DU LỊCH HÈ SẦM SƠN 2008

By Văn Nghệ Xứ Thanh




TỪ NGUYÊN TĨNH


Sầm Sơn vươn tầm cùng bè bạn
 


 
 


        Sầm Sơn 100 năm (?) hay Sầm Sơn là kho báu dưới biển Đông. Từ bao giờ khi câu chuyện bà Triều giao chiến với thần Độc Cước? - Sầm Sơn cùng với Thần Phù nơi Từ Thức lên tiên hay Long Hạm (Hàm Rồng) cùng với núi Đọ và văn hóa Đông Sơn... mà trời đất ban tặng cho người xứ Thanh. Chính cái tên Sầm Sơn đã là thương hiệu. Nhưng nói đến thương hiệu là phải thừa nhận không để ai làm "nhái" và thay thế nổi. Là so với "Cửa bể chiều hôm" đi dọc bờ biển hàng ngàn cây số ta bắt gặp sự hơn kém đẹp xấu lành dữ nhưng khó ai bì nổi... Cứ nghĩ lẩn thẩn như vậy về Sầm Sơn và nghe bạn bè khen chê mới hiểu ra: Sầm Sơn người xưa đã biết là một kho vàng!
Một tháng ở Sầm Sơn - không phải là cư dân Sầm Sơn sống đời tôi mới tìm cho mình sự lang thang và ngẫm ngợi. Buổi sáng và chiều và đêm ra biển Sầm Sơn thưởng ngoạn. Chưa là mùa vụ tắm biển du lịch. Sầm Sơn có lúc xầm xì vần vũ của mây một ít gió xuân còn sót lại một ít rét Nàng Bân muốn níu kéo bầu trời và biển lại cho thêm sâu nặng và mai kia buông xuống cái nắng đầu hạ.
Tôi đã đi một vài bãi biển: Hạ Long Nha Trang Vũng Tầu Đất Mũi và Hà Tiên... Được hưởng cái nắng gắt gao khô khát. Được đầm mình dưới cái mặn của biển Sa Huỳnh. Được bâng khuâng bởi nước trời Đất Mũi và khó xác định được sự giao nhau của Phú Quốc biển và trời... Lấy gì để cảm nhận ra vị mặn của Sầm Sơn và Hạ Long? Nhưng nếu làm được thế và nhận ra có lẽ phải bỏ cả một đời. Một đời chắc chi đã cắt nghĩa cho rạch ròi?
Vậy mà Sầm Sơn cho tôi một ấn tượng. Cái đất ấy cách nay mấy chục năm người mẹ của nhà thơ Văn Đắc gánh con rời làng Triều tản cư lên Vĩnh Lộc để hôm nay anh được ngủ ở Sầm Sơn non tháng mà chưa hiểu gì về biển cả. Chị Khanh vợ Văn Đắc một cô giáo rời quê Thái Bình làm dâu xứ Thanh sáng đi tắm biển Sầm Sơn rồi mới lo nội trợ nuôi nhà thơ. Làm bao bài thơ về Sầm Sơn về biển mà anh mới nhận ra "muốn tiến người ta phải đi lùi" (Lời cây buồm). Nhà văn Đào Thắng một thời là lính cao xạ bảo vệ tuyến lửa khu Tư được đi trại sáng tác (Bộ Công an và Hội Nhà văn) tranh thủ đi bộ tắm bơi. Một đời rong duổi đó đây anh nói với tôi: Sầm Sơn trời cho xứ Thanh một bãi biển hiền hòa. Nhà văn Chu Lai một người lính đặc công của Rừng Sác - Cửa ngõ Sài Gòn sáng nào cũng gõ cửa phòng tôi gọi đi biển. Anh bảo anh từng tha thẩn đi dạo biển (chắc là ở nước mình và có cả nước ngoài). Nhưng Sầm Sơn cám dỗ anh bởi con sóng hiền lành. Nước không sâu để người ta sợ hãi không bị sứa và các loại rong biển cắn vào chân. Tôi hỏi anh biển Đồ Sơn thì sao. Anh nói để ngắm và chơi còn tắm thì... không thú vị lắm!
Hơn trăm cây số bờ biển chả lẽ mỗi xã mở cửa ra biển kêu gọi đầu tư du lịch. Không đâu. Nhà văn Phạm Ngọc Chiểu quê Nam Định cũng trong nhóm sáng ra bờ biển đi bộ tắm và nhìn mặt trời anh tâm sự: Hải Hậu Nghĩa Hưng của Nam Định quê anh cũng có cửa sông Ninh Cơ cũng có biển nhưng núi non cảnh vật thì không đâu như Sầm Sơn.
Có thể vì biết tôi là "thổ dân" mà mấy anh chiếu cố chăng. Không phải thế họ nói với tôi Sầm Sơn phải nhìn ra thế giới. Không mong gì được tôn sùng trong cụm bãi biển đẹp nhất thế giới như Nha Trang được bầu chọn trong bẩy kỳ quan thế giới như Hạ Long... Mà có được một thương hiệu Sầm Sơn là tự trời cho đấy!
Tôi theo các nhà văn dự trại sáng tác tranh thủ lúc nghỉ lang thang lều quán dọc bờ biển. Người mình làm du lịch hay thật. Mới hôm qua còn đi biển còn kéo ràng cào ngao... Đêm về kỳ rửa tay chưa mà làm du lịch. Nước mắm và mắm tôm tuy ngon nhưng dính một tý thôi vào quần áo là ngào ngạt vị nồng. Bữa họp báo còn nhiều ý kiến lắm. Rằng còn nhiều chèo kéo giá cả đòi lấy được... Cái nghèo nó kéo người ta tuột khỏi sự văn minh. Chắc là vậy... Xe lai xe ôm xe xích lô... Có nhà báo mách với tôi coi chừng cái ghế của ông "xế lô" nó dốc quá đấy mà rơi cả điện thoại di động ở túi quần... Dẫu vậy các nhà văn vẫn tranh thủ đi xích lô để ngắm Trường Lệ Độc Cước và Sầm Sơn. Đừng tự ái mở cửa không phải từ ngoài biển mà mở lòng ra mở đường ra cùng biển.
Đất Sầm Sơn không đắt như một số bãi biển khác. Có người nói do cái chuyện làm ăn khó nên chưa ai chịu nhảy vào. Thế mà còn bao chuyện đất đai kiện cáo. Không nổi tiếng như Đồ Sơn nhưng vẫn lì xì kéo dài. Chuyện. Ngày trước thời chiến tranh tôi đi tìm anh bạn yêu mến văn học ở trung đoàn 134 đã trèo lên Đài quan sát trên đỉnh núi Trường Lệ. Bom đạn có kể chi cho hết. Pháo từ ngoài biển bom từ trên trời người ta bỏ biển để lên rừng vào núi mà trốn. Dọc từ Độc Cước lên Trống Mái và cả núi Trường Lệ hoang lắm thậm chí còn xình lầy. Mấy cây phi ao èo ọt. Vậy mà bây giờ đất là vàng. Người ta muốn có biệt thự ngủ một đêm là sáng mai cầm một nắm tiền. Không học hành du lịch làm chi có tiền...
Nền văn minh phải hàng... lâu lắm mới có. Nhưng Sầm Sơn lại có từ lâu rồi từ trước cả người Pháp đến kia...
Tôi và nhà thơ Văn Đắc có dịp qua trò chuyện cùng Bí thư Thị ủy Sầm Sơn Lê Văn Nam. Ông sướng ở rừng nay lại xuống biển mà nghỉ dưỡng. Ông Bí thư trả lời. Sầm Sơn chưa vươn được tầm không chỉ là nơi tắm biển và nghỉ dưỡng mà là nơi du lịch. Ông Lê Văn Nam tâm sự thêm. Làm du lịch khó lắm. Đâu chỉ riêng Sầm Sơn mà cả một hệ thống. Vừa mở ra tuyến xe bus đi Thiệu Hóa Triệu Sơn Bỉm Sơn đã tạo sự thuận tiện cho người đi học và du lịch. Nhưng từ Sầm Sơn đi Thành nhà Hồ Lam Kinh và khu sinh thái... Phải tạo sự đồng bộ cho khách để khách hưởng thụ...
Hôm họp báo "Sầm Sơn vào mùa du lịch" nhiều ý kiến hỏi Chủ tịch Vũ Đình Quế sản phẩm của Sầm Sơn là gì? Tôi lại cứ nghĩ lẩn thẩn có lẽ chưa có hàng thủ công nghiệp độc đáo cho người tham gia du lịch. Chỉ có biển là sản phẩm thôi sao?... Một ý kiến của ai đó hỏi sao lại để cho bao khu nhà đồ sộ đất rộng mênh mông kia mà không thu lấy chuyển từ nhà khách sang khách sạn? Các Bộ các Ngành mỗi người một khoảnh một thửa đất sự manh mún xé vụn cái đẹp ra mất rồi. Lại chê sự qui hoạch. Lại so với Cửa Lò Hạ Long Nha Trang... Tôi không thú vị gì ở con số. Biết con số thu 372 tỷ cho Sầm Sơn năm 2008 này là lớn. Nhưng còn bao nhiêu cơ sở nhà khách trốn thuế? Còn bao nhiêu tình trạng ngồi đặt đít lên ghế là thu tiền... Và đắt rẻ và chèo kéo chụp giật làm cho thương hiệu Sầm Sơn mất đi cái uy danh là bãi biển đẹp của mình.
Không biết có phải ông bạn nhà văn Nam Ninh nhiều năm sống ở Hạ Long nói không? ý thức của "công nghiệp hóa" phải vào trong máu thì mới làm nên chuyện. Có cho dân cả thị xã này sang Sinh hay sang Hàn mà học nghề du lịch. Hiểu đấy nhưng tạo ra phong tục thì phải là "Văn hóa du lịch" kia!
Đường xá hè phố đã chỉnh trang sạch đẹp hơn nhiều. Cái sai thì có thể "chuyên chính" chứ văn hóa du lịch thì phải học thôi. Sự giác ngộ của người dân. Đừng bi quan và nóng vội cậu ạ!
Tôi không chỉ nghe mình nhà văn Nam Ninh nói. Ba mốt trại viên đang là bình luận viên về Sầm Sơn của ta đấy! Cái sáng kiến mở trại sáng tác của Nhà xuất bản Công an quả là tuyệt.
Đêm nay tôi cùng nhà thơ Văn Đắc đi dạo trên biển. Nhớ lời dặn của ông Tổng Biên tập Báo: Đi lang thang viết cái gì đó Sầm Sơn vào hè. Định phỏng vấn ông Chủ tịch thị xã Sầm Sơn ông Quế lại nói: Các anh ở đây tìm hiểu viết gì về Sầm Sơn là tùy lòng thôi.
Tôi và Văn Đắc ngần ngừ chưa chịu ngồi vào ghế. Chị chủ quán mời:
- Các chú cứ ngồi nói chuyện cho vui... Tôi không lấy tiền ghế đâu.
Tôi định nói với nhà thơ quê Sầm Sơn lẽ ra không có điều giao hẹn đó nhưng mà dân mình quen với nghề đi biển chuyển mùa vụ sang du lịch làm sao mà tránh khỏi chất biển cơ chứ!
Tôi định hỏi nhà thơ Sầm Sơn phải có tầm quốc tế là nghĩa thế nào. Có phải nhảy dù từ núi Trường Lệ lướt ván từ Độc Cước hay có tuyến bộ và đường thủy từ Sầm Sơn đi Hàm Rồng ngược lên Cẩm Thủy vào Nghi Sơn và ra Đảo Mê? Đi Bến En và về Quảng Cư?
Nhưng lại ngại nói thì dễ nhưng du lịch là của "một phong tục tốt đẹp" mà mọi người gieo mầm và gặt hái. Là một thói quen văn minh mà không bị cái nghèo tham lợi chụp giật... Cái đêm giao lưu "lửa trại" sáng tác của Bộ Công an - Hội Nhà văn với khách sạn Hương Thanh cùng các em sinh viên trường Hồng Đức nhà văn Chu Lai - một người dẫn chương trình mùi mẫn mang đầy chất lính nói với thính giả: Sầm Sơn đang trên đường hội nhập mở ra với cả nước và quốc tế... Cái nên mất là... Cái tiêu cực chưa đẹp... Còn biển thì không ngớt sóng bao giờ. Người đẹp thì càng đẹp và còn nhiều người đẹp cho Sầm Sơn thêm rực rỡ đầy hương sắc!
Có một cây số biển là có thể cắm ô - du lịch du kích... Nhưng để có một Sầm Sơn hàng thế kỷ và cùng với những câu chuyện ly kỳ... Những cảnh đẹp đi vào văn thơ như là kho báu... Bạn có thể hỏi cái sản phẩm đó nhất định chỉ mình Sầm Sơn mới có. Thì hơn bao giờ một kỳ quan dù "mỹ lệ" đến mấy...  vẫn còn những kỳ quan khác... Như bài viết đang bị lọt thỏm trong mùa hè này thì Sầm Sơn vẫn còn đó!

                                                              Hè 2008
                                                                 T.N.T






LÂM BẰNG


Kỳ vọng một Sầm Sơn
 


Bút ký
 
 
 


        Mới đó mà đã tròn một năm Sầm Sơn của chúng ta tổ chức thành công lễ hội một trăm năm du lịch. Lễ hội kỷ niệm một thế kỷ du lịch Sầm Sơn năm 2007 ấy thật kỳ công mà cũng thật sôi động lễ hội vinh dự được Chủ tịch Nước đến dự. Tôi còn nhớ đêm khai mạc đường phố Sầm Sơn kẹt đường kẹt xe. Các ngả đường vào Sầm Sơn đều đông cứng người và xe một đêm Sầm Sơn không ngủ.
Sầm Sơn có tên trên bản đồ đất nước với tư cách là một bãi tắm thì đã có thâm niên cả trăm năm. Nhưng Sầm Sơn thật sự được chú ý khai thác với ý nghĩa đầy đủ như bây giờ thì mới ngót hai chục năm. Hai chục năm so với bề dày lịch sử của một vùng đất thì quá ngắn nhưng so với một sự nghiệp một cơ đồ thì đã là một khoảng thời gian đáng kể. Cái "anh" Thâm Quyến của Trung Hoa cũng chỉ có trong hai mươi năm mà đã từ vùng đầm lầy trở thành thành phố sầm uất nhất nhì của châu á ta đấy thôi.
Lúc bấy giờ - Tôi đang trở lại với Sầm Sơn của ta - năm 1989 lần đầu tiên Sầm Sơn khẳng định tiêu ngữ “Sầm Sơn - Sức khỏe - Bạn bè”. Và cũng lần đầu tiên Sầm Sơn tổ chức lễ khai mạc du lịch hè một cách quy mô có hội chợ có biểu diễn văn nghệ thi đấu thể thao và có quảng bá trên thông tin đại chúng có pa nô áp phích biểu ngữ băng rôn loa đài… ở phố Trần Phú của thành phố Thanh Hóa ngay lối rẽ đường đi Sầm Sơn (Cạnh Nhà xuất bản Thanh Hóa bây giờ) ngành du lịch đã cho làm một bảng chỉ dẫn to đùng với dòng tiêu ngữ “Sầm Sơn - Sức khỏe - Bạn bè”. Cái bảng biểu ấy còn ngự trị ở đó tới gần chục năm sau mới được dỡ đi.
Thoắt cái đã ngót hai chục năm. Công bằng mà nói gần hai chục năm ấy là khoảng thời gian nằm gọn trong tiến trình đổi mới của đất nước cho nên Sầm Sơn cũng đã có nhiều biến đổi đáng kể. Từ một vùng đất chỉ có vài mươi nhà nghỉ dưỡng chủ yếu giành cho cán bộ nghỉ theo phiếu; cơ sở vật chất hạ tầng cho du lịch không có gì đáng kể thì đến hè 2006 Sầm Sơn đã có 309 cơ sở đón tiếp khách với 6.207 phòng trên 15.000 giường nghỉ trong đó 15 cơ sở được công nhận là khách sạn 1 sao 2 sao. Nhưng cũng phải mạnh dạn nhận ra rằng với từng ấy năm Sầm Sơn của chúng ta lẹt đẹt quá ì ạch quá. Và cứ qua mỗi mùa du lịch Sầm Sơn lại để lại không ít những dư âm nghịch nhĩ. Sở dĩ tôi nói lẹt đẹt và ì ạch là vì tôi không muốn quá coi trọng cái số lượng nhiều hay ít người nhiều hay ít nhà nghỉ phòng nghỉ một sao hay nhiều sao của một vùng đất du lịch. Mà tôi muốn nói tới một yếu tố hết sức quan trọng khác là chất lượng của du lịch của các dịch vụ cái sẽ quyết định tới cái số lượng trong tương lai nếu anh chú trọng phấn đấu.
Thực tế cho thấy Sầm Sơn của chúng ta đã trả giá quá nhiều cho vấn đề này. Nào là chuyện giá cả chặt chém bắt chẹt chuyện bán hàng rong chuyện vệ sinh môi trường an ninh trật tự an toàn tắm biển mỹ quan đô thị rồi cao hơn nữa là vấn đề văn hóa du lịch văn hóa kinh doanh vân vân và vân vân. Không có lĩnh vực nào vấn đề nào ở Sầm Sơn mà không có những nhược điểm không để lại những ì xèo dư âm không để lại những ấn tượng không đẹp cho du khách. Điều đó đã làm đau đầu những nhà quản lý ngành du lịch ngành văn hóa tỉnh Thanh đau đầu những người đứng mũi chịu sào ở thị xã biển. Nếu không kịp thời nhìn nhận không kiên quyết cải tổ kiên quyết tuyên chiến với các lực cản sức ỳ thì nguy cơ tụt hậu là có thật và hình ảnh Sầm Sơn không chóng thì chầy sẽ lu mờ trong tâm thức du khách gần xa.
Cũng may điều đó đã không xảy ra. Cũng may các nhà quản lý đã kịp thời nhìn nhận và đã xắn tay áo...
Phải nói thật rằng nhiều năm qua du lịch Sầm Sơn chỉ mang tính mùa vụ khả năng thu hút khách quốc tế đến nghỉ dưỡng và nghỉ hè còn kém sản phẩm du lịch chưa phong phú cơ sở hạ tầng chưa thật đồng bộ. ý thức chấp hành luật pháp và các quy định khác của địa phương của một số cơ sở lưu trú và những người kinh doanh chưa nghiêm túc. Hiện tượng kinh doanh chụp giật kém văn hóa gây cảm giác khó chịu vẫn còn nhiều chưa đạt được tính chuyên nghiệp trong kinh doanh dịch vụ du lịch.v.v... Có thể nói đây là cái nhìn thẳng thắn và nghiêm khắc. Cũng từ cái nhìn thẳng thắn này mà sự chuyển biến đã hiện ra rõ rệt. Đó là thị xã đã tăng cường chỉnh trang các khuôn viên và hệ thống ki ốt trên bãi biển nâng cấp hạ tầng cơ sở như đường giao thông hệ thống chiếu sáng hệ thống cấp thoát nước thiết bị thông tin kỹ thuật; sắp xếp hợp lý các loại hình kinh doanh trên địa bàn nâng cao trách nhiệm của mọi tổ chức kinh doanh dịch vụ tăng cường vai trò quản lý nhà nước về du lịch dịch vụ của các cấp chính quyền theo hướng chuyên nghiệp hóa; tổ chức tập huấn bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ du lịch nâng cao khả năng giao tiếp ứng xử và kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên.v.v...
Trao đổi với anh Nguyễn Anh Xuân Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin - Thể thao thị xã tôi cũng được biết bằng cái nhìn và tư duy mới bắt đầu từ năm 2007 Sầm Sơn đã tiến hành đổi mới mô hình quản lý dịch vụ du lịch. Tăng cường các hoạt động quảng bá giới thiệu du lịch. Tổ chức nhiều hoạt động văn hóa thể thao sinh động gắn kết giữa truyền thống và hiện đại gắn kết chặt chẽ giữa phát triển du lịch và văn hóa góp phần ổn định và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Đề án "Đổi mới tổ chức và quản lý dịch vụ du lịch Sầm Sơn giai đoạn 2007-2010" có tính khả thi cao. Sở dĩ tôi khẳng định như vậy vì tôi biết được sự chỉ đạo của tỉnh Sầm Sơn đã xác định du lịch và dịch vụ du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn chiến lược (Thời bao cấp hoạt động nghề cá và tiểu thủ công nghiệp là hai ngành kinh tế mũi nhọn. Dịch vụ du lịch chỉ chiếm tỷ trọng hết sức khiêm tốn). Đồng thời Sầm Sơn cũng nêu quyết tâm kiên quyết khắc phục những yếu kém tồn tại tranh thủ thời cơ để tăng tốc xây dựng phát triển Sầm Sơn thành đô thị du lịch "Kỷ cương - Văn minh - Thân thiện".
Nếu sau lễ hội 100 năm du lịch Sầm Sơn 2007 ai đó còn hoài nghi về tác động của lễ hội hay nói đúng hơn là chuyển động của Sầm Sơn sức hút của Sầm Sơn. Thì những gì đã diễn ra ở mùa du lịch 2007 tôi tin là đã tăng được rất nhiều sức thuyết phục thậm chí với cả những người khó tính nhất. Xin được lướt qua vài số liệu: Tính đến hết hè 2007 toàn thị xã có 314 cơ sở lưu trú du lịch với 6.616 phòng nghỉ 15.130 giường khách. Đón nhận 1.296.500 lượt khách tăng 40% so với năm 2006. Thu ngân sách tăng 18% so với cùng kỳ năm 2006. Và vì vậy mà có thể nói rằng năm 2007 là năm Sầm Sơn có nhiều bứt phá thành công nhất từ trước tới nay.
Hôm đến dự cuộc họp báo do Thị ủy và ủy ban thị xã tổ chức nhằm triển khai các nội dung tuyên truyền về hè 2008 tranh thủ ít phút trước cuộc họp tôi xin gặp anh Vũ Đình Quế Chủ tịch thị xã anh cho biết: Năm 2008 này Sầm Sơn đang phấn đấu để đón được một triệu bốn trăm nghìn lượt khách; phục vụ hai triệu năm trăm ngày/khách tăng mười ba phần trăm so với năm 2007. Doanh thu du lịch đạt 372 tỷ đồng tăng hai mươi phần trăm so với năm 2007.
Anh Quế cũng cho biết để đạt được mục tiêu đó ngay từ đầu năm Cấp ủy và chính quyền thị xã đã thành lập Ban Chỉ đạo hoạt động du lịch dịch vụ 2008 và thành lập Ban Tổ chức lễ hội du lịch Sầm Sơn năm 2008 với đầy đủ các thành phần ban ngành của thị xã nhằm tăng cường hơn nữa vai trò quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động du lịch từ đó thúc đẩy phát triển dịch vụ theo hướng kỷ cương văn minh và thân thiện. Đồng thời tăng cường quảng bá giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng gây lực hút hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
Vừa rồi trong các ngày từ 29 tháng Tư đến mùng 5 tháng Năm Sầm Sơn tổ chức thành công Lễ hội du lịch 2008 với các chương trình đặc sắc như biểu diễn nghệ thuật trống hội ca múa nhạc đốt pháo bông thả đèn trời hội chợ thương mại - du lịch rồi hội thi bánh dày truyền thống và các giải thể thao... đã thu hút được du khách gần xa đến với Sầm Sơn trong những ngày đầu mùa nắng. Đó là những động thái cần thiết đẩy thêm một bước nữa của du lịch Sầm Sơn trên con đường hội nhập mà những gì thu hái được từ mùa du lịch 2007 đã gây men.
Cùng với cả nước Sầm Sơn đang hướng tới những thập kỷ 2020 2030... Những thập kỷ mà nhân loại trong đó có chúng ta sẽ chuyển động như vũ bão với sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ hiện đại tiên tiến. Những chuyển động và phát triển không cho phép một ai đứng lại hoặc chậm chạp. Nếu chậm chạp coi như tụt hậu. Những kết quả đạt được của mùa du lịch 2007 (Xin được nhắc lại tôi không coi trọng lắm về những con số khô khan. Tôi đặc biệt nhấn mạnh về những gì phía sau những con số và những âm vang giữa những con số) sẽ là những tín hiệu đáng mừng cho phép chúng ta kỳ vọng nhiều vào một Sầm Sơn "Kỷ cương - Văn minh - Thân thiện".
Tháng Năm biển Sầm Sơn sóng chồm trắng xóa từng cánh hải âu dập dờn rập dờn trên biển biếc. Chiều xuống bãi biển như hẹp lại sóng chồm càng cao hơn gió ào ạt hơn và biển người cũng đông hơn. Một mùa nắng nữa đã về một mùa du lịch nữa đã về và một Sầm Sơn "Kỷ cương - Văn minh - Thân thiện" cũng đang về...

                                                Sầm Sơn tháng 5 2008
                                                              L.B
 
 
 
 
      PHAN QUẾ
(Báo Công an nhân dân)
 
 
 
 
 
Về lại xứ Thanh

 
 
 
“ Khu bốn đẩy ra...”
Anh cứ muốn quay vào
Thanh Hóa quê em mùa nắng hạ
Đất phồn thực ngỡ như vừa khai phá
Ngã Ba Môi thương mẹ lưng còng
Ngày ấy gió lào thổi rạc miền Trung
Câu hò biển xót lòng kẻ khát
Hòn Trống Mái lặng thầm trinh bạch
Độc Cước xẻ thân độ thế cứu người...!

Bao nhiêu trăng cho hao khuyết đêm gầy
Thanh Hóa đẹp lên ngày anh trở lại
Câu thơ cũ vẫn còn neo bờ bãi
Rau má núi Nhồi xanh lối về làng
Hào trưởng họ Lê đế nghiệp Lam Sơn
Sông Mã chảy dòng thơ Quang Dũng
Hoa sim tím phận ai thì mỏng
Người trai khói lửa chưa về lòng chị nghĩa trang
Thanh Hóa Nghi Sơn cát trắng ra ràng
Thanh Hóa Cầu Rồng ở bên Cầu Bố
Đất làm lại hồng nhan níu người đến ở
Câu vè xưa Cửa đạt đã lên đèn!

Anh lên chùa xin em một cành sen
Bữa cơm biển ấm no lòng niển
Người con gái cho anh vị mặn
Muối phù sa thấm đẫm mắt nhau nhìn...

            Sầm Sơn 26-3-2008

                      P.Q




PHẠM THUẬN THÀNH
        (Bắc Ninh)


Trước biển Sầm Sơn


Bức tường nước nức nở rùng mình
Lớp lớp vữa rơi dường như sắp vỡ
Này biển ơi nếu như có thể
Hãy nói với ta thổ lộ cùng ta

Bỗng biển lam thổn thức khóc òa
To lớn thế mà mau nước mắt
Đứng trước biển ta là hạt cát
Cơn cớ chi biển lại bé hơn ta

Hay biển có nỗi niềm riêng khó nói ra
Thì biển hỡi cứ tung sóng vỗ
Cùng cát này ngạo nghễ với hoàng hôn
Rồi ngày mai bình minh đánh thức
Ta mệt nhoài để mặc sóng cuốn đi luôn

                             Sầm Sơn 4 - 2005
                                      P.T.T




HÀ HỒNG KỲ


Về với Sầm Sơn
 


Em! Về đây đi em
Về ta đi lễ hội Sầm Sơn
Nghe biển hát thả hồn theo sóng
Cát biển xanh soi mình lóng lánh
Vỗ chập chờn trắng cánh hải âu
Để cùng nhau
Bơi trên biển lặn trốn sóng bạc đầu
Bồng bềnh bên nhau
Nghe biển thì thầm
Nhẹ vơi cuộc sống gian truân

Cùng nhau đi lễ hội bánh chưng
Được đắm say trong màu huyền thoại
Đền Độc Cước ta đưa nhau tới
Luôn hương thơm ngạt ngào ngạt em ơi
Nghiêng mình cầu phúc trước biển khơi
Ngắm núi Trường Lệ xanh vời vợi
Thông xõa tóc bay
Cùng biển gió trời
Em xem đá tạo hồn trống mái
Dù bao giông bão sóng bạc đầu
Đã ngàn đời mãi mãi bên nhau
Luôn vững chắc trước sau chung thủy
Ngắm nhìn đá anh nói dòng suy nghĩ
Đá vẫn tình đến thế phải không em




Ta lên đền Cô Tiên
Ngắm bãi biển một thời tiên tắm
Sóng vẫn hôn vào bờ cát trắng
Gối lên nhau lớp lớp chào mời
Về đây em ơi!
Em về với Sầm Sơn biển hát
Để lòng ta rung thành nốt nhạc.

            Thanh Hóa 4-2007
                    H.H.K



HÀ HỒNG KỲ

Hòn Trống Mái


 
 
Bằng đá mà không lạ
Bằng đá mà có hồn
Giữa thiên nhiên biển cả
Đắt rẻ không hề buồn

Trần trụi không cô đơn
Lời thật hay lời giả
Phù phiếm không sa ngã
Vẫn chân thật như đá

Bằng đá mà có hồn
Đó là hòn Trống Mái
Giữa muôn người Sầm Sơn
Đá luôn là dấu hỏi.

         Thanh Hóa tháng 4-2007
               
                        H.H.K


More...

THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ MẠNH LÊ

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Tin buồn

 


Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh Hội Nhà văn Việt Nam Hội Nhà  báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin:
Nhà thơ Mạnh Lê (tức Lê Văn Mạnh)
Sinh ngày 4 tháng 4 năm 1952
Quê quán: thôn Trà Đông xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam thạc sỹ ngữ văn Phó Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa Phó Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh.
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam
Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam
ủy viên Đảng đoàn Văn nghệ
ủy viên Ban Chấp hành Hội VHNT Thanh Hóa các khóa V VI VII.
ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa.
Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam
Huy chương Vì sự nghiệp Báo chí Việt Nam
Giải thưởng cuộc thi Thơ của tuần báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam (Bài thơ Dô tả dô tà 1995).
Giải B - Giải thưởng của ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (tập thơ Một cuộc đời sông 1998).
Giải A- giải thưởng VHNT Thanh Hóa 5 năm (1995 - 2000)
Nhiều lần được tặng giải thưởng VHNT Lê Thánh Tông của Hội VHNT Thanh Hóa; Giải thưởng báo chí Trần Mai Ninh của Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa và nhiều giải thưởng khác ở trung ương và địa phương.
Nhà thơ Mạnh Lê bị một cơn đau tim nặng mặc dù đã được các thầy thuốc và gia đình tận tình cứu chữa nhưng do bệnh hiểm nghèo đã từ trần hồi 1 giờ 30 phút ngày 15 tháng 4 năm 2008 (tức ngày 10 tháng 3 âm lịch) thọ 57 tuổi.
Lễ tang nhà thơ Mạnh Lê đã được tổ chức ngày 16 tháng 4 năm 2008 tại nhà riêng số 05 ngõ 358 đường Trần Phú phường Ba Đình thành phố Thanh Hóa.




Danh sách ban lễ tang nhà thơ Mạnh Lê



1. Nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm Bí thư Đảng đoàn Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa - Trưởng ban.
2. NSUT Nguyễn Ngọc Quyền ủy viên Ban Thường vụ Hội VHNT Thanh Hóa - ủy viên.
3. Nhà văn Hoàng Trọng Cường ủy viên Ban Thường vụ Hội VHNT Thanh Hóa - ủy viên.
4. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh - ủy viên
5. Họa sỹ Thanh Sơn ủy viên BCH Hội VHNT Thanh Hóa - Phó Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh - ủy viên
6. Ông Nguyễn Văn Túy Phó Bí thư Chi bộ - Chánh Văn phòng Hội VHNT Thanh Hóa - ủy viên.
7. Nhà thơ Đào Phụng ủy viên BCH Hội VHNT Thanh Hóa Trưởng ban Thơ - ủy viên
8. Nhà báo Phạm Ngọc Chung Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa - ủy viên.
9. Nhà văn Kiều Vượng Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Thanh Hóa - ủy viên.
10. Ông Nguyễn Văn Bưởi Bí thư Chi bộ khu phố 5 phường Ba Đình thành phố Thanh Hóa - ủy viên.
11. Ông Lê Xuân Định Trưởng thôn 6 xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa - ủy viên
12. Ông Lê Văn Hồng Đại diện gia đình nhà thơ Mạnh Lê - ủy viên.






Một đời thơ - một đời thầy một đời

 

người đắm say chất phác nghĩa tình


(Điếu văn do Nhạc sỹ Đồng Tâm - Bí thư Đảng đoàn Chủ tịch Hội
 
Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa đọc tại lễ truy điệu nhà thơ Mạnh Lê)

 


        Nhà thơ Mạnh Lê Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Thanh Hóa bất ngờ bị bạo bệnh dù đã được gia đình và tập thể thầy thuốc tận tình cứu chữa nhưng do bệnh tình quá nặng ông đã vĩnh biệt chúng ta vào hồi 1 giờ 30 phút ngày 15 tháng 4 năm 2008 (tức ngày 10 tháng 3 âm lịch) hưởng thọ 57 tuổi.
Bạn bè thân hữu bạn văn chương anh chị em văn nghệ sỹ trong và ngoài tỉnh và người thân đều bàng hoàng đau xót trước cái tang quá đột ngột này; Đều xúc động và tiếc thương một tài năng thơ một cán bộ lãnh đạo văn nghệ và báo chí đang ở độ sung mãn.

Nhà thơ Mạnh Lê sinh ngày 04-4-1952 tại xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa; quê hương của Kẻ Chè Kẻ Rị của nhà bác học Lê Văn Hưu một vùng quê giàu truyền thống văn hóa. Tuổi thơ của ông gắn với làng Chè quê hương một làng nhỏ bên sông Chu và nghề đúc đồng truyền thống. Tiếng chày thậm thịch giã đất và ánh lửa nấu đồng đã ngấm vào máu thịt của ông thăng hoa trong thơ ông thành một giọng điệu thơ Mạnh Lê âm âm tiếng đất tiếng đồng; Đồng vọng âm hưởng thổ âm sông. Góp một tiếng nói riêng vào nền văn học xứ Thanh và cả nước.
Năm 1971 ông học khoa ngữ văn trường Đại học Sư phạm Vinh. Bốn năm đại học và hai năm học cao học tiếp đó là chuẩn hóa thành thạc sỹ ngữ văn ông vừa miệt mài học tập vừa sáng tác thơ. Thơ của ông xuất hiện trên các báo tạp chí ở Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Năm 1979 ông làm giảng viên Trạm đại học thuộc trường bồi dưỡng giáo viên tỉnh Thanh Hóa. Thời kỳ này thơ của ông đã có mặt trên các báo tạp chí ở trung ương. Tập thơ đầu tay Tiếng chim trên đá (1984) và truyện thơ Thần Độc Cước (1986) đã được công chúng bạn đọc chú ý báo hiệu bước ngoặt của cuộc đời ông. Năm 1987 ông về công tác tại cơ quan Văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa làm biên tập viên cho Tạp chí Văn nghệ Thanh Hóa. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; vào Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn nghệ dân gianViệt Nam từ môi trường này. Năm 1997 ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh. Hơn hai mươi năm làm văn nghệ chuyên nghiệp ông đã đảm nhận các chức vụ: ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa các khóa V VI VII Trưởng ban Thơ của Hội khóa V; Đại hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa khóa VII tháng 10 năm 2007 ông được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa. Ông còn là Chi hội phó Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Thanh Hóa; ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa; Chi hội trưởng Chi hội Nhà báo Tạp chí Xứ Thanh.
Vừa làm tốt công việc của một người lãnh đạo cơ quan báo chí vừa miệt mài lao động sáng tạo đến nay ông đã xuất bản 5 tập thơ:  Tiếng chim trên đá   Từ ai đến tôi Một cuộc đời sông Tôi và ai nữa Cõi nhớ hai tập truyện thơ  Thần Độc Cước Nàng Mứn ba trường ca  Lửa Hàm Rồng Người đánh thức đất đai Đất nước thuở Hùng Vương và hai kịch bản sân khấu. Thơ của ông có cái mạch ngầm nguồn cội làng quê chan chứa cái tình mộc mạc của mẹ của bà của chị lẫn cái trầm lắng sâu đậm cốt cách của cha. Mấy năm gần đây ông tập trung viết trường ca. Các trường ca của ông có phần nào có dáng dấp sử thi. Đầu năm 2008 ông xuất bản trường ca Đất nước thuở Hùng Vương. Hôm qua 14 tháng 4 năm 2008 ông lại viết xong kịch bản sân khấu dài Gió lộng của đời em và đang ấp ủ dự định về những tác phẩm dài hơi bề thế.
Là một cán bộ lãnh đạo văn nghệ có uy tín cá nhân cao nhà thơ Mạnh Lê đã có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của Hội Văn học Nghệ thuật và của Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh. Ông là người luôn chân thành độ lượng khiêm nhường trước bạn bè đồng chí đồng nghiệp nên được mọi người tin cậy mến yêu.
Những công lao và cống hiến của ông đã được ghi nhận bằng các phần thưởng cao quý:
- Huy chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam
- Huy chươngVì sự nghiệp Báo chí Việt Nam
- Giải thưởng cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam (1995)
- Giải thưởng của ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (1998)
- Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa 5 năm (1996-2000) (2001- 2005).
- Các giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lê Thánh Tông; giải thưởng báo chí Trần Mai Ninh và nhiều phần thưởng khác ở trung ương và địa phương.
Ông đang trăn trở với bao dự định trong công việc của một người lãnh đạo Hội Văn nghệ và Tạp chí cùng những dự định sáng tác chứa đựng tâm huyết và suy tưởng của ông về đất nước cuộc sống và lý tưởng nhân văn.
Nhà thơ Mạnh Lê mất đi giới văn nghệ sỹ chúng ta mất một tài năng đang độ chín; giới báo chí mất một nhà báo nhiệt thành; đồng chí bạn bè mất đi một người bạn chân thành thủy chung; gia đình mất đi một người con hiếu thảo một người chồng một người cha gương mẫu.
Xin được chia sẻ nỗi đau này với gia đình bà Lê Thị Hảo và các cháu.
Nhà thơ Mạnh Lê không còn nữa nhưng sự nghiệp văn học của ông sẽ còn mãi trong lòng chúng ta và bạn đọc muôn phương.
Xin được nghiêng mình tưởng nhớ trước anh linh của ông và mong ông thảnh thơi yên nghỉ ở cõi vĩnh hằng.
     
      




Hồn quê đọng lại trong hồn


                                                 TỪ NGUYÊN TĨNH



        Tôi sống với Mạnh Lê 22 năm tôi về Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa từ năm 1986 năm sau Mạnh Lê từ Trạm đại học chuyển về làm biên tập lý luận. Năm 1997 tôi được phân công làm Tổng Biên tập của Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh cũng từ đó Mạnh Lê làm phó cho tôi đến lúc đi xa... Tôi đang làm thủ tục bàn giao tạp chí cho Mạnh Lê thì anh ra đi. Mới đó sáng qua thôi cùng mấy nhà văn ở trại sáng tác do Bộ Công an và Hội Nhà văn mở ngồi trò chuyện tôi kịp chụp hình chung cho Mạnh Lê và một số nhà văn...
22 năm là một quãng dài chứng kiến sự nghiệp sáng tác và chuyện đời của Lê Văn Mạnh (Mạnh Lê) tôi làm sao mà quên nổi tôi và Mạnh Lê như anh em... Từ dạo nào tôi còn làm chương trình thơ của Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa bao giờ cũng đến gian tập thể ở Điện cơ nóng ẩm và gần một bếp ăn tập thể chật chội. Lấy thơ của Mạnh Lê đi "in miệng". Lê ít nói và khiêm nhường cái trán rồng miệng quả tim và đôi tai thì không lẫn được to như tai Phật. Khi về sống với nhau rồi có lúc nhận ra sự chậm chạp mỏi mệt của Mạnh Lê tôi nói đùa cái tai to như tai voi của mi sẽ thọ chứ có phải tai nhỏ và mỏng như tai anh vất vả lắm...
Tôi từ thơ nhảy sang văn xuôi Mạnh Lê có lúc cũng mê kịch lắm. Mê Lưu Quang Vũ tôi mới bỗ bã: Bỏ kịch mà làm thơ cho nó khẳng định đi đã nào!
Mạnh Lê chuyên vào thơ và kiêm luôn cả viết lý luận. Tôi nói anh nợ em bài viết về toàn bộ sự nghiệp thơ đấy hãy chọn ra cho Từ Nguyên Tĩnh những câu thơ hay đi nào mình sẽ viết "Mạnh Lê - Người đi tìm thổ âm sông". Tôi chưa viết kịp nói thì dễ mà phải đọc lại toàn bộ thơ của Mạnh Lê mà có ít đâu... Ba trường ca mới ra lò gần lắm: Lửa Hàm Rồng Người đánh thức đất đai và Đất nước thuở Hùng Vương in cấp tập từ năm ngoái tới lúc về làm người thiên cổ. Tôi nợ Mạnh Lê rồi vì còn loay hoay với cuộc thi và bàn giao cho em cái tạp chí mà Lê đã chịu thiệt thòi làm phó cho tôi đến hơn mười năm. Tôi hay đùa anh như vật cản của chú mày nhưng tuổi tác và già nua thì có ai tránh được... Hầu như không tập sách nào của tôi không có sự "bình luận" của Mạnh Lê. Bình miệng và viết in hẳn hoi. Tôi có cáu kỉnh chăng nữa là công việc sự này sự nọ. Nhưng in thơ ra sách của anh em bao giờ cũng sốt sắng. Hầu như các tập trường ca: Hàm Rồng. Người đánh thức thức đất đai Đất nước thuở Hùng Vương của Mạnh Lê tôi cũng đọc và can dự vào... Tôi không khỏi có lúc tự hào một cách gia trưởng rằng mình thấu hiểu con người này... Đến lúc từ nơi mai táng cho em Hảo vợ của Lê trên đường về mới nói: Em khuyên anh ấy đi chữa bệnh mà anh không nghe. Anh gọi điện cho hai con ở Hà Nội tuần này đừng về thứ sáu bố và mẹ sẽ ra chơi và đi khám bệnh. Thì ra thứ sáu tôi đi trại sáng tác về Mạnh Lê mới yên lòng đi khám bệnh. Thì ra tôi đang sống hàng ngày với một người bệnh trọng anh gồng mình lên: sáng tác đua cùng thời gian. Mà đã kịp hưởng gì đâu. Cả bài viết về "Mạnh Lê đi tìm thổ âm sông" cũng không kịp nghe... Bạn bè văn nghệ ai cũng quý Mạnh Lê về sự khiêm nhường. Yêu cái chất giọng thơ của Mạnh Lê :
Ông bà đặt tôi trong tiếng đá
Cô bác đặt tôi trong tiếng đồng
Cha mẹ đặt tôi trong tiếng đất
Tôi đặt tôi trong thổ âm sông
            (Tôi và ai nữa) (*)
Viết kịch viết lý luận và làm thơ... một cán bộ biên tập dày dạn kinh nghiệm ân cần với người viết... Mạnh Lê ra đi là một tổn thất lớn. Mới hôm nào Mạnh Lê còn nói cùng tôi Mạnh Lê đang chuẩn bị cho ra đời tập lý luận nghiên cứu về các tác giả mà anh yêu mến... ổn định công việc rồi sẽ bắt tay vào viết trường ca Lê Lợi người anh hùng áo vải mà anh kính yêu.
Sinh tử là chuyện không ai tránh khỏi anh ra đi vào ngày giỗ tổ vua Hùng. ở Hội Văn nghệ Phú Thọ họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng Chủ tịch Hội điện về: Trường ca Đất nước thuở Hùng Vương của Mạnh Lê được đón tiếp một cách nồng nhiệt.
Bạn bè quen biết khắp nơi ai cũng thương tiếc một tài năng đang độ chín. Mạnh Lê vừa nói cùng tôi về viết lách... Anh chưa một lần nào phàn nàn về bệnh tật. Tôi hiểu câu thơ của Mạnh Lê găm vào người đọc "Chỉ thấy hồn quê đọng lại trong hồn" (**) - Anh yêu tha thiết quê này yêu mọi người với sự chân thật vị tha...
                                                                                        T.N.T




(*) Tên tập thơ của Mạnh Lê
(**) Câu thơ của Mạnh Lê





VĂN ĐẮC


Một trái tim

        Viếng linh hồn nhà thơ Mạnh Lê


Một trái tim
Năm mươi bẩy năm
Đập trong lồng ngực mình
Năm mươi bẩy năm
Đập trong lồng ngực người khác
Trong trái tim mẹ cha láng giềng bè bạn
Trong trái tim của Vua và những người anh hùng
Đó là tiếng Thơ
Vọng từ
        "Một cuộc đời sông "(*)
        "Từ ai... đến tôi"

Hôm nay
Chúng tôi tiễn đưa một trái tim
Và chào đón một trái tim
Bằng giọt nước mắt thương đau kiêu hãnh
Một trái tim cho mình chôn xuống huyệt
Một trái tim cho đời mọc trên đất tươi xanh ...

                   Đêm 16-4-2008
                       Tức 13-3 Mậu Tý        
                    V.Đ




(*) Tên hai tập thơ của nhà thơ Mạnh Lê






VƯƠNG ANH


 Viếng bạn
        
        Trước linh cữu nhà thơ Mạnh Lê


Chưa thể tìm về tĩnh lặng ...
Còn vang ngày giỗ Vua Hùng.

Bạn về cõi Tiên đã vắng
Để thương cho Đất Trống Đồng!

Sao lại ra đi vội thế?
Nợ văn chương đến tận cùng...

Đứt gánh!... Ôi! Ngòi bút máu
Vĩnh hằng ngút ngát linh thiêng...


            Ngày 10 tháng 3 Mậu Tý
                    V.A









HUY TRỤ


Chỉ câu thơ...

        Tưởng nhớ Nhà thơ Mạnh Lê


Mạnh Lê đi thật rồi sao?
Vội chi không kịp lời chào anh em...
Thôi rồi lỡ một nhịp tim
Nghe ngưng giọt giọt máu tìm câu thơ

"Tiếng chim trên đá" vẫn chờ
"Tôi và ai nữa" đâu ngờ... hôm nay!
Lặng im "Cõi nhớ " trên tay
Để "Người đánh thức đất đai" buốt lòng...

Tôi nhìn vào cõi hư không
Đúng ngày giỗ tổ Vua Hùng bạn đi
Cuộc đời là cái chi chi
Đỏ đen... rồi cũng ra gì nữa đâu!

Tan vào cát bụi như nhau
Chỉ câu thơ... để mai sau mãi còn...


             10 giờ ngày 15-4-2008
                         H.T



Chữ trong ngoặc kép là tên các tập thơ của nhà thơ Mạnh Lê

 

 

 

 

ĐÀO PHỤNG


 Người đi thơ ở lại
                                                     
         Kính viếng linh hồn bạn thơ Mạnh Lê


Mấy mươi năm như chiếc lá bay vèo
Ngày không gió người đi như trái rụng
Căn phòng trống ghế bàn đều vô vọng
Lịm ánh đèn bút giấy vào tang!

Tiếc chưa kịp về Thiệu Trung (1)
Làng Chè đúc quê Lê xem đồng chảy
Mạch thi tứ như lúa đồng ngô bãi
Nuôi "Từ ai đến tôi" và "Tôi và ai nữa"… (2)

Tiếc dang dở hồn thơ đang độ lứa
Rói tươi xanh vội héo úa tức thì
Sống gửi thị thành thác về quê tổ
Xuôi tay rồi vẫn nợ mẹ trước sau.

Sông Chu duềnh chiều hương khói quặn đau
Thôi Lê nằm lại với cồn làng yên giấc
Số trời định ích chi điều được mất
Người đi thay thơ ở lại đời!

                         Ngày buồn15-4-2008
                                           Đ.P



(1) Xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hóa quê Mạnh Lê
(2) Tên các tập thơ của nhà thơ Mạnh Lê





LÂM BẰNG



Người gọi hồn sông


                       Tưởng nhớ nhà thơ Mạnh Lê


Anh sinh ra từ đất đúc trống Đồng
Tóc đỏ màu nắng gió Trà Đông
Người ví anh như chim phượng hoàng đất
Anh nhận mình là cậu bé chăn trâu làng Chè ngụp
lặn dưới lòng sông
Bát nước sông anh múc về thờ cha còn đó trên bàn thờ
Nén hương cháy đỏ
Anh đã vội đi
Người đánh thức đất đai
Đất nước thuở Hùng Vương
Lửa Hàm Rồng
Ruột gan của Một cuộc đời sông.

Anh là người gọi Hồn sông
Gọi hồn câu hát vỗ vào ánh trăng
Thuyền nát trăng lành.

Đất đúc trống Đồng
Đất đẻ ra anh
Anh gọi hồn sông gọi hồn dô tà dô tả...
Đất gọi anh về...

Con chim phượng hoàng đất về với đất
Về với đất đúc trống Đồng
Cánh đồng làng Chè còn mãi ánh trăng
Còn mãi câu hát vỗ vào ánh trăng.


            Tháng Tỵ năm Tý (2008)

 



Những chữ in đứng là tên tác phẩm và câu thơ của nhà thơ Mạnh Lê


More...

NHỮNG CÂU THƠ HAY CỦA NHÀ THƠ MẠNH LÊ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Những câu thơ hay

của nhà thơ Mạnh Lê

 



1. Dưới đồng cây lúa xanh soi
    Là em bóng dáng một thời trẻ trung
                        (Cô gái vùng sông đào sông)

2. Chao! cái màu nâu màu nâu
    Bao năm xa vẫn một mầu ấy thôi
            (Bài hát của người vỡ đất)

3. Năm nay hạn người ngắm sông tận đáy
   Thấy đời con sông cũng vất vả theo người.
                       (Bên sông nghe sấm báo mưa rừng)

4. Đi suốt những vì sao chỉ thấy sao lấp lánh
    Đi suốt mọi cái nhìn vẫn thiếu cái nhìn riêng.
                                             (Đôi mắt ấy)

5. Thời gian âm thầm một cánh buồm trôi
  Mái chèo ấy bao bàn tay đã nắm
  Từ hoa văn trống Đồng đến ngọn cờ đỏ thắm
  Đất nước tượng hình lên lung linh tầm vóc một
                                                             người con.
                                 

6. Xa nước rồi Bác vẫn giữ cho ta
    Hồn dân tộc những năm dài nước mất.
                                 (Làng Chè đúc tượng Bác Hồ)

7. Buổi xế chiều ngồi tính chuyện xưa sau
    Giọt nước mắt cuối cùng đời cho là muối mặn
    Cái hơi thở cuối cùng đời cho là lửa ấm
    Ta đỏ lửa cho mình mình trắng muối cho ta.
                                               (Bạn già)

8. Xưa đỉnh núi nàng Vọng Phu đứng ngóng
    Nay nhìn lên bỗng thấy Vọng Phu quỳ.
                                     (Núi đá làng tôi)

9. Chênh chênh một bóng trăng ngày ấy
   Em đẹp cho thơ cho mọi người
   Trở giấc đêm nào tôi cũng thấy
   Hồn tôi chênh chếch bóng trăng soi.
                                   (Chênh chênh một bóng)

10. Cái danh cái lợi trao đời hết
      Bạn đã vun tròn một chữ Nhân.
                                         (Bạn tôi)

11. Nửa đời say tỉnh lại
    Chỉ thấy hồn quê còn đọng trong hồn.
                                          (Từ ai đến tôi)

12. Những người biết cha tôi có thể tìm thấy cha tôi qua tôi
      Như tôi vẫn tìm tôi qua ánh vàng quả khế.
                                           (Từ ai đến tôi)

13. Rằng đời mẹ tôi như cái cối giã đất
      Cha vác cối về đặt cối ở góc vườn
      Mẹ lam lũ âm thầm mẹ cực nhọc cô đơn
      Tiếng chày giã đất là tiếng nói của mẹ
      Đến ngày nào mẹ nhắm mắt theo cha
      Tôi sẽ thắp hương thờ cái cối.
                                         (Từ ai đến tôi)

14. Mẹ biết tôi vẫn là tôi hòn đất
     Tiếng nói vụng thô mà có duyên ngầm.
                                          (Từ ai đến tôi)

15. Chiều nhai rau má tối học chữ Nôm
      Hiểu tận tâm căn tiếng đá tiếng đồng.
                                          (Dô tả dô tà)


16. Một cuộc đời sông bao đời thuyền nát
     Mãi còn câu hát vỗ vào ánh trăng.
                                   (Dô tả dô tà)

17. Bát nước tinh trong sáng như đời mẹ
     Mẹ hực hỡ bừng lên như đóa mẫu đơn hồng
     Cho con hiểu nhân tâm là cội rễ
     Hữu hạn chỉ thăng hoa khi nhập với vô cùng.
                                    (Sớm đầu xuân)

18. Hồn dân tộc ẩn tàng nơi thôn dã.
                                     

19. Họ mạc lưu tên ông trong gia phả
     Dân làng gói tên ông vào lá sen.
                                       (Lê Văn Hưu)

20. Chỉ ruột bình là trắng
     Trắng tinh trong như sữa mẹ
     Sớm nay bình vôi oà khóc.
                                   
21. Con hãy chôn bình vôi dưới gốc đa đầu làng cho mẹ
     Mẹ đi rồi bình vôi ở với ai.
                                    (Bình vôi)

22. Mắt nhìn mắt nhìn lâng châng lay say
     Cây cây tôi tôi lềnh bềnh mây nước
     Âm ấm vào nhau hơi thở diệp lục
     Máu tôi rưng rưng dòng chảy khôn cùng.
                                     (Bến En)

23. Bể nước chái nhà đầy mưa
     Em múc nước trong mà tắm.
                                   (Tháng ba sấm động)


24. Thập thững mẹ đi trăng tà trăng lặn
    Bó hương thắp hết phần mộ các con
    Mắt mẹ đã mờ lại nhìn chẳng rõ
    Mẹ ngồi ru cả lời ru nước non.
                             (Lời ru nghĩa trang)

25.  Làng tắm cho con bằng nước lá thơm
      Đặt con ngay ngắn trong cái tiểu sành
      Vồng ngực vắt qua vuông cờ đỏ
    Mô đất tơi bời hoa cỏ
    Từ hoa cỏ này đom đóm và châu chấu đã bay lên...

26. Tôi một thời
     Sông nước mấy thời qua
                                (Một thời tôi)

27. Tôi chỉ mong được làm con chim đất
     Mộc mạc mà sáng trong
     Giữa thế kỷ giàu màu sắc âm thanh
     Chim có giọng của chim
     Viết lên từ làng cổ.
                                    (Về làng cổ)

28. Tiếng cuốc cuốc bao bình minh gió lật
     Cha tôi phanh trần cuốc ruộng trước hoàng hôn
     Đất lật ải như đời cha lật bóng
     Thăm thẳm năm canh tiếng cuốc gọi hồn.
                                     (Tiếng cuốc)

29. Nơi khai sinh người anh hùng dân tộc
     Lê Lợi mặc áo Lam trước khi khoác hoàng bào.
                                      (Sắc núi)

30. Tuổi cùng cây cau gốc đa bến nước
     Nết ăn nết ở cò sống theo người
     Ngày mưa ấp con ngày nắng lội ruộng
     Chân nương gốc lúa mỏ mò tép tươi.
                                      (Làng cò)

31. Vẫn biết nước từ thượng nguồn đổ xuống
     Dòng nước xuôi về biển khơi xa
     Có đời người dựa dòng trôi gặp biển
     Vội quay lưng ngoảnh mặt với sông nhà.
                                         
32. Tôi về mùa sông nước cạn
     Soi đáy sông ngẫm lại đời mình.
                                          (Sông quê)

33. Cái cuống đất như cái neo níu mặt trời ở lại.
                                           (Đất ấy)

34. Tất cả đang xôn xao bừng thức dậy
     Chiều rừng rực thế này em rừng rực nhường kia.
                                          (Chiều riêng)

35. Ông bà đặt tôi trong tiếng đá
     Cô bác đặt tôi trong tiếng đồng
     Cha mẹ đặt tôi trong tiếng đất
     Tôi đặt tôi trong thổ âm sông.
                                        (Tôi và ai nữa)


More...

THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ MẠNH LÊ

By Văn Nghệ Xứ Thanh



Tiễn biệt nhà thơ của

quê hương đúc đồng về cõi vĩnh hằng


                                          Lược thuật của HOÀNG TRỌNG CƯỜNG
 
 


        "Nhân sinh tự cổ thủy vô tử" - Người đời tự xưa nay không ai là không chết. Vẫn biết vậy. Nhưng có những người ra đi khiến mọi người bàng hoàng đau xót vì quá đột ngột. Nhà thơ Mạnh Lê cũng vậy.
Tiếng chuông điện thoại réo lúc đêm khuya làm tôi giật mình choàng dậy.  Tiếng nhạc sĩ Đồng Tâm-Chủ tịch Hội Văn nghệ Thanh Hóa nghe lạ lắm nghèn nghẹn có vẻ thảng thốt: "Đồng Tâm đây.  Mạnh Lê mất rồi!"
Tôi không tin ở tai mình tưởng nghe nhầm hỏi lại một cách vô thức: Ai báo tin cho anh? Anh Tâm bảo: Lê Đăng Sơn gọi điện cho tôi. Bây giờ tôi phải gọi điện báo cho Thường vụ và các trưởng ban sáng sớm tập trung ở Văn phòng Hội để bàn công việc. Chú thảo cái điếu văn cho Mạnh Lê nhé.
Tôi lặng người nửa tin nửa ngờ cái tin mà anh Tâm vừa báo. Nhìn đồng hồ: 2 giờ 30 phút ngày 15 tháng 4 năm 2008 đúng ngày giỗ tổ Vua Hùng 10-3 âm lịch.
Tôi bấm máy liên lạc với nhà văn Từ Nguyên Tĩnh Tổng Biên tập tạp chí Xứ Thanh đang đi trại sáng tác của Bộ Công an dưới Sầm Sơn. Anh Tĩnh cũng vừa biết tin dữ. Anh bảo tôi: "Cường tìm trong cuốn kỷ yếu của Hội Nhà văn Việt Nam phần tiểu sử và các sáng tác của Mạnh Lê để lấy tư liệu mà thảo điếu văn.
Khoảng thời gian mấy canh giờ cho đến sáng anh em văn nghệ chắc nhiều người không ngủ báo tin truyền nhau.
6 giờ 30 phút tôi đến cơ quan đã thấy anh Tâm anh Túy Chánh Văn phòng Hội... Lát sau NSƯT Nguyễn Ngọc Quyền họa sĩ Nguyễn Thanh Sơn Lâm Bằng NSNA Trần Liên Chương và nhiều anh chị em văn phòng ào tới. Mọi người ngỡ ngàng hỏi nhau: Anh Mạnh Lê mất thật rồi sao? Không lẽ nào? Mới hôm qua Chủ tịch Hội Chánh Văn phòng Hội vừa gửi đến các cơ quan chức năng ở Tỉnh ủy UBND tỉnh tờ trình về việc làm quy trình để bổ nhiệm nhà thơ Mạnh Lê giữ chức Tổng Biên tập Tạp chí Xứ Thanh. Cũng chiều hôm qua anh Mạnh còn ngồi làm biên tập cho số tháng 5 của Tạp chí cho đến tận cuối giờ kia mà.
Anh Tâm chỉ đạo triển khai ngay việc thành lập ban lễ tang do anh làm Trưởng ban cử người đặt vòng hoa bức trướng; Rồi tất cả mọi người vội tới nhà anh Mạnh Lê ở số 5 hẻm385 đường Trần Phú để tham gia khâm liệm cho anh Mạnh Lê.
8 giờ sáng phát tang Hội VHNT Tạp chí Xứ Thanh mười ban chuyên ngành của Hội cơ quan của chị Hảo (vợ anh Mạnh Lê) bà con khu phố đã nối nhau vào viếng.
Mặc dù là ngày nghỉ lễ ngày quốc giỗ-Giỗ tổ-ngày giỗ các Vua Hùng nhưng suốt cả ngày 15/4 anh chị em văn nghệ sĩ xứ Thanh bạn bè thân hữu của anh Mạnh Lê  và gia đình anh đã liên tục đến viếng.
65 đoàn đại biểu của các cơ quan ban ngành trong và ngoài tỉnh các cơ quan báo chí các đoàn thể các huyện thị thành phố... đã đến viếng nhà thơ Mạnh Lê và chia buồn cùng gia đình; Hội Văn học Nghệ thuật và Tạp chí Văn nghệ các tỉnh bạn: Phú Thọ Nghệ An Quảng Trị… Ban văn nghệ đồng hương Thanh Hóa tại Hà Nội đã gửi điện chia buồn.
Đến viếng nhà thơ Mạnh Lê có ông Lê Ngọc Hân Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Chủ tịch HĐND tỉnh Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa; ông Nguyễn Đức Thắng ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trưởng ban Tuyên giáo; Ông Chu Phạm Ngọc Hiển ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; ông Vương Văn Việt Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Thiếu tướng Đồng Đại Lộc ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Giám đốc Công an tỉnh; Ông Ngô Hoài Chung Tỉnh ủy viên Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch; ông Phạm Minh Thiệu Tỉnh ủy viên Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa Tổng Biên tập báo Thanh Hóa; ông Lê Trung Sơn Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo; ông Đinh Viết Ba Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa; đại diện lãnh đạo và cán bộ phóng viên báo Thanh Hóa Đài Phát thanh - Truyền hình Thanh Hóa Báo Văn hóa Thông tin Thanh Hóa các Văn phòng đại diện  báo trung ương tại Thanh Hóa; Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Thanh Hóa; Đại diện tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam)...  
Đoàn đại diện của Hội Nhà văn Việt Nam gồm nhà thơ Nguyễn Hoa Phó ban Thường trực Ban Tổ chức hội viên; Nhà thơ Lê Quang Sinh Giám đốc Trung tâm Văn hóa của Hội Nhà văn Việt Nam đã dự lễ viếng lễ truy điệu và tiễn đưa nhà thơ Mạnh Lê về nơi an nghỉ cuối cùng.
Không ai có thể cầm được nước mắt không cầm nổi tiếng nấc nghẹn khi nghe chị Hảo người vợ hiền của anh Lê nức nớ: Anh bảo tuần sau anh mới thu xếp được công việc để anh đi Hà Nội khám lại bệnh tim vậy mà Anh ơi...!
Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đau đớn: "Mạnh Lê mất đi là một tổn thất lớn cho nền văn học nghệ thuật Thanh Hóa và Tạp chí Xứ Thanh". Ông thảng thốt: Tôi cứ muốn nhanh nhanh để bàn giao công việc của Tạp chí cho Mạnh Lê để tôi được thảnh thơi đi sáng tác và cũng để Mạnh được chủ động thể hiện năng lực quản lý Văn nghệ của mình.
Nhà thơ Vương Anh ứng tác ngay tại chỗ bài thơ Viếng nhà thơ Mạnh Lê với bao xúc động:
        Chưa thể tìm về tĩnh lặng
        Còn vang ngày giỗ Vua Hùng
        Bạn về cõi tiên đã vắng
        Để thương cho đất trống đồng…
Nhà thơ Văn Đắc viết:
               Một trái tim cho mình chôn xuống huyệt
               Một trái tim cho đời mọc trên đất tươi xanh ...
Nhà thơ Vũ Thị Khương từ Bỉm Sơn ào vào nức nở:
        Giọt ngắn tiễn biệt khôn nguôi
        Giọt dài thương nhớ khoảng trời xa xăm
Và nhiều rất nhiều những bài thơ khóc viếng tiễn biệt nhà thơ Mạnh Lê của bè bạn - Mạnh Lê nhiều bạn lắm: bạn học bạn đồng nghiệp sư phạm bạn văn chương… Với tất cả trong tất cả Mạnh Lê chan chứa một tình thơ tình đời...!
Nhà thơ Nguyễn Hoa ghi vào sổ tang: "Chủ tịch nhà thơ Hữu Thỉnh nhắc luôn tới Mạnh Lê và nhắn với Nguyễn Hoa là bạn cố gắng tới tiễn Mạnh Lê. Nguyễn Hoa đã tới mang tất cả tình cảm đằm thắm của những hội viên nhà văn Việt Nam nhớ tới Mạnh Lê. Với Nguyễn Hoa Mạnh Lê vẫn đó và còn mãi mãi chứ chưa phải thật đi xa"
Buổi tối sau khi Đài PTTH Thanh Hóa phát đi "Tin buồn" báo tin nhà thơ Mạnh Lê đã đột ngột ra đi thì số người biết tin càng nhiều. Điện thoại hỏi thăm người đến viếng luôn chật cả nơi tang lễ; bùi ngùi nấn ná ngồi lại với Mạnh Lê cho đến tận canh khuya.
Tám giờ sáng ngày 16-4 lễ truy điệu nhà thơ Mạnh Lê được cử hành. Sau khi NSƯT Nguyễn Ngọc Quyền đọc tin buồn và giới thiệu thành phần Ban lễ tang nhạc sĩ Nguyễn Đồng Tâm Trưởng ban lễ tang đọc điếu văn trong nghẹn ngào nước mắt của cả người đọc và người tham dự tang lễ .
Sau phút mặc niệm cả một dòng người cùng tiễn đưa Mạnh Lê. Anh Đinh Viết Ba nhà thơ Nguyễn Hoa nhà văn Kiều Vượng... cùng người thân bạn bè của Mạnh Lê chung tay nâng linh cữu đưa nhà thơ ra xe tang để đưa anh về an nghỉ tại nghĩa trang quê nhà làng Trà Đông xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa.
Khi xe tang qua cầu Trà Đông vào đất Thiệu Trung hàng trăm người dân của làng Chè Đúc đã chờ sẵn hai bên đường để đón người con của làng đúc đồng về bên tiên tổ trong tiếng khóc than thương tiếc khôn cùng của người thân.
Nhà thơ Mạnh Lê đã mãi mãi đi xa nhưng trong tâm tưởng của mỗi người nhất là những người bạn văn chương nói như nhà thơ Nguyễn Hoa "Mạnh Lê vẫn còn đó chứ chưa phải đã thật đi xa". Cũng như những người hiền trên trái đất này nhà thơ Mạnh Lê đã nhập vào thế giới Vĩnh hằng vì thơ anh đang đồng hành cùng người ở lại. Như lời điếu của nhà thơ Huy Trụ:
Tan vào cát bụi như nhau
Chỉ câu thơ... để mai sau mãi còn
                                                                              H.T.C






Một cánh chim  đã bay về phía cuối trời

(Đọc trường ca Đất nước thuở Hùng Vương của Mạnh Lê

NXB Hội nhà văn 2008 - thay cho lời tiễn biệt tác giả)
 

                                                                  HỎA DIỆU THÚY
 
 
 
 
 
 
 
 
            “Cội nguồn văn vắt xanh trong
               Ta về đất Tổ Vua Hùng dâng hương”
Không hiểu sao khi viết bài này tôi cứ bị ám ảnh bởi những chữ và con số: Truyền thuyết... Ngày giỗ Tổ... 10-3... Mạnh Lê về cõi vĩnh hằng. Nếu có điều gì trùng hợp ngẫu nhiên ở đây thì Mạnh Lê quả là vinh dự. Anh vẫn được bạn bè nhận xét là người đôn hậu. Trong cuộc sống cũng như trong thơ có thể nhận ra nét tính cách được coi là ưu điểm “cực mạnh” song nhiều khi cũng gây thiệt thòi này cho anh. Không nhớ ai đã nói: những người hiền thường ra đi thanh thản. Anh thanh thản còn chúng tôi thì bàng hoàng trong nỗi tiếc nhớ. Rưng rưng tiễn biệt anh trong suy nghĩ miên man: sự hóa thân của Mạnh Lê sao mà thiêng. Anh siêu thoát trong sự dâng tặng tuyệt đối cho nguồn cội.
Mấy năm trở lại đây Mạnh Lê say sưa viết trường ca. Trường ca đòi hỏi vốn sống và trải nghiệm dồi dào bút lực sung mãn. Ba năm liền cho ra mắt ba trường ca mà tác phẩm nào cũng ngót nghét nghìn câu cho thấy tiềm lực của anh đang vào độ chín. Với ai đó viết trường ca có thể  rất nhanh đôi khi là ngẫu hứng còn Mạnh Lê với tính cách cẩn trọng nên thường ấp ủ ý tưởng và chuẩn bị tốt nhất những gì có thể. Vì vậy như một sinh thể đủ ngày tháng trường ca của anh khá cân đối và hợp lý trong bố cục chặt chẽ và sâu sắc trong ý tưởng cũng như việc lựa chọn xây dựng hình tượng thơ. Trường ca Đất nước thuở Hùng Vương một lần nữa minh chứng cho thói quen sáng tạo nghiêm cẩn ấy.
Bản trường ca có chín chương như một ẩn dụ hình tượng con rồng chín khúc biểu tượng cho hình ảnh đất nước dân tộc Việt Nam. Với chín khúc ca tác giả đã tái hiện lịch sử dựng nước và giữ nước thời các vua Hùng. Cái khó ở đây là tầm vóc sử thi của đề tài trên nền tảng của kho thần thoại truyền thuyết phong phú dễ khiến người ta bị ngợp và lúng túng trong sự chọn lựa. Song Mạnh Lê đã tỏ ra khá chủ động trong việc khai thác kho tư liệu - sử liệu này. Cách tổ chức kết cấu các sự tích sự kiện điển tích cũng rất táo bạo tạo. Hình như tác giả muốn xây dựng một cách tiếp cận mới về truyền thuyết lịch sử dân tộc cách tiếp cận nhân bản và đời thường hơn. Thêm nữa tác giả còn mạnh dạn đưa xúc cảm tâm lý đời thường vào suy nghĩ hành động của các nhân vật khiến những truyền thuyết xưa bỗng trở nên có da thịt sống động thú vị lạ thường.
Mở đầu là truyền thuyết về nguồn cội. Có cái gì đó thật sự lôi cuốn nếu không nói là đã có luồng giao cảm đặc biệt khiến thi sĩ có thể dựng lại truyền thuyết về nguồn cội Rồng Tiên này say sưa và hào hứng đến vậy. Tác giả hình dung ra câu chuyện về tình yêu “sét đánh” giữa đôi trai tài gái sắc Lạc Long Quân “đứng đầu loài thủy tộc” một lần “đi kinh lý” dừng chân ở “động Thanh Nguyên” núi Nghĩa Lĩnh đã gặp nàng âu Cơ xinh đẹp con thần Đế Lai “đang tuổi trăng tròn óng mềm như ngọn lửa” và thế là:
Lạc Long Quân mê mệt
Cùng tiên nữ mây mưa
Nghĩa Lĩnh sơn ngày tháng
Bồng bềnh mây khói đưa... (tr22)
Kết quả của cuộc tình mãnh liệt ấy “Tròn ba năm ba tháng” mẹ Âu Cơ “sinh ra một cái bọc/ có trăm quả trứng hồng” và “Lạc Long quân thấy lạ/ đặt bọc vàng lên mâm” tế trời đất. Đúng một năm sau “cái bọc vàng” ấy cựa quậy và “nở trăm người con trai”. Khi các con trai đã khôn lớn Lạc Long phán truyền một quyết định lịch sử:
Nay Hùng Vương đã lớn
Ta trao quyền cho con
Làm vua nước Văn Lang
Đất này là đất tổ! (tr25)
Núi Nghĩa Lĩnh nơi ghi dấu cuộc kỳ duyên đã trở thành linh địa:
Nghĩa Lĩnh sơn từ đấy
Thành đất tổ Hùng Vương
Nước Văn Lang từ đấy
Là con cháu Rồng Tiên...(tr26)
Khúc ca một như như lời ru tha thiết về cội nguồn:
...Cây có cội nước có nguồn
Đất là mẹ Nước là hồn của cha
Nước Văn Lang tuổi ấu thơ
Rồng chim quấn tổ... lời xưa vọng về (tr28)
Sau khúc nguồn cội khúc thứ hai và thứ ba của trường ca có tên là “Trị thủy” và “Đỏ thắm môi người” được lấy cảm hứng từ truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh và sự tích Trầu cau. Với kết cấu như thế này phải chăng tác giả muốn lịch sử dựng nước của dân tộc phải được dựng xây trên nền móng vững chãi của truyền thống lao động cần cù dũng cảm và đức tính thủy chung. Kỳ vĩ và đẹp làm sao hình ảnh con người chế ngự thiên nhiên trở thành chủ nhân của vũ trụ:
Chàng dẫn làng đi đắp lũy trồng tre
Chặt tre lớn đan phên đóng cọc
Bầy cò trắng theo chân người mổ thóc
Mỗi chiều vàng sải cánh dọc triền sông (tr34)
Dễ hiểu tại sao con người của dân tộc này luôn yêu quý mảnh đất chôn rau cắt rốn cũng dễ hiểu vì tình yêu ấy họ sẵn sàng xả thân. Đây cũng là logíc để tác giả xây dựng chương bốn chương “Đánh giặc” lấy cảm hứng từ truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương.
Truyền thuyết về cậu bé lên ba khi đất nước gặp nguy biến vụt lớn dậy vượt qua tuổi thơ để trở thành anh hùng có lẽ là truyền thuyết hiếm có trong kho tàng văn học cũng như trong lịch sử quân sự thế giới. Một dân tộc anh hùng từ đứa trẻ lên ba như vậy liệu có kẻ thù nào có thể làm cho dân tộc ấy cúi đầu?
    Mới là đứa trẻ lên ba
Nước vừa có giặc đã oà tiếng kêu
... Lòng yêu nước của muôn nhà
Bé thành Phù Đổng ... đài hoa dâng người. (tr76)
Tuy nhiên với dân tộc này khát vọng bình yên luôn là khát vọng lớn nhất cháy bỏng nhất. Vì vậy giặc nước vừa đuổi xong đã thấy ngay những lễ hội mừng thần lúa thần lửa thần tình yêu được tổ chức tưng bừng. Chương năm chương sáu hai chương liên tiếp tác giả dành ca ngợi cuộc sống thanh bình và ước mơ tình yêu đôi lứa:
Được mùa cu gáy kêu vang
Mắt nhìn đâu cũng mang mang tình người (tr 90)
Tình yêu của Tiên Dung - Chử Đồng Tử làm nên khúc trữ tình thuần khiết và lãng mạn bậc nhất. Lạ kỳ thay là nhận thức và suy tư triết lý của người Việt. Từ Bọc vàng trăm trứng triết lý về nguồn cội đến nhận thức lý giải về quy luật thiên nhiên trong Sơn Tinh - Thủy Tinh niềm tin về sức mạnh bất khả chiến bại qua ước mơ cậu bé làng Gióng rồi An Tiêm Tiên Dung - Chử Đồng Tử khẳng định sự tự tin sức mạnh tình yêu v.v... Những triết lý thuần hậu hồn nhiên mà trí tuệ và sâu sắc vô cùng. Qua những truyền thuyết ấy thấy hiện lên chân dung dân tộc Lạc Việt: rắn rỏi tự tin kiên cường trí tuệ mộc mạc giản dị song cũng rất lãng mạn trữ tình.
Trong mạch cảm hứng ngợi ca Mạnh Lê chọn ra biểu tượng chung nhất đúc kết vẻ đẹp tính cách tâm hồn và trí tuệ Việt cũng là biểu tượng cho sự trường tồn của nền văn hiến văn minh dân tộc: trống đồng Đông Sơn
Hình hài xương cốt núi sông
Bốn ngàn năm tiếng trống đồng còn vang
... Hùng Vương đúc trống mặt trời
Bình minh đất nước rạng ngời hoa văn (tr 135)
Không thể hợp lý hơn. Mới biết Mạnh Lê nồng nàn mà cũng duy lý đến đáo để.  
Chương cuối chương chín kết lại trong hình ảnh con rồng đất nước bay lên trong ánh sáng thời đại Hồ Chí Minh. Hình tượng Hồ Chí Minh như cánh chim Lạc rực rỡ nhất cánh chim ấy đã vượt qua bão táp dẫn bầy chim Việt bay tới tương lai trên đôi cánh của khát vọng hòa bình:
Năm châu chung một tổ
Rợp cánh chim hòa bình
Ôi! cánh chim Lạc Việt
Người là Hồ Chí Minh (tr150)
Mạnh Lê nói đúng: Nước trôi rồi nước lại đi về nguồn... Mỗi chúng ta đều đi ra từ nguồn cội và đến một lúc nào đấy ai cũng đau đáu khát vọng được trở về nguồn cội. Mạnh Lê trở về nguồn cội hơi vội đấy nhưng anh đã kịp chuẩn bị hành trang về nguồn của mình những món quà thật ý nghĩa đó là những sáng tác những sản phẩm tâm hồn và trí tuệ thật sự có ý nghĩa của anh.

                                                                15-3-2008
                                                                   H.D.T
                                                                    





Nhớ tiếc Mạnh Lê
 


                                                                     LÝ HOÀI XUÂN
 
 
 
 
 
        Trong giới nhà văn trại sáng tác là một trong những nơi tạo cơ hội để các nhà văn gặp gỡ học hỏi nhau quen thân nhau. Điều này thật đúng với tôi và Mạnh Lê.
Còn nhớ vào khoảng tháng 6 năm 1987 anh Lã Hoan và Mạnh Lê từ Thanh Hóa vào Huế cùng tôi và nhạc sĩ Hoàng Sông Hương đi dự trại sáng tác tại Đà Nẵng do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tổ chức. Nửa tháng tập làm nhà văn chuyên nghiệp cùng ở một nơi cùng ăn một bếp cùng đi thực tế ngược sông Thu Bồn tham qua phố cổ Hội An Bảo tàng Chàm... Chúng tôi nghiễm nhiên thành bạn văn của nhau. Thời kỳ ấy tôi là trưởng phòng Nghiên cứu Tuyên truyền giáo dục pháp luật của Sở Tư pháp Bình Trị Thiên Mạnh Lê giảng viên Đại học mới từ Trạm Đại học Sư phạm Thanh Hóa chuyển về làm việc ở Hội Văn nghệ Thanh Hóa. Anh đã cho ra đời truyện thơ Thần Độc Cước còn tôi thì chuẩn bị xuất bản thơ Những đám mây mùa hạ. Bẵng đi hai năm không gặp lại ngay sau khi chia tỉnh Bình Trị Thiên mấy tháng tôi mang tập thơ Phượng hoa vàng (tập thơ thứ hai của tôi) đi phát hành tại Vinh Hà Nội. Trên đường từ Hà Nội trở về Đồng Hới tôi dừng chân ở thị xã Thanh Hóa thăm anh tặng sách cho anh và một số anh em văn nghệ. Anh trở tôi bằng xe đạp đến uống rượu đọc thơ tại nhà thơ Văn Đắc. Ngủ lại nhà anh ăn cơm với vợ con anh trong cảnh đang còn khó khăn thật vui và cảm động! Mãi sau gần mười lăm năm tháng 3 năm 2005 chúng tôi mới gặp lại nhau tại Đại hội các nhà văn khu vực miền trung ở Nha Trang rồi tiếp đến tại Đại hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại hội trường Ba Đình Hà Nội (từ ngày 23 đến 25 tháng 4 năm 2005). Năm ngoái gặp lại anh tại Hội nghị các nhà văn khu vực Bắc miền Trung ở Đồng Hới thấy anh vẫn mập mạp hồng hào tôi khen và mừng cho sức khỏe của anh còn anh thì lại nói có vẻ khách sáo: "Cảm ơn anh! nhưng tôi cũng không được khỏe lắm đâu!". Hình như anh có điều gì đó ưu tư lo lắng về sức khỏe của mình mà tôi không biết! Trông anh cứ hừng hực ai ngờ!...
Họa sĩ Lê Đan Tê Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ báo tin cho tôi và nhà thơ Hải Kỳ nhà thơ Hoàng Vũ Thuật... rằng anh chết vì bệnh nhồi máu cơ tim đã đưa cách đây hai hôm tạp chí Xứ Thanh mới điện vào.
 Anh Mạnh Lê ơi thế là chúng mình không còn cơ hội để đi trại sáng tác hoặc đi dự Đại hội nhà văn sắp tới nữa! Anh trở thành người thiên cổ quá sớm; bạn bè ở xa cũng không có điều kiện để đưa tiễn anh về nơi yên nghỉ cuối cùng. Dẫu vậy ở đâu đó tôi vẫn nghe người yêu thơ đang đọc bài thơ Dô tá dô tà rất giàu chất Thanh Hóa của anh. Đó là một bài thơ hay được giải Báo Văn nghệ mà anh tâm đắc bên cạnh những bài thơ hay khác. Anh đã từng tâm sự trong kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại rằng: "Với tôi sáng tác thơ trở thành nỗi đam mê. Thơ giúp tôi thể hiện một cách vi diệu nhất những quan hệ ràng buộc giữa tôi với cuộc sống thường nhật...". Trong tôi và bạn bè của anh anh là một con người hiền lành chất phác dễ thương. Giọng thơ anh chắc khỏe đầy chất đàn ông! Ôi tại sao những người như anh mà không được sống lâu? Hẳn anh còn nhiều trang bản thảo dang dở?
Không riêng gì tôi anh em văn nghệ sĩ Quảng Bình quen biết anh điều nhớ tiếc anh! Ai cùng buồn khi nghe tin anh mất!

                                                        Đồng Hới 17-4-2008
                                                                     L.H.X


More...

TRYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh


HÀ THỊ CẨM ANH


Khá Chồi
 
 
 
Truyện ngắn
 
 
 
 
 
        Đó là tiếng xe của khá Chồi (1). Khá Chồi đã đến. Thi thấy lo lo. Khá đến nhà mình chắc là có chuyện rồi! Thi biết rõ khá đàn ông này. Khá Chồi là thợ săn. Con người mà làm nghề đi săn thì tất nhiên sẽ giỏi hơn loài chó. Khá Chồi là một người như thế. Khá không săn cọp săn beo cũng không săn con cầy cao cáo. Khá săn những ngôi nhà sàn.
Khá Chồi giỏi săn. Chó săn thì dùng mũi. Khá Chồi có mũi. Mũi Khá rất to thậm chí to quá khuôn khổ bình thường. To bằng quả găng. To lù lù ngay giữa khuôn mặt tròn xoay nông choèn choẹt nhưng khá Chồi không dùng đến mũi như loài chó. Khá chỉ dùng tai. Đôi tai khá Chồi bé tẹo vành tai mỏng dính như lá bay báy nhưng rất thính. Khá dùng đôi tai để nghe ngóng. Khá nghe tất cả tin đồn của người Mường ở thung lũng Si Dồ về những ngôi nhà sàn. Khá muốn biết ở Mường nào nhà ai có nhà sàn cần bán?
Khá Chồi không phải người Mường Dồ. Khá là người Mường Phạng. Khá xuống Mường Dồ đến nhà Thi để mua ngôi nhà sàn Thi đang ở. Vừa nhìn thấy Thi khá Chồi đã toét miệng ra cười. Chồi cười làm cho Thi nổi da gà. Khá đến nhà Thi làm gì? Thi biết. Làm sao khá ra khỏi khường nhà mình? Thi không biết. Khá là một gã đàn ông ranh ma. Khá còn ranh ma hơn cả con cun seo cái đang mang thai. Mặt khá rộng. Cái miệng cũng rộng và tròn xoay như đồng bạc trắng nhưng đôi môi lại mỏng một cách dị thường. Vì thế mỗi khi khá cười đôi môi mỏng dính lại cong tớn lên khiến cho người ta cảm thấy sờ sợ ghê ghê. Khá cười với Thi khiến Thi sởn tóc gáy. Thi biết khá. Thi biết nhưng không quen. Thi biết khá là người mù chữ! Khá đếch cần biết chữ. Đếch cần biết chữ nên cũng đếch cần biềt gì hơn ngoài việc biết đếm tiền. Khá biết đếm tiền thật. Mà còn đếm rất giỏi là đằng khác. Tiền triệu tiền trăm khá đều đếm được. Mấy năm nay khá giàu lên rất nhanh. Khá giàu lên nhờ việc mua bán những ngôi nhà sàn ở thung lũng Si Dồ. Thời mới mở cửa người Mường thi nhau bán những ngôi nhà sàn. Người có tiền thì cảm thấy ở nhà sàn vừa không sang trọng vừa bất tiện. Thế kỷ thứ hai mươi mốt rồi kinh tế đã hòa nhập toàn cầu rồi. Những ngôi nhà sàn quả là lạc hậu. Quả là rất Mường nên đã bán đổ bán tháo trước khi bơi nống ra đường lớn để xây dựng lên những ngôi nhà bằng gạch hình vuông chật hẹp như cái quan tài. Kẻ có rủng rỉnh tiền thì xây hẳn ngôi nhà hai tầng thậm chí ba tầng nền lát gạch hoa tường lăn sơn sáng choang. Kẻ nghèo túng buổi sáng ăn cơm độn sắn buổi tối ăn bột ngô đồ thay cơm cũng tí tửng bán tống ngôi nhà sàn do ông cố ông cụ để lại với giá rẻ bèo bọt rồi cộng thêm với với tiền vay xóa đói giảm nghèo để mua gạch loại gạch vênh gạch sứt mẻ với những bao xi măng để xây cho được một gian nhà hộp lợp ngói bờ lô xi măng cho bằng chòm bằng xóm. Những ngôi nhà như thế nếu ông trời rủ lòng thương cho thì cũng tạm gọi là nhà. Nếu trời trở mặt thổi cho một cơn bão cấp mười một mười hai hoặc quăng ném cho một trận lũ quét sơ sơ thì cũng đổ cũng sập tan tành. ấy là chưa kể đến tiết trời tháng sáu tháng bảy nắng như đổ lửa. Những cơn gió Lào tràn đến mái nhà lợp ngói  bờ lô xi măng bị nung nóng ngôi nhà hầm hập như cái lò bát quái. Cái lò bát quái đó nung nóng nướng khô cả da thịt những đứa trẻ đã quen lê la trên những gian nhà sàn. Những ông già bà lão vốn đã rất quen ngả lưng trên sàn của những ngôi nhà gác rộng thênh thang sau một ngày lao động cật lực trên rẫy dưới ruộng. Chỉ sướng cho khá Chồi. Chả cần gì đến vốn liếng vẫn lãi lớn thắng đậm. Lúc mới khởi nghiệp đến một đồng hào dắt lưng cũng không có nói gì đến tiền triệu tiền trăm! Thế mà chả mấy năm khá đã trở thành ông chủ lớn ở thung lũng Si Dồ.
Khá Chồi vốn là con trai của một ậu mo ở Mường Phạng. Năm tuổi khá đã theo cha đi mo khắp thung lũng Si Dồ. Từ Mường Dồ Mường Rặc cho đến Mường Ca Da Mường Búng chỗ nào có người Mường là chỗ đó có dấu chân hai cha con ông ậu mo Mường Phạng. Khá Chồi tuy không được học hành nhưng là một đứa trẻ sáng dạ. Những năm tháng theo cha đi mo ở các Mường khá cũng được học nhiều điều. Những đêm mo Mường đem đến cho khá niềm vui khá đã nhập tâm và đã thuộc ngàn câu mo của ông ậu già cha khá vì thế khá càng thêm yêu thêm quý những gì mà người Mường có. Làm nghề ậu mo ở những ngôi làng nghèo kiếm đủ ngày ba bữa cơm ăn đã tốt lắm rồi còn nói gì đến chuyện tiền nong? Khá Chồi đâu có nghĩ đến chuyện kiếm tiền ở những người nghèo? Khá cũng không nghĩ đến việc buôn bán. Nhất là lại buôn bán những ngôi nhà sàn một thứ mà khá Chồi coi như là một bảo vật vô giá của người Mường nhưng rồi cái gì đến cũng đã đến! Những ngôi làng khuất nẻo nhất của những vùng rừng sâu hun hút ở thung lũng Si Dồ cũng đã bị lớp sóng dữ dội của cơn bão đô thị hóa ập đến vì nền kinh tế thị trường thời mở cửa. Những con người chất phác hiền lành bỗng nhiên trở nên phát cuồng vì tiền. Có tiền thì ai mà chẳng muốn! Có tiền đời sống đỡ nhọc nhằn hơn được ăn ngon hơn ngủ ấm hơn. Nhưng cũng để có tiền thì con người ta trở thành vô tình và thô bạo kể cả với nền văn hóa hát xường mo Mường nhà gác nước vác cơm đồ đã tồn tại từ thời Đẻ Đất đẻ Nước của xứ Mường trong! Chỉ vài năm nhà sàn ở thung lũng Si Dồ bị chảy máu ồ ạt. Người ta thay thế nhà sàn  bằng những ngôi nhà hình hộp nghèo nàn và đơn điệu khiến cho một kẻ thất học như khá Chồi cũng cảm thấy đau lòng.
Người Mường Phạng bảo: Từ một gã mo Mường qua một đêm khá Chồi đã trở thành ông chủ lớn. Quả không sai! Khá Chồi mù chữ tay trắng chân đất bỗng nhiên thành người giầu có ở thung lũng Si Dồ thật là một chuyện khó tin nhưng lại là chuyện thật. Thật cả trăm phần trăm. Khá Chồi cũng thấy khó tin. Những lúc say Khá thường làu bàu: Khá không làm cái việc vô tình thất đức ấy thì kẻ khác cũng làm. Nhiều thằng làm là cái chắc! Sở dĩ khá làm nghề săn tìm mua rẻ bán đắt những ngôi nhà sàn là vì khá giận những kẻ quay lưng lại với dân tộc Mường của khá. Khá bảo thế. Ai tin thì tin không tin cũng thây kệ!
Khá không có tiền làm vốn. Chẳng sao! Khá đã có gan. Cái gan của khá là tay không có tiền đã đành chân cũng không giầy không dép nốt. Buổi ban đầu lập nghiệp đôi chân to bè với những ngón chân tòe rộng kềnh càng như chân của một kẻ mắc bệnh phù thũng của khá cứ nện bình bịch trên những con đường làng ngoằn nghèo quen thuộc ở khắp vùng thung lũng Si Dồ. Chưa qua hết một mùa rẫy tính từ khi khá Chồi đổi nghề ậu Mo thành nghề đi buôn người trong Mường trong thung đã thấy khá cưỡi trên con Min Khờ đỏ như máu long chóc như núi bị lũ quét phun khói mù mịt như những đám cháy rừng tiếng nổ inh tai nhức óc như cả một rừng vầu rừng bương bị đốt lao thẳng vào cổng rồi chui tọt vào khường những ngôi nhà ám đen khói bếp đã qua mấy đời người quây quần tíu tít rồi tử sinh và tồn tại bây giờ đã hết duyên với người Mường. Cái thời oanh liệt của những ngôi nhà sàn đã hết nên người Mường thi nhau bán. Khá nhìn thấy những ngôi nhà gác bị tháo dỡ bị hắt hủi khá rất đau lòng. Nhưng đau lòng thì cũng có làm gì được. Thế là khá nẩy ra ý nghĩ phải mua ngay. Khá mua. Mua giá rẻ như cướp không nhưng không bán cho khá thì biết bán cho ai? Khá đố thằng nào có thể vào mà mua nổi một ngôi nhà qua mặt khá. Có họa thằng đó có lá gan to bằng gan trâu bou. Sự tình đã thế nên sau khi đã bán người ta chỉ còn biết thể hiện sự luyến tiếc của mình bằng cách đổ lỗi cho khá Chồi. Người trong Mường nói với nhau: Khá Chồi là tên Mường hôi là thằng kẻ cướp là đứa không biết đạo Mường là gì. Khá Chồi chỉ nhếch cái miệng đồng xu lên cười. Thế mới biết trong huyết quản của một gã nghệ nhân mù chữ cũng có máu của một tay thảo khấu giang hồ. Khá Chồi ném cái thông nhãng đựng chuông đựng kháng của thầy mo vào góc nhà. Chụp cái mũ phớt bằng dạ xám đắt tiền lên đầu. Ngoắc thêm đôi kính mắt to gọng vàng vào mặt. Mặc bộ com lê đồng mầu có thắt chiếc cà vạt nhập ngoại lên cổ ngồi trên chiếc Lăng cu dơ bóng loáng do một thằng ngắn cũn cỡn béo ục ịch tóc bờm xờm như gấu đực cầm lái thì chả còn ai biết đó là một thằng mù chữ. Khá là một ông chủ. Một ông chủ lớn. Sự đổi đời của khá Chồi là một minh chứng cho sự tiến hóa sau khi đã chối bỏ bản thể của mình khiến cho khối thằng có chữ tròn xoe hai mắt rồi cuống cuồng lên như kẻ phát dồ. Còn khá thầy Mo đó lại một lần nữa nhếch cái miệng đồng xu lên mà cười. Nụ cười của khá Chồi thật sự làm cho những người nắm giữ những trọng trách nặng nề trong Mường trong thung mất cả phương hướng. Khá là kẻ xấu. đành thế. Nhưng khá còn là một thằng liều. Dây vào thằng liều thì chả đáng. Với lại các Lang các Tạo thời nay đâu có sạch sẽ gì? Trong khi các vị còn chưa tìm ra được câu trả lời thì khá Chồi vẫn tiếp tục làm mới mình. Khá ngồi trên xe ô tô rong ruổi khắp thung trong Mường ngoài. Khi chiếc xe đi đến một đích nào đó rồi chui tọt vào khường của ngôi nhà khá đã chấm số. Chiếc xe dừng lại lập tức có một thằng cao lêu đêu chân tay dài như chân tay voọc cái đầu trọc lốc từ trong xe chui ra khom lưng mở cửa. Khá Chồi đĩnh đạc thò một chân giầy bóng lộn ra rồi đĩnh đạc bước xuống. Chưa thèm để ý đến khổ chủ. Khá Chồi ngó nghiêng soi mói nhìn khắp lượt ngôi nhà thấy vừa ý khá lại nhếch cái miệng đồng xu lên cười rồi nháy mắt với thằng đầu trọc cao khều. Thằng đầy tớ vội vàng ôm theo một cái cặp màu đen đứng nép ngay đằng sau chủ. Cả thung lũng Si Dồ đều đã quen với chiếc cặp của ông chủ Chồi. Chỉ có một điều họ không hề biết. Đó là trong cặp không có tiền. Trong cặp chỉ toàn là những tờ giấy vẽ loằng ngoằng với những dấu chữ thập bị nhốt trong cái vòng tròn méo mó do bọn đàn em đưa cho khá. Những đường vẽ loằng ngoằng đó là những ngôi làng và những đường đi lối lại trong làng. Những dấu chữ thập trong cái vòng tròn méo mó đó là những ngôi nhà sàn mà chủ nhà đang muốn bán. Ngoài những tờ giấy đó ra thì trong cặp toàn là quần đùi áo lót với những đôi tất bẩn thỉu thối hoắc. Thằng vượn cái lúc nào cũng ôm cái cặp khư khư. Hắn ôm cho oách. Bởi vì khá muốn cho thiên hạ tin rằng khá đem theo rất nhiều tiền trong các vụ làm ăn? Có tiền nên khá mua bán sòng phẳng. Thật ra khá Chồi đâu có cần tiền trong các vụ làm ăn? Vẫn như cái thời chân đất lội bộ khá chỉ việc xem nhà cò kè bớt một thêm hai rồi ngã giá. Khách mua từ dưới xuôi lên từ tỉnh khác đến phải qua tay khá. Giao tiền cho khá. Khá trả tiền mua rồi cho người tháo dỡ xếp lên xe cứ thế người mua yên tâm lên đường đi đến nơi về đến chốn. Nếu không qua tay khá thì cứ liệu hồn! Nếu không lật xe cũng thủng xăm nổ lốp. Khá Chồi thì tha hồ cười khá cười rất hả hê. Khá lại thắng to lời lớn. Lời gấp đôi thậm chí gấp năm sáu lần so với số tiền của kẻ bán nhà.
Trước khi đến nhà Thi. Khá Chồi đã bán ngôi nhà của anh ta. Chuyện lạ! Nhưng lại là chuyện thật. Thật như chuyện hết đêm thì trời sáng.  Đó mới là Khá Chồi. Khá kiếm tiền theo cách riêng của mình. Khá đâu có đi ăn cướp? Có một dạo báo đưa hẳn tên khá lên trang nhất. Báo viết rằng khá là một người biết vượt lên số phận. Biết vươn lên làm giàu. Đã đem đến công ăn việc làm cho những người nghèo vân vân và vân vân... Tay nhà báo còn mô tả cái việc khá đi làm ậu mo như một tên lừa bịp một thằng đào mỏ một đứa chuyên đi truyền bá mê tín dị đoan. Thật ra đi làm ậu mo là giúp người ta về mặt tinh thần. Khá đã học được những bài thuốc quý của người Mường từ cha là ông ậu mo già. Mường nào có người già ốm đau hay qua đời. Bếp nào có trẻ con bị sốt mùa Lào hay hậu sưởi mọc hoa thường mời khá đến. Khá đến nhà cũng chỉ sơ sài con gà đĩa xôi chai rượu để buộc vía cho người già. Vía có trở về hay không thật ra khá cũng không rõ lắm. Nhưng cái chính là những bài mo nhưng câu thơ cổ lấy lại tinh thần cho những người Mường của thời quá khứ trước sự mất mát do thế hệ sau quá lãnh đạm và thờ ơ với cuội nguồn. Những đùm thuốc lá của khá Chồi thì giúp cho những đứa trẻ nghèo và những người ốm đau qua cơn nguy hiểm. Khá đi làm phúc nhưng đã nhiều lần khá bị các vị chức sắc gọi đến để đả thông tư tưởng bằng những bài thuyết giáo dài như sông như suối về nếp sống văn minh tiên tiến của ta của Tây nhưng thật sự cũng chắng có gì đáng nghe. Cũng có nhiều bận khá bị bắt và bị điệu đi khi đang mo ở một đám ma. Khá không buồn mà chỉ thương cho tang chủ bởi vì cái giá trị tinh thần trước những con mắt của các nhà chức sắc thời mới không còn đáng một xu. Khá thở dài ngao ngán. Khá bỏ luôn nghề hái thuốc giã từ luôn nghề ậu mo cha truyền con nối của nhà họ Hà.
Khá lột xác từ một thầy lang từ một nghệ nhân hiền lành chân đất hay giang tay giúp những kẻ nghèo khó khi gặp ốm đau bệnh tật để trở thành một gã lái buôn xảo trá mưu mô và đầy tham vọng nhanh đến nỗi chính khá cũng không hiểu nổi. Còn một điều nữa khiến khá cũng không hiểu nổi: Khi còn làm nghề thầy mo và hái thuốc chữa bệnh giúp người nghèo khá chả bao giờ ngửa tay lấy một đồng tiền khá bỏ công sức leo đồi trèo núi để tìm lá thuốc về chữa bệnh cho người ốm bằng tất cả tấm lòng của khá. Hoặc khá thức trắng đêm để mo bên cạnh đệm nằm của người ốm bằng sự yêu thương thật sự thì bị chính quyền bắt bẻ ngăn cấm. Nhưng khi khá xỉa ra mấy trăm bạc cho công việc gì đó mà các chức sắc trong Mường trong thung đề ra với thái độ kẻ cả hằn học của một người ban phát ân huệ thì được tung hô như một vị anh hùng.
Thời mới mở cửa khá cũng bắt chước những vị lãnh đạo trong Mường trong thung chạy xổ ra mé đường lớn cắm vài cây cột bằng gỗ tạp lên một miếng đất lớn để xí phần. Ban đầu khá Chồi cũng chỉ nhận vu vơ thế. Bởi vì cán bộ trên xã dưới làng mổ xẻ toàn những khu đất vàng đất bạc để chia nhau. Tội gì khá không kiếm cho mình một chút? Nhưng khá Chồi chả có quyền chức gì nên bị người ta o bế đến ngạt thở để đòi lại cho bằng được miếng đất khá thấy ưng mắt để tặng để biếu những người cao hơn nữa khiến cho khá phát khùng: Những kẻ có chữ đầy mình lại đang nắm giữ luật pháp trong tay mà đương nhiên làm những việc tồi tệ như thế thì xá gì một kẻ mù chữ và điếc luôn cả pháp luật như khá? Khá quyết không trả lại đất. Khá đếch cần tính đến điều phải trái! Khá biết thừa những kẻ có máu mặt lại có máu tham vốn dị ứng những thằng liều. Vì thế khá cũng quyết liều một phen.
Mãi rồi các quan tham cũng phải ngồi mà suy ngẫm: Cái giống xèo ngu ngốc mỗi bận trời chỉ cho đẻ ba con. Ba anh em xèo con mới lọt lòng mẹ nhưng đứa nào cũng tham con nào cũng muốn được nằm giữa. Chẳng con nào chịu nhường nhịn con nào. Suốt ngày suốt đêm chúng cắn nhau chí chóe để dành vị trí nằm giữa ấm áp. Tranh nhau cho đến lúc sức tàn lực cạn. Cắn xé nhau cho đến sứt đầu tróc da. Con nào mạnh con đó mới sống sót. Sống sót nhưng cũng thương tích đầy mình. Con người kém con xèo cái đuôi nhưng lại hơn con xèo đôi đũa. Chả dại gì dây dưa với thằng liều! Tránh voi không sợ bẽ mặt mới là thằng khôn! Đất rừng đất núi nhiều vô kể nhường cho thằng Chồi mấy nghìn mét vuông đâu có thấm tháp gì? Nằm cạnh nhưng vẫn có phần lại tránh được những vụ kiện tụng. Họ xuống thang. Thế là khá Chồi lấn được bước đầu tiên.
Có được những miếng đất vàng đất bạc bên lề đường lớn vợ con họ hàng lũ tham quan bèn thỏa mãn cơn khát tiền bằng cách mở quán xá để làm ăn buôn bán. Quán karaôkê quán bia. Những tụ điểm chiếu phim chưởng phim tươi mát mọc lên như nấm sau mưa. Những quán hàng tụ điểm đó cứ sức hút ghê gớm. Chúng hút những đứa trẻ những thằng choai choai những con bé đỏng đảnh lười học đến. Những cái bàn trong các lớp học thưa thớt dần. Khá Chồi lại nhếch cái miệng đồng xu lên cười. Một ý đồ vụt lóe lên trong cái đầu rỗng chữ nhưng đặc sệt sự đau đớn luyến tiếc và hằn học của khá Chồi: Tại sao không làm ăn lớn nhỉ? Phải biến cái ngã ba này thành một trung tâm thông tin đại chúng để dễ bề thâu tóm giá cả hàng hóa mới được!
Thế là sau dăm bảy vụ buôn bán nhà sàn bằng nước bọt thắng đậm lãi to có được rủng rỉnh tiền trong tay khá Chồi gọi mấy thằng đang la cà ở các quán karaôkê quán bia tụ điểm phim chưởng và cả những thằng mới mãn hạn tù về dưới trướng và tuyên bố thành lập doanh nghiệp Chồi Xanh. Để mở rộng kinh doanh khá Chồi mở thêm cửa hàng ăn uống. Trên thực tế là quán thịt chó. Còn gì bằng! Bọn đàn em ủng hộ trăm phần trăm! Công việc ở quán thịt chó còn lâu mới khó nhọc bằng việc đi rừng đi rẫy. Lại sẵn lòng chó tiết canh! khá Chồi xuống phố huyện thuê hẳn một cặp vợ chồng đầu bếp có tiếng từ thời Mậu dịch quốc doanh lên pha chế nấu nướng áp chảo kho xào rán luộc. Bọn đàn em được khá nhặt về làm ăn gọn gàng sạch sẽ. Ngoài việc bưng bê bọn chúng còn làm tai làm mắt cho khá Chồi. Quả thật quán thịt chó của khá Chồi đã rẻ lại ngon. Khá mua được khá nhiều những con chó nòi chó cưng. Những con chó được ăn cơm trắng ngủ đệm mút béo nung núc bị lũ người túng tiền chọc bi a xem phim chưởng bao gái hát karaôkê bắt trộm đem đến bán. Chúng bán rẻ như cho vì thế quán cầy tơ bẩy món của khá Chồi chả mấy chốc mà nổi tiếng khắp Mường trên thung dưới. Thậm chí vượt qua cả vòng cung núi thâm u của thung lũng Si Dồ mà bay theo các ngả đường thiên lý. Khách từ Nam ra Bắc vào Đông lên Tây xuống đều dừng chân ở ngã ba Mường Phạng để ghé vào quán của khá Chồi mà ăn uống. Khách đông. Tiền chảy vào túi khá Chồi như nước suối mùa lũ chảy vào sông lớn. Gia đình bọn đàn em của Khá Chồi có lương đều đặn hàng tháng nên đời sống cũng được nâng lên. Tỷ lệ hộ nghèo ở Mường Phạng hạ xuống. Tiếng tăm của ông chủ Chồi nổi lên. Nhưng cái được của khá Chồi đâu phải là tiếng tăm đó? Khá chỉ cần được cái mình cần. Những chức sắc trong Mường thường xuyên đến quán khá Chồi sau khi đôi môi đã nhờn mỡ chó là thi nhau thổi phồng tên khá Chồi lên như quả bươn quả núi. Chẳng bao giờ các quan Tạo quan Lang đời mới đó biết được rằng khá Chồi đã dặn bọn đàn em dọn cho các quan toàn thịt chó già chó ghẻ. Thậm chí là đồ ăn thừa của khách hâm lại. ăn vèn ăn không trả tiền thì như thế cũng đã là khá lắm rồi. Cái nữa mà khá Chồi cần cũng thật là bội thu: Đó là tin tức. Nhưng ông chủ lớn từ thành phố lên mạn ngược làm ăn buôn bán cũng thường xuyên dừng lại quán khá Chồi. Đường từ thành phố lên tới ngã ba Mường Phạng dài hơn trăm cây số nên cũng vừa đến bữa phải ăn. Vì thế gặp được quán ăn ngon uống ngon cũng táp ngay vào. Rượu bia nhập khẩu lập tức ngôn từ được xuất ra. Những chuyện mua bán được đem bàn ngay bên bàn rượu thịt nên lọt gọn vào những đôi tai được bồi dưỡng bằng tai chó nên cũng thính nhạy như tai chó của bọn đàn em khá Chồi. Nếu là chuyện mua quan bán chức mua gái bán dâm. Buôn hàng quốc cấm gì gì đi nữa khá Chồi cũng thây kệ. Khá không thèm giây với pháp luật. Nhưng nếu là chuyện về những ngôi nhà sán thì lập tức khá Chồi xấn đến. Khách hỏi thăm giá cả và địa chỉ những ngôi nhà sàn. Khá bèn cười vang rồi bảo với khách rằng "Ngôi nhà đó là của tôi. Tôi đã mua rồi. Tôi cũng đang cần bán giá cắt cổ đấy!". Khách không tin. Khá Chồi gọi thằng vượn cái ôm cái cặp đen bóng đến trước mặt chủ. Khá Chồi mở cặp ném xoạch xuống bàn những thứ giấy tờ và bán có chữ ký có giá tiền. Có tờ giấy nhận tiền giao nhà. Khách không tin đâu có được? Thế là cuộc mua đi bán lại ngã giá ngay trên bàn la liệt thịt chó mắm tôm bia rượu. Chóng vánh đến lạ thường... Khá Chồi lại thắng. Khá lại ăn đậm vớ bẫm. Nhưng có ai mà biết được? Trong thâm tâm khá rất buồn. Khá vừa bán linh hồn mình. ở những thành phố lớn người ta ở tầng biệt thự lâu đài lại phải đi xa cả trăm thậm chí cả mấy trăm cây số để mua nhà sàn về thành phố dựng lên mà đón khách Tây khách Tầu. ấy thế mà vùng Mường của khá người ta lại quay lưng lại với chính ngôi nhà của mình. Lại bán đổ bán tháo di sản mà tổ tiên người Mường gìn giữ cả nghìn năm. Người Mường không có văn tự riêng. Trẻ con đi học không được học chữ của dân tộc mình. Người Mường chỉ còn lại những ngôi nhà gác để duy trì nền văn hóa của mình cho thế hệ sau. Nhưng những ngôi nhà gác đang bị đem bán rẻ như cho nào có khác gì người ta đang bán chính mình. Đau lắm chứ? Nhưng biết làm sao được bây giờ? Khá Chồi cũng chỉ còn biết tát nước theo mưa! Những lúc say. Khá Chồi thường kể cho bọn đàn em một câu chuyện khiến khá rơi nước mắt. Khá Chồi khóc những thằng đàn em cũng khóc. Chuyện rằng: Lần ấy khá Chồi đưa một người anh họ đi Hà Nội để chữa bệnh ung thư. Vừa mới xuống tàu ở ga Hàng Cỏ khá Chồi còn đang ngơ ngơ ngác ngác vì chưa biết chọn con đường nào mà đi trong vô số những con đường của Hà Nội thì may mắn làm sao. Khá nhìn thấy một cô gái Mường Phạng đang đi với một đám bạn bè đông đúc. Cô nàng đã ra Hà Nội học đại học được hai năm. Chồi mừng quýnh khá sổ ra một tràng tiếng Mường để gọi cô gái Mường Phạng. Chồi thấy cô ta hơi đỏ mặt và không những không đứng lại cô gái Mường Phạng còn lẩn vào giữa đám bạn bè. Đang mừng khá Chồi không để ý đến thái độ của cô ta nên vẫn xấn đến đón đường đám thanh niên và dùng tiếng Mường Phạng để hỏi thăm đường đến bệnh viện K. Đứa con gái Mường Phạng đỏ bừng mặt rồi vặc lại anh chàng nhà gác khốn khổ
- Anh nói gì tôi không hiểu? Anh nhầm rồi! Thật vớ vẩn quá!.
Khá Chồi kinh ngạc nhưng vẫn nói bằng tiếng Mường.
- ơ này! Cô không nhận ra tôi à! Tôi là Chồi ở Mường Phạng đây! Cô là cô Lọn đúng không?
Cô Lọn phát khùng:
- Đồ điên! Lọn với lon gì? Tôi là Loan. Tôi là người thành phố. Tôi không biết ai là Lọn người Mường cả.
Khá Chồi lại ngẩn ra:
- Cô! Cô là người Thành phố... nào thế? Sao cô nói không giống tiếng người thành phố thế?
Một cô gái cùng đi trong đám thanh niên từ nãy tới giờ cứ lấy tay che miệng cười bèn lên tiếng:
- Anh à! Thành phố cũng có tầng vô...ô...ồng thôi ạ.
Một cậu thanh niên khác cũng cười:
- Đúng đấy anh ạ. Thành phố cũng có từng vùng. Người thành phố hầu hết họ cũng là những người thật thà chất phác. Thôi! Anh và bác lên xe tụi em sẽ đưa hai người đến bệnh viện.
Chàng trai vẫy hai cái xích lô đỡ người ốm lên xe. Cả bọn kéo nhau đi còn để lại một mình cô gái Mường Phạng đứng trơ trên đường phố.
Thật khốn nạn quá chừng! Sao mà cô ta có thể quên mình là ai được chứ? Cũng may là từ sau vụ đó Chồi không bao giờ còn gặp lại cô Lọn Mường Phạng nữa. Nghe nói học xong cô Lọn Loan xin được việc làm rồi lấy chồng Hà Nội. Anh chồng mắc nghiện rồi chết vì chích quá liều. Cô ta xin đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan rồi lại lấy chồng. Một ông chồng Đài Loan hơn bố mình sáu tuổi. Ông ta chết cô ta bị gia đình nhà chồng đem bán cho một người Đài Loan khác nghe đâu là một thằng ma cô. Bây giờ cô Lọn Loan sống nơi đất khách quê người thê thảm lắm.
Kể xong khá Chồi thường uống thêm một bát rượu đầy. Rượu vào cái cục tức trong họng tụt xuống. Khá lại khóc hu hu. Khá Chồi khóc làm cho mấy thằng đàn em thấy thương cảm quá cũng khóc rống lên Khá Chồi quắc mắt.
- Đồ chết toi! Bọn chết tiệt! Chúng mày tưởng thằng Chồi này thương con Voọc cái đó à? Không đâu!Tao thấy thật đáng đời nó. Ngu như lũ voọc chúng hay bắt chước người ta nhưng chúng vẫn giữ được bản chất của nòi giống nhà Voọc đằng này cái con Lọn đó nó đổi tên là Loan cũng không sao. Nó còn đổi luôn cả quê quán cả dân tộc nữa. Nó không còn muốn nhận mình là người Mường nữa. Tao... tao chỉ thương cho cái dân tộc Mường. Cứ cái đà này thì chả mấy năm nữa tiếng Mường cũng hết trang phục cũng không còn. Dân tộc này sẽ chẳng còn gì nữa.
Nói xong khá Chồi lại khóc ai nghe cũng cảm thấy đau đớn xót xa. Trước khi bán ngôi nhà của Thi Khá Chồi cũng đã khóc. Khá biết ngôi nhà đó. Biết từ lâu rồi. Biết từ thời khá còn làm nghề thầy mo. Khá đến ngôi nhà đó để buộc vía cho bà nội thằng Thi. Vừa bước chân vào khường nhà khá Chồi đã thích mê. Ngôi nhà thật sự là ngôi nhà Mường cổ. Khá Chồi đi đã mòn chân ở thung lung Si Dồ nhưng đây là ngôi nhà cổ nhất của người Mường thuộc xứ Mường trong. Ngôi nhà cổ không phải là nó đã hơn trăm năm tuổi và đã trải qua bảy tám thế hệ của một gia tộc đông đúc ở Mường Dồ. Ngôi nhà cổ ở chỗ nó được làm đúng như cách thần Rùa Vàng đã chỉ dạy cho người Mường mà trong mo Mường đã diễn tả. Ngôi nhà không giống nhà sàn của người Thổ cũng không giống nhà sàn của người Thái. Nó thật sự là nhà gác của người Mường. Nhưng người dựng lên ngôi nhà không hề dùng tới một mạch cưa hay một nhát đục. Tất cả cột kèo gác cang dầm sàn thậm chí cả ván làm vách ngăn cũng đều được gọt đẽo bằng rìu. Những thứ để tạo ra ngôi nhà cũng chỉ gác lên nhau chứ không hề có mộng có duỗn. Những chiếc cột bằng lõi lim dài hơn chục mét to đầy vòng tay ôm của khá Chồi cũng chỉ được gọt đẽo bằng rìu. Những nhát rìu đều tăm tắp đã chia vòng tròn của cây cột thành chín cạnh thẳng đứng. Giữa các cạnh thẳng đứng đều tăm tắp đó là những vết đẽo của rìu trông như những chiếc vẩy rồng được các nhà điêu khắc thời xa xưa đã gắn chìm vào thân gỗ một cách rất tài tình. Trải qua nhiều năm tháng những cây cột đã nhẵn bóng và ngả sang mầu nâu đậm nên trông những chiếc vẩy rồng càng trở nên sống động. ở đầu những cây cột đó nhưng cây gác cang bằng gỗ chò chỉ dài mút cả năm gian nhà được đặt vào cái mấu cũng được khoét bằng rìu tròn như nửa vầng trăng khuyết khít đến nỗi đổ một bát nước mà không giọt nào có thể lọt qua. Tất cả chỉ dùng rìu.
Khi nghe mấy thằng đàn em báo lại rằng: Có mấy người đi trên chiếc Huyn Dai từ Hà Nội vào dừng lại ở quán để ăn uống đang nói về một ngôi nhà sàn ở Mường Dồ. Ngôi nhà rất đẹp lại được làm toàn bằng loại gỗ quý hiếm. Những loại gỗ đó bây giờ có thắp đóm đi tìm khắp cả vùng rừng ở thung lũng Si Dồ cũng không thể tìm thấy khá Chồi giật nẩy mình. Khá nghĩ ngay đến ngôi nhà gác của Thi. Chúng nó nhất định đang nói về ngôi nhà gác cang của thằng Thi ở Mường Dồ! Khá Chồi thở hắt ra. Sau cú giật nẩy mình là nỗi buồn tê tái. Sau nỗi buồn tê tái là sự giận dữ ập đến. Sự giận dữ làm khá Chổi nổi cơn điên. Khá sấn đến bên bàn ăn của mấy ông khách người Hà Nội. Khá hỏi trống không. Giọng khá rất cao:
- Này! Nghe nói muốn mua nhà sàn hà?
Những người khách ngạc nhiên:
- Sao ông biết? Mà ông làm sao thế?
- Vì...Vì ngôi nhà đó là của tôi! Tôi đã mua nó rồi!
Mấy người khách nhìn nhau. Một người hỏi:
- Ông... Ông muốn bán lại à? Ông muốn bán bao nhiêu? Sao chủ ngôi nhà đó bảo không bán?
- Nó dám bán nhà của tôi à? Nó cứ liệu hồn liệu vía với tôi? Ông thích bao nhiêu?
Vẫn người khách đó:
- Chúng tôi mới mua một cái của người Thái ở Lũng cao giá ba chục triệu.
Khá Chồi chồm lên:
- Ông câm mồm đi cho tôi nhờ. Ba chục triệu của ông không mua nổi một cây cột nhà của tôi.
Một người khách khác đứng lên đến bên khá Chồi từ tốn nói:
- Chúng ta từ từ nói chuyện. Ông có nhà để bán. Chúng tôi cần mua. Thuận mua vừa bán. Có gì mà phải nóng. Ông cứ đặt giá. Thấy được thì chúng ta làm việc với nhau.
Khá Chồi ném vào mặt ông khách một tiếng khô khốc:
- Tám trăm triệu đồng!
Những cái miệng đang nhai nhồm nhoàm đống loạt há hốc cả ra.
- Tám trăm?
- Không kém một đồng!
Một cuộc cò kè bớt một thêm hai nẩy lửa. Cuối cùng ngôi nhà của Thi ở Mường Dồ được ngã giá bán bốn trăm triệu đồng. Trong thâm tâm khá Chồi cũng có phần nể phục những kẻ mua nhà. Họ biết giá trị thực của ngôi nhà hơn là chất lượng quý hiếm của các loại gỗ làm nên ngôi nhà đó.
Những người khách đặt cọc một trăm triệu đồng. Chồi cầm số tiền đặt cọc đến nhà Thi. Thấy khá Chồi xăm xăm lên thang Thi ngăn lại hỏi:
- Chồi à! Anh đến nhà tôi có việc gì thế?
Khá Chồi nháy mắt với thằng Vượn cái. Thằng đầu trọc mở cặp lấy ra một bọc tiền còn nguyên đai nguyên kiện đưa cho khá Chồi. Khá ném bọc tiền lên chỗ cửa vóng ngay trước mặt Thi.
- Một trăm triệu đồng đấy. Giá kỷ lục. Từ trước đến nay chưa có một ngôi nhà gác nào ở thung lũng Si Dồ giá cao như thế!
Thi nén giận. Mặt đỏ bừng:
- Chồi à! Cầm lấy tiền của anh đi. Tôi không bán nhà!
Khá Chồi ngạc nhiên:
- Sao thế? Chê rẻ à? Hay chú đã bán ngôi nhà này cho các ông chủ lớn từ thành Hà Nội vào với giá cao hơn rồi?
- Họ có đến đây! Đến nhiều lần rồi nhưng tôi không bán. Nhà tôi đang ở sao tôi lại phải bán chứ?
- Bây giờ có ai thích ở nhà gác nữa đâu. Mường Dồ Mường Phạng cả Mường Chiềng Mường Rặc nữa người ta đã bán hết nhà gác rồi. Chú giữ lại làm gì. Số tiền một trăm triệu đồng này thừa xây một ngôi biệt thự ba tầng đấy.
Thi điên tiết:
- Tôi không bán nhà và cũng không bao giờ bán. Tôi không cần ở nhà biệt thự hay nhà tầng nhà Tây gì đó như anh nói.
Khá Chồi hỏi lại:
- Vì sao?
Thi xuống giọng:
- Nếu bán ngôi nhà này thì tôi có lỗi với tổ tiên với dòng họ. Bán ngôi nhà này đi coi như tôi cũng chẳng còn gì nữa. Ngôi nhà là nhân chứng duy nhất của gia tộc họ Bùi ở xứ Mường này đã hàng trăm năm nay.
Khá Chồi nhảy dựng đứng trên sàn. Khá vỗ đùi đánh bộp một cái.
- Khá! Khá lắm! Mày đúng là một thằng trai Mường tốt. Lúc này mà mày vẫn còn biết mình là ai! Mày khá lắm Thi à! Từ nay mày sẽ là anh em tốt của Khá Chồi này.
Nói xong khá Chồi cười ha hả. Vừa cười khá vừa lấy gói tiền bóc ra đưa cho Thi một phần.
- Đây là mười triệu đồng. Mày mua lấy một con trâu cái mà nuôi. Trâu cái thì sang năm nó sẽ đẻ một con nghé. Nghé con rồi lại đẻ ra một nghé con nữa lúc đó mày sẽ hết nghèo. Còn thừa tiền thì tìm mua lá kè về mà lợp lại nhà. Thiếu bao nhiêu thì xuống báo cho anh một tiếng.
Thi trợn mắt lên nhìn khá Chồi. Thằng người vượn khẽ hỏi:
- Anh à! Anh sẽ ăn nói làm sao với những ông chủ người Hà Nội đó?
Khá Chồi mắng thằng người vượn nhưng giọng khá rất vui vẻ:
- Đó là chuyện của tao!

                                               Tháng Giêng 2008
                                                       H.T.C.A








More...

TRUYỆN NGẮN + THƠ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 

NGUYỄN CẨM HƯƠNG

Hoa dại

Truyện ngắn
 


            Nó không biết mặt cha đã đành vì cha nó đến ngay bà ngoại nó cũng còn không biết nữa là còn mẹ nó nó cũng chỉ  nhớ lờ mờ một khuôn mặt héo hắt lúc nào cũng đầm đìa nước. Nó không có tên vì có thể vì nó chưa hề có giấy khai sinh nhưng cả làng vẫn quen gọi nó là con Nhọ Nhem. Đúng hơn phải gọi là Lọ lem. Nhưng Lọ lem khiến người ta liên tưởng đến những cô bé xinh đẹp không may mắn trong các chuyện cổ tích xưa. Còn Lọ lem này đúng đến tận nghĩa đen.
Nhọ Nhem sống lắt lay qua ngày nhờ sự chạy ăn từng bữa của bà ngoại lại xấu xí đến mức toát mồ hôi. Toàn thân nó không trừ gương mặt nham nhở những vết chàm đen kít như bồ hóng lại sùi dày lên như da trâu. Rồi trên cái đám da trâu đó mọc lởm chởm những chiếc lông dài và cứng. Khuôn mặt nó cũng bị biến dạng theo sự nổi loạn của các bộ phận tri giác. May mà nó sinh ra ở cái thời tân tiến  chứ cứ như ngày xưa người ta đã gán cho nó đủ thứ giống ác quỷ rồi. Cũng còn may nữa là nó vẫn đầy đủ một cơ thể của một con người  và một bộ óc tỉnh táo. Nhọ Nhem được đến 13 tuổi thì bà ngoại mất. Có lẽ bà nó cũng không cố hơn được nữa. Nuôi nó qua được cái tuổi thơ là tốt lắm rồi. Mà thực ra Nhọ Nhem đâu có biết tuổi thơ là gì. Nó không được đi học không có bạn. Chẳng lẽ tuổi thơ chỉ là những buổi ngồi ủ rũ cùng với con Vện vừa xua ruồi vừa ngáp ngắn ngáp dài chờ bà đi làm  đồng về xem có kiếm được cái gì bỏ vào miệng không?. Của đáng tội trong ký ức ngây thơ tỉnh táo của nó cũng còn lưu lại một chút hình ảnh về cái ngày đi học đầu tiên ấy. Đó là năm nó tròn 7 tuổi cũng háo hức như mọi đứa trẻ biết rằng mình đã đến tuổi đến trường. Bà ngoại sắm cho nó một chiếc áo mới vài quyển vở và một cái bút rồi dẫn nó đến trường. Nhưng nó nhận ra bọn trẻ nhìn nó bằng con mắt sợ hãi có đứa còn khóc toáng lên đòi về vì không dám vào lớp. Cô giáo phải xếp nó ngồi vào bàn cuối nhưng chẳng có đứa nào dám ngồi cùng bàn với nó. Thành ra lớp thì đang chật chội mà nó lại thong dong một mình một bàn. Phụ huynh thắc mắc cô giáo khó xử thế là bà nó đành phải dắt nó về trước cái nhìn buồn bã trong veo của nó. Tuy vậy Nhọ Nhem cũng không đến nỗi  mù chữ. Bà ngoại xin mấy quyển sách cũ của mấy đứa đã học qua rồi gặp ai bà cũng nhờ dạy hộ cho Nhọ Nhem. Bà chỉ còn thở dài mỗi khi nhìn nó đang lớn lên từng ngày mà những đen vẫn không ngừng thuyên giảm như một sự nhẫn tâm của tạo hoá. Ký ức của Nhọ Nhem còn là những buổi tối mùa đông buốt giá hai bà cháu lọt thỏm trong đống rơm khô. Bà thì thầm kể về người mẹ đáng thương của nó. Té ra mẹ nó  là một cô gái  xinh đẹp giỏi giang ra trò. Mẹ nó học hết cấp ba rồi đi TNXP vào chiến trường miền Nam. Nhưng chưa kịp giải phóng mẹ nó đã trở về mang theo nó trong bụng. Mẹ sinh nó trong một hoàn cảnh vô cùng khổ sở vì không chồng mà chửa là một tội nặng ghê gớm. Mẹ phải trốn khỏi con mắt khinh bỉ của xóm làng để đến một bản của người Mường nương náu. Thật không may Nhọ Nhem lại không bình thường nên mẹ bị đuổi khỏi bản vì họ cho rằng đó là ma quỷ. Mẹ lại bồng Nhọ Nhem về quê ở với bà ngoại. Bà ngoại lúc nào cũng sẵn sàng bao bọc cả hai mẹ con. Nhưng mẹ nó phải đi làm không được làm ở làng thì phải đi xa. Mẹ nó theo bè đi buôn luồng nứa tận phía thượng nguồn về dưới xuôi. Rồi một trận bão lụt  năm đó to lắm người ta vớt được xác mẹ  bị vướng vào một đám rễ cây tận phía hạ nguồn. Nghe đã bao nhiêu lần mà lần nào Nhọ Nhem cũng khóc ướt đầm cả tóc chỉ mỗi tội nó không nấc thành tiếng nên bà nó không biết. Có một điều Nhọ Nhem vẫn thắc mắc mà không dám hỏi bà là tại sao mẹ nó xinh đẹp thế mà nó lại xấu xí thế này. Mãi mãi  nó sẽ chẳng bao giờ hiểu được.
Nhọ Nhem khóc bà đến khô khốc hai con mắt nhưng rồi nó cũng hiểu rằng  nó phải tự bươn chải để nuôi thân. Trước tiên là phải ra đồng tìm kiếm cái ăn. Bà nó mất nên ruộng khoán cũng chẳng còn nó thì chưa đủ tuổi nhận ruộng vả lại nó cũng không có tên trong sổ hộ khẩu của làng. Nó chỉ còn cách mót củ khoai củ sắn mò con cua con ốc lót  bụng. Bà con có người thương xúc cho rá gạo trả công nó gặt giúp. Nhọ Nhem không đến nỗi đói lắm. Nhưng nó đau khổ hơn nhiều vì nhận ra nó không thể hòa nhập được với cộng đồng. Thấm thoát nó đã trở thành thiếu nữ nhưng nó nghe người ta kháo nhau. “Đi ban đêm mà gặp phải con Nhọ (bây giờ người ta chỉ gọi nó là con Nhọ thôi) thì hồn vía cứ là lên mây”. Dầm sương dãi nắng mãi rồi cũng có lúc trở trời. Con Nhọ lăn ra ốm. Nó nằm trên cái chõng tre ọp ẹp run cầm cập đã ba ngày không ăn uống thuốc thang. Bà Tâm cách nhà nó một hàng rào ngó sang thấy không đèn đuốc khói than gì cả thì chạy sang đặt bàn tay lên người con Nhọ mới biết nó nóng như hòn than. Bà ra trạm xá xin thuốc rồi nấu nước lá lẻo cho nó uống vậy mà nó mát dần nhưng người còn yếu lắm không đi lại được. Bà lại vẫn phải chạy đi chạy lại chăm sóc nó khi thì bát cháo lúc củ khoai. Người làng thấy bà chăm sóc nâng giấc con Nhọ cũng có ngưòi thở dài chép miệng “Cũng tội cho con Nhọ nó chỉ xấu xí chứ có hư đốn gì đâu bà Tâm làm vậy là phải cứu một ngưòi phúc đẳng hà sa” nhưng cũng có người lại nhăn mặt đai giọng “Thừa hơi đi chăm cho cái giống vô loài nửa người nửa ngợm ấy. Từ hồi làng có con Nhọ tới giờ trai làng khác cấm có thấy bén mặt đến làng này tìm vợ”.
Bà Tâm chả để ý lời ra tiếng vào cứ lặng lẽ chăm sóc con Nhọ. Mỗi lần đụng tay vào những mảng lông đen sần sùi bà lại thấy đau buốt trong tim cứ nghĩ tại sao trời phật lại tệ bạc với một đứa con gái hiền lành  như thế này là vì cớ gì. Bà lên ủy ban xã xin cho con Nhọ được có tên trong sổ của làng để nó được quyền làm một công dân được nhận ruộng khoán được đóng góp với làng ... Nhưng nguyên tắc vẫn cứ là nguyên tắc. Con Nhọ không có giấy khai sinh không có tên tuổi. Mặc dù nó là cháu bà Ngoan con cô Ngà thật đấy nhưng mẹ nó đã đi thoát ly trở về làng  không có giấy tờ giấy tiếc gì cả đứa bé lại không cha. Vậy thì nó là đứa không phải ở thế gian này rồi. Bà Tâm ít chữ làm sao mà hiểu hết được các nguyên tắc hành chính nên bà lại lầm lũi quay về nuốt sự chua xót cho con Nhọ vào trong lòng. Nhưng con Nhọ đâu cần những thứ ấy nó đang sung sướng vì cảm nhận được một cái gì đó rất ấm áp từ  bà Tâm từ cái ánh mắt  trìu mến thương cảm như ánh nhìn của bà ngoại nó. Từ bàn tay xoa vuốt êm ái lên cái thân thể kinh dị của nó. Lắm khi con Nhọ cứ mường tượng đó là mẹ nó. Nó chưa bao giờ hiểu được sự săn sóc của người mẹ là như thế nào tất cả chỉ có  bà ngoại từ khi nó vừa dứt khỏi bầu vú mẹ. Bây giờ bà nó cũng đi rồi nó thèm một bàn tay xoa vuốt êm ái lên cái thân thể đau đớn của nó lắm. Con Nhọ đã khỏi sốt nhưng còn yếu  chưa thể nhắc tay nhấc chân làm việc gì được. Bà Tâm vẫn đều đều bưng cơm cháo sang cho con Nhọ. Bà làm điều này thực ra cũng phải giấu giếm đám con. Chờ chúng đi làm đồng cả bà mới dám sang. Bà thường viện cớ ăn sau để có cơ hội bớt chút khẩu phần của mình.
Hôm đó bà Tâm vội vàng trút mấy củ khoai mới luộc còn nóng hôi hổi vào cái rá của  con Nhọ rồi tất tưởi quay ra vì nhà bà hôm nay bận đập lúa. Ra đến sân bỗng bà nghe thấy có tiếng gọi: “Mẹ ơi!” rất nhỏ nhưng tha thiết từ phía trong nhà vọng ra. Ai gọi thế nhỉ bà Tâm thấy rờn rợn hình dung ra có thể là mẹ con Nhọ hiện về với nó. Bà vội vã rảo bước như chạy nhưng rõ ràng tiếng con Nhọ vẫn vọng ra như cầu khẩn. Hôm sau bà xác minh lại nhưng con Nhọ khẳng định nó chưa hề gọi như thế bao giờ. Bà Tâm hoang mang nhưng bà bỗng thấy thương con Nhọ ghê gớm quả thật nó chưa bao giờ được gọi một tiếng mẹ lẽ nào nó lại có thể gọi tha thiết như thế. Đến con bà mà cũng chỉ gọi bà bằng những tiếng cộc lốc giật giọng: “U”.
Tục ở làng cứ vào vụ gặt là phải ăn một bữa cơm gạo mới  thật linh đình có mổ lợn tát ao. Cả làng chia nhau thịt lợn gọi là đánh đụng mỗi nhà một ít thịt về không phải thái vì nó đã được thái nhỏ chia đều đến mức mỗi nhà đều được một tý thủ tý chân đến tý đuôi. Nói chung là đầy đủ không ai có thể thắc mắc. Cả nửa năm mới có một tý nhờn miệng nên ai nấy hỷ hả lắm. Bà Tâm vẫn đảm nhiệm cái chân cấp dưỡng cho đám thợ gặt nên có quyền để bớt xén. Bà cẩn thận giấu vài miếng thịt vào gói cơm bọc lá chuối chờ cả nhà ăn xong đi làm  thì bà mới đem sang cho con Nhọ. Nhưng chả hiểu thế nào bà lại tong tong chạy sang nhà nó trước. Bà vừa bước ra khỏi ngõ thì gặp đứa con gái cũng bằng tuổi con Nhọ đi học về nó nhìn cái đùm bà đang ôm trước bụng quắc mắt hỏi bà Tâm lúng búng nói chẳng ra  môn ra khoai gì làm cái Gái sinh nghi. Nó bí mật đi theo mẹ và phát hiện ra bà sang nhà con Nhọ. Sự việc của bà bị phát giác. Bà bị đám con đay nghiến bị ông chồng đánh đập vì cái tội thừa của cho quân vô loài. Cái Gái còn lôi đám bạn bè sang tận nhà con Nhọ chửi bới rủa xả cốt để con Nhọ chỉ còn nước bỏ cửa bỏ nhà mà đi. Con Nhọ ra đi thật
Làng nó vốn bên một con sông lớn nhất tỉnh. Nước quanh năm đục ngầu và chảy cuồn cuộn. Con Nhọ quen sông nước từ bé. Bởi nhà nó không có giếng cứ phải ra sông tắm giặt nên nó dạn dĩ với sông nước  lắm và bơi giỏi như con rái cá. Mùa lũ nó vẫn thường ra sông đi vớt củi về cho ngoại. Có lần tham một cây gỗ to nó mải đánh vật với nó để kéo vào bờ mà trôi xuống tận xã dưới cách đến hơn chục cây số.  Đi bè có lẽ là nghề hợp với nó nhất. Lúc đầu đám thợ bè lắc đầu quầy quậy. “Trông nó ăn cơm đã mất cả ngon thì nấu ai dám ăn”. Nhưng con Nhọ chẳng còn chỗ nào mà đi nó cứ ngồi ì bên bờ sông chờ những chiếc bè luồng nứa đi qua.  Nếu  họ dừng lại mua bán trao đổi hàng hóa thì nó lại lăng xăng xuống giúp. Nhìn mãi nó rồi cũng đâm quen người ta không thấy ghê sợ nữa cái mặt nó đáng sợ chứ ánh mắt nó thật hiền thật tội nghiệp. Chẳng lẽ toàn những trái tim đá?. Con Nhọ được một đám thợ bè cho xuống phụ giúp việc cơm nước. Quả thật họ không ân hận. Con Nhọ thạo việc nhà bè cứ như sinh ra để làm nghề này.
Thoắt cái mà con Nhọ đã đến tuổi thiếu nữ. Trên bè toàn là đàn ông mà chẳng có ánh mắt nào thèm muốn nó cả. Con Nhọ biết vậy nên càng vùi đầu vào công việc cho quên những ý nghĩ vẩn vơ. Mỗi lần qua làng nó lại tranh thủ chạy ào về nhà thắp lên bàn thờ bà và mẹ nén hương khóc một hồi cho đã những buồn tủi rồi lại tất tưởi ra đi. Lần nào về nó cũng lén ngó sang bên nhà bà Tâm xem có gặp bà không nhưng có lẽ bà Tâm không mấy khi ra khỏi nhà. Cái Gái đã đi lấy chồng chắc nhà chồng cùng làng nên cái Gái cứ quẩn quanh ở nhà mẹ đẻ.
Con Nhọ đi bè chở luồng nứa tận thượng nguồn nên nó hiểu từng sự thay đổi của con nước trên sông từng hơi thở của gió trên ngọn cây như ngưòi mẹ hiểu được sự trái nắng trở trời của đứa con. Mấy hôm nay nó thấy khí trời là lạ. Nước thì trong văn vắt cây cối im re như tượng kiến từng đàn leo tuốt lên ngọn cây... Nó cảm thấy lo lắm. Sắp có bão rồi. Đám sơn tràng ôm khư khư cái đài nghe dự báo thời tiết mà mặt vẫn nhơn nhơn: “Có bão nhưng ở xa lắm ta chẳng ảnh hưởng gì đâu”. Nhưng nói hôm trước hôm sau đã thấy trời đất đen kịt rồi mưa ập xuống như vãi mạ dai dẳng từng đợt như không ngừng nghỉ. Con Nhọ ruột nóng như lửa. Nó nghĩ đến cái làng bé nhỏ của nó leo heo bên bờ sông. ở đó chẳng còn ai nhưng nó vẫn cứ thấy bồn chồn lo lắng. Chiếc bè cứ trôi vùn vụt trong làn nước đục ngầu cuồn cuộn. Lũ rồi. Con Nhọ xin được ghé qua nhà mặc dù bè đang phải hối hả về xuôi để tránh lũ. Mặc mọi người can ngăn nó vẫn nhảy ùm xuống làn nước xiết bơi về làng trước ánh mắt ái ngại của đám thợ bè. Chả cần lâu la gì ngay chiều  hôm đó lũ đã tràn qua làng. Con đê xưa nay chẳng ai nhòm ngó để trẻ trâu quần thảo đã chẳng mấy chốc vỡ bung dẫn cơn lũ ập vào làng. Thôi thì tiếng loa tiếng rậm rịch đi cứu đê tiếng í ới gọi nhau tiếng trẻ khóc thét...vang cả làng nhưng không lại được với tiếng réo sôi của con lũ cứ ùng ục oàng oạc rào rào. Căn nhà tranh vách đất của bà cháu con Nhọ đã hòa tan theo dòng nước. Con Nhọ chẳng kịp vơ được thứ gì Nó bơi sang bên nhà bà Tâm. Nhà bà Tâm tường gạch nhưng cũng bị ngập tới hai phần ba cả nhà đã leo hết lên nóc nói đúng ra cũng chỉ có hai mẹ con bà Tâm thôi chắc đám đàn ông đi cứu đê cả rồi. Cái Gái bụng chửa vượt mặt đang lo lắng nhìn dòng nước vẫn dâng lên không ngừng. Nhọ bơi đến mấy nhà gần đấy những nóc nhà tranh lụp xụp đã gần như lút tủm vẫn có tiếng trẻ khóc như ri ở phía trong. Nhọ tìm cách chui vào thì thấy mấy đứa trẻ đang bám trên những chiếc xà ngang. Nó thận trọng dỡ nóc đưa từng đứa một đến những nóc nhà mái bằng gần đó. Màn đêm đã ập xuống tối om gió mưa vẫn gào thét dữ dội. Đang tìm một ngọn cây để bám víu thì con Nhọ nghe có tiếng hét thất thanh “ối làng nước ôi! cứu con tôi vớ… ví”. Nhọ nhận ra tiếng thét  từ phía nhà bà Tâm. Nó vội vã bơi về phía có tiếng hét. Trong ánh sáng chập chờn của màn đêm Nhọ thấy bóng bà Tâm đang chới với túm lấy một cành cây. Nóc nhà hình như đã bị sụp xuống bởi một thân cây to nào đó đổ vào. Con Nhọ lao đến toan dìu bà Tâm thì bà đẩy ra tiếng bà hào hển “Cứu ... làm ơn cứu mẹ con cái Gái nó... nó đang túm ở cành cây kia kìa”. Thì ra hai mẹ con bà Tâm đang cheo leo trên một cành cây bị đổ chẳng biết nó sẽ bị cuốn theo dòng nước vào bất cứ lúc nào. Bà Tâm nói chưa dứt lời thì đã tuột luôn theo làn nước và gần như biến mất. Con Nhọ thét lên định giơ tay cứu nhưng nó chợt hiểu bà Tâm đã chủ bỏ tay ra khỏi cành cây để bớt  nặng... Nhọ nhận được ra ngay cái khối đen đen đang rên hừ hừ gần đó. Nó liền nhào đến xốc nách người đàn bà nặng đến gấp đôi nó. Vất vả lắm nó mới đưa được cái Gái vào tạm trú trên một nóc nhà có vẻ ổn định hơn. Nó không dám leo lên nữa vì nhận ra số người trên đó đã quá đông. Mệt rã rời bỗng dưng nó thấy toàn thân cứng đơ đau buốt chết rồi chuột rút. Nó quằn quại vì cơn đau cố gắng lần mò tìm một thân cây nào đó để trú ngụ thì bất ngờ một vật gì to lớn đen ngòm bỗng trùm lên người nó và nhấn chìm nó trong làn nước đang sôi lên ùng ục...
Sáng ra cả làng chỉ là một biển nước mênh mông những nóc nhà còn sót lại chen chúc những dáng người ngơ ngác khổ đau. Ai còn ai mất có lẽ cũng đã biết cả rồi. Đã có những chiếc xuồng cứu hộ cứu đói lượn qua lượn lại. Nước đã bắt đầu giảm gào thét. Chỉ vài hôm là rút hẳn trơ lại một ngôi làng hoang tàn tang tóc. Người ta bắt đầu thu dọn tìm xác người chôn cất khói hương... Thống kê danh sách người bị nạn số tài sản bị mất để còn báo cáo lên cấp trên xin tiền cứu trợ. Trong số người thiệt mạng trong trận lũ năm ấy có tên bà Tâm nhưng không có tên con Nhọ. Bởi con Nhọ đâu có không có trong danh sách của làng hơn nữa ai biết nó đi đâu về đâu?
Chỉ ở mãi tận cửa sông có ông dân chài một hôm nhìn thấy một vật gì đen đen to như con trâu lờ đờ trôi trên sông. Lạ là sao không thấy nó trôi đi về phía biển mà cứ thấy nó luẩn quẩn và hình như muốn trôi ngược về phía thượng nguồn thì phải. Ông dân chài vốn sống độc thân bao nhiêu năm quen sống trên sông nước thuồng luồng hà bá ông còn chả sợ thì hà cớ gì mà ông lại sợ cái vật chết trôi. Ông giật mình nhận ra đó là một xác người nhưng như không phải người. Ông rùng mình quay thuyền. Nhưng chưa đi hết một sải nước ông đã quay lại. Ông kéo cái xác lên bờ và mua cỗ ván chôn cất. Đó là một cô gái ông tự nhủ   một cô gái trẻ. Ông dựng viên gạch đánh dấu phần đầu. Ông phân vân về cái tấm bia không có tên Thôi thì cứ đặt cho ngôi mộ một cái tên mà đã là con gái thì phải có một cái tên thật đẹp nhỡ sau này người nhà cô ta tìm được ông còn có cái mà ăn nói. Tên gì ông vẫn chưa nghĩ ra. Bất chợt ông trông thấy một bông hoa mọc trong đám cỏ dại ông tặc lưỡi và lấy con dao khắc vào viên gạch dòng chữ Nguyễn Thị Hoa họ Nguyễn thì là họ của ông rồi.
Khoảng bảy tám năm sau ủy ban xã nhận tiếp đón một nhà doanh nghiệp rất giàu có. Với mong muốn ông sẽ tài trợ cho xã xây dựng một công trình phúc lợi Ông doanh nhân đã từng đi Mỹ và có cả đối tác làm ăn bên Mỹ. Cả làng con Nhọ đựợc một bữa nhốn nháo vì mấy ông cán bộ xã dẫn ông doanh nhân đó tìm về nhà cô Ngà. Làm gì còn nhà cô Ngà hay bà Ngoan nữa. Chỗ đất trống sau cơn lũ năm đó đã được chia cho một hộ mới. Lúc này ngưòi làng mới vỡ lẽ. Cô Ngà có người yêu là một chiến sĩ quân đội. Lá thư cô Ngà gửi cho anh chiến sĩ báo tin cô đã có mang nhưng anh chưa kịp bóc ra thì đã hy sinh chiếc ba lô có phong thư là vật chiến lợi phẩm đã rơi vào tay một người lính Mỹ. Sau bao nhiêu năm người lính Mỹ vẫn canh cánh để có dịp trả lại bức thư và kỷ vật cho người thân của anh lính Việt Nam nhưng chưa có dịp. Rất may ông ta lại gặp được vị đối tác vốn là một người đồng đội của người chiến sĩ ấy và ông doanh nhân đã đích thân đi tìm cô gái có tên trên địa chỉ bức thư với một hy vọng sẽ nhận nuôi người con của người đồng đội đã hy sinh ông cho biết ông không thể có con vì ông đã bị nhiễm chất độc Điôxin trong cánh rừng Trưòng Sơn năm ấy.
  
                                                                                 N.C.H




ĐÀM QUỲNH NGỌC


Ở ATM
 
 
 
Truyện ngắn

 
 
        Bà già đứng trước tôi khoảng bảy mươi tuổi nom yếu ớt da xám trước bà là gã trung niên có dáng người cao thẳng mái tóc dày đen bóng mượt. Dòng người xếp hàng rút tiền từ ngân hàng tự động ATM còn dài dài lắm tôi không để ý đến nhiều người vì sốt ruột nhích từng bước muốn mau chóng nhận được tiền lương. Mười lăm năm trước tôi ra trường với tấm bằng tốt nghiệp đại học loại giỏi bao thăng trầm cuộc đời trôi đi theo thời gian từng đồng lương cũng nhích dần nhích dần và hôm nay đã đến với con số hai triệu đồng một tháng. Tôi sẽ khoe với chồng khoản tiền lương được máy công nghiệp hóa hiện đại hóa chi trả một cách chính xác sạch sẽ văn minh không lấm lem dầu mỡ như những đồng tiền của chồng làm nghề sửa chữa ô tô.
- Con mời bà rút tiền trước.
Tiếng nói trầm ấm của gã đàn ông có “mái tóc dày đen” với bà già vang lên khiến tôi nể trọng. Thời buổi hiện đại văn minh còn ai nhường vị trí nơi đông người cho “bà già em nhỏ phụ nữ có thai”! Tất cả là tốc độ thời gian là trên hết. Bà già bị đẩy lên phía trước. Bà lúng túng khi đối mặt với ngân hàng đang nháp nháy con mắt điện tử như chế giễu với dòng chữ “kính chào quý khách đã đến với ATM”. Bà run rẩy đưa bàn tay gầy khô khỏng cho thẻ vào máy luống cuống thẻ rơi xuống đất. Gã đàn ông nhanh tay nhặt lên giúp bà cho thẻ vào khe dọc máy ngân hàng. Tôi đứng gần nhìn thẳng vào mặt gã. Trời ơi gương mặt gã đến là thánh thiện. Đôi mắt to đen sâu đầy vẻ quyết liệt trong ánh nhìn. Đôi mày của gã cũng đen rậm đầy nam tính đài các và kiêu hãnh.
Tôi nhìn xuống bàn tay gã đang đặt lên vai bà già có vẻ chở che. Trái tim tôi phút chốc nóng bừng hơi thở cũng nóng. Bàn tay của gã các ngón tay thon dài mềm mại như bàn tay của các nghệ sỹ chơi đàn đến là tuyệt diệu. Biết đâu chính gã cũng là nghệ sỹ chơi đàn đang “mai danh ẩn tích” để “vi hành” chăng? Lâu lắm rồi trái tim tôi lạnh giá bởi cuộc sống cuồn cuộn trôi đi che khuất hết vẻ đẹp của cuộc đời chăng? Tôi chưa thấy người nào giữa chốn đông người lại vẹn toàn vẻ đẹp tâm hồn và hình thể như gã đàn ông tóc đen dày hôm nay. Tôi thường chứng kiến nơi đông người người lấn nhau văng tục chửi thề. Ai cũng muốn phải hơn người khác dù chỉ là chút thời gian mặc dầu chẳng để làm gì.
Tôi nhìn gã bằng con mắt của kẻ tình si. Tôi ngán ngẩm nghĩ đến người chồng quê mùa lem luốc đen nhẻm bàn tay thô kệch suốt ngày chui dưới gầm ô tô tải luôn bốc lên mùi dầu mỡ. Đã thế kết thúc một ngày làm việc bao giờ chồng cũng kèm theo đùm thịt chó trứng vịt lộn rau thơm lại còn rượu nữa đến là thô tục. Hình ảnh gã “tóc đen dày” đã làm mờ người chồng quê mùa lạc lậu trong tôi. Tôi khao khát muốn hôn lên đôi mắt là cửa sổ tâm hồn của gã. Muốn hôn lê mái tóc đen dày bàn tay đẹp như nghệ sỹ chơi đàn. Tôi mơ màng ngắm nhìn gã - con người của thời đại văn minh - đang giúp bà già nhận tiền từ ngân hàng tự động dìu bà nơi tam cấp của tòa nhà ngân hàng tơ lớn bước xuống vỉa hè. Tôi nhìn thấy gã nhoẻn cười với tôi rồi đưa bà ngồi nghỉ chân ở quán nước ven đường. Gã kiểm tra lại chiếc xe FX đồ sộ lại cười thiện chí hàm răng trắng lóa đến mê hồn khiến trái tim tôi muốn vọt lên tận trời xanh. Gã tình nguyện xếp hàng tiếp vào dòng người chờ đợi mà không hề chen lấn.
Tôi đã nhận được tiền lương theo thói quen... đếm lại rồi bắt đầu nản lòng nghĩ đến đoạn đường trở về nhà. Tôi xao lòng đưa mắt tìm kiếm gã tóc đen dày nhưng không thấy đâu. Cũng trong giây phút đó tiếng âm ỉ nức nở của người già đến ai oán. Bà già lúc nãy đứng trước tôi giờ ngồi trong quán nước đang đưa hai tay ôm ngực như không thể chịu đựng nổi đau đang cấu xé trong tim. Đông người vây quanh bà tiếng lao xao. Tôi bước lại nhìn thấy túi áo đựng tiền của bà được gim chặt bằng kim băng giờ đã bị mở tung trơ mỗi tấm thẻ ATM nằm lăn lóc. Lởn vởn trong đầu tôi còn nguyên hình ảnh gã đàn ông đỡ hai bên hông dìu bà đi cách đây chưa đầy mười phút đồng hồ. Chẳng nhẽ thủ phạm lại là gã ư? Thật là khủng khiếp hơn thế nữa nếu tội ác có tình toán đầy "nghệ thuật" được giấu kín dưới lớp vỏ hào hoa của thời đại văn minh. Không ai nói lời nào với bà tôi cũng vậy nỗi đau sâu thẳm chất chứa đã qua bao nhiêu thời gian của cả một đời người khiến không ai dám động vào. Tôi ngồi bệt xuống vỉa hè đưa hai tay cầm lấy cánh tay của bà tôi hỏi:
- Bà mất tiền phải không?
Điều này thì hẳn rồi ai cũng biết nhưng không ai đủ dũng cảm để hỏi bà câu ấy. Bà cũng chỉ chờ có thế nỗi đau đớn bật trào ra:
- Tôi đã từng là thanh niên xung phong...ở một mình... không muốn làm phiền ai... tôi lấy tiền ủng hộ bảo thọ... tôi yếu rồi... có năm triệu đồng... tôi không ngờ... đau quá.
Bà già nhắc đi nhắc lại "đau quá... tôi không ngờ". Tiếng nói của bà nghe thì thào như vang lên trong lòng đất. Nỗi đau của bà lớn quá khiến đồng loại phải bối rối cúi đầu. Tôi cho tay vào túi xách hai triệu đồng lương tháng của tôi giờ chẳng là ý nghĩa gì trước nỗi đau của bà. Tôi xếp lại mớ tiền ngay ngắn rồi đặt tất cả vào bàn tay trơ xương lạnh giá:
- Con tặng bà thanh niên xung phong.
Bà lão đã khóc được hai hố mắt bị da nhăn nheo che khuất khô queo bà làm gì còn nước mắt để tẩy rửa bớt nỗi đau. Bà có chịu đựng được sống thêm bao nhiêu ngày tháng nữa? Lấy hết sức lực bà cám ơn tôi còn hỏi trong hơi thở hốt hoảng đến kinh hoàng:
- Tại sao nó lại lấy của tôi chứ thật không ngờ không ngờ...
Làm sao tôi có thể trả lời được câu hỏi ấy trái tim tôi cũng đã từng rung động trước vẻ đẹp hào hoa về hình thể của gã cũng đã từng xao lòng trong giây phút muốn quên gia đình để đi theo. Giờ đây đã đi qua kết thúc những giây phút đó những ước mơ ngọt ngào say đắm tình si. Tôi thấy mình... trưởng thành hơn qua những gì vừa trải nghiệm của thời đại... văn minh. Con đường về nhà đầy lá rơi thương ngày bỗng chốc thấy gần gụi ấm cúng hơn.

                                               Tháng 3-2008
                                                       Đ.Q.N

 

 

 

LÊ CÔNG QUYỀN


Nhớ ơn Bác Hồ




“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”
Bác làm rạng rỡ cơ đồ
Non sông đất nước ngàn thu vững bền.
Bác mong thống nhất hai miền
Di chúc để lại Bác khuyên dân mình
Toàn dân đoàn kết đấu tranh
Dựng xây đất nước ngày càng ấm no
Đi xa Bác đã dặn dò
Bát cơm manh áo chăm lo muôn người
Ơn Bác trời biển Bác ơi!
Nghiêm trang con hứa vâng lời Bác khuyên.
                                                   
                   L.C.Q




NGUYỄN NGỌC PHÚ


Giao cảm



Em chải mái tóc thề bằng chiếc lược san hô
Tôi mắc cạn phù sa trong chiếc thuyền vỏ trấu
Em buông vào tôi giấc mơ thạch nhũ
Quả chín trên cây giấu một nỗi xanh trời.

Trăng hút về em con nước kỳ sinh nở
Tơ vương chiều em ngắt chút tương tư
Có một ngày biển cùng em vượt cạn
Tôi rán cá lên thắp ngọn đèn dầu.

Tôi ngân ngấn thả sóng về cho đất
Đỡ cánh buồm khỏi sững một cây nêu.
                   
                N.N.P




HOÀNG BÌNH TRỌNG



Lời nàng tiên đá



Em giấu mình trong thăm thẳm tầng sâu
Dẫu có mắt cũng chỉ nhìn bóng tối
Dẫu có tai cũng chỉ nghe gió thổi
Cô đơn này chịu mãi thành quen !

Ai xui anh buổi ấy đến tìm em
Mang say đắm một trí tim tuổi trẻ
Mang nồng hậu một tâm hồn thi sĩ
Và nụ cười hang tối sáng bừng lên

Bàn tay anh chạm khẽ cánh tay em
Truyền hơi ấm lòng vàng vào dạ đá
Kỳ diệu vậy trái tim em băng giá
Có tình yêu sức sống lại hồi sinh.

Có tình yêu máu lại chảy về tim
Em biết cảm biết vui buồn giận dỗi
Biết mơ ước đợi chờ khắc khoải
Biết nghi ngờ và biết làm duyên.

Có tình yêu tượng đá hóa nàng tiên
Và hang tối thành cung vàng điện ngọc
Giọt thạch nhũ chẳng còn là giọt khóc
Thành êm đềm thánh thót nhạc thiên thai.

Anh cùng em vai sánh kề vai
Đi giữa chốn long chầu hổ phục
Trong động đá có bầu trời hạnh phúc
Nhà thơ ơi! ở lại đừng về.
       
                  H.B.T




NGÔ CANG



Bà ngoại



Bà ơi nỗi cảm niềm thương
Cháu về thăm lại mảnh vườn ngày xưa
Hàm Rồng xuôi ngược sớm trưa
Quê nghèo biết mấy nắng mưa mà thành…

Đây rồi gốc khế gốc chanh
Ươm trời vào đất xứ Thanh thuở nào
Bàn tay bà xới bà cào
Hoai hoai gió thổi bên rào mồng tơi

Sống cho phải đạo làm người
Nhớ xưa bà dạy những lời thẳm sâu
Ngùi thương cái rổ cái gàu
Ướp sương nắng thấm đất nâu đậm đà

Đong đưa chiếc  võng hiên nhà
Như còn lưu giữ bóng bà chở che
Cháu tìm thấy góc hồn quê
Đi mô rồi cũng nhớ về xứ Thanh!…
               
                 N.C

More...

THƠ DỰ THI

By Văn Nghệ Xứ Thanh


CHU GIANG PHONG



Giọt trinh nữ




Giọt trinh nữ trao ai
để ta một đời đợi xa vắng lòng nhau

Em về như gió
em đi như mây
Sao không mang cho nhau những tình
môi em nỗi niềm mơ ước
Ngày nao!

Ta lạc bay giữa đông con người
nhỏ nhoi
Chiếc lá thơm từ thủa hồng hoang

Đôi khi em về trong mơ
cho người dắt tay nhau về với cỏ
Rừng như đá anh về
mình ai một bóng thề thốt gì đâu.

Trinh nữ
Sao không nhớ cho ta?
một lần khóc vì nhau
khóc vì số phận
Như gió mỏng manh

Em về đâu hỡi người
Trinh nữ.


Sao ta còn hay mơ
giấc mơ phàm tục
Cho đêm nay ai hát đè trái tim ta

Ta yêu nhau
Như là hôm nay
Như là quá khứ
Thế rồi mây bay

Xa thì đành vậy
Đừng trốn tránh đời nhau
Làn môi em về bên ấy
để anh quên nhớ một đời.

Lòng ta còn chút dòng sông
chảy cho đá mòn chảy còn cạn hết
Chờ mong

Người ơi
giấc mơ trinh nữ
giấc mơ địa đàng
giấc mơ niết bàn
Tan vào những nhớ
Đời anh

Tiếng ai đêm này
Gọt nhau gọi nhau
Thương người xa khuất
Nơi nao.


        K bang 20-11-2007
             C.G.P





CHU GIANG PHONG


Lặng lẽ


Có một ngày
Em cố tình ra đi
Ta nhận ra một quãng đời nông nổi
Trở lại với quê

Em chìm vào khói sương huyền thoại
Ta về với trần gian
Cuồng si rồi cũng thế
Thói đời bạc ngàn năm

Ta đối mặt với tháng ngày giông bão
Em lặng lẽ khóc thầm nơi thần thánh
Kiếp phù du ngắn tựa bóng trưa
Bến nào neo đậu buồn vui

Có một ngày như thế
Ta lạc nhau
Này thắp thêm một mặt trời bằng cỏ
Cho đêm bớt lạnh lùng

Không thể cười không thể khóc
Ta với em không còn ngày gặp lại
Thì em nhé đời còn một chút
Lưu luyến này đành dấu ở trong tim

                  K bang 7-2007
                       C.G.P






CHU GIANG PHONG


Quá khứ


Mưa ở cao nguyên
Gương mặt em nhòe dần trong nhung nhớ của ta
Quá khứ thôi hiện về
Sau những gì lo toan thường nhật

Đôi khi tự giam mình quá lâu trong nỗi đau
Ta làm cũ mình
Tình yêu rụng xuống
Mắt môi thất lạc nẻo đời

Ta đã đến những miền đất lạ
Nhưng với quê ta đau đáu u hoài
Vẫn có mẹ và em không thể nào quên được

ơ xứ cao nguyên gió nhiệt đới ẩm những trang văn vừa viết
Chao ta vào mùa khô

Vàng những cánh rừng cúc quỳ trong mùa duy trì sự sống
Ta sẽ ra sao khi suốt ngày lo các mặt hàng tăng giá
Có đuổi kịp thời gian để khi chết không tay trắng
Ai còn đọc thơ tình

Chắc chẳng bao giờ ta và em gặp lại
ánh mắt không còn soi ngắm
Những giấc mơ gầy guộc
Ta vươn về nhân bản

Trong ta vô vàn bản nhạc buồn vui sướng khổ va
chạm nhau
Tạo ra ta ác quỷ và thánh thiện trong đời
Lắng nghe lòng mình thổn thức từng giây
Ta biết mình đang trải qua thời kỳ khắc nghiệt
Ta là hạt bụi
Ta là vũ trụ
Mơ mặt trời là chiếc bánh ga tô

Ta là con chim không còn tổ bay về
Dưới trời chiều kêu thảm thiết giữa tầng mây khảm bạc
Tôi yêu nghệ thuật cuồng say
Như từng yêu em
Và hát lời quỷ sứ
Để đêm nay ai hát trong ta
Ai gào thét trong ta
Hạnh phúc cho ta còn được làm người


                 K bang 7-2007
                     C.G.P
        


TRỊNH HỒNG HẢI


Sự rong chơi của linh hồn

 

 

Rồi một ngày
Thấy mình nhẹ bỗng
Linh hồn hả hê
Siêu thoát
Bằng cú nhảy đợi cả một đời

Tưng tửng nhìn
Xác nằm bất động
Gã cười
Ngạo nghễ
Như vị khách tham quan
Trong bảo tàng điêu khắc
Hỉ hả
Trước pho tượng - xác mình

Linh hồn mải chơi
Siêu thoát
Xác tan
Thành trăm ngàn hạt bụi

Không chốn nương thân
Linh hồn chết…
            … vào hư vô
                
                03-3-2008
                   T.H.H






TRỊNH HỒNG HẢI


Dưới chân tượng đài  Chiến thắng


Dưới chân tượng đài chiến thắng
Hai cựu binh
Nắm chặt tay
Lặng im!
Hai miền suy tưởng
Một thời
Họ từng ở hai bên chiến tuyến
Lửa…
Những đêm đen
Bầu trời rách toạc
Những vì sao
Rơi vào hố sâu chết chóc.
Những vì sao thất lạc…
Dáo dác tìm nhau.
Ngôi sao băng!
Chợt biến mất
Trong mắt em thơ …
Run rẩy dưới hầm
Vì sao hấp hối
Vì sao khóc than!
Vang vọng lương tri
Sâu thẳm
Hai cựu binh
Lặng im
Khóc!
Cúi đầu trước những vì sao?!


            05-01-2008

                T.H.H

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Ấn tượng Lê Minh Khuê


                             

                                                                  BÙI VIỆT THẮNG
 



        Trong sách Nhà văn Việt Nam hiện đại (NXB Hội Nhà văn 1997) nữ văn sĩ Lê Minh Khuê tâm sự: "Văn chương như thể thao. Mỗi lần nhảy qua được xà nhà văn muốn đạt kỷ lục cao hơn chút nữa. Nhưng tôi lại mong người ta cư xử với nhà văn như một ngôi sao sáng trong thể thao. Anh ta có thể dừng lại ở mức nào đấy và hãy xem anh ta đã đạt được chiến công... Khi nhà văn im lặng dừng nên than phiền và lu loa rằng anh này chưa từng nhảy qua xà... Có thể năm mười năm đi nữa những nhà văn lúc này đang gây chấn động sẽ vì lý do nào đó không viết nữa thì hãy xem đó là tất nhiên và không nên phủ nhận quãng thời gian này của họ. Họ đã nhảy qua xà. Như thế mới là văn chương. Như thế mới là thể thao. Tôi thích những nhà văn hiện nay thoát được cái gọi là chủ nghĩa tình cảm tránh được thói biện luận dài dòng vô nghĩa và tránh cả cái nhìn thiển cận. Tôi cũng mê những người nhìn được bí mật của tương lai... Văn chương sẽ sống cái sức sống tự nhiên của nó. Nhưng như tất cả mọi việc trên đời này văn chương cũng có giới hạn có sự sáng lên sự mất đi có cái cao cả nhưng cũng có cái bình thường".
Lê Minh Khuê là một trong số ít các nhà văn đương đại trung thành với truyện ngắn. Chỉ viết truyện ngắn mà thôi. Tính đến năm 2006 nữ văn sĩ đã in 9 tập: Cao điểm mùa hạ (1978) Đoạn kết (1980) Một chiều xa thành phố (1986) Bi kịch nhỏ (1993) Lê Minh Khuê - truyện ngắn (1994) Trong làn gió heo may (1999) Lê Minh Khuê - truyện ngắn chọn lọc (2003) Màu xanh man trá (2005) và Một mình qua đường (2006). Ai đó nói chí lý rằng chính thể loại đã chọn nhà văn điều này thật là sát hợp với Lê Minh Khuê khi chúng ta nhìn rộng ra trong dòng chảy của truyện ngắn dân tộc thời hiện đại từ Phạn Duy Tốn Nguyến Bá Học Nguyễn Công Hoan Thạch Lam Bùi Hiển Tô Hoài Nam Cao Kim Lân Nguyễn Thành Long Nguyễn Kiên Vũ Thị Thường Nguyễn Minh Châu Nguyền Huy Thiệp...
Năm 1986 tôi có viết bài Sức bền của ngòi bút (khi in trên Văn nghệ người biên tập cẩn thận thêm vào hai chữ "để có" ở trước vì có lẽ chưa thật tin tưởng vào sức bền có thật của ngòi bút truyện ngắn Lê Minh Khuê). Năm 1993 tôi lại viết bài ấn tượng Lê Minh Khuê nhân tập truyện Bi kịch nhỏ của chị in ở NXB Hội Nhà văn. Bài không dài chỉ độ một nghìn chữ gửi báo Văn nghệ nhưng không được đăng vì "lí do tế nhị" (chả là lúc đó rộ lên một ngọn sóng phê bình Lê Minh Khuê theo chiều hướng phê phán). Tôi có đưa trước cho Lê Minh Khuê xem bản thảo viết tay bài này (mà đến tận năm 2007 tôi vẫn thích gửi bản thảo viết tay cho các báo tạp chí) chị chỉ cười và nói "Anh viết đúng tôi!". Lê Minh Khuê là vậy kiệm lời chỉ lặng lẽ quan sát cuộc đời con người và lặng lẽ viết. Tôi liền chỉnh bài này ngắn lại để gửi in trên báo Văn hóa với tên mới Bi kịch nhỏ - một thể nghịêm mới của Lê Minh Khuê trong truyện ngắn (số ra ngày 30 tháng 3 năm 1993).
Nhà văn Tô Hoài ngay từ năm 1976 đã nhận xét tinh tường: "Lớp sau hòa bình Đỗ Chu Triệu Bôn Lê Lựu Lê Minh Khuê hay có không khí" (Vương Trí Nhàn biên soạn Sổ tay truyện ngắn NXB Tác phẩm mới 1980 trang 8). Nhưng theo tôi thì phải đến Một chiều xa thành phố (1986) Lê Minh Khuê mới thực sự là một cái tên dễ nhớ một cây bút truyện ngắn chững chạc có phong cách (tập truyện này được Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1987).
Người ta nói "văn là người" vì thế trong bài viết in trên báo Văn nghệ năm 1986 tôi đã nhận xét: "Văn của Lê Minh Khuê ngay từ đầu đã có một vẻ gì đó hoang dã. Phải nói ngay là kiểu viết như thế này bộc lộ rất rõ chất văn của chị". Sau hai mươi năm tôi thấy nhận xét đó ngày càng đúng. Cái mà tôi gọi là "hoang dã" ấy không đồng nghĩa với tính chất tự nhiên xô bồ mà lại một cái gì hồn nhiên giàu bản năng- một thứ bản năng cậy nhờ vào trực giác của người viết. Văn Lê Minh Khuê có vẻ đẹp của người phụ nữ tự tin vào nhan sắc trời phú của mình nên không cần trang điểm nhiều (nếu có chỉ rất nhẹ chỉ phớt qua một ít với sự trợ giúp của mỹ phẩm). Trong truyện Ngày đi trên đường có nững câu văn "hoang dã" kiểu như "Tôi có ý nghĩ thật nhanh khi đứng chờ mở cổng. Cầu cho tai họa nào đến với căn nhà này. Cả hai cuộc chiến tranh bằng một phép thần kỳ nào mà không một người nào trong nhà này đi khỏi Hà Nội? Họ cứ thế rồi lấy vợ lấy chồng sinh con đẻ cái và béo tốt phương phi trong ngôi nhà này?" Hoặc: "Còn lại cái cặp da của tôi một ít vải làm quà và quần áo đi công tác. Tôi cảm thấy cái cặp cũng thở hắt ra nhẹ nhõm". Lối văn như thế vẫn được dùng đến tận bây giờ sau gần hai chục năm: "Hà ngồi vào cái ghế mây thày mới mua có lưng tựa. Một cái gì tròn tròn âm ấm rúc vào chân Hà. Ô con mèo! lên đây nào! Thế ngồi yên. Thày ơi con mèo y như thày nó đã hoạt động rồi này! Hà đùa. Tiếng cười trong trẻo như tiếng những hạt thủy tinh va vào nhau" (Thày giáo dạy triết).
Nhà văn Hồ Anh Thái gọi nhà văn Lê Minh Khuê là người đàn bà "viễn thị" vì "Nhưng nếu chị cho một môi trường yên ả ngồi đấy mà viết thì ra sao nhỉ? Lê Minh Khuê bảo ngồi ở Đà Lạt ở Tam Đảo chị không viết được" vì ngồi lâu nơi chốn ấy thì chắc chắn "ngắm mùa thu vàng mà tự tử nói đâu đến chuyện viết văn" (Lời cuốn sách Lê Minh Khuê - Truyện ngắn chọn lọc 2003).
Thích nhìn dần thích viết và viết hay những chuyện đời thường lắm khi tuế toái nhiều lục lụy mà sinh ra một chất văn hoang dã chăng? Rất có thể như thế và ta thường gọi đó là cái tạng của nhà văn này. ấn tượng Lê Minh Khuê trước hết là vì như thế.
Lê Minh Khuê viết nhiều về cái ác đang bủa vây con người xói mòn đạo lý và có nguy cơ hủy diệt nhân cách sự sống. Phải nói ngay rằng như một sự biện hộ nhà văn không hề câu khách khi viết Bi kịch nhỏ Đồng đôla vĩ đại Anh lính Tôny D Ngỗng non Những kẻ chờ sung Đồng tiền có màu xanh huyền ảo... Cái ác cái xấu bị nhà văn truy kích đến tận cùng bị lôi ra ánh sáng bị đặt trước vành móng ngựa của tòa án lương tâm. Vạch mắt cái ác một cách tài tình bằng nghệ thuật cũng là một cách bảo vệ cái đẹp cái tốt. Lê Minh Khuê chọn cách này vì thế không có gì lạ khi tập truyện Bi kịch nhỏ (1993) được xuất bản chị đã phải chịu khá nhiều búa rìu dư luận. Một người cha hãnh tiến ham mê quyền lực đã vô tình giết chết đứa con trai yêu quý của mình (Bi kịch nhỏ) vì tiền anh chị em ruột có thể gây nên cảnh huynh đệ tương tàn (Đồng đôla vĩ đại)... Viết về những truyện kiểu này Lê Minh Khuê dẫn dắt người đọc vào một thế giới bình thường đầy những chuyện bất thường. Đọc Lê Minh Khuê tôi nhớ tới lời bình của I.Êrenbua về E. Baben (hai nhà văn tài danh thời Xô Viết): "Có những nhà văn viết một cách bình thường về những điều khác thường. Có nhà văn khác lại lấy giọng khác thường để kể về những điều bình thường. Baben kể về những điều khác thường một cách cũng rất khác thường". Lê Minh Khuê theo tôi nghĩ thuộc kiểu nhà văn thứ nhất như lờ Êrenbua.
Sự nhạy cảm với cái ác cái xấu khiến nhà văn tập trung phê phán thói vô cảm của con người trong cuộc sống vì căn bệnh này mà con người mất khả năng nhìn thấu chân lí trở nên lạnh lùng và tàn nhẫn. Thói vô cảm bủa vây con người làm cho môi trường đạo đức bị ô nhiễm- trong cái thế giới đó  cái đẹp cái tốt trở nên "mong manh như là tia nắng" (tên một truyện ngắn) mong manh và dễ vỡ. Tất cả cái đẹp cái tốt trở nên chênh vênh trong một thế giới đầy bất trắc và cạm bẫy. Những người yếu bóng vía có thể không thích đọc Lê Minh Khuê cũng như càng không thích đọc Nguyễn Huy Thiệp là vì thế. Họ là những nhà văn gieo những ấn tượng mạnh trong tâm trí người đọc thậm chí có người còn cho rằng đó là lối viết "bạo liệt". ấn tượng mạnh thậm chí như "bị sốc" ở độc giả khi đọc Lê Minh Khuê còn bởi lối tạo nên những chi tiết gây cảm giác khiếp sợ hoặc tận cùng sự đau đớn như trong Anh lính Tôny D (người bố phải chặt đứt một ngón tay để chứng tỏ cho con trai biết mình giữ lời thề). Lê Minh Khuê xác nhận: "Với tôi chi tiết đóng vai trò quan trọng trong truyện  ngắn. Bởi vì muốn truyện ngắn gây ấn tượng không thể không có chi tiết đặc sắc (...). Truyện ngắn của các tác giả cổ điển trong và ngoài nước từ trước đến giờ tôi vẫn thích Sêkhốp Lỗ Tấn Nam Cao. Truyện của họ giàu chi tiết đặc sắc. Đọc họ ấn tượng mãi đọng không phai mờ là nhờ chi tiết". (Bùi Việt Thắng Hỏi chuyện nhà văn Lê Minh Khuê Báo Văn hóa chủ nhật số 967 năm 2004).
Và nữa ấn tượng Lê Minh Khuê là những đoạn kết bất ngờ hiện ra nổi bật tới mức nhiều khi làm người đọc boàng hoàng như cái chết của Quang trong Bi kịch nhỏ. Những đọan kết như thế được viết ra bằng lối văn tự nhiên giản dị không gò ép. Những người viết mới truyện ngắn còn non tay có thể phải ghen tị về cách viết đoạn kết trong truyện ngắn Lê Minh Khuê. Nhà văn Hoàng Ngọc Hiến đã viết một bài phê bình riêng cho truyện ngắn Ronan Keating của Lê Minh Khuê. Một câu chuyện hài hước với cái kết bất ngờ khi thầy giáo dạy văn ngộ ra Ronan Keating là một ca sĩ có tiếng của một ban nhạc có tiếng được giới trẻ hâm mộ chứ không phải là một nhà hiền triết hay đại sư lí luận văn chương gì như bài văn của cô học trò thường viết: "Ronam Keating nói...". Vì thế lấp loáng trên từng trang văn của Lê Minh Khuê viết là điệu cười hài hước cười với tư thế "tiếng cười là vũ khí của người mạnh".
Đọc Lê Minh Khuê người trải đời cảm nhận được cái điệu cảm lo âu váng vất trong từng câu chữ vì con người thì quá ư nhỏ bé và hữu hạn mà cuộc đời thì rộng lớn ngổn ngang và vô hạn bất trắc và cạm bẫy: "Mụ ôm choàng lấy con khi mấy gã đàn ông biến sau cánh cửa mất hút trong màn đêm đậm đặc do trời rét và ngọn đèn đường không xua nổi bóng đêm. Cái quán chết lặng đi. Hai mẹ con bỗng cảm thấy mình nhỏ xíu nhỏ như con kiến trong cái rét đang ập xuống ngày một dữ bên ngoài thị trấn" (Bến tàu mùa đông).
Nhiều người đọc Lê Minh Khuê hay đặt câu hỏi: "Vì sao nhà văn lại có thể bình thản viết về tất cả những điều không bình thường như thế được?" Một nhà văn như Lê Minh Khuê tôi nghĩ là có bản lĩnh nghệ thuật khi trong nhiều truyện ngắn chị thường khắc sâu một ý tưởng "ở đời mọi chuyện rồi chả đi đến đâu con người dù có giãy giụa thì cũng vô ích được mất sướng khổ vui buồn đâu thật rạch ròi vì thế mà bất ổn trên đời. Cơn mưa cuối mùa là một truyện tôi thích từ khi viết ra vì thực chất đó là cuộc đối thoại của một con người đang đối đầu với đời sống tâm hồn phức tạp".
Quen biết nhà văn Lê Minh Khuê hơn hai mươi năm nay tôi lặng lẽ quan sát cái công trình viết truyện ngắn của chị và nhiều lúc có cảm giác khâm phục bởi tinh thần "trụ hạng" với thể loại được gọi là "nhỏ" này. Có người nói đùa Lê Minh Khuê đã thành một "thương hiệu" trong lĩnh vực truyện ngắn. Nhiều lúc tôi tự đặt câu hỏi rồi tự trả lời: "Vì sao trong mênh mông truyện ngắn hiện nay Lê Minh Khuê vẫn giữ được người đọc? Đó chính là những ấn tượng khó quên mà mỗi truyện ngắn của chị gieo vào lòng người đọc khắc sâu trong tâm trí họ!"
Tôi có cảm giác càng viết Lê Minh Khuê càng chín và đã tự vượt qua "mức xà" mà trước đó chị khiêm tốn đặt ra. Có thể trong những tác phẩm sẽ in chị cố gắng "nhìn được những bí mật của tương lai". Và nói như cách của một bộ phim hoạt hình Nga thì Hãy đợi đấy!
 

                                                             Hà Nội tháng 4 năm 2007
                                                                          
                                                                              B.V.T






Đôi điều bàn thêm về bài 

 

"Họa sĩ với tranh thiếu nữ  mùa xuân"

 

của tác giả Hoàng Hoa Mai


                         

                                                                    LÊ XUÂN QUẢNG

 

 


        Lời nói gió bay cũng phải ba bẩy lần mới nói. Huống chi viết trên giấy trắng mực đen mà cứ viết liều thì viết làm sao được. Người làm nghệ thuật thì nhiều. Người viết lý luận để tô đẹp nghệ thuật lên gạn đục khơi trong  cho từng tác phẩm hướng dẫn thẩm mỹ cho quần chúng và làm cho nghệ thuật phát triển thì rất ít ngành nào cũng hiếm hoi. Vì người viết lý luận phê bình là phải hiểu biết uyên thâm tránh võ đoán tùy tiện. Nhất là ở thời đại chúng ta lượng thông tin tràn ngập phương tiện để nhận biết các lượng thông tin rất nhiều. Do đó trình độ người đọc với người viết không cách nhau xa mấy. Người đọc có thể đối thoại với người viết.
"Họa sĩ với tranh thiếu nữ mùa xuân" của tác giả Hoàng Hoa Mai đăng ở tạp chí Xứ Thanh số 1-2/2008 viết: "Người ta thông thường miêu tả thiếu nữ ở thời tiết mùa xuân là có lý xét cho cùng thì không có hoa nào đẹp bằng thiếu nữ…"
Nhiều người đọc thấy điều này tác giả nêu ra không ổn. Bởi nhiều họa sĩ vẽ được những tác phẩm thiếu nữ rất đẹp có đâu cứ phải là mùa xuân. Họa sĩ Trần Văn Cẩn với "Cô gái Việt Nam" mẫu là một cô sinh viên vẽ vào mùa hè. Họa sĩ Dương Bích Liên vẽ cô Hoàng ánh vào mùa đông trời rét căm căm. Ông phải phá cả bàn ghế cho cô ta sưởi. Tác phẩm ấy tôi cho là đẹp đã  đăng ở Tạp chí Mỹ thuật tháng 4/2004. "Xét cho cùng không có hoa nào đẹp bằng thiếu nữ". So sánh như thế này thì khó hiểu quá! Thiếu nữ là thiếu nữ mà hoa là hoa. Nói đến hoa là nói đến cái đẹp của sắc hương còn nói thiếu nữ là nói cái đẹp của người thiếu nữ trẻ tràn đầy sức sống. Có những loại hoa người ta chẳng bao giờ hái để chơi và thiếu nữ cũng khối cô không đẹp đáng ghét. Ti vi chiếu mấy cô buôn bán trẻ con thì chẳng lấy gì làm đẹp và người ta còn nói: "Không có phụ nữ xấu chỉ có phụ nữ không biết làm đẹp". Cái đẹp của nghệ thuật phải xét cả hai phạm trù nội dung và hình thức mới hoàn chỉnh. Đừng tư duy bóc tách theo kiểu anh Mai thì lý luận không vững chắc nhất là nói cái đẹp về con người.
Người ta thường nói lý luận là chẻ sợi tóc làm tư cho nên từng phạm trù mỹ học là phải khúc chiết. Ví như cái đẹp và nhận biết cái đẹp là hai vấn đề khác nhau..
           Trúc xinh trúc đứng bờ ao.
        Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh
Cái đẹp nó tồn tại khách quan không thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Vịnh Hạ Long đẹp với mọi thời đại mọi giai cấp mọi dân tộc.
Còn nhận thức cái đẹp lại là khác nó có sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong xã hội cho nên có những quan điểm về cái đẹp khác nhau: Đẹp của ngày xưa khác ngày nay quan điểm về cái đẹp của giai cấp này khác giai cấp khác đẹp của dân tộc này khác dân tộc khác.v.v…
Những cô thiếu nữ đi xe đạp có tóc mềm vai lắc môi đỏ má hồng tác giả cho là đẹp. Còn tôi thì cô thiếu nữ vo gạo nếp gói bánh chưng lại đẹp hơn. Đừng áp đặt về nhận thức cái đẹp cho người khác thì không xong đâu.
Hoàng Hoa Mai viết tiếp: "Khác với hội họa đặc trưng của văn học là ngôn ngữ và hình tượng âm nhạc và âm thanh và nhạc điệu còn hội họa là đường nét và màu sắc". Không biết ý này anh diễn đạt tối nghĩa hay anh hiểu không đến nơi ta cũng mạnh dạn bàn với nhau: Hình tượng không ví với ngôn ngữ âm thanh và đường nét được. Bởi hình tượng thì loại nghệ thuật nào cũng có nó là đặc trưng chung của mọi hình thái nghệ thuật; Có người nói "Bức tranh là bài thơ không có tiếng" Còn ngôn ngữ âm thanh mầu sắc đường nét chỉ là phương tiện để xây dựng hình tượng. Người nghệ sĩ nào sử dụng phương tiện nghệ thuật của mình giỏi thì tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao hơn.
Hoàng Hoa Mai lại viết tiếp: "Có nhiều họa sĩ vẽ tranh sinh hoạt phong cảnh tĩnh vật rất tốt  hoặc vẽ chân dung ở lứa tuổi khác nhau cũng đạt được một trình độ nhất định song khi vẽ chân dung thiếu nữ có hình thể dung nhan đẹp thì không phải là dễ" (Trang 50 dòng 24 tạp chí Xứ Thanh số Tết).
ý của tôi không phải thế: Đã vẽ hay viết làm gì chăng nữa đã là nghệ thuật thì không có cái gì dễ cả và không có cái nào khó hơn cái nào vấn đề là họa sĩ phải đủ xúc cảm để miêu tả đối tượng ấy chưa.
Bải viết của anh Hoàng Hoa Mai còn có nhiều khái niệm lẫn lộn nữa ví như : Đẹp với yêu! Đẹp nhưng không yêu yêu nhưng không đẹp thì làm sao?
Thôi bàn với nhau bằng nấy ý đã lắm chuyện rồi. Tôi tạm dừng bài viết ở đây. ý là anh Hoàng Hoa Mai phải đọc nhiều hiểu  nhiều viết nên kỹ càng hơn.

                                                            20-3-2008

                                                              L.X.Q





More...

VĂN HỌC MUÔN PHƯƠNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

MÂU PHI CHÍ

(Trung Quốc)



Nam Quách tiên sinh thăng quan ký


 

 

        Nam Quách tiên sinh (1) không biết thổi vu (2) trước đây đã lộn sòng vào ban nhạc Hoàng Gia. Sau khi Tề Mân Vương lên ngôi lại thích nghe độc tấu vu Nam Quách tiên sinh vội vàng tính nước bỏ trốn vì sợ lộ chân tướng. Khi sắp trốn ra khỏi cung Nam Quách tiên sinh gặp được một ông lão đồng hương vốn cũng là người hầu trong Hoàng cung nên cùng đầy óc mưu mẹo. Ông lão đồng hương hỏi:
- ở trong ban nhạc Hoàng gia sung sướng thảnh thơi biết bao nhiêu hà cớ gì lại phải bỏ đi?
Nam Quách tiên sinh  đáp:
- Tôi không biết thổi vu thì còn cách nào khác được nữa!
Nói xong Nam Quách tiên sinh  ứa ra hai dòng lệ.
Ông lão đồng hương cười kha khá nói:
- Nam Quách tiên sinh  ơi tiên sinh thật là người ngớ ngẩn nhất trong thiên hạ ngu ngốc nhất trong những người ngu ngốc. Không biết thổi vu thì đã có làm sao!
ông lão đồng hương liền ghé vào tai Nam Quách tiên sinh nói nhỏ mấy câu Nam Quách tiên sinh  như người u mê chợt tỉnh vội vã trở vào cung ngay lập tức.
Vào một đêm tối trời Nam Quách tiên sinh  liền mò tới nhà ông Tổng quản Lý họ Trương đưa đút lót một ngàn lạng bạc. Ngàn lạng bạc này là của ông lão đồng hương cho vay. Tổng Quản họ trương cười đến rách mép mập mờ ú ớ hỏi:
- Nam Quách tiên sinh có việc gì cần giúp đỡ xin cứ nói.
Nam Quách tiên sinh liền nói cái ý định được lên làm nhạc trưởng đội nhạc Hoàng Gia đồng thời còn thề nguyền rằng : Nếu được như ý thì còn phải hậu tạ Trương Tổng quản.
Trương Tổng quản thì nghĩ: Nhạc trưởng đội nhạc Hoàng Gia cũng chẳng phải là cái chức quan to lớn gì liền mau mắn nhận lời hứa hứa sẽ hết sức cố gắng tiến cử lên Hoàng Thượng.
Chỉ mấy hôm sau Nam Quách tiên sinh  đã nhận được ngự chỉ của Hoàng Thượng được bổ nhiệm vào chức đội trưởng của đội nhạc Hoàng Gia. Nam Quách tiên sinh  không ngờ mình lại được thăng chức nhanh đến thế vậy mà chỉ một tý tẹo nữa thôi đã bỏ mà chạy trốn.
Hôm đó Tề Mân Vương thân dẫn văn võ bá quan đi nghe những nghệ sĩ tài ba thổi vu. Nam Quách tiên sinh mang danh nghĩa là đội trưởng nên phải liều lĩnh nháo nhào ra thổi vu đầu tiên. Vừa thổi xong Trương Tổng Quản đã vội vã vỗ tay lãnh đạo rồi khen không hết lời những người xung quanh cũng theo thế mà ca ngợi:
- Hay lắm! Hay lắm!
Tề Mân Vương trước đâu cũng chưa từng nghe độc tấu vu bao giờ. nhưng muốn tỏ ra mình cũng hiểu biết nghệ thuật thổi vu nên cũng lớn tiếng khen hay.
Quả pháo Nam Quách tiên sinh  tung ra đã nổ thật ròn rã. Những nghệ sĩ thổi vu khác mặc dù đều thấy rõ cái ngón thổi vu của Nam Quách tiên sinh  chỉ thuộc loại hạng bét nhưng để chiều lòng cái lối thẩm âm đó của Hoàng Thượng cùng các đấng bề trên nên ai cũng đành thổi vu theo cách của Nam Quách tiên sinh  vừa trình diễn. Từ đó về sau mỗi khi có ai độc tấu vu cũng đều thổi theo cách ấy và  được gọi là "Kiểu Nam Quách" và cũng vì thế mà Nam Quách tiên sinh  trở thành người vừa có thế vừa có quyền.
Nam Quách tiên sinh  đã chiếm trọn vẹn được vinh quang xong đâu đấy tiên sinh hạ quyết tâm cải cách ban nhạc Hoàng gia. Tiên sinh đem ba trăm người trong đội nhạc chia thành ba ban mỗi ban có một trưởng ban và ba phó ban mỗi ban lại chia làm mười tổ mỗi tổ có một tổ trưởng và ba tổ phó rồi tiên sinh đặt giá cho mỗi chức vụ ấy: Trưởng ban giá một nghìn lạng bạc trắng phó ban giá năm trăm lạng bạc trắng tổ trưởng giá ba trăm lạng bạc trắng còn tổ phó giá một trăm lạng và đem tung tin đó ra ngoài. Đúng như Nam Quách tiên sinh đã dự tính người ta tranh nhau đến mua các chức vụ trong đội nhạc chỉ trong vòng có mấy ngày mà trong kho của Nam Quách tiên sinh  đã chất từng đống bạc trắng…
Để tỏ lòng biết ơn ông lão đồng hương Nam Quách tiên sinh  đã đem đến chỗ ông lão hai ngàn lạng bạc trắng trong đó có một ngàn lạng là trả nợ đã vay vốn vì có cái vốn ấy tiên sinh mới giành được cái mũ ô sa của chức đội trưởng đội nhạc Hoàng gia và cũng nhờ nó mà đã kiếm ra bộn bề tiền bạc còn một ngàn lạng là để hậu tạ ông lão đồng hương.
Sau đó Nam Quách tiên sinh  chưa ghìm cương ngựa mà còn thừa thắng xốc tới mở tiếp ba công ty: Công ty phục vụ đội nhạc hoàng gia; Trung tâm nghiên cứu đội nhạc hoàng gia; Công ty biểu  diễn nghệ thuật đội nhạc Hoàng gia. Chức giám đốc điều hành ba công ty đó được trao cho vợ con trai và con gái của Tiên sinh. Nam Quách tiên sinh  còn điều một số tiền rất lớn của đội nhạc Hoàng gia cho ba công ty mà không  phải hoàn vốn cho thoải mái tiêu dùng đồng thời tiên sinh còn dùng những quyền thế trong tay mình mở rộng các mối quan hệ trong kinh doanh buôn bán vì thế mà chẳng bao lâu sau cả ba công ty đều phất lên như diều gặp gió tiền bạc thu về như nước.
Nam Quách tiên sinh  còn cho tiến hành bình xét tuyển chọn các chức danh tiên tiến cho nên lễ lạt quà cáp cứ tơi tới chạy đến nhà tiên sinh. Những người có lễ đều được chọn vào hạng Nghệ thuật Đại sư còn những người không có lễ cứ ngồi đấy mà chờ… Nam Quách tiên sinh  còn tự phong cho mình vào cấp: Nghệ thuật đại sư Đặc đẳng.
Nam Quách tiên sinh  còn tổ chức một số người cho biên soạn bộ "Đại điển đội nhạc Hoàng gia" đem phổ biến rộng rãi. Từ đấy danh tiếng Tiên sinh vang lừng bốn biển chấn động chín châu tên Nam Quách trở thành đại danh từ nghệ thuật.
Nam Quách tiên sinh sung sướng nghĩ: May mà mình không biết thổi vu nếu không mình vẫn chỉ là một anh thợ kèn tầm thường .

                                                         Lê Bầu dịch
                                              (Theo tạp chí Tạp văn tuyển san)
 
 
 
 

(1) Nam Quách tiên sinh  còn được gọi là Nam Quách Sử sĩ. Trong văn học xưa và nay của Trung Quốc thường dùng bốn chữ "Nam Quách tiên sinh " làm biểu tượng cho những kẻ vô tài bất tướng ở vào những địa vị cao hoàn toàn không xứng với tài năng thấp của mình.
(2) Vu là một nhạc cụ cổ xưa giống như cái sênh có ba mươi sáu cái vè (lưỡi gà) bằng đồng. Có người dịch đơn giản từ này là "dịch" hoặc "sáo" cốt cho dễ hiểu. Nhưng dịch và sáo là nhạc cụ khác với vu (N.D)




More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

     Tin v¨n nghÖ
 
 
 

         * Hưởng ứng cuộc thi sáng tác tranh cổ động về đề tài "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" Trung tâm Triển lãm - Hội chợ - Quảng cáo tỉnh và Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa đã phát động trong giới họa sỹ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp trong toàn tỉnh. Từ ngày 20-3-2008 đến 18-3-2008 Ban Tổ chức đã nhận được 51 tác phẩm của 32 tác giả và đã gửi đến Ban Tổ chức cuộc thi Toàn quốc (Cục Văn hóa cơ sở - Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch). Trong số 1000 tác phẩm dự thi toàn quốc Ban giám khảo đã chọn được 83 tác phẩm để các tỉnh tuyên truyền và triển lãm nhân dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh Bác Hồ (19-5-1890 - 19-5-2008) và kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra lời Kêu gọi thi đua yêu nước (11-6-1948 - 11-6-2008).
Trong số 83 tác phẩm được chọn của cả nước tỉnh Thanh Hóa có 6 tác phẩm của 5 tác giả: họa sĩ Thanh Sơn Lê Hồng Khanh Cao Văn Đồng Hoàng Chất và Lê Chí Thanh (đều là hội viên Hội VHNT Thanh Hóa). Cũng trong dịp này Ban Tổ chức cuộc thi đã trao giải thưởng đồng đội cho tỉnh Thanh Hóa - tỉnh có nhiều tác phẩm dự thi.                   
                                                                        Thanh Sơn
 

                               
        * Nhận lời mời của Nhà in Báo Nghệ An trong các ngày từ 26-4 đến 3-5-2008 đoàn cán bộ tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh đã đi thăm và giao lưu học tập tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và tỉnh U Đôn (Thái Lan). Tại Thủ đô Viêng Chăn đoàn đã được các bạn Lào đón tiếp với tình cảm anh em nồng thắm đượm tình hữu nghị Việt - Lào. Đoàn đã đi thăm một số danh lam thắng cảnh di tích văn hóa của Lào và Thái Lan. Kết thúc chuyến đi nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đã hoàn thành bút ký "Một chuyến xuất ngoại". Bút ký sẽ được in trên Xứ Thanh số tháng 6-2008. Mời các bạn đón đọc.
                                                                                                     
                                                                     Lâm Bằng


More...