TRÍCH TIỂU THUYẾT

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Từ Nguyên Tĩnh


Truyền thuyết sông Thu Bồn


                                
Trích tiểu thuyết



            Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đã công bố nhiều tác phẩm: Mối tình chàng Lung mù; Gã nhà quê; Kiếp cầm ca; Người tình của cha; Chuyện lạ trên núi mắt rồng; Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh (tập truyện ngắn) Không thành người lớn; Mảnh vụn chiến tranh; Con thuyền côi cút; Cõi người (tiểu thuyết).
Tiểu thuyếtTruyền thuyết sông Thu Bồn được nhà văn ấp ủ từ lâu. Tham gia trại sáng tác Quảng Nam - Đà Nẵng năm 1985 và nhiều lần đi thực tế Quảng Nam - Đà Nẵng để sưu tầm tìm kiếm tài liệu về tiểu đoàn đặc công Lam Sơn. Đó đây ông đã giới thiệu về những trang viết về chiến tranh Quảng Nam nhưng chưa hoàn thành. Hơn hai mươi năm đến nay tiểu thuyết Truyền thuyết sông Thu Bồn đã được hoàn thành. Đây là cuốn tiểu thuyết mà Từ Nguyên Tĩnh bỏ ra nhiều công sức và thời gian để thực hiện.
Người lính quê Thanh Hóa từ vùng sông Mã núi Rồng đi chiến đấu ở Quảng Nam bảo vệ cho dòng sông Thu Bồn. Anh đã dành toàn bộ tuổi thanh xuân để chiến đấu và đã đem lòng yêu thương người con gái đất Quảng. Tình yêu qua bao thăng trầm và họ đã đến với nhau. Cô gái ấy cũng có một cuộc đời đầy sóng gió của người phụ nữ đất Quảng kiên cường... Tiểu thuyết chạm tới nhiều mặt: cả lịch sử chiến tranh tình yêu và hiện thực đời sống khi mở cửa con người thủy chung và phản bội v.v...
Tạp chí Xứ Thanh xin giới thiệu cùng bạn đọc chương I. Hy vọng tiểu thuyết Truyền thuyết sông Thu Bồn sẽ ra mắt bạn đọc trong thời gian gần đây.


                                                                          Ban Biên tập


 

 

Chương I

Thư nói nàng không đi xe với vợ chồng con Thư An mùi hôi mà Thư muốn quên đi mà không nổi tự dưng lại đầy đọa nàng. Tận giờ phút này Thư muốn con bé thôi thằng Ken thằng Két đó đi. Không phải nàng lạc hậu không dám mở cửa. Không thích học Anh ngữ không muốn đi đó đi đây để hiểu cái đời cực khổ của mình hy sinh là có giá. Nhưng nỗi đau khổ của nàng không bao giờ không lúc nào xoa dịu nổi. Nơi con sông Thu Bồn ngoại nói   đó là nước mắt của người yêu nhau hóa thân muốn quẹo lại tìm người mình yêu mà không nổi… Ngoại nói… Lúc nào Thư cũng lấy lời của Ngoại ra để dẫn cho cái lý của nàng là đúng. Ngoại bao bọc một đời khổ cực mà nàng gánh chịu… nàng bảo muốn quên đi xếp lại quá khứ… Vậy mà con nhỏ này… Ai bảo nó dẫn về cái thằng mắc dịch… Thư không bao giờ đi xe chung với chúng… nàng bảo cái mùi Mỹ này rất dị.
  Trong cuộc đời nàng đã rũ bỏ đi ý nghĩ và mọi tưởng tượng. Những năm tháng Thư phải chịu đựng sự tủi nhục chưa đủ hay sao? Trong trái tim của Thư càng già càng vơi đi sự oán giận má. Con mà oán giận cha mẹ là điều bất hiếu. Nhưng với má Thư đã nhiều lần phải dấu đi những giọt nước mắt hờn tủi. Đi trường thì phải chịu hai luồng dè bỉu. Con nhà tử tế thì cứ đè: Ơi! Con Thư con của thằng đi theo Mỹ. Ăn đồ hộp của thằng Mỹ hèn chi mà đẹp. Bọn con nhà lính cộng hòa thì dựt cặp túm tóc mà la: Bay ơi! cha của hắn bị còng tay chân đưa Côn Đảo ngồi với nó sợ bị bệnh sởi Việt cộng đó nghen. Thư không chịu ăn uống đòi má phải nói rõ cho Thư ba hiện giờ ở đâu. Ngoại tắm giặt hốt cứt dính trên đầu làm trọng tài rồi khóc mà vỗ về an ủi. Cha bay và mẹ bay người ta cho đi tập kết không chi thì giờ đã ở ngoài Bắc được ăn sung mặc sướng được đi học không phải chịu mang ngọn đèn đỏ treo ở đầu nhà. Nhưng vì má con về bên ông ngoại mày bên Quế Sơn sanh mày mà trật lất chuyến đò ở sông Ly Ly. Thằng Châu ngày xưa nó đi tú tài trên tỉnh - ở Hội An để mắt tới má bay. Nó đón đường cha bay bị hót đưa Quảng Trị không đi thấu được ra ngoài Bắc. Má bay không tệ như tụi con nhà mắc dịch nó nói đâu. Cũng vì thời thế mà nó phải nhận lời lấy thằng Châu. Không lấy cái mạng mẹ con bay rồi đời. Ông Diệm đưa máy chém và cho bọn cán bộ đi đào gốc chặt rễ cùng làng khắp ngõ. Làm sao mà thoát thân. Phận con đừng làm khổ ba mẹ nghe con. Trời có sáng rồi có tối. Hết tối rồi có lúc sáng. Con không yêu quý gì thằng Châu thì ngoại cũng không bắt ép. Nhưng ráng mà chịu. Làm chi thì cũng chạy qua hàng chữ có lúc dùng đến nó. Ngoại già rồi không chống nổi người ta. Nhưng mà ngoại không để cho con ở với nhà Châu lâu đâu.
Bé Ly Ly ra đời. Niềm vui của cả gia đình. Ngoại thì lau nước mắt và nựng. Ôi ! Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Con nhỏ xinh ơi là xinh. Nó giống má bay không chê được. Thư thấy mình như bị bỏ rơi từ hồi này.
Cả Đà Nẵng như một công trường khổng lồ. Người Mỹ lần lượt đổ quân xuống sân bay Đà Nẵng rồi phố xá. Cái phố nhỏ tun hủn vì có người Mỹ nghênh ngang ngoài đường mà chật chội hơn. Người mình cũng nhỏ bé mà nom thật tội nghiệp.
Thư thật ngỡ ngàng khi nhìn thấy ông Mỹ xuất hiện trong lớp học. Thầy và cô của Thư thật nhỏ bé và tội nghịêp. Đi sau ông Mỹ là những người bé con cương lên với tới mà không tới. Thư nhận ra ánh mắt cam chịu của người lớn và cái nhìn bố thí khinh khi từ trong con mắt xanh lơ như mắt mèo.
Dượng Châu làm việc cho người giàu được họ cho của nên ăn mặc áo quần cũng xênh xang. Châu lại tài ăn nói Pháp ngữ thạo từ thời Pháp biết một chút Anh ngữ thành ra có dịp tiếp xúc với người Mỹ. Họ đã đến cái tổ ấm của nhà Thư. Bàn tay của người Mỹ đã bẹo vào cặp má ngây thơ của Thư. Má run rẩy mỗi lần dượng Châu đưa họ về nhà. Nhưng biết làm sao được dượng Châu trên danh nghĩa là người bảo lãnh hợp pháp của cả nhà này.
 Em Ly Ly ra đời đằng nào nó cũng là em của Thư. Nó do má sinh ra chứ đâu phải con nuôi con đồ… Có lần Thư thấy má và ngoại thì thào chuyện chi hệ trọng lắm. Có phải chuyện học hành của Thư hay chuyện bà ngoại và mẹ có điều không vừa lòng nhau thì phải. Đêm đó ngoại ôm Thư vào lòng. Ngoại dặn Thư ráng chịu. Ngoại về quê ở dưới Gò Nổi rồi ngoại sang bên Quế xem ở đó còn ai là bạn của ba không. Có được thì ngoại đưa Thư về đó. Bà ngoại sợ cháu của bà mỗi ngày mỗi lớn. Mà Đà Nẵng người ngoại quốc vào mỗi ngày một nhiều. Ngoại sợ mất cháu cưng của bà. Thư rúc vào người bà tìm mùi thơm của cốt trầu. Thư đưa tay sờ mặt của ngoại. Thư thương ngoại nhiều lắm. Thư không có phép chi để bảo vệ cho ngoại khỏi khó nhọc tuổi già. Nhưng ngoại đi rồi má và Thư lại phải chăm bé Ly Ly lấy ai lo được đồ nhậu mỗi khi dượng Châu đưa bạn về. Ngoại bảo trẻ con không được nghĩ nhiều sẽ chóng già lắm đó.
Sáng ngày ngoại nói với dượng Châu có người ở quê ông nhắn lên. Mồ mả người ta đang hô dẹp đi để làm bốt làm đồn. Người ta kéo pháo về xây dựng căn cứ chi dồn rẹp dữ. Dượng nói người ta làm căn cứ quân sự. Dượng không muốn ngoại về lúc này. Dượng bận chỉnh huấn chỉnh quân học tập việc hiện đại nhà binh. Ngoại về tình hình ở dưới đó không ổn lắm. Má nói người già ở đâu người ta cũng không chấp huống chi ngoại sắp xuống mồ rồi. Ai phí viên đạn làm chi. Xong việc ngoại lên với sắp nhỏ. Thư biết ngoại nói dối. Ngoại về dưới đó tìm bạn của ba ngoại đang nghĩ cách đưa Thư về bưng. Trong đám học sinh cùng lớp có cha tụi nó đeo lon của quân đội kháo nhau về sự nguy hiểm mỗi lần hành quân về nông thôn. Về Việt cộng nằm vùng. Về chuyện sảy ra chết chóc như cơm bữa ở bưng biền. Không hiểu sao nghe được điều đó Thư thấy gai lạnh khắp cả sống lưng. Thư thoáng nhận ra mình cũng có ao ước được thoát khỏi trường học này. Bây giờ ngoại về dưới đó. Thư dào lên niềm hy vọng. Thư ôm lấy ngoại mà miệng lại muốn khóc.
- Ngoại ơi! Về rồi mau quay lại với bé Ly Ly ngoại à!
Bé Ly Ly thấy có người nhắc đến tên thì toét miệng ra cười. Lúc này Thư chưa hình dung ra sau này chị em Thư có bao điều mâu thuẫn. Bao điều không thể nào hòa hợp được. Ly Ly không ác độc gì với chị cùng mẹ khác cha của mình. Nhưng Ly Ly lại có niềm hoài bão khác. Ly Ly làm cho trái tim Thư có lúc trỗi dậy sự thù hằn sự thù hằn lầm lạc khổ đau mà má gây ra. Má phải gánh chịu âm thầm khấp khoải trước lúc nhắm mắt lìa khỏi cõi đời. Nhưng đâu phải riêng gì má cả ngoại Thư và ba ở trong song sắt nhà tù Côn Đảo người có đón nhận được tin dữ này không. Vợ mình đã kết hôn với thằng bạn cùng học. Ba từng lao vào đánh một tên dõng say rượu ở phố Hội An để cứu dượng Châu. Không hiểu nguyên cớ chi mà thằng lính đó nó cứ túm lấy ngực áo của Châu mà lôi đi. Có lẽ hắn nhầm hay sao một khuôn mặt khác một người khác đã gây cho hắn nỗi thù hằn. Cha đã lao vào để cứu Châu. Cha bị bắt nhốt vào tù vì hành hung nhà chức trách. Châu đã chạy về van lạy cha mình bỏ ra tiền bạc lo lót cho Ngoạn ra tù. Ba cũng từ đó bỏ học đi theo người kháng chiến. Từ dạo ấy hai người đi theo hai ngả đường. Nhưng họ gặp nhau ở người đàn bà đẹp. Họ đã yêu má của Thư. Cô gái có tên là Nhàn ấy mà cuộc đời cực chi là cực. Phải qua hai lần đò. Một lần yêu người đi kháng chiến và một lần lấy kẻ theo ông Diệm chống lại lý tưởng của người chồng cũ.
 Người chiếm đoạt được trái tim của má là người đi kháng chiến đó. Ngoại về vùng quê của mình khai hội. Là người đứng gác trong đêm ra mắt chính quyền cách mạng xanh xao mà nghiêm cẩn không hề nháy mắt nhìn xuống đàn bà con gái đang xô nhau cười rinh rích thật quyến rũ. Nhưng rồi sự việc sảy ra chỉ vì không đón được mẹ con của Thư để đưa đi tập kết. Lỡ mất chuyến đò ở bến Ly Ly… Sau này thì Thư biết được đó là lý tưởng của cha mình và dượng Châu hoàn toàn khác nhau. Lúc đó dượng vẫn luôn miệng thề bồi rằng việc lấy má là trả cái ân cứu mạng cho Châu năm còn học ở Hội An. Tuy gia cảnh có khác nhau nhưng hầu như gặp nhau trước sự quyến rũ của má Nhàn con… Thư chưa biết được hết sự vận hành của các ông lớn ngồi tận Washington tận Sài Gòn. Không biết được sự áp phe chính trị và kinh tế. Mà trái tim ngây thơ của Thư thấm đẫm câu chuyện của ngoại ký ức không mấy tốt đẹp về tiếng nghiến của gót sắt giầy đinh trên đường phố Đà Nẵng đêm đêm. Cái nhìn ngơ ngác của Thư ánh mắt mèo xanh dễ sợ xoáy vào tâm hồn non nớt. Bà ngoại ra đi. Dượng Châu đeo lon trung úy hành quân.
 Em Ly Ly đẹp lắm. Em là công chúa của nhà này rồi.
                 *
Thư đã chờ đợi ngoại suốt cả mùa đông dài. Đà Nẵng năm ấy lạnh nhiều. Tiếng hú của con tàu Mỹ vào bán đảo Sơn Trà. Học sinh dù rét cũng phải xếp hàng đón tổng thống Việt Nam cộng hòa tới thăm trường. Cô giáo người ngoài Bắc nói giọng lơ lớ đẩy Thư xuống cuối hàng không hiểu là Thư năm cuối tiểu học lớn vổng lên. Hay do má thương sự mất mát mà âm thầm đắp cho trái tim sớm cô đơn của nàng sức sống ấy. Sau này khi xa má Thư thương má thương lúc đau khổ hay rên rẩm kêu ngoại cũng giành phần gọi má khe khẽ. Ban đầu thì còn ngượng nhưng rồi trái tim cứ mở rộng sự bao dung cho Thư được tình yêu ấy.
Thư nghe người ta thuyết giáo về sự cần thiết phải lập một nền cộng hòa. Về sức mạnh của ông Mỹ. Về sự ngoan cố của Bắc Việt. Về người kháng chiến cũ rủ nhau lên Xanh chống lại Việt Nam cộng hòa. Dượng Châu nói đừng hòng mà đặt chân lên đất này… Thư thầm cảm ơn cô giáo ngoài Bắc đã đẩy Thư xuống cuối hàng. Thư nhận ra sự dòm dỏ của con mấy nhà có cha làm bự. Và ánh mắt xanh lơ ở đâu đó muốn loại Thư ra khỏi cộng đồng thân thiện nầy. Có lúc dượng Châu vui đùa cùng chị em Thư Thư cũng hỏi đôi điều về ba mong cải thiện quan hệ. Dượng cũng nói cho Thư nghe Thư biết là dượng muốn giảng giải cho má nghe là chính.
Sức mạnh của người Mỹ thật là vô địch. Họ đưa cố vấn và quân đội vào đây đâu chỉ bảo vệ cho mảnh đất nghèo khổ này. Mà bảo vệ an ninh cho cả thế giới. Dượng lấy điều tiếc không vì mấy sấp nhỏ đi Hawai một lớp đào tạo cấp tốc…
Thư nói mùa đông năm ấy thật dài. Chờ ba Ngoạn thì không có hy vọng gì rồi. Ba ở ngoài đó chắc không có phép tiên mà trở về. Không chắc ba có biết được tình cảnh của má và mình. Thư hy vọng vào sự xuất hiện của ngoại nhưng ngoại không để lại một lời nhắn nhe nào. Đêm đêm đèn pha chiếu sáng rực cả bầu trời Đà Nẵng. Máy bay lên xuống các căn cứ quân sự của Mỹ nườm nượp. Sự thật thì Mỹ đổ quân vào miền Nam rồi. Trên đài và báo nói sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Đà Nẵng Chu Lai là sự thân thiện nhằm vãn hồi nền cộng hòa sau bao nhiêu thăng trầm kể từ ngày đảo chính ông Diệm. Thật ra thì bạn của dượng Châu mỗi khi bàn với nhau cũng không hề giữ gìn khi xuất hiện má con Thư. Thư giật mình khi nhận ra từ lúc nào má trở nên trầm lặng dường như ít quan tâm về thế sự ở trên đời mà chỉ quẩn quanh với nội trợ chăm lo cho Thư sách vở ăn mặc không tỏ ra dăn dạy về giáo lý đạo làm người. Khi lớn lên một chút Thư cảm nhận được sự nghẹn ngào trong trái tim của má. Nếu không có sự đau khổ ấy thì má trở thành người tuyệt vời. Cái dáng nhẹ nhàng nét mặt trầm buồn ấy làm cho người tiếp chuyện phải nể nang kính trọng. Có lần ngoại đã nói trong số con cái của ngoại má là đứa ông hy vọng vậy mà cái đời lại đa đoan. Chồng con lại lỡ cỡ một nửa nọ nửa kia. Nhưng bà lại tặc lưỡi cái rụp. Nhưng mà cái nước mình nó khổ. Kể chiến tranh liên miên không ít người chịu cảnh chia lìa. Ngoại nói từ khi sinh ra làm người ngoại chứng kiến cảnh chém giết có một không hai. Thời đánh Pháp cũng chưa lần nào cái chết tàn khốc đến vậy. Bom đạn có đấy nhưng chưa bao giờ có sự đốt phá mạng con người như cỏ rả. Vùng Quế Sơn quê ông ngoại bom đạn rầm trời. Sang Hòn Tàu núi Chúa núi Quế dọc theo An Hòa Đức Dục Kiểm Lâm... đâu đâu cũng pháo dập nát nhừ đất đai. Thuở trước ngoại sang Gò Nổi mua lụa đóng hàng chuyến đưa xe vào Sài Gòn. Nườm nượp người trên bộ dưới sông đò dọc bè xuôi chở củi về Cửa Đại Hội An về Kỳ Hà chở cá mú ngược lên Thu Bồn Vu Gia... Bây giờ cả một vùng vắng hiu. Không đào đâu ra tiếng cười. Người mình chết hết rồi hay sao mà để cho bọn đầu trâu mặt ngựa ma quỷ nổi lên đội lốt người hoành hoành… Bà ngoại nói ước gì cậu mầy còn sống. Bà nói cậu ba bỏ nhà ra đi từ hôm đưa má con Thư đi gặp ba hụt… Bao giờ ngoại cũng nói lối làm cho giấc ngủ của Thư thêm dư vị ngọt ngào những câu chuyện do ông của ngoại kể lại làm cho Thư thêm yêu thèm khát vùng quê máu lửa của mình.
Thư rất muốn bỏ học muốn rời khỏi Đà Nẵng nhưng đi đâu thì Thư chưa hề biết nếu phải xa má chắc là Thư sẽ thương má nhiều hơn. Thư thương cái Ly Ly hơn. Em của Thư dường như cảm được ý nghĩ thầm kín của chị mà cứ ôm dịt lấy mỗi khi đến giờ ngủ.
Thư rất sợ ngoại không trở lại Đà Nẵng.
Dượng Châu nói ở Quế Sơn Chu Lai và An Hòa đang đựơc Mỹ xây dựng thành căn cứ quân sự liên hợp. Ngoại về đó mà chi. Thời buổi rối ren này. Má bảo ngồi ở trên này không có việc nên má buồn. Vả lại họ đòi cày ủi phần mộ của ông bà tổ tiên đi để lập ấp xây bốt má không về sao được. Dượng Châu nói bây giờ người ta mà phát hiện ra có người tiếp tay cho Việt Cộng là họ có thể bắn bỏ không cần tra xét.
Câu chuyện dượng kể về mụ Cả Đợi ở Kỳ Hà làm Thư giật mình thon thót. Mỹ vô Chu Lai là mụ làm thân liền. Chả là mụ có chân trong hội đồng tỉnh. Đi họp có xe đưa xe đón. Mụ đeo khẩu súng lục lủng lẳng trước bộ ngực đồ sộ. Người ta nói mụ và thằng con út của mụ ép cho ông chồng phát bực mà tự vẫn. Chồng mụ là người kháng chiến cũ không đi tập kết. Mụ ngăn không cho ổng đi. Còn ép đi khai báo nhà có người đi tập kết có người đi kháng chiến cũ. Thằng con đầu vào quân chính quy học Mỹ về đeo ngay lon thiếu tá. Đi đâu có cả đại đội theo bảo vệ. Thằng con út là Liên trung trưởng của Kỳ Xuân. Hắn bắt được du kích mật mổ bụng lấy gan ra bắt lính nhắm rượu. Chính mụ Cả Đợi ngồi uống rượu cùng tụi lính Bảo An và địa phương quân. Mụ nói đứa nào mà không uống rượu với gan của Việt cộng coi như còn ăn ở hai lòng. Căn cứ Chu Lai mở một hai tháng sau mụ và tên tỉnh trưởng Nguyễn Hữu Thu vào thăm úy lạo binh sỹ. Sau này thì một mình mụ có thể ra vào. Mụ thầu toàn bộ rác của tụi Mỹ thải ra và bán lại nên chẳng mấy chốc mà giàu có.
Mụ gây ra nhiều tội ác nên rất sợ sự trả thù của Việt cộng. Mụ chỉ điểm săm hầm làm chết hàng trung đội nằm hầm bí mật khi họ ém quân chờ đêm đến là thâm nhập vào Chu Lai. Mụ Đợi cho xây dựng nhà thành pháo đài phòng thủ có một không hai. Xung quanh mụ cho chở tre pheo từ mạn Duy Xuyên Đại Lộc về trồng dày hàng mét. Phân đạm urê trong kế hoạch an sinh của Chính phủ nhưng mụ không phát cho dân trong ấp. Mụ nói ăn gạo viện trợ nó sướng cần chi mấy hạt lúa còi cọc cho nó sâu răng. Mụ cho chở phân đạm về xếp xung quanh thành hàng rào chống B40. Mụ cho đào hào xung quanh và rào sáu bảy lượt dây thép gai. Mụ chống háng tuyên bố: Việt cộng không có máy bay ném bom hủy diệt. Không làm gì được mụ.
Dượng Châu nghe mà rầu ruột không phải Dượng căm thù chi mụ Cả Đợi. Dượng sợ nhứt là đứa con gái út nhà mụ theo đuổi từ hồi xửa hồi xưa. Lúc nhà mụ Đợi sắm cho nó sập hàng trên Hội An. Có lần gặp Châu đi mua hàng đã úp mở hắn mà định lấy ai người ấy không chạy thoát. Dượng Châu sợ mẹ con mụ xuất hiện ở Đà Nẵng tổ ấm của dượng sẽ bị đe dọa.
Thư nhận ra vẻ lo sợ nơi nét mặt của má mỗi khi nghe chuyện của đám bạn của dượng. Thư còn sợ một điều nữa ngoại mà không quay lại Đà Nẵng Thư biết nương tựa vào ai. Mai kia dượng Châu phải mở những đợt hành quân trấn áp vùng vành đai xung quanh Đà Nẵng và những nơi có dân nổi dậy. Thấp thoáng trong nhà trường có lời kêu gọi cổ võ động viên thanh niên ra sa trường chiến đấu vì tổ quốc. Thư sợ phải đến các căn cứ quân sự của Mỹ hát những bài hát cho tụi chúng nghe. Mơ hồ Thư nhìn thấy đâu đó những cặp mắt xanh lơ thôi miên của con mèo đùa với bé Ly Ly.
                    *
Ngày động trời sảy ra với má con nhà Nhàn mụ Cả Đợi cho xe đỗ xịch trước căn nhà dài dành cho trại lính. Có phải người khác thì được vị hội đồng tỉnh viếng thăm là một vinh dự. Nhưng với mẹ con Thư thì đó là đại họa. Vẫn đeo lủng lẳng khẩu súng lục lọt giữa cặp vú đồ sộ chực thoát ra ngoài chiếc xu chiêng mỏng mảnh nhớt nhèo. Đi theo mụ là con "Mỹ giả" mập ú mặt trát bự phấn chân chưa chạm đất đã tuôn ra lời nhõng nhẽo.
- Anh Châu ơi! Anh đưa con nhỏ Nhàn về tá túc ở Đà Nẵng lâu vậy mà kín miệng quá da!
- Cha… Cha… Ai như giọng cô Năm Xuân nghe quen mà lâu không gặp vẫn nhớ dễ sợ! - Dượng Châu không dấu nỗi sợ hãi về chuyến viếng thăm của mẹ con mụ Đợi.
- Thôi khỏi cần xã giao… Bữa ni được nghỉ họp mẹ con tui vô thăm người bà con dễ lâu rồi nghe nói cậu làm ăn tấn tới… Bộ quên vùng Trường Giang mình rồi sao. Mụ muốn nhắc chuyện xưa kia ba Ngoạn của Thư làm xeo lưới thuê cho mụ. Mụ muốn nhắc bà ngoại có dạo được chồng mụ để ý muốn bỏ mụ mà đi khỏi làng. Bất cứ chuyện gì không ưng trong mắt mụ cũng trở thành hận thù. Mụ nhìn thấy má con vợ của cha Ngoạn mà thoắt chốc thành vợ của cậu tú Châu một dạo cô Năm Xuân theo đuổi. Vì yêu cậu tú cha có hàng vài chục ghe thuyền buôn chuyến từ Hội An lên mạn ngược. Con gái mụ mà không đậu cũng tại thời thế nhưng lại do loại cứng đầu dửng mỡ yêu đương theo tư tưởng của bọn phiến loạn.
Mụ Đợi bảo lâu không được chuyện trò cùng con vợ thằng Ngoạn không được thử tài gia chánh nội trợ của tụi bay. Nhất là món rau Phố thôi thì chiều Qua. Mọi hận thù của quá khứ xếp lại mà lo cho vận mệnh của quốc gia. Bây giờ mụ có chân trong hội đồng tỉnh. Ông Mỹ và ông Chính phủ rất muốn mụ lãnh chân lãnh đạo phụ nữ tỉnh mình. Mụ cũng muốn đứng ra đảm nhận nhưng thiếu người giúp việc. Năm Xuân là đứa ham chơi đường tình duyên lại không mấy thuận. Chi bằng cậu Châu chuyển vùng về Chu Lai là nơi quen cũ. ở đó cần những người có học lực và hạnh kiểm như Châu. Không giấu diếm gì mấy con tụi nhỏ do Đợi này sinh ra bị hụt một bộ phận chi đó mà không được sáng dạ. Người ta sai khiến thiên hạ chớ không phải làm thay hầu hạ cho đám dân vô lại… Mụ nói huyên thuyên chân bắt chéo cái váy toác ra phô cặp đùi béo núc. Mụ cười chống chế bây giờ mấy người làm việc với nước ngoài ăn mặc cũng phải cải thiện. Người ta thì giày dớ bộ mình đi chân đất. Lại mặc đồ nhuộm quả trám thâm sì khăn rằn trông thật quê. Tức cái cha mẹ không dư dật gì để đi học thêm chút ngoại ngữ.
Năm Xuân thì hết ngó trân trân vào mặt má lại sờ vào mặt Thư. Hỏi Thư học hành ra sao. Hỏi Thư có ưng làm tiếp viên cho tiệm của thị. Dượng Châu thì lúng túng hầu cơm rượu. Những chuyện kể về mụ và các con đã loang ra khắp bọn lính tráng. Chuyện mụ ra vào căn cứ Chu Lai như cơm bữa. Mụ còn cặp bồ với tên Mỹ da đen vừa chân ướt chân ráo đổ bộ lên cảng. Chuyện hốt bạc của mẹ con mụ vì thầu được đồ thải của Mỹ. Xây hẳn một khu trại nổi "Bất khả chiến bại" cho quân bố phòng bảo vệ. Không khéo chiều ý mụ thì số phận và con đường tiến thân của Châu cũng khó mà được an toàn. Mụ có thể nhân chuyện lấy vợ của Việt cộng mà nói với cấp trên đầy đi vùng đang có chiến sự. Chết nữa mụ ghép cho phải hầu hạ lên giường cùng Năm Xuân coi như rồi đời. Nghĩ đường lui không nổi đành ậm ừ nuốt đắng vào trong ruột.
- Dì ơi! không mấy dịp dì qua nhà… Mà lại không chu đáo xin dì lượng thứ cho.
- Anh Châu lại khách sáo rồi! Mẹ con em là người thấy sang bắt quàng làm họ chớ! - Năm Xuân nhìn thấy vẻ lúng túng của Châu tỏ ra cởi mở.
- Là có chuyện nầy… Bữa rồi họp Hội đồng. Ông Tỉnh trưởng có nói chuyện cái đám xã Nguyễn Chỉ nó gây loạn xin chia tách xã ra để khỏi sự ảnh hưởng của chính quyền. ổng nói về chuyện ông già nhà này không đi tập kết rồi không tiến kịp xu hướng và thời thế mà tự vẫn. Lại chuyện bạn bè chi đó ông già vợ của cậu. Nói là tiếc cho ông có học hành mà không tỉnh ngộ tin vào tuyên truyền của Việt Minh mà chống lại chính phủ mình. Không hiểu ai mách chuyện mà ông ấy có nhắc tới cậu. Dì mới nói kể tốt duyên thì con nhỏ này đã nên vợ nên chồng với thằng Châu. ổng cũng quyến luyến muốn ngó đến sự tiến bộ của cậu. Dì có nói ở dưới mình cũng cần người xốt sắng tuổi trẻ làm phận sự….
- Xin dì chiếu cố cho… con cũng mang bịnh mà chưa hành quân bổ sung về vùng An Hòa… mà sắp nhỏ lại ốm nhỏng…
- ủa? Con nhỏ nầy? Là con của cậu hồi nào? - Mụ Đợi lia tía mắt đỏ vằn nhìn Thư không nháy. Kỳ thật Thư mặc dù nhỏ tuổi mà vẫn nhận ra cục hầu của mụ giật lên giật xuống như đàn ông. Bàn tay thô ráp túm lấy bờ vai non nớt của Thư.
- Bộ anh Hai Châu còn dấu má em sao? - Năm Xuân không kém mụ Cả Đợi về khuôn mẫu bộ mặt và bộ ngực. Cặp mắt lờ đờ vì rượu và sự kích dục nhìn má đầy thách thức. Anh hai em đánh đổi cùng anh hai em và con nhỏ đó?
- Xin dì và Cô Năm rộng lượng nhân từ... Nó còn nhỏ dại… Dì biểu chi con cũng xin phục tùng! - Dượng Châu ấp a ấp úng không diễn tả được cho rõ ràng sự việc.
- Khỏi cần Dì lo được công chuyện. Nhưng con phải thuận cho dì mượn con nhỏ này!
- Con cắn rơm cắn cỏ lạy dì… Má quỳ mọp xuống chân mụ Đợi chỉ còn thiếu hôn vào cặp đùi mập ú trắng nhợt.
- Bữa trước mấy người làm phách có ai dám xin xỏ… lại còn bắt ép đưa ông xã nhà này vào con đường dại dột… cha nó không lập được công thì con nhỏ nầy làm thay… Bộ các người không hiểu được lòng từ tâm của dì Đợi sao? Nuôi tụi nhỏ này làm phước không sợ có lúc tụi nó chọc dao vào ngực sao. Mụ cầm khẩu súng ngắn như chiếc đùi lợn giữa hai cặp vú chín mọng cười. Thư nhận ra chiếc răng vàng trong miệng đỏ lói miệng mụ như có lửa.
Má khóc lóc vật vã bé Ly Ly cũng khóc ngằn ngặt. Mụ Đợi và Năm Xuân bộ mặt lạnh lùng không nói năng. Dượng Châu bộ mặt tái mét có vẻ nghĩ lung lắm. Thư thì sợ hết hồn…
Năm đó nàng mới tròn mười hai tuổi ta. Nàng nói nàng sợ lắm. Những chuyện mà đám sĩ quan bạn của dượng Châu kể Thư tin là sự thật. Chuyện mụ Đợi ăn gan của Cộng sản du kích nằm vùng. Chuyện mụ muốn nuôi bọn con cái nhà cộng sản để bán trinh lấy lời. Lọt vào bàn tay mụ xem như rồi đời…
Ngoại không quay lại làm Thư chờ suốt cả một mùa đông lạnh lẽo và run rẩy. Biết thế này Thư không nghe theo lời má và ngoại lên Đà Nẵng với má và Dượng. Nhưng tại má cả má bảo con là hòn máu còn sót lại của ba má thề dù đói no thế nào cũng nuôi cho con học hành tử tế. Kiếm lấy một nghề. Dù thời loạn nhưng có nghề vẫn hơn. Dượng cũng nói thế ba con và dượng đi theo hai ngả đường nhưng vì má dượng thề không làm điều chi thất đức với giáo lý nhà Phật. Con ở với dượng ra ngoài nanh vuốt của cuộc đời này không thoát khỏi cạm bẫy được đâu… Vả lại ngoại và con chạy đâu cho thoát… Cả thung lũng Quảng Nam này nơi nào cũng rặt bom đạn. Không một tên Việt cộng nào thoát khỏi sự truy lùng của quân đồng minh và quân chính phủ đâu. Quân úc Nam Hàn moi gan mổ bụng phơi thây đầy ra ở Bình Định… Có lúc Thư gặp ác mộng ngay giữa ban ngày. Mơ cùng má đi tìm ba tay nải lên tàu tập kết giấc mơ đứng xếp hàng đội mũ ca lô màu xanh chào tổng thống ngài là hiện thân cho nền tự do của Việt Nam cộng hòa. Giấc mơ chạy thoát thân khỏi những câu chuyện điếm nhục do đám sĩ quan bạn của dượng Châu kể. Và giấc mơ nhìn thấy má và em Ly Ly như ở xa xôi không tới được. Còn ngoại thì bị người ta đưa đi xử bắn ở trên bán đảo Sơn Trà...

                                                            T.N.T   

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh



 
 

Phạm Ngọc Chiểu
 
 
 
Khúc tự tình khó nói
 


Truyện ngắn





        Lúc ra khỏi nhà được mẹ động viên tôi hạ quyết tâm là vậy mà giờ đứng trước cửa phòng làm việc của Trưởng công an phường lưỡng lự mãi tôi mới cong được ngón tay gõ nhẹ ba tiếng vào cái cửa gỗ nghiến. Khác với tôi chờ đợi nghe hai tiếng “Mời vào” cánh cửa bỗng bật mở và ông Trưởng phường hiện ra lừng lững trước mặt tôi.
- Cậu đấy à?
Hình như ông hơi nhếch cười nhìn lướt từ đầu xuống chân tôi. Rồi tiếp:
- Vào đi.
Tôi lặng lẽ theo ông vào phòng ngồi xuống cỗ ghế xa- lông đóng bằng gỗ lát chun chắc đã lâu lắm màu gỗ thẫm đen hơn cánh gián không còn nhìn thấy các vân gỗ.
Đặt sang phía tôi chén nước chè xanh bốc khói thơm ông rọi cái nhìn vào mặt tôi:
- Uống nước đi rồi nói coi cậu gặp tôi có việc gì?
Tôi cầm chén nước đang bốc khói đặt vào lòng bàn thay trái nóng quá lại đặt chén về chỗ cũ:
- Thưa bác sáu tháng trước cháu đã gặp bác...
Ông không nói gì cũng không gật không lắc đầu. Chắc là ông quên.
Vâng chắc ông quên. Làm trưởng một phường ven thị lắm chuyện rắc rối ông không nhớ đã gặp tôi cách đây sáu tháng cũng phải thôi. Nhưng tôi thì tôi vẫn nhớ. Làm sao tôi có thể quên được buổi sáng hôm ấy cái buổi sáng bước ngoặt của đời tôi.
Sáng ấy đợi tôi ăn xong bát mỳ mẹ tôi dẫn tôi ra trụ sở công an phường. Lặng bước bên mẹ lòng tôi ngổn ngang. Chẳng thể ngờ đời tôi lại có lúc đến nông nỗi này!
Cửa phòng làm việc của trưởng công an phường mở sẵn. Có vẻ như vị công an già này đang chờ mẹ con tôi. Là người trong phường tôi biết ông từ hồi trung học cơ sở. Biết thôi chứ không dám gần. Là vì ông nghiêm lắm. Hay cười nhưng nghiêm bọn trẻ chúng tôi rất ngại. Học xong phổ thông trung học tôi học đại học Giao thông ra trường về làm kỹ thuật tại một công ty công trình giao thông chuyên xây dựng cầu đường miền núi thế là vèo bảy tám năm hầu như không gặp ông. Dịp tết vừa rồi vác cái hòm tôn đựng quần áo về với mẹ loáng quoáng thế nào lại gặp ông. Đinh ninh rằng ông chẳng biết mình là ai tôi né người toan bước bất ngờ thấy ông đứng án trước tôi cười cười:
- Cậu về ăn tết hả? Vác hòm gì to thế?
Tôi ấp úng “Vâng” cười trừ bước đi trong cảm giác ông nhếch cười nhìn theo. Cảm giác ấy khiến tôi nhồn nhột sống lưng.
Ăn tết xong để mẹ khỏi ngợ tôi nói được nghỉ bù hết tháng giêng. Nhìn sự cả tin của mẹ tôi vội quay đi. Từ bé đến giờ tôi chưa nói dối mẹ lần nào vậy mà lần này...
Thật ra tôi không đi làm nữa. Tôi đã bị buộc thôi việc. Một kỹ sư Trưởng phòng kỹ thuật mà bị buộc thôi việc đau thế. Nhưng tôi biết nói với mẹ thế nào? Hai mươi năm mẹ còm cọm  làm lụng nuôi cho ăn học để có trong tay bằng kỹ sư ba năm phấn đấu từ một kỹ sư thực tập thành Trưởng phòng kỹ thuật tôi hăm hở cùng Phó giám đốc công ty dẫn quân lên tuyến K52 với quyết tâm thực hiện cho được gợi ý của Giám đốc: Hoàn thành tốt mọi việc để khi thông xe toàn tuyến tôi nhận được từ tay ông cả quyết định công nhận Đảng viên chính thức và quyết định đề bạt làm Phó giám đốc thi công Công ty. K52 tuyệt vời! Tôi thầm reo sau khi gặp ông rồi háo hức cùng anh em lên đường.
Có ngờ đâu tuyến chưa thông thì tôi bị...
Không tôi không hề mắc sai sót kỹ thuật trong chỉ huy thi công. Tôi ngày đêm bám tuyến không tiếc sức. Vậy mà tôi đã gục ngã ở K52. Khốn nạn cái thân tôi thế!
K52 là tuyến đường dài hai mươi lăm cây số phải mở nối từ phố Vãng lên bắt vào quốc lộ số 6 trên đất Sơn La thay cho đoạn quốc lộ bị chìm dưới lòng hồ thủy điện sông Đà. Trừ điểm nút hai đầu cả tuyến đường phải mở xuyên qua một vùng rừng già hầu như chưa có dấu chân người. Khi máy ủi mở đường công vụ chọc sang phần đất tỉnh Sơn La thỉnh thoảng tôi thấy một chàng trai Mông đeo súng săn thấp thoáng trên đỉnh ta-luy. Cậu nhân viên tiếp phẩm của đơn vị một bữa cơm chiều về muộn ngồi ăn cùng tôi khoe đã tìm được một bản người Mông cách tuyến gần tám cây số! Tôi nghe ừ hữ cho qua chuyện vì nghĩ mình chả liên quan gì đến bản Mông đó. Công việc thi công tuyến mới gặp nhiều khó khăn nhiều cua nhiều dốc hầu như ngày nào tôi cũng phải có mặt trên tuyến để giải quyết những vấn đề kỹ thuật làm gì còn thì giờ đi bản. Chẳng ngờ một sáng chủ nhật tôi phải theo cậu tiếp phẩm tìm vào bản Mông đó.
Bí thư chi bộ của bản Mông qua đời. Theo cậu tiếp phẩm báo cáo ông là người rất nhiệt tình vận động bà con trong bản cung cấp thực phẩm cho đơn vị chúng tôi. Tôi cùng một số anh chị em tìm vào bản là để phúng viếng tiễn biệt ông.
Hôm ấy sau khi đặt lễ phúng viếng người Bí thư già và chia buồn cùng gia đình ông giá tôi quay về ngay đơn vị thì hay biết bao nhiêu. Nhưng tôi đã không làm thế. Nhưng nghi thức lạ lẫm của đám ma người Mông sự chèo kéo chân thành của ông bố già nhất bản cộng với sự dẻo mỏ của cậu tiếp phẩm đã níu giữ tôi ở chơi suốt cả ngày trong bản Mông đó. Tôi đã ăn cơm uống rượu và say thiếp đi lúc nào tại nhà bố già Mông lúc tỉnh rượu thấy trời đã chạng vạng con cháu bố già đang làm cơm chiều còn cậu tiếp phẩm và ông bố đang nằm châu đầu rít thuốc trên bộ phản kê trong góc nhà. Mùi khói thơm thơm khen khét loang đến chỗ tôi. Chưa hết váng vất tôi xua tay từ chối lời mời “hút chơi” của hai người. Nhưng sau bữa cơm tối men rượu ngô làm cho ngây ngất tôi đã tặc lưỡi đáp lại thịnh tình của bố già Mông “thử tí xem sao” (!). Đợi tôi hút xong điếu thứ hai và gật gù khen “cũng hay hay” cậu tiếp phẩm mới toe toét cười nói cho tôi hay rằng lúc trưa sau bữa cơm tôi cũng đã “hút chơi” liền lúc hai “bi” như vừa rồi. Tôi có hơi giật mình nhưng lại nghĩ: hút chơi chơi sợ gì!
Tôi đã sa chân vào con đường nghiện ngập bắt đầu như vậy. Để rồi bây giờ đang phải vòng vo nói dối mẹ mình.
- Con đi chơi chút mẹ ạ.

Thấy mẹ có vẻ không ngờ ngợ cái ý “được nghỉ bù hết tháng giêng” tôi mới nói tiếp lời nói dối thứ hai yên trí rằng mẹ sẽ vui vẻ gật đầu. Nhưng thật bất ngờ tôi thấy mẹ bỗng nghiêm giọng:
- Con đi đâu?
- Dạ con chơi lòng vòng thôi mà mẹ.
- Chơi lòng vòng? Con chơi những đâu? Chơi với ai?
- Kìa mẹ!
- Trả lời mẹ đi: con chơi đâu? với ai?
- Bạn bè con mẹ biết cả rồi còn gì.
- Mẹ biết. Nhưng mẹ cũng biết hôm nay con không đi chơi với các bạn ấy mà con đi việc khác. Đúng thế không Ngọc? Nào con nói đi nói thật với mẹ đi. Hay con để mẹ phải nói ra?
Giọng mẹ và vẻ mặt của mẹ làm tôi bối rối. Chưa bao giờ mẹ nói với tôi thế này.
- Sao nào con không nói hở? Vậy là con vẫn muốn nói dối mẹ? Ôi Ngọc ơi là Ngọc con hư hỏng thật rồi!
Mẹ tôi kêu lên và bà chạy vào gian trong. Loáng bà bước ra chìa cho tôi tờ giấy:
- Đây mày đọc đi. Người ta báo cho mẹ chập tối qua đây này con ơi là con!
Tôi chết lặng người trước tờ thông báo của công an phường về tình trạng nghiện hút và ý định xử lý của họ đối với tôi.
Nửa tiếng sau đó đợi tôi ăn xong bát mỳ mẹ ồn tồn bảo tôi đi với mẹ.
Và như tôi đã kể cửa phòng làm việc của Trưởng công an phường đã mở sẵn có vẻ như ông đang chờ mẹ con tôi.
Đợi mẹ và tôi yên vị trên hai cỗ ghê xa- lông gỗ lát vị công an già mới rời bàn làm việc ra ngồi đối diện với mẹ con tôi. Ông chậm rãi rót ra ba chén nước rồi nhìn thẳng sang mẹ tôi sau khi ánh mắt ông lướt qua mặt tôi:
- Sao đêm qua bà đã nghĩ kỹ chưa? ý định của chúng tôi thế đấy phải cho cậu “quý tử” của bà đi cai nghiện thôi. Vài bữa nữa có đợt đưa mấy tướng tái nghiện lên trại chúng tôi cho cậu ta đi luôn.
Tôi không lạ gì trại cai nghiện phía tây ấy. Công ty tôi từng nhận thi công năm cây số đường từ quốc lộ 6 vào trại đó. Một thung lũng khô cằn. Người ta xây khoanh lấy khu đất rộng và dốc của thung lũng đó Tường bao xây bằng đá hộc cao đến bốn mét chân tường rộng hơn một mét trên mặt tường chăng dây thép gai cẩn thận. Con đường chúng tôi thi công đi thằng vào cái cổng lớn của trại. Đất trong tường bao được chia làm hai phần. Phần đất cao người ta xây một ngôi nhà hai tầng dành cho ban quản giáo của trại ở và làm việc. Ngôi nhà nhìn ra một sân rộng có vườn hoa sân bóng chuyền và sân chơi cầu lông. Phần đất thấp chiếm phần lớn diện tích khu đất có những dãy nhà một tầng kiên cố đủ chỗ cho mấy trăm người ở. Từ những dãy nhà này muốn lên khu đất cao và ra khỏi cổng trại nghe nói phải leo hơn ba chục bậc đá mỗi bậc cao hơn mươi phân. Leo hết từng ấy bậc đá người khỏe cũng thở ra đằng tai.
Ngày ngày những người dưới khu đất thấp phải leo lên khu đất trên được chia tốp và giao việc. Đám trai trẻ bị đưa đến công trường khai thác đá cách trại hơn ba cây số. Trại viên nữ thì bố trí đến một vườn rừng nghe nói rộng lắm trồng cấy các loại rau màu đủ cung cấp cho trại. Nằm kế phía tây trại là khu xưởng mộc xưởng cơ khí xưởng may và thêu ren vừa là những lớp dạy nghề vừa là xưởng sản xuất.
Trong thời gian phụ trách thi công năm cây số đường cho trại ngày ngày tôi chứng kiến trại viên được dẫn đi lao động. Nghe nói họ được giao định mức khá nặng: phải làm ra sản phẩm đủ nuôi bản thân mình và đóng góp và tích lũy cho trại nữa. Vậy nên chiều chiều hầu hết đám trại viên quay về trại điều ểu oải lê bước nét mặt mệt mỏi rầu rĩ.
Nay mai tôi phải nhập vào cái đội quân đó sao? Câu hỏi nhói vào ngực tôi bặm môi nhắm nghiền mắt lại. Thì tôi nghe tiếng mẹ tôi van vỉ nao lòng:
- Bác ơi em xin bác em van bác. Bác biết đấy nhà em cây có một cành cành chưa có trái. Thôi thì con em nó trót dại em xin bác để em dạy nó bác đừng bắt nó đi trại. Vâng em cam đoan em hứa. Em hứa mà bác. Trước nay con em nó không có trái lời em bao giờ...
Lời van vỉ làm tôi mở choàng mắt nhìn thấy vẻ mặt đau khổ của mẹ tôi.
- Bà nhận tự cai cho cậu ta? - Ông Trưởng phường nhếch cười - Bà cai bằng cách nào? Xin nói để bà biết chữa căn bệnh này không dễ đâu.
- Vâng em biết ạ. Em cũng đã có nghe nói. Nhưng xin bác cứ cho em làm thử. Em tin là mẹ con em có thể bảo ban nhau được. Phải thế không con? Kìa con nói với bác đi.
Cài nhìn cầu khẩn của me khiến tôi phải lúng búng hứa với vị công an già dù chưa biết rồi mẹ sẽ cai nghiện cho tôi bằng cách nào...
- Cậu nói tiếp đi. Sáu tháng trước mẹ cậu đã hứa tự cai nghiện cho cậu tại đây tôi nhớ. Nghe nói mẹ con cậu đã làm được việc đó?
- Vâng.
- Dứt hẳn thật chưa?
- Sáu tháng rồi mà bác.
- Sáu tháng chưa phải là lâu. Hỏi thật nhé cậu đã gặp lại lũ nghiện chưa?
- Nhiều rồi bác ạ.
- Nhiều?
Có vẻ ông chưa thật tin dù đó là sự thật. Tôi đã không ít lần gặp cánh nghiện hút. Quen có. Chỉ biết thôi có. Quen thân là mấy cậu cùng nghiện trên K52 với tôi. Chỉ biết sơ sơ là mấy tướng nghiện ở phường sở tại. Cùng dân nghiện nhận ra nhau ngay. Việc gặp lại cánh nghiện chính là do mẹ tôi chủ động.
- Cháu hiểu vì sao bác chưa thật tin. Có phải bác nghe nói dân nghiện mà gặp lại nhau thì dù cai xong rồi vẫn bị nghiện lại?. Đúng là có chuyện đó nhưng không có nghĩa là tất cả bác ạ.
- Thôi được - Ông Trưởng công an phường cười - cứ tự tạm coi như thế đi. Giờ cậu nói coi ý định cậu gặp tôi?
- Cháu muốn bác giúp đỡ cháu.
- Cụ thể?
- Nhờ bác đứng bảo lãnh để cháu được vay vốn Ngân hàng. Cháu đã thế chấp nhà - đất của mẹ cháu nhưng họ...
- Cậu bảo sao tôi bảo lãnh cho cậu vay vốn Ngân hàng?
- Vâng ạ.
- Cậu vay vốn Ngân hàng để làm gi?
- Cháu mở Công ty.
- Mở Công ty?
- Vâng cháu mở công ty thi công cầu đường. Trước mắt là Đội thi công sau đó đến Công ty. Đơn vị cháu sẽ lên nhận thi công  các tuyến đường cho các tỉnh miền núi. Công việc và địa bàn này cháu đã thuộc lắm.
Ông Trưởng phưởng thần mặt nghĩ ngợi. Bỗng ông hỏi độp:
- Này sao cậu không đi xin việc mà làm lại định mở Công ty?
- Xin là người làm thuê? Không ba năm làm thuê cháu biết rồi.
- Sao bảo ba năm qua cậu làm cho Công ty Nhà nước?
- Thì cũng là làm thuê thôi. Nói thật với bác làm thuê cho Nhà nước còn bị trả công xoàng hơn làm bên ngoài.
- Cái cậu này. Cậu nói đúng cái giọng của con gái tôi. Rõ thật là...
- Đúng thế mà bác. nên giờ cháu không muốn là người làm thuê nữa bác ạ.
- Nói thật nhé cậu muốn xin việc làm thì tôi có thể giúp. Chứ đứng bảo lãnh cho cậu vay vốn Ngân hàng thì...

*
Tôi choàng tỉnh. Hơi nước mát lạnh tiếng thác ầm ào sục sôi hay tiếng gọi hớt hải đã dứt tôi khỏi cơn mộng du? Hình như cả ba thứ đó. Tôi nhận ra mình đứng ở bục bê tông gần sát mép nước đang bốc hơi mù mịt. Tiếng ai đó vẫn đang gọi gấp gáp: “Anh Ngọc ơ...ơ...i...”. Trên dốc bê tông một cô gái đang nghiêng người khó nhọc đi xuống.
- Ô Lan! Có đúng Lan không?
- Em tìm anh mãi. Sao anh ra đứng đây?
Sao tôi đứng đây?. Tôi thầm lục vấn mình. Và lần lần nhớ lại.
Lúc ấy mặt tôi nóng lên bừng bừng. Nhìn vẻ mặt con mắt cái cười nủa miệng sau câu hỏi: “Tôi đứng ra bảo lãnh cho cậu nhất là cái phản xạ chồm hẳn nửa người sang phía tôi của ông Trưởng công an phường tôi biết là không trông mong gì ông rồi. “Bác giúp cháu?”. Tôi vẫn cố vớt vát “Giúp cậu? Lấy gì làm cơ sở để tôi giúp cậu? Cậu cả ơi đừng làm khó cho tôi...”; “Cháu hiểu rồi. Tức là bác chưa tin cháu”. “Cái đó... Cái đó sao ạ? Có phải bác định nói cái đó bọn họ phải tự lo bác và xã hội không có trách nhiệm?”; “Tôi không nói thế. Cậu đừng có suy diễn”. “Nhưng cụ thể của cái gọi là “có trách nhiệm” là gì nếu không phải là những giúp đỡ thiết thực để họ có công ăn việc làm và chính cháu đang xin bác giúp cháu một việc tương tự?”; “Tôi đã nói tôi không giúp cậu chuyện đó được”. “Bác giúp được. Cháu biết là bác giúp được mà. Bác và ông Trưởng chi nhánh Ngân hàng đóng trên địa bàn phường ta là chỗ thân quen phải thế không ạ?”; “Cậu này rắc rối quá. Tôi bảo không giúp được là không giúp được hiểu chưa?”; “Cháu hiểu rồi tức là bác thật sự không muốn giúp dù đó chỉ là việc nhận bảo lãnh”.
Hóa ra bác là người như vậy. Hóa ra cháu nhầm. Thôi được chào bác”
Chua chát và giận dữ tôi đứng bật dậy đi nhanh ra khỏi phòng làm việc của ông Trưởng phường. Trước khi kéo sập cánh cửa tôi còn ngoắt lại nhìn ông thấy ông ngỡ ngàng và chưng hửng nhìn tôi. Tôi còn nhận ra hình như có bóng một cô gái sau tấm ri đô ngăn phòng sau lưng ông.
Và tôi đi vô định mông du với nỗi âm ỉ tấm tức trong đầu: người đời không còn tin ta nữa sao?!...
- Em tìm đến nhà bác bảo anh chưa về. Hỏi bác anh hay chơi những đâu bác lắc đầu. Em quay xe đề máy tìm hú họa. Lo quá chỉ sợ anh... May sao gặp được người bảo có thấy anh đi ra ngoài này. Anh ra đây làm gì? Có phải anh định...?
Lan níu tay tôi giọng riết róng mắt anh ánh giận buồn. Chẳng hiểu sao tôi lại cười. Cái cười chắc là ngu ngơ lắm. Lan cau mày:
- Lại còn cười. Thôi đi lên để em còn bàn với anh cái này.
Điều Lan “bàn” là mời tôi về làm chỗ cô. Khi biết mình không nghe nhầm tôi cho rằng Lan đùa tôi. Ngày học đại học Lan rất hay đùa. Cô mạnh mẽ quyết đoán nhưng hay đùa. Mặt tỉnh bơ giọng cứ tưng tửng tưng tửng hư hư thực thực người chưa quen tính nết không biết đâu mà lần. Tôi là Bí thư Đoàn kiêm lớp phó phụ trách học tập mà không ít lần bị Lan lỡm. Khi sắp tốt nghiệp nhân một hôm Lan đùa tôi nghiêm trang bảo cô: “Em mà cứ không nghiêm chỉnh nay mai ra trường làm ăn thế nào? Ai người ta dám giao việc cho em?” Lan nghiêm mặt độp lại tôi: “Anh nói chả khác gì ông bô em. Cổ quá. Nói thật nhé em có nhờ ai giao việc cho em đâu. Em sẽ tự giao cho em thôi”. Nhìn cái vẻ câng câng đầy thách thức của Lan tôi cười: “Ghê nhỉ. Lại cậy có bố làm to hả?”. “Bố em làm công an cấp úy to đâu mà to. Và giả dụ bố em có làm to em cũng chả nhờ. Bố em “bôn” hạng nhất nhờ sao được. Mà anh buồn cười thật không tin em có thể tự lo liệu được cho em sao?”. Đúng là tôi không tin. Tôi nghiêm chỉnh học hành tử tế còn đang lo xin việc nữa là. Giờ sau ba năm gặp lại sao đổi ngôi thật sao?
Em nhắc lại nhé: Em mời anh về giúp em một tay được không? Người chỉnh chu vững nghề như anh em cần lắm. Mình em xoay không xuể vì em mắc khâu quản lý
Mắc quản lý? Lan đã là lãnh đạo? Tôi tự hỏi rồi nhìn Lan:
- Công ty em là Công ty nào? Thuộc tỉnh hay thuộc Bộ?
- Chẳng thuộc tỉnh thuộc Bộ nào hết. Thuộc em thôi.
- Thuộc em? Tức là Công ty của em?
- Vâng. Sao anh tròn mắt ra thế? Không tin à? Anh có nhớ hồi ở trường em nói với anh thế nào không.
- Sao tôi không nhớ. Nhưng Lan đã lập Công ty riêng???
- Nói thật với anh nhé Công ty em làm ăn được đấy. Em vừa ký được hợp đồng mới tuyến có khối lượng lớn làm cả năm chưa hết việc đâu. Nhưng yêu cầu kỹ thuật cao không dễ nhằn phải có kỹ năng giỏi chỉ huy thi công. May qúa tìm được anh. Anh giúp em nhé?
- Nhưng tôi...
- Mọi chuyện em biết cả rồi không nhắc lại nữa. Ai bảo cho em biết ư? Bác chứ ai. Ông già em nữa. Nói thật khi nghe ông già em kể em ngờ ngợ không tin. Người như anh qua bốn năm cùng học em biết sao lại thế được? Nhưng chiều nay tận mắt thấy anh nghe anh nói em mới ngớ người. Lúc anh ra khỏi phòng em đã định gọi nhưng vội kìm lại. Em đinh ninh anh về nhà nên sau đó phóng xe vào tìm nào ngờ anh ra đây...
Lan nói vô tư hồn nhiên xem như chuyện chả có gì quan trọng trong khi tôi gằm bước nóng tai. Và tự hỏi: Lan đã tính đường đi nước bước ngay từ dạo sắp ra trường không giống ai vậy sao? Và cô đã làm được? Lớp mình khóa mình đã ai làm được như Lan?
- Thế nào anh nhận lời giúp em không?
- à thì... hẵng biết thế. Lan phải để tôi tính...
- Lại còn tính với toán. Hay anh ngại anh không thích cái tiếng “làm thuê” nhất lại cho cái con bé trước nay anh vẫn cho là hàng em út? Vậy thì thế này: anh làm một cổ đông của Công ty em? Cũng được em nhất trí. Được chưa nào?
Làm một cổ đông? Thì phải có tiền. Tôi đang cần tiền mà có đâu. Cần tiền để tổ chức một đội đi nhận  thi công cầu đường trên miền núi khỏi phải xin xỏ cầu cạnh làm việc cho ai. Tôi tính thế. Thời buổi này mấy ai tin kẻ từng nghiện ngập?. Nói đến nghiện tôi lại rùng mình. Sáu tháng cai nghiện thật là khủng khiếp. Nhớ hôm mẹ đưa con dao rựa bảo hạ cây xoan sau khi nghe mẹ tự tra chân con vào cùm có ngồi bên thí thá với tấm khăn xấp nước nóng thơm mùi hương nhu luôn tay lau mặt mũi mồm miệng nhểu đầy rớt rãi cho tôi sau đó cơn nghiện qua đi mẹ ân cần xúc cho ăn từng thìa cháo nóng. Nhớ bữa đầu tiên mẹ cho ra khỏi nhà để đối mặt với bọn nghiện hút có mẹ đi cùng nên tôi vượt qua được giây phút toàn thân như mềm nhũn ra nhớ thuốc khi trông thấy bọn đó... Tôi đã vượt qua được hết giờ đang tính kế làm ăn Nhưng...
Các bạn! Hẳn các bạn sẽ cho rằng tôi hâm tôi sĩ rởm nếu tôi từ chối lời mời nhiệt thành của Lan?
Các bạn nghĩ thế là có lý. Nhưng...
Tôi đã làm thế đấy. Và tôi thành tôi hôm nay.
Các bạn thử đoán xem tôi hôm nay thế nào? Và quan hệ của tôi và Lan hiện nay ra sao?.
                                                            P.N.C

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 

Thanh Thản


Ngày về

Truyện ngắn

 



            Tập tễnh về đến đầu làng Tùng đã thấy khá mệt mỏi. Từ ngày chiếc nạng gỗ thay chân đến giờ đây là lần Tùng đi bộ dài nhất. Từ trại an dưỡng về đi bằng ô tô anh xuống xe còn chừng hai cây số anh muốn đi bộ để ôn lại  cuộc đời quân ngũ thường xuyên cuốc bộ của mình và cũng là để được thong thả ngắm nhìn quê hương mà bao tháng năm anh nhớ nhung da diết... Đôi chân anh từng đã đi bộ trong suốt cuộc hành quân lịch sử “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” dễ đến hàng ngàn cây số đường rừng mà lại còn phải trèo đèo vượt thác phải chạy bom tránh đạn như cơm bữa. Trên lưng mỗi người còn phải mang vác đến hàng ba bốn chục ký. Nào là ba lô súng đạn xoong chảo bao gạo ăn cả tuần... Những lúc đồng đội ốm sốt lại phải mang vác thay cho anh em nữa... Vậy mà bây giờ mỗi chiếc ba lô lép anh cũng đã cảm thấy rất mệt..Sức anh đã cạn nhiều.
Đến bờ đê gặp bãi cỏ xanh mượt lại đang cảnh chiều quê thanh bình nắng nhẹ gió hiu thổi mát mẻ nên anh ngả nạng ngồi nghỉ chân một lúc. Ngay gần đấy vẫn là ngôi nhà ba gian mái gói đã sạm mầu thời gian. Đó là ngôi nhà của mẹ Soan. Ngày trước mẹ Soan làm nghề chở đò. Mẹ Soan đã mất. Bây giờ làng đã có cầu nhưng nhà mẹ Soan vẫn còn ở đó. Tùng lưỡng lự nửa muốn vào nửa muốn về nhà trước đã.
Tùng móc túi lấy bao thuốc rút một điếu bật lửa hút. Anh vừa khoan khoái rít hơi thuốc thì bỗng thấy một cậu bé chừng mười tuổi trên vai có một con sáo đen đang đua mỏ kêu “Xạch! Xạch” bước tới. Tay cậu bé cầm một chiếc que tre ngắn. Vừa đi cậu bé vừa khua khua chiếc que trên cỏ tìm bắt cào cào cho sáo.
Thấy Tùng cậu bé sững lại trố mắt nhìn. Có lẽ nó lạ. Nó chưa thấy một chú bộ đội nào như thế bao giờ. Một chân chú bị cụt điều ấy không lạ. Nó lạ là ở khuôn mặt của chú. Mặt chú loang lổ những vết sẹo chỗ đen chỗ trắng trông dễ sợ. Trên trán chú cũng nhiều chỗ bóc đi từng mảng trắng ởn...ấy là viết thương Tùng bị bom cháy trong một trận đánh ở Phước Long năm 1973. Sau lần ấy Tùng phải chuyển về tuyến sau điều trị dài dài. Viết thương lành Tùng lại tiếp tục về đơn vị tham gia chiến đấu. Đến trận chiến đấu ở Hớn Quản cuối năm 1974 anh lại bị thương lúc xông lên hạ đồn giặc. Bị cụt một chân Tùng mới chịu về tuyến sau rồi ra Bắc. Tùng được về một trại điều dưỡng tại Nghệ An khá lâu vì còn mấy viết thương nặng vào ngực vào bụng. ở trại điều dưỡng Tùng vẫn không muốn báo tin cho gia đình cho Soan hay. Anh muốn gìm lại lâu lâu để chờ Soan đi lấy chồng đã. Chứ về Soan lấy anh thì khổ cho Soan lắm. Anh thương tật nặng anh chịu vậy...
Cậu bé vẫn đứng trân trân nhìn anh. Anh cười bắt chuyện:
- Cháu đi bắt cào cào cho sáo à? Lúc bé chú cũng thích chơi sáo lắm. Sáo chú bắt trên núi Vàng toàn sáo chân đỏ mỏ vàng cả... thích lắm...
- Vâng ạ... Thế chú là thương binh à?
Tùng gật đầu. Cậu bé bạo dần. Nó bước đến và ngồi xuống tay sờ sờ vào cái nạng gỗ của Tùng vẻ lạ.
- Cháu là con ai?
- Dạ cháu con mẹ Soan..
Tùng bỗng giật mình. Mặt anh nóng bừng. Anh cảm thấy choáng váng. Mọi cảnh vật như quay cuồng trước mắt anh. Khá lâu Tùng mới lấy lại được bình tĩnh...Làng anh chỉ có một cô Soan là Soan của anh. Một cô Soan xinh đẹp nết na đã một lòng hẹn anh cùng đợi ngày chiến thắng... Vậy mà sao bây giờ Soan lại có con? Từ ngày ra đi đến giờ anh không hề nhận được một mẩu thư nhà không hề biết tin Soan. Anh em ở làng xã vào thì cũng chẳng gặp ai thành ra anh càng mù tịt mọi tin tức ở nhà. Các anh là lính bộ binh xông pha khắp miền. Lúc ở Công Phông Chàm lúc về Lộc Ninh Bình Long thoắt cái lại xuống Đồng Nai Long An Sài Gòn Bà Rịa... Có khi dòng dã bước chân xung kích suốt cả sáu tháng mùa khô...thì có địa chỉ đâu mà đón nhận thư nhà. Người lính khổ thế sống mà gia đình chẳng hay. Có thể vì thế mà Soan đã không chờ đợi nổi... Nhưng thôi cũng mừng... Mình chẳng đã mong cho Soan như thế là gì!
Tùng cúi lặng suy nghĩ. Cậu bé vẫn chằm chằm nhìn anh. Có lẽ nó cũng đang suy nghĩ gì đó. Rồi Tùng ngồi xích gần cậu bé và đặt tay lên vai nó hỏi:
- Thế mẹ cháu có nhà không?
- Dạ có... mời chú vào nhà cháu chơi uống nước...
- ừ...
Tùng chống nạng đứng dậy rồi tập tễnh theo cậu bé vào nhà. Bước đến cửa Tùng đứng sững. Anh mừng run lên khi trông thấy Soan. Mười mấy năm xa... rồi anh lại sực nhớ mình bây giờ đang là “Khách qua đường”.
Anh chăm chăm nhìn Soan. Soan đang cắm cúi sàng gạo. Soan của anh đấy. Mới ngoài ba mươi mà sao Soan đã có vẻ như một người tuổi tác. Trông Soan gầy già đi nhiều. Thì ra sự khắc khoải đợi chờ cũng làm cho con người ta chóng già đi thế đấy! Chiến tranh đâu chỉ vất vả gian lao đối với những người ra trận?
Chỉ suýt nữa Tùng thốt lên một tiếng Soan thân thương như ngày nào nhưng anh cố nén lòng nén xúc động:
- Chào cô...
Bấy giờ cậu bé mới chen lên trước rồi đứng bên mẹ.
Nghe tiếng người Soan dừng tay sàng gạo ngẩng lên. Cô chăm chăm nhìn anh bộ đội. Cậu bé vội lên tiếng.
- Chú bộ đội đấy mẹ ạ... Chú ngồi nghỉ ngoài kia con mời chú vào chơi uống nước.
- Thế à... Chào anh... Mời anh vào nhà chơi... nhà tối quá... con lên mở cửa sổ đi...
- Vâng ạ...
Soan nhìn con rồi quay nói với anh bộ đội:
- Con nhà lính có khác... Hễ thấy bộ đội là nó thích... thế đấy anh ạ!
Tùng ghé ngồi xuống giường và chộp thời cơ hỏi luôn:
- Thế bố cháu cũng là bộ đội à? Bố cháu về chưa? Bố cháu đi chiến trường nào? bao năm rồi cô?...
Mấy câu hỏi dồn của Tùng làm lòng Soan lắng xuống. Rồi Soan lặng lẽ đứng lên lật đật đi pha nước. Nét mặt cô lại tỏ ra buồn buồn. Cô vẫn chằm chằm nhìn Tùng. Nhưng mặt Tùng bị thương như thế anh lại cố nói cho khác giọng đi một chút trời chiều trong căn nhà lại tối mờ nên cô khó mà nhận ra được Tùng.
Vừa nâng chén nước cho Tùng Soan vừa nói:
- Dạ bố cháu cũng là bộ đội đấy anh ạ!
Tùng khẽ ý từ trút một hơi thở dài. Anh yên tâm vì Soan vẫn chưa nhận ra mình.
- Thế cháu đây là...
- Dạ...con em...
- Thế cưới xong là anh ấy mới đi B à?
- Không chúng em hẹn đợi ngày chiến thắng...
- Đợi - ngày - chiến - thắng!... mà...
- Em muốn “đỡ” cho anh ấy... Khi anh ấy về đã có con lớn rồi... chả hơn à anh?
Mắt Tùng lại bỗng thấy tối sầm. Chả nhẽ một người có tiếng nết na đoan chính như Soan mà lại có chuyện này! Ngày tiễn Tùng ra đi Soan đã hứa hẹn thề thốt như thế... Cuộc đời thật lạ... Chẳng ai nói trước được điều gì! Tùng lại cố nén lòng rồi với lấy chiếc nạng nặng nề đứng dậy:
- Thôi chào cô chào cháu... tôi đi đây...
Soan vôi giữ anh lại:
- Anh ngồi chơi uống nước... cho em hỏi thêm... may ra được biết tin về anh ấy...
Tùng lại ể oải ngồi xuống. Soan hỏi:
- Anh ở chiến trường nào ra cơ?
- Miền Đông Nam Bộ...
- Binh chủng nào?
- Bộ binh...
- Anh bị thương nặng thế?
- Chậc chiến tranh mà...
Soan ngậm ngùi... Cô không nói gì nữa. Im lặng. Hai người cùng im lặng với những ý nghĩ riêng của mình. Lâu lắm Soan mới lại khẽ hỏi:
- Bây giờ anh về đâu?
- Làng bên...
- Em cũng đoán vậy... vì về làng bên chỉ có con đường qua làng em đây... Còn em mong tin anh ấy lắm... Chả gặp ai biết mà hỏi...
Tùng nhếch mép cười diễu:
- Cô đã có con rồi... còn mong anh ta làm chi... Vả lại lỡ anh ta về mà như... tôi đây... thì sao?
Soan lại nhìn anh rồi khẽ chớp chớp mắt nói quả quyết:
- Dù anh ấy thế nào... Thì em vẫn mong... thì em vẫn giữ lời hứa xưa.. Anh ấy dù như anh mà còn trở về cũng vẫn vô cùng hạnh phúc...
Tùng không tin lắm ở lời nói đấy. Biết đâu khi đụng phải sự thật thì người ta lại chả khác ngay! Thôi thì hứa hẹn thề thốt là quyền của mỗi người. ối đôi trai gái cũng đã từng thề non hẹn biển như thế là gì...
Tùng không muốn nói gì thêm nữa. Anh buồn. Một thực tế đang hiện hữu trước mặt anh - Soan đã có con riêng. Với ai? Tùng không muốn khoét sâu vào chuyện riêng ấy của Soan nữa. Chỉ biết rằng bao năm mong đợi ngày về xum họp cùng Soan đã không còn nữa... Biết đâu mai mốt chồng Soan cũng chống gậy tập tễnh về như anh. Còn nếu anh ta là một liệt sỹ rồi thì liệu mình có xum họp được cùng Soan không? gia đình có đồng ý không? Anh mong cho Soan hạnh phúc mà bây giờ cô ấy cũng đã được hạnh phúc đâu. Tội thật!... Thôi cứ về nhà đã... Nghĩ vậy Tùng lại với chiếc nạng đứng dậy:
- Thôi chào cô chào cháu...
- Vâng hôm nào qua em mời anh lại vào uống nước...
Tùng nói cảm ơn nhẹ tênh rồi tập tễnh chống nạng bước ra. Soan ngậm ngùi tiễn anh vài bước. Cậu bé thì vẫn có vẻ vui vô tư... Nó vui như đã gặp được một anh hùng từ mặt trận trở về giống như những chuyện mà nó đã được nghe cô giáo nó kể ở lớp... Nó lại lon ton theo chân anh. Có lẽ nó lại muốn tiếp tục ra bờ đê đuổi cào cào cho sáo.
Đi một đoạn xa Tùng mới sực nhớ ra một điều gì đó... Anh lật đật nắm vai cậu bé hỏi:
- Cháu con mẹ Soan thật à?
- Cậu bé lúng túng vội lắc đầu:
- Dạ... dạ... không ạ!
- Thế cháu con nhà ai?
- Dạ cháu con mẹ Liên... Bố cháu cũng đi “oánh” Mỹ nhưng chẳng bao giờ về nữa... Bà cháu bảo thế... Còn mẹ cháu bị ốm... cũng mất rồi... Ông bà cháu thì già... thế là mẹ Soan nhận cháu về nuôi... Chả là mẹ cháu với mẹ Soan là bạn rất thân của nhau mà...
Tùng bỗng đứng sững. Anh lắc vai cậu bé. Giọng anh mừng run lên:
- Thế sao không nói từ nãy? hả!...
Nói xong Tùng cúi xuống dang tay ôm chầm lấy cậu bé. Anh ghì chặt nó vào lòng và muốn thốt vang lên một tiếng “con” mà bao năm anh khát khao mong đợi. Rồi một tay chống nạng một tay ôm thằng bé Tùng quay thoắt lại tiến thẳng đến ngôi nhà mà anh vừa mới bước ra khi nãy...

                                                                                T.T






Ngân Hằng 
   


Chuông chùa đồng vọng



 Truyện ngắn

 

            O quyết định vào chùa tu thiền dù đang chấp chới tuổi gần đất xa trời. Nhận tin tôi thu vội hành lý xếp sơ qua công việc của một nhà báo bận bịu xuôi chuyến xe về quê.
Quê tôi một huyện nhỏ của xứ Thanh cái xứ đất người ta vẫn ca tụng có bài quốc ca riêng cái xứ dân bỏ quê đi ăn mày nhan nhản. Vậy mà đối với tôi gần bốn mươi năm thoát ly khỏi mảnh đất khô cằn nồng nặc gió lào ấy tôi vẫn ngấm trong mình cái máu của quê nhà. Vẫn chuyện trò với bạn bè nơi phố thị xa hoa thanh nhã bằng chất giọng nằng nặng ngô nghê với những từ mô tê răng rứa. Chuyến xe gằn lên xốc mỗi khi qua khúc cua đầy ổ gà. Con đường về quê tôi già hơn bất kỳ người cao tuổi nào trong làng. Đã bao lần những dự án được đề xuất lên huyện rồi lên tỉnh vậy mà nó vẫn nham nhở hốc hác như con nghiện lâu ngày. Những hàng dừa lều khều thả mình trong gió. Tôi nhắm mắt tận hưởng cái nồng nã êm nhẹ. Nhưng ngập sâu tâm trí là những suy nghĩ hình ảnh của O. Trong đám cháu tôi là đứa được O cưng chiều nhất không phải vì tôi xinh đẹp hay giỏi giang mà vì tôi và O có thể tâm sự với nhau như hai người bạn tri kỷ.
Ông bà tôi sinh được bốn mặt con. O là út cũng là con gái duy nhất của ông bà. Trước O bà tôi có sinh một người con nữa là gái (Tôi và anh em trong họ gọi là bác nhỏ). Nhưng lên bảy tuổi khi theo bạn đi chăn bò bác nhỏ đã buộc luôn dây kéo bò vào bụng. Không ngờ lúc đó một đám ma đi qua. Nhìn thấy màu đỏ của cờ lại thêm kèn trống nó liền cắm đầu lao thẳng. Bác nhỏ ngã dúi dụi hết bị lôi từ trên đường xuống dưới mương từ cánh đồng này sang cánh đồng khác ở đâu cũng nhan nhở gốc rạ. Tiếng la hét tiếng kêu gào sức người ùa ra nhưng cuối cùng bác nhỏ cũng không cứu được.
O tôi xinh lại có duyên nhưng gần hết cuộc đời vẫn chưa cho ai cưới làm vợ. Khi chuẩn bị sinh O bà tôi được một thầy bói phán rằng: "đứa trẻ này sinh nhầm kiếp đáng lẽ phải chờ đầu thai thì sung sướng nhàn hạ. Giờ vội vàng nên phải chịu đày đọa trả nợ cả đời". Những lời nói đó đã khiến bà tôi buồn rầu. Và nghe đâu O sinh thiếu tháng vẻn vẹn không đầy một cân người như dải khoai lang lẵng nhẵng và mềm oặt. O không cười không bú cũng chẳng bao giờ thức ban ngày. Cứ chiều nhá nhem thì từ đầu đến cuối làng lại vẳng lên tiếng khóc hời eo óc.
Dạo đó nước giếng làng tôi mát lắm nên con gái người nào cũng đẹp da dẻ trắng ngần gò má luôn ửng đỏ môi thắm nụ cười tươi. Vì thế mà trai làng khác ai cũng muốn lấy được cô gái làng Yên về làm vợ. O tôi lại là người đẹp nhất trong đám bạn cùng trang lứa. Tóc O dài đen nhánh xuống tận gót chân lúc nào cũng ngan ngát một mùi bồ kết xen lẫn hương bưởi. Dáng người cao dỏng eo thắt đáy. Tôi nhớ khi cha tôi còn ở trong chiến trường phía Nam mẹ bận công tác tôi được cho về ở với bà. Mỗi tối tôi lại rúc đầu vào lòng vào bộ ngực căng mẩy như trái bồng lai thơm đậm mùi thiếu nữ của O mà ngủ. Mẹ về nước mắt lưng tròng nhìn tôi đen đúa lững thững đi sau trâu. Tôi không xà vào lòng mẹ mà chỉ đứng nép vào O ngơ ngác. Mẹ lén quay mặt đi O thì ngân ngấn nước mắt “Chị và anh cứ yên tâm cháu nó ở nhà cũng có cái ăn cái mặc như trên phố. Em thương anh chị thương cháu quá”.
Nhà ông bà tôi có vườn chuối rộng lắm cây nào cùng uể oải những buồng thây lẩy trái vàng ươm mát mắt. Đến vụ thu hoạch bà chọn một nải to nhất đẹp nhất vào cúng gia tiên. Rồi sai O đem ra chợ bán tôi cũng lót tót chạy theo. Có lần tôi hỏi “Sao bà không đi bán với O” bà cười nhưng ánh mắt hình như trầm lại “O cháu có duyên bán hơn”. Tôi không hiểu “duyên” hình thù thế nào nhưng tôi biết O đẹp nhiều người thích ngắm nhìn.
 O thường dẫn tôi lên triền đê vào những đêm trăng sáng ánh trăng tràn ngỡinuống mặt sông êm nhẹ như gió. O thả mái tóc dài những sợi tóc nhuộm đầy mầu trắng bạc lơ phơ bay. Trai làng rình rập họ say sưa nói những lời ca tụng trong hơn tiếng nước. O không mỉm cười với ai cũng không tỏ ra thân mật với bất kỳ người nào săn đón mình. Tiếng cười của O trong vắt. Rồi bạn O cũng lần lượt lấy chồng. Các anh lấy vợ thoát ly khỏi lũy tre làng O vẫn cần mẫn với những công việc nhà nông. Tôi hỏi: “Lấy chồng là chi? Răng phải lấy chồng?”. O ôm tôi vào lòng nói “Lấy chồng là đeo gông vào cổ gông nặng lắm gánh một đời không hết được đâu cháu ạ.” Nghe vậy bà từ trong bếp ngó ra mắng “Mày bỏ cái ý nghĩ lạ lùng đó đi thân gái không có người đàn ông bên cạnh ve vuốt vô phúc lắm con ạ”. O lặng lẽ đi vào căn buồng chỉ có một màu tối đen hoẵng.
Ngồi trên xe ý nghĩ của tôi cứ xen lẫn nhau. Thấp thoáng trong tầm mắt cành đào lướt qua những hạt mưa bụi trắng trời mong manh. Tôi giật mình nhận ra xuân đang về. Giờ tôi mới chú ý đến mọi người xung quanh. Hành lý họ đem theo là mứt kẹo là cành cây đang độ nảy lộc vài ba đứa trẻ cũng thấp thỏm lén ngắm manh áo mới bị cha mẹ giấu hờ trong túi. Còn tôi ngoài dăm bộ quần áo mấy trang viết dang dở chỉ có thêm chiếc khăn lông quàng cổ màu mận mà O đã mấy lần bẩy dặn gửi về. Trời hơi rét cái rét đầu xuân không giá nhưng sao tôi thấy lòng mình như có khoảng trống hun hút gió. Quàng chiếc khăn vào cổ tưởng tượng cái cảnh O lầm lũi giữa hương khói lúc nào cũng u uẩn. Mắt tôi nhòe đi. Tôi thèm cái mùi vị của rơm rạ thèm mùi bùn đất lấm trên đôi bắp chân tròn lẳn của O. Những ngày đó làng tôi “nghèo” người lắm bởi thanh niên trai tráng thậm chí cả những cô gái chưa biết mặc áo nịt ngực cũng hăng hái ra chiến trường. O năm lần bảy lượt viết đơn xin đi. Nhưng vì ông tôi đã hy sinh khi O chỉ còn là một đứa trẻ chưa biết mặt chữ. Hai anh hiện đứng trong hàng ngũ nhà binh lại là những người gan góc thành ra đơn O viết bị từ chối thẳng thừng.
Tết tôi lên năm tuổi làng rậm rịch chuẩn bị trước tháng trời. Tất cả bàn tán xôn xao chuyện được đón một đơn vị bộ đội về ăn tết cùng. Bà sai O đào luống cà rốt lên làm mứt những củ cà rốt không to hơn chiếc đũa cái là mấy được O gọt sạch đem ngâm rồi luộc vẫn đỏ tươi bắt mắt. Ngày giao thừa đoàn quân áo xanh rộn ràng tiến về làng. O cùng mấy người bạn gái đứng lẫn vào ông bà già tay cầm ấm nước miệng tươi cười. Trông ai cũng phấn khởi hào hứng. Những chú bộ đội đối với lũ trẻ chúng tôi lúc đó mà nói như một pho tượng sống sừng sững oai nghiêm. Họ là báu vật mà người dân làng tôi đều trân trọng và yêu mến. Ông chủ tịch xã đi bắt tay từng người miệng ông cười vẻ mặt hân hoan trái ngược với những giọt nước mắt của các bà và mấy cô mấy chị có chồng đi chiến trường. Trong đoàn quân về lần đó có chú Hội người đội trưởng cũng là người được phân về ăn tết cùng với bà cháu tôi.
Chú Hội là người Hà Nội hơn O ba tuổi đang học dở năm thứ hai đại học thì trốn cha mẹ lên đường nhập ngũ. Dù chiến tranh bom dạn khổ cực nhưng chú vẫn giữ được phong thái thư sinh của mình. Mắt chú đen thăm thẳm miệng hơi rộng nhưng mỗi lần cười duyên đến lạ. Khi đó tôi chưa cao hết chân chú nên vẫn thường được chú bế vác trên vai đi khắp làng. Chú bảo “Cháu là khẩu súng trường là sự bình yên mà các chú đang phải đổi bằng xương máu là vũ khí mà bọn Mỹ phải khiếp sợ”. Tôi thích thú cười tít cả mắt. Có chú về chiếc cổng tre nhà tôi chắc chắn hơn tôi có cái ghế con con ngồi học. Mỗi tối thay vì ra ngoài bờ đê dạo chơi O và chú Hội ngồi bên bếp lửa chuyện trò. Dưới ánh lửa dường như cái lạnh cũng không còn nữa đôi má O đỏ hồng cứ cúi xuống trở lửa liên tục. Bà biết ý kéo tôi vào trong. Nhưng bao giờ cũng vậy tôi cố thức chỉ để hỏi O một câu “Chú Hội nói với O chuyện chi mà nhiều rứa?” O ôm tôi vào lòng trả lời tiếng O nhẹ hơn gió: “Chuyện nhà chuyện quê thôi. Cháu biết hoa sữa không? Anh ấy...à quên chú Hội bảo quê chú ấy vào mùa thu hoa sữa nở nhiều lắm. Chỉ cần đi hết một con đường là người mình như tắm trong sữa thơm vô cùng. Rồi cả hương cốm những khi nắng về nữa nồng nã lắm cháu ạ”. Tôi chẳng biết quê chú Hội có đẹp vậy không nhưng những lời O kể lại ru tôi vào giấc ngủ vào một triền cổ tích đẹp mơ mộng. Và từ đó Hà Nội trong tôi qua lời kể của O cứ hiện lên mê hoặc và kỳ lạ. Có chú Hội O hay đứng trước gương lúc nào cũng tủm tỉm cười. Mấy lần tôi đòi đi cùng O và chú Hội ra sân đình nhưng điều bị nạt ở nhà. Tôi khóc nức nở bà vừa an ủi vừa thì thầm “Thôi đừng khóc nữa. Giờ O cháu mới thực là thiếu nữ vả lại hiếm thời gian quá cháu ạ”
Rồi đợt ăn tết cũng qua nhanh khi làng tôi kịp quen với những bóng áo xanh những tiếng cười rôm rả trên cánh đồng thì đơn vị chú Hội phải nhận lệnh lên đường. Trước hôm đi là một đêm trăng sáng. O và chú Hội không ra bờ đê mà ngồi lại ở trong nhà. Bữa cơm tối cuối cùng tiễn chân chú có thêm con gà mái mất con gà từ nay tôi không được ăn trứng thường xuyên nữa. Thịt gà chất đầy bát tôi và chú Hội nhưng chú không ăn mà chỉ thở dài hết nhìn O rồi nhìn bà. Xong bữa cơm như thường lệ bà tôi hãm tách chè xanh vị chè hơi chát nhưng sau đó cứ ngọt dần trong vòm cổ. Tôi ngồi lên lòng chú Hội ngước mắt theo những gì chú nói với bà giọng chú ấm áp
- Con cảm ơn mẹ cảm ơn em Thuyên và cả làng Yên đã cho chúng con một cái tết gia đình ấm áp. Mai chúng con phải đi rồi lần này đi không biết khi nào con mới có dịp trở lại thăm mẹ. Nhưng nhiệm vụ chúng con không thể chậm trễ thêm để được sống với các mẹ với làng Yên cho trọn nghĩa trọn tình. Con hứa sẽ thường xuyên viết thư về thăm hỏi cả nhà. Mẹ hãy tin ở chúng con cũng như hãy tin vào một ngày đất nước mình độc lập và chúng con sẽ trở về.
Nghe những lời nói đó đôi mắt dăn deo của bà đẫm nước. Bà ôm lấy chú lần bàn tay khắc khổ của đời mình lên khuôn mặt chú Hội. Tôi chững lại có cái gì nằng nặng cứ bám chặt trong lòng. Tôi chạy ra giếng tìm O. Mâm bát gần như nguyên vẹn đôi vai con gái rung bần bật nhưng chỉ có tiếng nấc ứ lại. Thấy vậy tôi cũng òa lên tiếng khóc xé ngang màn đêm và những tâm sự ngổn ngang của người đi người ở. Bà tôi vội vàng chạy xuống.
- Thôi để đó mẹ rửa nốt. Con vào nói chuyện với anh Hội đi.
O cố tình nấn ná thêm nhưng rồi cũng đứng dậy đi vào trong nhà. Qua ánh đèn dầu thắp le lói bóng chú Hội nghiêng hẳn xuống nền đất thẫm xịt.
Trăng len nhẹ qua những tàu chuối tiếng côn trùng rỉ rả kêu. Cuối vườn nơi cây chuối to nhất hai bóng người đứng lặng lẽ bên nhau. ánh trăng sáng nên dễ dàng nhận ra O và chú Hội. Thời gian cứ tự do chạy rất nhanh mà cả hai vẫn chưa ai nói được lời nào. Đêm xuân vài hạt mưa bụi lả phả rơi xuống. Mỗi khi trăng lên vườn chuối xanh nõn nà lại đang mùa nảy lộc nên những lá non cuộn tròn múp míp. Vài lá đã ngả ngang mầu vàng là phà xuống mặt đất bị O xé gần hết.
- Thuyên này! mai anh đi rồi em không muốn nói gì với anh sao? Hay mặt anh không dễ coi bằng gốc chuối?
Chú Hội pha trò để xua đi cái vẻ tĩnh lặng bối rối giữa hai người. O vẫn đứng cúi mặt.
- Em biết nói chi đây. Anh đi rồi anh về mà?
- Lỡ anh không về được thì sao?
Lúc này O mới giật mình ngẩng mặt lên nhìn chú Hội. Mắt O to tròn lấp lánh ánh trăng.
- Anh đừng nói gở rứa em không viết thư cho anh nữa mô.
- Thuyên hứa rồi đấy nhé. Thuyên này!....Anh muốn nói với em một điều quan trọng nhưng không biết bắt đầu thế nào. Anh....anh...
Chú Hội cứ hết anh rồi lại vày vò mái tóc của mình đến tội.
- à anh có món quà này tặng em. - Chú lôi từ trong chiếc quần lính của mình ra một chiếc kẹp tóc con gái có khắc hình đôi chim xinh xắn đang quấn quýt bên nhau đặt nhẹ lên bàn tay thuôn dài của O.- Anh mong em hiểu và cố đợi anh đến ngày chiến trắng trở về Thuyên ạ!
O khẽ gật đầu. Hai bàn tay xen nhau thật chặt. Nước mắt con gái rơi xuống chú Hội lau đi nghiêng đôi vai thon gầy của O vào bờ ngực vững vàng của mình. Giây phút đứng lại. Trăng chênh chếch trên những ngọn cây vàng ruộm.

                   *
Làng tôi lại trở về những ngày tháng bình yên. Thi thoảng có vài đơn vị bộ đội qua làng nhưng vội vã đi ngay. Sau những lúc đó O tôi thẫn thờ nhìn theo những người thanh niên mặt bạc vì sương gió đạn lửa. Họ đem đến cho O và làng Yên tôi những lá thư chất đầy nhớ thương khó nhọc của những chiến sĩ trong đơn vị chú Hội. Dạo này  máy bay Mỹ dòm ngó nhiều đến làng tôi nơi được coi là một trong những vùng đất yên bình nhất cũng  ngày dăm ba lần máy bay Mỹ lượn qua khiến lũ trẻ khóc méo cả mồm. Mỗi lần nhận được thư của chú Hội gửi về O khóc sưng mắt rồi lên đỉnh đồi ngóng nhìn. O trầm hơn bà thì héo đi theo những lần thẫn thờ của O. Chiến tranh bom đạn sự sống và cái chết cách nhau chỉ là sợi tóc. Lòng ai chẳng đốt.
Ba năm rồi năm năm nữa trôi qua. Tôi vào tuổi đi học. Bom Mỹ vẫn dải đặc xuống cầu Hàm Rồng mỗi người dân kể cả trẻ con chúng tôi khi đó phải gồng mình lên gánh những tiếng nổ lung trời. Quê tôi không yên bình nữa vườn chuối nhà bà nát tươm bật cả gốc rễ chỉ riêng cây chuối cuối vườn vẫn nguyên lành tươi tốt. Hình như tình yêu và nỗi nhớ của O dành cho chú Hội là thứ dinh dưỡng giúp nó vững chãi hơn. Bà tôi cũng như mọi người ai cũng bảo O không nên chờ đợi nữa. Thôi thì chiến tranh biết đằng nào mà chờ. O không nghe vẫn một mực đi về trên đỉnh đồi tay cầm chắc chiếc găm có hình đôi chim. Đã hơn một năm nay O không nhận được thư chú Hội đến một tin tức từ đơn vị chú cũng không có. Nhưng O vẫn hy vọng.
 Rồi cái ngày nghiệt ngã đó cũng đến với O khi có người hỏi thăm nhà bà tôi và báo tin chú Hội đã hy sinh xin gửi lại cuốn nhật ký dày đặc nỗi nhớ về O về làng Yên.
Nhận tin dữ O không khóc nhưng không đứng vững được. Hàng tháng trời O lật dở đến nhàu nát những trang nhật ký chú Hội viết. O tự nhốt mình trong buồng không cho ai vào. Cuối cùng O tôi đi đến quyết định xin bà cho lên đường vào chiến trường tìm chú Hội. Bà tôi nghe xong hai tay buông thõng lặng lẽ châm hương thắp cho ông lầm rầm khấn:
- Tôi chỉ có bốn đứa con một đứa đã bỏ mà đi kế đến là ông. Hai thằng thì lơ lửng tin tức sống không hay chết không rõ. Giờ con Thuyên cũng đòi theo chân các anh nó chỉ còn bà già cháu nhỏ này ở lại. Tôi biết không thể cản được ý nó nữa rồi. Vậy ông có linh thiêng xin phù hộ cho con được bình an ông nhé!
- Mẹ!
O nấc lên ôm lấy bà. Ngày O đi trời không nắng không mưa mây đen đặc quánh lại. Tôi nhìn dáng O khuất dần khỏi cổng làng mà xót sa. Gió xáo xác. Cây chuối già tự dưng bật gốc.
                    *
Tôi trở thành thiếu nữ thay O chăm sóc bà. Bố mẹ tôi chuyển công tác về thị xã những đứa con của làng Yên cũng lần lượt trở về ai nấy khi đi còn trai tráng khỏe mạnh giờ đã lốm đốm tóc bạc huy chương bằng khen đeo nặng cả ngực. Chỉ có O tôi vẫn bặt tin tức. Bà tôi già đi yếu hẳn vì những đêm không ngủ.
Qua quen biết và những tin tức thu nhặt từ đồng đội bố tôi cũng tìm được O. Thì ra sau khi dời làng lên đường nhập ngũ O xin vào chiến trường Bình Trị Thiên làm thanh niên xung phong. Ngày thì O đi tìm chú Hội đêm đến lại vác đất đá lấp hố bom cho ô tô và bộ đội qua. Gặp ai O cùng hỏi thăm và nhắn gửi về chú Hội. Nơi nào ác liệt nhất O là người đầu tiên xung phong vào. Bao lần đối mặt với cái chết vết thương này chưa khô miệng vết thương khác đã chồng lên. O được tổ chức cho xuất ngũ về quê nhưng O vẫn gắng gượng ở lại. Khi biết không thể gắng gượng thêm nữa O trốn đơn vị cũ lên tuyến trên. Cứ như vậy. Giặc Mỹ không hại được O mà còn cho O lòng quyết tâm sắt đá. Nhưng rồi trong một cuộc càn chúng đã bắt được đội nữ của O. Ban đầu chúng đem từng người ra làm nhục. Những cô gái chưa chồng chưa một lần biết đến tình yêu là gì trước mùi vị đàn ông lại là những tên kẻ thù hận đến xương tủy các cô không chịu được nhục. Họ ôm nhau khóc rồi cùng cắn lưỡi tự vẫn. Riêng O vẫn nghiến răng bám sống. Chúng dồn tất cả bực bội lên tấm thân con gái những đòn roi điện tê người những mảng thịt bị tước ra loe loét máu. Khi O không còn nguyên vẹn hình dạng chúng chán nản đem bỏ xuống một hầm sâu đóng kín lại.
Đất nước giải phóng không ai hay biết còn một người đàn bà dưới hầm. Cũng may trong đợt rà mìn chưa nổ có người đã tìm thấy miệng hầm cùng người đàn bà lúc tỉnh lúc điên dại. Họ gửi O về bệnh viện tâm thần. Và bố tôi sau bao nhiêu công sức mới tìm lại em gái mình.
Nhưng những ngày đầu đón O về tôi cũng như cả nhà đều khiếp sợ. Đâu rồi một người thiếu nữ đẹp đầy sức sống đâu rồi mái tóc mượt mà và bộ ngực căng mẩy tôi vẫn dúi đầu vào. Giờ đây O quặn quẹo méo mó nửa bên mặt là hình dạng của một con thú có đôi mắt người. Đôi mắt còn lại giúp dân làng nhận ra O. Nhưng khổ nhất và những ngày mưa trời sấm chớp O lại lên cơn thần kinh la hét ầm ĩ. Hình như trong đầu O lúc đó là hình ảnh khói lửa mịt mùng là tiếng cười man rợ của giặc Mỹ là những gì đau khổ đã trải qua và cả hình ảnh của chú Hội đến khi điên dại O cũng không quên được. Nhiều lần O đột ngột bỏ đi khiến bà tôi khép đôi mắt mờ đục lại đau đớn. O bảo “Đi tìm anh Hội”. Trẻ con trong làng hễ thấy bóng người đàn bà điên thấp thoáng trên đồi chúng lại hùa nhau đi rình rồi vây quanh trêu chọc. Làng Yên người già thì thương cảm ái ngại còn lũ trẻ lớn lên như tôi thì có phần xa lánh. O mang tiếng với đời sau bao nhiêu hố bom và viết thương cho chúng tôi hưởng thụ.
Bà mất. Tôi lên học đại học. Không còn cách nào khác bố mẹ đành phải gửi O vào lại trại tâm thần điều trị dăm bữa nửa tháng phân công ghé qua thăm. Dần dà công việc và chuyện chồng con khiến tôi không có thời gian để làm tròn bổn phận của mình. Mà hình như cái dấu ấn trong lòng mỗi người khi bị thời cuộc chi phối điều trở nên mờ nhạt. Chỉ có những vết sẹo trên người O ngày càng to ra theo sự bào mòn của thời gian. Cách đây năm năm bệnh viện cho biết O đã hoàn toàn hồi phục. Bố mẹ tôi xin đón O về ở cùng nhưng O không đồng ý. O bảo:
- Em quen sống ở quê rồi bố mẹ lại cần người hương khói cho đỡ lạnh. Tuổi em đã cao nay bệnh tật đau yếu nên cần sự yên tĩnh. Em muốn ở lại nơi đây... vì một lẽ khác nữa.
Cái lẽ khác đó của O chỉ có tôi hiểu rằng đến tận giờ phút đó O vẫn chờ đợi và hy vọng chú Hội sẽ trở về. Cả tôi và bố mẹ đành chấp nhận. Cuộc sống từ đó cứ bình lặng trôi qua.
                     *
Tiếng chuông chùa đồng vọng vào khoảng trời nhá nhem tối không gian hư ảo mùi khói hương rồi tiếng gõ mõ điều đặn vọng lại. Tôi dừng chân nhìn vào trong chùa. Vài bóng người hờ hững đi qua tất cả đều yên ắng và thần bí đến kinh người. Tôi lấy hơi thật sâu rồi thở ra một cảm giác nhè nhẹ thư thái và bình an xuất hiện. Tất cả vẫn quen thuộc như dạo tôi còn bé. Hỏi qua vài người tôi đi thẳng xuống gian bếp của chùa. O đang ngồi bên ấm nước đun dở những vết chân chim làm cho gương mặt O nhăn nhúm hơn. Mắt O đã mờ nên mãi một lúc sau O mới nhận ra tôi. Trong khung cảnh tĩnh lặng hai mái đầu một bạc phơ một bắt đầu nhuốm hoa tiêu kề bên nhau. Tôi nắm lấy bàn tay xương xẩu của O mà nước mắt nghẹ ứ lại.
- Sao O đang sống ở nhà lại quyết định vào chùa làm chi? Hay O cần có người trò chuyện?
O giờ đã là bà lão thập thỏm lưng còng tóc trắng. Trả lời tôi tiếng O dàu dĩ trong gió.
- Cháu cũng biết O nấn ná lại là có nguyên do mà. Giờ nỗi khắc khoải của O đã được giải đáp. O vào chùa sống nốt vài năm trả cho hết nợ đời cầu cho mình thanh thản để siêu thoát thôi cháu ạ.
- Nói vậy có nghĩa là chú Hội đã về tìm O?
- Không!
- Không?
O lọ mọ đứng dậy gương mặt bình thản.
- Cách đây nửa tháng tình cờ O thấy chú Hội trên ti vi họ mời chú ấy kể lại những kỷ niệm từ thời chiến tranh. Vừa nhìn thấy O đã nhận ra ngay. Chú ấy khỏe mạnh gia đình sung túc. Chú Hội có nhắc về những kỷ niệm khi ở làng ta nhắc về O về nỗi day dứt cả cuộc đời. Chú ấy nói sắp tới sẽ về thăm làng thăm O được vậy là O mãn nguyện lắm rồi. Giờ O thế này không muốn gặp lại chú ấy. Coi như cả đời này O và chú lạc nhau. Cháu hãy cầm lấy chiếc găm đưa cho chú Hội. Cháu hãy đưa trước khi chú ấy về đây địa chỉ O đã nhờ người ghi sẵn trong mảnh giấy này rồi.
Tôi đờ đẫn nhìn O cả cuộc đời O đã phải lặn lội để tìm chú khi sắp thành hiện thực O lại lẩn tránh. Điều đó tôi hiểu. Nước mắt tôi trào ra không thể nói với O nửa lời. Tôi nhẹ gật đầu. O khẽ nở nụ cười không chút vướng bận. Tiết trời se lạnh hơn mưa bụi lại giăng đầy. Vài người mang đến chùa cây quất xum xuê quả. O vội vã đi vào trong để chuẩn bị cho cái tết đang đến gần. Trong đầu tôi thấp thoáng hình ảnh chú Hội và O sóng bước bên nhau đi qua những cành đào nở rộ. Sắc đào nhuộn đỏ trời đất. Tiếng chuông chùa đồng vọng réo rắt.
                                         Xuân Mậu Tý
                                               N.H




More...

THƠ

By Văn Nghệ Xứ Thanh




TÔ NHUẦN


Những ánh mắt


           Trích khúc IV Trường ca
Ru xanh áo lính


I
Tôi trở về sau trận đánh cuối cùng
Ba mươi tháng tư rợp trời hoa chiến thắng
Ngọn gió sông Sài Gòn lồng lộng
Nước mắt nụ cười nén lại những ngày vui
Con đã trở về rồi mẹ ơi
Anh đã về với em yêu ơi
Chị đã trở về tóc thơm hương bồ kết
Mái trường ơi trò cũ trở về…
Người chờ đợi đếm một hai ba bốn
Mười hai mươi ba bốn chục… ngậm ngùi
Những khoảng khắc trong lòng người chờ đợi
Mừng cho nhau và xót cho nhau
Họ kể chuyện chiến tranh lửa khói
Chuyện đạn bom giữa gang tấc mất còn
Những giây phút trước khi nhắm mắt
Đồng đội nào cũng thầm gọi mẹ ơi
Như vẫn gọi điều thiêng liêng nhất
Mẹ đón ta phía cuối chân trời…

II.
Mẹ ơi… Mẹ ơi… Mẹ ơi
Đạn bom chặn lối về nơi mẹ chờ
Câu ru từ thuở ấu thơ
Con mang về cõi ầu ơ… ơ ầu….
Ầu ơ dây bí dây bầu
Ầu ơ đồng đội thương nhau tháng ngày
Ầu ơ dáng mẹ hao gầy
Ầu ơ theo áng mây bay mỏi mòn
Là khi dốc núi chon von
Ra đi trên võng bởi cơn sốt về
Là khi bom đạn bốn bề
Không được yên với đất quê một lần
Là khi dưới ánh trăng ngân
Có em gái nhỏ đôi chân ngọc ngà
Vết thương bầm nát thịt da
Vẫn mong nghe điệu dân ca ngọt lành
Là khi sống giữa đô thành
Bủa vây trăm ngả vuốt nanh kẻ thù
Âm thầm tự hát tự ru
Vọng vang trong cõi thiên thu đời người
Sống về chết gửi xa xôi
Lặng im đến cả một lời trối trăng
Là khi kinh rạch dọc ngang
Máu hòa vào nước máu loang đôi bờ
Lời cây gửi gió đến giờ
Bao nhiêu lá rụng bấy bờ xa xăm
Là khi biển nổi sóng gầm
Đoàn tàu xuyên giữa bão giông dạn dày
Đường mòn khép dưới chân mây
Bao người nằm lại chốn này biển xanh
Nắm xương muối xót tháng năm
Biển làm mộ chí muôn lần sóng xô
Nhịp tim biển gửi bến bờ
"Buồn trông cửa bể…" câu thơ mỗi chiều
Là khi nối dây cho diều
Ước mơ xanh thẳm nói điều trời cao
Hóa thân vào những vì sao
Đêm đêm lấp lánh ánh hào quang xa
Bầu trời mặt đất quê ta
Biển xanh rừng thẳm… những là lời ru…
Gió mùa thu
Thân cò lặn lội
Mái đầu sương gội
Bước chân lội bùn
Bang bang bống bống
Con tép con tôm
Tháng ba ngày tám
Thương con chuồn chuồn
Con cò con vạc
Bay vào mưa tuôn
Em ngủ cho ngoan
Mẹ lên nương rẫy
Mặt trời thức dậy
Nụ cười trong mơ
Gốc đa thằng Cuội
Trôi vào miền xa…

III.
Cây đa bến nước sân đình đấy
Vẫn giữ cho con câu hát quê nhà
Thời trận mạc làng rỗng bao sức trẻ
Gió thời gian kẽo kẹt những bờ tre
Những người lính ra đi không trở lại
Bao năm đằng đẵng cuộc chia ly
Họ thấu hiểu những gì nếm trải
Màu áo xanh và những lời ru

Và vẫn đấy mắt những người đồng đội
"Hóa trời sao… hóa mắt lá… nhìn ta"
Sống và chết
Và đời người cát bụi
Vẫn biếc xanh cây cỏ quê nhà…
                    
                                T.N




TRỊNH MINH CHÂU


Xôi gấc


Xôi gấc ngày xưa mẹ vẫn ăn
Chỉ trong ngày tết với hôm rằm
Một sào ruộng tốt dăm bảy yến
Lấy đâu ngon miệng được quanh năm

Bây giờ ngõ phố hay góc phố
Thường nhật người rao: Xôi gấc đây
Không thiếu không thừa xôi vẫn đỏ
Người đón người đưa ấm bàn tay

Quý hay không quý ta thì biết
Xôi dẻo no lòng hương thật thơm
Ước gì sớm sớm ta lại đón
Xôi ở tay người đỏ như son…

             T.M.C



BÙI ĐỨC VINH


Long mạch



Con sông chảy dài theo ước nguyện của làng
Tôi cũng là con đò trôi giữa Long Mạch ấy
Một thằng con trai bé nhỏ họ Bùi
Quê Vụ Bản yêu dấu đánh thức khát vọng mặt trời tôi
Xin cảm tạ phúc ấm tổ tiên - cho tôi mơ được làm thi sĩ


Ngàn lần đội ơn những ngôi mả kết giăng tơ nhện
Phù hộ cho bao người công thành danh toại
Cây đa tỏa bóng xanh vào Từ Đường muôn kiếp
Cổng làng nơi đây đã chứng kiến bao người ra trận
Ai vinh danh trở thành anh hùng giáo sư tiến sĩ
Ai bằn bặt cỏ xanh
Ai khanh tướng giàu sang trên mảnh đất nghĩa tình
Có người sống thanh bạch điềm tĩnh như cha tôi chẳng bao giờ nặng nhẹ
Dạy cho tôi chép ngôi thứ gia phả họ Bùi
Chị em tôi lớn lên từ làn điệu chèo thôn Hạ Xá ngọt lịm lời ru
Mẹ cha yêu nhau cho mùa vàng thêm trĩu hạt
Tôi lụy câu ca xưa: Thương nhau chín bỏ làm mười
Uống ban mai tinh khiết và giọt muối tình người mà sống cho nhân

cách lớn lao

Hóa muôn ngàn đóa sen nở giữa mùa Người
Tôi sẽ kế thừa dòng họ Bùi - mà viết nên Sử thi sông đào - ngợi ca đức hy sinh sự chịu đựng và cái nết hay lam hay làm của người mẹ vùng

Trấn Sơn-Nam Hạ

Sau những ồn ã đua chen vụ lợi hão huyền
Tôi viết câu thơ trọn vẹn ân tình - Mẹ cha dậy cho tôi đạo đức làm người - Yêu cả con người đã từng rải mảnh chai ngăn lối trên nẻo đường tôi bước
Biết bao dung độ lượng với tị hiềm ích kỷ
Ăn bát rau tập tàng mà nhớ lại nắng mưa hoa bưởi rơi bên chum nước đầu

nhà dập dềnh cả ánh trăng

Ôi! Dòng họ Bùi uy thiêng ngàn năm tôn kính tôi ở
xa luôn chắp tay khấn nguyện
Một chốn quê xa luôn giục gọi tôi về.
                                                           B.Đ.V



PHẠM CƯƠNG

 

Mẹ ơi


              Con trai kính tặng mẹ


Con lớn lên không thấy mẹ
Mẹ ra đi từ năm nào
Thấy bọn trẻ nhà bên nũng nịu
Con khát khao một tiếng ầu ơ.

Trời mùa đông
Mẹ của con đi đâu
Để con nằm giá lạnh
Suốt canh trường mẹ ơi.

Ôi đôi bầu sữa nóng
Mẹ dấu đâu mất rồi
để con mẹ khát sữa
Khát một tình yêu...

Mẹ ơi! con đâu dám
Trách mẹ của con
Người mẹ hiền tần tảo
Sức cạn kiệt mỏi mòn.

Mẹ ra đi mãi mãi
Để con mẹ ở lại
Bơ vơ giữa dòng đời.

Để con mẹ ở lại
Với mùa đông buốt lòng...


                  Ngày 20-10-1985
                            P.C




NGUYỄN PHÚC HỢP



Áo mẹ


Nâu sồng vạt áo mẹ tôi
Mồ hôi thấm đẫm từ nơi ruộng cày
Vạt áo mẹ chiếc khăn tay
Lau dòng nước mắt con  ngày bé thơ
Bạn trêu con mũi thò lò
Chui vào áo mẹ không cho bạn nhìn
Đêm đông áo mẹ chăn mềm
Đắp cho con ấm dài thêm giấc nồng
trời mưa theo mẹ ra đồng
Trượt chân túm mẹ khuy bong mất rồi
Áo còng theo lưng mẹ tôi

Ấm hơi áo mẹ một đời tôi mang…
                        
                   N.P.H

More...

THƠ DỰ THI

By Văn Nghệ Xứ Thanh



 

NGUYỄN MINH KHIÊM


Giọt tâm linh


Uống cạn hồn làng rồi đi
Chắt nguồn tinh túy đổ đầy dòng sông ký ức
Sự khoái lạc thăng hoa thả khói lên trời
Khoác dây chuyền vàng cho những câu thơ ngấm hơi men lảo đảo
Bỏ mặc giọt mồ hôi úp mặt xuống luống cày
Bỏ mặc bóng mẹ nhuộm bùn sau rơm rạ
Nếu đất đai lên tiếng
Hồn quê hương - Ta là chỗ bạc màu!
Ta là chỗ bị rửa trôi nghèo kiệt
Dong buồm ra khơi vẫn còn nợ làng một chiếc cật nứa cắt rốn
Nợ làng một chiếc ang đất chôn rau.
Ta là con ong hút mật trên những đôi mắt thâm quầng
Hút mật trên những nước da đậm màu vật lộn
Khúc đồng dao quánh lại gốc tre làng .

Ta cách tân câu thơ bằng cách chẻ vụn những lời ru hằn dấu dây buộc võng
Để lý lịch trích ngang không còn những lối mòn
Ta cách tân câu thơ bằng những làn điệu dân ca bỏ linh hồn

ra chuộc đêm hội làng nuôi bằng lòng hảo tâm
Giọt nắng giọt mưa mặc com lê cà vạt áo dài
Cắt bỏ nếp nhăn quay về ống kính



Tom chát mướn thuê râu tóc giả lên hình!
Ta cách tân câu thơ bằng chùa chiền bị phá
Chữ lên màu sơn giấu những đứt gãy một nền văn minh bị đập vỡ
Tục ngữ ca dao thay các vị La Hán ngồi thiền
Tiếng chuông vọng
Từng giọt tâm linh thổn thức.
                    

                                  2007
                                     N.M.K


Trong chiếc vỏ đêm


Trong chiếc vỏ đêm
Gần sáu mươi năm ta chưa rõ hình hài
Những câu thơ như những tia máu vằn lên
Quẫy đạp khúc ruột mình
Đau quặn thắt trong chiếc nôi chật hẹp
Cái khuôn mẫu buộc bằng bao nhiêu nốt lạt
Ta nhặt từng  mảnh ước mơ
Làm nón đội ra đồng
làm áo tơ che mưa che nắng
Ru những nốt sần chai trên da thịt mẹ
Ru những chỗ cuộc đời mất ngủ …

Trong chiếc vỏ đêm
Ta đổi ngày ra nhận mặt
Chỗ mây che mờ
Chỗ hào quang chói lóa
Chỗ ngọt ngào u mê
Chỗ đắng cay lú lẫn…
Ta đổi ngày ra tẩm ướp
Chôn cất những ti tiện đớn hèn
Cắt bỏ  hận thù giả dối


Sàng sảy những ngôn từ chấu bổi
Lên men những va đập
Trong chiếc vỏ đêm
Ta gỡ rối cuộc đời bằng trinh nữ
Trí không lấp không đầy vụng dại
Lặn đến tận đáy con chữ đời vẫn mắc cạn
Vớt mình trên váng những câu thơ
Vớt mình trong mồ hôi không đáy
Sa lầy dưới dấu chân vĩ nhân
Ra khỏi bờ hư danh đã xế chiều
Bày ra đếm buồn vui được mất .

Trong chiếc vỏ đêm
Ta đắm mình mùi hương hoang dã
Không còn những con đường bịt mặt
Không còn những chiếc ghế mê cung
Ra khỏi căn phòng dạ hội hóa trang
Ra khỏi những nụ cười phải giải mã
Câu thơ thoải mái đập ra xếp lại
Chẳng bận tâm con chữ màu gì .

Ta miên man chảy
Trong chiếc vỏ đêm
Chẻ ngày ra từng mảnh
Chẻ mình ra từng mảnh
Chẻ cuộc đời ra từng mảnh
Cạo sạch từng lớp sơn
Đánh sạch từng lớp vảy
Như người ta cạo từng mảnh xương cọp
Luyện thành cao
Chữa những cơn đau thế kỷ…
              11-2007
               N.M.K




HẢI MINH

Ông vẫn còn muốn nói...!



Nào cháu con bạn hữu
Hãy nín im
Lắng nghe ông nói...
Thoi thóp làn môi còn mấp máy

Ông như đang muốn nói điều gì
Một làn gió mỏng nhẹ qua môi
Nhiều ánh mắt nhìn theo đắm đuối
Có điều gì như ông muốn nói...?

Một tia chói chang ùa đến
Bởi cánh cửa nặng nhọc đay nghiến mở ra
Mọi người chắp tay nín chờ
Điều ông muốn nói!

Bỗng choang...
Chiếc bát vỡ toang
Bát cháo loãng rã rời tung tóe
Con mèo vụt nhảy qua: “Meo”!
Mọi người sững sờ
Tưởng được nghe điều ông muốn nói.

Cái giây phút thiêng liêng
Cái giây phút lần cuối
Hấp hối!
Người nắm tay



Bàn tay da mỏng tang
Dần dần trắng bợt dần dần toát lạnh
Da tay như chưa từng cầm nắm vật gì
Thô ráp và khô cứng.
Bàn tay như chưa bao giờ rìn rịn mồ hôi
Bàn tay thảnh thơi bàn tay nhàn nhã.

Người đỡ cằm nắn môi
Điều lẽ ra da môi phải mỏng
Sao ông da miệng quá dày
Và đã kết dày những mảng da chai
Nơi kết tủa nhọc nhằn sự nói
Ra rã ngày
Ra rã đêm
Ra rã liên hồi: hội họp thảo luận
Trên bàn vuông bàn tròn trên diễn đàn
Và vừa vung tay vừa nói
Ôi cái môi khốn khổ của con người
Nó lại là nơi hội tụ giọt mồ hôi
Kết tinh xèo bọt trắng
Rồi bắn tung về phía các quân thù
Rồi đặc quánh rồi rắn lại như gang như thép

Ôi làn môi khốn khổ nhọc nhằn
Đã gánh hết phần nặng nhọc
Của tay của vai và của cơ bắp...
Đã hấp hối rồi
Môi vẫn lắp bắp
Như vẫn còn muốn nói nhiều thêm

                                     H.M



HẢI MINH


Giải thiêng


Vì có đất nên em còn phải cuốc
Đôi bàn tay gày guộc
Em vung lên tận trời
Lưỡi cuốc như ngập vào mây xám
Khoảng không bất tận
Cũng động lòng mà ứa nước mắt ra
Tưới tắm cho mùa màng
Vì còn đất nên em phải cuốc
Mảnh mai lưỡi cuốc kia
Cam phận ngập sâu vào đất
Lật lên
            Lưỡi cuốc trắng phau!
Không có gì để mà lấm láp
Em săn soi tìm
Liệu còn chút gì sót lại
Tủi thân- Đất rùng mình mà ứa mạch nước ra
Thấm tháp cho em vơi bớt đi cơn khát

Không còn đất em vẫn còn phải cuốc
Hai bàn tay chắp vào trước ngực
Em cuốc tới tấp lên trời
Em vung bạt mạng xuống đất
Lì chai vô cảm ráo hoảnh và khô rang
Chỉ còn em giữa hư vô xoay tứ phương
Em cuốc!

                 H.M



NGUYỄN XUÂN NHA


Hàm Rồng



Hàm Rồng
Những trận kịch chiến đã qua lâu
Dấu vết đạn bom không thấy nữa
Những trận địa vươn nòng pháo năm xưa không thấy nữa
Xác máy bay thù cùng đã rỉ vào năm tháng
Trên những triền đồi đồng lúa bao quanh
Một màu xanh.

"Hàng trăm Chim ưng Thần sấm…(*)
Xác tan tành cầu vẫn đứng hiên ngang"
Các thế hệ sinh sau sẽ không quên bao huyền thoại
chiến công
Huyền thoại Hàm Rồng
Một trọng điểm giao thông thời đánh Mỹ
Một vùng danh thắng!
Và biết đâu:
Mỗi khi tìm đến với địa danh lịch sử
Trèo lên núi Rồng núi Ngọc (**)
Ngắm nhìn bao la
Trời mây
Non nước
Họ không quên tìm lượm đôi bông hoa dại
Thả vào dòng sông gửi tặng câu hò…
            
            Viết xong tháng 12 năm 2007
                      N.X.N



(*) Chim ưng Thần Sấm: Tên mệnh danh của hai loại máy bay giặc Mỹ
(**) Núi Rồng núi Ngọc: Tên hai ngọn núi bên đầu cầu Hàm Rồng



NGUYỄN XUÂN NHA



Nhớ xưa



Đây là sông
Một dòng chảy trôi
Bèo bọt rác rưởi lềnh bềnh

Nhớ xưa
Ta tìm về niên thiếu
Vẫy vùng
Lặn ngụp
Mắt đỏ cá chày
Triều dâng
Nước mặn xanh trong từ cửa Hới theo sông Mã ùa vào
Những con sứa biển chập chờn lãng du sông nước
Nhớ xưa
Những ngày câu cá bên sông
Cầu Cốc cầu Treo Âu Thuyền Bến Ngự (*)
Ta tung vào dòng nước sáng xuôi chiều ngược
Mồi câu hình trái xoan
Và kéo lên bờ bọn chép đang vùng vẫy

Nhớ xưa
Dòng sông ơi
Bao giờ lại về tinh khiết!…


                     11/2007
                      N.X.N




(*) Cầu Cốc cầu Treo Âu Thuyền Bến Ngự: Những địa danh thuộc thành phố Thanh Hóa trên sông nhà Lê.




BÙI THỊ VINH



Tìm núi



Sương ôm núi bồng bềnh
Lòng chênh chao
Em bước đi tìm
Kỷ niệm giăng ngập lối.
Bụng còn yêu
Suối còn chảy
Tai còn nghe
"ông mặc noọng"
Cớ sao
Anh không về?

Hôm nay
Ngày sinh của núi
Ể làm cơm lam
Khẩn  cầu điều gì
Xa xăm
Ể nhìn em
Ngoảnh đi
Bước vội lên sàn
Lau khóe mắt.

Mặt trời tắt
Thoi ngủ vùi
Bên khung
Lửa bập bùng
Nghĩ tới anh
Để ngày mai
Em lại đi
Tìm núi.
        B.T.V



VŨ ĐỨC THANH


Đồng Lộc




Mười cô gái. Mười vầng trăng. Đồng Lộc
Lời ru không (*)
Dội vọng
Đêm
Nguồn

Một trời như khói vương
Bồng bồng gió
Bồng bồng sương
Bồng bồng
        V.Đ.T


(*) Thơ Đàm Chu Văn





VŨ ĐỨC THANH



Viết lên hòn Vọng Phu



Đá dẫu lặng
Hòn Vọng Phu
Vẫn gió
Thổi ngàn xưa
Rỗng ngực
Đến bao giờ

Giọt nước mắt người treo vào cổ tích.

Để bây giờ
Nhói mãi
Hồn thơ
                 V.Đ.T

 

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Tôi  đã chiến đấu ở Hàm Rồng
 

và sáng tác Âm nhạc

                                                                            NGỌC KHUÊ


          Tôi nhập ngũ ngày 18-2-1965 vào huấn luyện tân binh được khoảng 20 ngày đầu tháng 3-1965 chúng tôi có lệnh hành quân đi chiến đấu bổ xung cho đơn vị pháo cao xạ bảo vệ cầu Hàm Rồng Thanh Hóa. Và một tháng sau ngày 3-4-1965 đại đội pháo cao xạ 37 ly của chúng tôi bắt đầu tham gia trận đầu tiên tại trận địa Đình Hương (Phía làng Hạc Oa) bắt đầu cho gần mười năm trời sống và chiến đấu tại Hàm Rồng Thanh Hóa nơi có biết bao kỷ niệm đã theo tôi suốt một cuộc đời quân ngũ. Những người lính Hàm Rồng đã bảo vệ cây cầu thân yêu của mình của huyết mạch giao thông của cả nước ấy thật kiên trung và cực kỳ dũng cảm gan dạ! Ngày ấy đã thấy vậy. Bây giờ nghĩ lại hoặc vào thăm Hàm Rồng càng thấy đúng như vậy. Có thể hình dung được không khi nhìn lại trận địa mình năm xưa gần ngay sát đầu cầu các trận địa Cồn Đu phía bắc hoặc trận địa tạm bên bờ nam sông Mã đoạn qua đầu cầu phao sau này mới thấy lính ta gan dạ biết nhường nào. Nếu bom “hắn” thả xuống tất nhiên phần nhiều là không trúng cầu thì hẳn là hắn rơi sát trận địa mình rồi. Có nhiều đồng đội đã hy sinh ngay trên mâm pháo ngay trên trận địa. Những trận đánh mà tôi nhớ nhất thời đầu đó là: trận đầu 3 4-4-1965 trận ngày 31-5-1965 những trận liên tiếp trong 3 ngày 21 22 23-9-1966... Và có nhiều trận nữa mà mỗi trận ta đều bắn rơi máy bay Mỹ và nhiều trận bắt sống giặc lái. Có những đồng đội hy sinh được nhiều người biết đến nhưng cũng có những đồng đội hy sinh chỉ những người trong cùng một đại đội biết. Bởi vì thời gian cuộc chiến trôi đi khắc nghiệt quá. Vừa mới trận đánh lúc rạng sáng lại nối tiếp ngay lúc đang  trưa rồi chiều tà rồi đêm... cứ thế cho một tuần một tháng một năm trôi đi dũng cảm và gan dạ không bao giờ dời xa bỏ chạy ít nhất là những người tôi biết. Thương cho một cậu ở đại đội tôi cậu ta hy sinh lúc còn đang trẻ 19 tuổi binh nhất cậu ta không làm thành một “tấm gương” nào cho mọi người trong trung đoàn biết đến. Nhưng chiến tranh là thế bom đạn giặc cướp mất anh trong lúc anh đang nạp đạn cho khẩu  pháo. Một sự hy sinh không âm thầm như những chiến sỹ biệt động... nhưng cũng không ồn ào chỉ biết tiếc thương nhau.
Tôi đã viết những dòng thơ thế này về cái Trường văn hóa trung đoàn mà tôi đã dạy hồi đó:
... Thế mà sau bao năm gặp lại hả hê
Đầu bạc cả răng rụng vài ba chiếc
Nhớ cái thuở trẻ trung nhìn lên trời biếc
Mà mơ ước có một ngày nào...

Thương quá cái ông hay hút thuốc lào
Giờ nằm lại giữa chiến trường khói lửa
Nhớ lắm cái ông ván cờ còn dang dở
Đã nằm lại nơi đâu...
                                 quân “Tốt” đã đi rồi.
ơi cái Trường thân thiết nhất của tôi
Có phải chạy thôi mà tôi còn học được
Cái dũng cảm hiên ngang cái dạn dày gan góc
Cái chí khí người trai theo suốt cuộc đời tôi...
Cho đến bây giờ là tròn 43 năm Hàm Rồng chiến thắng. Tôi có gần 10 năm ở Hàm Rồng (3-1965 đến 8-1974) trong tổng số 42 năm 1 tháng liên tục trong quân ngũ! Chừng ấy năm trong quân ngũ và chiến đấu tại Hàm Rồng Thanh Hóa đủ để tôi hiểu người lính và những nỗi gian truân vất vả và hy sinh của những đồng đội tôi. Nó đã ngay từ năm 1966 khi tôi vừa tròn 19 tuổi thôi thúc tôi sáng tác bắt đầu từ cây sáo trúc trên tay trên trận địa bên cầu tôi đã có sáng tác đầu tay “Tiếng hát bên dòng sông Mã” (sau đó tham gia hội diễn Quân khu Quân chủng được giải nhất và được thu thanh ngay trên đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam). Rồi tiếp đó nhiều ca khúc của tôi được ra đời cho chiến sỹ Hàm Rồng như: Kéo pháo vào trận địa; Tổ khúc Hàm Rồng ta đó; Cái mặt thằng Mỹ; Tiếng còi tàu Hàm Rồng có bóng dừa xanh; Pháo ta bảo vệ giao thông vận tải; Đồi Quyết Thắng (Thơ Từ Nguyên Tĩnh) v.v...
Rồi sau đó khi chuyển về Quân chủng tôi tiếp tục công việc của một người lính làm văn nghệ và tiếp tục sáng tác nhiều ca khúc cho bộ đội. Những sáng tác của tôi hình như bao giờ cũng có dấu ấn của một thời lửa đạn Hàm Rồng. Ca khúc Nhặt chiếc lá rơi (ca sỹ Đức Long ca sỹ Mai Hoa hát) chả thế mà có đoạn:
Ngày nào có em
Người con gái ấy
Dòng sông êm ả
Cây cầu lùi xa
... Tôi như người có lỗi để thời gian cứ trôi.
Còn gì hơn được để cho em bây giờ.
Tôi tôi đi tìm ký ức Tuổi thanh xuân đâu rồi.
Tôi như là Từ Thức trở về xóm làng xưa.
Nhặt chiếc lá rơi ngỡ thời gian qua rồi...
Rồi Ký ức trong tôi là Em Gặp gỡ đồng đội... đều là những tâm huyết của tôi và cùng điểm bắt đầu: Đó là Hàm Rồng- một thời lửa đạn. Năm 1995 kỷ niệm 30 năm Hàm Rồng chiến thắng anh em cựu chiến binh đoàn pháo cao xạ bảo vệ Hàm Rồng năm xưa chúng tôi được các đồng chí lãnh đạo và bà con tỉnh Thanh Hóa thành phố Thanh Hóa (lúc đó còn là Thị xã) huyện Hoằng Hóa huyện Đông Sơn đón chúng tôi vào thăm chiến trường xưa tôi đã sáng tác “Gặp gỡ đồng đội”
Đồng đội ơi ta về với nhau
Ta trở về thăm một thời oanh liệt.
Như năm xưa ta vừa mới bên nhau
Mười tám đôi mươi trời xanh biếc trên đầu...
Chính cái thuở “Mười tám đôi mươi trời xanh biếc trên đầu” ấy đã bắt đầu cho một cuộc đời binh nghiệp đã ghi một dấu ấn chẳng hề phai mờ. Xúc động biết bao khi bà con nơi đã cùng chúng tôi chiến đấu năm xưa vẫn nhận ra từng người một vẫn nhớ đến chú lính mới ngày nào vừa vô đây đã hát cho cả đại đội Pháo và bà con nghe bài “Con ếch xanh” (dân ca In-đô-nê-xi-a) rồi sáng tác nhiều bài hát cho bộ đội và quân dân Hàm Rồng. Bây giờ tôi lại hát cho bà con nghe “Làng lúa làng hoa” một khúc ca về mùa xuân về Hà Nội mà trong đó tôi đã gửi gắm cả tình  yêu Hàm Rồng Thanh Hóa trong nét nhạc luyến láy đầy chất dân gian sông nước... Chất liệu hò sông Mã “Dô tá dô ô ô ô ta à” tôi đã mang vào sử dụng trong cách luyến láy của Làng lúa làng hoa: Nơi anh đã gie o o o mâ mầm và đó cũng là yếu tố luyến láy chủ đạo trong bài hát này. Tôi cảm nhận thấy những năm tháng “mười tám đôi mươi” ấy của tôi và những đồng đội Hàm Rồng thực sự là những năm tháng đầu đời đầy ấn tượng nó đã đi theo tôi trong suốt chặng đường quân ngũ và sáng tác âm nhạc nó đã giúp tôi hình thành đậm nét một hình tượng người chiến sỹ Cao xạ pháo nói chung hình ảnh người chiến sỹ Cao xạ pháo Hàm Rồng anh hùng.

                                                                 18-3-2008
                                                                       N.K







Hình tượng người lính


                Một vỉa quặng màu mỡ        
                   
                                                                       CHU LAI

 

        Trước khi làm lính đặc công tôi là lính văn công diễn viên đoàn kịch Tổng cục Chính trị do mặt mày ham hố nên chỉ đóng được những vai quái dị bặm trợn và bây giờ là lao công lao công nhọc nhằn trên những cánh đồng chữ nghĩa.
Nhớ lại một thời tuổi trẻ một thời trận mạc thấy cũng lạ. Có lẽ chưa có một dân tộc nào mà tuổi trẻ ra đi vào chỗ chết lại tự nhiên và tự nguyện như thế như ngọn gió ngàn năm chống giặc của lịch sử thổi ào ạt sau lưng mà nếu không được đi thì thấy bẽ bàng thấy có tội thấy thấp dần đi trong con mắt người yêu. Vậy thì đi cho mắt em được yên tĩnh.
Đó là sự lãng mạn. Lãng mạn và trần trụi là hai tố chất cơ bản tạo nên phẩm chất người lính. Chỉ lãng mạn không thôi thì thành ngày hội mà chiến tranh không bao giờ là ngày hội. Nói thế phải tội nhưng chỉ trần trụi không thôi thì làm sao hội tụ đủ hồn khí để biết cuộc chiến tranh khốc liệt và dặc dài nhất hành tinh?.
Khổ không sợ chết càng không sợ “chiến tranh là ngày nào cũng chôn nhau nhưng chưa đến lượt mình” thì việc gì phải sợ. Bật lên một triết lý luận về anh hùng: “người anh hùng là người cũng biết sợ chết nhưng vượt lên được cái sự chết đó lại thành anh hùng”.
Vì thế cái đáng sợ nhất là sự hụt hẫng trong tâm hồn.
Cuộc chiến tranh chống Mỹ người lính đã trải qua hai lần hụt hẫng. Tức là ba lần ra khỏi rừng thì hai lần lại âm thầm quay trở lại. Đó là sự trở lại cùng Mậu Thân năm 68. Tưởng xong tưởng thắng tưởng phen này sẽ vĩnh biệt rừng để về đồng bằng thành phố nhưng sau hai đợt tiến công lại ôm đầu náu về rừng lại lôi dưới đáy sông lên những thứ quẳng đi lên dùng tiếp.
Lần thứ hai là ký hiệp định hòa bình 1973. Cũng tưởng thế là xong là được trở về với mẹ hòa bình kia mà. Thế rồi sự phản bội của đối phương lại khiến người lính một phen nữa hụt hẫng kéo nhau trở lại rừng. Tan hoang cả người. Như lại bắt đầu một chặng đường đi qua sa mạc cháy khô kháo.
Và bất quá tam mùa xuân 75 trong khi ít tin tưởng nhất thì lại là lần ra thật sự. Bàng hoàng cả người. Đến nỗi đang giữ cây cầu sắt cho đại quân sáng mai kéo vào cửa ngõ giải phóng Sài Gòn lúc nhìn thấy đầu những chiếc tăng T54 của quân ta xuất hiện sướng quá cứ trần truồng đen thui nhồng nhỗng- Đặc công mà thi nhau hò hét nhảy lên thành cầu đâm đầu xuống nước. Chửi vung vít vào không gian chửi càng to càng tục càng sướng mà đâu có biết chửi ai chửi cái gì miễn là thỏa được sự hả hê tột cùng tột độ.
Đúng là thế chẻ tre. Năm cánh quân cùng kéo vào một lúc kín đất kín trời. Lính đặc công quen đánh nhỏ đánh đêm bỗng được hòa vào dòng thác tiến công đại xa đại pháo người ngợm cứ ngơ ngác như đứa trẻ bị lạc chợ.
Tiến công bằng tất cả các phương tiện: xe ôm xe đò xe lam Pro xe đạp. Mặt đường mênh mông nắng trời rực rỡ. Toàn thân tan chảy. Chao ôi cuộc đời con người chỉ cầu sống được một khoảnh khắc đắm say. Mãnh liệt như thế là đủ lắm rồi.
Nhưng đêm về đêm đầu tiên nằm trong dân trong phố đau lưng như dần vì đã quen nằm với võng bỗng nhớ rừng nhớ những năm tháng khổ mà vui nhớ bạn bè ngã xuống mà nước mắt cứ trào ra.
Sau đó là cúm. Mười năm ở rừng cơ cực là vậy mà không sao mới trở về đời thường có một đêm mà thân thể đã bệnh tật rồi. Ai dè trận cảm cúm đó báo hiệu những ngày hậu chiến nhọc nhằn ảm đạm cả dân tộc sắp trải qua.
Giải phóng Sài Gòn xong với ý nghĩa: “Đây là cuộc hành binh trên những nấm mồ đẫm máu và nước nắt để ca khúc khải hoàn ngào nghẹn giữa thành đô” ngẩn ngơ chả biết làm gì. Về lại đại học ư? Cũng vô duyên lắm. Thế là đành chui vào “Trường văn trận bút” để có một nghề cũng là trả ơn trả nghĩa cho đồng đội cho bà con đã cưu mang đùm bọc và trả nợ cho chính mình.
Vậy là đề tài “Chiến tranh và nhân vật người lính” là siêu đề tài và người lính là siêu nhân vật. Đề tài đó gắn với lịch sử với số phận dân tộc cho nên nó trường tồn bất biến càng khai thác càng màu mỡ càng đào xới càng phì nhiêu.
Vấn đề là khai thác và đào sâu như thế nào để có hơi thở một thời và muôn thời.
Chiến tranh là một giọt dung dịch cực mạnh nhỏ xuống để con người lên hết màu hết nét hết tính cách hết số phận.
Và đó chính là văn học.
Đó chính là nhân văn.
Người ta thường bảo tôi là nhà văn mặc áo lính nhà văn của người lính trang văn của tôi đậm đặc chất lính. Nói vậy vừa đúng vừa không thật đúng. Tôi cũng khỏa chân sang các đề tài khác nhiều đấy chứ thậm chí đến hai phần ba lượng tác phẩm nhưng nói cho biết nhé một khi đã quen với “mùi lính” rồi thì anh có bước vào bất cứ một mảng đề tài nào thì bóng dáng người lính vẫn phảng phất đằng sau như nghiệp chướng như ám ảnh.
Đất nước ta đang trong lộ trình hội nhập. Song người ta mới biết quá khứ anh hùng của mình quá khứ đại diện cho lương tri con người chứ đã biết gì nhiều lắm về thành tựu kinh tế đâu. Cho nên đề tài chiến tranh và người lính vẫn không hề mai một.
Quá khứ để cho người ta hiểu anh. Nhưng hiện tại mới làm cho người ta trọng anh.
Một dân tộc không chịu được cái nhục mất nước thì dân tộc đó càng không thể chịu được cái nhục đói nghèo.
Câu hỏi đó cũng là nỗi trăn trở nhức nhối của thiên chức người cầm bút.

                                                                                      C.L







Ru xanh áo lính - Trường ca
 

của Tô Nhuần viết về người lính


                                                                    KIM DIỆU HƯƠNG

 

 

        Nói đến Tô Nhuần người ta thường nghĩ đến một cây bút xông xáo ở nhiều lĩnh vực viết về thể loại: Tiểu thuyết truyện ngắn kịch thơ...
Hơn 30 năm mặc áo lính gần 40 năm sáng tác đến nay ở cái tuổi 55 trong tay anh có gần mười đầu sách gồm thơ kịch truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng trong giới văn chương nước nhà Tô Nhuần vẫn còn là một cái tên còn ít được nhắc tới nhưng đến khi tập trường ca “Ru xanh áo lính” của anh vừa ra đời đã gây không ít ngỡ ngàng thán phục của đồng nghiệp của bạn văn lâu nay quen biết anh.
Hơn nghìn câu thơ nằm trong hơn bẩy mươi trang sách được bố cục làm mười chương trong mỗi chương lại được chia làm nhiều cung bậc như những khuôn nhạc nốt nhạc hợp thành bản giao hưởng. Mỗi chương mỗi đoạn của trường ca này như mỗi bài thơ đặt cạnh nhau dễ khiến người đọc dễ đi trong mê lộ của thời gian không gian bộn bề đan xen phức hợp những ý tình cảnh sự tuy vậy vẫn sáng những điều mà cái đích của nó nhắm tới.
Mở đầu và kết thúc trường ca “Ru xanh áo lính” là những tâm tư ngẫm ngợi triết luận về sự sống cái chết về những hưng thịnh và suy tàn của những được-mất với những kiến giải rất riêng của anh.
Trong khúc dạo đầu anh viết: “Đi từ hoang sơ/Khi con người thoát khỏi đêm dài mông muội/Tồn... vong... sống dọc thời gian/Thời gian kéo dài thành lịch sử” và “Cái được còn/Thời gian giữ những điều thiêng liêng nhất/Ta không thể dùng kim khí/Để cưa để đục để phanh phui/Bổ dọc lịch sử cậy sức mình lực lưỡng...” và đoạn kết - Khúc Vĩ thanh:“Lịch sử chạy dọc/Con người đi ngang/Thành lát cắt xếp chồng lên đất nước/Trùng trùng lớp lớp/In vào dáng núi hình sông... Những người lính khoác lên mình màu lá/Màu tin yêu xanh mãi với thời gian” cứ thế cứ thế anh dẫn dắt người đọc xuôi ngược lịch sử xuôi ngược không gian thời gian dập dìu cảm thức bình thản và thong dong trước và sau khi người lính bước vào trận đánh. Khác với một số trường ca nhắm tới dễ bộc lộ trực tiếp như người lính xung trận đánh giáp lá cà còn người lính trong trường ca này lại thung thăng trước và sau trận đánh nhưng trong khi xung trận người lính ấy cũng “tả xung hữu đột” chẳng kém gì những người lính trong các bài trường ca khác.
Quê hương và cuộc đời người lính đã cung cấp cho Tô Nhuần những chất liệu phong phú để anh viết lên trường ca này. Nếu không gắn bó máu thịt không mặn nồng tình nghĩa và thu nạp vốn sống của người lính trong và sau chiến tranh liệu anh có viết nên trường ca chững chạc này? hẳn là không!
Hình ảnh con cò con vạc lũy tre làng cây đa bến nước sân đình bóng mẹ tình cha em vầng trăng những câu hát dân ca... được người lính mang theo vào trận đánh cho thấy ở đó nó chứa đựng những yếu tố lớn lao của sức mạnh tinh thần tiếp thêm cho người lính tham gia cuộc đọ sức sinh tử để giành lại những giá trị thiêng liêng của cuộc sống.
Thực tiễn cuộc sống bộn bề đã cho anh biết bao chất liệu đặc biệt Tô Nhuần được nuôi dưỡng từ mạch nguồn trong trẻo từ tiếng ru hời của mẹ và những đam mê khát vọng... cất thành lời ca của người cha trong đời thực nên thơ anh đã chứa đựng bao điều giản dị mà sâu sắc.
Xin phép được chép ngẫu nhiên trong tập trường ca này những câu thơ về mẹ:
Sẽ chẳng có yêu thương khi thiếu tiếng ru hời
Mẹ ru ta từ cánh cò cánh vạc
Mẹ ru ta mỗi đêm không chợp mắt
Chỗ ta nằm khô ráo mẹ dành cho
Mái tranh nghèo gặp buổi gió mưa
Thương nuộc lạt néo mình vào gian khó
Rêu mọc đầu thềm mẹ sợ con ngã
Bong bóng phập phồng theo nước chảy qua sân
Và:
ơi mặn muối cay gừng đời mẹ
Con tin
Cả miếng vá trên vai áo mẹ
Con tin
Cả khi cha đi trận không về
Nén nhang thắp trước bàn thờ
Khói lên lay động ảo mờ tổ tiên...
Hay:
... Tiếng cuốc kêu vắt kiệt đêm hè
... trên vai gầy cả bóng hình cha
Mẹ te tái qua chiều đông lặng lẽ
Bát gạo vay đùm dải yếm mang về
... rau má ven đê
Chẳng kịp xanh trong mắt dõi tìm...
Trường ca “Ru xanh áo lính” không chỉ dành những tình cảm đặc biệt cho mẹ người mẹ thủy chung son sắt mà còn dành những trang sâu sắc về đồng đội. Có những câu thơ nương níu và có sức khái quát:
Khi ta áp ngực ta lên cỏ
Sắc quân phục hòa vào sắc lá
Trái tim ta thuộc về đất cha ông
Mạch đất chuyển mình trò chuyện
Ta nghe hồn núi sông...
Trong dòng chảy thời gian lính ấy không chỉ là sự vật đứng riêng lẻ mà đã hòa quyện vào non sông đất nước hòa quyện vào dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử.
Trường ca “Ru xanh áo lính” không né tránh những mất mát hy sinh trả giá của người lính của dân tộc cho cuộc đấu tranh giành sự tồn tại và mưu cầu hạnh phúc. Cái mất mát hy sinh vì bom đạn trong chiến tranh là lẽ thường khó tránh khỏi nơi hòn tên mũi đạn đau xót đấy rồi cũng được an ủi bởi phía sau người lính hy sinh mất mát đó là cả “ánh mắt niềm tin yêu hy vọng” của gia đình làng nước- quê hương và lịch sử.
Đối mặt với đời thường sau chiến tranh người lính ấy lại chứng kiến với một thách thức khác nhìn bề ngoài bình lặng không đổ máu mà day dứt khôn nguôi:
Giữa bình yên mà chưa được bình yên
Người lính trở về sau những năm đánh giặc
Con dế trũi đêm đêm âm ỉ hát
Hát rằng:
Người lính trở về đối mặt
Miếng cơm manh áo hàng ngày

Người lính trở về đối mặt
Con trâu đi trước cái cày
Hạt lúa làm ra lấm lưỡi
Cớ sao chịu nhiều đắng cay
Dòng sông quê mình chân thật
Mà sao qua lắm thác ghềnh.

Người lính trở về đối mặt
Quê nghèo còn lắm gian nan
Biết bao thói đời đen bạc
Len lỏi giữa nơi xóm làng

Người lính trở về đối mặt
Với ngay chính cả lòng mình
Ngơ ngác chân trời góc biển
Ngác ngơ giữa chốn quê hương...?
        (Khúc Sáu - Sau trận mạc)
 Ngơ ngác giữa chốn quê hương? Tình cảnh trạng thái người lính sau cuộc chiến giữa chốn thanh bình mà biết bao phân vân giằng xé hay nói cách khác sau chiến tranh ta lại chứng kiến người lính ấy lại đứng trước một “cuộc chiến khác” chưa dễ gì mà “bách chiến bách thắng” cho được.
Trường ca “Ru xanh áo lính” dành đến 2/3 dung lượng ngữ nghĩa cho người lính trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường trong đó phần lớn dành cho bộ đội Trường Sơn khói lửa. Qua đây ta thấy được tấm lòng tác giả gắn bó với đồng đội với quê hương đất nước.
Trường ca này đã kế thừa những cấu trúc thi pháp thể lọai của những trường ca trước đó và sáng tạo có nét riêng phải chăng do tác giả của nó đã bình tĩnh tìm tòi sáng tạo và có phương pháp thể hiện hợp lý có hiệu quả? Đồng thời độ lùi thời gian sau cuộc chiến khá xa cũng là lợi thế để Tô Nhuần có sự lắng đọng lựa chọn cách thể hiện gạn lọc các chi tiết thừa những đoạn thơ “rậm lời nghĩa ít” để có bước tiến về chất một sự thành công đáng được ghi nhận này.
                                                                 Hà Nội 7-12-2007
                                                                          K.D.H

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh



Bài thơ “Nam quốc sơn hà”


gắn với hoàng đế Lê Đại Hành


 hay Thái úy Lý Thường Kiệt?


                                       TRỌNG MIỄN



        
        Hai bài viết “Văn bản xưa nhất về truyền thuyết trong có bài thơ Nam quốc sơn hà” của Nguyễn Thị Oanh trên tạp chí Văn hóa dân gian số 2- 2002; và bài “Bàn thêm về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà” của Văn Đắc trên tạp chí Xứ Thanh số 7-2003 thuộc hai nhóm khác nhau: Một nhóm cho bài thơ Nam quốc sơn hà gắn với Lê Đại Hành trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981; một nhóm cho bài thơ Nam quốc sơn hà gắn với Lý Thường Kiệt trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai năm 1076 trên sông Như Nguyệt.
 Trước khi đưa ra ý kiến riêng của mình chúng tôi xin bày tỏ đôi điều về bài viết của tác giả Nguyễn Thị Oanh. Trong bài viết của mình tác giả dẫn lời Chư Cát thị ở thế kỷ XVIII (trong sách Tân đính hiệu bình Việt điện U linh tập) rằng: “Tập sách này làm ra từ thời Lý có trước ngòi bút của Lê Văn Hưu” rồi kết luận: “Theo Chư Cát thị trước Việt điện U linh (VĐUL) của Lý Tế Xuyên đã có VĐUL của tác giả nào đó của thời Lý”. Như vậy Nguyễn Thị Oanh muốn thời điểm ra đời VĐUL và Lĩnh Nam chích quái (LNCQ) đều cùng ở thời Lý. Vì cũng có người cho LNCQ xuất hiện khoảng thời Lý - Trần. Từ đó cho rằng VĐUL sửa lại thơ của LNCQ rồi nhận định: “Có lẽ truyền thuyết ban đầu của VĐUL đã bị các sử gia phong kiến sau này sửa chữa cho phù hợp với nhãn quan Nho giáo và như vậy phải chăng truyền thuyết trong có bài thơ của LNCQ cổ nói trên là dạng ban đầu xưa nhất của VĐUL mà nay chúng ta mới tìm thấy”. Thực ra ý kiến của cả Chư Cát thị thế kỷ XVIII và những nhà nghiên cứu hiện nay về thời điểm ra đời của VĐUL và LNCQ cũng chỉ là giả thiết phỏng đoán chứ không ai đưa ra được bằng chứng xác thực. Hiện nay chúng ta chỉ có trong tay VĐUL của Lý Tế Xuyên thời Trần và LNCQ của Vũ Quỳnh Kiều Phú ở thế kỷ XV.
Chính vì vậy chúng tôi cho rằng không nên để tâm quá nhiều vào việc tìm kiếm sách nào có trước sách nào có sau cũng không nên để tâm quá nhiều vào việc so sánh đối chiếu các truyền thuyết về Trương Hống Trương Hát. Bởi một trong những đặc điểm của truyền thuyết nói riêng và văn học dân gian nói chung là tính dị bản. Theo Nguyễn Thị Oanh truyền thuyết về Trương Hống Trương Hát có khoảng 35 dị bản sách và 8 thần tích. Truyền thuyết càng xa ngày nay dị bản càng nhiều đó là điều dễ hiểu. Song ngay trong năm 2003 mà Văn Đắc viết: “Lý Thường Kiệt là Thái úy tướng đứng đầu chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi. Người mà lịch sử đã ghi: “Lý Thường Kiệt tinh thông thao lược lại có tài thơ văn (T.M nhấn mạnh)...” Viết như vậy nhưng lại không dẫn ta sử nào ghi sách nào chép thì có khác gì cách viết của Chư Cát thị ở TK XVIII!
Vậy làm cách nào để có thể khẳng định được bài thơ Nam quốc sơn hà gắn với Lê Đại Hành đánh Tống năm 981 hay gắn với Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt năm 1076? Chúng tôi thấy cần phải bàn đến mấy điểm sau:
a. So sánh bài thơ trong VĐUL gắn với Lý Thường Kiệt với bài thơ trong LNCQ gắn với Lê Đại Hành để tìm ra văn bản thích hợp phục vụ đề tài đang tìm hiểu (chứ không tìm ra sách nào chữa thơ của sách nào).
b. Tìm hiểu sơ lược việc học và thi cử thời Lý.
c. Trình độ học vấn của Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt.
Chúng tôi xin lần lượt trình bày ba điểm này:
a.Chúng tôi chép lại hai bài thơ Nam quốc sơn hà trong bài viết “Văn bản xưa nhất về truyền thuyết trong có bài thơ Nam quốc sơn hà” của Nguyễn Thị Oanh để tiện trình bày:
Bài thơ trong VĐUL:     
 Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Sông núi nước Nam đã có vua nước Nam ở
Tại sổ trời đã ghi địa phận rõ ràng
Sao bọn giặc kia lại xâm phạm
Chúng bay sẽ thấy bị thua to).
Bài thơ trong LNCQ:       
 Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm
Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ.
(Núi sông nước nam vua Nam ở
Trời xanh đã định trong sách trời
Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm
Sẽ gặp cuồng phong đánh tơi bời).
Câu thứ nhất cả hai bản đều giống nhau.
Câu thứ hai bản VĐUL là “Tiệt nhiên phận định...”; bản LNCQ là: “Hoàng thiên dĩ định...”. Nguyễn Thị Oanh viết: “Nếu so với câu “Tiệt nhiên phận định tại thiên thư” (Tại sổ trời đã ghi địa phận rõ ràng) thì câu “Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư” (Trời xanh đã định trong sách trời” thì có thể thấy rõ tư tưởng “thiên mệnh” bao trùm tâm thức của người dân thời bấy giờ”. Thực ra nội dung hai câu này giống nhau chỉ khác nhau về cách nói về sắc thái tu từ của hai từ “Tiệt nhiên” và “Hoàng thiên”. “Tiệt nhiên” làm cho câu văn dứt khoát rành mạch không một thế lực nào đảo ngược được; “Hoàng thiên” (Trời xanh) trong trường hợp này chỉ làm bổ trợ cho ba từ “tại thiên thư” (trong sách trời). Vì vậy câu văn trở nên rườm rà lặp ý.
Câu thứ ba bản VĐUL là “Như hà nghịch lỗ...”; Bản LNCQ là: “Như hà Bắc lỗ...”. Nguyễn Thị Oanh cho rằng “Từ “nghịch tặc” (Tức nghịch lỗ - TM) là chỉ chung bọn giặc chẳng kể giặc Bắc giặc Chiêm Thành và những bọn giặc ngoại xâm khác. Còn “Bắc lỗ” thì chỉ có một ý nghĩa là “giặc Bắc” “giặc Tống” mà thôi”. Đúng như vậy. Cả Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt đều đánh Tống đánh Chiêm Thành nhưng bối cảnh lịch sử của những trận đánh này thì khác nhau.
Năm 981 Lê Hoàn đánh Tống khi lần đầu tiên quân Tống xâm lược nước ta. Cuộc chiến đấu đã gian khổ ác liệt nhưng không ác liệt gian khổ bằng cuộc chiến đấu của Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt 1076. Cuộc chiến đấu này diễn ra sau khi Lý Thường Kiệt chủ động tiến đánh quân Tống để tự vệ lấy được ba châu Khâm Liêm Ung. Cuối 1076 quân Tống đánh chiếm nước ta để báo thù đồng thời nếu thắng thế Tống sẽ tăng các nước Liêu Hạ sẽ phải  kiêng nể không uy hiếp vùng biên thùy phía bắc và tây bắc nước Tống nữa. Lê Hoàn sau cuộc đánh Tống thắng lợi 981 năm 982 mới đánh Chiêm Thành.
Còn Lý Thường Kiệt suốt cả cuộc đời gắn bó với ba triều vua Lý: Lý Thái tông Lý Thánh tông Lý Nhân tông cả triều vua này đều đánh Chiêm Thành. Đặc biệt trước khi tiến đánh quân Tống để tự vệ lấy được ba châu Lý Thường Kiệt “Tự mình vào kinh lý vùng biên cương phía nam sai vẽ bản đồ và tăng cường lực lượng biên phòng để ngăn chặn sự tiến công của Chăm Pa. Vì vậy khi cuộc chiến tranh xảy ra vua Chăm Pa có phái quân lên biên giới phía bắc nhưng không dám gây sự” (1).
Từ những sự kiện lịch sử này hai từ “Nghịch lỗ” (Bọn giặc) trong bản VĐUL không chỉ đúng trong trận đánh cụ thể mà còn mở rộng khái quát chỉ chung cho mọi đối tượng là giặc ngọai xâm. Ngược lại hai từ “Bắc lỗ” trong bản LNCQ chỉ gói gọn là giặc Tống trong trận đánh cụ thể năm 981.
Câu thứ tư: Câu này hoàn toàn khác nhau ở cả hai bản. Bản VĐUL chép: “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” (Chúng bay sẽ thấy bị thua to); bản LNCQ chép: “Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ” (Sẽ gặp cuồng phong đánh tơi bời). Xét về nhiều phương diện thì câu: “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” trong VĐUL vừa lôgich vừa nói lên được quyết tâm khí phách của nhân dân Đại Việt trước mọi kẻ thù xâm lược. Còn câu “Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ” trong LNCQ nặng về “Thiên mệnh” trông chờ vào lực lượng siêu nhiên không đúng với cuộc chiến đấu oanh liệt của quân dân ta chống Tống dưới sự chỉ huy tài giỏi của Lê Hoàn.
Qua so sánh trên chúng tôi chọn bài Nam quốc sơn hà trong VĐUL gắn với lý Thường Kiệt vì bài thơ đã tách khỏi dòng thơ thiền thể hiện khí phách của một dân tộc độc lập có chủ quyền. Ngược lại bài thơ trong LNCQ vẫn thuộc dòng thơ thiền pha mầu Đạo giáo nặng tư tưởng “thiên mệnh” lại cố gắn với Lê Hoàn gắn với cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất năm 981.
b. Nho giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên (có thuyết nói từ thế kỷ III trước công nguyên) nhưng mãi đến 1075 Lý Nhân tông mới xuống chiếu “Tuyển  minh kinh bác học và thi nho học tam trường” (2). Đây là khoa thi nho học đầu tiên do Nhà nước phong kiến tổ chức. Điều này có nghĩa rằng đến thời Lý việc học chữ Hán ở nước ta mới trở nên thường xuyên rộng rãi và có tổ chức. Chính vì vậy ngoài các nhà sư những người biết chữ Hán cũng đã có khá nhiều. Nhận xét về việc học ở nước ta Đào Duy Anh viết “Đến triều Ngô và triều Đinh độc lập thời vì trị nước không lâu mà lại phải lo chỉnh đốn việc võ bị và chính trị chưa rảnh mà tổ chức việc giáo dục cho nên việc học bấy giờ chỉ có trong chùa chiền... Triều Lý đến đời Lý Thánh tôn (1054 - 1072) thì việc dẹp loạn đã tạm yên việc chính trị cũng đã chỉnh đốn nên vua đổi quốc hiệu là Đại Việt và bắt đầu sửa sang việc học (3).
Có học mới có chữ có chữ mới có văn học thành văn. Văn học viết Việt Nam có từ thế kỷ X nhưng là thơ của các nhà sư với dòng thơ thiền uyên bác độc đáo song ít cả về tác giả và tác phẩm. Có những nhà thơ như Ngô Chân Lưu (959 - 1011) từng làm quốc sư hai triều Tiền Lê và triều Lý sư Vạn Hạnh (? - 1018) trước giúp Lê Đại Hành sau lại giúp Lý Thái tổ. Hai tác giả này là hiện tượng bắc cầu giữa thế kỷ X và thế kỷ XI. Có lẽ vì vậy mà các tác giả “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII(4) phần “Hợp tuyển”chỉ tuyển từ “Văn học thời Lý” bắt đầu từ Lý Thái tổ với “Chiếu dời đô”; và chọn sư Vạn Hạnh với bài “Bảo đệ tử”. Cũng có người cho bài thơ Nam quốc sơn hà không phải của Lý Thường Kiệt mà là của tác giả vô danh. Dẫu vậy thì tác giả vô danh ấy vẫn phải có chữ mới làm được thơ chữ Hán thất ngôn tứ tuyệt (5).
c. Bài thơ Nam quốc sơn hà làm theo thể Đường luật thất ngôn tứ tuyệt phải là người giỏi chữ Hán mới làm được. Bởi ngoài nội dung tư tưởng của bài thơ còn phải biết luật thơ Đường không hiểu không thành thạo luật thơ Đường không làm được thơ Đường luật. Lý Thường Kiệt “Từ hồi nhỏ ông đã tỏ ra là một con người có chí hướng ham đọc sách và say sưa nghiên cứu binh thư” (Lịch sử Việt Nam tập I trang 172). Và “Thuở nhỏ ông vừa ham đọc sách vừa ham tập võ bị...” (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam trang 56). Theo Phan Ngọc Khang Hi từ điển có non bốn vạn chữ nhưng thông thường phải nhớ trên ba ngàn chữ thì biết đọc biết viết được. Điều đó không thể nói là dễ dàng” (6). Như vậy Lý Thường Kiệt không chỉ là người giỏi dùng binh mà cũng rất giỏi chữ nghĩa điều đó không chỉ thể hiện trong bài thơ Nam quốc sơn hà mà thể hiện ngay trong bài văn chính luận Lộ bố văn. Ngược lại không có một cứ liệu nào chứng tỏ Lê Hoàn là người giỏi chữ nghĩa thơ văn. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì năm 987 (sau chiến thắng quân Tống 6 năm) nhà Tống sai Lý Giác sang sứ nước ta Lê Đại Hành sai pháp sư tên Thuận giả là người coi sông (lái đò) ra đón. Nhân có hai con ngỗng lội trên nước sứ Tống đọc hai câu thơ pháp sư đương cầm chèo theo vần làm nối hai câu thành một bài tứ tuyệt. Lý Giác lấy làm lạ làm thơ giử tặng Thuận dâng lên. Vua cho gọi sư Ngô Khuông Việt đến xem. Khuông Việt nói: “Thơ này tôn bệ hạ không khác gì vua Tống”. Khí Lý Giác từ biệt ra về vua sai Khuông Việt làm bài thơ để tiễn (Sđd trang 221 222). Với đoạn vừa dẫn càng chứng tỏ rằng bài thơ Nam quốc sơn hà không thể gắn liền với Lê Đại Hành trong cuộc chống Tống 981. Vì Lê Đại Hành không những không biết sáng tác thơ văn mà cũng không biết thẩm thấu thơ văn.
Đến đây chúng tôi có thể khẳng định rằng bài thơ Nam quốc sơn hà trong VĐUL của Lý Tế Xuyên gắn với cuộc kháng chiến chống Tống của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt 1076 và chính Lý Thường Kiệt là tác giả của bài thơ đó. Cũng cần nói thêm theo truyền thuyết bài thơ được thần Trương Hống Trương Hát hoặc binh lính đọc đó chỉ là “thuật” tuyên truyền của Lý Thường Kiệt mà thôi. “Thuật” ấy nhằm củng cố lòng tin và quyết tâm cho binh sĩ nhanh chóng đưa cuộc kháng chiến đến thành công. ở thế kỷ XV sau này trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược Nguyễn Trãi cũng đã dùng thuật này ông cho quân lính dùng mỡ viết vào lá cây mấy chữ “Lê Lợi vi quân Nguyễn Trãi vi thần” rồi thả xuống khe suối để cổ vũ tinh thần binh sĩ.
Trước khi khép lại bài viết này chúng tôi cảm thấy cần phải nêu lên hai khuynh hướng không đúng khi nhận xét đánh giá về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà.
Khuynh hướng thứ nhất: coi Lý Thường Kiệt trên cả Lý Nhân tông. Văn Đắc viết trong bài “Bàn thêm về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà” rằng: “Bài thơ là lời tuyên ngôn mang chính kiến và khí phách của toàn dân tộc mà người đứng đầu đại diện là Lý Thường Kiệt” (Tạp chí Xứ Thanh số 7- 2003). ở đây chúng ta không xét công lao ai hơn ai nhưng Lý Thường Kiệt là thần Lý Nhân tông là vua thần sao đứng trên vua được. Lý Thường Kiệt hiểu rất rõ đạo trung quân cùng những nguyên tắc tam cương ngũ thường của Nho giáo ông cũng hiểu rất rõ thuyết chính danh của Khổng Tử: “Vua phải đúng đạo (vua) tôi phải đúng đạo tôi cha phải đúng đạo cha con phải đúng đạo con”. Chính vì vậy trong Lộ bố văn Lý Thường Kiệt viết: Trời sinh ra dân chúng vua hiền tất hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn chẳng biết tuân theo phép thánh lại tin kế của An Thạch tham tà bày những phép “thanh miêu” “trợ dịch” khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thỏa mãn nuôi mình béo mập. Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tại trời thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại lượng kẻ  ở trên cố nhiên phải xét.
Những việc từ trước thôi không nói gì. Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt chỉ có ý phân biệt quốc thổ không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch dơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu hưởng tháng Thuấn thăng binh”(7).
Lời văn như hịch của bậc đế vương nhưng Lý Thường Kiệt là tướng - là thần nên xưng “Bản chức vâng mệnh quốc vương” là đúng đạo vua tôi. Điều rất đáng chú ý là sau này trong bài thơ Nam quốc sơn hà Lý Thường Kiệt viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Chữ “đế” ở đây không phải là chỉ Lý Nhân tông vì Lý Nhân tông chỉ xưng vương. Chữ “đế” trong câu này theo chúng tôi có hai ý: Một là Lý Thường Kiệt muốn nói với giặc Tống rằng nước Nam cũng có cương vực lãnh thổ như nước Tống cũng có người làm chủ cương vực lãnh thổ ấy như nước Tống đúng như sứ Tống Lý Giác đã viết về Lê Đại Hành: “Ngoài trời lại có trời soi nữa”. Hai là Lý Thường Kiệt nhắc đến cuộc xâm lược lần thứ nhất của nước Tống 981 đã bị chính Lê Đại Hành hoàng đế đánh cho đại bại. Điều này chứng tỏ Lý Thường Kiệt rất giỏi chữ nghĩa viết văn cân nhắc từng chữ.
Khuynh hướng thứ hai: Tách Lý Thường Kiệt và bài thơ Nam quốc sơn hà khỏi bối cảnh lịch sử cụ thể là cuộc chiến đấu gian khổ ác liệt chống quân Tống xâm lược trên sông Như Nguyệt 1076 coi Lý Thường Kiệt như một tác giả văn học viết thời Lý các tác giả Lịch sử Việt Nam (Tập I) viết:
“Trong khí thế vươn lên của cả dân tộc để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược Lý Thường Kiệt đã viết lên bài thơ bất hủ:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”
Tạm dịch là:
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).
Bài thơ ngắn gọn nhưng thực sự đã nói lên khí phách khí thế và quyết tâm của dân tộc. Bằng bài thơ đó Lý Thường Kiệt đã nhân danh cả dân tộc ta tuyên bố khẳng định quyền độc lập thiêng liêng và quyền bình đẳng của dân tộc cảnh báo nghiêm khắc kẻ ngoại xâm. Bài thơ đã được ghi vào lịch sử như bản Tuyên ngôn độc lập lần đầu tiên của dân tộc ta sau hơn một nghìn năm bị phong kiến nước ngòai đô hộ. Bản tuyên ngôn đó không phát ra sau khi giành được độc lập mà sau khi dân tộc đã lớn mạnh đã vượt nhiều thử thách và đã xây dựng được cho mình một đất nước đàng hoàng với cuộc sống độc lập và tư thế hiêng ngang” (Trang 181 182).
Chúng tôi nghĩ Lý Thường Kiệt và bài thơ Nam quốc sơn hà chỉ có gắn với cuộc kháng chiến chống Tống trên sông Như Nguyệt 1076 thì giá trị tư tưởng bài thơ mới lớn sự vĩ đại của Lý Thường Kiệt – tác giả bài thơ đó càng cao càng đậm càng vĩnh hằng trong lòng dân tộc ta trong lòng nhân dân ta.

                                                                   T.M


(1) Lịch sử Việt Nam tập 1- NXB KHXH 1971 trang 171.
(2) Đại Việt sử ký toàn thư tập 1- NXB KHXH 1983 trang 290.
(3) Đào Duy Anh Việt Nam văn hóa sử cương NXB VHNT 2006 trang 271.
(4) NXB Văn học 1976.
(5) Bùi Duy Tân “Truyền thuyết về một bài thơ Nam quốc sơn hà là vô danh không phải của Lý Thường Kiệt tạp chí Văn hóa dân gian số 4 (72) 2000.
(6) Phan Ngọc Bản sắc văn hóa Việt Nam NXB Văn học 2002 trang 111.
(7) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII NXB văn học 1976 trang 56 57.



 



Về bài “Những liên tưởng ngữ  nghĩa
 
 
của từ  hoa trong Truyện Kiều -
 
 

Nguyễn Du”của Phan Thị Huyền Trang

 



                                                                    HOÀNG TUẤN CÔNG

 
 
            Trên tạp chí “Ngôn ngữ”-Viện ngôn ngữ học số 11-2007 có bài “Những liên tưởng ngữ nghĩa của từ hoa trong Truyện Kiều - Nguyễn Du” của Phan Thị Huyền Trang. Bài viết đã táo bạo mở ra hướng tiếp cận khám phá cái mới trong vườn hoa ngôn ngữ của Truyện Kiều - mảnh vườn mà nhiều nhà “Kiều học” nhiều “tín đồ” của ngôi đền thơ “Đoạn trường tân thanh” đã cày xới chăm sóc rất kỹ ngót mấy trăm năm qua.
Theo Phan Thị Huyền Trang thì “dưới cách tiếp cận ngôn ngữ-văn hóa bài viết này sẽ đi sâu phân tích lý giải sự lan tỏa ý nghĩa của từ hoa từ tâm ra ngoại vi cũng như sợi dây gắn kết về ngữ nghĩa từ ngoại vi hướng về tâm”. Sau khi phải khá mệt mỏi bơi theo dòng “trường giang ngôn ngữ” của 10 trang viết với những tầm chương trích cú lý luận kinh viện cái mới mà độc giả được tiếp cận lại chính là sự tận cùng dung tục thô lỗ hóa ngôn ngữ Truyện Kiều của tác giả Phan Thị Huyền Trang. Xin có đôi lời trao đổi cùng Phan Thị Huyền Trang và độc giả qua mấy đề mục:
1. “ Cái hay thì không mới...”
Phan Thị Huyền Trang đưa ra 5 nghĩa của từ “hoa” mà Đào Duy Anh đã giải thích trong Truyện Kiều và chỉ ra cái hạn chế của học giả Đào Duy Anh “do cách tiếp cận thiên về từ vựng-ngữ nghĩa của một người làm từ điển tác giả Đào Duy Anh chỉ nhấn mạnh đến các ý nghĩa cơ bản được cố định hóa của từ hoa những ý nghĩa giúp cho nó có chỗ đứng trong hệ thống. Còn các tầng nghĩa biểu trưng các sắc thái biểu cảm cũng như sự lan tỏa ngữ nghĩa tinh tế-cái tạo nên linh hồn ngữ nghĩa của từ hoa lại chỉ được nhắc đến một cách sơ sài :“thường dùng để tỉ dụ người đẹp sắc đẹp tình yêu... Vì vậy chúng tôi đặt ra cho mình nhiệm vụ là: cần phải soi sáng đặc điểm ngữ nghĩa của từ hoa dưới một góc độ khác góc độ ngôn ngữ -văn hóa”.
Thử xem dưới “góc độ ngôn ngữ văn hóa” Phan Thị Huyền Trang đã “soi sáng” được những gì?
Chúng ta đều biết phong hoa tuyết nguyệt ... là những hình ảnh rất quen thuộc phổ biến trong thơ ca xưa. Riêng hình tượng bông hoa được so sánh ẩn dụ với sắc đẹp thân phận người phụ nữ đã trở nên quá quen thuộc cả trong văn học viết văn học dân gian lẫn ngôn ngữ thường ngày như: mặt hoa da phấn tươi như hoa đẹp như hoa như hoa mới nở như hoa sắp tàn như hoa sớm nở tối tàn như cánh hoa bị vùi dập gót hoa trướng hoa thềm hoa v.v... Hoa trở thành ý nghĩa tượng trưng cho cái đẹp sự cao sang trong sáng và muôn hình vạn trạng trong cách ví von ẩn dụ khác. Bởi vậy chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi trong số hơn ba ngàn câu Kiều Phan Thị Huyền Trang đã dày công đếm được tất thẩy 133 lần xuất hiện từ hoa với nhiều ý nghĩa khác nhau. Phan Thị Huyền Trang nên hiểu rằng phần nhiều thơ ca xưa đều vận dụng lối “tỉ dụ” để giãi bày sáng tác. Do đó lấy hình tượng hoa để biểu thị nét mặt tâm trạng thân phận tình yêu... không phải điểm đặc biệt duy nhất của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Thậm chí trong Truyện Kiều Nguyễn Du mới chỉ vận dụng một phần nhỏ ý nghĩa ẩn dụ của hoa trong vô vàn cách nói của dân gian. Câu ca dao: Em như một đóa hoa nhài. Canh khuya hé nở chờ ai bên tường hoa nhài ở đây là hình ảnh một người con gái đáng chê. Nhưng câu ví Như bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu hoa nhài lại là một thân phận vừa đáng chê lại vừa đáng thương đáng tiếc. Hay câu Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa hoa ở đây chỉ nơi chốn cao sang sung sướng hạnh phúc. Câu thành ngữ “Mãn nguyệt khai hoa” hoa ở đây lại chỉ sự sinh nở v.v và v.v... Với văn học viết chỉ xin lấy “Chinh phụ ngâm” (bản diễn ca cũng như nguyên tác) làm ví dụ. Mặc dù nhân vật chính không phải là thân phận bông hoa bị dập vùi trôi nổi như Kiều nhưng hình tượng hoa với lối so sánh ẩn dụ vẫn xuất hiện rất nhiều trong tác phẩm thơ cổ này:
Rượu cùng hoa rắp tã đàm
Sầu làm rượu lạt muộn làm hoa ôi
Hay:
Ngừng nhan sắc đương chừng hoa nở
...    
Đôi hoa cùng nở đôi cây cùng liền...
Thậm chí từ hoa còn khá “đậm đặc”:
“Hướng dương lòng thiếp như hoa
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái
Hoa để vàng vì tại bóng dương
Hoa vàng hoa rụng quanh tường
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần”(1)
Không bằng lòng dừng lại ở cách giải thích của học giả Đào Duy Anh Phan Thị Huyền Trang đưa ra một số đề mục rất “mùi mẫn” như: “1.Hoa-hiện thân của sự sống 2. Hoa-thiên đường của mặt đất 3.Hoa phút giây thoáng chốc 4.Hoa-thực thể thụ động” v.v...với những dòng phân tích tán thưởng về hoa “tràng giang đại hải”. Tất cả những điều đó đã được học giả Đào Duy Anh giải thích khái quát đầy đủ trong Từ điển Truyện Kiều và loài người mọi người đã nói cách đây cả...ngàn năm trăm năm rồi.
Vẫn là những ngộ nhận Phan Thị Huyền Trang viết:“Hoa thường được gán cho thiên tính nữ nên người ta thường liên tưởng với người con gái đẹp. Nhưng tài tình của Nguyễn Du là ở chỗ trong Truyện Kiều ta còn thấy đối tượng hoa ngầm chỉ không phải thuộc phái đẹp mà còn có thể thuộc phái “mày râu”:
Nàng rằng khoảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
Thật bất ngờ đối với người đọc và cơ chế liên tưởng ở đây dường như đã đi ra ngoài khung liên tưởng thông thường. Có thể hình dung ra mô hình liên tưởng như sau:
Hoa-tình yêu tình cảm đẹp cao quý-người yêu đối tượng có tình cảm đẹp ấy-Kim Trọng đối tượng cụ thể”.
Thực ra những liên tưởng ấy về từ hoa trong câu thơ đã nằm trong cách giải thích thứ nhất về hoa của Đào Duy Anh mà chính Phan Thị Huyền Trang đã trích dẫn và chê là sơ sài. Đó là hoa “thường dùng để chỉ người đẹp sắc đẹp tình yêu”. Trong câu  “Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa” từ hoa ở đây chỉ có thể hiểu là “tình yêu” mà thôi (Vì tình yêu nên phải đánh đường tìm tình yêu). Bằng không nếu hoa trong câu thơ trên nói về một giới “mày râu” cụ thể là Kim Trọng như cách liên tưởng của Phan Thị Huyền Trang điều đó cũng không có gì là “bất ngờ” “tài tình” độc đáo và mới lạ trong Truyện Kiều. Bởi từ hoa hình  ảnh hoa đã lâu  không chỉ là đặc quyền khi nói về cái đẹp của người phụ nữ. Từ hoa đã mang một nghĩa bao hàm tượng trưng khi nhắc đến tất cả những gì (con người sự vật hay hiện tượng) có phẩm chất hình thức tốt đẹp: hoa tay bút hoa thềm hoa chiếu hoa v.v... Trong “Chinh phụ ngâm” cũng đã dùng “mặt hoa” để chỉ Phan Lang-một anh chàng một “mày râu”  đẹp trai có tiếng trong điển tích xưa:
Mặt hoa nọ gã Phan Lang
Sợ khi mái tóc pha sương cũng ngừng
 Nói tóm lại với phần “soi sáng” rất công phu dài dòng trên đây Phan Thị Huyền Trang không hề tìm được điều gì mới mẻ như cách đặt vấn đề hùng hồn đầu bài viết. Ngược lại tác giả đã bộc lộ những ấu trĩ không đáng có trong một bài nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều
2. “Cái mới thì không hay”
Với đề mục thứ 5 “Hoa-bộ phận cơ thể người phụ nữ” - sự ngộ nhận non kém về ngôn ngữ hay sự dung tục trong ý nghĩ của Phan Thị Huyền Trang đã đẩy ngôn ngữ truyện Kiều đến tận cùng của sự thô lỗ.
Thoạt tiên Phan Thị Huyện Trang ca ngợi “Một ý nghĩa biểu trưng khá thú vị của hoa trong Truyện Kiều là: hoa tương ứng với bộ phận làm đẹp của người nữ giới. Hoa là miệng xinh:
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Hoa là mặt đẹp:
Lại càng ủ dột nét hoa”
Như trên đã nói ví miệng người con gái cười tươi xinh như hoa vẻ mặt như hoa không phải là sáng tạo chỉ có trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Do đó không cần tác giả làm rối rắm thêm vấn đề bằng những kết luận như “Sự tương tác giữa hoa với các từ xung quanh đã đẩy ngữ nghĩa của từ hoa đi từ trường thiên nhiên sang trường bộ phận con người”. Không hiểu “trường thiên nhiên” và “ trường bộ phận con người” là thuật ngữ gì mà nghe lạ tai vậy?
Kinh ngạc hơn tác giả viết tiếp:“Thêm vào đó trong Truyện Kiều hoa còn tượng trưng cho bộ phận sinh dục của người phụ nữ (H.T.C nhấn mạnh) là sự sống xuất hiện trên khoảng mênh mông của vùng nước khởi nguyên kết hợp với mùi hương nồng nàn mà dịu ngọt hoa tự thân đã có tính thái âm và nữ tính. ý nghĩa tượng trưng này được Nguyễn Du cảm nhận thực là sâu sắc:
Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Trà mi là loại hoa nở vào cuối xuân đầu hạ nó đẹp bởi sự tinh khiết thuần túy. Trà mi thường được sử dụng trong văn thơ để tỉ dụ người con gái đẹp nhưng để chỉ âm hộ của người phụ nữ thì ít ai như Nguyễn Du”. Than ôi! “ít ai như Nguyễn Du” hay chỉ độc nhất vô nhị Phan Thị Huyền Trang có cách nghĩ và cách cảm thô thiển như vậy?
Cái cớ mà tác giả dựa vào để “liên tưởng” là căn cứ vào một số ý kiến về “biểu tượng hoa sen trong văn hóa phương Đông và hoa huệ tây trong văn hóa phương Tây” của một vài học giả phương Tây. Sau khi tán tụng hình ảnh hoa sen “trong tranh hình Ai Cập” tác giả kết luận “Trong văn hóa ấn Độ và Trung Hoa tầm quan trọng về ý nghĩa biểu tượng của hoa sen về mặt trần tục cũng như về mặt linh thiêng đều bắt nguồn từ hình ảnh cơ bản này”. Và Phan Thị Huyền Trang mạnh dạn gán cho cụ Nguyễn Du một khả năng tư duy “thiên tài” đáng xấu hổ:“Từ sự liên tưởng hoa trà mi với âm hộ người phụ nữ Nguyễn Du đã chạm tới mẫu gốc thiêng liêng trong văn hóa nhân loại. Đồng thời với sự gán ghép phạm trù tự nhiên sang phạm trù con người phải chăng Nguyễn Du đã cố ý trộn lẫn các đối tượng: hoa-miệng-mặt-âm hộ. Vẻ đẹp thiên nhiên tựa như thứ nhạc nền để một hòa tấu cất lên để ấn tượng về cái đẹp nhân bản trở thành viên mãn. Những trường hợp hoa mang ý nghĩa  biểu tượng này tuy không nhiều nhưng thực sự có giá trị vì nó là cái riêng cái dấu ấn độc đáo của thiên tài Nguyễn Du”
Xin thưa rằng ý nghĩa về sự sinh sản sinh dục tái sinh phồn thịnh mẫu gốc của các loài hoa mà Phan Thị Huyền Trang trích dẫn của mấy ông Tây mang tính biểu tượng tín ngưỡng của từng dân tộc nó khác hoàn toàn với sự liên tưởng cụ thể “đóa trà mi” với “bộ phận cơ thể người phụ nữ” với “âm hộ” mà Phan Thị Huyền Trang phát hiện.
 “Tiếc thay một đóa trà mi Con ong đã tỏ đường đi lối về” là hai câu thơ rất hay trong truyện Kiều. Nó không chỉ hay và nổi tiếng bởi ghi lại dấu mốc quan trọng nhất thời khắc nghiệt ngã xót xa nhất khi Mã Giám Sinh đã biến nàng Kiều từ một người con gái trong trắng tiết trinh trở thành một người đàn bà “Thân nghìn vàng để ô danh má hồng”. Sau “tiếng kêu đứt ruột” đầu tiên này nàng Kiều sẽ tiếp tục bị đẩy dài trong kiếp đọa đầy thân xác và tâm hồn. Hai câu thơ còn nổi tiếng và hay bởi sự diễn đạt nhẹ nhàng ý nhị kín đáo mà gợi lên xiết bao đau đớn tiếc nuối cho nàng Kiều. Nguyễn Du không viết Tiếc thay cái nhụy trà mi mà dùng chữ “một đóa trà mi”. Chữ “đóa” là một từ Hán-Việt nghĩa gốc là một chùm hoa. Khi Việt hóa từ “đóa” được hiểu chung là một bông hoa dưới cái nhìn tổng thể (bao gồm cuống hoa đài hoa cánh hoa nhụy hoa v.v...) Do đó “một đóa” ở đây không nhằm chỉ một bộ phận riêng biệt cụ thể nào của bông hoa nên cũng không thể liên tưởng đến một bộ phận cụ thể nào đó của người (phụ nữ). Hình ảnh “đóa trà mi” trong câu thơ Nguyễn Du chính là (và không chỉ là) vẻ đẹp sắc sảo mặn mà khiến Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh của nàng Kiều. Cao hơn đóa trà mi còn tượng trưng cho vẻ đẹp về phẩm chất tâm hồn của Kiều: Sắc đành họa một tài đành họa hai Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm...
 Nói tóm lại đóa trà mi chính là con người cuộc đời vẻ đẹp đang độ rực rỡ nhất của nàng Kiều. Dù kém cỏi đến đâu (thiên tài lại càng không thể) cũng không có nhà thơ nào lại “ngây” đến mức dùng đóa trà mi để chỉ cái cụ thể là “âm hộ của người phụ nữ” (ở đây là nàng Kiều). Kính lạy cụ Nguyễn Du (cụ có hứa tha tội thì con mới dám nói) nếu hiểu đóa trà mi là “âm hộ của người phụ nữ” như nghiên cứu của Phan Thị Huyền Trang thì con cũng xin mạo muội hỏi rằng: chắc hẳn “con ong đã tỏ đường đi lối về” kia chính là dương vật của người đàn ông chứ(?!). Và hỡi ôi! Cái hành động cưỡng đoạt tiết trinh thân xác nàng Kiều của “giống hôi tanh” Mã Giám Sinh chính là liên tưởng“về cái đẹp nhân bản trở thành viên mãn” là “Nguyễn Du đã chạm tới một mẫu gốc thiêng liêng trong văn hóa nhân loại” hay sao (?!)
Để minh họa cho việc “Nguyễn Du đã cố ý trộn lẫn các đối tượng: hoa-miệng-âm hộ” trong bài viết Phan Thị Huyền Trang đã vẽ bông hoa năm cánh trong đó có một cánh biểu thị cho “bộ phận cơ thể người phụ nữ” (âm hộ) và kết luận: “Như vậy là từ cách nhận thức ngữ nghĩa truyền thống của từ hoa qua Từ Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh chúng ta còn có cơ sở để nhận thức thêm những tầng nghĩa hàm ẩn những lớp nghĩa lan tỏa đầy thú vị của hoa dưới góc độ ngôn ngữ-văn hóa(?!)
Rõ ràng cái mà Phan Thị Huyền Trang gọi là “tầng nghĩa hàm ẩn” “lan tỏa đầy thú vị của hoa dưới góc độ ngôn ngữ văn hóa” rất thô tục và không thể chấp nhận ở bài viết của một người chuyên nghiên cứu ngôn ngữ.
3. Bài viết sai về phương pháp luận thiếu thống nhất khoa học:
Chúng ta đều biết trong truyện Kiều ngay cả khi không nhắc đến từ “hoa” cụ Nguyễn Du vẫn nói về hoa rất hay rất đẹp :
Điệu buồn như cúc điệu gầy như mai
....
Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành
....
Một tay chôn biết mấy cành phù dung”
v.v...
Nếu đã đặt vấn đề nghiên cứu tìm hiểu về nghệ thuật vận dụng hình ảnh biểu tượng của hoa trong Kiều những câu thơ nói về hoa mà không có từ hoa như trên của Nguyễn Du không thể gạt bỏ. Tuy nhiên Phan Thị Huyền Trang lại máy móc chỉ “liên tưởng ngữ nghĩa của từ hoa” và “lí giải sự lan tỏa ý nghĩa của từ hoa”. Do đó tác giả đã thống kê cả những từ “hoa” với tư cách là yếu tố cấu tạo từ: tài hoa hào hoa phồn hoa (7 trường hợp). Hoa với tư cách là từ nhân danh: con Hoa Hoa Nô (4 trường hợp)”. (Điều này chỉ có ý nghĩa ở những cuộc thi hát đố nhau tìm những câu thơ bài hát có từ “hoa”) Sau đó tác giả kỳ công ngồi đếm số lần xuất hiện từ “hoa” trong Truyện Kiều rồi “chẻ sợi tóc làm tư” dùng máy tính để thưởng thức Kiều kiểu như: “có tới 31 trường hợp quy chiếu của hoa là thiên nhiên (chiếm 25.4%)...có tới 49 trường hợp từ hoa quy chiếu đến người con gái đẹp (chiếm 40.2%)...ta thấy hoa chủ yếu đóng vai trò là tân ngữ (chiếm 48.3%). Còn nếu xét các vai nghĩa mà từ hoa biểu thị ta cũng thấy chiếm tỉ lệ cao nhất là vai bị thể (42/122 trường hợp chiếm 34.4%)” v.v...? Tuy thống kê chia phần trăm chính xác tới từng 0 ...% nhưng Phan Thị Huyền Trang không hề có kết luận hay nhận xét sự “quy chiếu” ấy phần trăm ấy có ý nghĩa như thế nào trong Truyện Kiều.
Nêu ra tiêu chí chỉ chọn những từ “hoa” để liên tưởng nhưng chính Phan Thị Huyền Trang lại bất ngờ phá vỡ nguyên tắc đã được giới hạn ấy và chọn ngay một câu thơ  không hề có từ hoa để phân tích làm nội dung cơ bản của bài viết:
Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Đóa là đóa mà hoa là hoa! Chỉ với chi tiết này chúng ta cũng có thể kết luận bài viết rất tùy tiện thiếu phương pháp luận thiếu tính khoa học.
Phần giới thiệu đầu bài viết cho ta biết Phan Thị Huyền Trang hiện công tác tại Khoa ngôn ngữ Đại học khoa học xã hội nhân văn. Truyện Kiều là một tác phẩm có chỗ đứng đặc biệt quan trọng đối với bất cứ một sinh viên khoa ngôn ngữ tiếng Việt nào? Nhưng với cách cảm nhận dung tục thô lỗ như Phan Thị Huyền Trang liệu những sinh viên sẽ học được gì ở Truyện Kiều- tác phẩm xưa nay là niềm tự hào của dân tộc về sự phong phú và trong sáng của tiếng Việt?
    
More...

VĂN HỌC MUÔN PHƯƠNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh


TRƯƠNG LỆ
(Trung Quốc)


Mắc lừa


        Paul mặc bộ quần áo đánh gôn đầm đìa mồ hôi từ cầu trường trở về phòng thay quần áo. Anh đi đến trước giá treo quần áo bất chợt anh nổi giận đùng đùng. Thì ra có một người đàn ông không quen biết đã mặc bộ âu phục của anh bên cạnh lão ta là một đống quần áo rách nát bẩn thỉu Paul lao như tên bắn túm lấy người đàn ông xa lạ đó quát to:
- To gan gớm nhỉ! Giữa thanh thiên bạch nhật thế này mà dám trộm cắp đi đi ra đồn công an.
Người đàn ông hết hồn sau đó người ấy cười cười trước bộ mặt xanh xám của anh và nói:
- Thưa ngài không nên trách giận một con người đáng thương chưa phải đến mức sơn cùng thủy tận thì một con người lịch thiệp như ngài không nên làm thế...
Paul nghe nói vậy liền quan sát con người ấy. Con người này cũng đầy vẻ phong độ có vẻ giáo dục nên nói:
- Nếu ông có một lý do tử tế nào đấy thì tôi cũng tha cho ông.
Người đàn ông đó thở dài một tiếng rầu rĩ tinh thần nói:
- Tối hôm qua tôi mới từ Poolybuốc tới Lơnđơn để tiếp nhận một khoản gia sản 20 vạn bảng của một ông chú để lại cho. Không ngờ sáng hôm nay tôi đi tản bộ trên bờ sông Thêm bỗng trông thấy một cô gái nhảy xuống sông tự tử bèn cởi quần áo nhảy theo xuống sông cứu cô gái. Không ngờ khi cứu được cô gái lên bờ mới biết được rằng quần áo cùng tất cả tiền bạc tôi mang theo đều đã không cánh mà bay. Điều làm tôi khổ tâm nhất: Chiều nay vào đúng lúc mười ba giờ lại là giờ hẹn gặp của ông chú tôi với tôi nếu tôi mặc bộ quần áo rách mướp lúi xùi tới đó tôi sợ rằng ông chú tôi lại cho tôi là người rượu chè hoặc cờ bạc gì đấy thì đừng nói tới chuyện hưởng gia tài mà ngay đến một đồng xu ông ấy cũng không cho...
Nói xong người đó lại thở dài thườn thượt.
Paul hết sức thông cảm với người đàn ông tỏ ý bất bình:
- Cái bọn lấy quần áo của người ta thật hết sức thất đức. Bây giờ có cách gì mà cứu vãn được đây?
Người đàn ông liền nheo nheo đôi mày nói:
- Cách thức cứu vãn cũng có đấy. Chỉ cần ngài cho tôi mượn bộ quần áo này thì vấn đề khắc được giải quyết. Ông chú tôi nhìn vừa mắt một chút là tôi sẽ được hưởng ngay món gia tài kia.
Paul ngớ người nghĩ bụng:
“Mình cho ông ta mượn bộ quần áo để rồi mặc bộ quần áo ăn mày kia về nhà ư?”.
Trong khi Paul còn đang băn khoăn thì bên tai đã vang lên tiếng của người đàn ông:
- Nếu ngài giúp tôi được việc này tôi cũng chẳng dám để ngài phải chịu thiệt đâu. Số tài sản mà tôi nhận được thôi thì bên tám lạng bên nửa cân tôi sẽ chia mỗi người một nửa. Được một nửa còn hơn không được tý gì!
Niềm vui hiện ngay trên nét mặt Paul một bộ âu phục cũ mà đổi lại được những mười vạn bảng thì việc tốt lành lợi lộc như thế thử hỏi kiếm đâu ra?
Nghĩ tới đó Paul liền gật đầu lia lịa:
- Được! “Quân tử thành nhân chi mỹ” (Quân tử thành danh ở tiếng thơm).
Người đàn ông vô cùng cảm động nói:
- Xin ngài cho tôi địa chỉ nếu tôi nhận được tiền tôi xin tìm đến nhà ngài ngay.
Paul nhìn người đàn ông rời khỏi nhà thay quần áo còn mình mặc nguyên bộ quần áo thể thao chạy về nhà.
Paul về nhà mới được một lúc ngoài cửa đã có tiếng chuông gọi anh mở cửa đã thấy ngay người đàn ông đứng đó với khuôn mặt rầu rĩ. Paul vội hỏi:
- Lại còn chuyện gì nữa vậy?
Người đàn ông ủ rũ buồn bã nói:
- Nhà ông chú tôi là nơi vô cùng coi trọng lễ nghi hình thức người hầu ra mở cửa thấy tôi ăn mặc sơ sài có vẻ nghèo túng nên nói thế nào họ cũng không cho bước qua ngưỡng cửa.
Nói xong người đàn ông lại thở dài một tiếng nghe thật não nuột.
Paul nhìn kỹ lại bộ quần áo ông ta đang mặc quả thật đó chỉ là một bộ quần áo âu phục tầm thường có phần nhàu nhĩ nữa...
Anh tiu nghỉu nói:
- Không biết có cách gì mà cứu vãn được bây giờ?
Người đàn ông lắc lắc đầu:
- Thật khó nói với ngài quá! Chẳng biết ngài còn bộ quần áo nào thuộc loại hàng hiệu thì cho tôi mượn mặc một lúc.
Câu nói ấy bất chợt khiến Paul nhớ ngay ra anh vội chạy vào trong phòng ngủ lấy ra một bộ âu phục còn mới nguyên anh vừa mua ở một cửa hàng danh tiếng để mặc trong ngày cưới sắp tới của mình đưa cho người đàn ông kia mặc thử. Ôi chao! Cực kỳ phong độ.
Paul nghiêng đầu ngây ngất ngắm rồi nói:
- Diện bộ quần áo vào thì lại không thể đi bộ được!
Vừa nói Paul vừa rút ở trong ví ra một trăm bảng đưa cho người đàn ông nói:
- Cần phải tỏ ra phong lưu hào hoa một chút gọi ngay chiếc tắc xi mà đi. Nhanh! Nhanh lên!
Paul vừa nói vừa đưa người đàn ông ra cửa.
Người đàn ông đó cười tủm tỉm nói với Paul:
- Thưa ngài xem ra ngài cũng có vẻ lơ mơ đấy ngài không biết tôi mà lại dám đem bộ quần áo sang trọng thế này ra cho tôi mượn lại còn đưa thêm một trăm bảng nữa. Giả sử như tôi không trở lại thì ngài thảm đấy!
Paul nghe nói vậy cũng thấy có lý.
Người đàn ông nhìn cái vẻ sững sờ ngớ ra của Paul cười cười rồi rút từ trong túi áo sơ mi ra một tấm danh thiếp sực mùi thơm đưa cho Paul nói:
- Đây là tên họ cùng địa chỉ của tôi. Nhưng mà trước mười giờ tối hôm nay tôi sẽ đem đến mười vạn bảng tới nhà ngài.
Người đàn ông ấy đã đi nhưng tối hôm đó Paul không dám ra khỏi phòng khách tay chống lên tai lắng nghe đợi tiếng chuông cửa reo lên. Chẳng ngờ cho đến tận sáng sớm hôm sau tiếng chuông cửa vẫn yên tĩnh như không.
Sang hôm sau Paul đã theo số mã điện thoại in trong danh thiếp cùng tên là Đat gọi đi. Điện thoại đã thông. Paul bực bội nói:
- Này Đat tôi là Paul đây tiền không quan trọng nhưng bộ quần áo thì tôi cần lắm bởi đấy là bộ quần áo tôi sẽ mặc trong ngày cưới.
Từ trong ống điện thoại vang lại những lời lẽ rất nhiệt tình:
- Vâng! Vâng! Tôi biết chứ ạ! Khi nào ngài tới là tôi có để hầu ngài ngay bảo đảm là ngài sẽ vui lòng khi trở về.
Paul vẫn cứ tưởng là người đàn ông kia sẽ ăn quỵt của mình nhưng không ngờ thái độ của ông ta lại nhiệt tình đến thế nên vội nói:
- Được rồi! Tôi sẽ đến đó ngay bây giờ đây!
Paul đặt điện thoại và đi tìm ngay một chiếc va ly nhỏ để có thể đựng đủ được mười vạn bảng. Rồi lại vội vội vàng vàng gọi xe tắc xi bảo người lái xe đưa tới địa chỉ đã in trên danh thiếp.
Paul xuống xe đó là một cửa hiệu bán quần áo anh thấy ngờ ngợ vội đem tấm danh thiếp ra đọc lại thì ra Đat là tên ông giám đốc cửa hiệu phục trang này.
Vừa bước qua khuôn cửa lớn Paul đã gọi to:
- Đat! Đat!
Khi đó liền có một ông già tuổi cũng đã cao chạy tới noi:
- Có phải ngài là ngài Paul không ạ?
Paul nghiêng nghiêng người gật đầu:
- Mời ngay ông giám đốc Đat tới đây gặp tôi ngay.
Ông lão nói:
- Dạ thưa ngài chính tôi là Đat! Người cần một bộ âu phục mặc trong đám cưới phải không? Tôi đã dặn những người thợ chuẩn bị đầy đủ hầu ngài rồi. Xin ngài vào trong phòng kia thử quần áo dút khoát sẽ làm ngài được hài lòng. Bản hiệu chúng tôi bao giờ cũng lấy chữ tín nhiệm và danh dự làm đầu chất lượng là số một!
Paul nghe nói vậy bất chợt tròn xoe mắt có một luồng khí lạnh đang lan dần từ chân lên đến đầu và không làm sao mà cất nổi bước chân được nữa.
                                    
                                                        Lê Bầu
                                              (Dịch theo tạp chí Cố Sư)

More...

CUỘC THI ẢNH

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THÔNG BÁO CUỘC THI VÀ

TRIỂN LÃM ẢNH NGHỆ THUẬT

"THANH HÓA TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP "

 


1. Chủ đề: "Thanh Hóa trên đường hội nhập "
2. Nội dung:
Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa tổ chức cuộc thi và triển lãm ảnh nghệ thuật Thanh Hóa lần thứ 6 với sự bảo trợ của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam.
Để hưởng ứng cuộc thi sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" do Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch tổ chức. Nhằm ca ngợi phản ánh mọi vấn đề của cuộc sống hôm nay đang diễn ra ở tất cả các lĩnh vực chính trị ngoại giao hợp tác đầu tư kinh tế văn hóa y tế giáo dục thể thao môi trường… Thể hiện mọi khía cạnh của đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Từng bước đưa Thanh Hóa thành một tỉnh kiểu mẫu.
3. Thể lệ:
a - Đối tượng dự thi: Các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp trong tỉnh.
b - Quy cách tác phẩm
- ảnh màu hoặc đen trắng.
- Kích thước ảnh: Từ 25 cm x 38 cm đến 30 x 45 cm (mỗi tác phẩm kèm theo 01 ảnh 9 x 12 cm không dán sau ảnh lớn).
- ảnh không được ép Plastic dán lên bìa cứng.
- Cuộc thi chấp nhận mọi kỹ thuật thể hiện với điều kiện không làm sai lệch hiện thực.
- Số lượng ảnh dự thi: Không hạn chế.
- Yêu cầu ghi rõ: Tên tác giả tác phẩm địa chỉ nơi ở điện thoại (nếu có). địa điểm chụp và thời gian chụp vào sau ảnh lớn.
c - Quy định khác.
- Những tác phẩm đã đoạt giải thưởng được treo triển lãm ở các cuộc thi cấp toàn quốc khu vực và các cuộc thi khác trong tỉnh thì không tham dự cuộc thi này.
- Nếu có nhiều tác phẩm của cùng một tác giả được trúng giải thì tác giả chỉ được nhận một giải cao nhất.
- Ban Tổ chức sẽ thu hồi giải thưởng và hủy kết quả đối với những tác phẩm vi phạm thể lệ cuộc thi.
4. Quyền lợi và trách nhiệm của tác giả.
- Tác giả gửi tác phẩm dự thi coi như chấp nhận thể lệ của cuộc thi.
- Tác giả tự chịu trách nhiệm về những tranh chấp khiếu kiện liên quan đến tác phẩm của mình.
- Tác phẩm đoạt từ giải ba trở lên được tính điểm vào Hội NSNA Việt Nam
- Tác phẩm chọn treo triển lãm được tính tiêu chuẩn kết nạp vào Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa và được tiền nhuận treo là 100.000đ/tác phẩm.
- Những ảnh không được chọn treo triển lãm Ban Tổ chức sẽ trả lại tác giả tại Văn phòng Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa. Số 25 Cửa Tả - P. Ba Đình - T.P Thanh Hóa (từ 05-8-2008). Sau một tháng tác giả không đến nhận lại ảnh Ban Tổ chức không chịu trách nhiệm bảo quản.
- Ban Tổ chức không chịu trách nhiệm về những hư hỏng mất mát chậm trễ trong quá trình gửi tác phẩm dự thi với bất kỳ lý do gì.
5. Giải thưởng:
- 01 giải nhất: Gồm bằng chứng nhận + 3.000.000 đồng
- 02 giải nhì: Gồm bằng chứng nhận + 2.000.000 đồng/giải
- 03 giải ba: Gồm bằng chứng nhận + 1.000.000 đồng/giải
- 06 giải khuyến khích: 500.000 đồng/giải
- Các ảnh đoạt giải khuyến khích và được treo trong triển lãm được cấp giấy chứng nhận của Hội VHNT Thanh Hóa.
6. Thời gian và địa điểm nhận ảnh:
- Ban Tổ chức nhận ảnh gửi dự thi trong 2 ngày 27 và 30 tháng 6 năm 2008
- Nơi nhận ảnh: Văn phòng Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa.
Số 25 Cửa Tả - P. Ba Đình - T.P Thanh Hóa.
- Nếu cần biết thêm chi tiết xin liên hệ số máy: 0373.852.338 hoặc số:  0983.675.127
7. Hội đồng giám khảo:
- Do Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam đề cử.
8. Ban Tổ chức cuộc thi:
- Nhạc sĩ Đồng Tâm Chủ tịch Hội VHNT - Trưởng ban
- Nhà thơ Mạnh Lê Phó Chủ tịch Hội VHNT - Phó trưởng ban
- Ông Nguyễn Văn Túy Chánh Văn phòng Hội VHNT - thành viên
- Ông Trần Đàm Chi hội trưởng Chi hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam tại Thanh Hóa - thành viên
- Ông Trần Liên Chương Trưởng ban Nhiếp ảnh nghệ thuật - thành viên
- Ông Lưu Trọng Thắng Phó trưởng ban Nhiếp ảnh nghệ thuật - thành viên
- Ông Nguyễn Thống Phó trưởng ban Nhiếp ảnh nghệ thuật - thành viên
- Bà Lê Thị Chúc Phó Văn phòng Hội VHNT - thành viên
      Ban Tổ chức mong nhận được sự hưởng ứng tham gia của các nhà nhiếp ảnh trong tỉnh.


                 BAN TỔ CHỨC CUỘC THI VÀ TRIỂN LÃM ẢNH NGHỆ THUẬT
                                   "THANH HÓA TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP "


More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh



    TIN HOẠT ĐỘNG VĂN NGHỆ
 
 

       Hưởng ứng cuộc thi sáng tác và quảng bá các tác phẩm Văn học Nghệ thuật và báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch phát động trong tháng 3 và những ngày đầu tháng 4 năm 2008 Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa đã tiến hành các hoạt động:
- Tổ chức đoàn Văn nghệ sỹ đi thực tế và sáng tác tại đảo Hòn Mê và khu kinh tế Nghi Sơn thuộc huyện Tĩnh Gia.
- Tổ chức cho văn nghệ sỹ đi thâm nhập và sáng tác về đề tài miền núi và dân tộc tại các huyện miền núi trong đó có vùng biên giới xa xôi hẻo lánh của tỉnh.
Đồng thời Hội cũng tổ chức và phát động các cuộc thi sáng tác:
1. Cuộc thi thơ trên tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh.
2. Cuộc thi ảnh nghệ thuật với chủ đề “Thanh Hóa trên đường hội nhập”.
3. Cuộc thi sáng tác các tác phẩm âm nhạc với chủ đề “Quê Thanh với bè bạn”.
Từ vốn cảm nhận và thu thập được từ những cuộc thực tế trên các vùng miền đặc biệt là biên giới hải đảo của các văn nghệ sỹ xứ Thanh sẽ là những chất liệu để các văn nghệ sỹ có những tác phẩm tâm huyết để tham gia các cuộc thi của Hội và đó cũng là sự hưởng ứng của văn nghệ sỹ Thanh Hóa   cùng cuộc vận động lớn của cả nước.
Hội nghị Ban Chấp hành Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa lần thứ 3
Ngày 8 tháng 4 năm 2008 tại Văn phòng Hội Ban Chấp hành Hội (khóa VII) đã họp kỳ thứ ba để đánh giá các hoạt động của Hội trong quý I/2008 và triển khai kế hoạch hoạt động quý II/2008.
Về hoạt động quý I: Ban Chấp hành đánh giá là sôi nổi và đều giữa các Ban chuyên ngành nhất là trong các hoạt động hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Cuộc họp này đã thông qua hai quy chế quan trọng là: “Quy chế xét giải thưởng Văn học nghệ thuật Lê Thánh Tông” (giải thưởng hàng năm của Hội) và “Quy chế kết nạp hội viên”; với nội dung vừa tuân thủ Điều lệ Hội Văn nghệ Thanh Hóa vừa thích ứng với tình hình thực tế của Hội trong thời kỳ mới.
Cũng trong phiên họp này Ban Chấp hành Hội đã xét chung khảo giải thưởng VHNT Lê Thánh Tông năm 2006 của Hội và xét vòng III giải thưởng VNHT Thanh Hóa 5 năm 2000-2005 trước khi trình lên hội đồng xét giải của Tỉnh.
Với tinh thần đổi mới thực sự nâng cao chất lượng của giải thưởng chống bình quân dàn đều Ban Chấp hành đã làm việc nghiêm túc thẳng thắn dân chủ và kết luận bằng phương pháp biểu quyết trên từng loại giải của từng Ban chuyên nghành. Ban Chấp hành đã thông qua được hai giải thưởng này một cách thực sự có chất lượng.
                                                                                                                                                                                Hoàng Trọng Cường

More...