TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN


Sắc thái văn hóa xứ Thanh

trong thơ Thanh Hóa

                           
 
                                                              Nguyễn Mạnh Hùng
 
 
 
  

           Thanh Hóa là vùng đất hình thành sớm trong lịch sử nếu có thể nói cũng có nền văn minh phát triển song hành với nền văn minh lúa nước của người Việt. Thanh Hóa là quê hương của văn minh trống đồng và nhạc khí bằng đồng cũng là quê hương của những kho tàng truyện kể dân gian ca dao dân ca và các trò diễn. Thanh Hóa là vùng đất rộng người đông; vị trí địa lý mở ra bốn phương tám hướng: Phía tây lên núi phía đông xuống biển là dải đất Bắc miền Trung trên đường xuyên việt Bắc - Nam có cả đồng bằng và trung du. Do vậy cũng từ rất sớm trong lịch sử Thanh Hóa là địa bàn nhập cư của các tộc người Hoa (Trung Quốc) người Mường người Thái (Hòa Bình và Nghệ An) người Kinh ở Ninh Bình. Do đặc điểm và tính chất của một vùng quê địa - văn hóa và địa - lịch sử xã hội như vậy Thanh Hóa đã sớm hình thành và khẳng định sắc thái văn hóa của đất và người xứ Thanh.
Sắc thái văn hóa Thanh Hóa được biểu hiện ở võ công và văn hiến. Võ công là tinh thần thượng võ để tự vệ góp phần quan trọng vào công cuộc chống xâm lược và mở nước của dân tộc. Văn hiến là văn minh văn hóa hiền tài viết sử và làm thơ. Chả thế mà từ thế kỷ XI vua Lý Thái tông một lần công cán qua Thanh Hóa đã khẳng định đây là vùng đất "Địa linh nhân kiệt". Sắc thái văn hóa đó biểu hiện đậm nét và rực rỡ ở mọi loại hình nghệ thuật như âm nhạc điêu khắc kiến trúc và đặc biệt là ở loại hình văn học.
Thơ ca là thể loại truyền thống của dân tộc mà Thanh Hóa là một trong những điểm sáng của cả nước về sự phát triển. Bài viết này chỉ là một lát cắt mang tính đồng đại góp phần khẳng định: "Có một sắc thái xứ Thanh trong thơ Thanh Hóa" thời hiện đại.
Có thể hiểu sắc thái văn hóa của một vùng quê một địa phương (hàng tỉnh hoặc tộc người) trong thơ ca là phạm vi hẹp khái niệm hẹp của tính dân tộc trong thơ ca - văn học. Tôi chỉ xin đề cập đến ba tiêu chí biểu hiện sắc thái văn hóa trong thơ ca Thanh Hóa.
- Tâm hồn và tính cách con người
- Chất liệu và địa danh
- Ngôn ngữ và giọng điệu.
Nói đến tâm hồn và tính cách của người Thanh Hóa người đời thường nghĩ và hình dung ra mẫu người cương trực gân guốc có phần ngang tàng và đôn hậu hóm hỉnh và luôn lạc quan. ở một bài phê bình "Thơ nữ Thanh Hóa" (Một vùng quê văn học - NXB Thanh Hóa - 2005) tôi đã có nhận xét: "Người Thanh Hóa quê ta có cái gì đó rất thông minh dữ dằn cương trực hơi gàn nhưng cũng dễ mềm lòng". Vâng! Đúng như vậy. Khí chất này của người Thanh Hóa được thể hiện rất rõ trong văn học chống Pháp.
Bài thơ "Đèo Cả" của Hữu Loan hoành tráng mà kiêu sa chí ngút trời mà ấm áp tình người tình đồng chí:
Đèo Cả! Đèo Cả
Núi cao ngất
Mây trời Ai Lao sầu đại dương
...
Gian nguy lòng không nhạt
Căm thù trăm năm xa
Máu thiêng sôi dào dạt
Từ nguồn thiêng ông cha
...
Ăn với nhau bữa heo rừng công thui chấm muối
Trên sạp cây rừng
Ngủ chung một lối
Biệt nhau đèo heo canh gà.
Bài thơ "Nhớ máu" của Trần Mai Ninh là khúc ca ra trận của người trai người vệ quốc đem sức dài vai rộng cầm vũ khí nuôi chí đánh giặc cứu nước cứu non sông trong niềm lạc quan vinh dự:
Cả ngàn chiến sĩ
Cả ngàn con bạc con vàng
Của tổ quốc!
Sống... trong đáy âm thầm
Mà nắm chắc tối cao vinh dự.
Và với một nhà thơ nữ sống và trưởng thành trong thời bình đã thấm nhuần nhân sinh quan lạc quan yêu đời của cha anh qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ tác giả chẳng việc gì phải buồn phiền bi quan trong cuộc sống. Bởi vậy tác giả có lời nhắn nhủ những ai còn nghi hoặc chao đảo trong cuộc sống thì bình tâm nhìn nhận lại xác định lại để hòa nhập với cuộc sống đáng yêu này. Đó là cái đẹp hồn hậu nữ tính của người con gái xứ Thanh:
Nếu bạn còn hoài nghi tất cả
Chẳng còn tin gì ở cõi đời
Thì hạnh phúc cùng niềm tin lớn nhỏ
Cũng dần dần bỏ bạn mà thôi
            (Lê Minh Hoài - Tiếng mùa xuân)
Về chất liệu và địa danh nêu bật sắc thái văn hóa xứ Thanh có nhiều tác giả và tác phẩm đề cập tới. Và đây cũng là tiêu chí giúp người đọc dễ nhận ra nhất thơ Thanh Hóa viết về Thanh Hóa trong văn học hiện đại và đương đại. Nói đến Thanh Hóa là nói đến sông Chu sông Mã Hàm Rồng Sầm Sơn; đến Lam Sơn - Thọ Xuân Thành nhà Hồ - Vĩnh Lộc Ngàn Nưa - Nông Cống Như Thanh và đến trăm miền quê xứ Thanh danh thắng nên thơ.
Ca dao Thanh Hóa có câu:
Thanh Hóa thắng địa là nơi
Rồng vờn hạt ngọc hạc bơi chân thành
Rồng và ngọc là núi Rồng. Núi Ngọc bên hai bờ sông Mã là điểm nối hai đầu cầu Hàm Rồng trong lịch sử đã đi vào huyền thoại thời hiện đại.
Cầm Giang có bài thơ "Núi Mường Hung - Dòng sông Mã" viết từ đầu năm 1953. Sau này nhạc sĩ Bùi Đức Hạnh đã dựa vào ý và lời thơ viết nên ca khúc nổi tiếng "Tình ca Tây Bắc". Thượng nguồn sông Mã từ Sơn La - Tây Bắc hạ nguồn là Thanh Hóa - miền Trung. Đoạn cuối chảy qua Hàm Rồng đến cửa Hới thì hòa vào biển đông. Cái đẹp trong bài thơ Cầm Giang là cái đẹp của con người tình yêu gắn liền với quê hương sông núi; trưởng thành và phát triển lại hóa thân vào sông núi quê hương:
Anh làm no lòng mường
Em làm vui ấm bản
...
Để anh lớn mãi thành núi Mường Hung
Em ngoan ngoãn chảy thành dòng sông Mã
Rõ nét hơn cả về sông Mã - Thanh Hóa là bài thơ mang tên sông của Huy Trụ. Chỉ với một khổ thơ Huy Trụ ghi nhận được những âm thanh của cuộc sống tự nhiên xã hội; phác ra được một bản đồ hành chính và sâu đậm là cuộc sống cực nhọc mà thủy chung của người lao động trên sông nước xứ Thanh:
Một tiếng gà giữa ngã ba Bông
Dân sáu huyện cùng nghe người sáu làng cùng thức
Một tiếng "huầy dô" xô con đò dọc
Người trên bờ áo cũng đẫm mồ hôi.
Tôi biết có ba người công bố trường ca (Sông Mã) về Hàm Rồng thời kháng chiến chống Mỹ là nhà văn Từ Nguyên Tĩnh nhà thơ Mạnh Lê và ông Nguyễn Thành Huy. Trường ca "Hàm Rồng cảm xúc lúc rạng đông" của Nguyễn Thành Huy hào sảng hùng tráng trong chiến trận:
Trị tội chúng Hàm Rồng dàn thế trận
Đất trời tụ giông - lưng rồng ủ bão
Lung linh vách đá chiến hào
Bóng người lồng bóng pháo
Tay lão dân quân sáng đuốc
Mắt trai làng lửa bay
- Dô ta nào! Dô ta nào!
...
Đất trời  Hàm Rồng giật rung giông bão
Sắt chạm sắt tóe sáng
Tiếng át tiếng đinh tai
Lửa căm thù thiêu lũ ó giữa tầng mây
"Thần sấm" "Con ma" rụi xuống luống cày.
Và cũng thấm đẫm chất trữ tình của trường ca khi tác giả tái hiện những hình ảnh sinh động những giai điệu ngọt ngào của quê hương để rồi quy tụ lại trong cảm xúc của người chiến thắng:
Hàm Rồng - rạng đông
Trận địa pháo - tiếng sáo ai bay vút tầng không
Gọi cánh cò cánh cò... mỗi sớm sang sông
Thuyền bay dưới mặt trời hồng
Bóng cò in hình chim Lạc
Thiên nhiên cảm tác gợi nhớ trống đồng
Đông Sơn núi Đọ Ba Bông
Vọng Phu Trống Mái Hàm Rồng - tỉnh Thanh
Nhà thơ Mạnh Lê luôn khai thác các chất liệu văn hóa phi vật thể làng nghề nhân vật lịch sử và văn học của quê Thanh tiêu biểu ở các bài "Từ ai đến tôi" "Bình vôi" và "Dô tả dô tà":
Dô tả dô tà sông Mã quê ta
Ngày nắng ngày mưa xanh bờ rau má
Múa thì đội đèn hát như trống vỗ
...
Rạng thời vua Lê tối đời chúa Trịnh
Trạng Quỳnh ngạo nghễ đi vào nhân gian.
            (Dô tả dô tà)
Nhiều bài thơ mà nhan đề của nó của nhiều tác giả đã ghi đậm dấu ấn sắc thái văn hóa xứ Thanh đó là các bài thơ "Hàm Rồng" của Xuân Sách; "Đò Lèn" "Cầu Bố" của Nguyễn Duy; "Trụ cầu Hàm Rồng" của Mã Giang Lân; "Ngã Ba Môi" của Hoàng Phong; "Bến Sung" của Hoàng Tuấn; "Sông Chu tuổi thơ" của Phạm Đình Ân; "Mùa dưa hấu trên quê Mai An Tiêm" của Mai Văn Hai; "Ngã ba Giàng" của Nguyễn Trọng Liên; "Vọng Phu" của Trịnh Minh Châu; "Trống Mái" của Đinh Ngọc Diệp... Nói thêm hòn Vọng Phu ở Đông Sơn và hòn Trống Mái ở Sầm Sơn có có tới hàng chục tác giả khác sáng tác từ sự kỳ thú cả thiên nhiên ban tặng cho Thanh Hóa.
Về ngôn ngữ và giọng điệu làm nên nét riêng biết cho một miền thơ xứ Thanh đó là phương ngữ hay tiếng địa phương quê Thanh. Trước hết phải nói đến nhà thơ Hồng Nguyên với bài thơ nổi tiếng từ thời chống Pháp. Đó là bài thơ "Nhớ". Hồng Nguyên đã đưa nhiều từ ngữ địa phương vào bài thơ nhưng trong cấu tứ và cảm xúc chung của toàn bài bạn đọc cả nước đều hiểu được. Đó cũng là sự độc đáo trong việc sử dụng từ ngữ địa phương vào thơ.
Đồng chí nứ vui vui
Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ
Đồng chí mô nhớ nữa
Kể chuyện Bình Trị Thiên
Cho bầy tôi nghe ví.
Và ba câu cuối:
Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni
Dân chúng cầm tay lắc lắc:
Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc.
Từ ngữ gắn liền với giọng điệu. Hồng Nguyên đã đưa từ ngữ địa phương vào một cách hồn nhiên đến tự nhiên như vậy đã mở ra cho thơ Thanh Hóa  một giọng điệu tự nhiên như lời nói bạch thoại trong thơ. Bài thơ "Nhớ máu" của Trần Mai Ninh là lời nói bạch thoại độc thoại nội tâm bằng thơ. Ngôn ngữ không cầu kỳ giọng điệu không làm duyên mà truyền cảm sẻ chia cùng người đọc:
- Còn mấy bước tới Nha Trang
- A gần lắm!
Ta gần máu
Ta gần người
Ta gần quyết liệt
Và những lời thơ của Văn Đắc Mạnh Lê cũng như lời nói và giọng điệu chuyện trò tâm sự:
Giặc bỏ bom ngang
Ta xây làng dọc
Giặc bỏ bom dọc
Ta dựng làng ngang".
            (Văn Đắc - Làng sơ tán)
Sau ba ngày cha tôi mất mẹ thắp hương cắm lên mộ cha
Khí đất bốc lên nắm hương ngùn ngụn cháy
Mẹ để hai bàn tay lửa bén tôi bối rối xin mẹ buông tay
Mẹ biết nhưng không làm khác
Mẹ đang thì thầm nói chuyện với cha tôi bằng khói lửa này"
                    (Mạnh Lê - Từ ai đến tôi)
Và một điều dễ nhận là ngôn ngữ và giọng điệu thơ Thanh Hóa được "lẩy" từ ca dao dân ca. Điều này không làm nghèo nàn sự sáng tạo trong ngôn ngữ thơ ca mà ngược lại làm phong phú cho ngôn ngữ thơ ca hiện đại. Đây là sự tiếp nối kế thừa và cách tân ngôn ngữ nghệ thuật của nhân dân. Các nhà thơ bác học cần phải biết học tập và làm mới thơ ca dân gian Thanh Hóa. Đó cũng là sắc thái văn hóa trong ngôn ngữ thơ xứ Thanh.
Đây là cảm xúc trữ tình trong trường ca "Hàm Rồng cảm xúc lúc rạng đông" của Nguyễn Thành Huy:
Hàm Rồng - phút bình yên
Triền sông Mã... tiếng ai hò ngân nga vang trọng điểm
- Trăng lên đỉnh Ngọc trăng tà
Mình yêu ta thật hay là yêu chơi?
- Trăng qua sông Mã trăng rơi
Anh yêu em thật yêu chơi làm gì!
Cảm xúc trữ tình đó dựa vào lối hát đối đáp của người quê Thanh từ ngôn ngữ và giọng điệu.
Vương Anh là nhà thơ người Mường Thanh Hóa đã thành danh trên thi đàn cả nước. Anh không chỉ "Lẩy" tục ngữ người Mường "Cơm Mường Vó lúa Mường Vang" để thành thơ:
Là cơm Mương Vó lúa Mường Vang
Nơi ấy là kho cơm núi của
Mà phát triển thành tục ngữ hiện đại của người Mường:
Cây lúa Mường Vang bằng cây đũa bếp
Nếp Mường Vó hạt bằng đốt tay
                (Cơm mường Vó lúa Mường Vang)
Và hai câu thơ kết "Lẩy" ca dao của Hữu Loan trong bài thơ "Màu tím hoa sim" không còn là lời nhắn nhủ ngụ tình mà trở thành hai câu thơ hiện đại đau xé lòng về sự mất mát:
áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già xa lâu.
Các nhà thơ Thanh Hóa bằng sự sáng tạo của mình đều góp phần làm đẹp sắc thái văn hóa xứ Thanh góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc kể sao cho xiết. Đó là các nhà thơ Trần Mai Ninh Hồng Nguyên Thôi Hữu Hữu Loan Minh Hiệu Võ Quyết... trong kháng chiến chống Pháp; các nhà thơ Nguyễn Duy Vương Anh Xuân Sách Lê Đình Cánh Mã Giang Lân... trong kháng chiến chống Mỹ và các nhà thơ trưởng thành trong hòa bình xây dựng và cuôc sống đương đại như Mạnh Lê Huy Trụ Nguyễn Minh Khiêm Vũ Thị Khương Lê Thị Kim Viên Lan Anh Đinh Ngọc Diệp... mỗi tác giả nhà thơ đều có phong cách sáng tạo trong những chừng mực nhất định làm nên một diện mạo sắc thái văn hóa trong thơ xứ Thanh để hòa nhập vào dòng chảy của sự phát triển thơ ca của đất nước dân tộc.

                                                                           N.M.H

 
 
 
Đôi điều ghi nhận về một họa sĩ
 

vẽ tranh Bác Hồ

                   
                                                                  Dương Tuấn Hoa
 
 


        Trên bước đường nghiên cứu và sưu tầm tư liệu để hoàn thành cuốn sách "Bác Hồ - Nguồn cảm hứng sáng tạo của giới mỹ thuật" tôi vui mừng tìm được một số tác phẩm của Hoàng Hoa Mai một người bạn cùng trang lứa và cùng sinh ra ở một làng biển ở phía nam thị xã Sầm Sơn. Ngày nhỏ chúng tôi cùng sinh hoạt trong đội thiếu nhi đêm đêm cùng hát bài ca "Ai yêu Bác Hồ Chí Minh bằng chúng em nhi đồng". Phải chăng từ thuở ấu thơ tiếng hát ấy thấm sâu vào tâm hồn chúng tôi để rồi sau này hai đứa chúng tôi - người đi vào con đường hội họa kẻ hoạt động trên lĩnh vực báo chí văn học - đều chọn đề tài Bác Hồ để viết và sáng tác. Đã lâu lắm chúng tôi không gặp nhau nhưng thông qua các cuốn sách bài báo bức tranh chúng tôi vẫn có thể hiểu phần nào các thành quả trong hoạt động của mỗi người. Quả thật là tôi có may mắn hơn Hoàng Hoa Mai ở chỗ: mùa thu năm 1955 trước khi sang Đức học tập tôi và 148 thiếu nhi khác đã được vào Phủ Chủ tịch thăm Bác Hồ. Tiếp sau đó tôi còn một số lần được gần Bác trong đó có chuyến thăm của Bác Hồ tại Cộng hòa Dân chủ Đức vào mùa hè năm 1957. Hoàng Hoa Mai sau khi tốt nghiệp đại học đã trở thành "anh bộ đội Cụ Hồ" cầm súng vào miền Nam chiến đấu. Chưa một lần gặp Bác Hồ nhưng trong tâm tưởng Mai lúc nào cũng hiện lên hình ảnh Bác kính yêu. Và suốt mấy chục năm nay bên cạnh một số đề tài khác anh đã hoàn thành ngót 10 tác phẩm hội họa về Bác Hồ. Như vậy có thể xếp anh vào số những họa sĩ sáng tác nhiều tranh về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hoàng Hoa Mai đã có 5 lần dự triển lãm mỹ thuật toàn quốc (5 năm 1 lần) trong đó có hai lần về đề tài Bác Hồ. Riêng tác phẩm tranh sơn dầu "Nguyễn ái Quốc" đã được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Có thể xếp tranh của Hoàng Hoa Mai dưới đề tài Bác Hồ làm ba loại: Bác Hồ với Thanh Hóa (gồm những tác phẩm: "Bác Hồ nói chuyện với nhân dân Thanh Hóa năm 1947"; "Bác Hồ trên đỉnh Trường Lệ Sầm Sơn"; "Bác Hồ đến thăm đình Gia Miêu"; "Bác Hồ nói chuyện với cán bộ đảng viên ở Rừng Thông Thanh Hóa"). Bác Hồ trong những khoảng khắc lịch sử trọng đại (gồm các tác phẩm: "Nguyễn ái Quốc"; "Bác Hồ với cây chì đỏ"; "Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập"); và loại thứ ba là một số hình ảnh Bác Hồ khi ngồi làm thơ dưới ánh trăng Bác thăm đồng bào các dân tộc ít người Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng....
ở loại thứ nhất xem tranh của Hoàng Hoa Mai ai cũng nhận thấy niềm tự hào của anh trước sự quan tâm trìu mến của Bác Hồ đối với Thanh Hóa quê hương ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Bức tranh "Bác Hồ trên đỉnh Trường Lệ Sầm Sơn" đã trở nên quen thuộc với nhiều người. Nó gợi nhớ những ngày Bác về nghỉ và làm việc tại đền Cô Tiên trên núi Trường Lệ vào mùa hè năm 1960. Bác Hồ kính yêu của chúng ta hiện lên trước cảnh non nước và dãy núi Trường Lệ thơ mộng có sóng vỗ dập dờn dưới chân núi mà hình tượng Bác Hồ là trung tâm của tác phẩm giữa không gian rộng lớn có núi cao nước biển xanh bao la ôm ấp mây trời Người ngồi ung dung trên phiến đá với khuôn mặt đôn hậu và bộ quần áo nâu giản dị vừa mang tính hiện thực vừa thấm đượm màu sắc lãng mạn như một huyền thoại.
Như đã nói bức tranh "Nguyễn ái Quốc" hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh Hoàng Hoa Mai thể hiện chân dung Bác ở thời điểm Người đến với Luận cương của Lê Nin về các vấn đề Dân tộc và Thuộc địa khi Người đang họat động ở Paris. Có thể gọi đó là một khoảnh khắc đột phá thể hiện tình cảm của Người khi tìm thấy con đường cứu nước thông qua lý luận Mác - Lê Nin. Trước mắt chúng ta là hình tượng Bác sung sướng đứng bật dậy với khí phách hào hùng ánh mắt bừng sáng của Người hướng về phía trước với cái nhìn đầy lạc quan tin tưởng.
"Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập năm 1945" là tác phẩm mới nhất của Hoàng Hoa Mai được thực hiện trong 2 năm (2005-2007) với sự gợi ý của giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đây là đề tài khó vì hiện tại tư liệu về thời điểm này cũng như ảnh chụp ký họa hầu như không có gì. Vì thế muốn miêu tả sát với thực tế đòi hỏi họa sĩ phải thu thập hàng loạt tư liệu gián tiếp kể cả về số nhà 48 Hàng Ngang Hà Nội - Nơi Bác viết Tuyên ngôn Độc lập.
Bức tranh này bố cục theo một không gian thực của căn phòng Bác làm việc mà trong đó có chiếc bàn gỗ hình tròn thấp và nhỏ bộ ghế ngồi có đệm màu trắng bên cạnh Bác viết có cây đèn bọc vải màu hồng và ri đô trắng che cửa.
Với gam màu ấm trong không gian của căn phòng giản dị yên tĩnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tập trung cao độ khi viết bản Tuyên ngôn lịch sử chuẩn bị báo hiệu giờ phút khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đây là một thành công mới của Hoàng Hoa Mai sau những ngày tháng lao động sáng tạo say sưa cần mẫn với tấm lòng thành kính đối với vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Anh có thể tự hào được coi là một trong những họa sĩ Việt Nam có công ghi lại một số hình ảnh tiêu biểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Con đường sáng tạo của Hoàng Hoa Mai đang ở thời kỳ sung sức có nhiều triển vọng. Tôi hy vọng rằng trong cuốn sách "Bác Hồ - Nguồn cảm hứng sáng tạo của giới mỹ thuật" Hoàng Hoa Mai sẽ được đề cập với một vị trí xứng đáng.
                                                                                 D.T.H


Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'1652','06041v673jopndg4el39jhpm34','0','Guest','0','54.80.219.236','2018-09-26 22:11:44','/a73609/tac-pham-va-du-luan.html')