TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Đỗ Xuân Thu
 
 
 
 

Người đóng vai Bác Hồ
 


        Chuẩn bị kỷ niệm 55 năm ngày thành lập sư đoàn tôi được thủ trưởng Trung đoàn giao cho một nhiệm vụ đặc biệt đó là làm thế nào để có một chương trình văn nghệ đặc sắc nhất cho Trung đoàn tham gia hội diễn của Sư. Tôi mất ăn mất ngủ về cái mệnh lệnh chết người đó. Hôm họp chi bộ chính Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn đồng thời cũng là Bí thư chi bộ cơ quan của tôi đã nói: "Về văn nghệ chi ủy chi bộ giao cho đồng chí Tùng chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện. Đồng chí là một sỹ quan trẻ có nghiệp vụ chuyên môn về khoản này lại là trợ lý tuyên huấn Trung đoàn cho nên đồng chí Tùng lo việc này là quá đúng. Đồng chí nhớ cho Trung đoàn ta là Trung đoàn anh hùng và đã từng được Bác Hồ về thăm sáng tác như thế nào thì sáng tác phải nói được truyền thống đó. Ta vừa kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Sư đoàn vừa kỷ niệm 116 năm ngày sinh Bác Hồ. Cơ quan cho đồng chí nghỉ mười ngày để sáng tác.
Mang tiếng là học ở Trường Cao đẳng nghệ thuật Quân đội ra lại là dân văn nghệ có chút ít chữ nghĩa nhưng tôi đã một mình đảm đương một chương trình văn nghệ độc lập bao giờ đâu. Dạo ở trường tôi có sáng tác được mấy cái hoạt cảnh dăm ba bài hát và vài bài báo được đăng chứ đã kịch cọt gì! Thế mà khi tôi được điều về Trung đoàn này mọi người lại cứ ngỡ tôi là một nghệ sỹ “nhớn”. Thật khổ cho cái tiếng nổi sớm của tôi.
Phong trào văn nghệ của Trung đoàn này rất khá. Phòng truyền thống treo đầy bằng khen giấy khen đủ các loại huy chương của các mùa hội diễn. Chết cái nhân tố hát hò được thì đã ra quân hoặc chuyển đi đơn vị khác hết cả. Với lại những lần đó Sư còn cho tỷ lệ có người ngoài đơn vị tham gia đội văn nghệ. Lần này để đánh giá thực chất phong trào Sư chủ trương các đơn vị phải tự lo lấy tiết mục của mình không thuê mượn diễn viên ngoài nữa. Tất nhiên trong đêm giao lưu vẫn có chương trình văn nghệ của địa phương song đó là chương trình riêng xen kẽ với chương trình của đơn vị. Thế có khổ cho cái thân tôi không cơ chứ! Suy nghĩ nát nước cuối cùng tôi tặc lưỡi: "Thôi không hát được thì đóng kịch vậy!..."
Nhưng mà kịch bản ở đâu? Chẳng nhẽ lấy những vở kịch cũ dàn dựng lại? Không được. Vì những vở kịch này có nói gì đến sư đoàn trung đoàn? Nghĩ đến đây tôi chợt nhớ tới Quỳnh Trang. Giá lúc này có em thì hay biết mấy. Dạo còn học trong trường Quỳnh Trang nổi tiếng là một tác giả viết kịch sung sức. Chỉ cần cho em chủ đề phác thảo ý tưởng là sau một vài đêm em đã có trong tay một kịch bản chững chạc. Tôi yêu dáng hình em tính nết em đã đành còn chết mê chết mệt về tài năng của em nữa. Ngược lại em lại yêu tôi về khả năng sáng tác hoạt cảnh dân ca về chơi các loại nhạc cụ dân tộc về cái tính hào hoa phong nhã đôi chút bốc đồng của tôi nữa. Trong chuyên môn em hiện đại bao nhiêu thì tôi lại cổ điển bấy nhiêu. Bạn bè cứ gán ghép chúng tôi là mô hình của sự kết hợp giữa "tiên tiến hiện đại" với "đậm đà bản sắc dân tộc". Là dân sự gửi đi học nên khi ra trường Quỳnh Trang được tỉnh nhận ngay về giảng dạy tại một trường trung học văn hóa nghệ thuật tỉnh. Chúng tôi vẫn thư từ và điện thoại cho nhau. Em giao ước với tôi: "Khi nào anh viết được một kịch bản chững chạc đưa em duyệt thì em đưa anh về giới thiệu với bố mẹ em. Nghĩ đến đó tôi bừng tỉnh. Phải rồi nhân dịp này mình sẽ chứng minh cho em điều này. Một mũi tên trúng hai mục đích hãy cố lên.
Lời Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn văng vẳng bên tôi. 55 năm Sư đoàn 116 năm sinh nhật Bác Hồ Trung đoàn được Bác về thăm? Phải rồi! Tôi gần như reo lên một mình trong phòng mình sẽ viết một vở kịch về Bác Hồ. Thế là tôi thức trắng mấy đêm liền lao vào viết. Truyền thống Sư đoàn hình ảnh thiêng liêng của Bác đã hút hết hồn tôi. Nghĩ tới Quỳnh Trang cộng với nhiệm vụ thôi thúc cảm hứng tuôn trào trong tôi. Chưa bao giờ tôi lại viết say sưa đến thế. Câu nọ gọi câu kia cảnh nọ thúc cảnh kia hiện ra trên trang giấy. Đêm thứ chín tôi gần như thức trắng đêm. Kèn báo thức tập thể dục vang lên bên tai tôi. Tôi giật mình buông bút cũng vừa hay đến phút hạ màn của vở kịch.
Chẳng cần quan tâm đến mấy giờ sáng tôi tức tốc cầm bản thảo chạy lên phòng Chỉ huy. Ông Hoàn Chủ nhiệm Chính trị đang quần đùi áo lót múa võ ngoài sân: "Báo cáo Chủ nhiệm! Em đã viết xong kịch bản rồi ạ!". Ông Hoàn dừng tập. Ông nắm tay tôi lôi về phòng ông. Cầm tập bản thảo dày cộp trên tay ông nheo mắt cười với tôi: "Cậu khá. Chẳng biết thế nào chứ về độ nặng thế này là được. Hôm nay tớ sẽ xem. Có gì tối ta gặp nhau trao đổi nhé!
Cả ngày đó tôi làm một giấc thẳng cẳng từ sáng chí tối. Ngủ bù cho gần chục đêm thức trắng. Cơm tối xong tôi lên phòng Chủ nhiệm. Ông đã ngồi chờ tôi tự bao giờ. Cậu liên lạc pha cho hai thầy trò tôi hai tách cà phê nóng. Vừa nhâm nhi cà phê ông Hoàn vừa nói: "Cậu viết hay lắm. Tớ đã đọc rất kỹ. Có điều phải chỉnh sửa lại đôi chút". Ông nhấp ngụm cà phê và nhìn xoáy vào tôi thăm dò. Tôi thận trọng: "Sửa chỗ nào ạ?". Ông Hoàn nói: "Đoạn Bác Hồ về thăm đơn vị đó. Hoành tráng quá. Vệ binh tiêu binh cờ hoa ầm ĩ cả lên. Trên thực tế thì làm gì có thế. Hồi chiến tranh Bác đến thăm đơn vị nào thường rất ít khi báo trước. Bác đến thường không đi vào cổng chính không vào hội trường hay phòng chỉ huy mà Cụ đến từ phòng ăn nhà bếp phòng nghỉ của bộ đội thậm chí từ các công trình vệ sinh cơ. Thăm bộ đội trước sau mới làm việc với chỉ huy. Cụ sâu sát lắm chứ không như cậu vẽ đâu". Nói xong ông Hoàn cười to. Tôi lúng túng: "Thật thế hả Chủ nhiệm?". "Chứ lại không? Cậu không đọc sách báo nói về Bác Hồ à?". " Dạ có nhưng chưa kỹ ạ!". "Thế cậu có đồng ý sửa đoạn này không?". "Có chứ. Em sẽ sửa theo ý Chủ nhiệm".
Ông Hoàn còn chỉ cho tôi mấy chi tiết cần điều chỉnh. Đoạn ông đột ngột hỏi tôi: "Thế cậu nghĩ ai sẽ đóng vai Bác Hồ?". Tôi ớ người. Quả thực tôi chưa nghĩ đến điều này. Phần vì do cảm hứng trào tuôn lôi cuốn tôi phần vì thực sự tôi cũng chưa nghĩ tới. "Đấy. Vấn đề là ở chỗ ấy đấy. Kịch bản hay mà không có người diễn diễn không tốt thì...". Ông bỏ lửng câu nói và ngồi trầm ngâm. "Với lại" ông tiếp "Người đóng vai Bác Hồ phải thực sự sống có mẫu mực được anh em yêu mến. Đó là tôi chưa nói đến ngoại hình phải giống Bác". Thế là sự việc đang có chiều bế tắc. Đúng như lời ông Hoàn nói vở kịch của tôi có hơn chục nhân vật. Các nhân vật này chiến sỹ đơn vị tôi đều có thể vào vai được. Riêng vai Bác Hồ thì tôi vo đầu nghĩ: "Chủ nhiệm tìm giúp em với. Chẳng lẽ bỏ vở kịch?". "Bỏ thế nào được. Nội dung cậu viết tốt như thế trúng thế sao lại bỏ? Đảm bảo diễn tốt thì chắc chắn Trung đoàn mình sẽ ăn giải cao". Ông Hoàn nói với giọng dứt khoát.
"Chào hai thầy trò! Có gì mà các cậu ngồi nghiêm trọng vậy! Uống cà phê mà không gọi tớ!". Tôi và ông Hoàn cùng quay ra cửa. Một người đàn ông dong dỏng cao bước vào. "Ôi! Anh Tiến! Chúng tôi đang bàn về chương trình văn nghệ chào mừng ngày thành lập Sư đoàn. Giới thiệu anh đây là cậu Tùng cán bộ tuyên huấn mới về Trung đoàn ta. Còn giới thiệu với Tùng đây là anh Tiến Trung đoàn phó chính trị cũng vừa về Trung đoàn tuần trước thay anh Hải chuyển lên Sư". Ông Tiến giơ tay bắt tay tôi: "Thế ra tôi với cậu đều là lính mới của Trung đoàn".
Cậu liên lạc lấy thêm cốc cà phê cho ông Tiến. Tôi lặng lẽ quan sát ông đặc biệt cái trán hói đến tận đằng sau gáy đã thu hút sự chú ý của tôi. Dưới ánh điện cái đầu ông trông bóng nhẫy. Ông có khuôn mặt vuông chữ điền đôi mắt sáng cái miệng rộng và rất hay cười. Giọng ông trầm ấm và truyền cảm thu hút người nghe. Mới gặp ông lần đầu tôi đã cảm thấy dễ chịu. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi; mời ông Tiến vào vai Bác Hồ được chăng? Khuôn mặt ấy vóc dáng ấy vào tay tôi hóa trang ba chục phút là thành ngay. Thêm tý tóc giả phấn son bổ sung vào là xong. Tôi vốn dĩ là tay chuyên nghiệp hóa trang cho các diễn viên nên tôi biết. Nhưng chẳng lẽ thủ trưởng lại lên sân khấu? Liệu sếp có nghe không? Hình dáng thì được đấy nhưng lời thoại thì biết thế nào?
"Cậu làm gì mà ngồi ngây ra thế?". Ông Tiến nhìn tôi dò hỏi. Tôi lúng túng chống ngượng. Ông Hoàn đáp thay: "Cậu ấy đang lo về vở kịch đấy". Ông Tiến vồn vã: "Cậu viết kịch à? Giỏi! Con gái tớ cũng viết được kịch đấy". Ông Hoàn phân bua: "Chả là thế này vở kịch của cậu Tùng rất hay song chưa phân được một vai mà vai này lại là vai chính anh ạ!". "Vai gì?". Ông Tiến sốt sắng. "Vai Bác Hồ thủ trưởng ạ!" - Tôi vội vã trả lời. "Viết kịch về Bác Hồ cơ à?" - Ông Tiến hỏi lại. Ông Hoàn giải thích: "Năm nay kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Sư đoàn đúng tháng kỷ niệm 116 năm ngày sinh Bác Hồ mà Bác Hồ từng đã về thăm Sư đoàn ta nên chi bộ giao cho cậu Tùng sáng tác một vở kịch có nội dung đó". "Tốt! Tuyên huấn là phải thế. Trước tớ làm mãi tớ biết!". Ông Tiến xởi lởi. Thấy vậy tôi chủ động: "Báo cáo hai thủ trưởng! Em có ý này không biết có nên nói không?". "ý gì? Sao cứ ấp úng thế?". Cả hai ông cùng hỏi lại và chăm chú nhìn tôi. Tôi quyết định: "Em làm nghệ thuật từng là họa sỹ không chuyên em thấy thủ trưởng Tiến vào vai Bác Hồ là rất được đấy ạ". Ông Tiến trợn mắt nhìn tôi còn ông Hoàn thì nhìn như xoáy vào mặt ông Tiến. Tôi sợ quá: "Dạ dạ nếu nếu không được thì thôi ạ!". "Không phải là không được mà cậu làm tớ bị bất ngờ". Ông Tiến hạ giọng. Chủ nhiệm Hoàn nói: "Quả là con mắt cậu Tùng tinh. Càng ngắm anh tôi càng thấy anh càng có nét giống Cụ. Thôi anh giúp cậu ấy. Với lại màu cờ sắc áo của cả Trung đoàn. Anh là Trung đoàn Phó chính trị anh hiểu hơn chúng tôi!". Bàn thảo mãi cuối cùng ông Tiến đã nhận đóng vai Bác Hồ.
Những ngày tập thật vất vả. Tôi vừa là tác giả vừa là đạo diễn nhắc vai nhắc vở rát hết cả cổ họng. Được cái ông Tiến nhập vai rất nhanh. Thì ra trước đây ông đã từng là đội trưởng đội tuyên văn của một Sư đoàn. Trung đoàn trưởng mặc dù bận rất nhiều công việc cũng thường xuyên đến động viên. "Bác Tiến mà không đạt giải là không xong đâu đấy nhé". Trung đoàn trưởng cười nói với ông Tiến. Tôi vui vì đứa con tinh thần của tôi tôi còn niềm tự hào khác nữa đó là những ngày này tôi chỉ huy được cả Trung đoàn Phó chính trị. Có hôm tôi đùa với ông Tiến: "Cháu cho chú đóng vai Bác Hồ chú phải gả con gái cho cháu đấy!"."Cái cậu này! Tớ nhất trí ngay nhưng cứ liệu hồn hôm nào diễn không hóa trang tớ ra Bác Hồ thì đợi đấy". Ông nói và cười vui vẻ với tôi.
Tổng duyệt toàn bộ lãnh đạo chỉ huy của Trung đoàn từ đại đội trở lên đều có mặt. Đội văn nghệ chúng tôi làm như thật. Tôi thêm nhiệm vụ hóa trang cho các diễn viên. Ngay sau khi màn hạ Trung đoàn Trưởng nói với tôi: "Tham gia hội diễn xong cho cậu nghỉ mười ngày coi như thưởng phép". Tôi sướng run người và nghĩ ngay đến Quỳnh Trang. Tôi điện cho em bằng mọi giá phải lên xem vở kịch của tôi rồi đưa tôi về ra mắt bố mẹ. Em cười trong máy và nhận lời ngay. Người tôi lâng lâng.
Đêm nay Trung đoàn tôi đến lượt diễn. Cả đội hồi hộp. Đến bản lĩnh kỳ cựu như ông Tiến cũng bồn chồn. Tôi ngoài sự hồi hộp chung ra còn có cả nỗi thấp thỏm mong chờ Quỳnh Trang lên. Sao gần đến giờ diễn rồi mà vẫn không thấy em đâu? Hay là em??? Điện thoại di động cho em thì ngoài vùng phủ sóng. Bao câu hỏi cứ xoáy lên trong đầu tôi.
Cuối cùng giờ mở màn vẫn theo như kế họach. Họ đâu có biết tôi chờ ai. Ngồi ngay hàng ghế đầu tiên tôi chăm chú theo dõi đứa con tinh thần của tôi ra đời. Đang mê mải vậy thì cậu bảo vệ dắt tay một cô gái đến bên: "Anh Tùng có bạn gái gặp anh này". Tôi giật mình ngoảnh lại: Quỳnh Trang. Tôi reo lên. "Sao em đến muộn thế?". "Xe máy em bị hỏng dọc đường sửa mãi mới được. Diễn lâu chưa anh?". Em hỏi lại tôi. "Vừa mới bắt đầu. Em đến thật đúng lúc". Người tôi rạo rực lâng lâng. Cả sân diễn hàng ngàn người lặng yên theo dõi vở diễn. Đến đoạn Bác Hồ xuất hiện thì không ai bảo tất cả đều reo to: "Bác Hồ! Bác Hồ kìa! Giống quá!". Khi tiếng Bác cất lên tất cả im lặng. Ai cũng tròn mắt há miệng nhìn lên sân khấu nghe Bác nói. Người tôi nổi da gà. Tôi quên cả Quỳnh Trang đang ngồi bên. Em ôm chặt vai tôi nghển mãi cổ lên để theo dõi.
Vở diễn kết thúc mọi người lao lên sân khấu tặng hoa và chụp ảnh chung với Bác Hồ. Tôi cũng cầm tay Quỳnh Trang chạy lên. Đến gần Bác Hồ. Quỳnh Trang sững người trố mắt nhìn rồi bất chợt em lao đến ôm lấy Bác: "Bố! Sao bố ở đây?". "Quỳnh Trang! Con cũng có mặt ở đây à?". Mọi người ngơ ngác. Tôi đứng như trời trồng nhìn cảnh tượng ấy. Trung đoàn trưởng can thiệp: "Thôi bố con nói chuyện sau. Để chụp ảnh lưu niệm với mọi người đã!".
Tôi hỏi nhỏ Quỳnh Trang: "Bố em thật à?". Em gật đầu: "Bố em đấy. Cụ ở trên biên giới mới chuyển về đơn vị này chưa kịp báo tin cho mẹ em và em". Chết tôi rồi. Tôi đần mặt ra vội nhớ lại những ngày vừa qua có gì khiếm khuyết với cụ khốt không. Sao lại thế được cơ chứ? Biết ăn nói ra sao bây giờ?
Khi mọi người về đã vãn ông Tiến đến bên chúng tôi. Quỳnh Trang giới thiệu tôi và lý do em có mặt. Ông giang tay ôm lấy tôi và cười lớn: "Duyên kỳ ngộ đấy Tùng ạ". Quỳnh Trang ngây người không nói nổi lời nào trân trân đứng lặng.
                   Đ.X.T

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh



MAI HƯƠNG


Trừu tượng


Truyện ngắn

 

        Mệt mỏi. Đói meo. Từ lâu nó không còn ăn bữa sáng nữa bởi nguồn tài trợ của thầy u ở quê ra luôn thất thường do mùa màng thất bát. Hoàn cảnh sống đã rèn luyện cho nó cách tiêu tiền thật chi li. Cũng bởi biết chi li nên cả phòng đã tin tưởng bầu nó cái chức "Đi chợ Trưởng" với nghĩa vụ lo cho cả phòng 5 miệng ăn không bị "no dồn đói góp"... Thế nhưng dù khéo đến mấy cái túi tiền của năm sinh viên vẫn càng về cuối tháng càng teo dần một cách đáng lo ngại.
Nó cứ đi như một cái máy: trường - chợ - nhà trọ. Cái tam giác ấy được lặp đi lặp lại thành thói quen thành một nếp nhăn trong vỏ não. Đến chợ. Cái áo màu tàn thuốc thêu những bông hoa phơn phớt tím lướt qua mắt nó. Nó biết nếu được khoác chiếc áo này trông nó sẽ đẹp hơn trong mắt các chàng trai. Nếu được khoác chiếc áo này nó sẽ bớt  thẹn vì những bộ đồ đã quá cũ kỹ của mình. Và biết đâu nếu có một cái áo mới nó sẽ có đủ tự tin cho một cơ hội hẹn hò... Thế nhưng lúc này nó thấy cái áo thật là trừu tượng bởi lẽ nó không thích màu tàn thuốc bởi lẽ những bông hoa phơn phớt tím được thêu thùa hơi rườm rà mà tính nó lại thích đơn giản bởi lẽ có áo mới sẽ bị "chúng nó" xúm lại ngắm nghía và đòi khao và bởi lẽ nó không bao giờ được khoác chiếc áo đó vì nó không có tiền mua.
Chợt nó sững lại. Một cái gì đó đang ngọ nguậy trước mắt. Hai con người một người đàn ông và một đứa trẻ. Người đàn ông đang bò lết bằng hai tay trên cái nền chợ lép nhép nước mưa để kéo lê đôi chân bị liệt một bên ống chân bị băng bó tới tận đầu gối. Trên đôi chân tật nguyền ấy là một cái bao tải trên bao tải là đứa trẻ khoảng hơn một tuổi đang thiêm thiếp ngủ. Vài ba con ruồi vo ve trên khuôn mặt lem nhem mũi dãi khiến đứa trẻ có cảm giác nhột thỉnh thoảng hai tay giật thột khua lên không khí rồi dụi dụi vào mắt mũi đầy ghèn dử. Nó rùng mình. Cái gì đó như một nỗi đau đớn vỡ ra làm nhói buốt nơi tim nó. Mỗi bước lê người đàn ông lại rên lên nặng nề khó nhọc. Tiếng rên như vón cục lại cứng đanh đập vào màng nhĩ khiến nó cảm thấy đau thấu tận óc. Lết được một đoạn vài gang tay người đàn ông lại kiệt sức nằm phủ phục. Hai cùi tay rách bươm bê bết bùn. Hai bàn tay đen đúa ôm ghì cái mũ cối đã nát đựng ít đồng tiền lẻ được bố thí. Nó liếc xuống tay mình bàn tay trắng xanh đang cầm năm ngàn đồng. Bữa chiều của năm sinh viên. Khuôn mặt bần thần của "thủ quỹ" Khánh hiện lên trong óc nó một cách rõ rệt: "Này còn năm ngàn đồng cuối cùng đấy nhé. Hết nhẵn. Mai chủ nhật tao về bác kiếm bữa. Con Hoa con Quyên về quê xin "tài trợ". Mày và con Thúy ở lại chịu khó "ăn chay" thêm một hôm. Khánh dúi vào tay nó năm ngàn đồng cuối cùng rồi với vẻ day dứt gợi ý: "Hay là... mày bảo với chủ nhà cho ứng trước tiền dạy thêm tháng này đi?"; "Không được tao mới dạy con người ta được mươi ngày..."; Trả lời xong câu ấy không biết khuôn mặt nó còn hiện lên vẻ bần thần đến cỡ nào mà Khánh lảng ngay ánh nhìn đi chỗ khác trong khi miệng vẫn tươi cười bả lả: "A tao nhớ ra rồi. Nhà bác tao có giàn nhót có lẽ bây giờ đang chín rộ. Thứ hai tao về sẽ đền bù xứng đáng!". "ừ biết thế thôi đừng nói nữa mà tao thèm bởi vì nhót thì chua ứa nước miếng ra đây này". Và để ý nghĩa đừng bám riết lấy những quả nhót đỏ tươi và chua ứa nước miếng ấy nó liền chuyển về khái niệm "ăn chay". Ăn chay thì tâm hồn thanh tịnh lắm. Ăn chay thì sống lâu nữa. Báo đã nói thế tức là đúng. Thế nhưng Báo cũng nói bữa ăn phải có đủ bốn nhóm dinh dưỡng phải có cả chất xám để phát triển trí não. Chất xám là cái quái gì nhỉ trừu tượng không thể chịu nổi! Hình như chất xám thường ẩn náu trong từng tảng thịt nạc đỏ hỏn mà người ta bán ở chợ. Đỏ hỏn thì kinh lắm không dám nhìn chứ đừng nói đến ăn. Chất xám đối với nó thật đáng sợ như một thứ vi rút lây bệnh "Viêm màng túi"...
Nó lại nhìn vào bàn tay trắng xanh của mình bàn tay đang nắm thật chặt năm ngàn đồng. Trắng và xanh hai màu sắc ấy thật quen thuộc quen thuộc như hai món đậu phụ và rau muống thường được ăn hàng ngày. Nó nhìn kỹ bàn tay những đường gân xanh nổi rõ hình như máu trong mạch cũng chuyển màu xanh hay sao ấy. Nó nghĩ thầm: Có thể món nước rau luộc đang làm máu nó đổi màu. Giống hệt như người ta pha mực xanh vào nước cắm hoa những bông hoa trắng cứ đổi dần xanh màu xanh phơn phớt trông thật lãng mạn. Với tiến độ này đến khi nào thì cơ thể mình sẽ chuyển hẳn sang màu xanh giống màu nước rau nhỉ. Nó lại ngắm kỹ bàn tay những ngón tay xanh xao nắm chặt mấy đồng tiền lẻ. Tiền là gì nhỉ là một thứ không tự nhiên sinh ra cũng không tự mất đi nó chỉ chuyển từ túi người này sang túi người khác. Tiền không hề trừu tượng vì có tiền là có nhiều thứ; chiếc áo màu tàn thuốc thêu hoa tím một bữa chiều thịnh soạn với đầy đủ bốn nhóm dinh dưỡng cơ bản trong đó có một món thịt rim hành thơm lừng đại diện cho chất xám... Nếu được ăn món thịt rim ấy chắc hẳn nó sẽ cảm thấy những lời thầy giảng thật dễ hiểu và không hề trừu tượng...
Chiếc mũ cối mục nát lại huơ lên trong không khí rứt ý nghĩ của nó ra khỏi món thịt rim. Chiếc mũ kia đang có nhu cầu nhận tiền. Nào một ngàn cho người đàn ông và một ngàn cho đứa trẻ. Vị chi hai ngàn đồng cho cái mũ cối mục nát...
Nó đứng lui vào nhường đường cho người đàn ông lết tiếp.
"Này em mua đậu phụ đi". Nó giật mình quay lại. Đậu phụ à? ừ nhỉ hai bìa đậu cho bữa chiều. Nhưng trong tay nó chỉ có ba ngàn đồng. Một bài toán khó cứ lùng bùng trong óc nó; nếu ăn đậu phụ phải nhịn rau muốn ăn rau phải nhịn đậu phụ. Sao vậy nhỉ hôm nay nó thấy mình không hề sáng suốt một tí nào. Mọi ngày đi chợ nó tính nhanh lắm cơ mà! Rồi cuối cùng nó cũng đi đến quyết định: bữa chiều sẽ có món đậu phụ luộc và món canh nước luộc đậu phụ. Chị bán hàng thoăn thoắt. Đưa tiền chưa kịp quay đi thì chị đậu phụ gọi với: "Em ơi hôm nay đậu lên giá rồi hai miếng phải năm ngàn cơ!" Rồi chị chép miệng phân bua: "Bão lụt mất mùa mọi thứ đều lên giá vùn vụt. Các thứ rau hôm này cũng tăng giá gấp đôi gấp ba rồi em ạ". Nó ngượng ngập trả lại hai bìa đậu cầm lại ba ngàn đồng. Nó bước vội về phía hàng rau. Đồng tiền đã ướt nhẹp trong tay mà nó vẫn chưa tính ra. Đậu thì chỉ được một bìa chia cho năm đứa rau muống thì may ra được một mớ lại thêm món nước luộc. Dù sao nước luộc rau trông cũng dễ chịu hơn nước luộc đậu. Xong thế là bài toán đã có lời giải.
Cái hẻm nhỏ về nhà trọ hôm nay sao mà chật hẹp. Nó phát hiện ở cái gốc cây bên lề con ngõ có một người đàn ông đang đứng với một tư thế thật khó coi. Cái gì thế này? Trước mắt nó là đứa bé lúc nãy ở chợ vẫn còn nằm thiêm thiếp trên cái bao tải. Dựng vào chân tường là một cái ống màu trắng hình chiếc chân bị bó bột. Nó đứng như bị chôn chân tại chỗ hết nhìn chăm chăm vào đứa bé rồi lại nhìn vào cái ống màu trắng ấy mà chẳng nghĩ ra được cái gì cụ thể. Bỗng người đàn ông bên gốc cây kia tiến lại lừ mắt hất hàm vào nó: "Nhìn gì biến!". Rồi gã chậm rãi rút trong túi ra một bao vi na chậm rãi bật lửa châm một điếu bập bập mấy cái. Đoạn gã vắt đứa trẻ lên vai vặt vẹo như một tấm giẻ rách. Gã kẹp cái ống trắng vào nách và lững thững đi. Cho đến khi không còn nhìn thấy làn khói xanh phì ra từ điều thuốc ngậm lệch và mùi thuốc lá khét lẹt đã bị một luồng gió mạnh cuốn đi nó mới như tỉnh lại và bước tiếp.
Món rau muống chẳng được non nhưng nó không đành lòng ngắt bỏ nhiều cuống. Phải biết tiết kiệm. Nước rau bổ và mát nhiều vi ta min khoáng chất. Con Hoa nhà hóa học "vô hạng" mày phải hiểu điều đó chứ sao lại cằn nhằn tao chẳng mua được gì hơn rau muống? Cơm đã được dọn. Nồng độ vi ta min và chất khoáng đậm đặc đến nỗi bát nước rau cứ xanh rì ra. Bởi vì nước rau xanh rì nên vi ta min và chất kháng đều là những thứ không hề trừu tượng. Chúng ta cứ việc uống căng bụng cái dung dịch màu xanh ấy đi không to ngang cũng béo dọc đừng đổ phí. Rau chấm nước rau hòa  muối và mì chính. Thậm chí đến cả nước mắm cũng đã hết. "Giá như chỉ một miếng đậu phụ rán thôi tao sẽ và nốt chỗ cơm này" - Thủ quỹ Khánh mơ màng. Thật hoang đường nó thầm nói với Khánh mày không biết rằng đến giờ phút này đậu phụ cũng trở nên trừu tượng rồi hay sao? "Nhưng mà..." - Quyên nhăn mặt - "Sao có năm ngàn mà mày mua được mỗi một bó rau?" Mắt nó ầng ậng nước một cái gì chẹn ngang cổ họng khiến nó không thể và nổi miếng cơm. Nó tung đũa xuống mâm òa khóc: "Tao bị ăn cướp mắt hai ngàn đấy. Hay chúng mày nghĩ tao ăn bớt tiền? Thôi từ nay tao trả chức "Đi chợ trưởng" cho chúng mày. Tao không xứng đáng!"
Nửa đêm. Nó tỉnh giấc bởi bụng sôi óc ách. Nó thèm một cái gì đó khác hẳn rau ví như cơm nguội với tóp mỡ dầm nước mắm chẳng hạn để khỏa lấp cảm giác trống vắng trong dạ dày. Nỗi thèm rất thật nó cứ cồn cào lên trong ruột. Nó ngồi dậy tựa lưng vào cái vách cót ép ngăn với phòng kế bên. Tiếng óc ách trong bụng rõ hơn cả tiếng ọp ẹp của bờ vách. Không chịu nổi những âm thanh ấy nó rờ rẫm xuống giường bật đèn bàn định bụng sẽ lấy cuốn giáo trình tiếng Anh ra đọc cho quên đói. Chợt nó thấy một gói "hảo hảo" để chận lên một tờ giấy. Nhấc gói mì tôm ra nét chữ của Quyên:
"Tao biết mày đói vì bỏ bữa chiều. Tao vô tâm làm mày hiểu nhầm đừng giận tao nữa nghe. Chỉ tại chúng ta đều là sinh viên nghèo mà. Cả phòng vẫn tín nhiệm mày chức "Đi chợ trưởng" đừng trả lại mà tội nghiệp bọn tao. à báo cho mày một tin tốt lành: Tao đã kiếm được một việc làm thêm cho cả phòng. Bà chủ quán phở ăn đêm đã đồng ý cho bọn ta luân phiên nhau làm ở quán. Chúng tao đã bàn nhau: Vì mày đã lãnh việc đi chợ vất vả lại vừa làm gia sư vừa học tiếng Anh buổi tối nên miễn cho mày. Bốn đứa chúng tao sẽ thay nhau mỗi đứa thức một đêm để làm. Như vậy sẽ không ảnh hưởng sức khỏe lắm lại có một khoản "bù giá" cho mày đi chợ. Đêm nay tao là kẻ đầu tiên được "khai trương" việc làm thêm này đấy. Chúc ngon miệng nhé!"
                                                                            M.H




TIÊU ĐÌNH



Trăng vuông



Truyện ngắn



        Mộ của em Lành nằm trên một mô đất lưa thưa hoa trinh nữ chân đạp về hướng đông. Hồi cha còn sống đã khổ công xây được cho em một cái nấm bằng gạch láng xi măng. Cha định xây nấm hình chữ nhật như mấp mô những ngôi mộ tại đây. Sau nghe tôi bàn riết cha xuôi lòng xây nấm hình tròn không gấp khúc góc cạnh. "Vậy là chẳng sợ mưa dập gió vùi. Lâu lâu về nhổ cỏ thắp hương là yên lòng" cha tôi có vẻ như vừa trút bớt một gánh nặng đau đáu cả đời.
Em nằm lại đó một mình với đất đỏ ba zan và những hàng cây phờ phạc gió Lào trong khi gia đình tôi đều đã ra Bắc. Tôi ra trước từ hồi còn học lớp 9 theo diện học sinh K8 của Chính phủ. Cha tính ở thì không chịu nổi với bom đạn. Còn đưa cả gia đình ra cùng lúc thì làm gì để sinh sống. Ngày tôi đi vẫn gió Lào thổi rát rạt rừng cây rốc rỗng như không còn đủ sức chịu đựng được nữa. Pháo giặc đêm ngày bắn vào từ ngoài hạm đội 7 từ Cồn Tiên Dốc Miếu cũng dày hơn. Em Lành tiễn tôi lên đến miệng hầm - nơi tiếp giáp giữa đất tối om với trời bao la sáng trong. Anh em chỉ yên lặng nhìn nhau tay vẫy vẫy lòng buồn buồn. Theo cha một đoạn giao thông hào có những hầm móc cách nhau rất đều nước mắt tôi mới bắt đầu chảy dài. Ngày hòa bình hồi còn khỏe cha tôi thường giành quyền được về thăm em vào các dịp giỗ chạp. Cha đi thì tôi phải ở lại để chăm sóc mẹ đang đau yếu ăn nằm một chỗ. Về sau mẹ mất đến lượt cha già yếu tôi lại phải bận rộn với quá nhiều việc gia đình cơ quan nên cũng ít khi được về thăm em.
Trời chiều đứng gió mùi hương trầm cứ quần vờn lãng đãng như thể hồn của em Lành chưa chịu về với núi rừng sông biển. Lâu lắm mới được gặp nhau đúng không em? Không như hồi bị đạn bom nhốt dưới địa đạo gia đình bịt bùng bóng tối. Chẳng biết chạy chơi đâu anh em mình cứ quấn quýt bên nhau như hình với bóng để chuyện trò về cuộc phiêu lưu của dế mèn.
Ngày ấy anh đã thấy em giống chú dế mèn không chịu giam mình nơi hang tối. Nên cứ bực bội đòi lên lên cho được trên mặt đất. Tức cha quát:
- Lên trên đó làm gì?
- Cho con chạy qua nhà cậu chơi chút... một chút thôi... rồi ở miết dưới hầm cũng được...
- Bom đạn đầy trời trên đó tề...
Cha bỏ lửng câu nói rồi luồn theo một ngách hầm sang ngăn nhà bếp. Cũng có nghĩa là cha đã phán quyết rạch ròi: "Không được đi đâu cả".
Nhà cậu tôi ở đối diện với nhà tôi chỉ cách chừng năm mươi mét. Hồi chưa có "chiến tranh phá hoại" em Lành thường chạy sang bên đó chơi với bé Ly con của cậu. Đến giờ ăn cơm nghe gọi nó vừa dụi mắt vừa chạy ngược hướng gió thân hình tong teo như muốn bay ngược lại.
- Thôi mà ở dưới nầy chơi ô với anh đi - Tôi dỗ em Lành.
- Sao anh lên được em lại không lên được?
ừ hả tại sao cha chỉ nhắc nhở tôi phải cẩn thận mà không cấm tôi ra khỏi hầm. Suy nghĩ tôi nhìn nó nó nhìn tôi. Bất chợt nhận ra màu da mặt chuyển sang bợt lạt hơi xanh của em tôi nghe thắt tim:
- Anh khác.
- Khác sao?
- Thì anh đã lớn lại còn phải đi học.
Đến đây thì em Lành im lặng hai mắt nhiu nhíu ra vẻ suy nghĩ. Nói đến đi học nó chịu thua. Bởi nó chỉ mới học vỡ lòng a b... dưới lán có mái đắp bằng đất nhồi rơm. Từ ngày bom đạn rộ lên làng xóm ngoằn ngoèo những địa đạo đất đỏ nhà nhà bị đẩy từ trên mặt đất xuống dưới hầm sâu. Lớp học của em Lành không ai giải tán cũng trở thành trống huơ trống hoác. Giữa lờ mờ nhợt nhạt ánh sáng không đủ của chiếc đèn dầu làm bằng vỏ đạn 12 ly 7 tôi dạy em học tiếp chữ c d... Chữ được chữ mất bữa có bữa không.
- Anh Trọng xin cha cho em lên chút đi. Lên một lần thôi...
Tôi đành lòng phải hứa với em Lành:
- Được rồi anh sẽ xin.
Không ngờ khi dọn lòng thưa hết lời lẽ với cha để xin cho em Lành lên chơi trên mặt đất cha vẫn một mực khư khư: "Không được!".
- Thì chỉ khi vắng máy bay đạn pháo cha cho em lên một chút thôi!
- Biết lúc nào là vắng lúc nào không. Mày thấy đó mới nghe cạch một cái ngoài biển trong này đã nổ đoành. Người lớn còn không núp kịp. Em con còn khờ lắm...
Cha tôi có lý. Năm ngoái thằng Hoành lớp tôi chết thịt xương bay mắc trên cành tre cũng chỉ vì mải nhởn nhơ không lo nhảy vào hầm ếch. Khoảng cách giữa bình yên và sự chết chỉ cách nhau một tiếng nổ đùng. Mẹ nó vừa trông thấy con chạy lúp xúp ngoài bờ lúa chớp mắt xác nó đã tan tành. Khi người ta tìm gom được một số ít xương thịt của thằng Hoành bỏ vào trong cái tỉn mang về thì bà mẹ lại ngất xỉu lần thứ hai.
Thấy tôi buồn buồn cha động viên:
- Khi nào con ở nhà có thể đưa em lên lán chơi một chút cho đỡ ngột. Còn bình thường thì phải tập cho em thói quen sống dưới hầm. Bom chùm pháo bầy còn dài ngày lắm đấy...
Dài ngày là bao nhiêu nữa? Đã gần một tháng trời không ngớt đạn bom em Lành bị nhốt dưới đáy địa đạo không biết trời trăng mây gió. Nằm đất ngủ đất nghỉ ngơi ăn chơi với bóng tối da thịt em Lành đã nhão ra như người đang bệnh.
Tối hôm đó trong khoảng lặng yên hiếm hoi giữa những đợt pháo bầy tôi và em Lành lẻn bò theo đoạn thông hơi dẫn lên miệng hầm phụ. Có lần cha dặn nếu lán bị cháy miệng hầm bị bít thì phải theo lối này để thoát ra. Tôi có cảm giác như hai anh em đang trở về từ một chuyến thám hiểm lòng đất. Trước mắt là đường lên trời hun hút. Men theo đường lên trời ấy được một đoạn chúng tôi có thể nhìn thấy ánh sáng trăng qua cái miệng hầm vuông vức. Hình như là trăng đang ở độ tròn đầy nhất. ánh trăng rải vàng óng màu mật ong lọt vào đường hầm nhỏ xíu huyền ảo như trong truyện thần tiên. Em Lành dừng lại chỉ tay về phía ấy kêu lên: "Ôi đẹp quá!". Vừa nói em vừa rướn người vung đôi cánh tay khẳng khiu như chú chim tập chuyền đang muốn bay. Đôi mắt lóng lánh ánh trăng. Nhớ lời cha tôi kéo tay em:
- Thôi xuống đi pháo đấy!
Em Lành như không nghe lời tôi nói:
- Đố anh trăng hình chi?
- Thì trăng tròn chứ hình chi.
- Không hình vuông.
Tôi thầm cười nhớ lại bài hình học đầu đời tôi đã dạy cho em Lành ngay trong căn hầm chữ A bên dưới ánh đèn lét leo hắt ra từ một lõm đất được móc sâu không đủ soi rõ những nét vẽ trực quan trên đất.
- Anh ngó nè một cạnh hai cạnh... một góc hai góc... Em Lành vừa nói vừa chỉ tay lên miệng hầm.
Nhìn theo ngón tay chỉ của em Lành tôi nhận ra một khoảnh trời đầy trăng không tròn trịa mà gấp gãy góc cạnh. Đó là vầng trăng riêng của em tôi sao?
ầm... ầm... xíu... ầm xíu... ầm... ầm... Hình như khoảnh khắc bình yên của thênh thang đất trời bên trên căn hầm đang chao đảo. Tiếng đạn pháo gầm réo tiếng kẻng báo động rồi tiếng máy bay khi gần khi xa đang cày nát vầng trăng vuông vức của em Lành. Cha quát: "Thằng Trọng đâu đưa em xuống! Nhanh lên!". Tiếng cha tôi thốc tháo nỗi lo. Tôi kéo em Lành như đang rơi tụt trở lại lòng đất. Cha tôi mặt bớt tái nói tỉnh queo: "Đã dặn rồi đừng có ở lâu trên đó".
Cuộc sống cứ chảy theo quán tính thời chiến: Bình thường trong bất bình thường. Trên kia bom đạn vẫn nổ trăng vẫn sáng mây trắng tha hồ bay. Dưới hầm gia đình tôi vẫn co cụm giữa mập mờ ánh đèn không vui chẳng buồn. Lắng nghe bom đạn chán lại nói lại cười. Em Lành thì hình như vẫn đang còn nuối tiếc khoảnh trời hình vuông đầy trăng. Lát sau đạn pháo chưa dứt cha tôi đã giục: "Thôi tắt đèn đi còn phải để dành dầu". Căn hầm lại tối om như nhiều ngày đêm từng tối om.
Tôi mở mắt nhìn trân bóng tối mà lại thấy khoảnh trăng vuông của em Lành. Chưa có đêm nào khó ngủ như đêm ấy. Giá mà được nằm sát cạnh em Lành không cách cái thân hình to bề của cha chắc tôi sẽ sờ xem mắt em đang nhắm đang mở? Người chết nằm dưới mồ chắc cũng giống như thế này? Khác chăng là họ chẳng còn biết gì nữa trên đời nên không đòi lên xem trời đất như em Lành. Nghe như có con giun con dế đang lọ mọ bò dưới lưng tôi cố xua đuổi suy nghĩ lên mặt đất. Và tôi đã gặp tôi đang đi dưới giao thông hào bỗng dưng lại ném sách vở nhảy cỡn lên mặt đất múa may hét vang cười vang. Lũ bạn không hiểu chuyện cứ tròn xoe mắt nhìn rồi tái mặt kêu lên: "Thằng Trọng... điên! Coi chừng bom xém đầu". Có lần bạn tôi bị bom xém mất đầu theo kiểu chơi ngông nghênh ấy nhưng có ai biết lúc đó tâm thần tôi sảng khoái thế nào đâu. Dù là chỉ tích tắc sau lại phải nhảy xuống giao thông hào lom khom lúi húi...
ở Hà Nội chuyện quê chuyện về em Lành chỉ nhớ nhớ quên quên. Về đây được ngồi bên em giữa chiều quê bình yên mọi thứ đều trở nên đầy đủ rõ ràng đến lạ lùng. Giữa ngút ngàn những vườn tiêu đồi chè đang chờ mùa thu hoạch giữa chen chúc nhà mới mái đỏ dấu vết địa đạo năm nào vẫn ngoằn ngèo rạch đỏ ký ức cái miệng hầm chữ A dè dặt mở như một hang thần độ lượng... Rồi những đám tang vội vàng nối tiếp diễn ra từng ngày khiến nỗi ám ảnh về sự chết cũng chai lỳ dần... Ngày còn sống cha vẫn kể như một điệp khúc: "Thì hôm đó tao phải ra tận xóm đông để chôn cất thím Tư. Làng xóm chỉ còn toàn người già và trẻ con. Còn mẹ mày thì phải lo đi cứu thương bên nhà đội. Có ai biết rằng em con đã lẻn ra khỏi hầm để chạy sang bên nhà cậu. Tội nghiệp nó đang gọi Ly ơi Ly hỡi thì... bom nổ...".
Vậy là anh vẫn còn nợ em mãi nợ em... một cái gì đó lớn lắm phải không Lành? Nợ người sống còn trả được nợ người chết dù một chút ánh sáng cũng khó lòng...
Trăng non đã nhô lên khỏi biển. Trăng như quả chuối như chiếc thuyền giấy em hay xếp. Rồi nó sẽ tròn như quả bóng như cái mâm con. Không có vầng trăng vuông gấp gãy góc cạnh như của em Lành.

                                                                           T.Đ

More...

THƠ DỰ THI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐẶNG THỊNH TƯ


Xem phim Hàn nhớ quê nhà


Phố phường choáng ngợp dòng xe
Những mảnh đời
Bao dung
Yếu hèn
Mạnh mẽ...

Những tòa nhà cao ngất
Khoan vào không gian
Thấp thoáng giây bí giây bầu quen quen
Bò trên mô đất
Thấp thoáng bóng nhà xưa
Trời mưa thả giọt
Vạt lúa nhuộm vàng
Rừng cây ngút mắt

Ta tiếc những gì còn mất
Tận phương trời nào
Ta nhớ
Nao nao
Về căn nhà của mẹ
Làng ta
Có dòng phù sa
Buồm nâu buồm trắng chiều chiều
Tre trùm lối ngõ
Con đường hằn vết chân trâu...
                              Đ.T.T




ĐẶNG THỊNH TƯ



Đi tìm lời ru


Ta đi tìm lời ru
Giai điệu dưỡng sinh vỗ về mỗi sáng
Lụa bay thấp thoáng
Quạt hoa
Kiếm gỗ
Mây trời...

Ta đi tìm lời ru
Chỉ thấy bước chân nhịp nhảy
Rộn ràng theo mỗi vòng quay
Vô tư
Hối hả.

Quá khứ "cầu tre lắt lẻo..."
Xa xăm "cây cải về trời..."
Lời ru bay theo cánh cò không trở lại
Khác ngày ta thơ bé
Lời ru về với ngày xưa.

Ta đi trong gió mùa thu
Dịu dàng cây cỏ
Ta đi tìm lời ru con trẻ
Lại nghe nhiều người lớn ru nhau.

                                  Đ.T.T


ĐẶNG THỊNH TƯ



Dòng điện từ Bản Chát



Bao đời bên bếp lửa sàn
Rừng xanh rừng già đi vào cổ tích
Mưa tràn
Dòng Nậm Mu nổi giận
Lũ quét
Thác tung bờm
Sóng cuộn băng băng.

Xanh mầu áo Trường Sơn
Sức trẻ dâng đầy
Thêm một lần thử thách nơi đây
Trận này không tiếng súng
Chuyển núi nắn dòng
Ngâm mình trong giá buốt
Sương miền Tây
Nắng miền Tây...

Mai đây
Nậm Mu lại hiền hòa
Gương nước trời mây
Con sóng vào tuabin thủy điện
Dâng ta núi bạc núi vàng
Nương nhà em mềm mại lượn bậc thang
Nước mát
Bắp xanh non
Lúa vàng mẩy hạt.



Mai đây
Không cần đốt lửa thâu đêm
Rừng hồi sinh
Bản Chát chan hòa ánh điện
Em lộng lẫy xòe hoa
Long lanh đôi mắt
Vui từ Bản Chát
Vui miền Tây Bắc
Bay xa.
           Bản Chát 10 - 11 - 2007
                   Đ.T.T



NGUYỄN LIÊN MINH


Đối mặt và hồi sinh...


Ơi! Tứ Xuyên
Nơi động đất kinh hoàng!
Đổ núi...
Sập nhà...
Vườn hoa tan nát
Tan hoang trường học
Những đứa trẻ chưa kịp khóc
Đám cưới giọt lệ vỡ làm đôi
Con búp bê ứa trào nước mắt
Trên tay em vừa được cứu sinh...

ơi! Mi an ma bé nhỏ
Chống chọi với cơn bão cuồng phong
Cuốn phăng đi cỏ cây hoa lá
Ngàn vạn cảnh chiếu đất màn trời...
Hai xứ sở - hai cộng đồng vô tội
Quốc tang - an ủi - nguyện cầu...

Còn nỗi đau nào hơn thế nữa?
Bao trái tim thảng thốt giật mình
Nhân loại dõi theo từng bữa
Và có nhau khi "tắt lửa tối đèn"
Dù động đất!
          Động trời!
Cả loài người đồng tâm cứu hộ
Cho Tứ Xuyên - Mi an ma
Đứng dậy - hồi sinh!
Vũ trụ ơi! Dang tay ôm trái đất
Hát ru những khúc hát thanh bình!
                           Tháng 5 - 2008



NGUYỄN LIÊN MINH


Anh ơi đừng!


Anh ơi em xin anh
Đừng có hỏi con chim
Con chim chỉ biết hót
Nó không hề ngồi im
Nhớ anh mà nó khóc...

Anh ơi em xin anh
Đừng có hỏi con suối
Suối buồn chỉ nói chuyện
Như tiếng đàn T rưng.

Anh ơi em xin anh
Đừng có hỏi cây rừng
Cây buồn chỉ xào xạc
Như bản nhạc chiều xanh...

Anh ơi đừng hỏi nữa...
Chỉ có em nhớ anh!

              N.L.M




NGUYỄN LIÊN MINH



Âm vang tiếng trống


Tiếng trống vang lên
Gõ nhịp vào bình minh
Đánh thức nụ bàng cánh phượng
Như nhịp những bước chân
Thầy trò bâng khuâng vào lớp

Tiếng trống rung lên
Dạt dào khúc hát
Bài ca ước mơ xanh
Gọi đàn em tỏa sân trường bát ngát
Dâng theo nét phấn tung hoành

Tiếng trống ngân lên
Là điệp khúc tựu trường
Thời gian ơi! rộn ràng phấn trắng
Còn mãi âm vang
Trống Đồng nghìn năm khai sáng
Nơi hẹn hò
                  Tri thức
Kỷ nguyên xanh....

            N.L.M




TRƯƠNG MINH PHỐ



Ngẫu hứng Cửa Đạt

 

 

Ta lại về với Cửa Đạt sông Chu
Hương quế thơm đôi bờ ngút ngát
Nước sông Chu vẫn men nồng ngào ngạt
Chén khải hoàn vua tôi ngả nghiêng say.
Ta lại về Cửa Đạt chiều nay
Nghe đâu đây tiếng quân reo thắng trận
Vằng vặc sao khuê sáng hòn Mài Mực
Đất Lam Kinh bừng dậy cả cõi bờ
Bỗng thấy mình như vị tướng bình Ngô
Tiếng xe máy trên công trường như voi gầm ngựa hý
Núi rừng Thường Xuân oai linh hùng vĩ
Giữa công trường sang sảng "Cáo bình Ngô"

                Tháng 5-2007
                     T.M.P





* Thắng giặc Minh Lê Lợi đổ chén rượu xuống sông để cả vua tôi cùng uống mừng chiến thắng.





TRƯƠNG MINH PHỐ


Chiều Cửa Đạt



Mênh mang mênh mang chiều Cửa Đạt
Trời trong xanh
Chùm mây trắng lang thang
Gió phóng khoáng lướt dòng Chu phóng khoáng
Mây nồng nàn hương quế tóc ai thơm
Cửa Đạt ơi! Năm xưa đồi hoang lạnh
Đất cỗi cằn trong nắng gió lặng thinh
Anh đắp đập ngăn sông làm thủy điện
Em xây hồ đưa nước mát về xuôi
Công trường hôm nay điện như sao lấp lánh
Một vùng đồi một thành phố tương lai
Đất không còn hoang vu cằn cỗi
Hương quế thơm thơm cả tiếng ai cười
Trước mùa xuân sông Chu như trẻ lại
Trên công trường rộn ràng tiếng em ca
Đi bên em trong chiều Cửa Đạt
Giữa đất trời một tình yêu bao la

                T.M.P



TRƯƠNG MINH PHỐ


Em có về Cửa Đạt



Anh về đây công trường Cửa Đạt
Đem sức trai san núi chuyển đồi
Đưa nước sông Chu về làm thủy điện
Đưa nước về xanh mãi đất Thường Xuân
Em có về cùng anh đắp đập
Cùng chung tay xây dựng tương lai
Cùng góp sức xây công trình thủy điện
Cho đất Thường Xuân mãi mãi xuân
Ta lại cùng nhau ra công trường
Mùa xuân về rạng ngời từng gương mặt
Giọt mồ hôi long lanh bên khóe mắt
ánh điện bừng lên rực rỡ cả miền quê.

                T.M.P




LÊ KHẮC TUẾ


Chợ Bản


Chợ đã có từ rất lâu đời
Người các vùng về đây mua bán
Hàng hóa đủ trên ngàn dưới biển
Chợ Bản có tiếng là chợ to.

ồn ào nhất khu bán trâu bò
Các tay lái vẫn là muôn thuở
Thời kinh tế thị trường rộng mở
Những cái vỗ vào mông trâu mạnh hơn.

Thừng chão toàn bằng sợi ni lon
Thương xóm làng bóng tre thưa vắng
Ô kìa! Trên con đường đầy nắng
Có người đi xe máy dắt theo trâu.

Lều quán tranh tre đã về đâu?
Chợ lên nhà cao tầng hiện đại
Tôi ao ước những gì còn mãi
Ôi phiên chợ Bản ngày xưa.

                  3-2008
                   L.K.T

 

LÊ VĂN SỰ


Hát lời ru cháu


               Cho cháu Thảo Trang


Được tin cháu đã chào đời
Ông vui tưởng cả đất trời cùng reo.
Con tàu cập bến buông neo
Hạt vàng năm tháng ươm gieo nảy mầm.
Thơ vui ông chọn tứ vần
Hát ru lời với nỗi niềm chờ mong...
Con gái phải biết làm duyên
Bộn bề mấy vẫn dịu hiền nết na.
Con gái càng phải tài hoa
Nghe nhiều nói ít mới là người ngoan.
Cuộc đời còn lắm đa đoan
Tiến lui nhẫn nhịn giữ toàn sắc hương.
Sống thảo thơm tính đoan trang
Phù hoa mấy cũng không màng lợi danh.
Bạc tiền cám dỗ coi khinh
Đừng như tầm gửi ký sinh sống nhờ
Trọng tình chữ nghĩa chăm lo
Gặp gian khó phải vượt qua được mình
Đường đi dù lắm nổi nênh
Xây lâu đài tự tay mình mà nên...

                                   1-10 Đinh Hợi
                            Giao thừa Mậu Tý 2008

                                        L.V.S

More...

THƠ + TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NGUYỄN ANH NÔNG


Trường ca Bin Ghết (Bill Gates)
 
 
và trời xanh

                           (Trích)

 

Bin Ghết (Bill Gates) (I)


(Theo cách gọi thân thiện của người nông dân quê tôi)


Bin Ghết (Bill Gates) (I)
Cậu khỏe không?
Tớ với cậu chưa gặp nhau
Nhưng tớ biết cậu
Cậu giỏi thế ai mà chẳng biết
Chỉ có người mù và điếc không nghe không thấy
Chỉ những người chưa sinh ra và người chết khi cậu
chưa sinh ra thì không biết.
Chỉ những người ngoài hành tinh thì họ chẳng cần biết
Tớ và cậu đang suy nghĩ gì và đang làm gì?

Bin Ghết
Cậu đã sang Việt Nam
Bạn bè tớ đón cậu trên mức một người bạn
Tớ nhiều lần nhìn cậu qua ti vi
Tớ khâm phục cách bạn nói và làm việc
Tớ ngưỡng mộ cách bạn sử dụng tiền
Tớ học cậu cách cậu làm đăng đàn và đi đứng
Tất nhiên cậu học tớ cách làm thơ thì cũng còn lâu
(Dẫu khiêm tốn thì vẫn còn khiêm tốn)
Nếu thơ tớ mà đổi ra đô la vàng bạc kim cương



Thì trái đất nặng thêm nhiều trọng lực
Cái ấy giống tư duy của cậu cũng nhiều trọng lực
Thế mà thế giới mấy người biết?
Thiên hạ dễ đánh đồng tiền bạc với nhân văn?

Nước tớ và nước cậu
Hai lịch sử
Hai văn hóa
Hai sự kiêu hãnh
Mấy ai có được
Chẳng nói
Thiên hạ ai cũng biết
Tớ và cậu cũng chẳng mù chẳng điếc
Nên chẳng ai làm ngơ
Trước lịch sử và văn hóa của nhau
Một thời đạn bom
Máu
Nước mắt
Thành sông thành suối
Nỗi đau chồng nỗi đau
Căn giận và thù hận
Đâu là thiện là ác?
Phi nghĩa và chính nghĩa?
Ôi cái ngày hôm qua?

Tớ nghèo kiết xác
Cậu giàu nứt đố đổ vách
ấy là theo cách nói Việt Nam

Theo cách nói Việt Nam
Bạn là bạn mà thù là thù

(Bạn chưa hẳn đã bạn
Thù chưa hẳn đã thù
ấy là nói theo cách nói Trung Hoa)



Còn nước Mỹ coi quyền lợi là trên hết
(Kể cả "nồi lẩu" của mình đã ninh nhừ và ăn chẳng hết
Chỉ có người Mỹ có quyền sống và chết
Theo cách của mình
Còn người khác thì không thể được...)

Bin Ghết
Rõ ràng cậu chẳng biết tớ
Mà biết để làm gì?
Tớ chỉ là một nông dân xoàng
Của xứ sở hiền hòa nhân hậu
Mưa và nắng và gió và bão
Vẫn đồng hành
Qua những thương đau...


            Hà Nội 29 - 4 - 2008

                  N.A.N






TRỊNH NGỌC DỰ



Mùa đông lạnh lẽo


Con đường quen
Tí tách ly cà phê đắng chát
Mắt em dõi nơi chân trời ngút ngát
Vị ngọt còn thơm trên đầu môi

Không thể nói là ta chia tay
Một mùa đông chưa bao giờ lạnh thế
Gió dài qua ngõ phố
Tuyết phủ trắng trong trong lòng

Anh mải mê tìm một tình yêu
            để cố quên một tình yêu khác
Chợt nhận ra
Điều ấy là vô ích!

Dọc con đường quen
bâng khuâng ngọn liễu rũ
Không gặp nụ cười
em đã mang theo về quê mẹ
Không gặp dáng thon thả
vương trong chiều cuối năm

Nỗi nhớ như mưa rây suốt ba ngày tết
cái rét cồn cào…

Em có còn trở lại?


            T.N.D




TRỊNH NGỌC DỰ


Trò chuyện với Từ Thức




Ngày xuân tôi đi tìm cửa Thần Phù
tìm cửa động có dấu chân Từ Thức
Động Bích Đào?
Động Bích đào?

Ngước nhìn Thiết Sơn chót vót
sương giăng trên lá non tơ
Tiếng sóng rì rào như mơ như thực
Gót chân Giáng Hương như đợi như chờ…

Bãi nổi đưa biển xa tít tắp
Thần Phù - núi sau lưng
Nào ai khéo tu nào ai vụng…(*)
Trăm năm biển ái đã thành bờ

Cửa khép lại rồi - im ỉm đá
Cõi tiên mây khói khuất trong sương
Một năm chốn bồng lai
              tám mươi năm trần thế
Chàng về đây với nỗi nhớ cánh cò
về lại đây với muối mặn đồng xa
với giếng nước mảnh vườn tre trúc…
Tóc em chàng đã bạc
Mẹ cha khuất núi tự bao giờ
Từ Thức ơi?
Dẫu quay lại cửa đã im ỉm đóng!


Tôi tìm vườn mẫu đơn
nơi Giáng Hương lỡ tay làm gẫy cành hoa
nơi chàng cởi áo gấm mà chuộc người đẹp
Sao không ở lại cõi tiên? khi chàng đang chán quan
 tìm thú ẩn dật
Người đánh đổi nỗi nhớ bây giờ đi đâu!

Ta không là quan
nhưng chẳng nỗi nhớ nào làm ta xa người đẹp
Thật lòng đấy
Từ Thức ơi!
                Nga Sơn 2008
                     T.N.D




(*) Cao dao: Lênh đênh qua cửa Thần Phù
                   Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm



TRỊNH NGỌC DỰ



Thành phố cửa biển


Anh chưa qua bên ấy Sơn Trà
Chiều nay ở đây nhìn nắng trên thành phố
Đà Nẵng ùa ra mắt tràn đẫm lệ
Gió từ ba phía biển ngời lên
Hạt cát gió đưa về trắng muốt tay em
Theo màu áo xanh
            vành mũ tai bèo
                    tiếng loa thành phố

Bao nhiêu năm
        nay cào đi lớp rác bên hè
        những kiếp người dập dềnh sóng bể
Em ném vào đống lửa thứ học đường nô lệ
những bóng vật vờ trên bãi biển chiều hôm
"Kể từ ngày Tây lại Cửa Hàn!"

Ai từ Ngũ Hành lên
Ai từ Hải Vân xuống
Hai mươi năm Trường Sơn
        nhìn về phía biển mà lòng uất nghẹn
Mẹ ta em ta - thành phố trắng mờ
Ngọn gió nào thổi vào không chát mặn

Thành phố hôm nay cười trong nắng
Cửa biển hôm nay trào lên muôn lớp sóng
Đoàn quân về trên tháp pháo xe tăng
Cờ đỏ bay trên hàng cửa ban công

Thành phố cửa biển
Đã trở về với bác lái xe lam
người phu trên bến cảng
và em nữa - bữa hội thảo xuống đường
                "Đêm không ngủ"

Nắng thêu trên thành phố vàng ươm
Hai mươi năm nay sạch nước sông Hàn

                Tháng 4-1975
                      T.N.D

 

 

   Cuộc đời đã chọn Mạnh Lê
 

                                                             Từ Nguyên Tĩnh
 
 


        Tôi đặt vấn đề như thế bởi ngày Nhà báo sắp đến. Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh mất vĩnh viễn một nhà thơ - nhà báo Mạnh Lê. Bạn bè báo chí và bạn đọc mất người bạn tâm sự của mình sáng tạo ra những trang mới về sự hiện diện của cảm xúc mà con người có cơ nắm bắt được. Bạn viết trong cả nước cũng mất một tiếng lòng mà họ từng hồi hộp đón nhận tác phẩm của ông xuất hiện. Mạnh Lê như một số người ông đã chọn nghề cho mình là làm thày giáo dạy học. Ông có thể dạy học suốt một đời. Để đào tạo ra những nhân tài chắp cánh cho họ bay xa. Nhưng rồi thơ đã chọn Mạnh Lê để gởi gắm. Nhờ “những phương tiện đặc biệt” - không thể so sánh nổi để truyền lan cho con người những thông điệp cũng đặc biệt với ý nghĩa của thơ mà chỉ thơ mới có được.
Trong bước đường đến với thơ Mạnh Lê đã mau chóng tìm được cho mình một giọng điệu. Cái giọng điệu ấy khảm vào cuộc đời ông và mang đi cho đến tận cùng của kiếp người. Nhiều người khác làm thơ phải khó khăn lắm mới tìm thấy. Mới nhận ra khuynh hướng sáng tạo hay nói cách khác cái làm nên chất giọng cái hiệu quả để truyền thông điệp thơ đến cho độc giả. Nhưng Mạnh thì đã thấy tưởng chừng như đất đã chọn anh để gửi gắm. Đó là chất “thổ âm sông” găm lại trong hầu hết các áng thơ và cả trường ca sau này. Cái duyên thầm ấy cứ thấm tháp hoài và lan ra trong âm vang còn động lại của thềm dòng sông cổ.
Ông bà đặt tôi trong tiếng đá
Cô bác đặt tôi trong tiếng đồng
Cha mẹ đặt tôi trong tiếng đất
Tôi đặt tôi trong thổ âm sông
                               (Từ ai đến tôi)
Con người ta sinh ra dù trong một gia đình triệu phú được đặt trong nhung lụa hay lê la nghịch đất… Nhưng tự đặt mình vào đâu đó. Có người số phận xiêu giạt xô đẩy không tự xác định được. Nhà thơ Mạnh Lê đặt mình vào thổ âm sông. Tiếng đá - tiếng đồng - tiếng đất và tiếng của thổ âm sông. Có lắng nghe được thổn thức mới có nổi những câu thơ neo đậu vào lòng người:
Cái cuống đất như cái neo níu mặt trời ở lại
Người ta hay nói cái cuống… cây lá hoa cỏ và cả cuống của quả… nhưng M.L lại nói “cuống đất”. Tôi chưa thấy ai viết như thế hoặc chưa đọc được ở đâu cả. Dù có tạo ra “cái cuống đất” nhưng không liên tưởng ra “cái neo” níu kéo thời gian thì bánh xe của tạo hóa đâu còn là gì ?
Cái liên tưởng so sánh cách điệu ấy còn gặp lại nhiều hay nói một cách khác chi phối trong toàn bộ sáng tác của M.L.
Những người biết cha tôi có thể tìm thấy cha tôi qua tôi
Như tôi vẫn tìm tôi qua ánh vàng quả khế
                                      (Từ ai đến tôi)
Câu trên đến tận 5 chữ của câu sau chưa có gì để ta bị thức tỉnh hoặc gây ngạc nhiên. Chỉ đến “ánh vàng quả khế” mới cho người ta tưởng tượng rộng ra. M.L hầu như chạm đến “vùng đất thiêng” ông có khả năng diễn đạt rất hàm xúc. Cái thế mạnh ấy không ít lần tạo ra những hiệu quả trong sáng tác của mình.
Mẹ biết vẫn là tôi hòn đất
Tiếng nói vụng thô mà có duyên ngầm
                                      (Từ ai đến tôi)
Hay câu thơ mộc mạc này:
Năm nay hạn người ngắm sông tận đáy
Thấy đời con sông cũng vất vả theo người
                          (Bên sông nghe sấm báo mưa rừng)
Mạnh Lê nhận ra và có lúc tự hỏi:
Đi suốt những vì sao chỉ thấy sao lấp lánh
Đi suốt mọi cái nhìn vẫn thiếu cái nhìn riêng
                                    (Đôi mắt ấy)
Chính cái thúc bách nội tâm ấy cái cô đơn của nhà thơ là động lực cho ông học đọc chăm chỉ để tìm ra một chân trời riêng:
Tôi về quê mùa sông nước cạn
Soi đáy sông ngẫm lại đời mình
Cái ngẫm nghĩ trong thơ M.L thật mộc mạc chân chất nhưng lại rất riêng không lẫn với ai được.
Một cuộc đời sông bao đời thuyền nát
Mãi còn câu hát vỗ vào ánh trăng
                                    (Dô tả dô tà)
Cũng có những câu thơ như thể là sắp đặt nhưng lại có lợi cho cả toàn bài thơ:
Chiều nhai rau má tối học chữ nôm
Hiểu tận tâm căn tiếng đá tiếng đồng
M.L không say tới mức quên cấu tứ làm hại cho bố cục của bài thơ. Vì vậy thơ ông đau đáu một chủ định. Đó là miền đất làng Chè đó là quê hương Lê Văn Hưu. Đó là đền thờ ông tổ nghề đồng Khổng Minh Không…
Hồn dân tộc ẩn tàng trong dân dã
                                  (Lê Văn Hưu)
Họ mạc lưu tên ông trong gia phả
Dân làng gói tên ông vào lá sen
                                  (Lê Văn Hưu)
Viết về Đúc tượng Bác Hồ. Chính người cha của nhà thơ là một nghệ nhân chăm chắm một đời với nghề thả hồn mình vào từng thỏi đồng để hiện  hình hay hồn người nghệ sĩ lên hình tượng của Bác.
Thời gian âm thầm một cánh buồm trôi
Mái chèo ấy bao bàn tay đã nắm
Từ hoa văn đến ngọn cờ đỏ thắm
Đất nước tượng hình lên lung linh tầm vóc người con
                              (Làng Chè đúc tượng Bác Hồ)
Như bao người làm thơ khác M.L cũng giành cho bạn già một sự ân cần tri kỷ
Buổi xế chiều ngồi tính chuyện xưa sau
Giọt nước mắt cuối cùng cho là muối mặn
Cái hơi thở cuối cùng đời cho là lửa ấm
Ta đỏ lửa cho mình mình trắng muối cho ta
                                        (Bạn già)
Những câu như vậy ai bảo M.L không ngẫm nghĩ và không thâm trầm. Ông không dại khờ trong thơ một chút nào. Có lẽ cái bên ngoài trôi đi cùng bao thứ bụi bậm của cuộc đời chỉ thơ là thiêng liêng. Có một dạo nghe nói mỗi khi M.L làm thơ thường thắp hương. Ông yêu Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh lắm đấy. Họ đọc thơ và làm thơ cũng thắp hương. Họ đặt thơ cao quý lắm nó là điệu của tâm hồn người. Dù cấu trúc chi cũng được miễn là thơ phải là nhịp cầu giúp cho tâm hồn người trần gian này neo đậu ở chốn cao cả mà con người ngưỡng vọng và vẫn quen gọi là thần linh.
Quê hương đất đai con người… Lịch sử lãnh tụ câu chuyện dân gian v.v... Đều ngấm vào nhà thơ nhưng muốn làm được thơ phải có tài mới thổi hồn vào được:
Trắng tinh trong như sữa mẹ
Sớm nay bình vôi oà khóc…
                                     (Bình vôi)
Lời thơ tự nhiên nhưng liên tưởng ngoài thơ lại rộng. Ta nhớ đến chuyện ông bình vôi. Nhưng bình vôi oà khóc thì chỉ M.L mới “hư cấu” để hoàn chỉnh ở những câu thơ sau:
Hãy chôn bình vôi dưới gốc cây đa đầu làng cho mẹ
Mẹ đi rồi bình vôi ở với ai ?
                                      (Bình vôi)
Sự việc không còn ở suy tư thông thường nữa rồi. Khi nhân vật “ông bình vôi” đã thánh hóa trong một bài thơ. Tạo ra sự linh thiêng và nâng lên thành sự kỳ diệu của tâm hồn.
Rằng đời mẹ tôi như cái cối giã đất
Cha vác cối về đặt cối ở góc vườn
Mẹ âm thầm cực nhọc cô đơn
Tiếng chày giã đất là tiếng nói của mẹ
Đến ngày nào mẹ nhắm mắt theo cha
Tôi sẽ thắp hương thờ cái cối
                                 (Từ ai đến tôi)
Có người khi viết về thơ M.L họ khen ông rất hiểu về thuật âm dương   tôi nói với Mạnh cái khía cạnh phồn thực còn hay hơn nhiều họ bao giờ thì nhận ra?
Có nhiều người tuyên ngôn về thơ lắm. M.L cũng tuyên ngôn về thơ. Ông mong muốn mình là con chim đất chắt lọc cái âm thanh từ làng cổ nơi có tiếng đá tiếng đồng tiếng gọi của hồn sông.
Tôi chỉ mong được làm con chim đất
Mộc mạc mà sáng trong
Giữa thế kỷ giàu màu sắc âm thanh
Chim có giọng của chim
Vút lên từ làng cổ
                                    (Về làng cổ)
Có những câu thơ đọc lên buồn đến nao lòng
Tiếng cuốc báo bình minh gió lật
Cha tôi phanh trần cuốc ruộng trước hoàng hôn
Đất ải như đời cha lật bóng
Thăm thẳm năm canh tiếng cuốc gọi hồn
                                    (Tiếng cuốc)
Phải chú ý lắm mới nhìn thấy “lật bóng” đồng điệu để có được “tiếng cuốc năm canh”
Bạn già Bến En Bái Thượng… Lê Lợi Bà Triệu… Không ít bài thơ M.L làm do yêu cầu của công việc tuyên truyền tính thích ứng của một người ở một tòa báo. Ông viết nhiệt tình nhưng không sa vào thời vụ rơi xuống tầm thường. Điều đó thật đáng trân trọng. Chỉ nhà thơ có bản lĩnh và sâu sắc về nghề mới làm được điều này.
Làm thơ về Làng Chè đúc tượng Bác Hồ về Lê Văn Hưu… Mạnh Lê chuẩn bị cho viết những trường ca có biên độ và cách nhìn khái quát.
Không là sử thi nhưng phải hà hơi tiếp sức của sử thi. Phải huy động các thể loại của thơ ca để sử dụng. M.L là một trong những người viết nhiều về trường ca. Viết nhất quán và có sáng tạo. Trường ca Hàm Rồng là cái nhìn lùi lại của một người không trải qua trận mạc. Sở dĩ ông dựng và hư cấu được bởi có cái mạnh của một người tìm ra được “cái hoành và cái tráng” trong “thổ âm sông”. Nhà Máy đường Lam Sơn và anh hùng lao động Lê Văn Tam là một thành công đi vào đời sống ngổn ngang của thế kỷ này. Lâu rồi mới có một tác phẩm viết về sự nghiệp đổi mới. Nhà thơ có làm cho ra lạc được đâu. Không làm ra đường sữa. Không làm ra lúa gạo. Không nuôi được bao gia đình nông dân thoát nghèo. Nhưng mai kia những trang viết “người đánh thức đất đai” lại làm cái việc đánh thức đất đai ở tâm hồn con người.
Đất nước thuở Hùng Vương M.L cho ra mắt vừa rồi. Rồi ngày trẩy hội đền Hùng trường ca đến được độc giả vào ngày giỗ tổ. Người ta mong ngóng về tác giả xứ Thanh này. Trường ca rõ mạch lối viết mà M.L chọn để thể hiện. Một cách tư duy mạch lạc không bị những âu lo và bệnh tật quật ngã. Ta lại bắt gặp sự xuyên suốt mà “số phận” đã chọn.
Cái mà M.L đào sâu suy nghĩ là âm hưởng của quê hương tiếng đồng tiếng đá tiếng của đất mà hàng ngàn năm người dân “thổ âm sông” không ngừng không nghỉ vun đắp. Nhìn vào ngọn lửa sôi ngàn độ để mắt ta được truyền sang âm thanh có sắc màu của tiếng đồng.
Nửa đời say tỉnh lại
Chỉ thấy hồn quê còn đọng lại trong hồn
                                       (Từ ai đến tôi)
Tôi đọc đi đọc lại. Câu thơ hay và truyền cảm mỗi lần đọc tìm thấy điều gì. Dù không tìm được mà cứ day dứt. Hồn quê đọng lại trong hồn. Một thày giáo dạy M.L nghe tin trò mình “đi” đã tra lịch Vạn niên nói với vợ nhà thơ rằng: Người ra đi vào ngày tháng sinh ra mình ít lắm. Hồn thơ còn lẩn quất đâu đây !
*
Mạnh Lê viết ký hay viết báo cũng trong sự nhiệt huyết của người làm thơ. Ông muốn truyền cho người đọc cái hàm xúc của thơ cái mà thông qua ông đôi lúc coi nhẹ phần báo chí đi một chút. Nhưng mà tôi hầu như không bàn về chuyện này. Viết kịch viết lý luận… Định viết trường ca về Lê Lợi v.v...
Mạnh Lê sinh ra ở đâu. Trước khi ra đời Ông nào biết được. Dù chọn nghề thày giáo… Chắc nghề nào cũng làm tốt… Nhưng quê hương đúc đồng đã chọn Ông để gửi gắm. Điều này là chắc chắn. Thông qua nhà thơ mà mãi mãi âm thanh của tiếng đồng tiếng đất... câu hát “vỗ vào ánh trăng”… Để “hồn quê đọng lại trong hồn”.
       
                                                                      1-6-2008
                                                                         T.N.T


 

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Mấy ý kiến về mẫu tượng đài Bà Triệu
 

                                                            Hoàng Tuấn Phổ
 


        Không phải không có cơ sở khi Hội đồng nghệ thuật tượng đài Bà Triệu đa số thành viên đánh giá cao pho tượng Bà Triệu mã số tác giả 00568 (mã số giám khảo 09) (xếp loại một). Tượng này chứng tỏ tác giả có tay nghề cao thế đứng của tượng toát lên vẻ hiên ngang hùng dũng đang nhằm vào kẻ thù để tiến công. Tác giả viết trong lời thuyết minh: "Hình tượng Bà chân phải đạp luồng sóng dữ tay trái giơ thẳng về phía trước vuông góc với cánh tay tạo nên một Thế Võ hết sức nữ tính mềm mại nhưng không kém phần quyết liệt đang ngăn bước tiến quân thù. Tay phải đang vung gươm gợi ta nhớ đến khí phách của Bà qua câu nói bất hủ "Chém cá kình ở biển Đông". Toàn thân nhân vật như lao về phía trước kết hợp với những khối phụ như xiêm áo bay tạt về phía sau cùng với sóng dưới chân gợi cho ta một không gian huyền thoại: Bà Triệu đang cỡi gió đạp sóng... đánh đuổi quân thù giành lại giang sơn gấm vóc...". Có thể nói đó là ý đồ đúng với những ý tưởng tốt. Nhưng rất tiếc sự thể hiện chưa đạt hiệu quả mong muốn. Tác giả nhấn mạnh "một thế võ hết sức nữ tính mềm mại nhưng không kém phần quyết liệt". Tôi không nhận ra đây là "thế võ" gì càng không thấy nó "hết sức nữ tính" ở chỗ nào? Đã nói đến "thế võ" tức là đi vào lĩnh vực võ thuật vậy chủ ý tác giả thể hiện kiếm thuật hay quyền thuật? Bởi vì bàn tay trái "duỗi thẳng về phía trước" là quyền thuật bàn tay phải cầm gươm co lại phía vai là kiếm thuật. Tư thế ấy cho thấy Bà Triệu vừa đánh quyền vừa múa kiếm thành ra "kiếm" chẳng ra "kiếm" mà "quyền" không phải "quyền". Thế võ này do tác giả sáng tác nên để lộ quá nhiều phần trên cơ thể. Một thế võ không kín đã không kín thì hoàn toàn phản tác dụng về hình tượng anh hùng xông pha trận mạc cho dù dáng đứng trông có "đẹp" đến đâu!
Về trang phục tác giả viết: "Ta chỉ có thể căn cứ vào dã sử truyền thuyết và ít nhiều tài liệu vốn cổ dân gian qua các triều đại còn rất ít để xây dựng hình tượng nhân vật. Nói đến Bà Triệu trong tâm thức người Việt là một nữ tướng oai phong lẫm liệt... Bà thường xuất hiện với tóc cài trâm ngọc mình mặc áo giáp ngà yếm vàng lấp lánh chân đi guốc ngà... đạp đầu voi xông trận...".
Về trang phục của Bà Triệu nên căn cứ vào tài liệu gốc:
- Sách Đại Việt sử ký toàn thư theo sách Giao Chỉ chí của Trung Quốc chép: Bà Triệu "Thường mặc áo ngắn màu vàng đi guốc gỗ..."
- Sách Đại Nam nhất thống chí cũng theo Giao Chỉ chí nhưng chép hơi khác: "Bà thường mặc áo giáp cài trâm vàng đi guốc...".
- Sách Lịch sử Việt Nam của NXB Khoa học xã hội và sách Lịch sử Việt Nam của NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp lại theo sách Nam Việt chí chép: Bà "Mặc áo giáp vàng đi guốc ngà cài trâm vàng".
- Sách Việt điện u linh do Chư Cát Thị biên soạn năm 1774: "Bà Triệu mặc áo vàng đi guốc ngà đứng trên đầu voi".
Tác giả có quyền theo tài liệu này mà bỏ tài liệu kia. Nhưng nói rằng Bà Triệu "cài trâm ngọc mặc áo giáp ngà chân đi guốc ngà" lại thêm cả "yếm vàng lấp lánh" thì chắc đã phải hư cấu thêm chứ làm gì có sách xưa nào chép cái "yếm vàng lấp lánh" và cái áo giáp làm bằng ngà voi? Nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh đã có một bài phát biểu giá trị trong Hội thảo "Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu" tổ chức năm 1971 ông cho rằng "áo giáp vàng (có lẽ là đồng mà nhân dân đã tưởng tượng thêm cho đẹp) và đôi guốc ngà (Có lẽ là tre mà tiếng cổ gọi là Kla hay N gla - sau này thành tre - ngà - cũng đã được nhân dân tô thêm cho đẹp). (1)
Tất nhiên tượng Bà Triệu dùng chất liệu đá Thanh - đá xanh hoặc đá đen thì sao thể hiện được giáp đồng giáp ngà guốc ngà và yếm vàng lấp lánh? Vì vậy về trang phục cho nhân vật không nên quá sa vào chi tiết mà phải biết nắm lấy phần đại thể những nét tiêu biểu nhất. (Về khuôn mặt Bà cũng chưa đạt nhưng có thể sửa sau).
Về khí giới tác giả gắn cho tượng Bà Triệu thanh gươm "tay phải đang vung gươm"... nhưng thực tế động tác của tượng lại là đang giơ gươm mũi gươm lưỡi gươm đều hướng về phía sau không thể gọi là "vung gươm" thế kiếm ấy hoàn toàn bất lợi không thể áp dụng cho Bà Triệu đang tiến công quân thù trên chiến trường. Giả sử tác giả sửa lại thế kiếm cho Bà Triệu vấn đề cần phải xem xét thanh kiếm trong tay Bà có phù hợp không?
Thanh kiếm trên tay Bà Triệu chúng ta đang nói ở đây là kiếm dài. Cần nhấn mạnh Bà Triệu là một nhân vật lịch sử; Bà Triệu cưỡi voi đánh giặc là một thực tế lịch sử mà tài liệu Trung Quốc ghi chép rất sớm khoảng 100 năm sau cuộc khởi nghĩa nổ ra do Bà lãnh đạo. Bà cưỡi voi xông trận chắc chắn không thể đánh bằng kiếm cho dù một thứ kiếm rất dài gọi là đại trường kiếm chẳng hạn (sự thực chỉ có tam xích kiếm). Cần phân biệt kiếm truyền lệnh và kiếm chiến đấu. Kiếm truyền lệnh là kiếm ngắn gọi là đoản kiếm kiếm chiến đấu (đánh nhau thật sự) là loại kiếm dài tức trường kiếm. Với tư thế cỡi voi Bà Triệu phải sử dụng một thứ khí giới khác. Thứ khí giới này là loại gì? Không thấy tài liệu nào nói đến. Trong bài thơ vịnh Bà Triệu của Lê Thánh tông chép trong sách Hồng Đức quốc âm thi tập thời điểm sáng tác vào thế kỷ XV có mô tả vũ khí của Bà là cây mác dài:
Cao một trượng cả mười vừng
Bỏ tóc ngang lưng vú chấm sừng.
Hợp chúng rừng xanh oai náo nức
Cưỡi đầu voi trắng tiếng vang lừng.
Mác dài trỏ vẫy tan đàn giặc
Ngôi cả lăm le học họ Trưng.
Ví biết anh hùng duyên định mấy
Thì chi Đông Hán dám hung hăng!
Tại sao Lê Thánh tông không viết "Gươm dài trỏ vẫy tan đàn giặc" mà lại viết "Mác dài trỏ vẫy tan đàn giặc"? Hẳn là tác giả dựa vào một tài liệu nào đó hoặc trong tư duy lịch sử cũng như tư duy hình tượng của mình vũ khí của Bà phải là ngọn mác dài hoặc một thứ khí giới nào đó tương tự lọai giáo mác? Thời Tam quốc Ngụy Thục Ngô cũng là thời Bà Triệu tung hoành ở Nam Việt các thứ vũ khí của các chiến tướng nổi tiếng đều là loại binh khí dài: Quan Công có thanh long đao Trương Phi có ngọn bát xà mâu. Lục Dận trực tiếp đối đầu với Bà Triệu ngồi xe ra trận trước xe cắm một cây giáo dài hai bên lưỡi giáo treo tượng hai người nô lệ đúc bằng đồng ... Trong các di chỉ Đông Sơn muộn đa số hiện vật vũ khí là giáo mác mũi tên đồng một số rất ít lưỡi gươm ngắn. Tại sao giai đoạn đồng muộn đến sắt sớm người ta không dùng gươm dài vì đúc không khó nhưng sử dụng chiến đấu dễ bị gẫy do kỹ thuật luyện kim để rèn kiếm dài chưa đạt yêu cầu cần thiết đối với trình độ người Việt.
Ba thanh kiếm núi Nưa tình cờ phát hiện được trên một bán kính không xa nhau mấy mang nhiều ý nghĩa về sử học khảo cổ học dân tộc học... Các nhà khảo cổ học cho biết ở Trung Quốc cũng như miền Bắc nước ta đến nay vẫn chưa thấy một hiện vật nào như vậy. Không ai khẳng định đó là thanh kiếm của Bà Triệu nhưng ít ai không liên tưởng đến Bà Triệu lãnh tụ cuộc khởi nghĩa năm 248 tại miền núi Nưa theo truyền thuyết. Theo giáo sư sử học Lê Văn Lan: thanh đoản kiếm núi Nưa với số lượng 3 chiếc trong đó có một chiếc có chuôi kiếm đúc đẹp nhất chưa tìm thấy bất cứ ở đâu tiêu bản thứ hai; xét về mặt loại hình khảo cổ chúng từ những lưỡi dao găm Đông Sơn phát triển lên hoàn toàn không thể nghĩ là vật du nhập từ bên ngoài nước. Nói cụ thể hơn thanh đoản kiếm núi Nưa hoàn toàn gắn bó với những con dao găm bằng đồng thau đào tìm được trong tầng văn hóa núi Sỏi một di chỉ văn hóa đồng thau muộn nhất phát hiện ở miền núi Nưa cách nơi phát hiện 3 thanh đoản kiếm trên chưa đến 5 km và 10 km. (2)
Một trong những vẻ đặc sắc của thanh đoản kiếm núi Nưa là tượng người phụ nữ đúc toàn thân. Lối ăn mặc đủ bộ lệ yếm khăn áo váy kiểu quý tộc trong khi tượng phụ nữ khác ở các di chỉ cùng niên đại tất cả đều chỉ một lối trang phục mặc váy cởi trần như là họ thuộc tầng lớp bình dân. Tôi sẽ nói thêm về trang phục tượng Bà Triệu ở phần sau. Bây giờ hãy tiếp tục bàn về kiếm của Bà Triệu.
Thanh đoản kiếm núi Nưa tuy phát triển từ con dao găm Đông Sơn (trong đó rõ nét nhất là dao găm di chỉ núi Sỏi gần núi Nưa) nhưng không phải là vũ khí chiến đấu. Mặt lưỡi kiếm phẳng lỳ không có sống ở giữa cũng như bên cạnh rất dễ gẫy cho nên không thể dùng để chiến đấu. Tác dụng của nó chỉ có thể là kiếm lệnh để truyền lệnh chư tướng để chỉ huy chiến đấu. Nếu Bà Triệu cầm kiếm dùng kiếm cũng chỉ là loại đoản kiếm với mục đích vậy.
Không có cơ sở nào để cho Bà Triệu ngồi (hay đứng) trên đầu voi cầm kiếm đánh giặc. Nếu sửa kiếm dài thành kiếm ngắn thì tất cả tư thế ở hầu hết các sáng tác mẫu phác thảo tượng đài Bà Triệu trong cuộc thi đều không thể sửa được chẳng riêng gì tượng được Hội đồng nghệ thuật chúng ta đã bỏ phiếu kín cho điểm xếp thứ bậc cao nhất này. Vì tư thế kiếm của các võ tướng thể hiện trên tượng đài ở nước ta đều đi vào lối mòn: kiếm không giơ thẳng thì giơ ngang không giơ ngang thì giơ dọc... Tượng nào không cầm kiếm thì đeo kiếm hoặc ở bên hông cho gọn hay trễ xuống cho đẹp...!
Tại kỳ họp thứ nhất Hội đồng nghệ thuật tượng Bà Triệu nhà sử học Nguyễn Diên Niên có đặt vấn đề khí giới của Bà Triệu và nhắc tới "Hội thảo cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu" cách đây gần 40 năm. Đó là các ngày 17 18 19 tháng 11 năm 1971 tại Thanh Hóa do Ty Văn hóa Thanh Hóa tổ chức. Trong bài tham luận rất dài của tôi tôi có giới thiệu một bài đồng dao kèm theo trò chơi:
Này cò này cấu
Này đấu này thưng
Lưng sào cánh ná
Này lá này lao
Nghe cồng bà rao
Nghe lệnh ông gióng
Nghe voi rông rống
Chong chóng chạy về.
Ê hê! Chạy! (3)
Tại Hội thảo năm 1971 nói trên nó được đánh giá rất cao xem là tài liệu quý để tìm hiểu thêm về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu. ở đây tôi chỉ phân tích câu đầu của bài đồng dao. Đó là "này cò này cấu".
Cò và cấu là tên hai loại dao: dao cò dao cấu. ở vùng Nông Cống (và Triệu Sơn Đông Sơn Quảng Xương Tĩnh Gia...) trước kia phổ biến loại dao cò và dao cấu. Dao cò: cán rất dài lưỡi cong đầu mũi nhọn đánh cong khum khum hình dánh dài nghêu ngao giống cổ con cò. Tục truyền với con dao này Bà Triệu bắt sống tướng giặc Ngô (móc vào cổ áo hoặc thắt lưng) dễ như trở bàn tay và chém đầu chúng chẳng khác phạt củ chuối do đó nhà nào có con dao cò ma quỷ không dám bén mảng tới. Dao cò trở thành vật thiêng để thờ thường dựng bên cạnh giường thờ ông vải không phải làm dụng cụ làm việc hàng ngày. Không làm việc thường xuyên nên dao cò chóng bị han rỉ khi có đám cưới người ta đem vôi bôi vào chỗ lưỡi han rỉ giao cho ông chủ hôn vác lên vai hoặc cầm tay chống như chống gậy dẫn đầu đám rước dâu để trấn áp tà ma quỷ quái. Dao cấu khác dao cò ở chỗ mũi dao khoằm lại ít hơn. Đây là loại dao thông dụng của bà con miền núi Nưa chuyên dùng chặt nứa đốn củi trong rừng. Tác dụng dao cấu đặc biệt ở chỗ: nếu nhát chém không ngọt thì cái mũi khoằm của dao dứt đứt luôn và khi chẳng may đụng phải vật rắn như đá gạch ... đã có mũi dao dày đỡ lưỡi dao không bị sứt mẻ. Những người làm nghề đan cũng ưa dùng dao cấu vì dao cấu không thể chặt ẩu muốn chặt vật gì cũng phải có thớt kê cẩn thận tránh lưỡi dao bị sứt mẻ. Phải chăng quần chúng gia nhập nghĩa quân mang theo con dao cấu của mình cùng các loại khí giới cũng là vật dụng thô sơ khác như mũi lá mũi lao giáo sào đinh nọc... và khi lâm trận họ sử dụng như những vũ khí chiến đấu hiệu quả không kém vũ khí thực thụ.
Vũ khí của Bà Triệu nếu là ngọn mác dài hay con dao cò chẳng hạn sẽ tạo cho tượng Bà có một nét đặc sắc riêng không lẫn vào tượng các danh tướng danh nhân khác. Trong số mẫu phác thảo tượng đài Bà Triệu dự thi (2006 - 2007) cho thấy hiện tượng cách cầm kiếm đeo kiếm dễ nghĩ tới tượng đài Lê Lợi mới dựng gần đây ở thành phố Thanh Hóa. Phải làm sao để thoạt nhìn qua người ta đã biết đó là tượng Bà Triệu chứ không thể ngỡ là tượng Bà Trưng tượng nữ tướng Lê Chân tượng thiếu phó Bùi Thị Xuân v.v...?
Những điều tôi nói trên về phác thảo tượng đài Bà Triệu của mã số tác giả 00568 (mã số giám khảo 09) cũng để nói với tượng Bà Triệu của mã số tác giả N00135 (mã số giám khảo 06). Lời thuyết minh tác giả tượng (xếp loại II) này cho biết: "Chọn phương pháp tả thực có cách điệu để thực hiện tượng đài Bà Triệu bởi đây là tượng đài lịch sử bằng người thực việc thực sẽ đi vào lòng người một cách dễ dàng nhất nhanh nhất. Tuy nhiên khi phác thảo đã phải tính toán đến các yếu tố mang tính thẩm mỹ cao". Nhưng đáng tiếc các yếu tố mà tác giả lưu tâm lại chỉ thuần túy nghệ thuật không "tính toán đến các yếu tố mang tính lịch sử" như lời tác giả. Cho nên người sáng tác đã hiện đại hóa nhân vật một nhân vật có thật của lịch sử cách ngày nay tới gần 18 thế kỷ! Tôi đồng ý với tác giả nhân vật Bà Triệu phải "thật oai hùng thật đẹp" nhưng giá như ở trên sân khấu thì phù hợp. Với trang phục ấy dáng đứng ấy diện mạo ấy tôi không cưỡng nổi cảm tưởng của mình là Bà đi ra từ sân khấu chèo cải lương không phải thoát thai từ lịch sử dân tộc của thời kỳ đồ đồng còn đang ở giai đoạn bắt đầu chuyển tiếp sang đồ sắt. Toàn bộ y phục trên người Bà đều sai! Thời Bà Triệu chưa thể có loại khăn vành rây xếp nếp ấy cũng không thể có thứ nhung y thay chiến bào khoác trên vai ấy. Phụ nữ Việt Nam từ trước Bà Triệu đến sau Bà hàng ngàn năm đều mặc váy dù bình dân hay quý tộc. Tượng phụ nữ trên thanh đoản kiếm núi Nưa mặc váy dài trùm kín gót chân. Đó là phụ nữ quý tộc. Phụ nữ bình dân thì có các loại váy: váy quấn váy vặn váy dây váy ống... Mặc quần đi hia (hay ủng) nhất định là nữ tướng Tàu trăm phần trăm!
Với hình tượng voi chiến tác giả viết: "Tôi chọn giải pháp đưa con voi chiến của Bà làm bệ tượng tuy tả thực (vì nó là một yếu tố mà BTC đề ra) nhưng được đơn giản hóa chi tiết để trở thành bệ tượng một cách hợp lý dễ chấp nhận; ngay cả đến việc diễn tả tính khí hung dữ của con voi cũng được giảm bớt nếu không nó làm giảm uy thế của Bà" (lời thuyết minh của tác giả) (4).
Yêu cầu của BTC cuộc thi: hình tượng Bà Triệu phải gắn liền với hình tượng voi chiến là hoàn toàn đúng. Tất cả các tài liệu xưa kể cả tài liệu Trung Quốc đều nhấn mạnh chi tiết Bà Triệu cưỡi voi xông trận như là nét đặc trưng nhất hình ảnh độc đáo nhất của người con gái họ Triệu nước Nam. Tác giả dù sáng tạo nghệ thuật theo trường phái nào phong cách nào nếu thiếu hình tượng voi chiến không thể có pho tượng đài Bà Triệu hoàn chỉnh. Sáng tạo nghệ thuật như thế nào là quyền của tác giả. Nhưng tôi cho rằng khi con voi chiến cách điệu cao tới mức thành bệ tượng thì không còn là hình tượng voi chiến và voi chiến xông trận nữa. Bởi lẽ rất dễ hiểu: Voi chiến phải được thể hiện như thế nào để thành voi chiến nó không còn là voi rừng voi kéo gỗ voi du lịch ... Hơn nữa voi chiến vẫn chỉ là một khái niệm chung voi phải có tư thế có hành động mới thành voi xông trận. Nội dung thể lệ cuộc thi ở Mục đích yêu cầu quy định rõ: "Bằng ngôn ngữ điêu khắc tập trung diễn tả hình tượng người Nữ anh hùng dân tộc cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân Ngô với tư thế oai phong lẫm liệt..." Tôi cho rằng mục đích yêu cầu này không dễ chút nào. Bởi vì biện pháp voi chiến cách điệu thành bệ tượng hiệu quả rất dễ ngược lại thành bệ tượng mô phỏng hình voi!
Con voi của tác giả pho tượng được xếp loại II đó không mang hình tượng một con voi chiến xông trận đặc biệt cặp ngà và cái vòi rũ xuống với đôi mắt không dám nhìn thẳng cứ như là nó vừa trải qua một trận chiến ác liệt nhưng không phải chiến thắng mà chiến bại!
Mẫu phác thảo tượng đài Bà Triệu gây được ấn tượng không phải ở pho xếp loại một loại hai kể trên mà loại ba mã số tác giả BK19 (mã số giám khảo 07). Tượng này không có múa gươm giơ tay co chân xông lên như tượng thứ nhất cũng không cầm kiếm chỉ tay oai vệ như tượng thứ hai vẫn toát lên vẻ oai nghiêm mang khí phách của một nữ anh hùng với phong thái một viên tướng chỉ huy một lãnh tụ nghĩa quân đầy thao lược. Tác giả chứng tỏ nghiên cứu kỹ hình tượng người phụ nữ trên cán thanh đoản kiếm núi Nưa và vận dụng sáng tạo vào sáng tác của mình. Bản thuyết minh viết rất ngắn cho biết tượng này của một nhóm tác giả: "Nhóm tác giả chúng tôi đi tìm hình tượng cho Bà Triệu từ câu hát dân gian từ cứ liệu trong nền văn hóa Đông Sơn từ họa tiết trong trống đồng Ngọc Lũ .v.v..." Cũng là cầm kiếm nhưng với nhóm tác giả này là kiếm lệnh tay phải không giơ lên giơ xuống mà chống nạnh làm cho vẻ oai phong được tăng thêm. Về trang phục nhóm tác giả thể hiện rất đẹp áo váy khăn tiếp thu có sáng tạo từ trang phục của người phụ nữ trên thanh đoản kiếm núi Nưa. Tóc không cài trâm mà búi ngược lên đỉnh đầu có thể chấp nhận được vì chỉ phụ nữ Trung Quốc mới cài trâm. Tuy nhiên tôi không tán thành hai điểm: một là bộ giáp trụ. Đành rằng có tài liệu nói Bà Triệu mặc áo giáp vàng hoặc mặc áo giáp đồng nhưng vẫn là sự suy diễn thêm thắt về sau cho đẹp. Theo tôi hiểu dù là một phụ nữ quý tộc có vai trò rất lớn trong xã hộ bấy giờ (hơn cả nam giới) các chi tiết áo gai ngắn áo màu vàng đi guốc gỗ vẫn phù hợp hơn với hoàn cảnh lịch sử xã hội bấy giờ. Nhóm tác giả nói đã nghiên cứu từ cứ liệu văn hóa Đông Sơn từ họa tiết trong trống đồng Ngọc Lũ .v.v... thú thực có lẽ do trình độ còn hạn hẹp của mình tôi chưa được biết có hình ảnh người phụ nữ nào như vậy. Ngay như những người đóng vai trò chỉ huy là nam giới họ vẫn cởi trần với mảnh đồng tâm yểm ngực vòng đồng bảo vệ tay ... Chắc chắn khảo cổ học chưa từng phát hiện thấy một hình ảnh hay hiện vật là bộ giáp trụ hoàn chỉnh mà tượng thể hiện.
Phần con voi tuy tác giả nói "tượng bà đứng trên đầu voi" nhưng thực tế có những 4 đầu voi! Đó là 4 cái đầu voi bé tí nhô ra từ 4 góc trên của cái bục bệ hình vuông. Nhóm tác giả giải thích: phần bục bệ là ẩn dụ bốn phương - tám hướng. Thế còn tạm nghe được. Nhưng khi nhóm tác giả giải thích thêm: "Có 4 đầu voi nâng đỡ vua Bà với ẩn ý phong phú của tứ quân bát trận bốn mùa .v.v... theo triết lý ngũ hành là sự bền vững trường tồn muôn đời - sự kết tinh của trời và đất cha và mẹ - Từ địa linh ấy tất sinh nhân kiệt". Nói thế là nhóm tác giả đã đi quá xa đi quá xa mà không thuộc đường thì dễ lạc lối. Ngũ hành là 5 hành tại sao chỉ có tứ quân bốn mùa? Ngũ hành là năm phương mười hướng đâu phải tứ phương tám hướng?
Đành rằng nghệ thuật bắt nguồn từ tôn giáo nhưng khi nó đã đi ra khỏi tôn giáo thì nó có đời sống riêng của nó. Không nên đưa nghệ thuật hiện đại hay đương đại trở lại con đường thần bí hóa. Ví dụ: tác giả tượng xếp loại một nói Bà Triệu thọ 23 tuổi nên tượng Bà phải cao 23 cm là hoàn toàn sai! Xin hỏi tượng đài Lê Lợi tượng đài Lê Chân tượng đài Quang Trung tượng đài Trần Hưng Đạo.v.v... chiều cao có đúng với tuổi thọ của các vị không?
Điều cần nói thêm về mẫu tượng của nhóm tác giả được xếp loại ba là tư thế Bà Triệu tĩnh tại quá bất động quá im lìm quá! Tượng này nhìn xa thì không hoặc kém hiệu quả. Phải nhìn thật gần thật gần mới cảm nhận được những gì nhóm tác giả miêu tả với ý đồ sáng tạo của mình qua ngôn ngữ nghệ thuật điêu khắc đá. Nhưng tượng đài Bà Triệu đặt trên đỉnh cao núi Tượng Lĩnh đâu phải chỉ để nhìn gần?
                   
Xem lại cả ba phác thảo mẫu tượng đài Bà Triệu kể trên tuy không đạt chất lượng đồng đều khác nhau nhưng giống nhau ở chỗ chưa "tập trung diễn tả hình tượng người Nữ anh hùng dân tộc cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân Ngô với tư thế hiên ngang oai phong lẫm liệt thể hiện khí phách oai hùng hoài bão lớn lao nhưng rất gần gũi với nhân dân với người phụ nữ Việt Nam..." như mục đích yêu cầu của thể lệ cuộc thi mà Ban tổ chức đề ra. (5)
Tôi ước mong có một pho tượng đài Bà Triệu không thể lẫn với bất cứ pho tượng đài võ tướng anh hùng dân tộc nào khác dù nam hay nữ.
Các yếu tố voi trận trang phục diện mạo tư thế vũ khí v.v... đều rất quan trọng trong đó có một vấn đề là chúng ta nên lưu tâm hơn về vũ khí để tượng Bà Triệu có một thứ vũ khí đặc sắc nhất phù hợp với hình tượng Bà Triệu theo tinh thần lịch sử.
Nếu xem tượng Thánh Gióng chỉ nhìn mấy thân gốc tre vũ khí đánh giặc Ân trên tay Thánh Gióng thì nhất định đó là Thánh Gióng không thể ai khác.
Nếu xem tượng Bà Triệu chỉ nhìn thấy cây mác dài hay con dao cò trong tay Bà Triệu trên mình voi chiến thì chắc chắn không thể nhầm ra Bà Trưng Bà Lê Chân Bà Bùi Thị Xuân v.v...
Tuy vậy chúng ta đều biết: lịch sử là lịch sử nó không thể thay thế cho nghệ thuật cũng không thể buộc tay trói chân nghệ thuật mà phải xem đó là bầu trời tự do để nghệ thuật cất cánh bay lên.
                                                                     H.T.P






(1) (2) (3) Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu - Ty Văn hóa Thanh Hóa ấn hành 1971.
(4) Lời thuyết minh mẫu phác thảo tượng đài Bà Triệu của các tác giả lưu trữ tại Ban Tổ chức cuộc thi bạn đọc cần có thể liên hệ với Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Thanh Hóa.
(5) Những "Mẫu phác thảo tượng đài Bà Triệu" của các giả dự thi trưng bày tại nhà Triển lãm Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Thanh Hóa (TP Thanh Hóa). Sự xếp loại I II III nói trên theo mã số (chưa tiện công bố tên thật tác giả) qua 5 cuộc họp của Hội đồng nghệ thuật tượng đài Bà Triệu chỉ mới là công việc "so cột cờ trong bó đũa".


More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh




Đọc "Văn hóa dân gian Thanh Hóa
 
 
- Bước đầu tìm hiểu" của Hoàng Minh Tường

 


                                                                 Trọng Miễn

 



Khoảng hai mươi năm trở lại đây đội ngũ những người làm công tác sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân gian Thanh Hóa cứ thưa dần. Một phần do tuổi già sức yếu một phần đã trở thành người thiên cổ. Rất may bù đắp vào chỗ trống vắng đó đã có một số người tuổi đời mới trên bốn mươi sung sức lại có học vấn vào loại đại khoa ngày xưa bổ sung vào. Một trong nhưng người ấy là anh Hoàng Minh Tường. Anh vừa làm thơ viết truyện cho thiếu nhi vừa sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân gian. Chỉ mới hơn mười năm anh đã có ba tập thơ hai tập truyện hai tập nghiên cứu về văn hóa dân gian Thanh Hóa. Cuốn "Tục thờ thần Độc Cước ở làng Núi Sầm Sơn Thanh Hóa" (NXB Văn hóa Dân tộc 2005) được tặng giải Ba của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Ngoài ra anh còn nhận được một số giải thưởng khác nữa đó là những thành quả mà chẳng mấy người ở độ tuổi như anh có được. Mới đây năm 2007 Hoàng Minh Tường lại cho ra mắt bạn đọc cuốn "Văn hóa dân gian Thanh Hóa - Bước đầu tìm hiểu" (NXB Văn hóa dân tộc) dầy 360 trang in rất đẹp. Theo Hoàng Minh Tường "Văn hóa dân gian Thanh Hóa - Bước đầu tìm hiểu" là tập hợp những bài viết nghiên cứu trong thời gian qua trong đó có một số bài đã được in trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành trung ương một số bài viết nằm trong bản thảo tham dự và được tặng thưởng trong các năm 2005-2006 của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam  (Lời nói đầu trang 6).
Tôi đã đọc kỹ tập sách này với tinh thần cầu thị học hỏi. Điều đầu tiên tôi nhận ra là ba mươi lăm bài viết in trong tập sách này đều được tác giả viết với sự say mê và yêu quý văn hóa dân gian tỉnh nhà. Chính vì vậy nó có bổ ích đối với bạn đọc nhất là những người làm công tác văn hóa cơ sở. Tuy nhiên một tập sách đề cập đến nhiều lĩnh vực của văn hóa dân gian Thanh Hóa đặc biệt là tính bản địa và tiếp biến của văn hóa nên cũng có những điều cần được  trao đổi thêm.
1. Trong bài "Những biểu hiện hóa thạch ngoại biên về văn hóa ở Thanh Hóa" tác giả viết: "Hóa thạch ngoại biên về văn hóa đó là lý thuyết về sự lan tỏa và phát tán của văn hóa ở trung tâm. Quá trình vận động biến đổi phát triển văn hóa trung tâm (Văn hóa kinh đô Thăng Long văn hóa kinh đô Huế -T.M) đã mang đến cho những vùng phụ cận xa trung tâm những ảnh hưởng về văn hóa và đã được lưu giữ lại. Trải qua thời gian văn hóa ở trung tâm trải qua nhiều biến động và sự đổi thay nhanh chóng đã ít nhiều hoặc không còn giữ được những giá trị văn hóa ban đầu trong khi đó những hóa thạch văn hóa của vùng ngoại biên xa trung tâm biến đổi chậm đóng băng. Chính vì vậy những hóa thạch ngoại biên về văn hóa này giúp cho việc nhận diện nghiên cứu về văn hóa của một thời đã qua được đầy đủ và dễ dàng hơn" (trang 29). Nêu vấn đề như vậy nhưng toàn bộ bài viết tôi không hề thấy tác giả đưa ra một dẫn chứng nào về "Những biểu hiện hóa thạch ngoại biên về văn hóa ở Thanh Hóa" mà chỉ thấy tác giả liệt kê những loại hình văn hóa phi vật thể của Thanh Hóa mà thôi. Dĩ nhiên muốn thuyết phục được bạn đọc tác giả phải dẫn ra những hóa thạch ngoại biên về văn hóa ở Thanh Hóa có nguồn gốc từ kinh đô Thăng Long hoặc từ kinh đô Huế. Có như vậy bài viết mới có tính khoa học.
2. Về tín ngưỡng phồn thực. Vấn đề này được Hoàng Minh Tường giới thiệu khá đầy đủ tín ngưỡng phồn thực Thanh Hóa qua tục thờ lễ hội trò diễn dân gian. Tuy nhiên tín ngưỡng phồn thực không chỉ Thanh Hóa mới có mà trên đất nước ta tỉnh nào cũng có. Có điều ở Thanh Hóa tín ngưỡng này nhiều hơn dày đặc hơn. Người viết cần đi sâu giải thích hiện tượng này. Thực ra tín ngưỡng phồn thực có ở khắp các nước trên thế giới đặc biệt là những nước có nền văn minh lúa nước. Từ săn bắn hái lượm trở thành cư dân trồng lúa nước con người không chỉ mất hàng vạn năm lại gặp không biết bao tai ương khắc nghiệt của thiên nhiên thú dữ và chính của con người luôn luôn rình rập đe dọa cướp đi cuộc sống của họ. Để tồn tại con người nhỏ bé và ít ỏi phải nương tựa vào thiên nhiên đồng thời cũng phải chế ngự được thiên nhiên. Muốn làm được điều đó thì con người phải sinh sôi nhiều hơn mùa màng phải tươi tốt bội thu. Đó là cơ sở để tín ngưỡng phồn thực ra đời.
Thanh Hóa là tỉnh có miền núi trung du đồng bằng và ven biển do vậy tín ngưỡng phồn thực ở Thanh Hóa cũng rất đa dạng. Cần làm rõ sự khác nhau này và ảnh hưởng qua lại giữa phồn thực Thanh Hóa với phồn thực các tỉnh khác nếu có. Về phương hướng bảo tồn và phát huy tín ngưỡng phồn thực Hoàng Minh Tường viết: "Tìm hiểu tín ngưỡng phồn thực phải biết gạn đục khơi trong gạt ra khỏi yếu tố tục mới thấy hết được cái hay cái đẹp ý nghĩa sâu sắc và giá trị nghệ thuật độc đáo thông qua biểu tượng trò chơi trò diễn... nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắc ấy phục vụ cho cuộc sống và phát triển kinh tế - du lịch" (trang 56). Nếu gạt yếu tố tục đi thì còn gì là phồn thực nữa. Chỉ có thông qua yếu tố tục mới thấy được giá trị thực của tín ngưỡng phồn thực mà thôi. Chính vì vậy việc phục hồi phát huy tín ngưỡng phồn thực trong thời đại ngày nay phải xem xét thật kỹ nên phục hồi những tín ngưỡng điệu múa phồn thực nào chứ không phải phục hồi tín ngưỡng điệu múa ấy như thế nào.
3. Trong tập sách có 35 bài thì có đến 5 bài viết về thần Độc Cước và liên quan đến thần Độc Cước. Có thể nói Hoàng Minh Cường là người đầu tiên viết về thần Độc Cước ở Sầm Sơn công phu và nhiệt tình như thế. Tuy nhiên những nhận xét khẳng định của anh về vấn đề này thì còn phải trao đổi thêm. Xin nêu mấy thí dụ:
a. Từ tục thờ dấu chân trên đá từ Thanh Hóa ở vào vị trí mở thông thương với thế giới qua đường biển là chính từ bảo tàng Bom Bay (ấn Độ) trưng bầy tảng đá có in hình dấu chân Phật Hoàng Minh Tường đã khẳng định:
- Đạo Bà La Môn ấn Độ giáo đặc biệt là đạo Phật đã đến Thanh Hóa vào thế kỷ thứ III theo đường biển "Nam truyền"(phản ánh rõ nét ở tục thờ Độc Cước - Sầm Sơn) (trang 130).
- Chính triết lý dân dã của người Việt bản địa tiếp nhận với giáo lý nhân sinh quan Phật giáo đã đem đến cho tục thờ dấu chân trên đất Thanh Hóa có nhiều điều mới lạ. Cho đến nay hầu hết các hiện tượng thờ dấu chân trong tín ngưỡng dân gian của làng xã tỉnh Thanh đều mang mầu sắc Phật giáo gắn với những câu chuyện huyền thoại có bóng dáng Phật (trang 130).
- Qua giao lưu và tiếp biến văn hóa trên đất Thanh Hóa có những nơi có dấu chân người Khổng lồ - Nhiên thần và sau này là dấu chân các Nhân thần đều nằm trong không gian các ngôi chùa thờ Phật (trang 131).
- Qua tiếp biến và giao lưu văn hóa tục thờ dấu chân đã tiếp nhận và trầm tích các lớp văn hóa ẩn sâu trong tín ngưỡng dân gian và đọng lại dấu ấn Phật làm toát lên một biểu tượng mới: Bàn chân thần mang biểu tượng Phật trở thành hiện tượng phổ biến bắt gặp ở hầu hết các di tích ở Thanh Hóa. Điều đó nói lên tín ngưỡng dân gian và tôn giáo ngoại lai đã gặp gỡ nhau cùng tồn tại dung hòa hướng thiện vì cuộc sống bình yên hạnh phúc (trang 131).
Có thể nói những khẳng định của Hoàng Minh Tường mà chúng tôi vừa dẫn là rất táo bạo nhưng thiếu sức thuyết phục. Việt Nam là nước có nền văn minh lúa nước cho nên tín ngưỡng dân gian chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Những thần núi thần sông những gốc cây tảng đá bình vôi những dấu chân trên đá... đều có thể trở thành vật thiêng được nhân dân tôn sùng thờ cúng. Sở dĩ như vậy vì trong tâm thức của họ vạn vật đều linh thiêng đều có thể cứu giúp phù hộ con người đáp ứng được nguyện vọng ước mơ của con người. Phật giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên bằng hai đường: đường biển từ ấn Độ sang vào đường bộ từ Trung Quốc xuống. Phật giáo Việt Nam thuộc Đại thừa (Bắc Tông) nhưng lại ảnh hưởng chủ yếu phái Thiền Tông Trung Quốc. Nói đến Phật giáo là nói đến giáo lý nhà Phật. Đạo Phật từ ấn độ truyền sang các nước cũng là truyền giáo lý của Đạo Phật. Không rõ các nước có đạo Phật có hiện tượng phổ biến: "Bàn chân thần mang biểu tượng Phật" như ở Thanh Hóa ở Việt Nam không? Thiết nghĩ bàn chân Phật trên đá trưng bầy ở bảo tàng Bom Bay (ấn Độ) không thuộc giáo lý đạo Phật đó chỉ là kỷ vật của Phật cũng có thể chỉ là huyền thoại về bàn chân của Phật mà thôi. Vả lại chưa ai khẳng định rằng dấu vết bàn chân của Phật có trước dấu vết các bàn chân Nhiên Thần và Nhân Thần ở Việt Nam. Bởi vậy không nên gắn tục thờ dấu chân của người Việt với dấu chân trên đá của Phật khi chưa có đủ bằng cứ mà chỉ nặng về suy diễn phỏng đoán. Lại nữa có phải dấu chân các Nhiên Thần và Nhân Thần trên đất Thanh Hóa đều nằm trong không gian các ngôi chùa thờ Phật? Tôi cho rằng những dấu chân trên đá trên đất trên cát và những huyền thoại về các dấu chân ấy phải có trước sau đó nhân dân ta mới lập đền lập chùa thờ những dấu chân ấy. Còn hiện tượng có một số đền chùa ở Thanh Hóa ở Việt Nam vừa thờ thần vừa thờ Phật là hiện tượng đa thần giáo của người Việt chứ không phải Phật hóa các thánh nhân của người Việt.
b. Tôi không nghĩ rằng thần Độc Cước ở Sầm Sơn lại mang trong mình nhiều yếu tố tôn giáo như Hoàng Minh Tường đã viết. Thực ra tín ngưỡng thờ thần Độc Cước ở Sầm Sơn là tín ngưỡng dân gian bản địa pha màu đạo giáo. Mọi sự liên hệ giữa thần Độc Cước với Kỳ Na (Chăm) Phật (ấn Độ) Nho lão (Trung Quốc) đều là sự gán ghép cố ý không có cơ sở khoa học. Độc cước - sự tự phân thân của người dân chài là hình tượng rất kỳ vĩ rất đẹp của người Việt cổ đại. Sống trong sự khắc nghiệt của thiên nhiên (mưa gió bão tố sóng dữ) và cả của con người cướp phá (quỷ đỏ) người dân chài mơ ước có một vị thần vừa chống được bão tố sóng dữ vừa chống được bọn quỷ đỏ để bảo vệ được cuộc sống yên lành cho họ thế là Độc Cước ra đời. Những việc mà con người không làm được thì họ cầu viện đến những bậc siêu nhiên thần thánh. Điều này thường thấy trong các thần thoại cổ tích Việt Nam và thế giới không có gì khó hiểu cả.
Những vấn đề về thần Độc Cước Hoàng Minh Tường đã đề cập đến trong cuốn “Văn hóa dân gian Thanh Hóa - Bước đầu tìm hiểu” lại được in trong “Kỷ yếu tọa đàm kỷ niệm 20 năm thành lập Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa (1984-2004) và đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc 2008 tại Thanh Hóa” (Thường trực Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa thực hiện) với tiêu đề “Độc Cước - Môn đệ của đạo phật xả thân vì đồng loại”. Vì vậy tôi thấy cần thiết phải trao đổi thêm về vấn đề này cho rõ hơn:
- Câu chuyện nhà sư Cà Sa Đồ Lê ở chùa Dâu (Bắc Ninh) đứng một chân giảng kinh kệ và xoay mình theo hướng mặt trời giống phép tu đứng một chân xoay theo mặt trời của Kỳ Na giáo (Chăm). Có sự giống nhau này là bởi văn hóa Chăm và văn hóa Việt Nam đều ảnh hưởng văn hóa ấn Độ. Cả đại Kỳ Na (Chăm) và nhà sư Cà Sa Đồ Lê đều thấy rõ mục đích của phật giáo là “Chuyển mê khai ngộ” cho nên mới “xoay mình theo hướng mặt trời”. Còn đứng một chân giảng kinh kệ hoặc trong khi tu chỉ là động tác thay đổi thế đứng (lúc đứng chân này lúc đứng chân khác) nhằm làm cho chân đỡ mỏi đỡ đau khi phải đứng lâu.
- Gọi là độc Cước nhưng thực chất là một nửa người từ trên xuống dưới chứ không phải chỉ có một chân. Độc Cước cũng không giảng kinh kệ không tu luyện vì Độc Cước không phải phật không phải sư không phải vị cao tăng cuối cùng trong hệ thống tượng phật được thờ ở chùa cũng không phải môn đệ của đạo Kỳ Na (Chăm). Độc Cước là một người dân chài bình thườngbiết sống vì đồng loại vì xóm làng quê hương đã tự phân thân thành hai nửa người để vừa chống được bão tố sóng dữ ngoài biển khơi vừa đánh đuổi được bọn quỷ đỏ trên bờ bảo vệ được cuộc sống yên lành cho dân làng.
Độc Cước được nhân dân và nhà nước phong kiến phong thần lập đền thờ ở nhiều nơi nhất là ở miền Bắc. Điều đáng chú ý là Độc Cước không chỉ được thờ ở đền mà còn được thờ ở cả một số chùa. Điều này như chúng tôi đã nói ở trên là do tính đa thần giáo của người Việt đồng thời cũng còn do sự khác nhau giữa phật giáo đại Thừa và Tiểu Thừa. Chùa bên Tiểu Thừa chỉ thờ phật Thích Ca Mâu Ni còn bên Đại Thừa thì thờ Đức Thích Ca Mâu Ni lẫn chư phật chư Bồ tát có chùa còn thờ các vị La hán nữa. Tôi xin trích một đoạn trong bài Phong Dao của làng Quỳ Chử để bạn đọc tham khảo:
...Nghiêm trang rón bước vào trong
án tiền ở giữa cửu long một tòa
Uy nghi đứng giữa Thích Ca
Rồng phun nước tắm đất hoa sen chồi
Thượng tòa ba bụt ốc ngồi
Thêm một vị nữa lại ngồi lần ra
Đội cơi chính giữa gọi là
Ngọc Hoàng tên đặt vua cha trị vì (1)
Hai bên hai cúc hoa quỳ
Dâng nụ sen để từ bi chứng cùng
Phía đông bản thổ Thành Hoàng
Tiểu Kính chính nàng ở giữa phía tây
Vẹt con còn đậu trên tay
Mặt mày sầu não nhìn ngay ra ngoài...(2)
Chùa Liên Hoa của làng Quỳ Chử ngoài thờ phật Thích Ca và ba vị phật trong thần thoại còn thờ Ngọc Hoàng thượng đế thờ Thành Hoàng của làng và cả Tiểu Kính - Nhân vật trong tích chèo cổ “Quân âm - Thị Kính”. Chính vì vậy có chùa nào đó thờ cả Độc Cước thì có gì là lạ.
- Chúng ta biết phật Thích Ca sinh năm 564 trước công nguyên viên tịch năm 483 trước công nguyên; Tảng đá có in hình dấu chân phật có niên đại thế kỷ II (Không rõ trước hay sau công nguyên) cứ cho là trước công nguyên thì sau khi phật viên tịch khoảng 300 năm mới có tảng đá in hình dấu chân đức Phật. Như vậy người đời sau mô phỏng lại bàn chân Phật cùng bánh xe pháp luân khi ngài đi thuyết pháp. Tác phẩm nghệ thuật này không liên quan gì đến dấu chân các Nhiên thần và Nhân thần ở Việt Nam
 Cũng như Độc Cước Cồng chiêng Tây Nguyên Trống Đồng Nhà Sàn đâu chỉ Việt Nam mới có mà có ở hầu hết các nước Đông Nam á. Không nên đơn giản nghĩ rằng nước ngoài có gì giống mình tức là mình đã ảnh hưởng của họ hoặc họ đã truyền đến nước mình.
c. Về bài "Thử giải mã chiếc bè mảng của ngư dân Sầm Sơn" chúng tôi xin nêu mấy điểm sau đây:
- Hoàng Minh Tường viết: "ở vùng biển Thanh Hóa cũng như các cư dân ven biển khác ở Việt Nam thường có tục thờ Mẫu Thoải thờ Tứ vị Thánh Nương Nam Hải Đại vương. Nhưng trước khi có tục thờ ấy thì tín ngưỡng thờ thần mặt trăng có lẽ gần gũi và xuất hiện sớm hơn cả". Và "... Tín ngưỡng thờ mặt trăng đã có từ lâu đời và in sâu vào tâm thức ngư dân Sầm Sơn (Thanh Hóa)" (trang 141). Khẳng định như vậy nhưng Hoàng Minh Tường lại không nói rõ tín ngưỡng thờ thần mặt trăng như thế nào. Thật ra không có tín ngưỡng thờ thần mặt trăng mà chỉ có tết trông trăng mà thôi. Tết Trung thu rằm tháng tám là của Trung Quốc khi sang Việt Nam trở thành Tết trông trăng của người lớn: "Muốn ăn lúa tháng năm trông trăng rằm tháng tám". Trăng trong được lúa mùa trăng đục mờ được lúa chiêm không trăng thì nhà nông lo mùa màng thất bát.
Tết Trung thu ban ngày nhà nào cũng làm cỗ cúng gia tiên tối đến bầy cỗ thưởng nguyệt gồm bánh dẻo bánh nướng hình mặt trăng hoa quả. Trẻ con trông trăng xong thì phá cỗ. Trước khi phá cỗ từ chập tối từng đàn trẻ con rước đèn ông sao đèn cá chép múa sư tử rất vui. Bởi vậy Tết Trung thu còn gọi là tết trẻ con.
- Sau khi giới thiệu tóm tắt thần Độc Cước Hoàng Minh Tường viết: "Gạt bỏ những tình tiết ly kỳ và hùng tráng trong truyền thuyết thì thực chất cốt lõi của câu chuyện về vị thần ở vùng biển này được xuất phát từ tín ngưỡng thờ thần mặt trăng. Mặt trăng được coi là vị thần anh linh và có sức mạnh vô biên. Thần Độc Cước chính là hóa thân của mặt trăng gắn với thủy triều... Độc Cước là hình tượng nhân dạng hóa của mặt trăng. Và vì mặt trăng ít khi tròn đầy và thường thiếu khuyết nên Độc Cước chỉ có nửa người" (trang 142 143). Vẫn là những khẳng định không có bằng cứ không có sức thuyết phục. Đặc biệt Hoàng Minh Tường còn đồng nhất Độc Cước với mặt trăng từ đó suy ra có tín ngưỡng thờ thần Độc Cước tức là cũng có tín ngưỡng thờ thần mặt trăng! Không chỉ có thế Hoàng Minh Tường còn viết: "Chiếc bè mảng Sầm Sơn ngoài chức năng là phương tiện đi biển và khai thác hải sản bản thân nó còn chứa đựng những tín ngưỡng đơn sơ và thuần phác của những cư dân miền biển - tín ngưỡng thờ mặt trăng (trang 145). Nếu tư duy theo kiểu toán học thì ta sẽ có: Độc Cước - Mặt Trăng - Bè mảng Sầm Sơn là một! Điều ngạc nhiên là có những vấn đề rất đơn giản nhưng anh vẫn có cách viết làm cho bạn đọc phân vân. Chẳng hạn: "Thủy triều và mặt trăng là một cặp song sinh" (trang 146). Đúng là có trăng mới có thủy triều vì thủy triều là do sức hút của mặt trăng mà có. Nhưng không phải cứ có trăng là có thủy triều và ngược lại. Một ngày một đêm thủy triều (dân gian gọi là nước lên) chỉ có vài lần một trong những lần ấy là lúc hoàng hôn. Tôi rất thích hai câu thơ của Huy Cận:
Lòng quê dờn dợn vời con nước
Không khói hàng hôn cũng nhớ nhà
Thủy triều lúc hoàng hôn trời nước mênh mang vời vợi không một làn khói vương mà nỗi nhớ nhà của người xa quê vẫn tràn ngập trong lòng.
Hoàng Minh Tường viết say sưa và tâm huyết đó là điều rất đáng quý. Tuy vậy có những vấn đề anh nêu lên lại cần thời gian để anh suy nghĩ nghiền ngẫm. Tôi vẫn rất hy vọng vào anh và vì hy vọng nên tôi đã mạnh dạn nêu lên những suy nghĩ hạn hẹp của mình mong bày tỏ san sẻ với anh những điều anh tâm huyết.
                                                           Sau lễ Phật đản 2008
                                                                         T.M




(1) Tức Ngọc Hoàng thượng đế. Theo đạo giáo Ngọc Hoàng thượng đế tức ông trời thuộc thiên thần.
(2) Trọng Miễn Văn hóa làng Quỳ Chử NXB Văn Học Hà Nội 2001- trang 89


More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Sắc thái văn hóa xứ Thanh

trong thơ Thanh Hóa

                           
 
                                                              Nguyễn Mạnh Hùng
 
 
 
  

           Thanh Hóa là vùng đất hình thành sớm trong lịch sử nếu có thể nói cũng có nền văn minh phát triển song hành với nền văn minh lúa nước của người Việt. Thanh Hóa là quê hương của văn minh trống đồng và nhạc khí bằng đồng cũng là quê hương của những kho tàng truyện kể dân gian ca dao dân ca và các trò diễn. Thanh Hóa là vùng đất rộng người đông; vị trí địa lý mở ra bốn phương tám hướng: Phía tây lên núi phía đông xuống biển là dải đất Bắc miền Trung trên đường xuyên việt Bắc - Nam có cả đồng bằng và trung du. Do vậy cũng từ rất sớm trong lịch sử Thanh Hóa là địa bàn nhập cư của các tộc người Hoa (Trung Quốc) người Mường người Thái (Hòa Bình và Nghệ An) người Kinh ở Ninh Bình. Do đặc điểm và tính chất của một vùng quê địa - văn hóa và địa - lịch sử xã hội như vậy Thanh Hóa đã sớm hình thành và khẳng định sắc thái văn hóa của đất và người xứ Thanh.
Sắc thái văn hóa Thanh Hóa được biểu hiện ở võ công và văn hiến. Võ công là tinh thần thượng võ để tự vệ góp phần quan trọng vào công cuộc chống xâm lược và mở nước của dân tộc. Văn hiến là văn minh văn hóa hiền tài viết sử và làm thơ. Chả thế mà từ thế kỷ XI vua Lý Thái tông một lần công cán qua Thanh Hóa đã khẳng định đây là vùng đất "Địa linh nhân kiệt". Sắc thái văn hóa đó biểu hiện đậm nét và rực rỡ ở mọi loại hình nghệ thuật như âm nhạc điêu khắc kiến trúc và đặc biệt là ở loại hình văn học.
Thơ ca là thể loại truyền thống của dân tộc mà Thanh Hóa là một trong những điểm sáng của cả nước về sự phát triển. Bài viết này chỉ là một lát cắt mang tính đồng đại góp phần khẳng định: "Có một sắc thái xứ Thanh trong thơ Thanh Hóa" thời hiện đại.
Có thể hiểu sắc thái văn hóa của một vùng quê một địa phương (hàng tỉnh hoặc tộc người) trong thơ ca là phạm vi hẹp khái niệm hẹp của tính dân tộc trong thơ ca - văn học. Tôi chỉ xin đề cập đến ba tiêu chí biểu hiện sắc thái văn hóa trong thơ ca Thanh Hóa.
- Tâm hồn và tính cách con người
- Chất liệu và địa danh
- Ngôn ngữ và giọng điệu.
Nói đến tâm hồn và tính cách của người Thanh Hóa người đời thường nghĩ và hình dung ra mẫu người cương trực gân guốc có phần ngang tàng và đôn hậu hóm hỉnh và luôn lạc quan. ở một bài phê bình "Thơ nữ Thanh Hóa" (Một vùng quê văn học - NXB Thanh Hóa - 2005) tôi đã có nhận xét: "Người Thanh Hóa quê ta có cái gì đó rất thông minh dữ dằn cương trực hơi gàn nhưng cũng dễ mềm lòng". Vâng! Đúng như vậy. Khí chất này của người Thanh Hóa được thể hiện rất rõ trong văn học chống Pháp.
Bài thơ "Đèo Cả" của Hữu Loan hoành tráng mà kiêu sa chí ngút trời mà ấm áp tình người tình đồng chí:
Đèo Cả! Đèo Cả
Núi cao ngất
Mây trời Ai Lao sầu đại dương
...
Gian nguy lòng không nhạt
Căm thù trăm năm xa
Máu thiêng sôi dào dạt
Từ nguồn thiêng ông cha
...
Ăn với nhau bữa heo rừng công thui chấm muối
Trên sạp cây rừng
Ngủ chung một lối
Biệt nhau đèo heo canh gà.
Bài thơ "Nhớ máu" của Trần Mai Ninh là khúc ca ra trận của người trai người vệ quốc đem sức dài vai rộng cầm vũ khí nuôi chí đánh giặc cứu nước cứu non sông trong niềm lạc quan vinh dự:
Cả ngàn chiến sĩ
Cả ngàn con bạc con vàng
Của tổ quốc!
Sống... trong đáy âm thầm
Mà nắm chắc tối cao vinh dự.
Và với một nhà thơ nữ sống và trưởng thành trong thời bình đã thấm nhuần nhân sinh quan lạc quan yêu đời của cha anh qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ tác giả chẳng việc gì phải buồn phiền bi quan trong cuộc sống. Bởi vậy tác giả có lời nhắn nhủ những ai còn nghi hoặc chao đảo trong cuộc sống thì bình tâm nhìn nhận lại xác định lại để hòa nhập với cuộc sống đáng yêu này. Đó là cái đẹp hồn hậu nữ tính của người con gái xứ Thanh:
Nếu bạn còn hoài nghi tất cả
Chẳng còn tin gì ở cõi đời
Thì hạnh phúc cùng niềm tin lớn nhỏ
Cũng dần dần bỏ bạn mà thôi
            (Lê Minh Hoài - Tiếng mùa xuân)
Về chất liệu và địa danh nêu bật sắc thái văn hóa xứ Thanh có nhiều tác giả và tác phẩm đề cập tới. Và đây cũng là tiêu chí giúp người đọc dễ nhận ra nhất thơ Thanh Hóa viết về Thanh Hóa trong văn học hiện đại và đương đại. Nói đến Thanh Hóa là nói đến sông Chu sông Mã Hàm Rồng Sầm Sơn; đến Lam Sơn - Thọ Xuân Thành nhà Hồ - Vĩnh Lộc Ngàn Nưa - Nông Cống Như Thanh và đến trăm miền quê xứ Thanh danh thắng nên thơ.
Ca dao Thanh Hóa có câu:
Thanh Hóa thắng địa là nơi
Rồng vờn hạt ngọc hạc bơi chân thành
Rồng và ngọc là núi Rồng. Núi Ngọc bên hai bờ sông Mã là điểm nối hai đầu cầu Hàm Rồng trong lịch sử đã đi vào huyền thoại thời hiện đại.
Cầm Giang có bài thơ "Núi Mường Hung - Dòng sông Mã" viết từ đầu năm 1953. Sau này nhạc sĩ Bùi Đức Hạnh đã dựa vào ý và lời thơ viết nên ca khúc nổi tiếng "Tình ca Tây Bắc". Thượng nguồn sông Mã từ Sơn La - Tây Bắc hạ nguồn là Thanh Hóa - miền Trung. Đoạn cuối chảy qua Hàm Rồng đến cửa Hới thì hòa vào biển đông. Cái đẹp trong bài thơ Cầm Giang là cái đẹp của con người tình yêu gắn liền với quê hương sông núi; trưởng thành và phát triển lại hóa thân vào sông núi quê hương:
Anh làm no lòng mường
Em làm vui ấm bản
...
Để anh lớn mãi thành núi Mường Hung
Em ngoan ngoãn chảy thành dòng sông Mã
Rõ nét hơn cả về sông Mã - Thanh Hóa là bài thơ mang tên sông của Huy Trụ. Chỉ với một khổ thơ Huy Trụ ghi nhận được những âm thanh của cuộc sống tự nhiên xã hội; phác ra được một bản đồ hành chính và sâu đậm là cuộc sống cực nhọc mà thủy chung của người lao động trên sông nước xứ Thanh:
Một tiếng gà giữa ngã ba Bông
Dân sáu huyện cùng nghe người sáu làng cùng thức
Một tiếng "huầy dô" xô con đò dọc
Người trên bờ áo cũng đẫm mồ hôi.
Tôi biết có ba người công bố trường ca (Sông Mã) về Hàm Rồng thời kháng chiến chống Mỹ là nhà văn Từ Nguyên Tĩnh nhà thơ Mạnh Lê và ông Nguyễn Thành Huy. Trường ca "Hàm Rồng cảm xúc lúc rạng đông" của Nguyễn Thành Huy hào sảng hùng tráng trong chiến trận:
Trị tội chúng Hàm Rồng dàn thế trận
Đất trời tụ giông - lưng rồng ủ bão
Lung linh vách đá chiến hào
Bóng người lồng bóng pháo
Tay lão dân quân sáng đuốc
Mắt trai làng lửa bay
- Dô ta nào! Dô ta nào!
...
Đất trời  Hàm Rồng giật rung giông bão
Sắt chạm sắt tóe sáng
Tiếng át tiếng đinh tai
Lửa căm thù thiêu lũ ó giữa tầng mây
"Thần sấm" "Con ma" rụi xuống luống cày.
Và cũng thấm đẫm chất trữ tình của trường ca khi tác giả tái hiện những hình ảnh sinh động những giai điệu ngọt ngào của quê hương để rồi quy tụ lại trong cảm xúc của người chiến thắng:
Hàm Rồng - rạng đông
Trận địa pháo - tiếng sáo ai bay vút tầng không
Gọi cánh cò cánh cò... mỗi sớm sang sông
Thuyền bay dưới mặt trời hồng
Bóng cò in hình chim Lạc
Thiên nhiên cảm tác gợi nhớ trống đồng
Đông Sơn núi Đọ Ba Bông
Vọng Phu Trống Mái Hàm Rồng - tỉnh Thanh
Nhà thơ Mạnh Lê luôn khai thác các chất liệu văn hóa phi vật thể làng nghề nhân vật lịch sử và văn học của quê Thanh tiêu biểu ở các bài "Từ ai đến tôi" "Bình vôi" và "Dô tả dô tà":
Dô tả dô tà sông Mã quê ta
Ngày nắng ngày mưa xanh bờ rau má
Múa thì đội đèn hát như trống vỗ
...
Rạng thời vua Lê tối đời chúa Trịnh
Trạng Quỳnh ngạo nghễ đi vào nhân gian.
            (Dô tả dô tà)
Nhiều bài thơ mà nhan đề của nó của nhiều tác giả đã ghi đậm dấu ấn sắc thái văn hóa xứ Thanh đó là các bài thơ "Hàm Rồng" của Xuân Sách; "Đò Lèn" "Cầu Bố" của Nguyễn Duy; "Trụ cầu Hàm Rồng" của Mã Giang Lân; "Ngã Ba Môi" của Hoàng Phong; "Bến Sung" của Hoàng Tuấn; "Sông Chu tuổi thơ" của Phạm Đình Ân; "Mùa dưa hấu trên quê Mai An Tiêm" của Mai Văn Hai; "Ngã ba Giàng" của Nguyễn Trọng Liên; "Vọng Phu" của Trịnh Minh Châu; "Trống Mái" của Đinh Ngọc Diệp... Nói thêm hòn Vọng Phu ở Đông Sơn và hòn Trống Mái ở Sầm Sơn có có tới hàng chục tác giả khác sáng tác từ sự kỳ thú cả thiên nhiên ban tặng cho Thanh Hóa.
Về ngôn ngữ và giọng điệu làm nên nét riêng biết cho một miền thơ xứ Thanh đó là phương ngữ hay tiếng địa phương quê Thanh. Trước hết phải nói đến nhà thơ Hồng Nguyên với bài thơ nổi tiếng từ thời chống Pháp. Đó là bài thơ "Nhớ". Hồng Nguyên đã đưa nhiều từ ngữ địa phương vào bài thơ nhưng trong cấu tứ và cảm xúc chung của toàn bài bạn đọc cả nước đều hiểu được. Đó cũng là sự độc đáo trong việc sử dụng từ ngữ địa phương vào thơ.
Đồng chí nứ vui vui
Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ
Đồng chí mô nhớ nữa
Kể chuyện Bình Trị Thiên
Cho bầy tôi nghe ví.
Và ba câu cuối:
Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni
Dân chúng cầm tay lắc lắc:
Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc.
Từ ngữ gắn liền với giọng điệu. Hồng Nguyên đã đưa từ ngữ địa phương vào một cách hồn nhiên đến tự nhiên như vậy đã mở ra cho thơ Thanh Hóa  một giọng điệu tự nhiên như lời nói bạch thoại trong thơ. Bài thơ "Nhớ máu" của Trần Mai Ninh là lời nói bạch thoại độc thoại nội tâm bằng thơ. Ngôn ngữ không cầu kỳ giọng điệu không làm duyên mà truyền cảm sẻ chia cùng người đọc:
- Còn mấy bước tới Nha Trang
- A gần lắm!
Ta gần máu
Ta gần người
Ta gần quyết liệt
Và những lời thơ của Văn Đắc Mạnh Lê cũng như lời nói và giọng điệu chuyện trò tâm sự:
Giặc bỏ bom ngang
Ta xây làng dọc
Giặc bỏ bom dọc
Ta dựng làng ngang".
            (Văn Đắc - Làng sơ tán)
Sau ba ngày cha tôi mất mẹ thắp hương cắm lên mộ cha
Khí đất bốc lên nắm hương ngùn ngụn cháy
Mẹ để hai bàn tay lửa bén tôi bối rối xin mẹ buông tay
Mẹ biết nhưng không làm khác
Mẹ đang thì thầm nói chuyện với cha tôi bằng khói lửa này"
                    (Mạnh Lê - Từ ai đến tôi)
Và một điều dễ nhận là ngôn ngữ và giọng điệu thơ Thanh Hóa được "lẩy" từ ca dao dân ca. Điều này không làm nghèo nàn sự sáng tạo trong ngôn ngữ thơ ca mà ngược lại làm phong phú cho ngôn ngữ thơ ca hiện đại. Đây là sự tiếp nối kế thừa và cách tân ngôn ngữ nghệ thuật của nhân dân. Các nhà thơ bác học cần phải biết học tập và làm mới thơ ca dân gian Thanh Hóa. Đó cũng là sắc thái văn hóa trong ngôn ngữ thơ xứ Thanh.
Đây là cảm xúc trữ tình trong trường ca "Hàm Rồng cảm xúc lúc rạng đông" của Nguyễn Thành Huy:
Hàm Rồng - phút bình yên
Triền sông Mã... tiếng ai hò ngân nga vang trọng điểm
- Trăng lên đỉnh Ngọc trăng tà
Mình yêu ta thật hay là yêu chơi?
- Trăng qua sông Mã trăng rơi
Anh yêu em thật yêu chơi làm gì!
Cảm xúc trữ tình đó dựa vào lối hát đối đáp của người quê Thanh từ ngôn ngữ và giọng điệu.
Vương Anh là nhà thơ người Mường Thanh Hóa đã thành danh trên thi đàn cả nước. Anh không chỉ "Lẩy" tục ngữ người Mường "Cơm Mường Vó lúa Mường Vang" để thành thơ:
Là cơm Mương Vó lúa Mường Vang
Nơi ấy là kho cơm núi của
Mà phát triển thành tục ngữ hiện đại của người Mường:
Cây lúa Mường Vang bằng cây đũa bếp
Nếp Mường Vó hạt bằng đốt tay
                (Cơm mường Vó lúa Mường Vang)
Và hai câu thơ kết "Lẩy" ca dao của Hữu Loan trong bài thơ "Màu tím hoa sim" không còn là lời nhắn nhủ ngụ tình mà trở thành hai câu thơ hiện đại đau xé lòng về sự mất mát:
áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già xa lâu.
Các nhà thơ Thanh Hóa bằng sự sáng tạo của mình đều góp phần làm đẹp sắc thái văn hóa xứ Thanh góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc kể sao cho xiết. Đó là các nhà thơ Trần Mai Ninh Hồng Nguyên Thôi Hữu Hữu Loan Minh Hiệu Võ Quyết... trong kháng chiến chống Pháp; các nhà thơ Nguyễn Duy Vương Anh Xuân Sách Lê Đình Cánh Mã Giang Lân... trong kháng chiến chống Mỹ và các nhà thơ trưởng thành trong hòa bình xây dựng và cuôc sống đương đại như Mạnh Lê Huy Trụ Nguyễn Minh Khiêm Vũ Thị Khương Lê Thị Kim Viên Lan Anh Đinh Ngọc Diệp... mỗi tác giả nhà thơ đều có phong cách sáng tạo trong những chừng mực nhất định làm nên một diện mạo sắc thái văn hóa trong thơ xứ Thanh để hòa nhập vào dòng chảy của sự phát triển thơ ca của đất nước dân tộc.

                                                                           N.M.H

 
 
 
Đôi điều ghi nhận về một họa sĩ
 

vẽ tranh Bác Hồ

                   
                                                                  Dương Tuấn Hoa
 
 


        Trên bước đường nghiên cứu và sưu tầm tư liệu để hoàn thành cuốn sách "Bác Hồ - Nguồn cảm hứng sáng tạo của giới mỹ thuật" tôi vui mừng tìm được một số tác phẩm của Hoàng Hoa Mai một người bạn cùng trang lứa và cùng sinh ra ở một làng biển ở phía nam thị xã Sầm Sơn. Ngày nhỏ chúng tôi cùng sinh hoạt trong đội thiếu nhi đêm đêm cùng hát bài ca "Ai yêu Bác Hồ Chí Minh bằng chúng em nhi đồng". Phải chăng từ thuở ấu thơ tiếng hát ấy thấm sâu vào tâm hồn chúng tôi để rồi sau này hai đứa chúng tôi - người đi vào con đường hội họa kẻ hoạt động trên lĩnh vực báo chí văn học - đều chọn đề tài Bác Hồ để viết và sáng tác. Đã lâu lắm chúng tôi không gặp nhau nhưng thông qua các cuốn sách bài báo bức tranh chúng tôi vẫn có thể hiểu phần nào các thành quả trong hoạt động của mỗi người. Quả thật là tôi có may mắn hơn Hoàng Hoa Mai ở chỗ: mùa thu năm 1955 trước khi sang Đức học tập tôi và 148 thiếu nhi khác đã được vào Phủ Chủ tịch thăm Bác Hồ. Tiếp sau đó tôi còn một số lần được gần Bác trong đó có chuyến thăm của Bác Hồ tại Cộng hòa Dân chủ Đức vào mùa hè năm 1957. Hoàng Hoa Mai sau khi tốt nghiệp đại học đã trở thành "anh bộ đội Cụ Hồ" cầm súng vào miền Nam chiến đấu. Chưa một lần gặp Bác Hồ nhưng trong tâm tưởng Mai lúc nào cũng hiện lên hình ảnh Bác kính yêu. Và suốt mấy chục năm nay bên cạnh một số đề tài khác anh đã hoàn thành ngót 10 tác phẩm hội họa về Bác Hồ. Như vậy có thể xếp anh vào số những họa sĩ sáng tác nhiều tranh về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hoàng Hoa Mai đã có 5 lần dự triển lãm mỹ thuật toàn quốc (5 năm 1 lần) trong đó có hai lần về đề tài Bác Hồ. Riêng tác phẩm tranh sơn dầu "Nguyễn ái Quốc" đã được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Có thể xếp tranh của Hoàng Hoa Mai dưới đề tài Bác Hồ làm ba loại: Bác Hồ với Thanh Hóa (gồm những tác phẩm: "Bác Hồ nói chuyện với nhân dân Thanh Hóa năm 1947"; "Bác Hồ trên đỉnh Trường Lệ Sầm Sơn"; "Bác Hồ đến thăm đình Gia Miêu"; "Bác Hồ nói chuyện với cán bộ đảng viên ở Rừng Thông Thanh Hóa"). Bác Hồ trong những khoảng khắc lịch sử trọng đại (gồm các tác phẩm: "Nguyễn ái Quốc"; "Bác Hồ với cây chì đỏ"; "Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập"); và loại thứ ba là một số hình ảnh Bác Hồ khi ngồi làm thơ dưới ánh trăng Bác thăm đồng bào các dân tộc ít người Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng....
ở loại thứ nhất xem tranh của Hoàng Hoa Mai ai cũng nhận thấy niềm tự hào của anh trước sự quan tâm trìu mến của Bác Hồ đối với Thanh Hóa quê hương ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Bức tranh "Bác Hồ trên đỉnh Trường Lệ Sầm Sơn" đã trở nên quen thuộc với nhiều người. Nó gợi nhớ những ngày Bác về nghỉ và làm việc tại đền Cô Tiên trên núi Trường Lệ vào mùa hè năm 1960. Bác Hồ kính yêu của chúng ta hiện lên trước cảnh non nước và dãy núi Trường Lệ thơ mộng có sóng vỗ dập dờn dưới chân núi mà hình tượng Bác Hồ là trung tâm của tác phẩm giữa không gian rộng lớn có núi cao nước biển xanh bao la ôm ấp mây trời Người ngồi ung dung trên phiến đá với khuôn mặt đôn hậu và bộ quần áo nâu giản dị vừa mang tính hiện thực vừa thấm đượm màu sắc lãng mạn như một huyền thoại.
Như đã nói bức tranh "Nguyễn ái Quốc" hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh Hoàng Hoa Mai thể hiện chân dung Bác ở thời điểm Người đến với Luận cương của Lê Nin về các vấn đề Dân tộc và Thuộc địa khi Người đang họat động ở Paris. Có thể gọi đó là một khoảnh khắc đột phá thể hiện tình cảm của Người khi tìm thấy con đường cứu nước thông qua lý luận Mác - Lê Nin. Trước mắt chúng ta là hình tượng Bác sung sướng đứng bật dậy với khí phách hào hùng ánh mắt bừng sáng của Người hướng về phía trước với cái nhìn đầy lạc quan tin tưởng.
"Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập năm 1945" là tác phẩm mới nhất của Hoàng Hoa Mai được thực hiện trong 2 năm (2005-2007) với sự gợi ý của giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đây là đề tài khó vì hiện tại tư liệu về thời điểm này cũng như ảnh chụp ký họa hầu như không có gì. Vì thế muốn miêu tả sát với thực tế đòi hỏi họa sĩ phải thu thập hàng loạt tư liệu gián tiếp kể cả về số nhà 48 Hàng Ngang Hà Nội - Nơi Bác viết Tuyên ngôn Độc lập.
Bức tranh này bố cục theo một không gian thực của căn phòng Bác làm việc mà trong đó có chiếc bàn gỗ hình tròn thấp và nhỏ bộ ghế ngồi có đệm màu trắng bên cạnh Bác viết có cây đèn bọc vải màu hồng và ri đô trắng che cửa.
Với gam màu ấm trong không gian của căn phòng giản dị yên tĩnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tập trung cao độ khi viết bản Tuyên ngôn lịch sử chuẩn bị báo hiệu giờ phút khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đây là một thành công mới của Hoàng Hoa Mai sau những ngày tháng lao động sáng tạo say sưa cần mẫn với tấm lòng thành kính đối với vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Anh có thể tự hào được coi là một trong những họa sĩ Việt Nam có công ghi lại một số hình ảnh tiêu biểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Con đường sáng tạo của Hoàng Hoa Mai đang ở thời kỳ sung sức có nhiều triển vọng. Tôi hy vọng rằng trong cuốn sách "Bác Hồ - Nguồn cảm hứng sáng tạo của giới mỹ thuật" Hoàng Hoa Mai sẽ được đề cập với một vị trí xứng đáng.
                                                                                 D.T.H


More...

MỘT CHUYẾN XUẤT NGOẠI

By Văn Nghệ Xứ Thanh


TỪ NGUYÊN TĨNH


Một chuyến xuất ngoại


 
 


        Rồi cái ngày "xuất ngoại" cũng đến. Sáng 27-4-2008 từ thành phố Vinh qua cầu Bến Thủy đi cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh) sang Viên Chăn. Hỏi anh Lê Văn Thông tại sao không đi đường 7 cho nó gần. Anh Thông nói Nghệ An mở cửa khẩu nhưng còn đường bên phía bạn chua xong. Mà đi từ Thanh Hóa qua Na Mèo đi Sầm Nưa có dễ phải hơn ngàn cây số mới tới Viên Chăn mà đường lại xấu.
Lại nhớ lý do của chuyến "xuất ngọai" này. Năm ngoái vào dịp tết vào nhà in báo Nghệ An làm việc. Anh Lê Văn Thông Giám đốc nhà in báo Đảng Nghệ An đưa một số thành phẩm in cho bạn Lào ra khoe rồi nói vui: Anh Từ Nguyên Tĩnh ra tết nghỉ chế độ thôi thì mời anh và tạp chí đi một chuyến ra nước ngoài. Điều ấy làm vui cả cuộc trò chuyện. Tôi nói với mấy bạn ở tạp chí Xứ Thanh. Chỉ có điều "đánh tráo đi khái niệm" bằng cách không nói đi nước nào chả là vừa rồi cán bộ nhà in đi Mỹ. Ai cũng trầm trồ đi Mỹ cho mấy xuất “ăn theo” thì hay nhỉ. Nói thế thôi cái tạp chí này mấy ai mà "xuất ngoại" chưa hề đặt chân qua biên giới. Được đi Lào với cả "một thê đội" bốn người là quá "xổng chuồng". Nhà thơ Mạnh Lê vắng lý do mẹ già yếu không đi xa được. Còn ngoài tôi và lái xe Ngô Thanh Hà ra phải suy nghĩ xem "công thần" nào nữa chứ? Lại buồn rầu người ta sống với mình mười năm “lập nghiệp” mà không lo nổi một chuyến đi đó đây.
Nhưng mà xe đã nổ máy rồi. Hộ chiếu đã làm xong xuôi. Buồn cái nỗi gì. Phía nhà in báo Nghệ An có bốn người: Anh Lê Văn Thông Giám đốc; anh Đặng Xuân Bảng Phó giám đốc anh Nguyễn Bá Tuấn Trưởng phòng Tài vụ và lái xe Võ Anh Xuân. Tạp chí Xứ Thanh gồm Họa sĩ Thanh Sơn Lâm Bằng Ngô Thanh Hà và tôi. Đường từ Vinh qua thị xã Hồng Lĩnh mải vui chuyện lên thị trấn Châu tới khu kinh tế mở Cầu Treo cũng không có gì phải âu lo. Rừng núi xanh tốt lạ lùng. Phải nói Hà Tĩnh có diện tích rừng không lớn nhưng vùng rừng có gỗ quý và hiếm chưa cạn kiệt. Xe thùng chất cao xe khách rặt chữ Lào xe toyota mang biển Lào nối đuôi nhau chạy đổ ra biển. Sơn Tây không phải là thị xã của Hà Tĩnh nhưng nhà cửa khang trang không thua kém một thị xã nào. Có cái đẹp như Khe Sanh của Quảng Trị nhưng nhìn ra ba bề bốn bên núi là núi màu xanh thật mát mắt.
Một lèo hơn hai mươi cây là đến cửa khẩu Cầu Treo. Người ta nói kinh phí của cửa khẩu này nuôi cả Hà Tĩnh. Có thể là nói ngoa nhưng nhìn nhà cửa hàng hiệu ta biết được con người. Vì vậy cả bốn người của Xứ Thanh - quen sống tự cung tự cấp - chưa xuất ngoại. Lại nghĩ chuyện mua bánh kẹo áo quần như mấy bố đi Tây đi Tầu bảo về chợ mình mà mua cho rẻ. Vả lại ta đâu có sài quen đô la?
Thủ tục cũng không mau mắn gì. Phía mình thì chậm phía Lào lại nhanh. Họ có thể nói được tiếng ta ta không biết nói tiếng bạn. Rồi xe cũng chạy quá trưa thì về đến thị trấn Lạc Xao của tỉnh Pô Ly Khăm Xay. Đói và mệt thế đấy tối qua chả là nằm ở Vinh để kịp "hội quân" lòng dạ thật bồn chồn. Lại thêm lời khen đường bạn chê đường ta... Tôi sẽ còn nghe đến nhiều lần rằng đi trên đường không một tiếng còi. Không thấy bóng dáng ông Công an giao thông cầm sổ gậy ngăn xe lại phạt. Lái xe của nhà in chọn một cửa hàng có chữ Việt cho xe vào. Khi ở một nơi mở mắt ra có thể đọc được chữ mình ta không quí vậy mà "sẩy nhà" thì mới ra chuyện. Anh Lê Văn Thông không hiểu học tiếng Lào từ bao giờ mà nói chuyện được với người Lào ngon ơ. Bà chủ kiêm tiếp tân kiêm đầu bếp là một người ta ở Hà Tĩnh sang. Mồ hôi nhễ nhại phục vụ khách hàng. Nói đi làm ăn mà không siêng năng thì làm sao dư tiền. Tôi tự dặn lòng không sổ sách ghi chép nhưng mà cũng phải nhớ được đôi điều. Màu da sắc mặt thì có thể có máy ảnh làm hộ.
Đón tiếp đoàn là ông Vi Văn Giám đốc Nhà xuất bản Quốc gia Lào và ông Phu My Phó giám đốc hai ông đều tự lái xe đưa đón đoàn. Lúc cụng ly thưởng ngoạn món tự chọn đặc sản thịt nướng của Lào mới biết Vi Văn nom bệ vệ vậy mà chưa đầy năm mươi ông từng học ở Việt Nam tự học tiếng Việt mà nói chuyện nghe ra rất trôi chảy chỉ giọng phát âm là lơ lớ. Điều thú vị chỗ nào khó hiểu anh Lê Văn Thông và anh Vi Văn dùng tiếng Nga để trò chuyện cùng nhau. Vi Văn học ở Nga đến mười hai năm chả trách anh nói tiếng Nga thạo như tiếng mẹ đẻ.
Đêm đó chúng tôi ngủ tại khách sạn Phetmanyxay giá so với Việt Nam là đắt 19 đô la một ngày. Những người phục vụ có nói tiếng Việt họ cũng không hiểu sử dụng toàn tiếng Anh. Trong mơ màng mưa ập đến lúc nào. Anh Vi Văn nói bắt đầu vào mùa mưa của Lào. Mưa ở đây có nét gì đấy giống như  Tây Nguyên đến bất chợt và đi bất chợt.
Sáng ra phải đội mưa mà đi ăn sáng. Gặp một quán phở của Lào người chủ quán phở là dân Huế. Cô con gái da trắng mái tóc nhuộm màu vàng như người Hàn. Nói tiếng Huế. Phở Lào cũng hai chục đồng một bát. Bánh phở sợi to với mấy cục xương lợn. ăn uống biết thêm được cái lạ của xứ Lào là vui rồi.
Sáng đó anh Lê Văn Thông và nhà in Nghệ An làm việc cùng Cục Xuất bản Lào ông Si Vung Khec KONNYVONG. Ông nói tiếng Việt rất giỏi. Lúc ngồi nhậu nhà hàng bên hồ cách thủ đô hơn chục cây số mới biết ông từng học đại học sư phạm Hà Nội (1979 - 1983). Sáng đó anh Phu My đưa chúng tôi đi thăm chùa Sĩ Mường ngôi chùa cổ của Lào người dân nơi đây nói ai đến cầu ở chùa này sẽ gặp may. Thăm Thạt Luổng nơi đây Phà Ngùm vào thế kỷ thứ XIV đã đứng lên khởi nghĩa thoát khỏi ách ngoại xâm của giặc Nam Chiếu ông đổi tên nước Lào là Lạn Xạ (Triệu Voi) thăm đài chiến thắng Phu Tu Xay kiến trúc theo mô hình Khải Hoàn Môn của người Pháp.
Ngày hôm sau Nhà in báo Nghệ An làm việc với chị Vi Lay Viêng - Phó Chủ tịch Trung ương Hội Phụ nữ Lào chồng chị là Bộ trưởng Bộ Thông tin - Văn hóa Lào. Chị Vi Lay Viêng nói chuyện không khác các chị cán bộ phụ nữ người dân tộc của ta ở vùng cao là mấy. Chị đã học ở trường Hữu Nghị Thái Nguyên từ những năm sáu mươi. Anh Xăm Phát không nói được tiếng Việt anh Thông và Xăm Phát dùng tiếng Anh để chuyện trò. Anh Đặng Xuân Bảng Phó Giám đốc Nhà in báo Nghệ An cho biết tạp chí Phụ nữ Lào in ở Nghệ An thật ra nhà in muốn mở rộng vòng tay ra cùng bè bạn chứ giá cả chỉ lấy hữu nghị thôi...
Tối đó anh Vi Văn mời cơm chúng tôi thật ra anh em Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh là khách của Nhà in báo Nghệ An nhưng bạn bè Lào đâu có phân biệt là khách của khách. Mặc dù có con đang phải nằm viện điều trị bệnh tim nhưng anh Vi Văn và vợ chị Văn Chay vẫn tiếp đón thật nhiệt tình. Tuy không nói được tiếng Việt như chồng không hiểu học được ở đâu mà "nàng Văn Chay" vẫn hô: Một hai... ba... Dô... trăm phần trăm nào! - Anh Vi Văn khi ngà ngà mới tâm sự. Cha anh mang dòng máu người Việt vì thế anh không phải học tiếng Việt một ngày nào mà vẫn nói thạo. Khác với người anh con cô ở xứ Lạng về quê hương Lào không nói được tiếng mẹ đẻ là bao... Quê anh ở tỉnh Atơpư - ngã ba Đông Dương. Anh muốn làm một ngôi nhà sàn. Phải tốn nhiều tiền lắm. Làm một thư viện để bạn bè quốc tế qua nghỉ lại không mất tiền và đọc sách chơi. Tôi thấy tiếc vì được học Xúphaxít (tương tự như tục ngữ dân ca Việt Nam) được biết người Lào và Thái đã bản địa hóa sử thi Ramayana câu chuyện chặt cây thiêng... nhưng có nói được câu nào bằng tiếng Lào đâu mà góp chuyện. Nói chuyện phải nhờ thông dịch viên Lê Văn Thông. Tôi đem tập thơ mới in ra góp vào cái "thư viện thế giới" sắp ra đời của Vi Văn. Tên chị Văn Chay sao mà gợi cho tôi một thiên truyện ngắn "Nàng Văn Chay" ở xứ sở Triệu Voi này.
Sáng mai chúng tôi đi Thái Lan đi Noọng Khai và UĐonThaNi. Nhưng trước khi đi xem siêu thị thì vào bãi Phật Sala Keo Cu. Hàng trăm tượng Phật với mọi tư thế. Như xem một câu chuyện ly kỳ ở một thế giới xa xôi khác. Cảm giác về thế giới Phật chưa tan thì tràn trong mắt ta là hàng hóa là hàng Thái. Kinh nghiệm "xuất ngoại" đâu có bảo chuẩn bị đô la và bạt kíp? Thế là ngắm cho no mắt... Mới bữa qua trầm trồ về đất Lào trật tự ngăn nắp ít xe ô tô bóp còi ít gặp công an thì hôm nay là "chân trời Thái" hiền hòa tươi xanh hàng hóa tràn ra nơi siêu thị... UĐon là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng hoạt động thời Người đi tìm đường cứu nước. Và UĐon cũng là căn cứ không quân lớn của Mỹ đặt ở đây cùng Cò Rạt và Utapao thời chiến tranh từng cho B52 và các loại phản lực khác sang Việt Nam rải thảm để hủy diệt ta. Lúc ngồi xe về Viên Chăn họa sĩ Thanh Sơn mới nói cha của Thanh Sơn sinh tại UĐon ở đó còn bà cô và mộ của cụ kỵ mình. Tiếc quá có cái cạc vi dít của bà lại để ở nhà... Còn nhiều cái tiếc nữa nhưng ngủ lại đêm nay ở Viên Chăn là mai sẽ rời Lào đất nước láng giềng thân thiện. Cán bộ đi làm bằng xe toyota và ai cũng có trang trại thu nhập bình quân hơn 2000 đô la/năm (thống kê năm 2003)
Đoạn kết
Từ Viên Chăn đi của khẩu Cầu Treo đã thạo đường. Với lại thế nào chả phải quay lại thị trấn Lạc Xao? Nhưng trong tâm trạng ai cũng lo cho "con ngựa chiến". Bữa ăn cơm ở nhà anh Vi Văn đã nhờ thợ kiểm tra xem. Ai cũng nơm nớp sợ nó dở chứng. Vậy mà chưa được trăm cây số nó nằm lịm không chịu nổ máy. Nể là các anh Nghệ An cứ phải vòng lại để chờ. Con xe nhà in lại là loại mới thứ xịn sơn màu đen rõ là khỏe. Lái xe Ngô Thanh Hà và Xuân tháo ra giữa trời nắng mà nó không nổ máy. Tôi giơ tay vẫy đại một xe làm hiệu "kêu cứu" về xe hỏng. Hóa ra lái xe là nữ. Bà ấy được anh Thông phiên dịch là nhờ kéo. Tôi chạy ngay lên một quán bên đường ở Lào quán xá cũng ít mà chữ mình đâu biết. Cứ vào đại xem sao. Có một tiếng nói cất lên. Trời ơi! Là tiếng Ta. Bạn đừng cho là tôi cường điệu. ở nhà hoặc xe vi vu trên đường ai thiết chi đến tiếng gọi với theo: Cho đi với! Thật rách việc. Nhưng đằng này trong lúc hoạn nạn này lại nghe câu hỏi:
- Xe hỏng hả bác!
- Cháu quê đâu? Tôi nghe biết là đích thị dân Thanh Hóa rồi nhưng cứ hỏi cho chắc chắn.
- Cháu quê Thanh Hóa!
- Bác cũng Thanh Hóa đây! (Chỉ thiếu sự ôm chầm kiểu của đoàn ngoại giao).
- Cháu ở bên này à?
- Vâng! Cháu mới đưa vợ con sang đây... Cháu đi bán tỏi. Tôi như bao người khác cũng gợi sự trắc ẩn "cảnh giác với con buôn". Người thanh niên có tên là Nguyễn Như Quân ấy bỏ cả chuyện bán tỏi để đi giúp đoàn. Không có Quân thuê xe sẽ bị đắt và sẽ gặp nhiều chuyện rắc rối nữa... Thế là phải nhờ một "phu nhân" kéo xe. Quân phóng xe máy đi tăm cửa hiệu sửa xe. Tôi sang đi nhờ xe anh Thông mà thật lòng rất nể. Chính cái sự vân vi của "dân sản xuất nhỏ" mà làm cho bạn không khỏi phiền lòng. Nhưng cuộc đời này khi ta cứ tạo ra sự lụy phiền thì làm gì có thanh thản...
May quá ở thị trấn Pắc San (Pô Ly Khăm Xay) cũng có hiệu sửa. Khám cho kỳ hết bệnh mới phát hiện ra "ông xe" hỏng mất bơm. Làm bơm gia công cũng không sao đủ áp lực mà đưa xăng lên đốt cháy để nổ máy.
Thế là đành ngủ lại ở thị trấn đang thành hình hài này. Dù muốn hay không cũng nói để các anh Nghệ An về trước. Chả nhẽ bắt mấy anh ấy nằm lại chờ. Nể. Rồi lại vân vi thật sốt ruột. Có lúc Sơn đã nói với tôi hay là thuê một chiếc xe chở về. Tôi nói với anh bạn họa sĩ rằng tôi không muốn mình trở thành nổi tiếng. Vả lại anh tưởng ít tiền à. Và giấy chở và cẩu... Thế là người anh em Nguyễn Như Quân quê ở núi Đọ đành phải cùng Ngô Thanh Hà nhảy xe quay lại Viên Chăn đi tăm phụ tùng. Anh Thông động viên tôi anh vẫn gặp quý nhân phù trợ mà... Quả vậy không có Quân lam lũ bên này thì ai sẽ giúp chúng tôi lúc này. Và hỡi ông xe có tên như một nhà triết học Hy Lạp cổ đại Prôton* này là quả độc rồi. Malasya chỉ sản xuất ra một hai lứa biết có phụ tùng bán ở Viên Chăn Băng Cốc và Manila?... Tối đó phải ngủ trọ ở một căn nhà tồi tàn. Nóng và từng cặp ra vào tâm sự như dòng đời vốn thế... ở cạnh là một quán ba đèn điện nhấp nháy tiếng nhạc dập tông như muốn dựng cả người dậy... Tôi nghe nhạc suốt cả đêm... Tôi lại nhớ tới câu đùa của nhà thơ Ngô Minh xứ Huế xem blogs biết tôi đi Lào: ở Lào voi đẹp lắm đó! Thật dở khóc dở cười.
 Ngày mai... Biết có tìm ra đồ thay thế không. Lâm Bằng và Hà điện thoại cho nhau nói đi khắp cả mọi ngõ ngách Chợ Sáng (Mormchgmarket) mà không đào đâu ra bơm xăng của nhà triết học Prôton... Trưa đó ăn và ngồi nghỉ nhờ ở một quán cơm. Lại gặp một người phụ nữ Lào có mẹ là Việt quê ở Điện Biên.
Thật hú vía sang gần bốn giờ chiều thì từ Viên Chăn Hà nói đã tìm được hàng thay thế. Lắp xong bơm mà ai nấy không khỏi run sợ... Lỡ ra nó không nổ được máy thì sao?
May mắn làm sao... người đồng hương Nguyễn Như Quân ơi! Nếu không có anh đi tìm mua sắt vụn thì làm sao có bạn ở Đà Nằng làm ăn bên đó anh có thể cứu được mấy người chân yếu tay mềm... Khi gặp khó khăn bất khả kháng ta mới hiểu mình thật vô dụng ở đời!
Tôi lại nhớ câu nói đùa của anh Lê Văn Thông với cô Diễm Chi người Sài Gòn bán mì pate Lao.
- Cô cho gửi ông nhà văn này ở lại nhé!
- Em nhận với điều kiện được chị ấy ở Việt Nam đồng ý nhưng phải biết tiếng Lào và tiếng Anh... Lại phải biết đổi từ tiền Việt sang đô la và... Cô cười.
Không hiểu sao câu thơ theo dòng phái "bút phi lao" lại lởn vởn trong óc tôi:
Người ta đi Tây đi Tàu
Còn ta lại chọn nước Lào tầm sư.

                                                                                  T.N.T
 
 


* Platon là nhà triết học cổ Hy Lạp tác giả tráo với tên xe Prôtôn      
                                                     


More...

VĂN HỌC MUÔN PHƯƠNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

LÂM NGHỆ

(Trung Quốc)
 
 
 

Thuốc tráng dương bí truyền
 
 
 


       Thôn núi Lục Hợp loang ra một cái tin động trời: Ông Lý cựu chiến binh (nguyên văn: Ông Lý Bát Lộ có nghĩa là ông đã từng là lính Bát Lộ quân tức Giải phóng quân Trung Quốc nay đã phục viên) người trong làng năm nay đã gần lục tuần vừa mới đưa một bà vợ mới về nhà đến giờ chưa được nửa tháng bà lão đã bỏ nhà trốn mất. Bà lão bỏ đi thì bỏ đi có sao đâu mà lại bảo là một tin động trời? Vấn đề là ở chỗ bà lão bỏ trốn hết sức lạ lùng trước hết không phải vì tình cảm không hợp mà cũng chả phải trong nhà lắm công nhiều việc mà chỉ vì mỗi một cái tội ông Lý cựu chiến binh "nhân lão tâm bất lão".
Bà vợ trước của ông lão mới qua đời chưa được trăm ngày ông đã đi đón bà lão này về. Nhưng bà vợ mới về nhà chưa được ba ngày đã đi "buôn dưa lê" lân la thở than với hàng xóm láng giềng rằng: Trước khi đi ngủ bao giờ ông lão cũng làm một chén rượu sau đó là đòi "hành sự" ngay với bà có khi suốt cả đêm ông hành bà không để bà chợp mắt  được một tý nào bà thật tình không sao chịu đựng nổi cái tội cái nợ ấy được... và chưa đầy nửa tháng sau bà lão đã bỏ trốn đi thật...
Làng xóm ở cả một vùng đất này ồn ào về cái tin đó ai ai cũng bảo rằng ông Lý cựu chiến binh có "rượu thuốc tráng dương" và có hiệu lực khủng khiếp thừa sức biến một ông già thành một thanh niên trai tráng.
Ông Ngô Xã Trưởng của xã nghe tin này thấy nó rất kỳ lạ đã đích thân đến gọi điện thoại cho ông Thôn trưởng thôn Lục Hợp hỏi xem cái tin ấy có thực đúng thế không. Sau khi được nghe trả lời rằng: "Có thật" thì ông Xã Trưởng bắt đầu ngồi đứng không yên. Ông nghĩ ba ông làm quan đều háo cái của này nếu lấy được phương thuốc bí truyền đó làm quà cho ông Huyện Trưởng có thể nói là mọi thứ quà cáp lễ vật khác đều thuộc loại "dưới sề" hết! Chỉ cần làm cho ông Huyện Trưởng vui lòng ngày tháng thăng quan tiến chức của mình còn có xa xôi gì?
Nghĩ vậy xong ông Ngô Xã Trưởng lập tức phóng ô tô đi ngay trong đêm về thôn Lục Hợp. Ông Thôn trưởng cũng đưa ngay ông Xã Trưởng đến nhà ông Lý...
Hai người mới đi tới cổng nhà ông Lý bất chợt thấy giật mình bởi chẳng hiểu sao trong nhà ông Lý cựu chiến bình lại ồn ào đông người đến thế? Nhưng khi nhìn thấy trên bàn đầy cá đầy thịt cùng những chai với lọ và mấy cậu thanh niên trai tráng đang rẻo mỏ gọi ông Lý là cha nuôi bố nuôi... rồi tơi tới bưng nước mời thuốc châm thuốc cho ông Lý cựu chiến binh thì ông Ngô Xã Trưởng lập tức hiểu ngay ra mọi lẽ: Tất cả những người này đến đây chỉ cốt để moi cái mật phương tráng dương bí truyền.
Khi thấy các vị chức sắc có mặt mấy cậu thanh niên đều đứng dậy đánh bài chuồn. Ông Ngô Xã Trưởng nói rõ lý do có mặt của mình tại đây với ông Lý cựu chiến binh ông bảo ông có một người thân bị bệnh liệt dương nên đặc biệt tới đây xin ông Lý cái đơn thuốc bí truyền kia... Nhưng ông Lý cựu chiến binh chối rằng mình chẳng có cái mật phương bí truyền nào cả những lời đồn đại bên ngoài toàn là những lời đồn nhảm cả đó thôi.
Ông Thôn trưởng nghe nói vậy phát bực mình nổi cáu trách ông Lý:
- Đêm hôm tăm tối như thế này ông Ngô Xã Trưởng đã phải cất công đích thân tìm đến nhờ ông giúp cho có một việc mà ông không biết nể mặt ông Xã Trưởng sao?
Ông Lý cựu chiến binh nhấp nháy cặp mắt ty hý nói rằng ông thật tình chẳng có mật phương mật phiếc gì nhưng ông Thôn Trưởng dứt khoát không tin không bỏ qua... Cuối cùng chẳng còn cách nào khác ông Lý cựu chiến binh đành phải mở tủ nhẹ nhàng cẩn thận bê ra một bình rượu lớn hết sức miễn cưỡng nói:
- Thôi thì ông hãy rót tạm lấy một ít rượu này về thử xem vậy.
Ông Xã Trưởng vui như mở cờ trong bụng. Thì ra lão già đúng là có cái của quý này thật.
Số rượu có trong bình chỉ được chừng chưa tới hai cân (1 cân T.Q = 0 5 kilô - N.D) ông Lý cựu chiến binh kiếm một chiếc chai con khẽ khàng thư thả chiết rượu vơi vơi chai cho ông Xã Trưởng và dặn "Mỗi lần chỉ được uống hai hụm".
Ông Xã Trưởng về đến nhà rút chai rượu từ trong túi áo ngực ra ngắm nghía thật kỹ: Xem ra nó cũng chẳng có gì khác với các loại rượu khác đến màu sắc cũng chẳng có một chút khác thường nào. Ông rút nút thử luôn hai hớp cũng chẳng thấy có mùi vị gì lạ cả nó giống y như loại rượu lậu hai đồng một cân mọi người vẫn thường mua thường uống... Nhưng chỉ mấy phút sau nửa dưới của ông cứ thẳng đuỗn nảy lên bần bật.
Ông lẩm bẩm một mình:
- Thánh thật! Đúng là Thánh thật...
Ông lại lẩm bẩm khen:
- Cái ông già họ Lý này quả là người tài năng... tài năng...
Ngày hôm sau ông Ngô Xã Trưởng giấu chai rượu vào túi áo ngực tự mình lái xe đi lên huyện... rồi như một tên trộm len lén lẩn vào văn phòng làm việc của ông Huyện Trưởng giống như người dâng báu vật dâng rượu quý lên ông Huyện Trưởng.
Ông Huyện Trưởng nghe xong những lời giới thiệu mắt liền sáng lóe lên hỏi:
- Tuyệt vời đến thế sao?
Ông Ngô Xã Trưởng cười cười đáp:
- Rất tuyệt vời... Đêm qua tôi đã thử rồi... Thần tiên lắm... Thánh lắm...
Ông Huyện Trưởng đảo đảo mắt rồi nói:
- Này cậu cố kiếm cho tớ ít nữa tuần sau tớ lên họp trên thành phố...
Hai người không nói thêm gì nữa chỉ nhìn nhau cả cười....
Ông Ngô Xã Trưởng trở về lại trực tiếp xuống thẳng thôn Lục Hợp. Ông tìm tới ông Lý cựu chiến binh bảo ông Lý cựu chiến binh pha chế ngay rượu thuốc cho ông Huyện Trưởng. Điều đó làm cho ông Lý cựu chiến binh đờ đẫn cả người ông bảo ông không có thuốc thì làm sao mà pha chế ngay được. Ông Ngô Xã Trưởng vỗ bồm bộp vào ngực mình bảo không có thuốc ngại gì ta đi mua thuốc về chứ sao? Nhưng nói đến vã bọt mép ông Lý cựu chiến binh cũng không chịu pha chế loại thuốc này nữa ông thề sống thề chết rằng bản thân ông cũng không biết cách pha loại rượu thuốc này thôi thì còn một ít rượu cũ đó ông Xã Trưởng mang nốt đi vậy.
Ông Ngô Xã Trưởng đâu có chịu nghe kiểu ăn nói như thế.
- Đây là yêu cầu của ông Huyện Trưởng ông có biết không mà tôi lại đi nhận lời với người ta rồi ông không pha chế rượu cho tôi tôi biết tính sao với người ta đây? Tôi nói cho ông biết nhé đồng ý pha chế cũng phải pha chế không đồng ý pha chế cũng phải pha chế mua thuốc hết bao nhiêu tiền tôi chi.
Ông Lý cựu chiến binh đã bị dồn tới chân tường chỉ đành phải nhận lời pha chế rượu thuốc cho ông Huyện Trưởng nhưng ông nói thứ thuốc này phải lên tận thành phố mới mua được chứ còn mua ở quanh quanh huyện nhà là không có đâu. Ông Xã Trưởng bảo lên thành phố thì lên thành phố ta có ô tô sợ gì!
Hôm sau ông Xã Trưởng đánh xe lên thành phố đưa ông Lý cựu chiến binh đi mua thuốc. Ông Xã Trưởng cho ô tô dừng lại trước cửa một hiệu thuốc rất lớn định đi cùng với ông Lý vào trong đó mua thuốc nhưng ông lão cứ ngồi lỳ trong xe không chịu xuống nói quanh co mãi với rõ được cái ý rằng ông phải cầm tiền tự đi mua thuốc ông Xã Trưởng không được đi theo. Ông Xã Trưởng vốn có ý rằng phải đi theo ông Lý để nhân cơ hội moi cho ra cái thứ thuốc bí mật kia không ngờ lão già lại khôn lỏi như thế nên ông đành chịu thua để ông lão đi một mình. Ông Xã Trưởng hỏi muốn pha chế lấy 50 cân rượu thì hết bao nhiêu tiền thuốc? Ông Lý cựu chiến binh chợt "ồ" lên một tiếng rồi nói tiếp.
- Pha chế nhiều thế tốn kém đấy ít nhất cũng phải mất nghìn bạc...
ăn chơi là phải chịu tốn kém thôi ông Ngô Xã Trưởng moi tiền trong túi ra...
Ông Lý cựu chiến binh cầm tiền nhưng không vào cửa hiệu thuốc đó ông đi chỗ khác để mua thuốc và để ông Xã Trưởng ngồi trên ô tô chờ. Ngô Xã Trưởng tức đến lộn tiết (nguyên văn: Tức đến trắng con mắt - N.D) không ngờ trình độ cảnh giác của lão già này lại cao đến như vậy sợ rằng ông Xã Trưởng có nội gián trong hiệu thuốc này và sẽ lấy được cái phương thuốc bí truyền kia.
Sau hai tiếng đồng hồ mới thấy ông Lý cựu chiến binh quay lại. Thấy ông xách một chiếc túi dệt trong túi có hai chai nước khoáng... Ông Xã Trưởng cầm lấy chiếc túi sờ sờ nắn nắn thấy toàn là táo tầu bèn hỏi:
- Mua cái thứ táo này để làm gì?
Ông Lý cựu chiến binh đáp:
- Độ này tôi thấy cái dạ dày tôi hơi kém táo có tác dụng dưỡng huyết kiện vị...
- Thế còn cái thứ thuốc của ta đâu?
- Ông cứ yên tâm đi tôi mua rồi về nhà đảm bảo pha chế ra rượu thuốc...
Ông Xã Trưởng bị cái ông lão này làm cho thành mơ hồ mù mịt chẳng còn hiểu đầu đuôi ra làm sao nữa.
Ông Lý cựu chiến binh pha chế đủ 50 cân rượu ông Ngô Xã Trưởng bớt lại cho mình một ít rồi phóng xe đưa thẳng lên huyện. Ông Huyện Trưởng vừa trông thấy ông Xã Trưởng đã vội vã túm chặt lấy tay ông Xã Trưởng và nói:
- Tác dụng lắm! Tác dụng lắm! Xã cậu đúng là có người tài năng. Cái cơ hội kinh doanh này ta phải nắm chắc lấy nó mà phát triển làm giàu... Tôi đã nói với Ban Thương mại trước hết giúp các cậu lập ngay cho tôi một dự án. Dự án này sẽ kéo được vô số nhà đầu tư... Cái loại  rượu tuyệt vời như thế có sản xuất đến bao nhiêu cũng không lo gì đầu ra.
Ông Huyện Trưởng mở một bữa tiệc đặc biệt ở nhà khách của huyện để chiêu đãi ông Xã Trưởng ăn trưa đây cũng là chuyện trong suốt hai năm nay làm Xã Trưởng dưới xã chưa từng xảy ra khiến cho ông Xã Trưởng cảm thấy sự thăng quan tiến chức của mình càng ngày càng đến gần hơn...
Khi trở lại nhà ông Xã Trưởng đã làm theo đúng chỉ thị của ông Huyện Trưởng làm một bản tường trình về tính khả thi cùng sự phát triển sản xuất loại rượu này sau khi xây dựng xong nhà máy gửi cho huyện và Ban Thương mại mỗi nơi một bản.
Ngô Xã Trưởng còn bịa thêm ra trong báo cáo hiệu ích rằng: Đây là một mật phương của một vị Thái Y đời Càn Long triều Đại Thanh cho nên đề nghị lấy tên rượu là "Càn Long Xuân".
Chả bao lâu sau ông Huyện Trưởng đã gọi điện thoại về xã báo cho biết: Cấp Thành phố cũng rất quan tâm coi trọng dự án này nên đã kéo được một nhà kinh doanh đầu tư nước ngoài... Xã chuẩn bị sẵn sàng chỉ trong vòng tuần sau nhà kinh doanh nước ngoài về xã khảo sát thực địa.
Vào hôm nhà kinh doanh nước ngoài về khảo sát thực địa ông Ngô Xã Trưởng đã cho đón ông Lý cựu chiến binh lên xã và tiến hành làm "bao bì đóng gói trang trí" cho ông Lý thật bảnh chọe: Mặc quần áo âu phục lại thắt cả ca ra vát nữa tóc ông Lý lưa thưa chẳng còn được mấy sợi nên xem ra lại càng ra vẻ một vị chuyên gia lão thành. Lãnh đạo Thành phố lãnh đạo Huyện cùng tháp tùng với nhà kinh doanh nước ngoài thêm vào đó còn có cả phóng viên phát thanh và truyền hình... xem ra các vị lãnh đạo quả có coi trọng vấn đề này thật.
Ông Ngô Xã Trưởng chủ trì hội nghị giới thiệu ông Lý cựu chiến binh chính là hậu duệ của một vị Thái Y đời vua Càn Long. Mật phương này đã được gia truyền từ đời này sang đời kia mà ban đầu nó chính là đơn rượu thuốc phối phương riêng cho vua Càn Long ngự dụng... Nhà kinh doanh nước ngoài lại nói họ chỉ xem trọng hai phương diện một là hiệu quả một nữa là thứ rượu này có tồn tại những thành phần có hại không nếu người sử dụng lâu dài thì có hại gì cho sức khỏe của họ? Nếu hai phương diện trên không có vấn đề gì thì ngay ngày hôm nay có thể ký kết văn bản ghi nhớ.
Sau tràng pháo tay nhiệt liệt đại diện của phía nước ngoài đề nghị cho chuyên gia của họ được kiểm nghiệm phẩm vật mẫu tại chỗ. Ngô Xã Trưởng đưa ra hơn mười cân rượu mà ông lưu giữ tại nhà để dùng riêng. Những nhà kinh doanh nước ngoài đưa từ ô tô xuống rất nhiều máy móc. Chỉ một lát sau vị chuyên gia ngoại quốc kia đã kêu lên:
- No No... Thành phần trong này là kích dục tố nếu dùng lâu sẽ dẫn tới mất hoàn toàn công năng tính dục...
Những nhà kinh doanh nước ngoài cũng không tránh khỏi sự kinh ngạc họ xì xồ xì xồ với nhau mấy câu rồi cất tiếng hỏi;
- Vậy rượu này đã dùng cái gì để chế tạo ra nó?
Ông Ngô Xã Trưởng đáp:
- Trung dược... Thuần túy là Trung dược...
Vị đại diện nước ngoài nói:
- Đâu có đâu có... Máy móc cho biết trong này thành phần kích thích tố sinh dục nam vượt quá tiêu chuẩn gấp rất nhiều rất nhiều lần!
Lúc này mắt mọi người đều đổ dồn về phía ông Lý cựu chiến binh. Ông Lý thì thấy quả những tay nước ngoài này ghê gớm thật dùng thuốc gì họ cũng "hóa nghiệm" ra được cho nên cái "tráng dương mật phương" này có giấu giếm họ cũng chẳng được.
Thấy mọi người chăm chăm nhìn mình ông biết rằng họ đang muốn nghe mình nói ông liền đứng ngay dậy nói:
- Đúng! Đây không phải là Trung dược mà là tôi đã pha một loại thuốc khác vào với rượu để phối chế ra loại "Càn Long Xuân" này...
Vừa nói ông vừa rút từ trong túi áo ra một chiếc túi ni lông nhỏ.
Vị chuyên gia nước ngoài cầm lấy túi thuốc đọc xong mấy dòng chữ ghi trên đó ông ta liền đứng dậy lao tới trước mặt ông Ngô Xã Trưởng giáng cho ông Ngô một cái tát nảy đom đóm mắt và nói:
- Thế này ông chỉ có mà đi tù sớm...
Ông Ngô Xã Trưởng một tay ôm má một tay cầm túi thuốc lên xem... rồi người ông nhũn nhão ra ngồi phệt xuống mặt đất và miệng thì nguyền rủa:
- Cái lão cựu chiến binh đáng chết này đã làm hại cả một đời ta...
Những người ngồi quanh đó đều nhổm cả dậy xem túi thuốc... Tất cả đều trợn tròn mắt há hốc miệng sững sờ kinh hãi: Họ thấy trên chiếc túi thuốc có in hàng chữ đậm thật to bằng mực in đỏ loét:
"Thuốc kích dục dùng cho động vật". "Nhãn hiệu...X X..."

        Lê Bầu dịch
   (Theo Tạp chí Thanh Niên Bác lãm)




More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Tin văn nghệ

 

* Kỳ họp bất thường của BCH Hội VHNT Thanh Hóa (khóa VII)
Trước những yêu cầu về tổ chức nhân sự nhằm tăng cường lực lượng đảm bảo hoàn thành tốt những nhiệm vụ mà Đại hội VHNT Thanh Hóa lần thứ VII (nhiệm kỳ 2007 - 2012) đã đặt ra. Được sự đồng ý của Tỉnh ủy UBND Tỉnh sáng này 21 tháng 5 năm 2008 Ban Chấp hành Hội VHNT Thanh Hóa đã họp phiên bất thường.
13 trong tổng số 14 ủy viên BCH có mặt dưới sự chủ trì của nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm Chủ tịch Hội; Các ông Nguyễn Hữu Liên Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lê Đăng Sơn Trưởng phòng Văn hóa văn nghệ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cùng tham dự kỳ họp.
Sau khi thảo luận Ban Chấp hành Hội đã tiến hành bỏ phiếu bầu bổ xung các chức danh ủy viên Thường vụ Hội và Phó Tổng biên tập Tạp chí Xứ Thanh. Kiến trúc sư Lê Hồng Cẩm và nghệ sỹ ưu tú Hoàng Dùng đã trúng cử vào Ban Thường vụ Hội; Ông Hoàng Trọng Cường ủy viên Ban Thường vụ Hội Biên tập viên văn học Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng biên tập Tạp chí Xứ Thanh.
Cũng trong hội nghị này BCH đã triển khai các công việc của Hội trong những tháng tiếp theo; Với tinh thần động viên toàn thể hội viên ra sức sáng tạo phấn đấu để có nhiều tác phẩm có chất lượng hưởng ứng cuộc thi sáng tác quảng bá các tác phẩm VHNT và Báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".

* Họp báo tuyên truyền kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc
Sáng ngày 29-5-2008 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy - Ban Tổ chức lễ kỷ niệm cấp tỉnh tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức họp báo tuyên truyền kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc (11-6-1948 / 11-6-2008).
Đại diện Ban Tuyên giáo Ban Tổ chức Tỉnh ủy Ban Thi đua khen thưởng ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh; đại diện các cơ quan Báo chí địa phương: Báo Thanh Hóa; Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh; Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh; Báo Văn hóa Thông tin Thanh Hóa và các văn phòng đại diện báo trung ương tại Thanh Hóa đã đến dự.
Các ông Đinh Viết Ba Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy ông Nguyễn Văn Ngọc Trưởng Ban Thi đua khen thưởng tỉnh chủ trì buổi họp báo. Buổi họp báo đã thông qua những nội dung của lễ kỷ niệm và chủ trương của tỉnh là lễ kỷ niệm phải trang trọng hiệu quả tiết kiệm. Đồng thời giới thiệu kế hoạch tuyên truyền của các cơ quan thông tin đại chúng nhất là các cơ quan báo đài địa phương.
Đây là dịp để đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước gắn bó với việc triển khai sâu rộng và có hiệu quả cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng chính quyền các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với công tác tổ chức vận động và hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
                               
                                                         Hoàng Trọng Cường

*Nhà thơ Xuân Sách đã ra đi
Nhà thơ Xuân Sách tên đầy đủ là Ngô Xuân Sách sinh ngày 4 - 7 - 1932 tại Trường Giang Nông Cống Thanh Hóa. Ông được kết nạp Hội Nhà văn Việt Nam năm 1972. Hồi chống Mỹ đi B ông có bút danh Lê Hoài Đăng.
Ông từng là bộ đội pháo binh. Từ năm 1960 đến năm 1980 ông là biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Từ năm 1980 đến 1986 là Phó giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội. Từ năm 1987 đến 1997 Chủ tịch Hội Văn nghệ Vũng Tàu - Côn Đảo.
Ông có nhiều đóng góp cho văn học nước nhà nhiều tác phẩm có tiếng vang như: Đội du kích thiếu niên Đình Bảng Mặt trận quê hương Phía núi bên kia Cuộc hôn nhân bị đánh tráo Chân dung nhà văn... Bài thơ Đường chúng ta đi của ông được nhạc sỹ Huy Du phổ nhạc vẫn vang lên trong các ngày lễ trọng đại của đất nước.
Sau một thời gian đau yếu trong Vũng Tàu ông trở ra Hà Nội chữa bệnh. Nhưng do bệnh nặng nên không qua khỏi. Nhà thơ Xuân Sách đã từ trần hồi 23 giờ 55 phút ngày 2 - 6 - 2008 tại bệnh viện Thanh Nhàn Hà Nội. Lễ tang nhà thơ Xuân Sách đã được tổ chức ngày 6-6-2008 tại Hà Nội linh cữu nhà thơ được an táng tại quê nhà xã Trường Giang huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa.

                                                (Theo trannhuong.com)

* Thực hiện đề án xây dựng Bảo tàng lịch sử quốc gia Việt Nam và định hướng sưu tầm bổ xung tư liệu hiện vật của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Bảo tàng cách mạng Việt Nam phối hợp với Hội Nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức cuộc vận động thi ảnh về đề tài “Di tích lịch sử cách mạng Việt Nam”. 46 tác phẩm của 33 tác giả trong cả nước trong đó 3 tác giả: Trần Liên Chương (tác phẩm Hàm Rồng ngày khánh thành cầu Hoàng Long); Trần Hải (tác phẩm Di tích nhà tù Sơn La) và Xuân Tứ (tác phẩm Huyện đảo Cồn Cỏ) đã được tuyển chọn và trưng bày triển lãm đợt này.
                                                         
                                                             Xuân Tứ

More...