Nghị quyết của Bộ Chính trị

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Ngày 16 tháng 6 năm 2008 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh thay mặt Bộ Chính trị đã ký ban hành Nghị quyết số 23 - QĐ/TW về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới". Toàn văn Nghị quyết như sau:

                                        Nghị quyết

                                                  của Bộ Chính trị

                           về tiếp tục xây dựng và phát triển

                        văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới

    Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII) của Đảng ta đã nêu lên mục tiêu và những nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong đó văn học nghệ thuật là một bộ phận rất quan trọng.

Trong thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa chủ động và tích cực hội nhập quốc tế phấn đấu sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 văn học nghệ thuật nước nhà đứng trước những thời cơ vận hội lớn đồng thời cũng đứng trước những thách thức mới gay gắt.

Nhằm phát huy vai trò sứ mệnh cao quý của văn học nghệ thuật và của đội ngũ văn nghệ sĩ Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới.

     I. Tình hình văn học nghệ thuật thời gian qua

Thời gian qua (1998 - 2008) trong bối cảnh tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước trình độ dân trí của nhân dân ta từng bước được nâng cao nhu cầu văn hóa ngày càng phong phú đa dạng các phương tiện truyền bá ngày càng hiện đại văn học nghệ thuật Việt Nam có bước phát triển mới có những biến đổi sâu sắc những đặc điểm mới đạt được nhiều thành tựu nhưng cũng còn nhiều hạn chế yếu kém đan xen nhau.

1- Thành tựu

- Nhìn tổng thể văn học nghệ thuật đã nắm bắt được dòng mạch chính là chủ nghĩa yêu nước và nhân văn gắn bó với dân tộc nỗ lực phản ánh chân thật cuộc sống đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo của nhân dân có nhiều tác phẩm tốt trong tất cả các loại hình nghệ thuật từ văn học sân khấu điện ảnh âm nhạc mỹ thuật đến nhiếp ảnh múa kiến trúc... thể hiện qua những đề tài lịch sử chiến tranh cách mạng và những vấn đề thời sự của đất nước. Chủ nghĩa nhân văn phẩm chất nhân đạo được phát huy và đề cao. Văn học nghệ thuật đã cố gắng phát hiện khẳng định các nhân tố mới tham gia cuộc đấu tranh lên án cái xấu cái ác sự biến chất thoái hóa về nhân cách lối sống và đạo đức trong một bộ phận xã hội. Tự do trong sáng tạo nghệ thuật và sự đa dạng về nội dung phong cách sáng tác phương thức biểu hiện được tôn trọng; dấu ấn cá nhân cá tính sáng tạo được khẳng định. Lực lượng văn nghệ sĩ và văn nghệ các dân tộc thiểu số có bước phát triển. Công tác sưu tầm bảo tồn và phát huy di sản văn học nghệ thuật của các dân tộc đạt được những kết quả thiết thực. Sự xuất hiện lực lượng sáng tác trẻ với những khả năng sáng tạo và sự đa dạng về phong cách là dấu hiệu mới đáng trân trọng. Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển; nhiều câu lạc bộ văn học nghệ thuật ra đời góp phần cổ vũ động viên quần chúng sáng tạo khai thác truyền bá các giá trị nghệ thuật cổ truyền và thưởng thức văn học nghệ thuật nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân ở cơ sở.

- Công tác lý luận văn học nghệ thuật có bước đổi mới lý giải khoa học hơn quan hệ giữa văn học nghệ thuật với chính trị giữa hiện thực và nghệ thuật. Tư tưởng văn học nghệ thuật truyền thống của cha ông được quan tâm nghiên cứu. Các thành tựu văn học nghệ thuật thế kỷ XX được đánh giá lại thỏa đáng. Một số phương pháp nghiên cứu văn học nghệ thuật phi truyền thống được vận dụng bước đầu đem lại kết quả tốt. Phê bình văn học nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới có tác dụng tích cực đối với sáng tác phát hiện cái tốt ủng hộ cái mới tiến bộ trong hoạt động sáng tạo.

- Các phương tiện phương thức sản xuất trình diễn sử dụng truyền bá sản phẩm văn học nghệ thuật phát triển khá mạnh đã đưa được nhiều tác phẩm đến với công chúng góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân. Đã hình thành một thị trường hàng hóa và dịch vụ các sản phẩm văn học nghệ thuật ở trong nước; đưa các sản phẩm văn học nghệ thuật có chất lượng ra nước ngoài góp phần khẳng định nước ta là địa chỉ giao lưu văn hóa quốc tế trong thời kỳ mới.

- Đội ngũ văn nghệ sĩ được hình thành phát triển và rèn luyện trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc là lực lượng tin cậy trung thành của đất nước của Đảng và nhân dân có lòng yêu nước nồng nàn tự hào dân tộc tâm huyết với nghề nghiệp xứng đáng với danh hiệu cao quý nghệ sĩ - chiến sĩ là lực lượng nòng cốt trực tiếp tạo nên nền văn học nghệ thuật cách mạng của dân tộc trong thời kỳ mới. Hiện nay đội ngũ này gồm nhiều thế hệ nối tiếp và gắn bó với nhau. Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ kế cận có bước phát triển về quy mô loại hình mạng lưới. Đội ngũ giảng viên về văn học nghệ thuật được bổ sung trình độ được nâng cao có khả năng đào tạo hầu hết các ngành nghề trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Cơ sở vật chất kỹ thuật một số điều kiện đặc thù cho dạy và học từng bước được đầu tư nâng cấp.

- Tư duy lý luận và quan điểm của Đảng về văn học nghệ thuật tiếp tục đổi mới bổ sung phát triển góp phần cổ vũ khích lệ tạo niềm tin cho văn nghệ sĩ. Các cấp ủy đảng có nhiều cố gắng theo sát thực tiễn văn nghệ nâng cao năng lực lãnh đạo và tìm tòi các phương thức chỉ đạo phù hợp thiết thực.

Các cơ quan quản lý nhà nước đã cố gắng nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý chú trọng thể chế hóa tạo hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động văn học nghệ thuật; bước đầu xã hội hóa có kết quả một số hoạt động trong nhiều lĩnh vực.

Các hội văn học nghệ thuật từ trung ương đến địa phương tiếp tục giữ vững định hướng chính trị cố gắng tập hợp đoàn kết đội ngũ đẩy mạnh hoạt động sáng tạo.

      2 - Yếu kém khuyết điểm

So với yêu cầu phát triển đất nước và những định hướng được xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) hoạt động văn học nghệ thuật thời gian qua còn bộc lộ một số yếu kém khuyết điểm:

- Trong sáng tác biểu diễn truyền bá các tác phẩm văn học nghệ thuật còn không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính chất tiên tiến và bản sắc dân tộc. Số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song còn ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Trong một số tác phẩm lý tưởng xã hội - thẩm mỹ không rõ nét ý nghĩa xã hội còn hạn hẹp. Một số văn nghệ sĩ còn hạn chế trong tiếp cận và nhận thức những vấn đề mới của cuộc sống chưa cảm nhận đầy đủ ý nghĩa chiều sâu và tính phức tạp của quá trình chuyển biến mang tính lịch sử trong thời kỳ mới của đất nước. Có biểu hiện xa lánh những vấn đề lớn lao của đất nước chạy theo các đề tài nhỏ nhặt tầm thường chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng hạ thấp chức năng giáo dục nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí. Trong một số trường hợp có biểu hiện cực đoan chỉ tập trung tô đậm mặt đen tối tiêu cực của cuộc sống hiện tại thậm chí xuyên tạc bóp méo lịch sử hoặc bị các thế lực thù địch lôi kéo đã sáng tác và truyền bá các tác phẩm độc hại đi ngược lại với lợi ích của nhân dân và đất nước... Tình trạng nghiệp dư hóa các hoạt động văn học nghệ thuật chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên.

- Hoạt động lý luận văn học nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống còn xa rời thực tiễn sáng tác có biểu hiện xơ cứng kém năng động giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác - xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.

Hoạt động phê bình văn học nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu thực hiện chưa tốt chức năng hướng dẫn điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm; văn hóa phê bình bị hạ thấp...

- Một số sản phẩm văn học nghệ thuật tầm thường chất lượng kém được phát hành truyền bá gây tác hại ảnh hưởng xấu tới công chúng nhất là thế hệ trẻ. Một số đài truyền hình đã phát những chương trình ca nhạc phim không lành mạnh gây tác động tiêu cực đến tư tưởng thẩm mỹ của công chúng. Nhìn chung còn ít sản phẩm văn hóa đến được các vùng sâu vùng xa miền núi hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Số tác phẩm có giá trị của ta được giới thiệu ra nước ngoài còn hạn chế; trong khi đó một số sản phẩm không phù hợp với truyền thống đạo đức văn hóa của dân tộc thậm chí độc hại phản động của nước ngoài lại xâm nhập vào nước ta gây nên nhiều tác động tiêu cực.

- Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ còn nhiều bất cập yếu kém: chương trình nội dung lạc hậu; chất lượng đào tạo toàn diện về chính trị tư tưởng chuyên môn đạo đức thể chất không đảm bảo; chưa chú trọng đúng mức tính đặc thù chuyên biệt và yêu cầu đào tạo tài năng; không quan tâm gửi giảng viên sinh viên các ngành nghệ thuật đào tạo ở nước ngoài; đội ngũ giáo viên đầu đàn có trình độ chuyên môn cao bị thiếu hụt ngày càng nhiều; điều kiện và phương tiện phục vụ dạy và học vẫn còn nghèo nàn lạc hậu. Đội ngũ lý luận phê bình vừa thiếu vừa bị hụt hẫng thế hệ kế cận phân bố không đều ở các ngành nghệ thuật.

Năng lực lãnh đạo chỉ đạo quản lý của các cấp ủy đảng cơ quan nhà nước bộc lộ nhiều bất cập hạn chế; nội dung và phương thức lãnh đạo chậm đổi mới; chưa lường hết được tác động phức tạp tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường dẫn tới sự lúng túng thụ động khi định hướng và xử lý những vấn đề mới phát sinh. Việc thể chế hóa các nghị quyết quan điểm của Đảng còn chậm; một số cơ chế chính sách rất quan trọng được nêu trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đến nay vẫn chưa được cụ thể hóa để thực hiện. Nhiều chính sách đối với văn nghệ và văn nghệ sĩ đã lạc hậu nhưng chậm được sửa đổi. Thiếu định hướng và tiêu chí cụ thể cho việc chọn lọc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cũng như chọn lọc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trong thời gian qua còn nhiều bất cập có lúc không rõ tiêu chí thiếu định hướng. Chưa xây dựng được những công trình trung tâm lớn cho hoạt động văn hóa nghệ thuật tương xứng với vị thế của đất nước thời kỳ mới.

Một bộ phận cán bộ lãnh đạo tham mưu quản lý văn nghệ thiếu hiểu biết về văn học nghệ thuật ít học tập ngại tiếp xúc nên hiệu qủa lãnh đạo quản lý còn thấp có sự hẫng hụt đội ngũ này ở cả tầm vĩ mô và ở các đơn vị cơ sở.

Một số hội văn học nghệ thuật chậm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động lúng túng trong việc tập hợp và phát huy tiềm năng của đội ngũ xác lập các chuẩn mực đánh giá thẩm định tác phẩm. Đáng chú ý là thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chỉ đạo quản lý văn học nghệ thuật của Đảng Nhà nước với các Hội văn học nghệ thuật trong việc thực hiện đường lối chính sách phát triển văn học nghệ thuật của Đảng và Nhà nước.

Nguyên nhân của những bất cập yếu kém nêu trên có nhiều chủ yếu là những nguyên nhân chủ quan.

    Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng quản lý của Nhà nước về quan điểm chủ trương chính sách về đầu tư kinh phí ngân sách cho lĩnh vực văn học nghệ thuật chưa đúng tầm và đúng mức. Một số vấn đề cốt lõi và mới đặt ra trong lĩnh vực này chưa được lý giải thấu đáo thiếu thống nhất. Công tác tổng kết thực tiễn chưa theo kịp sự phát triển vì thế có lúc lúng túng thiếu những quyết sách cơ bản chủ động; có biểu hiện vừa buông lỏng hữu khuynh vừa áp đặt chủ quan thiếu tầm nhìn xa.

    Chủ trương tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa văn nghệ - nền tảng tinh thần của xã hội - chưa được quán triệt và thực hiện nghiêm túc. Một số cấp ủy chính quyền chưa coi trọng và thiếu hiểu biết đầy đủ vai trò tính đặc thù của văn học nghệ thuật chậm thể chế hóa quan điểm đường lối của Đảng. Đầu tư cho văn hóa văn nghệ chưa tương xứng với yêu cầu mới chưa hợp lý và kém hiệu quả.

    II - Mục tiêu quan điểm chỉ đạo chủ trương và giải pháp tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới.

Trong những năm tới văn học nghệ thuật Việt Nam đứng trước thời cơ lớn và những thách thức mới.

    Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đảng Nhà nước và nhân dân ta phải tiến hành một cuộc đấu tranh gian khổ và phức tạp giữa cái mới và cái cũ cái tiến bộ và cái lạc hậu giữa tốt và xấu cao thượng và thấp hèn... Hiện thực đó là mảnh đất giàu tiềm năng cho những tìm tòi sáng tạo của văn nghệ sĩ để tiếp tục xây đắp một nền văn học nghệ thuật ngày càng lớn mạnh với những tác giả tác phẩm có tầm vóc xứng đáng với dân tộc.

   Quá trình hội nhập quốc tế giao lưu văn hóa có khả năng tạo ra những biến đổi lớn về diện mạo đặc điểm loại hình văn nghệ nước nhà đồng thời sự bùng nổ của các phương tiện truyền bá sản phẩm văn nghệ của công nghệ giải trí cũng có thể tác động cả tích cực và tiêu cực đến đời sống và công chúng văn nghệ. Mặt khác các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu và thủ đoạn "diễn biến hòa bình" nhằm tạo ra sự diễn biến trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa đạo đức trong nội bộ ta.

    1. Mục tiêu

- Tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân thiện mỹ của các tầng lớp nhân dân; phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu "dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh" xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

- Xây dựng phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nam một cách toàn diện cả về số lượng chất lượng và cơ cấu loại hình có các thế hệ nối tiếp nhau vững chắc có tình yêu Tổ quốc nồng nàn gắn bó sâu sắc với nhân dân với sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo có năng lực sáng tạo phong phú đa dạng đoàn kết gắn bó cùng phát triển trong cộng đồng các dân tộc anh em trên đất nước ta.

- Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng quản lý của Nhà nước bảo đảm yêu cầu phát triển của lĩnh vực văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới.

    2. Quan điểm chỉ đạo.

Trên cơ sở tiếp tục quán triệt và thực hiện 5 quan điểm chỉ đạo chung đối với nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc được xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) riêng đối với lĩnh vực văn học nghệ thuật cần nhấn mạnh và bổ sung các quan điểm chỉ đạo sau đây:

- Văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng đặc biệt tinh tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân thiện mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.

- Văn học nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn dân chủ. Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao có tác dụng to lớn xây dựng con người; vừa có tác dụng định hướng vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa - tinh thần ngày càng cao của nhân dân. Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng đồng thời với tập trung xây dựng phát triển văn học nghệ thuật chuyên nghiệp. Trên cơ sở gìn giữ phát triển phát huy những giá trị của văn học nghệ thuật dân tộc tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn khoa học tiến bộ của nước ngoài đồng thời kiên quyết ngăn chặn làm thất bại âm mưu thủ đoạn áp đặt xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch.

- Tài năng văn học nghệ thuật là vốn quý của dân tộc. Chăm lo phát hiện bồi dưỡng quý trọng và phát huy các tài năng văn học nghệ thuật là trách nhiệm của toàn xã hội trước hết là của Đảng Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Tôn trọng bảo đảm quyền tự do sáng tạo tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sỹ. Văn nghệ sỹ người chiến sỹ xây dựng và phát triển nền văn nghệ tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc cần phát huy lòng yêu nước nồng nàn gắn bó máu thịt với nhân dân nêu cao trách nhiệm công dân sáng tạo nên nhiều tác phẩm có gía trị phụng sự đất nước và dân tộc.

    3. Chủ trương và các giải pháp

Trên cơ sở tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn học nghệ thuật đã được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) Bộ Chính trị xác định các chủ trương giải pháp lớn phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới:

- Tiếp tục đổi mới tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ đa dạng của văn học nghệ thuật về đề tài nội dung loại hình phương pháp sáng tác sự tìm tòi thể nghiệm nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học nghệ thuật nước nhà. Trên nền tảng mỹ học mác - xít tư tưởng Hồ Chí Minh khuyến khích văn nghệ sĩ bám sát thực tiễn của đất nước gắn bó với cuộc sống của nhân dân bảo vệ phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; lên án phê phán không khoan nhượng những tiêu cực xấu xa đang cản trở sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam.

- Tiếp tục đổi mới và nâng cao năng lực trình độ lãnh đạo của Đảng đối với văn học nghệ thuật; bồi dưỡng nâng cao nhận thức về vai trò vị trí đặc trưng của văn học nghệ thuật cho cán bộ đảng viên đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lý trong hệ thống chính trị cán bộ trực tiếp chỉ đạo quản lý lĩnh vực này; xây dựng và đưa vào chương trình đào tạo cán bộ thuộc các trường đảng nội dung về văn học nghệ thuật. Cấp ủy đảng và chính quyền các cấp phải đưa nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa văn học nghệ thuật vào quy hoạch kế hoạch phát triển của từng địa phương từng ngành. Xây dựng cơ chế lãnh đạo quản lý khoa học đảm bảo được định hướng chính trị; khắc phục được những hiện tượng mất dân chủ hoặc can thiệp thô bạo đối với hoạt động văn học nghệ thuật cũng như xu hướng thả nổi không phê phán những tác giả tác phẩm đi ngược lại các giá trị chân thiện mỹ những giá trị tốt đẹp của dân tộc và cách mạng. Cấp ủy đảng các cấp có kế hoạch định kỳ làm việc với lực lượng sáng tạo và hoạt động văn học nghệ thuật.

- Nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước về văn học nghệ thuật. Hoàn thành cơ bản việc thể chế hóa các quan điểm đường lối định hướng của Đảng về văn học nghệ thuật. Xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển dài hạn các lĩnh vực văn học nghệ thuật; rà soát bổ sung và xây dựng mới các chế độ chính sách đối với hoạt động văn học nghệ thuật như chế độ lương nhuận bút đãi ngộ tài năng bồi dưỡng lao động nghề nghiệp chế độ hưu. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả kế hoạch xã hội hóa các hoạt động văn học nghệ thuật làm rõ các lĩnh vực cần xã hội hóa lĩnh vực Nhà nước và nhân dân cùng làm lĩnh vực Nhà nước phải đầu tư bảo tồn xây dựng và phát triển. Tăng mức đầu tư cho văn học nghệ thuật; bảo đảm kinh phí cho các chương trình mục tiêu lớn cho hoạt động sáng tạo của các Hội văn học nghệ thuật xác định việc đầu tư này là đầu tư cho phát triển. Xây dựng đề án và cơ chế bảo tồn truyền bá các loại hình văn học nghệ thuật cổ truyền; có chính sách đặc biệt hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ chữ viết và văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Có kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình văn hóa nghệ thuật; nâng cấp cải tạo và xây mới một số nhà hát rạp chiếu phim trung tâm triển lãm văn học nghệ thuật có chất lượng cao tầm cỡ lớn tính chất hiện đại ở các thành phố trung tâm kinh tế chính trị văn hóa của đất nước.

    Các cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản bảo chí phát thanh truyền hình phối hợp chặt chẽ với các hội văn học nghệ thuật nhằm công bố giới thiệu quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật có chất lượng tốt định hướng thẩm mỹ cho công chúng.

- Tiếp tục nghiên cứu đổi mới phát triển lý luận văn học nghệ thuật. Kiên quyết khắc phục những yếu kém kéo dài của hoạt động phê bình văn học nghệ thuật nâng cao tính khoa học tính thuyết phục góp phần hướng dẫn điều chỉnh sáng tác phê bình văn nghệ. Đổi mới và nâng cao hiệu quả các hoạt động công bố giới thiệu truyền bá các sản phẩm tốt phục vụ đông đảo nhân dân ở mọi miền đất nước.

    Tổ chức nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học nghệ thuật của ông cha ta và của thế giới vận dụng sáng tạo làm phong phú lý luận văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại; tạo môi trường điều kiện thuận lợi cho mọi năng lực sáng tạo có cơ hội phát huy phát triển khích lệ những tìm tòi tôn trọng những ý kiến khác nhau về lý luận và phê bình văn nghệ vì lợi ích chung và sự phát triển lành mạnh của văn nghệ.

    Xây dựng cơ chế quản lý và chế tài ngăn chặn xử lý các hoạt động sáng tác truyền bá những sản phẩm văn học nghệ thuật có nội dung tư tưởng nghệ thuật thấp ảnh hưởng xấu tới xã hội; xây dựng các đạo luật điều chỉnh lĩnh vực văn học nghệ thuật trước mắt sửa đổi bổ sung Luật Báo chí Luật Xuất bản... có những chế tài nâng cao trách nhiệm trong việc thẩm định đánh giá quyết định công bố trình diễn truyền bá các tác phẩm đặc biệt trên hệ thống thông tin đại chúng phát thanh truyền hình dịch vụ biểu diễn nghệ thuật.

    Phối hợp tốt các lực lượng làm công tác văn hóa đối ngoại coi trọng xây dựng phát triển lực lượng dịch giả văn học nghệ thuật để nâng cao chất lượng hiệu quả của việc đưa các tác phẩm văn nghệ Việt Nam ra nước ngoài phục vụ đồng bào ta và bạn bè quốc tế. Xây dựng cơ chế thẩm định lựa chọn tác phẩm (cả sáng tác lý luận nghiên cứu phê bình) của nước ngoài đưa vào nước ta.

- Xây dựng và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ đáp ứng yêu cầu tiếp tục phát triển mạnh mẽ nền văn học nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ mới.

Nâng cao chất lượng các trường đào tạo văn học nghệ thuật; hoàn thiện chương trình nội dung giáo trình trong các trường cao đẳng đại học giảng dạy các ngành đào tạo văn học nghệ thuật (sáng tác nghiên cứu lý luận phê bình biểu diễn chỉ huy đạo diễn...); rà soát sửa đổi bổ sung các chế độ chính sách đối với công tác đào tạo bồi dưỡng văn nghệ sỹ đáp ứng yêu cầu đào tạo đặc thù trong lĩnh vực này. Có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng ở nước ngoài các năng khiếu tài năng văn học nghệ thuật. Xây dựng tiêu chuẩn và cơ chế lựa chọn bố trí cán bộ lãnh đạo quản lý tham mưu lĩnh vực văn học nghệ thuật có đủ năng lực trình độ và phẩm chất đảm đương công việc. Xây dựng và thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài ưu đãi văn nghệ sĩ có quá trình cống hiến có nhiều tác phẩm tốt ảnh hưởng tích cực trong xã hội.

- Củng cố đổi mới hoạt động của các hội văn học nghệ thuật ở trung ương và các địa phương nhằm nâng cao khả năng tập hợp động viên phát huy tiềm năng sáng tạo và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ của hội. Các Hội văn học nghệ thuật phải làm tốt vai trò tập hợp đoàn kết phát huy tính chủ động tích cực xã hội và tài năng sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ. Nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của các hội phù hợp với thời kỳ mới khuyến khích tìm tòi các phương thức hoạt động gắn chặt với thực tiễn cuộc sống. Nâng cao năng lực hiệu quả quản lý nhà nước trong việc thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ bảo vệ bản quyền tác giả văn học nghệ thuật.

    Chính phủ xây dựng nghị định về các Hội văn học nghệ thuật khẳng định các hội là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng sự quản lý của Nhà nước được đầu tư chăm lo cho sự phát triển. Nghiên cứu phương thức huy động các nguồn lực cho hoạt động của các hội theo hướng đa dạng hóa và việc sử dụng nguồn lực các hội một cách hợp lý tạo cơ hội cho ra đời các tác phẩm tốt. Xây dựng và đổi mới cơ chế chính sách chế tài điều chỉnh việc Nhà nước đặt hàng mua tác phẩm tổ chức sản xuất xuất bản công diễn trình chiếu triễn lãm tặng giải thưởng các tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật.

    Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của đảng đoàn các hội hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong các đơn vị hoạt động văn nghệ quan tâm bồi dưỡng kết nạp vào Đoàn vào Đảng những văn nghệ sĩ trẻ tuổi.

- Tăng cường các biện pháp xây dựng phát triển văn nghệ quần chúng hướng dẫn khuyến khích quần chúng tham gia sáng tạo bảo tồn truyền dạy và phát huy các giá trị văn hóa văn nghệ truyền thống của dân tộc.

     III - Tổ chức thực hiện

1 - Các tỉnh ủy thành ủy các ban đảng ban cán sự đảng đảng đoàn đảng ủy trực thuộc Trung ương tổ chức nghiên cứu học tập Nghị quyết xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết một cách thiết thực có hiệu quả.

2 - Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì:

- Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng văn bản hướng dẫn biên soạn tài liệu phục vụ triển khai Nghị quyết chỉ đạo công tác tuyên truyền sâu rộng các nội dung cơ bản của Nghị quyết phối hợp với các hội văn học nghệ thuật và Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch tổ chức nghiên cứu quán triệt cho đội ngũ văn nghệ sĩ.

- Cùng Ban cán sự Đảng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Bộ Nội vụ Bộ Tài chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đảng đoàn ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam và các cơ quan hữu quan theo chức năng khẩn trương triển khai các nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết.

- Phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban cán sự đảng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xây dựng đề án đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật trong cả nước theo các chủ trương giải pháp đã xác định trong Nghị quyết.

- Phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương xây dựng tiêu chuẩn cơ chế lựa chọn bố trí cán bộ lãnh đạo quản lý lĩnh vực văn học nghệ thuật; phối hợp với Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh trong việc xây dựng chương trình nội dung đào tạo về văn học nghệ thuật cho học viên trong hệ thống các trường chính trị.

3 - Ban cán sự Đảng bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với Đảng đoàn ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam các cơ quan hữu quan xây dựng các cơ chế chính sách các quy định và thực hiện các nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết về quản lý nhà nước đối với văn học nghệ thuật.

4 - Ban cán sự đảng Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và các cơ quan hữu quan nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các chế độ chính sách đối với lực lượng hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật kế hoạch xây dựng các công trình trung tâm hoạt động văn học nghệ thuật.

5 - Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương theo chức năng nhiệm vụ được giao tham gia thực hiện các chủ trương nhiệm vụ của lĩnh vực lý luận phê bình.

6 - Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì phối hợp với các ngành các cấp định kỳ kiểm tra thực hiện Nghị quyết và báo cáo Bộ Chính trị Ban bí thư.

                                                                       T/M Bộ chính trị

                                                                                            Tổng bí thư

                                                                                         Nông Đức Mạnh

                                                                             (Đã ký)

More...

Văn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Từ Nguyên Tĩnh

Trở lại sông Thu Bồn

Ghi chép

     Tôi nhận được thư mời của anh Phan Văn Phờ Thường vụ Tỉnh ủy Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam - Trưởng ban vận động sưu tầm lịch sử hiện vật về "Quảng Nam trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ" vào Quảng Nam. Cái lý do cũng rất đơn giản anh Phan Văn Phờ muốn trao đổi cùng tôi về cuốn tiểu thuyết Truyền thuyết sông Thu Bồn tôi gửi vào từ hồi mùa xuân năm nay.

    Tôi nhớ năm 2005 tôi vào Quảng Nam dính vào mùa lũ trong một buổi tiệc của Hội Văn nghệ Quảng Nam chiêu đãi mà anh Phan Văn Phờ dự anh Nguyễn Bá Thâm Phó chủ tịch Hội giới thiệu tôi từ Thanh Hóa vào có cái duyên nợ với "Tiểu đoàn đặc công Lam Sơn" anh Phan Văn Phờ bắt tay và chúc tôi về chuyến đi anh nói nếu không gặp lũ thì đi cùng tôi lên thượng nguồn sông Thu Bồn. Tôi cũng tưởng như trăm ngàn cuộc giao tiếp ở trên đời này nói xã giao thôi.

    Về cuốn tiểu thuyết là một nỗi day dứt tôi suốt hơn hai chục năm qua. Tôi rất sợ mình là một người thua cuộc nói dối. Chuyện thua cuộc của người viết thì vẫn thường xảy ra như cơm bữa. Nhưng có thể nói tôi bị cái nợ của sự bồng bột bởi một lời hứa.

    Năm 1985 làm việc ở Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa biết tin Quảng Nam - Đà Nẵng mở trại sáng tác đã xin đi. Được đi cũng không phải là đơn giản gì vì thời gian những hai tháng kia. Không hiểu ai ca ngợi về tiểu đoàn đặc công Lam Sơn có thể do đoàn Thanh Hóa vào thăm Quảng Nam - Đà Nẵng mà đưa tin về tiểu đoàn đặc công này. Một lần tôi về Yên Phong (Yên Định) có gặp ông Trịnh Đăng Bưởi vốn là Tỉnh đội phó Quảng Nam đưa cho xem một tấm hình "bốn người" của tiểu đoàn đặc công. Tôi quả là liều khi nhận viết về tiểu đoàn Lam Sơn khi họ đã hy sinh hầu hết ven sông Thu Bồn. Nhưng biết sao được sự ngông cuồng của tuổi "tứ tuần" mà phải nhận cái giá ấy.


                                                     *

    Trại sáng tác ở khách sạn công đoàn Thanh Bình ngay sát biển Đà Nẵng. Ngước mắt nhìn bán đảo Sơn Trà như treo trước mặt. Trại viên toàn là những nhà văn đáng nể. ở Quảng Nam có Phan Tứ Nguyễn Văn Bổng Nguyên Ngọc Nguyễn Trọng Oánh Lưu Trùng Dương Bùi Minh Quốc Thái Bá Lợi Thanh Quế Nguyễn Quang Lập... Bình Trị Thiên có: Nguyễn Khoa Điềm Hồng Nhu Nguyễn Khắc Phê Hà Khánh Linh Nguyễn Quang Hà... Quảng Ninh Hải Phòng có Nam Ninh Lưu Văn Khuê Nguyễn Kim... Thanh Hóa có Xuân Liên và tôi. Tôi thật sự choáng khi gặp những nhà văn đã nổi tiếng.

    Sau sự xúc động "mang tính tự ti" tôi cũng phải cố gắng trấn tĩnh để làm quen với các bậc sư phụ về nghề văn tìm cách mà gỡ bí. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng lúc này thật tráng niên. Ông mặc chiếc quần sóc đội mũ trắng đeo cái túi phòng hóa và chơi tenits. Ông có nhiều rượu rất ngon của người ta biếu và hay rủ tôi nhâm nhi. Lúc đó tôi chưa biết uống và uống chưa được là bao nhưng được nhà văn tác giả của Con trâu và Rừng U Minh bộc bạch đã là một ân huệ. Ông nói có thể viết cuốn tiểu thuyết này với tên là "tấm ảnh" cũng được. Tôi nghe và cũng không biết lần ra từ đâu cái vốn văn chương đâu có nhiều để lựa chọn. Nhớ lại lúc đưa tiễn tôi lên tàu hỏa có anh Lê Sĩ Oanh Đỗ Xuân Thanh Lê Xuân Giang và vợ tôi không ai tin là tôi làm được cuốn sách với hai bàn tay không. Loay hoay với cuốn ký sự Hàm Rồng mà còn không ra chi. Cũng không thể trách được ai khi mình chưa có sản phẩm.

    Nhà văn Nguyên Ngọc thì nói hãy đi vào thực tế chiến tranh nó sẽ khác và lạ lùng lắm đấy có thể viết dạng tiểu thuyết tư liệu. Nguyễn Quang Lập thì vui và hồn nhiên cuộc thi truyện ngắn vừa rồi anh mới được giải về truyện "tiếng lục lạc" tôi thích cái truyện "đò ơi" hơn...

    Tôi nhờ Hội mà trực tiếp là anh Nguyễn Bá Thâm (lúc này là ủy viên trực) giúp cho đi thực tế. Tôi sang bên tỉnh đội tôi vào bảo tàng Quân khu 5. Nói đến "tiểu đoàn đặc công Lam Sơn" ai cũng trầm trồ và khen ngợi. Nhưng một điều thật đáng thất vọng là tư liệu hầu như không có và không biết nằm ở đâu. Tôi đến gặp trung tướng Phan Hoan Phó Tư lệnh Quân khu 5 ở tư dinh là người từng nằm ở Gò Nổi chỉ huy chống càn người rất mến tiểu đoàn Lam Sơn. Tôi theo xã đội trưởng Trần Văn Tẫn khi ông lên Tỉnh đội xin tiền về xây nghĩa trang cho Duy Tân (Duy Xuyên). Tôi theo các chiến sĩ tự vệ của xã ngồi trên xe đạp thồ đi khắp vùng An Hòa Đức Dục và Kiểm Lâm. Đó là những khu nhà hoặc chỉ còn là sự đổ nát sau chiến tranh.

     Rồi một đêm nào đó tôi gặp may xuôi dòng nước trên một chiếc thuyền có gắn máy uống rượu và độc thoại cùng dòng Thu Bồn bát ngát ánh trăng.

Tôi lên nhìn đồn Cồn Cao và Đồn Đen năm nào ở quận lỵ ái Nghĩa là nơi mà tụi địch vẫn thường rêu rao: "Bao giờ nước Vu Gia chảy ngược thì Việt Cộng mới đánh nổi Cồn Cao và Đồn Đen". Hết đi dọc các huyện Điện Bàn Duy Xuyên Đại Lộc tôi quay về Tam Kỳ Núi Thành... ở đây gặp những cán bộ ra Bắc tập kết và có cả những người từng là công nhân nông trường Sao Vàng về làm cán bộ huyện. Tôi được mấy anh thuê một chiếc tàu chở ra nhìn cảng Kỳ Hà và căn cứ Chu Lai nằm như một phế tích sau chiến tranh. Những cái nạc thì con người đã gỡ ra còn thì đổ nát nóng hực lên giữa cái nắng nôi của ngày hè. Tôi nghe một ông Phó Chủ tịch huyện Tam Kỳ kể ngày ông ở nhà tù Côn Đảo về gặp con mà lúc đi tù nó còn ẵm ngửa... Chưa biết làm được gì nhưng như một phóng viên đi thực tế chả lẽ không chép chép ghi ghi... Tôi lại lên tận học viện quân sự Đà Lạt để tìm người có trong ảnh là Ngò Văn Cảnh một học sinh lớp chín quê Hậu Lộc vô tiểu đoàn Lam Sơn bây giờ là cán bộ giảng dạy. Lên đến nơi thì được biết Ngò Văn Cảnh đẫ chuyển về căn cứ hai của học viện ở Bình Long...

    Tuy đã ngấp nghé tứ tuần nhưng hành trang của văn chương là con số không nên nghe đến tên có ai biết đến.

    Trại viết tổng kết tôi cũng kịp viết một truyện ngắn có tên là "Nàng Trà My" đưa cho nhà văn Nguyên Ngọc ông không nói gì hoặc có nói tôi cũng không còn nhớ nổi. Tôi cũng không được đăng trên tạp chí Đất Quảng lúc đó thật là sang trọng. Tôi nợ sự chăm lo và cả những người rất mất công để kể cho tôi nghe mà biệt vô âm tín như cái tên của mình.


                                                       *

    Lần này vào Quảng Nam với niềm vui thăm lại vùng quê Thu Bồn để chỉnh sửa những tên đất và tên người mà biết đâu quá trình "hư cấu" chả đụng phải. Quảng Nam - Đà Nẵng trong chiến tranh có mặt trận Quảng Đà Quảng Nam và chính quyền cũ đặt một tỉnh mới là Quảng Tín. Ngay tên xã cũng có nhiều đổi thay. Xe đi rất sớm từ Thanh Hóa mà vào tới thành phố Tam Kỳ đã lên đèn. Cô Phạm Thị Điểm cán bộ Ban Tuyên giáo là người trao đổi cùng tôi về cuốn sách và ý kiến của anh Phan Văn Phờ mời tôi vào lần này. Thành phố mở rộng mà chưa quen đường nên phải vòng xe nhiều lần mới vào được Tỉnh ủy. Anh Lê Xuân Mai Phó Văn phòng chờ mất cả ngày trời để đón tôi. Chiếc điện thoại di động vẫn dính trên tai hướng dẫn cho tôi tìm văn phòng Tỉnh ủy Quảng Nam. Anh Mai nói anh Phờ chờ từ chiều có việc vừa đi khỏi chốc nữa sẽ gặp anh Tĩnh nghen.

    Sáng thứ sáu (11-7-2008) tôi được mời tới văn phòng Ban Tuyên huấn để làm việc với các anh trong Ban Vận động về sưu tầm về chiến tranh hay nói cách khác nghe các anh phản hồi về cuốn tiểu thuyết Truyền thuyết dòng sông Thu Bồn của tôi. Buổi làm việc thân mật nhưng không kém phần kỹ càng. Người thẩm định không hiểu đào dâu ra cả cái lý lịch và tên cúng cơm của tôi từ thời cha sinh mẹ đẻ (Lê Văn Tĩnh) và lai lịch về sáng tác của tôi. Được tóm tắt từng chương và có cả nhận xét về ý đồ nghệ thuật nữa. Lại còn có một tiên đoán hết sức cảm động: Cuốn tiểu thuyết có thể dựng thành một bộ phim nhiều tập về cuộc chiến tranh bảo vệ dòng Thu Bồn. Tôi nghe những ý kiến của các anh chị hỏi về lịch sử con người; từ những tên gọi và bóng dáng của nhân vật phía bên này hay bên kia chính diện hay phản diện mà hầu như còn đọng lại những ám ảnh của người dân Quảng Nam trong quá khứ đau thương và kiêu hãnh. Nhờ những chuyến đi thực tế cách nay hơn hai mươi năm mà khi viết tôi đã huy động được ra. Nhờ có tác phong của người viết "người tốt việc tốt" mà khi cuốn sách ra đời chắc trong sự hư cấu có được hình bóng của những người tôi gặp từ Mỹ Sơn Trà Kiệu An Hòa Đức Dục Kiểm Lâm Hội An Tam Kỳ hay Núi Thành... Và đặc biệt là mỗi lần đi Quảng Nam về tôi có một ba lô chặt căng về sách viết về xứ Quảng.

    Ngày hôm sau anh Lê Xuân Mai đưa tôi đi ngược dòng Thu Bồn. Nếu mà đi ca nô từ Trung Phước lên Hòn kẽm Đá Dừng thì một ngày không có thấu nên đành đi ô tô lên huyện Nông Sơn mới tách ra từ Quế Sơn và một số xã của Đại Lộc Duy Xuyên. Đón ở thị trấn huyện Nông Sơn là "cụ chủ tịch mặt trận" nhưng chưa tới tuổi sáu mươi một phó chủ tịch mặt trận và một cô gái còn trẻ sau này thì tôi biết cô làm Chánh Văn phòng của mặt trận. Chủ tịch mặt trận huyện Nông Sơn là Trần Văn Dư anh là người Quế Lâm (Quế Sơn) sợ không đi nổi đường đang mở nên phải điều một chiếc xe gầm cao của huyện. Mà thế thật làm sao có thể qua được những con đường "đang xi măng hóa" nhưng chỉ cần chệch bánh xuống khỏi nền xi măng cũng như cái bẫy thử tài tay lái tài năng. Xe đi chừng hai chục cây số là đến một bến sông. Như hầu hết những bến sông rất khó mà định hình bởi dòng sông luôn chịu những cơn lũ. Lội qua một động cát là gặp một chiếc thuyền cỡ vừa có gắn máy chờ sẵn. Tôi cũng kịp điện cho nhà văn Tiêu Đình (Nguyễn Đình Quý) vừa đi thực tế các đồn biên phòng huyện miền núi Nam Giang anh không quản khó nhọc cùng nhập đoàn đi dọc sông Thu Bồn. Tiêu Đình với tôi là cái duyên của tình bạn viết. Nhớ một lần đi họp Liên hiệp VHNT Việt Nam tôi ở cùng hai người của Quảng Nam là Tiêu Đình và Nguyễn Tấn Sĩ sẵn cái tình kết nghĩa Thanh Hóa - Quảng Nam nên vui sang cả chuyện viết lách. Năm 2005 vào Quảng Nam gặp lũ Anh Nguyễn Bá Thâm không quản mưa động viên đưa tôi lên Quế Sơn ai dè Quế Sơn là huyện kết nghĩa với Thọ Xuân quê tôi Tiêu Đình là nhà giáo ưu tú ở đây. Anh đã chở tôi lên mấy xã ngày xưa có đặt bệnh viện giã chiến bộ đội thường đào hầm ém quân chờ đêm đến là xuôi dòng Thu Bồn đi đánh đồn giặc. Lần ấy thật tiếc là đã ngỏ ý cùng các anh ở Quế Sơn đi Hòn Kẽm Đá Dừng mà gặp lũ phải quay lại. Lần này tôi và Tiêu Đình lại được đi bù giữa trời nắng dòng sông Thu Bồn mở ra trong tầm mắt. Lúc thì phô bầy ra bãi cát ngút ngát như sông Mã sông Chu khi thì nhô ra núi đá dựng đứng dăng thành như đoạn sông Mã quăng mình qua Hồi Xuân La Hán. Chừng một tiếng sau chúng tôi được lái thuyền neo lại ở chân Hòn Kẽm. Không hiểu cá tươi mua hay cất lên từ sông được nướng thơm choang đưa lên làm mồi nhắm cùng bia xứ Quảng. Uống bia nơi ngày xưa từng chứng kiến biết bao biến động của lịch sử. Một câu ca dao đọc lên nghe đến nao lòng.

Trông lên Hòn Kẽm Đá Dừng

Thương cha nhớ mẹ quá

chừng ậu ơi !

    Qua câu chuyện của anh Mai Phó văn phòng Ban Tuyên huấn và anh Phan Văn Dư tôi mới biết từ những năm sáu mươi lúc đó anh Phan Văn Dư mới mười một tuổi mà đã bỏ nhà đi hoạt động cách mạng. Không trách ai đó đã nói cùng tôi mỗi con người của mảnh đất này là một sự tích một kỷ vật của chiến tranh không ghi chép sưu tầm lại sẽ mai một đi theo thời gian.

    Con thuyền neo đậu nơi thắt lại của dòng Thu Bồn qua những ngọn núi đá này là mở ra một khoảng mênh mang của dòng sông. Không hiểu ai là người đầu tiên đặt tên cho cho nơi có hòn "đá dựng" cao này gọi trại đi là "dừng" về mùa lũ từ trên rừng xanh đổ xuống cơ man nào là nước. Dòng sông Thu Bồn không còn thơ mộng nữa mà là sự kinh hoàng với làng mạc và đồng điền. Quá trưa thì chúng tôi quay về nhiệm sở của huyện lỵ mới trở về chân đèo Le. Bên một con suối nhỏ cách nay chưa đầy hai năm còn là vùng hẻo lánh nay đã mọc lên những quán nhỏ đón khách đi về thượng nguồn sông Thu Bồn nghỉ trưa. Nhà văn Tiêu Đình nói với tôi:

- Phải bỏ ra thời gian lâu lâu mà đi vào trong miền sơn cước sẽ có nhiều câu chuyện dễ thương lắm. Tôi hiểu mình mới chỉ cưỡi ngựa xem hoa thôi. Chưa đi được là bao để hiểu về dòng sông đầy truyền thuyết này.

    Sáng hôm sau Trần Phan Quang trợ lý của Đỗ Xuân Diện Giám đốc Công ty Đầu tư - Phát triển hạ tầng Chu Lai đưa chúng tôi đi Chu Lai. Khu kinh tế mở Chu Lai có diện tích 32.400 héc ta được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tiên trên đất Quảng Nam có hai di sản văn hóa thế giới là Khu đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp cổ Mỹ Sơn. Chu lai có chiều dài 70 ki lô mét trên 125 ki lô mét của bờ biển Quảng Nam. Nếu lấy Chu Lai làm tâm của compa thì có thể quay nhiều vòng tròn mà có các cung độ khác nhau với các nước ở Đông Nam á và Châu á nói chung. Có cảng biển Kỳ Hà và sân bay Chu Lai... Chu Lai còn có thế mạnh mà các khu công nghiệp khác không có được là tiềm năng du lịch và tắm biển... Tôi có dịp trò chuyên với giám đốc Đỗ Xuân Diện hôm mới vào nói bao thứ chuyện. Cả những lĩnh vực mà mình ít biết đến là quy hoạch thành phố. Diện nói cùng tôi quy hoạch thành phố hiện đại trên thế giới người ta tạo ra sự ổn định bên trong và phát triển rộng ra ngoài; khi phát triển bề thế cũng không phá vỡ cấu trúc ổn định bên trong. Trên đường ra cảng Kỳ Hà tôi nhận ra trên phim ảnh thì nói rất lớn nhưng Chu Lai vẫn còn nhiều bề bộn ngổn ngang. Tàu vào cảng cảng Hàng không còn rất khiêm tốn đâu đây mấy nhà chứa máy bay mà tôi gặp từ hồi năm tám lăm của thế kỷ trước thời gian làm cho màu rỉ sắt như xỉn lại trong cái nóng gắt. Và cả Khu Thương mại tự do nữa còn ngổn ngang chưa bắt đầu khởi động. Vả lại khi đã vào WTO thì tất yếu thương mại tự do là điều không thể tránh khỏi. Có lẽ sự đầu tư mà chậm điều chính yếu là do cơ sở hạ tầng chậm trễ mà làm mất đi cơ hội chăng?

Nhà văn Tiêu Đình chỉ cho tôi nhà máy ôtô Trường Hải lớn nhất Đông Nam á do một người con Quảng Nam đầu tư về để làm ăn. Anh chỉ ra hòn đảo nằm thành một vệt dài trước mặt: Tam Hải đấy sau này có thể phát triển thành khu vui chơi giải trí ở đó sẽ có Casino... Anh nhấn mạnh những người Quảng giàu có đi làm ăn nơi xa không thiếu thu hút được họ về thì sẽ mở ra nhiều cơ hội lắm. Tôi tin điều anh nói như khu kinh tế Nghi Sơn ở Thanh Hóa biết bao chật vật mới khởi động và làm một cuộc di dân có lẽ rất lớn với người dân chỉ quen nhìn vào miếng đất làm ruộng để tạo một mặt bằng cho khu công nghiệp.


                                                             *

   Dù cho bận nhiều việc anh Phan Văn Phờ cũng đưa tôi đi về Tam Tiến Tam Hiệp và dọc bờ biển con đường hành lang phía đông đang hình thành. Mai này con đường này sẽ mở ra cả một tuyến du lịch trên bờ biển 125 ki lô mét của Quảng Nam. Bãi biển ở đây thật là lý tưởng trong vắt và sóng lại hiền hòa. Người đi du lịch và tắm biển có thể thỏa thích và tham quan các di tích Phố cổ Hội An tháp cổ Mỹ Sơn đi Chu Lai và thăm tượng đài chiến thắng Núi Thành... thuận tiện và hưởng đặc sản của biển. Có thể lên Trà My thăm sông T.rưng ngọn nguồn của những con suối xanh trong tạo ra một phần cho nguồn nước Trường Giang.

    Nhớ lại hôm mới vừa đến Tam Kỳ anh Phan Văn Phờ có giới thiệu tôi cùng chị Bí thư Tỉnh đoàn còn rất trẻ và xinh đẹp. Chị Phan Thị Lan vừa tròn ba mươi tuổi tỉnh ủy viên Anh Phờ nói sẽ là độc giả của tôi. Tôi định nói cuốn sách của tôi có nhiều nhân vật nữ là những người mẹ người chị đã anh dũng chiến đấu hy sinh trong cuộc chiến tranh giành độc lập cho đất Quảng và dân tộc mình.

    Tôi từng ngẫm nghĩ về tên của cuốn tiểu thuyết "Tấm ảnh" "Bốn người còn lại" "Trong vòng vây của kẻ thù"...Nhưng rồi cái tên Truyền thuyết sông Thu Bồn mãi đến phút chót mới hình thành. Nó mở ra cho người viết một suy nghĩ rộng hơn. Dù tiểu đoàn đặc công Lam Sơn chiến đấu có anh dũng đến mấy nhưng không được sự bao bọc che chở của nhân dân Quảng Nam thì không thể trụ vững trong cuộc chiến ác liết này. Mà truyền thuyết là do con người không ngừng không nghỉ tạo ra chắp nối với truyền thuyết huyền thoại của người đi trước mở cõi. Của tầng tầng trầm tích còn nằm im lìm hay được khai mở ra để con người có cơ hội mà thưởng ngoạn nghĩ suy chiêm nghiệm...

Không biết có đáp ứng được mong muốn của bạn đọc hay không. Nhưng chuyến về lại Quảng Nam tắm mát dòng Thu Bồn cho một suy nghĩ mới chỉnh sửa hay biết đâu là một trang mới trong cuộc đời sáng tác của mình. Có lẽ cuốn Trường ca Hàm Rồng viết và đến lúc in là tròn ba mươi năm thì Truyền thuyết sông Thu Bồn ra đời cách lúc phôi thai có hai mươi ba năm. Cái vui và tin vào tấm lòng của bạn đọc và con sông Thu Bồn mà tôi từng yêu thương gửi gắm.

                                                 Vào đầu tháng 8 năm 2008

                                                                T.N.T

Hoàng Phương Nhâm

Dường như trời lại mưa

Truyện ngắn

                            ... Đói lòng chẳng biết ăn chi

                               Lộc sung thì chát lộc si thì già

                              (Những người đàn bà quê tôi hát)

- Trời mưa!

Lũ trẻ đi học về kêu lên và chạy dạt và mái hiên nhà chìa ra hè phố. Cơn mưa đầu mùa đầy vẻ bất thường. Chỉ loáng cái đường phố đã vắng người qua lại. Ai cũng tìm được một chỗ trú mưa. Những hạt mưa xiên xiên rơi xuống đường nhựa vỡ tóe ra thành nhiều hạt nhỏ. Chỉ một chốc đường phố đã ngập. Mặt đường đầy bong bóng phập phồng nối nhau trôi về chỗ cống thoát nước. Gã đi trên hè phố bên kia đường. Bên ấy hè phố cũng là bờ sông. Quần áo tơi tả đầu không nón mũ râu tóc bờm xờm tất cả đều bị nước mưa làm cho dính bết vào cái thân hình gầy gò tiều tụy của gã. Gã như không biết trời đang mưa. Gã cắm cúi bước mắt nhìn xuống đường như gã không tồn tại ở cuộc sống này. Gã có cuộc sống của riêng gã. Gã đang mải nghĩ về một điều gì đó. Điều đó với gã hẳn là quan trọng lắm. Nét mặt gã căng thẳng như dây đàn của ông lão hát xẩm vẫn ngồi ở lối ra vào công viên. Gã chợt sững lại trước một gốc cây ngã nghiêng ra phía mặt sông. Gã cúi xuống vỗ vỗ vào thân cây sần sùi. Gã nói gì đó với cái cây. Xong gã nghiêng đầu như đang lắng nghe cái cây nói. Vài hạt mưa rơi vào tai làm gã bật cười lậc khậc. Gã tưởng những hạt mưa là lời cái cây đáp lại. Thế là cái cây còn sống. Gã thò tay vào cạp quần móc ra chiếc bánh mì bẹp dí đã bắt đầu nhũn ra vì ngấm nước mưa đặt vào chỗ cành cây bị cắt cụt chỉ còn một mẩu đang chĩa thẳng về phía gã như cầu cứu. Cái bánh ướt nhũn dính vào vỏ cây. Mưa cứ vô tình xối xả. Cái bánh dần dần biến mất. Gã cởi luôn cái áo ướt sũng ra khoác cho cái cây. Gương mặt gã giãn ra. Trông gã sung sướng như gặp được người bạn chí cốt. Những người trú mưa bên này đường không hiểu gã đang làm gì. Đứa trẻ nhỏ nhất chỉ tay sang chỗ cái cây đổ. Nó reo:

- Cái cây được mặc áo kìa!

Ai đó nói như rủa:

- Rõ thằng điên!

Nhưng ai đó lại xót xa:

- Thật là giời bắt tội!

     Từ đằng kia có một người đàn bà gầy nhỏ đạp chiếc xe cà tàng đi đến. Gió thổi bay lật phật mảnh áo mưa khoác trên người chị. Chiếc sọt buộc trên giá đèo hàng sau xe cẫn còn ít mớ rau muống xộc xệch chắc chẳng có ai mua. Chiếc nón cũ chị đội lên đầu bị gió hất ngược về phía sau. Những hạt mưa quất vào mặt chị rát rạt như phải bỏng. Cạnh gốc cây thằng điên cởi trần run rẩy trong mưa. Chị liếc ngang khẽ lắc đầu thở dài ngán ngẩm và cố dướn người nhấn mạnh chân trên bàn đạp. Chiếc xe nặng nhọc đưa chị trườn về phía trước. Gã điên vẫn loay hoay với cái cây ngả nghiêng dưới trời mưa xối xả. Gã nắm cành cây cụt chia về phía mình và cố sức kéo. Chị nghe tiếng gã hổn hển:

- Đứng dậy nào! Cố lên!...

Câu nói làm người đàn bà khựng lại như bất ngờ nhìn thấy bức tường trước mặt. Người đàn bà dừng xe. Chị vứt chiếc xe đổ kềnh trên mặt đường quay ngoắt lại xăm sắn bước đến chỗ gã điên. Không nói không rằng chị cởi chiếc áo mưa mỏng trên người khoác cho gã. Gã điên giật mình. Bằng một động tác rất thuần thục gã nằm xoài xuống mặt hè đường như người ta tránh luồng đạn bắn thẳng. Người đàn bà ngồi cạnh xuống gã. Chị năn nỉ:

- Đứng dậy! Đứng dậy đi nào! Không thấy trời đang mưa rất to à?

Gã điên gục mặt xuống hè đường ướt. Người đàn bà nâng gã dậy. Gã chỉ cái cây đổ giọng còn năn nỉ hơn:

- Nó không đứng dậy được đâu!

Người đàn bà gật đầu:

- Được rồi! Cứ mặc chiếc áo này vào đã! Để tôi đưa vào chỗ kia cho đỡ mưa!

Gã điên gạt tay người đàn bà:

- Tự tôi có thể đi được! Còn nó?

Gã lại cúi xuống cố sức kéo cái cây. Người đàn bà quát vào tai gã:

- Đi theo tôi! Đi!

    Người đàn bà cúi xuống lôi thốc hắn vào dưới mái hiên bên kia đường. Tự nhiên không ai bảo ai những người đang trú mưa đứng gọn vào nhường chỗ hai người ướt như chuột lột. Gã ngơ ngác nhìn mọi người rồi nhoẻn miệng cười. Trông thật ngớ ngẩn. Mấy đứa trẻ vô tư cười theo. Gã lẩm bẩm:

- Thế là về đến nhà rồi! Còn đông đủ cả!

    Người đàn bà lấy tay vuốt nước mắt trên mặt gã. Xương quai hàm của gã bạnh ra. Gã đang có ghìm cơn rét run lập cập. Mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Những người trú mưa lục đục ra khỏi mái hiên nhà đi tiếp. Một người đàn ông có vẻ mặt khắc khổ trú mưa ở mái hiên nhà kế bên rẽ vào cởi chiếc áo ngoài còn khô nguyên khoác cho gã điên. Gã không ngẩng mặt lên đôi tay gầy ngẳng ngheo vồ vội lấy chiếc áo quấn chặt vào người. Cổ gã rụt lại như muốn rúc đầu vào trong áo. Chẳng thấy người đàn bà ban nãy đâu nữa. Cả dãy hiên chỉ còn mỗi mình gã điên ngồi ôm gối run lẩy bẩy. Một người đàn bà núng nính trong bộ đồ màu xanh ngọc bích hiện ra trên ban công tầng hai nhìn xuống rồi lại nguây nguẩy đi vào. Lúc sau cánh cửa sắt rít lên ken két một con chó tây hung dữ xồ ra nhằm kẻ điên gầm gừ. Gã giật bắn người vội đứng dậy đi giật lùi về phía bờ sông. Con chó nhe răng nhìn theo rãi nhểu từng giọt xuống hè đường láng nước.

     Đường phố sau cơn mưa rào sạch bóng như vừa được cọ rửa. Người và xe lại tấp nập. Thi thoảng có một cơn gió nhẹ giũ những giọt nước mưa còn đọng trên ngọn cây thả xuống đùa giỡn khách bộ hành nhưng chẳng mấy ai để ý. Họ cũng không còn nhớ đến gã điên ban nãy vừa cởi áo để mặc cho cái cây ngả nghiêng trên hè phố giữa lúc mưa to. Cái áo của gã vẫn còn khoác trên thân cây đổ. Giờ gã đang khập khễnh bước đi cái áo của người đàn ông lạ vẫn quấn chặt lấy thân hình gầy gò của gã. Gã cứ vô tư vừa đi vừa mủm mỉm cười. Nụ cười méo mó trên gương mặt méo mó. Chẳng ai để ý đến gã. Chỉ có người đàn bà lúc nãy vừa gò lưng trên chiếc xe đạp cà tàng leo dốc cầu vừa nghĩ đến gã điên lúc nãy. Chị thấy gã chẳng ra trẻ cũng chẳng ra già nhưng hình như gã có nét gì hao hao giống một người nào đó. Một người mà chị đã được nghe kể nhiều lần. Người thường kể cho chị nghe về một người đàn ông mắc bệnh tâm thần là cô Hằng đang ở cùng với chị. Hằng kém hơn chị dăm tuổi. Cả hai đều ở cảnh "quá lứa lỡ thì". Cũng chẳng hiểu làm sao số phận cứ gắn bó hai người với nhau mãi như vậy!

    Hằng là con gái phố Hiến nơi chỉ đứng sau Kinh kỳ nên cô có một nét duyên dáng giọng nói nhẹ nhàng uyển chuyển rất riêng khiến cho bất cứ ai chỉ cần gặp một lần cũng khó thể quên được. Chị ngược lại hẳn với Hằng bởi dáng người thô kệch nói năng cứ như ra lệnh cho người khác. Họ gặp nhau ở một đường dây giao liên đầy bom đạn. Chị về trạm khách trước Hằng hẳn hai năm. Lại ở trạm phía trước. Lúc ấy ở trạm của chị chỉ có ba người một nam và hai nữ. Chị trưởng trạm là người quê Nam Bộ tập kết ra Bắc khi còn là thiếu nữ. Mái tóc của trạm trưởng đã nhiều sợi bạc. Anh lính duy nhất của trạm trước khi nhập ngũ là sinh viên. Anh hiền lành ít nói. Anh hay nhìn trộm mỗi khi chị đang cắm cúi làm một việc gì đó lúc trạm vắng khách. Bao nhiêu việc nặng anh đều nhận hết về mình. ánh mắt nhìn của anh làm chị xao xuyến. Và chị thầm ao ước. Trưởng trạm rất nghiêm khắc trong khi làm nhiệm vụ nhưng lại có tấm lòng bao dung của một người mẹ. Trưởng trạm hình như cũng cảm nhận được một điều gì đó ở hai người trẻ tuổi nên có lần đã bảo: "Tụi bây còn trẻ hãy ráng lên cho mau đến ngày hòa bình". Lúc ấy chị thấy anh đỏ mặt và lảng đi làm việc khác. Thế rồi trạm phía sau được bổ sung thêm một người. Đó là Hằng. Chị đã gặp cô ở nơi giao khách. Chị giật mình. Linh tính mách bảo cho chị về một điều gì đó. Chị buồn. Rồi trưởng trạm mãi không trở về trong một lần đi dẫn khách vào tuyến trong. Chị trở nên kiệm lời và hay cáu kỉnh. Chiến tranh ngày càng ác liệt hơn. Chị theo đường dây chuyển vào sâu nơi mặt trận phía Nam. Bị thương nặng chị được đưa ra Bắc điều trị. Vòng vèo thế nào chị lại gặp Hằng ở trại điều dưỡng. Khi ấy vết thương đã làm cho Hằng phải vĩnh viễn sống trong bóng tối. Sau cuộc chiến tranh người thân của Hằng chẳng còn ai chẳng có ai tìm đến thăm Hằng trong những năm cô ở lại trại điều dưỡng. Chị kể về những kỷ niệm của những ngày sống trong bom đạn lúc ấy ai cũng thèm được một ngày sống giữa đất nước thanh bình. Chị bảo hai chị em còn phải tìm một người nữa. Người ấy không mất tích trong chiến tranh thì chắc chắn sẽ không thể biến mất giữa lúc thanh bình. Những điều ấy đã truyền cho Hằng sự ham sống. Rất tự nhiên chị thấy giữa chị với Hằng có sự gắn bó như bị ràng buộc.

    Khi xuất ngũ chị đưa Hằng về ở với mình trong một ngôi nhà nhỏ tại khu ngọai vi thị xã. Thị xã của một tỉnh lẻ đang từng bước vươn lên tự khẳng định mình để trở thành thành phố nên chỗ nào cũng nham nhở những công trình xây dựng dang dở của các dự án lớn nhỏ. Ngày nắng bụi cát cuốn tung mù mịt theo bánh xe tải. Mùa mưa phùn gió bấc đường phố nhiều quãng lầy lội y như ruộng sắp cấy. Thi thoảng trời đổ mưa rào mới nhìn thấy mặt đường nhựa. Nhưng thị xã vẫn cứ ngày một lớn thêm thành thử xóm nhỏ của chị bây giờ lại lọt thỏm giữa bốn bề phố phường với những dãy nhà cao tầng đồ sộ. Ban ngày chị đưa Hằng đến làm việc tại một cơ sở dành cho những người khiếm thị rồi đạp xe xuống bãi than. Công việc của chị ở bãi than chẳng lấy gì làm nhàn hạ nhưng tiền lương hàng tháng cũng đủ cho hai chị em sống tằn tiện. Ngày mưa gió không đi làm được chị lôi những bộ quần áo cũ ra khâu vá để làm đồ mặc đi lao động. Hằng ngồi bên cạnh nhặt những bông đót buộc lại thành từng bó khe khẽ hát vu vơ rồi cuối cùng cả hai người cùng quay về sống với những kỷ niệm xưa cũ thời bom đạn. Hằng kể hồi ấy mình đã nhận lời hẹn hò với một người lính. Chị thừa biết người ấy là ai. Khi chưa bị thương Hằng đã gặp lại anh ở trạm quân y tiền phương. Một mảnh đạn găm trong đầu làm anh sau này thành người không thật tính lúc tỉnh lúc mơ. Anh được đưa về Bắc an dưỡng và chữa bệnh nhưng một đêm anh đã bỏ đi đâu mất người ta cất công tìm kiếm mãi mà chưa thấy.

     Ngay từ lúc biết ngượng khi đứng trước những người khác giới chị đã không dám soi gương. Chẳng có người con trai nào để ý đến chị. Khi ở trong chiến trường giữa một rừng đàn ông các cô gái thường được nhiều sự ưu ái của những chàng lính trẻ thế nhưng có vẻ như chị vẫn ở ngoài "tầm ngắm" của họ. Chỉ duy nhất một lần giữa hai đợt bom B52 rải thảm trong hầm tránh bom người ấy đã ôm xiết chị trong vòng tay vạm vỡ. Chị nín thở chờ đợi nhưng chẳng có điều gì xảy ra. Có lẽ đấy là một lần duy nhất trong đời vì sau đấy lại có một cô gái khác là chiến sĩ giao liên yêu anh. Không hiểu sao khi ấy chị lại vun đắp cho mối tình của hai người họ. Hình như tại chị thấy họ quá đẹp đôi. Bây giờ nhìn Hằng mò mẫm đi trong bóng tối chị không thể nén được tiếng thở dài.

     Sáng hôm sau trời lại mưa không thể đi làm dưới bãi than chị khoác áo mưa mang sọt ra ruộng hái rau đem lên chợ thị xã. Không hiểu sao chị lại đạp xe vòng qua đoạn đường có gốc cây đổ nghiêng trên hè phố. Quả nhiên chị thấy gã điên nằm gục bên gốc cây. Mưa vẫn lắc rắc đều đều. Để mặc chiếc xe với chiếc sọt rau đổ kềnh bên lề đường chị chạy đến vừa lay gọi vừa cố vực gã điên dậy dìu gã sang bên kia đường. Người gã ướt nhèm. Gã ở trần. Cái áo của người ta cho hôm nọ đang khoác trên thân cây đổ. Gã đang hầm hập nóng. Gã nghiến răng trèo trẹo mắt nhắm nghiền mê man. Chị gọi người đạp xích lô đang ngồi trú mưa trong xe. Hai người cố hết sức mới vực được thân hình nhũn nhèo của gã lên xe. Chị dẫn bác xích lô đưa gã điên về ngôi nhà lá ven thị. Gần đến nơi lối ngõ quá bé lại ngập nước xe xích lô không vào nổi không chần chừ chị ghé vai cõng gã như cõng một đứa trẻ bì bọp lội vào nhà. Hằng từ trong nhà lật đật đi ra hai tay huơ huơ trước mặt. Chị hào hển:

- Mở cửa! Mở cửa mau lên!

    Hằng vội vã quay vào với tay mở cửa. Chị đặt gã điên xuống giường loay hoay tìm cách cởi bộ đồ ướt còn lại trên người gã. Người đạp xích lô đứng đằng sau khẽ gạt chị sang bên:

- Thôi việc này để tôi. Mà kiếm đâu cho anh ta bộ quần áo bây giờ?

Hằng nhướng đôi mắt mở to hỏi:

- Ai thế chị?

    Chị không kịp trả lời vội vào trong buồng lục lọi một chốc mang ra một bộ quân phục còn mới đưa cho người xích lô rồi lẳng lặng xuống bếp. Hằng đứng tựa cửa buồng nghiêng đầu lắng nghe. Cô hiểu có những hai người đàn ông lạ đang ở trong nhà. Một lúc sau đã thấy mùi thơm của vị cháo giải cảm tỏa ta từ bếp. Lại thấy tiếng chân bước vội vã của chị từ bếp đi lên. Biết trên tay chị đang có bát cháo nóng Hằng vén mành đứng né sang bên lấy lối để chị vào. Hằng lặng lẽ vào theo. Cô nghe thấy tiếng đàn ông đầy vẻ nhẹ nhõm:

- Hai bàn chân của anh ta đã ấm lên rồi đấy. Thế là anh ta được cứu sống rồi! Nhà nào có người này phải ơn cô như núi! Cô cho anh ta ăn tí cháo là tỉnh. Sắp tối rồi. Tôi về có cả nhà lại đợi. Mà các cô phải cẩn thận khi anh ta tỉnh lại. Lỡ anh ta lên cơn thì...

- Bác đừng lo! Tôi biết anh ấy cũng không đến nỗi nào. Khi xưa còn ở rừng đơn vị chúng tôi cũng có người bị rối loạn tâm thần kiểu này. Họ chỉ bị hoang tưởng mà hiền khô chẳng làm hại ai cả. Mai anh ta khỏi cảm tôi nhắn tìm người nhà để họ đưa anh ấy về.

- Vậy tôi về nhá! Nhưng cẩn thận vẫn hơn các cô ạ!

- Vâng. Bác cho gửi tiền.

    Người xích lô xua tay vừa nói vừa đi vội ra ngõ:

- Tiền nong gì! Tôi cũng mong được làm phúc như các cô thôi!

Đêm ấy trời lại mưa. Căn nhà nhỏ giữa xóm vẫn có ánh đèn le lói qua kẽ liếp. Gã điên đã cất cơn sốt nhưng gã lại rơi vào giấc ngủ li bì suốt cả ngày hôm sau rồi hôm sau nữa. Bên ngoài trời vẫn mưa. Mấy ngày đêm chị không hề chợp được mắt. Hằng cũng không thể ngủ được. Cô lặng lẽ đến ngồi bên cạnh chị.    Hình như gã điên cựa mình ú ớ gọi tên ai đó. Không thấy chị nói gì Hằng khẽ giật giật áo chị. Chị choàng dậy. Gã điên lầu bầu van vỉ:

- Xin hãy đưa anh ấy về! Hãy đưa anh ấy về!

Gã khóc ức ức. Chị vội cúi xuống sát mặt gã để nghe và an ủi:

- Được rồi! Được rồi! Chúng tôi đã đưa anh đấy về đây rồi!

Gã điên thở dài im lặng mắt vẫn nhắm nghiền. Chị quay ra giục Hằng:

- Lấy ba lô mặc quân phục vào. Nhanh lên!

Ngơ ngác một chút rồi Hằng líu ríu vào buồng. Một lúc cô trở ra ngượng nghịu trong bộ quân phục còn nguyên nếp gấp. Chị khen:

- Em mặc quân phục trông đẹp lắm!

Có tiếng lội bì bõm ngoài ngõ rồi tiếng đàn ông hỏi vọng vào:

- Thế nào rồi các cô?

Cả hai chị em cùng quay ra. Hằng nghiêng đầu về phía cửa lắng nghe. Chị mừng rỡ:

- Bác... xích lô...

Người đàn ông vui vẻ:

- Vâng tôi đây! Người ta thường gọi tôi là Huân xích lô vì xóm tôi có hai người cùng tên là Huân. Mấy hôm nay tôi mắc đi chở vật liệu cho cô em xây nhà nên không đến được. Anh ta đã khá hơn chưa?

Vào hẳn trong nhà ông Huân xích lô ngạc nhiên kêu khẽ:

- Chà! Cứ y như đang ở trạm quân y tiền phương ngày nào vậy! Nhân dịp kỷ niệm gì thế hai cô?

Chị giơ ngón tay ra hiệu khẽ nói:

- Để cho người bệnh ấy mà!

Thấy ông Huân tròn xoe mắt chị giải thích:

- Người này lúc nào cũng tưởng mình đã gặp được bạn cũ là cái cây đổ ven đường nên cứ kéo cái cây đứng lại. Chắc khi xưa bạn anh ta bị trúng thương trong một trận đánh. Tôi nghĩ nếu được sống trong cảnh cũ biết đâu bệnh của anh ta sẽ giảm.

    Ông Huân ngớ ra một chút rồi gật đầu và chạy vội ra ngõ. Chừng tiếng đồng hồ sau ông trở lại với bộ quân phục bạc màu có những miếng vá ngang vá dọc ở vai và lưng áo. Khi gã điên tỉnh lại thấy quanh mình những người đồng đội. Họ nh

More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Đào Hữu Phương

Ông giáo già

Truyện ngắn

     Trên đường lên trại rừng thấy ông không đi theo lối cũ mà rẽ sang hướng khác Tuấn Minh vội nhắc:

- Nội ơi hình như là đi sai đường rồi!

Nội cười nói:

- Lối này xa hơn một chút nhưng vẫn lên trại rừng nhà mình được. Sáng nay ông còn muốn ghé thăm thầy giáo Tâm. Thầy giáo Tâm về hưu đã năm năm rồi. Thầy là giáo viên dạy văn ở trường phổ thông trung học huyện. Kiến thức của thầy về các lĩnh vực xã hội rộng lắm. Bố cháu ngày xưa cũng đã được học với thầy.

     Tuấn Minh háo hức:

- Hẳn thầy là cả một pho tư liệu sống về con người và bản sắc văn hóa Thái. Được nghe thầy nói chuyện thì thú vị lắm. ở thành phố thỉnh thoảng có dịp cháu lại đến Thư viện Khoa học tổng hợp nghe các chuyên gia về Dân tộc học nói chuyện với độc giả.

     Nội xoa đầu Tuấn Minh:

- Yên chí đi! Nếu cháu muốn lát nữa ông sẽ cho ở lại chơi chiều về qua ông đón cũng được.

Hai ông cháu rẽ vào một lối mòn rợp bóng cây rồi dừng lại trước một nếp nhà xinh xắn. Một ông già dáng đạo mạo mặc bộ pi - da - ma sọc bước từ trên cầu thang xuống ra tận cổng đón.

- Chào thầy Tâm! - Nội lên tiếng trước - Thầy có khỏe không?

- Chào bác! Cảm ơn bác tôi vẫn khỏe. Mời bác vào nhà.

     Hai ông cháu theo thầy Tâm bước lên cầu thang. Khác với ngôi nhà sàn cổ làm bằng nhiều loại gỗ quý bào đục rất sơ sài của nội nhà thầy làm toàn bằng gỗ quế. Cột xà bào rất nhẵn và được đánh qua một lớp dầu nên có mầu nâu rất bóng. Cửa sổ thầy mở nhiều nên trong nhà rất sáng sủa. Gian hoòng hoóng (*) cũng rộng hơn các gian khác. Phía dưới bàn thờ tổ tiên kê một cái kệ đóng bằng gỗ quế có nhiều ngăn. Trong mỗi ngăn xếp ngay ngắn rất nhiều sách. Cứ như là một góc thư viện. Cạnh cửa sổ là một cái bàn viết thấp trên bàn đặt mấy cuốn sách và một tập giấy A4 đang viết dở. Thầy Tâm vừa rót nước pha chè vừa nói:

- Bà nhà tôi ra ngoài Ngù có tí việc. Bác và cháu uống nước đi. Ông cháu đi từ lúc nào mà lên sớm thế?

    Nội lấy trong túi thổ cẩm ra lạng chè đặt lên bàn rồi nói:

- Ông cháu tôi lên trại rừng. Nghe nói thày vừa ở bệnh viện về tranh thủ ghé thăm thầy một lúc.

- Cảm ơn bác! - Thầy Tâm nhìn Tuấn Minh hỏi - Đây là cháu nội bác à?

- Vâng! Nó là con thằng Sơn đấy! - Nội xoa đầu Tuấn Minh nói như khoe - Cháu vùa học hết chương trình lớp Mười trường chuyên Lam Sơn. Hè này bố mẹ nó cho về chơi với ông bà một tuần.

- Thế à? - Ông giáo già nhìn Tuấn Minh bằng cả ánh mắt đầy thán phục - ở thành phố mà vào được ngôi trường danh giá ấy là đáng nể lắm. Em học khối nào?

- Dạ cháu học chuyên văn ạ!

- Chuyên văn? - Thầy Tâm ngạc nhiên - Vậy em không định theo nghiệp bố à?

Tuấn Minh ngượng ngùng không đáp.

Nội nhấp thêm ngụm nước rồi xoa xoa hai bàn tay vào nhau nói:

- Ông cháu tôi vào đây thăm thầy thấy thầy vẫn khỏe nên rất mừng. Giờ có lẽ xin phép thầy tôi phải lên trại rừng vì hôm qua mới trồng dặm ít quế phải tưới cho nó kẻo nắng này lại chết hết. Lúc nào thư thả mời thầy ghé qua nhà chơi.

Ông giáo già tỏ ra không vui:

- Sao mới ngồi chưa ấm chỗ bác đã đi ngay? ở lại ăn với vợ chồng tôi bữa cơm đã. Tôi có câu chuyện cũng đang muốn nói với thằng cháu này.

     Nội nhìn Tuấn Minh nói:

- Vâng thằng này nó cũng đang rất muốn được nghe thầy nói chuyện. Hay thầy cho cháu ở lại chơi rồi chiều tôi về qua đón cháu?

- Thế cũng được! - Thầy Tâm vui vẻ - Vậy bác tranh thủ lên trại rừng kẻo nắng.

Tuấn Minh theo thầy Tâm ra cổng tiễn nội rồi mới trở lên nhà. Thầy bảo Tuấn Minh ngồi đối diện với mình bên bàn viết rồi chuyện trò với nó một cách thân mật:

- Học văn là học làm người. Sau này dù có đi dạy học hoặc làm công tác nghiên cứu làm nhà văn ngoài kiến thức cơ bản còn phải bổ sung thêm vốn sống thực tế ngoài đời. Cố lên em ạ! - Thầy nhìn sang cánh rừng trước nhà thì thầm nói như dốc bầu tâm sự - Ngày thầy còn đứng trên bục giảng có hai học trò thầy yêu quý và kì vọng nhất là bố em và Cầm Bá Lai ở Lùm Nưa. Cả hai trò này đều rất giỏi văn từng đoạt giải cao trong kỳ thi học sinh giỏi môn học này cấp tỉnh. Lúc vào đại học không hiểu sao chỉ có Cầm Bá Lai đăng kí nguyện vọng học khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp còn bố em thì lại ghi tên học trường Kinh tế - Kế hoạch. Cầm Bá Lai phận mỏng ra trường về tỉnh công tác chưa được bao lâu đã sớm ra đi chỉ để lại cho đời công trình sưu tầm Tục ngữ Thái và bao công việc còn dang dở. Ngoài bố em và Cầm Bá Lai trước và sau đó thầy cũng còn nhiều gương mặt đáng nhớ. Họ chẳng những học giỏi môn văn mà còn có nhiều năng khiếu sáng tác văn học nữa. Nhiều người ngay lúc còn ngồi trên ghế nhà trước đã có thơ in báo và tạp chí văn nghệ địa phương. Thầy cũng hy vọng sau này học xong bậc đại học họ sẽ là những nhà giáo nhà nghiên cứu văn học nhà văn nhà thơ làm rạng rỡ cho quê hương. Nhưng cứ sau một khoảng thời gian trên dưới chục năm khi gặp lại thấy họ đang ngồi ở cương vị trưởng một ban phòng nào đó dưới tỉnh hoặc là chủ tịch phó chủ tịch huyện rồi. Nhắc lại những bài thơ và những khát vọng văn chương ngày xưa họ chỉ cười. Thầy không biết nên buồn hay nên vui.

     Tuấn Minh dè dặt:

- Thưa ông cháu muốn hỏi...

Ông giáo già xua xua tay ngắt lời Tuấn Minh:

- Đừng xưng hô thế! Cứ gọi thầy xưng em cho thân mật. Em muốn hỏi thầy điều gì?

- Dạ điều em muốn hỏi là hồi còn đi học bố em học giỏi văn hay giỏi toán ạ?

- Bố em học giỏi cả hai môn nhưng theo nhận xét của thầy thì khả năng văn học của bố em vẫn xuất sắc hơn.

- Vậy mà bây giờ em thấy bố em rất ít đọc sách văn học - Tuấn Minh nói và cảm thấy buồn.

- Cũng có thể là vì công việc. Những người làm kinh tế thường ít có thời gian và hứng thú để đọc các tác phẩm văn học - Ông giáo già bất ngờ đưa ra một câu hỏi - Em có nhận xét gì về ngôi nhà của thầy không?

- Dạ! - Tuấn Minh có phần lúng túng - Em thấy đây là một ngôi nhà sàn có kiểu dáng đẹp. Thầy kiếm đâu được nhiều gỗ quý thế ạ?

- Không phải gỗ rừng đâu. Toàn quế đấy! Cọ lợp mái là loại lá già trăm năm sau không phải lợp lại vì nó còn bền hơn cả ngói. Đây là kiểu nhà sàn truyền thống của người Thái. Chỉ khác là kích thước thầy đã rút xuống chỉ còn chín mươi phần trăm thôi. Em lại đây thầy cho xem cái này.

Tuấn Minh theo ông giáo già đi sâu vào phía trong. Thầy Tâm mở cửa một gian kho trong chứa rất nhiều vật dụng bằng đồng. Đặc biệt có cả một bộ cồng chiêng hơn chục cái được treo thành hàng trên một cái giá cũng đóng bằng gỗ quế. Thầy nói:

      - Gian này gọi là gian hoòng hờ. Trong ngôi nhà sàn truyền thống của người Thái hoòng hờ là cái kho để cất giữ tài sản chung của cả gia đình. Thầy dùng nó làm nơi lưu giữ bảo quản những vật dụng truyền thống của người Thái đã sưu tầm được. Bộ cồng chiêng này là tài sản quý giá nhất của họ Cầm. Tổ tiên của người Thái ở huyện Thường nói chung và dòng họ Cầm nói riêng ngày xưa đã phải trải qua một cuộc di cư từ vùng núi Tây Bắc của đất nước qua Lào rồi mới đến đây lập nghiệp. Bộ cồng chiêng này đã theo dấu chân các cụ trong suốt cuộc hành trình gian lao và vất vả ấy. Vậy mà cách đây không lâu vào thời điểm kinh tế khó khăn có mấy thanh niên hư hỏng trong bản đã lấy trộm nó đem bán cho một bọn người xấu. Thầy đã phải rút toàn bộ số tiền tiết kiệm gửi ngân hàng để chuộc lại. Nhưng đấy là những tài sản hữu hình còn những thứ không thể nhìn thấy được thì sao? - Ông giáo già kéo Tuấn Minh trở lại gian hoòng hoóng bất ngờ đề nghị - Em có thể xem qua tủ sách của thầy rồi cho thầy một nhận xét được không?

     Tuấn Minh thật sự chưa rõ ý ông giáo già nhưng vẫn đứng dậy đi đến bên các kệ sách. Tủ sách của thầy phần lớn là các tác phẩm sưu tầm nghiên cứu về văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số trong tỉnh được sắp xếp rất khoa học. Đồ sộ nhất là bộ sử thi "Đẻ đất đẻ nước" của dân tộc Mường. Tuấn Minh suy nghĩ rồi mạnh dạn đưa ra nhận xét:

- Thưa thầy! Em thấy trên tủ sách của thầy các tác phẩm sưu tầm nghiên cứu về văn học dân gian Mường có số lượng nhiều nhất sau đó mới đến dân tộc Thái và các dân tộc ít người khác.

- Đúng vậy! Thầy cảm ơn em. Đó chính là điều lâu nay thầy rất băn khoăn. Đọc một "Trường ca ú Thêm" của Hà Văn Ban một "Tục ngữ Thái" của Cầm Bá Lai một "Inh Lài" của Ngân Đức Minh cạnh "Đẻ đất đẻ nước" của Vương Anh "Mo lên trời" "Tục ngữ dân ca Mường" các tập "Truyện Thơ Mường" của hai tác giả Hoàng Anh Nhân và Minh Hiệu mới thấy chỉ riêng mảng văn học dân gian trong kho tàng văn hóa phi vật thể của các dân tộc Thái mình là còn quá mỏng. Văn học dân gian Thái xứ Thanh nói chung và huyện Thường này nói riêng vẫn còn là những vỉa quặng quý chưa được khai thác. Điều đáng lo là những vỉa quặng quý ấy hiện lại đang nằm trong đội ngũ những nghệ nhân già. Mà họ thì lại đang dần ít đi vì tuổi tác...

    - Em hiểu rồi! - Tuấn Minh ngồi xuống bên ông giáo già với tay lật từng trang bản thảo để trên bàn - Chính vì lẽ đó mà thầy đang bỏ công sức sưu tầm ghi chép lại cái vốn văn học dân gian phong phú còn chưa được khai thác hết của dân tộc mình?

       Ông giáo xoa đầu Tuấn Minh xúc động nói:

- Em đã biết công việc thầy đang làm! Nhưng thầy có cái khó của mình là không có khả năng tập hợp những tư liệu mình đã sưu tầm ghi chép thành một văn bản khoa học. Và giả sử có làm được thì với cơ chế xuất bản như hiện nay thầy cũng khó mà lo được nguồn tài chính cần thiết để công bố tác phẩm. Thầy vẫn vừa làm vừa chờ hi vọng một ngày nào đó sẽ tìm được một người tâm đắc để trao gửi nguồn tư liệu mình đã sưu tầm ghi chép cho người ấy viết lại thành một công trình tầm cỡ để giới thiệu nền văn hóa đầy bản sắc của dân tộc mình với các dân tộc anh em trong tỉnh. Tuấn Minh à thầy nói điều này không biết có sớm quá không. Nhưng đúng là hôm nay gặp em thầy nghĩ người mà mình có thể tin tưởng để trao gửi ước nguyện này chính là em đó!

- Thưa thầy! - Tuấn Minh hết sức bất ngờ và vô cùng sửng sốt trước quyết định của ông giáo - Em làm sao có thể đảm đương được một công việc to lớn như vậy?

    - Em yên tâm đi. Không phải làm từ bây giờ mà sáu bảy năm nữa lúc ấy em tốt nghiệp đại học và thầy cũng có thêm thời gian để chỉnh lí lại nguồn tư liệu mình đã sưu tầm ghi chép được trước khi giao nó cho em. Thầy nghĩ có nó cộng với kiến thức em đã tiếp nhận được trong trường ốc chắc chắn em sẽ thành công.

- Nhưng mà... em lo mình không đáp ứng sự tin cậy của thầy!

Ông giáo già xoa đầu nó:

- Đừng lo! Thời gian với em hãy còn rất dài. Chỉ cần em thật sự tâm huyết với những gì là di sản của dân tộc mình thì mọi chuyện sẽ trở thành đơn giản cả thôi!

- Ôi thầy! - Tuấn Minh xúc động ngã vào lòng ông giáo già. Nó cảm thấy mình như đang được truyền thêm niềm tin và tình yêu quê hương làng bản từ trong ánh mắt của ông.

                                                             Đ.H.P

(*) Hoòng hoóng: Gian thứ hai trong ngôi nhà sàn truyền thống của người Thái rộng hơn các gian khác phía trên đặt bàn thờ tổ tiên.

Nguyễn Cẩm Hương

Bạn đồng hành

Truyện ngắn

      Chuyến xe khách đi lên miền núi chở khách thì ít mà hàng thì nhiều. Khách và hàng lẫn lộn chen chúc nhau mùi hành tỏi cá khô lẫn cả mùi thơm của xà phòng kem đánh răng quần áo giày dép v.v... thôi thì tạp bí lù những mặt hàng cần thiết cho một cuộc sống thường nhật. Khách thì đa phần nhếch nhác nhầu nhĩ vì bươn chải miếng cơm manh áo. Kẻ mỏi mệt đầy vẻ cam chịu cảnh tàu xe kẻ thì nôn nóng sốt ruột. Tất cả đều được gã tài xế dồn ấn lên xe như chất hàng miệng không ngớt rao inh ỏi: "Lên đi lên đi chạy ngay đây..."       Nhưng chiếc xe vẫn như kẻ ăn vạ nó cứ nằm ì ra và không ngớt tham lam nuốt rốn thêm vài người khách chậm chân. Tôi có thẻ nhà báo nên được lái xe cho ngồi một chỗ tươm tất ngay phía đầu xe thoát khỏi những mùi vị thập cẩm phía sau. Cạnh tôi là một ông khách trông khác hẳn "xê ri" phía sau. Tôi đoán chắc ông cũng thuộc dạng khách ưu tiên như tôi. Bản năng nghề nghiệp tôi muốn bắt chuyện với ông nhưng có lẽ ông không muốn điều đó nên cứ đăm chiêu quay mặt ra phía cửa sổ. Anh tài có vẻ nể trọng vị khách này có thể vì ông lớn tuổi. Sau một hồi hò hét sắp xếp đám khách phía sau anh ta quay lại bảo: " Để cháu lôi cái bì này ra cho bác duỗi chân đường xa mỏi lắm". Thế là tôi cũng được hưởng sái. Lại thầm chạnh lòng thương cho những vị khách phía sau bởi chẳng ai có thể ngồi cho đúng tư thế. Yên vị sau tai lái và nhấn ga bon bon trên đường anh lái xe mới thủng thẳng hỏi ông khách như chiếu lệ: "Bác lên trên này có việc gì thế ạ. Sao lãnh đạo lại đi xe khách cho vất vả?". Ông khách ngồi cạnh tôi cười nhẹ: "Tôi không còn là lãnh đạo nữa rồi tôi đi thăm người quen thôi". Anh tài cũng chẳng quan tâm đến câu trả lời nhưng tôi lại nảy ra nhiều câu hỏi trong đầu: "Té ra người đồng hành với tôi đã từng là một lãnh đạo gì đấy cấp sở cấp huyện hay cấp tỉnh? Có lẽ đã nghỉ hưu. Nhưng trông ông còn khá phong độ. Tôi chưa nghĩ ra được câu gì khả dĩ để bắt chuyện thì bỗng người đàn ông đã quay sang tôi: "Chị là nhà báo?" Tôi đáp: "Vâng" chờ ông hỏi tiếp nhưng ông không hỏi thêm lời nào tỉ như: Chị làm ở báo nào? đi miền núi viết về đề tài gì?.. Ông quay đi im lặng. Tôi lục lại trí nhớ xem có từng gặp ông lần nào ở đâu chưa? Đã viết bài ca ngợi hay chỉ trích ông. Nhưng xem ra ông là người kỹ tính và kín đáo. Ông bắt đầu nhắm mắt lim dim ngủ như cố tình lảng tránh những câu hỏi của tôi. Tôi nén một tiếng thở dài nhè nhẹ nhìn ra cửa sổ ngắm những ngọn núi xa xa đang như tiến lại gần. Mãi gần chiều chúng tôi mới tới được thị trấn huyện một huyện phía tây xa nhất của tỉnh. Tất cả xuống xe nhầu nhĩ rã rời bởi những cú sốc lắc cua phanh gấp trên suốt gần một ngày đường. Tôi nhìn đống hàng đang được người ta dẫm đạp ném xuống uỳnh uỵch mà nghĩ thế kia thì còn gì là tươi sống. Tôi phải đến ủy ban huyện tất nhiên là thế bởi tôi đã có điện báo trước. Tôi không quan tâm đến ông bạn đồng hành đã "kề vai sát cánh" trong suốt chặng đường vừa qua nên không để ý xem ông đi đâu chỉ biết ông gật đầu chào tôi rồi xách cặp đi về một hướng khác. Tôi vào ủy ban huyện trình giấy tờ và được mời đến một nhà khách cũng khá tươm tất. Bây giờ miền núi cũng đã tiến kịp miền xuôi nhà khách ủy ban cũng khép kín giường nệm đầy đủ tiện nghi như một khách sạn ở dưới thành phố. Tôi tắm táp và nằm nghỉ chờ đến giờ cơm tối. Chiếc điện thoại bàn reng reng kêu tiếng cô lễ tân mời tôi xuống ăn cơm. Bàn ăn đã đựoc xếp sẵn. Anh cán bộ hành chính của ủy ban tươi cười giơ tay mời tôi ngồi vào bàn ăn nhưng có vẻ như chưa thực sự cầm đũa. Bụng tôi đã đói ngấu chỉ muốn xới ngay bát cơm nóng chứ ruợu chè bây giờ thì mệt lắm. Anh cán bộ đưa mắt nhìn về phía cửa bảo tôi: "Chúng ta chờ chút có một đồng chí nữa cùng ăn". Tôi nghĩ bụng: Đúng là khách ba chủ nhà bẩy. Nhưng vừa lúc đó thì người đàn ông đồng hành với tôi ban sáng đã bước vào. Chắc là chỉ có tôi ngạc nhiên chứ ông rất bình thản khi trông thấy tôi. Sau lời giới thiệu của anh cán bộ ủy ban tôi được biết tên ông là Thân đã từng là bí thư huyện ủy của huyện này một thời gian. Trong bữa cơm chỉ có tôi với anh cán bộ ủy ban là nói chuyện nhiều nhưng uống thì lại chỉ có ông Thân và anh cán bộ. Còn chén ruợu của tôi chỉ để thỉnh thoảng có cái mà cụng đánh cạch. Ông Thân uống khá ngon lành đúng phong cách của người đã quen công tác ở miền núi. Tôi thì hăm hở ăn bỏ qua các món thịt cá chỉ có ăn cơm với dưa chua. Cơm gạo nương ngọt dẻo đó là đặc sản của vùng này. Dưa cải cũng trồng trên nương chỉ uống sương mà sao ngọt thế và với bàn tay muối dưa có lẽ cũng là bí truyền của đồng bào dân tộc trên này nên dưa có một vị thơm đậm độ chua ngọt mà không ở nơi nào dưới xuôi có được. ăn xong tôi xin phép về trước ông Thân và anh cán bộ ủy ban còn ngồi lai rai chắc họ còn nhiều chuyện muốn nói với nhau. Về phòng tôi định kiếm một giấc ngủ say nhưng bụng tôi ậm ạch vì ăn quá no hay vì một lý do gì đó mà cơn buồn ngủ không đến. Tôi trằn trọc một lúc rồi mở cửa phòng ra hành lang của nhà khách hóng gió hít thở cái khí rừng về đêm thật thoáng đãng và tinh khiết cảm thấy thoải mái hẳn. Có lẽ cũng chưa khuya lắm nhưng không gian rừng núi tĩnh mịch và tối om vì ở đây người ta phải tiết kiệm điện. Toàn bộ nguồn điện của thị trấn chỉ trông vào con thác tự tạo trên ngọn núi ngay trong thị trấn. Đã vào đầu hạ nhưng tôi vẫn thấy se lạnh trong chiếc áo ngủ mỏng manh. "Chị nhà báo chưa ngủ à. Ra ngoài phải mặc thêm áo chứ mặc thế kia là dễ bị cảm đấy". Tôi giật mình quay lại. Té ra từ nãy giờ tôi không nhận ra có một người nữa cũng ra đứng hóng gió ngoài hành lang giống tôi. Ông khoác chiếc áo sẫm màu nên lẫn vào bóng tối. Nhưng tiếng nói của ông tôi nhận ra là ông bạn đồng hành hồi chiều. ông cũng ở trong nhà khách này chỉ cách phòng tôi vài phòng. Sáng mai chúng tôi lại cùng ăn sáng. Dễ hiểu thôi vì có lẽ chỉ có hai chúng tôi là khách. Nói ăn sáng nhưng thực ra là một bữa cơm tươm tất. Anh cán bộ ủy ban lại cùng ăn với chúng tôi và giải thích: "Trên này phải ăn cơm sáng cho chắc dạ để còn lên rẫy làm cả ngày. Chị có xuống xã làm việc thì cũng phải một chiều giờ mới có ăn trưa". Tôi được một đồng chí phụ trách tuyên giáo đưa đi. Và một điều lạ là ông bạn đồng hành của tôi cũng đi về cái xã mà tôi định đến. Người đưa ông đi là một thanh niên trẻ khỏe mà chắc là ông quen biết. Vậy là chúng tôi không đồng hành nhưng lại đồng một địa điểm tập kết. Từ thị trấn huyện về đến văn phòng ủy ban xã khá xa. Chúng tôi đi xe máy nhưng mãi đến gần trưa mới tới nơi. Đến nơi thì văn phòng đã vắng hoe hỏi ra cả chủ tịch lẫn bí thư đều lên nương và đi về các bản cả. Tôi không thể quay về phải đành ngồi đợi có lẽ phải đến đầu giờ chiều họ mới trở lại. Tôi lại gặp ông Thân mặc dù ông đến muộn hơn tôi. Ông định đi đâu đó nhưng thấy tôi ngồi đợi ông băn khoăn và quay lại bảo: "Chị nhà báo này ngồi đợi ở đây chắc là sốt ruột lắm đấy. Nếu chị không ngại đi bộ thì tôi dẫn chị đi tham quan một bản của đồng bào Thái gần đây thôi. Biết đâu lại có tư liệu gì về vấn đề chị đang quan tâm". Tôi đồng ý ngay dù chưa biết thế nào nhưng thoát khỏi phải ngồi một chỗ là tôi mừng rồi và tự nhiên tôi bỗng thấy ông Thân khác hẳn ngày hôm qua cởi mở và vui vẻ như người trở về quê cũ. Chúng tôi tiến vào một con đường dốc men theo sườn núi. Ông nhanh nhẹn đi phía trước thỉnh thoảng quay lại chờ tôi. Tôi đi bộ hơi vất vả nhưng trong lòng rất phấn khích như đang dấn vào một cuộc phiêu lưu nên cũng không thấy mệt. Ông Thân vừa đi vừa chỉ trỏ giải thích những điều tôi còn lạ lẫm. Ông bảo bản Na Hác chỉ cách chỗ ủy ban theo đường chim bay có hai cây số nhưng đi bộ thì phải mất bảy cây. Bản này xưa nay vẫn nổi tiếng là đẹp và văn minh hơn những bản khác trong vùng. Tôi bước lập cập theo chân ông lên dốc rồi xuống dốc. Có đoạn phải cởi giày lội qua một khe nước nhỏ có đoạn gặp một con suối rộng hơn. Ông Thân không ngần ngại bảo tôi để ông cầm tay dắt đi từng bước. Tôi đành phục tùng ông bởi lúc này ông đã là một hướng dẫn viên tin cậy của tôi. Chúng tôi vào nhà ông trưởng bản. Bản vắng hoe chỉ có người già và trẻ con. Tất cả đều đã ở trên rẫy. Sau khi trao đổi gì đó với ông trưởng bản ông Thân gật đầu chào tôi và bảo đi một lát sẽ quay về. Sau khi tôi giới thiệu là nhà báo ông trưởng bản dẫn tôi đi tham quan những nơi tôi yêu cầu. Mục đích của tôi là viết về tình hình giáo dục ở các bản vùng cao của tỉnh. Ông trưởng bản dẫn tôi đến thăm ngôi trường tiểu học của bản. Nói là trường nhưng thực ra nó chỉ có một dãy lán bằng tranh tre nứa lá rất sơ sài bàn học thì cũng chỉ là những cây luồng đập dập ghép lại. Người ta có thể không nhận ra là trường học nếu không có tấm biển đề bằng một tấm gỗ được dựng lên trên hai cây luồng to phía ngoài: "Trường tiểu học Na Hác". Tôi chụp ảnh ghi số liệu lia lịa thầm nghĩ thật là không uổng khi phải lặn lội đến đây. Trở về nhà trưởng bản tôi thấy mâm cơm đã dọn sẵn chắc bà vợ ông trưởng bản đã lo tươm tất. Bữa cơm đậm đặc hương vị miền núi có măng luộc măng xào thêm đĩa thịt gà luộc để mời khách và rượu thì để cả vò bên mâm. Chúng tôi đều có ý chờ ông Thân về cùng ăn nên không có ai đụng đũa. Một lúc thì ông Thân về vẻ mặt ông rất lạ tôi không hỏi vì sợ ông cho là tò mò nhưng băn khoăn vì thấy ông không vui. Ông trở nên thẫn thờ ngơ ngác. Tôi đoán chắc là không gặp đựơc người quen. Ông Thân sà vào mâm cơm nhưng chỉ uống ông tợp những ngụm rượu nuốt ực nhưng tỏ vẻ rất khó khăn. Tôi không hỏi chuyện ông mà quay sang nói chuyện với chị chủ nhà nhưng người phụ nữ này chỉ cười là chủ yếu. Hai người đàn ông trong mâm nói chuyện rất khó hiểu vì thỉnh thoảng họ lại chêm vào vài câu tiếng Thái. Ông trưởng bản đã ngà ngà ông im lặng là chính nhưng ông Thân lại nói rất nhiều. Ông hỏi han tôi về công việc rồi đột nói: "Chị biết không cách đây hơn hai mươi năm tôi đã từng đến cái bản này đấy". Ông trưởng bản tợp một ngụm rượu rồi lè nhè: "Bản chúng tôi ơn lãnh đạo nhiều mà. Được có trường học được ăn no được...". Tôi sợ ông uống say không đưa tôi về được thì gay nên đe: "Anh còn phải đưa tôi về nữa đấy". "Chị yên tâm đi tôi không say đâu bây giờ tôi mới tỉnh". Đúng là ông vẫn tỉnh thật. Tôi giục ông về luôn chứ ở thêm một chút ông lăn quay ra ngủ thì chắc phải sáng mai tôi mới về trụ sở ủy ban được. Ông đồng ý thế là chúng tôi vừa đi vừa nhẩn nha nói chuyện. Lúc này chúng tôi đã có thể cởi mở với nhau hơn.

      Chẳng để tôi phải gặn hỏi ông cứ tuồn tuột kể như để giải tỏa cho chính mình chứ không cần biết tôi có nghe hay không.

     "Hồi đó tôi mới khoảng ba lăm tuổi có vợ và một con gái bảy tuổi. Tôi là kỹ sư kinh tế phụ trách khối miền núi nên tôi hay phải đi lên các huyện miền núi công tác. Thời đó đường đất trên này đi lại khó khăn lắm chứ đâu được như bây giờ. Tôi thường phải bắt xe khách lên huyện mà cũng phải mấy chặng mới tới nơi sau đó muốn về xã thì chỉ còn cách phải đi bộ. Con đường mà tôi với chị đi từ thị trấn về ban sáng lúc đó chỉ là một con đường mòn một bên là vách núi một bên là vực sâu chẳng có một nóc nhà nào ở hai bên cả. Hồi đó dân chưa biết định cư ở ven đường họ cứ quen quây quần trên một sườn đồi nào đó gần suối gần nương. Nhất là các bản người Mông thì họ thường ở cao hơn.

Tôi đi bộ từ huyện về đến gần trụ sở ủy ban xã thì trời đã ập tối mặc dù thời gian chưa hẳn là đã muộn. Nhưng ủy ban xã lúc đó cũng đã vắng hoe. Tôi đành lặn lội đi bộ tiếp về một bản gần nhất theo chân một người đi củi về muộn. Cơn giông đen đặc một góc núi. Tôi và người đàn bà gùi củi phải vừa đi vừa chạy thế mà cũng không thoát được cơn mưa. Cũng may tôi có mang theo áo mưa trong ba lô ngưòi đàn bà dẫn đường mỉm cười từ chối khi tôi ngỏ ý che chung và cứ thế bình thản đi trong mưa. Về tới đầu bản Na Hác chị ta chỉ cho tôi một căn nhà sàn ngay ven đường và bảo: "Cán bộ vào ở nhà này tôi còn phải đi xa hơn cán bộ không theo kịp được đâu". Nghe lời tôi rẽ vào và nhận ra căn nhà sàn này có vẻ khang trang hơn những căn nhà gần đó. Tôi leo lên bậc thang bằng gỗ ngó vào nhà và đánh tiếng: "Có ai trong nhà không? Tôi là cán bộ đi công tác cho tôi trú nhờ đêm nay". Không có tiếng trả lời cũng chẳng có bóng người. Trong nhà tối mờ mờ chỉ khẳng định có chủ bằng một chiếc siêu nước đang sôi ùng ục trên bếp than hồng. Tôi định quay ra nhưng phát hiện ngay gần đó trong một căn chòi nứa lá có tiếng lục đục và le lói ánh đèn dầu. Chắc chủ nhân đang ở đó. Tôi cởi ba lô và đi sang căn chòi bên cạnh. Sau này tôi mới hiểu đồng bào dân tộc vùng cao thường làm riêng một căn chòi như một nhà kho để dự trữ lương thực phòng tránh hỏa hoạn thú rừng quấy phá... Tôi bước lên căn chòi khá cao và ngay lập tức đập vào mắt tôi là hình ảnh một cô gái Thái tròn trịa trắng ngần đang sắp xếp lại những bắp ngô đã phơi khô trên chiếc giàn cao. Trông thấy tôi cô quay lại nhưng không có vẻ gì là ngạc nhiên chỉ gật đầu chào rồi lại tiếp tục công việc. Nhưng chỉ có tôi thì... trời ơi tôi như kẻ lạc vào thế giới khác thế giới của những nàng tiên nữ đẹp mê hồn mà tôi vẫn thưòng được nghe kể thời thơ ấu. Tôi cứ đứng ngẩn ra quên cả chào cô gái tự hỏi sao giữa cái nơi thâm sơn cùng cốc này lại có thể xuất hiện một cô gái đẹp đến như vậy. Không biết tôi có phải đang mơ không. Phải một lát tôi mới định thần lại được và trình bày lý do sự có mặt của tôi và không quên lại giúp cô gái. Vừa làm tôi vừa bắt chuyện: "Bố mẹ cô đi đâu cả mà để cô phải lụi hụi làm một mình thế này". Cô bé không trả lời. Nói cô bé vì tôi nhận ra cô còn rất trẻ chỉ độ mười sáu mười bảy tuổi là cùng mặc dù thân hình cô đã tròn trịa nở nang. Xếp xong những túm ngô cô bé đi ra cài cửa kỹ càng rút thang và bảo tôi vào nhà ngồi bên cạnh bếp lửa hong người cho khô quần áo rồi cô nói như ra lệnh: "Để tôi lấy cơm cho cán bộ ăn". Chưa biết tôi có đồng ý hay không cô đã vào trạn bếp bưng ra một bát cơm trên có một con cá khô bằng ngón tay rồi nói: "Cán bộ ăn tạm cho đỡ đói nhà chỉ còn có thế này thôi". Tôi đỡ lấy bát cơm rồi quan sát xung quanh định hỏi xem người nhà đi đâu vắng cả thì bỗng phát hiện ra trong góc nhà sau bức ri đô hoa có tiếng ngáy hay rên gì đó đục đục khàn khàn của một người đàn ông. Tôi hất mặt về phía chiếc ri đô hỏi. "Chắc bố cô mệt à?". "Không chồng tôi đấy. Nhà tôi ăn cơm sớm. Ông ấy ngủ say rồi". Bát cơm trên tay tôi vốn đã nguội ngắt ngơ bây giờ trở nên khô cứng tôi không thể nào nuốt nổi. Tôi giả vờ ôm bụng nhăn mặt: "Chết dở tôi đau bụng quá. Chắc lúc chiều ăn củ sắn nướng của người đi rừng không quen nên giờ...". Cô gái lại chỗ đống chăn đệm lôi ra một cái đệm rải ra gần bếp lửa bảo tôi nằm xuống cho đỡ đau nhưng tôi từ chối nằm và muốn ra ngoài. Thực ra là tôi muốn thoát khỏi cơn tức thở này. Trái tim tôi như ai bóp nghẹt. Một bông hoa rừng đẹp chừng ấy sao lại nỡ cắm xuống bùn đen. Mặc dù chưa được nhìn thấy mặt ông chồng nhưng tôi đoán đó là một ông già. Và trong tôi bỗng dậy lên một tình cảm thật lạ vừa thương vừa giận vừa tiếc. Rồi tôi lại thấy giận mình sao tôi lại rơi vào căn nhà này để trong tôi bùng lên những ý nghĩ tội lỗi. Đêm nay chắc tôi sẽ khó ngủ lắm. "Cán bộ à vào ngủ đi thôi". Tiếng cô gái vọng ra. Tôi nhìn đồng hồ dạ quang thấy mới có 8 giờ tối mà núi rừng đã đen thẫm những nóc nhà sàn gần đó đã chìm vào bóng tối. Tôi định rời khỏi căn nhà này để khỏi rơi vào một tình thế khó lường nhưng nhìn bốn bề thật tiến thoái lưỡng nan. Tôi đành trở vào nhà tìm cách đối phó với bản thân nhưng thật may vừa lúc đó tiếng ông chồng ngái ngủ hỏi vợ: "Cán bộ trên tỉnh à trải giường cho cán bộ ngủ chưa?". Đi công tác miền núi vài lần tôi hiểu phong tục người dân tộc Thái rất coi trọng chỗ ngủ. Bao giờ họ cũng có dư dả chăn đệm thậm chí cả dự trữ cho khách nữa. Trai gái lấy nhau bộ chăn đệm là đồ thách cưới và của hồi môn không thể thiếu. Sau tiếng nói tấm ri đô hé mở và một bộ mặt đàn ông ló ra. Đúng như tôi dự đoán một ông già. Tuy nhiên một ông già không đến nỗi hom hem như tôi tưởng. "Dạ cháu chào... chào già". Tôi ấp úng cảm thấy ngượng thay cho cô gái. "Cán bộ vào nhà ta là ta mừng lắm cán bộ đừng chê nhà ta nghèo ở lại bao lâu cũng được. Đang có mưa rừng mà không về ngay được đâu". "Vâng cám ơn già tôi đi công tác ở xã mưa quá xin già cho ngủ lại một đêm ở đây ngày mai tôi phải về xã làm việc với các lãnh đạo". Ông già gật gật rồi lại xua tay: "Ngày mai cán bộ không đi được đâu. Ta bảo thật mà mưa đêm nay là mưa rừng đấy sẽ có lũ về cán bộ không thể qua suối được nguy hiểm lắm. Lanh à luộc cho ta mấy củ măng cán bộ uống với ta một chén rượu". Tôi biết không thể từ chối nên đành chấp nhận. Đi miền núi mà không uống với đồng bào một chén là dễ hỏng việc lắm. Tôi ngồi hầu rượu ông già cho đến khi ông lại lăn ngay ra chiếu ngủ. Cô gái trở dậy lấy tấm chăn khẽ khàng đắp lên cho ông chồng. Tôi cũng giả vờ nằm nhắm mắt chứ không tài nào ngủ được. Trong đầu cứ cộn lên bao nhiêu câu hỏi về sự bí ẩn của cô gái.

      Ngày hôm sau đúng như ông già nói mưa rừng vẫn từng cơn không ngớt. Tiếng nước đổ từ các khe suối rào rào quanh nhà. Cả bản không ai lên nương cả. Họ ở nhà băm rau thái sắn tẽ ngô... Tôi cũng đành nghe lời ông già ngồi nhà vì không thể đi đâu được chỉ ăn xong rồi chờ đến tối để đi ngủ. Ngày đó bản chưa có điện chỉ dùng đèn dầu nên dầu cũng đắt như cá mắm. Bởi vậy mọi nhà đều phải ăn cơm sớm khi còn sáng trời cho khỏi tốn dầu. Tôi không quen ngủ sớm nên cứ hay ra ngoài hiên hóng gió phía để những vại nước xoong nồi bát đĩa. Đang tuần trăng nhưng do trời có mưa nên trăng bị lu mờ song có lúc đêm trời tạnh trăng cũng hé ra đôi chút tinh khiết huyền ảo khiến tôi thấy lòng lâng lâng khó tả vừa nhớ nhà vừa lưu luyến. Có lẽ tôi đang nghĩ nhiều đến cô gái chủ nhà nhưng cả ngày ở cùng nhà với cô mà tôi không dám lúc nào nói chuyện riêng với cô được. Mưa đã ba ngày rồi tôi vẫn chưa đi đâu ra khỏi bản được. Nếu thấy tôi định đi ông già lại gàn "Chưa đi được đâu cán bộ à đang có lũ mà. Nếu cán bộ cần việc gì tôi sẽ đi cho tôi biết cách vượt suối mà". Tôi đắn đo rồi cũng đành phải nhờ ông vậy. Tôi muốn ông đi gặp cán bộ xã thông báo tôi đã đến bản Na Hác đang chờ để được làm việc. Ông già hồ hởi nhận giúp ngay. Lúc đó trong tôi bỗng lóe lên một ý nghĩ thật đen tối rằng tôi có thể được ở một mình bên cô gái để trò chuyện thoải mái để giải tỏa những thắc mắc trong lòng.

     Tôi ngồi giúp cô gái tách những hạt ngô từ những chiếc bắp chắc mẩy óng vàng. Những hạt ngô rơi lả tả từ hai bàn tay tôi và cô. Tôi không khó khăn lắm để biết được những bí mật của đời cô. Năm đó mẹ cô bị một căn bệnh rất nặng dù đã cúng ma giải hạn uống nhiều thứ thuốc của nhiều thầy lang trong vùng nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm mà ngày càng nặng thêm. Theo như cô tả tôi đoán đó là bệnh viêm gan. Bệnh này dưới xuôi cũng dễ chữa nếu lúc mới phát được chữa trị kịp thời và dứt điểm thì sẽ khỏi hẳn nếu không sẽ dẫn đến sơ gan cổ trướng. Mẹ cô vì cứ nghe lời thầy lang băm rồi cúng mo vớ vẩn nên không khỏi. Bố cô đi khắp nơi tìm thầy tìm thuốc. Lặn lội sang tận Sơn La Lai Châu... Sau vài tuần đi miết bố cô dẫn về một ông thầy lang nghe đâu tận Sơn La. Ông chỉ nhìn mẹ cô rồi bốc thuốc luôn chả cần bắt mạch. Sau khi uống vài bát thuốc do chính tay ông sắc mẹ cô đã thấy nhẹ người sắc mặt thay đổi. Ông bảo như vậy là trúng bệnh. Thuốc hết ông rủ bố cô vào rừng tìm cây thuốc và bảo rừng ở đây rất nhiều loài cây thuốc quý. Chỉ non một tháng mẹ cô đã khỏi hẳn bệnh. Da dẻ đã trở lại hồng hào trắng trẻo. Khi ông thầy sắp xếp đồ đạc để ra về thì bố cô sụp xuống chân ông: "Cả nhà tôi chịu ơn ông nhưng chúng tôi chẳng còn của cải gì để trả công cho ông được xin ông cứ ra điều kiện. Tôi sẽ xin chấp nhận". Thầy lang đỡ bố cô dậy rồi nói: "Khu rừng của ông là một kho tài sản đấy. Ông cứ vào rừng hái những cây lá như tôi đã chỉ dẫn về rửa nước suối rồi phơi khô đóng giỏ để nơi cao ráo chờ tôi trở lại. Tôi sẽ lấy số thuốc đó của ông để trừ công". Bố cô mừng lắm. Hàng ngày ông vào rừng hái thuốc về phơi khô đóng vào những chiếc giỏ nứa cất đặt rất cẩn thận. Nhưng hết giỏ nọ đến giỏ kia cứ đầy lên mà vẫn không thấy tăm tích ông thầy lang trở lại. Sốt ruột và sợ thuốc hư hỏng bố cô lại khăn gói lặn lội trở lại nơi đã tìm được ông thầy. Đến nơi trước kia là một bản sầm uất của người Mường thì giờ đây chỉ còn là những tảng đất nham nhở chằng chịt những khe nước đục lờ. Và lúc này ông mới được biết căn nhà và vợ con người thầy lang ân nhân của ông đã bị lũ cuốn trôi trong một đêm giông tố trong thời gian ông thầy đang bận chữa bệnh cho vợ ông. Tìm và hỏi thăm mãi bố cô mới tìm được ông thầy đang ở nhà một con bệnh. ơn chưa kịp trả bố cô bèn năn nỉ xin được đón ông về quê mình và hứa gả đứa con gái lớn đang vào tuổi dậy thì cho ân nhân coi như đền một người vợ cho ông. Lúc đó Lanh còn ngây thơ lắm. Cô không biết gì hơn khi bố mẹ bảo lấy chồng là nghe theo thôi hơn nữa đó là cách để trả ơn cho bố mẹ. Lanh chưa kịp quen một chàng trai nào vì trong bản trai tráng cứ vừa kịp lớn là đi nghĩa vụ đi công nhân hết. Ông thầy tuy có tuổi nhưng trông ông còn tráng kiện lắm và cô cũng thấy quý ông trong thời gian ông chữa bệnh cho mẹ cô. Năm đó cô mới mười lăm tuổi. Ông thầy lang lúc đầu không dám nhận nhưng vì ông cũng cần một mái ấm gia đình vả lại dân trong bản cũng tha thiết mong ông lấy vợ ở bản để chữa bệnh cho họ nên họ đã giúp ông dựng nhà tạo điều kiện cho ông sinh sống. Chính vì vậy mà gia đình Lanh sống cũng không đến nỗi. Tuy nhiên không hiểu sao mà Lanh chưa có mang. Tôi cũng không hiểu nhưng tôi ngờ một người thầy thuốc giàu kinh nghiệm như ông thì có gì mà không giải quyết được điều đó. Hay ông muốn tận dụng sự son trẻ của cô gái. Nghĩ vậy tôi lại thấy điên người lên. Tôi liếc sang bàn tay Lanh những ngón tay tuy hơi to đôi chút nhưng bàn tay trắng trẻo và mịn màng lắm. Tôi thả bắp ngô xuống xoa xoa tay rồi cầm lấy cổ tay Lanh giả vờ nói: "Em bày cho anh cách tẽ ngô thế nào cho nhanh". Nói rồi tôi cứ nắm chặt lấy tay Lanh mắt nhìn đăm đăm

More...

THƠ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Văn Thanh

Tháng Tám niềm tin

Mười hai tuổi gặp mùa thu tháng Tám

Tôi hân hoan đi giữa rừng cờ

Tiếng trống ếch đội nhi đồng cứu quốc

Nhịp chân đều tăm tắp - mũ ca lô

Cách mạng thành công - Độc lập Tự do

Cờ đỏ sao vàng trời thu bát ngát

Căng ngực trẻ: Tiến quân ca tôi hát!

Kỷ niệm đầu đời muôn thuở không phai

Mới đó thôi đã mấy chục năm dài

Bé mười hai thành người "xưa nay hiếm"

Đường tôi đi cũng là đường tôi đến

Nguyên vẹn sắc cờ tháng Tám quang vinh!

Sớm thu nay rạng rỡ trước Ba Đình

Nghe lại lời Bác: Tuyên ngôn Độc lập

Mừng đất nước non sông ta thống nhất

Thấy lòng già trẻ lại những ngày xuân...

                                         V.T

Hoàng Bình Trọng

Chiều nhọ cánh cò

Tôi hằng quen những chiều nhọ cánh cò

Đi tha thẩn một mình nơi bãi vắng

Trong thoáng chốc tôi thả vào cõi mộng

Một đô thành trên mặt sóng lô nhô

Một công viên trên cát nắng rang khô

Một cánh rừng giữa trời mây vần vũ.

Tôi thảng thốt nghe ầm ào thác đổ

Nghe tiếng chim như tiếng sáo tiếng đàn

Tôi chợt quay về thời trai trẻ ngang tàng

Thơ tặng em tôi cài trên vách đá

Và bài thơ bay vèo như chiếc lá

Đến cùng nàng một tuyệt thế giai nhân

Và dường như có đôi cánh thiên thần

Nàng kịp đến trao tôi hạnh phúc

Tôi ngây ngất lật từng trang ký ức...

Sau một đêm đi lạc giữa tim mình

Tôi trở về khi đã bình minh

Lại bươn chải với lo toan đời thực

Lại đối diện mọi sang hèn vinh nhục

Nhưng tôi tin hạnh phúc đang chờ

Là đến khi chiều nhọ cánh cò

Được tha thẩn một mình nơi bãi vắng.

                                 H.B.T

Trịnh Minh Châu

Hồi ức núi đồi


                            Tặng Hoàng Nhân và Xuân Ba

Đỉnh núi quê hương đến từ ngày nhỏ

Hùng Lĩnh - Mông Cù Gành Xay Đá Dựng

Đá thì sắc mà bàn chân không cứng

Dép giày chi một lũ trẻ chăn trâu.

Giăng mù trời tháng bảy mưa ngâu

Tiếng í ới gọi nhau tìm nơi trú

Đứa trước đứa sau đùa vô tư lự

Mặc bên ngoài nghé ọ! gọi người chăn.

Cuối mùa thu lau lách hóa tro than

Băng lửa khói hò nhau theo hoẵng núi

Quên áo phong phanh quên chiều xuống vội

Quên đường về đá cuội rách bàn chân.

Đồi núi quê mình mỗi độ mùa xuân

Xanh đến thế một màu xanh cỏ mọc

Thung lũng hoa thơm triền cao chim hót

Ngước mắt nhìn bát ngát màu xanh.

Tôi lớn lên năm tháng thật đa tình

Yêu chú yêu cô yêu dì yêu mẹ

Yêu mái đình cong cây đa cổ thụ

Tiếng chuông chùa buổi sớm vọng ngân nga.

Qua một thời lửa đạn chia xa

Tôi trở lại với núi đồi thơ bé

Nhìn tên bạn thành tên liệt sĩ

Nghỉ yên bình dưới chân núi ngàn năm.

Non núi quê nhà không khuất xa xăm

Gần gũi trong tôi từ tuổi nhỏ

Khi đói khi no khi còn khốn khổ

Khi con người khao khát mộng hoàn lương.

Tôi tìm về đỉnh núi thân thương

Nhìn bốn phía sau nhiều bươn chải

Vó ngựa bóng câu thời gian mê mải

Không xóa mờ ký ức của đời tôi.

                         4-2008

                         T.M.C

Võ Hoàng Nam

Có một thời như thế

Có một thời!

Những người lính chúng tôi

Kể chuyện tiếu lâm cười đùa vui đáo để

Tiểu đội mười đứa mười vùng quê - rất trẻ

Tôm tép áo tơi... chọc ghẹo đến tận khuya.

Có một thời!

Hành quân mưa não nề

Điếu thuốc chuyền nhau hút không kịp cháy

Bức thư hậu phương lâu ngày mới tới

Cả tiểu đội xúm vào đọc thuộc hết từng câu.

Có một thời!

Bom đạn rít trên đầu

Mấy đứa chụm nhau đánh bài bôi nhọ mặt.

Chính trị viên ngồi xem cười ngây ngất

"Cháo nấu xong rồi các cậu nghỉ ăn thôi"!

Có một thời!

Những đồng đội của tôi

Sau trận đánh lại thiếu đi mấy đứa

Bụng đói lả mà không ai thèm ăn nữa

Cánh võng đêm nay vắng tiếng cười giòn.

Chính cái thời súng là vợ đạn là con

Hầm là nhà ba lô là tài sản

Giữa sống chết mới thấm sâu tình cảm

Càng quý thêm phẩm giá lính cụ Hồ.

                                V.H.N

More...

THƠ DỰ THI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THƠ DỰ THI



Nguyễn Ngọc Sính

Trai sông Mã

Những cánh tay như chân cáy chân còng

Vỗ vào sóng ôm vòng sóng trườn lên sóng

Bến đang lặng lẽ bỗng ồn ào sôi động

Chúng tôi té nắng qua đầu là mưa xuống bờ vai.

Trai sông Mã có thể đập đá vá trời

Khi đã yêu thì nồng nàn bốc lửa

Miệng nói nên thơ cũng câu ngang câu ngửa

Vẫn đậm đà bản sắc một vùng quê

Có giặc là đi thắng lợi trở về

Nếu ngã xuống lại hóa mình vào sóng

Để vỗ suốt cả đôi bờ dài rộng

Chuyển phù sa cho biển sáng vĩnh hằng

Từ bao đời vua chúa tới thảo dân

Nhiều người từng là trai sông Mã

Những hạt phù sa đắp bồi nên lịch sử

Cũng trải qua bao trong đục nhọc nhằn

Khi có vết nhơ lại nhớ tới sông

Về với dòng trong làm sạch

Nằm gối sóng miên man bờ ký ức

Sông Mã ngàn năm nâng vực bước chân người...

                                      N.N.S

Nguyễn Ngọc Sính

Màu quê


                 Kính tặng Cẩm Lương - Cẩm Thủy

Em ơi quê mình làng Ngọc

Anh về thung thăng tuổi thơ

Kỷ niệm đã tròn bóng núi

Nghe rừng lưu gió ngàn xưa

Cá thiêng đớp mây tí tách

Vương bóng bàn tay tung còn

Mùa đi rưng rưng thảm cỏ

Da trời thuận sắc dâu non

Quê mình lắm suối nhiều sông

Tóc Mường buông lơi dòng chảy

Nước trong suốt thời con gái

Nâng rèm đợi bóng trăng lên

Lần đường theo lối gió quen

Vẫn hương rừng xưa ngai ngái

Lộc bung tiếng tằm ăn rỗi

Giăng mành sợi nhớ mông mênh

Trà xanh khói vẫn thơm xanh

Màu quê cấu vào da thịt

Có một tình yêu da diết

Đã thành máu chảy trong tôi.

                       N.N.S

Nguyễn Ngọc Sính

Đò trăng

Đò trăng đi giữa không trung

Chở mưa chở nắng hay không chở gì

Thượng huyền nặng mớn đò đi

Lại tròn vành vạnh mỗi khi vào rằm

Mang tình rải khắp tháng năm

Vẫn chưa đầy bến xa xăm khách chờ

Buông chèo quẫy sóng ngẩn ngơ

Mà say dọc cả đôi bờ trăng ơi

Sương sa lạnh bến khuya rồi

Chuyến này là ngược hay xuôi hỡi mình

Gọi cho vọng đến thiên đình

Đò trăng ghé bến đa tình đón tôi.

                           N.N.S

Vũ THị KHương

Không đề

Ngẩn ngơ ấm chén nhìn nhau

Trà không pha rót chén sầu mặc em

Ngoài vườn hoa ngậm sương đêm

Giọt sương như giọt lệ mềm nhẹ rơi

                          5-2008

Trái đất trong đêm

Ta thức dậy trong đêm

Trái đất ngủ say mộng mị

Tiếng côn trùng nhỏ bé

Bây giờ là chủ không gian

Ta thức dậy trong đêm

Trái đất mơ màng lãng mạn

Cuộc tình ái ân mệt nhoài quên lãng

Mỉm cười trong đêm

Ta thức dậy

Bốn bề yên tĩnh

Trái đất

Trong trẻo hồn nhiên

              3-2008

               V.T.K

Em...

Em đa tình em khát khao

Nhớ thương em gối đầu vào giấc mơ

Vòng tay anh ru ầu ơ...

Em như trẻ nhỏ dại khờ của anh

Bồng bềnh giấc ngủ ngon lành

Giật mình tỉnh giấc... anh thành cách xa

Giá như đừng tỉnh giấc mơ

Thì em vẫn ngủ

Âu ơ ngon lành...

                      4-2008

                       V.T.K

Mai Hương

Gái quê Thanh

Chẳng nuột nà như chè Thái gái Tuyên

Không thanh lịch như Tràng An đô hội

Chẳng mặn mà như kinh kỳ xứ Huế

Gái quê Thanh mộc mạc lắm ai ơi!

Gái quê Thanh nước da đen cháy

Bàn tay thô sục lún rãnh cày

Yếm xếch ngược quần sắn ngang móng lợn

Góc chợ lề đường đắng đót chanh chua.

Gái quê Thanh quen ăn cơm bằng đèn

Cấy thâu đêm tàn trăng vẫn cấy

Lội đồng chiêm đỉa beo ngang cạp váy

Vẫn xoạc quai cồng tát nước dưới trăng thanh.

Gái quê Thanh vụng về xù xì cóc cáy

Chỉ chém to kho mặn là nhanh

Hạt mít giã giò lá cây làm bánh

Đen nhẻm mới bùi cứng ngắc mới ngọt thơm (1)

Gái quê Thanh khua luống chai sần xảy sàng hạt mẩy

Ruột tượng lèn thóp bụng trạng đăng khôi

Thấp thỏm đến ngày chồng vinh quy bái tổ

Cũng chỉ biết làm "dấm chó" đãi làng thôi (2)

Gái quê Thanh còn keo kiệt căn cơ

Thắt bụng buộc lưng bằng dây rơm sợi chuối

Sữa vắt từ khoai nuôi anh hùng tiến sỹ

Rau má bờ đồng bao vua chúa lớn lên.

Gái quê Thanh giặc đến nhà là tương luôn đòn sóc

Đêm "dô tà" đưa bộ đội qua sông

Kháng chiến trường kỳ vẫn xe thồ "trèo lên Quan dốc"

Một vai gầy vác ngàn xác xâm lăng.

Gái quê Thanh xưa vung gươm chém kình ngư giữa bể

Khiến bao trai gánh nước nước rửa bành voi

Gái quê Thanh đời nào cũng thế

Cứ xù xì thô ráp vậy thôi...

                            M.H

(1) Bánh gai Tứ Trụ (Thọ Xuân) làm từ lá gai có màu đen nhưng ăn rất ngọt bùi; chè lam Phủ Quảng (Vĩnh Lộc) làm từ gạo nếp lạc và mật mía rất cứng nhưng rất thơm ngon.

(2) Dấm chó: Thanh Hóa nấu thịt chó với mẻ chua dân gian gọi đùa là "dấm chó" để phân biệt với cách nấu thịt chó của Nghệ An nấu với mật mía gọi là "chè chó"

Ngọc vân

Miền em

Em muốn mình là miền quê nhỏ

Chờ anh về với những phút bình yên

Đợi chờ anh nắng gió cứ duềnh lên

Bao vất vả lo toan thời mở cửa

Nhưng then gài trái tim em giữ

Anh đi đâu rồi cũng tự quay về!...

Miền nhớ thương có dòng sông xanh thắm

Sạch bụi đường xa mát trong sắc hương

Ngô lúa thơm thơm hương đồng gió nội

Chim hót trong veo sau ô cửa nhỏ

Có ông bếp hiền lành reo lửa

Cứ xốn sang báo hiệu anh về...

Nơi con cua thích bò dọc đi ngang

Ngọn rau má xanh một thời con gái

Ngọn mía ngọt chờ mùa gió heo may

Về đi anh về đi anh!

Nơi con cò lặn lội bờ mương

Gà gáy le te

Bụi ớt vàng hoe cay nồng con mắt

Cứ chờ anh chờ anh...

                         23-7-2003

                              N.V

Nguyễn Minh Khiêm

Gạch đá lại ngồi mù khú với nhau

Gạch đá lại ngồi mù khú với nhau

Thời bao cấp trắng đêm chờ mua gạo

Quyển sổ tấm bìa khư khư trong túi áo

Gạch đá xếp hàng đăng ký thay tên!

Nhân viên bán hàng cứ thế gióng lên

Ai là cục đá?

Ai là viên gạch vỡ?

Ai là...?

Rồi gạch đá thi nhau ra mặt trận

A B C D... đủ mọi chiến trường!

Hết giặc rồi gạch đá hồi hương

Thằng cụt chân

Thằng cụt tay

Thằng nhiễm chất độc da cam

Thằng chấn thương sọ não...

Chống nạng ra đồng chẳng nói gì xương máu

Cứ mù khú với nhau thời trắng đêm xếp hàng mua gạo

Gạch đá cười... rung cả cuốc cày!

                              15-3-2008

                                 N.M.K

Lê Văn Bảo

Mùa giáp hạt

Sắn khoai cõng mùa cho lúa

Nồi cơm chao chát vị lam lũ

Nén tiếng thở dài lọt thỏm những câu thơ

Gọi mùa về...

Nắng rót mật

Xuống đồng

Lúa đang thì con gái

Mà mẹ đã oằn mình theo dáng mùa

Cong cong một câu thơ.

Con gọi mùa về trong giấc mơ

Chợt thấy

Lúa uốn mình theo dáng mẹ

Mỉm cười giữa cánh đồng

Bóng ca dao hiện về

"Cánh cò..."

                    9-4-2008

                      L.V.B

Nợ

Con lớn lên từ luống cày lật ngược của cha

Từ nồi cơm độn khoai sắn của mẹ

Từ bầu vú không sữa của bà.

Một ngày con ngồng mình

Thấy lạ

Nén tiếng ngậm ngùi

Khi mất mùa hiện trên mái đầu của cha

Có cả ruộng đồng trên khuôn mặt của mẹ

Và hiện sinh những ký ức về bà.

Ngày con đi

Tìm một cánh đồng khác

Sẽ gieo trồng bằng những hạt mầm

Cha mẹ để nòi qua năm tháng.

Đi xa nợ xóm nợ làng

Nợ ngô nợ lúa khoai lang tháng mười

Con đây nợ cả khóc cười...

                              L.V.B

More...

Tác phẩm và dư luận

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Đôi điều về ca dao

Phạm Đình Ân

     Nói đến thơ ca nói chung người ta nghĩ ngay đến thơ lục bát nếu xét về phương diện thể loại. Tuy không phải chỉ riêng Việt Nam mới có nhưng xưa nay thơ lục bát vẫn được coi là thể thơ truyền thống của nước ta. Có lẽ chỉ có vài ba nước dùng ngôn ngữ đơn âm như Việt Nam mới có thể thơ đặc biệt này mà đơn vị cơ bản của nó là một cặp hai dòng thơ trên sáu âm tiết dưới tám âm tiết. Về mặt lý thuyết chỉ từ một đơn vị hai dòng thơ lục bát (6) bát (8) như vậy lời ca dao (trong ca dao truyền miệng) và bài thơ (trong thơ của văn học viết) có thể mở rộng ra đến vô tận.

    Thể thơ lục bát có vai trò quan trọng và có sức sống mạnh mẽ vì nó thích hợp với việc phản ánh cuộc sống tâm hồn người Việt nó phát huy được vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc một thứ ngôn ngữ giàu thanh điệu uyển chuyển du dương khi nói khi hát khi đọc.

    Thời trung đại trừ Nguyễn Trãi và một số ít các nhà thơ khác các nhà thơ có làm thơ Nôm đều ít nhiều sử dụng thể thơ lục bát. Đáng lưu ý nhất là Nguyễn Du với tác phẩm Truyện Kiều bất hủ của ông.

    Cũng nói về văn học viết từ đầu thế kỷ XX đến nay thơ lục bát đã có mặt phổ biến trên sách báo. Thơ lục bát của văn học viết lớn mạnh cùng với sự trưởng thành nhanh chóng của nền văn học viết bằng chữ quốc ngữ ghi âm bằng mẫu tự La - tinh.

    Thơ lục bát xuất hiện ở nước ta vào khoảng cuối thế kỷ XV và phát triển qua các giai đoạn;

- Lục bát từ cuối thế kỷ XV đến trước Truyện Kiều (đầu thế kỷ XIX).

- Lục bát ở đỉnh cao Truyện Kiều.

- Lục bát trong phong trào Thơ Mới.

- Lục bát từ sau thơ mới đến nay.

1. Lục bát trong ca dao.

     Lục bát là thể thơ chủ yếu của ca dao. GS - TS Nguyễn Xuân Kính và nhóm cộng sự của ông đã cho biết rằng 95 % số tác phẩm (lời) ca dao được sáng tác theo thể lục bát. Như vậy là phần lời của diễn xướng dân ca hầu hết là những cặp thơ lục bát hai dòng trên sáu âm tiết dưới tám âm tiết. Đó là đơn vị tế bào một chỉnh thể tối thiểu của tác phẩm lời ca dao xét về mặt thể loại.

Xét về thời điểm ra đời như vừa nêu lục bát dân gian và lục bát văn học viết có thể đã cùng sinh ra và giao thoa với nhau trong quá trình phát triển. Một điều thấy quá rõ lục bát dân gian đã thúc đẩy lục bát văn học viết nhanh chóng đi đến thuần thục hơn đồng thời lục bát văn học viết khi đạt đến trình độ bác học lại có ảnh hưởng đến lục bát dân gian.

    Do đặc trưng diễn xướng và truyền miệng lục bát dân gian khác lục bát văn học viết. Lục bát trong ca dao ngắn gọn hơn nhưng lại biến thể nhiều hơn.Trong khi đó lục bát biến thể ở văn học viết chỉ là ngoại lệ và ít có kiến trúc cân đối (3 - 3 4 - 4).

2. Lục bát biển thể.

    Lục bát biến thể là một cặp hai dòng thơ có hình thức lục bát nhưng không tuân thủ sít sao quy ước truyền thống về số âm tiết của mỗi dòng thơ. Thường là số âm tiết giãn. Như trên đã nhắc qua hiện tượng lục bát biến thể xảy ra tương đối nhiều ở ca dao trong khi đó ở văn học viết lại hiếm thấy. ở lục bát biến thể khuôn hình về vần vẫn nguyên vẹn còn số tiếng của mỗi dòng thơ thì thay đổi.

    Lục bát biến thể có ba loại.

a. Dòng lục thay đổi

Con chim nho nhỏ cái lông nó đỏ cái mỏ nó vàng nó kêu

nó ở trong làng

Đừng tham lãnh lụa phũ phàng vải bô.

(18/8)

ăn ốc nói mò

ăn măng nói móc ăn còn nói bay.

(4/8)

Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng

Về bưng ăn cá về đồng ăn cua.

(8/8)

b. Dòng bát thay đổi

Hoa thơm thơm lửng thơm lừng

Dặn con ong kia đừng chơi nhởi dặn con bướm đừng xôn xao.

(6/13)

Trăn năm trăm nẳm trăm nằm

Không yêu nhau nữa trả đôi trầu lại đây.

(6/9)

c. Cả hai dòng đều thay đổi

Công anh gánh đất đắp cội cây đào

Công anh rào dậu để cho ai vào hái huê.

(8/10)

Sớm em qua cửa ngỏ thấy trong vườn quả ớt hoa rơi

Ngả khăn ra bọc lấy của người như của ta.

(12/10)

Thân em như ngói lợp mái nhà

Thân anh như con chim phụng qua lưng trời.

(7/10)

     Làn điệu của việc ca hát (đối với dân ca) yêu cầu của việc thể hiện một số nội dung nhất định (đối với ca dao) là lý do về sự có mặt của lục bát biến thể. Số lượng âm tiết tăng lên (hoặc giảm đi) đóng vai trò quyết định về việc thay đổi nhịp thơ. Mặt khác hình thức lục bát biến thể có ưu thế trong việc diễn đạt những hoàn cảnh điều kiện khó khăn không thuận lợi và ý chí quyết tâm khắc phục những trở ngại ấy.

    3. Hình thức lục bát biến thể hầu như không được các tác giả của dòng văn học viết (trước 1945) sử dụng.

Trước năm 1945 hình thức lục bát biến thể chỉ có ở trong lời dân ca và ca dao. Hình thức này không có trong truyện nôm khuyết danh như: Lý Công Phạm Tải Ngọc Hoa Lưu Bình Dương Lễ Phạm Công Cúc Hoa Thạch Sanh v.v... không có trong những truyện nôm có tác giả như: Hoa Tiên Truyện Kiều v.v... Trong thơ trữ tình bác học của các nhà thơ Tú Xương Tản Đà Nguyễn Bính v.v... cũng tuyệt nhiên không có thơ lục bát biến thể.

    Các nhà thơ trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm tôn trọng niêm luật. Họ cũng chưa sẵn tâm lý bất thường để sử dụng hình thức thơ đi ra khỏi cái bình thường. Hồ Xuân Hương tuy "quậy phá" nhưng chủ yếu là tuân theo hình thức thơ cổ Trung Hoa. Nguyễn Du tuy luôn luôn có ý thức tiến bộ về mặt xã hội nhưng về nghệ thuật ông lại muốn giữ một sự nền nếp trang trọng chỉnh tề bởi vì ông đã ngầm xếp tác phẩm của mình và dạng cao quí. "Lời quê" chỉ là cách nói khiêm tốn mang tính công thức điệu đà cảnh vẻ bề ngoài mà thôi.

    Sáng tác dân gian chỉ gồm những lời gọn ngắn. Làm biến thể thuận tiện hơn. Đối với một số tác phẩm viết có độ dài hơn cả những lời ca dao nhiều dòng nhất thì sử dụng biến thể sẽ phá vỡ cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm.

    Các nhà thơ mới cũng không sử dụng lục bát biến thể. Bởi vì họ đang muốn tiến tới mức chuẩn nghệ thuật của thể thơ này. Thơ mới vẫn nghiêng về sự sang trọng. Các trắc trở ngang trái của thơ mới không phải là của dân gian của đời thường bùn đất mà chỉ là cái trắc trở ngang trái nghiêng về sạch sẽ thơ mộng của lớp trí thức thanh niên tiểu tư sản.

Sẽ hình dung như thế nào nếu bài thơ của Huy Cận (Nắng chia nửa bãi chiều rồi/ Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu) lại có xen kẽ câu lục bát biến thể? Cái đẹp của thơ mới nghiêng về cái đẹp tâm tưởng hy vọng hoài vọng thanh cao không phải cái đẹp đời thường bình dân.

     4. Lục bát biến thể của Hồ Chí Minh và Tố Hữu.

lãnh tụ Hồ Chí Minh có nhiều bài thơ dạng lục bát biến thể.

     Thí dụ:

Xuân này kháng chiến đã năm xuân

Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công

Toàn dân ta quyết một lòng

Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời

(Xuân Tân Mão 1951)

    Khác với những bài thơ chữ Hán mà nhiều bài đọc như thơ Đường những bài thơ viết bằng ngữ Việt của Bác thường thường dễ hiểu mộc mạc gần gũi quần chúng. Bác sử dụng biến thể cốt tạo ra không chí chan hòa dân chủ thân tình nhằm chiếm được cảm tình của số đông nhân dân. ở những bài thơ này giá trị báo chí tuyên truyền động viên nhiều hơn giá trị nghệ thuật. Tỉ lệ biến thể trong các bài thơ lục bát của Bác khá cao. Biến thể ở đây không phải là kém sang trọng là đùa tếu là gập ghềnh ngang trái mà giản dị hòa đồng nhằm đi sâu đi sát vào đông đảo người lao động bình thư

    Nhà thơ Tố Hữu cũng sử dụng không ít lần hình thức lục bát biến thể. Tuy nhiên lục bát biến thể của nhà thơ chuyên nghiệp nổi tiếng này có tính nghệ thuật nhất định:

    Con ong làm mật yêu hoa

Con cá bơi yêu nước con chim ca yêu trời

(Tiếng ru)

Sợ chi sóng gió tàu bay

Tây kia mình đã thắng Mỹ này ta chẳng thua

...

Mẹ cười: nói cứng phải xiêu

Ra khơi ông còn dám tui chẳng liều bằng ông

(Mẹ Suốt)

    Tố Hữu không dùng tràn lan hình thức lục bát biến thể. Ông chỉ dùng nó ở những trường hợp cần thiết như khi nói đến tâm trạng và cuộc sống của người lao động chân chất giản dị nghèo túng đáng yêu... (Riêng bài Ru "con cá bơi yêu nước..." gặp gỡ hình thức diễn xướng vì ru là phải ngâm nga có tiếng đệm). Đối với Tố Hữu lục bát biến thể còn chứng tỏ là một biện pháp nghệ thuật một yếu tố tu từ. Hình thức lục bát biến thể trong mỗi một bài thơ nào đó của ông có thể còn gợi lên một cảnh quê một sự đầm ấm ân cần lột tả được không khí địa phương thôn dã. Trên đại thể thơ Tố Hữu thuộc loại thơ đi sát đời sống chính trị - xã hội. Giọng thơ ông hào sảng tuôn trào phóng túng điều này thể hiện rõ khi đời thơ ông trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tố Hữu rất tôn trọng truyền thống tuy nhiên ông ít vướng bận vào điệu ngâm mà đã xênh xang khoáng đạt ở điệu nói. Ông làm thơ lục bát khá hay khá chuẩn. Tuy nhiên nếu cần ông sẵn sàng phá luật. Hình thức biến thể ở thơ ông vẫn bảo đảm sự gợi cảm nghệ thuật nhằm phục vụ cho một nội dung đã định trước.

                                                                    P. Đ.Â


Tranh của Thanh Sơn


Đọc "Mùa xuân cho em" của Lê Văn Sự

Ngô Xuân Tiếu


     Lê Văn Sự làm thơ từ hơn ba mươi năm trước tính từ mốc thời gian 1972. Từ đó đến nay Lê Văn Sự đã in năm tập thơ: Về một vùng quê; Dáng mẹ chiều mưa; Nỗi niềm; Miền thương nhớ và Mùa xuân cho em. Trong năm tập thơ này đáng chú ý hơn cả là Mùa xuân cho em mà chúng ta sẽ bàn dưới đây.

     Tập thơ này tác giả thể hiện hướng sáng tác sở trường vể vùng đất thiêng liêng của mình! Vẫn là sự đam mê thường trực; nhạy cảm với thiên nhiên; di tích lịch sử; danh lam thắng cảnh; và quê hương đồng chiêm trũng của ông; về chị và mẹ v.v...

     Nhà thơ nhìn hoa lá đất trời thật gợi mở và tinh tế: Thả dây màu tím chào xuân/ Cánh li ti giữa trong ngân gợi mời/ Hương quấn quýt lộc vừng ơi? Nhìn cây bắt gặp một trời tơ non.

    Với ông hương sắc của hoa không chỉ là hình ảnh đẹp của thiên nhiên ban tặng trong một khoảng thời gian không gian nhất định. Ông đã nhìn thấy cả Một trời tơ non kia. Đâu phải một chùm hoa lộc vừng khoe sắc như ta thường gặp.

    Nhiều người viết về suốt cá Cẩm Lương thắng cảnh nổi tiếng ở xứ Thanh. Nhưng chưa có bài nào viết về đặc thù địa lý của nó (Khu vực đồi núi này khô cạn đồng đất nứt nẻ. Chỉ có suối cá này nước từ trong lòng núi chảy ra không nhiều nhưng không bao giờ ngưng nghỉ).

    Cá ở đây thật đẹp con to nặng đến vài cân. Vây via bảy sắc cầu vồng. Vừa giống cá chép mà cũng không hẳn cá chép. Đàn cá rất đông con to con nhỏ chúng rất dạn người. Lẳng lơ lượn đàn giống như cá trong chậu vậy. Chúng không đề phòng bị con người đánh bắt - tha hồ ta nhìn ngắm vuốt ve v.v... Khách du lịch nhiều nơi đổ về đây: Suối cá. Lê Văn Sự nhận ra đặc thù khu suối cá. Ông đã vẽ bằng cảm xúc và ngôn ngữ thơ thật đẹp: Chập trùng núi biếc mây bay/ Sương giăng rơi tạo núi này Cẩm Lương.

    Con suối chảy róc rách giữa vùng đồi núi này chỉ như một vệt sương giăng thôi chứ có to tát gì. Cái đáng quý là cách miêu tả rất chân thật và ngôn ngữ cũng đẹp như con suối.

    Ngắm nhìn cá lượn cá ăn/Bên người như thể thân quen lâu rồi.

Chỉ bốn câu thơ lục bát suối cá hiện lên rõ mồn một chân thực đến từng chi tiết như một tấm ảnh kĩ thuật số. Đấy chẳng phải là nét đẹp sao?

Đoạn kết bài thơ viết rất gợi cảm lãng mạn hình ảnh lung linh:

Ước gì có một vầng trăng/Để xem cá ngậm sắc vàng lung linh/... và Lý ngư ơi giữa non ngàn/Chỉ ta với cá tri âm thành lời. Vâng cái chân - thiện - mỹ đã thành lời.

     Yêu thiên nhiên và di tích lịch sử là nguồn cảm xúc bao trùm trong Mùa xuân cho em. Chủ đề này dễ gây trùng lặp đôi khi lặp lại chính mình. Vì đã có nhiều người viết dễ gây nhàm chán. Nếu không có cách cảm và lối thể hiện riêng. Rất mừng ở lĩnh vực này ông đã không lặp lại chính mình:

Tôi thắp nén hương nhân thế/Váy lại người ngàn năm? Khỏa nước suối giải oan/Hóa thân lời cầu nguyện (Thăm Yên Tử).

    Một nén hương ngưỡng vọng một cái khỏa chân nơi suối giải oan... Đem đến bao điều ngẫm ngợi cho hôm nay và mai sau soi mình vào bậc danh nhân các anh hùng dân tộc. Nếp nghĩ ấy ngôn ngữ ấy chẳng phải là nhân là nghĩa hay sao?

    Đây nữa: Thi nhân ơi đất Côn Sơn/Một viên đá cũng có hồn trong thơ/Lệ Chi Viên khép lại rồi/Mà cho trang sử bồi hồi không yên/.../ Đã xa rồi sáu trăm năm/Lưỡi gươm khua vẫn cứ oằn trong thơ. (Thăm Côn Sơn).

Ngắm các pho tượng đá thời chúa Trịnh ông viết:

    Tay nắm đốc gươm canh giữ đất trời/Không kể thời gian nắng mưa bão táp/ Bộ giáp trụ oai phong lẫm liệt/.../Dẫu ngàn năm tượng không biết nói/ Nên tứ thơ tôi thai nghén suốt đời. (Màu xanh Đa Bút)

    Lê Văn Sự nhìn vào các di vật lịch sử ở đây với con mắt thành kính biết ơn với tâm cảm hoài niệm đáng trân trọng.

ở đàn tế Nam Giao (di tích lịch sử đời nhà Hồ) đang được khai quật ông có thơ:.... Có một Nam Giao trong sử ký/Những hiện vật nắng mưa khỏa lấp/Hoa văn mang dấu ấn một thời/Mộng lớn bao trùm Hồ Quý Ly ơi/Từ thành đá đến đền cầu tế/Dẫu cải cách thành tâm hành lễ/Chén ngọc rơi vỡ giữa đất trời/Chỉ lòng dân mới vững bền thôi. (Viết ở đàn Nam Giao)

    Thái độ nhìn vào lịch sử của ông là rất trân trọng khách quan và kết cấu có tính triết lý sâu sắc: Chỉ có lòng dân mới vững bền thôi. Bằng ấy từ ông đã nói dùm chúng ta nhiều điều về Hồ Quý Ly - Cả công lao cải cách và lỗi lầm vì đánh mất lòng dân của nhà Hồ. Bài học này đủ để cho chúng ta cùng suy ngẫm.

    Mùa xuân cho em thể hiện mạch cảm xúc sâu nặng về: tình người tình mẹ con gắn bó với quê hương và nhất là thời thơ ấu mồ côi của mình. Thơ ông hòa nhập và nói được những vui buồn của mình với nhân tình thế sự.

Tay nhận chìa khóa cửa/ Mà sao nước mắt chị lưng tròng/.../Đất nước ngàn năm nghĩa tình trọn vẹn/Chị mở cửa rồi ánh nắng sớm ùa theo. (Ngôi nhà của chị)

    Người nhận nhà vui hay nhà thơ vui? thật khó mà phân biệt. Dẫu nước mắt hay nụ cười đều tôn vinh cái thiện - cái đẹp trong tâm hồn ta - nghĩa tình trọn vẹn của một dân tộc biết đoàn kết đấu tranh cho độc lập tự do và xóa đói giảm nghèo trân trọng biết bao.

    Tập thơ nào ông cũng có thơ về mẹ và chị nhưng mỗi bài cách nói khác nhau tình cảm thật sâu nặng. Sự cảm thông thật là cảm động: Tay chị run run đốt nén hương thơm/Ngước nhìn chàng trai nói gì không rõ/.../Xuân này lần giỗ thứ bao mươi/.../Tôi nhìn chị chấp tay bất động/ Bỗng nhói lòng nghe tiếng gọi anh ơi (Chị).

     Đây nữa: Ba mươi tuổi xuân mẹ thành góa bụa/Như cây xanh sau cơn bão lửa/.../Cha đi về phía mặt trời/Thương con mẹ nguyện suốt đời theo con/.../Những mất mát đi qua đời mẹ/Hằn lên đôi mắt chân chim. (Mẹ tôi).

Với người viết văn làm thơ thì mẹ quê hương và thời thơ ấu là những dấu ấn trong tâm hồn sâu đậm. Nó là hành trang là nguồn cảm xúc một đời thơ.

     Tuy vậy 36 bài thơ vẫn còn những hạn chế như: cách cấu tứ bố cục chưa tạo được bất ngờ. Chọn từ đặt câu ở một số chỗ còn dễ dãi. Thơ ông đa cảm nhưng chưa đa tình. Ngôn ngữ chưa mới ngay cả khi ông viết về người bạn đời của mình v.v... Nhưng tôi tin với sự cầu thị khiêm tốn của Lê Văn Sự cùng với vốn kến thức vốn sống tích góp trên chặng đường thơ hơn ba mươi năm qua. Chúng ta có cơ sở hy vọng ở ông một sự bứt phá vượt lên chính mình ở những bài thơ mới sắp tới.

                                                        Vĩnh Lộc 20-12-2007

                                                                                 N.X.T

More...

văn hóa và đời sống

By Văn Nghệ Xứ Thanh

văn hóa và đời sống

Nguyễn Tuân và thú thưởng trà

của người á đông

Trần Văn Trọng

     Trong tập Vang bóng một thời có hai thiên truyện viết về nghệ thuật uống trà theo một cách rất Nguyễn Tuân là Chén trà sương và Những chiếc ấm đất. Có thể nói đây là những sáng tác tài hoa viết về đề tài ẩm thực nói chung và về nghệ thuật "thưởng trà" nói riêng. Nó cũng đã mang đến cho Nguyễn Tuân một vị trí danh dự trong số những nhà văn của ta viết về đề tài ẩm thực. "Sành sỏi trong khi thưởng thức chén rượu chén trà miếng giò bát phở... đã là việc khó những việc khó hơn là nói ra viết về cái đẹp cái hay cái tinh vi và nét đẹp văn hóa ẩn giấu sau miếng ăn miếng uống hàng ngày không thiếu gì người ta biết" Và Nguyễn Tuân đã làm được cái công việc khó nhọc ấy.

Chén trà sương và Những chiếc ấm đất là những trang viết rất hay về cái thú uống trà của các cụ đồ Nho ngày xưa ở nước Việt ta. Uống trà có nguồn gốc từ thời cổ đại ở Trung Quốc và được phổ biến rộng rãi ở đất nước của "Vạn lý trường thành". Theo truyền thuyết là từ thời vua Thần Nông (năm 2700 TCN) một người rất am tường về thảo dược trong một lần nếm thuốc đã tìm ra công dụng của trà. Và kể từ khi cuốn Trà kinh của Lục Vũ ra đời (nhà Đường) thì việc uống trà nâng lên tầm nghệ thuật. Phải đến thế kỷ XII người Nhật mới bắt đầu có ý thức về việc uống trà và không lâu sau dó được người dân xứ sở hoa anh đào yêu chuộng và qua thời gian cung cách thưởng thức trà của họ đã được nâng lên thành nghi thức được gọi là "Trà đạo" (Chaynoyu).

     Trong hai thiên truyện này Nguyễn Tuân gọi thú uống trà là "thú chơi thanh đạm". Nó là "một hành vi đặc biệt có nghi lễ và nhịp điệu rõ ràng phảng phất tục uống trà của người Nhật" rất trọng nghi lễ uống trà. Trong chuyện Chén trà sương thú uống trà là cả một nghệ thuật với biết bao công phu chăm chút tỉ mẩn từ nhóm bếp đun nước pha trà đến cả chọn thời điểm chọn bạn để uống trà và đàm đạo: "chỉ có người tao nhã cùng một thanh khí mới có thể cùng nhau ngồi một bên ấm trà. Những lúc ấy chủ nhân phải tự tay mình chế nước nhất nhất cái gì cũng phải tự mình làm lấy cả không dám nhờ đến người khác sợ làm thế thì mất hết cả thành kính"... Quan niệm xưa cho rằng: việc uống trà đòi hỏi cần tìm đến những nơi yên tĩnh tránh những nơi ồn ào hoặc người có thể gây xáo động tinh thần. Trà còn tác dụng giúp người uống di dưỡng tinh thần sau những lúc đầu óc dao động với xúc cảm mạnh. Bên cạnh việc uống trà lúc sáng sớm các nhà Nho còn ngâm thơ lúc mới tỉnh giấc khi vạn vật còn yên lặng như một cách vận động thần khí kỳ diệu nhất cho lối sống nội tâm. Do đó dễ hiểu tại sao người xưa làm một bộ trà chỉ có bốn cái chén quân. Cụ ấm uống trà "chỉ hai chén con là đủ. Nhưng hai chén đó cũng được cụ chăm sóc quá nhiều. Chưa bao giờ ông già cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách; cụ ấm đã để vào đấy nhiều công phu. Những công phu đó đã trở nên lễ nghi. Trong ấm trà pha ngon người ta thấy có mùi thơm và một vị triết lí".

    ở truyện Những chiếc ấm đất cụ Sáu nghiện trà tàu nhưng cái tinh túy mang tính chất "trà đạo" này thể hiện ở sự kén chọn nước và ấm để pha trà. Cụ phải chọn nước giếng ở chùa Đồi Mai cách xa làng đến nửa ngày đường. Bởi vì cụ lý giải với sư trụ trì chùa Đồi Mai: "Chùa nhà ta có cái giếng này quý lắm. Nước rất ngọt. Có lẽ tôi nghiện trà tàu vì nước giếng chùa nhà đây. Tôi sở dĩ không nghĩ đến việc đi đâu xa được cũng là vì không đem theo được nước giếng đi để pha trà". Còn cụ ấm trong Chén trà sương thì: "Nước pha trà không gì thơm lành bằng cái thứ nước đọng lá sen. Mỗi lá chỉ có ít thôi phải gạn vét ở nhiều lá mới đủ uống một ấm. Có thể nói đây là nét rất đặc sắc của nghệ thuật uống trà của các bậc cổ nhân nước Việt ta ở việc dùng loại nước gì để pha trà làm cho ấm trà ngon mà vẫn giữ được hương vị thuần khiết nhất của trà tàu. Người Trung Hoa cũng rất coi trọng nước để dùng trà. Vua Tống Hy Tông (1100 - 1127) trong sách Đại quan Trà luận phân loại nước dùng để pha trà như sau: "Sơn thủy thượng giang thủy trung tỉnh thủy hạ" (thứ nhất là nước suối trên núi kế đến là nước sông sau cùng là nước giếng). Thậm chí những chiếc ấm đất dùng để pha trà cũng được chọn lựa kỹ lưỡng. ấm đun nước thường là ấm đồng cò bay và có ít nhất là hai ấm như thế để thay phiên nhau đặt liên tục lên hỏa lò. Trong những chiếc ấm đồng có mấy cái mấu sùi sùi người Tàu gọi là cái kim hỏa. ấm có kim hỏa thì đun nước mau sủi. ấm pha trà thì đủ loại với nhiều kiểu dáng khác nhau nhưng sành chơi nhất thì phải chọn đúng ấm đất tàu. Đó là loại ấm mà khi người ta úp ấm xuống miếng gỗ miếng gỗ nếu thấy "miệng vòi với quai và giờ miệng ấm điều cắn sát mặt bằng miếng gỗ" hoặc "kỹ nữa là tả nó vào chậu nước thấy nó nổi đều là cân nhau không triềng thế là đích ấm tàu". ấm pha trà cũng được xếp hạng theo câu ví von xưa: Thứ nhất Thế Đức gan gà thứ nhì Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần. Kích cỡ của ấm cũng nhiều loại gọi là Ngưu ẩm Quần ẩm Song ẩm Độc ẩm để phù hợp mọi hoàn cảnh và số lượng người uống...

     Công đoạn đun nước trà cũng rất công phu. Thông thường hỏa lò được đặt trước cửa sổ với than tàu cứng chắc cháy đỏ. Luôn coi trọng việc pha trà người pha trà vừa quạt lò vừa chăm chút xem xét hơi nước bốc lên từ ấm đun. Khi bày biện xong một ấm trà nhỏ và bốn chén xinh xắn lên khay họ dời hộp đựng trà gần phía khay để kịp lấy ra khi nước sôi sẵn sàng. Tuy tiếp chuyện với khách nhưng vẫn không xao lãng việc pha trà của mình. Lúc ấm đun bắt đầu tạo ra tiếng tiếp tục quạt than Tàu dồn dập hơn. Có lúc ngừng quạt mở nắp ấm đun để quan sát những tăm nước nhỏ li ti xuất hiện ở đáy của ấm đun nước rồi đậy nắp lại. Người sành uống trà gọi những tăm nước sôi này là "ngư nhãn" và "giải nhãn" vài giây khắc trước khi nước đạt độ sôi quá già hơn "mắt cá" phải nhấc ấm đun trà ra rót vào bên trong lần bên ngoài của ấm trà để làm ấm trà nóng đều và ngay lập tức ông cho một lượng trà khô vào ấm. Cách này gần giống như cách pha trà "Thiết Quan Âm" rất đặc của người Phúc Kiến (Trung Quốc). Tuy ấm trà nhỏ đến độ không đủ rót đầy cho bốn chén quân lại chứa rất nhiều trà trong đó. Chính vì vậy nên khi nước trà được rót ta phải uống ngay lập tức. Khi uống xong lại châm nước tinh khiết vào ấm đun đặt lên hỏa lò để pha ấm trà thứ nhì - ấm trà này được xem là ngon nhất. Nếu ấm trà thứ nhất được ví như thiếu nữ tuổi mười ba thì ấm trà thứ hai được xem như thiếu nữ mặn mà tuổi đôi tám và ấm thứ ba được ví như người đàn bà.

    Các loại trà nổi tiếng của Trung Hoa được Nguyễn Tuân nhắc đến trong hai thiên truyện này như: "Trảm Mã" trà. "Bạch Mao Hầu" trà "Lý Tú Uyên" trà cho ta thấy Nguyễn Tuân ảnh hưởng nhiều từ văn hóa uống trà của người Trung Hoa rất coi trọng ngọn núi nổi tiếng trồng trà ở tỉnh Phúc Kiến. Theo truyền thuyết trà Vũ Di Sơn do hai anh em ông Vũ và ông Di tìm ra. Hai ông bán hết tài sản dọn vào ở trong rừng trà trên núi mà họ tìm ra để hàng ngày được thưởng thức loại trà độc đáo này. Từ đó người đời sau đặt tên ngọn núi này là Vũ Di. Trà Vũ Di Sơn có bốn loại nổi tiếng thứ tự từ thượng thặng cho đến hảo hạng: "Bạch Kê Quan" "Đại Hồng Bào". "Thiết La Hán" và "Thủy Kim Quy" ("trảm mã" là chém ngựa; loại trà này được chế biến một cách đặc biệt) và "Lý Tú Uyên" nổi tiếng từ thời nhà Thanh. Về các loại trà nổi tiếng của Trung Quốc hàng trăm năm phải kể đến "Bạch Mẫu Đơn" trà của vùng Phúc Kiến. Thanh trà thượng hạng gồn có Long Tĩnh (giếng rồng) trồng tại làng Long Tĩnh gần Hồ Tây tỉnh Triết Giang; và Vân Sơn được trồng trên vùng núi non hiểm trở của tỉnh Quảng Tây. Truyền thuyết kể rằng khỉ được huấn luyện để hái những lá chè mọc nơi hiểm trở nhất. Người Trung Hoa rất ưa chuộng trà Ô Long loại nổi tiếng nhất là "Thiết Quan Âm" và "Trảm Mã" trà.

    Có thể khẳng định rằng đối với người phương Đông: "Trà là thứ nước liên kết giữa chủ và khách giữa bạn bè. Trong các cuộc giao tiếp trà luôn giữ được nét đằm thắm mà tỉnh táo lịch lãm mà thanh cao. Cái văn hóa của trà gắn liền với nếp sống thanh nhàn nên không phải ai cũng theo được" (Hoàng Quốc Hải). Từ ngàn xưa cổ nhân đã biết đến ích lợi dưỡng sinh trong sinh hoạt uống trà hàng ngày: Mai sớm một tuần trà/Canh khuya dăm chén rượu/Mỗi ngày mỗi được thế/Thầy thuốc xa nhà ta. Một buổi pha trà. Nhất nhất mọi động tác đều phải nghiêm túc và kịp lúc. Cứ mỗi buổi sáng sớm kẻ pha trà có dịp rũ bỏ hết mọi ưu phiền trong cuộc sống chăm chú vào một việc làm khiêm tốn cẩn thận đến độ gần như một thứ nghi lễ. Tâm thức của kẻ pha trà trong lúc ấy chỉ chuyên chú vào những gì đang xảy ra trước mắt; quá khứ và tương lai không có dịp làm bận tâm kẻ pha trà. Việc làm chăm chú này mặc dù ngắn ngủi lại không khác xa gì so với cứu cánh trong sự tu tập của Thiền Tông và chủ trương "Nhất niệm - vạn niên" của Tịnh Độ Tông. Đây chính là bí quyết dưỡng sinh của người đông phương xưa.

    Và Nguyễn Tuân đã làm cái công việc gìn giữ những giá trị xưa cái thú thưởng trà của người á Đông ấy giữa buổi cái công việc nền nếp xưa đã phai bạc đi nhiều rồi. Trong hai thiên truyện này Nguyễn Tuân đã kế thừa được nghệ thuật uống trà của người Trung Hoa và nghi thức Trà đạo của người Nhật Bản với chút cầu kỳ trong thú uống trà của các bậc hàn Nho nước Việt.

                                                                        T.V.T

Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng

thờ thần ở Thanh Hóa

Trịnh Đình Hà


     1. Khi nói đến truyền thống quê hương người Thanh Hóa tự hào rằng xứ Thanh là một trong những vùng đất "địa linh nhân kiệt" của đất nước. Các bằng chứng lịch sử đã cho thấy rõ vùng đất Thanh Hóa luôn giữ một vị thế quan trọng đồng thời là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Muốn hiểu rõ bất cứ một thời kỳ nào đã qua của lịch sử dân tộc Việt Nam không thể không tìm hiểu về đất và người Thanh Hóa; điều này hiển nhiên đến độ đã khiến cho một số người chủ quan coi như là quy luật trước đây đã thế thì sau này cũng thế.

     Theo Từ điển Hán Việt hiện đại (Nxb Thế giới h 1990). Thành ngữ "địa linh nhân kiệt" (nhân kiệt địa linh) được giải thích là: "đất có hào kiệt trở thành lừng lẫy" (1). Nhưng trong dân gian người ta thường hiểu là: đất linh thiêng sinh ra hào kiệt (hào: người có tài năng xuất xắc; kiệt: vượt mọi người). Có thể nói cả hai cách hiểu này đều phù hợp với thực tế truyền thống lịch sử và văn hóa của xứ Thanh. Riêng trong cách hiểu theo quan niệm dân gian vừa nêu trên có thể thấy một phần liên quan đến thuyết phong thủy (học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của con người) nhưng có lẽ phần quan trọng hơn là liên quan đến quan niệm về thần linh theo tín ngưỡng đa thần trong đó có tục thờ thần của người Việt Nam. Tín ngưỡng thờ thần "là tín ngưỡng rất độc đáo của người Việt Nam. Nó xuất phát từ lòng tin là xung quanh người sống cùng với thế giới hiện hữu của chúng ta có một thế giới vô hình ở đó các thần linh ở khắp mọi nơi dõi theo và phù trợ cho thế giới của người sống" (2). (Ngô Đức Thịnh Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền Viện Văn hóa & Nxb Văn hóa - Thông tin H. 2007 trang 24). Thần và người có quan hệ mật thiết thế giới thần cũng là hình bóng của thế giới người. Cho nên tìm hiểu tín ngưỡng thờ thần không chỉ có ý nghĩa như là một phần của công việc nghiên cứu tín ngưỡng cổ truyền mà còn góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu bản sắc xứ Thanh trong dòng chảy lịch sử - văn hóa Việt Nam nói chung.


    2. Muốn tìm hiểu tín ngưỡng thờ thần ở Thanh Hóa là công việc lý thú bổ ích nhưng muốn có được một cái nhìn đầy đủ toàn diện để có được sự đánh giá tương đối khách quan về vấn đề này quả là không đơn giản dễ dàng. Nguyên do là: "Mấy chục năm trước các cơ sở thờ tự phần nhiều bị dẹp bỏ để làm kho tàng trường học. Một số do thời gian mưa nắng và không có người bảo quản tu bổ đã đổ nát" (3) (Lê Xuân Kỳ - Hoàng Hùng - Thích Tâm Minh Các vị Thần thờ ở xứ Thanh Nxb Văn học. H. 2007 tr 5.). Theo đó nhiều thần tích sắc phong cũng bị thiêu hủy hoặc thất lạc. ở nhiều làng xã vị thủ từ cùng các vị cao niên lần lượt ra đi đem theo luôn cả ký ức về sự tích lần niềm kính ngưỡng thiêng liêng đối với các vị thần mà xưa kia công đồng luôn tin tưởng gửi gắm cho họ. Hiện tượng đứt gãy về văn hóa diễn ra. Khi "việc khôi phục các thần tích cũng như kiến trúc lại đền miếu và tổ chức các lễ hội trở nên sôi nổi" thì "rất nhiều người do trình độ kém cỏi sưu tầm vội vàng "đầu Ngô mình Sở" cho nên gán ghép đoán định một cách mơ hồ vô trách nhiệm có cái được in thành sách để phổ biến ở các đền miếu phạm vào việc "xuyên tạc thần tích xuyên tạc lịch sử" rất phức tạp. Trong khi đó việc "đính chính trở lại" rất khó khăn tốn giấy mực mà lại không cơ quan nào chịu trách nhiệm cả (4).

    Trong tình hình đó bản Thanh Hóa chư thần lục (5) (chép tay) được biên soạn từ năm Thành Thái thứ mười lăm (1903) được lưu giữ lại Thư viện Hán Nôm Hà Nội (ký hiệu VHv.120) trở thành tài liệu quý hiếm là cơ sở tin cậy để đối chiếu nhận diện bức tranh thần thánh ở Thanh Hóa thời cận hiện đại. Tuy nhiên đây chưa phải là tất cả các vị thần được thờ ở Thanh Hóa các vị thần ở miền núi hoàn toàn vắng bóng các vị thần ở miền xuôi cũng hiện diện không đầy đủ số thần được giới thiệu thần tích không nhiều và không đồng đều...

Trên cơ sở cuốn Thanh Hóa chư thần lục các soạn giả Lê Xuân Kỳ - Hoàng Hùng - Thích Tâm Minh đã phiên dịch và biên soạn lại thành công cuốn Các vị Thần thờ ở xứ Thanh (Sđd). Trong sách này các soạn giả đã "có nhiều cố gắng để làm cho nội dung sách đầy đủ và hoàn chỉnh hơn như dựa vào các công trình sử học để biên soạn tiểu sử một số vị thần thay việc thiếu thần tích chú thích một số địa danh cần thiết về địa phương có đền miếu thờ các vị thần về địa danh thờ thần" (Sđd tr.14). Tuy nhiên bên cạnh "đóng góp rõ rệt vào việc giới thiệu các tư liệu tham khảo về đời sống tín ngưỡng tâm linh của đồng bào Thanh Hóa xưa kia" cuốn sách vẫn còn một số sơ xuất có thể tránh được nếu các soạn giả thận trọng hơn. Xin đơn cử một vài dẫn chứng:

    - ở trang 234 vị thần số 341 được phiên âm danh hiệu là "Đại quân sùng nghi tôn thần" trong khi nguyên bản Thanh Hóa chư thần lục ghi là "Đại quốc...".

    - Trang 257 vị thần số 357 được phiên danh hiệu là "Thái úy Trù quốc công tôn thần" trong khi nguyên bản Thanh Hóa chư thần lục ghi là "Thái phó...".

    - Trang 270 vị thần số 361 chú thích quê của Thái úy Liệt quốc công Trịnh Khả là "làng Sóc Sơn xã Vĩnh Hùng huyện Vĩnh Lộc" nhưng thực ra quê ông ở làng Kim Bôi (nay là Giang Đông) xã Vĩnh Hòa cùng trong một tổng Sóc Sơn và tiếp giáp với làng Sóc Sơn - quê Thái vương Trịnh Kiểm.

    - Trang 267 vị thần 362 "Thái úy Dương công tôn thần" được đổi quê từ huyện Cẩm Thủy sang huyện Thụy Nguyên nhưng không thấy cước chú.

   - Trang 298 vị thần số 434 được phiên âm danh hiệu là "Nguyễn tướng công hùng liễn tôn thần" trong khi nguyên bản Thanh Hóa chư thần lục ghi là "Nguyễn tướng công hùng liễn nam hải tôn thần" (Thiếu hai chữ "nam hải").

v.v...

   Đối với danh hiệu các vị thần nhiều khi cách gọi thông thường trong dân gian với sắc phong của nhà vua có khác nhau như "Đô bác Trịnh phủ quân tôn thần" được dân thờ ngài ở Vĩnh Lộc Yên Định gọi nôm na là "Quản gia Đô bác đại vương". Có thể là khi biên soạn các soạn giả đã căn cứ vào kết quả khảo sát thực địa hoặc vào các tài liệu khác để đính chính bổ khuyết mà chúng tôi chưa được rõ chăng. Nhưng ngay cả trong những trường hợp như vậy vẫn nên dịch nguyên văn rồi ghi chú thêm. Như thế sẽ nâng cao được giá trị và độ tin cậy của cuốn sách tránh được sự hồ nghi thắc mắc không cần thiết.

Sách Địa chí Thanh Hóa tập II (Nxb Khoa học xã hội h.2004) tại mục "C. Tục thờ cúng và sinh hoạt tôn giáo ở Thanh Hóa" trình bày khái quát ba tiểu mục:

I. Tín ngưỡng thờ cúng ở miền xuôi

II. Tín ngưỡng thờ cúng ở miền núi

III. Hoạt động các đaọ ở Thanh Hóa

     - Tiểu mục I trình bày 4 tiết:

1. Diện mạo tục thờ cúng trong một số làng ở Thanh Hóa xưa.

2. Những hình thức và sinh hoạt cơ bản trong thờ cúng ở Thanh Hóa xưa.

3. Nhìn lại cuốn sách Thanh Hóa chư thần lục

4. Hiện tượng thờ cúng thành tuyến dài qua các làng xã ở Thanh Hóa.

- Tiểu mục II trình bày 6 tiết giới thiệu sơ lược tín ngưỡng của 6 dân tộc thiểu số ở miền núi Thanh Hóa:

1. Người Mường

2. Người Thái

3. Người Thổ

4. Người Dao

5. Người Mông

6. Người Khơmú

- Tiểu mục III trình bày 2 tiết

1. Đại quan

2. Những tôn giáo phổ cập ở Thanh Hóa chung với tình hình cả nước

Do tính chất chí nội dung sách chủ yếu trình bày mô tả những hiện tượng có tính chất về mặt mà chưa có điều kiện phân tích luận giải để có những khái quát trên cấp độ tổng kết lý luận.

Từ việc nghiên cứu những tài liệu quan trọng vừa nêu trên và từ việc kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu sâu hơn những gợi ý mà các nhà nghiên cứu đã gợi ra. Cụ thể là những nội dung cơ bản sau đây:

- Đâu là đặc điểm chung nhất của tín ngưỡng thờ thần ở Thanh Hóa?

- Những nét độc đáo của tín ngưỡng thờ thần ở Thanh Hóa?

- Làm thế nào để phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực của tín ngưỡng cổ truyền trong việc xây dựng đời sống văn hóa hiện nay?

                                                                                 T.Đ.H


(1). Từ điển Hán Việt hiện đại Nxb Thế giới H.1996.

(2). Ngô Đức Thịnh Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền Viện Văn hóa & Nxb Văn hóa - Thông tin H. 2007 tr 24.

(3). Lê Xuân Kỳ - Hoàng Hùng - Thích Tâm Minh Các vị Thần thờ ở xứ Thanh Nxb Văn học. H. 2007 tr 5.

(4). Địa chí Thanh Hóa tập II Nxb Khoa học xã hội H. 2004 tra 630.

(5). Thanh Hóa chư thần lục bản chép tay Viện Hán Nôm.

More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                                                                      TIN VĂN NGHỆ

     Huyện Hà Trung tổ chức thi sáng tác tranh ảnh thơ nhạc về chủ đề "Đất nước Con người Hà Trung"

     Huyện Hà Trung vừa phát động cuộc thi sáng tác tranh ảnh thơ nhạc về chủ đề "Đất nước Con người Hà Trung"; cuộc thi nhằm giới thiệu ngợi ca vẻ đẹp phong cảnh quê hương các di tích lịch sử văn hóa vùng đất con người; các hoạt động lao động sản xuất chiến đấu các mô hình điển hình tiên tiến những thành tựu về kinh tế văn hóa xã hội quốc phòng an ninh xây dựng đời sống chính trị của huyện Hà Trung trước đây và hiện nay. Tác phẩm dự thi gồm: Tranh ảnh thơ và ca khúc là những tác phẩm mới sáng tác chưa tham dự các cuộc thi khác từ cấp huyện ngành trở lên. Cuộc thi khuyến khích mọi tìm tòi sáng tạo nhằm nêu bật chủ đề và đạt giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Đối tượng dự thi là tất cả mọi công dân trong và ngoài tỉnh đều có thể gửi tác phẩm dự thi. Mỗi tác giả có thể dự thi nhiều tác phẩm của cùng một hoặc cả 4 bộ môn nghệ thuật nói trên. Cuộc thi có nhiều giải thưởng gồm Nhất Nhì Ba và Khuyến khích. Thời gian nhận tác phẩm dự thi từ 10-8 đến 25-9-2008; tổng kết và trao giải thưởng vào dịp kỷ niệm 62 năm ngày thành lập Đảng bộ huyện Hà Trung và 10 năm Hà Trung được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (10-2008).

                                                                                    Lâm Bằng

 

Các nghệ sỹ sân khấu xứ Đoài thăm Thanh Hóa

 

      Ngày 15 tháng 7 năm 2008 Đoàn nghệ sỹ bộ môn sân khấu Hội Văn học nghệ thuật Hà Tây do nghệ sỹ nhân dân Mạnh Tưởng và đạo diễn Đặng Trung dẫn đầu đã thăm và giao lưu cùng đại diện của Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa. Trong buổi giao lưu nhiều nghệ sỹ sân khấu Hà Tây đã xúc động bày tỏ tình cảm của mình với vùng đất và con người Thanh Hóa nhất là với những nghệ sỹ đã từng có thời gian học tập và công tác ở xứ Thanh. Phút chia tay trước khi các nghệ sỹ Hà Tây trở về để làm công dân thủ đô lưu luyến bịn rịn trong một ấn tượng đẹp về một thời gắn bó giữa văn nghệ hai tỉnh Thanh Hóa - Hà Tây còn mãi trong ký ức mỗi người.

                                                                                          P.V

More...