TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh



TỪ NGUYÊN TĨNH

Bệnh nghề nghiệp

Truyện ngắn

 

 

                Bệnh thật rồi... bệnh thật rồi... Ôn nói ra lời thú nhận một sự thật đắng cay. Ai rồi cũng đến cái kết cục ấy việc gì phải cay cú. Có thời bạn bè Ôn trêu chọc: Ông khỏe như đỉnh núi Ngọc. Họ khen Ôn khỏe mạnh đấy. Trơ trơ như núi Ngọc. Họ chê Ôn  mà: Đen đủi lầm lũi và cô đơn như núi Ngọc... Thời chiến tranh... Thế mà hay nhỉ bom đạn và ốm đau không đánh gục được Ôn. Bom đạn thì chịu chung số phận rồi. Nó cứ nhắm vào hai hòn núi Ngọc và núi Rồng mà quẳng bom đạn xuống. Bọn Ôn cứ nhằm vào máy bay nó mà nhả đạn. Nhìn thấy bom rơi chắc là không vào mình rồi. Con mắt người ta khi mà nhìn thấy cái được nhìn thì nó đẩy ra ngoài. Cái không nhìn thấy được là bệnh tật. Bệnh tật rồi...Ôn nói với người vợ mới về hưu. Vợ nói bố mi bớt được một công việc đi. Bớt lo nghĩ đi chắc là đỡ. Đời tài thế. Ai bảo là lo nghĩ. Ai bắt là lo nghĩ rồi lại bớt đi. Bớt đi mà được à? Biết sao được thấy bố ốm là nói thế thôi. Nói thế thôi là nói để động viên người khác chứ bản thân mình thì có đau đớn đâu? Đau đớn ông bảo tôi  chỉ chơi tràn như mấy ông ấy! Chuyện đời xích mích dễ như chơi... Này nhớ đây không phải là kẻ ăn tàn phá hoại không phải là đứa rượu chè cờ bạc... Không phải là đứa không biết trước biết sau... Loài người loài người chắc rất ít ai thoát khỏi ốm đau bệnh tật cãi vã. Ôn ốm rồi...
Tên cúng cơm là Lê Bá Ôn có cha nào khoái miệng gọi là Lưu Bá Ôn thấy hay Ôn để kệ. Rồi lao vào cuộc viết lách mưu sinh để luôn cái tên Lưu Bá Ôn ấy. Chính vậy mà tiện miệng mọi người cười đùa mỗi khi Ôn có mặt. Nhất lại rất tiện cái tên đã mách cho văn chương mang màu sắc võ biền. Nó cứ đấm đá thế nào ấy. Nó cứ vũ phu và gây sự. Nó cứ mang cái chất của Ôn. Văn của Ôn rồi....
Sự ốm này đâu phải bây giờ mới xuất hiện. Nó có từ lẩu từ lâu. Ôn bảo với vợ là nằm đêm nghe tiếng i u từ xa xôi vọng tới. Lúc nhỏ lúc to. Ôn tưởng do tắm bị nước vào tai nên cho vài giọt và cà nhắc cà nhắc nhảy mong cho cái nước mới đổ lên giọt nước dính chặt vào lỗ tai ra. Ngồi ở đâu Ôn cũng ngoáy tai lắc đầu. Đó là sự bất lợi cho Ôn người ta tưởng bất đồng ý kiến. Cấp dưới cảm thấy Ôn lập dị. Lão ấy làm gì ấy nhỉ bao nhiêu người ngồi nghe chăm chú chép chép ghi ghi lão lại tỏ ra ta đây lắc đầu khoan tai. Đừng lên án Ôn mà tội. Lão bệnh thật đấy. Mà nói luôn kẻo quên. Bây giờ lại có cái thói gọi cấp trên là lão ư? Thế mà lúc cần xuýt xoa hai cái bàn tay. Nên cứ mỗi lần xoa tay là bay một lớp da chắc bàn tay luôn thay da như da rắn... Cấp trên và đồng cấp thì thấy rõ thật là cái lão Ôn lại muốn giải lao rồi đấy... Quán bia nào đây hắn đang nghĩ để giải lao là chuồn ra đấy. Đừng hòng người ta phát tiền vào cuối giờ chiều kia. Mà còn điểm danh nữa đấy.
- Hả? - Ôn quay sang bạn ngồi họp hỏi.
- Hả? - Ông bạn họp không hiểu cơ sự ra làm sao.
Cái tai của Ôn bị loạn nhĩ đã vài người phát hiện ra điều này. Lúc đầu chân tình góp ý cái triệu chứng như lâm sàng cho Ôn đã bị hắn phản bác: ý mấy người bảo ta nên về hưu đi chứ gì? Tấm lòng chân thành bị tổn thương. Thôi mặc xác nó không ai muốn giây vào Ôn kẻo bị húc bừa. Ôn thừa nhận mình bị bệnh. Nằm ở nhà thì buồn. Buồn thấy mình bị bỏ rơi. Bị người đời ruồng bỏ. Với lại phải giao chiến với người vợ mà cả một thời thư từ toàn dùng những lời hay ý đẹp. Em yêu quý... Em là chốn nghĩ ngợi của đời anh. Mãi mãi... Vĩnh viễn không đổi thay được tình yêu vũ trụ... Cái lẽ đời không toại nguyện là cái bệnh lớn nhất của mỗi kiếp người. Nhưng mà Ôn bị bệnh trọng nhờ trời ăn uống còn được. Hai sét bát cơm và các thức nhắm. Mấy hũ rượu của Ôn bị ế. Có lúc gặp khách Ôn rụt cổ bê ra như là thanh minh mà dưới mắt người đời kết luận quan điểm nhất định là khoe. Ôn chứng minh rằng cuộc rượu đã tàn. Ôn bắn một phát súng vào tiếng tăm kẻ nát rượu của mình bây giờ đã là người chay tịnh. Đến cơ quan thì chẳng lấy gì làm vất vả cơ quan thì đằng nào sự thật cơ quan mà. Cơ quan của Ôn bé tẹo. Bé đến mức không thể bé hơn được. Có lúc Ôn sởi lởi tự trào... Trụ sở của tôi chỉ cần một chiếc xe bốn chỗ ngồi. Giấy tờ công văn cho vào cốp thế là hành nghề được. Cơ quan bé tất nhiên có gì mà bầy biện. Tất nhiên là đụng mặt côm cốp. Là dễ nhận ra  khiếm khuyết. Nhận ra cái gì cũng phải sửa phải đổi mới. Ôn có lần đã nói về cái cơ quan của mình đó thôi. Các anh chị phải nên luyện để mỗi người trở thành lẽ tồn tại trên đời. Không ai thay thế được mình... Nói đùa đâu tôi mới là người thừa... Chả trách nói nhiều nó lồng lên tai lại càng u u... Lại lo một nhẽ nữa... Bị kéo đi uống bia khủng bố như chơi. Một cốc vại to bằng chai sáu lăm thì không biết làm sao được. Nhưng tại sao lại cứ phải nhắc đến Ôn lắm thế? Vì chưa nói ra được bệnh căn của Ôn... Nỗi âu sầu mà Ôn gánh chịu... Đừng tưởng bở Ôn là người có danh mục. Có đóng góp và đằng nào thì cũng có bệnh rồi. Ôn nói với người cộng sự:
- Anh rồi anh thay tôi... có sao đâu? cho hai ngón tay cái vào lỗ tai gãi như kiểu người ta gõ trống vẻ rất sầu muộn.
Ban đầu Ôn xuống bệnh viện đa khoa khám. Chết nỗi cái dạ dày hành tá tràng cũng ọc ạch. Những năm kham khổ trực chiến đóng cho Ôn cái dấu lị Amúp mãn. Gặp được bữa chiêu đãi ê hề như hôm nay chẳng hạn là y như rằng ôm bụng và Tào Tháo đuổi. Nhưng có đâu mà gặp lắm bữa chiêu đãi. Một cốc rượu với dái mít lá đu đủ là ngồi gật gù bàn chuyện trên rừng dưới biển đông tây kim cổ... Có bậc bô lão trong ngành văn đã dằn mặt nói giọng phòng thuế: Anh là nhà văn vô sản... Trời ạ! họ bảo Ôn là người không có sản phẩm. Chỉ đưa ra học thuyết học thuộc trong trường ốc. Là nhà nói chứ không phải nhà viết... Cay cực. Còn cay cực hơn nữa là một gian ba mét ba chiều ngang với sáu mét chiều dọc nhét vào đó ba bốn nhân mạng. Làm báo thời bao cấp có nhằm nhè chi. Xin được vài yến cám tổng hợp phải lai mấy chục cây số. Cũng vì kiếm kế sinh nhai mà họ nói mát nhau. Cái cha này đi đến đâu cũng  ngửi thấy mùi cám lợn. Lại thích cái tên của mình  chương lên với các con chữ. Để được ngửi thấy mùi mực in còn thơm ngậy... Mắt hoa lên bởi sự rực rỡ... Tưởng tượng. Tưởng tượng. Phi lí phi lí làm sao sự cấu trúc một nhân vật đi tìm cái tồn tại ở trần gian ngổn ngang này. Thế là cái máu me văn chương nổi lên. Sang văn nghệ. Suốt đời phấn đấu cho nghiệp văn chương. Chậc. Nghèo thì nghèo sợ gì. Trái đất này muôn thuở kêu ca cái sự nghèo. Nhưng trái tim thanh sạch trái  tim ơi rung động đi nào? Lại vượt rào sang nhà văn. Khổ Ôn nghe được có lần (mà phải nói là nhiều lần mới phải) người ta cứ giới thiệu nhà văn tràn lan vô tội vạ với âm cảm một cách nhàn nhạt có phải họ riễu mấy tay ẩm ương í ố này không nhỉ? Lại gặp dịp mất đoàn kết. Đơn thư kiện tụng lấy chữ ký ủng hộ bác này tấn công anh nọ. Điều tra lợn kiểm tra xe củi gạo tem phiếu. Thư từ nặc danh có nói toạc từng nhóm ra có. Hỡi ôi! Ôn cũng có người động đến dọa duổi cổ. Mà có chức vụ gì cho cam. Có thể là a tòng hoặc chân tay sai vặt chứ có tên tuổi gì trong làng ngoài xóm. Mặc kệ. Đã mưa bão có gãy cành đổ cây. Đã đổ cây ắt có vạ dây đứt dợ. Thế nào Ôn chẳng phải nằm trong chăn để hưởng cái ngứa rận rệp - Cho đáng đời. Ai bảo ăn cơm nhà báo chưa no đã lo nhà văn... Sau này sóng yên bể lặng Ôn mới ra vẻ từng trải: Thế mà may nếu mà đoàn kết biết đâu sẽ bị những tờ lá cải tỉnh lẻ cuốn hút. Tớ làm sao ngóc đầu ra in ấn ở trung ương. Khi đã vỗ bụng bồm  bộp ra cái điều là văn sĩ rồi mới thấm cái đoạn đời bát nháo. Mới thấy công sức bỏ ra thật không uổng. Nghe thấy đám con nít xóm núi thì thào xa xa... cái ông ngất ngưởng hay lắc lắc cái đầu đó là nhà văn đấy. Nhà văn chi mà cù lần thế nhỉ. Mà bân bẩn thế nào. Mồ hôi mồ kê áo quần nhàu nhò. Hừm. Nếu không biết được tận cùng cặn bã và văn minh làm sao tấu lên được nỗi bi ai trong trái tim người. Chả lẽ người đời chỉ nhìn vào mũ áo kính công thôi sao?
Ôn phải trả cái giá cho cuộc đời. Bệnh rồi. Khoa thần kinh bảo rối loạn tiền đình tuần hoàn não chức năng của não kém. Họ chẳng cần nói sáng mai dậy Ôn đã cảm nhận bệnh trọng. Đi lại không thăng bằng. Bả vai trái đau ê ẩm. Hại nhất là cái cổ quay hai phía không nổi. Như thể người ta cho hai thanh tre cố định lại. Thôi rồi. Làm sao mà ngồi làm việc trên cái ghế này được. Thì bố thử ra ngoài Hà Nội mà kiểm  tra xem. Ngoài đó có phượng tiện hiện đại mà. Nghe nói có mấy chiến hữu ngày xưa đánh đấm ở Hàm Rồng bây giờ làm to rồi hả? Bí thư Đảng ủy giám đốc bệnh viện Trung Ương viện Xanhphôn viện Bạch Mai... Hay là nhờ các giáo sư giúp cho. Ôn đành phải đi thôi. Lỡ có nằm xuống là khổ vợ khổ con. Công đoàn có hỏi thăm cân đường hộp sữa là xong chuyện. Mà lại đau cái anh thần kinh cái cơ quan sản xuất ra chất xám. Lẽ nào trong trận đấu này Ôn lại bị xếp ngồi ghế giải nghệ... Buồn mất ngủ. Râu ria ở đâu mà rủ nhau mọc lên lắm thế. Bữa trước thì cần có vài sợi cho nó không cô đơn bữa ni không khiến nó lại mọc lên như thể bãi hoang. Ta ăn ở có bạc với đời không nào. tại sao ông trời lại bất công quá xá. Lắm lão đưa hết con cái vào lò gạch lò gốm lò chum một thời gian rồi cạp lại dán nhãn mới mà vẫn béo phây ra. Nằm cái là ngáy còn Ôn này có hôm nào ngủ yên được đâu. Của nả nào có gì. Đường vợ đường con có bằng ai đâu. Vậy mà hiu quạnh. Mà chẳng đắp điếm được sự mỉm cười của vận may. ốm lại càng ốm thêm. đã nặng lại càng ra chiều thêm nặng. Có lúc tự trào bảo cái số không được trời cho phong lưu đấy thôi. Người ta đo thính lực xem để tìm ra vướng mắc của tai trong tai ngoài. Người ta kiểm tra xem cái anh mỡ có chạy lên óc không. Bác sĩ nhìn bộ da đen nhẻm cái đầu rắn mà khuyên can. Bớt ham muốn đi (lời lẽ tất nhiên phải tế nhị). Bớt cái phần xô bồ đi. Bia rựợu thuốc lá thức khuya... dậy sớm mà tập thể dục. ít nghĩ đến cái lợi để tâm đừng hao tổn. Đừng sống kiểu quấn chăn cuộn tròn lại có gì vơ bằng hết để đồng loại chúng sinh bị thèm khát mà mình lại ê hề hưởng lạc. Tất nhiên Ôn nhận ra lời lẽ của bác sĩ. Ôn đủ hiểu để biết để đọc được lời lẽ từ tốn mà thấm đượm sự mát mẻ; nhận ra được dư vị mỉa mai làm như Ôn là tên khủng bố trấn lột dọa nạt bồi bút bần tiện không bằng. Ôn thấy mình đau khổ. ừ thì đau khổ làm cho con người ta cao quí lên. Ôn thấy mình còn có thể làm được cái gì đó. Biết đâu đấy chẳng để lại cái danh. Mà cái danh còn cao hơn cái lợi. Ôn có dịp đọc lại các loại kinh điển. Soát xét lại con người mình. Đem cân lên rồi tự sỉ vả khi nhụt chí. Nở mặt nở mày lúc có người nói vài câu trung tính ba phải.
Ôn thấy khuây khỏa. Không làm việc có phải là hạnh phúc của trần gian này chăng. Ôi cái óc khốn khổ của Ôn không chịu nằm yên. Lại nghĩ ngợi cáu bẳn. Người đời lạ nhỉ đua nhau bơi lội lặn hụp. Vật vã lộn trái túi ra có chút vốn liếng cũng tìm cách phô trương vơ váo tạo thành sự kiện. Thoắt chốc thấy mình là người quan trọng. Ôn nhìn thấy mặt mình trong gương. Đúng là cái thằng Ôn rồi. Ai còn lạ gì. Ôn bệnh rồi. Ôn bệnh là cái chắc... Ôn tự đối chiếu với mớ kiến thức y học phổ cập xem mình mắc phải bệnh gì. Có lúc thấy bị tất tần tật mọi thứ bệnh. Các đầu ngón tay tê dại thần kinh liên sườn hay xương cốt gì đây. Chóng mặt đi không vững có thể do cái não bất ổn. Lại còn giật mình...Cái cổ không cựa quậy được. Thì mấy người bạn của Ôn đã chẳng kháo nhau lạ nhỉ không thấy tay này lắc đầu hay giật giật... Ôn đổ bệnh. Nhờ cơ quan đưa xuống viện. Phải nhập viện. Bác sĩ ưu tiên vào khoa ưu tiên. Được tiêm thuốc uống thuốc. Ôn cầm lấy ống tiêm xem. Trời ạ cái của này Ôn đã dùng cả rồi. Mà bệnh viện làm Ôn phát ngột. Tin Ôn chụp siti làm ai cũng hồi hộp chờ đợi. Người thì bảo Ôn làm một khóa nữa vì trông còn phong độ lắm. Kẻ thì bảo sướng nhất là vô lo đi đó đi đây. Ai bảo Ôn đáng ghét nhỉ. Ai bảo Ôn là kẻ bịp bợm. Ai bảo Ôn là nhà văn rởm. Đánh võ miệng. Thây kệ mười năm và lâu hơn nữa người đời sẽ phán quyết. Từ sáng sớm Ôn nhịn ăn hồi hộp chờ đợi. Chờ đợi như lần đi nhập ngũ. Như lần đầu được tấn phong quân hàm hạ sĩ. Như lần đầu được bố vợ đồng ý gả con  mà vẫn ngượng chào là bác... Lại mất điện. Đành mai vậy chụp cắt lớp để biết mà điều trị. Người ta còn sống chung với bão lũ đói nghèo thì mình đành sống chung với bệnh tật thôi. Ôn giở từ điển bệnh học ra xem. Đối chiếu với từng vết đau với mọi cơ quan lục phủ ngũ tạng xem sao. Ôn toát cả mồ hôi vì lo sợ. Nói là chân không cho máu lên não thì đúng rồi. Mắt hoa chóng mặt buổi sáng dậy. Thức tận quá nửa đêm làm sao dậy sớm để tập thể dục? Ăn các món nhạt miệng thật khó nuốt trôi lại phải chiêu vài ba choác. Uống bia trước khi về nhà nhìn thấy cơm là chán miệng. Xin nghỉ hưu trước tuổi thì mang tiếng là người bất đắc chí. Xin nghỉ để đi sáng tác biết có làm nổi chuyện không hay chỉ là kẻ hò voi bắn súng sậy. Muốn nổi tiếng ba gai quậy phá phải lần mò như thám tử chứ có phải ngồi ở nhà mà người ta đưa tài liệu đến. Muốn úp máy tay cai đầu dài buôn vua đâu có dễ. Phải thân cận với báo chí trung ương phải có dây có dợ. Nhiều khi bọn họ ngửi thấy màu là bỏ cầu. Biết đâu lại lộ cái bộ mặt săn tin ném bom vào quê hương phản bội bạn bè muôn thuở người ta căm ghét... Ôn biết nó mười mươi mình không có bản lĩnh. Suốt cuộc đời đã hèn rồi thì hèn luôn một thể. Người hèn thì người ta coi thường đấy. Dân quậy coi thường quan chức chắc cũng nói dăm câu ra điều nhận ra bản chất sự vật. Ôn thấy đau ê cái cổ. Thấy bệnh càng trầm trọng. Nghĩ đến cái chết. Ai đến thì đến tại sao phải mời quan viên đến chứng kiến khoảng đời hèn nhát của mình nhỉ? Báo nào sẽ đưa tin đây. Đoàn thể nào sẽ đọc điếu văn nhỉ? Họ có nhớ ghi cho mình rằng suốt đời tận tụy hy sinh vì nghề không? Bây giờ mới thấy mấy cha lính cùng đi thế mà khôn. Cứ có dịp là nó lăn ra trước ống kính. Làm như thể nó là nhân vật trung tâm không bằng. Nếu thiếu hắn công cuộc kháng chiến chống Mỹ không thành công chắc? Ôn bệnh thật rồi. Không phải bệnh làm sao lại nghĩ ngợi lung tung thế... Ông bác sĩ chả đo huyết áp nói như người đánh đáo vào tai. Bác chắc phải sống qua thế kỷ hàng hai chục năm có lẻ. Trời ơi! Anh ta nói cái gì đấy. Bảo ta là người thế nào là thằng ghẻ ốm sao? Chả gì cũng là thủ trưởng của cái cơ quan bé như cái kẹo. Chả gì cũng là văn nhân nhà báo nữa. Tại sao lại có cái cách nhìn mặt mà đoán bệnh thế không biết? Bác sĩ ơi! - Ôn não giọng tâm sự. Anh có thể nói thật bệnh của tôi được không? Trong chiến tranh tôi không hề sợ bom đạn huống chi bây chừ. Anh ta bảo Ôn già trước tuổi. Đáng lý ra phải sống thanh thản cởi mở thì trời cho... Đằng này nét mặt quá ưu tư. Bác là nhà văn hả. Thú thật tôi chưa được đọc của bác trước tác nào cả. Những thằng nó quen bệnh viện chắc không như mình. Tại mình sống khắc kỷ quá đấy. Mà thật ra mình đâu có không chu đáo với người đời.
Người ta bảo Ôn nằm vào cái ghế Ôn nằm vào bất động. Tiếng máy điện réo nâng lên đặt xuống kéo ra kéo vào chừng hai mươi phút. Bác chụp xong rồi chiều nay sẽ có kết quả. ôn đi lang thang trên sân bệnh viện. Gặp mấy văn sĩ xách túi vào thăm người ốm. Họ hỏi Ôn ông vào thăm ai trong này. Ôn nói đi thăm người ốm. Ôn không muốn mình là thằng ốm cù bất cù bơ. Ôn không muốn mình bị thương hại. Đằng nào thì Ôn cũng mang bệnh rồi. Tóc bạc đầu trọc chân cao chân thấp trái tim và khối óc đâu còn biết nghe Ôn. ở trong đó là một khoảng rỗng vô tận. Có lúc Ôn định bảo nó chứa hư vô nhưng lại ngại sợ người đời lại bảo là thằng không biết điều. Thấy mấy cụ trên tivi đọc thơ tập khí công mà thèm. Thấy nước này nước nọ lâu đài thành quách đồ sộ mà không khỏi chạnh lòng thương thân... Cái cổ không quay quắt được phải trái nữa rồi. Cả đến cúi xuống nó cũng đau. Nói ra thì e ngại thẹn cho một đời binh nghiệp một đời đèn chõng sách vở.
- Ô bác Ôn... Tìm bác để báo kết quả chụp cắt lớp - Bác sĩ điều trị có bộ mặt thật dễ chịu. Bác cho Ôn điều lành.
- Có mệnh hệ gì không bác sĩ- Giọng Ôn thều thào của kẻ thất trận.
- Tốt chứ... Bác Ôn là người chiến thắng. Bác sẽ sang được thế kỷ XXI... Bác còn làm được mọi chuỵên.
- Thế mà tôi tưởng mình đi tong ...Ôn thở phào nhẹ nhõm.
Ôn quên cả cảm ơn người bác sĩ báo tin chạy vào phòng bệnh thu dọn hành lý. Tôi phải về thôi để báo cho mọi người tin này. Để hoãn lại bao cuộc viếng thăm kẻo bữa sau có bệnh nặng không ai tin. Ôn vào trong phòng gặp ngay người đồng đội làm y tế ở cùng trận địa. Tay bắt mặt mừng. Người y tá đơn vị sờ sờ nắn nắn bả vai và cổ của Ôn. Ôn la lên oai oái. Làm Ôn thấy mình chưa thể rời bệnh viện. Ông bạn ông bảo tôi đau cứng cái cổ là lí làm sao? Còn làm sao nữa đốt cổ có thể bị hỏng chèn ép làm cho mạch máu không đưa được máu lên não. Ông chịu khó mà chụp xem.
Ôn đi chụp. Kết quả như người đồng đội dự đoán. Bị vôi hóa đốt cổ số bốn và năm. Ôn chịu cái anh y tá đơn vị năm xưa không bằng cấp gì mà đoán đúng bệnh.
Bác sĩ điều trị thở phào nhẹ nhõm. Bác Ôn đi khám các bệnh viện từ trung ương đến địa phương mà không ra bệnh. Bác bị bệnh nghề nghiệp thôi. Người ta sinh tử cũng vì nghề mà. Lại chiến tranh bom đạn nữa... Người lính biết bao hy sinh gian khổ. Bây giờ lại cặm cụi...
Người bạn già làm y tá trận địa nhận ra được điều này. Cái thằng cha Ôn đánh đấm gì chứ. Nó chuyên môn ở anh nuôi nấu cơm vì sợ bom đạn không dám lên trận địa. Người ta gánh cả hai vai nó chỉ thuận vai trái nên một cục u to đấy. Còn cái cổ ư? Cái thói của nó ai còn lạ gì. Nói thì sấm sét thế thôi. Cái cổ chỉ gật. Lâu ngày thành bệnh rồi.
Ôn nhìn ánh mắt bạn như đón lấy ý nghĩ. Đến một lúc nào đó Ôn cũng không thể có ý kiến gì với người đời. Cái cổ quen khúm núm cũng vô giá trị. Nghề nghiệp sinh ra bệnh thật ai oán làm sao.
Ôn đi bệnh viện. Mọi người đến mừng cho Ôn không dính vào những lưỡi dao của tử thần. Họ cười đùa. Cái thứ bệnh của Ôn từ đời nảo đời nào mà chẳng có. Bệnh xu nịnh. Cái cổ gù gù thế kia. Mấy đốt cổ hỏng nặng. Lão mắc bệnh nghề nghiệp mà. May mà lão không có chức vụ gì to tát.

                                                                  12- 4-2003
                                                                      T.N.T


More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh


CHU TỬ GIANG



Lão Nhân

Truyện ngắn



                Tôi có người bạn công tác ở Hội Văn nghệ Bà Rịa-Vũng Tàu. Trước khi chuyển sang làm dân viết lách chuyên nghiệp bạn tôi từng làm việc ở ngành dầu khí. Nhiều năm nay chúng tôi không có dịp gặp nhau. Vì vậy lần này vào Vũng Tàu sáng tác dù còn rất mệt sau một hành trình dài từ thành phố Thanh Hóa vào Sài Gòn ra Vũng Tàu nhận phòng xong tôi tranh thủ gọi điện thoại liên lạc với bạn ngay.
Tôi không phải chờ lâu. Hơn mười phút sau bạn tôi đã lao xe máy tới. Vừa gặp nhau bạn tôi đã nói như trách:
- Sao vào trong này mà không cho mình biết trước?
- Gấp quá ông thông cảm. Cũng vừa xin được số điện thoại.
- Thôi về nhà mình đã!
- Để hôm khác! Bọn mình ở đây những nửa tháng. Tìm chỗ nào yên tĩnh nói chuyện một lúc chiều bọn mình  còn phải tập trung để khai mạc trại.
- Thế cũng được. Ông lên xe đi.
Bạn tôi sang Bãi Trước rồi táp xe vào một quán nhỏ ven đường. Quán không rộng nhưng những cái bàn được kê khá xa nhau nên rất tiện cho việc trao đổi chuyện riêng. Bạn tôi gọi hai li cà phê nói:
- Mình biết ông thích yên tĩnh nên ngồi quán này là tốt nhất. Một lý do nữa mình đưa ông đến đây còn để giới thiệu ông với một đồng hương Thanh Hóa. Tay này là kỹ sư dầu khí kém bọn mình chừng chín mười tuổi. Nhà nó ngay trước mặt kia kìa. Giàu lắm!
Theo tay bạn chỉ tôi nhìn sang ngôi biệt thự ba tầng phía bên kia đường. Quả là một công trình kiến trúc hiện đại và đẹp mắt. Bề ngoài trông hoành tráng như thế chắc tiện nghi bên trong phải là những loại đắt tiền và sang trọng lắm. Tôi cười nói:
- Đồng hương hàng tỉnh thì có liên quan gì đến một thằng nhà quê như mình. Thôi ông dẹp ý định ấy đi!
- Không phải đồng hương hàng tỉnh hàng huyện mà là đồng hương xã! Chính nó đã yêu cầu nếu khi nào có dịp ông vào thì phôn cho nó biết.
“Tay kỹ sư ấy là ai nhỉ?” Tôi vắt óc nghĩ. Cả cái phố nhỏ miền sơn cước của tôi có ai làm việc trong ngành dầu khí đâu. Bạn tôi thì vẫn thao thao:
- Tay này rất hâm mộ đám văn nghệ. Đặc biệt với mình đã có thời làm cùng ngành nên thỉnh thoảng nó đến nhà chơi luôn. Tình cờ một lần mình cho nó xem cuốn sách ông tặng. Xem xong mấy dòng tiểu sử trích ngang ở bìa bốn nó nói: “Tác giả quyển sách này là người cùng quê với cháu!” Tôi hỏi nó thì nó cho biết cái phố nhỏ miền sơn cước của ông từng là nơi bố mẹ nó đã ở nhiều năm trước khi chuyển về thị xã Thanh Hóa.
- Có chuyện ấy thật à? - Tôi reo lên khi mọi thắc mắc của mình đã được giải đáp. Bạn tôi hỏi:
- Ông nhớ ra người quen rồi hả? Để mình hỏi xem. Nếu nó có nhà bọn mình kéo nhau sang chơi một lúc.
Tôi gạt đi:
- Vào nhà mình ngại lắm! Ông gọi nó ra đây nói chuyện cũng được.
Bạn tôi rút di động bấm số gọi. Không đầy hai phút sau cánh cổng sắt ngôi biệt thự hé mở. Từ bên trong một chiếc Toyta Cam my sang trọng lao ra. Chiếc xe trườn lên hè cạnh quán nhỏ. Một người ăn mặc khá lịch sự mở cửa đi thẳng đến chỗ chúng tôi ngồi. Tôi buột miệng reo lên:
- Trời! Sao mà giống thế!
Sau giây lát sững sờ vì câu nói của tôi bạn tôi đứng dậy túm tay kỹ sư dầu khí chỉ tôi nói:
- Cậu biết ai đây không? Anh Đào người phố Hạ ngoài Thanh Hóa đấy!
Chàng kỹ sư dầu khí mừng ra mặt quay sang nắm chặt tay tôi:
- Cháu chào chú! Chú vào khi nào?
- Mình vừa xuống tầu sáng nay. Hai bác có khỏe không?
- Dạ bố mẹ cháu cũng không được khỏe lắm. Người bảy lăm người tám mươi cả rồi mà.
Bạn tôi gọi thêm li cà phê ấn gã ngồi xuống hỏi:
- Làm gì mà con lê ca vát nghiêm chỉnh thế?
Hắn cười:
- Dạ cháu lên Công ty để cùng đi với một đoàn khách ra dàn khoan. Vừa lên xe thì nhận được điện thoại của chú nên đến đây ngay. Thế này hai chú ạ. Không mấy khi chú Đào vào Vũng Tàu để cháu phôn cho Công ty báo cáo rồi mời hai chú về nhà cháu chơi. Bố mẹ cháu chắc sẽ mừng lắm.
Bạn tôi nói:
- Anh Đào còn ở đây những nửa tháng. Để hôm sau bọn mình đến thăm nhà. Ông bận thì cứ đi cho được việc đã.
- Vậy mời hai chú đến quán nào tươm tươm một tí ai lại ngồi đây. Còn nửa tiếng nữa mới đến giờ bay. Cháu có đôi điều cần hỏi chú Đào.
- Không sao! Bọn mình lại thích quán này. Ngồi đây uống nước nói chuyện cũng được! - Bạn tôi nói.
Tôi tò mò hỏi:
- Anh có điều gì cần hỏi tôi không?
- Dạ chả là thế này chú ạ. Trước ngày chuyển vào Vũng Tàu mẹ cháu có đưa cháu về Hạ Sơn nơi bố mẹ cháu đã có thời gian làm việc ở cửa hàng thực phẩm gần hai năm trước khi chuyển về thị xã. Sau đó mẹ cháu đưa cháu lên nghĩa địa thị trấn thắp hương cho một người tên là Nhân. Mẹ cháu bảo người nằm dưới mộ là ân nhân đã có công cứu mẹ cháu thoát chết đuối khi bà đã mang thai cháu. Nhưng lúc ngồi chờ ở bến xe lại có người nói với cháu rằng chính lão Nhân là người đã ăn nằm với mẹ cháu. Vì chuyện này bố cháu đã giết lão bằng một đòn võ hiểm trước khi chuyển về thị xã làm việc. Chuyện là thế nào chú?
Tôi đã toan nói hết sự thật cho chàng kỹ sư dầu khí nhưng nghĩ cần phải cân nhắc kỹ nên nói:
- Việc người lớn hồi ấy chú mới chín mười tuổi làm sao biết được. Nhưng chắc là không có chuyện như người ta nói với anh đâu!
- Vậy cháu yên tâm rồi! - Hắn xem đồng hồ rồi đứng dậy nói - Thôi thế này. Hai chú chưa có thì giờ lại chơi nhà cháu cũng không ép. Giờ cháu xin phép lên Công ty cho kịp giờ bay. Chủ nhật này hai chú thu xếp đến nhà chơi với bố mẹ cháu một buổi nhé!
Hắn lên xe. Chiếc Cam my sang trọng lao vút đi. Bạn tôi quay sang hỏi:
- Lúc nó mới đến thấy ông reo giống quá. ý ông muốn nói điều gì vậy? Việc ấy có liên quan đến những chuyện nó vừa hỏi ông không?
Tôi không trả lời bạn mà lại đặt ra một câu hỏi:
- Ông thấy nó với ông bà già sinh ra nó thế nào? Có giống nhau không?
- Không giống một tí nào đặc biệt là khuôn mặt. Nó là con người khác phải không?
Tôi gật đầu:
- Bố nó chính là lão Nhân người mà mẹ nó đã đưa nó về thắp hương trước ngày chuyển cả gia đình vào thành phố này.
- Thế sao vừa rồi ông lại phủ nhận những điều nó hỏi? Vậy sự thật thế nào?
- Chuyện dài lắm. Để rồi tôi kể ông nghe...
Tôi là người đầu tiên ở Hạ Sơn trông thấy lão. Dạo ấy cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc chưa được bao lâu dân phố sau lần tiêu thổ kháng chiến để đi tản cư trở về tất cả đều phải làm nhà theo một mẫu thống nhất. Đó là kiểu nhà luồng hai gian mặt tiền rộng năm mét ngăn một phần tư diện tích làm buồng. Phía sau là một cái nhà ống nối liền với bếp. Bố tôi là thợ cắt tóc. ông dùng nửa căn giáp buồng làm nơi hành nghề. Ngoài hiên ông xây một cái bệ bằng gạch. Trên mặt bệ láng một lớp xi măng nhẵn bóng. Cái bệ ấy ban ngày chúng tôi làm nơi cho khách ngồi chờ còn buổi tối là chỗ cho bọn chúng tôi nô đùa hóng mát. Nửa đêm về sáng hôm ấy tôi đang ngủ chợt mơ màng dậy rón rén mở hé cửa nhìn ra ngoài thì thấy trong ánh trăng suông trên nền bệ gạch một người nằm dang tay dang chân đầu gối trên một gói quần áo đang ngáy như kéo gỗ. Tôi vội trở vào lay gọi bố tôi dậy. Hai bố con nhẹ nhàng mở cửa ra ngoài. Tôi thì thào hỏi:
- Kẻ trộm à bố?
Bố bấm vai tôi lắc đầu khẽ nói:
- Chắc là mới đi từ xa đến - Bố tôi lấy cái chiếu treo dưới mái hiên cho gió đỡ lùa rồi bảo tôi:
- Vào đi con. Để yên cho chú ấy ngủ.
Sáng cả nhà tôi dậy rất sớm mở cửa vẫn thấy người lạ nằm ngáy khò khò. Bố tôi cuộn chiếu khẽ lay vai người ấy nói:
- Nào sáng rồi dậy thôi chú mày!
Người lạ lồm cồm ngồi dậy đưa hai tay dụi mắt ngơ ngác nhìn bố con tôi rồi nói:
- Chết thật em ngủ quên mất. Xin anh chị và cháu thông cảm!
Bố tôi nhìn hai bàn chân lấm bụi và cái quần áo của người lạ ái ngại hỏi:
- Chú từ đâu đến mà trông mệt mỏi vậy? Còn đi xa nữa không? Tên chú là gì?
- Dạ! - Lão lấy tay gạt đám đất chắc là do lúc ngủ hai bàn chân cọ vào nhau bung ra vương vãi trên nền xi măng xuống nói:
- Em tên Nhân. Em từ dưới xuôi lên. Quê em mấy năm nay mất mùa liên tiếp. Đói lắm. Em đi lang thang xem có ai thuê làm việc để kiếm ít tiền. Hôm qua ở chợ Giáp Trụ nghe họ bảo trên này sẵn việc làm em đi được đến đây thì đã nửa đêm. Mệt quá nằm ghé lưng nhờ anh tí không ngờ ngủ quên mất.
- Vậy ra chú đi tìm việc làm à? Việc thì nhiều đấy nhưng công xá rẻ lắm không biết chú có làm không?
- Rẻ cũng được anh ạ. Miễn có việc mà làm. Ai thuê anh chỉ giúp em với.
- Phố này rất nhiều nhà cần gánh nước. Nhà ít một ngày cũng phải hai ba gánh. Nhà nhiều cần tới năm sáu gánh. Mỗi gánh một hào. Còn trên cửa hàng Nông sản người ta thuê công nhật mỗi ngày một đồng hai năm xu. Làm một ngày cũng được. Làm vài tháng cũng được. Chú thích việc nào?
- Vậy thì tốt quá. Nếu nhiều nhà cần gánh nước thì em gánh nước hơn.
- Tùy chú mày! Giờ thế này. Ra sau nhà rửa mặt chờ vợ tôi luộc sắn chín cùng ăn rồi có thể đi làm luôn cũng được.
Vừa lúc ấy mẹ tôi quẩy đôi thùng từ trong nhà đi ra. Lão Nhân vội lục túi quần áo rút cái khăn màu cháo lòng chạy theo nói:
- Chị để em gánh cho. Tiện thể em ra sông rửa mặt luôn.
Lão giành lấy cái đòn gánh và đôi thùng từ vai mẹ tôi rồi xăm xăm chạy theo mấy người trong phố vừa quẩy thùng ra sông. Chỉ một lúc sau lão đã quẩy gánh nước chạy về. Hai thùng nước trên vai lão trông nhẹ tênh như người quẫy hai cái thùng không. Lão đi một lèo ba chuyến đổ đầy chum nước mới chịu buông đòn gánh. Ăn xong mấy miếng sắn luộc lão bảo mẹ tôi:
- Nhờ chị hỏi giúp xem có ai cần thuê để em gánh luôn cho họ.
Mẹ tôi bảo:
- Tôi hỏi rồi. Chú gánh cho bà Trích một chum nước rồi sang gánh cho bà Khả.
Lão mượn bố mẹ tôi đôi thùng. Lúc đầu còn gánh hai thùng những chuyến tiếp theo lão lấy cả thùng nhà chủ chập bốn thùng đi một chuyến. Chỉ trong buổi sáng lão đã gánh đủ nước cho sáu nhà được hai mươi ba gánh tính ra trong buổi sáng số tiền công gần gấp đôi một người làm công nhật cho nhà nước. Bố tôi nói:
- Làm gì cũng nên từ từ thôi còn phải giữ sức. Trưa nay chú ở dây ăn cơm với vợ chồng tôi.
Lão Nhân cảm kích nói:
- Cảm ơn anh. Từ giờ đến lúc thuê được chỗ trọ em phải nhờ chị nấu giúp cho vài bữa. Tối anh chị cho em ngủ nhờ ở cái bệ ngoài hiên.- Lão móc túi lấy hết số tiền công người ta vừa trả đặt lên bàn nói - Em gửi chị lấy tiền mua gạo.
Bố tôi nhặt hết những đồng bạc lẻ ấn vào tay lão:
- Chú cầm lấy. Vài bữa cơm vợ chồng tôi không lấy tiền đâu. Tối vào trong nhà ngủ với thằng Đào. Để xem có nơi nào thuận tiện tôi thuê cho một chỗ. Hoặc nếu muốn chú có thể cứ ở đây cùng vợ chồng tôi cũng được.
- Như vậy sợ phiền anh chị quá.
- Có gì mà phiền! Nhà cũng chỉ có hai vợ chồng cùng với thằng cháu. Thêm người ở cũng vui.
- Vâng. Em cảm ơn anh chị.
Lão Nhân không đi thuê chỗ trọ mà ở lại cùng gia đình tôi. Sáng lão dậy sớm gánh đầy chum nước ăn mấy miếng sắn luộc rồi quẩy thùng đi gánh nước thuê cho các nhà trong phố. Có người tò mò hỏi lão là ai từ đâu đến bố tôi đều nói đó là một người bà con từ dưới xuôi lên.
Cửa hàng của bố tôi lúc nào cũng đông khách. Trong số khách hàng thường xuyên cắt tóc có một người làm tôi chú ý đó là lão Cầu cửa hàng trưởng cửa hàng thực phẩm thị trấn. Lão Cầu là bộ đội miền Nam tập kết gốc người Bình Định. Lão có giọng nói rất khó nghe. Lão thường khoe với tôi lão rất giỏi võ. Lúc còn ở bộ đội lão đã từng tay không đánh chết một  lúc hai thằng Tây. Tập kết ra Bắc năm trước năm sau lão được chuyển ngành về làm cửa hàng trưởng cửa hàng thực phẩm ở thị trấn Hạ Sơn này. Chủ nhật nào lão cũng đến cắt tóc cạo râu. Lão trả tiền rất hậu thường xuyên gấp đôi người khác nên bố tôi thường làm rất cẩn thận. Khi cạo râu cho lão bố tôi phải xoa bằng loại xà phòng thơm sau đó lại xoa một lượt phấn rôm rồi cạo lại lần nữa. Vợ lão Cầu rất đẹp. Nhưng lấy nhau đã hơn một năm mà họ vẫn chưa có con. Đã có lời xì xầm trong đám dân phố rằng lão bị bệnh vô sinh nhưng cũng có người nói vợ chồng lão chưa muốn có con sớm.
Chủ nhật hôm ấy như thường lệ lão Cầu đạp chiếc Steclin đến nhà tôi. lão vừa ngồi vào ghế thì lão Nhân quẩy bốn cái thùng đi ra. Lão quay lại nhìn rồi hỏi bố tôi:
- Ông thuê gánh nước à? Cha này ở đâu mà trông khỏe mạnh vậy?
- Chú ấy từ dưới xuôi lên đây đi làm thuê. Chưa tìm được chỗ trọ đang ở tạm nhà tôi.
Lão Cầu mừng ra mặt:
- Vậy à? Cửa hàng tôi đang cần một người khỏe mạnh để làm việc trong lò mổ. Hay anh bảo nó lại chỗ tôi làm. Tiền công hai đồng một ngày. Nếu làm tốt sau này tôi sẽ xin cho vào biên chế nhà nước.
Bố tôi mừng như vớ được vàng:
- Thế còn gì bằng! Để chiều tôi đưa chú ấy lên nhà gặp anh.
Ngay hôm sau lão Nhân được nhận vào làm việc luôn. Công việc của lão là giúp mấy ông đồ tể mỗi ngày chọc tiết làm lông mấy con lợn. đủ để cửa hàng phân phối cho các cơ quan và đơn vị bộ đội đóng trong vùng. Lão được cửa hàng trưởng bố trí cho ở trong hai gian nhà nhỏ ngay cạnh lò mổ. Cơ ngơi này cửa hàng làm để lấy chỗ cho bảo vệ ở. Nay cửa hàng không cần thuê bảo vệ nữa mà giao luôn việc ấy cho lão. Ngay sau buổi làm việc đầu tiên lão đem xuống cho bố mẹ tôi một gói to lòng lợn và một chai tiết lợn rồi tự tay đánh mấy đĩa tiết canh thật ngon cho cả nhà ăn. Bố tôi bảo:
- Chú mới đi làm bữa đầu mà đã lấy của nhà nước đem cho người quen thế này thì còn ai dám thuê nữa?
Lão cười hiền lành:
- Anh chị yên tâm. Em không ăn cắp đâu. Cửa hàng trưởng đồng ý cho em đưa những thứ này xuống biếu anh chị đấy. Gọi là miếng ngon buổi đầu tiên đi làm mà. Từ mai hết giờ làm em lại đem lòng lợn về biếu anh chị. Hết bao nhiêu cuối tháng trừ vào tiền công. Anh chị đừng mua thức ăn nữa.
Bố tôi bảo:
- Chú nghĩ được vậy là tốt. Nhưng làm thế không tiện đâu người ta dễ hiểu nhầm. Mà cũng nên tiết kiệm kẻo hết tháng công xá chẳng còn được là bao.
Lão Nhân hứa từ ngày mai sẽ không đem lòng về nhà nữa vì bố tôi tỏ thái độ rất cương quyết. Hết tháng tuy mới chỉ làm việc có hai mươi lăm ngày nhưng lão Nhân vẫn được nhận số tiền công gần sáu mươi đồng hơn cả tiền lương của thầy giáo dạy tôi. Lão mua tặng bố mẹ tôi mấy thứ còn tôi lão dúi cho cả hai đồng để mua sách bút và ăn quà vặt. Bố tôi nói:
- Mừng cho chú! Cố gắng làm việc thật tốt nếu may ra được biên chế thành người nhà nước thì vạn sự hay. Chi tiêu cũng nên tiết kiệm sau này còn lo chuyện vợ con. Phố này con gái nhiều lắm. Để tôi giới thiệu cho vài đám mà chọn.
Lão xoa tay lên gáy cười.
- Việc ấy từ từ đã anh ạ. Em mới hai lăm hai sáu tuổi. Vả lại con gái phố xá ai người ta thèm nhìn đến một thằng tứ cố vô thân như em.
Bẵng đi cả tháng trời không thấy lão Nhân xuống nhà. Bỗng một hôm có người hỏi bố tôi:
- Này anh nghe chuyện gì về thằng em họ của mình chưa?
Bố tôi lắc đầu lo lắng hỏi lại.
- Chưa! Chú ấy có chuyện gì vậy?
Nghe bảo có người trông thấy nó từ trong nhà lão Cầu đi ra lúc mới bốn giờ sáng.
Bố tôi giật mình hỏi:
- Chú ấy đến cửa hàng trưởng vào giờ ấy có việc gì?
Người ấy cười khó hiểu:
- Còn việc gì nữa! Lão Cầu đi họp dưới huỵên từ hôm qua. ở nhà chỉ có mình bà vợ. Thằng em họ của anh khỏe như lực sĩ ấy...
- Anh nói thế nghĩa là...
- Thì tôi cũng nghe người ta xì xào thế thôi. Thật hư thế nào anh gọi hắn xuống hỏi lại mà xem.
Không chờ hết giờ làm việc buổi sáng bố tôi sai tôi lên gọi Lão Nhân xuống nhà luôn. Bố tôi nghiêm nét mặt hỏi:
- Này! Tôi nghe người ta bàn tán sáng nay chú từ trong nhà ông Cầu ra rất sớm. Chú vào đấy vào giờ đấy làm gì?
- Dạ...có gì đâu ạ. Có con lợn bị ốm em vào hỏi cửa hàng trưởng xem có mổ thịt luôn không.
- Nhưng ông ấy đi họp hai ngày nữa mới về kia mà?
- Vâng! Em biết nhưng vẫn phải vào báo qua cho chị ấy...
- Thật vậy chứ?
- Em thề có trời mà!
- Thôi được rồi! Tôi tin chú. Nhưng từ nay những việc như vậy chú phải có ý một tí. Chồng người ta đi vắng mình là đàn ông không nên đến vào giờ ấy. Miệng lưỡi thiên hạ ghê lắm. Sợ ông ấy nghe chuyện rồi hiểu lầm là ra đường đấy.
- Vâng em biết rồi ạ!
Hai hôm sau lão Cầu về. Bố tôi có ý đợi lão xuống cạo râu sửa tóc để thăm dò chuyện dư luận bàn tán về lão Nhân. Nhưng cả ngày chủ nhật không thấy lão xuống. Sáng thứ hai lão lấy vé xe đi thị xã làm gì đó chiều thứ ba mới về. Rồi hai ngày sau   đùng một cái vợ chồng lão hai người hai cái va li to tướng đi ra bến xe. Lúc qua nhà tôi lão ghé vào nói:
- Ông ở lại nhá! Tôi có quyết định chuyển về thị xã rôi!
Bố tôi ngớ ra:
- Thế...công việc cửa hàng thì giao cho ai anh?
- Có cửa hàng trưởng mới rồi! Cả cái lò mổ và thằng em họ của ông nữa mọi chuyện vẫn như cũ! - Lão nhếch mép cười. Một nụ cười đầy bí hiểm rồi đi nhanh theo vợ.
Bố tôi tức tốc cho tôi lên gọi lão Nhân xuống nhà hỏi:
- Cửa hàng trưởng chuyển công tác sao không thấy chú đi theo giúp vợ chồng người ta?
- Dạ em còn bận dọn vệ sinh chuồng trại theo lệnh của cửa hàng trưởng mới nên không đi được. Có việc gì không anh?
- Không có việc gì. Nhưng đúng mọi chuyện vẫn bình thường chứ?
- Vâng! Em vẫn đi làm bình thường mà!
- Vậy thì tôi yên tâm rồi! Thôi chú về đi!
Hai tuần liền lão Nhân không xuống nhà. Bố tôi có ý sốt ruột. Bỗng sáng nay mẹ tôi từ chợ về hớt hải nói:
- Người ta bảo chú Nhân ốm đau gì đó nghỉ việc cả tuần nay rồi. Bố nó lên xem thế nào!
Bố tôi vội đóng cửa hiệu đi lên lò mổ. Tôi cũng xếp sách vở chạy theo. Hai bố con tôi mở cửa bước vào thì thấy trên giường lão Nhân nằm thở thoi thóp khuôn mặt hốc hác tay chân teo tóp nhăn nhúm đến dễ sợ. Bố tôi đứng bên giường hỏi:
- Làm sao ra nông nỗi này. Chú ốm từ hôm nào mà không tin cho tôi biết.
Lão Nhân lờ đờ mở mắt nhìn bố tôi thều thào:
- Em cũng không ngờ lại đến nông nỗi này. Anh ngồi xuống đi em có chuyện này muốn nói.
Bố tôi ngồi xuống giường. Lão Nhân dừng lại để thở ra một lúc rồi mới nói tiếp:
- Em xin lỗi anh chị vì hôm trước em đã nói dối. Đúng ra thì những lời thiên hạ bàn tán là có thật...
- Đồ khốn! Tôi thật không ngờ! - Bố tôi đứng phắt dậy nổi xung lên.
- Anh. Anh ngồi xuống đi. Bình tĩnh nghe em nói hết đã...
-Bình tĩnh thế nào được! Ai đời một thằng nhà quê như chú lại có hành vi dâm đãng đểu cáng như vậy. Người ta còn là ân nhân mình!
- Em xin anh để em nói hết mọi chuyện rồi anh muốn xỉ vả đâm chém thế nào cũng được. Lỗi này không phải tại em...
Bố tôi nén giận ngồi xuống:
- vậy thì tại ai? đầu đuôi làm sao chú nói tôi nghe nào!
Lão Nhân kể:
- Từ hôm em đi làm bữa nào vợ cửa hàng trưởng cũng đến lò mổ lấy tim gan về nấu cháo. Thỉnh thoảng chị ấy còn nán lại hỏi thăm cảnh quê quán của em. Rồi hôm ấy quãng ba giờ chiều chị ấy đến đưa cho em một bánh xà phòng thơm bảo em tắm gội sạch sẽ tối sang nhà giúp anh ấy sắp cái lễ khao thổ công. Em tưởng thật vội lo đi tắm gội sạch sẽ rồi lấy bộ quần áo mới mặc vào đợi đến tối là sang nhà. Nhưng vào nhà chỉ có mình chị ấy. Em hỏi anh đâu. Chị ấy bảo anh ra phố có tí việc chú sửa soạn bàn thờ trước đi. Em hỏi bàn thờ đặt ở chỗ nào thì chị ấy dẫn em vào trong buồng. Lúc em còn đang lớ ngớ tìm nơi đặt bàn thờ thì chị ấy chạy ra chốt cửa ngoài rồi ập vào ôm chặt lấy em nói : “Không có bàn thờ bàn thiếc gì đâu. Nhà tôi đi họp hai hôm nữa mới về!”. Em hoảng quá vội gỡ tay chị ấy ra nói: “Kìa chị. Anh nhà mà biết thì em chết mất!”. Chị ấy bịt miệng em lại nói: “Làm gì mà quýnh lên thế! Không ai biết được đâu!”. Chị ấy bất ngờ đẩy em ngã lăn ra giường rồi đè lên ghì chặt lấy ghé sát tai em nói: “Lão ấy bị bệnh vô sinh. Chú cho tôi đứa con. Nếu tôi không có con sớm muộn lão ấy cũng bỏ tôi!”. Em van vỉ: “Ôi chị ơi! Em sợ lắm! Mà em đã biết làm cái việc này đâu!” Chị ấy gắt: “Cứ làm rồi sẽ biết! Thôi đừng nói đi nói lại nữa. Chú mà bỏ về lúc này hàng phố người ta trông thấy là lôi thôi đấy!”. Chị ấy giữ em lại đến hết đêm đến bốn giờ sáng mới cho em về để còn ra lò mổ.
- Vậy sau đó lão Cầu có biết chuyện không?
- Chắc là có anh ạ. Ba ngày sau ông ấy đột ngột đến hỏi em: “Chuyện người ta bàn tán việc mày với vợ tao có không?” Bị hỏi đột ngột em còn chưa biết trả lời sao thì bất ngờ ông ấy vung tay múc cho em một quả vào mạng sườn. Em bị đau như có người xóc con dao chọc tiết vào bụng. Tưởng lão sẽ ra đòn giáng tiếp cho em một trận thượng cẳng chân hạ cẳng tay đến chết nhưng lão chỉ cười vỗ vai em nói: “Tao cảnh cáo! Việc trót rồi tốt hơn hết là hãy im lặng nhớ chưa?”. Rồi lão bỏ ra về. Lạ thay chỗ lão đấm em tự nhiên cũng không thấy đau đớn gì nữa. Em vẫn đi làm bình thường. Nhưng một tuần sau thì em đổ bệnh. Chỗ bị đấm đột nhiên đau dữ dội. Rồi khắp lục phủ ngũ tạng chỗ nào cũng có cảm giác như dao đâm lửa đốt. Cơm không muốn ăn. Ngồi lên là hoa mắt chóng mặt. Có lẽ lão ấy ra đòn hiểm với em. Anh. Chắc là em không thể sống nổi được rồi!.- Lão rút dưới gối lên một gói nhỏ đưa cho bố tôi nói:  Chỗ tiền này em dành dụm từ hôm đi làm đến nay. Nếu em có mệnh hệ gì nhờ anh chị đứng ra lo việc cho em. ở quê em không còn ai thân thích nên anh chị cũng không cần nhắn về dưới ấy làm gì nũa.
Tối hôm ấy lão Nhân qua đời. Bố tôi dùng số tiền lão để lại đứng ra lo hậu sự cho lão. Hết ba năm ông nhờ người sang cát và bỏ tiền xây cho lão một ngôi mộ nhỏ. Hàng năm mỗi lần đi chạp mộ cho ông bà bố con tôi đều đến thắp cho lão nén hương.
Trong tiếng sóng ầm ào của biển tôi chợt nghe như có tiếng ì ì của động cơ máy bay. Nhìn lên thấy một chiếc trực thăng đang bay từ đất liền ra. Bạn tôi nói:
- Máy bay ra giàn khoan đấy. Chắc hắn đang ngồi trên ấy.
Tôi dõi mắt nhìn theo chiếc trực thăng. Chưa bao giờ hình ảnh lão Nhân lại hiện ra trước mắt tôi rõ như vậy. Tôi thì thầm cùng lão: Lão Nhân ơi! Đứa con của lão bây giờ đã là một người thành đạt giàu có rồi. Có cần cho nó biết rõ thân phận của mình không?       
                                              Viết tại Nhà sáng tác Vũng Tàu
                                                               11-2007

                                                                C.T.G


More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh



NGUYỄN NGỌC CHIẾN


Ngọn lửa hồng trong đêm

Truyện ngắn


        Đã một tháng trôi qua kể từ cái bữa An đến thăm Lành lần cuối trước lúc anh một mình lặng lẽ lên tầu về quê sau năm năm công tác tại một đồn biên phòng. Số phận hẩm hiu và cảnh ngộ trái ngang đã dun dủi cho Lành gặp anh. Cứ nhớ lại cô chỉ muốn trào nước mắt. Con người anh từ dáng đi giọng nói ánh mắt những cử chỉ âu yếm... tất cả giờ đây đối với Lành sao mà quá gần gũi thân thương. Và đêm nay khi ngồi viết những dòng này Lành lại càng thấy anh như đã là của mình phải là của mình. Chao ôi! Nếu được như thế Lành sẽ tự nguyện trao thân gửi phận dở dang của mình cho anh mà không cần một điều kiện nào. Và như thế cô sẽ cảm thấy hạnh phúc sung sướng biết nhường nào. Lành muốn đêm nay dù khuya khoắt đến đâu cô cũng sẽ thức với anh để viết cho anh những dòng thư yêu thương tha thiết nhất.
... Gần ba năm trước đây sau khi học phổ thông Lành đã một lần thi vào đại học nhưng không đỗ. Từ đấy cô chấp nhận ở nhà sống cùng bố dượng và đứa em trai không ao ước gì nữa. Quê Lành ở một vùng đồng bằng có con sông Đào như một dải lụa vắt qua có những đồng lúa những vườn cây bốn mùa sum xúc tươi tốt. Nhưng quê Lành còn rất nghèo. ở tuổi mười chín Lành đã nổi tiếng là một thiếu nữ đẹp nhất làng. Nhan sắc của Lành như một bông hoa vừa hé nở tỏa ngát hương thơm vẫy chào mời gọi đàn ong bướm dập dờn lượn quanh. Đám con trai trong làng ngoài xã bám riết lấy cô. Chàng trai nào cũng dành cho Lành những tình cảm yêu thương nồng thắm. Ai cũng như muốn trổ hết tài nghệ những mong Lành chiếu cố đến mình. Lành vui vẻ tiếp đón tất cả để rồi cuối cùng từ chối họ một cách tế nhị nhẹ nhàng. Không phải Lành tự cao tự đại hay có ý chê bai gì ai mà cái chính là cô chưa muốn mình yêu ai hay nói đúng hơn là cô chưa muốn lấy chồng. Lành tự thấy mình còn quá trẻ. Cô muốn sống tự do bay nhảy cho thật thỏa thích trước khi làm vợ làm mẹ trước khi phải giam hãm mình trong một cái lồng mà tạo hóa đã từng giam hãm ràng buộc người phụ nữ. Vả lại ngày ấy mẹ Lành vừa mới mất. Lành đã từng mất bố khi còn nhỏ. Rồi lại mất mẹ. Lành chưa muốn mình lấy chồng chưa muốn mình phải xa dượng xa thằng em trai bé bỏng xa cái tổ ấm mà cô đã gắn bó thân quen thừ thuở lọt lòng.
Bố dượng Lành là một người đàn ông lầm lì ít nói nhưng tính tình lại hết sức nóng nảy cục cằn. Ông vô cùng thương mẹ cô. Có lẽ đó là lý do khi mẹ Lành quết định đi bước nữa với ông ông đã tự nguyện từ bỏ tất cả để về đây sống cùng mẹ con cô. Sáu năm qua kể từ khi mẹ Lành mất ông đã làm tròn bổn phận của một người cha đối với các con. Không là giọt máu của ông nhưng Lành vẫn thương yêu và kính trọng ông như cha đẻ của mình. Ông cũng hết mực thương yêu cô làm lụng vất vả để nuôi nấng chăm sóc cô không để cô phải thua kém bạn bè. Ngặt một nỗi do lực học của Lành quá yếu nên phải chịu dở dang giữa chừng. Khi thấy Lành đã đến tuổi lên xe hoa mà tính tình vẫn long nhong như một đứa trẻ thì ông cảm thấy lo lo và cảm thấy trong trách nhiệm làm cha làm mẹ của ông có một điều gì đó chưa trọn vẹn. Vì thế ông chỉ muốn sao cho Lành sớm có nơi có chốn để ông được an tâm bớt phần lo nghĩ. Có một lần ông đã nói với Lành rằng ở tuổi Lành ngày trước mẹ cô đã có cô. ông còn bảo đời người con gái như cái hoa chỉ sặc sỡ thơm tho một thời rồi tàn lụi. Mà khi đã tàn lụi thì chẳng còn ý nghĩa gì nữa hết. Ông khuyên Lành nên liệu liệu mà chọn đi một đám là vừa kẻo rồi lại như cái hoa kia không có ma nào ngó ngàng đếm xỉa đến nữa thì khổ! Lành ngồi đan chiếc mũ len cho thằng cu Thảo nghe bố dượng nói thế thì chỉ mỉm cười không nói gì. Dượng cũng không nói gì thêm. Tính ông vốn thế đã nói với ai chuyện gì thì nói một lèo rồi thôi có cạy miệng cũng không nói nữa. Lành thầm biết ơn dượng đã lo cho mình nhưng không hiểu sao cô vẫn thấy dửng dưng với đám con trai lui tới nhà mình. Vậy rồi... Hùng xuất hiện.
Vào những tháng ngơi vụ bố dượng Lành thỉnh thoảng thồ trái cây lên bán ở một chợ miền núi. Bán hết ông lại đèo đặc sản rừng mỗi thứ một ít như quế mộc nhĩ măng khô... về dưới này bỏ sỉ cho các tiệm tạp hóa. Vì đường xa lại phải bán cho hết hàng lấy cho đủ hàng nên mỗi chuyến thường phải hai đến ba ngày ông mới trở về. Trong một lần trở về dượng đã đưa theo Hùng về nhà. Qua giới thiệu của dượng Lành biết Hùng là con trai một đồng đội cũ của dượng bây giờ đã nghỉ hưu đang làm giám đốc một công ty trách nhiệm hữu hạn trên thị trấn. Còn Hùng anh ta cũng đang làm kế toán cho một nông trường nào đó trên ấy. Và mặc dù chưa có gia đình Hùng vẫn được bố mẹ bỏ tiền túi ra tậu cho một cơ ngơi khá bề thế. Hùng hai lăm tuổi đô con giỏi võ ăn mặc diện nói năng trôi chảy lưu loát. Thì ra trong những lần lên buôn bán trên ấy bố dượng Lành đã giới thiệu Lành với gia đình Hùng. Chuyến “hạ sơn” đột ngột này của Hùng cũng đã được hai bên bố trí sắp xếp trước. Mới thoạt nhìn thấy Hùng với nụ cười tự mãn và hàng ria mép lún phún trên một khuôn mặt bè bè đầy mụn trứng cá Lành đã không chút cảm tình. Đã thế cách ăn mặc của anh ta vừa có vẻ sang sang vừa có vẻ bụi bụi càng khiến cô ái ngại. Bất đắc dĩ Lành phải ngồi tiếp chuyện Hùng. Rồi khi Lành hiểu được mục đích chuyến thăm viếng này của Hùng thì thâm tâm cô càng thêm rối bời lo lắng. Ngồi nói chuyện với Hùng mà Lành ngỡ như mình đang phải làm một việc gì đấy khiên cưỡng khó chịu. Khác hẳn bản tính của mình Lành tỏ ra lạnh nhạt thờ ơ với Hùng và chỉ mong sao anh ta cuốn xéo càng sớm càng tốt. Nhưng Hùng không về ngay. Anh ta đã say như ong say mật cô thôn nữ ngay từ lúc mới gặp. Thì ra thằng cha bán trái cây khoe cô con gái riêng của vợ với bố mẹ mình không khoa trương chút nào. Nhan sắc cô ta quả là vượt xa sự tưởng tượng của mình. Mình phải chinh phục cho bằng được cô ta! Vừa ngắm trộm khuôn mặt xinh xắn của Lành Hùng vừa nhủ thầm. Rồi trong gần ba ngày ở chơi nhà Lành Hùng tung ra đủ các chiêu để tán tỉnh cô. Có lúc anh ta bày đặtỏa vẻ cao thượng khi cho rằng trong tình yêu người con trai phải thế này thế kia. Có lúc Hùng phải hạ mình quỳ trước mặt Lành cầu xin cô. Nước mắt anh ta lăn trên hai gò má khiến Lành không khỏi mủi lòng. Kệ! Lành vẫn từ chối anh ta không một chút xót xa nuối tiếc. Lần đầu coi như bại trận buồn bã và thất vọng Hùng phải lủi thủi ra về. Nhưng chỉ không đầy một tuần sau anh ta lại mò đến. Rồi lại lủi thủi ra về. Rồi lại mò đến. Lần nào cũng như lần nào Hùng đều lặp đi lặp lại chiêu bài cũ để tán tỉnh Lành mà không một lần thu được kết quả. Còn Lành cô cảm thấy mệt mỏi chán chường trước sự săn đón dai dẳng của Hùng.
Trái với Lành ông bố dượng lại tỏ ra đặc biệt quý mến người con trai của bạn. Trong mỗi lần Hùng đến chơi rồi ra về ông thường khen lấy khen để anh ta. Lành ngồi nghe bối dượng khen Hùng mà tai như để đâu đâu. Cô cố ý lờ đi. Thấy Lành im lặng ông ngỡ Lành đã ngã lòng chịu nghe lời ông. Nhưng đến lúc ông nói với Lành rằng ông đã đồng ý gả cô cho Hùng thì Lành bỗng giẫy lên như đỉa phải vôi. Ông ra sức dỗ dành. Lành ra sức khống chế. Không lay chuyển được Lành ông không vội nóng nảy mà chỉ nhẹ nhàng nói với cô rằng: “ Thằng Hùng nó là con nhà tử tế khá giả bản thân nó cũng là một thanh niên tốt thì hà cớ gì mà con chê nó không bằng lòng lấy nó? Phải là người thế nào mới xứng với con? Dượng không phải là cha đẻ của con nhưng dượng cũng biết tìm chốn tìm nơi để lo cho hạnh phúc của con. Phút lâm chung mẹ con đã gửi gắm con tất cả cho dượng. Con phải nghe lời dượng để linh hồn mẹ con được thanh thản nơi chín suối”. Ông thắp ba nén hương cắm lên bàn thờ vợ rồi lầm rầm vái cố ý cho Lành nghe: “Bà có linh thiêng thì chứng giám cho lòng tôi. Tôi... tôi... đã lo cho con như lời bà dặn nhưng...nhưng...nó không chịu nghe lời”. Nói đến đó ông bỗng lảo đảo rồi khóc nấc lên. Lành chạy đến đỡ ông sụt sùi nói: “Dượng đừng ép con... Dượng... Dượng hãy cho con được suy nghĩ kỹ càng thêm...”. Đòn phủ đầu của ông bố dượng đã đánh đúng vào chỗ yếu nhất của Lành. Rồi từ đó một phần do Hùng cứ bám riết như đỉa đói một phần do bố dượng cứ rỉ rả khuyên răn cuối cùng như hòn đá nước chảy lâu phải mòn cô không thể khước từ được nữa. Lành phải bằng lòng chấp nhận lấy Hùng và xem đó như một sự sắp xếp của số phận. Ngày lên xe hoa về nhà chồng Lành đã khóc sướt mướt như một đứa trẻ khiến không ít người thân và bạn bè phải khóc theo.
Hùng đưa Lành về sống trong căn nhà mới mua mà anh ta nói với Lành là bố mẹ anh ta đã đồng ý cho anh ta được toàn quyền sử dụng. Quả là một ngôi nhà xinh xắn đầy đủ tiện nghi lại nằm sát bên biên giới gần cửa khẩu thông ra nước ngoài mà chỉ người giàu có mới có thể mua được. Tuy vậy Lành chẳng mấy thích thú gì. Nỗi buồn trong lòng cô quá lớn. Có lẽ sẽ chẳng biết bao giờ và chẳng biết lấy gì mà khỏa lấp được. Lành nhớ đêm tân hôn khi Lành đã vào buồng đi ngủ. Hùng vẫn ngồi ở bàn tì tì uống rượu. Lành sợ hãi nằm sát vào mé giường. Lúc hơi men đã chếnh choáng Hùng mới nhảy xổ ôm ghì lấy Lành. Cái miệng với hàng ria mép lún phún nồng nặc mùi rượu của anh ta mơn trớn trên da thịt cô. Lành co quắt người như bị điện giật hai mắt nhắm nghiền toàn thân rã rời mệt mỏi... Một lúc sau Hùng nhả Lành ra kẻo mảnh vải trắng đưa lên nhìn. Anh ta bỗng rúc rích cười rồi ghé miệng vào sát tai Lành: “Em vẫn còn trinh nguyên cho anh chứ không đến nỗi như bọn con gái ở đây...”. Lành chết điếng người khi nghe Hùng nói. Một cảm giác đau đớn như trăm nghìn mũi kim chích vào da thịt. Cô phải cắn chặt răng cho đừng bật ra tiếng khóc. Lành không ngờ Hùng lại trơ trẽn đến thế. Thì ra mình không phải là người đầu tiên của anh ta. Trước mình anh ta đã biết thế nào là mùi vị đàn bà. Lành thấy ghê tởm và căm giận Hùng. Nhiều ngày trôi qua Lành vẫn không thể nào quên được câu nói thô thiển của Hùng. Còn Hùng anh ta tỏ ra mãn nguyện sau những ngày chăn gối cùng Lành. Anh ta gọi đó là tuần trăng mật êm ái ngọt ngào. Và để êm ái ngọt ngào mỗi một lần đến với Lành anh ta lại lải nhải: “Tôi phải trả thù em tôi phải nghiền nát em để bù lại những ngày tháng mà tôi đã phải đeo đẳng khổ sở vì em...”. Như một cái xác không hồn toàn thân Lành mềm oặt bất động để mặc Hùng như một con hổ đói mồi thả sức gầm gừ cắn xé. Nhiều vết thâm tím trên thân thể Lành là kết quả sau những lần Hùng thỏa mãn cơn ham muốn. Rã rời mỏi mệt chua xót đau đớn. Lành nghiến răng chấp nhận tất cả và xem đó là bổn phận làm vợ của mình.
Ngày tháng trôi qua với vỏ bọc là một căn hộ khang trang đầy đủ tiện nghi một người chồng có việc làm ổn định thu nhập khá một người vợ xinh xắn nhẫn nhục dịu hiền người ta dễ nhầm tưởng vợ chồng Lành là một gia đình hạnh phúc trong ấm ngoài êm. Lành cũng mong sao được như thế! Cô cố gắng quên quá khứ vui vẻ lên để hòa hợp với Hùng sống êm đềm với Hùng. Ngày ngày Hùng đến cơ quan làm việc còn Lành ở nhà lo chợ búa com nước. Đằng sau nhà có một mảnh đất rộng Lành cũng cuốc xới trồng rau. Cô còn dự định sẽ làm một việc gì đấy chẳng hạn như mở một quầy tạp hóa hay xin làm phụ thợ uốn tóc học may... chứ nhất định không chịu ngồi không sống dựa vào Hùng. Hùng nghe vậy thì gạt đi bảo rằng: “Em làm việc chóng già mà anh chỉ mong em trẻ mãi đẹp mãi...”. Phải thừa nhận ở một mức độ nào đó Hùng có vẻ quan tâm đến Lành yêu Lành. Lành cũng cảm nhận được điều đó nên đôi lúc đã tỏ ra chiều chuộng chăm sóc anh ta. Cuộc hôn nhân không do mình tự chọn đôi khi vẫn trỗi dậy dằn vặt cô. Lành cố tập cho quen cuộc sống chồng vợ với Hùng để rồi thầm mong hạnh phúc phải thực sự đến với mình.
Trong một lần Hùng đi làm để quên chùm chìa khóa. Lành đã tò mò mở một ngăn tủ mà xưa nay Lành để ý thấy Hùng chưa một lần động đến. Lúc cửa mở Lành rất ngạc nhiên khi thấy có mấy bộ váy áo phụ nữ treo bên trong. Mở ngăn dưới Lành thấy cả một lô những quần lót áo lót áo ngực cả băng vệ sinh. Tất cả điều là đồ phụ nữ loại đắt tiền. Tại sao có những thứ này trong nhà? Chúng là của ai? Lành băn khoăn tự hỏi. Trán rịn mồ hôi. Linh tính mách bảo cô có một điều gì đó chẳng lành đang ngự trị trong ngôi nhà này. Lành quyết tìm ra nhẽ. Cô lục tung các ngăn kéo và lôi ra một xấp giấy tờ. Lành dở xem từng tờ một. Cô bỗng gặp một tờ giấy kết hôn ghi tên người chồng là Phạm Gia Hùng và người vợ là Tăng Thị Liễu. Mắt Lành hoa lên và trống ngực đập dồn. Rõ ràng tên tuổi quê quán của người chồng trong tờ kết hôn này là hoàn toàn trùng hợp với người chồng của cô. Thì ra là vậy. Hắn đã có vợ. Một người vợ với đầy đủ giấy tờ hợp pháp. Hắn và bố mẹ hắn đã lừa cô và bố dượng cô. Lành cảm thấy tối tăm mặt mũi như có ai vừa giáng một cái tát vào mặt. Cô quẳng xấp giấy tờ khụy xuống và chỉ biết kêu to: “Dượng ơi! Dượng hại con rồi!”. Đúng lúc ấy thì Hùng bước vào. Anh ta đã phát hiện quên chùm chìa khóa nên đã phóng xe về. Hùng đứng lặng nhìn cánh cửa tủ mở toang nhìn xấp giấy tờ vung vãi khắp nơi và dừng lại ở đôi mắt Lành đang nảy lửa nhìn lại anh ta. Hùng chưng hửng nhưng cũng hiểu điều gì vừa xẩy ra. Một thoáng bần thần hiện lên trên khuôn mặt bè bè của anh ta. Anh ta bước vội đến bên Lành tay khẽ chạm vào người cô. “Anh là thằng tồi thằng khốn nạn. Tôi ghê tởm anh! Tôi căm thù anh!”. Hùng vẫn giữ vẻ bình tĩnh: “Anh đã có lỗi vì không nói trước với em chuyện này. Em có hiểu vì sao không? Hùng bỗng lắp bắp - Anh sợ... Anh sợ nói ra... anh sẽ vĩnh viễn bị em từ chối”. “Anh im đi! Lành gào lên - Cả nhà anh đã phỉnh phờ tôi lừa dối tôi! Còn anh anh là đồ đểu đồ thối tha bỉ ổi. Tôi khinh thường anh! Tôi căm ghét anh! Tôi nguyền rủa anh! Tôi hận anh suốt đời!”. Lành nói một thôi một hồi và oà khóc. Hùng vẫn tỏ ra nhẫn nại dỗ dành: “ừ thì em có nguyền rủa anh là gì gì đi nữa anh cũng vui lòng chấp nhận tất. Nhưng em hãy hiểu cho anh anh làm vậy cũng chỉ vì anh quá yêu em mê em say em quyết dành cho được em. ừ thì anh đã có một đời vợ trước khi lấy em. Nhưng mong em hiểu cho rằng người vợ ấy đã mãi mãi ra đi mãi mãi biến khỏi cuộc đời anh. Bây giờ cuộc đời anh chỉ có em. Em là người vợ duy nhất của anh. Chúng ta sẽ sống với nhau đến răng long đầu bạc...”. Lành bịt tai lại không muốn nghe Hùng nói. Nhưng tiếng Hùng vẫn mồn một bên tai cô.
Bất lực và khổ đau Lành bỏ nhà ra đi nhưng được Hùng tìm về. Anh ta cầu xin cô tha thứ. Rồi mọi chuyện cũng qua đi. Sau này tìm hiểu xung quanh Lành mới biết Hùng đã có một đời vợ. Người vợ này hơn Hùng tới năm tuổi nhưng khá xinh và là người Việt gốc Hoa. Chị ta tên là Liễu đúng như cái tên đã ghi trong giấy kết hôn mà Lành đã thoáng đọc hôm nào. Nhà chị ta ở gần cửa khẩu quốc tế. Hồi chưa lấy Hùng thị Liễu thường qua lại biên giới để buôn bán làm ăn. Nhờ quen biết rộng cả hai bên nên mỗi chuyến hàng buôn chủ yếu là hàng lậu cả đi lẫn về của chị ta thường may mắn trót lọt nên có lãi to. Chỉ vài năm làm nghề buôn bán mà chị ta đã có được số vốn lớn lên đến bạc tỉ. Sẵn có sắc chị ta đã cặp bồ với cả tá đàn ông có chức có quyền có tiền ở cửa khẩu quốc tế này. Vài người đã sống với thị như vợ chồng. Không biết trời xui đất khiến thế nào mà trong một lần bị công an rượt đuổi chị ta đã gặp Hùng được Hùng cứu rồi đem lòng yêu thương Hùng lấy Hùng làm chồng. Hai người sống với nhau khá hạnh phúc. Cách đây hai năm chị ta lại sang biên giới buôn bán rồi không thấy trở về nữa. Hùng tìm kiếm vợ khắp nơi thuê cả đầu gấu cửu vạn sang tận bên kia biên giới dò la mà tin tức về chị ta vẫn bặt vô âm tín. Rồi có nhiều tin đồn trái ngước nhau về thị. Có tin nói chị ta đã lấy chồng Tây. Lại có tin nói chị ta đã bị bọn xấu cùng hội buôn giết chết vì cạnh tranh ghen ghét lẫn nhau... Tóm lại là cho đến nay không ai biết số phận chị ta ra sao? ở đâu? Còn sống hay đã chết?
Câu chuyện về người vợ trước của Hùng như một dấu chấm hỏi lúc nào cũng hiện lơ lửng trước mắt Lành. Sự ra đi bí ẩn của chị ta cả tư trang chị ta để lại từ những bộ váy áo tờ giấy kết hôn hộp phấn thỏi son... lúc nào cũng làm Lành phải suy nghĩ phải sợ hãi. Có lúc Lành còn thấy chị ta như có mặt trong nhà khi đứng chỗ này lúc ngồi chỗ kia. Đôi mắt chị ta rình rập dõi theo từng cử chỉ của cô. Phải chấp nhận sống tiếp với Hùng mà lúc nào Lành cũng nơm nớp lo sợ điều chẳng lành xẩy ra. Lành luôn có cảm giác mình làm điều gì khuất tất vụng trộm. Nhiều đêm nằm ngủ Lành mơ thấy người đàn bà ấy trở về. Chị ta túm tóc Lành vả vào mặt và nói: “Tao đánh cho mày chừa thói cướp chồng người khác”. Lành hét lên một tiếng tỉnh dậy mà chưa hết run. Lành tỏ ra bất cần mọi sự săn sóc của Hùng. Cô chối từ cả chuyện chăn gối với anh ta. Vẫn biết vậy là thiệt thòi và trái với nghĩa vụ của một người vợ nhưng cô không thể có cách nào hơn. Đôi khi Lành còn muốn bỏ đi một nơi nào đó để làm lại cuộc đời nhưng rồi cô không thể khi biết rằng mình đã mang giọt máu của Hùng. Như một kẻ buông xuôi theo số phận Lành tự nhủ: Thôi thì đến đâu thì đến có muốn cũng chẳng được tránh cũng chẳng được.
Bố dượng Lành lên thăm đưa Lành về làm giỗ mẹ. Cô không muốn Hùng cùng đi nên biện ra lý do để Hùng ở lại. Lành cũng không kể với dượng bất cứ chuyện gì về Hùng. Ông tưởng con hạnh phúc bèn khoái chí nói: “Đó con thấy chưa dượng đâu phải thằng mù. Dượng mừng lắm! Mừng lắm!”. ở với dượng và em hơn chục ngày Lành mới ra đi. Dọc đường ô tô hỏng máy nên mãi lúc chập tối Lành mới về đến nơi. Vừa mở cửa bước vào nhà qua ánh điện trắng hồng xập xình tiếng nhạc Lành bắt gặp Hùng và một người đàn bà lạ đang ôm nhau nằm trên giường. Lành định quay ra nhưng không kịp. Người đàn bà đã phát hiện thấy Lành nên ngồi ngay dậy vơ vội tấm chăn quấn quanh người rồi bước nhanh ra nắm lất cổ tay Lành giữ lại. Chị ta dẫn Lành đến trước mặt Hùng hỏi bằng một chất giọng lơ lớ như người nước ngoài nói tiếng Việt: “Đây là con bé nhà quê mà anh kể với em ngay từ cái tối đầu tiên em trở về đây phải không?”. Hùng ngóc đầu dậy lè nhè qua hơi rượu: “ừ nó đấy! Nó về quê vào đúng cái hôm em về đấy!”. Không cần suy nghĩ Lành cũng đoán chắc người đàn bà này là vợ Hùng. Đúng là chị ta đã trở về! Và Hùng hắn đã đoàn tụ với vợ hắn.
Lành đứng đực ra như trời trồng. Cổ họng tắc nghẹn không nói được một lời nào. “Chà chà con gái quê mà trông cũng ưa nhìn ra phết nhỉ - Người đàn bà cười khanh khách - Muốn biết chị là ai phải không? Chị xin tự giới thiệu nhé! Chị là Liễu. Tăng Thị Liễu đây! Chị là chủ của ngôi nhà này là vợ của chồng chị đây. Nghe nói rằng em đã biết hết mọi chuyện rồi phải không? Em đinh ninh là chị sẽ không về nữa phải không? Nhầm to rồi em gái ơi! Chị chỉ đi vắng một thời gian để làm ăn rồi chị sẽ trở về thôi. Chị đã trở về với chồng chị hơn chục ngày nay rồi. Chị đã tha thứ hết cho chồng chị. Đàn ông con trai mà em... Thế nào có muốn làm con hầu dì ghẻ thì chị cho ở lại cùng chị cho vui...”
Lành chỉ còn biết vịn chặt vào tường cho khỏi ngã. Đầu óc cô muốn vỡ tung ra trước những lời lẽ sỗ sàng của chị ta. Cố gắng lắm Lành mới lê nổi tấm thân ra khỏi cửa rồi ù chạy về phía rừng. Cô không nhớ là mình đã chạy được bao xa và tại sao là mình lại có thể chạy được như thế. Màn đêm buông xuống lúc nào Lành cũng không hề hay biết. Cô cũng không biết sẽ có gì nguy hiềm đang đợi cô phía trước. Lành chỉ biết chạy cho thật nhanh chạy cho thật xa càng xa càng tốt ngôi nhà đáng nguyền rủa ấy. Rồi Lành bỗng vấp ngã lăn từ trên đồi xuống dốc và ngất đi không biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy lành thấy mình đang nằm trong một ngôi nhà sàn. Có mấy người đàn ông phụ nữ bận đồ dân tộc ngồi quanh cô. Họ nói với cô là cô bị xẩy thai nằm ngất trong rừng nên họ đưa về đây. Lành thoáng buồn nhưng chỉ một lát rồi thôi.
Mặc dù đã được thầy thuốc biên phòng đến tận nhà điều trị kịp thời Lành vẫn lăn ra ốm. Cô vật vã tê tái trong cơn đau. Khắp người rã rời mệt mỏi. Đôi lúc nghĩ dại Lành chỉ muốn chết đi cho yên thân nhưng nghĩ đến dượng đến thằng em trai đến bạn bè... thì Lành bỗng giật mình nhắm mắt lại suy nghĩ mông lung. Không! Mình không thể chết! Lành trách mình nghĩ quẩn. Mình chỉ mới ngoài hai mươi tuổi. Tuổi này con trẻ lắm và tương lai còn ở phía trước. Mình phải sống phải gặp dượng gặp em gặp bạn bè... Mình phải làm lại cuộc đời. Anh y sĩ biên phòng là người cùng một huyện với Lành đã tỏ ra xúc động trước hoàn cảnh của cô. Rồi như thể có sự ràng buộc vấn vương giữa anh với Lành hay bởi lương tâm trách nhiệm của một người thầy thuốc mà trong suốt thời gian Lành ốm anh đã mấy lần quay trở lại săn sóc cô. Anh mang đến cho cô nhiều loại thuốc và đường sữa. Anh pha sữa cho cô và ngồi nhìn cô uống. Anh xấp khăn cho cô lau mặt căn dặn cô điều này điều kia. Lành đón nhận sự quan tâm săc sóc của anh mà cản thấy rất thoải mái tự nhiên như chính anh đã là người thân của mình từ lâu.
Phải hơn mười ngày sau sức khỏe của Lành mời hồi phục hẳn. Lành trở lại như ngày nào trẻ đẹp và đầy quyến rũ. Cô xin phép bà chủ nhà cô được ở lại cùng bà làm người giúp việc trong gia đình. Anh bộ đội cùng quê vẫn thường xuyên đến thăm cô. Nhưng lần gặp gỡ về sau giữa cô với anh cũng không còn xa lạ như lúc ban đầu nữa mà trở nên dạn dĩ gần gũi hơn. Lành nhớ có một lần anh đến và hai người đã ngồi đối diện nhau bên một chiếc bàn nhỏ. Cả hai cùng im lặng. Thời gian chầm chậm trôi. Ngoài trời nắng cao nguyên óng ánh vàng rực chảy tràn khắp nơi. Anh đốt thuốc liên tục vẻ mặt căng thẳng. Đôi mắt buồn buồn của anh thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn thẳng vào mắt Lành. Mỗi lần như thế Lành lại mỉm cười nhìn đi chỗ khác. Anh lên tiếng trước hỏi Lành về quê hương gia đình. Lành trả lời anh rất thật. Anh ngồi im nghe và khi nhìn thấy Lành thút thít khóc thì anh đứng dậy bỏ ra ngoài sân. Lúc trở vào anh đã nói với Lành về cảm tưởng của anh trước cảnh ngộ của cô. Anh xin được cảm thông chia sẻ cùng cô. Lành nhìn anh xúc động đầy vẻ biết ơn. Nhưng cô cũng kịp nhận ra trên khuôn mặt sớm già trước tuổi của anh luôn luôn biểu hiện một nét khắc khổ sầu muộn. Lành đoán chắc là anh cũng đang có một nỗi buồn gì đây ẩn chứa trong lòng. Lành chưa kịp hỏi thì anh đã kể ra tất cả. Qua câu chuyện của anh Lành biết anh đã có vợ con nhưng người vợ ấy đã mất từ đây hai năm do một tai nạn đắm thuyền. Chị ra đi để lại cho anh một bé gái lúc ấy chưa đầy tuổi và một nỗi buồn dai dẳng đến bây giờ. Anh nói với Lành rằng: Ngày ấy khi nhận được điện báo tin vợ mất anh đã choáng váng như nghe tiếng sét bên tai. Là đàn ông mà cũng gần như ngất đi phải một lúc lâu sau mới có thể bình tâm lại. Khi anh về đến nhà thì vợ anh đã mồ yên mả đẹp. Anh chỉ còn biết ôm lấy nấm đất mà gào khóc như một đứa trẻ.
Lần ấy anh ở lại với Lành gần suốt một buổi chiều: Sự đồng cảm giữa hai người trước những cảnh ngộ riêng là duyên cớ để họ xích lại gần nhau. Có lần anh đã mạnh dạn hỏi Lành là cô sẽ định liệu ra sao cho tương lai của cô thì Lành cũng mạnh dạn đáp lại anh là cô sẽ làm lại từ đầu. Rồi Lành cười. Anh cũng cười. Bốn con mắt nhìn nhau long lanh im lặng. Và hôm đó anh đã bất ngờ tỏ tình với Lành. Một sự tỏ tình gần như là một sự đùa cợt. Bởi nó không giống với bất cứ một sự tỏ tình nào khác. Nó có vẻ vội vàng hấp tấp; chẳng ý tứ úp mở; chẳng rào trước đón sau. Lành nhận thấy như vậy đã toan đùa lại với anh. Nhưng khi nhìn vào đôi mắt anh nghe giọng nói của anh Lành thấy tất cả chẳng có gì là đùa cợt cả mà ngược lại rất chân thành. Nhưng khi hiểu như vậy thì Lành lại ngạc nhiên đến sững người. Mặt cô thoáng một chút băn khoăn bởi không tin điều vừa xảy ra. Rồi khi bình tĩnh lại biết đó là sự thật thì Lành bỗng thấy cay cay ở khóe mắt như có mấy giọt nước vừa lăn ra. Lành hoàn toàn không ngờ một người không gặp may trong tình yêu hôn nhân như cô tưởng là đã đến lúc an bài với một cuộc đời dang dở lại còn có người tỏ tình muốn lấy mình làm vợ. Người đó lại là một người đàng hoàng hết sức đàng hoàng. Thì ra cuộc đời vẫn mang đến cho Lành niềm vui chứ không đến nỗi như cô tưởng. Nhưng Lành bỗng thấy sợ sợ mình không xứng đáng với anh.
Hôm ấy sau khi đã nói ra điều hệ trọng với Lành anh đã đứng dậy đi vòng quanh bàn đến bên cô. Lành vẫn ngồi yên đầu hơi cúi xuống. Lành thấy tay anh đặt lên vai cô sau đó là cả hai cánh tay anh ôm riết lấy cô. Như một địch thủ lâu ngày chưa có dịp xung trận Lành khẽ rùng mình rồi từ tốn quay mặt lại hai tay đưa lên nắm lấy tay anh trong khi đôi mắt long lanh ngân ngấn những giọt lệ. Anh chỉ chờ có thế là cúi xuống đặt nụ hôn lên môi cô. Lành thở mạnh rồi thổn thức ngã đầu vào ngực anh.
Bẵng đi mấy tuần không thấy anh trở lại. Lành nhẩm tính và nhận thấy ngày anh hẹn đã tuần tự trôi qua. Suốt thời gian ấy lành đã sống trong một tâm trạng khắc khoải mong ngóng tin anh từng ngày từng giờ. Ruột gan cô cồn cào vì nhớ anh thương anh. Nhưng càng nhớ càng mong thì sự vắng lặng càng hiện hữu đơn côi. Có lúc quá sốt ruột Lành đã bực bội nghĩ thầm: hay tình cảm anh dành cho mình chỉ là một thứ tình cảm giả tạo chỉ là gió thoảng mây trôi? Hoặc là anh đã thay đổi quyết định khi có đủ thời gian để nghiền ngẫm lại? Có thể như vậy lắm! Với đàn ông thì người đàn bà nào khi họ cần... mà họ chẳng nói rằng “yêu”. Thế là Lành lại thấy buồn cho thân phận mình. Thà rằng anh đừng vội ngỏ lời với Lành anh cứ quan hệ với cô bằng tình cảm anh em để cô được sống yên lành có lẽ hơn. Anh đã gieo vào tâm hồn Lành niềm hy vọng rồi cũng chính anh đã đang tâm giết chết niềm hy vọng ấy... Không! Anh không phải là người như vậy không bao giờ như vậy. Lành không tin điều đó. Cô cố xua đi ý nghĩ lộn xộn trong đầu. Rồi Lành tự cắt nghĩa cho việc anh không đến đúng hẹn chỉ là do anh bận công tác. Việc quân nhiệm vụ nặng nề nay đây mai đó nên có thể cuốn theo bất cứ người lính nào vào bất cứ thời điểm nào. Nghĩ vậy và Lành lại cảm thấy thương anh. Để khỏi suy nghĩ lan man Lành đứng dâỵ đi ra sân và sau đó theo bà chủ nhà ra rẫy làm việc.
Lúc trở về nhà vừa bước chân vào cửa Lành thấy một phong thư ai đặt sẵn trên bàn. Cô cầm lên đọc qua mấy dòng chữ ghi ngoài phong bì. Thư anh! Lành suýt kêu to. Tim cô đập rộn ràng lên. Lành run trun mở thư ra và hồi hộp đọc. Đọc xong cô thở phào mỉm cười ép lá thư vào ngực rồi ngồi yên như vậy nhìn ra xa nghĩ ngợi. Thư anh có đoạn viết: “Anh đã được đơn vị giải quyết phục viên ngay sau thời gian đến thăm em trở về. Vì còn một số việc phải quay lại đơn vị giải quyết tiếp nên khi lên tàu về quê anh đã không ghé lại chỗ em. Mong em thông cảm và anh hứa là anh sẽ đến ngay với em khi anh trở lại cao nguyên. Lành ơi! Anh vô cùng yêu em nếu em cũng yêu anh như vậy thì đó là niềm vui và hạnh phúc lớn của chúng mình. Em ạ! Hoàn cảnh của hai đứa mình đến với nhau như vậy là hợp lẽ. Anh đã trình bày chuyện chúng mình với gia đình anh. Mẹ anh cười bảo: “ Chúng mày mà nên vợ nên chồng thì cũng là như rổ rá sổ vành cạp lại nếu cạp lại kỹ thì rổ rá ấy cũng dùng bền...” Anh cho rằng đã đến lúc em nên thu xếp để trở về quê. Nếu en bằng lòng thì khi trở lại đơn vị anh sẽ đưa em cùng về...”. Không một thoáng phân vân ngay ngày hôm sau Lành đã cấp tốc tìm đến nhà Hùng với ý định táo tợn là sẽ ném tờ đơn ly hôn vào mặt cả hai vợ chồng hắn để giải quyết cho xong mọi việc. Nhưng Lành đã không bao giờ còn cơ hội để thực hiện được ý định của mình. Vì khi cô về đến nơi thì ngôi nhà của Hùng đã bị niêm phong vì cả hai vợ chồng hắn đã cùng bị bắt do phạm tội buôn bán chất ma túy. Không biết nên vui hay nên buồn trước sự kiện này. Lành đứng lặng một lúc rồi quay trở lại ngôi nhà đã từng cưu mang cô mấy tháng qua. Cô sống ở đấy thêm hai ngày nữa trước lúc tạm biệt vùng đất biên ải và những người dân hiền lành tốt bụng để trở về quê hương nơi chôn rau cắt rốn của mình.
... Lành dừng lại chừng như quá mỏi mệt người khẽ run lên. Ngoài trời gió vẫn vi vút. Vầng trăng mùa đông lấp ló bên cửa sổ đã bị mây đen kéo đến che phủ. Trời lắc rắc mưa. Trong căn buồng nhỏ ánh đèn dầu hỏa nhập nhòe nhợt nhạt. Lành nhẩm đọc lại lá thư và nghĩ đến An. Lúc này đây An đang ở rất gần Lành. Lành thấy ấm áp như có một ngọn lửa hồng chợt bùng lên giữa đêm đông lạnh lẽo đang sưởi ấm tâm hồn giá lạnh của cô.
N.N.C

More...

KỶ NIỆM 1760 NĂM NGÀY MẤT ANH HÙNG DÂN TỘC TRIỆU THỊ TRINH (248-2008)

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Lâm Bằng


Về Phú Điền dịp lễ giỗ Vua Bà
                                                          
Bút ký

 
           I
         Theo lệ thường cứ vào cữ tháng Hai âm lịch dân làng Bồ Điền (Tôi gọi theo tên cũ cái tên có từ thời Vua Bà dấy binh khởi nghĩa để nhớ lại một thời oanh liệt hào hùng của người nữ tướng oai linh. Còn bây giờ là Phú Điền thuộc xã Triệu Lộc huyện Hậu Lộc Thanh Hóa) lại tổ chức lễ giỗ Vua Bà rất long trọng. Vua Bà tức là vị nữ anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh người làng Quan Yên quận Cửu Chân nay thuộc xã Định Công huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa năm 248 đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi giặc Ngô xâm lược. Vua Bà - Bà Triệu sinh ngày mùng 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (226) hy sinh ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn (248) được nhân dân lập đền thờ quanh năm tế lễ. Đền thờ Bà Triệu ngày nay ở dưới chân núi Gai (tên chữ là Tượng Lĩnh) kề đường thiên lý bắc nam. Mấy năm vừa rồi nhà nước cho trùng tu tôn tạo đền thờ Vua Bà cho nên lễ giỗ chỉ làm đơn giản. Năm nay việc trùng tu đã xong lễ giỗ Vua Bà lại được tổ chức với nghi thức trọng thể. Hơn thế nữa lễ giỗ năm nay lại còn được tổ chức với quy mô cấp tỉnh do tỉnh đứng ra chủ trì trong đó ngoài lễ giỗ truyền thống còn có lễ tưởng niệm 1760 năm ngày mất của Vua Bà và khánh thành công trình trùng tu tôn tạo đền thờ Bà Triệu.
Chúng tôi đến Triệu Lộc vào cữ trọng xuân. Sau đợt rét đậm quá dài kéo từ trước đến sau tết nguyên đán tranh thủ những ngày ấm áp bà con ra đồng cấy lúa và chắm dặm lại những thửa lúa đã chết rét. Thời tiết khắc nghiệt quá. Những thửa ruộng cấy trước đợt rét cây lúa đứng nguyên lá đổ vàng. Có lẽ gốc lúa đã thối hết. Trong làng nhà nào trên sân cũng có vài vuông mạ được che chắn rất cẩn thận. Làm ruộng là thế đấy trông trời trông đất trông mây... và thở dài.
Tuy bận rộn với việc đồng áng nhưng bà con làng Phú Điền vẫn nhộn nhịp chuẩn bị cho lễ giỗ Vua Bà. Ông Lê Vĩnh Tư Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã phụ trách phần rước kiệu cho chúng tôi biết: Chuẩn bị cho lễ giỗ xã đã thành lập Ban Tổ chức với 6 tiểu ban phân công phân nhiệm cho từng tiểu ban những công việc cụ thể. Ví như công việc của Tiểu ban rước kiệu là phải lo chọn những trai làng có thể lực có sức khỏe tốt không bụi lấm (tức là trong nhà không có tang) khoảng hơn bốn chục người để khiêng bốn cỗ kiệu và các đồ nghi trượng bát bửu phủ việt cờ lọng.v.v... Những người này trước ngày rước kiệu phải giữ mình trong sạch không làm điều phàm tục. Ngoài ra những công việc khác như bảo đảm an ninh trật tự cho lễ giỗ tu sửa đường xá treo băng cờ các trò chơi dân gian thi kéo co thi cờ người đấu bóng chuyền biểu diễn văn nghệ.v.v... cũng được chuẩn bị chu đáo đảm bảo lễ hội được hoàn hảo không để xảy sự cố đáng tiếc.

II

Khu di tích Bà Triệu bao gồm đền thờ và lăng mộ là di tích có giá trị đặc biệt về lịch sử văn hóa và nghệ thuật được nhà nước cấp bằng di tích cấp quốc gia từ năm 1979. Năm 2005 tỉnh đã đầu tư hơn 13 tỷ đồng để trùng tu tôn tạo. Qua hơn hai năm tiến hành một số công trình quan trọng đã hoàn thành: Tiền Đường sân Thiên Tỉnh nhà giải vũ Trung Đường Hậu Cung Tam Quan... theo lối kiến trúc "Nội công ngoại quốc". Có lẽ đây là một trong số rất ít công trình trùng tu tôn tạo di tích của tỉnh ta được tiến hành khẩn trương và hoàn thành gọn ghẽ mà cũng rất hoành tráng đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật mỹ thuật và kiến trúc. Có lẽ Vua Bà đã phấn khởi và phù hộ nên công trình thi công rất thuận lợi. Khách hành hương hôm nay về với đền Vua Bà hẳn sẽ ngỡ ngàng trước một công trình bề thế hoành tráng đậm màu linh thiêng. Vẫn cây đa cổ thụ bên giếng vẫn hồ sen vẫn rừng thông vi vu gió thổi trong không gian trầm mặc thiêng liêng du khách thả bộ trên con đường thần đạo lao xao sỏi đá mà tâm hồn thanh thản thư thái. Linh khí tụ quần lòng ngưỡng vọng danh nhân dâng lên ta dâng nén nhang thơm tỏ lòng thành kính vị nữ anh hùng dân tộc đầy khí phách không màng danh lợi quyết đánh đuổi ngoại xâm giữ gìn giang sơn gấm vóc mà như nghe âm vang đâu đây lời Người: "Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh đạp luồng sóng dữ chém cá kình ở biển Đông đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta". Khí phách đó chí khí đó chỉ thấy ở người Việt chúng ta lòng ngưỡng vọng người tài đức có công với dân với nước cũng chỉ thấy ở người Việt chúng ta. Hai yếu tố đó đã góp phần tạo nên sự hiển ứng và linh thiêng của danh nhân. Đó là nét độc đáo của văn hóa Việt.
Chiều xuân chúng tôi thả bộ trên đường làng Bồ Điền cổ xưa. Đường làng đã được lát bê tông phẳng phiu sạch sẽ. Hẳn 1760 năm trước thớt voi Bà Triệu với đấng Nhụy Kiều Tướng quân lồng lộng khăn vàng đã lừng lững nện bước trên con đường này. Hẳn 1760 năm trước chiến binh của Bà Triệu dưới ngọn cờ vàng uy nghi đã giao chiến dũng cảm với quân Ngô của viên tướng hèn hạ Lục Dận giữa cánh đồng này. Đã mười tám thể kỷ trôi qua cảnh vật hẳn đã đổi thay rất nhiều thậm chí sông ngòi đã bồi đã lở thành cồn thành bãi nhưng chiến tích của người anh hùng công đức của người anh hùng ý chí quật khởi bất khuất của người anh hùng... mãi mãi rạng ngời cùng non sông đất nước. Sự linh thiêng hiển ứng của Vua Bà vẫn bền chặt trong tâm thức tâm linh của người dân đất Việt.
 

III

Anh Thế Trưởng Ban quản lý di tích đền Bà Triệu cho chúng tôi biết: Trước đây việc quản lý đền được giao cho xã. Nhưng xã cũng chỉ làm được những việc thông thường như bảo vệ hướng dẫn việc thắp hương.v.v... Nay khu di tích đã được tôn tạo khang trang bề thế khách thập phương trẩy về thăm viếng đông hơn nhiều. Hoạt động văn hóa thưởng lãm và tâm linh cần có sự giới thiệu hướng dẫn xã không đủ sức đảm nhiệm nên huyện đã thành lập Ban Quản lý khu di tích trực thuộc Phòng Văn hóa huyện. Anh Thế cũng cho hay chỉ trong dịp tết nguyên đán vừa qua khu di tích cũng đã đón hơn 13 nghìn lượt người đến thắp hương viếng cảnh.
                                                        *
Có một điều lạ trong lễ rước kiệu Vua Bà mà rất nhiều nhà nghiên cứu chưa giải thích được đó là hiện tượng kiệu bay.
Theo nghi thức truyền thống đi đầu đoàn rước là kiệu mang hương án có hai lọng vàng che hai bên tiếp theo là phường bát âm có đủ kèn trống sáo nhị thanh la não bạt... và đoàn người mang nghi trượng bát bửu cờ lọng gươm kiếm phủ việt. Tiếp đến là kiệu Bát cống trên có bài vị Lệ Hải Bà Vương (mỹ hiệu của Bà Triệu). Sau kiệu Bát cống là kiệu Song loan. Kiệu Song loan rước sắc phong của các triều vua đã phong tặng tôn vinh và ca ngợi công đức Vua Bà. Tiếp đến là kiệu Hội đồng các quan (nghĩa là các vị thần khác cũng được mời về dự lễ). Các cỗ kiệu và đồ nghi trượng đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy. Nghi thức rước vừa long trọng vừa trang nghiêm trong tiếng nhạc lưu thủy rộn ràng.
Tôi đã được chứng kiến lễ rước kiệu ở đền Vua Bà. Lần ấy khi kiệu đi đến trước đền tự dưng kiệu quay tròn sau đó lại chạy như bay rồi lại quay đầu chạy trở lại đoàn tùy tùng và người đi xem dạt ra cả hai bên nhưng trên kiệu mọi lễ vật đều được giữ thăng bằng. Kiệu bay là hiện tượng độc đáo chỉ có ở lễ giỗ đền Vua Bà đấy là một sự lạ. Ông Hiếu người thủ nhang lâu năm ở đình làng Bồ Điền kể rằng: Thời trẻ tuổi ông đã nhiều lần được đi rước kiệu. Trong khi rước hầu như cỗ kiệu tự đi anh em phu kiệu chỉ đi hoặc chạy theo lúc chạy lúc đi lúc quay vòng đều không chủ định. Trong đoàn rước có ông chủ lễ đi trước hướng dẫn nhưng ông cũng phải chạy theo kiệu. ấy thế mà không ai thấy mệt thế mới lạ. Kiệu được rước từ đền về đình rồi lên lăng mộ. Khi kiệu đến chân núi Tùng nơi có lăng mộ Vua Bà đoàn kiệu dừng lại một số người chủ yếu là các cụ cao niên rước bát hương lên lăng mộ để xin chân nhang. Mộ Vua Bà trên đỉnh núi Tùng vách núi gần như dựng đứng vậy mà các cụ trèo lên trèo xuống thoăn thoắt không hề thấm mệt không hề sơ sẩy bát hương vẫn được đội ngay ngắn trên đầu.
Hôm đến làm việc ở xã tôi và nhà văn Hoàng Trọng Cường đã sắm thẻ nhang trèo lên viếng mộ Vua Bà. Quả thật vách núi lởm chởm không hề có đường người lên phải tự lần đường trên những vách đá tai mèo nhọn hoắt trơn nhẫy rậm rì gai góc. Mặc dù đã được kể trước nhưng tôi vẫn không hình dung nổi đường lên một di tích văn hóa cấp quốc gia lăng mộ của một danh nhân đất nước một anh hùng dân tộc với sự linh thiêng ngự trị đặc biệt trong đời sống tâm linh của người dân xứ Thanh tự cổ chí kim lại hoang dã đến thế này.
IV
Khu đền thờ đã khang trang bề thế thật xứng với tầm vóc một nữ tướng lừng danh của đất nước ở đầu thiên niên kỷ thật thỏa lòng ngưỡng vọng của nhân dân. Lễ giỗ đền Vua Bà hẳn sẽ ngày càng trở thành một lễ hội lớn thu hút du khách thập phương và là một sinh hoạt văn hóa tâm linh không thể thiếu của mỗi người dân. Có điều duy trì lễ hội và phát huy ý nghĩa của di tích cũng như tiếp tục hoàn thiện các công trình còn lại của khu di tích cụ thể là Lăng mộ... đang đòi hỏi một tư duy một tầm nhìn lớn giàu tính sáng tạo và khoa học của các nhà quản lý của những người có trách nhiệm đối với văn hóa dân tộc. Hy vọng rằng mọi động thái của hậu thế luôn xứng với tầm vóc của tiền nhân đáp ứng lòng ngưỡng vọng của người dân đối với Vua Bà vị nữ tướng kiệt xuất của dân tộc cách nay gần hai thiên niên kỷ.
                                           Phú Điền tháng 2 năm Mậu Tý
                                                               L.B
 
 
 
 
TRIỆU THỊ TRINH NỮ TƯỚNG LỪNG DANH

  
 
“Muốn coi lên núi mà coi
Có bà Triệu tướng cỡi voi đánh cồng”

 
        Bà Triệu Ẩu tên là Triệu Thị Trinh còn có tên là Triệu Trinh Nương sinh ngày 2 tháng 10 năm 226 (Bính Ngọ) trong một gia đình hào trưởng ở quận Cửu Chân (nay là tỉnh Thanh Hóa). Triệu Thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kỳ lạ người cao lớn.
Bà là người tính tình vui vẻ khỏe mạnh nhanh nhẹn trí lực hơn người. Truyền thuyết kể rằng có lần xuất hiện con voi trắng một ngà phá phách ruộng nương làng xóm làm chết người. Bà Triệu dũng cảm cầm búa nhảy lên đầu giáng xuống huyệt làm con voi lạ gục đầu qui thuận.
Khi nhà Ngô xâm lược đất nước gây nên cảnh đau thương cho dân chúng khoảng 19 tuổi Bà bỏ nhà vào núi xây dựng căn cứ chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc.
Khi anh trai nhắn về nhà lấy chồng bà đã trả lời tỏ rõ khí phách của mình: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh đạp bằng sóng dữ chém cá Kình ở biển Đông đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta”.
Truyền thuyết kể lại rằng năm 248 khi Bà khởi nghĩa trời đã sai đá núi loan tin tập hợp binh sĩ trong vùng.
Đêm khuya từ trong núi đá phát ra rằng:
                 “Có Bà nữ tướng
                 Vâng lệnh trời ra.
                  Trị voi một ngà
                  Dựng cờ mở nước
                  Lệnh truyền sau trước
                  Theo gót Bà Vương”.
Theo đó dân chúng trong vùng hưởng ứng nhiệt liệt có người mang theo cả bộ giáp vàng khăn vàng... dâng cho Bà. Anh trai bà là Triệu Quốc Đạt được tôn làm Chủ tướng. Bà Triệu là Nhụy Kiều tướng quân (Vị tướng yêu kiều như nhụy hoa).
Khi ra trận bà mặc áo giáp vàng chít khăn vàng đi guốc ngà cưỡi voi một ngà. Quân Bà đi đến đâu dân chúng hưởng ứng quân thù khiếp sợ. Phụ nữ trong vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Vương đánh giặc. Cho đến nay nhân dân vùng Thanh Hóa và lân cận còn nhiều câu ca lời ru con nói về sự kiện này.
Sau hàng chục trận giao tranh với giặc trận thứ 39 anh trai Bà là Triệu Quốc Đạt tử trận Bà Triệu lên làm chủ tướng và lập nên một cõi giang sơn riêng vùng Bồ Điền khiến quân giặc khó lòng đánh chiếm. Biết bà có tính yêu sự sạch sẽ ghét tính dơ bẩn quân giặc bố trí một trận đánh từ tướng đến quân đều lõa thể. Bà không chịu được chiến thuật đê hèn đó phải lui voi giao cho quân sĩ chiến đấu rồi rút về núi Tùng.
Bà quỳ vái trời đất: “Sinh vi tướng tử vi thần” (Sống làm tướng chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn.
Sau khi Bà mất dân vùng Bồ Điền đã lập đền thờ hàng ngày vẫn nghe trên không trung triếng cồng thúc quân voi gầm ngựa hí. Tiền Lý Nam Đế khi đi đánh giặc qua vùng này đã vào đền cầu Bà phù hộ. Quả nhiên trận đó Lý Nam Đế thắng giặc. Khi trở về Lý Nam Đế đã cho xây dựng đền và lăng mộ khang trang để ghi nhớ công ơn Bà.
Đến nay chuyện Bà Triệu từ thế kỷ thứ II vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam với lòng ngưỡng mộ.
Lăng và đền thờ Bà vẫn còn mãi với thời gian tại xã Triệu Lộc huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa. Đây là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia và là bằng chứng về niềm tự hào một phụ nữ liệt oanh của dân tộc Việt Nam.

                                                              (Theo Trần Quốc Vượng.)



Lê Nhị Bình


Người cưỡi cơn gió mạnh
         


Sang xuân cánh đồng làng Bồ Điền vẫn ngăn ngắt xanh cây lúa tuổi dậy thì
Người làng nô nức  vào Na Sơn thắp hương ngưỡng vọng
Vua Bà Triệu người “Cưỡi cơn gió mạnh
Đạp luồng sóng giữ chém cá kình ở Biển Đông...”
Người cưỡi voi đuổi giặc từ đỉnh Na Sơn
Trận huyết chiến với giặc ngô máu Tuẫn Tiết bay lên trời thẳm
Gần  hai ngàn năm khí phách Triệu Thị Trinh đã
 thành cơn gió mạnh
Thổi quật cường bất khuất giữa lòng dân...

Triệu Thị Trinh
Người con gái đất Thanh

                Tháng 2 năm Mậu Tý

                            L.N.B


More...

THƠ

By Văn Nghệ Xứ Thanh



Văn Đắc


            Nhà văn (Nhà thơ) nên lao vào cái khó. Cái khó chứ không phải cái bế tắc - Cái bế tắc trong chốc lát để mở ra. Mở ra cho người ta là sự bừng thức. Ngộ cho mình và cho đời sự oà ra... đó phải chăng là hạnh phúc? Rồi lại bi quan tự hỏi: Ta làm chi đây cái sự thật sáng tạo này đến đâu?... Văn Đắc đi một đời lam lũ... Đến “Tôi nói tôi người Thanh Hóa” này chưa phải đã khai thác hết mạch nguồn Văn Đắc ấp ủ... Tiếc thay tiếc thay tài năng cũng phải gặp may...Trường ca này là sự gặp may chăng?
                                                                                B.B.T



Trong làng


            Trích Phần I- Trường ca Tôi nói tôi người Thanh Hóa


I

Lắm khi nghĩ về Thanh Hóa
Thấy đất đá hiện hồn
Đá trơ ra hình đồ đá Núi Đọ
Lau vẫn lau thời núi Bà Triệu
Sông vẫn là mấy dải kênh đào Nhà Lê
Buộc Lỗi Giang vào chiến tranh Trịnh Nguyễn
Không biết có phải dải núi đá bên sông
Mang trên mình quá nhiều vinh quang mà lột xác
hóa rồng
Hay núi Rồng đau quá mà sáng làm viên ngọc
Tôi viền với quê
Viền là về
Ai chả biết
Viền mới là tiếng mẹ đẻ ra tôi.

II.

Bỏ quê mà đi ư
Không bỏ được
Từ Cửa Hới lên Hàm Rồng Núi Đọ
Chưa đủ thời gian hong khô mái tóc
Mái tóc bù xù ngụp trong nước mặn
Vì khó quá o ép quá mà đi
Thì phía đông là biển
Phía bắc là dãy Tam Điệp
Phía Tây là biên giới Lào Việt
Phía Nam là núi Chẹt
Toàn vần trắc
Cao thấp chập chờn
Sóng nước sóng đất
Đâu phải vần bằng mà tung tăng rong chơi
Mênh mông là trời
Thì ra ngoài mà ngó
Trời Thanh Hóa của tôi là cái vó
Thả lúc nào cũng vớt được tôi lên.

III.

Cửa Lạch Trào mênh mông quá
Sang đò thì sóng gió khó sang
Bắc cầu thì mố cầu đầu mép sóng
Khó giữ cầu yên
Cho nên gái Hoàng Phụ trai Hải Thôn
Tìm nhau bằng câu hát nghẹo
Lớn lên nghe ông bà kể lại
Ngớ ngác ngồi nghe hát ghẹo nhau
"Đôi bên bác mẹ thì già
Kiếm tí rùng rách để mà kéo tôm"…
"Trời mưa lút núi lút non
Có thằng đánh giặm ghẹo con đi mò"
Hét ghẹo quê tôi đẫm trong lòng người
Hát ghẹo quê tôi vừa khóc vừa cười !
Bây giờ tôi hát trong thơ
Bàn chân bám đất mắt mơ mộng trời
Ai hỏi tôi
- ông ở đâu?
Tôi nói: Tôi người Thanh Hóa
Thì xin bè bạn đừng cười
Kẻo câu hát ghẹo trong tôi lại buồn.

IV.

Thời trẻ
Cha tôi đi nhủn
Nhủn là đẩy đủn
Cái nhủn bằng tre
Cua ốc cá tôm dồn vào túi bằng tơ
Một lần
Cha tôi đủn dọc sông Đơ vào đêm thủy triều cạn
Đủn mãi mà chả được gì
Đủn đến đâu lại thấy có người đủn phía trước
Sợ quá
Cha tôi vác đủn chạy qua bãi cát cồn mả
Rồi ngất lịm trong vườn nhà
Từ đó con sông Đơ xanh thành con sông trắng
Bây giờ cha mẹ tôi đi vào cõi xưa
Con sông chít khăn sau nhà
Con sông thành nỗi nhớ.

V.

Làng tôi có nghề canh cửi
Mẹ tôi đóng cọc thả go từ ngõ ra đường
Những sợi tơ vàng đánh dấu bằng hoa Bân Bấn tím
Đêm về mẹ ngồi dệt cửi
Dệt cửi là dệt súc
Bán cho dân chài làm lưới làm vó
Ngọn đèn dầu lạc không ngủ
Thức với mẹ đêm đêm
Những tấm súc tơ vàng gói vuông bỏ vào đẫy vải
Cha tôi quẩy trên vai đi chẩy Kiến An Hải Phòng
Nghệ An…
Bán cho ngư dân dọc suốt bãi bể chân trời
Chả ai nhớ tên cha tôi
Họ chỉ nhớ ông bán súc người Thanh Hóa
ít nói hay cười
Lớn lên tôi nói giọng cha cười nét môi cha
Như thể
Dẫu đi đâu về đâu đến bao giờ
Tôi không lẫn vào ai được
Chỉ rặt một màu Thanh Hóa mẹ cha tôi

VI.

Năm 1950
Cha mẹ tôi chạy Tây
Lên cắm lều bên bờ lở sông Mã
Những túp lều lúp xúp
Ngày mưa ướt át
Sân ngõ đổ dốc
Một ngọn bầu leo cũng phải lao đầu xuống thấp
Cái chòm xóm mép sông
Lịch kịch củi lửa suốt đêm
Những chum vại nồi chảo lỉnh kỉnh
những thùng chượp đóng nỏ rút mắm cốt
Người lặn bắt tôm hùm ở Đảo Mê nói:
Mắm cốt xứ Thanh uống vào chống rét
Bây giờ
Người ta làm phim chân dung tôi
Được trở lại thăm chòm xóm cũ
Đất lở người mòn
Trời xanh đứt ruột
Sông chảy về đâu?
Không nghe tiếng ai than chỉ nghe tiếng sông cười

VII

Họ hàng dòng tộc qua bao thời
Người lên núi Nhồi làm nghề đục đá
Đục đá thành con nghê đặt ở sân chùa
Thành con rồng lượn qua cung điện
Thành ông hộ pháp quan võ quan văn
Thành chú tễu cười suốt năm suốt tháng trước cửa
đình làng
Thành khánh đá đắp nơi điện thờ nhà Nguyễn
Mang mãi tận Pa ri thủ đô nước Pháp mà đặt
Tiếng khánh đá âm i trong trời ám ảnh
Đi đâu về đâu đến bao giờ
Tôi cứ thấy lẫn lộn
Trái tim trong ngực đập âm âm tiếng đá núi Nhồi.
Người thì neo đậu bên sông Cốc - sông nhà Lê
Cùng với dân tứ chiếng lập nên làng nghề sành sứ
Những nồi đất làng Vồm
Chum vại làng Đông Hương
Nhỡ không may gặp ông xã ông huyện
Làm phật ý các ông đập vỡ
Cầm mảnh vỡ nhận ra đất làng
Đất có mầu đỏ của lửa
Màu sẫm đen của than
Luyện nên người Thanh Hóa
Mãi mãi mới luyện cho be bé một tôi
áp tai vào đất quê
Nghe gọi hồn vía tự nghìn kiếp xưa
Tôi mang hồn vía của than lửa
Mà tan vào đất mà bay vào trời
Xuống âm phủ gặp ma quỷ hỏi
Lên thiên đàng gặp tiên thánh hỏi
- Mày ở đâu?
Tôi nói
Tôi: Người Thanh Hóa
ở cái làng biển ăn sóng nói gió
Ai khoe khoang chi cũng mặc
Người ta xiêm áo làm duyên
Làng tôi buồm đắp qua đêm lạnh lùng
Sống như mấy chú dã tràng
Xây non mà chẳng được làm núi non
Đất thừa lại thiếu áo cơm
Bỏ quê khất thực tứ phương nhà người
Bảo rằng tục lệ mà chơi
Nón mê gậy bị khắp nơi tung hoành
Thành hoàng ơi! Là thành hoàng
Thiêng chi mà để cháu con mang điều.

VIII

Người ta nói:
"Dân Thanh Hóa là dân rau má"
Không biết người đi tìm rau má
Hay rau má bền bỉ len lỏi vào cỏ gạch vỡ
Chân tường góc phố mà xanh
Một màu xanh làm ra câu thành ngữ
"Đói thì ăn rau má
Chớ ăn quấy quá mà chết"
Rau má bò qua cơn khát
Rưng rưng rau má ngỏ lời
Xa quê giữ  lấy nét người kẻ quê
Đói no lựa cách vỗ về
Cao sang không biết ghét chê nghèo hèn
Ném vào những cuộc đua chen
Biết nhường nhịn biết vượt lên bằng người
Cười như tiếng Trạng Quỳnh  cười
Khóc như tiếng khóc núi Nhồi Vọng Phu
Vượt vời cất tiếng hò dô
Dọc ngang vạch đất dựng bờ làm sông…
Rau má là tôi là anh
Cứ xanh mắt lá hiền lành là ta.
            Thành phố Thanh Hóa
             Thanh minh Bính Tuất 2006

                             V.Đ




Phạm Ngọc Cảnh


Có một lần…


Ngõ phố hẹp
Ô tô không vào được
Mà Bác Hồ đến thăm.

ông lão nghèo của phố
Đốt nén hương
Trước cành đào hé nụ
Để đón mùa xuân sang.

Xuân chưa sang
Bác Hồ đã đến

Ngõ phố nghèo
Không đá hoa cương tạc dòng kỷ niệm
Chỉ có nén hương
Trước lúc giao thừa.

Ông lão cũng không còn
Di chúc lại ngõ phố nỗi nhớ
Rằng…

Có một lần xuân đến
Bất thần xuân đến
Ngày xưa…
               P.N.C





Lê Thị Mây


Trên cánh đồng rạ


Đi qua cánh đồng rạ
Không ai nhận biết ra em

Không ai nhận biết hạnh phúc còn đôi hạt
Sinh nở mùa thu

Không ai nhận biết tình yêu của em
Trên cánh đồng thơ ngây còn đôi hạt

Đi qua cánh đồng
Hằng ngày anh đi qua cánh đồng trên những ngón
 chân đêm
                        
                    L.T.M


More...

THƠ DỰ THI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

VIÊN LAN ANH

 

Nói với anh


Em chỉ xin anh đừng lạnh lùng như thế
Đừng cách xa bằng ánh mắt dửng dưng
Đừng trừng phạt em bằng câu nói nửa chừng…
Em mịt mùng hoang mang trước lòng anh khép cửa.

Em dại khờ và em nông nổi
Để anh buồn anh giận không nguôi
Giá như em kém cỏi ở trên đời
Chưa từng được anh yêu dìu dắt
Thì giờ đây lòng em đâu đau thắt
Buồn như thu và giá lạnh như đông…

Trong tim anh còn hình bóng em không?
Hãy cho em dù một giẻ than hồng
Em ủ lửa xua mùa đông giá lạnh
Nếu tình ta chỉ còn là ảo ảnh
Em xin Người hãy quên chuyện ngày xưa…

Hãy xua em ra khỏi cõi lương duyên
Để em biết và xa anh mãi mãi
Nhưng đừng giam em trong ngục lòng tê tái
Bằng thờ ơ lạnh nhạt đến nhường kia…

                             V.L.A






VIÊN LAN ANH


Nẻo quê


Ngọt ngào mưa bụi rơi rơi
Phố phường đông đúc chân người lại qua
Hình như hoa nở hiên nhà
Hình như bến nước con đò xốn xang

Giữa đường lòng bỗng mênh mang
Hình như ai gọi khẽ khàng: Mít ơi?
Hồn dâng một nỗi bồi hồi
Tiếng bà ta gọi từ nơi suối ngàn!

Thế mà đã trọn ba năm
Âm dương cách biệt xa xăm cõi người
Tết nay đã mấy tết rồi?
Vườn xuân vắng bóng bà tôi tảo tần.

Còn đây một rặng tầm xuân
Còn đây một dậu tơ hồng nôn nao
Còn đây chày gạo cầu ao
Bình vôi lẻ bóng ao bèo biếng xanh

Con đi rực rỡ đô thành
Mà the thắt nhớ trầu xanh cau già
Thấp cao bước bảy bước ba
Rồi ra chỉ chốn quê nhà bình an

Mới hay những chốn cao sang
Chắc gì sánh được hồn làng bóng quê
Thành đô con sống vụng về
Nhưng con có cả nẻo quê nhớ mình.
                V.L.A




NGUYỄN TRỌNG LIÊN


Giá mà


Giá mà trái đất ngừng quay
Cho con trở lại những ngày xa xưa
Giá mà không có mong chờ
Cho con cứ sống thờ ơ với đời
Giá mà vẫn có một người
Đứng như tượng ngắm một trời xa xăm
Giá mà đừng có tháng năm
Mái hiên khẽ giọt thời gian sang mùa

Lung linh một ánh sao xưa
Bóng con chim két trong mơ lạnh lùng
Giá mà chẳng có núi sông
Cho con đi với mênh mông nỗi buồn
Giá mà đôi cánh tay ôm
Cho ân ái mẹ cho bồn chồn ta
Giá mà sao ấy dù xa
Đừng vội tắt như đêm qua giữa trời

Giá mà mưa lạnh không rơi
Cho ai xa vắng một thời nuôi con
Giá mà đừng có oán hờn
Cho sương rơi lạnh chân cồn sương rơi
Giá mà chỉ giá mà thôi
Mười phương phật. chín phương trời biết chăng?

Năm canh sáu khắc đãi đằng
Chia nhau một bãi hoa phăng trắng rừng


                                      N.T.L




NGUYỄN TRỌNG LIÊN

 
Lên chùa


Em bưng mâm oản lên chùa
Nắng chiều xế vạt cỏ thưa sân trình
Sắc màu đỏ tím lung linh
Và vòng tay múa chầy kình xen chuông

Thương em má phấn môi hường
Mà long đong đến thắp hương gọi hồn
Tòa sen phảng phất mùi thơm
Ngoài trời gió lạnh vẫn còn thấu xương

Hai con chó đá đầu đường
Toác mồm ăn gió ngậm hương cả đời
Sắc màu nhé sắc màu ơi!
Ai cầu cho Phật nhớ lời vì em?
            Mùa Đông 2007
                  N.T.L





TRẦN THỊ NGỌC LAN



Gửi câu hát lại


Mẹ ơi năm tháng ngày xưa
Có gì đâu đứa trẻ vừa sinh ra
Hoa trạng nguyên đỏ trước nhà
Con nằm mở mắt trông và ước mơ...

Mẹ ơi một quãng đời thơ
Trái tim trong trắng không nhơ bẩn gì!
Con về cha đã ra đi...
Đất đai đang hát lời gì ngợi ca?

Mẹ ơi trên chặng đường xa
Con đi và gặp người là vĩ nhân!
Núi sông rộng đến vô ngần
Và con chập chững bàn chân lên đường.

Cái gì như thể quê hương
Vẳng nghe tiếng sóng vô thường biển xa
Có ai trẻ mãi không già
Dòng sông ngang dọc con phà tình yêu

Trái tim thảng thốt rất nhiều
Mẹ ơi con khóc bao nhiêu là ngày
Cúi hôn xuống một bàn tay
Người cho con cuộc sống này ước mơ

Ba mươi năm đến bây giờ
Cuộc đời con trắng như tờ giấy thôi!
Tại sao nợ đất nợ trời
Nợ cha nợ mẹ nợ người tri âm?

Tiếng chim lúc bổng lúc trầm
Mùa xuân đang hé nụ mầm tươi non
Con bây giờ vẫn là con
Hình như hạnh phúc đang còn đâu đây?

Có gì đâu nỗi đau này
Con như chim trắng lại bay bên đời
Con đi về phía biển khơi
Gửi câu hát lại cho người cất lên!

Vô cùng năm tháng lãng quên
Sao con vẫn nhớ quê miền trung du?
Bao lần đi dọc sông Chu
Nghe dâng lên những mùa thu rực vàng...

Trời xanh nghiệt ngã chói chang
Tình yêu trả giá muôn vàn hy sinh
Một chiều dạo bước Lam Kinh
Nghe ngàn năm đã trở mình mẹ ơi!

                            Thọ Xuân 28-1-2008
                                      T.T.N.L




HOÀNG QUỐC CẢNH


Trước thềm xuân



Như kiệt nhựa mùa đông cây trụi lá
Chợt bừng lên chồi biếc trước thềm xuân
Sự sống hồi sinh từ ruột đất
Mùa xuân mang sức sống diệu kỳ.

Cành non khoe chồi lộc biếc
Chiếc lá xinh xanh mướt cả sườn non
Gốc cổ thụ sần sùi năm tháng.
Cuộn dâng dòng nhựa trắng nuôi mầm.

Xuân cứ thế ngàn năm xuân vẫn thế
Vẫn tươi nguyên sắc thắm hoa đào
Cho em bé được thêm tuổi mới
Như mầm cây ngày một vươn cao

Trí tuệ mới làm bừng lên sức trẻ
Tự tin hơn để mạnh bước vào đời
Và ai đó quá nửa đời sương gió
Cũng trào dâng mạch sống muôn nơi.

Nhịp thời gian điểm vòng quay sự sống?
Từ hồng hoang sự sống đã đâm chồi!
Qua nắng lửa giá băng cát bụi...
Khi xuân về sự sống vẫn non tươi.

                           Mồng 5 tết Giáp Thân 2004
                                         H.Q.C




HOÀNG QUỐC CẢNH


Tự vấn đầu xuân



Quyện bay giữa niềm hư thực
Nhắc ta về cõi vô thường
Lời Phật không không... sắc sắc
Đời người như bóng mây vương.

Đói nghèo buộc ta gom nhặt
Lo đời mình đến đời con
Khổ đau gửi vào cõi phật
Trăm năm tính chuyệnVuông Tròn.

Tự trói mình vào phép tắc
Của Thiên trả Địa thôi mà.
Hãy để cho lòng thanh thản.
Ngoài kia Nắng đẹp và hoa!

               13h30 Mồng 3 tết Đinh Hợi 2007
                                  H.Q.C


HOÀNG QUỐC CẢNH

 

Ký ức


Tuổi trẻ của tôi...
Một thuở đội mưa đi giữa bưng biền.
Dưới chân không lối mòn
Bùn ngập trên thắt lưng
Cụm hoa lục bình che ngang mặt
Màu tím nhạt nhòa trong hoàng hôn.


Phía trước chớp bom lẫn với chớp trời
Mưa giăng kín
Đồng đội tìm nhau qua tiếng hú.

Sau mỗi trận đánh
Nồi cơm vơi đi quá nửa
Những đứa còn lại nhìn nhau
Buồn đau...
Nhưng không có nước mắt.

Nhịn cơm mà vẫn chơi chọi gà
Những con gà chọi cổ đỏ au
Đầy những vết bầm và máu
Ông chủ ngồi ngoài mắt nhìn đau đáu
Xót như dứt ruột của mình.

Đầu ngọn kênh có nhà “Ba cô”
Cả ba cùng xinh
Lính tiểu đoàn rất thích.
Cô chị cả yêu anh tiểu đoàn trưởng
Đen troay nhưng lại hay cười
(Đã chết trong trận đầu chiến dịch)
Cô Hai yêu đội trưởng Xê ba (C3)
(Có vóc dáng thư sinh
Và cây “côn” luôn trễ trước bụng)
Cô ba tên Huệ
Mới mười bảy tuổi
Xinh như nụ hoa
Mỗi lần bơi xuồng qua
Tôi chỉ dám nhìn...
Cái bóng dập dềnh
Theo vòng sóng lan tỏa
(Tôi ghen với lão Khóa y tá
Hắn nhiều râu nhưng mắt rất si tình).

Rừng U Minh đầu mùa mưa
Màu xanh non của lá trải dài
Phía xa mênh mang nước và trời xanh ngắt
Bình yên như không có chiến tranh.

Có một đêm tôi đi giữa hoa tràm
Bồng bềnh mênh mang như trong mơ.

                      Chiều mưa buồn 19-5-1999
                                      H.Q.C




ĐÀO MINH SƠN

Hoa bưởi


Về với quê anh
Về với tháng ba
Về với vườn nhà ngọt ngào hoa bưởi
Để được một lần bổi hổi
Rưng rức gió lùa hương bay
Mẹ thương em hái nhẹ tay
Thả từng cánh hoa vào nồi nước lá
Ngồi nhìn tóc em thon thả
Thao thiết giếng làng trong veo

Dẫu đi xa vẫn nhớ quê nghèo
Hương hoa bưởi dấu vào trong tóc
Thương tay mẹ
(Đôi bàn tay một đời khó nhọc)
Lùa vào tóc con viên mãn tóc con

Tháng ba này mẹ chẳng còn
Lá bưởi vườn nhà rụng rơi lả tả
Nỗi buồn con ru vào sắc lá
Để quả trái mùa “ăn ngọt nót the”

Tháng ba này con trở về
Bên mộ mẹ
Ngậm ngùi
Hoa bưởi.
                        
                         Đ.M.S




ĐÀO MINH SƠN

Ký ức


Thương cha mấy mùa khản giọng
Về quê: ơi đò... đò ơi...
Con bắt chuồn chuồn cắn rốn
Nước mắt lặn vào giấc mơ

Đã lâu không về quê cũ
Nỗi người xa xứ lang thang
Hình như tiếng cha đang gọi
Đò ơ... trên sóng mang mang

Xưa mỗi lần về bên ngoại
Mỗi lần một dịp lụy sông
Trên vai đứa con nhấp nhổm
Cha tôi ngụp lặn giữa dòng

Cầu đã bắc rồi cha ơi
Đường làng mình giờ rải nhựa
Bến Lội không ai lội nữa
Mà sao tiếng cha gọi đò?

Bao năm con đi cứ lo
Cha lại vượt sông về ngoại
Mẹ mất nhà mình trống trải
Cha về tìm kỷ niệm xưa

Cầu đã bắc rồi cha ơi
Như sắc cầu vồng vời vợi
Chắc thương con sông đứng đợi
Gửi con một tiếng gọi đò.
                             

                                  Đ.M.S


More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh



Miên man kỷ niệm

Chan chứa sức quê

 (Đọc tập thơ Bản thảo 1 củaTừ NguyênTĩnh  NXB Hội Nhà văn 2007)

                         
                                                                NGUYỄN ĐỨC THIỆN
 
 
 
 
 
         Từ Nguyên Tĩnh gửi tôi tập Bản Thảo 1 với lời đề tặng: “Thân mến Tặng anh Nguyễn Đức Thiện đọc chơi”. Đọc chơi thế nào khi nó là một tập thơ hoàn chỉnh với 67 bài thơ trên những trang giấy trắng tinh thế này. Người viết nhất định phải  quen với mấy dạng được coi là bản thảo. Thứ nhất là những trang viết còn nằm trước mặt tác giả. Nó có thể nhôm nhoam gạch xóa be bét móc ngang móc dọc tóm lại là chỉ tác giả mới có thể đọc được. Thứ hai vẫn là những trang viết trước mặc tác giả nhưng đã ngay hàng thẳng lối sạch như lau nhưng tác giả còn muốn nhìn ngắm nó thách thức nó xem nó có đủ gan mà nhảy vào cuộc sống hay không? Dạng bản thảo này nhiều khi làm cho tác giả sướng điên lên được nhưng cũng có khi khiến tác giả cứ phải nghi ngờ ngay chính mình. Thứ ba là bản thảo nằm trước mặt biên tập sau khi nó có thể lăn lóc trong thùng thư quăng quật trên xe thư hoặc mát mẻ đi bằng máy bay cũng có thể chỉ vèo một cái sau khi gõ cái cóc vào enter là nó hiện ra trên màn hình vi tính của người biên tập. Lúc này đây số phận của bản thảo sẽ được lưu trữ trong tập “bản thảo không in không trả lại”. Để rồi sau đó ít thời gian nó sẽ làm mồi cho lửa hoặc vào gánh hàng “vỏ chai lông vịt” nào đó. Thế nhưng với Từ Nguyên Tĩnh thì không Bản Thảo 1 của ông được in ra đàng hoàng. Giấy trắng mực đen hẳn hoi nhưng rõ ràng vẫn là bản thảo. Tức là vẫn giữ nguyên vẻ thô của chất liệu sống chưa gọt rũa và chưa được tinh chế theo kiểu các nhà thơ vẫn làm. Nhưng nó lại hợp với không khí thơ bây giờ. Niêm luật bỏ qua. Vần điệu bỏ qua. Cái còn lại trong thơ chính là chất liệu sống mà tự bản thân nó thành thơ.
Từ Nguyên Tĩnh là một nhà văn. Văn ông vốn ngổn ngang người ngổn ngang việc ngổn ngang đời trong những trang viết. Thế nên khi buông bút làm thơ thì thấy ngay những thứ ngổn ngang ấy. Mỗi một bài thơ trong Bản Thảo đều có thể kể thành một chuyện. Này là anh nhà văn trẻ: thuở nhỏ tưởng mình làm được vĩ nhân khi làm được một bài thơ. ưỡn ngực ra đọc tưởng mình là người cứu nhân loại từ bài thơ mình làm ra tưởng thơ làm được tất cả. Nhưng rồi người trẻ cũng nhận ra hình như mình kém tài mình tự dối mình. Nhưng thương thay người ta thường sống nhờ ảo giác ảo giác làm mình chẳng sợ ai cả nhờ thế mới tồn tại người thơ mới liều mình như chẳng có vật vã với bầy con chữ cho thiên hạ mà cái ta được chẳng là bao. Này chuyện văn chương Từ Nguyên Tĩnh kể rằng: cái anh nhà thơ mộc mạc giản dị lắm. Vì chót mang cái hồn cốt dân tộc rồi thì thơ cũng vậy thôi. Thơ hay ở trên cao vài người nhỏ to đọc cho nhau nghe rồi nhâm nhi sự sung sướng. Còn như thơ kém dưới thấp thì thật thảm hại ngu ngu dại dại. Chuyện kể như thế tưởng như xong ai dè Từ Nguyên Tĩnh buông: văn chương là khoảng trống/ cho người tài mọc lên (Văn chương). Khi đọc đến câu này cứ băn khoăn: khoảng trống nào? Khoảng trống ấy có thực hay siêu thực? Nó có phải là một khoảng trống cho mầm cây mọc lên hay chỉ là khoảng trống trong mơ hồ mà ở đó những người yêu thích văn chương chen vào lấp đầy khoảng trống ấy bằng chữ của mình bằng ý tưởng của mình rồi mong đợi chữ và ý tưởng của mình góp một cái gì đó cho thiên hạ cho đời? Cuối cùng mới nhận ra rằng văn chương là một mảnh đất như bao nhiêu mảnh đất theo nghĩa đen khác ở đó có những mầm cây mọc lên. Có những cây cho trái chín ngọt lành lại có cây cho hoa độc trái độc. Và ở đó khi người tài mọc lên thì sẽ cho chúng ta những thứ cây quý giá. Thông cảm với nhà văn Từ Nguyên Tĩnh vốn mang cái nghiệp văn chương vào thân mà ông đưa ngay những quan niệm của mình về văn chương ngay những trang đầu của tập Bản Thảo 1. Khác với những người làm văn chương khác khi họ lập những tuyên ngôn rất kêu về nghề nghiệp văn chương thì Từ Nguyên Tĩnh coi nghiệp văn chương cũng chỉ như một thứ nghiệp của bao nhiêu con người khác như làm ruộng làm thợ mà thôi. Cho nên ông viết: Trước vô biên/may mà có ảo giác/cuộc đời trở nên dễ chịu/thật ra cái ta làm được chẳng là bao. (ảo giác văn chương thời trai trẻ). Tôi một người cày cuốc trên trang giấy/Đen và trắng thô và mịn màng/ từng nín thở chờ đợi người nhận bài ghi vào sổ tên mình/... Nhưng nhiều lần thất vọng/ vì tên mình không đến được chân trời. (Bản Thảo).
Cả tập thơ là một chuỗi đi và nghe đi và nhìn đi và suy ngẫm. Tất cả bề bộn của cuộc đời cứ thế trải ra. Và tôi cũng đi theo cái mạch tâm tưởng đó của ông mà đọc hết Bản thảo 1. Ông đi nhiều nơi ông thấy nhiều chuyện thấy nhiều người. Mấy chục bài thơ là mấy chục cách nhìn khác nhau biến ảo lung linh. Khi thì vào chùa chốn thâm nghiêm. Thì cũng như sư cũng tiểu tiếng cầu nguyện râm ran. ở đây dễ cho ta ảo giác về sự ngộ sự thâm nghiêm có thể quên được những hỷ nộ ái ố mà thoát tục. Mỗi tiếng chuông chùa vang lên thì từ trong thinh không vọng lại một tiếng gọi nhân ái. Phải thế không? Dùi chuông gõ vào chuông thì thành tiếng từ bi còn đầu trọc của sư thì gõ vào da trời chẳng bao giờ có được tiếng kêu. Một năm cũng vậy và ngàn năm cũng thế thôi lòng tin của con người cứ phải tìm chỗ mà dựa dẫm. Không dựa dẫm được thì dựa vào chốn thinh không quên tất cả và tự huyễn hoặc mình đó là niềm tin. Từ Nguyên Tĩnh không thoát ra được cái gốc chân quê mình. Có điều cái anh chân quê Từ Nguyên Tĩnh bây giờ biết dùng chữ biết lấy cái thật chân quê mà quăng lên trang giấy để mọi người đọc và bảo tôi “đọc chơi” khi đề tặng. Người chân quê vào thơ Từ Nguyên Tĩnh hồn nhiên lắm thanh thản: Vòng đời coi bé tày gang/ giang sơn là gánh cung quăng ra đồng/ cưỡi trâu lên tận cung trăng/ mà xem vũ trụ to bằng cái nong. (Nông dân). Có một nơi mà Từ Nguyên Tĩnh cũng không thoát ra được. Đó là đời lính. Cũng như bao nhiêu người lính khác thoát ra khỏi cuộc chiến tranh rồi lâu lâu lại chợt nhói đau khi nhớ đến cái thời bom đạn không có mắt đốn chặt thân xác người lính hủy diệt người lính để đến tận hôm nay vết thương vẫn chưa lành. Không bằng lối viết cảm thán như những người làm thơ khác Từ Nguyên Tĩnh cứ túc tắc mà kể. Chuyện trong thơ ông cứ như chuyện ở cửa miệng nói ra bình thản từ tốn nhưng chứa chất trong đó là một nỗi xót xa. Có thể nghe rồi ngẫm ngẫm rồi đau đau rát rạt về những mất mát trong cuộc chiến tranh xưa. Đó là chuyện ông chú sau chiến tranh vết thương khiến ông mắc bệnh tâm thần. Với vợ ông về là may mắn lắm rồi. Khi tỉnh ông bảo: Sao không chết trong chiến tranh mà còn về làm khổ vợ. Người vợ đã từng khấn trời cho ông về dù đui què mẻ sứt gì cũng được ông về là được. Ông đã về người vợ lại chịu đựng những cơn điên loạn của chồng và khóc: Thương chú mày cả đời trận mạc/ mở cửa - không một tấm bằng. (Chú tôi). Rồi có những người chồng sau chiến tranh trở về không chết vì vết thương không chết vì đói nghèo mà chết vì chất độc mầu da cam. Người chết nằm trong quan tài đâu có biết: Người vợ khóc không ra nước mắt/ đứa con nhốt trong cũi không biết mẹ nói điều gì/cười rất ngây thơ. (Khóc chồng). Đứa trẻ cười ngây thơ xót xa thay nó đâu có biết nó được truyền vào máu cái thứ chất đã làm cha nó chết. Càng đọc càng thấm thía tình cảm của Từ Nguyên Tĩnh với những người đã cùng anh kề vai sát cánh trong cuộc chiến đấu sinh tử với kẻ thù ngày trước. Những người đã từng tham gia cuộc chiến đấu oanh liệt trước đây thường tự hào rằng họ có một cuộc đời đầy những gian khổ hy sinh nhưng đó là lại là những ngày sống đẹp nhất của cuộc đời. Đó là những ngày vô tư đón nhận thử thách và sống với nhau chân tình nhất. Nay đất nước bình yên có người đi xa vĩnh viễn. Cuộc sống thời bình và tiếp theo một thế hệ những ngày xa xưa đã lùi vào dĩ vãng nhớ đến đồng đội xưa chắc chỉ còn những người lính một thời. Vì thế đứng trước bia mộ bạn mình Từ Nguyên Tĩnh có thể kể về tính nết về thói quen về kỷ niệm của bạn giống như chuyện mới của ngày hôm qua chuyện mới gặp đó. Mỗi câu thơ viết cho bạn như một lời tự tình như một khúc tưởng niệm. Tưởng niệm về quê hương về những cuộc hẹn hò về những ngày thơ bé về những ước mơ trước cổng trường đại học... Những chuyện ấy được găm lại trong trí nhớ của người làm thơ kể từ khi: Chúng mình có cả ngàn ngày/ngự trên lưng Rồng/cả ngàn ngày/trong khói bom/ngồi trên pháo... Rồi tất cả trôi tuột vào quá khứ tất cả chỉ còn là một cây sáo thổi cho người con gái mình yêu ngâm thơ nhưng tấm bia đủ gợi lại cho những người cùng thời nhớ lại một thời oanh liệt đã qua. Từ Nguyên Tĩnh viết về một bàn tay của đồng đội đã mất đi trong chiến tranh vẫn mang theo niềm vui tiếng cười làm sinh động thêm những ngày khốc liệt về những đêm trăng đi chiến dịch về trận địa bên đầm sen về bữa cơm sau trận chiến có cái bát thừa ra khi có người hy sinh. Từ Nguyên Tĩnh miên man với những kỷ niệm một thời. Tôi biết chắc một điều những bài thơ hôm nay in trong Bản Thảo 1 không phải là những ghi chép thời xưa của ông mà ông nhớ lại nhớ đến đâu chép đến đó nên nó cuồn cuộn như dòng chảy không thể dừng. Tôi còn tin những dòng ghi chép ấy sẽ còn được tiếp tục trong suốt đời văn của ông: Nếu anh ngã xuống lúc này/nỗi đau của anh cùng máu của anh lặn vào trong đất/ và hòa bình tới/cỏ cây xanh ngát/ nhìn ở đâu em cũng thâý màu xanh/em sẽ thấy ở nơi nào cũng có tình yêu của anh/nhuộm xanh/ từng lá cây ngọn cỏ. (Nếu anh ngã xuống lúc này). Chính lúc này đây thơ ông đang nhuộm xanh những kỷ niệm để kỷ niệm một thời mãi xanh nguyên.
Thế nên bỗng gặp được bài nào ông viết cho hôm nay thấy ngay một không khí hoàn toàn khác. Nó sinh động giống như một bức tranh tả chân với đầy đủ sắc mầu cuộc sống. Chiều sông Chu điệu hò Thanh Hóa đi chơi nói chuyện với con trâu... là những bài thơ như thế. Có lúc thì uyển chuyển trữ tình lúc thì hóm hỉnh chua cay lúc lại nghiêm túc chỉn chu và không thiếu những câu những dòng rút ra một triết lý gì có vẻ như ngang tàng nhưng không thể...cãi được. Làm người Thanh Hóa đi em là bài thơ có đầy đủ những gì mà tôi đã nói ở trên. Em ơi về Thanh Hóa làm người Thanh Hóa đi em. Thanh Hóa có truyền thống anh hùng có những người đàn bà thủy chung nuôi chồng đánh giặc Thanh Hóa có bao nhiêu truyền thuyết đi vào lịch sử đi vào lòng người đủ hấp dẫn em không. Em hãy làm người Thanh Hóa đi ở đó còn có những người Thanh Hóa “ăn” sóng “nói” gió ăn thật nói thà nhưng không thiếu câu hát ví von làm xao xuyến lòng người... Tóm lại Thanh Hóa có biết bao nhiêu điều hấp dẫn người ta thì em ơi sao không về làm dâu Thanh Hóa đi. Tưởng khoe như thế là gợi lắm nhưng không phải chẳng qua Từ Nguyên Tĩnh mượn chuyện chào mời mà nói về Thanh Hóa nơi mà có lẽ ông là người thông kim bác cổ có thể đọc ra được viết ra được kể ra được cho thiên hạ hàng xứ biết. Còn với cô gái được chào mời kia thì: Về Thanh Hóa đi em/làm một người bình thường/làm dâu/con... Tức cười cho cái nhà ông này ông mời tôi về Thanh Hóa làm người bình thường thì mời làm cái chi? Thế nào cũng có người chất vấn ông như thế thì nhất định Từ Nguyên Tĩnh sẽ cười mà rằng: chứ tưởng làm người Thanh Hóa bình thường dễ lắm sao? Làm người Thanh Hóa để đi đâu cũng có thể xưng danh: Thanh Hóa quê choa cũng nhọc nhằn lắm đó. Nhọc nhằn từ thuở Bà Triệu cưỡi voi xuống biển Đông chém cá kình lên rừng xanh bắt cọp dữ kia mà.
Gấp Bản thảo 1 của Từ Nguyên Tĩnh lại tôi vẫn thấy chứa chan những tình cảm của ông với thời trận mạc xưa. Cũng không thiếu tình cảm của một người con xứ Thanh dạt dào về những nhọc nhằn của vùng quê có rừng có biển với sóng gió mênh mang. Cuộc sống thô nhám hiện ra trong thơ ông. Đọc ông là đọc những câu chuyện dài về trọng trách và nỗi niềm của người lỡ mang nghiệp văn chương. Tôi điện thoại hỏi ông: “Thế bao giờ có Bản Thảo 2 Bản thảo 3...” Từ đầu dây bên kia vọng sang: “Có có chứ nhất định phải có...” Giọng ông tràn trề tin tưởng. Và tôi cũng tin ông.

                                         Những ngày nghỉ Tết Mậu Tý
                                                      N.Đ.T

 
 
 
 
 
 
Trường ca về một thời dựng nước

 
Đọc trường ca “Đất nước thuở Hùng Vương” của nhà thơ Mạnh Lê

 

                                                             HOÀNG TRỌNG CƯỜNG
 
 



        Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”.
Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng nàng là giống tiên thủy hỏa khắc nhau chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt nhau chia 50 con theo mẹ về núi 50 con theo cha về Nam Hải phong con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi vua.
Hùng Vương lên ngôi đóng đô ở Phong Châu đặt quốc hiệu là nước Văn Lang. Chia nước làm 15 bộ. Đặt tướng văn gọi là Lạc hầu tướng võ gọi là Lạc tướng. Con trai vua gọi là quan lang con gái vua gọi là mỵ nương. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương”. (Đại Việt sử ký toàn thư-NXB Khoa học xã hội-Hà Nội 1983-trang117 118).
Như vậy thời Hồng Bàng (khoảng từ năm 2879-258 trước công nguyên) thời các vua Hùng nước Việt đã là một quốc gia một Nhà nước với các thể chế văn hóa chính trị. Nói cách khác thời của các vua Hùng cũng là thời bình minh dựng nước của lịch sử dân tộc Việt Nam ta.
Công cuộc dựng xây đất nước từ cái thuở ban đầu: Lập làng trị thủy chống giặc ngoại xâm... với bao kỳ tích ấy chỉ được truyền đời qua những truyền thuyết dân gian. Các truyền thuyết với một cái lõi là sự thật lịch sử và một lớp vỏ bọc nhân ái thơ mộng của trí tưởng tượng dân gian thực sự là những tác phẩm văn hóa quý báu về cái thời quá xa xôi của lịch sử dân tộc. Trong số các truyền thuyết còn lại đến chúng ta ngày nay thì những truyền thuyết về thời các vua Hùng khá đậm đặc. Có điều mỗi truyền thuyết đều tồn tại một cách độc lập thiếu tính hệ thống. Vì vậy trong mỗi chúng ta đều mong muốn được đọc được xem một tác phẩm văn học thành văn thể hiện một cách bề thế công phu về cái buổi ban đầu dựng nước của các Vua Hùng.
Cũng trăn trở về tâm niệm ấy nên sau thành công của hai trường ca: “Lửa Hàm Rồng” và “Người đánh thức đất đai” thì ngay những ngày đầu năm Mậu Tý (2008) này nhà thơ Mạnh Lê đã trình làng trường ca “Đất nước thuở Hùng Vương” - NXB Hội nhà văn - Hà Nội 2008 một trường ca khá bề thế mà ngay từ cái tên của trường ca này đã gây ấn tượng về tính hoành tráng của chủ đề và nội dung  tác phẩm.
Bản trường ca gồm 9 chương: Chương một: Đất Tổ; chương hai: Trị thủy; chương ba: Đỏ thắm môi người; chương bốn: Đánh giặc; chương năm: Lễ truyền ngôi; chương sáu: Ráng cầu vồng bảy sắc; chương bảy: Cây trên đảo; chương tám: Mặt trời lúc rạng đông; chương chín: Cánh chim Lạc Việt. Với 1145 câu thơ.
Trong trường ca nhà thơ Mạnh Lê đã sử dụng tám truyền thuyết dân gian là: Truyền thuyết bọc trăm trai; truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh; truyền thuyết trầu cau; truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương; truyền thuyết bánh chưng bánh dày; truyền thuyết Chử Đồng Tử; truyền thuyết Mai An Tiêm; truyền thuyết núi Đồng Cổ. Và chương kết tác giả đã đưa hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh người con ưu tú của dân tộc Lạc Hồng người Anh hùng của thời đại đã dựng nên một nước Việt Nam mới dân chủ cộng hòa ở thế kỷ XX tiếp nối truyền thống của các Vua Hùng như một truyền thuyết về cánh chim Lạc Việt.
Có thể nói chín chương của trường ca là chín truyền thuyết. Cái khó là từ bao lâu nay đây là những câu chuyện rời và các nhân vật trong các câu chuyện kể ấy đã rất quen thuộc. Đã hóa thành tên đất nước núi sông đã thành đền đài; đã bất tử trong tâm linh trong ngưỡng vọng của mỗi người dân Việt. Liên kết tất cả các mảnh rời từ những đề tài khác nhau của các truyền thuyết ấy thành một thể thống nhất trong một chủ đề mà vẫn đảm bảo sự xuyên suốt của tư tưởng sự chân thực của lịch sử  là một việc làm không dễ dàng. Thành công của Mạnh Lê cũng chính là ở điểm này. Đọc toàn bộ thiên trường ca không thấy bị gợn. Đất nước thuở Hùng Vương hiện rõ từ thuở cội nguồn bắt đầu từ  bọc trứng để ta càng hiểu sâu thêm cái nghĩa đồng bào; qua bao công cuộc lao động chiến đấu chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt với kẻ thù hung bạo để tạo lập và dựng xây đất nước. Núi sông những con người từ thủy tổ của đồng bào: Lạc Long Quân và Âu Cơ; những anh hùng dũng tướng: Thánh Gióng Sơn Tinh... ; hoàng tử: An Tiêm; Công chúa: Mỵ Nương... đến những người dân: Chử Đồng Tử Tân Lang nàng Liên...Với những chiến công những tâm tình những hoàn cảnh số phận ước nguyện khác nhau nhưng đều đầy ánh hào quang của huyền thoại và chất thơ của mộng ước đã cho thấy một đất nước thuở Hùng Vương hào hùng như thánh Gióng nặng tình son sắt duyên trầu cau thơm thảo tình người tình đất ơn nghĩa sinh thành dưỡng dục vuông tròn bánh chưng bánh dày... còn truyền đời mãi đến mai sau. Trên tất cả xuyên suốt tất cả là hình tượng Hùng Vương: Người đứng đầu cả nước. Người liên kết tất cả: Thánh thần Anh hùng dũng tướng và nhân dân để tạo lập nên một nước Văn Lang rạng rỡ suốt mấy ngàn năm.
Chuyển tải và gắn kết một dung lượng thông tin đồ sộ như vậy để làm bật lên hình tượng thơ nhà thơ Mạnh Lê đã khôn khéo sử dụng lối cấu trúc chương hồi của tiểu thuyết văn xuôi kết hợp nhuần nhuyễn cùng các thể thơ một cách hợp lý. Trường ca được chia thành chín chương 27 hồi. Mỗi chương ba hồi. Hồi thứ nhất như một đại cương về vấn đề và nhân vật được thể hiện bằng thể thơ tự do. Hồi thứ hai là truyền thuyết thể hiện bằng thể thơ Ngũ ngôn (năm chữ). Hồi thứ ba như một vĩ thanh là thể thơ lục bát truyền thống. Việc sử dụng công năng của các thể thơ khác nhau cho từng hồi là một dụng công của tác giả khiến cho bản trường ca không bị đơn điệu mà vẫn đảm bảo nói được một cách tốt nhất những điều muốn nói.
Thể thơ tự do được sử dụng trong các phần đại cương của các chương trong trường ca là thủ pháp tốt nhất để tự sự và trữ tình. Tả vua Hùng anh viết:
Một người trai uy nghiêm lực lưỡng
Đầu đội mũ lông chim mình cắm hoa lau
Hai cánh tay xăm lớp lớp vẩy rồng
Vòm ngực căng phập phồng hơi thở
Tay cầm mác đồng vai đeo nỏ
Gương mặt tròn đôi mắt sáng như sao
ống mũi tên săn thú buộc ngang hông
Người bước lên trong bập bùng đuốc lửa”
“Lạc Hầu trông coi việc trồng lúa chăn nuôi
Dâng lên vua vàng hươm đụn lúa
Vua Hùng rưng rưng cầm đụn lúa trên tay như lùm quả...”
                                          (Hồi một chương một: Hùng Vương)
Sang hồi một chương ba chất trữ tình đậm đà hơn:
“Người già ăn miếng trầu thấy người ấm lại
Hương nồng cay thơm thảo tận lòng nhau
Bát nước đĩa trầu nén nhang lạy tạ
Ơn sinh thành truyền mãi tới mai sau...”
đến phần truyền thuyết kể chuyện bằng thơ hoàn toàn tự sự Mạnh Lê dùng toàn lối thơ năm chữ. Lối viết này gần với Vè kể chuyện các anh hùng (như kiểu Vè Chàng Lía) như đồng dao trong dân gian. Mạch thơ năm chữ cuồn cuộn sẽ cuốn mạch truyện đi và tạo nên dễ nhớ dễ thuộc.
Phần thứ ba của các chương trong trường ca là các khúc ngưỡng vọng. Phần này được viết bằng thể thơ lục bát cũng còn có một dụng ý sử dụng thể thơ dân tộc tinh hoa của ngôn ngữ tiếng Việt để tri âm và ngưỡng vọng:
“ Tình người ẩn ở hồn cây
Quyện vôi thành miếng trầu cay miếng trầu
Trọn đời trai gái yêu nhau
Miếng trầu câu chuyện mở đầu trầi ơi!”
                    (Khúc ngưỡng vọng Ba)
Cây có cội nước có nguồn
Trăm con một bọc nên hồn núi sông
Ngôi sao giữa mặt trống đồng
Là hình tượng Bác giữa lòng muôn dân”.
                             (Khúc ngưỡng vọng Chín)
Tất cả cái cấu trúc mạch lạc cùng sự kết hợp sáng tạo và nhuần nhuyễn thế mạnh của các thể thơ trong một bút pháp đã định hình và một giọng điệu rất riêng của Mạnh Lê đã làm nên một trường ca lớn.
Dù ta vẫn còn bắt gặp ở đâu đó trong trường ca này những câu chữ còn thô ráp song Trường ca“Đất nước thuở Hùng Vương” có thể nói là một bản trường ca đầu tiên về thuở bình minh dựng nước hào hùng. Là một món quà của tấm lòng ngưỡng vọng của tác giả cũng như của tất cả chúng ta với tiên tổ trong những ngày đầu xuân Mậu Tý; khi mà tất cả con rồng cháu tiên đang hướng về đất tổ Phú Thọ hướng về Bác Hồ với cả lòng thành kính tự hào:
“ Cội nguồn văn vắt xanh trong
Ta về đất tổ Vua Hùng dâng hương
Mở trang truyền thuyết rưng rưng
Bốn ngàn năm một con đường người đi...
Sức sống của tác phẩm như thế nào còn phụ thuộc vào lòng tri âm của bạn đọc của thời gian. Trong phạm vi bài viết nhỏ này chúng tôi chỉ mong muốn giới thiệu tới bạn đọc một tác phẩm mới viết về cả một giai đoạn dài của lịch sử dân tộc với cách thể hiện khá sáng tạo. Trường ca “Đất nước thủa Hùng Vương”(*) ra mắt công chúng âu đó cũng là một chút trả nghĩa nước của nhà thơ vậy.
                                                                          H.T.C  
_____________
(*) Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2008
 
   




Bản sắc dân tộc trong nghệ thuật múa


                                                                     
                                                            Thiều Quang Toa
 
 



        Nói về bản sắc dân tộc trong văn hóa nói chung và trong nghệ thuât múa nói riêng đã có rất nhiều ý kiến nhiều nhà nghiên cứu lý luận phát biểu thông qua các cuộc hội thảo hoặc bài viết đại ý rằng: “Nói đến bản sắc dân tộc trong văn hóa cũng chính là đề cấp đến những nét đẹp truyền thống. Cũng như truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc mang tính “ổn định”. Mặc dù vậy chúng không phải là những giá trị “Định mệnh” bất biến mà trái lại cũng có quá trình vận động và biến đổi không ngừng...”
Mỗi thời đại đều tạo dựng và góp vào truyền thống những giá trị những sắc thái văn hóa mới đồng thời cũng gạt bỏ những giá trị lỗi thời. Những giá trị văn hóa ấy là kết quả của quá trình sáng tạo và gìn giữ lâu dài trong suốt quá trình lịch sử của mỗi dân tộc.
Tuy nhiên vấn đề đặc trưng văn hóa dân tộc Việt Nam là vấn đề không hề đơn giản chút nào và đương là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cho rằng: “Bản sắc văn hóa Việt Nam chính là ở chỗ: Nền văn hóa đó luôn luôn lấy sứ mạng của dân tộc vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội làm sứ mạng của mình...”
Nền văn hóa ấy luôn lấy sự bao dung và hòa đồng là cơ sở xem xét những hiện tượng tự nhiên xã hội và con người để đề ra những giải pháp sáng tạo văn hóa là chủ nghĩa nhân bản được tinh hơn từ những tư tưởng truyền thống và tư tưởng hiện đại là nền văn hóa mở trong không gian trong thời gian và biến đổi theo quá trình điều chỉnh xã hội là nền văn hóa giàu sức chuyển hóa giầu sức tương phản. Nền văn hóa giầu tính nhân dân giầu tính cộng đồng.
Bà Lương Quỳnh Khuê cho rằng: “Phải chăng sắc thái gốc của người Việt Nam Văn hóa Việt Nam cổ truyền biểu hiện ở một số đặc trưng cơ bản sau:
1. Cần cù và tài hoa trong lao động sản xuất.
2. Yêu nước gắn bó với cộng đồng trong quan hệ: nước- nhà- làng.
3. Kiên cường trong ý chí và hành dộng có niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống.
4. Mềm mại trong tư duy biết thích ứng để tồn tại và phát triển.
5. giầu tính yêu thương vị tha và nhân hậu.
6. Tâm hồn bình dị thanh cao giàu cảm xúc.
Với ông Hoàng Ngọc Hiến lại có cách nhìn và đánh giá một cách khái quát hơn. Ông cho rằng “Sự hài hòa giữa tình và nghĩa là nét tinh hoa trong bản sắc dân tộc Việt Nam”.
Tuy vấn đề tìm ra bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam còn chưa đi đến thống nhất nhưng với một số công trình nghiên cứu các học giả đã bước đầu cho ta những khái niệm mang tính khái quát về bản sắc văn hóa dân tộc tựu trung là nét đẹp truyền thống về phẩm giá tốt đẹp của dân tộc ta qua nhiều thế kỷ.
Bản sắc dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam qua nhiều sưu tầm khảo cứu của nhiều thế hệ nghệ sĩ múa cho đến nay chúng ta đã có được một hệ thống động tác múa của 17 dân tộc đã được chọn lọc chỉnh lý đúc kết thành hệ thống và được đưa vào giáo trình huấn luỵên của trường múa Việt Nam và một số nghệ thuật trong cả nước.
Xuất phát từ hoàn cảnh môi trường sống từ điều kiện khí hậu địa lý từ phương thức sản xuất tâm lý cộng đồng những phong tục tập quán mà nghệ thuật múa của mỗi dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam lại mang những mầu sắc riêng.
Chẳng hạn múa dân gian của dân tộc Kinh - phản ánh cuộc sống chiến đấu sinh hoạt và quá trình lao động thường ngày thì mang mầu sắc của dân cư nông nghiệp sống ở vùng đồng bằng có vùng nhiệt đới gió mùa. Tính chất nổi bật của múa là mềm mại uyển chuyển khoan thai đầy chất trữ tình những đường nét lượn sóng được thể hiện qua nhiều động tác tuyến đội hình có phần chau chuốt nổi bật lên vẻ duyên dáng tế nhị.
Trong các động tác chân và tay thì động tác tay đóng vai trò quan trọng kỹ thuật sử dụng từ bàn tay cổ tay ngón tay rất nhuần nhuyễn và điêu luyện các đồ vật hay dùng trong ngày đều được đưa vào làm đạo cụ cho múa như quạt nón mái chèo thúng roi đánh ngựa cung tên cùng  các nhạc cụ đơn giản như: trống xênh mõ và cả những chiếc chén đã tạo nên nét độc đáo của nghệ thuật múa dân tộc Kinh...
Nắm được đặc điểm và hệ thống múa dân gian cùng phong tục tập quán quan niệm đạo đức quan niệm thẩm mỹ của từng dân tộc đó là điều hết sức cần thiết mang tính cơ bản để các nhà biên đạo cần khai thác được nhiều đề tài độc đáo và sẽ tạo được khả năng tối đa về phương diện khai thác được nhiều ngôn ngữ múa dân tộc.
Do vậy một số nhà nghiên cứu triết học mỹ thuật cho rằng: quá trình gìn giữ bản sắc dân tộc không chỉ hiểu như là quá trình phát huy những giá trị vốn có mà chủ yếu phải sáng tạo những đường nét sắc thái mới của dân tộc...trên cơ sở tiếp nhận và cải biên giá trị văn hóa nước ngoài sao cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của dân tộc mình...
Điểm lại trong lịch sử phát triển nghệ thuật múa dân tộc ông cha ta đã từng tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật múa Chiêm Thành ấn Độ Trung Quốc và những thập kỷ gần đây ta còn tiếp thu cả nghệ thuật múa của Pháp Nga để làm phong phú nghệ thuật múa dân tộc mình.
Chẳng hạn điệu múa “Lục cúng” có nguồn gốc  ấn Độ đã được ông cha ta bản địa hóa bằng sự hòa đồng ngôn ngữ múa truyền thống và tâm hồn dân tộc để đến nay đã thành múa cung đình của Việt Nam.
Vấn đề tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật múa các nước trên thế giới làm phong phú nghệ thuật múa Việt Nam là một việc làm có ý nghĩa lớn lao trong quá trình phát triển múa dân tộc.
Tóm lại bằng cái hồn của dân tộc mình mà tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là một phương thức tối ưu để đạt tới hiệu quả của mục tiêu “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.
Với nghệ thuật múa vấn đề tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc còn biểu hiện ở khả năng khái quát đề tài chủ đề và nội dung tác phẩm. Từ hiện thực cuộc sống sôi động của đất nước trong quá khứ hiện tại và tương lai khắc họa được nét đẹp truyền thống của dân tộc ta trong lao động trong ứng xử trong chiến đấu và nổi bật lên phẩm giá con người Việt Nam qua các thời đại. Và khái niện “Đậm đà bản sắc dân tộc” đã chứa đựng nội hàm “tiên tiến” và khái niệm “tiên tiến” đã bao hàm yếu tố “đậm đà bản sắc dân tộc”. Hai vấn đề này luôn gắn bó với nhau một cách hữu cơ trong một thể thống nhất và là một động lực đưa nền văn hóa dân tộc (nói chung) nền nghệ thuật múa (nói riêng) lên ngang tầm thời đại.
Trong xây dựng nền nghệ thuật múa mới các biên đạo đã dùng rất nhiều phương pháp và hiệu quả cũng thật đa dạng.
Tuy vậy hiệu quả của mỗi phương thức hoặc phương pháp sáng tạo nó còn phụ thuộc vào bản lĩnh của từng biên đạo cách làm thì có nhiều nhưng mấu chốt vẫn là quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Nếu giải quyết tốt mối quan hệ này chúng ta sẽ tạo được một nền nghệ thuật múa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

                                                                 T.Q.T






Nhạc sĩ Xuân Liên

    với ca khúc “Tiếng cồng ngàn Nưa”    
                                            
                                                               Nhạc sĩ Nguyễn Liên
 
 
 


         Tôi được biết nhạc sĩ Xuân Liên từ những năm 70 khi tôi mới bước vào học nhạc tại trường Văn hóa Nghệ thuật Thanh Hóa (nay là trường Cao đẳng VHNT). Ngày đó anh công tác tại phòng Văn nghệ của Ty Văn hóa Thanh Hóa (nay là Sở Văn hóa và Thông tin) nên quan hệ với trường rất chặt chẽ mỗi lần có các đoàn Văn công diễn tại nhà hát Nhân dân anh lại cho chúng tôi vé để đi xem. Hình ảnh của anh trong tôi như một thần tượng khi nghe các ca khúc hay âm nhạc của anh viết trong những điệu múa nhạc nền cho chèo tuồng kịch nói... do các đoàn văn công trong tỉnh dàn dựng. Ngoài những giờ học trên lớp chúng tôi thường gặp anh để học hỏi thêm về kinh nghiệm sáng tác. Nhận thấy lớp chúng tôi có một số anh em sáng tác được nên anh đã đề nghị Ty Văn hóa và trường in cho chúng tôi tập ca khúc và chính anh là người biên tập.
Được kết nạp vào Hội Nhạc sĩ Việt Nam từ năm 1987 (vừa là hội viên Hội Văn hóa các dân tộc Việt Nam) nhưng bắt đầu sáng tác từ năm 1962 anh thuộc lớp nhạc sĩ đàn anh của nhiều nhạc sĩ xứ Thanh. Tính tình ngay thẳng có phần  trầm tĩnh nhưng cũng rất hóm hỉnh trong những câu chuyện thường ngày nên anh được đồng nghiệp quí mến. Học tại trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội) và có vốn sống trong lĩnh vực sân khấu đến nay anh đã viết nhạc cho 14 vở diễn 3 nhạc cho múa 2 nhạc cho phim 2 tác phẩm nhạc không lời viết cho dàn nhạc và vài trăm ca khúc trong đó nhiều tác phẩm được phát trên các phương tiện thông tin đại chúng trung ương và địa phương được giải thưởng cao tại các liên hoan hội diễn ca - múa - nhạc sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc và giải thưởng Lê Thánh Tông của Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa. Ngoài sáng tác âm nhạc anh còn là người tìm tòi nghiên cứu âm nhạc cồng chiêng Mường Thanh Hóa. Đây là số liệu khá khiêm tốn nhưng so với nhiều lớp nhạc sĩ “tỉnh lẻ” thì nó là con số đáng kính nể.
Do điều kiện công tác được đi thực tế nhiều nên đề tài sáng tác của anh rất phong phú đa dạng. Từ miền biển đồng bằng đến vùng núi cao hải đảo xa xôi trong tỉnh hay các tỉnh bạn như Thuận Hải Sông Bé Huế và cả nước bạn Lào... anh đều có tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa từng vùng miền phản ánh hoặc ca ngợi những tấm gương trong lao động sản xuất chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước.
Là nhạc sĩ đa năng trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc nhưng có lẽ Xuân Liên đến với quần chúng nhiều hơn là ở những ca khúc. Ca khúc của anh mang nhiều sắc thái tình cảm. Đằm thắm trữ tình như: “ Nơi rừng thông con dựng tượng đài Bác” “Mùa Thu không năm tháng” “Cho con điệu ru”... Mang đậm chất dân ca như: “Mùa xuân và âm thanh rừng” “Câu hát dân ca xưa và nay” “Huyền thoại núi Rồng sông Mã”... Hay chất hùng ca mạnh mẽ như: “Tiếng cồng ngàn Nưa” “Lửa hang Treo” “Thuận Hải cùng cả nước đi lên” “Thành phố tôi”...
Có người đánh giá âm nhạc của Xuân Liên mang chất hùng ca nhiều hơn theo tôi đó là một nhận định đúng! Từ bài hát đầu tiên anh sáng tác năm 1962 “Chiến thắng Lạch trường” đến bài gần đây nhất “Thanh Hóa với Bác Hồ” “Trần Phú”... Có tới 2/3 số ca khúc anh sáng tác trong hơn 40 năm qua là những ca khúc mang chất nhạc mạnh mẽ thiên về thể loại hành khúc tiêu biểu

More...

VĂN HÓA

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Những ca từ hát về người con gái xưa

trong dân ca vùng Đông Sơn


                                                                                  Xuân Liên


        Thanh Hóa có nhiều vùng dân ca khác nhau phong phú đa dạng và độc đáo. ở Đông Sơn có nhiều làn điệu dân ca hay được nhiều người yêu thích và hâm mộ dân ca biết đến như tổ khúc hát múa đèn Đông Anh và một số làn điệu độc lập.
Nếu bạn đến với xứ Thanh xin một lần về với Đông Sơn miền quê của lúa của nền văn hóa núi Đọ cách đây hàng vạn năn. Nơi nguồn cội của nền văn minh sông Mã và trống đồng Đông Sơn. Để cùng hòa nhịp với những tiết tấu sôi động những giai điệu mềm mại mượt mà và êm dịu những lời ca trong sáng bay bổng tế nhị dí dỏm và hóm hỉnh. Và rồi cùng nhau suy ngẫm một điều gì đó còn tiềm ẩn còn sâu xa còn kín đáo chưa được khám phá. Đó chính là những ca từ hát về người con gái xưa...
“Lên chùa bẻ một cành sen
ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng
Ba bốn cô có “lệch” có “bợm” cùng chăng?
Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm
Muốn cho trong ấm ngoài êm”
“đi cấy” là một làn điệu hay nhất trong toàn bộ tổ khúc múa đèn Đông Anh. Về giai điệu có sức hấp dẫn về lời ca dí dỏm mang tính ẩn dụ cao. Khúc thức hoàn chỉnh tiết tấu hiện đại. có lẽ đây là bài ca chủ đạo trong toàn bộ tổ khúc hát múa đèn Đông Anh.
“Lên chùa bẻ một cành sen...” lên chùa hay ra đình hay đến một địa điểm nào đó của làng có cảnh quan đẹp sân chơi rộng rãi có bến nước cây đa và không gian thoáng mát. Lối vào đầu của bài ca cũng giống như một số loại hình nghệ thuật khác chỉ là một cái cớ: giáo đầu để mở tích trò miếng trầu mở đầu câu chuyện. Và câu hát thứ hai nội dung chuyển hẳn không có thứ tự logic với nội dung câu mở đầu “Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng...” Đây là chủ đề mà bài ca muốn nói:
Ngày xưa người con gái ở nông thôn Việt Nam nói chung Thanh Hóa nói riêng họ phải chịu vất vả và cực nhọc trong lao động đặc biệt là công việc đồng áng. “Bán mặt cho đất bán lưng cho trời”. Cảnh con trâu đi trước cái cày theo sau chân lấm tay bùn cả bốn mùa đè nặng lên vai họ “Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm”. “...Đi cấy sáng trăng...” là một công việc bình thường của nhà nông và nó là một nét đẹp về văn hóa “Hỡi cô tát nước bên đàng sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”. Những cô gái làng muốn trò chuyện muốn gặp nhau trao đổi công việc riêng chuyện tình và chuyện đời không có nơi nào hợp lý hơn bằng “...đi cấy sang trăng”. Nhưng bài ca cũng không quá đi sâu vào công việc chân lấm tay bùn mà bài ca còn ca ngợi họ là những người con gái giỏi giang duyên dáng rất khôn ngoan và lịch sự “...Ba bốn cô có “lệch” có “bợm” cùng chăng?...” Họ không phải là những cô gái “lả lơi” “ăn có nơi chơi có chốn”. “...thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm”. Dù ánh đèn có sáng đến mấy thì nó chỉ khép kín ở trong bốn bức tường nhà mà thôi nó là giữa cái tối và cái sáng khó phân biệt không thể nào so được với ánh sáng của trăng đại diện cho không gian bao la rộng lớn. ánh trăng là gắn kết của cộng đồng. ánh trăng là chủ thể chứng kiến cho việc quan hệ giới lành mạnh “...Muốn cho trong ấm ngoài êm” đó là câu nhắc nhở để họ luôn giữ gìn gia phong gia giáo cho gia đình và xã hội cho hạnh phúc tương lai của người phụ nữ.
            “Thấp thoáng bóng ngọn đèn quang
            Còn không ta lấy dở dang ta đừng
            Trong nhà đèn tứ ngày ràng rạng
            Lòng em lại muốn chơi trăng ngoài thềm
            Muốn cho trong ấm ngoài êm”.

ở bài thắp đèn nổi lên hai ý chính nó vừa có quan hệ chặt chẽ nội dung của bài Đi cấy vừa chuyển tiếp sang một ý mới đó là: “Thấp thoáng bóng ngọn đèn quang”. đã quang lại còn thấp thoáng tức là khi tỏ khi mờ. Hình ảnh của ca từ thật sâu sắc nếu anh ta là người đứng đắn trung thực thật thà “...còn không ta lấy...” Nếu anh ta là kẻ “ỡm ờ” giả vờ đã có nơi có chốn lại còn muốn “nguyệt hoa hoa nguyệt trăng gió gió trăng “dở dang ta đừng”. Một ý nữa mà ca từ  như muốn nhắc nhở cảnh báo cho chị em đã đi lỡ bước đã vội qua sông: “Trong nhà đèn tứ ngày ràng rạng”. Một ánh đèn sáng tuyệt vời cả sáng trưa chiều tối. Trông bề ngoài có vẻ gia đình ấy thật tuyệt vời thật sang trọng thật giàu có và thật cao xa nhưng có ai ngờ “...Lòng em lại muốn chơi trăng ngoài thềm”. Không! làm gì có tự do làm gì có hạnh phúc đó chỉ là thứ tình yêu giả vờ “đồng sàng dị mộng” và ca từ lại kết bài nhắc lại nguyên câu kết của bài Đi cấy. “Muốn cho trong ấm ngoài êm”. Đó là con đường đi của hạnh phúc đích thực tình yêu đích thực:            “Râu tôm nấu với ruột bầu chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”.
        “Khăng khăng cửa đóng then cài
         Cửa trong mắc khóa cửa ngoài cài then
        Đôi ta còn lạ chưa quen
        Tuy rằng mắc khóa mà then không cài”

Bản tính của người phụ nữ là hiếu thảo họ chân thành đôn hậu cởi mở. Nhưng họ lại kín đáo kiên quyết không để mất lòng người “Khăng khăng cửa đóng then cài cửa trong mắc khóa cửa ngoài cài then” Chúng ta vừa mới quen nhau hiểu biết nhau chưa nhiều “đôi ta còn lạ chưa quen”. Và nếu anh muốn đến với tôi bằng một tình cảm chân thành thì “tuy rằng mắc khóa...đấy “...mà then không cài” xin mời.
        “Người ngoan tiếng hát nỉ non
        Lạc vào tôi như  vượn con trong rừng...”
        “Người ngoan lơ lửng vườn huê
        Đêm đêm tôi ước cùng ta kết nguyền”

Phái mạnh cũng có những chàng đã thả một vài giọng điệu nghe có vẻ ví von nhưng thực chất vẫn có cái gì đó phân biệt thiếu bình đẳng xem người con gái như: “vượn con trong rừng” hay “lơ lửng vườn huê”. Chính vì thế mà chị em đã có thái độ thẳng thắn rằng:
        “Anh đừng mà vội giận em
        Bận lòng anh đắm say em ối hừ”

Phái yếu người ta thường đưa ra một vài câu như là những lời phê bình nhắc nhở nhẹ. Thế mà có những chàng trai vừa nghe qua thái độ đã bốc lửa cứ như họ có một cái quyền tự coi mình là kẻ trên mọi người mọi vật.
        “Tay cầm giao mác nắm nan
        Lên chùa thanh vắng ta đan cài lừ
        Bắt cá thả cái lừ còn nhớ quên hay quên?”

Phái mạnh rủ nhau đi “tán gái đi tìm vợ” dễ dàng như bắt con cá dao mác nắm nan...đan cái lừ”. Chưa hết họ còn dở giọng dọa dẫm đối với phái yếu. “...Bắt cá thả lừ còn nhớ hay quên” ý nữa phái mạnh họ bảo nhau rằng chuyện đó “....còn nhớ hay quên”. Nếu như phái mạnh họ có một lời đẹp thì...
            “Hôm qua tát nước bên đình
            Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
            Em được thì cho anh xin
            Hay là em để làm tin trong nhà..”

Hoặc:        “Yêu nhau cởi áo cho nhau
                  Dối cha dối mẹ qua cầu gió bay”.

Nếu có một quan hệ về tình yêu đẹp như lời ca đã hát thì không có cảnh:
         “...Trong nhà đèn tứ ngày ràng rạng
        Lòng em lại muốn chơi trăng ngoài thềm...”

“Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Người ta thường cho rằng phụ nữ yếu đuối. Nhưng không hẳn như thế đôi khi cần sức mạnh thì họ thật phi thường như Bà Triệu Bà Trưng và thời hiện đại như nữ anh hùng Nguyễn Thị Chiên Nguyễn Thị Định... Họ không có gì mà không làm được không có gì không vượt qua. Có câu rằng: “Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu” “Ai lên trên núi mà coi coi bà Triệu tướng cỡi voi đánh cồng”. Cho nên lời ca từ bài Vãi mạ mới hát:
        “Tay cầm nắm trấu tung ra
        Trấu nát thịt nát đậu nát ra giò ra tương”

Nắm trấu trong tay tung ra cũng thành lúa thành gạo “Thịt thì giã ra giò đậu nát ra tương”. “Lành làm gáo vỡ làm môi”. Lời người con gái xứ Thanh đã tuyên ngôn: “Ta muốn cỡi con gió mạnh đạp luồng sóng dữ chém con cá kình ở biển Đông chứ không thèm làm tỳ thiếp người ta”. Tuyên ngôn ấy không phai mờ với thời gian lịch sử.
Thế nhưng rồi họ cũng có những lúc cô đơn buồn phiền. Họ chỉ còn biết lấy công việc để làm vui để động viên bản thân hoàn thành một sứ mạng là một người nội trợ gia đình.
        Ngồi buồn xe chỉ chỉ xe
        Xỏ kim kim xỏ ngồi thềm vá may
        Lội sông khăn gói tay mang
        Mồ hôi gió đượm thương chồng phải theo”

Thêu dệt vá may là công việc là nghề mang tính văn hóa tính sáng tạo cao. Nhưng nếu rơi vào một vài hoàn cảnh éo le của một vài chị em nào đó thì:
        “Tay quay cúi cúi
        Tay quay tay kéo
        Nó ra rì rì”

“Rì rì” là một điệp từ một tính từ có tính ẩn dụ có thể thế này có thể nó ra thế kia. Có thể vô thức và có thể có ý thức.
Khát vọng cuối cùng của người con gái xưa mà lời ca đã hát đó là một bình đẳng trong lao động trong tình yêu trong hạnh phúc gia đình xã hội.   
        “Em thời đi cấy lấy công
        Để anh nhổ mạ tiền chung một lời”

Khát vọng đó đã được nhân lên gấp bội lần trở thành một bản tình ca đầy tính nhân văn nhân ái nhân nghĩa và nhân sinh:
        “Bao giờ cho lúa bông vàng
        Để anh đi gặt cho nàng mang cơm”.

Ngày nay hình ảnh của người con gái nông thôn xưa “con trâu đi trước cái cày theo sau” như đã lùi về dĩ vãng thay vào đó là hình ảnh của người phụ nữ mới hiện đại. Đó là hình ảnh đẹp cuả một đất nước đã sang trang đất nước đang từng bước đổi mới mình hòa nhập nhưng không hòa tan. Con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa đã đến với mọi miền mọi nhà.
Những người con gái bước vào thời cuộc mới họ trở thành những kỹ sư nhà khoa học nhà quản lý giám đốc họ còn là nhà báo nhà văn nhà nghệ sĩ lớn. Họ xứng đáng được sánh vai với kẻ mày râu “Trai tài gái sắc” xây dựng quê hương đất nước văn minh hơn giàu đẹp hơn.

                                                                                   X.L





 

Vườn đào Am Tiên - Ngàn Nưa
 
Thanh Hóa

                    
                                                    Nguyễn Vượng - Phan Bảo


            Tổng Cổ Định xưa xã Tân Ninh ngã ba Nưa ngày nay là một khu vực có mật độ dày đặc các di sản khảo cổ di tích văn hóa lịch sử... Di chỉ khảo cổ về thời đại đồng thau văn hóa Phùng Nguyên - Đông Sơn lớn chưa từng thấy ở Núi Sỏi thôn Kim Định xã Tân Phúc cách Nưa 4ki lô mét diện tích khoảng 910.000 mét vuông.
Ngàn Nưa với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu ( năm 248 chống quân Ngô). Truyền thuyết về Tu Nưa Tu Vồm Am Tiên đền bà chúa Ngàn Nưa Phủ Vang di chỉ người Mường - Việt văn hóa Đông Sơn - núi Sỏi cửu noãn các danh nhân: Lê Ngọc Lê Chân Lê Nổ Lê Thân Lê Lôi Lê Bật Tứ Doãn Tử Tư Doãn An Khải Doãn Bằng Hài Doãn Nổ. Các di tích có liên quan tới tướng quân Nguyễn Chích - khởi nghĩa Lam Sơn phong trào Cần Vương thủ đô văn hóa liên khu 4 tướng Nguyễn Sơn v.v...
Đây chính là nguồn tài nguyên lịch sử văn hóa nhân văn vô giá đã và sẽ là động lực phát triển đô thị Nưa.
Thị tứ Nưa (hay còn gọi là phố Nưa ngã ba Nưa chợ Nưa) là một khu dân cư đô thị năm dưới chân Ngàn Nưa về phía Đông Bắc thuộc xã Tân Ninh (tổng Cổ Định xưa) của huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa có tọa độ địa lý 19o 58 vĩ bắc 105o27 kinh đông cách thành phố Thanh Hóa 19 ki lô mét về phía tây nam cách thị trấn huyện lỵ Triệu Sơn (Giắt) 7 ki lô mét. Nằm trên giao lộ của hai tuyến tỉnh lộ 506 (Thọ Xuân Giắt Nưa Cầu Quan) và đường tỉnh lộ Nưa - Cầu Trầu. Thị tứ Nưa hiện đã là đầu mối giao thông kinh tế của toàn vùng  tây nam huyện Triệu Sơn (bao gồm các xã Tân Ninh Thái Hòa Văn Sơn Vân Du Đồng Thắng Đồng Tiến). Có mối quan hệ trực tiếp với khu mỏ Crôm Cổ Định và một số cơ sở công nghiệp tiểu thủ công nghiệp khác của toàn vùng.
Khu di tích lịch sử danh thắng Am Tiên - xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh năm 1997.
Với đặc thù tín ngưỡng cảnh quan và địa lý của khu vực mỗi năm mùa lễ hội Phủ Nưa kéo dài từ tháng Giêng đến hết tháng hai âm lịch di tích thường đón hàng vạn du khách trong và ngoài tỉnh đến dâng hương vãn cảnh và hưởng thụ không khí trong lành trong tiết xuân ấm áp của danh thắng; nơi đây cũng là vị trí đầy hứa hẹn cho việc phát triển du lịch sinh thái Ngàn Nưa làm chỗ nghỉ mát thư giãn lý tưởng cho du khách trong 3 tháng hè nắng nóng. Những năm gần đây du khách đến với khu di tích ngày càng đông và đã đóng góp xây dựng di tích ngày càng nhiều. Đây là nhu cầu chính đáng của nhân dân trong vùng và khách thập phương. Tuy nhiên do khu di tích dù đã tồn tại lâu đời song các đầu tư xây dựng mới phần nhiều mang tính chất nhỏ lẻ tự phát nên cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ về văn hóa tinh thần của người dân ngày càng tăng chưa thực sự khai thác hết tiềm năng du lịch sẵn có của khu vực.
Đã đến lúc cần khởi động một ngành du lịch tao nhã ở Thanh Hóa.
Tại sao lại là tao nhã?
Bởi vì:
- Con người ta đến với nhau chỉ vì lòng tôn trọng và cảm phục lẫn nhau chứ không phải kiếm chác lẫn nhau. Lăm le kiếm tiền của khách đến chơi nhà thì không còn gì thô bỉ hơn.
- Mục tiêu của ngành du lịch là gây ấn tượng tốt đẹp cho khách tới thăm viếng qua đó hy vọng khách sẽ trở lại với tư cách đối tác kinh tế của cả tỉnh. Vậy du lịch làm kinh tế cho cả vùng cả tỉnh chứ không làm cho riêng mình khách sẽ cảm nhận được nhiệm vụ cao cả đó.
Và thế nào là tao nhã?
- Tao nhã là thưởng ngoạn những cảnh quan kỳ thú những vật phẩm tinh sảo những câu chuyện sâu sắc những con người lịch thiệp.
- Tao nhã không phải do giàu mà có được. Những người nghèo nhưng ăn ở sạch sẽ nói năng lễ độ biết thế nào là đẹp là tốt và thế nào là xấu là tồi thì họ chính là đã đạt đến mức tao nhã vậy.
Có những cách riêng để đi tới sự tao nhã này. Một trong những cách đó là trồng một vườn đào hàng trăm héc-ta sẽ có 10 vạn cây đào đủ gây ấn tượng thần tiên chưa từng có. Tương lai chỉ cần sau 5 năm sẽ chấm dứt tình trạng chặt phá hàng vạn cây đào vào dịp tết thay vào đó người ta sẽ đi du ngoạn ở vườn đào Ngàn Nưa cả nước sẽ đồn đại về vườn đào thiêng liêng này và người ta sẽ đến chiêm ngưỡng và cầu phúc ở đây. Thanh Hóa có thể chưa là một vùng kinh tế phát triển nhưng đã từ lâu là một xứ sở thần tiên. Ngoài núi Nưa ra còn có động Từ Thức và Bích Đào ở Nga Sơn động Hồ Công và Kim Sơn ở Vĩnh Lộc Phố Cát ở Thạch Thành Diệu Sơn ở Cẩm Thủy. Tất cả ở những nơi ấy đều có thể trồng đào mơ và trồng tre trúc kèm theo những dịch vụ điều dưỡng sức khỏe và tâm trí cho mọi người.
Hiện nay Viện quy hoạch đang thiết kế thị trấn Nưa và quy hoạch khu du lịch Am Tiên với ý tưởng chủ đạo là tôn vinh cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Đông Ngô. Tôn vinh Vua Bà và nghĩa sĩ Ngàn Nưa với cấu trúc không gian dung dị và kỳ vĩ: một vườn đào trên đỉnh Am Tiên gắn với động Đào eo Hóp eo Sở và chùa Tiên. Hiện tại chỉ giới hạn ở phần xã Tân Ninh. Đề nghị nên quy hoạch một vườn đào gồm đất cả 3 huyện Triệu Sơn Nông Cống và Như Thanh mỗi huyện tối thiểu tham gia 50 héc-ta trồng đào. Vườn đào có thể gọi là rừng đào tạo nên cảnh quan tinh tế linh thiêng chính là một cảnh tiên và tôn vinh bà trinh nữ họ Triệu của tỉnh Thanh ta. Trong vườn đào xây dựng một số cơ sở điều dưỡng tu tập y-ô-ga chữa bệnh võ thuật nghệ thuật... và cho thuê làm phim trường.
Được biết có một số công ty kinh doanh du lịch muốn đầu tư vào ý tưởng này.

                                                                                   N.V- P.B


More...

VĂN HỌC MUÔN PHƯƠNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh



Mã Đinh
(Trung Quốc)

Pho tượng được giải
 
 


    Một người bạn là doanh nhân gọi điện thoại tới bảo tôi đến nhà anh có chút việc.
    Bạn tôi đang sắp xếp hành trang anh nói vói tôi anh đang chuẩn bị đi về miền Nam một chuyến để mở rộng doanh thương. Trong thành phố tôi ở bạn tôi có tới bốn năm công ty to nhỏ khác nhau tôi vẫn nghe nói những công ty này của bạn đều có tiền đồ sán lạn với thu nhập rất khá.
    - Sao không mở rộng phát triển ngay ở đây?
    Bạn tôi cười nói:
    - Không gian miền Nam rộng rãi hơn.
    Tôi hành nghề điêu khắc nặn tượng tôi chẳng hiểu biết gì nhiều về công việc doanh thương của anh nên tôi không nói gì nhiều hơn nữa.
Chúng tôi uống cà phê. ánh nắng xuyên qua cửa sổ chiếu vào trong nhà khiến lớp da lộ ra bên ngoài quần áo vô cùng dễ chịu. Bạn tôi châm một điếu thuốc rít một hơi dài từ từ nhả khói rồi rút từ trong túi áo ra một tập ảnh nói:
    - Ông giúp cho tôi một việc ông nặn một pho tượng về thằng cha này hộ tôi.
    Người trên tấm ảnh làm tôi giật nảy mình đó là một nhân vật có thể hô phong hoán vũ trên một địa phương miền Nam. Cả tập ảnh ấy có tấm chụp thẳng có tấm chụp nghiêng lại có cả những tấm chụp bóng từ phía sau nữa. Xem ra việc nặn tượng này đã được chuẩn bị sẵn từ lâu rồi.
    - Người này tôi cũng đã từng gặp mặt.
    Bạn tôi nói:
    - Mấy tháng nữa sẽ là sinh nhật tuổi 60 của ông ta tôi muốn biếu ông ta một pho tượng của chính ông ta với ánh sáng vàng lung linh.
    Bạn tôi đứng dậy đi đi lại lại trong nhà với nét mặt đầy xúc động nói:
    - Tôi đi về miền Nam lần này là đến gõ cửa nhà ông ta pho tượng này rất đáng để ông ta nhớ đến tôi.
    Tôi bật ngón tay cái của tôi lên nói với một giọng hài hước:
    - Cao! Thực là cao. Những nhân vật cốp thế này chắc chắn rằng họ không thiếu tiền. Tặng pho tượng quả là cao...
    Bạn tôi vô cùng đắc ý hớp một hớp cà phê nói:
    - Ta là ai!
    Khi đi ra ngoài uống rượu bạn tôi nhét cho tôi một chiếc phong bì phổng phao dầy cộp. Bạn tôi chưa bao giờ bủn xỉn với tôi.
Vì bạn pho tượng này tôi nhất định phải nặn cho tinh tế tuyệt vời.
Pho tượng chân dung nhân vật cốp đó đã hoàn thành tất cả những người đã đến phòng làm việc của tôi nhìn thấy bức tượng này đều nắc nỏm khen:
    - Giống! Giống lắm sinh động thật sinh động cứ y như đứng trước người thật vậy.
    Một nhà phê bình mỹ thuật còn nói về từng điểm một cách cụ thể nghề nghiệp hơn:
    - Pho tượng này về tính cách mà nói đã thể hiện được rất sâu sắc rất tinh tế bộc lộ ra được cái giá trị thẩm mỹ rất cao. Quý vị nhìn kỹ mà xem mặt ông ta tuy rất gầy guộc nhưng tất cả bắp thịt trên khuôn mặt ông ta lại đem lại cho mọi người cái cảm giác nó đang rung động.     Đồng thời còn như truyền đạt hết được thế giới nội tâm của mình ra ngoài...
    Thế là tất cả mọi người trong đó có tôi bắt đầu thưởng thức ngắm nghía lại cho pho tượng này. Thần thái mỉm cười của nhân vật to lớn này chừng như cũng được khẳng định với tôi điều đó.
    Tôi gọi điện thoại cho bạn tôi báo cho anh ta biết pho tượng đã hoàn thành.
    Bạn tôi khi thấy vừa lòng mãn ý với công việc của người khác thường nói một chữ “tốt” mà đây anh ta nói liền ba chữ “tốt” một lúc rồi mới đặt điện thoại.
    Chỉ còn năm ngày nữa là đến sinh nhật của vị đại nhân ấy mà vẫn chẳng thấy mặt mũi bạn tôi đâu tôi nén không nổi nên gọi vào máy điện thoại di động của bạn máy bận gọi nữa máy bận. Điều này làm tôi thấy mừng cho bạn xem ra vận hội của bạn tôi ở miền Nam cũng khấm khá đây. Chờ mãi đến tận tối tôi cũng đã nối được điện thoại với bạn nghe chừng như bạn tôi nói chuyện với tôi ở trong một khách sạn hay một tựu điểm nào đó nên có rất nhiều tiếng loạn sạ chen vào máy nghe tiếng chẳng rõ được bao nhiêu.
    - Đến bao giờ đến lấy cái nhân vật vĩ đại ấy đây?
    Bạn tôi cười sằng sặc
    - Không lấy nữa.
    - Có chuyện gì rồi vậy?
    - Bố tiên nhân khỉ cái nhân vật vĩ đại ấy toi rồi nhận hối lộ.
    - Làm gì với pho tượng ấy bây giờ?
    Bạn tôi tiếp:
    - Thì hãy cứ bỏ đấy biết đâu lão ta chẳng tìm cách chạy chọt thoát được hiểm.
    Một số ngày sau tôi được chứng kiến kết quả của phiên toàn xét xử nhân vật vĩ đại ấy. Tôi cũng ngộ ngay ra rằng pho tượng tôi nặn rất công phu tỷ mỷ kia cũng không có lối thoát rồi.
Pho tượng nằm trong phòng làm việc của tôi cho tới tận cuối năm và vì có công việc khác cần chỗ tôi liền dinh pho tượng ra vườn. Khi mới di ra ngoài tôi còn lấy một tấm ni lông đậy lên cuối cùng tấm ni lông bị gió cuốn bay mất tôi cũng chẳng đậy điệm gì nữa.
    Gió táp mưa sa pho tượng vàng sáng lung linh bắt dầu phai màu biến sắc loang loang lỗ lỗ...
    Cho đến tận mùa hè năm nay giáo sư Trương ở học viện mỹ thuật đến họp ở thành phố tôi giáo sư có ghé qua nhà tôi uống  nước thăm tôi. Giáo sư Trương không thích ngồi lâu trong gian phòng có điều hòa không khí nên tôi đưa thầy ra vườn ngồi uống nước nói chuyện.
    Thầy Trương nói:
    - Đã có đến mấy năm liền rồi anh chẳng có gì để tham gia triển lãm.
    Tôi nói:
    - Thầy ơi! thời gian đâu phải có phải của mình còn phải chạy gạo nhét vào cái bụng:
    Thầy Trương gật đầu tỏ vẻ thông cảm với tôi...
    Tôi chợt nghĩ tới pho tượng kia.
    Tôi vừa đưa thầy đi xem bức tượng bị vứt bỏ ngoài vườn vừa nói cho thầy nghe quá trình sáng tác của nó.
    Thầy Trương đưa tay xoa cằm ngắm nghía tỷ mỉ pho tượng rất lâu rồi sau đó hỏi tôi:
    - Có thật là không dùng được vào việc gì nữa không?
    Tôi nói:
    - Xử rồi! Chẳng thể ra khỏi nhà tù trước khi chết trừ phi ông ta sống được đến tuổi tám mươi.
    Thầy Trương nói:
    Triển lãm mỹ thuật năm nay anh sẽ có tác phẩm trưng bầy:
    Thầy Trương nói tiếp như ra lệnh cho tôi:
    - Đi! Mang một chiếc búa cùng với một ống sơn đỏ ra đây!
    Tôi thật tình không hiểu thầy Trương cần đến những thứ đó làm gì.
    Thầy Trương trong khi lưu học tại Pháp thầy đã hết sức  tôn sùng mỹ thuật hiện đại...
    Thầy Trương cầm chiếc búa bóp sơn đỏ lên mũi búa sau đó lấy mũi búa gõ đập đập vào pho tượng. Mới chỉ có một búa đầu tiên khuôn mặt của pho tượng đã thay đổi hình dạng những giọt sơn chảy xuống như những giọt máu...
    Hãy đặt tên cho bức tượng này đi!
    Tôi nghĩ một lúc lâu rồi nói:
    - Bài học trả bằng máu!
    Thầy Trương lắc lắc đầu.
    - Tội phạm.
    Thầy Trương mỉm cười nói:
    - Vô Đề!
    Cuối năm tôi đem pho tượng có tên “Vô đề” đi dự triển lãm. Điều làm tôi hết sức kinh ngạc là pho tượng đã được rất nhiều người đã dừng bước trầm tư trước pho tượng ấy. Khi công bố giải thưởng ban giám khảo đã tặng cho tôi giải Vàng. Có một số người tìm gặp tôi để tìm hiểu quá trình sáng tác “Vô đề” tôi đã nói lại rất thực cả quá trình sáng tác pho tượng ấy...
    Tôi nói xong những người gặp tôi thường im lặng không nói gì.
                 
                                                                        Lê Bầu dịch
                                                   (Theo tuyển tập truyện ngắn mi ni
                                                                     của năm 2003)






More...