Cuộc vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí theo chủ đề

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Những nội dung chủ yếu phát động trong

cuộc vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí theo chủ đề

"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"


     Ngày 9 tháng 3 năm 2008 Ban chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đã tổ chức lễ phát động sáng tác quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề quan trọng này. Ban chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động đã thành lập Ban chỉ đạo Ban tổ chức đợt sáng tác quảng bá tác phẩm tiến hành từ nay đến năm 2011 ở các cơ quan Trung ương và đã gửi bản kế hoạch triển khai đến các tỉnh thành trong cả nước.

     Hưởng ứng Cuộc vận động của Ban chỉ đạo Trung ương thực hiện Thông báo Kết luận số 363 - TB/ TU của Ban chỉ đạo Cuộc vận động cấp tỉnh Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã xây dựng kế hoạch triển khai Cuộc Vận động sáng tác quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và đã thành lập Ban chỉ đạo Ban tổ chức Cuộc vận động của Tỉnh. Hôm nay Ban phối hợp với Hội Nhà báo Hội Văn học nghệ thuật Hội đồng Thi đua khen thưởng tỉnh tổ chức lễ phát động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề quan trọng này vào đúng ngày kỷ niệm 83 năm Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2008).

    Tại lễ kỷ niệm trọng thể này Ban chỉ đạo Cuộc vận động nhấn mạnh nội dung chủ yếu phát động cuộc vận động sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" ở tỉnh ta trong giai đoạn hiện nay là: Ca ngợi làm nổi bật và sống động tư tưởng đạo đức tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh làm cho Đảng bộ quân và dân các dân tộc trong tỉnh thấm nhuần nội dung và nhận thức sâu sắc vị trí vai trò giá trị to lớn của tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần xã hội ta. Phát hiện nêu gương góp phần nhân rộng những nhân tố mới điển hình tiên tiến gương người tốt việc tốt trong quá trình tổ chức thực hiện "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".

     Đề nghị anh chị em văn nghệ sĩ nhà báo và lực lượng sáng tác chuyên nghiệp không chuyên nghiệp trong tỉnh tích cực thâm nhập thực tế đi sâu vào thực tiễn đời sống đổi mới toàn diện ở tỉnh ta phản ánh chân thực và sinh động các mô hình điển hình tiên tiến cụ thể là:

- Những gương sáng của các tập thể cá nhân trên tất cả các lĩnh vực chính trị kinh tế văn hóa xã hội anh ninh quốc phòng trong tỉnh đã học tập và thấm nhuần sâu sắc nội dung "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".

    - Những cách làm hay sáng tạo có hiệu quả của tất cả các tổ chức cá nhân đơn vị trong toàn hệ thống chính trị ở tỉnh ta đã tổ chức thực hiện tốt Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" Thường trực Hội Nhà báo Hội Văn học nghệ thuật Báo Thanh Hoá Đài PTTH Tạp chí Xứ Thanh Nhà xuất bản Báo Văn hóa - thông tin cần chọn lọc những mô hình điển hình tiên tiến những gương sáng tiêu biểu của các tập thể và cá nhân mà các nhà báo và văn nghệ sĩ đã sáng tác để tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và của tỉnh.

                                           Ban chỉ đạo cuộc vận động

                           "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"
                                                         tỉnh Thanh Hóa

                                     Quyết định

                         Thành lập ban chỉ đạo và ban tổ chức

cuộc vận động sáng tác quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật
báo chí chủ đề
"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"

     Thực hiện kế hoạch số 30-KH/BTGTW ngày 6/3/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương "Triển khai Cuộc vận động sáng tác quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và Công văn số 1836- CV/BTGTW ngày 8/5/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương; Thông báo Kết luận số 363- TB/TU của Ban chỉ đạo Cuộc vận động cấp tỉnh.

Trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh ủy quyết định

Điều 1:

Thành lập Ban chỉ đạo và Ban Tổ chức cuộc vận động sáng tác quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".

A. Ban chỉ đạo:

1.Đ/c Nguyễn Đức Thắng - UV Ban Thường vụ Tỉnh uỷ - Trưởng Ban Tuyên giáo - Thường trực Ban chỉ đạo cấp Tỉnh - Trưởng ban.

2. Đ/c Phạm Minh Thiệu - TUV - Chủ tịch Hội Nhà báo - Tổng biên tập Báo Thanh Hoá - Phó ban.

3. Đ/c Ngô Hoài Chung - TUV - Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch - Phó ban.

4. Đ/c Nguyễn Văn Ngọc - Phó Giám đốc Sở Nội vụ - Thường trực Hội đồng TĐKT tỉnh - ủy viên.

5. Đ/c Lê Trung Sơn - Phó Trưởng Ban Thường trực BTG Tỉnh ủy - ủy viên.

6. Đ/c Cao Cường Đệ - Giám đốc Đài PTTH tỉnh - ủy viên.

7. Đ/c Đỗ Thanh- Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông - ủy viên

8. Đ/c Đinh Viết Ba - Phó Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ - ủy viên

9. Đ/c Đồng Tâm - Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hoá - ủy viên.

B. Ban Tổ chức:

1. Đ/c Lê Trung Sơn - Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy - Trưởng Ban.

2. Đ/c Phạm Ngọc Chung - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà Báo tỉnh - Phó ban.

3. Đ/c Đinh Viết Ba - Phó Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ - ủy viên

4. Đ/c Mai Tư- Phó Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch - ủy viên.

5. Đ/c Đỗ Văn Trường Phó Tổng biên tập Báo Thanh Hoá - ủy viên.

6. Đ/c Nguyễn Hồng Sơn - Phó Giám đốc Đài PTTH tỉnh - ủy viên.

7. Đ/c Bùi Cao Tiêu- Giám đốc Nhà Xuất bản Thanh Hoá - ủy viên.

8. Đ/c Hoàng Trọng Cường - ủy viên Ban Thường vụ Hội VHNT Thanh Hoá - Phó Tổng biên tập Tạp chí Xứ Thanh - ủy viên.

9. Đ/c Hoàng Minh Tường- Phó Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông - ủy viên.

10. Đ/c Phạm Minh Trị - Tổng Biên tập Báo Văn hoá - Thông tin - ủy viên.

11. Đ/c Lê Đăng Sơn - Trưởng phòng VH - VN Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ - ủy viên.

12. Đ/c Lê Giang Ky - Chánh Văn phòng Ban tuyên giáo Tỉnh ủy - ủy viên.

13. Đ/c Lê Hữu Đình - Phó Trưởng phòng Tuyên truyền BTG Tỉnh ủy - ủy viên

Ban Chỉ đạo và Ban Tổ chức Cuộc vận động sáng tác quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai Cuộc vận động và tổ chức thực hiện.

Điều 2: Ban Tuyên giáo các đồng chí có tên trong điều 1 chịu trách nhiệm thi jhành quyết định này

Trưởng Ban Tuyên giáo

Thường trực Ban chỉ đạo cuộc vận

động cấp tỉnh

Nguyễn Đức Thắng ( đã ký)

                                  Kế hoạch

       Triển khai cuộc vận động sáng tác quảng bá tác phẩm

              văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề

       "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"

     Thực hiện Chỉ thị số 06 - CT/ TW ngày 07/ 11/ 2006 của Bộ chính trị về tổ chức Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; Kế hoạch số 30 - KH/BTGTW ngày 06/3/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương; Thông báo kết luận số 363 TB/TU ngày 24/9/2007 của Ban Chỉ đạo Cuộc vận động của tỉnh. Công văn số 1836 - CV/BTGTW ngày 8/5/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ xây dựng Kế hoạch triển khai cuộc vận động sáng tác quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" như sau:

I. Mục đích yêu cầu

1. Mục đích:

- Ca ngợi làm nổi bật và sống động tư tưởng - tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; làm cho toàn thể Đảng bộ quân và dân trong tỉnh thấm nhuần nội dung và nhận thức sâu sắc vị trí vai trò giá trị to lớn của tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần của xã hội.

- Tuyên truyền cổ vũ khẳng định mục đích ý nghĩa tác dụng to lớn của Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặc biệt là công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng bồi đắp nền tảng đạo đức văn hoá trong toàn Đảng và toàn xã hội.

- Phát hiện nêu gương góp phần nhân rộng những nhân tố mới điển hình tiên tiến gương người tốt việc tốt trong quá trình thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội củng cố quốc phòng - an ninh xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

2. Yêu cầu.

- Hội Nhà Báo Hội Văn học nghệ thuật các cơ quan báo chí văn hoá- văn nghệ của tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền cỗ vũ động viên hội viên và những người hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật báo chí bằng cảm nhận nắm bắt thực tiễn đời sống nhất là những vấn đề liên quan đến Cuộc vận động sáng tạo nên nhiều tác phẩm tốt có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao tác động tích cực đến đời sống xã hội góp phần vào sự thành công của Cuộc vận động.

- Thông qua Cuộc vận động sáng tác quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" làm cho công chúng hiểu đầy đủ sâu sắc hơn về Cuộc vận động giành sự quan tâm theo dõi hưởng thụ nhiều hơn nữa các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề này từ đó có chuyển biến tích cực trong nhận thức tình cảm và hành động hình thành phong trào tu dưỡng rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ làm nhiều việc tốt đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị đạo đức lối sống và các tệ nạn xã hộii.

Cuộc vận động sáng tác quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí trong tỉnh gắn liền với việc triển khai thực hiện các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và các Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; phục vụ tốt cho Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" của Đảng bộ tỉnh.

     II. Những nội dung chính

1. Thành lập Ban chỉ đạo Ban Tổ chức Cuộc vận động sáng tác quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí của tỉnh (kèm theo quết định riêng) gồm:

Ban chỉ đạo: Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông Chủ tịch Hội Nhà báo Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Tổng Biên tập Báo Thanh Hoá Giám đốc Đài PTTH tỉnh Lãnh đạo Ban Thi đua khen thưởng tỉnh.

Ban tổ chức: Lãnh đạo Ban tuyên giáo Lãnh đạo sở VH - TT - DL Giám đốc Nhà xuất bản Lãnh đạo sở Thông tin - Truyền thông...

2. Đối tượng tham dự:

Khuyến khích các văn nghệ sĩ các nhà báo chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp tham gia sáng tác biểu diễn quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"

3. Thể loại tác phẩm loại hình nghệ thuật biểu diễn quảng bá: bao gồm các loại hình:

Văn học nghệ thuật báo chí; nếu được thể hiện bằng chữ viết tiếng nói thì phải thể hiện bằng tiếng Việt chữ Việt hoặc được dịch sang tiếng Việt chữ Việt.

4. Thời gian sáng tác biểu diễn quảng bá:

Tác phẩm được sáng tác biểu diễn quảng bá từ tháng 3/ 2008 (thời điểm Trung ương phát động đợt sáng tác) đến tháng 3/2011.

Các tác giả sáng tác tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí có thể gửi bài hưởng ứng tham gia cuộc vận động sáng tác của Trung ương và gửi các cơ quan Báo Đài Xuất bản của tỉnh.

5. Việc xét chọn và tặng thưởng các tác phẩm tiêu biểu:

Hàng năm vào dịp 3/2 ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam Ban chỉ đạo Cuộc vận động của tỉnh sẽ có xét chọn và tặng thưởng cho một số tác giả tiêu biểu có tác dụng tốt trong tuyên truyền về Cuộc vận động của tỉnh.

Việc xét chọn các tác phẩm để trao giải thưởng Ban chỉ đạo Ban Tổ chức Cuộc vận động sáng tác căn cứ vào kết quả xét chọn và đề nghị của Hội Nhà báo Hộ Văn học nghệ thuật tỉnh. Số lượng xét chọn sẽ được thông báo cụ thể hàng năm.

Nếu có điều kiện thì hàng năm Hội Văn học nghệ thuật Hội Nhà báo sẽ lựa chọn những tác phẩm tốt để trao tặng thưởng

Nguồn kinh phí để trao tặng thưởng lấy từ nguồn thi đua khen thưởng hàng năm của đơn vị và trích từ kinh phí phục vụ cho Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"

      III. Tổ chức thực hiện

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với Hội Nhà báo Hội Văn học nghệ thuật Ban Thi đua khen thưởng tỉnh hưởng ứng Cuộc vận động của Trung ương và tổ chức phát động trong toàn tỉnh Cuộc vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" tại lễ kỷ niệm 83 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2008).

1. Các đồng chí trong Ban chỉ đạo Ban Tổ chức Cuộc vận động sáng tác quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí của tỉnh nhận được kế hoạch này báo cáo với Thường trực các Hội các Ban biên tập báo về nội dung của cuộc Vận động và phát động trong văn nghệ sĩ nhà báo hưởng ứng tham gia.

2. Ban Tuyên giáo tuyên huấn các huyện thị thành phố và các đơn vị trực thuộc Tỉnh ủy giới thiệu các gương sáng điển hình tiên tiến của tập thể cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập quán triệt thấm nhuần sâu sắc nội dung đạo đức Hồ Chí Minh và các điển hình tiên tiến các gương sáng tổ chức thực hiện tốt việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" của đơn vị mình cho các văn nghệ sĩ nhà báo thâm nhập thực tế và sáng tạo.

3. Các cơ quan thông tin đại chúng trong tỉnh chọn lọc đăng tải các tác phẩm có chất lượng để tuyên truyền giới thiệu trên các báo đài của tỉnh.


                                       Thanh Hoá ngày 13 tháng 6 năm 2008

                                            Trưởng Ban tuyên giáo tỉnh ủy

                                              Nguyễn Đức Thắng (Đã ký)

More...

Văn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Ngân Hằng

áo tơ hồng

Truyện ngắn

      Tôi gặp lại em sau bốn năm. Em khác và tôi cũng khác. Bốn năm chưa phải là thời gian dài để có thể thay đổi tất cả nhưng đủ làm cho tôi cảm nhận về em dưới con mắt của kẻ đã trưởng thành.

      Ngày đó em và tôi học cùng lớp. Em chỉ là cô bé đen nhẻm dáng người nhỏ thó. Nhà em nghèo nhất làng lại đông anh em. Ngày ngày đi học em chỉ có bộ quần áo vá chằng vá chịt. Em thường hay ngồi đầu lớp mái tóc mầu dâu ngô chấm ngang vai lúc nào cũng lơ xơ che cả khuôn mặt. Có lẽ vì thế chưa bao giờ tôi có thể nhìn em chính diện ngày đó tôi một gã con trai mười tuổi một thằng nhóc cố bắt trước làm đàn ông bằng sự nông nỗi sĩ diện. Tôi nhớ nhà tôi và nhà em gần nhau lắm chỉ cách một bờ cúc tần quấn đầy dây tơ hồng mà thôi. Những sợi dây mầu vàng rộm tròn lẳn được bọn trẻ chúng mình thường lấy để chơi trò cô dâu chú rể phải không em? Tôi hãnh diện trước em vì lần nào cũng được sắm vai chú rể được mặc áo tơ hồng do chính bàn tay bé xíu của em tết tự hào đi giữa những tiếng tung hô với cô bé xinh nhất làng. Còn em lại phải đứng trong góc hàng rào nhìn theo tiếc nuối. Tôi nhớ có lần tôi đã "cưới" em về làm vợ. Lần đó tôi bị lên sài phải cắt trọc mái tóc nên không dám ra khỏi nhà. Nhưng khi nghe tiếng gõ trống rước dâu của lũ bạn vọng đến. Nhìn thấy gương mặt thằng Minh hớn hở chuẩn bị đóng vai chú rể tôi không thể chịu được đã lao ra giằng từ tay em chiếc áo trước sự bất ngờ của em và lũ bạn. Tôi hét to:

- Chỉ có tao mới được làm chú rể thôi. Con My mày không được đan áo tơ hồng cho ai ngoài tao cả Cái Huyên là vợ tao rồi.

- Tao không lấy chồng trọc đầu đâu. Tao lấy thằng Minh à.

- Chú rể đâu có trọc đầu như mày. Mày hợp mặc áo cà sa thôi...

     Tôi lao vào thằng Minh quyết ăn đủ với nó nhưng rốt cuộc tôi vẫn thua. Người tôi lấm lem mồm sưng vều lên nhìn lũ bạn đang rồng rắn theo thằng Minh tôi đưa tay quyệt nước mắt lòng buồn thênh thang. Và đúng lúc đó em đến bên tôi nhẹ nhàng như gió. Trên tay em là chiếc áo tơ hồng trên đầu em cũng đội chiếc vòng tết bằng tơ hồng. Em nói với tôi:

- My sẽ làm cô dâu của Tuấn được không? My sẽ đan áo tơ hồng cho Tuấn mặc suốt đời nhé.

    Tôi gật đầu và cưới em. Nhưng tôi không giữ trọn lời hứa. Tôi vẫn mặc áo em đan để rồi lại đi chơi trò cô dâu chú rể với cô bé xinh nhất làng. Tôi chưa kịp nhận ra đôi mắt em đượm buồn.

    Ngày cấp ba. Tôi vỡ giọng thành chàng trai khoẻ mạnh và hào hoa. Tôi đã biết thích ngắm và chuyện trò với cô bé xinh nhất làng. Chúng mình không còn chơi trò thuở nhỏ nữa. Em không còn phải đan áo tơ hồng cho tôi nhưng em vẫn thường hay đứng cạnh dậu cúc tần đã bị dây tơ hồng quấn kín thẫn thờ. Tôi vô tâm không nhận ra em cũng đã trở thành thiếu nữ. Em không còn ngồi bàn đầu nhưng em vẫn học giỏi nhất lớp. Mẹ thường hay nhắc tôi phải chú tâm vào việc học thay cho việc tình cảm quá sớm. Và những lời răn dạy đó bao giờ cũng được mẹ chốt lại là em. Phải em học giỏi ngoan ngoãn và chăm chỉ nhưng em lại không xinh đẹp không biết nói chuyện như những người con gái tôi quen. Em lúc nào cũng cúi thấp đầu rụt rè và nhút nhát. Điều đó làm tính hiếu thắng trong tôi và sự xa cách của tôi và em ngày càng lớn.

    Em cứ lặng lẽ như vậy. Tôi cứ vô tâm như thế để rồi khi em được bác đón vào Sài Gòn tôi mới nhận ra mình đã đánh mất một điều quý giá. Dây tơ hồng ngày càng dày hơn khi thiếu vắng em.


                                                       *

    Em gặp lại anh trong tiệc sinh nhật của cô bạn gái. Em không biết anh có nhận ra cô bé hàng xóm ngày xưa nữa hay không? Đã sáu năm rồi phải không anh? Thời gian đủ để cho cả hai chúng ta khôn lớn và cho nỗi nhớ trong em thêm khắc khoải. Ngày đó Anh biết em thích dây tơ hồng. Không chỉ vì nó có mầu vàng ươm như nắng mà còn vì mẹ thường nói với em rằng: "Ai đã từng mặc áo tơ hồng của nhau thì có duyên chồng vợ". Em đã đan cho anh bao nhiêu chiếc áo tơ hồng rồi nhỉ? Mười hai mươi hay nhiều hơn thế em cũng không nhớ rõ. Chỉ biết rằng lần nào anh được làm chú rể em cũng bỏ xem ti vi để tìm những dây tơ hồng mập nhất vàng nhất tết cho anh chiếc áo thật đẹp. Anh nhớ cái lần anh bị sài phải cắt trụi mái tóc của mình không? Lần đó vì không được làm chú rể anh đã đánh nhau với Minh. Nhưng anh không biết chiếc áo hôm đó em đã cố găm đầy cỏ may bên trong mất rồi. Anh khóc còn em thấy mình như người có lỗi. Lời anh hứa sẽ chỉ coi em là cô dâu của anh anh không giữ được. Em không trách anh vì em chỉ là cô bé lọ lem không quen biến thành một nàng công chúa kiều diễn.

    Ngày học cấp ba em vẫn nhỏ bé vẫn chỉ trong manh áo không thể vá to thêm . Nhưng trái tim em đã khác. Mỗi lần em thấy anh chuyện trò cùng Huyên - cô bé xinh nhất làng em thấy lòng gợn buồn trống trải. Em chưa ý thức được những gì xảy ra mỗi khi nghĩ đến anh. Hàng rào cúc tần ngày càng xum xê lá hơn những sợi tơ hồng cũng leo sang nhà anh nhiều hơn chúng nhuộm sự ngăn cách bằng chính mầu vàng ruộm ấy. Em lặng lẽ theo từng chuyện nhỏ nhặt của anh. Còn anh chỉ là gã con trai vô tâm với tất cả mọi thứ. Nhưng sao em không ngăn được lòng mình. Em biết anh thích Huyên bởi Huyên xinh đẹp và lộng lẫy lại có tài ăn nói làm anh cười hạnh phúc. Trước người con gái đó em giống như một con vịt xấu xí vụng về. Em không muốn chúng ta lớn lên bởi lúc đó em không còn được đan áo tơ hồng cho anh mặc nữa. Nhưng em cũng đâu nhận ra rằng giờ đây anh đã quen với những chiếc áo đắt tiền mà không bao giờ em có thể tết được chúng. Mỗi chiều về em vẫn ngô nghê nhìn sang nhà anh nhớ về kỷ niệm ngày nhỏ. Bàn tay em lần mò trong vô thức tết áo tơ hồng không có người mặc. Có lần tết xong em để sang bên nhà anh. Nhưng hôm sau em lại thấy chúng nằm giữa đường chỏng trơ và tội nghiệp. Chúng héo dần rồi ngã sang màu nâu kệch. Anh đã quên áo tơ hồng.

Ngày bác đón em đi trời nhuộm buồn. Gió xao sác trên những sợi tơ hồng mỏng manh. Lũ trẻ lớn lên không còn chơi trò cô dâu chú rể. Tơ hồng bị bỏ quên trong sự đổi khác của dòng đời. Em sang xin phép mẹ anh được tự tay xoá đi vách rào tơ hồng ấy. Anh đã hỏi tại sao em làm vậy? Em cúi đầu yên lặng. Định nói một lời với anh trước khi đi nhưng em không thể cất thành tiếng. Để rồi hôm sau anh lại hăm hở xây lên bức rào bằng gạch vững vàng. Em tết chiếc áo tơ hồng lần cuối cùng nhờ mẹ đưa hộ cho anh rồi vội vàng theo bác. Vậy là em đi với chiếc ba lô sờn rách chất đầy những sợi dây mầu vàng.


                                                   *

     Em đã thay đổi làm tôi vô cùng bất ngờ. Em như nàng lọ lem được tắm nước thần thoát xác. Mái tóc mầu râu ngô không còn nữa nó trở nên đen huyền làm tôi ngơ ngẩn. Giờ tôi mới nhận ra cô bé ngày xưa có đôi mắt màu nâu ngâm ngấm nước và đôi môi cong hờn dỗi. Chiếc răng khểnh mỗi khi em cười khiến tôi buốt lòng. Giây phút em bước vào tôi suýt chút nữa đã không nhận ra em cô bé hàng xóm lặng lẽ. Em nhìn tôi rồi vội vàng bước sang hướng khác cùng một người con trai không phải là tôi. Chắc em không nhớ gã con trai ngày xưa đâu nhỉ? Mà nhớ làm gì vì gã có bao giờ làm cho em được một lần vui đâu. Ngày em đi gã đang còn bận thong dong với người con gái gã thích. Gã nhận được chiếc áo tơ hồng của em gửi lại lòng gã chợt buồn. Trước mắt gã cô bé hàng xóm lầm lũi hiện ra. Nhưng gã không còn mặc vừa chiếc áo đó nữa.

    Cả buổi tiệc sinh nhật tôi nhìn theo em. Em vẫn hồn nhiên chuyện trò với tất cả mọi người trừ tôi. Chiếc váy em mặc tôi như nhìn thấy những sợi tơ hồng vương vít lấp lánh mầu nắng. Phải chăng em đã quên? Phải chăng đối với em tôi bây giờ đã trở thành xa lạ? Tôi bỗng ước được quay về thưở nhỏ để được mặc áo tơ hồng của em để được giữ lại lời hứa để chuộc lại tất cả và nói với em lời xin lỗi. Nhưng giờ tôi đâu có làm được điều đó. Bởi em không còn là cô bé nhút nhát năm xưa. Em đã trở thành một nhà thiết kế thời trang được bao người biết đến. Tay em đã tạo ra biết bao chiếc áo có bao nhiêu người mặc?. Nhưng chắc không bao giờ bàn tay em còn nhớ để tết áo tơ hồng phải không em? Sau sinh nhật hôm nay liệu tôi và em có duyên gặp nhau nữa hay không? Hay chúng ta đã thực sự là hai kẻ xa lạ? Tôi muốn đưa em về ngôi làng ngày ấy nơi có hàng rào tơ hồng do chính tay tôi reo lại sau ngày em đi. Tơ hồng nhuộm đầy mầu nắng rồi em ạ!


                                                     *

    Vậy là anh đã nhận ra em phải không anh? Dù em cố vui vẻ nói chuyện với mọi người cố coi như không quen anh. Nhưng sao lúc nào em cũng thấy ánh mắt anh đốt lòng mình. Trong đôi mắt đó em như được trở về ngày anh đội lên đầu em chiếc vòng tơ hồng. Những sợi dây đã ám ảnh em trong những thiết kế. Em phải nói gì với anh sau sáu năm gặp lại? Từng ngày từng tháng em mong được trở về để cùng anh chơi lại trò chơi năm cũ. Nhưng giờ đây sao em không thể nhấc chân được? Em bước qua anh. Bởi em sợ đối với anh em chỉ luôn là cô bé hàng xóm. Bao nhiêu năm xa nhà cái làm em vững vàng là những gì chắt góp từ kỷ niệm cùng anh. Nhưng em lại không đủ dũng cảm để nói ra điều đó. Em đã đi qua ngôi làng năm xưa nơi chúng ta lớn lên bên nhau. Vẫn còn đấy hàng rào tơ hồng rợp nắng vẫn còn đấy những buổi chiều chúng ta nô đùa. Anh còn nhớ hồi lớp mười anh ham chơi bị mẹ đánh đòn thường qua nhà em trốn không? Em trẻ con mách mẹ vậy là anh giận em không thèm nói chuyện với em nữa. Rồi có lần mẹ bắt anh làm học trò của em. Một gã con trai to lớn ngồi bên một đứa con gái yếu đuối nhỏ bé. Anh không chịu nhưng không dám cãi lời. Vậy mà giờ đây chúng ta lại như hai người xa lạ. Em luôn tự hỏi mình anh còn muốn mặc áo tơ hồng của em nữa hay không? Em vẫn đan nó bằng cả trái tim của một người con gái yêu thầm. Tình yêu em dành cho anh không bao giờ mong đáp lại. Anh là người mãi mãi không thuộc về em và em cũng không dám mong chờ phép lạ cho mình thành công chúa để đến bên anh. Em đã quen cho trái tim mình lỗi nhịp mỗi khi nhớ về anh. Cũng giống như dây tơ hồng sống trong phận tầm gửi. Em sẽ gửi lại anh áo tơ hồng gửi lại anh chút vương vấn của một thời trẻ dại.


                                                   *

    My thẫn thờ bước ra khỏi cửa lòng cô rối bời. Một cảm giác bâng khuâng về những hồi tưởng thơ trẻ. Cô khẽ đưa mắt về phía người con trai đang tư lự. Anh có biết rằng nếu cô bước ra khỏi cánh cổng này không biết đến bao giờ cô mới gặp lại anh... Nhưng những sợi tơ hồng ngày xưa không thể níu thời gian trở lại nữa rồi. Bước chân cô rải đều về phía cuối đường lấp lánh những sợi tơ vàng của ánh trăng.

Buổi tiệc tàn. Tuấn thoát ra khỏi dòng suy nghĩ. Ngoài trời chỉ còn lại một màu đen kịt. Gió mơn man qua những rặng cây tha thướt. Bên hông nhà hàng tơ hồng đang mùa nảy lộc những mầm tơ hồng mây mẩy quấn quýt nhau. Anh muốn tết tơ hồng để đội lên đầu cô gái ấy nhưng anh không dám bởi giờ đây anh sợ sự xa cách. Tuấn lấy chùm hoa ti gôn quấn thành vòng tròn rồi chạy ra cửa. Dáng cô gái đang khuất dần.

- Xin lỗi. Tôi có thể đội vòng hoa này lên đầu em được không?

Cô gái dừng lại mỉn cười nhìn Tuấn. Trong mắt cô một niềm vui hiện rõ.

- Nhưng em vẫn thích đội vòng tơ hồng hơn. Anh tặng em được chứ.

Tuấn gật đầu. Anh sánh vai bên cô. Bóng hai người in sâu xuống con đường nhỏ hun hút dây tơ hồng.

                                                                              N.H

More...

Văn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Phạm Ngọc chiểu

Thanh Lâm không xa vắng

Bút ký

                                                  I.

      Hóa ra tôi và đại tá là người cùng quê ở bên kia cầu Lạc Quần cây cầu bê tông cường tráng vắt qua dòng sông Ninh Cơ thay cho cây cầu phao nổi tiếng thời đánh Mỹ. Tôi người làng Quần Lạc mố cầu Lạc Quần bên này thuộc cuối xã tôi. Còn đại tá người làng Khổ Tam xã Xuân Bắc cách mố cầu Lạc Quần bên kia bảy cây số đường. Nghĩa là tôi và đại tá là "đồng hương Nam Định".

Vui mừng nhận ra nhau là người cùng quê nhưng tôi và đại tá chưa thể ngồi hàn huyên. Qua nay trại Thanh Lâm tíu tít khách phương xa thêm việc trại có đám cưới đột xuất níu kéo đại tá chẳng còn lúc nào rảnh rỗi. Trong khi tôi là một thành viên của đoàn nhà văn đến thăm và tìm hiểu về trại phải đi theo lịch trình hoạt động của đoàn chưa được tách ra làm việc riêng. Ví như sáng nay ăn sáng xong tôi cùng các nhà văn xuống thăm phân trại số 5. Hết mấy cây số đường nhựa xe quặt phải vào rừng. Ôi cha là xóc ngả nghiêng đưa võng. Bù lại con mắt được nhìn thấy những gì đại tá đã giới thiệu. Này là rừng lát bạt ngàn những cây lát chun lát hoa đã xòa cành xanh lá thân cây đã hở chít tay. Này những đồi những thung dăng dăng cây luồng Thanh Hóa thẳng vút nổi tiếng xen với những cụm bương Đài Loan trồng để lấy măng. Và kia kia kia nữa - những đồi cây bầu gió giống cây quý sẽ cho trầm hương. Đại tá khoe: Trại Thanh Lâm của anh đã trồng được hơn 3 héc ta gỗ lát 100 héc ta cây xà cừ ba đến năm năm tuổi 100 héc ta luồng hơn 3 vạn cây bầu gió và sẽ trồng thêm trong năm 2008 này chừng chục héc ta cây bầu gió nữa. Những con số đó giờ đang dần dần hiện lên trước mắt các nhà văn.

      Say ngắm rừng cây nhân tạo toàn những cây quý do những con người một thời lầm lỗi gieo trồng các nhà văn cùng "ồ" lên khi thấy hiện ra trước mắt một khu nhà đẹp đẽ khang trang. Càng ngạc nhiên hơn khi tận mắt thấy bên trong những ngôi nhà đẹp ấy là hàng hàng giường hai tầng vững chãi chăn màn của phạm nhân gấp vuông vức gọn ghẽ nơi đầu giường. Mỗi phòng có một ti vi. Xuống bếp ăn tôi hỏi người đang chuẩn bị chia suất ăn vào các cặp lồng nhựa trông rất đẹp tiêu chuẩn ăn của phạm nhân anh ta kể vanh vách số lượng gạo muối thịt cá dầu rán rau đậu các loại. Rồi anh ta mỉm cười:

      - Ngoài từng ấy định lượng Nhà nước cho mỗi tháng bác Phòng còn cho chúng tôi thêm một số thứ quý nữa bác ạ. Ví dụ bác ấy cho ăn suất bánh mì buổi sáng. Bác ấy thưởng 30 ngàn đồng một tháng cho những ai lao động cải tạo tốt. Bác ấy cho phạm nhân được nói chuyện với gia đình qua điện thoại mỗi tháng một lần v.v...

     - Phòng nào? Có phải đại tá Giám thị Nguyễn Xuân Phòng? - Tôi hỏi lại.

     - Dạ vâng. Chính bác Phòng ấy đấy ạ.

Chà chà phải quản lý giáo dục ngót ba ngàn phạm nhân ở rải trên địa bàn hơn ba ngàn héc ta đất rừng có phân trại cách trung tâm đến mấy chục cây số vậy mà phạm nhân vẫn như rõ tên tuổi ông Giám thị chứng tỏ người bạn đồng hương của mình không xoàng đâu.

      Rời khu nhà ở của phạm nhân tôi và mấy nhà văn xuống phân xưởng khâu bóng nơi có khá đông các phạm nhân đang làm lụng. Một căn phòng rộng thoáng chứa mấy chục con người mặc đồng phục kẻ sọc đang miệt mài kim chỉ. Họ phải làm những quả bóng cho môn thể thao bóng đá theo đặt hàng của một công ty xuất khẩu tỉnh Thanh Hóa. Nhìn các chàng trai sàn sàn lứa tuổi đôi mươi đang cặm cụi với từng mũi chỉ trừ một ít gương mặt chưa phai màu nghiện ngập vài cặp mắt vẫn lộ sự ngổ ngáo gian gian còn tất thảy đều khỏe mạnh lành hiền tôi tò mò ngồi cùng ba anh chàng ở dãy thứ hai bên trái.

- Cháu quê đâu? - Tôi hỏi anh chàng thứ nhất .

- Dạ quê cháu ở Hà Nội.

- Còn cháu? - Tôi hỏi chàng trai thứ hai.

- Dạ cháu ở Hà Nội.

- Hà Nội? - Tôi tròn mắt nhìn sang chàng trai thứ ba:

- Thế cháu quê đâu?

- Dạ cháu cũng Hà Nội.

- Người Hà Nội ở đây có đông không? - Tôi hỏi Kiên chàng Hà Nội cách nhà tôi không xa.

- Dạ đông. Chiếm tỉ lệ quá nửa bác ạ.

     Trời đất ơi lãnh đạo Thủ đô có biết tỉ lệ đáng ngại này???



                                                 II.


     Mệt mỏi vì đường xe xóc sau bữa ăn trưa mọi người tản nhanh đi nghỉ dãy nhà ăn chỉ còn mấy người đang nhanh tay thu mâm. Một trong những người đó khiến tôi chú ý. Đây chính là anh chàng nhỏ nhắn áo phông quần bò đánh đàn Oóc đệm cho chương trình văn nghệ chào mừng đoàn nhà văn chiều qua. Hình như cậu ta biết tôi để mắt đến cậu ta nên vẫn nhanh chân nhanh tay thu dọn nhưng lúc lúc cậu lại đánh mắt về phía tôi. Không muốn cậu phải dừng công việc đang làm tôi đi về phía bàn nước kê dưới một gốc cây có tán lá che nắng.

- Chào thượng tá!

- Chào bác! - Thượng tá vồn vã chào đón tôi - Mời bác ngồi uống trà. Đạt ơi đem đây phích nước mới nào.

- Dạ!

      Vậy ra anh chàng áo phông quần bò chơi đàn Oóc tên là Đạt. Phải tranh thủ hỏi thượng tá về anh chàng này trả lời câu hỏi mình đặt ra chiều qua

- Cậu ta coi bộ nhanh nhẹn sáng sủa thượng tá nhỉ.

      Dạ vâng. Báo cáo bác cháu nó là Nguyễn Đức Đạt sinh viên năm thứ ba đại học đấy. Khổ dính tội cướp giật phải vào đây. Trông rõ ngon trai lại tài hoa đánh đàn Oóc rất điệu nghệ. Bác Phòng thương cho vào tổ phục vụ ở trung tâm vừa đỡ cho nó mà trại cũng khai thác được khả năng thế mạnh của nó. Một quyết định rất hay đúng không bác?

- Đúng thế - Tôi gật đầu tán thành ý nghĩ của thượng tá và hỏi thêm: Anh Quyền này hình như không chỉ riêng Nguyễn Đức Đạt được Giám thị cư xử ưu ái thế?

- Vâng. Bác Phòng có chủ trương hẳn hoi: Với các phạm nhân là trí thức phải xác định lầm lỡ của họ là sự vấp ngã nhất thời cần có ứng xử thích hợp và khai thác năng lực của họ phục vụ cho lợi ích chung của trại. Chục năm lại đây Thanh Lâm áp dụng chủ trương này của bác Phòng và thu kết quả rất tốt. Một nhạc sĩ tám năm ở Trại đã sáng tác và dàn dựng gần hai mươi ca khúc cho Đội văn nghệ của Trại lại sáng tác một số ca khúc cho mấy huyện quanh địa bàn. Bác tính coi bớt một lao động thủ công trồng rừng hoặc khâu bóng mà được từng ấy tiết mục cho Trại nhạc sĩ thì phấn khởi vì mình được trọng dụng. Rồi một vị phó Giáo sư tiến sĩ cũng được bác Phòng cho hưởng chế độ y như nhạc sĩ nọ và ông đã giúp Trại hoàn thiện hệ thống máy tính - cả máy móc và cán bộ nghiệp vụ giờ đã ra Trại làm chuyên gia cao cấp cho đại sứ quán Na Uy vẫn giữ qua hệ tốt đẹp với trại và sẵn sàng giúp Trại. Càng ngẫm càng thấy chủ trương của bác Phòng là rất hay.

- Anh Quyền ở với ông Phòng lâu chưa?

- Cũng lâu rồi bác ạ. Em vốn là giáo viên trường trung cấp Cảnh sát được trên điều về đây. Bác Phòng về trước từ trại giam Tân Lập tỉnh Phú Thọ về tháng 4 năm 1980. Vậy là bác ấy ở Thanh Lâm đến nay đã 28 năm phấn đấu từ một trung sĩ quản giáo thành một đại tá Giám thị. Khiếp đấy chứ bác. Lê Văn Quyền em cùng với tám trung tá thượng tá nữa là phó Giám thị giúp việc cho bác ấy. Em giúp bác ấy khâu tổ chức - cán bộ trực tiếp làm Đội trưởng đội Tham mưu - tổng hợp ở với bác ấy từ khi trại Thanh Lâm còn thuộc diện rừng xanh núi đỏ vùng sâu vùng xa. Bác biết không từ thành phố Thanh Hóa lên đây chưa đến trăm cây số mà dạo đó bọn em đi có khi mấy ngày đường. Là vì đi bộ đi nhờ xe trâu xe bò may thì gặp xe chở gỗ lâm nghiệp. Cực ơi là cực chứ đâu có ngồi xe máy lạnh vi vu đường nhựa vài tiếng đồng hồ là tới như bây giờ. Đi đứng thì vậy còn ăn uống sinh hoạt cũng khó khăn lắm.

- Vất vả thế nên mới 50 tuổi mà tóc ông Phòng bạc trắng như cước.

- Vâng. Thì bác tính phấn đấu từ một trung sĩ đi lên coi như bác ấy làm qua mọi công việc của trại giam. Khi giữ cương vị phụ trách thì không chịu ngồi yên luôn năng động nghĩ ngợi. Chả thế mà mới 37 tuổi đeo lon đại úy sắp đến niên hạn lên tá đã được giao phụ trách Trại. Một giám thị trẻ nhất nước thời điểm ấy đấy bác ạ.

      Giọng thượng tá - Phó Giám thị thật hào hứng. Anh kể tiếp chuyện đại tá Nguyễn Xuân Phòng yêu thơ hay làm thơ bài "Chiều Thanh Lâm" được phổ nhạc là một ví dụ. Chuyện đại tá giữ được quan hệ rất tốt đẹp với lãnh đạo và bà con các dân tộc địa phương qua bốn đời Bí thư Huyện ủy Bí thư nào cũng quý mến coi như anh em nhà còn bà con thì bảo đại tá Phòng không chỉ là đại tá của trại giam mà còn là đại tá của dân bản. Mới có cái thân tình trại cần gì địa phương giúp ngay địa phương cần gì có trại sẵn sàng. Rồi chuyện đại tá cho làm "Nhà truyền thống" thật oách cán bộ - chiến sĩ mới về trại nhận công tác được anh dành hẳn một tuần giao cho mỗi một việc; ngày ngày mời lên "Nhà truyền thống" xem và đọc tư liệu để hiểu kỹ truyền thống của trại Thanh Lâm thành lập từ tháng 3 năm 1979 đến nay thế nào từ đó xác định tư tưởng cho mình. Thanh Lâm đấy hiện có 6 phân trại và 2 điểm sản xuất - điểm chuyên nuôi tôm ở Quảng Xương điểm trồng cây công nghiệp và nuôi cá ở Yên Lễ (Như Xuân); truyền thống của Thanh Lâm thì thế suy nghĩ kỹ đi xung phong nhận việc ở chỗ nào?

     Chuyện đang hay nhưng sợ mất giờ nghỉ trưa của thượng tá Lê Văn Quyền nhờ anh tôi đã có được lời giải cho ba câu hỏi đặt ra chiều qua sau khi xem chương trình ca nhạc của trại tôi đành chủ động dừng cuộc nói chuyện giữa anh và tôi.

                                              Trại viết Sầm Sơn 17-4-2008

                                                     Hà Nội 1-5-2008

                                                            P.N.C

Vương Tâm

Bức xạ

Truyện ngắn

    Trong đời người tôi đoán chắc rằng ai cũng có những kỷ niệm khó quên.Và rất có thể tôi cũng như ai đó hẳn đã có không dưới một lần hành động bất thường vì tâm trạng xúc động bất ngờ hay đắn đo trong một quyết định có phần day dứt lương tâm. Đúng vậy đã có chuyện đến với tôi thật ngoài sức tưởng tượng. Dễ đã hơn mười năm...Ngày ấy không hiểu sao tôi lại dễ mủi lòng đến vậy và đã nhận đóng vai chú rể để cùng Loan về quê. Hay nói cho đúng hơn Loan "mượn" tôi một ngày về trình diện với bố mẹ để cốt tránh cái tiếng không chồng mà lại có con. Cái chính là để an ủi ông bố già bị bệnh nặng sắp về cõi. Loan nghĩ chắc đận này bố mình khó qua khỏi mà cả làng biết Loan đã cưới hơn một năm rồi mà chàng rể vẫn chưa có dịp về quê thăm bố mẹ vợ. Hơn nữa để dẹp những lời đồn thổi không hay ở làng xóm lần này Loan muốn đi cùng chồng về thăm bố mẹ.

    Ngày ấy Loan phải giải thích rất chi tiết với mọi người nào là muốn giản tiện nên chỉ đăng ký thôi nào là chú rể cũng nghèo mà sống ở trên thành phố cao nguyên nhiều thứ phải lo lắng nên để dành tiền làm việc khác. Quê thì xa nhất là ông bố ốm nặng mẹ già yếu anh em thì tản mát ở nơi xa tổ chức linh đình tốn kém lắm. Tiền đâu mà lo cơ chứ. Xong xuôi mọi việc hai vợ chồng thu xếp về quê trình mặt sau cũng được.

    Đọc thư Loan gửi về ai cũng cho là phải. Đường sá xa xôi đi lại tốn kém ngay ông chú bà cô cũng ngại. ừ thế thôi! - Họ tặc lưỡi - Thế lại hay. Cái chính là hai đứa hạnh phúc chứ còn theo cái lệ làng xưa thì kích rích khó khăn mọi bề.

    Nhưng thực tình năm trước Loan lại bị người chồng sắp cưới bỏ rơi. Trót có thai với nhau đã bốn tháng bỏ đi cũng khó mà Loan thì lại thề sống thề chết đòi giữ con lại. Thằng cha Sở Khanh thấy mọi việc trở nên rắc rối thế là chuồn thẳng đem theo những lời hứa dối trá lừa đảo đã gây tai họa cho Loan.

    Hồi đầu năm gặp tôi Loan còn giấu nỗi bất hạnh của mình vẫn tươi tỉnh kể chuyện về những dự định trong tương lai của hai vợ chồng. Tôi rất vui vì Loan là em gái của Bản một đồng đội của tôi thời kỳ tham gia chiến trường phía Nam. Bản đã bị sức ép của bom nên bị điếc sau đó trở về quê sinh sống. Nghe Loan nói vài năm sau Bản còn bị trầm uất chẳng nói chẳng rằng nghe chừng bị lẩn thẩn và bị mất trí nhớ. Suốt ngày Bản hùng hục làm mọi việc từ trong nhà ra ngoài đồng chẳng cần ai sai bảo.

    Khi anh trai về làng thì cũng là lúc Loan lên thành phố học nghề rồi trở thành công nhân dệt. Hoàn cảnh gia đình Loan như vậy nên khi biết chuyện tôi càng căm ghét thằng cha Sở Khanh kia. Bỗng nhiên nghĩ tới Bản tôi thấy áy náy vì chẳng khi nào có dịp về thăm gia đình. Mãi mấy năm gần đây có dịp gặp Loan tôi mới hay mọi chuyện về Bản. Và giờ đây Loan trở thành nạn nhân đã phải nhờ cậy tôi giúp đỡ. Chợt nghĩ nhân dịp này về thăm Bản cũng hay và biết đâu tôi có thể giúp đỡ được điều gì chăng. Trong lòng tôi xáo trộn bao điều về cuộc sống về đời người... Tất nhiên tôi suy nghĩ đến vài đêm rồi mới quyết định nhận lời làm cái việc gọi là "rửa mặt" cho Loan với làng xóm gia đình. Sau đó Loan sẽ sống thế nào nữa. Tất cả chỉ còn nhờ trời. Loan vừa khóc vừa van xin tôi nhận lời. Cô chỉ còn biết trông cậy và rất tin tôi nên mới nhờ việc này. Cứ ngẫm nghĩ tình cảnh của Loan mà thấy thương. Còn thương hơn nữa là tình cảm của bố mẹ Loan và Bản ở nhà nên tôi đành nhận lời vì biết đây chỉ là việc cực chẳng đã mà Loan cần phải làm.

    Ngay sau hôm tôi đồng ý Loan viết thư về trước cho gia đình rồi chúng tôi đi mua quà sắm lễ. Bởi lẽ lần này chàng rể ấy là tôi mang tên Đắc Sở Khanh kia sẽ đi gặp gỡ những người ruột thịt ở quê Loan. Phòng trường hợp mọi người sẽ hỏi han về hoàn cảnh gia đình nhà trai tôi đã phải tìm hiểu sơ lược những trích ngang lý lịch cơ bản nhất của Đắc nhưng Loan lại không đồng ý và nói rằng tôi cứ nói về gia đình của mình là đơn giản nhất và không muốn nhắc đến tên Đắc khốn nạn kia nữa. Mặc dù trong lòng tôi vẫn còn có những lấn cấn nhưng để làm cho đẹp mặt của Loan và gia đình Bản nên tôi vui vẻ lên đường.

                                                    *

     Dọc đường làng trở về nhà Loan tôi vui vẻ chào hỏi tất cả mọi người còn Loan bế thằng cu bên cạnh cùng đon đả cười nói với bất cứ ai gật đầu chào. Nhiều người săn đón nựng đứa bé. Ai cũng vui vẻ hỏi thăm:

- Ôi! Vợ chồng Loan về đấy hả con?

- Hạnh phúc quá nhỉ.

- Chà! Thằng cu bụ ghê.

- Cháu tên là gì? Ra bà bế tí nào.

- Nhớ sang nhà em chơi chị Loan nhé...

     Mọi người tíu tít chào hỏi làm Loan rất vui. Thỉnh thoảng Loan lại nhìn tôi sung sướng cười. Tôi chợt nghĩ thấy mình thật hạnh phúc như đang sống trở lại những ngày vui sướng nhất trong đời. Đám trẻ con họ hàng láu táu chạy theo tôi nhận kẹo. Chúng cười nói đi theo về đến tận nhà Loan.

    Ngay tối hôm đó cả thôn truyền tin cho nhau nên nhiều người kéo đến uống nước hút thuốc theo lời mời của gia đình từ mấy hôm trước. Tôi cùng Loan đi từng bàn mời bà con cô bác uống nước ăn trầu và hút thuốc. Vui nhất là các bạn gái của Loan thuở ấu thơ đã đến từ sớm để giúp việc. Mấy cô cứ xì xào cấu chí nhau. Họ vừa cười vừa trêu chọc nhau:

- Người yêu cái Thoa còn đẹp trai hơn.

- Không anh Đắc đẹp trai hơn.

- Sao ngày trước thư cái Loan gửi về bảo anh Đắc xấu trai lắm cơ mà?

- Thế còn mày con chết tiệt ạ thằng Khuê của mày hẳn đẹp lắm đấy mà còn chê.

- Thấy anh Đắc đẹp trai con nỡm này ghen với cái Loan đấy mà...

     Thế là các cô cứ đấm nhau thùm thụp rồi cười nói rúc rích ở dưới bếp. Tôi vừa tiếp khách vừa nghe lõm bõm câu được câu chăng nhưng rất vui. Nhìn mấy cô mang ấm nước từ dưới bếp lên. Mặt cô nào cô ấy đỏ hồng vì lửa. Dưới ánh đèn sáng trưng nụ cười xinh đẹp của các cô như tranh vẽ vậy. Tôi chủ động cầm tay Loan đi khắp các bàn cảm ơn bà con. Nhưng thật bất ngờ có ai đó lên tiếng:

- Còn anh Bản đâu nhẩy không thấy anh ra mừng cho em gái à?

- Từ chiều còn thấy nó vừa ở đây mà.

- Chắc lại ra đồng rồi. Tối thế này có khi lại đi bắt ếch không biết chừng.

     Tôi đứng lặng người một lúc vì nhớ đến Bản Loan kéo khẽ tay tôi nhắc nhở chớ có sao nhãng việc cảm ơn mọi người. Cũng may tất cả lục đục đứng dậy vì đã đến giờ bà con gọi nhau về nhà để xem phim. Tôi thấy nhẹ nhõm trong người vì từ lúc về đến giờ mọi chuyện đều suôn sẻ.

     Trò chuyện với ông bố bà mẹ của Loan không khó như tôi tưởng. Ông bố thì nằm liệt trên giường chỉ thỉnh thoảng bắt mọi người bế thằng cu vào cho ông xem mặt. Bà mẹ vui ra mặt hể hả cười nói với mọi người trong gia tộc. Bà thấy khỏe hẳn ra đi lại tất tả đây đó. Loan luôn luôn đi bên cạnh để nói đỡ lời cho tôi mỗi khi có ai hỏi chuyện. Lúc bà con ra về hết tôi mới trấn tĩnh trở lại vì dù sao tôi vẫn phải gắng gỏi bày tỏ niềm vui sướng trong mọi tình huống mặc dù đã xác định đây là một việc làm rất cần thiết cho gia đình Loan.

Nửa đêm. Tôi và Loan thu xếp rất nhanh mọi việc để sáng mai đi sớm. Hai mẹ con Loan vào buồng ngủ với bà mẹ. Còn tôi nằm ghé cùng giường với Bản. Không biết Bản về nhà lúc nào và đã lên giường ngủ. Đã nghe Loan kể về anh trai của mình nhưng tôi không thể tưởng tượng được Bản lại ở tình trạng tâm thần như vậy. Bản hầu như không có cảm giác gì về sự trở về của Loan với tôi. Lúc đầu gặp mặt Bản chỉ ngước mắt nhìn Loan và tôi rồi loe miệng cười hề hề và đi thẳng. Suốt ngày đi đâu không rõ. Khi ghé lưng nằm xuống tôi mới thấy Bản trở mình và nằm lui vào phía trong. Tôi nhẹ nhàng kéo chăn chiên đắp lên người. Phải nói là một ngày căng thẳng tuy vậy thấy vui nên tôi tưởng mình sẽ ngủ ngon giấc ngay sau đó. Nhưng không hiểu sao trong lúc đang chập chờn trôi vào giấc ngủ... thì thấy Bản thở dài rồi nhìn thẳng lên trần nhà. Nghĩ bụng tôi đánh liều khẽ gọi:

- Bản ơi!

     Ngọn đèn dầu trên bàn thờ nhẹ nhàng lay động. Không gian im lặng đến mức làm tôi hồi hộp sau khi gọi tên Bản. Lát sau tôi trấn tĩnh lay vai Bản:

- Bản ơi!

     Bất ngờ Bản ngoái nhanh lại mở to mắt nhìn tôi. Cả hai không ai bảo ai đều ngồi bật dậy. Bản chăm chú nhìn tôi với ánh mắt thân quen ngày nào ở chiến trường. Cũng trong đêm hôm ấy khi Bản bị thương ngất đi bên chiến hào tôi lay gọi mãi tên Bản. Thấy đồng đội vừa chớp chớp mắt tôi vội hỏi:

- Mày có nhận ra tao không Bản ơi!

Và lúc này trong ánh sáng mờ ảo của đêm thanh vắng tôi thấy trái tim mình rạo rực những kỷ niệm chiến đấu bên hơi thở mạnh mẽ của Bản. Tôi đặt hai tay lên vai Bản hỏi:

- Mày có nhận ra tao không?

Bản chau mày rồi chăm chú nhìn tôi. Hắn nghiêng đầu rồi nói to:

- Dũng hả?

Tôi vội "xuỵt" bảo hắn nói khẽ thôi. Hắn trố mắt hỏi:

- Mày về đây làm gì? Tưởng mày hy sinh ngày ấy rồi cơ mà.

Tôi đánh mạnh vào cánh tay hắn:

- Chết làm sao được chính ngày ấy mày chả ôm tao lăn xuống hào để tránh đạn à?

     Bản đột ngột tươi tỉnh. Đôi mắt sáng lên như hồi nào. Hắn cũng cười nói:

- Thế mà tao cũng không chết hay thật đấy. Bọn giặc chó má tưởng giết chúng tao dễ lắm đấy. Nhỉ ờ. ờ...

Tự nhiên đâm phấn khích hắn vung tay làm khẩu súng giơ cao. Mồm la lên:

- Pằng Pằng! Pằng!...

Tôi vội lấy tay che miệng hắn lại:

- Khẽ chứ!

- Sao lại khẽ? Mày bênh bọn giặc xâm lược à?

- Không!

Tôi ghé tai Bản nói khẽ:

- Mày biết tao đang làm gì không?

- Làm gì?

Tôi ngó chung quanh thấy vẫn yên tĩnh bèn nói khẽ:

- Làm em rể mày.

- Thế à? Cái Loan không báo cáo tao...

Tôi cười khì khì:

- Rõ khỉ. Thì bây giờ tao báo cáo.

Nhưng chợt hắn nghiêm mặt nhìn tôi:

- Không được! Không được.

- Sao thế?

Hắn quay lại nhìn như xoáy vào mặt tôi:

- Mày có vợ con rồi cơ mà?

Lần này thì tôi phải ôm ghì lấy Bản nói ghé vào tai hắn:

- Mày không hiểu gì à? Loan nó bị lừa...

Bất ngờ Bản đẩy tôi ngã ngửa rồi hét lên:

- Không để kẻ địch lừa. Đồng chí Dũng hãy can đảm lên theo tôi truy kích kẻ địch. Xung phong.

     Tôi hoảng quá ôm lấy đầu. Mồ hôi đầm đìa trên trán. Tôi cố vùng khỏi tay Bản nhưng không được... Bỗng có tiếng Loan gọi:

- Anh Dũng ơi! Anh Dũng ơi...


                                                  *

    Tôi cố vùng dậy mồ hôi vã ra như tắm. Tỉnh ra tôi mới biết mình vừa trải qua một giấc mơ. Tôi vội vàng ngoái lại nhìn thấy Bản vẫn còn nằm co mình im lặng như khúc gỗ. Loan đứng ở gần đó ghé tai tôi nói khẽ:

- Anh nói mê to quá. Sáng rồi anh dậy chuẩn bị cùng mẹ con em để ra thành phố chứ. Phải đi sớm mới kịp ô-tô anh ạ.

    Nhưng không hiểu sao tôi vừa đứng lên thì Bản cũng ngồi phắt ngay dậy. Tôi bất ngờ kéo tay Bản lại. Những ký ức bên chiến hào ngày nào dội về làm lòng tôi xốn xang. Tôi nhìn vào mắt Bản rồi ôm chầm lấy thân hình thân quen ấy. Bản ngước mắt nhìn tôi chằm chằm như muốn nói điều gì đó mà không cất lời được. Đôi môi Bản mím lại và đôi vai run lên. Đột nhiên Bản gỡ tay tôi rồi đi thẳng xuống bếp. Nắng ban mai vừa loé lên Loan đã sắp sẵn mọi thứ. Tôi cúi đầu chào bố Loan rồi dắt tay bà mẹ ra ngoài sân. Bà chậm chạp đi theo dặn dò tôi:

- Thỉnh thoảng hai vợ chồng về thăm gia đình bố mày cũng chẳng còn sống được bao lâu.

     Loan níu lấy mẹ rồi nựng thằng con trai dậy cười với bà:

- Cún con dậy chào bà đi nào! Chào bà...

    Bỗng nhiên tôi thấy như có người đang nhìn tôi. Ngoái lại thấy Bản đang đứng tựa cửa. Tôi chậm chạp bước tới nhìn thẳng vào đôi mắt lờ đờ của Bản như thầm hỏi:

- Mày có nhận ra thằng Dũng này không hả Bản?

     Bản chỉ im lặng nhìn tôi với đôi mắt trầm đục như đang ẩn ức một điều gì.    Tôi chợt nhớ đến giấc mơ đêm qua và hơi ấm của Bản đã truyền sang tôi như thuở nào cùng nằm chung trong chiếc võng dù trên cánh rừng Trường Sơn. Tôi bồi hồi chào:

- Chào anh Bản nhé bọn em đi đây!

    Bản giật mình động đậy đứng thẳng người nhìn tôi như muốn đặt ra muôn ngàn câu nói mà không nói được. Tôi thần người vì thấy từ khóe mắt buồn vời vợi ấy những giọt nước mắt ứa ra chảy dài xuống gò má. Bản cứ đứng như thế nhìn theo tôi. Loan cũng ôm con đi nhanh ra khỏi cửa vừa đi vừa nén tiếng khóc đang nghẹn trong lồng ngực.

     Tôi vội bế lấy thằng bé để đỡ cho Loan. Đi mải miết trên đường lên bến ô-tô ở trên huyện trong lòng tôi thầm mong mỏi mẹ con Loan một ngày mai sẽ gặp được một người đàn ông tốt bụng tìm đến. Mẹ con Loan xứng đáng được như vậy. Hừng đông chói chang. Dọc cánh đồng lúa vàng rộm ngào ngạt hương thơm. Tôi hít một hơi thật dài và bất chợt ngỡ như thấy ánh mắt của Bản hiện ra ở đâu đó làm bước chân tôi chậm lại. Tôi ngoái nhìn về phía làng và cảm thấy như có dấu vết bàn chân của Bản đi theo. ánh mắt ấy ẩn chứa bao điều làm day dứt lòng tôi. Chắc có thể một ngày nào đó ngôi làng nhỏ bé này sẽ nhắc nhở tôi những điều tự sâu thẳm trong tâm trí về một thân phận người bạn đang cô đơn ở một phương trời xa. Và tôi nghĩ sẽ có ngày mình sẽ quay lại về chốn này. Để làm gì? Chẳng để làm gì cả mà chỉ cần ngồi cùng Bản trên bậu cửa và nhìn về cuối đường làng ngồn ngộn rơm vàng...

                                                                             V.T

Nguyễn Ngọc Chiến

Mùa hoa dẻ

Truyện ngắn



     Vượt qua một ngôi làng chiếc xe thồ rẽ vào một con đường đất sỏi chạy mấp mé bên bờ sông. Bất giác Bảo nghe trong gió một mùi thơm gì đó rất xa xôi nhưng rất quen thuộc như là mùi thơm của hoa dẻ chợt dậy lên đầy quyến rũ. Mùi thơm cứ thoang thoảng ngất ngây đuổi theo anh. Đúng là mùi thơm của hoa dẻ thật rồi! Bây giờ đã là tháng năm ta tháng của mùa hoa dẻ nở hoa. Thật trớ trêu khi anh bắt gặp lại chúng ở đây ngay từ những giây phút đầu tiên này. Bảo đã từng ao ước đến cháy lòng trong một ngày nào đó được trở lại nơi đây. Có lẽ trong đời chưa bao giờ anh quyết định thực hiện một việc gì đấy mà anh phải suy nghĩ cân nhắc kỹ càng như lần ra đi này. Anh biết rõ chuyến đi này sẽ có một ý nghĩ to lớn đối với cuộc đời anh ra sao. Và dù chưa biết sẽ thế nào thâm tâm Bảo vẫn hằng tin có một điều gì đó rất tốt đẹp đang đợi anh ở phía trước. Cách đây vài ngày khi còn đang ở quê thằng bạn thân nhất của anh trong lúc ngồi nghe anh giải bày tâm sự chuyện riêng đã chồm dậy vỗ vai anh một mực động viên: "Tốt nhất là cậu cứ đi một chuyến xem sao đi đi một chuyến cho toại nguyện...". Và thế là sau một trận xung đột nữa diễn ra giữa hai vợ chồng anh quyết định giải phóng mình và ra đi. Ra đi mà không một chút mảy may lưu luyến ân hận gì. Tạm biệt người lái xe thồ anh vào một quán trọ nhỏ nằm bên rìa thị trấn xin nghỉ nhờ. Anh muốn tắm rửa thật sạch và ngủ một giấc thật ngon trước lúc anh đi tìm gặp lại người ấy. Nhưng anh không tài nào ngủ được. Căn phòng anh trọ có một ô cửa hướng về phía ấy. Anh ngồi dậy nhìn qua ô cửa. Trước mắt anh là một trời đầy sao. Những ngôi sao cứ lấp lánh lấp lánh như mắt ai đợi chờ. Và cả gió nữa. Gió ùa vào phòng. Lạ thay trong gió đêm bỗng sực nức mùi hoa dẻ. Ôi hoa dẻ! Hương hoa ngây ngất một thời.

      ... Cầm tờ quyết định xuất ngũ và tờ giấy giới thiệu xin việc làm do đơn vị cấp nhét vào túi áo ngực rồi mang ba lô bắt tay hết lượt anh em Bảo cuốc bộ một mạch ra đón xe đò xuôi về thị xã. Anh đang cần tìm một việc gì đó để làm. Cái khái niệm "tìm việc" của Bảo lúc đó rất đơn giản. Việc gì cũng được nặng nhẹ gì cũng được miễn sao việc đó đừng quá lôi thôi lếch thếch đừng quá khả năng của anh. Gần một tuần lang thang ở thị xã vào hết cơ quan này đến cơ quan khác tiêu gần hết số tiền phụ cấp mang theo Bảo vẫn không thể nào xin nổi một việc làm. Đang cắm cúi bước anh thấy có một bàn tay ai vỗ nhẹ lên vai. Bảo giật mình quay lại. Anh nhận ra chú Cường là người làm đáy lưới khai thác cá ở thượng nguồn con sông gần chỗ đơn vị Bảo đóng quân. Hồi ấy anh em nuôi quân vẫn thỉnh thoảng mua cá của chú. Chú có cô con gái đầu tên là Quế năm ấy học cấp ba. Vào những ngày chủ nhật Quế thường rủ mấy cô bạn gái chèo thuyền sang bên này sông tìm gặp Bảo để hỏi anh về bài vở. Không thiên vị nhưng công bằng mà nói trong đám nữ sinh Bảo dành sự quan tâm nhiều nhất cho Quế. Quế học không giỏi nhưng ham học. Tính Quế lại vui nhộn một sự vui nhộn có pha chút tinh nghịch nên dễ mến dễ gần. Mỗi lần sang hỏi bài bao giờ Quế cũng mang theo vài chùm hoa dẻ mà Quế nói là để tặng cho các chú bộ đội. Những chùm hoa dẻ vàng sẫm đung đưa những cánh hoa lúc nào cũng thơm ngát cả căn phòng. Thỉnh thoảng Bảo còn thấy Quế gài cả một bông hoa dẻ khô trên tóc. Ngồi cạnh Quế giảng bài anh luôn cảm nhận được hương thơm thoang thoảng từ tóc Quế tỏa ra. Quế thích học thêu nên lúc nào cũng kè kè kim đan và cuộn chỉ thêu trong túi. Có lần Quế đã một mình sang sông nài nỉ Bảo vẽ giúp cho bằng được một chùm hoa dẻ lên chiếc khăn mù soa mới mua để thêu. Không có khiếu vẽ nhưng nhờ có chùm hoa dẻ anh đã nhìn vào đó vẽ được bông hoa dẻ rất đẹp cho Quế. Mấy ngày sau Quế đã mang sang khoe với anh chiếc khăn mù soa có bông hoa dẻ mà cô đã thêu xong. Bông hoa dẻ màu vàng nở xòe năm cánh với một đôi bướm dập dờn lượn quanh. Ngày đơn vị Bảo chuyển quân đi nơi khác Quế đã rủ các bạn xin phép nghỉ học một buổi để ở nhà chia tay với đơn vị. Quế vẫn cài trên mái tóc bông hoa dẻ khô và lúc xe chuyển bánh Bảo đã nhìn thấy đôi tay bé nhỏ của cô đưa cao chiếc khăn mù soa vẫy theo các anh...

      Chú Cường nổi cáu khi nghe Bảo kể chuyện đi xin việc. Chú khuyên anh đến nước này thì về nhà chú làm gì đấy một thời gian kiếm ít tiền rồi hãy về quê hay đi đâu thì đi. Nhà chú bây giờ neo người lắm! Giọng chú trầm hẳn lại - Vợ chú mất gần hai năm nay rồi. Thằng con trai thì đã học hết phổ thông bây gìơ đang theo học trung cấp cơ điện. Còn Quế cô con gái đầu của chú bây giờ đã là cô giáo cấp một mới ra trường tháng chín tới là bước vào dạy học năm đầu tiên tại trường làng. Nghe chú Cường khuyên vậy Bảo đã theo chú về nhà.

Làng Hảo như một thung lũng nằm lọt giữa hai quả đồi. Vì thế nên mỗi ngày vào buổi sáng mặt trời thường đến muộn và vào buổi chiều mặt trời thường tắt sớm. Dưới chân hai qủa đồi là vô số những ghềnh đá to nhỏ mang đủ hình thù dáng dấp khác nhau. Những ghềnh đá ấy nằm rải rác khắp cánh đồng làng Hảo trông từ xa giống như một đàn voi đang nằm nghỉ. Lúc vào gần chân đồi thì những ghềnh đá ấy lại kết bè thành khối trông như những toa tàu xe rồi ăn sâu vào lòng đất. Những con suối con khe được tạo ra ở đây cũng bắt đầu từ những ghềnh đá này. Và nước. Nước từ những con suối con khe ấy cứ bình thản chảy quanh năm ra cánh đồng rau liệt làng Hảo. Nước mới trong và mát làm sao! Có lẽ do những đặc điểm này về đất đai thổ nhưỡng mà người đời xưa chốn này đã biết tạo ra ở đây một loài rau quý hiếm có một không hai. Và cũng vì thế mà làng Hảo quanh năm còn có một tên gọi khác là Làng rau liệt. Đúng là làng rau liệt nên đi đâu Bảo cũng gặp rau liệt. Rau liệt dưới ruộng rau liệt trên bờ. Rau liệt trong nhà ngoài sân và cả trên những đôi vai gồng gánh. Bữa cơm đầu tiên Bảo ăn ở nhà chú Cường là bữa cơm thịt bò xào rau liệt. Quế đã tự tay làm món ăn từ sản vật quê nhà để đãi khách. Đã từng ăn rau liệt nhưng chưa lần nào Bảo thấy ngon miệng như lần này.

      Nghỉ ngơi một ngày Bảo rủ chú Cường mang bộ đồ nghề ra ruộng chẻ đá. ở làng Hảo nhà nào dọn đi được nhiều đá thì nhà ấy sẽ có nhiều ruộng trồng rau liệt. Nhưng đào đá chẻ đá là một công việc nặng nhọc mà không phải ai cũng có đủ sức khỏe để làm. Chú Cường và Bảo làm quần quật suốt mấy ngày liền mà cũng chỉ bốc đi được có mấy giàn đá con. Còn giàn đá mẹ thì vẫn nằm chình ình như một con cá mập xám khổng lồ nhe răng ra thách thức. Hai chú cháu mệt phờ mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Những ngày đầu chưa quen với công việc nặng nhọc Bảo thấy rã rời khắp mình mẩy chân tay. Hai lòng bàn tay bong da phồng rộp lên đau nhức như có muối xát. Anh phải dùng đến găng tay để quai búa. Như thế đâu đã hết cực nhọc. Tháng năm chỉ mới sáng ra nắng đã như đổ lửa lên đầu. Mỗi nhát búa nện vào đá càng thêm chát chúa đinh tai nhức óc. Rồi lúc búa đạp vào đá những mảnh đá nhỏ li ti nhưng nhọn và sắc như dao cạo bắn tung tóe. Mỗi nhát búa nện xuống là có hàng chục mảnh đá bắn ra. Trên người Bảo đã có ít nhiều thương tích do mảnh đá bắn vào. được một tuần thì Bảo quen dần với công việc. Anh thấy mình khỏe ra hăng hái lên. Cái ghềnh đá cứ bị vỡ dần bốc dần từng mảng. Rồi cuối cùng để lộ ra nền đất đỏ bazan đỏ tươi như màu gạch. Nhìn mảnh ruộng dưới chân cứ ngày càng phìng to ra cả chú Cường và Bảo như chẳng c

More...

Thơ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Nguyễn Văn Chương

Nhớ Bác soi mình

Mỗi năm đất nước vào mùa sen thơm rộn ràng khúc hát

Hồ Chí Minh

Chính là lúc mỗi người tâm tư trong sáng nhất

Soi vào tháng năm để tự ngẫm soi mình

Bác đi suốt cuộc đời bôn ba trọn vòng trái đất

Phút cuối cùng còn mong phục vụ nhân dân tổ quốc

nhiều hơn

Anh em ta dăm bảy mười năm tham gia đánh giặc

Đã muốn nghỉ ngơi cho nhàn hạ tâm hồn.

Ước mong đủ đầy nhà cao cửa rộng

Nhưng chớ để bóng buil đing lấp mất mái nhà sàn

Nhớ nhiều năm bộ đội ta nằm rừng ngủ võng

Bác nằm hang sâu ngục lạnh cũng nhiều năm

Khuya sớm Bác tưới cây bớt thì giờ chăm nuôi đàn cá

Buồng chuối ngon con cá to đều chia tất cả mọi người

Ta chớ đợi kẻ này kẻ kia biếu quà cúi đầu vâng dạ

Nhớ thủa cùng dân khoai sắn ngọt bùi.

Đồng trắng hạn Bác sắn quần cùng dân tát nước

Thăm xưởng máy công trường Người xem từng chốn

ở nơi ăn

Cây lúa rất cần những bàn chân sục bùn lội ruộng

Chỉ thương ai biết chia sẻ nhọc nhằn

Từ anh Ba bồi tàu đến Hồ Chí Minh Chủ tịch

Vẫn đôi chân trần dận dép lốp cao su

Một đoạn đường thôi

gắng vượt lên bằng bàn chân luồn rào chặn địch

Thắng được lòng ta khó vạn thắng quân thù!

Dân mất mùa Bác kêu gọi no đói sẻ chia

Người tự bớt bữa ăn gửi về cứu đói

Người phát động tăng gia tự tay cuốc đất chăm vườn

Hạt lúa củ khoai không sinh từ miệng thi nhau nói

Mà từ vết chai dày dãi nắng dầm sương

Hãy thiêu hết lọc lừa quỉ ma giả dối

Nhớ Bác Hồ xin thắp sáng lòng tin

Mở trong lòng ta những trận tấn công dữ dội

Cho mỗi nếp tư duy trong mỗi cách ta nhìn!...

                                      N.V.C

Thanh Thản

Đêm mơ gặp bạn

Lạ chưa chiến trận đã xa

Đêm mơ vẫn gặp bạn ta trở về

Chúng còn cứ trẻ thế kia

"Tóc ba phân" áo binh nhì rộng thênh.

Đứa quê bên ấy Thái Bình

Đứa quê Hà Bắc Quảng Ninh Hải Phòng

Đứa thì quê tít miền trong

Thừa Thiên Quảng Ngãi Bình Long Sài Gòn...

Đứa thì ngã dưới làn bom

Đứa hy sinh trận công đồn đêm xuân.

Đứa thì ngã giữa hàng quân

(Mười ngày sốt rét bước chân chẳng lùi).

Đứa giữ chốt cả tháng trời

Một trận trải thảm trái đồi sạch không.

Đứa thì suốt đêm bám sông

Đánh tan tầu giặc rồi không trở về...

Trăm thằng sinh trăm miền quê

Lạ chưa vẫn những canh khuya đủ đầy

Một thời bom đạn tầu bay

Một thời thương nhớ có ngày nào vơi...

Bao người đã khuất xa rồi

Chiến công để lại không lời kể công.

                                    T.T

Thanh Thản

Người quản trang

Từ tổ ấm anh ra cùng đồng đội

Nhà quản trang mái ngói tươi son

Đêm lá reo ào ào gió thổi

Anh nằm trằn trọc nhớ Trường Sơn.

Từng yêu cây yêu mầu lá ngụy trang

Giờ tháng ngày nâng niu nhành cây nhỏ

Hàng cây vươn che xanh bia mộ

ấm mãi tình đồng đội thân thương.

Xưa chiến trường người lính chở che anh

Giờ anh đổ mồ hôi cho xanh từng ngôi mộ

Đã một thời dọc ngang chiến trận

Anh chẳng muốn xa đồng đội nghĩa tình.

Người đến viếng thăm anh kể rành rành

Những chiến công của từng chiến sĩ

Tên tuổi từng người ngày sinh ngày tử...

Một tấm bia di động giữa nghĩa trang.

                                       T.T

Cao Hạnh

Uống rượu với bạn thơ

Bâng khuâng tôi đợi chờ anh

Bước chân ra vào trước ngõ

Bạn thơ về trong ngọn gió

Mái đầu bạc xác hoa lau

Manh chiếu trải dưới giàn bầu

Rượu quê đầy chai sóng sánh

Chẳng có chi làm đồ nhấm

Hai thằng ngồi uống rượu suông

Nhấm những niềm vui nỗi buồn

Nhấm cảnh nhân tình thế thái

Người lắng nghe men bừng dậy

Men lắng nghe người trào sôi

Chén này xin uống cùng trời

Chén kia dâng sông mời núi

Tặng tôi câu thơ lộc mới

Lung linh nắng nở mai vàng

Tôi đọc vài câu tâm huyết

Thương đời bạn kiếp trần ai

Thấy Kiều hiện trong đáy chén

Nước mắt Nguyễn Du đong đầy

Tiền Đường men thời gian chảy

Cồn cào trong máu tim ta

Chuyện đời mình đây cùng thế

Nhà thơ như kiếp hồng nhan

Chợ trời thơ không bán được

Quẳng vào tận đáy thời gian ...

Bạn hãy cùng tôi chén nữa

Rượu nồng uống cạn đêm nay

Câu thơ ấy là ngọn lửa

Đốt cháy mười đầu ngón tay.

                              C.H

Mai Ngọc Thanh

Bây giờ

Bây giờ mỗi khi sang chơi nhà ông bạn

Chẳng còn nghe:

"Tuấn ơi có khách đấy

Gọi ông đi!"

Trong những con chim biết nói tiếng người

Yểng tài giỏi hơn hẳn

Nói được những câu dài mà còn biểu cảm

Nhưng Yểng rất dị ứng với máu

Một lần ông sơ ý để nó nhìn thấy ông cắt tiết gà

Thế là nó tru thét lên và nhảy cuồng loạn

Rồi đưa những móng chân móc cuống họng lôi ra

Loài Yểng thì vậy đó

Loài người hơn hai ngàn năm rồi vẫn chém giết nhau

Ông không tiếc bốn triệu đồng mua nó

Chỉ ân hận làm chết con Yểng đã sống trong

nhà mình như một người thân.

                               6/06

                              M.N.T

Mai Ngọc Thanh

Ngọn lửa

Mảng tường vỡ trong đường hầm An-ma

Dấu tích vụ đâm xe thảm khốc

Chết công nương Đi-a-na vợ Thái tử Anh quốc

Chết Đi-a-na bạn thân thiết của bao nhiêu người nghèo

Đi hết đường hầm hiện ra bên cửa phía xe lên

Ngọn lửa khổng lồ hình trái tim

Là pho tượng

Lưu giữ phần tâm hồn Đi-a-na vẫn sống

Ngọn lửa tỏa vầng sáng khiêm nhường

Giữa Pari vốn đã là đô - thành - ánh sáng

Người hiền xưa nay

Để lại sự giàu có cho đời như vậy đấy

Còn đang đói cả phần tư nhân loại

Trái tim Đi a na

Mãi ới gọi những tấm lòng nhân ái...

                    Paris chiều 21/8/07

                             M.N.T

Mai Ngọc Thanh

Một cái phảy tay

Muốn xóa bỏ nước Sở

Tần Vương Chính hỏi các võ thần

Lý Tín viên tướng hãy còn rất trẻ:

"Xin bệ hạ cho hai mươi vạn quân là đủ"

Đến lượt Vương Tiễn viên tướng tóc phơ phơ:

"Không thể ít hơn sáu chục vạn quân tâu bệ hạ"

Hai mươi vạn và sáu mươi vạn

"Chênh lệch nhau tới ba lần thậm vô lý!..."

Tần Vương Chính trừng mắt phẩy tay

"Rõ ra là nhà ngươi già rồi nên chẳng còn dũng khí!"

Lý Tín thua thúc ngựa chạy rơi gươm

Tần Vương Chính ngậm đắng đến tư dinh Vương Tiễn...

Rồi đất Sở bị sáp nhập vào Tần

Sự thật nói rằng Vương Tiễn đúng

Già và trẻ chuyện đã hơn hai thiên niên kỷ cũ mèm

Thì ta nay còn phải bàn không nhỉ?

                            5/2007

                             M.N.T



THƠ DỰ THI




Lê Đăng Sơn

Nén tâm hương

Ngày quốc giỗ (1) con hướng về Phú Thọ

Lên dâng hương Nhà tưởng niệm Bác Hồ (2)

Lòng thanh thản trong hương trầm thơm ngát

Bóng Vua Hùng lồng bóng Bác trong thơ

                               Tháng 4 năm 2008

                                        L.Đ.S

(1) Ngày 10 - 3 âm lịch hàng năm ngày Quốc giổ cả nước dâng hương tưởng nhớ Vua Hùng.

(2) Khu văn hóa tưởng niệm Bác Hồ tại trung tâm thành phố Thanh Hóa

Lê Đăng Sơn

Chuyện Hồ Gươm

Hồ Gươm ơi! Nước hồ xanh vời vợi

Nơi con nghe sâu thẳm chuyện Rùa Vàng

Lê Thái tổ đăng quang bồi hồi huyền thoại (*)

Rùa Vàng nhận gươm đất nước thanh bình

Hồ Gươm ơi sợi chỉ đỏ ân tình

Nối xứ Thanh với lung linh Hà Nội

Nối xứ Thanh với câu ca vời vợi:

"Đời vua Thái Tổ Thái Tông

Con bế con dắt con bồng con mang"

Hồ Gươm xanh của đất nước vinh quang

Thời đại Hồ Chí Minh tỏa nắng vàng hạnh phúc

Cụ Rùa Vàng nổi lên cười bên cầu Thê Húc

Thăng Long xanh và Thanh Hóa biếc xanh.

                                   Tháng 7 - 2008

                                         L.Đ.S

(*) Năm 1528 Lê Lợi đăng quang tại Thăng Long và huyền thoại Hồ Gươm ra đời từ đó

Đinh Ngọc Diệp

Đá và sóng

Sóng vô tư núi đá vô tình

Sóng ca hát đá im lìm dáng đá

Sóng hồn nhiên bọt tung trắng xóa

Đến bạc đầu... vẫn đá lặng im

Sóng - xôn xao của núi đá chìm

Đá - trầm tư của làn sóng nổi

Hãy chờ sóng khi nào không nói

Và hãy chờ

khi đá gọi: tình yêu !

                                  Đ.N.D

Vô đề

Chia tay. Biển tặng anh con cá mực

Tôi tặng anh thơ Tản Đà

Muốn hay hãy làm người thiên cổ

Cho câu thơ trẻ mãi đến không ngờ

Xin mượn chén thi nhân rót biển

Dẫu vô tình chưa kịp đốt niềm thương

Thôi ta tặng nhau... cơn bão

Biển lặng se

nhưng gió sắp điên cuồng ! ...

                      Đ.N.D

Đinh Ngọc Diệp

Cát

Vỏ chai nứt toác

Trên cát chỏng chơ

Bắt nắng trời nhức mắt

Dưới bước chân thờ ơ

Sinh ra: cát mịn

Trở về: mảnh chai

Rượu ai đã cạn?

Tình ai đã say?

Bãi bờ ôm biển

Rượu đời lên tăm

Tôi nhặt mảnh vỡ

Chiều muôn dặm cát lầm...

                            Đ.N.D

Phạm Tâm An

Sau lời chia tay

Tương kiến thời nan biệt diệc nan!

Cứ ngỡ chỉ một lời chia tay

Sẽ xóa hết

Cả ngàn lời yêu thương ngày cũ

Em đâu biết

Có một dòng sông

Sóng ngầm vần vũ

Dòng sông em chưa cập bến lần nào

Nay vẫn chảy qua tim!

Cây muốn đừng

Nhưng gió chẳng chịu im

Xao xác mãi

Một trời hồng kỷ niệm

Em hiểu thêm mình

Mà Không - Nhận - Ra - Anh!

Ngày bận rộn

Nên thời gian trôi nhanh

Đêm mất ngủ

Thấy mình cô độc quá

Sau lời chia tay

Sao không thành xa lạ

Để cuộc tình buồn

Vùng vẫy một miền đau...

                            P.T.A

Phạm Tâm An

Ngẫu khúc cuối mùa xuân

Hoa gạo đỏ lưng trời kiêu hãnh

Mưa âm thầm ướt cả lời thương

Chồi búp biếc long lanh sương đậu

Ngày xuân vui

Trong vất vả đời thường ...

Rét nàng Bân run rẩy môi hường

Tay ai nắm cho tim mình ấm lại

Gió cuối mùa thổi bùng khắc khoải

Nỗi nhớ cứ nghiêng về nơi ấy - làng quê!

Tuổi thơ nào lăn lóc triền đê

Ai giả chết để ta ngồi khóc thật

Kỷ niệm ngọt ngào mơ hồ còn - mất

Chú bé nghèo ngêu ngao khúc dân ca

Đồng đất quê nhà - nơi ta đã xa

Trâu gặm cỏ tấu lên đôi nốt nhạc

Lúa con gái chuyện trò xào xạc

Lưng mẹ còng như những vồng khoai...

Mùa xuân cạn

Nhưng đời vẫn còn dài

Và thương nhớ

Cứ theo hoài tim nhỏ!

                 Ninh Bình một ngày cuối xuân

                                 P.T.A

More...

Tác phẩm và dư luận

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Sống dậy những công trình lịch sử - văn hóa


(Phỏng vấn kiến trúc sư Lê Hồng Cẩm

Trưởng ban Quản lý dự án công trình văn hóa)

     Hiện nay văn hóa dân tộc chúng ta đang đứng trước một luồng gió mới có sức mạnh vô hình luồng gió hiện đại hóa. Trong nền văn hóa nói chung văn hóa vật thể nói riêng đặc biệt hơn là các công trình kiến trúc các khu di tích lịch sử đang dần bị mai một. Vì vậy để bảo tồn và phát huy cũng như khôi phục lại những giá trị quý báu đó đòi hỏi mỗi cá nhân phải biết trân trọng và gìn giữ nét văn hóa riêng của dân tộc mình. Và để làm được điều đó trước hết chúng ta cần một đội ngũ am hiểu yêu say mê tâm huyết với công việc của người làm "ong thợ"

Phóng viên Tạp chí Xứ Thanh đã có cuộc gặp gỡ trao đổi với kiến trúc sư (KTS) Lê Hồng Cẩm - Trưởng ban Quản lý dự án công trình văn hóa - Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa.

       Phóng viên: Xin chào KTS Lê Hồng Cẩm. Đề nghị KTS cho bạn đọc biết đôi nét về quá trình hình thành Ban Quản lý dự án công trình văn hóa tỉnh nhà để bạn đọc có thể hình dung về công việc của các anh không ạ?

       KTS Lê Hồng Cẩm: Như các bạn đã biết Thanh Hóa là tỉnh đứng trong tốp đầu về số lượng di tích quốc gia trong đó có 2 di tích trọng điểm là Lam Kinh và Thành Nhà Hồ.

       Từ năm 1994 Chính phủ đã phê duyệt dự án tu bổ phục hồi tôn tạo khu di tích lịch sử (DTLS) Lam Kinh. Theo đó Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể Thao và Du lịch) đã thành lập Ban Quản lý dự án. Qua nhiều năm hoạt động đến 2001 Ban được chuyển về trực thuộc UBND Tỉnh Thanh Hóa.

       Xuất phát từ yêu cầu và đặc điểm tình hình mới tháng 6 năm 2007 Ban Quản lý dự án được chuyển về Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa - Thể Thao và Du lịch) được tổ chức lại với tên gọi là "Ban Quản lý dự án công trình văn hóa".

       Hiện nay Ban được giao quản lý điều hành nhiều dự án như khu DTLS đền Bà Triệu DTLS Thái miếu nhà Hậu Lê di tích kiến trúc Đình Trung di tích kiến trúc đền thờ Trần Khát Chân chùa Hoa Long Thành Nhà Hồ v.v...

Phóng viên: Vậy thưa KTS đến thời điểm này Ban Quản lý dự án công trình văn hóa đã hoàn tất được những công việc nào?

      KTS Lê Hồng Cẩm: Từ khi thành lập cho đến nay công việc mà Ban Quản lý chúng tôi đã làm rất nhiều tôi có thể kể một số cái tên đã gắn bó thân thuộc với mỗi người dân tỉnh Thanh cũng như cả nước như:

      Khu DTLS Lam Kinh: Công việc mà chúng tôi đã làm ở khu DTLS này là đã thu hồi giải phóng mặt bằng gân 100 héc ta đất; xây dựng hệ thống gần 3 ki lô mét hàng rào; phục hồi gần 40 hét ta hồ; phục hồi hơn 400 mét sông Ngọc phục hồi rừng Lam Kinh; phục dựng xong 3 tòa Miếu và hiện nay đang tiến hành thi công tiếp 2 tòa; chúng tôi cũng đang nghiên cứu khoa học và lập dự án để có thể triển khai nhiều hạng mục khác như sân Rồng đường nội bộ nội thất 9 tòa Miếu đường Nam Cầu Bạch...

      Khu DTLS đền Bà Triệu: Nay đã hoàn thành hạng mục đền Bà và đưa vào sử dụng hiện đang tiến hành nghiên cứu khoa học lập hồ sơ để triển khai hạng mục Đình Phú Điền Lăng Bà và chuẩn bị hồ sơ xây đặt hệ thống tượng đài Bà Triệu.

      DTLS Thái miếu nhà Hậu Lê (Bố Vệ): đang triển khai thi công hạng mục Nghi Môn Tiền Điện và chuẩn bị thiết kế các hạng mục còn lại.

       Ngoài những dự án đang triển khai như trên Ban còn chuẩn bị hồ sơ nhiều dự án như: Trình quy hoạch Thành Nhà Hồ để hoàn thiện hồ sơ theo quy định của UNESCO lập thiết kế tu bổ đền Đồng Cổ Đình Trung chùa Hoa Long đền thờ Trần Khát Chân v.v...

       Phóng viên: Vâng công việc quả thật rất nhiều vậy trong quá trình hoạt động các anh đã gặp những khó khăn và thuận lợi gì thưa KTS?

       KTS Lê Hồng Cẩm: Nói đến thuận lợi thì cũng giống như bao nhiêu ngành khác chúng tôi được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch của Tỉnh ủy UBND tỉnh HĐND tỉnh Thanh Hóa. Có sự phối hợp hiệu quả của các cơ Ban ngành của tỉnh và địa phương có di tích. Có đội ngũ cán bộ của Ban nhiệt tình trách nhiệm tâm huyết với công việc và ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm.

      Mặt khác với một ngành còn được coi là "trẻ" khó khăn chúng tôi phải đối mặt cũng không ít chút nào như việc tu bổ phục hồi di tích kiến trúc (đặc biệt là kiến trúc gỗ) là làm lại những việc ngày nay không làm nên thợ ít người nghiên cứu ít người hiểu công việc ít. Cũng có những việc rất nhạy cảm (đặc biệt là ở Lam Kinh) đã tạo cho chúng tôi sức ép rất lớn khi triển khai nghiên cứu hoặc thi công. Trong khi đó quy trình thực hiện lại phải qua rất nhiều bước như khảo cổ hoặc đánh giá khoa học lập dự án lập thiết kế bản vẽ thi công... tất cả điều phải thông qua hội thảo hoặc các hội đồng chuyên môn và phải được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch thỏa thuận rồi tỉnh mới phê duyệt. Một khó khăn nữa là quy phạm quản lý thi công chưa đầy đủ chỉ dựa vào các hệ thống tiêu chuẩn quy phạm xây dựng chung (mà chủ yếu là các công trình hiện đại).

      Phóng viên: Thưa KTS Ban Quản lý dự án đã và sẽ đạt được hiệu quả cao khi đưa ra những phương hướng hoạt động thiết thực đúng không ạ?

      KTS Lê Hồng Cẩm (cười): Điều này thì chắc chắn rồi. Tôi có thể kể ra đây một số hiệu quả từ các hoạt động dự án nói trên chẳng hạn như Khu DTLS Lam Kinh từ chỗ hoang phế đã bước đầu lộ diện là khu di tích bề thế thâm nghiêm thể hiện tầm vóc của một vương triều tồn tại dài nhất trong lịch sử phong kiến có nhiều đóng góp to lớn cho dân tộc. Rồi khu đền bà Triệu làm xong đã ngay lập tức hấp dẫn khách thập phương đến thăm viếng thu hút nhiều nhà hảo tâm cung tiến và là một điểm nhấn quan trọng trong hành trình văn hóa phục vụ du lịch của tỉnh ta.

      Bên cạnh đó như đã nói ở trên chúng tôi phải đưa ra được những phương hướng trong thời gian tới cho mình đó là việc tiếp tục lập và triển khai các dự án ở Lam Kinh để làm sống dậy một khu DTLS lớn và có giá trị về nhiều mặt của tỉnh ta nói riêng và cả nước nói chung. Xây dựng quy hoạch đủ điều kiện trình UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới đối với khu di tích Thành Nhà Hồ.

      Đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lập hồ sơ khoa học triển khai nhiều dự án tu bổ phục hồi tôn tạo đầy đủ cho các di tích Thái Miếu Bố Vệ đình Phú Điền và lăng Bà Triệu đền Đồng Cổ...

       Tạp chí Xứ Thanh xin cảm ơn KTS và chúc Ban Quản lý dự án đạt được nhiều thành tích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Một nhiệm vụ nặng nề và cao quý là phục hồi tôn tạo những công trình lịch sử văn hóa của tỉnh nhà và mong rằng với sự giúp đỡ của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch sự cố gắng của cả tỉnh Thanh Hóa chúng ta di tích Thành Nhà Hồ sớm được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

                                                                        P.V(thực hiện)

Góp phần bồi đắp cho văn nghệ các

dân tộc thiểu số ngày càng thêm đặc sắc

                                              Chu Thái Thành - Chu Thùy Liên

     Hiện nay Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam với các chương trình nhiệm vụ thiết thực trong củng cố tổ chức cơ sở và các hoạt động chuyên môn đang tiếp sức cho hội viên cả nước tạo nên những tác phẩm văn nghệ có giá trị góp phần bồi đắp cho văn nghệ các dân tộc thiểu số ngày càng thêm đặc sắc.

      Bức tranh sinh động về đời sống văn nghệ các dân tộc thiểu số

Nhìn lại hoạt động văn học nghệ thuật các vùng miền hiện nay chúng ta thấy nổi bật nhiều nét tươi mới đặc sắc. ở khu vực Đông Bắc Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số có nhiều hoạt động phong phú và đa dạng đồng thời cũng là khu vực có số lượng hội viên đã công bố được nhiều tác phẩm công trình. Chi hội Hà Giang lực lượng hội viên hoạt động ở địa bàn biên giới địa phương có nhiều khó khăn nhưng đã đạt được một số thành tích nhất là trong lĩnh vực nhiếp ảnh. Chi hội Tuyên Quang Bắc Cạn Thái Nguyên Bắc Giang Cao Bằng đã phát huy lợi thế địa bàn hoạt động là tỉnh miền núi trung du vùng đất có nhiều những giá trị Văn hóa Văn nghệ truyền thống của các dân tộc đồng thời cũng là nơi đang diễn ra những thay đổi lớn trong thời kỳ Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Có Chi hội như Bắc Cạn Bắc Giang đã tổ chức được các lớp bồi dưỡng cho học sinh trường dân tộc nội trú của tỉnh hình thành những Câu lạc bộ văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Củng cố tổ chức cơ sở Hội chú trọng việc bồi dưỡng lực lượng văn nghệ sĩ là người dân tộc thiểu số xây dựng Câu lạc bộ truyền thống dân tộc Mường dân tộc Thái nhằm hướng đội ngũ vào nhiệm vụ khai thác gìn giữ phát huy bản sắc dân tộc. Các Chi hội dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc đã gắn kết các hoạt động của một vùng văn hóa trong tổ chức đi thực tế giao lưu trao đổi nghề nghiệp. Đây là việc làm bổ ích giúp văn nghệ sĩ có được giao lưu với đồng nghiệp được đi đến những vùng đất mới gợi những cảm xúc mới trong sáng tác.

Đáng chú ý là hoạt động của các Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên. Đây là địa bàn có hầu hết các dân tộc thiểu số anh em của cả nước đang cùng nhau chung sống. Đây cũng là một vùng văn hóa mang tính đặc trưng có truyền thống đấu tranh cách mạng anh dũng trong hai cuộc kháng chiến. Văn nghệ dân gian Tây Nguyên độc đáo và phong phú; vùng đất của sử thi của cồng chiêng của lễ hội truyền thống đầy bản sắc.

Văn học nghệ thuật vùng Trường Sơn - Tây Nguyên kế thừa thành quả của đội ngũ văn nghệ kháng chiến. Được sự chăm lo của Đảng Nhà nước hiện nay một số thế hệ các văn nghệ sĩ trẻ là con em các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã và đang hoạt động sôi nổi tự tin. Các tổ chức cơ sở Hội ở Đắc Lắc. Gia Lai Kom Tum Đắc Nông Lâm Đồng đang từng bước đưa hoạt động Văn học nghệ thuật mới phục vụ đồng bào các dân tộc trong vùng. Thế mạnh của Văn học nghệ thuật Tây Nguyên là âm nhạc và múa. Âm nhạc và múa truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên phong phú và độc đáo mang nét đẹp vừa cổ kính hoang sơ vừa mộc mạc trữ tình sâu lắng. Những giá trị nghệ thuật độc đáo ấy đã tạo nên tên tuổi các nghệ sĩ tiêu biểu của các dân tộc Tây Nguyên qua nhiều thế hệ.

     Cùng với âm nhạc và múa hội họa và điêu khắc của các họa sĩ Tây Nguyên đã khai thác bản sắc văn hóa khá đậm nét trong đó có nhiều tác phẩm được giới mỹ thuật đánh giá cao. Công tác nghiêm cứu văn hóa dân gian đã được một số nghệ sĩ dành thời gian và tâm huyết đến với các nghệ nhân dân tộc thiểu số sưu tầm và giới thiệu nhiều công trình văn học nghệ thuật truyền thống Tây Nguyên có giá trị. Việc UNESCO công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa của nhân loại thể hiện nỗ lực to lớn của các nhà nghiêm cứu các văn nghệ sĩ và nghệ nhân trong việc bảo tồn di sản văn hóa độc đáo này.

Các Hội Văn học nghệ thuật vùng Nam Trung Bộ hoạt động có nền nếp chú trọng công tác phát triển hội viên là người dân tộc như Raglay Hoa Chăm. Đáng chú ý ở địa bàn là văn học nghệ thuật dân tộc Chăm đang có những chuyển biến tích cực xuất hiện những gương mặt mới. Cùng với việc sáng tác bằng ngôn ngữ phổ thông nhiều tác giả còn sáng tác bằng ngôn ngữ Chăm tác phẩm của họ đã tạo được sự quan tâm trong cộng đồng Chăm. Ca múa nhạc là lĩnh vực có lực lượng nghệ sĩ khá đông đảo và hoạt động sôi nổi. Đoàn nghệ thuật Chăm Ninh Thuận và đoàn nghệ thuật Chăm huyện Bắc Bình (Bình Thuận) với những nghệ sĩ tiêu biểu đã liên tục đi biểu diễn tại các điểm trong địa phương và một số tỉnh trong cả nước góp phần giới thiệu tôn vinh ca múa nhạc Chăm độc đáo và đầy hấp dẫn. Mỹ thuật Chăm tạo được nét riêng với những tác phẩm điêu khắc tượng đất nung và các tác phẩm hội hoạ với nhiều chất liệu khác nhau. Công tác sưu tầm phục dựng những di sản văn hóa Chăm có sự đóng góp tích cực của nhiều nhà tri thức văn nghệ sĩ; các nghệ nhân người Chăm tâm huyết với văn hóa dân tộc.

     Cho đến hôm nay Văn học nghệ thuật vùng Tây Nam Bộ mới chỉ có hai Chi hội Văn nghệ các dân tộc thiểu số ở tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng. Đa số hội viên là người dân tộc (Khemr) Khơ me tuy địa bàn vẫn còn có các dân tộc khác như Chăm Hoa. Thế mạnh của Văn học nghệ thuật các dân tộc ở khu vực Tây Nam Bộ là nghệ thuật sân khấu truyền thống trong đó có nghệ thuật truyền thống dân tộc Khơ me. Các dân tộc Khơ me đều có chùa để tiến hành các nghi thức tôn giáo. Nhà chùa vừa là nơi dạy chữ Pali chữ Khơ me và Kinh Phật vừa là nơi sinh hoạt văn hóa của Phum sóc. Hầu hết các tỉnh Nam Bộ hiện nay đều có đoàn nghệ thuật Khơ me chuyên nghiệp. Các Phum sóc đều có đội văn nghệ dân gian. Sân chùa là nơi tổ chức các cuộc biểu diễn quần chúng và cũng là nơi các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp đến diễn lưu động tại cơ sở. Ngoài các nghệ sĩ ở lĩnh vực biểu diễn sân khấu Khơ me Nam Bộ còn có những tác giả kịch bản và đạo diễn sân khấu. Kịch bản sân khấu đều sáng tác bằng tiếng Khơ me. Sân khấu truyền thống Khơ me Nam Bộ cho đến nay vẫn được duy trì. Các đoàn nghệ thuật Khơ me thường xuyên phục vụ những vở mới động viên đồng bào tích cực xóa đói giảm nghèo đoàn kết xây dựng cuộc sống đồng thời cũng có những vở diễn lấy từ các tích xưa trong chuyện cổ Khơ me đề cao lòng nhân ái theo tinh thần từ bi hỉ xả của đạo Phật nhằm giáo dục con người.

    Tuy nhiên hiện tại loại hình nghệ thuật truyền thống này đang có biểu hiện mai một. Trong khi chúng ta chưa có kế hoạch cụ thể tích cực để bảo tồn phát triển. Lĩnh vực mỹ thuật âm nhạc mang tính sáng tác còn ít tác giả. Hoạt động mỹ thuật chủ yếu dựa trên lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng trong trang trí và tôn tạo các chùa Khơ me trong vùng.

     Đội ngũ tác giả Văn học nghệ thuật vùng Khơ me Nam Bộ tuy còn mỏng so với tiềm năng văn hóa của đồng bào nhưng đáng quý là hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật của họ gắn liền với cội nguồn truyền thống văn nghệ dân gian phong phú. Văn nghệ có vị trí quan trọng trong đời sống tình cảm tâm hồn dân tộc Khơ me lại sáng tác bằng ngôn ngữ Khơ me nên được đồng bào đón nhận. Để bảo tồn phát triển truyền thống văn hóa văn nghệ đáng trân trọng này vấn đề đào tạo phát hiện bồi dưỡng lực lượng sáng tác Văn học nghệ thuật người Khơ me cần được quan tâm và có kế hoạch cụ thể thích hợp trong thời gian tới.

     Có thể nói thời gian qua các tổ chức cơ sở Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã có những hoạt động đa dạng có hiệu quả hơn. Từ sáng tác biểu diễn mang tính chuyên nghiệp đến các hoạt động phong trào đã khắc họa nên bức tranh sinh động về đời sống văn nghệ các dân tộc thiểu số. Tuy hiện nay vẫn còn nhiều dân tộc thiểu số ở nước ta chưa có văn nghệ sĩ của dân tộc mình nhưng chúng ta hy vọng với sự nghiệp phát triển văn hóa giáo dục ở miền núi đang ngày càng được đẩy mạnh tương lai không xa sẽ có thêm nhiều tri thức văn nghệ sĩ trẻ đại diện cho tiếng nói trí tuệ và tâm hồn của dân tộc mình trong đại gia đình Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.

     Những tín hiệu vui từ hoạt động của các chuyên ngành.

Sự phát triển của văn nghệ các dân tộc thiểu số năm qua luôn gắn liền với sự phát triển của văn nghệ trong cả nước. Việc tổng kết đánh giá thành tựu văn nghệ các dân tộc thiểu số không thể tách rời tình hình phát triển chung của văn nghệ cả nước cho dù văn nghệ các dân tộc thiểu số có những yếu tố riêng.

Bước chuyển mình về kinh tế xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã tác động lớn đến việc thúc đẩy văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số phát triển. Bên cạnh đó là chương trình hỗ trợ sáng tạo trự tiếp hàng năm của Nhà nước đã giúp đỡ các văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số có điều kiện hơn về vật chất để sáng tác công bố tác phẩm. Có thể nhận thấy sự phát triển của những chuyên ngành văn học nghệ thuật trong năm qua:

     Trước hết Văn học luôn là thể loại có số lượng tác giả tác phẩm đông đảo. Số tác phẩm gửi về Hội để dự giải thưởng và xét hỗ trợ sáng tạo nhiều nhất là thơ. Thời gian qua một số tập thơ với giọng điệu mới đã xuất hiện. Tác giả sáng tác thơ song ngữ đã đông hơn. Tác phẩm sáng tác bằng tiếng dân tộc ngày càng tăng. Sự thay đổi về hình thức nghệ thuật cũng đã được chú trọng một cách tích cực. Văn xuôi đã có sự phát triển cả về số lượng chất lượng. Một số tác giả bắt đầu bắt tay vào viết những bộ tiểu thuyết nhiều tập. Đã có sự chuyển mình về bút pháp và cấu trúc tác phẩm. Sự linh hoạt trong ngôn ngữ bộc lộ vóc dáng của văn học hiện đại. Một số vấn đề lớn đang nổi lên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được đề cập một cách sinh động. Đó chính là biểu hiện của sự phát triển hơn so với trước đây là những tín hiệu vui cho văn học dân tộc thiểu số hiện nay.

     Các tác giả là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam thường xuyên tham gia những cuộc triển lãm của Hội và các Hội Văn nghệ địa phương. Nhưng đánh giá một cách khách quan chất lượng nghệ thuật tác phẩm của một số tác giả trong năm qua chưa có sự chuyển biến rõ nét. Trong điện ảnh phổ biến nhất là một số phim tài liệu nghệ thuật về dân tộc miền núi. Các tác phẩm chủ yếu được sử dụng trên sóng Truyền hình Việt Nam. Tuy hằng năm vẫn có một số kịch bản phim truyện được hỗ trợ sáng tác nhưng chất lượng vẫn ở mức trung bình chưa được dựng thành phim. Có thể nói chúng ta chưa có tác phẩm phim chuyện phản ánh chân thực và sâu sắc cuộc sống con người miền núi. Chúng ta vẫn còn nợ đồng bào vùng chiến khu xưa những tác phẩm điện ảnh về đề tài cách mạng và kháng chiến sự đóng góp xương máu của nhân dân các dân tộc với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Thời gian qua không gian văn hóa phong cảnh cuộc sống con người niềm núi trong sự chuyển mình lớn lao của đất nước rất thích hợp cho sự ra đời những tác phẩm phim truyện hay. Điều đó đang đòi hỏi những cây bút tài năng và những nhà làm phim trẻ của các dân tộc thiểu số.

     Mỗi năm só hội viên thuộc chuyên ngành nhiếp ảnh ngày càng được bổ sung. Đã có nhiều tác phẩm ghi lại được những khoảng khắc sinh động về phong cảnh đời sống sinh hoạt sự thay đổi của vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiếp ảnh dân tộc thiểu số đã có một số thành công trong phản ánh đề tài công nghiệp hóa hiện đại hóa ở miền núi ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào cả nước. Nhưng số tác giả nhiếp ảnh dân tộc thiểu số vẫn chỉ tập trung ở các tỉnh khu vực Việt Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh. Khu vực Tây Bắc Tây Nguyên đội ngũ này vẫn còn thưa vắng. Múa là bộ môn nghệ thuật đặc sắc phong phú của các dân tộc vùng cao. Hiện nay lực lượng diễn viên các đoàn nghệ thuật miền núi dân tộc ít được đào tạo cơ bản. Số biên đạo có trình độ kinh nghiệm nghề nghiệp đã có tuổi biên đạo trẻ vẫn chưa khẳng định được vị trí nghề nghiệp. Trong năm qua đã có thêm nhiều ca sĩ trẻ được kết nạp vào Hội Âm nhạc. Các ca sĩ thành danh vẫn tiếp tục công việc tại các đoàn nghệ thuật các cơ sở đào tạo một số thường xuyên tham gia biểu diễn. Trong sáng tác các tác phẩm của các tác giả dân tộc thiểu số thời gian qua vẫn chưa đủ sức lan tỏa trên phạm vi cả nước. Còn ít tác phẩm là những bài hát khai thác từ các làn điệu dân ca được công chúng yêu thích.

     Có thể khẳng định nhiều chuyên ngành văn nghệ các dân tộc thiểu số đã thu được những thành tựu đáng kể nhưng vẫn còn một số chuyên ngành cần khắc phục những yếu kém để tiếp tục phát triển. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay vấn đề bảo vệ giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc trở thành cấp thiết trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của văn nghệ các dân tộc thiểu số.

     Bên cạnh thành tích của các nghệ sĩ dân tộc thiểu số những năm qua còn ghi nhận sự đóng góp quan trọng của các tác giả dân tộc Kinh đã gắn bó máu thịt và luôn tâm huyết với đề tài dân tộc miền núi. Nhiều tác phẩm của họ đã phản ánh những vấn đề đang được đặt ra ở vùng dân tộc. Một số tác phẩm đã được tặng giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam và các Hội chuyên ngành trung ương.

    Đề tài sáng tác từ chỗ tập trung cho nhiệm vụ tuyên truyền ca ngợi quê hương đất nước con người đã mở rộng sang những vấn đề của quốc tế hội nhập Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số đã từng bước bắt nhịp vào đời sống của đồng bào bên cạnh ca ngợi cái mới cái tốt đẹp đồng thời cũng đấu tranh phê phán cái xấu lạc hậu cái ác; có tác phẩm nhanh chóng cổ vũ động viên nhưng cũng có những tác phẩm đi sâu khai thác thân phận con người vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

     Thể loại cũng phong phú đa dạng hơn; nhiều tác giả mạnh dạn tìm tòi thể nghiệm lối viết lối tư duy sáng tạo trong thể hiện một số loại hình nghệ thuật. Một điều cần được ghi nhận và khuyến khích là ngày càng có nhiều tác giả dân tộc thiểu số có ý thức quan tâm nhiều hơn việc sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ sáng tác song ngữ. Công tác sưu tầm nghiên cứu văn học dân gian trước đây còn nhiều hạn chế trong năm qua đã thu hút sự quan tâm của nhiều hội viên. Nhiều công trình sưu tầm nghiêm cứu biên dịch các loại hình văn nghệ dân gian của các dân tộc ở Tây Nguyên các dân tộc Chăm Tày Nùng Thái Mường Mông... và của nhiều dân tộc khác được biên soạn công phu có giá trị đặc sắc.

     Định hướng cho thời gian tới.

     Trong thừoi gian tới chúng ta cần chú trọng nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xét hỗ trợ sáng tạo và giải thưởng văn học nghệ thuật nhất là giải thưởng hàng năm. Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã có quy chế về hỗ trợ sáng tạo chiều sâu năm 2008 sẽ tổ chức thực hiện có hiệu quả hơn. Tập trung khuyến khích những tác phẩm phản ánh về đề tài miền núi dân tộc thiểu số trong sự nghiệp đổi mới phát triển kinh tế xã hội xóa đói giảm nghèo thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa ở vùng cao.

     Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cần tổ chức hoặc kết hợp với Hội Nhà văn Hội Mỹ thuật Hội Văn nghệ dân gian mở rộng hội nghị toàn quốc hoặc hội thảo về các loại hình văn học nghệ thuật đang đặt ra nhữung vấn đề bức xúc. Có chương trình và kế hoạch phối hợp hoạt động với các cơ quan nhà nước về công tác dân tộc như: Hội đồng Dân tộc của Quốc hội ủy ban Dân tộc Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch Ban Dân vận Trung ương... để đẩy mạnh sáng tạo văn học nghệ thuật ở vùng sâu vùng xa vùng đông bào dân tộc thiểu số.

     Tiếp tục đẩy mạnh sáng tác nghiên cứu lý luận phê bình phấn đấu trong năm tới có một số tác phẩm phản ánh sinh động cuộc sống và con người vùng dân tộc thiểu số; một số công trình sưu tầm nghiên cứu lý luận phê bình có giá trị thực tiễn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Phát hiện và đẩy mạnh công tác bồi dưỡng những xây bút phê bình nghiên cứu sáng tác văn học nghệ thuật trẻ là người các dân tộc thiểu số.

     Quan tâm hỗ trợ tạo điều kiện để văn nghệ sĩ là hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam nâng cao về nhận thức tư tưởng hiểu rõ tình hình thế giới đất nước thực tế cuộc sống miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số để sáng tạo và cống hiến nhiều hơn cho dân tộc mình.

Tích cực xây dựng và phát triển cơ quan ngôn luận của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam bằng cách xuất bản thêm báo tạp chí in và điện tử trong điều kiện cho phéo để đăng tải tác phẩm công trình của hội viên quảng bá các hoạt động của Hội góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa văn nghệ các dân tộc thiểu số ngày càng thêm đặc sắc.

                                                                       C.T.T - C.T.L

Tuổi mới lớn - xứ thần tiên

(Đọc tập thơ Tí tách mưa rơi của Nguyễn Ngọc Quế)

                                              Định Hải

     Từ Cách Mạng tháng Tám đến nay thơ viết cho thiếu nhi có nhiều tiến bộ đội ngũ những người làm thơ cho các em ngày càng đông đảo. Song có một mảng đối tượng ít được quan tâm chăn sóc - đó là các em vị thành niên các em bước vào tuổi mới lớn mà bây giờ giới âm nhạc có một định nghĩa thú vị: Tuổi đời mênh mông.

    Lâu nay các nhà thơ thường dành nhiều tâm sức viết cho lứa tuổi nhi đồng và một phần cho tuổi mẫu giáo mầm non. ít có người - kể cả các nhà văn - tâm huyết với đối tượng này. Nửa vô tình nửa cố ý người ta thường né tránh làm thơ cho "Tuổi ô mai" "Tuổi chanh cốm". Dường như có điều gì đó phải kiêng kỵ sợ "vẽ đường cho hưu chạy" chăng? Bởi vậy thơ viết cho thiếu nhi bị đứt đoạn từ 15 tuổi trở lên cho đến lúc trưởng thành. Vì lẽ đó con em chúng ta hoặc phải đọc thơ cho nhi đồng hoặc phải đọc thơ cho người lớn. Thật vậy người lớn thì lắm chuyện quá đủ các thứ chuyện trên đời còn "con nít" thì bao giờ cũng chỉ có cào cào châu chấu mà thôi.

     Trong thực trạng đó có một nhà thơ say mê viết cho tuổi mới lớn và đã viết thành công suốt 20 năm nay là điều rất đáng ghi nhận. Tôi muốn nói đến nhà thơ Nguyễn Ngọc Quế một trường hợp độc đáo của miền Bắc có nét giống và có nét khác với nhà thơ Bùi Chí Vinh ở niềm Nam. (Dăm bảy năm gần đây Bùi Chí Vinh xuất hiện thưa thớt hơn. Có phải ông cũng bắt đầu nản lòng vì cảm thấy đơn độc quá chăng? Còn tôi và các nhà thơ Quang Huy Đặng Tấn Nguyễn Hoàng Sơn Trương Nam Hương... thì chúng tôi đã nản lòng từ lâu quá rồi!).

     Nguyễn Ngọc Quế vốn là nhà giáo dành cả đời mình cho sự nghiệp "trồng người" là giáo viên dạy toán xuất sắc của trường cấp 3 Lam Sơn - Thanh Hoá. Đồng thời ông lại là nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông viết cả thơ cho người lớn cả thơ cho thiếu nhi từ mấy thập kỷ qua. Ông viết nhiều bài thơ và nhiều truyện thơ cho các em. Đặc biệt ông không chỉ viết cho nhi đồng mà ngòi bút của ông còn rất có duyên với tuổi thiếu niên lớn. Có thể hiểu được điều đó vì cả đời ông đã gắn bó với bao nhiêu thế hệ học sinh luôn sống giữa "biển sóng sôi động" của Tuổi đời mênh mông. Không phải thế làm sao ông biết xốn xang mơ mộng giống như các em để được các em xem những bài thơ ấy là thơ cho mình thơ của mình.

     Phải chăng quãng đời đẹp nhất là quãng đời này đây giống như những khóm lúa xanh mơn mởn không còn non nót run rẩy nhưng cũng chưa cứng cáp vạm vỡ những khóm lúa phổng phao đang vươn lên thì con gái. Nhà thơ Xuân Diệu lúc sinh thời đã có lần tâm sự với tôi về điều này. Ông nhấn mạnh ý nghĩa việc chăm sóc lứa tuổi mới lớn bằng một hình ảnh ấn tượng: "Không dạy chúng cách cầm đũa thì chúng sẽ ăn bốc". Chính vì lẽ đó tôi rất may mắn được đọc tập thơ này và muốn sốt sắng giới thiệu với bạn đọc: Tập thơ Tí tách mưa rơi - Nhà xuất bản Kim Đồng - 2008. Có thể nói đây là một món quà quý hiếm rất đáng trân trọng. Nó không chỉ gợi cảm mà còn gọi mở nhiều điều đáng nghĩ ngợi cho ta - cho cả người lớn và trẻ em.

    Tôi tâm đắc với câu thơ đề từ của tác giả cho tập sách này:

Đường về tận xứ tuổi thơ

Thênh thênh quán gió khoang đò chở trăng.

     Xứ tuổi thơ ở đây chính là xứ thần tiên của tuổi mới lớn. Khoảng khắc nào trong đời ta cũng đầy gió trăng nhưng gió trăng ở đây "thênh thênh" lắm bởi gió trăng nơi này không phải ở sông suối và cũng không phải ở đại dương. Nó chính là gió trăng ở cửa biển nơi con sóng bắt đầu vồ vập háo hức lạ kỳ hồi hộp lạ kỳ.

     Điều dễ thấy trong tập thơ này là tác giả đã hòa vào tâm hồn trẻ thơ đi đến từng ngõ ngách tình cảm của tuổi mới lớn những khao khát ước mơ trước ngưỡng cửa cuộc đời. Khi đến với Thành phố Huế vào một chiều "Tháng Tư nắng mới bời bời" tác giả như trẻ lại với lứa tuổi "Lời thương mỏng mảnh môi xinh dỗi hờn". Đẹp biết bao cái tuổi "Hẹn chờ ngẩn ngơ" "Mộng mơ nhớ thầm" ấy cái tuổi "Bản lề" từ không đến có lứa tuổi đang chớm nở một cái gì mà chưa biết đó là cái gì:

Sân trường ngọn gió lang thang

Thung thăng bướm trắng nắng vàng mơ mơ

Cây bàng xòe tán ngẩn ngơ

Lá xanh khép mở trang thơ gửi trời

Đâu đây tiếng gió xa vời

Cánh hoa khe khẽ vừa rơi trên đầu...

                              (Hè chờ)

     Quả là nhà thơ đã đồng hành cùng các em trong cuộc hành trình của tuổi mới lớn. Đây chính là quá trình tiến triển của tình cảm đúng là các em đang đi từ mùa hè đến mùa thu từ "Một chiều hè lang thang" đến mùa thu "Lá vàng rơi rối hoàng hôn". Quá trình chuyển biến chỉ có thể xảy ra ở xứ thần tiên của tuổi mới lớn:

Người đi áo trắng bay bay

Người về áo tím chín đầy hương thu

                           (Ai gọi mùa thu)

     Tình cảm chợt đến chợt đi thật vu vơ mong manh bâng khuâng hư ảo như cơn mưa bóng mây:

Cơn mưa thoáng đã tạnh rồi

Ngẩn ngơ em đứng ngóng trời - ngẩn ngơ

                             (Mưa bóng mây)

    Với sự liên tưởng kỳ diệu của thơ tác giả đã dìu dắt các em đi trong xứ thần tiên ấy:

Răng khểnh ơi

Cắn chắt hạt mưa rào?

                             (Tí tách mưa rơi)

                                                      Hà Nội ngày 20 - 3 - 2008

                                                                      Đ.H

More...

Tác phẩm và dư luận

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Văn học Thanh Hóa

trong kháng chiến chống Pháp

                                                 Hoàng Khôi

      Thời kháng chiến chống Pháp (1946-1954) nếu Việt Bắc được xác định là căn cứ địa là Thủ đô kháng chiến toàn quốc thì Thanh Hóa lại đóng vai trò như một hậu phương lớn và trong nửa đầu kháng chiến chống Pháp (1946-1950) là căn cứ địa của văn hóa kháng chiến.

      Thanh Hóa là nơi quy tụ lực lượng văn nghệ trước cách mạng đi theo kháng chiến là nơi bồi dưỡng rèn luyện đội ngũ này thành lực lượng nghệ sĩ - chiến sĩ cũng là nơi xây dựng phát triển đội ngũ lực lượng văn nghệ sĩ mới lớn lên cùng cách mạng và kháng chiến.

      Ta có thể bắt gặp rất nhiều tên tuổi của văn nghệ Việt Nam tại "Căn cứ địa văn hóa" Thanh Hóa trong thời gian này đó là các nhà lãnh đạo nền văn nghệ mới: Đặng Thai Mai Tố Hữu Hải Triều. Đó là các nhà thơ nhà văn nổi danh thời tiền chiến: Nguyễn Tuân Nguyễn Đình Lạp Mạnh Phú Tư Chế Lan Viên Vũ Ngọc Phan Lưu Trọng Lư Đồ Phồn Huyền Kiêu Hoàng Xuân Nhị... Đó là các nghệ sĩ sân khấu: Lộng Chương Bửu Tiến Hà Văn Cầu Đình Quang... các nghệ sĩ âm nhạc: Phạm Sĩ Sáu Văn Chung Nguyễn Văn Thương... các họa sĩ các nhà điêu khắc: Phạm Viết Song Nguyễn Văn Tỵ Bùi Xuân Phái Sĩ Ngọc Phạm Văn Đôn Nguyễn Thị Kim... Lớp nhà văn lớn lên cùng cách mạng và kháng chiến được đào tạo từ "cái nôi" Thanh Hóa này cũng đông đảo: Hoàng Trung Thông Xuân Hoàng Vũ Tú Nam Dương Tường Trần Hữu Thung Minh Hiệu Cẩm Lai Nguyễn Trọng Oánh Thanh Hương Cẩm Thạch...

       Cái không gian và không khí kháng chiến ấy vừa là "cái nôi" vừa là "cánh tay đưa" (Chữ dùng theo Địa chí Thanh Hóa. Tập II - phần Văn hóa xã hội - KHXH - H 2003) cho văn nghệ Việt Nam thủa ấy lại vừa là cơ duyên để xuất hiện những tác giả Thanh Hóa mở đầu cho văn học cách mạng và kháng chiến.

Đây là một đặc điểm rất đáng tự hào của văn học Thanh Hóa bởi đóng góp của nó là không thể phủ nhận được đối với văn học Việt Nam nói chung và văn học thời chống Pháp nói riêng.

       Nét nổi bật của văn học Việt Nam 1946-1954 là thơ kháng chiến chống Pháp thì Thanh Hóa ngay từ đầu sự xuất hiện của Nhớ máu (1946 - Trần Mai Ninh); Đèo Cả (1946 - Hữu Loan) rồi liên tiếp Tình sông núi (1947 - Trần Mai Ninh); Lên Cấm Sơn Lời cô lái đò (1948- Thôi Hữu); Nhớ (1948 - Hồng Nguyên); Có một mùa chiêm Nghìn ngày kháng chiến gặp mùa lúa chiêm (1949 - Hà Khang); Màu tím hoa sim (1949 - Hữu Loan); Mưa núi (1949) và nhiều ca dao của Minh Hiệu... đã tạo ra một đội ngũ nhà thơ xứng đáng mang tầm cả nước.

      Các nhà thơ Thanh Hóa đã có những thành công đáng kể khi đưa được không khí chất liệu hiện thực và cả nghệ thuật biểu hiện mới cho thơ kháng chiến.

      Khí thế hào hùng niềm vui hồn nhiên tình người chân thực... có thể bắt gặp ở bất cứ bài thơ nào trong các bài thơ thủa ấy.

Ta thấy khí thế ấy ở những hình ảnh về dân tộc về tổ quốc:

Dân tộc rớt mồ hôi thấm đất

Bắp căng như đồng

Tay ghì cán cuốc

Tay ghì tay xe

Nhìn quanh là cả bốn bề cần lao...

Có mối tình nào cao hơn thế nữa

Đi sâu lòng đất thấm lòng người

Đượm lều tranh thơm dậy ngàn khơi

Khi vui non nước cùng cười

Khi căm non nước với người đứng lên...

Có mối tình nào cao hơn thế nữa

Nói bằng súng bằng gươm sáng rền

Có mối tình nào cao hơn

Tổ quốc.

                             (Tình sông núi - Trần Mai Ninh)

      Ta thấy niềm vui trong sáng trẻ trung trên nét mặt trong tiếng cười của người chiến sĩ:

Lũ chúng tôi

Bọn người tứ xứ

Gặp nhau hồi chưa biết chữ

Quen nhau từ thủa "một hai"

Súng bắn chưa quen

Quân sự mười bài

Lòng vẫn cười vui kháng chiến

Rồi:

Cả lũ cười vang bên ruộng bắp

Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu

                          (Nhớ - Hồng Nguyên)

     Ta còn bắp gặp bao nhiêu tấm lòng tình nghĩa yêu thương:

Tình quân dân thắm thiết:

... Chúng tôi đi nhớ nhứt câu ni

Dân chúng cầm tay lắc lắc

- Độc lập nhớ rẽ viền chơi với chắc.

                          (Nhớ - Hồng Nguyên)

      Tình đồng đội chân thành:

Lòng tôi xao xuyến tình thương xót

Muốn viết bài thơ thắm lệ nhòa

Tặng các anh tôi đang đổ máu

Đem thân xơ xác giữ sơn hà

(Lên Cấm Sơn - Thôi Hữu)

Tình vợ chồng thẳm sâu:

Nhỡ khi mình không về

Thì thương người vợ trẻ

Bé bỏng chiều quê...

                      (Màu tím hoa sim - Hữu Loan)

      Thơ kháng chiến chống Pháp Thanh Hóa đã phản ánh được những hiện thực nhất về đời sống chiến sĩ trong kháng chiến. Đó có thể là hiện thực về cảnh nghèo đói thiếu thốn trong những ngày tòng quân. Về văn hóa thì "Chưa biết chữ" về quân sự thì "Súng bắn chưa quen" về trang bị thì "áo vải chân không" phải "Lột sắt đường tàu rèn thêm đao kiếm"... Đó còn là hiện thực về những ước mơ những khao khát giản dị đến nao lòng. Đi đánh giặc mà luôn hướng về quê hương với những "mái lều tranh tiếng mõ đêm trường" những "luống cày đất đỏ" và những "Người vợ trẻ mòn chân bên cối gạo canh khuya".

Cái hàng ngày mà bộ đội phải chấp nhận là:

Họ vẫn gầy vẫn ốm

Mắt vẫn lõm da vàng

áo chăn chưa đủ ấm

ăn uống vẫn tồi tàn

       Nhưng vẫn có một cái hàng ngày khác rất lạc quan:

ở đây những mặt buồn như đất

Bội đội cười lên tươi như hoa

      Anh bộ đội Cụ Hồ là một hình ảnh về nhân vật trung tâm của thời đại đã được thơ kháng chiến Việt Nam tạo dựng qua nhiều vẻ đẹp đương nhiên là phải mang tính lý tưởng hóa cao độ nó nổi lên hàng đầu trên bình diện là những con người mới trong quần chúng công nông. Tuy nhiên hình ảnh anh bộ đội trong những bài thơ của các nhà thơ Thanh Hóa những năm đầu kháng chiến chống Pháp người ta chỉ bắt gặp những mẫu người mộc mạc giản dị.

      Thơ văn kháng chiến Thanh Hóa (1946-1954) được viết lên bằng "Máu thịt của mình tung ra giữa thời hoạt động; trong sự sống ngang tàng chăm chỉ không ngừng một phút" (Trần Mai Ninh).

       Lối thơ ấy vừa có nét tự do phóng khoáng vừa nghiêm ngặt tiếp nối trong một hơi thở cuồn cuộn sức sống khi vượt lên khi nén chặt khi vỡ òa và đúng là của những con người đang hành động khẩn trương giữa những ngày hừng hực lửa cách mạng và kháng chiến. Đây là những tiếng nói thơ ca Tự do đầu tiên nên dễ khát khao sục sôi vì thế thơ chống Pháp Thanh Hóa vừa tràn đầy cảm hứng lãng mạn vừa tươi mới song lại cũng hết sức đời thường.

      Lối thể hiện quen thuộc của thơ kháng chiến Thanh Hóa là những câu thơ tự do tuôn chảy ào ạt có vẻ chú trọng đến nhịp nhiều hơn vần cho nên có lúc nó gập ghềnh đứt nối có khi lại mạnh mẽ dồn dập đầy nét tráng ca có cả những lúc trữ tình song ít hào hoa thường gắn với giọng của ca dao. Những hình ảnh chất liệu dân dã song vẫn có nét riêng biệt. Thật tiếc! Sự khai phá này ở Trần Mai Ninh (Nhớ máu Tình sông núi) ở Hồng Nguyên (Nhớ) ở Thôi Hữu (Lên Cấm Sơn) ở Hữu Loan (Đèo Cả Màu tím hoa sim)... chỉ mới tạo thành công ở từng bài mà chưa tạo thành một giọng riêng một phong cách. Có thể đây là những cơ sở ban đầu để sau này một nhà thơ tài danh khác - Nguyễn Đình Thi thành công hơn chăng?

      "Văn học là một phương tiện thích hợp nhất cho sự truyền bá tư tưởng. Thời kỳ kháng chiến yêu cầu các nhà văn những lời tin tưởng bạo dạn cương quyết để cám dỗ để an ủi để hướng dẫn các năng lực của dân tộc trên con đường tranh đấu".

      "Mục đích của văn học quyết định sự lựa chọn thể văn. Nhà văn vận dụng hết mọi hình thức văn nghệ bất cần là mới hay cũ kịch cổ kịch mới kịch thơ thơ luật thơ mới ca dao hát nói kể truyện truyện dài truyện ngắn... Viết gì cũng được. Miễn là dân chúng thích và hiểu".

      Đây là những chỉ đạo của Chủ tịch Hội Văn hóa kháng chiến khu Bốn Hội trưởng Hội Văn hóa Việt Nam Đặng Thai Mai năm 1947 (Kháng chiến và văn hóa - Đặng Thai Mai). Các nhà văn Thanh Hóa thời ấy đã lĩnh hội được điều đó và góp phần để hình thành một nền văn hóa kháng chiến Việt Nam

      Nói đến văn học kháng chiến 1945-1954 ở Thanh Hóa mà không nói đến một phong trào sáng tác quần chúng thì đó là một thiếu sót lớn. Văn học dân gian nói riêng folklore nói chung cũng như mọi hiện tượng lịch sử khác đều có sự vận động riêng của nó trên hai bình diện không gian và thời gian. Mỗi một thời kỳ đất nước bước vào cuộc đấu tranh mới folklore Việt Nam với văn học dân gian giữ vai trò xung kích đã có những đóng góp đặc sắc. Văn học dân gian Thanh Hóa sau Cách mạng tháng tám đã có những bước phát triển đáng chú ý thể hiện đậm yếu tố đại chúng và dân tộc trong đó hai thể loại là chuyện đồn đại (giai thoại) và ca dao là phổ biến hơn cả.

      Sinh hoạt kể chuyện khá phong phú đã được nhà thơ Hồng Nguyên nhắc trong những vần thơ quen thuộc:

...Tôi nhớ

Giường kê cánh cửa

Bếp lửa khoai vùi

Đồng chí nứ vui vui

Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ

Đồng chí mô nhớ nữa

Kể chuyện Bình Trị Thiên

Cho bầy tui nghe ví..

                       (Nhớ - Hồng Nguyên)

      Nhưng hiện tượng đáng ghi nhớ nhất là sự xuất hiện của ca dao kháng chiến mà đặc biệt là ca dao dân công. Ca dao hiện đại xuất hiện lưu truyền và bảo tồn vừa bằng truyền miệng vừa được cho in ấn xuất bản trên báo chí sách vở và có cả tên tác giả rõ ràng. Tuy thế không phải là ca dao nào đăng báo in sách cũng có thể trở nên quen thuộc với quần chúng mà chỉ có tác phẩm nào ý vị nhất phù hợp với cảm nhận cảm hứng của dân gian mới có thể sống và lưu truyền. Ca dao dân công Thanh Hóa trước hết tồn tại trong cái không gian thời gian cụ thể của thời đó. (Mãi sau này 1976 Ty Văn hóa Thanh Hóa mới phát hành tập Ca dao Thanh Hóa 1945-1975 của các tác giả Hoàng Khôi và Lê Huy Trâm biên soạn).

       Ca dao dân công Thanh Hóa đã góp cho văn học hai hình ảnh mang nét riêng đặc trưng. Đó là hình ảnh về đôi bồ gánh gạo và xe thồ - hình ảnh thuyền nan vận tải cũng là một hình ảnh mới được tiếp nối trong ca dao dân công nhưng đó là vào thời chống Mỹ.

      Đôi bồ gánh gạo là dấu ấn về một thời tải lương tiếp vận chống Pháp:

Mồng một vác cuốc tăng gia

Mồng hai đan bịch mồng ba lên đường

Mồng bốn em đi tải lương

Mồng năm đã đến chiến trường khu Ba

      Bồ sọt đan bằng nứa bằng giang là những nguyên liệu rất phổ biến của vùng rừng Thanh Hóa. Bồ được đan bằng tay theo phương pháp thủ công có thể to nhỏ tùy ý phù hợp với sức mang của từng lứa tuổi hạng người. Nghề đan bồ cũng không khó nhiều người mù lòa cũng có thể đan bồ Với đôi bồ người ta thấy khá rõ những đóng góp âm thầm và vô danh của rất nhiều lớp người Thanh Hóa

Anh mù nhưng dạ chẳng mù

Vót tre chẻ nứa đan bồ dân công

Gửi vào đây cả tấm lòng

Kháng chiến chống Pháp thành công hẹn ngày.

       Hoặc:

Trèo lên dốc núi Na Mèo

Đôi bồ gánh nặng cheo leo lưng đồi

áo người ướt đẫm mồ hôi

Bước chân vẫn dẻo hò vui vẫn đều.

      Hình ảnh xe thồ vận tải lại mang một vẻ đẹp khỏe khoắn mạnh mẽ. Xe thồ không chỉ giải phóng đôi vai mà còn nâng khả năng chuyên chở lên gấp nhiều lần so với gánh vác. Xe thồ Thanh Hóa phục vụ chiến dịch Điện Biên đã đạt kỷ lục trên ba tạ hàng cho một xe - đến kháng chiến chống Mỹ thì nhiều chiến sĩ đã đạt tới mức thồ bốn tạ bảy (470 ki lô gam). Người chiến sĩ xe thồ phải lao động vất vả song nhiều khi họ cũng có những gặp gỡ lãng mạn phóng khoáng. Khi đã giải phóng hàng đi xe không trên những lối mòn trong rừng sâu trong đêm tối họ thắp những chiếc đèn dầu tự tạo không cần bóng đèn chỉ đặt một phiến lá cây phía sau cứ thế mà phóng đèn không tắt vì không bị gió lùa. Trên những chặng núi đồi chập trùng đó cũng là một hình ảnh đẹp.

Tối trời thì có ánh sao

Dốc thì mặc dốc đèo cao mặc đèo

Mau lên hỡi bạn xe thồ

Đường đi rầm rập vui mô vui bằng

Qua rừng qua núi băng băng

Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù.

Đùng đùng gió giục mây vần

Phò Lào Dốc Mướp xa gần quản chi

Cánh bằng tiện gió vừa khi

Trai anh hùng xe đạp gái nữ nhi đôi bồ

      Với ca dao dân công Thanh Hóa người ta không chỉ sống lại một thời kháng chiến oanh liệt mà còn thấy những đóng góp lớn lao vô tận và cũng rất vô danh của người dân xứ Thanh. Ta còn thấy cả những vẻ đẹp tâm hồn thấy sức sống của một thể loại văn học dân gian vẫn trường tồn xung mãn - Có lẽ những câu ca như thế này phải được xem là những câu hay nhất của ca dao hiện đại:

Trúc với tre về khe đổi gánh

Em đổi cho chàng đến Sánh thì thôi

Giờ đây chiến dịch thắng rồi

Trúc tre lại được về xuôi một chiều

Yêu anh đã quyết thì theo

Xuống Thạc em cũng xuống về Neo cũng về

      Hoặc:

Đường lên Hịch Hạ cheo leo

Có đi dốc Cún bản Phèo cùng anh

Về đây có núi non xanh

Có đoàn tiếp vận nấu canh măng rừng

Đêm khuya đuốc sáng suối Pưng

Sáng dài eo Đỏ sáng trưng sông Luồng

Bài ca Khặp Thái ai buông

Dân công tiếp vận gánh lương diệt thù.

      Văn học dân gian Thanh Hóa nuôi dưỡng tinh thần người dân xứ Thanh góp phần trong công cuộc kháng chiến nước nhà ảnh hưởng của nó thật rộng rãi. Các nhà thơ Thanh Hóa thủa ấy có được thành công như Trần Mai Ninh Hồng Nguyên Thôi Hữu Hữu Loan Minh Hiệu Hà Khang... chính một phần nhờ bắt gặp nguồn mạch này.

     Mười năm văn hóa kháng chiến chống Pháp Thanh Hóa đã được khẳng định bằng những thành tựu Thơ (cả văn học viết lẫn văn học dân gian).

     Mười năm văn học kháng chiến chống Pháp Thanh Hóa đã đóng góp cho văn học Việt Nam những tác giả và tác phẩm xứng đáng. (ở cuối giai đoạn kháng chiến còn xuất hiện Cầm Giang - tức Bạc Văn ùi Cầm Vĩnh Ui - theo phát hiện của Cao Sơn Hải - với một giọng thơ mộc mạc đáng yêu đầy chất Tây Bắc nữa).

Mười năm một giai đoạn văn học ở Thanh Hóa đã có không khí toàn quốc và địa phương có chất lượng cao ý nghĩa lớn. Đó là một khuôn dạng riêng và đóng góp không nhỏ.

                                                                               5-2008

                                                                                 H.K

More...

Tác phẩm và dư luận

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 

 

Ký và truyện ngắn của Nguyễn Văn Đệ

 

                                                               
                                                               Hỏa Diệu Thuý


      Sinh năm 1954 tại xã Ngư Lộc một vùng ven biển thuộc huyện Hậu Lộc nơi ấy từng "nổi danh" cả nước bởi là nạn nhân của những thảm hoạ do bão lũ gây ra. Trước khi trở thành "sinh viên" của trường viết Nguyễn Du để rồi trở thành nhà văn như bây giờ Nguyễn Văn Đệ đã được trải nghiệm ở hai môi trường đặc biệt: Là lính sư đoàn 308 của mặt trận Bình Trị Thiên khói lửa và đã từng là "ngư phủ" thực thụ. Đất Ngư Lộc biển ngay trước thềm nhà. Trẻ con ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời đã được hít thở những luồng gió mang theo vị mặn của biển. Phần lớn dân ở đây sống bằng nghề biển chín mười tuổi đứa bé trai đã theo cha ra khơi vào lộng. Với Nguyễn Văn Đệ biển đã nuôi lớn thể xác và chắp cánh tâm hồn văn chương. Dễ hiểu vì sao vừa rời quân ngũ chàng trai ấy đến thẳng trường viết Nguyễn Du.

         1. Từ những bài ký được giải

         Trong số những cây bút viết ký của Xứ Thanh Nguyễn Văn Đệ nổi lên với năm lần đoạt giải (một giải nhất hai giải nhì và hai giải ba) do tuần báo Văn nghệ và Đài tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức. Phần lớn những bài ký của Nguyễn Văn Đệ đều lấy đề tài và cảm hứng từ đất Ngư Lộc Hậu Lộc quê hương anh. Điều thú vị là hai trong số năm bài ký đạt giải ra đời ngay từ khi còn là chàng "ngư phủ" nghĩa là có trước khi anh được đào luyện ở trường viết Nguyễn Du. Hóa ra văn chương đối với Nguyễn Văn Đệ như một thứ tiền định. Hai bài ký được giải đã bắc cầu cho anh đến với nghiệp văn.

        Nguyễn Tuân bậc thầy về thể ký ở nước ta đã có lần phát biểu: "Tôi không đồng tình với một cách nghĩ cho rằng ký là thể loại "đàn em" và sự phát triển của nhà văn là đi qua ký để lên truyện là thể loại "đàn anh". Vì ký và truyện là hai cái khác nhau mỗi cái có yêu cầu đặc điểm giá trị riêng (...) Đứng trước văn học các thể loại đều bình đẳng. Viết cho đúng hay giỏi sâu sắc thì thể loại nào cũng có giá trị" (Dẫn theo Truyện và ký nhiều tác giả NXB Thanh niên tr 203).

        ở một mức độ nào đó có thể nói Nguyễn Văn Đệ đã chiếm lĩnh được thể loại ký. Đọc ký của anh thấy rất có "không khí". Trước hết là cái "không khí" của hiện thực cuộc sống ùa vào. Đúng là "ùa vào" bởi hiện thực ấy còn giữ nguyên vẻ ồn ào bề bộn sinh động. Sau nữa là "không khí" từ một tinh thần thái độ đầy trách nhiệm và nhiệt huyết trước những vấn đề phản ánh.

        Bãi cá giữa vụ cá Vàng dưới biển xanh Một chuyến đi biển... thực sự là những bài ca về biển và công việc đánh bắt cá trên biển. Đọc những bài ký này không dấu nổi sự thích thú tác giả đã dắt người đọc ra biển được ưỡn căng lồng ngực mà sung sướng hít thở không khí trong lành phóng tầm mắt ra bốn bề ngút ngát chỉ thấy nước nối với trời. Đặc biệt được chứng kiến những cảnh đánh bắt cá ngoạn mục mà đến trong mơ cũng không thể tưởng tượng nổi. Đây hãy chứng kiến cảnh thú vị này: "... Những con cá đi đầu đã nổi lên mặt nước. Và bỗng nhiên một con cá cái có cái bụng rất to đầy trứng trớn lên trên ngọn sóng nhỏ mình ngửa ra trắng hếu. Một con cá đực thân thon dài trườn theo té tắt thô bạo trên mình con cá cái lẳng lơ kia. Tiếp đó một loạt những con cá tơ khác phóng theo. Và đội hình của tía cá đã trở nên mất trật tự...". Một bức ảnh hi hữu chụp cận cảnh hay một bức ký họa tài hoa. Có lẽ tác giả của nó phải thật kỳ công lắm tốn nhiều thời gian công sức để mai phục nghĩa là phải đi "thực" và sống "thực" mới có cơ hội chớp bắt được những giây phút hiếm có này của cuộc sống. Còn đây là hình ảnh người thuyền trưởng tàu đánh cá thật giống với hình ảnh một viên tướng lão luyện và tài hoa trong một trận bủa vây chắc đánh chắc thắng: "Ông Nhụ tay lăm lăm tù và mắt dán chặt vào tía cá bàn chân ông khẽ đẩy tay lái. Mũi tàu lách ngang làn sóng nhỏ tiến lên trước tía cá. Và đột nhiên mũi tàu quay ngoắt trở lại áp sát tía cá. Bàn tay của ông Nhụ nãy giờ vẫn chĩa ra phía trước chợt giơ cao lên và chặt mạnh xuống như một thanh kiếm: - Đánh".

        Đọc những dòng văn trên thấy thêm yêu đất nước và con người mình. Biển kia "vàng xanh đấy". Những con người vẫn được gọi là ăn sóng nói gió bộc trực đến thô nhám gồ ghề nhưng họ thật cừ khôi và dũng cảm trong chinh phục biển khơi. Họ chính là những chủ nhân thực sự của biển cả.

Song cuộc sống đâu chỉ có những bài ca. Nó còn chứa đầy những bất trắc những nghịch cảnh. Người cầm bút chân chính không chỉ biết chiêm ngưỡng và ngợi ca vẻ đẹp cuộc sống mà còn phải biết tranh đấu với cái ác cái xấu góp phần cho cuộc sống trở nên đẹp hơn nhân ái hơn. Tuy nhiên viết về mặt trái luôn là thách thức đối với mỗi ngòi bút. Mặt trái đồng nghĩa với tiêu cực cái xấu cái ác. Nó nấp trong bóng tối và luôn trá hình vì vậy không dễ nhận diện. Tấn công lực lượng này là tự chuốc lấy rắc rối nhiều khi phải chịu thiệt thòi lo gic tất yếu là: viết về những chuyện tiêu cực đòi hỏi bản lĩnh của người cầm bút. Ký của Nguyễn Văn Đệ không chỉ tấu lên những giai điệu nồng nhiệt ngợi ca cái đẹp của cuộc sống mà còn bộc lộ nỗi đau nỗi nhức nhối trước những góc khuất đen tối của hiện thực. Đây là lời chê trách của người dân hay cũng là một sự thú nhận chua xót: "Ông nhà báo hèn quá vấn đề đánh cá xa bờ của Thanh Hoá "nổi cộm" kém gì vụ án 135 ở Mường Tè mà ông cứ im re thế". Hoặc: "Này các ông nhà báo ở tỉnh hình như chỉ giỏi ca ngợi suông giỏi bôi hồng còn những vấn đề nhức nhối trong đời sống thực thì họ lại né tránh". Tuy nhiên để thú nhận cái "hèn" này quả không dễ đó là bản lĩnh. Dấu hiệu thức tỉnh này có thể ví với đám mây màu chì chuẩn bị cho cơn giông lớn. Và một khi nhà văn đã xác định vào cuộc thì họ cũng thật dũng mãnh. Những bài ký Tiền Chùa Đảng viên làng tôi thực sự là những ngọn roi quất mạnh vào tệ quan liêu thói cửa quyền nạn tham nhũng lợi dụng chức quyền... Những sự thật được phanh phui trong bài ký Tiền chùa đến nay đâu phải hết tính thời sự. Ngay bây giờ đọc lại những dòng này người ta không khỏi sửng sốt trước một hiện thực u ám. Mượn con mắt và tiếng nói nhân dân nhà văn đã giúp người đọc nhận ra một góc chân tướng của nạn lợi dụng chức quyền móc ngoặc với bọn cơ hội rút ruột nhà nước tàn phá lòng tin của nhân dân đối với chính sách của Đảng Chính Phủ. Đây là "hiện thực" về một dự án nhân đạo của nhà nước giúp dân "xoá đói giảm nghèo".

        Đây là "hiện thực" vay vốn: - "Không một người dân giỏi giang nghề biển nào vay được tiền của nhà nước để sắm tàu lớn. Số tiền hơn trăm tỷ của chương trình đánh bắt xa bờ hầu hết đều lọt vào tay những con buôn ranh mãnh hoặc những kẻ cơ hội" - "Nhà nước lại ném tiền qua cửa sổ rồi"; - "Đúng là toát mồ hôi tất cả những người muốn được duyệt dự án đều phải chạy cửa sau. Mỗi dự án phải đi trước hàng trăm triệu".

Còn đây là "hiện thực" đóng tàu để đánh bắt xa bờ: -"Họ đưa cho chúng tôi tờ giấy in sẵn rằng đề nghị đóng tàu chỗ này mua máy chỗ kia giá như thế như thế. Không nghe thì những người có quyền hành nắm giữ dự án thì biết làm thế nào. Rốt cuộc râu ông nọ cắm cằm bà kia tàu máy lưới chài mua sắm theo sự chỉ dẫn của họ chẳng ra gì"; -"Đội tàu ấy độ lớn độ bền và trang bị cũng bằng đội tàu của tôi nhưng đóng bằng tiền nhà nước nên hết gần hai tỷ đấy. Tiền chùa mà lị" (thực tế người dân tự đóng chỉ hết tám trăm triệu đóng bằng "tiền chùa" giá tăng lên gấp ba).

          Và kết cục:" Mấy chiếc tàu xa bờ của chúng tôi như một gánh nặng cho xã tàu đóng xong mà không sản xuất được (...) tàu với máy kiến thiết không hợp lý nên không ra khơi được"; "Thật xót cho tiền nhà nước chiếc tàu hàng tỷ trở thành cái nhà xí lưu động"; - "Chúng tôi phải bán tháo rồi anh ạ lâu nó thành củi mục mất mà bán với giá một nửa khi sắm thôi mà".

Những bài ký đầy tính chiến đấu như thế này đến nay đâu phải hết tính thời sự. Một khi cuộc sống vẫn còn những bóng đen cái ác vẫn còn lẩn khuất thì vinh dự thay những ngòi bút đã góp phần đem lại sự công bằng xã hội sự thanh sạch bình yên cho những giá trị cuộc sống.

         2. Đến truyện ngắn và tiểu thuyết

       Thời gian gần đây hình như Nguyễn Văn Đệ đang tập trung bút lực cho truyện ngắn và tiểu thuết. Hàng chục truyện ngắn và tiểu thuết Người thay thế (1990) đã ra mắt độc giả tiểu thuyết Hồn biển cũng sắp ra mắt chứng tỏ cây bút này vẫn đang cần mẫn cày ải trên cánh đồng văn.

      Không khó để nhận ra điểm mạnh và điểm yếu của ngòi bút Nguyễn Văn Đệ trong những thể loại đòi hỏi hư cấu tưởng tượng. Khi cây bút này viết về những gì mắt thấy tai nghe thì rất linh hoạt và còn duyên dáng nữa nhưng khi viết những gì cần gia công sự tưởng tượng nghĩa là cần hư cấu thì tác gải lại tỏ ra lúng túng ngượng ngập. Và thế là người đọc nhận ngay ra là anh ta đang "bịa" kiểu "bịa" một cách vụng về của một người không quen "bịa". Những năm gần đây đời sống văn học nước nhà đang du nhập để tìm cách hoà nhập với văn học thế giới. Bạn đọc Việt Nam đang được gặp gỡ làm quen với những thủ pháp của cái gọi là trường phái "Hậu hiện đại". ở đấy những gì thuộc về truyền thống đều bị phá vỡ để tạo ra những đối lập những phi lý. Song vấn đề không đơn giản là cứ phi lý cứ phi truyền thống thì sẽ là "hậu hiện đại". Tôi không nghĩ Nguyễn Văn Đệ muốn "hậu hiện đại" trong truyện ngắn Khát vọng song cái cách tác giả tập trung cho tư tưởng mà quên đi logic biện chứng của quy luật khiến truyện ngắn này có cái gì đó khiên cưỡng sống sượng.

      Hình như ngòi bút Nguyễn Văn Đệ "nhuyễn" hơn ở những truyện khai thác trực tiếp vốn sống đã trải nghiệm: Chuyện ở làng Ngư Thượng Bạn chiến đấu và bạn... Gió mùa đông bắc... sinh động và có hồn. Trừ những đoạn lang thang dài dòng những truyện này đều có "tứ truyện" khác sắc sảo và xúc động. Đó là những "tứ truyện" đầy tính nhân văn nhân ái về con người. Tôi muốn dừng để nói về truyện ngắn Chị em sinh đôi vừa đạt giải ba cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Xứ Thanh tổ chức (2006- 2007). Có thể coi đây là truyện ngắn "đẹp" của Nguyễn Văn Đệ. Truyện ngắn gọn và khá chặt chẽ trong cấu tứ sâu sắc và nhân văn trong ý tưởng lời văn khoáng hoạt. Đến truyện ngắn này cứ hình dung dường như tác giả đã ở độ chín đủ khả năng để gọt rũa làm cho sản phẩm của mình trở nên sắc nét tinh thông và quyến rũ. Không biết nói như vật có quá không song thật vui khi nhận ra cây bút ấy đang vững vàng hơn trong sự trưởng thành. Hy vọng đó sẽ là dấu hiệu của mùa gặp hái.


                                                        Thanh Hoá tháng 5- 2008

                                                                       H.D.T

More...

Văn học nước ngoài

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Hebert Wells

(Anh)

Những con vi khuẩn bị đánh cắp



      Truyện ngắn

      Một người trẻ tuổi đang đến thăm một nhà vi khuẩn học. Anh ta đem theo một lá thư giới thiệu từ một người bạn già của vị chuyên gia. Mặt anh ta xanh xao với đôi mắt xám sâu thẳm thái độ bồn chồn với sự quan tâm nồng nhiệt về vi khuẩn học của anh ta tạo cho vị chuyên gia một ấn tượng tốt. Do thế vị chuyên gia lừng danh lấy làm vui lòng đưa anh ta đi xem phòng thí nghiệm của mình.

     "Đây là..." vị chuyên gia vừa nói vừa đẩy một cái ly trượt tới một ống kính hiển vi. "Một mẫu của loại trực khuẩn hình que nổi tiếng của bệnh thổ tả - vi khuẩn thổ tả".

     Người khách mặt tái nhìn vào kính hiển vi. Rõ ràng anh ta chưa quen với loại công việc này và để một bàn tay trắng trẻo mập mạp che kín một con mắt.

     "Tôi nhìn thấy rất ít" Anh ta nói.

     "Hãy chạm vào nút vặn" vị chuyên gia nói "Có lẽ ống kính đặt sai tiêu chuẩn với anh"

     "Bây giờ tôi thấy rồi" vị khách nói "Không nhiều lắm nhưng cuối cùng cũng nhìn thấy. Chúng rất nhỏ bé. Và dù vậy những con vi khuẩn nhỏ xíu này có thể nhân bội lên và giết hết dân cư của bất cứ thành phố lớn nào! Tuyệt vời!".

Anh ta đứng lên. Đoạn anh ta đẩy cái ly khỏi ống kính hiển vi và cầm nó trong tay hướng về phía cửa sổ. "Chỉ có thể nhìn thấy chúng bằng cách căng mắt ra bởi vì chúng quá nhỏ bé mà" anh ta vừa nói vừa nhìn mẫu chuẩn. "Những thứ này còn sống không vậy? Lúc này chúng có nguy hiểm không?"

"Không chúng không nguy hiểm đâu" vị chuyên gia nói "Chúng đã bị giết chết rồi. Tôi ao ước sao chúng ta có thể giết được tất cả bọn chúng trên toàn thế giới."

     "Tôi đoán rằng" người mặt tái nói với một nụ cười nhẹ "ông không thích có những thứ này ở quanh ông trong cuộc sống - trong điều kiện sinh hoạt phải không?"

     "Ngược lại là khác chúng tôi còn mang ơn nữa" vị chuyên gia nói "Đây là vi khuẩn còn sống. Đấy là một cuộc nuôi dưỡng vi khuẩn thổ tả sống".

Một vẻ hài lòng xuất hiện trên gương mặt người trẻ tuổi mặt tái. Vị chuyên gia ngạc nhiên nhìn thấy vẻ mãn nguyện trong cặp mắt vị khách. Nắm ống nghiệm trên tay ông ưu tư nói. "Phải đây là mối nguy hiểm lớn đã bị giam cầm lại". Ông nói "Chỉ cần làm vỡ một cái ống nhỏ như vầy xuống nguồn nước uống và những sinh vật nhỏ li ti vốn rất khó nhìn thấy qua ống kính hiển vi sẽ phát triển tăng gia và nhân bội lên trong nguồn nước. Sau đó thì cái chết - chết nhanh chóng và tàn khốc cái chết đầy đau đớn sẽ tràn ngập xuống thành phố. ở đó sẽ có tước đoạt người chồng ra khỏi người vợ đứa con ra khỏi người mẹ nhà chính khách ra khỏi công việc và công nhân ra khỏi việc làm. Cái chết sẽ đến từng ngôi nhà một tiêu diệt những người không đun sôi nước uống cái chết sẽ chờ sẵn những con ngựa trên những dòng sông và trẻ em uống nước trong vòi nước công cộng. Cái chết sẽ xuất hiện ở mọi nơi và ở một ngàn chỗ bất ngờ nhất". Ông bỗng dừng lại. Đoạn sau một thoáng im lặng ông nói tiếp "Nhưng ở đây thì nó an toàn anh thấy đấy... rất an toàn!"

Người mặt tái gật đầu. Mắt anh ta sáng lên."Bọn vô chính phủ kia" anh nói "là bọn ngu ngốc thậm tệ - sử dụng bom trong khi hiện có loại này!".

Thình lình nghe thấy có một tiếng gõ ở ngoài cửa ra vào. Nhà vi khuẩn học mở cửa ra. "Chỉ một phút thôi anh yêu" vợ ông thầm thì.

     Khi vị chuyên gia quay lại phòng thí nghiệm thì vị khách đang nhìn đồng hồ đeo tay. "Tôi không biết là tôi đã làm lãng phí thì giờ của ông đến một tiếng đồng hồ" anh ta nói "Bốn giờ kém hai mươi. Tôi nên rời đây lúc ba giờ rưỡi mới phải. Nhưng vì vi khuẩn của ông thì rất thú vị - tôi lấy làm tiếc là tôi không thể ở lại thêm phút nào nữa. Tôi có một cuộc hẹn vào lúc bốn giờ". Anh ta cảm ơn vị chuyên gia và ra khỏi căn phòng. Nhà vi khuẩn học theo anh ta ra tới cửa đoạn trầm tư quay lại dọc theo hàng lang dẫn đến phòng thí nghiệm. Ông nghĩ về vị khách của mình."Một anh chàng kỳ lạ". Ông tự nhủ "Tại sao anh ta lại quá quan tâm đến mẫu vi khuẩn thổ tả vậy nhỉ?". Bỗng chốc ông chợt nẩy lên một ý nghĩ lo lắng. Ông vội vã quay lại bàn viết của mình. Đoạn ông gấp rút sờ soạn các túi áo rồi đâm bổ ra cửa. "Có lẽ mình đã đặt nó xuống cái bàn ở ngoài đại sảnh". Ông nói "Minnie" trong đại sảnh ông kêu lên. "ừ anh yêu" giọng vợ ông vang lên.

     "Khi anh nói chuyện với em lúc đó có cái gì trong tay anh không vậy?"

     "Không gì hết anh ạ bởi vì em nhớ mà".

     "Dịch xanh!" nhà vi khuẩn học kêu lên chạy ra cửa và chạy xuống các bậc cấp nhà ông ngoài đường. Minnie nghe thấy tiếng đóng cửa rầm rầm lo sợ chạy tới cửa sổ. Phía dưới đường một người trẻ tuổi đang leo vào một chiếc tác xi. Nhà vi khuẩn học đầu không đội mũ và trong đôi giày vải đang chạy và hoa tay múa chân một cách man dại về phía ấy. Một chiếc giày vải sút ra nhưng ông không dừng lại để xỏ nó vào.

     "Anh ấy điên rồi" Minnie nói "Thật là một quang cảnh kinh khủng của anh ấy!".

     Bà mở toang cửa định gọi theo chồng. Người trẻ tuổi thình lình liếc quanh dường như cũng có vẻ điên khùng. Anh ta gấp gáp chỉ về phía nhà vi khuẩn học và nói đều gì đó với người tài xế tắc xi. Trong một khoảnh khắc chiếc tắc xi và nhà vi khuẩn học cùng chạy cho đến khi chiếc xe biến mất vào một khúc quanh. Minie ở lại bên cửa sổ một hay hai phút. Bà không thể hiểu được chuyện gì cả. "Dĩ nhiên anh ấy lập dị" bà nghĩ nhưng chạy quanh London trong đôi giày vải à?. Chợt một ý nghĩ vui vẻ đến với bà bà vội vã đội mũ lên đầu chộp lấy đôi giày của chồng để trên giá xuống chạy ra ngoài bậc cấp và gọi một chiếc tắc xi. "Chở tôi lên trên con đường này" bà nói với tài xế tắc xi và xem thử chúng ta có thể tìm ra được một nhà quí tộc trong áo vest vải nhung và không đội mũ hay không?".

     "áo vest vải nhung thưa bà và không đội mũ. Rất tốt thưa bà" người tài xế nói bằng giọng điệu phớt tỉnh như thể ông ta chạy theo địa chỉ này mỗi ngày trong đời mình vậy. Những người đi bộ dọc theo đường phố đều ngạc nhiên khi nhìn thấy ba chiếc tắc xi đang chạy vùn vụt nối tiếp nhau người trẻ tuổi trong chiếc đầu tiên đang nắm chắc một cái ống nghiệm nhỏ trong tay. Khuôn mặt anh ta trông tựa như một cái mặt nạ của sợ hãi và vui mừng. Anh ta sợ rằng sẽ bị bắt giữ trước khi anh ta có thể hoàn thành nhiệm vụ điên rồ của mình. Nhưng sự vui mừng của anh ta còn lớn hơn nỗi sợ hãi. Không một kẻ vô chính phủ nào trước anh ta đã từng làm việc như anh ta đang làm đập bể ống nghiệm chứa đựng sự hủy diệt của thành phố London vào trong nguồn nước. "Sau cùng thế giới sẽ nghe nói về ta" anh ta nghĩ. "Ta sẽ dạy cho những kẻ coi thường ta những kẻ luôn luôn nghĩ rằng ta là một kẻ không quan trọng. Chết chết chết cho tất cả bọn chúng nó!". Anh ta cảm thấy rất hãnh diện cho sự khéo léo của mình: anh ta đã hoạch định cho toàn thể vụ việc một cách thông minh làm sao: Giả mạo lá thư giới thiệu và lọt vào trong phòng thí nghiệm. Anh ta nhìn ra ngoài xe tắc xi. Nhà vi khuẩn học chỉ cách anh ta ba mươi mét về phía sau. Thật tệ "mình có thể bị bắt kịp và bị chặn lại" kẻ vô chính phủ nghĩ. Anh ta lục lọi trong túi áo tìm tiền và tìm được nửa đồng tiền vàng. Anh ta đặt nó trong lòng bàn tay xòe ra trước mặt người tài xế tắc xi. "Tôi sẽ cho anh nhiều hơn "anh ta la lên "chỉ khi nào chúng ta chạy thoát được".

      "Rất tốt" người tài xế tắc xi vừa nói vừa giật lấy đồng tiền khỏi tay anh ta

Anh ta rùng mình."ừm! Ta đoán rằng ta sẽ là người đầu tiên chết vì mẫu chuẩn. Và đó là một cái chết khủng khiếp. Ta không biết liệu có ghê gớm như người ta nói hay không?"

      Lập tức một ý nghĩ khác lại đến với anh ta. Anh ta nhìn vào cái ống trên sàn xe. Một đốm nhỏ vẫn còn sống sót trong phần cuối của ống nghiệm và anh ta uống cho nó chắc. Rồi thì hiện lên trong trí anh ta rằng không cần phải trốn lánh nhà vi khuẩn học nữa. Do đó anh ta bảo người tài xế tắc xi dừng xe lại và chui ra ngoài. Anh ta đứng trên vỉa hè hai tay vòng quanh ngực chờ đợi nhà vi khuẩn học đến nơi. Có điều gì đó bi thảm và trang nghiêm trong dáng vẻ của anh ta. Anh ta đón chào nhà vi khuẩn học bằng một tiếng cười.

      "Vô chính phủ vạn tuế! Ông đã đến trễ rồi! Tôi đã uống nó rồi ông bạn ạ!".

Từ trên xe nhà vi khuẩn học tò mò nhìn anh ta. Ông tính nói thêm điều gì đó nữa rồi tự nén lại. Một nụ cười hiện lên trên khóe miệng ông. Ông tính ra khỏi xe thì ông nhìn thấy kẻ vô chính phủ vẫy chào ông một cái chào tạm biệt đầy kịch tính đoạn đi bộ về phía cầu Weterloo. Trong khi nhìn theo anh ta nhà vi khuẩn học thoạt đầu không để ý đến vợ ông người xuất hiện trên vỉa hè với mũ giày và áo khoác của ông. Khi ông nhìn thấy bà ông không để lộ sự ngạc nhiên nào "ừ em mang những thứ này đến cho anh là rất tốt" ông nói với vợ mà vẫn nhìn theo hình bóng kẻ vô chính phủ đã đi xa. Minne cảm thấy chắc chắn rằng chồng mình đã bị điên.

     "Bận vào à? Chắc chắn rồi cưng". Ông nói trong khi chiếc xe tắc xi bắt đầu quay lại và che khuất cái bóng đen đang từ từ biến mất khỏi cặp mắt ông từ xa. Rồi thì một điều gì đó buồn cười bất chợt đến với ông và ông cười phá lên. Đoạn ông nhận xét "Việc này thực sự rất nghiêm trọng rất nghiêm trọng. Em thấy đấy người đàn ông này đến nhà để thăm anh. Anh ta là một kẻ vô chính phủ. Không đừng sợ hãi - bằng không anh sẽ không thể kể hết phần còn lại của câu chuyện. Không biết anh ta là một kẻ vô chính phủ anh muốn làm anh ta kinh ngạc. Do đó anh lấy lên một tiêu bản của loại vi khuẩn gây bệnh đốm xanh trên một số loài khỉ khác nhau. Anh không biết tại sao anh lại làm thế. Như một kẻ ngu ngốc anh nói đó là vi khuẩn thổ tả. Và anh ta chạy đi cùng với cái ống nghiệm đó để đầu độc nguồn nước của London. Sau đó anh ta nuốt nó. Dĩ nhiên anh không thể nói việc gì sẽ xảy ra nhưng em biết đấy cái tiêu bản ấy gây ra đốm xanh nhỏ và ba chấm xanh lốm đốm và mũi tên màu xanh. Và tệ hại hơn cả là anh phải chuẩn bị làm một tiêu bản khác nữa rồi đấy".

                                                                       Vĩnh Hiền (dịch)

More...