TRUYỆN NGẮN

Nhà văn Trung Nguyên tên thật là Nguyễn Chí Trung trung tướng - thư ký của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu ông đãviết tác phẩm "Bản hùng ca năm xưa" thể hiện một cách trung thực và xúc động tinh thần chiến đấu anh dũng ngoan cường của bộ đội ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đặc biệt "Bản hùng ca năm xưa" đã tạc bức chân dung của anh hùng liệt sỹ Lê Công Khai người con ưu tú của quê hương Thanh Hóa.

Văn nghệ Xứ Thanh xin trân trọng giới thiệu tác phẩm cùng bạn đọc.


 

TRUNG NGUYÊN

Bản anh hùng ca năm xưa

Truyện ký



 

    Trời nắng gắt nắng trên rừng nam Gia Lai chang chang dội lửa vào mặt người.

- Ráng lên một chút nữa anh em sắp lên đến đỉnh dốc rồi!

Có tiếng người gọi phía trước. Chúng tôi xóc lại ba lô trên vai dấn bước tới. Gắng thêm một bước nữa một bước nữa. Đỉnh dốc đây rồi. Một luồng gió nhẹ từ phía nam thổi tới mát lịm đến từng mạch máu trong người.

- Nghỉ chứ?

- Nghỉ mười phút!

Tôi trật quai ba lô định bỏ xuống hòn đá bằng trên đường. Bỗng tôi dừng tay. Phía trước nghe có tiếng hát và tiếng đàn. Tôi ngẩng lên: Từ dưới chân dốc đi ngược lên phía chúng tôi một người con gái không đến bốn chị. Bốn chị giao liên Ba Na. Cả bốn chị đều mang những gùi hàng nặng trên ba mươi cân là ít! Và cả bốn đều cầm mỗi người một chiếc đàn Gon mấy ngón ở bàn tay trái thoăn thoắt nắn phím tay phải gẩy đàn. Chị đi đầu cất tiếng hát:

- Chiến thắng thắm tô cờ... hai ba!

Cả bốn cùng hòa theo:

- Chiến thắng thắm tô cờ bay phất phơ lưng trời...

Tiếng đàn đệm theo thành nhiều bè rộn rịp. Lời hát tuy có lơ lớ giọng Ba Na nhưng vẫn nghe rõ từng câu từng chữ. Còn điệu nhạc của bài hát thì rất lạ không biết từ bao giờ và bằng cách nào điệu nhạc mới ấy đã biến dạng thành một điệu dân ca đầy phong vị âm nhạc dân tộc Ba Na.

Hình như các chị chưa thấy chúng tôi. Chị đi đầu khoảng mười tám đôi mươi hai mắt lim dim theo tiếng hát. Các chị đi sau cũng suýt soát chừng ấy tuổi đều khỏe mạnh nở nang hồng hào. Trước ngực các chị che một tấm vải đen. Trên tấm vải đen ấy trái bầu của chiếc đàn Gon áp vào giữa ngực tiếng đàn ấm hơi người nghe trong và tròn lạ!

Nghe có tiếng người chị đi đầu ngẩng lên thấy chúng tôi. Cả bốn chị đều ngừng hát cười e thẹn nhưng tay vẫn không ngừng đánh đàn. Tới đỉnh dốc chỗ chúng tôi một chị nói:

- Chào các anh lực lượng! Các anh nghỉ ở đây cho các em nghỉ với.

- Được chớ mời các chị!

Các chị đặt gùi hàng xuống cạnh đường kéo tấm vải trước ngực lau mồ hôi đầm đìa trên trán trên mặt.

- Mang chi đó các chị?

- Mang cái hàng cách mạng mà!

Chẳng mấy chốc chuyện nổi lên râm ran thật vui. Tôi hỏi một chị chị đi đầu:

- Chị tên chi?

- Chị cười: Mình không có tên đâu!

Rồi chị bẽn lẽn bỏ chạy ra một chỗ khác. Nhưng một lát sau chị trở lại ném trước mặt tôi một thanh nứa chẻ đôi rồi lủi ra sau lưng ba chị kia. Tôi cầm lên thấy trong lòng thanh nứa trên lớp lụa nứa mỏng và trắng muốt có một chữ viết bằng than không đẹp nhưng rõ và đủ nét: "XANH"

- Xờ - a - nhờ - anh là Xanh tên em là Xanh đó.

- à giỏi quá còn ba chị các chị có biết chữ hết không?

Các chị lắc đầu không trả lời nhưng hết người này đến người khác lần lượt cầm thanh nứa dùng một hòn than nhỏ cẩn thận viết vào lòng nứa tên mình:

- HREO THI LIÊU.

Một đồng chí trong chúng tôi bảo:

- Các chị hát lại bài hát lúc nãy cho anh em nghe với đi hay lắm!

- Không hay chi! Miệng mắc cỡ không biết hát nữa đâu!

- Thế thì đánh đàn đi!

Các chị không từ chối. Tiếng đàn Gon lại vang lên rộn rã. Vẫn điệu nhạc lúc nãy điệu nhạc của bài hát "Chiến thắng thắm tô cờ..."

Âm hưởng của những bản anh hùng ca Ba Na đã len vào giữa những nốt nhạc mới làm cho bài hát chiến thắng ấy gợi cảm một cách lạ lùng. Nghe như có tiếng chiêng của những ngày hội đâm trâu rung rinh những lá cờ chiến thắng đỏ phần phật bay trong gió nghe như có tiếng thác đổ và gió núi reo lên những mũi mác dài mài sáng...

- Các chị các chị biết bài hát này đã lâu chưa? Ai bày đó?

- ồ lâu rồi không phải mới biết ngày ni đâu biết hồi kháng chiến đánh thằng Pháp chớ. Bộ đội cụ Hồ dạy người lớn làng mình người lớn làng mình dạy người nhỏ. Mấy năm trước nhớ quá nửa đêm mình đốt lửa hát nhỏ trong nhà. Từ khi Đảng cho đánh Mỹ mình hát to trong nhà Rông trên rẫy. Đường mình đi làm cách mạng đâu mình cũng hát mà!

- Các chị học bài hát này mấy năm rồi?

- Không biết đếm năm đâu. Lâu hung rồi. Cái mùa rẫy bộ đội cụ Hồ đánh cái đồn Đắc Đoa đó mà!

Chị Hreo người bẽn lẽn hơn cả trong bốn chị em tự nhiên nói chen vào:

- Khi đó chị y tá tới làng mình bày làng mình đó. Mình còn nhỏ lắm chưa biết mặc cái áo mà mình không biết nhớ tên chị y tá...

Chúng tôi hỏi thêm nhiều nhưng các chị không nói gì nữa. Đừng hỏi anh chị em Ba Na khi họ đã hát và đánh đàn. Lúc ấy họ đắm mình trong tiếng nhạc và không còn nghe thấy gì chung quanh nữa.

Các chị lại vừa hát: "Chiến thắng thắm tô cờ...". Tiếng hát năm xưa... "Cái mùa rẫy đánh Đắc Đoa" năm 1954. Mùa xuân năm ấy chính đơn vị chúng tôi đã tiêu diệt đồn Đắc Đoa trên đất Gia Lai này. Và bài hát chiến thắng đó đã phất phới bay trong những ngày quân ta ào ạt tiến xuống phía nam Tây Nguyên... Hơn mười năm đã qua. Bài hát năm xưa vẫn còn càng phát triển và thấm sâu thêm mãi... Sự tình cờ mười năm sau hôm nay đã cho tôi biết được đoạn sau của câu chuyện về bài hát của đơn vị tôi ngày xưa.

*

Đây là đoạn đầu. Hơn mười năm về trước...

Người đầu tiên mang bài hát ấy về đơn vị chúng tôi là trung đội trưởng Khương Thế Xương. Cho đến ngày nay cứ nhắm mắt lại tôi còn có thể thấy trõ mồn một hình ảnh Khương Thế Xương. Anh đứng đấy giữa đại đội chúng tôi tập họp đông đủ anh hơi nhỏ người nước da trắng tóc cắt ngắn gọn như một cậu bé; hai tay anh đưa ra phía trước mặt hơi ngẩng lên:

Chiến thắng... hai ba!... Chiến thắng thắm tô cờ...

Toàn đơn vị dán mắt vào hai cánh tay Xương. Tiếng hát bật lên đôi cánh rộng lớn của một con chim đại bàng vạm vỡ đột ngột dang rộng ra vươn tới rồi bay vụt lên giữa bầu trời chan hòa gió nắng. Có thể lúc ấy chúng tôi hát không hay lắm không đúng lắm. Nhưng chúng tôi hát theo lối riêng của chúng tôi và đối với chúng tôi thật không cách nào hát hay hơn. Chúng tôi hát thành nhiều giọng. Giọng hát của đại đội phó Lê Công Khai người anh của Đại đội của tiểu đội trưởng giá thiết Lại Xang người nông dân cao lớn chắc chắn như cây lim của đơn vị đi thành một bè trầm bao giờ cũng hơi chậm một chút nằng nặng đậm đà như âm vang rền rền của mặt đất quê hương đẫm máu và nước mắt như kỷ niệm về những đồng chí đã ngã xuống trên con đường đi tới của Đại đội. Giọng hát của đại đội trưởng Trình của Chính trị viên phó Toàn thanh thoát trong sáng cứ vươn tới bay lên trước như một lá cờ... Chúng tôi hát say sưa và trước mắt chúng tôi hiện lên rõ mồn một hình ảnh một con người cao lớn đứng dậy từ bùn lầy tay cầm mã tấu và đi tới trong khói lửa một con người nhiều đau khổ nhưng kiên cường và tự hào ngẩng đầu lên mắt giận dữ cơn giận dữ thiêng liêng của một người hiền lành mà bị người ta cướp mất cái gì quý nhất trong đời sống. Mỗi chúng tôi là một tế bào nhỏ một dòng máu nhỏ một bộ phận khăng khít trong con người lớn đó. Con người ấy chính là Đại đội chúng tôi. Những người lính cũ đều hiểu rằng mỗi đơn vị quân đội ta không phải chỉ là sự tập hợp những người lính riêng lẻ. Không mỗi đơn vị là sự chan hòa của rất nhiều con người lại làm một. Những đồng chí đã mất đi lại vẫn còn sống trong con người tập thể rộng lớn đó những người đến sau lại nối tiếp đời sống bất tận của đơn vị. Và số phận lai lịch cuộc đời của mỗi người lính trong đơn vị là một bộ phận một chi tiết trong đời sống chung của đơn vị làm cho con người tập thể rộng lớn đó cứ phong phú thêm lên mãi không những về hiện tại về tương lai mà cả về quá khứ nữa. Đại đội chúng tôi có một phong tục: Chúng tôi thường tổ chức những đêm sinh hoạt nhỏ và thân mật trong những đêm đó từng người kể về cuộc đời của mình về con đường cầm súng của mình... Đại đội chúng tôi là một con người như vậy đấy giàu có quá khứ giàu có tương lai... Chúng tôi hát và trước mắt chúng tôi hiện rõ lên mồn một hình ảnh những con người đã đến và góp thêm phần mình vào lịch sử vào đời sống chung của đơn vị. Hình ảnh đại đội phó Lê Công Khai người anh của chúng tôi từ những ngày anh là cậu bé mồ côi cha gầy còm xanh xao ở một làng nhỏ bên bến Đò Lèn Thanh Hóa ngày ngày gánh những đôi bồ béo gấp bốn năm lần người anh do chính tay anh đan chạy lon ton trên những con đường Đò Lèn Hàm Rồng nắng chang chang vào bán ở thị xã Thanh Hóa kiếm mấy đồng xu bạc bẽo và nhạt thếch về nuôi mẹ; hình ảnh những ngày sôi nổi năm 1945 khắp phố phường nông thôn giăng đầy những khẩu hiệu: "Nam Bộ là máu của máu Việt Nam là thịt của thịt Việt Nam!"... Khai vứt đôi bồ đan dở từ giã mẹ lên đường đi Nam tiến anh mặc chiếc áo capốt dạ cướp được của lính Nhật áo đã sờn hết hai vai bảy hột nút đồng trước ngực chỉ còn ba bốn hột kia được thay bằng bốn cây kim băng quà duy nhất của mẹ. Lưng anh đeo chiếc nồi bảy to hơn bề ngang của người anh anh làm cấp dưỡng của tiểu đoàn Nam tiến hồi bấy giờ đóng ở sông Cầu Phú Yên. Rồi những ngày anh đi trinh sát Lê Công Khai hoạt động ở chiến trường Khánh Hòa cơ sở tan nát đường dây bị cắt vụn từng đoạn Khai dẫn một đoàn cán bộ quan trọng vào cực Nam. Lạc đường anh sa vào vòng vây của giặc. Một mã tấu hai lựu đạn Khai đánh suốt một buổi mở đường máu cho cán bộ chạy thoát hết còn anh bị thương ở ngực bị giặc bắt sống trói cứng tay chân khiêng về Nha Trang. Ba tháng sau vết thương chưa lành Lê Công Khai vượt biển trên một chiếc thuyền câu của một cụ già yêu nước trở về Hòn Khói rồi dẫn đầu một tổ ba người trong trận đánh chìm chiến hạm Đô đốc Véc -đong... Hình ảnh Khai những ngày thất bại trong chiến dịch Nam Khánh 1949 giặc chặn trước đuổi sau đơn vị đói nặng. Khai một mình một tiểu liên sục sạo trong lòng địch suốt mấy tháng trời cứ chiều chiều mang về cho đơn vị mấy nhúm gạo xin được của đồng bào gạo ít quá nên bữa cháo nào cũng thừa vì cả đơn vị ai cũng nhường nhau... Rồi hình ảnh này nữa: Đêm khuya trong một làng nhỏ ở Quảng Nam Xương đốt đèn dậy cho Khai tập viết tập đọc. Ngày Nam tiến mẹ dặn Khai: "Vào tới trong đó nhớ đánh giấy về cho mẹ mừng". Anh học để viết thư cho mẹ.

Chúng tôi hát và lại hiện lên trước mắt chúng tôi rõ mồn một hình ảnh chắc chắn của Lại Xang. Xang đứng đấy trầm lặng và vững chãi như tiếng hát của anh. Cứ trước mỗi trận đánh Xang lại nói giọng Bình Định chậm và nặng:

- Phần giá thiết nhất định không để cho xung kích ùn...

Hình ảnh đại đội trưởng Trình tám năm lăn lộn trên chiến trường Khánh Hòa gian khổ anh vẫn đẹp trai như một cậu học sinh. Trình mới cưới vợ. Anh hay khoe:

- Mình sắp có con rồi một công chúa nhé!

Mùa hè năm 1952 chúng tôi mất đại đội trưởng Trình. Anh hy sinh trong trận hạ đồn Túy Loan. Đứa con gái của anh ra đời sau khi anh mất năm tháng. Chúng tôi đề nghị mẹ em đặt tên em là Túy Loan. Túy Loan bây giờ đã lớn chắc em đang học ở một trường nào đó ngoài miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Mỗi lần Đại đội chúng tôi hát bài "Chiến thắng thắm tô cờ..." giọng hát thanh thoát bay bổng của Trình hồi ấy được thay bằng giọng hát của Xương và Hoàng. Hoàng một chiến sỹ trẻ một học sinh mới ra trường vừa mới nhập ngũ. Đã thành lệ Hoàng vào đơn vị liền được Chính trị viên Xang của chúng tôi kể cho nghe về lịch sử của Đại đội của những người đã mất hay còn sống đã làm nên cái tập thể gắn bó máu thịt này. Xương lại dạy Hoàng bài hát của chúng tôi. Hoàng có giọng hát cao và rất gợi cảm. Lúc hát đôi mắt sáng của anh hơi mờ đi và ươn ướt có lẽ anh nghĩ đến bé Túy Loan.

Đầu năm 1953 chúng tôi bắt đầu lên Tây Nguyên. Đơn vị chúng tôi được làm nhiệm vụ chủ công tiêu diệt đồn Tú Thủy. Đêm đó chúng tôi đã đánh một trận ác liệt. Moóc chi ê địch bắn chặn dữ dội. Trung đội trưởng Trương Thế Xương thoăn thoắt chạy lên chạy xuống băng qua lửa đạn rào rào bình tĩnh tổ chức đội hình chỉ huy hỏa lực bắn kìm chế địch gọi và chỉ huy bộc phá liên tục đánh tan mấy lớp rào. Rồi anh dõng dạc gọi lớn: "Có giao thông hào! Giá thiết lên ngay!" Các chiến sỹ giá thiết lập tức lao lên trong mưa đạn. Đã gặt được giá thiết Moóc - chi - ê địch vẫn dội rát. Một tổ xung kích vừa lao lên chưa chiếm được đầu cầu thì giá thiết bị một quả cối bẻ làm đôi gãy gục đổ xuống một hào rộng đầy chông. Khương Thế Xương dẫn một tổ khác lao lên bị chặn đứng lại ở bờ hào. Một mảnh đạn cối khoét vào giữa trán anh một lỗ nhỏ và không có máu. Anh nằm ngửa ngẩng mặt lên bầu trời Tú Thủy đầy sao đôi mắt mở to trong sáng và đầy suy nghĩ như những lúc anh bắt nhịp cho đơn vị hát.

Có tiếng gọi của Lê Công Khai:

- Giá thiết!

Một bóng người cao lớn chạy lên: Lại Xang. Lại Xang chạy lên hai tay không. Giá thiết dự bị cuối cùng đã bị gãy. Xang đến trước bờ hào. Anh đứng ở đó một giây. Rồi im lặng anh nhảy xuống hào. Một cây chông dài đâm phập vào giữa bụng. Xang bẻ gãy cây chông rút ra. Máu phọt ra. Anh bước tới hai bước nữa cúi xuống nâng giá thiết gãy lên đội lên đầu. Rồi anh đứng vững ở đấy sừng sững như một cây lim lớn những chông nứa chông sắt đâm tua tủa khắp hai bàn chân hai trái chân hai bắp vế đâm vào ngực vào bụng. Xung kích ào ào vượt qua giá thiết đạp bằng Tú Thủy.

Hôm sau trong lễ truy điệu chúng tôi lại hát bài hát của Khương Thế Xương mang về đơn vị năm xưa. Không có bè trầm nằng nặng của Lại Xang. Nhưng trong lòng chúng tôi rền vang mãi một bè trầm nặng hơn sâu hơn của căm thù và thương tiếc khôn nguôi...

- Chiến thắng... hai ba!... Chiến thắng...

Tiếng hát quện mãi lá cờ chiến thắng của chúng tôi bay trên Tây Nguyên rộng lớn. Mùa xuân lại đến trên núi rừng Gia Lai tuyệt vời. Mùa xuân năm 1954 từ Kon Tum giải phóng dòng thác lũ của quân ta ào ào tràn xuống phía nam. Đơn vị chúng tôi lại được nhận nhiệm vụ chủ công nhổ đồn Đắc Đoa án ngữ đường tiến của quân ta. Chúng tôi đánh Đắc Đoa lần thứ nhất không thành công rút về đóng trong một khu rừng gần đồn. Những ngày đó chúng tôi không hát. Đại đội trưởng Lê Công Khai dẫn trinh sát đi mò đồn đêm này qua đêm khác sáng về mắt ráo hoảnh và hõm sâu. Chúng tôi chuẩn bị ráo riết. Trăng thượng tuần cứ mỗi đêm một sáng. Chờ cho trăng tối mới đánh ư? Không được phải giải quyết sớm. Tiếng súng Điện Biên Phủ ngoài kia đã nổ thúc giục phải phối hợp gấp. Chúng tôi xin đánh lại ngay đúng giữa đêm rằm.

Tôi nhớ rõ lúc ấy đơn vị không ai còn thuốc hút. Trước những cặp mắt mở tròn của chúng tôi anh tháo ba lô lấy ra một gói lớn bọc lá chuối khô: một bó cộng thuốc lá! Chúng tôi vồ lấy chia nhau ngay. Thì ra những ngày chuẩn bị đi chiến dịch Khai tẩn mẩn đi lượm hết những cộng thuốc lá anh em chúng tôi tước và vứt đi. Anh gói kỹ lại mang trên lưng suốt chiến dịch cho đến hôm nay. Chúng tôi hút thuốc cộng phì phèo ngon lạ! Khai ngồi nhìn chúng tôi hút mỉm cười sung sướng. Rồi anh nói:

- Này lúc nãy họp Đảng ủy tôi đã thay mặt Đại đội hứa: đêm nay đơn vị chúng ta quyết tâm làm tròn nhiệm vụ một trăm phần trăm. Các cậu đồng ý hết không?

Một đồng chí trong chúng tôi nói: Chúng tôi xin hứa với đồng chí như vậy.

Đêm đó pháo địch bắn nhiều. Chúng đặt cả một trận địa pháo riêng mười hai khẩu sẵn sàng chi viện cho Đắc Đoa. Trăng sáng quá vằng vặc như ban ngày. Chúng tôi bị lộ ngay từ đầu. Chưa tiếp cận đã thấy những cáng thương binh và liệt sỹ khiêng ngược trở ra. Chúng tôi dừng lại ở một đồi chè nhỏ chờ tin cuối của trinh sát. Mọi người đều im lặng. Bỗng nhiên Hoàng cất tiếng hát rất nhỏ. Bài hát của chúng tôi. Giọng của Hoàng gợi cảm lạ lùng. Qua gần một năm lăn lộn khói lửa tiếng hát của anh vẫn giữ được cái thanh thoát trẻ trung nhưng lại đậm đà hơn chín chắn và có sức nặng hơn. Chúng tôi không ai hát thành tiếng nhưng từ trong lòng ai cũng hát theo Hoàng.

Mười giờ chúng tôi tiếp cận. Trời càng trong vắt trăng càng sáng. Thấy cả thằng địch nhô đầu ra nhòm ở bờ tường. Chúng nó cũng thấy chúng tôi rồi. Pháo địch ngừng một lúc rồi đột ngột bắn dồn dập. Phía sau có báo cáo:

- Pháo bắn vào đội hình!

Lệnh tản ra. Rồi lệnh dồn lên.

Pháo giã mỗi lúc một dữ dội. Đến lúc một phát pháo hiệu xanh vụt lên ta bắt đầu đánh bộc phá thì chúng bắn loạn xạ vào giữa đội hình bộc phá. Hàng chục hàng trăm con chim sắt dữ tợn rít lên bổ nhào vào giữa hàng ngũ chúng tôi. Chúng tôi thấy Lê Công Khai phía sau chạy vụt lên trước. Một dòng máu từ trên thái dương phải anh chảy xuống thấm vạt áo trước ngực.

- Anh Khai bị thương rồi à?

Khai không trả lời.

Anh dẫn Tiểu đội trưởng Nhường lên hàng rào thứ nhất:

- Đây bộc phá vào đây!

Một bầy đại bác sàn sạt bay tới.

- Nằm xuống!

- Nhường Nhường đâu?

Không có tiếng trả lời. Chỗ Nhường vừa đứng chỉ còn một hục đất sâu nóng hổi. Cả Tiểu đội Nhường cũng đều hy sinh.

Khai xắn tay áo lên. Anh quay lại phía sau dẫn Tiểu đội bộc phá thứ hai rồi thứ ba. Bây giờ pháo càng bắn dữ hơn xối ngay vào hàng rào.

Tiểu đội bộc phá thứ hai đội mưa đại bác ào lên phá tung được hàng rào thứ nhất. Cũng vừa lúc đó pháo bắn trúng vào giữa tiểu đội. Trong tất cả những chiến sỹ của Tiểu đội ấy sau này chỉ có một người bị thương trở về. Khai cũng ngã xuống một mảnh đại bác cắt nghiến chân phải của anh.

Có một bóng người bò tới:

- Anh Khai anh Khai! Mai đây!

Khai nói:

- Băng giùm mình.

Mai băng vết thương cho Khai rồi bò về phía sau. Một lát khiêng thương luồn qua mưa đại bác chạy tới. Khai quát:

- Lùi lại phía sau! Tiểu đội ba đâu?

Với một chiếc chân còn lại anh bò tới.

- Báo cáo Tiểu đội ba có mặt!

Khai nắm tay Tiểu đội phó Lại:

- Nằm đây! Hễ dứt đại liên là chạy lên ngay. Đánh vào chỗ kia vào chỗ cây chè kia thấy rõ chưa?

Lại như một con sóc. Chờ đại liên vừa tắt anh phóng lên. Bộc phá của anh nổ cùng một lúc với một loạt đại bác. Hàng rào thứ hai bị xé tung.

Bây giờ bọn giặc trong đồn liều mạng dựng đứng khẩu cối 120 ly lên mà bắn ra đạn rơi ngay sát chân tường. Chúng tôi quét được hàng rào thứ ba sau bốn lượt bộc phá nhưng đến đây thì bị khẩu đại liên địch chặn đứng lại. Khai gọi chúng tôi hỏi nhỏ:

- Tiểu đội đồng chí còn mấy người?

- Báo cáo còn hai người.

Im lặng một lát rồi Khai nói:

- Còn một người cũng đánh! 20 cân chuẩn bị... theo tôi!

Khai nhổm dậy. Bỗng anh ngã quỵ xuống. Một viên đại liên bắn nát chân thứ hai của anh. Rồi tiếng bay của một quả cối sè sè một tiếng sét đánh. Khói đen sặc sụa. ánh trăng phụt tắt. Có ai đó thổi tắt ngọn đèn trong một căn phòng kín mít. Bốn bề im lặng như tờ...

Lúc Khai tỉnh dậy chung quanh anh không còn bóng người động đậy. Lại nằm đấy bên cạnh anh thản nhiên như trong một giấc ngủ yên lặng. Rồi có một bóng người cúi xuống cạnh Khai. Một tiếng gọi:

- Khai! Khai!

Khai nhận ra tiếng Chính trị viên Xang. Anh hỏi Xang:

- Đã sử dụng dự bị chưa?

- Đang động viên. Cho lên bây giờ.

Khai cố mở mắt ra. Anh hỏi:

- Xang cậu bị thương rồi à?

Xang không trả lời: đầu anh quấn băng trắng toát. Một quả đại bác rít trên đầu. Khai kéo Xang đẩy xuống cái hố anh đang nằm rồi chống cùi tay kéo đôi chân gãy nát anh bò lên phía trước.

Có bóng người lom khom chạy tới.

- Ai đó?

- Báo cáo đội dự bị.

Một bầy đại bác ập tới vào giữa đội hình dự bị. Một cơn sét dữ dội rồi tất cả lại im lặng. Trong khói đen có bóng người ngồi dậy bóng Khai. Một cánh tay anh đưa lên và dõng dạc lạ thường như một tiếng gọi tiếng gọi át cả tiếng súng:

- Những người đảng viên Cộng sản đâu?

Tiểu đội đầu tiên của đội dự bị chỉ còn có một người. Người đó là Hoàng. Hoàng chùi vết máu trên mặt trả lời:

- Có!

Khai đưa quả 20 cân cho Hoàng và chỉ nói có một chữ:

- Đây!

Hoàng chạy lên. Tiếng 20 cân át tất cả tiếng súng lớn nhỏ. Khai thấy rõ chiếc lô cốt lớn quỵ xuống. Rồi xung kích xung kích lướt lên bay vụt qua cửa mở.

Một người nào đó đến bên Khai băng vết thương mới ở ngực cho anh. Anh nói:

- Bắn pháo hiệu đỏ! Báo cáo về Đảng ủy trận nội đã bắt đầu!

Anh nhắm mắt lại. Anh thấy một phát pháo hiệu đỏ bay vụt lên trên nền trời đầy trăng nhưng có lẽ chỉ là thấy trong mơ. Anh chỉ còn kịp nghĩ:

- Hoàng... bắt bài hát rất hay... Hoàng chưa phải là đảng viên...

*

Buổi sáng trong rừng im lặng lạ lùng. Có tiếng chim nhưng tiếng chim nhỏ và thanh quá tiếng chim gõ vào sự im lặng đó làm cho sự im lặng càng trong sáng và mênh mông hơn. Những lá xanh trên cao lọc nắng xuống xanh một màu xanh không thể tả được. Khai nhắm mắt để tránh cái màu xanh chói chang ấy.

Đồng chí bác sỹ đưa mắt nhìn đồng chí Chính ủy. Im lặng rất lâu... rồi anh nói:

- Đánh thuốc mê nặng sợ anh ấy không chịu nổi!

Đồng chí Chính ủy không trả lời. Cuộc phẫu thuật bắt đầu.

Trạm phẫu thuật tiền tuyến đóng trong rừng. Toàn trạm thương binh nhân viên cán bộ đều nín thở im lặng chờ đợi.

Người ta đang cắt chân cho Lê Công Khai. Một người hộ lý đi về phía các thương binh nhẹ nằm ở góc trái khu mổ. Tất cả các cặp mắt đều hỏi:

- Sao?

- Đã cắt xong chân phải rồi... yếu lắm.

Người hộ lý đi xa phía bìa rừng đầy ánh nắng. Lại im lặng mênh mông. Thỉnh thoảng có tiếng "Keng"- Một cái kéo ném xuống chiếc thau của người hộ lý.

Bỗng tất cả đều nhổm dậy. Một đồng chí thương bị gãy cả hai tay nhờ người thương binh bên cạnh đỡ anh dậy.

Từ phía phòng mổ từ trong cái im lặng trong vắt của buổi sáng mùa xuân trong rừng Gia Lai bỗng có tiếng ngân nga khe khẽ thoạt tiên như tiếng gió nhẹ thổi qua cây lá rồi to dần đậm dần rõ dần một tiếng hát. Tiếng hát của Lê Công Khai trên bàn mổ: "Chiến thắng thắm tô cờ bay phất phơ lưng trời. Tiếng reo ngàn triệu dân đang lay chuyển núi..."

Tiếng hát cao lên mãi cao lên mãi... tưởng như sắp đứt mất rồi lại trầm xuống quấn quýt nhẹ nhàng phấp phới:

Cờ đỏ lửng lơ không trung đưa toàn nhân dân trên quãng đường chung...

...

Người hộ lý lúc nãy trở lại. Anh nói:

- Đã cắt xong cả hai chân... Nhưng anh ấy không còn nữa!...

*

Mười năm đã qua kể từ cái buổi sáng mùa xuân đó. Nhưng tôi còn nhớ rõ trong trạm phẫu thuật hôm ấy không có một người nữ y tá nào. Vậy đồng chí nữ y tá bộ đội nào đã mang bài hát của đơn vị chúng tôi năm xưa đã ngấm vào cuộc sống của đất nước của dân tộc ngày càng thấm thêm mãi những phong vị của những sự tích anh hùng mới và vô tận đến nay đang chảy thành những con sông lớn...

Các chị giao liên Ba Na chào chúng tôi cõng hàng lên vai và đi. Các chị lại áp trái bầu tròn của chiếc đàn Gon lên giữa tấm vải che ngực. Và bài hát năm xưa lại vang lên trên những nẻo đường mới chúng ta đi.

                                                                       T.N

TỪ NGUYÊN TĨNH

Mền


 

Truyện ngắn


 

    Mền nhảy ra khỏi hang Cá xốc lại chiếc quần cộc quát thằng Thư:

- Thư! Mi còn ngồi trong đó làm chi rứa. Máy bay nó đánh vào các chú Xê 4 rồi. Khói ùn lên tề tề !..

Thư chạy vội ra ngoài cửa hang nói như khóc:

- Ôi trời ơi! Nó ném vào khẩu đội chú Trung "gà trọi" rồi!

Nước mắt nó tự nhiên cứ ứa ra. Thấy vậy Mền gắt:

- Lính tráng chi mà lại khóc. Có gọi thằng Tuynh ra mau không!

Thư quệt vột nước mắt vào ống tay áo cáu bẩn. Ngó vào miệng hang réo:

- ớ Tuynh mi có ra mau ra không thì biểu tau!

Tuynh ra đến cửa hang lại vội thụt vào trong. Thấy vậy Thư ức lắm túm ngay cổ kéo ra ngoài giọng hống hách:

- Đồ hèn! ở trận địa các chú ấy cũng như mi thì lấy ai bảo vệ cầu Hàm Rồng!

Tuynh đứng ở cửa hang mà vẫn run. Mền hầu như chẳng thèm để ý đến hai thằng bạn lấy tay làm ống nhòm dáng điệu như mấy chú trinh sát trên trận địa:

- Chú ý tốp F4H hướng 32 bổ nhào!

- Bắn!

Cũng lúc đó đạn từ trận địa bắn lên vây lấy máy bay.

Mền khoái chí nói cùng hai thằng bạn:

- Thằng Mỹ cũng ngu cứ nhè vào đạn mà lao xuống bay ạ!

Ba đứa đứng chụm vào nhau nhìn lên trận địa. Một cột khói bom như chiếc nấm cuộn lên che lấy góc phía nam quả đồi. Thằng Tuynh khẽ thì thào cùng Thư. "Đúng khẩu đội chú Điện trố rồi mày ạ !" Mền nghe mà nẫu cả ruột. Mền nhớ như in vị trí các khẩu đội. Chú Thái "sẹo" rồi đến "khẩu" chú Điện trố chú Trung gà trọi chú Đức gáo chú Kíp chói... Các chú ấy đối với Mền Thư và Tuynh như là người nhà ý mà. Mền nhớ cái đêm các chú cơ động về đây cả làng Đông Sơn lên trận địa Mền cũng lên được các chú cho ngồi pháo quay rõ sướng. Chú Huynh đại đội trưởng nói đùa:

- Ô kìa! Đơn vị mình sao lại có mấy cậu lính trẻ vậy nhỉ!

Thấy Mền và các bạn còn bẽn lẽn chú Đức gáo nói đỡ lời:

- Báo cáo đại trưởng đây là lính mới của chúng tôi!

Mền và các bạn khoái quá làm già đến rờ từng bánh pháo. Chà khẩu pháo mới to chứ. Mền đứng mà chỉ nhỉnh hơn bánh xe một cái đầu. Mền làm bộ như người lớn cũng đến kéo pháo vào công sự. Chú Trung mặt đỏ như mặt trời hỏi Mền.

- Cháu bao nhiêu tuổi rồi!

- Cháu mười hai!

- Tốt ! Chỉ năm sáu năm nữa là vào đơn vị chú có thích không nào?

- Cháu thích được bắn máy bay ngay bây giờ cơ!

- Gớm chưa!...

Chú Trung nói chưa dứt câu thì tiếng kẻng báo động vang lên khắp Hàm Rồng.

- Mời bà con và các cháu vào ngay công sự ! - Tiếng chú Huynh từ giữa trận địa ra lệnh.

Tiếng máy bay ào đến. Đạn bắn đỏ ngợp cả bầu trời. Tai Mền như bị nổ bùm bụp. Mắt Mền nhắm nghiền lại. Nhưng tức nhất là thằng Tuynh khóc thút thít.

Chú Trung ôm thằng Tuynh vào lòng dỗ dành:

- Chà! Mấy cậu lính mới không biết sợ à! Giỏi quá!

Hôm ấy về đến hang Cá Mền giơ nắm đấm dọa thằng Tuynh:

- Đồ hèn! Tau không cho mi đi theo nữa mô!

Nhưng thật không may cho bọn Mền tí nào. Từ hôm đó lệnh của Khu Đội cấm không cho các cháu thiếu nhi lên trận địa trừ hôm diễn văn nghệ.

Mền đứng thừ ra hai tay thôi làm ống nhòm. Mặt mày đen đúa ướt nhẽm mồ hôi. Tóc húi ngắn nhìn cu cậu như tạc bằng đá núi. Thằng Thư thấy Mền trang nghiêm quá cũng làm bộ mặt y hệt. Cu Tuynh thấy Thư đóng kịch không nín được cười. Thư cáu quá túm ngay lấy tai Tuynh thét lác:

- Này! không phải lúc.

Mền khoát tay lia lịa:

- Nó đang bổ nhào vào Xê 4 - các chú kết nghĩa với làng mình rồi!

- Biết làm sao được! - Thư hổn hển nói.

- Ta lên trận địa các cậu ạ!

- Khu đội cấm tụi mình rồi! - Tuynh thật thà nói.

Lặng đi hồi lâu Mền reo lên:

- Có cách rồi theo tôi! Mền bắt chước giọng của trung đội cảm tử phá bom.

Ba đứa nhỏ chạy vụt vào làng Đông Sơn đổ nát.

*

Tiếng súng nổ trên trận địa đồi cao. Tiếng bom nổ dựng lên thành những chiếc nấm khổng lồ.

Ba đứa chạy cách nhau chừng hai mét theo lệnh của Mền. Khi nào thấy máy bay bổ nhào Mền nằm xuống là các bạn cũng nằm xuống. Tiếng súng các chú nổ theo lệnh của Mền hai bạn lồm cồm vùng dậy lao đi. Mồ hôi thấm ướt áo quần dính đầy bụi đất.

Cả ba đều im lặng nghe ngóng.

Thằng Thư khẽ thì thào:

- Im tiếng súng rồi bay ạ!

- Láo! Nó có bổ nhào các chú mới bắn chứ! Mền quát Thư.

Tuynh im thin thít bám sát đội hình.

Cả ba bò lên dốc. ồ cái dốc đồi Ba cây thông này mới ác chứ. Hàng ngày cả ba thường lùa dê qua lèo lèo vậy mà hôm nay sao dài thế.

Mền thở hồng hộc nhưng không ngừng quan sát.

- Nằm xuống! Mền quát hai bạn.

Cả ba đứa cùng lăn xuống hố bom. Một cột khói chùm lấy.

Thằng Mền sờ hai bạn thấy còn nguyên cả. Nó thấy thương thương:

- Hai "đồng chí" gắng lên!

Không hiểu sao Mền lại bạo miệng gọi "đồng chí" làm Thư và Tuynh quên cả đau lồm cồm bò dậy.

Chúng nó lách lại sườn đồi phía khẩu đội chú Điện Trố cho dễ lên.

- Ai đấy! - Chú Điện quát.

Thằng Tuynh nghe tiếng quát mà hết cả hồn. Mền bình tĩnh trả lời thay cho các bạn.

- Cháu Mền đây ạ!

- Sao ? Ai cho các cháu lên đây? - Chú cán bộ Khu Đội ra hiệp đồng cùng bộ đội quát.

- Chà! Mấy tướng này quá thật!

Thằng Tuynh chực khóc nói lý nhí:

- Bạn Mền - "Đại tướng" rủ ạ!

Mền lấy hết can đảm nói rành rẽ:

- Báo cáo! Các cháu đưa nước ra cho các chú đấy ạ!

Thằng Tuynh và Thư sáp lại gần Mền dáng ngay đơ.

Những người lính nhìn ba chú bé như được nhuộm bằng đất. Họ truyền nhau ba chiếc ấm nhôm. Điều này không ai nói ra cho ba chú bé làm gì. Hai chiếc

Bạn đọc

Nhà văn Nguyễn Chí Trung khi còn trong quân đội chỉ được phong đến quân hàm Thiếu tướng thôi còn việc ông mang quân hàm Trung tướng thì không hiểu ông được phong khi nào?