BÚT KÝ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

HOÀNG TRỌNG CƯỜNG

Nguyện mãi làm theo lời Bác dặn

Bút ký

      Theo lời hẹn qua điện thoại với Anh hùng lực lượng vũ trang trung tá Ngô Thị Tuyển tôi tìm đến nhà chị số 310 đường Trường Thi thành phố Thanh Hóa. Ngôi nhà nhỏ yên tĩnh giữa khu phố buôn bán sầm uất. Cửa khóa dường như chị Tuyển đi vắng. Tôi đã thấy hơi thất vọng bởi đã phải hẹn đến ba bốn lần chị Tuyển mới thu xếp được thời gian ở nhà để trò chuyện cùng tôi. Chừng mươi phút sau định quay đi thì thấy chị tất tả chạy về. Nói như phân bua:

- Đột xuất có một anh cựu chiến binh trong phường bị ốm phải đưa đi cấp cứu nên tôi phải qua một chút. Chú đợi lâu chưa?

Chị loay hoay mở cổng mở cửa bảo tôi:

- Chú vào nhà đi. Xe cứ khóa lại để đấy không sao đâu.

Tôi dựng chiếc xe máy của mình ngay ngoài hè phố vì vướng cái gờ cao ở cổng mà thầm đoán: "nhà này không có xe máy".

Vào nhà Điều tôi nhận thấy trước tiên là bộ bàn thờ kê ở nơi trang trọng nhất ở phòng khách. Chính giữa bàn thờ là ảnh Bác Hồ bài vị của Bác bên cạnh bài vị là những bông hoa huệ trắng muốt khiến tôi dường như cũng cảm thấy dịu bớt đi sự oi nồng của cái nóng nực ngày tháng bảy âm này. Thấy tôi cứ chăm chú nhìn. Chị nói:

- Bàn thờ Bác đấy. Cứ mồng một ngày rằm tôi đều thắp hương tiết Vu lan ngày sinh ngày mất của Bác tôi còn mua hoa tươi cúng Bác.

Bồi hồi xúc động tôi xin chị cho thắp nén nhang nơi bàn thờ của Bác khiến chị rất vui. Sau khi thắp nhang xong không khí trò chuyện giữa hai chị em thân mật cởi mở tôi bỏ qua câu hỏi thăm dò mà mình đã chuẩn bị từ trước hỏi thẳng:

- Chị gặp Bác lần đầu vào năm nào ạ?

- Cuối năm 1966 dịp Đại hội Anh hùng và chiến sỹ thi đua toàn quốc.

Chị như chìm vào dòng hồi tưởng về những tháng ngày của hơn ba mươi năm về trước. Tôi cũng cảm thấy trong mình đang thổn thức những ký ức xa xôi. Ngày ấy tôi còn là một chú bé con học lớp bốn lớp năm. Lớp học tranh tre mái lá lọt thỏm giữa bốn bề những lũy đất cao dày. Chúng tôi học trong tiếng máy bay Mỹ gầm rú tiếng bom tiếng đạn xé rách bầu trời mặt đất từ phía Hàm Rồng rung chuyển đến tận làng tôi. Chúng tôi được nghe kể đến tấm gương chiến đấu và phục vụ chiến đấu dũng cảm của người nữ dân quân làng Nam Ngạn với cả sự khâm phục. Sau này khi lớn lên tôi mới biết đó là Anh hùng Ngô Thị Tuyển và được tiếp cận nhiều tư liệu sách báo viết về chiến công của chị.

"Ngô Thị Tuyển sinh năm 1946 tại làng Nam Ngạn thị xã Thanh Hóa. Năm1965 Mỹ dùng Không quân ồ ạt đánh phá miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện cho chiến trường miền Nam. Người Mỹ đã chọn cầu Hàm Rồng một cây cầu trọng yếu trên con đường huyết mạch Bắc-Nam để đánh phá ác liệt. Trong hai ngày3-4 tháng 4 năm 1965 hàng trăm lượt máy bay Mỹ đã lao vào ném bom bắn phá khu vực Hàm Rồng. Cùng với các lực lượng vũ trang bảo vệ cầu nhân dân Nam Ngạn - Hàm Rồng đã sát cánh chiến đấu và phục vụ chiến đấu làm hậu thuẫn vững chắc cho lực lượng vũ trang. Cùng góp phần to lớn vào chiến công của quân dân Thanh Hóa: Bắn rơi 47 máy bay Mỹ.

Trong những con người lập nên chiến công đó nổi bật lên hình ảnh cô dân quân Nam Ngạn Ngô Thị Tuyển. Trong bom đạn trút xuống dày đặc cô dân quân mười chín tuổi ấy vẫn bình tĩnh bơi ra sông tiếp tế đạn dược cơm nước cho tầu Hải quân. Đặc biệt khi trận đánh trở nên vô cùng ác liệt đạn trên tàu hết Ngô Thị Tuyển một mình vác hai hòm đạn pháo cao xạ nặng 98 kilôgam gan góc vượt qua mưa bom chuyển lên tàu cho bộ đội bắn máy bay Mỹ... Vì những chiến công đó chị đã được Bác Hồ tặng Huy hiệu của Người; được Nhà nước tặng Huân chương và ngày 1-1-1967 chị được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

Chị bồi hồi nhớ về cái lần chị được tuyên dương Anh hùng cũng là lần đầu chị được gặp Bác.

"Chị đang học ở trường văn hóa của Quân khu 3 ở Hưng Yên thì ngày 26 tháng 12 năm 1966 chị được lệnh về tập trung ở Quân khu bộ. Ngày hôm sau 27-12 xe chở đoàn của Quân khu về nhà khách Phan Đình Phùng ở Hà Nội. Lúc ấy chị mới được biết là mình được đi dự Đại hội Anh hùng và Chiến sỹ Thi đua toàn quốc. Đại hội họp trong ba ngày từ 29-12-1966 - 1-1-1967. Chị được ngồi ở Đoàn Chủ tịch Đại hội cùng mười chín người nữa. Chị nhớ là có anh Trần Hanh và mấy anh bên Không quân mấy anh chị ở miền Nam ra có chị Tạ Thị Kiều... Hàng ngày có xe đưa đón đoàn từ nhà khách đến hội trường. Đoàn Chủ tịch Đại hội bao giờ cũng đến trước ba mươi phút để trao đổi phân công các công việc. Hôm đầu tiên 29-12 khi các anh chị đang ngồi ở phòng nhỏ bên cạnh Hội trường thì Bác đến. Bác ngồi xuống bên cạnh chị. Anh trưởng đoàn giới thiệu tên tuổi từng người với Bác. Chị xúc động đến run người khi thấy Bác phong phanh trong bộ quần áo ka ki giản dị. Hôm ấy trời lạnh lắm. Không hiểu thế nào mà chị lại bật ra câu hỏi:

- Thưa Bác trời lạnh thế này mà Bác không mặc áo ấm ạ?

Bác tủm tỉm cười rồi cầm tay chị chỉ vào bên trong ống tay áo ka ki của Bác. Chị chạm vào tay chiếc áo len Bác mặc bên trong.

- Bác mặc thế này là đủ ấm rồi.

Bác hỏi:

- Cháu Tuyển học lớp mấy rồi?

Chị đang hồi hộp xúc động chưa biết trả lời Bác như thế nào Bác lại hỏi:

- Cháu có chồng chưa?

- Thưa... Chưa ạ.

Thấy chị lúng túng Bác quay sang hỏi thăm tình hình gia đình tình hình về dân quân Nam Ngạn. Rồi Bác căn dặn chị:

- Cháu cố gắng học tập thật tốt mới có thể có hiểu biết để phụng sự quê hương đất nước được nhiều hơn.

Rồi Bác quay sang hỏi thăm trò chuyện cùng các anh chị khác.

Tối hôm ấy Bác mời các Anh hùng và đại diện tập thể Anh hùng gặp gỡ tại nhà Bác. Cùng tiếp với Bác có Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bác hỏi thăm tình hình sức khỏe học tập công tác của từng người. Bác nói vắn tắt về xu thế của Cách mạng tình hình của đất nước; Về đạo đức của người cán bộ về phát huy chủ nghĩa Anh hùng cách mạng trong chiến đấu và sản xuất. Mọi người chăm chú nghe như nuốt từng lời của Bác. Chợt Bác hỏi:

- Cháu nào biết thế nào là hai chớ hai nên?

Được Thủ tướng Phạm Văn Đồng khuyến khích chị mạnh dạn thưa với Bác:

- Thưa Bác hai chớ là: Chớ chủ quan thỏa mãn; chớ xa rời quần chúng. Hai nên là: Nên khiêm tốn học tập; nên gần gũi quần chúng ạ!

Bác Hỏi:

- Các cô các chú có làm được những điều mà cô Tuyển vừa nói không?

Tất cả đồng thanh trả lời Bác:

- Thưa Bác có ạ!

Bác cười rất vui rồi giục:

- Các cháu ăn kẹo đi chứ. Rồi còn chụp ảnh chung với Bác!

Mọi người mới để ý đến những đĩa kẹo trước mặt. Mỗi người vội bốc một nắm cho vào túi để khi về chia lộc cho đồng đội và người thân.

Suốt cả ba ngày Đại hội là ba ngày chị được ngồi gần Bác. Đây cũng là vinh hạnh và niềm hạnh phúc nhất của chị. Mãi không bao giờ quên."

- Sau lần ấy chị còn được gặp Bác lần nào nữa không? Tôi hỏi.

- Có. Năm 1969 khi Bác ốm nặng chị lại được cùng đoàn đại biểu của Quân khu 3 (lúc ấy Thanh Hóa đang thuộc Quân khu 3 mà) vào thăm sức khỏe của Bác. Chỉ được đứng nhìn Bác. Nhìn Bác mệt nhọc nằm trên giường không ai kìm nổi nước mắt. Các chị được bố trí ăn nghỉ ở nhà khách của Quân khu Thủ đô song hầu như chẳng ai thiết ăn ngủ gì chỉ mong sao trời mau sáng để được đến ngồi ở khu nhà gần nhà Bác để được lắng nghe tình hình sức khỏe của Bác. Cứ vài giờ lại có bác sỹ ra thông báo. Ai cũng lo lắng đến nghẹt thở khi biết Bác càng ngày càng yếu đi.

Rồi cái ngày đau thương của cả nước đến. Bác về cõi vĩnh hằng. Mọi người khóc ngất. Chị được phân công túc trực bên linh cữu Bác. Mỗi kíp trực có bốn người. Mấy chục phút thay ca một lần. Kíp trực của chị gồm Ngô Thị Tuyển Trần Thị Lý đại tá Vũ Yên (Tư lệnh Quân khu 3) và một đồng chí đại tá nữa. Bác nằm đó như đang ngủ. Chị đứng bên linh cữu Bác mà lòng đau quặn thắt. Lúc hết ca cũng là lúc người chị nhẹ bẫng. Chị ngất đi lúc nào không biết.

Một thời gian dài sau khi Bác mất mỗi khi nghĩ về Bác chị lại như nhìn thấy hình ảnh Bác lúc đó và chị lại bị ngất đi. Cứ nghĩ đến sự quan tâm của Bác đối với chị lời dặn dò của Bác trong lần gặp Bác là chị lại xúc động khôn cùng.

Chị nghẹn ngào đưa tay lau nước mắt. Tôi im lặng chờ cho cơn xúc động của chị tạm lắng dịu. Vả lại trong tôi cũng đang trào lên bao cảm xúc. Ngày Bác đi xa tôi còn nhỏ tuổi nhưng sự bình dị gần gũi của một lãnh tụ vĩ đại đạo đức tuyệt vời sáng trong của Bác thì vẫn mãi bên ta thấm vào trong mỗi chúng ta như một tấm gương như một lời nhắc nhở.

Hồi lâu sau chị mới tiếp tục câu chuyện.

Theo lời Bác dặn dò chị đã cố gắng học tập phấn đấu. Sau khi học xong chương trình văn hóa lớp mười chị về quê tiếp tục chiến đấu công tác. Rồi lại đi học tiếp lớp Chính trị viên đại đội ở Chi Nê (Hòa Bình) sau đó lại học và tốt nghiệp loại giỏi lớp Trung đoàn phó ở Hà Đông rồi về công tác ở Thị đội thị xã Thanh Hóa.

Giờ đây khi đã nghỉ hưu với quân hàm trung tá và sức khỏe cũng giảm sút đi nhiều nhưng chị đâu đã được nghỉ ngơi. Chị được tín nhiệm bầu làm Chi hội trưởng chi hội Cựu chiến binh phường Trường Thi. Chi hội có 32 đồng chí (trong đó có 2 sỹ quan cao cấp 3 trung cấp 5 sơ cấp).

Mặc dù cột sống của chị bị tổn thương. Nguyên do là một thời rất nhiều nhà báo muốn phỏng vấn chị và một nhóm phóng viên truyền hình Đông Đức đã không tin rằng chị có thể vác được số đạn có trọng lượng gấp đôi trọng lượng cơ thể mình. Họ muốn chị chứng minh bằng cách vác lại hai hòm đạn ngay trước cửa nhà khách giao tế của tỉnh. Nếu như trước đây lòng căm thù giặc lời kêu gọi tiếp đạn để bắn quân thù đã tiếp sức mạnh cho chị thì nay trước sự thách đố của người nước ngoài lòng tự tôn dân tộc danh dự quân nhân cao hơn cả chị lại nhớ đến Bác Bác đã tiếp sức mạnh cho chị chị xốc ngay hai hòm đạn lên vai bước đi trong sự thán phục của mọi người. Nhưng sau đó chị thấy lưng mình đau nhói. Giờ đây cứ trái gió trở trời vết đau ấy lại hành hạ chị. Dù vậy vượt qua tất cả chị vẫn cùng chồng cũng là một thương binh - đại tá về hưu lặn lội đi làm "Nghĩa tình đồng đội". Lúc mới đầu Chi hội không có đồng quỹ nào. Anh em trong Chi hội lại phần nhiều khó khăn về kinh tế lại thêm bệnh tật ốm đau luôn. Chị vận động anh em trong Chi hội có kinh tế khá và nhân dân trong phường quyên góp. Bản thân anh chị xung phong góp quỹ trước tiên do vậy được nhiều người tình nguyện hưởng ứng. Trong phường có một đồng chí người công giáo bị ảnh hưởng chất độc màu da cam gia đình rất khó khăn. Chị đi vận động trong ba buổi tối được hai triệu đồng để trợ giúp đồng chí ấy. Rồi một đồng chí khác mất vì vết thương tái phát Chi hội Cựu chiến binh đã tổ chức nghi lễ cho đồng chí ấy chu đáo trang trọng khiến nhân dân rất khâm phục cái nghĩa tình đồng đội của các Cựu chiến binh. Nhất là đồng bào công giáo. Vì vậy các cuộc vận động như bầu cử xây dựng nếp sống văn hóa trong phố phường khi Hội Cựu chiến binh vận động thì đều được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tham gia.

Hơn 40 năm tuổi Đảng chị đã và vẫn luôn là người đảng viên gương mẫu. Năm 2003 chị cũng là một trong 12 chị của tỉnh Thanh Hóa được tham dự cuộc gặp mặt các đại biểu xuất sắc toàn quốc nhân kỷ niệm 40 năm phong trào phụ nữ ba đảm đang tại Hà Nội.

Chia tay người nữ Anh hùng mang theo những kỷ niệm của chị với Bác về Bác tôi như thấy thanh thản hơn và chợt nhớ câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: "Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn". Đồng thời tôi cũng mang theo lời tâm sự của chị Tuyển: Suốt đời nguyện làm theo lời Bác dặn. Khiêm tốn học tập gần gũi với quần chúng nhân dân cống hiến hết sức mình cho đất nước. Có lẽ cũng là tâm niệm của tất cả chúng ta.

                                      Thanh Hóa 8-2008

                                              H.T.C

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NGUYỄN NGỌC CHIẾN


Hoa trái mùa


Truyện ngắn


    Chuyến tàu tốc hành kéo một hồi còi dài từ từ giảm tốc độ rồi dừng lại ở sân ga. Tám đứng dậy vươn vai một tay xách ba lô một tay chìa ra bắt tay mấy người bạn đồng hành rồi vội vã bước ra cửa toa. Từ đây về đến nhà cũng ngót nghét hai mươi cây số nữa. Đã bốn giờ chiều rồi. Anh rảo bước gần như chạy ra bến ô tô và kịp leo lên chuyến xe đò cuối cùng trong ngày lúc ấy đã chật cứng người.

*

- Sao anh không đi ngủ? Hiền - Vợ Tám trong mùng hỏi vọng ra.

Lẽ ra lúc này đây Tám đã có thể nằm cạnh vợ khoan khoái tận hưởng những giây phút hạnh phúc để bù lại cho những ngày tháng vợ chồng anh phải đằng đẵng xa cách nhau. Hiền vẫn còn trẻ quá! Từng ấy năm trôi qua mà vợ anh chẳng khác xưa là mấy. Vẫn khuôn mặt trái xoan bầu bĩnh. Vẫn hàm răng trắng đều và vẫn một dáng người thon thả với mái tóc dài buông xõa ngang lưng. Lúc gần đi ngủ Hiền ra giếng tắm rồi đi vào trong bộ đồ lụa trắng trông mới hấp dẫn gợi cảm làm sao. Lẽ ra lúc này đây Tám đã có thể ôm ghì cái thân thể ấy và rồi sau đó ngoan ngoãn nằm im như em bé trong vòng tay thương yêu chiều chuộng của vợ.

Nghe rõ tiếng Hiền Tám vẫn không trả lời. Anh ngồi như hóa đá bên chiếc bàn kê gần cửa sổ và không ngừng hút thuốc. ánh đèn dầu hỏa soi bóng anh lúc mờ lúc tỏ. Chiếc đồng hồ vợ chồng anh mua ngày cưới đặt trên nóc tủ cứ lách cách đều đặn và cái kim ngắn đã bắt đầu chuyển sang con số mười một. Bên ngoài trời tối đen như mực. Tháng sáu ta không khí về khuya có dịu lại nhưng ruột gan Tám vẫn như có lửa đốt. Chưa bao giờ Tám thấy buồn bực như lúc này. và với người vợ anh tưởng như suốt đời anh yêu thương kia lại chưa bao giờ anh thấy căm ghét khinh bỉ như lúc này. Thì ra đàn bà họ là như thế. Thì ra những lời thề thốt của họ cũng sẵn sàng phản bội ta một cách nhanh chóng lẹ làng như trở bàn tay.

- Đi ngủ đi anh khuya lắm rồi! Kèm theo câu nói nhẹ nhàng mát mẻ như hơi nước là bàn tay cũng nhẹ nhàng mát mẻ của Hiền đặt lên vai anh.

- Đi ngủ đi anh. Hiền vẫn thì thào. Hiền đứng sát vào người Tám sát đến nỗi mái tóc dày và dài của chị lúc ấy đang xõa ra gần như phủ kín lên bờ vai Tám. Tám nghe thoang thoảng mùi lá bưởi quen thuộc tỏa ra từ mái tóc ấy. Cổ tay anh nhồn nhột khi chạm vào làn áo mỏng phảng phất mùi nước hoa và gần là đôi môi nóng bỏng. Tám mơ màng ngây ngất. Nhưng cảm giác ấy qua nhanh. Bởi lúc này đây tất cả những hương sắc đầy cám dỗ quyến rũ ấy đối với anh vô nghĩa. Vì vô nghĩa mà anh đã cưỡng lại chúng một cách dễ dàng.

- Cô cứ đi ngủ đi tôi không muốn ngủ - Tám trả lời lạnh lùng rồi gạt tay vợ ra khỏi vai mình. Hiền biết chồng đang bực vẫn sán lại gần anh hơn. Rồi như một cơn khát bất chợt ập đến chị thèm được dâng hiến thèm được quằn quại trong vòng tay chồng chị choài người ra quàng cả hai tay ôm lấy cổ chồng áp cả khuôn ngực đầy đặn vào lưng anh.

- Cô tránh ra! Tám khẽ đẩy vợ và gần như không kiềm chế được sự bực tức anh ném cái nhìn giận giữ vào mặt Hiền miệng gằn từng tiếng:

- Tôi đã... nói rồi. Cô cứ đi... ngủ đi. Tôi... sẽ ngồi... đây đến sáng... và ra... khỏi cái nhà... này. Tiếng Tám không to nhưng âm thanh đủ phá tan màn đêm tĩnh lặng. Con bé nằm với Hiền trong mùng giật mình tỉnh dậy. Nó gọi "Mẹ ơi!". Cơn khát trong người Hiền vụt biến mất. chị nhìn chồng dấu dịu:

- Kìa anh! Anh đừng quát ầm lên như thế làm con chúng ta sợ.

- Con chúng ta... Tám cười khẩy mỉa mai nhại lại ba tiếng ấy rồi đứng dậy đi ra ngoài sân.

*

"Anh Tám có thật lòng yêu em không?". Hiền hỏi "Thật" Tám trả lời và hỏi lại. "Thế còn em em có thật lòng yêu anh không?". Hiền không trả lời chỉ khẽ cụng đầu vào lưng Tám.

Ngày mới yêu nhau cứ một tuần là Tám và Hiền lại hẹn hò nhau một lần gặp gỡ. Và lần nào họ cũng hỏi nhau câu ấy. Họ làm như cứ phải hỏi nhau câu ấy tình yêu của họ mới thêm bền chặt. Rồi cứ như thế họ ngồi đắm đuối bên nhau đợi cho đến khuya thật khuya khi mà làng xóm đã chìm sâu vào giấc ngủ họ mới dắt nhau trở về.

"Chúng nó thật đẹp đôi". Trong làng ai cũng tấm tắc khen. Còn bố mẹ đôi bên thì cùng thuận lòng mong cho Tám và Hiền sớm thành gia thất. Và đám cưới đã diễn ra. Đêm tân hôn cả hai đều không ngủ. Họ cùng nhau thức đợi sáng nhưng lòng lại mong đêm hãy dài mãi ra.

Gần ba tháng sau Tám có giấy báo lên đường nhập ngũ. hai năm sau Hiền cũng đâm đơn xin vào lực lượng thanh niên xung phong. Cả hai cùng vào chiến trường đánh Mỹ. Ba mùa nhãn trôi qua. Một chiều chạng vạng Hiền từ tiền tuyến trở về. Chị mang theo một bé gái chưa đầy tuổi. Và trên cơ thể chị còn có thêm nhiều thương tích của đạn bom. "Cháu là con của chúng con - Chị nói với bố mẹ chồng và bố mẹ đẻ - Con vào Quảng Trị thì gặp chồng con. Chúng con cùng sống với nhau trên cung đường ra tuyến lửa. Rồi con sinh cháu và được cấp trên cho trở lại hậu phương".

Chính quyền làng xã đến chúc mừng và chia vui với chị. Còn bố mẹ họ hàng đôi bên thì không ai giấu được niềm vui khi cả hai cùng có thêm thành viên mới. Lúc cháu bé lên năm theo yêu cầu của chị bố mẹ chồng đã xây cho chị một căn nhà nhỏ để mẹ con chị ra ở riêng.

*

Tám vẫn không ngừng hút thuốc và đi đi lại lại. Trong nhà Hiền và đứa bé có lẽ đã ngủ yên. Không gian im ắng dìu dịu hương cau. Tám không ngờ ngày anh trở về lại diễn ra buồn tẻ hẩm hiu như vậy. Suốt cuộc đời quân ngũ rời hậu phương là anh đi thẳng vào chiến trường. Do nhiệm vụ và tình hình mặt trận không cho phép nên từng ấy năm xa nhà cũng là từng ấy năm anh không liên lạc được với gia đình. Nơi chiến trường ác liệt lúc nào anh cũng nhớ về quê hương anh đã hồi hộp sung sướng vô ngần khi nghĩ đến phút giây đầu tiên được gặp Hiền. Anh tưởng tượng ra biết bao nhiêu điều tốt lành về người vợ trẻ về đêm đoàn tụ của vợ chồng anh sau chừng ấy năm xa cách. Nhưng tất cả tất cả đã diễn ra ngoài mong ước của Tám. Chiều nay lúc anh về đến nhà thì vợ anh không có mặt. Anh chưa hết lạ lẫm vớ ngôi nhà mà người làng chỉ cho đã lại bỡ ngỡ ngay với đứa bé chừng bảy tám tuổi đang ngồi học bài một mình. Nhưng nhìn kỹ vóc dáng nhỏ bé của nó anh hiểu ngay nó không phải là con anh. Bởi nếu là con anh thì đứa bé tất phải lớn hơn nhiều. Nhưng khi anh hỏi nó bố mẹ nó tên gì thì nó nói bố nó tên là Tám mẹ nó tên là Hiền. Anh thoáng giật mình. Nó là con của mình ư? Con mình mà mình không nhận ra ư? Anh nhìn kỹ mặt nó hơn. Nó cũng thô lố đôi mắt nhìn lại anh. ờ! Mà trông nó có vẻ giống cô em gái út của mình hồi nhỏ. Trong lúcTám còn đang mãi nghĩ thì con bé rối rít khoe:

- Bố cháu đi bộ dội đánh Mỹ. Mẹ cháu bảo miền Nam giải phóng rồi bố cháu sắp về rồi. Chú ơi! Trước đây mẹ cháu cũng đi Thanh niên xung phong đánh Mỹ đấy mẹ cháu sinh cháu ở chiến trường đấy chú có biết không?

Tám lặng người nghe nó nói. Thì ra là vậy. Có một cái gì đó khẽ nhói đau trong anh. Vẻ mặt anh thoáng buồn. Con bé rời bàn học đi lại chỗ Tám đứng. Nó muốn hỏi vì sao Tám buồn nhưng không dám. Trí óc non nớt của nó không thể hiểu vì sao chú bộ đội lạ hoắc này lại đến nhà nó và tại sao buồn.

Đúng lúc ấy thì Hiền đi làm về. Chị suýt đánh rơi chiếc đòn gánh trên vai khi chợt nhìn thấy Tám. Chị muốn nói với anh một câu gì đó nhưng không sao mở miệng ra được. Còn Tám anh cũng đứng đực ta nhìn Hiền. Bốn con mắt nhìn nhau im lặng. Mãi một lúc sau cố gắng lắm cả hai mới có thể thốt lên:

- Anh về rồi ư?

- ừ! Tôi đã về rồi đây!

Từ đấy cho đến cuối bữa ăn chiều họ cũng chỉ hỏi nhau mấy câu bâng quơ lấy lệ. Căn nhà trở nên ngột ngạt khó thở.

- Cô hãy nói thật đi con bé là con của ai? Cuối cùng lúc con bé đi ngủ Tám cũng đã hỏi Hiền. Hiền nhìn chồng trả lời nửa thách thức nửa đùa cợt:

- Ô hay! Tại sao anh lại hỏi em như thế? Nó không là con chúng ta thì con ai?

- Cô đừng có ỡm ờ! Tám bực dọc - Tôi không phải là trẻ con. Cô đừng lấy vải thưa che mắt thánh. Cô không bịt được mắt tôi đâu!

- Vậy theo anh nó là con ai.

- Con ai ư? Con ai thì cô khắc biết. Còn tôi tôi không phải là bố nó.

Như gáo nước lạnh dội lên đầu Hiền không thể nhịn được nữa chị tấm tức:

- Trời ơi! Chừng ấy năm anh đi bộ đội tôi ở nhà chờ chồng nuôi con... Con anh sờ sờ ra đó mà anh bảo là con người khác. Anh... anh dám vu cho tôi cái tội tày đình ấy ư?

Tám vặc lại:

- Cô nói vô lý thế mà nghe được sao? Tôi xa nhà từng ấy năm mà con bé chỉ mới chừng ấy tuổi. Cô... cô giải thích với tôi điều này thế nào đây?

Họ chỉ mới đôi co với nhau được từng ấy câu thì khách khứa đã kéo đến chật cứng nhà. Cả hai tỏ ra vồn vã nói cười nhưng ruột gan lại như đang trăm mối tơ vò.

*

Nằm với bé Nhung trong mùng Hiền không sao ngủ được. Chị đang nghĩ đến Tám và cuộc cãi vã giữa hai người. Thật tình chị rất sung sướng khi chồng trở về. Nếu không vì sự trớ trêu ấy thì chị đã nhào đến ôm lấy chầm lấy anh. Chị cũng không ngờ khi thấy con bé anh đã hiểu hết mọi chuyện. Nhìn vào mắt anh chị hiểu ngay ra điều đó. Nhưng suy đi nghĩ lại chị càng thấy anh có lý. Bất kỳ người đàn ông nào cũng sẽ xử sự như thế trong hoàn cảnh tương tự. Nhưng chị thầm trách anh sao nỡ vô tâm với chị. Dù chị có là như anh nghĩ thì anh với tấm lòng bao dung độ lượng anh phải tha thứ cho chị. Anh phải hiểu được lòng dạ đàn bà. Họ rất chung thủy nhưng chỉ sểnh một chút thôi là có thể mang họa vào thân. Huống hồ chị cả một thời gian dài biền biệt xa chồng. Nhưng chị chị chưa đến nỗi như thế. Từ chiều đến giờ nhìn dáng vẻ ủ ê buồn bã của chồng chị cũng xót xa lắm! Chị cũng định bụng úp mở với anh một lúc rồi nói ra sự thật. Ai dè "máu Hoạn Thư" trong anh càng lúc càng ghê. Cứ đà này thì đến sáng anh bỏ đi thật. Thôi đến nước này thì cũng cần nói ra cho anh biết. Lúc ấy mọi chuyện sáng tỏ để rồi anh và chị ai sẽ giận ai và ai sẽ tha thứ cho ai. Nghĩ vậy chị mỉm cười rồi rón rén ngồi dậy ra khỏi giường. Chị đến bên tủ lục lọi trong ngăn kéo lấy ra một cuốn sổ nhỏ bìa xanh. Lúc ấy Tám cũng từ ngoài sân đi vào. Chị đến bên chồng khẽ khàng nói:

- Anh ngồi xuống đây để em thưa chuyện.

Tám uể oải ngồi xuống ghế. Nhìn vợ anh nhận thấy nét mặt Hiền lúc này không còn vẻ e dè nữa mà nghiêm nghị cứng rắn.

Hiền dở trong cuốn sổ lấy ra một tấm ảnh đặt trước mặt Tám. Đó là ảnh của một cô gái trong trang phục thanh niên xung phong.

- Anh nhận ra cô này không? Hiền hỏi. Tám nhìn như dán mặt vào bức ảnh. Hết nhìn ảnh anh lại nhìn vợ. Anh xoay xoay bức ảnh trong tay lúc đưa ra xa lúc để lại gần. Rồi như không tin vào mắt mình anh lật mặt sau tấm ảnh xem có bút tích gì không. Không! Không có! Nhưng con người trong ảnh này thì anh biết. Mà tại sao tại sao Hiền có ảnh của cô ta? Bao nhiêu năm đã trôi qua rồi chiến trường đạn bom mất mát hy sinh... những tưởng thời gian đã có thể xóa nhòa đi tất cả thì lúc này đây chỉ khoảng khắc nhỏ hẹp này tất cả đã sống lại đã ùa về trước mặt Tám.

*

Một quả bom nổ gần hất Tám ngã nhào ngất xỉu. Khi tỉnh dậy Tám thấy mình đang nằm trong một căn liều bạt giữa rừng sâu. "Anh thấy giờ trong người thế nào?" Một cô thanh niên xung phong đứng đấy từ bao giờ chạy đến đỡ anh ngôi dậy và hỏi. "Cảm ơn chị tôi đã khỏe". "Em già lắm phải không anh?". "Không chị còn rất trẻ". "Anh chỉ khen động viên em thôi". "Không tôi nói thật lòng đấy". "Đấy lại gọi em là chị rồi". "Chị... à cô ở đây chỉ có một mình thôi à?". "Sao lại một mình. Cả một trung đội hẳn hoi nhưng tất cả đã đi làm đường chỉ có em là cấp dưỡng ở nhà".

Đó là khởi đầu cho cuộc gặp gỡ giữa Tám và cô thanh niên xung phong có tên là Thuần. Thuần đã hai tư tuổi và đã có bốn năm làm thanh niên xung phong lặn lộn trên cung đường ác liệt này. Mới thoạt nhìn người ta dễ nhầm tưởng Thuần đã ở tuổi ba mươi. Cô vừa già vừa đen. Chỉ có chất giọng của người con gái vùng Kinh Bắc là vẫn trẻ trung ngọt ngào dễ cảm. Cô chăm sóc Tám như một người chị: Cần mẫn chiều chuộng chu đáo. Cô lại có ánh mắt rất lạ cứ lung linh tình tứ nhìn Tám như muốn nói điều gì. Đôi lúc Tám phát ngượng vì chính cái nhìn ấy. Lúc chia tay về đơn vị Tám ngăn cách gì Thuần cũng một mực đòi tiễn anh ra đến bìa rừng. Cực chẳng đã Tám phải đồng ý. Hai người vừa đi vừa nói chuyện. Họ cứ hỏi nhau tâm sự với nhau chuyện quê hương gia đình riêng tư... Đang đi bỗng Thuần ngồi sụp xuống ôm mặt khóc nức nở. Tám giật mình hỏi Thuần: "Cô làm sao mà khóc? Có chuyện gì sao?" Thuần ngửng lên nhìn Tám nói trong nước mắt nghẹn ngào: "Em già lắm phải không anh? Em xấu lắm phải không anh? Anh đừng có giả bộ động viên em. Tuổi tác của em con người của em thế nào em cũng thừa biết cả rồi. Em có còn gì nữa đâu mà không già không xấu hở anh. Da thịt nơi chiến trường đạn bom. Tuổi xuân nơi rừng thiêng nước độc. Tất cả đã tàn phai nguội lạnh. Này đây anh xem tóc em đang rụng dần đây này! Em không dám chải đầu vì một lần chải là một lần em giật mình lo sợ. Tóc em cứ theo lược từng lọn trong tay. Còn da thịt đây anh xem càng ngày càng vàng bủng ra. Người ngợm thế này thì em còn hy vọng gì yêu đương nữa anh ơi! Đời em chưa một lần được đàn ông cầm tay chưa một lần được hẹn hò chưa một lần được ngỏ lời yêu. Tám ơi! Em cầu xin anh hãy cho em một lần được yêu. Đừng cho em là lẳng lơ đĩ thỏa nghe anh. Em chỉ cần được yêu cần được yêu nhiều lắm anh ơi!". Thuần dang tay ôm chặt lấy Tám. Tám hốt hoảng gỡ tay Thuần ra. Nhưng càng gỡ Thuần càng ôm chặt hơn. "Đừng cô đừng làm thế. Tuổi cô còn trẻ tương lai còn ở phía trước. Rồi cô sẽ được làm vợ làm mẹ như bao người phụ nữ khác".

Tám nói như dỗ dành. Thuần như không còn nghe Tám nói gì hết vẫn khăng khăng ôm chặt lấy anh. Cô áp môi mình vào má Tám. Hai tay quờ quạng trên người anh. Cả người Thuần run lên bần bật. Tám thấy nóng ran cả người. Tám nhìn vào mặt Thuần thấy rõ hai hàng nước mắt lăn dài trên má. Một tình thương dâng lên trong lòng anh. Tám thôi không gỡ tay Thuần ra nữa mà kéo đầu cô về phía mình...

*

-... Anh không nhận ra ai à? Tiếng Hiền hỏi làm Tám giật bắn người. Anh đưa tay dụi dụi mắt ậm ự trả lời:

- Có! Tôi nhận ra

- Là ai vậy?

- Là cô Thuần Thanh niên xung phong ở Trường Sơn chứ còn ai - Tám trả lời rồi đột nhiên đứng phắt dậy nắm tay Hiền hỏi dồn - Như thế này là thế nào thế nào? Cô nói ngay cho tôi nghe đi.

- Thế nào thì anh tự hỏi anh chứ em biết gì mà hỏi - Hiền nói vẻ giễu cợt.

"Thôi chết rồi chả lẽ bé Nhung là kết qủa của lời cầu xin năm xưa của Thuần vói mình sao? Nhưng tại sao? Tại sao nó lại ở với Hiền...? ". Tám thầm nghĩ.

- Anh với cô ấy là gì với nhau? Hiền đổi nét mặt nghiêm nghị hỏi Tám thấp thỏm chờ câu trả lời của chồng nhưng tâm trí của chị lại dõi theo một hướng khác. Chị đang nghĩ về cô thanh niên xung phong trong ảnh.

Câu chuyện đáng thương về cô với anh bộ đội chị đã biết tỏng từ mười năm trước. Người kể với chị chuyện ấy không ai khác mà chính là Thuần. Ngày ấy chị cũng là thanh niên xung phong ở cùng một tiểu đội với Thuần. Ngày ngày chị đi làm đường còn Thuần ở nhà làm cấp dưỡng. Ngày phát hiện Thuần có mang chính chị đã bắt Thuần kể ra sự thật rồi cùng với mấy chị em khác bày cách dùng khăn thắt bụng cho Thuần. Khi "kế hoạch" bại lộ thì cả trung đội đứng ra che chắn cho cô giúp cô tránh được cú kỷ luật nghiêm khắc của chiến trường: Sa thải về địa phương. Rồi họ lại giúp cô chăm sóc cho cô từng ly từng tý cho đến ngày cô sinh hạ mẹ tròn con vuông.

Cả trung đội không ai biết bố đưa bé là ai? ở đơn vị nào? Địa chỉ quê hương bổn quán ra làm sao? Hỏi Thuần cô chỉ lắc đầu không nói. Nhưng màn kịch "Thuần gặp chồng chưa cưới" lại diễn ra êm đẹp xuôi chèo mát mái. Sau này chỉ riêng mình Hiền biết bố đứa bé là ai. Chị không ngờ đó chính là Tám - chồng chị. Điều này chị cũng biết được trong một hoàn cảnh hết sức bi thương. Đó là thời gian Thuần bị thương nặng sau khi sinh con được vài tháng. Thuần vừa khóc vừa nói với Hiền rằng cô nhận ra anh bộ đội chính là Tám... nhờ một lần may mắn được nghe chị kể về Tám và cho xem ảnh của anh. Lúc ấy tai Hiền ù đi mắt hoa lên như người phải cảm. Ban đầu chị không tin cho Thuần bịa. Chị muốn giáng một cái tát vào mặt Thuần cho hả dạ. Nhưng chị nghĩ rằng: Một người đang trong tình cảnh lắt lay giữa cái sống và cái chết thì họ không bao giờ biết nói dối. Dù lúc đó Hiền rất thương Thuần nhưng ruột gan chị cũng sôi lên vì căm giận Tám...

*

Tám trở nên thành thực:

- Là gì với nhau chắc em đã biết hết rồi phải không? Thôi em đừng làm bộ khảo tra anh nữa em hãy nói cho anh biết đi. Bé Nhung có phải là con của Thuần không? Thuần bây giờ ra sao? Làm sao em đưa được bé Nhung về đây?

Hiền trao cho Tám cuốn sổ bìa xanh. Chị nói với chồng giọng lạc đi không biết là vì giận anh hay thương cảm cho số phận Thuần.

- Đây! Anh đọc đi! Những dòng nhật ký của cô ấy và cả thư cô ấy viết để lại cho em sẽ giúp anh hiểu rõ mọi chuyện. Nói xong Hiền bỏ vào giường nằm với con bé.

Tám đọc ngay những trang cuối của cuốn nhật ký. Thuần đã viết rất xúc động về cuộc gặp gỡ giữa cô và anh ngày ấy. Đây là bằng chứng cũng là bản cáo trạng kết tội anh. Anh không có gì để có thể kể thêm với vợ anh nữa. Anh đọc sang bức thư:

"Chị Hiền đáng kính của em!

Em biết là em sẽ không sống được nữa nên em viết cho chị mấy dòng này. Chị ơi! Xin chị hãy tha thứ cho em chỉ vì em mà chị mất hạnh phúc. Nhưng chuyện đã lỡ rồi em biết làm sao được. Sau này khi anh Tám trở về chị đừng hắt hủi anh ấy. Chị hãy suốt đời yêu thương gắn bó với anh ấy. Anh ấy chẳng có tội tình gì đâu. Nếu phải trách thì em mới là người đáng để chị trách. Chị ơi! Lại còn chuyện em ra đi để lại cho chị một đứa con mà chị phải chịu bao gian nan vất vả với nó. Biết vậy nhưng em không còn ai để cậy nhờ. Em cầu xin chị hãy coi cháu như con. Nếu được như vậy em ơn chị vô cùng... hồn em sẽ thanh thản nơi chín suối chị ơi!..."

Tám áp bức thư vào ngực anh cố giữ tư thế đứng vững khi cơn sóng lòng đang ào ạt dâng lên

                                                      N.N.C


More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐINH DUY TƯ


Khoảnh khắc chiến tranh


Truyện ngắn



      Thực
 lòng tôi không muốn đặt tên này cho truyện ngắn của mình bởi cái tên nghe nhức nhối quá đau đớn quá! Không lẽ chiến tranh đã lùi xa mà ký ức tang tóc vẫn ngang nhiên hiển hiện lên những trang giấy trắng. Nhưng tôi không sao cưỡng lại được... Thôi thì có sao kể vậy cứ phải lỳ lỳ như con tàu vào ga mà kể. Tôi kể theo nhật ký chiến trường trong nhưng năm chống Mỹ...

*

Đó là năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám! Ngày tháng tôi vẫn nhớ như in: Đúng ba mốt tháng mười vào lúc năm giờ ba mươi phút và trước ngày ngừng bắn có một ngày. Xin đừng vội hát tình ca và cha ông vẫn có câu: ba mươi chưa phải là tết! Bởi khoảnh khắc ấy giờ phút ấy ở huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An - tại truông Bồn có mười bốn thanh niên xung phong - hai trai mười hai gái đã anh dũng hy sinh trước một loạt bom tọa độ của không quân Mỹ. Cũng ngày tháng ấy giờ ấy và năm ấy ở Quảng Bình tại truông Bom trên đường hai mươi quyết thắng cũng có một loạt bom tọa độ đã ném xuống đây. Tiểu đội thanh niên xung phong bám trụ ở cung đường này lập tức có mặt để san lấp hố bom thông xe ra tiền tuyến. Vừa tới hiện trường mọi người đều phải dạt lui vào trong một hang đá gần đó với lý do không được báo trước! giữa tim đường có một quả bom chưa nổ trông như một con hổ chễm chệ rình mồi... Tin nhanh chóng được chuyển về sở chỉ huy và khoảng một giờ sau thì chiếc xe com măng ca "đít vuông" chở đến hiện trường một người nhỏ thó trong bộ quần áo lính ngoại cỡ rộng thùng thình. Mọi người rỉ tai nhau:

- Này anh hùng phá bom Vương Đình Lớn đấy!

- Lớn gì mà nhỏ vậy ạ?

- Lớn ở cái đầu ấy!...

Anh Lớn hai tay đút túi quần không tuốc vít không cờ lê mỏ lết và búa đục mang theo. Anh xem xét quả bom một lúc đưa tay rờ rẫm lên quả bom để tìm cách phá. Nhưng rồi anh lắc đầu. Về tới xe anh nói với thủ trưởng binh trạm:

- Loại bom này mới lắm không tìm ra chỗ tháo ngòi nổ nên phải tìm cách khác thôi.

Ông binh trạm trưởng đắn đo mãi mới đi đến quyết định dùng xe ủi đất để ủi quả bom ra khỏi vòng nguy hiểm.

Ông binh trạm phó có chút đắn đo:

- Liệu!... nếu là bom từ trường thì sao?

Ông binh trạm trưởng giọng trở nên quyết đoán:

- Thì cũng phải "sao" chứ sao!

Ông binh trạm phó muốn nhắc tới chuyện vừa xảy ra cách đây chưa trọn tuần. Đó là lái máy Trịnh Bình An trong lúc san ủi mặt đường thì vấp phải bom từ trường. Một mảnh bom xé kính gió lia ngang vào buồng lái. Anh An bị bom làm toóc cuống họng máu sủi ra từng đám bọt đỏ ngầu chết không kịp trối với vợ con bạn bè đồng đội một lời nào. Bình An mà chẳng được an? Anh đang còn vợ nghèo con dại bố mẹ đã già...

Phải mất vài phút hoài niệm ông binh trạm trưởng mới hồi tâm. Ông nói với binh trạm phó như ra một quyết định bằng miệng.

- Anh chuẩn bị cho tôi một chiếc quan tài một lá cờ tổ quốc một bài điếu văn...

Ông binh trạm phó hơi tái mặt hỏi:

- Ngay bây giờ!...

- Đúng! Ngay bây giờ... binh trạm trưởng nhắc thêm: Bảo phía hậu cần lo một mâm cơm tươm tất nghe! Nhớ là có vài chai bia trúc bạch...

Chiếc xe con nhận xong nhiệm vụ nổ máy rồi lao vút vào một con đường rẽ. Quay sang "xê" trưởng binh trạm trưởng nói với giọng nhũn hơn ngày thường:

- Mời cậu Dương lên gặp tôi nghe...

"Xê" trưởng biết chuyện lặng lẽ vừa đi vừa khóc. Đến trước ngõ nhà Dương ở "xê" trưởng cố bình tĩnh mà giọng vẫn cứ run run:

- Cậu lên "xê" có việc gấp!

- Việc gì vậy anh? - Dương hỏi lại.

"Xê" trưởng lắc đầu cố lắm mới buông ra mấy tiêng nghe cứ như vọng lại từ cõi xa xăm:

- Lên đó cậu khắc biết!

Như vừa trút được gánh nặng "xê" trưởng quay ra chìm vào trong ánh nắng loang lổ trên mặt đường.

*

Dương là tên của tôi ngoài "hăm" cộng với ba nồi nước xông là tròn hai mươi ba tuổi. Lúc đó tôi còn khá trẻ điển trai và lai láng đôi chút thư sinh hiện lên nét mặt. Mặc dù là công nhân lái máy ủi nhưng nhảy xuống buồng lái là tôi hiện nguyên hình của một kẻ có số đào hoa. Bởi tôi được trời phú cho khuôn mặt thuần khiết không góc cạnh; hai hàm răng lúc nào cũng trắng sáng; miệng luôn luôn canh hờ một nụ cười tươi. Và tôi lém lỉnh nhờ một dạo mê văn thơ như điếu đổ. Trò chuyện với các em tôi có hai thói quen: Đã nói thì nói cho nên hồn thi thoảng đệm vài câu thơ hay để các em có thêm gia vị; Đã im lặng là im lặng hẳn để buộc các em phải chú ý tới mình phải kêu lên: Buồn quá! Anh Dương nói chuyện đi chứ sao lại im lặng thế kia?

Tôi là lính của "Ban 67" được tăng cường cho truông Bom chừng đã nửa năm. Cùng tăng cường với tôi còn có Vui - được mệnh danh là Vui Văn Buồn; Hắn lúc nào cũng buồn có khuôn mặt gằm gằm như ma ám. Vui không băm bổ không tếu táo; nghe cánh con gái trêu chọc là giả lơ tìm chỗ yên tĩnh để ngồi. Vui hút thuốc lá như điên hết thuốc sẵn sàng đi nhặt "xái" ở mọi xó xỉnh để rít vài hơi cho đỡ thèm. Hết cả xái hắn ta lấy lá khô vừa nhăn mặt như khỉ ăn ớt vừa cố nuốt lấy chút khói để cho ấm bụng. Vui vừa ở dưới nhà lên than phiền với tôi "cái máy" ông ngoại cho dễ nổ hơn cái máy ủi đến vạn lần...

- Bắt thằng cu anh uống sữa phải không?

- ừ nhạy quá! Vui lại than.

- Phá! Tôi nói.

- Tội chết! Vui lắc đầu.

Chuyện buổi sáng buổi chiều hắn đã nằm sâu trong lòng đất. Hắn chết mắt không nhắm hẳn cứ khép hờ hờ như chờ đợi ai? Mấy tuần nhang cầu cho mắt hắn khép hẳn để cho vô quan tài mà bất lực. Mãi sau đến lượt tôi. Vừa xong câu khấn rằng: "Vui ơi! yên tâm nhắm mắt tao hứa với mày sẽ lo cho vợ mày được mẹ tròn con vuông..." hắn mới chịu nghe lời. Vui chết chiếc mày ủi cũng bị xóa luôn vì lốc máy không còn nguyên vẹn. Hiện trường còn lại duy nhất chiếc máy mà tôi đang lái. Để thông tuyến đường tôi phải làm hì hục suốt ngày đêm có nhiều lúc ngủ luôn trên ghế ngồi. Những lúc đó có một người như một nàng tiên giáng thế sà vào trong buồng lái đăm đắm nhìn tôi. Như có linh cảm tôi mở mắt và nhận ra em.

- Thảo đấy à? Tới lâu chưa em...

- Em mới tới. Thảo nói - Các chị trong tiểu đội gửi lên cho anh chút quà...

- Quà gì vậy em? - Tôi lại hỏi.

Thảo trao sang cho tôi một chiếc gói nhỏ được bọc trong chiếc khăn mù xoa có những đường kẻ màu ngang dọc. Tôi mở ra xem thấy có một gói thuốc "Trường Sơn" một gói kẹo mềm và một chiếc bật lửa. Tôi ngạc nhiên:

- Tiểu đội gửi cho anh hay là?...

Không chút đắn đo Thảo nói:

- Của chị A trưởng gửi cho anh đấy!

Tôi buột miệng thốt lên:

- Chị Thản phải không?

Thảo gật đầu. Tôi gói lại đùm quà và lại trao sang cho Thảo nói:

- Em nói với chị Thản là anh cảm ơn! - Lưỡng lự một lúc tôi nói tiếp: Riêng gói quà anh đã đủ dùng...

Chị Thản nhân vật trong câu chuyện lớn hơn tôi hai tuổi. Chị tuổi Dần và thuộc loại phụ nữ được đầu thai không đúng giới. Nhìn cái dáng của chị ăn khoẻ nói khỏe và khuôn mặt có vẻ thô thô không giống trái xoan cũng chẳng ra hình e líp khiến ai cũng phải chờn chờn. Chị mà cất tiếng lên thì đến như chim họa mi cũng ngừng hót; không ai dám nhìn thẳng vào mắt chị bao giờ. Với tôi chị vẫn xưng anh và em ngọt như mía lùi. Chị rất yêu tôi và tôi thấy chị chẳng có nét gì đáng yêu cả. Nhìn nhận như thế là không sòng phẳng chị vẫn còn có nét đáng yêu: Đó là tấm lòng! Chỉ có tấm lòng thì làm sao xây nổi một lâu đài hạnh phúc cho một kiếp người.

Thảo bật lên câu hỏi vu vơ:

- Sao anh lại không yêu chị Thản nhỉ?

Tôi cười không trả lời em. Thảo lại nói:

- Anh cứ nhận lấy gói quà cho em vui lòng.

- Sao lại là em? Tôi hỏi.

Thảo nhìn tôi giọng nhỏ lại:

- Vì em muốn được lên đây với anh.

- à ra thế!

Và tôi bỗng hỏi: Chị Thản có biết em yêu anh không?

Thảo mở to mắt nhìn tôi và khẽ gật đầu. Em lại trầm ngâm với chính mình:

- Tình yêu đơn phương ấy mà? Giá như

Tôi vội hỏi:

- Giá như... làm sao? Em muốn nói có người yêu chị ấy chứ gì?

Thảo lại gật đầu.

Đơn vị vui nhất là chiều hôm qua. Một buổi chiều bình yên hiếm có trong chiến tranh. Trước giờ ăn cơm có vài phút thì chị Thản trực báo lên "xê" về. Chị Thản ung dung đến chiếc kẻng sắt treo ở đầu hồi nhặt lấy chiếc đùi kẻng cũng bằng sắt dóng lên những âm thanh khoan nhặt. Không phải báo động nên mọi người tỏ ra điềm tĩnh khi bước vào phòng họp. Ai cũng đoán chắc có chuyện gì đột xuất rồi đây! Người ta nghiêng về chuyện giặc Mỹ sẽ ngừng ném bom miền Bắc trong một ngày rất gần. Đêm qua thằng BBC cần phỏng đoán như "đinh đóng vào cột" rằng: "Đúng mười hai giờ đêm - giờ Hà Nội ngày mùng một tháng mười một lệnh ngừng bắn có hiệu lực"... Một cậu tác chiến ở trên "xê" nghe được tin đó liền xách khẩu súng AK ra đứng giữa sân kéo một loáng hết cả băng đạn. Bắn xong cậu ta hét ra cả lửa:

- Ngày mai ngừng bắn rồi! Mai ngừng bắn rồi!...

Lập tức đại đội tịch thu súng và khó khăn lắm mới trói cậu ta lại dưới chân cột cờ để sáng mai cấp trên về xử lý. Ai cũng tin rằng cậu ta sẽ bị kỷ luật rất nặng - có thể bị đuổi về địa phương vì nghe đài địch và tung tin thất thiệt làm ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu đang lúc cao trào ác liệt; có người còn quả quyết cậu ta là gián điệp Mỹ Ngụy từng ở phòng tâm lý chiến trước khi được tung ra miền Bắc...

Chuyện đó đã không xảy ra! Trong cuộc họp chị Thản chỉ truyền đạt ý kiến chỉ đạo của cấp trên với những chiến dịch lớn sắp bùng nổ. Nội dung chính của cuộc họp là thông báo quyết định chuyển ngành cho những đồng chí đã hoàn thành nghĩa vụ; đồng thời trao giấy báo nhập học cho những ai đã đăng ký từ trước... Cuộc họp vừa kết thúc Thảo đã nắm lấy tay tôi kéo ra một chỗ vắng và nói giọng như méo lại:

- Em... em có giấy báo rồi!...

Tôi cầm tờ giấy đọc được những dòng chữ đầu tiên "Trường đại học Sự phạm ngoại ngữ"... rồi chậm rãi đưa trả tờ giấy cho Thảo.

- Sao vậy anh? Thảo ngơ ngác hỏi.

- Anh mừng cho em!... Cô giáo tương lai ạ. Và tôi như lùi lại: ơ hay chưa kìa! Sao em lại khóc?

Thảo gục đầu vào tôi:

- Anh! Anh ơi... em xa anh rồi!

Chẳng còn bụng dạ nào để trở lại nhà ăn tôi và Thảo cứ dắt díu nhau lang thang vòng vo trên con đường làng rợp bóng tre đan. Đi từng bước chậm rãi muốn nói mà chẳng biết nói điều chi? Mãi tận cuối làng hai đứa ngồi lại bên nhau trên một gò đất nổi. Tay đã cầm tay môi đã kề môi hai cái lưỡi xoắn vào nhau rạo rực đến tê lòng! Một chút đê mê một chút khoái cảm lặng rất sâu vào tận cõi lòng. Thảo bàn với tôi là tranh thủ một ngày nào đó - lúc Thảo đang chờ nhập học hai gia đình sớm đi lại gần nhau.

- Bây giờ thì chưa được đâu. Tôi nói

- Sao vậy anh? Thảo ngước mắt nhìn tôi và hỏi.

Tôi lắc đầu:

- Đơn vị chỉ còn chiếc máy của anh lỡ ra...

Tôi cố động viên Thảo bằng câu nói lơ lửng:

- Nghe đâu tháng tới có máy tăng cường!

Trăng lên. Đêm nay trăng đầu tháng tắt bóng nắng đã thấy trăng rồi. Trời càng tối trăng lại càng sáng tỏ! ánh trăng màu mỡ gà ruộm vàng trên mỗi ngọn tre mỗi nếp nhà. Ngồi mãi cạn chuyên đến vô duyên tôi nhắc khéo Thảo đứng đậy để ra về. Chưa tới ngõ nhà Thảo ở thì cái Hiền cùng chung tiểu đội đón lấy đường:

- Thảo ơi! về nhà đi...

- Sao lại về?

Cái Hiên bộc bạch:

- Tao với mầy gần nhà nên chị Thản cho nghỉ sớm. Hiên nhanh miệng nói tiếp: Ngày kia chúng mình trở lại để đơn vị tổ chức buổi lễ chia tay...

Thảo nhìn tôi chần chừ thì Hiền lại nói:

- Mai kia tha hồ mà tâm sự lo gì? Trời còn sớm lại có trăng...

Nhà Thảo và Hiền ở bên kia cánh đồng thong thả bách bộ một chập thì tới Thảo nhìn tôi đầy vẻ băn khoăn:

- Sao anh?

- Đơn vị cho nghỉ thì em nên về! Bom đạn còn dài lắm... và tôi đề nghị:

- Để anh đưa các em về nhé!

Thảo từ chối đây đẩy:

- Khuya rồi về ngủ ngon ông tướng nhé! Nhớ đừng mơ em nghe...

Thảo đi một lúc tôi trở về nhà ở thì gặp ngay chị Thản đang đứng ở bên đường. Thản chủ động cầm lấy tay tôi và hỏi:

- Cái Thảo về rồi hả anh?

- Về rồi! Mới cùng cái Hiền đi xong...

Thản vẫn ở thế chủ động:

- Anh đi chơi trăng với em đi!

- Khuya rồi đi đâu bây giờ? Tôi nói.

- Anh cứ đi là được rồi!

Không nỡ chối từ tôi miễn cưỡng bước theo chân Thản. Lại lang thang lại vòng vo và cũng tới chỗ đầu làng. Thản tiến đến gò đất mà tôi và Thảo vừa ngồi. Thản lôi từ đâu đó trong người một tờ báo cũ; xé đưa cho tôi một nửa tờ báo Thản nói:

- Ngồi xuống đi anh!

Để lấp khoảng trống đang án ngự giữa hai người tôi nhã nhặn lên tiếng:

- Thản đã có giấy báo nhập học chưa?

Thản trầm tư một lúc giọng đượm buồn:

- Em thôi chuyện học hành ra quân là chuyển ngành luôn.

- Ngành chi? Tôi gặng hỏi.

- Bố em xin việc làm cho em ở ty nông nghiệp tỉnh rồi! Ra quân là có việc có lương...

- Nghĩa là có tiền!...

- Tất nhiên rồi!- Thản nói - Ai uống nước suông mà sống được trọn đời.

Thản cọ quậy một lúc đã sát đến bên tôi rồi choàng tay qua ngực ôm riết tôi vào lòng. Tôi định gỡ tay Thản ra nhưng cứ thấy tồi tội đến thương hại... Thản xoay người lại đưa tay kéo mái đầu của tôi về phía cô... ngập ngừng một lúc Thản nói:

- Anh cho... em hôn anh nhé!

Thản đã hôn tôi tới tấp hôn tôi chùn chụt như trẻ con lâu ngày đói dòng sữa mẹ; Thản còn tháo mấy cái cúc áo ngực của tôi để hôn lên bộ ngực vạm vỡ phổng phao mà cô gái nào cũng rất thèm muốn. Hơi thở của Thản nóng tan như mang hơi hưởng của gió Lào có cả bụi đường đất đỏ. Tôi để mặc nhiên cho Thản muốn làm gì thì làm. Còn tôi lúc này tôi đang nghĩ tới Thảo với nụ hôn thơm tho nồng cháy và êm dịu; với đôi môi hồng nhu được bôi son. Và đầu lưỡi của em nghe ngọt lịm như được đúc từ một thỏi đường mía. Khuôn mặt trái xoan sống mũi dọc dừa đôi mắt long lanh đen nhánh và ươn ướt... Tôi vừa ở chốn thiên đường bước ra bát cơm nguội quả là nuốt làm sao được? Chỗ Thảo ngồi còn đang nóng ấm lẽ nào tôi bạc với em! Thản đưa tay lần xuống phía dưới nhưng tôi kịp thời ngăn lại:

- Đừng em! đừng...

Giọng Thản dồn dập hổn hển

- Anh Dương anh chiều em đi! Chiều em đi anh ngày mai em đi rồi!

Tôi nghe lạnh toát trong câu nói:

- Em nói... em đi đâu?

- Em về quê.

Tôi thở ra nhẹ cả người. Rồi tôi đứng lên với cái lý do vô tội vạ:

- Về đi em anh mệt lắm rồi!

Tôi bước đi và Thản ôm mặt khóc. Đêm đó tôi không ngủ. Tôi thấy mình nhẫn tâm đến thế là cùng... thương Thản lắm Thản ơi!

*

Nghe binh trạm trưởng gọi lên giao việc tôi biết là có vấn đề. Thoạt nghĩ chắc là động viên tôi làm thêm ca kíp; không chừng cho nhận máy mới cũng nên... gặp tôi đôi mắt ông trở nên bối rồi. Ông hỏi tôi chuyện nhà khi biết tôi là "Trai một" ông không nhìn thẳng vào đôi mắt tôi nữa. Tôi mạnh dạn gợi chuyện:

- Thưa thủ trưởng... có việc gì ạ?

- Việc như thế này...

Sau khi cân nhắc ông đánh vào tâm lý tôi theo kiểu "Cháo húp quanh nợ trả dần" bằng những lời lẽ "lạt mềm buộc chặt". Tôi nôn nóng bao nhiêu thì ông càng trầm tĩnh bấy nhiêu. Vòng vo tam quốc một lúc ông mới cho tôi hay câu chuyện quả bom và cách đưa nó ra khỏi nơi cửa tử.

Thực ra khi bắt đầu làm bạn cùng chiếc máy ủi với nhiệm vụ san lấp hố bom tôi đã xác định cho mình sự chết nhiều hơn sự sống. Mười phần chết bảy sống ba... ấy mà! Trước tôi bao nhiêu người đã ngã xuống riêng mình lẽ nào được số phận che chở mỉm cười. Xác định là như vậy nhưng khi nghe binh trạm trưởng cho biết là đơn vị đã chuẩn bị quan tài - một chiếc quan tài bằng gỗ hương quý lắm! Và có cả lá cờ đỏ sao vàng với bữa cơm lần cuối nước mắt tôi bỗng trào ra. Lẽ nào lẽ nào tôi lại chết giữa tuổi thanh xuân đang tràn đầy khát vọng sống! Lẽ nào phải xa mẹ tôi với cái dáng lưng còng trước tuổi; xa bố tôi với cặp nạng thương binh hồi chống Pháp; và Thảo em đang chờ ngày gia đình tôi mang trầu cau sang dạm hỏi... Đang làm gì Thảo ơi! Em có biết anh đang dấn thân vào cái chết. Vĩnh biệt em!

Lễ truy điệu diễn ra trong chớp nhoáng dường như tổ chức để trấn an tinh thần cho tôi rằng: Anh Dương ơi hãy yên tâm ra đi vào trốn cửu trùng! Tổ quốc nhân dân mãi mãi ghi tạc công ơn của các liệt sỹ. Anh hy sinh được may mắn hơn đồng đội lần cuối được nhìn chiếc quan tài lá cờ tổ quốc và bạn hữu thân yêu... Đọc xong lời thề tôi thong thả đến bên chiếc quan tài nhìn ngó sờ mó nó một lúc rồi cúi hôn lên lá cờ tổ quốc... Tôi thoáng nhớ đến một câu Kiều quen thuộc: "Thác là thể phách còn là tinh anh". Xác của tôi sẽ nằm đây- trong chiếc quan tài này hồn tôi sẽ nhập vào non sông đất nước. Tôi đã từ chối bữa cơm cuối cùng chỉ uống với đồng đội một ly bia đắng nghét! Xong tôi ôm hôn mọi người và lững thững lên trên máy...

Trời lặng phắc như đang mặc niệm từng bước chân tôi đi vào chỗ chết. Tôi nghe rất rõ tiếng khóc đang cố ghìm lại của cái Xoan cái Hồng... Tiếng khóc rõ nhất là của Thản khi cùng tiểu đội cầm dụng cụ đi về phía hang Bom. Tiểu dội chờ ở đó đợi tôi đẩy được quả bom xuống vực sẽ nhào ra san lấp mặt đường kịp thời giải phóng hàng trăm chiếc xe đang bị ách tắc từ hai phía...

Thản đợi tôi ở trước cửa hang.

- Anh Dương! Thản khẽ gọi giọng ấm nồng.

- Anh ân hận quá!... tôi cúi đầu nói nhỏ: Em hãy tha lỗi cho anh!

Tôi nói và cắm cúi bước đi. Tôi cố tránh ánh mắt như hai tia hồ quang của Thản.

Chậm rãi tôi leo lên buồng máy thò đầu nhìn ra bên ngoài một lần nữa rồi đóng sầm cửa lại. Tôi ngồi tĩnh tâm một lúc rồi nổ máy cài số nhả "côn". Chiếc máy ủi lầm lỳ tiến về con quái vật. Tôi miết ga... "Kịch" - Trúng bom rồi! Lập tức theo phản xạ tôi ngồi thụp xuống và không nghe thấy tiếng nổ. Tôi thở phào đoán chắc là không phải bom từ trường. Lưỡi "ben" vẫn tiến lên phía trước. Và tôi giật mình nghe hẫng hụt ở chân tay... Trời ơi! quả bom không lao xuống vực như chủ ý của tôi mà lại lao nhanh xuống chân dốc. Mắt tôi hoa lên khi thoáng thấy bóng dáng của Thảo từ dưới chân dốc chạy ngược lên. Từ trong hang đá lao ra một bóng người đẩy Thảo xuống bên mé đường...

ầm!...

Quả bom xoay ngang đâm vào vách núi và nổ. Không gian rung chuyển dữ dội. Tấm kính gió trước mặt tôi vỡ ra từng mảnh rơi lả tả. Một mảnh bom xé tam góc đệm lái. Định thần lại tôi thâý mọi người đang đổ xô đến chỗ quả bom vừa nổ. Thảo bị thương ở vai trái. cạnh đó là chị Thản nằm sóng soài bên hố bom. Người ta đặt lại chị nằm ngửa trên một chiếc chiếu hoa Nga Sơn có hai chữ "hạnh phúc" và một đôi chim bồ câu. Tựa hồ như sau lưng chị là tấm phong ngày cưới. Tay duỗi thẳng mắt khép lại trên mình không một vết thương. Chị chết vì sức ép của quả bom nổ gần. Ai cũng bảo chị ra đi thanh thản riêng tôi nhận ra chị không than thản chút nào? Hẳn chị còn tiếc nuối cho kỷ niệm đêm qua...

Chiếc quan tài cho tôi đáng trao cho Thảo cuối cùng lại trao sang Thản. Sau tiếng bom tôi thấy Thản đẹp lạ lùng. Đẹp như một ngôi sao - thiên thần bé nhỏ xanh biếc vừa mới băng hà. Tôi nhớ lại câu nói của Thản: Anh à nhất gái hơn hai...

                              Tháng 7 - 2008

                                    Đ.D.T


More...

KỶ NIỆM 590 NĂM KHỞI NGHĨA LAM SƠN - 580 NĂM VUA LÊ THÁI TỔ ĐĂNG QUANG - 575 NĂM NGÀY MẤT CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC LÊ LỢI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THƠ CỦA VUA LÊ THÁI TỔ

KHẮC TRÊN VÁCH ĐÁ SÔNG ĐÀ




 

       Năm Nhâm Tý niên hiệu Thuận Thiên thứ Năm (1432) tháng giêng Lê Thái tổ thân chinh đánh Mường Lễ. Nguyên do Đèo Cát Hãn vốn là thổ tù tay sai của giặc Minh cấu kết với nghịch thần nước Ai Lao là Kha Lại nổi loạn chống lại triều đình nhà Lê. Đại binh theo đường thủy sông Đà muôn phần nguy hiểm tiến vào Mường Lễ. Kha Lại bị giết Đèo Cát Hãn chạy trốn. Quan quân bắt hết dư đảng vua đổi tên Mường Lễ làm châu Phục Lễ rồi kéo quân về.

     Trước đây khi chưa xây dựng hồ sông Đà ở giang phận thôn Hào Tráng châu Đà Bắc có phiến đá lớn trên sườn núi thác Bờ khắc bài thơ của Lê Thái tổ (1). Lời tiểu dẫn đại ý nói: Ta đi đánh Đèo Cát Hãn về qua đây làm một bài thơ ghi lại để cho đời sau biết... Ta nghĩ đến sinh dân thiên hạ chẳng ngại hiểm trở lam chướng tìm phương lược đánh giặc tiến quân bằng đường thủy hai sông Thao Đà... Thơ đề ngày tốt tháng ba Nhâm Tý niên hiệu Thuận Thiên thứ năm (1432).


Phiên âm:


Kỳ khu hiểm trở bất từ nan

Lão ngã do tồn thiết thạch can.

Hào khí tảo thanh thiên chướng vụ

Tráng tâm di tận vạn trùng san.

Biên phòng hảo vị trù phương lược

Xã tắc ưng tu kế cửu an.

Hư đạo nguy than tam bách khúc

Như kim chỉ tác thuận lưu khan (2)


Dịch thơ:


Gian hiểm muôn vàn chí chẳng lay

Ta già gan sắt vẫn còn đây

Hùng tâm quét sạch non nghìn chướng

Tráng khí san bằng núi vạn cây

Quân mạnh dân yên bờ cõi đó

Kế sâu gốc vững nước non này.

Ba trăm ghềnh thác thôi đừng kể

Nước thuận dòng trôi mãi tháng ngày.

                            (Hoàng Tuấn Công

                        Sưu tầm viết chữ Hán

                       Hoàng Tuấn Phổ dịch thơ)


(1) Bia này sách xưa gọi là "Bia cổ Hào Tráng" hiện đã chuyển về Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hòa Bình

(2) Tục ngữ cổ có câu:

                 "Đường lên Mường Lễ bao xa

            Trăm bảy mươi thác trăm ba mươi ghềnh"



Nguồn gốc dòng họ Lê Thái Tổ

                                                
                                               HOÀNG VĂN ĐOÀI



         Ngày 22 tháng 8 nhuần năm Quý Sửu (1433) đức Thái tổ Cao hoàng đế húy Lê Lợi mất sau mười năm kháng chiến thắng lợi và 6 năm cai trị đất nước xây nền đắp móng cho quốc gia Đại Việt thái bình thịnh trị. Văn bia Vĩnh Lăng triều đình nhà Lê giao Nguyễn Trãi soạn ngày 23 tháng 10 cùng năm đoạn đầu nói về nguồn gốc Lê Thái tổ :

Tằng tổ (cố) ngài húy là Hối người phủ Thanh Hóa. Một hôm (cụ Hối) đi chơi qua Lam Sơn thấy đàn chim bay liệng vòng quanh dưới núi Lam Sơn giống như đám người tụ họp. Ngài nói rằng: "Đây là chỗ đất tốt" nhân dời nhà đến ở tại đó. Được 3 năm trở nên giàu có con cháu ngày thêm đông tôi tớ ngày thêm nhiều sau này dựng nước mở đất thực bởi nền móng ở chốn này. Từ đó đời đời cầm đầu một phương.

"Tổ phụ (ông) nhà vua húy là Sanh (thường đọc là Đinh) nối dõi nghiệp nhà theo chí người trước gia thuộc tới hơn nghìn người.

" Tổ mẫu (bà) của nhà vua họ Nguyễn tính hiền hậu sinh được 2 con đầu là Tòng thứ là Khoáng tức là thân phụ của nhà vua. Người có tính hòa thuận hiền từ thích làm việc thiện hậu đãi khách coi dân các làng lân cận như trong một nhà vì thế ai cũng cảm ơn mến nghĩa.

"Thân mẫu (mẹ) nhà vua họ Trịnh húy là Thương chăm lo đạo vợ hòa thuận buồng the cửa nhà này càng thịnh vượng. Bà sinh ba con trai: Trưởng là Học giữa là Trừ nhà vua là út.

" Người con trưởng nối nghiệp ông cha không may mất sớm.

"Nhà vua vâng mệnh ông cha rất mực cẩn thận tuy gặp buổi loạn to mà chí càng thêm vững. Giấu mình ở núi Lam Sơn làm nghề cày cấy. Vì căm giận bọn cường tặc tàn ngược nên càng chuyên tâm nghiên cứu sách thao lược và dốc hết của nhà để hậu đãi tân khách..." (1)

Có lẽ trên đây là tài liệu sớm nhất và chính xác nhất chép về Lê Thái tổ cho nên về sau Đại Việt sử ký toàn thư Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn) v.v... đều phải dựa vào những tư liệu ấy là chính. Đến bộ sử đồ sộ với nhiều khảo đính công phu Việt sử thông giám cương mục căn bản cũng chỉ dựa theo tài liệu cũ.

Nói cho đúng các sách sử có bổ sung thêm một chi thiết: Cụ Lê Hối nguyên ở thôn Như áng (phía tây núi Lam) một hôm đi chơi qua Lam Sơn thấy đàn chim bay lượn... Rất tiếc thôn Như áng chỉ là một địa danh không cung cấp được gì thêm về dòng họ của Lê Hối.

Lê triều ngọc phả là tập hợp phả ký được biên soạn dưới triều Lê Hiển tông (1740 -1786) có bài "Ngự chế ngọc phả ký" (tựa) của Lê Hiển tông ghi ngày Đông chí tháng 11 năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780). Nhà vua nói rõ lý do biên soạn lại ngọc phả:

"Trẫm kế nối chính thống các đời trước công tích các đời chưa từng một ngày nào quên vẫn thường xem đọc những tập phả hệ đã có. Gần đây đọc những ghi chép cũ của các bậc hương thân tham khảo với nguyên cảo để ở đầu giường gồm cả những bản riêng thấy có những sai khác bèn thường sai các gia thần khảo cứu hiệu chỉnh biên tập sao cho được toàn bích để ơn đức cao dày của các bậc tổ triệu tông bồi cơ nghiệp to tát của các bậc thần truyền thánh kế ngày càng được sáng tỏ mãi mãi..."

Cuối tập Lê triều ngọc phả lại có bài "Bạt" của nhóm biên soạn vâng sắc chỉ vua Lê Hiển tông

"Kính nghĩ: Hoàng đế bệ hạ kế nối cơ nghiệp kính theo nếp trước nơi ngự án thường vẫn có sách Quốc phả lại thường tập hợp các sách dã sử để tham khảo rồi ủy thác cho bề tôi sửa chữa biên soạn..." Dưới bài "Bạt" ghi "ngày 28 tháng Mạnh Xuân (tháng giêng) năm Cảnh Hưng thứ 45" (1974) và danh sách những người tham gia việc biên soạn:

Hương Lĩnh bá thần là Nguyễn Hài phụng biên tập

Lương Sơn bá thần là Đặng Trọng Viên phụng khảo hiệu

Dương Thái bá thần là Phạm Nguyễn Doãn phụng đính bổ

Tham Nghĩa (?) thần là Nguyễn Huyền phụng tu soạn. (2)

Nội dung Ngọc phả so với chính sử chỉ khác ở chỗ có rất nhiều truyền thuyết huyền thoại nhằm đề cao hoàng đế Lê Lợi.

Về nguồn gốc dòng họ Lê Lợi phả ký cũng không cho biết gì thêm.

Năm 2001 Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành cuốn sách "Nhân vật họ Lê trong lịch sử Việt Nam" của Phạm Ngô Minh - Lê Duy Anh có một đoạn rất đáng chú ý:

"Từ đời Lê Đại hành hoàng đế Lê Hoàn truyền nối nhiều đời đến cụ Lê Thứ (hay Thú - còn có tên Lê Mỗi).

"Cụ tổ Lê Thứ (Lê Mỗi) sinh ra cụ Lê Hối

"Cụ cố Lê Hối sinh ra cụ nội Lê Đinh (hay Thinh)

"Cụ Lê Đinh (Thinh) sinh là Lê Tòng và Lê Khoáng.

"Cụ Lê Khoáng sinh ra 6 người con: Ba trai ba gái.

Ba người con trai:

1 - Lê Học (2 con trai : Lê Học và Lê Phước An)

2 - Lê Trừ (3 con trai: Lê Khôi Lê Khương (tổ vua Lê Anh tông thời Lê Trung hưng) Lê Khiêm. Theo gia phả dòng họ Lê Tư Tề (bị trất ngôi) còn có người con thứ là Lê Đạo.

3 - Lê Lợi: (2 con trai là Tư Tề và Nguyên Long và 2 con gái là Liễu Hạnh công chúa và Trang tử công chúa)

"Và ba người công chúa: Ngọc Tá Ngọc Vinh Ngọc Tiên..."

Như vậy qua tài liệu trên chúng ta được biết thêm 2 điều quan trọng:

a - Triệu tổ của dòng họ Lê Lợi là Lê Thứ tức Mỗi. Cụ Thứ sinh ra cụ Hối. Vốn ở thôn Như áng đến đời cụ Hối mới chuyển đến Lam Sơn. Nhưng tại sao các sử sách phổ biến chỉ chép từ cụ Lê Hối? Chắc sinh thời Lê Lợi phải biết cụ Lê Thứ vì cụ này đến Lê Lợi chỉ mới đời thứ 5. Thời xưa các cụ kết hôn rất sớm thường dưới 18 tuổi nên đẻ con cũng rất sớm cho nên trong xã hội không hiếm gia đình "ngũ đại đồng đường" (năm đời cùng chung sống) gia đình "Tứ đại đồng đường " (bốn đời cùng chung sống) thì tương đối phổ biến. Tổ tiên Lê Lợi đều làm nghề sư công (ông thầy) có chữ nghĩa không thể không ghi chép về dòng họ mình. Bản thân Lê Lợi cũng không thể không biết về nguồn gốc lai lịch tổ tiên mình. Nhưng ông không nói vì không muốn nói hoặc không cần nói hay không cho phép nói về quãng thời gian trước Lam Sơn cho nên từ Lam Sơn thực lục soạn lúc ông đang trị vì đến Văn bia Vĩnh Lăng tiếp theo là nhiều sử sách mang tính chính thống đều chép giống nhau. Điều ghi chép trên cho biết thêm rằng trên cụ Lê Hối là cụ Lê Thứ và chính cụ Thứ là Triệu tổ còn cụ Hối là tằng tổ do căn cứ vào nguồn tài liệu khác; những gia phả của các chi phái hoàng tộc nhà Hậu Lê được lưu giữ ở tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng vùng trung tâm của xứ Thuận Quảng xưa.

Năm 1470 Lê Thánh tông tiến quân vào phía nam trấn áp người Chiêm quấy rối biên thùy đổi đặt xứ Thuận Quảng làm thừa tuyên Quảng Nam. Khi đạo quân rút về miền Bắc nhà vua để lại một số tướng lĩnh văn chức làm nhiệm vụ cái quản miền đất mới ổn định giúp dân khai hoang phục hóa trong đó có những hoàng thân quốc thích sau này là khởi tổ của những chi phái nổi tiếng như Lê Tấn Triều Lê Tấn Trung con trai vua Lê Thái tông và bà Ngô Thị Ngọc Xuân tức Thung (chị ruột Ngô Thị Ngọc Dao đẻ ra Lê Thánh tông). Các chi phái họ Lê ở Quảng Nam hiện còn truyền lại nhiều gia phả như Hoàng Lê ngọc phả gia phả dòng Tư Tề (con trưởng Lê Lợi) gia phả dòng Lê Khiêm v.v... Nói chung các gia phả đều ghi rõ nguồn gốc thế thứ có gia phả ghi chép ngay từ thời mới định cư (1471) như phả tịch của Cao thượng tổ Lê Hoành sao lại năm 1907 đời vua Duy Tân chép rất cụ thể con cháu ông tới 14 người đều trở thành tiền hiền ở Quảng Nam Quảng Ngãi. Căn cứ gia phả và sự thờ tự ở nhà thờ đại tôn họ Lê chúng ta có thể tin cụ Lê Thứ chính là Triệu tổ tức vị tổ đời thứ năm của Lê Thái tổ. Vị tổ này chỉ được thờ ở từ đường riêng của dòng tộc họ Lê không được thờ ở nhà Thái miếu Đông Kinh và Lam Kinh nên sử sách không ghi chép (Vì Lê Thái tổ chỉ truy phong đến tổ ba đời).

Vậy trên cụ Lê Thứ là những ai?

Các tài liệu gia phả của các chi phái Lê hoàng tộc ở Quảng Nam - Đà Nẵng chỉ cho biết đại lược: Lê Hoàn sinh hơn 10 con trai một người con thứ tư Lê Long Mang trấn trị đất Thanh Hóa truyền nối nhiều đời sinh ra Lê Thứ. Tại tổ đình Lê tộc xây dựng phía nam Sơn Trà (nay thuộc Mân Thái thành phố Đà Nẵng) nhiều đại tự câu đối trong đó có câu đối:

- Khởi ư Lê tiền phá Tống địch ngự Tây phiên định an thiên hạ

Hưng vu Lê hậu phạt Minh cừu bình Chiêm tặc ưu ái thần dân .

(Khởi nghiệp từ Tiền Lê phá giặc Tống đánh phía tây giữ yên thiên hạ

Nối tiếp ở Hậu Lê trừ quân Minh dẹp vua Chiêm yêu quí thần dân)

Hy vọng vấn đề sẽ được thời gian làm sáng tỏ thêm.

                                              H.V.Đ

More...

KỶ NIỆM 590 NĂM KHỞI NGHĨA LAM SƠN - 580 NĂM VUA LÊ THÁI TỔ ĐĂNG QUANG - 575 NĂM NGÀY MẤT CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC LÊ LỢI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Lê Lợi - hình tượng về một niềm tin

của cộng đồng qua truyền thuyết dân gian

                                                               HOÀNG KHÔI


      Văn học dân gian quanh đề tài khởi nghĩa Lam Sơn là một kho tàng phong phú với nhiều loại hình thể loại mà đặc điểm lớn nhất là đã tạo ra một vùng rộng lớn. Vùng văn học dân gian Lam Sơn không trùng với địa lý Lam Sơn và loại hình tự sự với truyền thuyết cổ tích giai thoại dã sử thần tích những chuyện đồn đại... là nổi bật hơn cả. Các thể loại này tự nó đã thành một chuỗi truyện về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn.

Có thể khẳng định ngay rằng: Truyện kể dân gian về khởi nghĩa Lam Sơn vận động theo xu thế mở rộng trong một hệ thống được cố định bằng hai huyền thoại tiêu biểu là huyền thoại nhận kiếm và huyền thoại trả kiếm. Từ hệ thống này một hình tượng tiêu biểu nổi lên. Đó là hình tượng Lê Lợi.

Hình tượng Lê Lợi dựng theo đề tài gươm thần bảo vệ nước bảo vệ cộng đồng là hình ảnh từ lâu quen thuộc và phổ biến trong cảm quan thần thoại của nhiều dân tộc Việt Nam và Đông Nam á. Nhưng để đi đến đó truyện dân gian đã miêu tả Lê Lợi từ lúc nhân vật chào đời và kết thúc khi ông được làm vua. Để đi đến cái ngôi chí tôn ấy đi đến cái đích được xem là tột đỉnh hạnh phúc ấy theo truyền thống của truyện dân gian nhân vật phải trải qua rất nhiều thử thách.

Truyện dân gian kể về sự ra đời của Lê Lợi là do con hổ đen ở xứ Du Sơn thác sinh. Với cái tướng "hổ" ấy một số hiện tượng mà nhân vật sẽ gặp sau này đã được giải thích trước. Ta sẽ thấy Lê Lợi là người có nhiều tài có sức khỏe có lòng nhân từ có sự dũng cảm nhưng cũng có chỗ vội vàng nóng nảy trong nói năng thô mộc bộc tuệch trong ăn uống. Dựng hình tượng Lê Lợi truyền thuyết Thanh Hóa đã chấp nhận cách sử dụng những huyền thoại những sự biến đổi sự hóa thân.v.v... Được miêu tả trong một không gian rộng. Nhân vật chính này có mặt ở hầu khắp các điểm xứ Thanh. Nhiều lúc còn vượt ra ngoài khu vực địa lý Thanh Hóa cụ thể nữa.

Bên cạnh những yếu tố huyền thoại về hành trạng Lê Lợi chủ yếu lại là nhưng truyện mang nội dung hiện thực trong đó nổi rõ nhất các nỗi cơ cực mà nhân vật phải chịu nhất là cảnh Lê Lợi thua chạy hết nơi này đến nơi khác. Nhưng sử dụng chất liệu hiện thực mà vẫn rất rõ bút pháp dân gian. Nhân vật Lê Lợi không hoạt động trong không gian nhiều chiều nhưng lại được sự ủng hộ của tất cả các chiều không gian và huyền thoại nhận kiếm đã khắc họa một cách sinh động. Gươm Thuận Thiên vật báu giữ nước đến với Lê Lợi do ba chiều không gian đem lại lưỡi gươm ở dưới nước đốc gươm ở lòng đất và bao gươm ở trên cây. Bằng vào những chi tiết này câu chuyện về người anh hùng Lê Lợi đã mang thêm một không khí linh thiêng. Nhờ đó mà nhân vật có được màu sắc thần kỳ quen thuộc.

Huyền thoại trả kiếm có thể xem là một mô típ độc đáo của truyện kể dân gian nói chung. Đây là một mô típ riêng biệt và sáng tạo thể hiện sâu sắc ý nguyện hòa bình của người dân Việt Nam. Với hai huyền thoại mở đầu và kết thúc hệ thống truyện sự nghiệp kháng chiến chống quân xâm lược Minh của dân tộc ta đã được tổng kết "một cách đắc thể" (chữ dùng của Nguyễn Đổng Chi) mặt khác nó cũng nói rõ vai trò tập hợp của nhân vật anh hùng. Với chuỗi truyện dân gian về khởi nghĩa Lam Sơn Lê Lợi đã hiện lên như một đại biểu duy nhất của dân tộc mang sức mạnh tập hợp của mọi tầng lớp mọi lực lượng quanh mình để tổ chức một cuộc kháng chiến toàn dân ông chỉ chấm dứt vai trò này khi chính thức khoác lên người tấm áo hoàng đế theo quan niệm của dã sử. Chỉ đến lúc Lê Lợi làm vua truyện kể dân gian mới thôi nhắc đến ông. Rõ ràng ở đây tính nhân dân đã được vận dụng một cách hết sức nghiêm túc để xây dựng nên hình tượng đại diện cho sức mạnh của cộng đồng.

Với hình tượng Lê Lợi dấu hiệu nổi bật nhất đáng chú ý nhất làm hình tượng trở nên trọn vẹn là các yếu tố mang nội dung tập hợp được sử dụng hết sức tập trung. Hình tượng Lê Lợi được dựng lên thông qua hai dạng thức tập thể cụ thể: Dạng tập hợp những sự vật nhỏ biểu hiện qua truyện kiếm thần truyện bàn tay Lê Lợi và truyện viên đá làng Xá mang dấu chân người; ở dạng tập hợp sự vật lớn qua truyện núi Mục và các truyện Lê Lợi đặt tên làng. Có thể thấy nếu truyện gươm thần mang nội dung tập hợp vũ khí thì truyện về sự xuất hiện của bàn tay lại hướng sang yếu tố về người chỉ đạo người lãnh đạo duy nhất và tối cao. Còn những truyện thuộc dạng tập hợp các sự vật lớn thì thuộc về khía cạnh nhân lực vật lực. Tất cả các dạng thức tập hợp đều xoay quanh một nội dung: sự châu tuần vào Lê Lợi.

Bằng vào nội dung tập hợp hình tượng Lê Lợi nổi bật với ý nghĩa lớn. Đó là sự tập hợp về vũ khí tập hợp nhân tài vật lực và tập hợp quanh người lãnh đạo cao nhất.

Dựng hình tượng Lê Lợi truyện kể dân gian Thanh Hóa không hề tô hồng sự việc. Nhân dân đã xây dựng hình tượng người anh hùng của mình trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc với sự ý thức được đó là cả một công cuộc lớn lao với những chuỗi dài vất vả khó khăn. Lê Lợi xuất hiện trong bối cảnh đó không giống như một tướng thần linh trăm trận trăm thắng. Nhưng trong cái thua của hiện thực tất yếu Lê Lợi có rất nhiều cái được và cái được lớn nhất có tác dụng nhất chính và sự gai góc chung thủy và tấm lòng bù trì che chở của mọi lực lượng của quần chúng nhân dân.

Bên cạnh hình tượng nhân vật trung tâm Lê Lợi truyện dân gian về khởi nghĩa Lam Sơn còn kể về nhiều nhân vật khác quan hệ chặt chẽ với Lê Lợi. Đó là truyện về các tướng lĩnh các lực lượng của quần chúng ủng hộ khởi nghĩa. Các di tích dấu tích gắn với khởi nghĩa cả những lực lượng đối kháng với khởi nghĩa nữa. ở mỗi nhóm nhân vật ấy đều thấy được những điểm nổi bật.

Đóng góp của nhóm các nhân vật lấy từ mẫu người thực theo cách thể hiện của truyện dân gian trong mối quan hệ với hình tượng Lê Lợi là hai yếu tố mưu lược và sức mạnh qua sự dũng cảm hy sinh được tập trung vào hai nhân vật Lê Lai và Nguyễn Trãi. Đây là những nhân vật được lịch sử ghi nhận và thân cận nhất của Lê Lợi. Truyện kể miêu tả quan hệ Lê Lai - Lê Lợi trước khi xảy ra việc Lê Lai đổi áo là một mối quan hệ hết sức gắn bó của tình bằng hữu anh em. Sự kiện Lê Lai vì nghĩa quên mình được kể lại có lẽ không khác gì với sự thực lịch sử nhưng được nhấn mạnh ở khía cạnh dũng cảm của nhân vật và tấm lòng thương tiếc cảm thông của Lê Lợi cùng toàn thể cộng đồng chính là một cách gián tiếp đề cao yếu tố đoàn kết yếu tố sức mạnh của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn.

Đặc biệt với nhân vật Nguyễn Trãi truyện dân gian thể hiện được cả một quá trình trăn trở của người trí thức trong việc nhận chúa nhận đường trong sự cộng tác của một quân sư bên người thủ lĩnh nhưng không hề trùm bóng mình lên chúa công như cách thể hiện của các nhân vật quân sư khác thường thấy trong văn học cổ điển nhất là văn học cổ điển Trung Hoa. Nguyễn Trãi trong chuỗi truyền thuyết về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn mặc dù rất kiệt xuất rất thiên tài vẫn là một người bình dị không có mưu này mẹo nọ như Tôn Tẫn hay Khổng Minh mà chỉ là một hình ảnh một trí thức Việt Nam đậm đà tính nhân dân đậm đà sắc thái Việt Nam.

Hai nhân vật Lê Lai và Nguyễn Trãi bên cạnh hình tượng trung tâm đã bổ sung cho hình tượng này. Lê Lợi trở nên trọn vẹn hơn mang thêm ý nghĩa về một sự lý tưởng hóa. Lê Lợi là một nhân vật bình thường nhưng là mẫu người đẹp nhất của cộng đồng lại có cả những nét riêng không ai vượt nổi.

Nhóm nhân vật đông đảo nhất trong toàn hệ thống truyện này là những nhân vật thuộc lực lượng quần chúng ủng hộ Lê Lợi. Đông đảo nhưng phiếm chỉ. Vì đây là những người không có tên hoặc nếu có cũng không cụ thể như bà hàng nước bác đi săn ông già bắt tép... Mô típ chính là mô típ gặp gỡ trong hành trạng của loại nhân vật này: sự gặp gỡ giữa Lê Lợi với các lực lượng quần chúng. Xin chú ý tới một thành ngữ đã thành truyền thuyết: "Hăm mốt Lê Lai Hăm hai Lê Lợi hăm ba giỗ mụ hàng dầu". Xét theo tiêu chí nhân vật câu trên cho ta một mẫu có tính đại diện cho nhóm các nhân vật trong hệ thống truyện này. Nhưng tại sao "mụ hàng dầu" lại không được dẫn thành một cái tên cụ thể biểu chỉ trong cấu trúc đó? Chính bởi "mụ hàng dầu" chỉ là một trong đông đảo những nhân vật tiêu biểu và phiếm chỉ khác. Những việc làm của mụ hàng dầu và tương tự của lão bắt tép của bác đi săn bà hàng nước... về nội dung có nét khác nhau về nhóm nhân vật này - không hoàn toàn là truyện về một về những cá nhân thực chất đây là chuyện về một bản một làng chuyện về một dòng họ một tầng lớp.

Nổi lên trong nhóm nhân vật phiếm chỉ này là hình ảnh về những người phụ nữ. Truyện nhắc tới những người phụ nữ vô danh với rất nhiều dạng vẻ khác nhau. Nhưng tất cả những nhân vật phụ nữ Thanh Hóa này đều ít nhất một lần gặp gỡ nhân vật trung tâm và hành động cụ thể của họ là sẵn dàng hy sinh bản thân để che dấu Lê Lợi. Những hy sinh vô giá nhưng được thực hiện một cách tự nhiên và về phía Lê Lợi người được những nhân vật này chở che lại cũng sẵn sàng tự nhiên tiếp nhận và không hề một lần tỏ ra đắn đo cân nhắc.

Tạo ra những cảnh gặp gỡ này phải chăng nhân dân vẫn còn giữ lại những dấu ấn đậm về hình ảnh những bà mẹ Nước trong mối quan hệ với nhân vật đại diện của cộng đồng vẫn thường thấy trong các truyện dân gian trước đó? Có điều ở những chuyện xưa nhân vật chính thường trở về sau những chặng bôn ba và chết trong lòng cộng đồng còn ở đây nhân vật trung tâm lại được cộng đồng chở che để lại lớn lên tiếp tục giành vinh quang. Hiện tượng này khiến ta liên tưởng đến chuyện thần Ăng Tê được tiếp sức từ Mẹ Đất trong kho thần thoại của người Hy Lạp. Lê Lợi không khác gì Ăng Tê nếu gìn giữ được niềm tin của cộng đồng.

Hình ảnh nhân vật phụ nữ trong truyền thuyết này gắn bó với nhân vật Lê Lợi được thể hiện theo khía cạnh tình cảm yêu thương và sự đùm bọc bảo vệ cũng là một nét khác biệt so với những nhân vật phụ nữ trong kho truyện chung thuộc đề tài này. Trong kho tàng chung số nhân vật phụ nữ ủng hộ Lê Lợi không phải là ít và hành động của họ chủ yếu lại được thể hiện ở khía cạnh trực tiếp làm nên chiến công như việc của người ả đào gần kinh đô của bà họ Lương bên thành Cổ Lộng lập mưu giết giặc. Những phụ nữ ấy cũng có thể không tiếp xúc trực tiếp với Lê Lợi. Trong quan hệ với thủ lĩnh nghĩa quân họ chỉ cần giữ theo quan hệ gián tiếp miễn là cách ấy cho phép họ có những đóng góp trong công cuộc chống xâm lăng vĩ đại của cả cộng đồng.

Phải chăng nét đóng góp khác biệt của người phụ nữ xứ Thanh phần nào đã thể hiện được ý nghĩa: Thanh Hóa chính là vùng hậu phương của cuộc khởi nghĩa? Đó đồng thời là cách biểu đạt sắc thái địa phương của hệ thống truyện này.

Hiển nhiên với những lực lượng hữu danh và vô danh tập hợp ủng hộ mình và khởi nghĩa Lam Sơn Lê Lợi cũng đã thể hiện bằng cả một tấm lòng biết ơn chân thành sâu sắc. Đó là thái độ ân oán phân minh nghĩa tình trọn vẹn. Tất nhiên thái độ này ta cũng hiểu theo cách hiểu của dân gian Lê Lợi không chỉ thụ ơn bởi sự tri ngộ cá nhân mà còn bằng cả vào trách nhiệm của người đứng đầu đất nước. Như chính các câu chuyện dân gian đã xây dựng nên nhân vật đó.

Trong nhóm chuyện về các dấu tích liên quan đến Lê Lợi ta bắt gặp nhiều mẩu giải thích phong tục tập quán chuyện ghi dấu những xúc cảm thẩm mỹ những nét của tâm lý dân tộc là một bộ phận truyền thống tồn tại lâu bền nhất của một nền văn hóa bản địa. Phản ánh được những nét đặc sắc ấy người nghe người đọc vừa bị hấp dẫn với các tình tiết kỳ thú vừa rung động về nội dung xã hội mà dân gian đã gửi gắm vào. Cùng với bao nhiêu truyền thống tốt đẹp khác những câu chuyện thuộc dạng trên đã góp phần tạo ra nét riêng biệt của xứ Thanh góp phần hun đúc thêm cái cốt cách Việt Nam.

Đáng chú ý nhất trong nhóm chuyện này là loại truyện về sự đặt tên. Đây là những mẩu chuyện có nội dung xác thực ít tô vẽ bày đặt mà chỉ mộc mạc giản dị vận động theo quy luật văn học dân gian thông tục học và là những truyện ngắn với địa bàn cư trú sinh hoạt của cả cộng đồng.

Trong nhóm truyện đặt tên này ta thấy có hiện tượng những tên Việt được bảo lưu ở các vùng cư trú của người Thái Mường như tên chòm Thiu hay chòm Bút (tiếng Thái cũng có nghĩa là Thiu) chòm Đỏ làng Khao... trong vùng Thái tiếng Mường được điểm tới mỗi khi kể trong các chuyện. Người ta nói thác Ma Ngao chứ không gọi là thác Chó Cắn gọi là Huổi Láu mà không dùng Suối Rượu... Hiện tượng này vừa làm tăng nét độc đáo của truyện kể dân gian về khởi nghĩa Lam Sơn đồng thời cũng phản ánh một yếu tố chung của tâm lý cộng động Việt Nam làm sáng tỏ nên nguồn gốc và sự vận động của các yếu tố văn hóa khác nhau tạo thành một nền văn hóa thống nhất và phong phú.

Cho đến nay cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã có một thời gian cách chúng ta 600 năm thế mà những tên đất tên làng của ngày ấy vẫn giữ nguyên vẹn như những kỷ niệm mới mẻ. Lạ một nỗi tất cả những tên đất tên làng ấy lại rất rõ ràng cụ thể trong khi đó tên của các nhân vật trong hệ thống này lại theo xu hướng trái ngược hoàn toàn xu hướng phiếm chỉ. Hiện tượng này càng củng cố nhận xét đã nêu trên. Rõ ràng truyện kể dân gian về các nhân vật chung quanh Lê Lợi là chuyện về một bản một làng chuyện về một tiểu cộng đồng. Truyện chỉ nhắc tới những gì có giá trị vững bền nhất. Toàn bộ hệ thống truyện chỉ giữ lại hình ảnh của cả cộng đồng và hình tượng trung tâm của cộng đồng. Quan hệ giữa hình tượng trung tâm với cộng đồng được dựng trên cái nền của văn hóa làng bản. Hình tượng Lê Lợi trở thành linh hồn có các câu chuyện tồn tại. Các nhân vật phụ chỉ mang tính đại diện cho từng mặt hoạt động của nhân vật trung tâm. Nhân vật trung tâm tồn tại nhờ vượt lên tất cả những nét đẹp đẽ phi thường ấy là trở thành nhân vật trọn vẹn nhất. Hành động của nhân vật và những sự kiện có liên quan đến cuộc đời của nhân vật trung tâm chỉ tập trung ở giai đoạn đẹp nhất tức là thời điểm khó khăn nhất đòi hỏi phải thể hiện rõ những nỗ lực của mình nhằm giải quyết mâu thuẫn chính là mâu thuẫn giữa cộng đồng với lực lượng ngoại xâm. Truyện tập trung nói tới nhân vật tiêu biểu nhất của cộng đồng trong khi đó bản thân cộng đồng lại tự giấu mình đi. Tuy nhiên sự tàng ẩn đó vẫn là lực lượng lớn nhất tập hợp sức mạnh cho nhân vật đại diện.

Có thể nói truyện kể dân gian đã thể hiện được hình tượng Lê Lợi một hình tượng nhân vật bình thường gần gũi với người đời nhưng đó là hình tượng tập trung nhất tiêu biểu nhất của người anh hùng thuộc cộng đồng Việt Nam. Nếu trong văn học thành văn hình tượng Lê Lợi là hình tượng của một nhân vật "thần vũ bất sát" thì ở văn học dân gian hình tượng Lê Lợi là hình tượng về một niềm tin của cả cộng đồng.

Chính hình tượng anh hùng này đã tạo thành đặc điểm của vùng văn học dân gian chống xâm lăng Lam Sơn.

                                                                  H.K

TỪ CHIẾN CÔNG LAM SƠN ĐẾN XÂY DỰNG

QUỐC GIA ĐẠI VIỆT


                                          TRẦN THỊ LIÊN

Từ chiến công Lam Sơn

Từ sau ngày hội thề năm Bính Thân lá cờ khởi nghĩa Lam Sơn được chính thức phất lên Lê Lợi đã tập hợp được một lực lượng nhất định đường hoàng ra cầm cự với giặc. Cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc từ 1418 đến 1427 được phản ánh đầy đủ trong tác phẩm Lam Sơn thực lục mà ta có thể tóm lược như sau:

Năm Mậu Tuất (1418) tháng 4 mồng 9 giặc tấn công Lam Sơn Lê Lợi rút về Lạc Thủy bố trí phục binh chờ chúng đến. Trận này các tướng Lê Thạch Đinh Bồ Lê Ngân Lê Lý Trương Lôi đã chiến thắng oanh liệt chém được ba ngàn quân giặc. Sang ngày 16 tên phản bội là ái đưa đường cho giặc đi lối tắt đánh cho nghĩa quân bị thiệt hại nặng. Vợ con Lê Lợi bị bắt Lê Lợi phải rút về Chí Linh ẩn náu rất cơ cực hết lương ba tháng liền. Giặc rút đi Lê Lợi tập hợp lại lực lượng còn có hơn trăm người đóng ở Mường Khao để củng cố lực lượng ít lâu sau lại quay ra phản công đánh các trận ở Mường Một Mường Nanh thu được thắng lợi. Giặc bị thiệt hại phải rút đi. Quân ta đánh thắng trận ở Nghĩa Canh bắt được tên chỉ huy ngụy là Nguyễn Sao chém ba nghìn đầu. Lê Thạch đánh nhau với giặc ở giáp giới Ai Lao bị tử trận.

Năm Canh Tý (1420) ta bố trí mai phục ở bến Bổng thu được thắng lợi lớn. Thấy địch bỏ chạy các tướng khinh địch đuổi theo Lê Lợi ngăn lại không được nên ta lại bị thiệt hại nặng. Ta rút về dưỡng sức ở Mường Nanh rồi chuyển sang Mường Thôi.

Có tên phản bội là Cầm Lạn đưa đường cho bọn giặc là Lý Bân Phương Chính đến đánh ta ở Mường Thôi. Lê Lợi sai bọn Trương Lôi Lê Lý Lê Triệu mai phục ở Bồ Mộng rồi đánh tan giặc ở Bồ Thị Lang Lý Bân Phương Chính tháo chạy thoát thân. Quân ta đuổi theo rồi tiến đánh ở sách Ba Lẫm (Lỗi Giang) bọn tướng giặc là Tạ Phượng Hoàng Thành bỏ đồn Nga Lạc rút về trại Quan Du. Quân ta tiến đến Quan Du đánh ép và quấy rối. Từ đó thế giặc càng suy quân ta được nhân dân nô nức hưởng ứng.

Trong năm này chúng ta có bị một số thiệt hại. Các tướng là Đinh Lễ Lê Triệu Đinh Bồ bị chết trận.

Năm Tân Sửu (1421). Tháng mười một ngày 20 tướng giặc là Trần Trí đem quân đánh ta ở đèo Kinh Lộng thuộc sách Ba Lẫm ta dùng kế lấy nhàn chống mệt đánh phá giặc ở Đèo ống. Có tên ngụy quân là Lộ Văn Luật sang Ai Lao lập kế phản gián đưa quân Ai Lao về giả nói là giúp ta nhưng thực tình là giúp giặc Ngô gây cho chúng ta thiệt hại.

Năm Nhâm Dần (1422)giặc Ngô và quân Ai Lao phối hợp đánh làm ta thua ở Quan Du phải rút về Sách Khôi. Giặc đuổi theo Lê Lợi đốc thúc tướng sĩ liều chết đánh giết được tướng giặc là Phùng Chứ. Mã Kỳ Trần Chí tháo chạy thoát thân ta lại trở về núi Chí Linh nhưng lương thực vẫn cạn phải làm thịt voi ngựa mà ăn. Quân ta nhiều người bỏ trốn ... Lê Lợi phải giết một kẻ đào ngũ tên là Khanh để trấn an.

Lúc này cả hai bên đều mỏi mệt thiệt hại. Lê Lợi cầu hòa với bọn Sơn Thọ Mã Kỳ Trần Chí thông sứ đi lại hai bên tạm yên.

Năm Giáp Thìn (1424) quân ta đánh úp đồn Đa Căng ròi kéo vào Nghệ An theo kế hoạch của Nguyễn Chích. Bọn Việt gian như Lương Nhữ Hốt bỏ chạy; quân ta vào châu Trà Long. Tướng Cầm Bành của giặc phải đầu hàng.

Tiến vào Nghệ An Lê Lợi sai Đinh Liệt trước hết chiếm lấy huyện Đồ Gia sau đó bắt sống tướng giặc là Chu Kiệt chém đầu tướng tiên phong của giặc là Hoàng Thành và vây hãm Nghệ An. Các tướng như Võ Uy Lê Lộ Lê Hưng Lê Lưỡng v.v.... đều chết trong trận này.

Năm ất Tỵ (1425) tháng giêng ngày 25 quân ta vây Nghệ An. Giặc giữ vững không ra. Toàn vùng ngoài thành đều do ta kiểm soát. Giặc cho tên Lý An đem quân từ Tây Đô vào cứu ta gây cho chúng thiệt hại nặng và bất ý kéo quân ra Bắc vào Nam. Lê Lợi giao cho Trương Lôi vây Tây Đô và bọn Lê Nổ vào chiếm Tân Bình Thuận Hóa bọn Lê Trí Lê Khả ... ra các vùng Thiên Quan Thiên Trường Gia Hưng bọn Lê Lễ Lê Chí tiến thẳng ra Đông Đô.

Năm này nhiều tướng bị trận vong như Lê Hào Phạm Yến ... Lê Lâm. Hà Khuynh .v.v...

Năm Bính Ngọ (1426) quân ta đánh thắng một trận lớn ở Ninh Kiều. Giặc ở Đông Đô hoảng hốt gọi viện binh bên Tàu không được. Lý An Phương Chính bỏ thành Nghệ An về cứu giao cho Thái Phúc quản lĩnh. Thái Phúc lại đầu hàng quân ta. Ta đuổi bọn Phương Chính đến sát Tây Đô chúng đánh kéo chạy ra Đông Đô. Vừa lúc ấy viện binh của giặc bên tàu kéo sang. Ta phục binh đánh chúng ở Tốt Động Ninh Kiều chặt đầu tướng giặc là Trần Hiệp Lý Lượng. Cả bọn Vương Thông Mã Anh Sơn Thọ Mã Kỳ thoát thân chạy vào Đông Đô. Ta lập tức vây thành.

Quân ta đón Lê Lợi ra Đông Đô. Trực tiếp chỉ huy đánh thành và cho các tướng đi đánh ở các nơi khác. Bùi Quốc Hưng đánh Điêu Hào và Thi Kiêu; Lê Triện Lê Sát đánh thành Xương Giang Lê Lựu Lê Bôi đánh thành Ôn Khâu và đều thắng lợi thu phục được thành trì chỉ còn bốn nơi chưa hạ được là Đông Độ Tây Đô Cổ Lộng và Chí Linh.

Lê Lợi đóng binh ở dinh Bồ Đề trực tiếp vây Đông Đô. Tướng sĩ khuyến nên dốc sức đánh thành. Ông không đồng ý chú trường chờ viện binh của giặc sang thì diệt viện binh trước đã.

Các tướng trận vong trong năm nay có bọn Lê Thôi Lê Xích Lê Mông Lê Chương v.v...

Năm Đinh Mùi (1427) nhà Minh liên tiếp cho viện binh sang. Tướng giặc là Trần Viễn hầu (không rõ tên) từ Quảng Tây sang cứu bị quân ta phá tan ở Pha Lũy. Nhà Minh lại sai Liễu Thăng Mộc Thạnh Lý Khánh kéo sang. Ta chặn địch dùng mẹo chém được Liễu Thăng Lý Khánh. Bọn Thôi Tụ Hoàng Phúc lại bị thua ở Mã Yên. Cả hai tên tướng giặc này đều bị bắt sống. Lê Lợi cho đem sắc thư ấn phủ của Liễu Thăng đưa đến cho Mộc Thạnh Tên tướng này hoảng hốt rút quân chạy ta đuổi theo chém giết rất nhiều.

Đến tháng mười hai bọn tướng giặc ở Đông Đô là Vương Thông Mã Anh Lý An Trần Chí đều xin hòa trả lại thành trì cho ta. Lê Lợi cho giải vây và tha chết cho cả bọn cấp cho năm trăm chiến thuyền và hai nghìn con ngựa để chúng kéo nhau về nước. Ta lại đưa thư xin hòa xin thông sứ và được triều cống như trước. Thế là kháng chiến thành công. Nguyễn Trãi vâng lời làm bản Bình Ngô đại cáo để thiên hạ đều nghe biết.


Đến Xây dựng quốc gia đại việt

 

Ngày 15 tháng 1 năm 1428 (Mậu Thân) Lê Thái tổ đăng quang. Từ đây người anh hùng dân tộc Lê Lợi chuyển trách nhiệm một vị tổng chỉ huy khởi nghĩa sang nhiệm vụ người cầm đầu đất nước. ở ngôi Hoàng đế vẻn vẹn chỉ 6 năm ông đã xây dựng một quốc gia độc lập góp phần xây dựng một nền văn hóa mới mà ta có thể gọi là văn hó Đại Việt tiếp sau nền văn hóa Thăng Long. Ông ổn định triều chính xây dựng bộ máy Nhà nước định chế độ phong cấp cho 221 vị công thần (và còn nhiều người khác nữa). Không có trình độ cao lắm về Nho học không được đào tạo về chính trị nhưng ông đã cai trị và tổ chức Nhà nước một cách xuất sắc. Nhiều người cứ quan niệm rằng các ông vua chúa ngày xưa chủ yếu làm vì còn mọi việc đã có các quan các bậc lương tướng các mưu thần giỏi giang. Thực ra không phải thế. Chung quanh Lê Lợi lúc bấy giờ có nhiều người tài nhưng chủ yếu là tài năng về quân sự. còn về mặt văn tự Lê Lợi không có mấy người giúp đỡ. Đa số người trong triều vốn liếng học thức không có bao nhiêu. Có người cho rằng Nguyễn Trãi là bậc cận thần giúp đỡ cho Lê Lợi. Không đúng như vậy Nguyễn Trãi được phong hầu được làm chức nhập nội nhưng ông không phải là tể tướng cũng không được gần gũi nhà vua nhiều. Trước kia ở dinh Bồ Đề Nguyễn Trãi ngồi ở tầng lầu thứ hai nhưng khi làm quan Ông đứng sau rất nhiều các vị quan chức khác (phải đến thời kỳ Lê Thái tông Ông mới được trọng dụng một thời gian ngắn song không giữ chức vụ lớn). Những người như Nguyễn Mộng Tuân có tiếng tăm văn học cũng là lớp quan lại bình thường. Thân cận với Lê Lợi không thấy có ai tỏ ra có tài năng chính trị. Lê Lợi có giáng nhiều chiếu dụ đề nghị tiến cử nhân tài song sử không chép Ông đã chọn thêm được ai giúp đỡ. Mọi việc có lẽ Ông phải tự mình cáng đáng quyết định sau khi bàn bạc với các triều thần đều hạn chế về tài năng. Vậy mà Ông đã điều hành đất nước "thức khuya dậy sớm trong 6 năm" mà đất nước được hoàn toàn thịnh trị. Ông đã thực hiện chính sách quân điền để giải quyết tình trạng bất công về ruộng đất đã tổ chức lại bộ máy quan liêu xuống tận cấp xã để ổn định việc trị an. Ông không mô phỏng theo chế độ của nước ngoài không thiên Nho thiên Phật mà vạch ra được những bước đi ban đầu khiến cho đất nước mau chóng phục hồi sinh lực không bị lâm vào tình trạng khủng hoảng. Lê Lợi biết chọn các khâu chủ yếu để tập trung sự lãnh đạo của mình vào đấy: Vấn đề ruộng đất vấn đề quốc phòng và vấn đề tổ chức bộ máy Nhà nước. Về mặt ngoại giao Ông cũng đạt được những thành công. Với giặc Minh kẻ thua trận Lê Lợi vẫn giữ lệ triều cống hòa hiếu để chúng không còn nghĩ đến sự phục thù để cho đất nước được yên ổn. Dưới thời Lê Lợi lần đầu tiên trong Lịch sử Việt Nam có tổ chức hội nghị bàn việc chia ruộng cho dân (ngày 22 tháng giêng năm Kỷ Dậu 1429); cùng với việc khai hoang phục hóa ruộng đất trong nước ông cũng cho ban hành chế độ đúc tiền Thuận Thiên: "Truyền cho các đại thần trăm quan cùng những người thông đạt trong ngoài bàn thể lệ dùng tiền cho hợp lòng dân". Ông đã công bố một số luật lệ hành chính quy định việc cắt cử quan lại sát hạch trình độ năng lực của họ. Ngoài ra Ông còn yêu cầu các quan phải tiến cử người hiền tài ra giúp nước và phải chịu trách nhiệm về sự tiến cử của mình nếu đúng thì được thưởng nếu sai thì bị trách phạt Ông quy định cấm phô trương xa hoa trong sinh hoạt chúc tụng. Các quan phải luôn tự răn mình và đưa các hoạt động hành chính vào nền nếp vào quy chế. "Trị nước phải có pháp luật người mà không có phép để trị thì sinh loạn". Đó là lời dạy của Lê Lợi để hướng tới nước nhà có pháp luật rõ ràng. Có thể nói những vấn đề cơ bản để ổn định quốc gia đều được Lê Lợi chú ý và đặt cơ sở cho nền thịnh trị về sau. Cùng lúc ấy ông còn phải lo lắng giữ yên biên cương trực tiếp dẹp các cuộc nổi loạn của Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái.

Thời gian trị vì tuy ngắn lại trong hoàn cảnh đất nước vương triều còn ở giai đoạn phôi thai Lê Lợi đã làm được những việc quan trọng cho quốc gia dân tộc. Một số sử gia sau này có ý phê phán Lê Lợi về việc sát hại các công thần. Song nếu xét ở hoàn cảnh đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh 20 năm ác liệt một số đại thần cậy mình có công lớn có phần khinh nhờn phép nước. Để giữ vững vương triều thực hiện việc trị quốc an dân Lê Lợi có phần hơi vội vàng trong việc thẳng tay trừng trị họ. Đến gần cuối đời ông đã phần nào nhìn nhận lại những việc làm của mình.

Đánh giá công lao sự nghiệp của Ông nhà bác học Lê Quý Đôn trong "Đại Việt thông sử" viết: Vua Thái tổ ta có tài dùng binh khi mới dựng cờ khởi nghĩa chỉ vẻn vẹn có hai trăm quân thiết đột hai trăm dũng sĩ và với ba trăm nghĩa binh. Thế mà phía tây Ai Lao phải thần phục phía Bắc dẹp hết giặc Ngô. Xét về kế mật mưu kỳ phần nhiều là do tài thao lược. Vua lại tinh tường việc chính trị; khi mới đến hành doanh Bồ Đề đã tuyển dụng hiền tài đặt quan chia chức trừ tà cấm đạo thương yêu quân dân thu hút các bộ lạc phòng bị nơi biên cương. Thực đã có một ngày quy mô đại định thiên hạ.

Đến khi thống nhất non sông thì phong công thần trọng Nho giáo chế lễ nhạc định luật lệnh đặt quân kỷ lập bộ tịch chỉnh đốn các ngạch thuế bỏ phép tiêu tiền giấy. Thi hành chính sự rất là rộng lớn chu đáo. Cứ xem ngay những bài chiếu bài sắc ban ra thời ấy đủ thấy lời răn dạy và phép trị bình rất tường tận.

Vua khôi phục non sông đem lại thái bình công đức ban khắp đương thời cơ nghiệp truyền cho hậu thế. Rực rỡ lắm thay !

Anh hùng dân tộc Lê Lợi không chỉ là người lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi đánh đuổi giặc Minh xâm lược giành quyền tự chủ cho đất nước mà còn xây dựng quốc gia Đại Việt vững mạnh đặt nền móng cho triều Hậu Lê kéo dài gần 400 năm.

T.T.L

More...

KỶ NIỆM 590 NĂM KHỞI NGHĨA LAM SƠN - 580 NĂM VUA LÊ THÁI TỔ ĐĂNG QUANG - 575 NĂM NGÀY MẤT CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC LÊ LỢI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

LÊ ĐĂNG SƠN

(Dự thi)

 

Tháng Tám về lễ hội Lam Kinh

Tháng Tám của quê Thanh

Câu ca xưa đưa tôi về lễ hội

Lam Kinh muôn thuở bồi hồi

Đôi rồng đá vẫn chầu trước điện

Mùa thu tỏa nắng vàng.

Tháng Tám mơ màng

Heo may gọi thu sang

Đón hăm mốt Lê Lai

Đón hăm hai Lê Lợi

Đêm trên mộ vua Lê chú dế gảy đàn

Gọi ban mai hoa cỏ

Còn đó gốc quê

Trời thu xanh vời vợi

Hương trầm thơm mênh mang.

Con lại về ơi mảnh đất làng Cham

Ngắm dòng Lương Giang

Uống nước Lương Giang

Tìm hương rượu ngày xưa Lê Lợi uống

Nghe "Đại cáo bình Ngô" vang vọng cả đất trời.

Bâng khuâng con gọi Người ơi

Thái Miếu nay sáng đất trời xứ Thanh

                        Lam Kinh tháng 8-2008

                                 L.Đ.S

ĐÀO VĨNH

(Dự thi)

 

Trưa hè ở Lam Kinh

Nơi lui sâu núi rừng

Dăng vòng quanh sông rạch

Nơi giáo gươm gậy gộc

Hội lòng dân tụ về.

Nơi khởi nghiệp Hậu Lê

Kinh đô năm trận mạc

Binh thư và thành quách

Giọng thiết chiều quân vương.

Lại về với Thăng Long

(Đất trời tan bóng giặc)

Đông Kinh toan việc nước

Lam Kinh hồn cố hương.

Lăng mộ những minh vương

Sắp tôn ti thứ bậc

Sông hóa thành sông Ngọc

Cây hóa vòm chở che

Tôi ngập giữa trưa hè

Tiếng ve dào như sóng

Như thể đừng quên lãng

Giữa đời hằng lãng quên

                  Lam Kinh - Hà Nội

                           5-2006

                              Đ.V


 

LÊ VĂN THÀNH

(Dự thi)

 

Ghi ở đền thờ Lê Lai


 

Con về Đền Tép(*) buổi mai

Vệ đường sương trắng vương cài nhịp chân

Chắp tay con vái từ sân

Nghe hoa đại hát tiếng gần tiếng xa

Gần sáu thế kỷ nghiêng qua

Mà như chớp mắt mới là đâu đây

Lam Sơn hào khí tụ đầy

Kỷ Tín cứu chúa còn ngây ngất tình (**)

Ngài nằm yên giấc bình sinh

Trập trùng núi với dạt dào tình dân

Vị thủ từ chỉ ân cần

Bao dấu tích hóa thạch dần thời gian

Bóng cổ thụ lá rơi tràn

Theo gió ngỡ tiếng ngài bàn việc quân

Trước hồ bán nguyệt tần ngần

Một đôi cò trắng mỏi chân bay về.

                                       L.V.T

(*) Đền Tép thờ Trung Túc vương Lê Lai ở làng Kiến Chí xã Kiên Thọ huyện Ngọc Lặc

(**) Khi quân Lam Sơn bị bao vây trên núi Chí Linh Lê Lai đã nói "Tôi nguyện làm Kỷ Tín của Hán Cao tổ..." và khoác áo bào của Lê Lợi giải vây cho nghĩa quân.

LÊ KHẮC TUẾ

(Dự thi)

Lam Sơn

            Tặng anh hùng Lao động Lê Văn Tam

Lam Sơn khí thiêng

Non sáu trăm năm trước

Lê Lợi dựng cờ nghĩa

Anh hùng hào kiệt bốn phương tìm về

Rừng rừng giáo gươm giơ cao thề

Giết giặc Minh cứu nước

Tướng sĩ trải muôn vàn gian khổ

Anh dũng và hy sinh

"Đề xã tắc từ đây vững bền" (1)

Lam Sơn đất lành

Vùng quê đổi mới

Công - nông - trí thức tụ hội

Xây đời ấm no

Đồi núi bạt ngàn mía mía

Tua tủa như gươm

Chĩa vào giặc nghèo đói

Đội quân Lam Sơn hôm nay

Không "nằm gai nếm mật" (2)

Nhưng đối mặt

Với cơ chế

Với thị trường

Với một nắng hai sương

Nghiệt ngã...

Nhà máy

Nông dân

Một lòng một dạ

Xóa đói xóa nghèo...

Lam Sơn kỳ diệu mảnh trăng treo

                         Lam Sơn 2007

                              L.K.T

(1) (2) Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi








NGÂN HẰNG

Lam Kinh miền đất thiêng


Bút ký


         Lần này về Lam Kinh tôi tự chọn cho mình phương tiện là một chiếc xe máy với ý đồ được tự do thăm thú và mặc sức thả tâm hồn của mình cộng hưởng cùng thiên nhiên trên đoạn đường dài hơn năm mươi ki lô mét về phía tây Thanh Hóa. Ban đầu tôi mơn man trong những suy nghĩ và cảm xúc chờ đợi khi sẽ đặt chân lên Khu di tích lịch sử đã có cách đây gần 600 năm nơi gắn liền với tên tuổi của anh hùng dân tộc Lê Lợi vị lãnh tụ tối cao cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống lại quân Minh xâm lược (1418 - 1428). Nhưng đến đoạn đường thuộc địa bàn huyện Triệu Sơn nào ổ gà nào nước đọng rồi cả bùn đất nham nhở cộng thêm trời mưa lách rách khiến tôi thấy nuối tiếc lời đề nghị "về" Lam Kinh cùng ô tô đoàn ông Lê Hồng Cẩm - Trưởng ban Quản lý dự án công trình văn hóa của tỉnh. Tôi nói về ở đây là bởi Lam Kinh từ lâu rồi đã trở thành ngôi nhà thứ hai trong tâm niệm và ý thức của mỗi người con xứ Thanh nên đi dù xa hay gần tất cả khi đặt chân tới Lam Kinh đều là trở về với cội nguồn dân tộc về với gốc rễ của mình.

Thành điện Lam Kinh cổ xưa phía bắc dựa vào núi Dầu (hay còn gọi là Du Sơn) mặt nam nhìn ra sông Chu qua sông Chu khoảng 900 mét đường chim bay là núi Chúa (Chủ Sơn) làm tiền án; bên tả là dải núi rừng Phù Lâm và núi Ngọc Giăng Đèn uốn lượn thành hình cánh cung che chắn phía đông bên hữu là giặng núi Hướng và núi Hàm Rồng cũng uốn thành hình cánh cung che chắn phía tây. Tất cả tạo nên một bức tranh kỳ thú sơn thủy hữu tình làm say lòng người đến lưu luyến người đi.

Du khách vào khu di tích Lam Kinh sẽ qua Tiên Loan Kiều (còn gọi là cầu Bạch). Đúng như tên gọi của nó cây cầu được dùng hoàn toàn bằng đá mầu trắng uốn theo hình vòng cung đứng trên cầu ta có thể soi mình xuống dòng sông Ngọc hiền hòa (Sông Ngọc bắt nguồn từ Tây Hồ chạy vòng qua trước thành và điện Lam Kinh. Theo sách "Hoàng Việt dư địa chí" xưa kia nước sông trong veo đáy sông có nhiều hòn sỏi tròn đẹp trông rất đẹp mắt nhưng không ai dám lấy). Trước đây người xưa xây dựng cây cầu này theo lối "thượng gia hạ kiều" (phía trên là nhà ở dưới là cầu). Qua cầu khoảng gần năm mươi mét ta sẽ gặp một giếng cổ. Cũng giống như giếng làng theo tục lệ Việt Nam xưa kia giếng cổ là nơi linh thiêng và được coi là nét đẹp văn hóa chính vì vậy mỗi khi đào giếng người ta thường phải xem phong thủy để chọn nơi đào có nguồn nước trong và mát nhất. Năm 2005 giếng được thay lớp gạch và đá quanh thành bằng kè lại nguyên bằng đá vững vàng hơn. Qua giếng cổ giờ đây tôi không còn cơ hội để chiêm ngưỡng lại hai con giống đá huyền thoại vật thiêng canh góc sân trước Ngọ môn nữa. Vết tích còn lại chỉ là hai chiếc đế bằng gạch và đá kê hai con vật thiêng có hình chữ nhật và hai tấm đá một hình tròn một hình chữ nhật tượng trưng cho vầng nhật nguyệt. Tiếc thay một dấu tích đã bị mai một đã bị thời gian bào mòn.

Nhưng quy mô và hoàng tráng nhất vẫn là khu chính điện Lam Kinh. Đến đây sẽ thấy một khung cảnh đang làm việc khẩn trương để kịp hoàn thành đúng ngày giỗ vua Lê. Ai nấy đều bận rộn mỗi người một việc nhưng trong những gương mặt nhễ nhại mồ hôi (dù sau cơn mưa thời tiết khá mát mẻ) của họ hiện lên những căng thẳng và mệt nhọc. Tôi nhớ tới lời của ông Lê Hồng Cẩm: "Việc đúc ra một viên gạch có khối lượng hơn 20 ki lô gam quả là một việc gian nan. Vì gạch quá dày quá nặng mà nếu làm gạch theo cách thủ công của cha ông thì riêng khâu làm khô đã mất từ ba đến sáu tháng. Không còn cách nào khác chúng tôi phải đề nghị bổ sung phương án gia công gạch theo phương pháp bán khô để đảm bảo được thời gian yêu cầu (gồm gạch bát: 45 cm x 45cm; gạch vồ: 38cm x20cm x 7cm). Vì vậy chưa nói đến chất lượng gạch chỉ mới lo cho đủ số lượng gạch của sân rồng này là mười sáu nghìn viên cũng đã rất khó rồi. Mặt khác phải nói thêm rằng sân rồng là nơi hay đọng nước gây trở ngại cho việc trùng tu và phục dựng không ít". Quả thật như vậy khi được tiếp xúc với những người thợ làm ở đây tôi mới thấm hết cái khổ mà họ phải trải qua. Để hoàn thành hạng mục sân rồng đúng với dự kiến đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ nhiều ngành khác nhau. Nhất là gạch dùng để lát sân rồng lại thuộc loại gạch cổ hiện nay lại sắp đến thời điểm diễn ra lễ hội nên gây trở ngại không ít đến tiến độ thi công. Nên vì vậy hầu như mọi nhân lục đều được huy động tối đa. Dù mưa hay nắng họ đều "say mê" để làm cho xong cho đúng cái "tổ" của mình chỉ cần chệch đi một xăng ti nào trong chỉ số đã được tính toán từ trước thì coi như toàn bộ những gì họ đã làm lại phải bóc ra và bắt đầu lại từ đầu.

Qua sân rồng tôi thần người khi ngắm nhìn hai tấm đá lớn nguyên khối được chạm khắc hoa văn đẹp mắt còn được gọi là vân hóa long (nghĩa là mây hóa rồng). Đây là sự ảnh hưởng đậm nét giữa nho giáo với văn hóa dân gian truyền thống thời bấy giờ. Nhưng xót xa thay khi tận mắt trông thấy nền móng của khu chính điện Lam Kinh xưa kia giờ chỉ còn lại vết tích là 138 chân cột dưới một bãi cỏ um tùm. Phải chăng đây chính là hậu quả của những lần Lam Kinh bị tàn phá thiêu cháy mà tôi đã được biết có thể kể ra đây: năm 1434 Lê Thái tông sai hữu bộc xạ Lê Nhữ Lãm đến Lam Kinh xây dựng miếu cung Từ Thái mẫu nhưng sau đó bị cháy; năm 1531 vì muốn xóa sạch những ảnh hưởng nhà Lê đối với nhà Mạc nên Mạc Đăng Doanh đã cho quân đốt điện Lam Kinh rồi đến năm 1788 khi quân Nguyễn Huệ kéo ra Bắc lần thứ hai dẹp loạn Lê - Trịnh và đánh đuổi giặc Thanh xâm lược thì những kiêu binh của quân Tây Sơn đã đốt điện Lam Kinh một lần nữa khiến nó trở nên hoang phế; năm 1805 vua Gia Long đã cho tháo dỡ ngói và gỗ ở cả Thăng Long và Lam Kinh đem về làm đền ở Bố vệ (nay thuộc thành phố Thanh Hóa) thì một lần nữa Lam Kinh lại trở nên hoang vắng và tiêu điều.

Tôi được anh Lê Văn Viện cán bộ của Ban Quản lý khu di tích Lam Kinh giới thiệu về khu Thái miếu triều Lê sơ. Khu Thái miếu hay còn gọi là Cửu tẩm gồm chín tòa miếu được nối liền nhau theo hình cánh cung. Trước mỗi tòa miếu đều có một lối lên năm bậc hai bên lan can tạc hai rồng uốn khúc bằng cả một phiến đá dày nguyên khối. Dù được gọi là Cửu tẩm nhưng hiện tại mới dựng lại được ba tòa Thái miếu chính hoàn chỉnh là 4 5 6 ở chính điện Lam Kinh. Tất cả ba tòa Thái miếu này đều được làm từ gỗ lim rắn chắc vững vàng. Anh Viện cho tôi biết đây là công trình kiến trúc gỗ có quy mô lớn toàn bộ gỗ dùng để làm Thái miếu được vận chuyển từ Lào về. Cũng theo ông Lê Hồng Cẩm thì nguyên giá cũ mỗi tòa Thái miếu có giá trị lên tới 4 tỷ đồng. Nhưng nếu so con số đó với giá trị nghệ thuật kiến trúc và đặc biệt hơn nữa là bề dày của lịch sử thì sẽ chẳng thấm vào đâu. Điều khó ở đây chính là những đồ thờ trong chính ba tòa Thái miếu này. Theo tôi được biết dự án đầu tư đồ thờ tự tại ở đây lên tới 2 tỷ đồng nhưng khi thực hiện thì lại trậm trễ ở chính khâu thẩm định (mới đưa vào một số đồ thờ ở nhà Thái miếu 5 như hương án bàn đặt lễ chấp kích bát hương trống bát bửu và các đồ lễ khác...). Cũng dễ hiểu bởi chúng ta đang rất thiếu những nguyên bản xưa có thể phục vụ việc đối chiếu việc phục dựng và tu bổ lại đúng với nguyên trạng của các công trình văn hóa lịch sử quan trọng như Lam Kinh đền Bà Triệu hay thành Nhà Hồ...

Tôi không thể miêu tả tất cả những khu lăng của các vua và hoàng hậu triều Lê sơ ở Lam Kinh mà chỉ có thể nhắc đến lăng mộ của Lê Thái tổ (tức Lê Lợi) như một minh chứng cho chuyến đi của mình. Tôi nhìn bao quát lăng mộ của vua Lê Thái tổ đã được ốp đá vào năm 1995 và hình dung lại khung cảnh trước đây chỉ có cỏ xanh và ngôi mộ xây bằng gạch đắp đất hai bên là con giống đá này. Tôi chạnh lòng dợn nghĩ đất thiêng mới có anh hùng mới sinh ra những người con làm nên kỳ tích rồi họ lại quay về với đất. Nhưng đất là lịch sử của cả một dân tộc mà ai cũng phải gìn giữ nó. Và tôi an lòng khi giờ đây mỗi người dân đều đã nhận ra điều thiêng liêng ấy ngày càng rõ ràng hơn từ đó có thể khôi phục và làm sống dậy những di tích lịch sử. Tôi hỏi: "Sao nhìn những con thú lại hiền lành và có vẻ nhàn hạ đến vậy?". Anh Viện trả lời: "Bởi lẽ khi đặt hai hàng con giống đá này người ta muốn thể hiện sự uy nghiêm của vua Lê Thái tổ đến con vật hung dữ cũng phải quy hàng. Mặt khác cũng là để hàm ý cho cuộc sống no đủ hưng thịnh của người dân thời bấy giờ". Đến đây tôi chợt nhớ câu ca rằng:

Đời vua Thái tổ Thái tông

Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng

muốn ăn

Và tôi còn được nghe về sự tích Núi Dầu sự tích gắn liền với vị anh hùng dân tộc là Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn khi tìm đường đến với nghĩa quân Lam Sơn. Nhìn xa xa những đám mây xen lẫn núi Hổ tôi có cảm giác mình đang lạc đường vào một cảnh tiên chứ không phải du ngoạn khu di tích lịch sử Lam Kinh. Những ngọn núi ôm sát mây trắng muốt vẩn vơ bay. Thấp thoáng là những đoàn người vội vã theo chân hướng dân viên đi thăm khu di tích trong đó có cả những bộ trang phục thổ cẩm sặc sỡ giữa núi rừng Xuân Lam. Đoạn đường dẫn xuống bia Vĩnh Lăng khá trơn vì cơn mưa vừa dứt lại toàn đất đỏ dốc nên có phần khó đi. Chỉ mai đây nữa thôi con đường mòn nhỏ hai bên là cây rừng xanh mát mắt này sẽ được lát đá và đường đi lối lại ở Lam Kinh sẽ nối liền nhau.

ở khu bia Vĩnh Lăng đã có rất nhiều du khách đến xem. Tôi đứng lẫn vào hàng người đang chờ sờ đầu rùa để cầu cho mình sự may mắn thành đạt. Phải nói thêm rằng Bia Vĩnh Lăng được đánh giá là một trong những bia lớn nhất và đẹp nhất ở Việt Nam hiện nay.

Khi tôi ngồi nói chuyện với ông Lê Văn Tráng một trong bốn người ở tổ trông coi khu đền vua Lê cách khu di tích lịch sử Lam Kinh 150 mét về phía Nam tôi mới cảm phục hết những con người mang tiếng "ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng" này. Bởi tôi nói như vậy vì khu đền không thuộc về Ban quản lý Lam Kinh mà thuộc về UBND xã Xuân Lam. Đền do một số nhà hảo tân đứng ra quyên góp và xây dựng vào những năm đầu của thế kỷ XX để làm nơi thờ vua Lê Thái tổ. Đúng như lời ông Lê Văn Tráng đã nói "Chúng tôi là những cán bộ về nghỉ hưu chỉ muốn đóng góp chút công sức của mình gìn giữ ngôi đền này nhằm giáo dục con cháu và cũng là để giữ nơi hương khói cho chúng tỏ lòng thành kính trên quê cha đất tổ chứ không cầu một chút tư lợi nào về mình". Tôi lại hỏi về những công việc cụ thể mà các ông đang làm. Ông Tráng mỉm cười cái cười thật nhẹ: "Nhiều lắm tôi không nhớ hết được chỉ biết ngày nào bốn người trong tổ trông coi đền chúng tôi đều phân công nhau dậy từ 5 giờ sáng quét dọn và vệ sinh đền rồi hương khói và đón khách. Toàn những công việc vặt thôi chị ạ". Cái việc vặt mà ông nói ấy tôi biết cũng không có nhiều người làm được. Vặt nhưng vô cùng có ý nghĩa đối với không chỉ bản thân các ông mà còn lớn lao hơn với những du khách và lớp con cháu như tôi.

Do khu di tích lịch sử Lam Kinh có giá trị to lớn về mặt lịch sử và văn hóa của dân tộc Việt Nam ta ngày 22 tháng 10 năm 1994 Thủ tướng Chính phủ đã quyết định số 609 TTg phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể về tu bổ phục hồi và tôn tạo khu di tích lịch sử Lam Kinh. Cũng từ đó Bộ Văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) đã thành lập Ban Quản lý dự án công trình văn hóa. Công việc bảo tồn và phục dựng làm sống lại những công trình văn hóa lịch sử đòi hỏi phải có một đội ngũ say mê và tâm huyết với nghề. Có theo chân và nghe những câu chuyện vui buồn lẫn lộn của một người cần mẫn "nhặt cát đãi vàng" như ông Lê Hồng Cẩm mới thấu hiểu những khó khăn và vất vả để làm sống dậy một công trình lịch sử xa xưa. Quả thật không đơn giản chút nào khi biến khu di tích lịch sử Lam Kinh từ chỗ hoang phế bước đầu lộ diện là khu di tích bề thế thâm nghiêm thể hiện một tầm vóc của một vương triều tồn tại dài nhất trong lịch sử phong kiến. Cái khó ở đây phải kể đến là những tài liệu nguyên mẫu xưa rất ít nên không thể đối chiếu phục dựng hay hiện nay vấn đề về lực lựợng am hiểu lịch sử và say mê với công việc còn mỏng nếu không muốn nói là quá ít ỏi trong khi đó nguyên vật liệu phục vụ cho công việc khôi phục ở ngoài thị trường lại không phổ biến và còn bao nhiêu cái khó nữa tôi không thể kể hết ra đây.

Cái khó nhất vẫn chính là ở khâu giải phóng mặt bằng và việc đền bù. Tôi boăn khoăn khi nhìn con đường nằm trong dự án Nam cầu Bạch do gặp nhiều khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng nên đoạn đường này hiện nay đang được thực hiện theo phương án hai tức là thu ngắn hẹp đoạn đường (chiều dài là 240 mét rộng 5 mét. Theo thiết kế chiều rộng của đoạn đường phải là 10 5 mét) đã đổ xong toàn bộ lớp bê tông lót móng và lát đá được hơn ba phần tư chiều dài của đường cùng với đó những người thợ cũng như chủ dự án cũng đang cho tiến hành lát đá đoạn đường dạo nối liền từ cổng đến các điểm trong khu di tích Lam Kinh sẽ hiện hình trong nay mai.

Hiện nay ở Khu di tích Lam Kinh đã thu hồi giải phóng mặt bằng gần 100 héc ta đất xây dựng hệ thống gần 3 ki lô mét hàng rào phục hồi gần 40 héc ta hồ phục hồi hơn 400 mét sông Ngọc phục hồi rừng Lam Kinh (tương lai chỉ trồng toàn bộ cây rừng thuộc cây bản địa) và gần đây các dự án tu sửa và phục hồi lại khu di tích đang được gấp rút thi công như Sân Rồng đường nội bộ nội thất chín tòa Miếu đường Nam cầu Bạch.... để chào đón ngày lễ giỗ tổ vào đúng dịp Hăm mốt Lê Lai Hăm hai Lê Lợi vào tháng Tám âm lịch hàng năm. Đi đến đâu gặp bất kỳ người dân nào ở xã Xuân Lam tôi cũng thấy ai nấy đang náo nức chuẩn bị cho ngày lễ hội đến gần. Những cụ già bà lão râu tóc phất phơ ngồi bên chiếc trống tay gõ nhịp miệng nhẩm nha cau hát. Em bé súng sính trong bộ đồ lễ đầy màu sắc và say sưa tập luyện dưới cái nắng đã có phần gắt gỏng nóng nực. Nhưng chỉ không đầy một tháng nữa thôi cả đất trời Lam Kinh sẽ ngập trong sắc cờ và tiếng cồng chiêng âm vang rừng núi ngập trong các điệu múa dân gian uyển chuyển như múa xéc bùa múa rồng múa đèn Đông Anh... và khi đến đây lại được thưởng thức hương vị cay ngọt của chè lam Phủ Quảng mềm dẻo đen lánh của bánh gai Tứ Trụ... Lam Kinh sẽ mãi luôn là miền đất thiêng là một trong những điểm đến của du khách muôn phương.

                                                                                                       N.H

More...

KỶ NIỆM 590 NĂM KHỞI NGHĨA LAM SƠN - 580 NĂM VUA LÊ THÁI TỔ ĐĂNG QUANG - 575 NĂM NGÀY MẤT CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC LÊ LỢI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Thanh Hóa cội nguồn họ Lê đất Việt

                                                               LÊ XUÂN GIANG



         Họ Lê ở nước ta được biết có tỷ lệ số dân đông thứ hai trong cả nước chỉ đứng sau họ Nguyễn. Trong bản tham luận đăng trên bản tin nội bộ số 1 ra ngày 26-6-1999 nhà biên khảo Vũ Hiệp nguyên Phó trưởng Ban giao lưu các dòng họ thuộc UNESCO phát triển nhân văn thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: Họ Lê chỉ đặc biệt có ở Việt Nam. Trong lịch sử Trung Quốc rất hiếm có người họ Lê và trong hơn một nghìn năm nước ta bị Bắc thuộc không hề thấy viên quan cai trị nào mang họ Lê cả. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng họ Lê là một trong những họ đặc trưng của dân tộc Lạc Việt...

Vẫn theo ông Vũ Hiệp: "Đây là một dòng họ đã có tới hai lần lập ra triều đại Vương quyền ở nước ta: Tiền Lê và Hậu Lê".

Cùng quan điểm với ông Vũ Hiệp ông Lê Văn Nguyện Phó Chủ tịch Hội đồng họ Lê Việt Nam gặp tôi trong buổi ra mắt Hội đồng họ Lê tỉnh Nghệ An ngày 31-8-2008 vừa qua cho biết: "Hiện nay trong tay ông có cuốn tộc phả vô cùng quý giá do ông Lê Văn Du ở Nghệ An lưu giữ. Đó là cuốn Lê tộc sinh hạ do Đức Lê Lợi cùng anh là Lê Trừ và các cháu: Lê Khôi Lê Sao Lê Khang Lê Tư Tề Lê Nguyên Long Lê Thánh tông cùng biên soạn. Trong cuốn Lê Tộc sinh hạ có nói đến sự tiếp nối từ đời Lê Đại Hành hoàng đế Lê Hoàn truyền nhiều đến đời Lê Lợi.

Căn cứ vào cuốn Lê Tộc sinh hạ này ông Lê Văn Nguyện trong bài phát biểu tại buổi lễ ra mắt Hội đồng họ Lê tỉnh Nghệ An đã khẳng định: Cả nước Việt Nam ta chỉ có một họ Lê mà thôi.

Theo ông Lê Văn Nguyện thì gia phả tổ tiên để lại có rất nhiều dòng họ Lê phát tích từ Châu ái tức là từ Thanh Hóa bây giờ. Đó là quá trình theo Đức Thái tổ Lê Lợi đánh giặc cứu nước hoặc theo vua Lê Thánh tông đánh Chiêm Thành theo chúa Nguyễn đi mở mang bờ cõi được nhà vua cho ở lại để khai hoang lập ấp xây dựng quê hương mới. Chính vì thế nhiều bà con họ Lê ở các tỉnh Nghệ An Hà Tĩnh Thừa Thiên - Huế Quảng Nam Quảng Ngãi Hà Tây Phú Thọ đã trở về Thanh Hóa tìm lại cội nguồn của mình.

Thanh Hóa là vùng đất hội tụ được cả hồn sông khí núi nên đời nào cũng có các bậc anh hùng hào kiệt. Hai vị đế vương họ Lê: Lê Hoàn và Lê Lợi đều sinh ra trên mảnh đất thiêng này. Vì thế Thanh Hóa trở thành cội nguồn họ Lê đất Việt.

Đặc biệt cho đến nay Thanh Hóa là nơi duy nhất còn lưu giữ lăng mộ của hầu hết các đời vua của triều đại Hậu Lê từ Lê sơ đến Lê Trung hưng. Toàn bộ số lăng mộ này đều nằm trên đất của huyện Thọ Xuân nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Có xã như xã Xuân Quang huyện Thọ Xuân là nơi an táng tới ba vị hoàng đế đó là vua Lê Dụ tông vua Lê Hiển tông và vua Lê Chiêu Thống. Mới đầu năm 2008 này trong khi đào đất làm đường vào làng tại cánh đồng xã Xuân Phong bà con lại phát hiện được mộ vua Lê Huyền tông. Bước đầu chính quyền huyện Thọ Xuân cho xây xi măng vây quanh phần mộ để bảo vệ.

Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đội ngũ tướng lĩnh tài ba là người Thọ Xuân cũng rất đông đảo như: Lê Thận Lê Văn An Lê Thiết Lê Lĩnh ở Mục Sơn; Lê Văn Linh Lê Sao ở Thọ Hải; Phạm Lung Phạm Vấn Lê Bồi ở Nguyên Xá; Lê Lang Đinh Lễ Đinh Liệt ở Thủy Lôi; Nguyễn Nhữ Lãm ở Thọ Diên; Trần Lựu Trần Lãm ở Xuân Thiên; Lê Bối Lê Bôn Lê Hà Viên ở Xuân Châu. Đội ngũ khai quốc công thần đông đảo này đã lập nhiều chiến công xuất sắc góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

ở Thanh Hóa cội nguồn của họ Lê đất Việt hiện còn có hàng trăm di sản văn hóa liên quan đến hai triều đại Tiền Lê và Hậu Lê. Cho đến nay Hội đồng họ Lê Thanh Hóa đã thống kê được gần 200 di tích bao gồm lăng mộ đền đài miếu mạo đình làng nhà thờ họ có liên quan đến vua chúa danh nhân võ tướng họ Lê. Trong số này đã có trên 60 di tích đã được nhà nước cấp bằng công nhận là di tích lịch sử văn hóa vùng đất Thọ Xuân quê hương của hai vị anh hùng dân tộc Lê Hoàn Lê Lợi trở thành vùng đất dày đặc các di tích di sản văn hóa của cả hai triều đại: Tiền Lê và Hậu Lê.

Điều đặc biệt hơn nữa là ở Thanh Hóa họ Lê không chỉ có người Kinh mà còn có ở bà con các dân tộc thiểu số như dân tộc Thổ dân tộc Mường. Có nơi như vùng Như Xuân bà con họ Lê là người dân tộc Thổ Mường chiếm tới gần 80% dân số trong vùng. Điều đó chứng tỏ họ Lê ở Thanh Hóa xuất hiện hàng ngàn năm nay nên sự phân chia họ Lê thành tộc người này hay tộc người khác còn diễn ra sau khi có dòng họ

                                                       *

Là mảnh đất cội nguồn của họ Lê đất Việt bà con họ Lê ở Thanh Hóa luôn nhớ khôn nguôi các bậc tiền nhân họ Lê theo chân tiên tổ đi đánh đuổi giặc ngoại xâm mở mang bờ cõi rồi sau đó tụ lại xây dựng quê hương mới. Hậu duệ của các bậc tiền nhân họ Lê có nguyện vọng được hành hương về xứ Thanh tìm về cội nguồn tri ân tiên tổ. Đáp ứng nguyện vọng ấy của bà con họ Lê cả nước năm 2007 sau khi thành lập chưa được ba tháng Hội đồng họ Lê Thanh Hóa đã đăng cai và tổ chức thành công cuộc gặp mặt họ Lê Việt Nam lần thứ II tại Thanh Hóa. Có gần 1300 con cháu họ Lê trên khắp mọi miền tổ quốc về dự cuộc gặp mặt. Đó là cuộc đoàn tụ con cháu họ Lê lớn nhất từ trước đến tới nay để lại dấu ấn cực kỳ sâu sắc trong lòng bà con họ Lê cả nước

Tôi tin rằng từ nay về sau cứ vào dịp giỗ tổ hăm mốt Lê Lai hăm hai Lê Lợi hàng năm bà con họ Lê ở khắp mọi miền đất nước tiếp tục hành hương về quê Thanh để thắp một nén nhang tri ân tổ tiên.

Năm nay Thanh Hóa tổ chức lễ hội Lam Kinh năm 2008 để kỷ niệm 590 năm cuộc khởi nghĩa Lam Sơn 580 năm vua Lê Thái tổ đăng quang và 575 năm ngày mất của anh hùng dân tộc Lê Lợi vào các ngày 20 21 22 tháng Tám âm lịch. Ban Tổ chức dành hẳn ngày 20 tháng 8 âm lịch để bà con họ Lê cả nước về tế lễ tri ân tổ tiên. Trong buổi lễ trọng thể này Hội đồng họ Lê ở Thanh Hóa sẽ tổ chức vinh danh 5 thủ khoa họ Lê trong kỳ thi đại học năm 2008 với số điểm tuyệt đối 30/30 và một em đoạt huy chương vàng cuộc thi Olympic toán quốc tế lần thứ 29 tại Tây Ban Nha.

Cũng tại buổi lễ này Câu lạc bộ doanh nhân họ Lê vừa mới được thành lập cũng xin đến báo công với tổ tiên và xin Người phù hộ độ trì để công việc kinh doanh của con cháu họ Lê ở Thanh Hóa ngày càng phát đạt. Hiện nay ở Thanh Hóa có gần 400 doanh nghiệp lớn nhỏ có người đứng đầu là con cháu họ Lê. Hội đồng họ Lê Thanh Hóa mới lựa chọn được trên 60 doanh nhân ra nhập câu lạc bộ doanh nhân họ Lê Thanh Hóa. Đây là lực lượng nòng cốt để Hội đồng họ Lê Thanh Hóa có nguồn lực tổ chức các hoạt động khuyến học khuyến tài phát huy truyền thống tốt đẹp của tiên tổ trong quá khứ đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hôm nay.

Nhân đây tôi cũng xin được nói thêm rằng một số di tích di sản văn hóa họ Lê ở Thanh Hóa hiện nay đang ở tình trạng nguyên sơ. Mộ vua Lê Hiển tông ở làng Bàn Thạch xã Xuân Quang nay chỉ là một ngôi mộ đắp đất bình thường nằm ngay sau dãy lớp học của trường phổ thông cơ sở không được bằng phần mộ của các chi họ khác trong làng.

Hội đồng họ Lê ở Thanh Hóa tin rằng bà con họ Lê cả nước sẽ cùng chung tay góp sức để việc tôn tạo các di tích họ Lê ở Thanh Hóa được thực hiện nhanh chóng để vùng đất xứ Thanh nơi lưu giữ phần cốt nhục của các bậc tiên liệt mãi mãi là mảnh đất thiêng để đón bà con trăm họ hành hương về bái tổ.

                                                         Thanh Hóa 9 - 2008

                                                                     L.X.G


               LAM KINH ĐIỂM ĐẾN

             của du khách thập phương

                                                                     LÊ VĂN VIỆN

                                                      (Ban Quản lý di tích lịch sử Lam Kinh)


         Lam Sơn là quê hương của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và là nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh đầu thế kỷ XV (1418). Như Bình Ngô đại cáo đã ghi:

"Ta đây núi Lam Sơn giấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình...".

Sau 10 năm kháng chiến gian khổ năm 1428 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hoàn toàn thắng lợi. Ngày 15 tháng 4 năm 1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế tại Thăng Long lấy niên hiệu là năm Thuận Thiên thứ nhất đặt quốc hiệu là Đại Việt mở đầu cho triều hậu Lê hưng thịnh và kéo dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với 26 đời vua và trị vì được 354 năm.

Cũng giống như các triều đại trước như triều Lý hay triều Trần để tỏ lòng tôn kính đối với tổ tiên các vua triều hậu Lê đã cho xây dựng trên quê hương mình một khu điện miếu thờ và lăng tẩm có quy mô lớn ở Lam Sơn được gọi là Tây Kinh hay còn gọi là Lam Kinh (Năm 1430 sau khi giành lại nền độc lập cho nước nhà Lê Thái tổ đã cho đổi vùng đất Lam Sơn thành Lam Kinh hay Tây Kinh để phân biệt với Đông Kinh - Hà Nội) và coi đây là "Kinh đô thứ hai" của nước Đại Việt dưới thời hậu Lê.

Theo sử cũ ghi lại thì: Điện Lam Kinh được xây dựng trên một thế đất cao ráo và thoáng mát có hình chữ vương phía trước có Mục Sơn và Chủ Sơn án ngữ tạo nên bức bình phong che chắn lại có sông Chu (Lương Giang) phía trước chảy vòng từ miền tây xuống ôm phía trước tạo nên thế tụ thủy. Phía sau tựa lưng vào núi Dầu (hậu chẩm). Hai bên tả hữu có núi Rồng và núi Hổ tạo nên hai cánh tay ngai đồng thời tạo nên thế "Long chầu Hổ phục" cho điện Lam Kinh.

Cũng theo sử cũ ghi lại thì: Lam Kinh bắt đầu được xây dựng từ năm 1433 tức sau khi Lê Thái tổ mất. Tuy nhiên ban đầu chỉ được xây dựng trên quy mô nhỏ và với tính chất chủ yếu là nơi "Sơn lăng" thờ cúng tổ tiên và là nơi an táng của các vị vua cũng như hoàng hậu triều Lê Sơ. Sau này để phục vụ cho việc ăn ở mỗi khi các vua Lê về bái tế tổ tiên và thăm viếng quê hương nên qua các thời kỳ điện Lam Kinh đã được mở rộng quy mô như nền móng còn lại ta thấy ngày nay.

Hiện các công trình còn lại nơi đây chủ yếu là các khu lăng mộ và các bia đá được xây dựng dưới thời Lê sơ bởi qua thời gian và biến cố lịch sử các khu điện miếu ở Lam kinh đến nay đã không còn nguyên vẹn nữa. Hiện các công trình này đang được phục hồi lại từng bước.

Toàn bộ di tích lịch sử Lam Kinh được đóng trên địa bàn hành chính của hai huyện là Thọ Xuân và Ngọc Lặc tiếp giáp 2 xã và một thị trấn là xã Xuân Lam thị trấn Lam Sơn huyện Thọ Xuân và xã Kiên Thọ huyện Ngọc Lặc của tỉnh Thanh Hóa.

Tổng thể của di tích Lam Kinh có thể chia thành hai phần là khu vực trung tâm và khu vực vành đai.

Khu vực trung tâm của di tích Lam Kinh bao gồm nền móng của các khu điện miếu và các lăng tẩm như: cổng Ngọ Môn sân chầu thềm rồng chính điện thái miếu nhà tả hữu vu khu Đông trù Tây thất... và các công trình cầu Bạch sông Ngọc giếng cổ Lam Sơn hồ Tây và hai khu lăng mộ nhà bia là Lăng mộ Lê Thái tổ và Lê Hiến tông tạo nên một quần thể di tích chứa đựng nhiều giá trị về văn hóa kiến trúc và mỹ thuật...

Khu vực vành đai bao gồm các khu lăng mộ của vua Lê Thái tông Lê Thánh tông Hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao Lê Túc tông... và những công trình khác như hồ Như áng đập nhà Lê... Ngoài ra Lam Kinh còn có 14 di tích vệ tinh nằm rải rác trên địa bàn hai huyện Thọ Xuân và Ngọc Lặc.

Hằng năm lễ hội Lam Kinh được tổ chức vào các ngày 21 22 và 23 tháng 8 âm lịch với hàng chục ngàn lượt khách đến trẩy hội và dâng hương để tưởng nhớ các vị vua Lê.

Hăm mốt Lê Lai

Hăm hai Lê Lợi

Hăm ba giỗ mụ Hàng Dầu (Ca dao).

Một điều lạ là cứ vào dịp lễ hội thường thì trước hoặc sau lễ hội khoảng ngày 18 19 và 24 25 âm lịch trời lại đổ mưa như để tiếc thương người anh hùng của dân tộc.

Lam Kinh là nơi để du khách tận hưởng một không gian thoáng đãng dễ chịu với bầu không khí trong lành của khu rừng nguyên sinh được ngắm nhìn phong cảnh sơn thủy hữu tình. Dòng sông Chu ngày tháng êm ả trôi thấp thoáng trên dòng nước lung linh là những thuyền bè chài lưới xung quanh là những bãi mía bạt ngàn chạy dài theo dòng nước xa xa là những dãy núi thấp thoáng trong sương mờ tạo nên cảnh đẹp tự nhiên linh thiêng và huyền ảo. Du khách vừa có cảm giác thanh tịnh nhẹ nhõm bồng bềnh trong chốn non nước mây trời nơi đây.

Sau khoảng một giờ tham quan các điểm di tích của khu trung tâm Lam Kinh đặc biệt là các khu lăng mộ và được chiêm ngưỡng bia Vĩnh Lăng tấm bia được đánh giá là một trong những bia lớn nhất và đẹp nhất ở Việt Nam.

Bia Vĩnh Lăng nằm về phía đông Tây hồ và phía tây nam điện Lam Kinh. Bia được làm từ đá trầm tích biển nguyên khối với chiều cao là 2 79m; rộng 1 94m; dầy 0 27m được đặt trên lưng một con rùa cũng được làm từ đá trầm tích biển nguyên khối có chiều cao cả đế là 0 9m; rùa dài 3 46m; rộng 1 94m.

Trán bia được trang trí một hình tròn nằm trong một hình vuông tượng trưng cho Trời và Đất xung quanh hình tròn và hình vuông trang trí những áng vân mây cách điệu chính giữa trang trí một đầu rồng cách điệu nhìn thẳng tượng trưng cho thiên tử (con trời) do sự giao hòa của trời đất sinh ra chân rồng uốn khúc uyển chuyển quanh hình mặt trời. Hai bên cánh cung của hình tròn và hình vuông trang trí hai rồng đang vươn mình đối nhau chầu vào nền trang trí loáng thoáng những áng mây. Riềm bia tính từ đỉnh xuống đến đáy bia mỗi bên trang trí 9 nửa hoa văn hình lá đề trong mỗi nửa hoa văn hình lá đề được trang trí một rồng chầu uốn lượn theo hình lá đề đầu rồng vươn lên. Xen lẫn với hoa văn hình lá đề và rồng chầu là các mảng hoa văn hình cúc dây. Dưới đế bia được trang trí những hình người đang ngồi niệm phật trên các hoa văn hình sóng nước.

Tiêu đề của bia có 5 chữ được khắc theo lối chữ Triện văn bia được khắc theo lối chữ Chân gồm có 3 phần chính ghi lại thân thế sự nghiệp và công trạng của vua Lê Thái tổ.

Rùa đội bia ở đây mỗi bàn chân có 6 móng dường như là để tượng trưng cho sáu năm làm vua của Lê Thái tổ. Tuy nhiên ở mỗi bàn chân có một móng bị khoét khuyết có lẽ là để tượng trưng cho việc Lê Thái tổ làm vua 6 năm nhưng không tròn vì vua mất ngày 22 tháng 8 là chưa hết năm. Lại có giả thiết cho rằng: Xưa kia vì muốn giúp An Dương Vương chống giặc ngoại xâm nên rùa thần đã cho An Dương Vương một chiếc móng để làm nỏ thần nên móng út của rùa bị khuyết là vì thế.

Văn bia là một kiệt tác văn chương do Nguyễn Trãi soạn vào tháng 10 năm 1433.

Dịch nghĩa văn bia:

Năm Thuận Thiên thứ Sáu tức Quý Sửu tháng tám nhuận ngày 22 Thái tổ Cao Hoàng đế chầu trời. Cùng năm ấy tháng mười ngày 23 táng ở Vĩnh Lăng Lam Sơn.

Vua họ Lê tên là Lợi.

Tằng tổ của vua húy là Hối người phủ Thanh Hóa. Một ngày kia đi chơi Lam Sơn thấy có đàn chim bay lượn quanh ở dưới núi Lam như vẻ đông nguời tụ họp cho rằng chỗ này là đất tốt liền dời nhà đến ở. Được ba năm mà gây nên sản nghiệp con cháu ngày một đông tôi tớ ngày một nhiều. Việc dựng nuớc mở đất thực gây nền từ đó. Từ bấy giờ làm chủ một phương.

Tổ của Vua húy là Đinh nối dõi nghiệp nhà theo chí người trước bộ hạ đến hơn nghìn người.

Tổ mẫu của Vua họ Nguyễn rất có đức hạnh sinh hai con trai trưởng là Tòng thứ là Khoáng tức là thân phụ của Vua. Người vui vẻ dễ dãi hiền lành thích làm việc thiện mến đãi khách. Đối với láng giềng coi như một nhà. Vì thế không ai không cảm ngài vì ơn đức và phục ngài vì nghĩa khí.

Thân mẫu của Vua họ Trịnh húy là Thương chăm chỉ đạo đàn bà cửa nhà hòa vui gia đạo thêm thịnh. Sinh được ba con trai trưởng là Học thứ là Trừ út là Vua.

Người con trai trưởng được cha truyền nghiệp không may mất sớm. Vua vâng thừa nghiệp của ông cha một lòng kính cẩn. Tuy gặp thời loạn lớn mà chí càng bền. Giấu mình ở Lam Sơn làm nghề cày cấy. Vì giận quân giặc cường bạo nên càng chuyên tâm về các sách lược thao dốc hết của nhà khoản đãi tân khách.

Năm Mậu Tuất dấy nghĩa hưng binh đóng đồn trên sông Lạc Thủy. Trước sau hơn 20 trận đánh đều đặt mai phục dùng kỳ binh tránh mũi nhọn thừa chỗ hở lấy ít địch nhiều lấy yếu chống mạnh.

Năm Bính Ngọ đánh ở Ninh Động (nay thuộc Hà Đông) thắng lớn. Bèn tiến lên vây đông Đô (Hà Nội).

Năm Đinh Mùi giặc gửi viện binh là An Viễn hầu Liễu Thăng đem mười vạn quân từ Quảng Tây tiến sang. Kiềm Quốc công là Mộc Thạnh đem năm vạn quân từ Vân Nam tiến sang. Một trận đánh Chi Lăng Liễu Thăng nộp đầu chém quân giặc hơn vài vạn bắt sống được tướng giặc là lũ Thôi Tụ Hoàng Phúc hơn ba trăm người quân lính hơn ba vạn binh sĩ. Đem tờ sắc mệnh cùng binh phù bắt được của Liễu Thăng đưa sang cho quân Vân Nam. Mộc Thạnh thấy thế đem quân đang đêm bỏ trốn. Giặc bị chém đầu và bị bắt sống không kể xiết.

Khi ấy trấn thủ ở thành Đông Quan là bọn Thành Sơn hầu Vương Thông trước đó đã cùng quân ta giảng hòa mà chưa quyết đến bây giờ xin ra thề ở trên sông Nhị Hà. Các kẻ trấn thủ thành trì các nơi đều mở cửa ra hàng. Phàm những quân giặc bắt được cùng lính đầu hàng ở các thành gồm hơn mười vạn người nhất thiết đều tha về. Đường thủy cấp cho hơn năm trăm thuyền hiệu. Đường bộ cấp cho lương ăn cùng ngựa. Răn bảo quân sĩ (của ta) mảy may không xâm phạm một chút nào (đến quân giặc). Hai nước từ đó thông sứ hòa hảo. Bắc Nam vô sự. Mường Lễ Ai Lao dần dần vào bản đồ. Chiêm Thành và Chân Lạp vượt biển đến cống.

Vua thức khuya dậy sớm sáu năm mà trong nước thịnh trị đến nay băng.

Thuận Thiên năm thứ sáu Quý Sửu tháng mười ngày lành.

Vinh Lộc đại phu Nhập nội Hành khiển chủ việc Ba quân tôi là Nguyễn Trãi phụng Sắc soạn.

Hàn lâm viện đãi chế tôi là Vũ Văn Phỉ phụng viết.

(Nguyễn Trãi toàn tập Tr 83 84 NXB KHXH H 1969).

Có thể nói bia Vĩnh Lăng là một công trình mỹ thuật điêu khắc đá độc đáo tiêu biểu và quý giá về nhiều lĩnh vực và có ý nghĩa to lớn trong kho tàng văn hóa Việt Nam thời hậu Lê. Bia Vĩnh Lăng cũng là một cứ liệu lịch sử quý về lịch sử văn hóa mỹ thuật điêu khắc góp phần quan trọng việc tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước tự hào dân tộc cho các thế hệ sau này.

Để bảo vệ bia năm 1960 Bộ Văn hóa đã cho dựng nhà che bia đến năm 1961 nhà che bia được hoàn thành để kịp cho việc xếp hạng di tích quốc gia đợt đầu cùng với các di tích Đền Hùng Cổ Loa... Vào những năm 1965-1966 lúc này cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ đang trong giai đoạn ác liệt. Máy bay Mỹ liên tục bắn phá tại các điểm gần khu vực của di tích Lam Kinh như: phà Mục Sơn đập Bái Thượng sân bay Sao Vàng... Để tránh sự phá hoại của chiến tranh nhân dân ta lúc bấy giờ đã phải đóng cọc xung quanh và đan phên nứa bọc cót quây quanh nhà bia rồi đổ cát kín lên đến mái nhà che bia để bảo vệ bia khỏi trúng bom. Sau này khi cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ kết thúc phần bảo vệ mới được tháo dỡ và bỏ cát đi lúc này do lâu ngày nên các cột của nhà che bia bị hư hỏng nặng. Năm 1995 nhà che bia được trùng tu lớn lại một lần nữa hiện tại nhà che bia gồm có 2 tầng mái (8 mái); 16 hàng cột mỗi góc 4 cột. Mái nhà che bia được làm uốn cong theo kiểu thức kiến trúc mỹ thuật thời Lê.

Cùng với bia Vĩnh Lăng du khách sẽ được tận mắt chứng kiến nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật khác và tham quan nhà trưng bầy của di tích với hơn 200 hiện vật gốc đặc sắc bằng các chất liệu khác nhau như: gỗ đất nung sắt đồng...

Từ năm 1994 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án tu bổ phục hồi các công trình điện miếu nơi đây. Đến nay nhiều công trình đã được hoàn thành như: các khu lăng mộ nhà bia ba trong số 9 tòa Thái miếu cầu Bạch sông Ngọc giếng Cổ hồ Tây hồ Như áng đập nhà Lê. Hiện tại các công trình khác cũng đang được tiếp tục phục hồi và tôn tạo lại như: cổng Ngọ Môn sân chầu (rồng) chính điện và 6 tòa miếu còn lại để phục vụ du khách thập phương.

                                                                      L. V. V

More...

THƠ + THƠ DỰ THI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐẶNG ÁI


 

 

Thôi Hộ




Chỉ một màu "đào hoa y cựu"

Nghìn năm Thôi Hộ vẫn còn đây

Ta bất tài ôm nghìn trang sách

Hơn gì một thoáng tro bay.

                    Đ.A


 

 

Con gái em đi lấy chồng



Con gái em đi lấy chồng

Tôi ngồi suy nghĩ mà không nghĩ gì

Thời gian như nước cuốn đi

Còn chi đau đớn còn chi giận hờn

Giá như ngày ấy trăng tròn

Thì con cũng thể như con bây giờ

Đưa dâu đến tận bến đò

Ta với em chứ không nhờ người kia.

                                    Đ.A




ĐẶNG ÁI



Những chiều bình yên




Những buổi chiều bình yên trên quê tôi

Hương lúa đồng dòng sông êm đềm trôi

Người con gái buông tóc mềm tha thiết

Mắt mộng mơ xao xuyến cả bầu trời.

Những buổi chiều ngày xưa trên quê tôi

Bom súng thù lửa cháy nơi nơi

Người con gái đẹp xinh như mơ ước

Khoác ba lô từ biệt mẹ lên đường.

Bao năm rồi bao nhiêu năm qua

Chiến trường xưa chiến trường đã xa

Những người về huân chương trên ngực đỏ

Còn em đây - lặng lẽ một nấm mồ.

Bông hoa này dành riêng cho em

Khó hương này dành riêng cho em

Những con đường em đi ngày trước

Qua đau thương dẫn đất nước tới bình yên.

Những buổi chiều bình yên trên quê ta

Hương lúa đồng niềm vui ngân nga

Này tiếng hát có nhớ người xưa ấy

Đã hồn nhiên dâng hiến cả cuộc đời.

                                       Đ. A

SƠN HẢI



Hạt thóc không nói gì




Có những lúc

Dốc ngược bồ thóc không còn một hạt

Vẹt thủng đáy nồi

Nhặt tìm mửng cháy bo bo

Hạt thóc còn đâu để nói!

Bây giờ

Những đụn thóc đùn cao như núi

Thóc gạo tuôn tràn bán mãi xứ xa

Bữa ăn hàng ngày

Tưởng như không còn lo bát cơm nữa

Hạt thóc không nói gì!

Đó đây nhà tầng choán nơi lúa ở

Dìm chết đuối cánh đồng thả cá tôm cua

Băm nát ruộng mật trồng cây và cỏ

Có thể thóc buồn

Nhưng chẳng nói gì đâu

Và tóc vẫn thường im như thóc!...

                                       S.H


LÊ TUẤN LỘC



Lũ quét ở Sơn Dương



Ngày mưa và mưa

Đêm mưa như trút nước

Chiều mưa cho thối rừng

Người già bảo coi chừng lũ quét

Cánh trẻ rung đùi: lũ như mọi năm.

Cứ ngồi xem ti vi

Cứ ngồi uống rượu

Gần sáng nước lên thềm

Đồ đạc kê lên gường

Bỗng chốc nước lên giường

Đồ đạc kê lên tủ

Đột ngột nước lên tủ

Người leo lên nóc nhà

Nước mêng mông như biển

Mặc kệ xe máy

Mặc kệ tủ ly

Cúi nhìn...

Một phút cuốn trôi phá sạch bản Tân Kỳ

Một giờ rừng Sơn Dương thành biển

Một ngày phố Sơn Dương bùn ngập nửa mét.

Chỉ có giời làm được

Cây cổ thụ một người ôm từ đại ngàn

Chuyển về biển Đông không cần tàu xe

Chỉ có giời làm được

Bình thường cầm tay em vuốt ve đã khó

Bây giờ em ngoan ngoãn cầm tay tôi

Ôm cổ tôi để tôi cõng lên đồi chạy lũ.

Sau lũ

Cá rẻ

Củi rẻ

chỉ mì tôm là đắt

Phố Đăng Châu đầy gỗ đầy rác đầy bùn.

Gỗ cạnh nhà xẻ cả tuần không hết

Củi cạnh nhà đun cả năm không hết.

Ruộng lúa không thấy chỉ thấy cánh đồng bùn

lội ngập quá đầu gối.

Ngoài sông

Thuyền cứu hộ băng băng

Ngoài phố

Máy gạt bánh lốp đùn lên hàng núi bùn

Người bảo: Sống chung với lũ

Tôi bảo con tôi:

Đối mặt với lũ.

                        L.T.L




NGÔ NGỌC TUẤN

      (Dự thi)



Viếng mồ liệt sĩ vô danh





Vẩn vơ bên mộ liệt sĩ vô danh

Một cơn lốc xoáy tròn lành lạnh

Bệ xi măng im lìm

Dưới bóng bụi sim già lá úa.

Mỗi năm đến ngày kỷ niệm

Đoàn học sinh thắp hương bên mộ anh

Tập thể những chiến binh

Người quản trang âm thầm thăm viếng.

Anh! Người liệt sĩ vô danh

Thuở trước cả làng biết

Anh có giấy khai sinh

Và lý lịch đầy trang sơ yếu.

Con chim nhỏ chuyền cành

Nhảy nhót bên mộ anh nghiêng ngó

Có phải linh hồn anh thuở nhỏ

Tuổi học trò trong trắng vô tư.

Chiến tranh đã trôi qua từ lâu

Bên nấm mộ sương về lành lạnh

Nhưng trong lòng vẫn còn nóng bỏng

Bức xúc bao người tìm lại tên anh.

                        Tháng 12-2007






NGUYỄN KHOA LINH




Chùm thơ hai câu




Biển

Thao thức

            biển dài khao khát

Nắng sương se - ướt tình hoài


Cách

Cách núi sông duyên phận kết

Gần rào dậu bướm ong lơi


Cờ

Cờ tàn

      thân tốt còn mê mải

Hạn cháy đồng khô vẫn nhánh khoai


Nhặt

Thà đi nhặt nắng nhặt mưa

Hơi đâu nhặt cạm bẫy thừa thế gian


Lấy

Người ta xăm xắm lấy nhau

Mấy ai trúng bả lưỡi câu ái tình


Tình

Tình se sắng nỗi chi mà nặng

Để lắng u hoài những thắm phai


Sạch

Lấy nước làm sạch

                           người ơi

Sầu đau rồi cũng có nơi trở về.

                              N.K.L



GIA BẢO

(Dự thi)



Đêm nghe chuyện kể về Người



Nghìn câu thơ ngợi ca Người

Nghìn khúc hát vẫn cất lời đắm say

Trăm câu chuyện kể đêm nay

Vẫn chưa hết những tháng ngày bôn ba.

Hôn lên mảnh đất ông cha

Lạnh nguồn sương phủ khói sa mịt mùng

Trời Âu rồi lại trời Đông

Tự do ơi! Vẫn quặn lòng nước Nam

Ba mươi năm những ngút ngàn

Ba mươi năm những sóng tràn mây trôi.

Bao câu chuyện kể về Người

Thuở bôn ba thuở đất trời vần xoay

Rồi khi độc lập cầm tay

Người vẫn chèo lái thuyền này trong mưa.

Đất trời đã sáng lên chưa?

Bao nhiêu dự định Người vừa thảo xong

Cùng bao tâm huyết ước mong

Gửi con cháu tiếp viết dòng vinh quang

Một làn mây trắng bay ngang

Người đi vào cõi hằng... thương đau.

Đêm nghe chuyện kể lắng sâu

Người đi muôn nẻo vẫn màu quê hương

áo nâu và món cà trường

Bóng hình lãnh tụ thân thương đất này.

                                 G.B




GIA BẢO

(Dự thi)



Mình khuất bóng mình




Mặt trời khi bình minh

Cây thấy mình đổ bóng lổn nhổn vào hang đá

Mặt trời khi hoàng hôn

Cây thấy mình đổ bóng loằng ngoằng vào khe suối.

Mặt trời khi tròn bóng

Cây chẳng thấy mình nơi đâu

Gió rung sợi tóc nâu

Chấm buồn đôi giọt lệ

Chợt nghĩ ra

Cũng có khi mình khuất mình

Dễ hiểu.

                     G.B


GIA BẢO

(Dự thi)


Mẹ của chúng con




Không giấu nổi bàn tay vẹt mòn thời gian của mẹ

Đánh lừa những ngôi sao bằng thổn thức thâu đêm.

Chải mái tóc pha sương rụng nơi thềm nhà loang màu rêu ẩm ướt

Gom buồn vui cuộc đời mẹ đánh cược

Với trái tim chậm nhịp đã bao ngày.

Tháng tháng năm năm mẹ bấu víu đôi tay

Đu cùng thời gian toác mưa héo nắng

Chăm bẵm chúng tôi cơn ho nén lặng

Giữ yên bình cho con hay sự thanh thản của Người?

                                                G.B



TỪ NHIÊN

(Dự thi)



Vầng trăng xẻ nửa



Nhớ ngày tát nước gầu dai

Chẻ chánh che bái buộc hai người tầy

Chẳng dô khoan chẳng dô hầy

Mà sao ruộng vẫn nước đầy lăng lăng

Mồ hôi soi bóng chị Hằng

Lúa reo mừng có vầng trăng quanh mình

Nhớ khi tát nước qua đình

"Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu"

Ngày lao động gặp sớm chiều

Nhen cho lửa của tình yêu thắm dần

Cau bửa ba em giành phần

Bao đêm trăng khuyết bấy lần trao nhau

Thế rồi bỗng cuối mùa cau

Bông hoa gạo đỏ tình đầu mới nhen

Vầng trăng xẻ nửa cho em

Ba lô anh cõng tình nhen lên đường

Những ngày khói lửa chiến trường

Vầng trăng tát nước soi đường anh đi

Thắng thù vui lại nhớ khi

Miếng trầu em gái dậy thì trao anh.

                              28-12-2007

                                   T.N




NGUYỄN NGỌC HƯNG

(Dự thi)



Nếp chợ quê



Luôn thức dậy cùng rạng đông ngày mới

Cùng tiếng chim đon đả tiếng hỏi chào

Tiếng mặc cả gọi mời nhau ơi ới

Khua một góc làng náo động xôn xao

Chân ruộng chân gò san nỗi thấp cao

Nón lá mũ rơm sớt niềm mưa nắng

Thiên lý kéo mây xuống tràng hoa trắng

Mẹt ớt xanh tinh nghịch chỉ lên trời.

Sấp ngửa mớ rau chẳng lựa lỗ lời

Người đi chợ đâu chỉ vì mua bán

Nếp tẻ nên tình cáy cua nên bạn

Bén vôi nồng nên duyên nợ trầu cau.

Chia tảo tần xẻ thơm thảo cho nhau

Khế mọng kể dông mận hồng kể bão

Muốn đắc quả duyên phải gìn gốc đạo

Điều nghĩa nhân ướp trong thẻ nhang trầm.

Khi thảnh thơi lúc đôn đáo giập bầm

Vẫn từng bữa mặt trời lên lặng lẽ

Vẫn nếp chợ với hình em bóng mẹ

Nuôi dưỡng cốt hồn vạn thuở quê hương!

                        20-3-2008

                           N.N.H

More...

VĂN HỌC MUÔN PHƯƠNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TRƯƠNG CƯỜNG

(Trung Quốc)


 

Khéo can


Truyện ngắn



           Vào thời Tam quốc dưới tay Lưu Bị có một đại thần tên là Giản Ung vốn là người rất thông minh và nhạy bén nên rất được Lưu Bị yêu quý nể vì.

Khi đó rượu là một khoản thu nhập tài chính rất quan trọng của nhà nước nhưng trong dân gian ở đất Thục lại có thói quen nấu rượu tự do. Lưu Bị vào đất Xuyên (Tứ Xuyên) chẳng được bao lâu đã ra một lệnh cấm không cho phép dân chúng được nấu rượu nữa ai nấu rượu sẽ bị chém đầu.

Sau khi đã ra lệnh cấm nhưng Lưu Bị vẫn chẳng yên lòng nên ông phải đích thân đi kiểm tra. Ông quyết định đưa theo Giản Ung cùng đi để xem xét tình hình một phen.

Trước khi lên đường Lưu Bị chợt nhớ ra một việc bèn cười nói với Giản Ung:

- Ta chẳng muốn để bà Yến người vợ mới cưới của ông phải sống xa chồng nên ông đem cả phu nhân cùng đi.

Giản Ung nghe nói vậy vội làm lễ tạ ơn. Số là bà vợ mới cưới của Giản Ung vốn trẻ trung xinh đẹp Giản Ung vô cùng yêu mến nếu phải để phu nhân ở nhà một mình quả là rất lưu luyến nay Chúa công lại đặc cách cho phép mang đi theo đúng là việc nước việc nhà cả hai việc đều vẹn toàn niềm vui đó hỏi còn gì vui hơn.

Đại đội nhân mã vừa ra khỏi Thành Đô đã có một vị quan địa phương ra đón trước xe báo rằng mình đã bắt được một kẻ phạm tội nấu rượu lậu xin Chúa công quyết định.

Lưu Bị giận dữ quát đòi đưa ngay tên tội phạm tới. Viên quan kia "dạ" một tiếng rồi quay người bước đi.

Lưu Bị xuống xe lính thị vệ đã đặt sẵn ghế ngồi.

Một lát sau đã nghe tiếng xiềng xích loảng xoảng rồi một người dân mặc quần áo vải địa phương quỳ trước mặt Lưu Bị.

Người ấy khai tên là Cố Thành làm ruộng ở vùng này vốn lấy việc canh nông làm gốc trước đây mấy hôm chẳng hiểu sao quan trên lại lôi được từ nhà ông ta ra một bộ đồ nấu rượu vì thế mà ông bị bắt và bị khép vào tội nấu rượu lậu.

Lưu bị nghiêm khắc nhìn Cố Thành rồi cũng nghiêm giọng hỏi:

- Ngươi đã biết tội của ngươi chưa?

Thêm vào đó là sự gầm gào đầy "uy vũ" của đám lính thị vệ khiến cho Cổ Thành sợ xám lét mặt người run như cầy xấy lắp bắp mãi mới nói được mấy tiếng:

- Biết... tội... tiểu nhân... con...

Lưu Bị liền phẩy tay:

- Ta có lệnh ban ra từ trước kẻ nào nấu rượu lậu... chém! Bay đâu!

Thị vệ tả hữu dạ ran bước lên mấy bước lôi Cố Thành đi nhưng lúc ấy Cố Thành đã ngã lăn quay ra mặt đất.

- Khoan!

Giản Ung từ đầu vẫn đứng bên cạnh Lưu Bị bất chợt hô to lên như vậy khiến đám lính Thị vệ kinh ngạc đều dừng cả lại.

Nguyên do là Giản Ung nhận xét Cố Thành mặt mũi trung hậu hoàn toàn không giống với bọn gian tà hơn nữa lại sợ hãi đến hết hồn nên trong lòng Giản Ung nghĩ:

"Chúa công mới tới đất Thục lòng người còn chưa yên con người Cố Thành này tuy chỉ là một thường dân nhưng nếu giết nhầm lòng người cũng không phục như vậy giang san của Chúa công ta cũng chẳng được yên".

Nghĩ vậy xong Giản Ung liền vẫy vị quan địa phương kia tới và hỏi:

- Ngài nghĩ như thế nào mà cho rằng Cố Thành nấu rượu lậu trong nhà?

Vị quan địa phương đó đáp:

- Cố Thành vốn sống bằng nghề nông trong nhà lại tàng trữ dụng cụ nấu rượu lậu đó là điều khả nghi thứ nhất. Trước khi có lệnh cấm Cố Thành cũng đã từng nấu rượu bán đó là điều khả nghi thứ hai hạ quan đã từng thẩm vấn Cố Thành thấy thần sắc hắn rất kinh hoàng ăn nói lúng túng lắp bắp đó là điều khả nghi thứ ba. Với ba điều khả nghi đó hạ quan đoán định rằng Cố Thành phạm tội.

Trong khi Giản Ung còn đang trầm ngâm suy nghĩ thì Lưu Bị đã nói ngay:

- Có lý có lý! Những quân gian giảo như loại này không giết làm sao lập được uy?

Giản Ung hoang mang bước nhanh lên mấy bước nói:

- Thưa Chúa công Cố Thành coi như thật đáng chết nhưng hôm nay sắc trời đã muộn khách vãng lai trên đường đã vắng chi bằng để đến sáng mai khi người đi lại đông đúc sẽ giết để cho bách tính biết rằng pháp lệnh của Chúa công thật nghiêm minh.

Lưu Bị nghe xong thấy Giản Ung nói cũng có lý bèn ra lệnh giam Cố Thành vào ngục chờ ngày mai chém đầu.

Đêm hôm đó bầu đoàn của Lưu Bị tới dinh quan địa phương nghỉ lại.

Khi vào trong dinh rồi Giản Ung lặng lẽ kéo người nhà là Giản Bình vào một góc thấp giọng dặn dò hãy đến xóm phường của Cố Thành điều tra xem xét. Giản Bình lĩnh mệnh đi ngay.

Tối hôm đó Giản Ung hầu Lưu Bị ăn tối xong lại bàn quốc sự gần tới nửa đêm mới về đi nghỉ.

Giản Ung vừa về đến phòng đã thấy Giản Bình lao vào nói hết mọi việc mình vừa đi điều tra được ở tận nơi xóm phường của Cố Thành.

Số là ngay từ khi còn nhỏ Cố Thành đã học được nghề nấu rượu khi mọi người còn được nấu rượu tự do Cố Thành cũng có mua một bộ đồ nghề về nấu rượu chủ yếu là nấu cho mình uống khi thừa cũng có đem bán ra ngoài kiếm thêm tiền tiêu dùng. Kể từ khi Lưu Bị ban bố lệnh cấm nấu rượu đến nay Cố Thành con người thực thà như đếm đó không dám bán rượu ra ngoài nữa nhưng anh ta vẫn tiếc bộ đồ nghề nấu rượu của mình nên chẳng đem đập đi chẳng ngờ bị quan địa phương khám thấy nên sợ đến mức té hết ra quần.

Giản Bình nói xong liền lui ra ngoài. Giản Ung một mình đi đi lại lại trong nhà ông nghĩ Cố Thành tuy có sai sót nhưng cái tội ấy đâu đã đến mức phải chém đầu nhưng Giản Ung theo phò Lưu Bị đã lâu biết sâu sắc tính nết của Lưu Bị khi mà Lưu Bị đã quyết khó có ai nói lại được. Bây giờ phải can gián như thế nào quả thực chẳng dễ dàng chút nào.

Giản Ung đang suy tính mọi việc cánh cửa bất chợt mở ra cô hầu Thúy Hỷ lao vào đầy vẻ hoảng hốt nói:

- Bẩm quan lớn phu nhân đang giận dữ sẽ thân đến đây để vấn tội quan lớn đấy!

Giản Ung còn chưa kịp nói gì bà tân phu nhân đã vội vã bước vào nguýt Giản Ung một cái rõ dài chẩu môi lên nói:

- Bẩm quan lớn đêm hôm khuya khoắt thế này mà quan lớn vẫn chưa về phòng an nghỉ sao?

Giản Ung vội đáp:

- Đâu dám! Đâu dám! Phu nhân người xinh đẹp như hoa mềm mại như nước Giản Ung yêu hết lòng mà vẫn còn yêu làm sao lại dám để phu nhân một mình.

Phu nhân bướng bỉnh vênh mặt lên nói:

- Một khi đã không bỏ mặc vợ thì... hay là... quan lớn không được khỏe?

Phu nhân nói xong da mặt liền đỏ bừng lên như những cánh hoa đào xấu hổ quay mặt đi...

Giản Ung biết vợ nói vậy là nói chuyện vợ chồng nên ban đầu ông chỉ ngượng ngùng cười cười nhưng rồi ngay sau đó một việc đứng đắn đã ùa tới ông vội vỗ bàn reo lên:

- Hay! Hay! Đây rồi!

Phu nhân kinh ngạc đăm đăm nhìn Giản Ung. Giản Ung cười vỗ vỗ vào vai phu nhân nói:

- Phu nhân xin phu nhân đợi đến ngày mai tôi sẽ giải thích cho phu nhân sau...

Nói xong Giản Ung quay ra gọi:

- Thúy Hỷ! Gọi Giản Bình đến đây cho ta!

Vào sáng hôm sau ngay từ lúc trời còn tờ mờ dân chúng địa phương đã kéo đến đông nghìn nghịt như nước thủy triều tập trung trước nha môn.

Lưu Bị mặt lạnh như sắt bảo thị vệ điệu Cố Thành tới. Hai người lính thị vệ lực lưỡng xốc cánh Cố Thành như túm một con gà lôi xềnh xệch tới rồi quẳng xuống mặt đất...

Chính giữa lúc đó Giản Ung bước lên mấy bước chỉ về phía đường phố xa xa trước mặt mọi người nhìn thấy có một nam một nữ kẻ trước người sau đi tới mỗi ngày một gần hơn...

Lưu Bị ngơ ngác chẳng hay là chuyện gì đang định hỏi bỗng nghe thấy tiếng Giản Ung quát to:

- Bay đâu! Bắt lấy người đàn ông kia cho ta!

Tả hữu dạ ran rẽ đôi vòng người lao về phía người đàn ông. Một lúc sau người đàn ông đã bị trói dẫn tới trước nha môn vừa giãy giụa vừa kêu oan.

Lưu Bị lấy làm lạ bèn hỏi Giản Ung:

- Làm sao ông lại cho bắt người ta?

Giản Ung đáp:

- Người đàn ông này rõ ràng là định hiếp dâm người đàn bà kia.

Lưu Bị kinh ngạc hỏi tiếp:

- Lại còn thế nữa sao?

Giản Ung rất nghiêm túc trả lời:

- Bẩm! Người đàn ông này có công cụ để hiếp dâm!

Lưu Bị chợt lặng người sau đó bật cười lên ha hả dân chúng đứng trước nha môn cũng đều cười vang cả lên...

Đến đây Lưu Bị mới cố nhịn cười nói:

- Hoang đường! Hoang đường! Cứ có cái thứ công cụ đó thì hiếp dâm được người hay sao?

Giản Ung điền nhiên đáp:

- Đương nhiên là như thế ạ! Bởi vì Cố Thành cũng chỉ có công cụ nấu rượu mà bị trị tội đấy thôi!

Lưu Bị nhìn chòng chọc vào Giản Ung một lúc rồi mỉm cười nói:

- Giỏi cho Giản Ung! Thì ra ông đã bày trò để gỡ oan cho Cố Thành hả?

Giản Ung cúi đầu thật thấp nói lời thẳng thắn:

- Thưa Chúa công Thần với Cố Thành không phải là họ hàng làng xóm. Cưa nay chưa hề quen biết nhau. Thần thực tình vì giang sơn của Chúa công mà suy tính. Đêm hôm qua thần đã cho người đi dò hỏi điều tra rất rõ ràng...

Ngay sau đó Giản Ung sai người đưa hàng xóm láng giềng của Cố Thành tới trước nha môn và để họ nói rõ chân tơ kẽ tóc của sự việc...

Cuối cùng Giản Ung nói:

- Cố Thành tuy cũng có cái sai nhưng cái sai không đến nỗi phải chết. xin Chúa công minh xét.

Lưu Bị bất chợt nhận ra mọi lẽ hết nhìn Giản Ung đang nghiêm trang đứng đó lại nhìn Cố Thành đang quỳ mọp dưới đất rồi sang sảng nói:

- Ta đã ban lệnh từ trước rồi tư nhân nấu rượu chém... Nay Cố Thành có tàng trữ đồ nghề nấu rượu nhưng không vi phạm mọi tội khác nay giảm nhẹ tội hình tàng trữ đồ nghề nấu rượu phạt hai mươi trượng từ nay về sau không được tái phạm nữa...

Dân chúng hoan hô ầm ầm Cố Thành từ chỗ chết được trở về cõi sống quỳ trên mặt đất miệng hô "Thanh Thiên" (trời xanh)...

Giản Ung trở về phòng riêng nói lại với vợ chuyện này phu nhân luôn mỉm miệng cười Giản Ung cũng cười nói:

- Việc này phu nhân có công không nhỏ nhưng công lao cũng có một phẩn của Giản Bình Thúy Hỷ...

Thì ra đôi nam nữ bị bắt kia chính là do hai người này đóng giả.

                                                                                 Lê Bầu (dịch)

                                                                                           Theo tạp chí Hội chuyện

More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TIN VĂN NGHỆ

         Đại hội Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam tại Thanh Hóa

      Ngày 19-8-2008 tại Văn phòng Hội Văn nghệ Thanh Hóa Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam tỉnh Thanh Hóa tổ chức đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2008 - 2011. Dự đại hội có nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân Chủ tịch hội Nhạc sỹ Việt Nam ông Lê Trung Sơn Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa và đông đủ hội viên Hội nhạc sỹ Việt Nam tại Thanh Hóa.

      Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam tỉnh Thanh Hóa được thành lập tháng 12 năm 1999 với 6 nhạc sỹ; đến nay đã có 16 nhạc sỹ hoạt động trong các chuyên ngành: sáng tác nghiên cứu lý luận biểu diễn và đào tạo giảng dạy. Trong thời gian qua Chi hội có 6 nhạc sỹ được giới thiệu trong chương trình tác phẩm mới của Đài Truyền hình Việt Nam 5 nhạc sỹ tổ chức đêm nhạc của mình. Nhiều nhạc sỹ được giới thiệu tác giả - tác phẩm trên Đài Phát thanh - Truyền hình Thanh Hóa. Một số nhạc sỹ đã cho công bố sách đĩa âm nhạc. Hàng trăm ca khúc được tuyển chọn trong các tuyển tập bài hát của Hội Nhạc sỹ Việt Nam.

      Đại hội tổng kết những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn những thành quả đạt được cũng như những yếu kém để từ đó vững tâm hơn đam mê hơn trong lao động sáng tạo sáng tạo nên những tác phẩm âm nhạc có giá trị đáp ứng lòng mong đợi của công chúng yêu âm nhạc.

      Phát biểu chào mừng và chỉ đạo đại hội nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân và ông Lê Trung Sơn đánh giá cao những kết quả mà Chi hội Nhạc sỹ đã đạt được trong lao động sáng tạo mong các nhạc sỹ không ngừng sáng tạo học tập tham gia tích cực cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Sáng tạo những tác phẩm đỉnh cao góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc rõ nét sắc thái xứ Thanh.

      Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Chi hội gồm các nhạc sỹ Nguyễn Liên Đỗ Hoài Nam Thế Việt.

                                                                                                              Trần Liên Chương


 

         * Sáng ngày 25-9-2008. Tại thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình Hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam đã khai mạc liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực IV (Bắc miền Trung) lần thứ 15. Liên hoan đã trưng bầy 122 tác phẩm của 6 tỉnh: Thanh Hóa Nghệ An Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên - Huế. Hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam đã trao 2 giải đồng đội và 1 huy chương vàng 2 huy chương bạc 3 huy chương đồng và 5 giải khuyến khích cho các tác giả.

      Trong cuộc liên hoan lần này tỉnh Thanh Hóa đã có 24 tác phẩm của 14 tác giả được trưng bầy và đã được trao giải đồng đội. Các tác giả thanh Hóa đã đoạt được các giải: Huy chương vàng cho tác phẩm "Thượng nguồn sông Chu" của tác giả Lê Công Bình; Huy chương đồng cho tác phẩm "Trên công trường Cửa Đặt" của tác giả Trần Liên Chương và giải khuyến khích cho tác phẩm "Môn học mới" của tác giả Vũ Lâm Thảo.

                                                                                                      Thanh Sơn




 

GIẢI THƯỞNG CUỘC THI ẢNH NGHỆ THUẬT

"THANH HÓA TRÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP"

NĂM 2008

Giải nhất (01 giải)

Biện Sơn hôm nay của Trọng Thắng

Giải nhì (02 giải)

1. Trên công trình Cửa Đặt của Trần Liên Chương.

2. Sức vươn công trình của Trần Đàm.

Giải Ba (03 giải)

1. Vòng xoay thời vụ của Xuân Tứ

2. Công trình thế kỷ của Nguyễn Thống

3. Nắng sớm Quảng Cư của Vũ Lâm Thảo.

Giải Khuyến khích (06 giải)

1. Thượng nguồn sông Chu của Lê Công Bình

2. Vũ điệu Tiên Sơn của Trương Bá Vinh

3. Hội làng Đông Sơn của Lê Đức

4. Bánh chưng bánh dày của Đăng Văn

5. Cho những công trình của Trọng Đạt

6. Chặn dòng sông Chu để thi công công trình Cửa Đặt của Như Thông

More...