với cuộc sống. Sau mỗi chặng đường sau tất cả những gì đã qua giật mình nhìn lại thì biết rằng: Nổi chìm âu cũng kiếp người/ Bản lai diện mục về nơi sinh thành (Nổi). Và cố gắng giữ cho mình một tâm thế thoáng chút gì ung dung ngạo nghễ trước bão tố thời gian:

Biết đủ khéo giữ hóa dư

Để tâm chi những thói hư thường tình

(Dư)

Dù "thơ chưa bao giờ là nghệ thuật của đại chúng" như Maiacốpxki nhấn mạnh nhưng đọc những vần thơ của Nguyễn Khoa Linh chắc hẳn sẽ nhiều người tìm thấy sự sẻ chia đồng điệu. Thơ của anh vừa quen mà cũng vừa lạ với thơ hôm nay ở chỗ nó vẫn hướng nội vẫn đặt ra nhiều vấn đề nhức nhối của cuộc sống nhưng lại tìm được cái lối riêng cho mình. Không màu mè kiểu cách mà nhỏ gọn giản dị không giả tạo đưa đẩy cảm xúc một cách khiên cưỡng. Nhưng đâu đó ta vẫn thấy có những ngôn từ còn chưa thật dụng công vẫn là sự vội vàng khi chưa tiết chế được cảm xúc.

Thơ hay đến như niềm ngẫu hứng như sự tình cờ không phải cứ đẽo câu gọt chữ là sẽ có được thơ hay. Nhìn những gì mà Nguyễn Khoa Linh đã làm đang làm có lẽ không quá lời khi nói rằng qua thơ anh người đọc thấy được một niềm đam mê hiếm có mà nói như giáo sư Hà Minh Đức: "Nếu thơ là một tôn giáo thì tôi là người mộ đạo nếu thơ là một lẽ sống cao cả thì tôi mong được làm một chiến binh". Chặng đường của Nguyễn Khoa Linh còn dài còn nhiều "đất" cho anh khẳng định còn nhiều điều kiện để đi tiếp vào làng thơ - cái địa hạt của nghệ thuật kỳ diệu không dành cho số đông. Chúng ta chờ đợi và hy vọng sẽ ngày càng có nhiều hơn nữa những câu thơ hay của Nguyễn Khoa Linh neo đậu lại thời gian.

                                                                                    T.B

Bài thơ Cuối ngày của Huy Trụ


                                                           PHẠM ĐÌNH ÂN




Cuối ngày nắng tắt bên sông

Em ngồi như thể đếm đong sự đời...

Bấn thần chi giọt nước trôi

Phù sa đọng lại lở bồi bước chân...

Tóc em này sợi mưa dầm

Sợi khô khét nắng sợi cầm như sương

Nuôi anh đi nát con đường

Câu thơ chắt giữa đêm suông một mình.

Đa mang nào phải đa tình

Trót yêu đào huyệt chôn mình mà yêu...

                              Huy Trụ

             (Thơ lục bát NXB Văn học 2007)



 

       những bài thơ nói về chiều tà hoàng hôn giờ phút chót của ban ngày là nói đến tâm trạng của chủ thể trữ tình về chính những khoảnh khắc ấy. Bài Cuối ngày của Huy Trụ lại thuộc những bài mang ý nghĩa ẩn dụ. Cuối ngày ở đây còn có thể hiểu là cuối mùa năm cùng tháng tận và cuối đời. Được ví như thành ngữ là mãn chiều xế bóng hoặc nắng tắt bên sông của Huy Trụ.

Bốn dòng mở đầu bài thơ lục bát ngắn có đủ không gian thời gian (cô đặc ở bốn âm tiết nắng tắt bên sông) có hình ảnh một người phụ nữ ngồi bần thần đếm đong sự đời đếm đong bước chân đếm đong lở bồi dâu bể... Và mau lẹ tác giả đưa người đọc đến ngay với hình ảnh thân phận: Tóc em này sợi mưa dầm/ Sợi khô khét nắng sợi cầm như sương. Em có đếm đong hết được những sợi tóc trên đầu mình hay không những sợi mưa sợi nắng sợi sương... Câu thơ đang lãng đãng bồi hồi thương thương buồn buồn thoắt chợt ý thơ được đẩy lên cao trào với những hình ảnh dữ dằn:

Nuôi anh đi nát con đường

Câu thơ chắt giữa đêm suông một mình.

Có thêm những từ nát chắt suông âm hưởng thơ không còn dừng ở bần thần như thế nữa mà đã chát đắng nghiệt ngã khốc liệt. Đến đây thấy hiện ra hình ảnh một người là em một đời gian khó tận tụy vì một người là anh. Em hay anh đã đi nát con đường? Có thể chỉ là anh có thể là cả hai. Câu thơ chắt giữa đêm suông một mình do anh viết dành cho em người đang chịu đựng nỗi lẻ loi xa vắng hay là một cách nói tượng trưng riêng về em? Có thể là cả hai. Cái hay của ý thơ câu thơ chính là ở chỗ nói lẻ mà lại như đôi nói đôi mà như lẻ tùy người đọc hiểu thế nào thì hiểu.

Để kết thúc bài thơ cách đoạn và tác giả "giáng" một cặp lục bát nữa:

Đa mang nào phải đa tình

Trót yêu đào huyệt chôn mình mà yêu...

Thật là táo bạo cuồng nhiệt! Xuân Diệu thời thơ mới đã viết: Chết rồi tôi sẽ yêu ma. Huy Trụ ngày nay thì thẳng băng tự nguyện chôn mình mà yêu! ở bài thơ Mai rồi... xứ Huế (tập thơ Miền riêng tôi NXB Hội Nhà văn 1998) Huy Trụ đã viết: Tôi uống cả trời và cả gió/ Rút ruột mà yêu đến trắng tay. Hủy thân xác đi để được yêu đến trắng trụi cả đời mình yêu đến cạn kiệt tinh thần yêu đến cạn kiệt linh hồn. Chỉ một cặp câu thơ lục bát giản dị Huy Trụ đã nói được sức mạnh linh diệu của tình yêu.

Trong các loại kết thúc bài thơ có ba loại kết thúc đột ngột đáng chú ý: đột ngột hụt hẫng đột ngột nâng cao và đột ngột nâng cao kèm chuyển hướng. Bài Cuối ngày có kết thúc thuộc loại thứ ba. Kết thúc đột ngột kèm chuyển hướng sẽ găm chốt sâu sắc cảm xúc thơ vào lòng người đọc khi người đọc đã rời khỏi văn bản tác phẩm và nó tạo ra khả năng hé lộ một tứ thơ mới của một bài thơ thứ hai.

Quả đúng như trên đã nói đây không phải là cái cuối của một ngày bình thường mà là cái cuối đời của một người đã đi nát con đường dám đào huyệt chôn mình cũng đồng thời là cái cuối đời của một người khác - đối tượng gắn bó yêu thương. Như vậy khi kết thúc bài thơ lộ ra hoàn toàn là thơ tình thuộc hôn nhân - một bài thơ về tình nghĩa vợ chồng nói riêng và hạnh phúc nói chung - mà hình ảnh người vợ hiện ra kín đáo và tinh tế bằng hai câu lục bát nói đến mái tóc có sợi nắng sợi mưa sợi sương đặc biệt là chi tiết nuôi anh dẫu rằng đi nát con đường là việc của riêng anh đi nữa thì người được gọi là em vẫn là người vợ.

                                                                            P.Đ.A

Cỏ xanh - hồn các anh xanh

                                                   LÊ XUÂN


 

Lời ru ngọn cỏ

Cỏ xanh bên mộ khẽ ru

Nắng rừng biên giới chiều thu ánh vàng

Người ơi! Dù có muộn màng

Chưa đưa về với nghĩa trang quê nhà

Nơi đây nhiều cỏ ít hoa

Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh

Mặc ai xây mộng viễn hành

Mặc ai ngắt lá bẻ cành vin hoa

Dẫu nằm lại với miền xa

Trưa rừng hoang vắng tiếng gà lẻ loi

Đã qua mấy chục năm rồi

Cỏ xanh vẫn thủy chung nơi mộ người.

Mùa thu đầy lá vàng rơi

Mùa đông trắng xóa chân trời sương giăng

Hồn thiêng gọi lá thắm rừng

Giọt sương mai cũng đọng ngưng nỗi niềm

Dấu chân đã trải bao miền

Về đây với đất vùng biên nghĩa tình

Người hy sinh đất hồi sinh

Máu người hóa ngọc lung linh giữa đời.

Lời ru ấm nắng người ơi

Dù là ngọn cỏ tận nơi cuối trời

Thương mà ru đến muôn đời

Và xanh xanh mãi để lời ru êm

Cho dù ai đó lãng quên

Thì đây cỏ biếc vẫn bên mộ người.

                        Bùi Văn Bồng


 

        lẽ sau Nguyễn Duy Lê Đình Cánh Huy Trụ Trịnh Anh Đạt... thì Bùi Văn Bồng là một trong những nhà thơ của xứ Thanh viết về lục bát nhuần nhụy và tự nhiên như hương đồng gió nội. Là một người lính đã từng gắn bó với rừng với cỏ nên hình tượng "cỏ" cứ ám ảnh cứ trăn trở ở nhiều bài thơ của anh. Nào là "Cỏ tràn xanh thương nhớ với đời" "Cỏ níu lại ấm nồng giọt nắng" "Cỏ xanh da diết chiều mây trắng" "Hoa cỏ ánh lên bảy sắc cầu vồng" (Bảy sắc cầu vồng). Nào là "Lòng nhớ quê rối bời rau cỏ" (Hoa muống làng quê) "Khói hương trong gió cỏ rưng rưng" (Thiếu phụ ngõ vắng) hay "Bâng khuâng đồi cỏ héo hon" (Cánh rừng năm ấy đâu rồi). Nhưng hồn cỏ lung linh nhất máu thịt nhất vẫy gọi và hát ca nồng thắm nhất kết tinh lại ở Lời ru ngọn cỏ - một bài thơ có tứ độc đáo. Cỏ được nhân cách hóa làm lời ca vỗ yên giấc ngủ ngàn năm của người lính dưới mộ:

Cỏ xanh bên mộ khẽ ru

Rừng xa biên giới chiều thu nắng vàng

Dấu chân quy tập muộn màng

Mộ còn nằm với cỏ hoang rừng già.

Hai câu lục bát mở đầu được ngắt thành bốn dòng theo nhịp leo thang 4/2 4/4 như lời thầm thì khe khẽ của cỏ theo bước chân nhẹ nhàng của những đồng đội đi tìm mộ các anh. Không gian mở ra ở cánh rừng già biên giới thời gian khép lại theo ánh chiều thu gợi buồn. "Cỏ hoang" và "rừng già" đã bao năm chở che anh trong lòng đất Mẹ. Cỏ đã hát lời ru:

Nơi đây nhiều cỏ ít hoa

Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh

Bao năm vững bước quân hành

Lá rừng vẫy gió rung cành ngụy trang

Giờ đây giữa cánh rừng hoang

Hồn thiêng khao khát khói nhang trong chiều.

Lời ru làm hiện lên hình ảnh người chiến sỹ năm nào xuyên rừng lội suối với mỗi bước quân hành. ở nơi nhiều cỏ ít hoa này hồn thiêng tử sỹ vẫn khát khao hơi ấm đồng đội khao khát khói nhang giữa rừng già hoang vắng. Ta như thấy đâu đây các anh vẫn đang đi "rung lá ngụy trang" với gió đèo. Các anh vẫn nằm ngủ giữa bạt ngàn rừng xanh Tây Bắc Việt Bắc Tây Nguyên hay bên kia biên giới nước bạn Lào Campuchia? Tác giả đã tạo được mối giao cảm giữa những người đang sống và hồn các anh đã khuất trong cảnh chiều thu:

Nắng xiên xiên gió xiêu xiêu

Để cho lá cỏ xanh theo hồn người.

Các từ láy "xiên xiên" "xiêu xiêu" làm cho câu thơ nên họa nên nhạc và mang được điểm sáng thẩm mỹ của cả bài làm thấp thoáng trước mắt ta hồn thiêng các chiến sỹ đang phiêu diêu nơi trần thế. Cái &a