BÚT KÝ

PHẠM PHÚ THANG



 

Biết bao ân tình

Trích hồi ký Nhặt lại đời mình (phần tiếp theo)


 

      Nghỉ hè em Mỹ về nhà hai tháng. Một số giáo sinh đi du lịch tham quan riêng em thì về quê thăm gia đình bà con nội ngoại. Ông bà xếp Khoa thân sinh anh học sinh người Hà Nội gốc xứ Nghệ đã rút về Hà Thành sau cơn binh đao chống giặc Pháp. Bạn trai của em giờ đã lên đường theo đoàn Thanh niên xung phong chống giặc trong phong trào Đâu cần thanh niên có/ Đâu khó có thanh niên. Tôi nghe bà ngoại cho biết tên là anh Đinh Xuân Bá. Anh đánh đàn ghi ta giỏi hát sôlô hay lắm. Thường tụ tập trai gái làng Trịnh đêm đêm tập hát diễn kịch rôm rả. Anh Bá đi công tác xa để lại nhiều kỷ niệm cho lớp trẻ trong đó có em gái tôi. Hình như giữa em và anh Bá tuy chưa có điều gì mang nợ nhưng xem ra mối thiện cảm của tuổi xuân không ai giải thích nổi. Tôi nghe chuyện đó thực lòng muốn gặp anh Bá để chung tay vun đắp cho lứa đôi. Nhưng anh đi lâu quá không gặp. Em Mỹ lại đi học xa. Sự xa cách với tình yêu như gió đối với lửa. Tôi không tham gia vào chuyện riêng của người khác.

Nghe tin em Mỹ về nghỉ hè anh Tự xuống nhà thăm em thăm một đoàn viên công đoàn tương lai của ngành giáo dục huyện nhà tôi loáng thoáng nghe anh Tự gạn với bác Huy để dành con gái đang học Sư phạm cho tôi. Tôi và em Mỹ cùng nghe lỏm cả hai đều đỏ tai không dám ngồi cạnh nhau lúc này nữa. Thì ra hai ông đang soạn thảo cuộc đời cho hai chúng tôi mà lâu nay tôi không hề biết đến. Tôi quý gia đình thương hai em như em ruột. Giá mà được mãi mãi làm anh làm con rể nữa thì càng tăng bội số cho hạnh phúc lên bao nhiêu lần. Tôi đã không có tình cha con chỉ có nghĩa mẹ. Nay được xum vầy sống trong một gia đình gồm ba thế hệ còn gì mà mong nữa. Từ đó tôi nhìn em có điều khang khác hy vọng hơn. Đã quý mến lại càng gần gũi yêu thương hơn. Dù chưa nói ra thành lời nhưng trong lòng trống vắng mỗi khi xa em. Tình yêu có tự lúc nào không ai lưu trữ đặt máy phân giải. Tôi cứ ngờ ngợ vào ngày 12 tháng 6 năm 1956. Ngày ấy sau khi ăn cơm tối xong. Tôi đang trong phòng chấm toán vừa kiểm tra ban sáng thấy học sinh làm đạt kết quả như ý lòng tràn ngập niềm vui. Tôi phấn chấn trước kết quả học tập của học sinh lại nghe văng vẳng bên tai câu chuyện hai ông bạn tỷ tê trong bữa cơm chiều nay lại đúng vào lúc tôi và em cùng nghe lỏm cả hai cùng đỏ mặt tự dưng tôi muốn trò chuyện với em.

Tôi xuống nhà dưới thấy cả nhà đang quây quần ngồi nghe đài tiếng nói Việt Nam phát tin khởi công công trình thủy lợi Nam sông Mã. Khi hoàn thành công trình dòng nước tự nhiên sẽ cung cấp đủ nước cho các huyện Yên Định Thiệu Hóa sản xuất hai vụ lúa không bị hạn hán như lâu nay. Niềm vui nào lúc này đến với tôi đều đầy ý nghĩa. Anh Tự đã về nhà sau bữa cơm. Bác Huy hỏi:

- Thầy chưa đi nghỉ à?

- Thưa bác con vừa chấm xong toán cho học sinh. Mừng quá không có em nào thiếu điểm.

Tôi muốn gọi em lên nhà trên để tâm sự nhưng sao khó nói thế. Nỗi ám ảnh trong bữa cơm chiều cứ thôi thúc trong lòng. Hóa ra tôi đã thầm yêu trộm nhớ đơn phương chẳng hay em Mỹ có biết không? Sao lúc này tôi hèn yếu đến vậy? Khoảng cách giữa tình anh em và tình yêu chỉ xê dịch nhau tý chút. Tôi ngồi xuống bên cạnh em cùng nghe chung bản tin thời sự. Trong khi đó bản tin anh Tự phát lúc ban chiều chẳng hiểu có lắng đọng trong em không? Riêng tôi cứ thổn thức mãi ngẫm nghĩ mãi. Tôi đắn đo không dám thổ lộ với em. Sợ nhận lời từ chối mất hay xấu hổ ảnh hưởng đến mối quan hệ được xây đắp bấy nay. Tôi nán lại chờ xem diễn biến của em sau lần hai người cùng đỏ mặt tía tai ấy. Mỹ đã vào tuổi mười tám tuổi trăng thề rồi. Lại được sống môi trường thủ đô biết đâu lại cảm tình với một giáo sinh nào ngoài đó. Nói ra em nguây nguẩy thì tôi biết chạy đường nào? Đang sống yên ấm trong gia đình được cưu mang lại mở miệng phá đám ư? Nghĩ vậy tôi thấy non gan không dám liều lĩnh hỏi em về định mối ban chiều giữa hai vị đứng đầu gia đình và tổ chức. Tôi rút lui không dám bảo em lên nhà trên trò chuyện như các lần trước. Đêm ấy tôi không ngủ được. Nhớ mẹ tôi ở trong quê nhớ em gái anh trai. Các chị đã lấy chồng yên ổn gia thất. Thương nhất là chị Sâm đương tình duyên gặp éo le. Chị lỡ lứa đành làm vợ kế cho một người ở trên nguồn đã có một người con trai mười tuổi. Bà làm mối người cùng xóm thường đi bán hàng ở trên vùng cao gọi là trên nguồn hay lui tới bán hàng cho gia đình thấy cảnh gà trống nuôi con nên mối manh cho chị Sâm. Mẹ tôi lưỡng lự. Nhưng rồi cũng quyết ngay. Có hơn không lấy chồng còn hơn ở góa. Gia đình họ lại có của ăn của để con có nơi nương tựa.

Sau một tháng các lễ nghi tiến hành chu đáo. Người làng Tiên lại được dịp chứng kiến một đám cưới linh đình không khác gì đám cưới ngày trước của con trai nhà lý trưởng. Từ nhà cô dâu đến nhà chàng rể cách 30 cây số thuận đường thủy nên đã có sáng kiến rước dâu bằng thuyền. Thật là hiếm hoi sinh động. Chị tôi chít khăn mỏ quạ mặc áo tứ thân chân đất e lệ đi bên anh nhìn thấy tôi và các em cả nhà òa lên khóc. Giọt nước mắt ấy đến giờ khi viết bài này tôi vẫn chưa nguôi. Chị làm vợ kế được anh chồng hiền từ biết thương cảm số phận nên anh chiều chuộng chị. Cuộc sống hạnh phúc. Chị nương thân bên người chồng hiếu nghĩa âu cũng là số trời sắp đặt.

Chị Nhung lấy chồng cùng làng gần giếng Tiên. Anh tên là Khoái con trưởng của một mục điền. Sinh đứa gái đầu anh chị đặt tên là Lạc cốt mong sao cuộc đời thoát khỏi nghèo khổ khoái lạc như mong ước. Đùng một cái giặc Pháp khởi hấn ở Nam bộ đánh chiếm miền Bắc. Ca nô tàu chiến của địch ngược sông Gianh vây làng Tiên dựng đồn lập ấp. Trai làng chúng bắt làm bia đỡ đạn. Xây đồn cạnh Lèn Bút chúng đặt đại liên trên đỉnh Lèn Bút khống chế cả một vùng rộng lớn. Các xã Trung Hạ Thượng và bên kia sông xã Tiên Lang Tiên Lương đều nằm trong tầm đạn đại liên trên đỉnh Lèn Bút. Bọn hương lý lâu nay ẩn nấp giờ lộ mặt chỉ điểm cho địch khủng bố cán bộ cốt cán. Anh Khoái bị quân giặc bắt đi lính đã chết ngay trong trận phục kích của dân quân ở cuối làng. Cháu Lạc đang chăn trâu nghe tin bố mất đã ngã xuống đất chết dưới chân trâu. Tưởng là khoái lạc như niềm mong muốn. Nào ngờ ngày vui ngắn chẳng đầy gang. Chị góa chồng mất con. Một tai họa ập xuống gia đình chị đến xót thương.

Nhà còn ba anh chị em. Chị Liên em gái Tuyết Hoa và tôi cuốn quýt bên vai mẹ. Anh Dương lúc này làm chính trị viên huyện đội Quảng Trạch. Bọn giặc ngày đêm truy lùng Việt cộng. Chúng biết rõ gia đình tôi có người làm cán bộ có hai người con gái xinh nhất làng bọn cường hào dụ dỗ mẹ tôi cho con vào đồn làm việc để cung phụng các quan Tây. Nắm được mưu đồ của chúng anh tôi đưa cả gia đình tản cư lên nguồn nơi chị gái lấy chồng cách đồn địch hơn 30 cây số. Anh rể chị gái tôi mừng quá thuê thuyền đến tận nơi đón cả nhà về cùng ở trong nhà giữa một đêm mùa đông giá lạnh. Anh tôi tìm cách nghi binh hướng cho địch tập trung vào phía khác để lòi một khoảng trống không có bóng giặc gia đình tôi vượt vòng vây an toàn. Trong những ngày sống giữa lòng địch chị Liên và em Hoa phải xuống hầm trú ẩn. Mẹ tôi luôn luôn bị chúng đi sục sạo dò hỏi đối phó mọi cách để bảo vệ an toàn cho các con mình. Tôi biết tiếng Tây bỏm bẻm hồi học bên trường Đạo đã sử dụng có hiệu quả mỗi khi giao tiếp với bọn thực dân Pháp. Đồn tây đóng chỉ có hai cái giếng khơi thiếu nước sinh hoạt bọn lý trưởng bày mưu bắt trẻ con đi gánh nước giếng Tiên về cho các quan lớn tắm giặt. Chúng huy động hai chục đứa cùng tuổi tôi đi gánh nước giao cho tôi cai quản. Mấy ngày đầu ai cũng nghiêm chỉnh gánh nước giếng Tiên đầy vò về đổ vào các thùng phuy đặt trước phòng các quan tây. Nhiều hôm mỏi mệt lòng căm thù giặc nổi lên chúng tôi bảo nhau ra mấy cái ao đầu làng gánh nước cho Tây dùng. Một số bạn căm giận đã tè vào thùng nước cho chúng ăn uống tắm giặt. Chúng tôi ra vào đồn giặc ngày đầu lính gác còn để ý. Lâu rồi chúng mất cảnh giác du kích của ta đã bày mưu trà trộn thâm nhập vào đồn giặc điều tra tình hình địch nơi nào đặt các loại súng đường hầm bản đồ lực lượng v.v... Nhờ thế trận đột kích vào đồn địch ở làng Tiên diễn trong đêm 13 tháng 12 năm 1948 thắng lợi. Bọn giặc bị đánh bất ngờ không trở tay kịp quân ta đã giết chết 14 tên và bắt sống 20 tên bộ đội ta thu được nhiều súng đạn. Biết bại lộ do đội quân gánh nước từ đó chúng không cho bất cứ một ai lạ mặt vào đồn nữa. Đội gánh nước bị tra khảo. Nhưng chúng chẳng lấy được căn cứ nào để kết tội. Tôi được anh Dương cho đi tản cư trước cùng với gia đình nên thoát nạn. Sau đó tôi cùng một số con em cán bộ của tỉnh được cử đi học trường Thiếu sinh quân Liên khu 4. Gia đình tôi lúc bấy giờ chia ba xẻ bảy anh tôi ở lính tôi đi học hai chị về nhà chồng còn lại mẹ và chị Liên em gái Tuyết Hoa chạy giặc tản cư cùng an toàn. Tại nơi sơ tán Trung đoàn 18 chủ lực của tỉnh Quảng Bình đóng quân luyện tập sẵn sàng chiên đấu em gái tôi được phân công phục vụ tiếp tế lương thực nuôi quân đã lọt vào tầm ngắm của một sỹ quan trẻ Trung úy Viết Linh quê Hà Tĩnh. Nào ngờ cùng một lúc người bạn đồng môn của anh Dương Lại Văn Ly Bí thư thị ủy thị xã Đồng Hới cũng đưa lời hẹn ước thề non với em gái tôi. Thật khó xử. Viết Linh quê ở Cầu Phủ huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh. Tốt nghiệp sỹ quan Quân chính đóng tại Cổ Định cạnh trường Thiếu sinh quân. Tôi gặp Viết Linh trong các lần giao lưu giữa hai trường Linh thường lên ngâm thơ gây ấn tượng đẹp về anh bộ đội Cụ Hồ trong lòng chúng tôi. Sau một thời gian liên tục tìm hiểu Hoa đã xiêu lòng nghiêng về phía người sỹ quan trẻ. Được tin ấy Lại Văn Ly xin cơ quan nghỉ vài ngày ra Tiên Lễ gặp mẹ tôi gặp Hoa và chị Liên trình bày đầu đuôi cơ sự . Mẹ tôi thương Lại Văn Ly lắm. Mồ côi cha mẹ lớn lên trong cuộc cách mạng kháng chiến của đân tộc. Tính nết hiền lành chất phác. Tuy không đẹp trai như Viết Linh nhưng bề sâu nhân cách cũng không có phần thua kém. Biết là Hoa đã cắn câu anh bộ đội Ly không biết nói gì hơn là viết ngay một bài thơ với lời lẽ yêu thương trách móc giận hờn. Bài thơ dài kết thúc ngắn gọn đanh thép: Con xin bắt tay chào mẹ/ có dịp ra con sẽ ghé thăm/ chúc mừng các chị các anh/ bà con cô bác mười phần vẹn vui/ riêng Hoa xin nhắn một lời/ lấy chồng tiến bộ trọn đời vinh quang.

Lá thư viết trên giấy bình dân bằng bút Parker nét chữ đanh sắc không thẳng hàng biểu lộ tâm trạng của tác giả lúc lỡ vận. Tôi được em Hoa cho đọc để cả nhà cùng nghe biết rõ một lời xám hối. Nghĩ mà thương mà nhớ không chút giận hờn mặc cảm.

Đến chị Liên duyên số như trời định. Giữa anh Đồng và anh Dương đã ngoặc tay với nhau từ lúc nào chẳng ai biết chỉ thấy một hôm hai chàng trai đến chơi nhà một người đã quen biết từ lâu còn chàng trai kia to cao như anh Đồng trông giống như hai anh em sinh đôi. Mẹ tôi ngỡ ngàng anh Đồng nhanh ý giới thiệu đây anh ảnh em trai út của tôi hiện làm y tá trưởng bệnh viện Tuyên Hóa. Cả nhà vui mừng. Anh Đồng không để lộ ý định đưa em trai đến xem mặt chị Liên không nên không phải lại ngượng ngùng. Chị Liên pha nước chè xanh tay vò chè nghe êm ái thau nước sôi vài lần cắt thêm vài lát gừng nhỏ trôn vào bốc mùi thơm lựng anh Đồng khen nức nở. Thoáng thấy anh ảnh liếc nhìn chị Liên rồi nhanh chóng quay về phía anh Dương sợ bị lộ. Từ trong nhà tôi nhận dạng rất rõ. Trưa hôm ấy mẹ tôi mời mọi người ăn cơm không ai chối từ. Bữa cơm gia đình đạm bạc. Cơm trộn khoai lang có cá trích kho nồi canh hến. Anh Đồng anh Dương ăn cơm khen lấy khen để. Lâu lắm mới ăn bữa chắt chắt ngọt thật. Chiều xuống ba anh em chia tay.

Gia đình sơ tán gần bệnh viện nên thỉnh thoảng anh ảnh đến chơi với gia đình. Lân la trò chuyện với chị Liên. Hình như hai ông làm mối có duyên nên anh chị tâm đồng ý hợp chẳng mấy lâu đã nên vợ nên chồng. Đám cưới trong chiến tranh cũng vội vàng như chuyện binh đao. Chỉ lấy chứng nhận kết hôn của huyện hai gia đình tổ chưc tiệc mặn liên hoan vui vẻ. Không phải linh đình như xưa. Cái hủ tục cưới xin theo kiểu thách thức đời sống mới đã xóa mất. Sau lần cưới vợ cho em trai anh Nguyễn Văn Đồng chị Lan và cháu Nguyễn Sỹ Hưng cũng lên đường đến Việt Bắc thủ đô gió ngàn nhận công tác mới.

Ba chị tôi và em gái đã yên bề gia thất tôi đang học Sư phạm anh Dương say sưa công tác chưa thấy anh nói đến chuyện gia đình hay vì lỡ lứa khó tìm người nên duyên nên phận. Tỉnh đội đóng quân ngay ở xã Phù Sơn nằm sát bờ sông Gianh cách ga Tân ấp ba cây số. Xung quanh là núi non bao bọc rừng che bộ đội rừng vây quân thù. Ban chính trị do anh Dương phụ trách được phân ở trong nhà anh Hoàng Chủ tịch xã. Anh có người em gái Nguyễn Thị Long ngày ngày chăm chỉ dệt lụa. Khung cửi đặt cạnh cửa sổ có đủ ánh sáng để phát hiện những đường tơ hỏng hóc càng tôn thêm vẻ lịch lảm của người thợ dệt. Nhất là tiếng thoi đưa tiếng con ác cọ vào thanh gỗ ăn nhịp với sự điều khiển nhịp nhàng của hai bàn chân phát lên âm thanh lách cách lách cách đều đều thu hút sự ngưỡng mộ của người qua lại. Bàn làm việc của anh Dương đặt cheo góc ngước mắt lên là thấy cô gái ngồi dệt lụa vẻ đẹp tự nhiên ngày qua ngày đập vào mắt anh bộ đội. Nhiều hôm đi công tác xa anh lại nhớ tiếng thoi đưa nhớ nụ cười duyên mỗi khi bưng bát nước chè mời anh bộ đội.

Là người anh cả trong gia đình lại thiếu vắng người cha anh trở thành người trụ cột. Cùng với mẹ bảo ban lo cho các em. Bao công việc nặng nhọc trong nhà anh gánh vác hết. Đến ngày cách mạng thành công ngoài việc nhà anh còn lo việc xã hội cho đến lúc 30 tuổi vẫn chưa nghĩ đến chuyện riêng tư. Lần này thấy anh khang khác vui vẻ hơn.

Mùa hè năm 1949 hoa phượng đỏ đầy mái trường. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp đã kết thúc từ chiến dịch Điên Biên Phủ anh Dương mới bày tỏ nỗi niềm riêng tư với gia đình. Hôm cưới nàng dệt lụa tôi không có mặt vì đang mùa thi anh Dương bảo đừng về ảnh hưởng đến học hành. Tôi vâng lời. Về sau nghe mẹ tôi kể lại đám cưới tổ chức giản đơn toàn đơn vị chăm lo nên rất hoành tráng ghi dấu ấn cho những cuộc hôn nhân kế tiếp.

Vậy là sáu anh chị em còn lại mình tôi. Gánh nặng trên đôi vai mẹ vơi dần. Niềm vui lớn làm cho mẹ tôi khỏe ra. Bao nhiêu năm chăm con đến lượt đi nuôi cháu. Các mẹ Việt Nam là thế. Những câu hát ru con ngày nào vẫn phảng phất trong tôi. "Thấy người ta chờm chợ/ Mẹ thủ tiết lòng son/ mẹ ngồi lại nuôi con/ cực trăm điều nên nỗi/ khổ trăm điều nên nỗi.

Tốt nghiệm sư phạm tôi được phân về Quảng Bình dạy học ở trường cấp II Cảnh Dương. Chưa được ấm chỗ tôi lại được điều động ra Thanh Hóa vì Quảng Bình không còn biên chế. Tôi lại có dịp về Thanh Hóa lần thứ hai rồi bén rễ ở xứ Thanh sinh cơ lập nghiệp gây dựng hạnh phúc gia đình với Mỹ lại may mắn có nhà ở tại phố Việt Kiều Thái Lan. Từ đó tìm được mồ mả tông tích ông bà nội bố tôi trên đất Thái.

Cho đến giờ tôi không hiểu nổi cơ may nào trời đất xui khiến ra sao tôi có hạnh phúc vẹn cả đôi đường như thế. Âu cũng là số phận một con người mà thôi.

                                                                                   P.P.T