Kỷ niệm 62 năm thành lập Đảng bộ huyện Hà Trung

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Kỷ niệm 62 năm thành lập Đảng bộ huyện  Hà Trung 10 năm Hà Trung đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND đón nhận huân chương Lao động hạng Nhì


Phát huy
truyền thống 62 năm thành lập Đảng bộ huyện
10 năm đón nhận danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" Đảng bộ và nhân dân Hà Trung quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp văn minh


Nguyễn Quốc Tuấn

Tỉnh ủy viên Bí thư Huyện ủy Hà Trung

    Huyện Hà Trung là vùng đất có từ lâu đời nằm ở cửa ngõ phía bắc tỉnh Thanh Hóa có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng nhân dân cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất anh hùng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và kiên trì bền bỉ trong phòng chống và khắc phục thiên tai. Trong suốt chiều dài lịch sử nhân dân Hà Trung đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách để xây dựng và phát triển.

Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của các tổ chức đảng ở thành phố Vinh (Nghệ An). Ngày10-10-1930 Chi bộ Đảng Cộng sản Hà Trung được thành lập tại Gác chuông chùa Trần tổng Ngọ Xá (nay là xã Hà Ngọc). Đây là sự kiện chính trị quan trọng là mốc lịch sử đánh dấu bước trưởng thành của phong trào cách mạng ở huyện Hà Trung. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Đảng phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Hà Trung ngày càng lớn mạnh cùng với cả nước tiến hành khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 thăng lợi giành chính quyền về tay nhân dân.

    Sau một thời gian củng cố và phát triển đến tháng 4 năm 1946 Hà Trung đã có hai Chi bộ với 10 đảng viên. Để nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng ở các địa phương cơ sở nhằm đáp ứng kịp yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới đồng thời thực hiện sự phân cấp tổ chức bộ máy của đảng từ trung ương đến cơ sở phù hợp với bộ máy chính quyền cùng cấp theo chủ trương chung của Trung ương. Ngày 10-4-1946 Tỉnh ủy Thanh Hóa đã quyết định thành lập đảng bộ Huyện và Huyện ủy lâm thời Hà Trung. Đến năm 1948 đảng bộ huyện đã có 8 chi bộ với 476 đảng viên. Tháng 3 năm 1949 đảng bộ huyện tổ chức đại hội lần thứ nhất.

    Trong kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ quân dân trong huyện đã lập được nhiều chiến công to lớn xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng dũng cảm góp phần đánh thắng mọi cuộc càn quét của địch xứng đáng là "bức tường thành" bảo vệ vững chắc vùng Thanh Hóa Nghệ An Hà Tĩnh.

    Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ cùng với tiền tuyến lớn miền Nam hậu phương miền Bắc thi đua giết giặc lập công quân và dân Hà Trung đã lập nên những kỳ tích anh hùng đó là: sự kiện lịch sử Đò Lèn chiến thắng (ngày 3 4-4-1965) cùng với quân và dân toàn tỉnh bắn cháy 47 máy bay của không lực Hoa Kỳ. Trung đội dân quân hai xã Hà Phú Hà Toại dân quân gái làng Đồng Ô (xã Hà Tiến) dân quân xã Hà Ninh Hà Bình Hà Dương phối hợp với bộ đội chủ lực bắn cháy nhiều máy bay giặc Mỹ.

   Với khẩu hiệu "Thóc không thiếu một cân quân không thiếu một người" nhân dân Hà Trung đã tiễn đưa 14.774 thanh niên ưu tú vào bộ đội 1598 thanh niên xung phong 6734 người tham gia các công trình quốc phòng và dân công hỏa tuyến vận chuyển lương thực và vũ khí cho phía trước; đóng góp hàng trăm ngàn tấn thóc 163 ngôi nhà làm cầu phà. Qua 21 năm chiến tranh chống Mỹ Hà Trung đã có 1.750 người con hy sinh; trên 1000 thương binh bệnh binh; trên 15.000 người được tặng thưởng huân chương huy chương các loại và nhiều phần thưởng khác.

    Ghi nhận những thành tích trong chiến đấu phục vụ chiến đấu và sản xuất qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đảng bộ chính quyền nhân dân và các lực lượng vũ trang Hà Trung cùng 12 đơn vị xã trong huyện 3 cá nhân đã vinh dự được Đảng Nhà nước tặng thưởng danh hiệu cao quý anh hùng lực lượng vũ trang dân dân; 70 bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

    Miền Nam được hoàn toàn giải phóng đất nước thống nhất cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đảng cùng với nhân dân cả nước Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã tập trung khắc phục hậu qủa chiến tranh tập trung phát triển kinh tế - xã hội và đạt được nhiều thành tựu to lớn toàn diện khắc phục được tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện từng bước cải thiện đời sống nhân dân.

    Trong thời kỳ đổi mới Đảng bộ và nhân dân Hà Trung với tinh thần "đoàn kết sáng tạo và đổi mới" đã từng bước khắc phục khó khăn xây dựng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ đề ra giữ vững ổn định chính trị trật tự an toàn xã hội. Đặc biệt trong mười năm (1998 - 2008) phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ nhân dân trong huyện đã phấn đấu quyết liệt và giành được nhiều thành tựu rất to lớn:

    Trên lĩnh vực phát triển kinh tế: Từ một huyện đồng chiêm trũng ngập úng kéo dài sản xuất nông nghiệp bấp bênh; cơ sở hạ tầng thấp kém; công nghiệp tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển. Trong mười năm qua bằng nhiều chủ chương chỉ thị nghị quyết đúng đắn như: "đổi điền dồn thửa"; "chuyển dịch cơ cấu kinh tế"; "đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng"; "phát triển kinh tế trang trại"; "phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ"... đã từng bước chuyển những yếu tố bất lợi thành tiềm năng lợi thế động lực thúc đẩy nền kinh tế huyện nhà phát triển mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong mười năm qua đạt khá cao bình quân trên 10%/ năm (năm cao nhất đạt 14%/ năm) là giai đoạn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất từ trước đến nay. Trong đó: nông lâm thủy sản tăng bình quân trên 7%; công nghiệp tiểu thủ công nghiệp - xây dựng tăng bình quân trên 15%; dịch vụ tăng bình quân trên 9 8 %. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực đúng hướng đến nay cơ cấu kinh tế của huyện là: nông - lâm - thủy sản chiếm 33 2%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 26%; dịch vụ chiếm 40 8% (so với năm 2000 là nông - lâm - thủy sản 49 53%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng 15 6%; dịch vụ 34 87%). Tổng sản lượng lương thực đạt trên 70.000 tấn tăng gần 20.000 tấn so với năm 1998; bình quân lương thực 555kg/ người/ năm (năm 1998 là 450kg/người/năm). Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được quan tâm đầu tư đảm bảo phục vụ ngày càng tốt hơn như cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân đến nay hệ thống điện hệ thống thông tin liên lạc đã được xây dựng đến tất cả các thôn làng tỷ lệ sử dụng máy điện thoạt đạt 25 máy/ 100 dân (năm 2000 là 0 75 máy/100 dân); trên 95% đường liên xã 100% đường liên huyện được nhựa hóa và bê tông hóa là một trong những huyện nhiều năm liền được Bộ Giao thông Vận tải tặng cờ thi đua đơn vị dẫn đầu về phát triển giao thông nông thôn. 83% số phòng học được kiên cố hóa và cao tầng; các công trình lớn được xây dựng và đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả; các trung tâm kinh tế về dịch vụ thương mại đã được hình thành phát triển đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện thu nhập bình quân đạt 6 8 triệu đồng/người/năm. Nhiều lĩnh vực đã trở thành những mô hình kinh tế tiêu biểu trong toàn tỉnh như: Phát triển kinh tế trang trại tổng hợp trên những vùng đất cấy lúa kém hiệu quả; xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển cụm công nghiệp làng nghề...

    Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới cả về loại hình quy mô và chất lượng đào tạo. Tỷ lệ tốt nghiệp của học sinh ở các cấp học ngày càng cao; toàn huyện đã có 34/ 82 trường đạt chuẩn quốc gia ở cả bốn cấp học (đạt 42%) đứng tốp đầu của tỉnh (năm 1998 chưa có). Trường trung học phổ thông Hà Trung - con chim đầu đàn của ngành giáo dục Hà Trung đang chuẩn bị kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường và là một trong những trường trung học phổ thông đầu tiên của tỉnh đạt trường chuẩn quốc gia. Số giáo viên và học sinh giỏi cấp tỉnh giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ngày càng tăng; Số học sinh thi đỗ vào các trường đại học ngày càng nhiều năm 2001 có 184 em năm 2007 - 2008 đã tăng lên 807 em.

    Công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân đạt được nhiều kết qủa quan trọng chất lượng phòng bệnh khám chữa bệnh ngày càng được nâng lên. Bệnh viện đa khoa huyện là đơn vị dẫn đầu của ngành y tế tỉnh nhà trong nhiều năm đã và đang xây dựng thành bệnh viện hạng hai. Đến cuối năm 2007 đã có 25/25 xã thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế là một trong hai huyện đầu tiên của tỉnh hoàn thành việc xây dựng xã chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2001 - 2010 về đích trước ba năm so với mục tiêu đại hội XIX Đảng bộ huyện đề ra.

    Hoạt động văn hóa - tư tưởng - thể dục thể thao có nhiều đổi mới. Hệ thống phương tiện thông tin đại chúng từ huyện đến cơ sở được đầu tư xây dựng. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" được đẩy mạnh đặc biệt phong trào xây dựng gia đình văn hóa làng công sở xã thị trấn văn hóa được phát triển đều khắp. Đến nay đã khai trương 223 làng công sở văn hóa; 8 xã thị trấn văn hóa. trong đó có 115 làng công sở đạt danh hiệu đơn vị văn hóa trên 78% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa (năm 2000 mới có 30 làng khai trương xây đựng văn hóa trong đó có năm làng được công nhận 60% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa). Công tác bảo quản trùng tu tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa được chú trọng đến nay đã có 55 di tích lịch sử văn hóa được trùng tu tôn tạo và xếp hạng (có 8 di tích cấp quốc gia)

    Công tác xóa đói giảm nghèo cũng đạt được kết quả tích cực đã hoàn thành sớm chỉ tiêu xóa nhà tranh tre dột nát giảm được tỷ lệ hộ nghèo theo chỉ tiêu đại hội đề ra.

    Công tác quốc phòng - an ninh trong suốt nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nghiệm vụ tuyển quân huấn luyện thực hiện tốt kế hoạch xây dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu diễn tập phòng chống lụt bão phòng chống cháy rừng giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội. Là một trong những huyện khởi xướng nhiều phong trào tiêu biểu cho tỉnh và toàn quốc như: Phong trào Cựu chiến binh cứu hộ cứu nạn; phong trào Em yêu đường sắt quê em; phong trào Vì sự bình yên cuộc sống...

    Công tác xây dựng đảng được chú trọng. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ huyện không ngừng được nâng cao. Từ một chi bộ với 5 đảng viên rồi đảng bộ với hai chi bộ 10 đảng viên trải qua 62 năm xây dựng trưởng thành với mười chín kỳ đại hội đảng bộ Hà Trung không ngừng lớn mạnh đến nay hệ thống bộ máy tổ chức Đảng trong huyện đã phát triển thành 56 đầu mối trực thuộc Huyện ủy gồm 31 đảng bộ 25 chi bộ với 346 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở và hơn 6200 đảng viên. Trong mười năm qua số tổ chức cơ sở đảng đạt Trong sạch vững mạnh đã tăng lên đáng kể từ 48 1% năm 1999 đã tăng lên 84% năm 2007 không còn tổ chức cơ sở đảng yếu kém; mười năm qua đảng bộ đã kết nạp được trên 2000 đảng viên chất lượng đảng viên mới ngày càng tăng trong đó nhiều đảng viên có trình đội đại học cao đẳng.

    Hệ thống chính quyền đoàn thể từ huyện đến cơ sở luôn được củng cố tăng cường ngày càng vững mạnh và phát huy tốt hiệu lực hiệu quả trong hoạt động số đơn vị yếu kém trước đây được tập chung lãnh đạo chỉ đạo củng cố đã có những chuyển biến rõ nét tạo sự đồng đều góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội đảm bảo trật tự trị an và công tác quân sự địa phương trên địa bàn toàn huyện.

    Với những thành tích đã đạt được trong mười năm qua Đảng bộ Chính quyền Đoàn thể và nhân dân Hà Trung đã được Đảng Nhà nước các bộ ban ngành đoàn thể trung ương cấp tỉnh tặng thưởng nhiều giấy khen bằng khen hàng chục cờ thi đua tám huân chương Lao động hạng Ba hai huân chương Lao động hạng Nhì.

    Để thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng các cấp đề ra đến năm 2010 các cấp ủy đảng chính quyền các địa phương đơn vị cần tập trung lãnh đạo chỉ đạo và thực hiện tốt những nhiệm vụ giải pháp chủ yếu sau đây:

    Một là: Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với công nghiệp hóa hiện đại hóa theo hướng tăng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng cơ bản và dịch vụ tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm và đến năm 2010 đạt 13%; Bình quân thu nhập đạt 12 triệu đồng/năm/người. Phát triển mạnh các thành phần kinh tế coi trọng phát triển kinh tế hộ gia đình kinh tế tư nhân kinh tế trang trại kinh tế hợp tác kinh tế hộ theo mô hình nhà vườn... Nâng cao hiệu quả các cụm công nghiệp làng nghề ngành nghề trong nông thôn. Tiếp tục xây dựng các quy hoạch ngành lĩnh vực chủ yếu quản lý và thực hiện tốt các quy hoạch đã được phê duyệt quy hoạch đô thị quy hoạch các trung tâm xã và lập dự án đầu tư để xây dựng. Đẩy mạnh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng các dự án đầu tư trọng tâm trọng điểm để nhanh chóng phát huy hiệu quả. Nâng cao chất lượng hiệu quả các hoạt động dịch vụ gắn dịch vụ với văn hóa du lịch. Tạo môi trường thuận lợi để thu hút mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển toàn diện trên địa bàn huyện.

    Hai là: Đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục tạo bước chuyển biến tiến bộ vượt bậc và vững chắc về văn hóa - xã hội. Nâng cao chất lượng trường đạt chuẩn quốc gia chất lượng các bộ quản lý giáo dục xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực đẩy mạnh phong trào khuyến học. Tăng cường cơ sở vật chất khám chữa bệnh nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Giảm hộ nghèo còn dưới 10% trong năm 2009. Giảm nhanh tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng. Phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với du lịch ở các địa phương và toàn huyện. Có 100% đơn vị khai trương xây dựng và nâng cao chất lượng danh hiệu đơn vị văn hóa 90% số làng có nhà văn hóa 100% làng có sân thể thao. Trên 90% xã xây dựng và có 70% được công nhận xã phù hợp với trẻ em. Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo từ thiện. Quan tâm chăm lo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.

     Ba là: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng - an ninh. Xây dựng lực lượng quân sự công an thực sự vững mạnh đảm bảo đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống; tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm tệ nạn xã hội; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Chăm lo xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tăng cường tuyên truyền phổ biến và giáo dục pháp luật để nhân dân thực hiện tạo môi trường xã hội lành mạnh tiến bộ để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong các khu dân cư và trên địa bàn huyện.

    Bốn là: Tăng cường sự đoàn kết thống nhất nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở Đảng của mọi cán bộ đảng viên và trong toàn đảng bộ; xây dựng đảng vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức làm tốt công tác kiểm tra giám sát công tác dân vận xây dựng đảng bộ huyện trong sạch vững mạnh. Đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính nâng cao hiệu lực hiệu qủa chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện của các cấp chính quyền. Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tích cực đổi mới hoạt động hướng về cơ sở sát dân vận động nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của đảng pháp luật của Nhà nước xây dựng Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể vững mạnh.

    Với truyền thống cách mạng kinh nghiệm trong 62 năm qua và truyền thống của đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đảng bộ và nhân dân huyện Hà Trung quyết tâm thi đua lao động sản xuất công tác học tập lập nhiều thành tích xuất sắc xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh xây dựng quê hương Hà Trung phát triển bền vững văn minh giàu đẹp trở thành đơn vị anh hùng trong thời kỳ đổi mới.

                                                               N.Q.T


Cát vàng sông Lèn

Xây dựng huyện Hà Trung

thành khu vực phòng thủ vững chắc

Mai Quang Phấn

ủy viên Trung ương Đảng

Chính ủy Quân khu Bốn

     Hà Trung là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Thanh Hóa có núi sông bao bọc xung quanh. Núi bao quanh từ phía Bắc kéo dài sang phía tây và một phần phía nam. Sông bao bọc phần còn lại của phía nam. Quốc lộ 1A chạy qua chia Hà Trung làm hai nửa đông và tây gần bằng nhau. Từ Hà Trung theo đường bộ đường sắt đường sông chúng ta có thể cơ động đến các vùng miền trong và ngoài tỉnh. Với địa thế ấy địa bàn Hà Trung "công có thế thủ" "thủ có thế công" giữ một vị trí chiến lược hết sức quan trọng về mặt quân sự không những của tỉnh Thanh Hóa mà còn đối với Quân khu Bốn và cả nước.

Trong lịch sử đấu tranh của dân tộc nơi đây đã từng là chiến trường quyết liệt cả dưới sông và trên bộ của thời kỳ khởi nghĩa hai Bà Trưng (năm 40) khởi nghĩa Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và là nơi dừng chân củng cố xây dựng lực lượng trước khi tổ chức phản công lại quân thù của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ở thế kỷ XIII của Quang Trung - Nguyễn Huệ ở thế kỷ XVIII... Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Hà Trung là một trong những địa bàn trọng yếu thường xuyên bị địch dòm ngó càn quét và đánh phá.

     Do có vị trí địa lý đặc biệt đó Hà Trung được xác định là một địa bàn trọng yếu về quốc phòng an ninh của tỉnh Thanh Hóa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.

     Được sự quan tâm chỉ đạo của Quân khu của tỉnh những năm qua Đảng bộ Chính quyền Hà Trung luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ (KVPT) huyện vững chắc thường xuyên coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục làm cho mọi cán bộ đảng viên các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc về hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa về nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong tình hình mới. Tổ chức các lớp học tập các chuyên đề giáo dục quốc phòng cho cán bộ đảng viên từ đó nâng cao nhận thức xác định rõ trách nhiệm của cán bộ đảng viên trong công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân an ninh nhân dân xây dựng KVPT huyện... Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục những năm qua mặc dù tình hình thế giới khu vực có những diễn biến phức tạp nhưng đại bộ phận cán bộ đảng viên trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở đều vững vàng kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng bộ Hà Trung đã vận dụng sáng tạo các chủ trương đường lối lãnh đạo của Đảng vào sát với tình hình thực tế của địa phương phù hợp với nguyện vọng của nhân dân động viên nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào công cuộc đổi mới của Đảng. Thực hiện song song hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

     Về kinh tế - xã hội tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của huyện hàng năm đều tăng thu nhập bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước; tỷ lệ hộ nghèo ngày một giảm; các tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi. Phát triển kinh tế - xã hội đã kết hợp chặt chẽ với quốc phòng an ninh; các cuộc diễn tập KVPT vận hành cơ chế diễn tập tác chiến trị an tại các cụm xã để gắn với phòng chống bão lụt giảm nhẹ thiên tai giải tỏa giao thông làm trong sạch địa bàn... ý thức quốc phòng của cán bộ đảng viên nhân dân và nhất là lực lượng vũ trang được nâng lên. Lực lượng dân quân tự vệ dự bị động viên thường xuyên được củng cố kiện toàn bảo đảm đúng pháp lệnh.

Tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo chỉ đạo xây dựng huyện thành KVPT vững chắc nói chung xây dựng về quân sự an ninh nói riêng vẫn còn có những hạn chế nhất định mà cấp ủy chính quyền các cấp của huyện cần tìm ra nguyên nhân và có biện pháp khắc phục hậu qủa đó là: Quán triệt Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị chỉ thị số 56 của Thủ tướng Chính phủ nhất là nhận thức về vị trí vai trò nội dung biện pháp xây dựng huyện thành KVPT vững chắc về quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng quốc phòng với kinh tế trong một số cấp ủy chính quyền cơ sở còn có mặt hạn chế. Dẫn đến công tác lãnh đạo chỉ đạo triển khai chưa được đầu tư đồng bộ chưa có chiều sâu. Một bộ phận cán bộ đảng viên còn biểu hiện chủ quan lơ là mất cảnh giác chưa nhận thức đúng về âm mưu thủ đoạn chiến lược "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương tuy đã được nâng lên nhưng chưa thực sự vững chắc nhất là chất lượng của dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên.

     Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân khu sẽ tiếp tục chỉ đạo các địa phương điều chỉnh bổ sung quyết tâm phòng thủ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới phù hợp với đặc điểm tình hình của từng địa phương. Đối với Thanh Hóa cần tập trung xây dựng các huyện trọng điểm trong đó có Hà Trung thành KVPT vững chắc vững về chính trị giàu về kinh tế văn hóa - xã hội phát triển quốc phòng an ninh được củng cố đủ khả năng đối phó thắng lợi với mọi tình huống có thể xảy ra góp phần đánh bại chiến lược "Diễn biến hòa bình" bạo loạn lật đổ của địch bảo vệ Đảng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Trước mắt Hà Trung cần tập trung vào một số nội dung sau đây:

     Một là: cấp ủy các cấp cần quán triệt thực hiện đúng đắn với quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt củng cố quốc phòng an ninh là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên vận dụng cụ thể hóa các chủ trương nghị quyết của Đảng chính sách của Nhà nước phù hợp với đặc điểm tình hình của huyện; kết hợp chặt chẽ giữa lãnh đạo phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng an ninh và giải quyết tốt vấn đề an sinh xã hội phát triển tiềm năng thế mạnh của địa phương sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng "điện đường trường trạm" xóa đói giảm nghèo chăm lo và không ngừng nâng cao trình độ dân trí đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.

     Hai là: tiếp tục xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh từ huyện đến cơ sở tập trung xây dựng Đảng bộ chi bộ trong sạch vững mạnh - coi đây là khâu then chốt nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng. Coi trọng công tác phát triển đảng viên trong lực lượng vũ trang huyện bảo đảm 100% cán bộ quân sự công an xã trung đội cơ động trung đội súng máy phòng không các binh chủng là đảng viên.

     Ba là: xây dựng củng cố chính quyền các cấp thực sự là chính quyền của nhân dân đủ sức chỉ đạo điều hành xây dựng địa phương vững mạnh toàn diện. Coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng có phẩm chất đạo đức cách mạng có năng lực trình độ toàn diện để chỉ đạo điều hành xây dựng địa phương thành KVPT vững chắc. Phát huy hơn nữa vai trò làm tham mưu của các đoàn thể xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần tạo nên thế trận lòng dân vững chắc.

     Bốn là: tiếp tục quán triệt và thực hiện phương hương hướng xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn diện độc lập tự chủ tự lực tự cường và ngày càng hiện đại xây dựng thế trận quốc phòng trước hết là thế trận lòng dân vững chắc xây dựng cơ sở xã phường cụm an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xây dựng đất nước theo quan điểm tư tưởng Nghị quyết T.Ư 8 (khóa IX) về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới. Trước mặt cần tập trung nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện tiếp tục xứng đáng là lực lượng nóng cốt trong nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong phòng chống thiên tai góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Kiện toàn và nâng cao chất lượng của dân quân tự vệ; kiện toàn đội ngũ công an viên cơ sở theo tinh thần Nghị định 40 của Chính phủ. Xây dựng cơ sở hậu cần cơ sở vật chất kỹ thuật tại chỗ hệ thống kho tàng... bảo đảm kịp thời khi chiến tranh xảy ra.

     Năm là: nâng cao hơn nữa chất lượng huấn luyện của lực lượng vũ trang nhất là chất lượng huấn luyện dân quân tự vệ dự bị động viên. Tăng cường luyện tập diễn tập KVPT huyện cụm xã an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu phòng chống giảm nhẹ thiên tai chống cháy nổ cháy rừng... sát với yêu cầu nhiệm vụ của từng địa phương.

     Trong tình hình thế giới khu vực vẫn đang có nhiều diễn biến phức tạp nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO chúng ta có nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những khó khăn thách thức mới. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngày càng có nhiều thủ đoạn và âm mưu thâm độc nhằm chống phá cách mạng nước ta. Vì vậy Đảng bộ nhân dân và lực lượng vũ trang Hà Trung cần nâng cao cảnh giác hơn nữa tập trung xây dựng huyện thành KVPT vững chắc góp phần cùng tỉnh và quân khu bảo vệ vững chắc địa phương cùng cả nước bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                                                                             M.Q.P


Lễ đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử đình Gia Miêu (di tích quốc gia)

More...

Hồi ký

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Gây dựng cơ sở cách mạng

(Trích hồi ký Một thời nhớ mãi của ông Nguyễn Văn Huệ

Chủ tịch ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Tỉnh Thanh Hóa 1946)


     Khoảng hè năm 1936 một buổi sáng anh Mai Tự Cường dẫn anh Trịnh Huy Quang đến gặp tôi. Anh Quang cho biết Tỉnh đảng bộ Thanh Hóa đã thành lập. Anh trao đổi chủ trương của đảng bộ và giao cho tôi chịu trách nhiệm vùng Hà Trung. Tôi tìm gặp anh Cường anh Tỵ họp nhau bàn kế hoạch hoạt động.

Chúng tôi được đọc tài liệu được nghe nói chuyện về Mặt trận Bình dân Pháp lên nắm chính quyền thành lập chính phủ mới có phần tiến bộ đòi xét lại chính sách bóc lột và đàn áp ở Đông Dương đòi trả tù chính trị cải thiện đời sống dân sinh và sự ra đời Mặt trận dân chủ Đông Dương do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

     Chúng tôi lại đem sự hiểu biết của mình kể với từng người hoặc lợi dụng chỗ đông như đám cưới đám giỗ đám ngồi mát ngồi uống nước mà tuyên truyền vận động giác ngộ mọi người.

Tuy nhân dân không sợ hãi như mấy năm trước nhưng sự hưởng ứng của họ cũng dè dặt. Việt lập các hội Tương tế ái hữu việc truyền bá chữ Quốc ngữ việc bán sách báo tiến bộ cũng được thúc đẩy nhưng rất chậm so với phong trào các huyện khác trong tỉnh.

    Ba chúng tôi lại gặp nhau bàn bạc rút ra kết luận: Sỡ dĩ phong trào ở huyện Hà Trung chưa lên được vì ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến ở địa phương còn nặng mà địa vị của chúng tôi dẫu sao còn hạn chế. Muốn cho phong trào cách mạng phát triển phải tranh thủ được tầng lớp có học hành có quyền lực và uy tín với nhân dân địa phương rồi thông qua họ mà vận động và giác ngộ quần chúng.

    Nghĩ đến Vũ Tự Cường tức cai Phi mà tôi đã đến dạy học hồi hè năm 1928 là người có thể gần gũi nhưng anh này bị nhân dân khinh ghét. Cai Trung là một người giàu nhất trong vùng nhưng không có tín nhiệm gì với nhân dân. Chỉ có họ Tạ nhiều gia đình giàu có nhiều người có học cao biết rộng có uy tín nhất trong vùng. Nhưng tranh thủ được họ cũng rất khó khăn. Những người trong họ Tạ hiểu gì về tôi ngoài tông tích là kẻ ngụ cư và tai tiếng là thằng tù luôn bị quản thúc. Còn gia đình họ Tạ thì anh cả Tạ Mạnh Xước đậu cử nhân bất mãn với chế độ không ra làm quan anh hai là Tạ Trọng Sán đậu tú tài Hán học. Nhiều người đậu primaire. ở họ Tạ còn có người là chánh tổng lý trưởng và hương bạ thì vô số. Tôi tự hỏi: chả lẽ ta chịu ngồi khoanh tay?

     Họ Tạ có cụ hành nghề nấu cao gia truyền tôi chuẩn bị tiền để mua một ít cao hổ cốt và đem theo mấy tờ báo để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ có ý nghĩa quyết định con đường cách mạng của tôi sau này.

Trước hết tôi đến gặp ông Tạ Trọng Sán là anh ruột ông Quynh đang làm lý trưởng ở làng Bái Sơn thân sinh anh Tạ Trọng Xiển bạn học cùng trường hồi nhỏ với tôi. Dạo đấy anh vẫn đang trọ học Thiệu Hóa Ông Sán đang ngồi trên cái sập gụ giữa gian nhà khách. Tôi đứng chắp tay vào ngực theo tục lệ xưa và nói: "Thưa thầy tôi nghe nói nhà thầy có cao hổ cốt nấu nhà dùng không may mẹ tôi bị phong xin thầy để lại cho một ít". Biết rõ ông nấu cao để bán mà ngoài miệng tôi vẫn phải nói là nhà thầy để dùng rõ ràng mình đi mua mà phải"nhún mình" nói là "ông làm ơn để lại". Tôi vừa nói xong thì ông bảo tôi ngồi chơi. Chẳng bảo tôi uống nước hút thuốc ông hỏi ngay: "Anh cần mua độ bao nhiêu"? Tôi nói: "Tôi chỉ có một đồng cho bào nhiều thì thầy định" và tay chỉ dở dở gấp gấp mấy tờ báo với mục đích của mình. Thầy Tú chợt thấy hỏi ngay: "Báo gì đấy". Tôi: "Dạ thưa thầy bao Tiếng dân chủ bút là cụ Huỳnh Thúc Kháng nổi tiếng chắc thầy cũng biết cụ Huỳnh chứ ạ!". Mồm nói tay tôi đưa mấy tờ báo lên sập gụ trước ông Tú. ông Tú gật đầu giở bảo xem qua rồi vào buồng lấy cao cho tôi dặn cách uống. Tôi giơ tay đỡ miếng cao rồi đặt đồng bạc vào đĩa để trên sập.

    Được cao tôi lập tức xin ra về vì sợ kề cà ông Tú trả lại báo thì lỡ kế hoạch. ông Tú gọi tôi nói còn mấy tờ báo tôi vừa đi vừa trả lời: "Để thầy xem hôm sau tôi còn đến mua cao nữa".

    Ra khỏi đầu làng Bái Sơn tôi sung sướng vô cùng. Cách dăm hôm tôi lại đưa mấy số báo mới và nói tôi cám ơn thầy để cao chữa bệnh nên mẹ tôi đã bớt. Vẫn với cử chỉ cung kính cũ vị trí ngồi cũ cũng chẳng được thầy bảo tôi uống nước hút thuốc. Ông Tú giở xem báo mới tôi vừa đưa và nói ngay một vấn đề thời sự đăng trong báo. Bắt ngay lấy chuyện tôi nói rộng hơn sâu thêm một số vấn đề. Câu chuyện tỏ ra mặn mà nhưng tôi không muốn kéo dài vì còn e dè nhiều chuyện. Tôi xin phép ông ra về hứa hôm sau đem cho thầy báo mới. Trước chỉ có mình ông Tú sau có cả ông Cử rồi đến những người trai trẻ như anh Quynh anh Xiển... cũng quan tâm trao đổi những vấn đề thời sự như Pháp xâm lược bóc lột đàn áp người Việt Nam Chính phủ Nam triều bất lực sưu cao thuế nặng dân nhiều nơi chết đói nhân sỹ trí thức bất bình phẫn nộ. Tình hình Liên Xô rồi mặt trận Bình dân... Nhiều vấn đề các vị chưa hiểu chờ tôi để hỏi. Dần dần tình cảm của các vị với tôi ngày một tốt hơn. Có một lần trời sắp tối lại mưa giông tôi đang gánh một gánh củi nặng tình cờ gặp ông Tú. Tuy vừa mệt vừa đói tôi vẫn đội nón mặc áo tơi đem báo đến cho ông. Ông Tú phải khen: "Anh chịu khó và rất trọng lời hứa".

    Từ đấy không những ông Tú mà mọi người trong gia đình đều yêu mến tôi. Riêng anh Quynh thì càng thân thiết kể cả sau này anh làm chánh tổng. Có lần anh vào phủ có ghé qua nhà tôi chơi. không quản nhà tranh giường tre chật hẹp anh vui vẻ uống với tôi bát nước chè trong cái ấm sứt vòi cũ kỹ.

Còn lần tôi đưa cho anh bài thơ Tre già tre non viết năm 1934 ký tên là Đuốc:

Tre già làm cọc bờ ao

Tre non làm lạt buộc vào cọc tre

Tre già thấy sự khó nghe

Mắng rằng lần lữa mày đè tao ư?

Con nhà vô phúc thế ru!

Đẻ ra chi lắm trẻ hư rõ sầu

Tre non nghe nói lắc đầu

Sụt sùi kể lể mấy câu tỏ bày

Thưa cha sự trói cha đây

Thực tình chẳng phải tự tay con nào

Chẳng qua người biết... có dao

Chẻ con làm lạt buộc vào cổ cha...

Người thương... ta lại gần ta

Để ta gìn giữ cửa nhà nước non...

    Anh Quynh đọc xong nhìn tôi mỉm cười như đã hiểu ý tôi đang kêu gọi đoàn kết các thế hệ già trẻ đoàn kết giai cấp để chống đế quốc. Rồi anh gật đầu tỏ vẻ thán phục và nhét bài thơ vào túi áo. Mấy ngày sau anh vui vẻ đưa cho tôi một mảnh giấy có câu thơ chữ viết nắn nót trang trọng:

Cho tôi làm lạt làm tre

Chung tay ta trói đánh què thằng Tây

    Bài thơ của tôi và hai câu lục bát "Cho tôi làm lạt làm tre" của anh đã thành thông điệp kỳ lạ như xóa đi tất cả sự khác biệt giữa tôi và anh về cuộc sống về địa vị giai cấp và tư tưởng hy vọng... Tôi bất ngờ sung sướng muốn ứa trào nước mắt. Bàn tay đen đủi và thô ráp của tôi liền nắm chặt bàn tay trắng bụ thon dài rất đẹp của anh. Anh thì thầm giọng rất ấm và trong: "Sau chuyến đi mang mía Đường Chèo và ốc lồi mắm tép xứ Hà Trung vào kinh thành Huế tiến vua... tôi mới hiểu những người cộng sản bí mật... Nước thì mất dân thì nô lệ lầm than vì thằng Tây cai trị thế mà vua quan cứ vui thú tọa hưởng những của ngon vật lạ thì... Tôi nói to tiếp lời anh: "Thì chúng ta không thể cam chịu được nữa phải không anh Quynh"

    Từ đấy anh đến gặp tôi luôn. "Anh Đuốc! Anh đi với tôi được chứ!" Tôi được anh đưa đi khá nhiều nơi tới nhiều gia đình ở các làng trong ba xã (Hà Tiến Hà Tân Hà Bình) của tổng Nam Bạn. Với anh dáng người cao to vầng trán rộng càng làm đẹp khuôn mặt thông minh điềm tĩnh của anh. Tôi có vinh dự là bạn của vị chánh tổng trẻ có uy tín trong vùng. Ngay ở Đô Mỹ làng tôi nhiều người thì thào với nhau "Thằng Huệ được lòng Cai tổng". Họ đã nhìn tôi vị nể dè dặt không còn xoi mói coi thường như trước.

    Việc đầu tiên tôi bàn với anh là viết lại hương ước các làng trong tổng theo tinh thần tiến bộ đoàn kết rồi căn cứ vào đó và khéo léo vận động nhân dân đấu tranh chống lại các hủ tục phong kiến thực dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hương ước các làng được viết lại bằng cách "đem hương ước cũ tham chiếu với các điều lệ mới gạt bỏ những phiền nhiễu đi đến chỗ giản tiện mà hợp thời ngõ hầu không bỏ sót những ý trung hậu của cổ nhân để mở ra cho hậu thế phương pháp tiến hóa" (Hương ước làng Bái Sơn - Địa chí huyện Hà Trung). Tôi với anh Quynh dành một buổi bàn bạc nhấn mạnh các tiêu chí đoàn kết tương ái đùm bọc khuyến thiện khuyến tài khuyến học đảm bảo giao thông môi trường trật tự trị an có thưởng phạt công minh. Phác thảo ban đầu dựa vào hương ước trước của làng Bái Sơn do ông Cai Phong vừa là thầy dạy học vừa là chú ruột rất kính trọng của anh Quynh soạn từng được dư luận dân thôn thán phục. Nay lại được ông Cử ông Tú góp ý cho anh Tạ Trọng Vỹ lý trưởng làng biên chép ký tên năm 1938. Hương ước này có 9 chương 43 điều chặt chẽ tỉ mỉ thể hiện sự tiến bộ văn minh. Có thể nói bây giờ viết hương ước các làng văn hóa vẫn có thể kế thừa nhiều điểm của Hương ước làng Bái Sơn ngày ấy.

    Vấn đề soạn lại hương ước các làng tôi cũng mang triển khai ở Thạch Thành và được anh Tôn Viết Nghiệm (1) hết sức ủng hộ. Trong hồi ký anh Tôn Viết Nghiệm viết: "Riêng viết điều lệ cải lương hương thôn (tức là viết lại hương ước) ôi sao mà khó quá! Không phải khó vì tôi không biết chữ mà vì tôi không biết đặt vấn đề không biết tục lệ cũ những gì nên để những gì nên bỏ thành thử không biết lối nào mà lần. Gặp việc tôi mới nhận ra rằng cái vốn chữ nghĩa học 6 năm ở nhà trường chả có gì đáng kể . Nếu không tham gia hoạt động xã hội không am hiểu tình hình nông thôn như anh Huệ thì cái vốn ấy cũng chả làm được tích sự gì. Anh Huệ cười giao lại cho anh Bùi Oanh viết. Anh Huệ chỉ hướng dẫn cái sườn.

    Điều lệ thảo xong đưa ra Mặt trận thảo luận bổ sung rồi đưa ra hội đồng ngũ hương hội đồng tộc biểu cả người cũ lẫn người mới để thông qua rồi công bố toàn thôn. Bố tôi lúc này làm đại hào mục đã được vận động trước nên lên tiếng ủng hộ đầu tiên làm đà. Ông thuyết phục anh rể là cựu chánh tổng Bùi Văn Lếu bố anh Bùi Oanh lý trưởng. Vì ông Lếu chống đối thì đám lý hương mới cũ sẽ hùa theo. Khi anh Bùi Oanh đọc xong điều lệ mọi người "nhiệt liệt tán thành". Nói là nói bề ngoài chứ những tay hào lý xôi thịt tọa hưởng lâu nay bỗng bị bãi bỏ thì tức đến cổ. Có điều họ nhìn nhau không thấy ai lên tiếng biết mình là thiểu số lại biết là chủ trương của cách mạng nên ngậm bồ hòn làm ngọt để cho nước chảy bè trôi. Số người này ở hội nghị bấm bụng chịu nín nhịn nhưng về nhà nói nhỏ với nhau những câu hậm hực chua cay. Tin vui lan truyền nhiều làng trong tổng Trạc Nhật cũng làm theo" (NXB Thanh Hóa - 1998)

    Mỗi khi có chủ trương chính sách của Đảng tôi đều trao đổi với anh Quynh và các thầy Cử thầy Tú để tuyên truyền vận động nhân dân trong phủ. Vì vậy mà phong trào cách mạng ở Hà Trung từ thua kém các huyện khác nhanh chóng chuyển biến rầm rộ góp phần quan trọng thúc đẩy cao trào cách mạng trong tỉnh. Các chủ trương như: Quyên bánh để ủng hộ chính trị phạm vận động bầu cử dân biểu lạc quyên ủng hộ báo Đảng ủng hộ Trung Hoa kháng Nhật... đều thành công tốt đẹp. Nhờ uy tín sâu rộng của gia đình anh Quynh việc vận động lấy chữ ký đòi giảm sưu giảm thuế đòi thả chính trị phạm mở rộng dân chủ cải thiện dân sinh đã thu được kết quả đáng kể. Hàng trăm chữ ký đặc biệt có cả chữ ký và đóng dấu của nhiều chánh phó tổng lý trưởng hương chức vào Bản dân nguyện gửi chính phủ Pháp nhân dịp thanh tra nước Pháp là Gôđa được cử sang Việt Nam điều tra tình hình ở Đông Dương vào tháng 2 năm 1937 Thực ra khi đặt vấn đề tranh thủ họ Tạ tôi nhớ Tỉnh ủy có chủ trương vận động cho nhân sĩ tiến bộ ra ứng cử dân biểu Trung Kỳ. Riêng các ông Nguyễn Đan Quế và ông Lương Tư Hiếu được bọn Tống Khắc Hán và Hội Thành ủng hộ ra tranh cử. Chúng có thể lấy tiền mua chuộc cử tri ai bỏ chúng sẽ biếu tiền hoặc quà cáp. Đảng ta chủ trương lấy tinh thần giác ngộ cử tri chứ không lấy tiền tài mua chuộc. Chúng tôi vận động cử tri không nhận tiền của bọn Thành Hán mà bỏ phiếu cho ứng cử viên của Đảng. Khi công bố kễt quả bỏ phiếu ta đại thắng. Chao ôi chúng tôi không mừng không kể xiết. (*)

                                                              Phạm Văn Sĩ ghi

(*) Một thời nhớ mãi của ông Nguyễn Văn Huệ - NXB Thanh Hóa - 2007.

ông Nguyễn Văn Huệ là Chủ tịch ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa từ tháng 1 năm 1946 đến tháng 5 năm 1946

(1) Ông Tôn Viết Nghiệm sau hòa bình lập lại từng làm Phó Chủ tịch UBHC tỉnh Thanh Hóa

Gác chuông chùa Trần địa điểm thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở Hà Trung
(Tranh của Sỹ Tốt)


Tự hào và trăn trở

                              GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn

     Quê tôi làng Thanh Xá xã Hà Lĩnh xưa kia các loại thú rừng như cọp beo nai hoẵng công v.v... không thiếu vì rừng còn đến tận cổng làng. Đường đi lại thật khó khăn kể cả đường ra huyện lỵ hoặc đường sang các xã khác.

Cánh đồng trồng lúa là đồng chiêm trũng bao bọc xung quanh là núi cho nên chỉ cần trời mưa kéo dài vài giờ đồng hồ là đã ngập lụt. Có năm lúa chín vàng nhưng chưa kịp gặt thế rồi chỉ một trận mưa đêm sáng mai sắc vàng đã bị nước lụt trắng xóa thay thế. Vài tháng sau đó cái đói chẳng chừa một ai. Chính lúc cùng quẫn vì mùa màng thất bát đó rừng đã nuôi sống cho người nhờ củi khô nhờ các loại quả các loại hạt các loại củ hoặc các loại thịt thú rừng. Cuộc sống bấy giờ thật là cơ cực!

    Tôi đã lớn lên trên mảnh đất nhiều gian truân cơ cực nhưng rất nặng tình ấy.

    Đi học rồi ra công tác tôi được đi qua nhiều vùng của tổ quốc để khảo sát nghiên cứu dạy học; dự các hội thảo khoa học góp phần xây dựng chiến lược và kế hoạch tìm cách đưa đất nước phát triển nhanh hơn.

Mỗi năm đôi lần trở về quê lần nào trong lòng tôi cũng có nhiều cái để vui để tự hào. Đồng ruộng đã có đập chứa và điều hòa nước quanh năm không còn sợ thiếu nước. Nhiều nhà có giếng xây không còn cảnh những năm hạn hán cả làng chung một cái giếng thơi mọi người phải chờ chực đến lượt mình múc từng gáo nước. Đường làng đã bê tông hóa; quốc lộ đi qua làng đã rải nhựa nối liền với các xã các huyện trong vùng. Nhà ngói nhà tầng đã thay thế gần hết nhà tranh. Trường xã đã có đến lớp 9 học sinh học trong nhà tầng khang trang thay cho nhà tranh vách đất thời chiến tranh hay học nhờ ở Văn chỉ thời tôi còn học lớp Tư. Mọi nhà đã có điện thắp sáng. Trạm xá xã hai tầng đã khánh thành; cạnh đó là cột ăng en cao vút tiếp sóng viễn thông đến từng ngõ ngách. Nhiều gia đình đã mắc điện thoại cố định riêng; máy truyền hình màu không hiếm. Lác đác đã có cơ sở công nghiệp mọc lên. Bộ mặt xóm làng thay đổi nhiều. Thật phấn khởi thật tự hào vì quê tôi đang thay da đổi thịt!

Song điều trăn trở và day dứt vẫn như chưa thể nào thoát khỏi tôi mỗi khi làm phép so sánh về tiềm năng quê tôi với những gì hiện đang có.

    Rừng vẫn chưa được khôi phục. Đồi trọc còn nhiều. Muông thú chim chóc vẫn còn vắng bóng. Dân số có chiều hướng tăng nhanh hơn nhưng độc canh cây lúa vẫn là chính. Ngành nghề phụ chăn nuôi chậm phát triển. Hướng đi cho nông thôn vẫn chưa thật rõ ràng. Nhiều thanh niên thanh nữ cường tráng thì tìm cách đi Nam đi đến các khu công nghiệp hoặc lên Tây nguyên kiếm việc làm để lại người già trẻ nhỏ không người chăm sóc dạy dỗ. Chưa có nhiều học trò giỏi. Những vấn đề xã hội chắc chắn khó tránh khỏi trong tương lai gần.

    Làng xã trường học vẫn chưa có hệ thống thư viện; chưa có các hình thức sinh hoạt văn hóa thể thao thu hút thanh thiếu niên mới lớn nhằm tránh các tệ nạn xã hội đang len lỏi vào. Các trường học vẫn chưa làm được chức năng hạt nhân phổ biến và nâng cao kiến thức các mặt cho người dân. Các phong trào nhìn chung có sinh nhưng chưa có dưỡng đang nặng về hình thức do vậy hiệu quả không cao.

    Nhìn xa hơn cả huyện có rất nhiều đổi thay nhiều thành công và thành tựu rất đáng tự hào. Sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền là cơ sở quan trọng của những thành công và thành tựu đáng mừng đó. Song trên con đường công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn để thay đổi căn bản diện mạo các làng các xã và cả huyện nhà theo hướng hiện đại chúng ta còn cần vừa nhìn xa vừa cụ thể và vừa thiết thực. Đặc biệt lãnh đạo cần có sự năng động hơn nhanh nhạy hơn táo bạo hơn trên cơ sở khoa học để khai thác có hiệu quả những tiềm năng còn chưa được khai thác trong thiên nhiên trong dân trong con em quê hương đang sinh sống và hoạt động rải rác trên các miền của tổ quốc.

    Chúng ta đang còn lãng phí đất đai tài nguyên tiềm năng du lịch và nhất là chưa khai thác được trí tuệ chất xám của cộng đồng trước hết là của đội ngũ hiền tài vốn là "nguyên khí của quốc gia". Đôi khi một lời khuyên một sự gợi ý một phác thảo một nhận xét thậm chí một sự khuyên can có ích không kém gì và có khi còn đáng giá hơn tiền bạc dù tiền bạc cũng hết sức cần và rất đáng quý.

    Nỗi trăn trở lớn chính là làm sao quy tụ được nhân tâm để mọi người cùng nhìn về một hướng cùng hành động thiết thực vì sự phát triển và sự phồn vinh của quê hương vốn có truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng lâu đời là nơi có hàng ngàn con em đã anh dũng hy sinh vì độc lập và tự do của dân tộc vì sự phồn vinh của đất nước của quê hương. Nối tiếp và làm vẻ vang truyền thống đó là trách nhiệm của thế hệ hôm nay và của con cháu mai sau.

                                                                    N.T.C (*)

(*) Giáo sư - tiến sỹ Nguyễn Trọng Chuẩn nguyên Viện trưởng Viện Triết học Viện KHXH Việt Nam nguyên ủy viên Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước nguyên Chủ tịch Hội đồng Giáo sư liên ngành Triết học - Xã hội học - Chính trị học.

Chiều sông Lèn

More...

Bút ký

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Lâm Bằng

Vùng đất địa đầu miền Trung

Bút ký

                                                I

    Dạo tháng bảy huyện Hà Trung tổ chức phát động cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về vùng đất Hà Trung nhân kỷ niệm 62 năm ngày thành lập Đảng bộ và 10 năm huyện được phong tặng danh hiệu anh hùng. Hôm đó anh em văn nghệ sỹ xứ Thanh từ thành phố chim Hạc ra khá đông: nhạc sỹ Đồng Tâm (Chủ tịch Hội) họa sỹ Lê Xuân Quảng nhạc sỹ Xuân Liên nhạc sỹ Mai Kiên nhà văn Nguyễn Văn Đệ nhà thơ Lã Hoan nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Đàm... Sau lễ phát động ở hội trường buổi chiều lãnh đạo huyện đã tổ chức cho các văn nghệ sỹ tham quan một số danh lam thắng cảnh của Hà Trung. Các anh Nguyễn Văn Hoàng Trưởng ban Tuyên giáo Lê Như Cương Chánh Văn phòng Huyện ủy trở thành hướng dẫn viên du lịch của đoàn. Anh em văn nghệ sỹ chúng tôi đã được các anh đưa đến vùng di tích danh thắng Hàn Sơn vào đúng dịp lễ hội đền Hàn tháng sáu âm lịch. Chà vào cữ chính hội có khác đông ơi là đông. Cả một quần thể đền Hàn đền Cô Bơ đền Cây Thị... nơi nào cũng đông nghịt người. Khách thập phương trẩy về có cả từ Hải Phòng Hà Nội Bắc Giang Lào Cai thành phố Hồ Chí Minh... trong nam ngoài bắc có cả. anh em văn nghệ sỹ có dịp chen chân trẩy hội xem hát văn xem lên đồng hầu bóng... thật là vui như hội. Lúc xe về qua đền Cây Thị nghe anh Hoàng giới thiệu họa sỹ Lê Xuân Quảng hỏi "Vì sao lại có tên là đền Cây Thị". Câu hỏi đã khơi dẫn đến một sự tích thú vị.

      Thuở ấy vào thời Bà Triệu khởi nghĩa đánh đuổi giặc Ngô quân dân hai huyện Hà Trung Hậu Lộc đầu quân ứng nghĩa khá đông. ở vùng bờ bắc sông Lèn (nay thuộc Hà Ngọc) có cô gái rất thích quả thị. Cô có người yêu trong đội nghĩa binh của Bà Triệu. Chờ người yêu đi đánh giặc xa nhà cô gái mỏi mòn và khi chết biến thành cây thị. Cây thị này chỉ có một quả nhưng không ai hái được vì cứ hễ ai giơ tay hái thì cành thị lại vút lên cao. Cành cây ấy luôn luôn ngả về hướng người yêu đang ở trong quân ngũ của Bà Triệu. Ngày chiến thắng chàng được phép về thăm làng xóm thì cành cây mới chịu xà xuống và quả thị rơi vào ống tay áo của chàng. Người đời cảm tấm lòng chung chinh của cô gái đã lập đền thờ dưới chân núi. Ngọn núi ấy được người đời gọi là núi Chung Chinh. Ngôi đền dưới chân núi Chung Chinh ấy từ bấy đến nay lúc nào cũng tấp nập du khách hương khói quanh năm.

     Tôi đã từng đề cập ở một bài viết trước rằng giá mà nơi đây quy hoạch thành khu du lịch sinh thái - văn hóa - tâm linh với những đầu tư cần thiết thì sự hấp dẫn du khách thu hút du khách còn lớn hơn nhiều. Và cũng là có thêm một địa chỉ để mọi người thả hồn tìm cảm hứng sáng tạo cũng như thư giãn sau những ngày lao động căng thẳng nơi công trường nhiệm sở.

     Từ núi Chung Chinh nhìn về phía bắc trong tầm mắt gần là khu di tích Ly Cung hay còn gọi là cung Bảo Thanh cung Kim Âu nhà Trần. Nơi khi xưa vào cuối thế kỷ 14 đất nước suy vong nhà Trần khủng hoảng đổ nát. Hồ Quý Ly - một nhà cải cách táo bạo - đã đứng lên thay đổi triều đại lập nên một vương triều mới - Triều Hồ. Để thực hiện ý đồ Hồ Quý Ly đã cho dời đô từ Thăng Long về Thanh Hóa nhằm hạn chế lòng ngưỡng vọng của nhân dân đối với nhà Trần. Và cùng với việc xây dựng thành Tây Đô (kinh đô mới ở Thanh Hóa) Hồ Quý Ly đã cho xây dựng Ly Cung ngay trên quê hương ông (hương Đại Lại nay là xã Hà Đông) làm nơi tu đạo cho phế đế Trần Thuận tông đồng thời cũng là để Phế đế cách biệt với tầng lớp sỹ phu tướng sỹ cựu thần nhà Trần triệt tiêu được mưu đồ khôi phục nhà Trần của họ. Theo sử sách và theo hiện vật còn sót lại cho thấy Ly Cung cũng là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Nhưng qua bao thăng trầm của lịch sử giờ đây chỉ còn sót lại ít dấu tích mang đậm nét văn hóa Lý - Trần.

     Chúng tôi đến vùng đất Gia Miêu quý hương. Gia Miêu ngoại trang là đất tổ của Nguyễn Kim người đã có công trung hưng nhà Lê ở thế kỷ 16. Năm 1804 hai năm sau khi lên ngôi vua Gia Long đã ban tặng cho làng quê của mình là Quý Hương và huyện Tống Sơn cũng được ban là Quý Huyện. Vừa rồi dòng họ Nguyễn (Hoàng tộc) ở trong Huế đã trở về quê tổ tôn tạo lại lăng Trường Nguyên (lăng mộ Nguyễn Kim) và tổ chức tế đức Triệu tổ rất long trọng. Hòa mình trong không khí linh thiêng của núi đồi Thiên Tôn chúng tôi mỗi người một nén nhang kính cẩn dâng lên ngưỡng vọng danh nhân mà hậu duệ của ngài là những người đã có công lớn trong việc khai phá vùng đất phương nam mở mang bờ cõi để nước Nam ta có được toàn đồ hùng vĩ như hôm nay. Cùng với lăng Trường Nguyên khu lăng miếu Triệu Tường hay còn gọi là thành Triệu Tường là quần thể lăng tẩm thờ tự của các vua chúa nhà Nguyễn. Thành Triệu Tường nay chỉ là phế tích những đoạn hồ thành trở thành ao thả rau muống từ bao giờ.

     Chiều Gia Miêu một chiều bình yên đến nao lòng đây đó khói bếp lêu nghêu vờn mái rạ từng đàn trâu ung dung gặm cỏ lũ trẻ mục đồng tung tăng bắt châu chấu bên vạt ruộng la hét ầm ỹ. Vùng quê yên ả này là nơi phát tích của một vương triều vương triều cuối cùng của lịch sử phong kiến Việt Nam vương triều đã để lại rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu.

Tôi chạnh lòng nhìn những thửa ruộng mới gặt xong còn trơ gốc rạ những vạt đất lật ải hoai hoai xam xám... nơi một thời là đền đài cung điện nguy nga tráng lệ. Thuở nhỏ tôi vẫn thường nghe thày tôi kể trên Bái Đền có thành Triệu Tường của nhà vua. Thành đẹp lắm trong có đền đài cung điện nguy nga. Thời còn vua cửa chính của thành đóng im ỉm có lính canh cẩn mật chỉ mỗi khi vua từ trong Huế ra thì mới mở. Hàng năm có quan đầu tỉnh về tế lễ trống phách rước xách linh đình. Cách mạng thành công không còn lính gác cẩn mật nữa tế lễ cũng không đền đài dần hoang phế ai ra vào cũng được. Lúc bấy giờ tôi còn nhỏ không được theo người lớn đi xa chỉ mong nhanh lớn để được lên Bái Đền xem thành nhà vua. Nhưng rồi khi vừa đến tuổi trưởng thành tôi đã vào lính rồi biệt biệt xa quê. Mãi sau này có dịp về Gia Miêu thì chỉ còn thấy những ao rau muống những vạt đồng mùa. Thành đã nên ruộng mất rồi. Thực ra thành đã bị phá dần dần từ sau ngày khởi nghĩa và khi tôi lớn lên thì đã thành phế tích rồi.

     Tôi nói với anh Lê Như Cương: Đóng góp cho lịch sử của mỗi triều đại của mỗi nhân vật có khác nhau nhưng những di sản văn hóa di sản kiến trúc của các thời đại đó thì hoàn toàn bình đẳng. Ta đã tôn tạo được một Lam Kinh thì cũng có thể tôn tạo được một Cung Bảo Thanh một thành Triệu Tường chứ sao. Bởi trước hết đó là những di sản văn hóa của dân tộc và chủ nhân không ai khác chính là nhân dân.

      Lúc sáng khi họp ở hội trường anh Tạ Xuân Ký Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy thông báo sắp tới một hội thảo về Nhà Nguyễn và các chúa Nguyễn sẽ được tổ chức với quy mô quốc gia có lẽ dịp này diện mạo và vai trò nhà Nguyễn trong lịch sử sẽ được nhìn nhận chân xác hơn đầy đủ hơn và công bằng hơn. Viết đến đây tôi lại nhớ tới lời của giáo sư Phan Huy Lê thuật lại những băn khoăn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi ông còn tại thế: "Nói đến lịch sử Việt Nam và nhất là Nam bộ anh (tức cụ Võ Văn Kiệt) rất băn khoăn thậm chí bất bình với cách đánh giá trước đây về các chúa Nguyễn. Anh tâm sự nhiều lúc suy ngẫm nếu không có công lao mở cõi của các chúa Nguyễn thì làm sao chúng ta có được vùng đất Nam bộ như hiện nay...". Và đây là những day dứt của nhà thơ Nguyễn Duy trong bài Quê nhà yêu dấu ông viết trong dịp về thăm phế tích lăng miếu Triệu Tường: "Nhà Nguyễn đã có công lao rất lớn đối với nước Việt Nam đó là một sự thật hiển nhiên vậy mà không hiểu tại sao và từ lúc nào lại bị bóp méo đến biến dạng bị sai lệch đi trong cái nhìn chính thống bị hạ thấp một cách oan ức về thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa bị ruồng bỏ nhiều bài vị tôn kính bị xóa tên đường phố nhiều vua chúa kiệt xuất? Tại sao?".

     Hy vọng rằng với hội thảo sắp tới những đóng góp cho lịch sử dân tộc của Nhà Nguyễn và các chúa Nguyễn sẽ được đánh giá công bằng hơn khách quan hơn và quần thể di tích lăng miếu Triệu Tường cũng được hưởng bầu không khí cởi mở trong cách nhìn mới mẻ hơn.

                                                    *

     Hồi còn đi học chúng tôi thường được thầy giáo trường huyện giảng hết sức tự hào rằng quê ta là vùng đất cổ. Nhưng cổ như thế nào thì thầy cũng giải thích rất sơ sài và chúng tôi cũng chỉ hiểu lơ mơ láng máng. Một hôm chúng tôi nghe kháo nhau rằng trên Trạch Lâm người ta đào được mộ cổ. Chúng tôi liền bỏ học rủ nhau đi xem. Lên đến nơi thì người xem đứng vòng trong vòng ngoài rất đông công an huyện phải dùng loa tay giữ trật tự. Sau chúng tôi được biết đấy là mộ một bà quận chúa (hình như bà Ngọc Bảo con cụ Nguyễn Kim). Cũng dạo ấy mạn trên Hà Long Hà Giang người làm đồi đào được khá nhiều bình gốm tiền đồng cổ Ngũ Thù.

    Hà Trung là huyện được hình thành từ rất sớm là một trong những cái nôi của cư dân Việt. Năm 1979 Viện khảo cổ học đã cho khai quật di chỉ cồn Cổ Ngựa nằm ở cánh đồng Bọc xã Hà Lĩnh. ở tầng văn hóa 1 mét các nhà khảo cổ học đã thu được hơn 5000 hiện vật thời đại đá mới thuộc nền văn hóa Đa Bút. Các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy ở Hang Chùa xã Hà Tiến những di vật của người tiền sử thời đại đá mới cách ta hơn 6000 năm trước. Các công cụ bằng đá của người nguyên thủy ở đây như rìu đá đục đá dao đá... là lời của tiền nhân truyền lại hậu thế rằng từ thuở bình minh của lịch sử loài người đã chọn nơi này cư trú và phát triển nghề trồng lúa nước. Rồi những năm sau này các nhà khảo cổ học lại cũng đã tìm thấy ở Gò Mun Rú Phạm Rú Chè (Hà Giang) Mỹ Quan (Hà Vinh) hồ Bến Quân (Hà Long) những dao găm đồng lưỡi rìu xéo thạp đồng âu đồng vòng bằng đồng... Những di vật đó đã khẳng định ở vùng đất này có một chuỗi lịch sử liên tiếp từ thời đại đồ đá qua đồng thau đến sắt mới trên chặng đường hàng thiên niên kỷ trước công nguyên.





Lăng Trường Nguyên thờ Nguyễn Kim tại Gia Miêu (Hà Long Hà Trung Thanh Hóa) mới được tôn tạo 2007

                                                 II

     Hà Trung thuộc vùng bán sơn địa và đồng chiêm trũng. Xen giữa đồi núi nhấp nhô là những vùng đồng trũng chiêm khê mùa thối. Năm hai mùa mùa nào người dân xứ Hà quê tôi cũng vất vả. Tháng năm tháng sáu nắng nỏ như nung ruộng nương khô nẻ ngửa mặt nhìn trời cầu mưa xuống để lấy nước cày bừa. Bầu trời cao xanh vòi vọi không có lấy một giọt mây lấy đâu ra nước. Người dân còng lưng đập đất ruộng khô mồ hôi rơi lèo xèo trên đất. ấy thế mà tháng tám tháng chín bông lúa vừa uốn câu chỉ cần ùng ùng vài ba tiếng sấm lưng trời mưa ở đâu bỗng ào ào đổ tới mưa xối xả như tháo cống chỉ cần một đêm cả cánh đồng đã là một biển nước. Nước mênh mông nước oàm oạp nhấn chìm hàng trăm mẫu ruộng lúa đã chín vàng rực. oái oăm cho đồng đất xứ Hà quê tôi vậy đấy. Hẳn sẽ có người hỏi hệ thống nông giang thủy lợi đâu?

     Nông giang ư thủy lợi ư ? Những thuật ngữ nghe vừa quen lại vừa lạ. Xin mời anh đến với xứ Hà anh sẽ hay. Có lẽ hiếm nơi nào người nông dân lại nhiều lam lũ nhiều lăn lộn với việc đê điều kênh mương như ở Hà Trung nhưng cũng có lẽ hiếm nơi nào kênh mương đê điều lại phụ bạc người nông dân như ở xứ Hà. Năm nào cũng đào mương đắp phai năm nào cũng kè đê khơi sông nhưng rồi năm nào cũng nơm nớp nhìn trời nhìn mây đoán nước... Một trận mưa rào cũng cồn cào gan ruột. Mưa xối ngoài sân trong nhà các cụ thở dài sườn sượt. Một tiếng kẻng vang lên cả làng vác mai vác xẻng lên đê. Một lỗ thủng mối xông chân cống cả làng thức trắng đêm. Thế đấy cái tình non "nước" của người dân quê tôi vậy đấy.

     Đồng ruộng Hà Trung bị đồi núi bao bọc ruộng như lòng chảo. Mọi con sông mọi nguồn nước đều bị núi non chặn đứng cả đường ra lẫn lối vào. Khi nước ngập cần phải tiêu úng thì nước ở các con sông đều cao hơn thì tiêu đi đâu được còn phải tôn cao đê cho nước sông khỏi tràn vào nữa là... Đã có rất nhiều đề xuất đã có rất nhiều nghĩ suy chung quanh việc thoát lũ cho vùng trũng. Những cái đầu lo toan những tấm lòng trăn trở... Hệ thống kênh mương được tu bổ thủy nông được coi trọng được đầu tư nhưng nghe chừng... khó mà thoát khỏi sự chi phối của thiên nhiên. Rồi mô hình cá - lúa ra đời. Mô hình lúa - cá là mô hình đắc địa hình như nó ra đời chỉ để giành cho Hà Trung. Hay nói theo kiểu "triết học" một chút nó là hệ quả tất yếu của quá trình vận động thoát nghèo của vùng đồng trũng xứ Hà. Bởi vậy tính đến tháng 7 năm hai lẻ tám diện tích nuôi trồng thủy sản của toàn huyện đã đạt tới gần 1.070 héc ta. Sản lượng thủy sản đạt 1.532 6 tấn. ở Hà Trung có một diện tích rất lớn đồng đất chỉ cấy được một vụ còn một vụ nếu không nuôi trồng thủy sản thì chỉ còn cách bỏ hoang. Bởi vậy áp dụng mô hình lúa - cá là một hướng đi đúng.

     Trong chiến lược phát triển kinh tế của mình Hà Trung khẳng định: Phát huy nội lực tranh thủ ngoại lực để đầu tư phát triển tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững. Hội nghị giữa nhiệm kỳ (tháng 9-2008) đã ghi nhận kết quả: tốc độ tăng trưởng kinh tế 12 7%; thu nhập bình quân 9 5 triệu đồng/người; và khẳng định tiếp tục phấn đấu đạt chỉ tiêu tổng sản lượng lương thực 70 ngàn tấn; vốn đầu tư phát triển 307 tỷ đồng; giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 5 triệu đô la... Đồng thời đề ra những giải pháp chủ yếu như: Đẩy mạnh phát triển nông - lâm - thủy sản theo hướng bền vững; Phát triển mạnh công nghiệp tiểu thủ công nghiệp gắn với nâng cao chất lượng hiệu quả kinh tế; nâng cao chất lượng hiệu quả các loại hình dịch vụ.v.v...

                                                     *

     Năm Mậu Tý này Đảng bộ Hà Trung kỷ niệm 62 năm ngày thành lập đó là cái mốc mà Tỉnh ủy Thanh Hóa ra quyết định thành lập Huyện ủy lâm thời huyện Hà Trung (10-4-1946); lúc bấy giờ toàn huyện có 2 chi bộ với 10 đảng viên. Còn lịch sử xây dựng Đảng ở Hà Trung thì phải tính thâm niên cùng với tuổi của Đảng: 78 năm vẻ vang.

     Cứ theo sử sách ngày 29-7-1930 Tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa được thành lập thì tháng 10 năm đó đại diện cấp trên đã về Hà Trung triệu tập một số thanh niên ưu tú để thành lập chi bộ cộng sản (đại diện cấp trên từ thành phố Vinh ra. Lúc bấy giờ do hoàn cảnh bí mật phong trào Hà Trung chưa nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa). Hội nghị được tổ chức tại Gác chuông chùa Trần tổng Ngọ Xá (nay là Hà Ngọc) đại diện cấp trên đã tuyên bố kết nạp các ông Nguyễn Xuân Phương Nguyễn Văn Huệ Mai Tự Cường Đào Xuân Tỵ Đào Văn Nghinh vào Đảng. Ông Nguyễn Xuân Phương được chỉ định làm Bí thư chi bộ. Đó là những đảng viên đầu tiên những hạt giống đầu tiên của phong trào cách mạng ở huyện Hà Trung. Ông Nguyễn Xuân Phương người làng Bình Lâm chính là anh trai nhà văn Nguyễn Thế Phương (nhà văn Nguyễn Thế Phương tên thật là Nguyễn Xuân Phê). Còn ông Nguyễn Văn Huệ sau ngày cách mạng tháng Tám thành công là đại biểu Quốc hội khóa I và là Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh khóa đầu tiên (1946). Chi bộ Đảng Cộng sản ở Hà Trung là một trong số rất ít tổ chức đảng được thành lập trong năm 1930 của tỉnh Thanh. Đây là niềm tự hào của người dân huyện Hà.

Nhắc đến hai anh em ông Nguyễn Xuân Phương và Nguyễn Thế Phương tôi xin mở ngoặc một chút. Một lần tôi nói với anh Lê Xuân Giang (lúc anh còn là Chủ tịch Hội Văn nghệ) rằng có một việc anh nên làm đó là anh lấy tư cách đại diện cho văn nghệ sỹ đề nghị thành phố Thanh Hóa đặt tên Nguyễn Thế Phương cho một đường phố. ở Hà Nội đã có phố Tào Mạt ở Sơn Tây đã có phố Quang Dũng thì ở Thanh Hóa cũng có phố Nguyễn Thế Phương chứ sao. Vẫn ý tưởng ấy nhân đây tôi lại có một đề xuất thế này: Nên chăng huyện Hà Trung nên có một trường học mang tên Nguyễn Xuân Phương một đường phố ở thị trấn huyện mang tên Nguyễn Xuân Phương người đảng viên cộng sản đầu tiên và là Bí thư của chi bộ Đảng đầu tiên ở Hà Trung người chiến sỹ thuộc lớp tiền bối của Đảng. (Cũng như nên có trường học đường phố mang tên các danh nhân Nguyễn Kim Nguyễn Hoàng Nguyễn Hữu Hào Nguyễn Hữu Cảnh...)

     Dịp về Hà Ngọc tháng 9 năm 2002 tôi và anh Hoàng Trọng Cường đã được các anh lãnh đạo xã đưa đi thăm di tích Gác chuông chùa Trần. Chùa Trần làng Kim Liên có tên chữ là Ninh Phúc Tự ngôi chùa đẹp nổi tiếng tiếc là bị bom Mỹ phá hoại trong chiến tranh chỉ còn lại một phần tầng một gác chuông. Năm 2000 kỷ niệm 70 năm ngày thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Hà Trung huyện đã cho tôn tạo lại gác chuông. Hiện nay Gác chuông chùa Trần đã được tỉnh cấp bằng công nhận là di tích lịnh sử.

     Bảy mươi tám năm có tổ chức Đảng 62 năm có Đảng bộ một hành trình đầy chông gai thử thách đầy cam go và ác liệt và cũng đầy vẻ vang huy hoàng. Đội ngũ những người ưu tú ấy đã lãnh đạo quân và dân huyện Hà hòa nhịp bước cùng phong trào cách mạng cả nước lập nên những kỳ tích anh hùng để rồi cán bộ và nhân dân toàn huyện và 12 xã trong huyện được nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 70 cụ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 5 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và Anh hùng lao động là huyện thứ hai trong tỉnh đạt chuẩn quốc gia về y tế và dịp này lại được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì... Huyện có 25 xã thì mười hai xã được phong anh hùng mọi người nói vui một huyện rưỡi anh hùng.

     Với 56 tổ chức cơ sở đảng với 6.233 đảng viên Đảng bộ huyện địa đầu miền Trung nắng gió đơn vị nhiều năm liền đạt danh hiệu Trong sạch vững mạnh đang là người thủy thủ vững tay lái đưa con thuyền rẽ sóng vươn tới những mục tiêu cao cả: Nước mạnh dân giàu xã hội công bằng dân chủ văn minh...

                                                Hà Trung tháng 9 năm 2008

                                                                 L.B

More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Nguyễn Trường

Chuyện người cùng quê

                            Truyện ngắn

       Mỗi lần về quê Trung lại bước những bước lâng lâng từng tấc đất quê hương chứa đựng biết bao kỉ niệm và nỗi nhớ nhất là những ngày ở chiến trường anh chỉ ước ao được thấy lại quê hương và những người thân quen. Đi vào chỗ chỉ riêng bị sốt rét mà chết đơn vị Trung đã vơi đi quá nửa. được trở về lúc đó với Trung chỉ là tia hi vọng mong manh. Có lúc mắc võng ở một bên cánh rừng sau giờ nghỉ ngơi yên tĩnh nhìn sang trảng cỏ bên cạnh. Những vạt rừng xanh tươi gió đung đưa một đôi cánh chim trắng chấp chới trong ánh nắng chiều vàng rợi anh thấy sao giống những lùm cây vào buổi chiều nào đó của quê mình. Đi qua con sông nước cuồn cuộn chảy những chiếc xoáy khổng lồ sẵn sàng nhấn chìm bất cứ con thuyền nào trôi vào đấy Trung lại nhớ đến vực Chế ở quê mình chiếc vực cũng hùng vĩ không kém. Cánh đi bè qua đấy thường dừng lại cả tuần cuốn bè quẳng xôi gà xuống cúng Hà Bá rồi mới dám vượt qua.Và những cô gái của quê hương có đôi mắt trong như da trời mùa thu tiếng nói thanh thót êm dịu như tiếng suối tiếng đàn của núi rừng Tây Nguyên. Những ấn tượng đó đã đi vào trong tiềm thức của Trung.

     Vượt qua con dốc cao Trung dừng lại. Kia là cây đa đầu làng cay đa to đến nỗi đôị thiếu niên của xã từng hạ ba cái trại mới giáp vòng được gốc cây. Cành vươn lên cao vút. Chim chóc tha hồ làm tổ trên đó nó vượt qua tất cả tầm súng cao su của bọn trẻ. Phía đầu làng con sông Mã uốn khúc chạy quanh co ven các làng Yên Lược Yên Sở rồi đổ ra cửa Lạch Trường. Một đôi cánh buồm nâu điểm xuyết trên nền trắng bạc màu nước vẻ như con thuyền đang đứng yên trong bức tranh sơn thủy.

     Trung về đến đầu làng bờ sông có bãi cát vàng thoai thoải. Những buổi chiều sau khi cho trâu ăn cỏ no căng bọn trẻ con cùng lứa với Trung lại đánh trâu xuống tắm lũ trẻ cởi phăng quần áo chạy xuống nước té nhau ngụp lặn la hét vang cả một khúc sông làm cho mấy cô gái tắm ở bên Hàn cách đó một quãng trên đầu nguồn nước giật mình ngẩng đầu lên mắng yêu chúng một vài tiếng rồi rúc rích nhìn nhau cười. Mùi xà phòng thơm của các cô các chị bay ngao ngát khắp bến tắm thơm cả vào giấc mơ của Trung lúc cậu còn ở nhà và cả ở trong rừng Trường Sơn xa ngái.

      Bây giờ đang là mùa thu dòng sông Mã trong đến không biết là nước hay mây trời. Mùa thu mát lạnh nên bến sông không có người tắm Vắng đến nao nao. Trung rùng mình cái cảm giác ớn lạnh của trận sốt thập tử nhất sinh năm nào như ập về. Hồi ấy sau khi tắm thỏa thê Trung bỏ lũ trẻ lên mặc quần áo trước. Một cục bùn từ dưới bến bay vút lên trúng vào lưng cậu một tràng cười vang của lũ trẻ. Trung biết đó là trò đùa của thằng Tư cùng tuổi với Trung hắn to khỏe như một đô vật. Trung đành phải chạy xuống tắm lại. Vừa bước lên lại một nắm bùn nữa văng tung tóe khắp đầu cổ Trung. Cứ như thế chừng Tư tắm đã mới cho Trung lên bờ mặc quần áo. Bữa đó Trung về bị cảm lạnh sốt li bì cả tuần lễ.Nỗi sợ ấy còn ám ảnh anh cho đến ngày anh là đồng đội của Tư... Mới đó đã mấy chục năm. Bây giờ trở về quê hương chỉ còn một mình Trung. Trái tim anh chợt buồn tê tái.

                                                  *

     Lần nào về quê Trung cũng ghé thăm nhà bác Sáu cha của Tư. Nhà ông Sáu nằm ở đầu làng một căn nhà đơn sơ mái ngói cũ kỹ khoảng đất rêu xanh hình như rất ít người lại qua. Bao giờ cũng vậy bước chân đến ngõ là Trung kêu toáng lên.

- Bác Sáu ơi bác Sáu!

     Thường là bà Sáu ở trong bếp chạy ra bà lột tấm khăn trên đầu xuống lau đôi mắt kèm nhèm rồi cười rạng rỡ.

- Thằng Trung mới về hả vào uống nước đi cháu.

      Bà đưa anh vào nhà loay hoay pha trà và hỏi anh luôn miệng. Lúc anh vào bà vui nhưng đến lúc Trung ra về bà lại khóc.

Nhìn Trung bà càng nhớ đến Tư. Hai đứa cũng sinh một tháng cùng đi bộ đội một ngày. Trung trở về còn thằng Tư con bà thì...

Lần này Trung gọi mãi mới thấy bà Sáu bước ra. Trông thấy anh bà oà khóc:

- Cháu nói dối bác. Thằng Tư hi sinh rồi. Thế mà từ ấy đến nay không nói thật cho bác.

      Trung bàng hoàng. Làm sao có thể như thế được? Nhìn bà Sáu tóc bạc trắng đôi mắt kèm nhèm càng mờ hơn lòng anh trào lên nỗi xót thương. Bà Sáu càng khóc to hơn. Đôi vai gầy rung rung cái khăn trùm đầu lau không biết bao nhiêu nước mắt. Ông Sáu mất cách đây một năm. Trung về đúng lúc ông già đang ở những ngày tàn lụi cuối cùng. Trước khi nhắm mắt ông thều thào nói với anh: "Đi tìm thằng Tư về cho mẹ nó..." Trung oà khóc nắm chặt lấy bàn tay ông bàn tay trở nên lạnh giá. Bao nhiêu năm chờ con về chờ trong vô vọng. Hai ông bà chỉ còn chiếc phao cầu cứu là chút niềm hi vọng ở những tin tức nơi Trung. Song sự thật còn phũ phàng hơn cả sự dối trá. Anh không thể...

                                                  *

     Giải phóng được ba tháng đơn vị Trung bắt đầu giải quyết cho anh em chiến sĩ về phép thăm gia đình . Lẽ ra Tư đi cùng một đợt với Trung nhưng lại nhường đợt phép này cho người khác. Sau này Trung mới hiểu vì sao Tư lại làm như thế. Lúc trả phép Trung hồn nhiên kể về quê hương cho Tư nghe. Ngày trở về bà con đến thăm Trung thường hỏi vô miền Nam có mang được cái gì về không. Ô hay Trung đi đánh giặc thắng giặc trở về là vinh dự rồi còn mang cái gì về nữa. Đến người thứ năm hỏi anh như thế Trung nổi cáu "Tôi mang chiến công về". Người ta cười ồ. Thằng Kiện đi bộ đội sau Trung mang chiếc Honda về chạy mù khói khắp làng dân làng cho như thế là oai lắm. Nhưng Trung không buồn anh càng thấy thương người nông dân quê anh. Cũng tại người ta khổ quá. Suốt ngày ngoài đồng tối về thắp ngọn đèn dầu leo lét cơm xong tắt đèn đi ngủ cho đỡ tốn dầu. Làm gì có sách báo phim ảnh để nâng cao đời sống tinh thần. Trung sống trong tình thương yêu của gia đình. Trung mang được người về với mẹ là quí nhất đời. Bà như hồi xuân trở lại. Vừa thổi cơm mẹ vừa nói:

- Con Trọng nó vẫn hỏi thăm con đấy

- Cô Trọng hả mẹ cô ấy đã...

- Chưa. Nó đang là kĩ sư chăn nuôi của xã. Con bé tốt nết đáo để. Bao nhiêu đám ngấp nghé rồi đấy.

     Trọng ư? Cái cô bé tóc ngang vai ngày nào vẫn nhờ xe anh đến trường đi học. Rồi lần anh lao xe xuống dốc làm cô bé sợ hãi ôm chặt lấy anh. Lần đầu tiên anh nóng ran người khi cảm nhận được từ phí sau lưng khuôn ngực mềm mại ấm áp của một cô gái áp sát vào anh bé bỏng và tin cậy. Anh như bay lơ lửng. ý thức về mình là một thằng con trai thức dậy. Giá như không có chiến tranh chắc ngày đó anh và Trọng đã... Anh hồi hộp khi nghĩ tới phút giây gặp Trọng gặp lại bạn bè thuở ấu thơ với bao kỷ niệm êm đềm...

                                                   *

     Hồi mới nhập ngũ cánh lính trẻ chẳng ai muốn nhận chức anh nuôi suốt ngày làm bạn với nồi niêu xoong chảo gặp các em thì ngượng lắm nhưng Tư lại xung phong. Lúc đơn vị hành quân dọc Trường Sơn gặp đồng bào Thượng bộ đội mang quân trang và kỷ vật ra đổi lấy thực phẩm hoa quả. Riêng Tư anh ta có sẵn đá lửa mì chình - dĩ nhiên là ăn bớt của đơn vị - để đổi lấy quế cất kỷ dưới đáy ba lô.

    Một lần có ông già da đỏ au ngậm chiếc tẩu to sụ đi cùng với ba người đàn bà đều ở trần cặp vú to sề sệ chiếc váy màu sặc sỡ đến gặp bộ đội ông già nói giọng người kinh lơ lớ:

- Bộ đội có ảnh cụ Hồ cho đồng bào...

Các chiến sĩ dáo dác hỏi nhau nhưng đi chiến trường mấy ai mang theo ảnh Bác Hồ. Trung chợt nhớ ra trong cuốn sổ tay của mình có in ảnh Bác anh bóc ra trao tận tay cụ:

- Chúng con có ảnh Cụ Hồ đây biếu đồng bào...

     Mắt ông già và những người đàn bà đều sáng lên cùng reo bằng thứ tiếng dân tộc họ. Rồi một chị có cặp vú cân đối mang hai con gà trống nặng đến ba bốn cân trao tận tay Trung:

- Đồng bào tặng bộ đội.

     Trung từ chối thế nào cũng không được. Hôm ấy trung đội được một bữa "ấm chân răng". Hôm sau Tư một mình lặng lẽ vào bản hắn lấy ảnh các diễn viên điện ảnh đổi được khá nhiều quế. Trung biết chuyện ngạc nhiên hỏi: "cậu không đổi gà cho đơn vị ăn lấy sức hành quân mà đổi quế làm gì?" Tư cười : "Đúng là nhà thơ mơ mộng xuống đến đồng bằng quế có giá như vàng hiểu chưa?" "đi đánh giặc biết sống chết lúc nào mà cậu lo tích trữ làm giàu". Tư cười to hơn: "Ai sống cũng có mục đích như cậu lấy thơ ca làm mục đích vậy". Bây giờ nghe Tư nói thế Trung chợt hiểu ra và hỏi hắn: "Thế ba lô quế của cậu đâu". Mặt Tư đượm buồn: "mất ở hậu cứ rồi". Hồi đơn vị Trung đánh đồn Cả Cái các chiến sĩ mang theo súng đạn bông băng còn ba lô quân trang để cả ở hậu cứ. Đánh đồn thắng lợi trở về thì hậu cứ bị bom tan tành. Ba lô quế và cả của chìm của nổi bao nhiêu năm Tư tích cóp bay đâu mất. Ngày ấy Trung thấy Tư khóc người ngơ ngẩn một thời gian "Mình phải làm lại từ đầu". Tư ít nói nhưng nói cứ như định đóng cột. Sau này Trung mới biết kế hoạch làm lại từ đầu của bạn...

                                                     *

      Đơn vị Tư đóng quân bên con sông Tiền Giang lúc nào cũng tấp nập thuyền ghe. Ghe thương hồ như một cái tiệm tập hóa di động thường ghé vào đơn vị Tư đóng quân bán thực phẩm và những thứ lặt vặt khác cho bộ đội. Tư gặp một người đàn bà bơi chiếc ghe nhỏ trên ghe có đứa con gái lên năm. Chị hơi gầy và đen mũi hếch quyền cao hơn mũi miệng lại rộng hàm răng "chín sáu ba không". Đó là một người đàn bà tẻ nhạt chẳng có gì hấp dẫn người khác phái. Nhưng với Tư lại khác. Tư không nhìn nhan sắc của chị ta mà nhìn vào sợi giây chuyền vàng nặng trịch dễ đen năm chỉ làm cho cái cổ đã ngắn lại đen như càng ngắn thêm và đen hơn. Bàn tay cáu bẩn thật không xứng với hai chiếc nhẫn vàng. Những thứ đó hấp dẫn Tư làm anh thấy chị rất có duyên. Sau khi mua sắm xong lúc trả tiền Tư mở lời:

- Chị bơi thuyền một mình không thấy mỏi sao?ảnh đâu?

     Người đàn nhìn nhanh qua người Tư. Một người to khỏe tấm lưng rộng như cánh phản và đôi tay rắn chắc như làm bằng thép có chèo thuyền cả trăm cây số cũng không biết mỏi. Và chị lúng liếng đáp lại lời Tư:

- Thuyền chỉ có mình "ên" thôi...

     Hai người hợp ý nhau nên câu chuyện cứ kéo dài đến bất tận. Hôm sau có người nhìn thấy Tư bước xuống thuyền của người đàn bà xuôi dòng nước Tiền Giang mênh mông

     Hồi ấy được tin Tư mất tích đơn vị cử người đi tìm và chính Trung hỏi thăm về tận quê hương người đàn bà bán mắm. Nhưng nhà cửa chỉ là nơi tạm bợ chủ ghe thương hồ hầu như quanh năm suốt tháng sống bồng bềnh nay đây mai đó theo chuyến hàng mà họ buôn. Miền Tây Nam Bộ và Đồng tháp Mười kênh rạch như bàn cờ biết tìm Tư nơi đâu?

                                                      *

     Chôn cất ông Sáu xong Trung xin nghỉ phép năm làm một chuyến vào miền Nam tìm bạn. Trung đến thành phố Hồ Chí Minh rồi mua vé xe vào huyện Hồng Ngự và đáp một chuyến đò máy nữa vô sâu vùng Đồng Tháp Mười quê hương của người đà bà buôn mắm. Là cứ đi cầu may hi vọng gặp được Tư rất mong manh như một làn khói thuốc. Lần này chiếc ghe thương hồ của vợ chồng Tư đang đậu ở bến sông trước nhà. Trung mừng thầm mình gặp may chăng?

     Ngôi nhà của vợ chồng Tư cất trên bờ kinh lợp bằng lá dừa nước vách cũng bằng lá dừa nước cột kèo là những cây tràm cong queo. Mái đã rách nát từng luồng sáng rọi xuống lốm đốm trên nền nhà giường chiếu.

Vợ Tư già đi nhiều gày và đen hơn ngày Trung gặp chị ghé thuyền vào bến sông đơn vị anh năm xưa. Ba đứa con của Tư hai trai một gái cũng giống mẹ đen nhẻm và ốm tong teo. Gia đình này đang có chuyện buồn? Vừa bước vào nhà là Trung cảm giác được điều đó. Anh tế nhị vòng vo tam quốc một hồi rồi cũng dẫn vào chuyện chính lúc nào không biết.

                                                    *

      "Ai mua mắm không... Mắm cá lóc mắm cá thác lác đây..." Chín giờ rồi người dân đọc kinh Ma-ren còn nghe tiếng rao lơ lớ giọng Nam lẫn Bắc cất lên kéo dài mênh mông. Bà con đã quen với tiếng rao ấy họ bảo nhau: "Anh Tư Bắc kỳ đó thiệt là chịu khó" giờ này người ta thường ngồi xem vô tuyến ít ai để ý đến cá mắm Trong ghe có tiếng người đàn bà:

- Thôi nghỉ đi anh. Khuya rồi.

      Người đàn ông hướng thuyền ghé vào gầm một ngôi nhà sàn lục cục cột ghe vào cọc rồi chui vào khoang. Người đàn bà đưa cho chồng tấm khăn. Anh chồng lau qua khuôn mặt đầm đìa mồ hôi giơ ngón tay đeo chiếc nhẫn vàng trước ngọn đèn ngắm nghía:

- Đẹp quá! Vàng Kim Thành bốn số chín là hạng nhất. Tiệm vàng này bao giờ cũng cao hơn các tiệm vàng khác hai chục ngàn nhưng uy tín.

Vợ Tư nhăn nhó:

- Anh mê vàng như đàn bà mê nữ trang khéo cái lại mất. Tư cười cố tháo chiếc nhẫn khá chặt ngón tay út:

- Phải cất đi đeo mãi sợ nó mòn mất bán lỗ chết.

Tiếng con gái lớn của Tư:

- Ba ơi cho chúng con lên coi ti vi đi ba.

Tư vừa lục cục mở rương vừa gắt:

- Ti vi gì ở nhà mà mấy đứa đi ngủ đi.

Vợ Tư bàn:

- Anh ạ hay là mai mình về quê cho mấy đứa nó đi học. Chúng nó quá tuổi nhiều rồi.

- Học hành gì tốn tiền. Rồi ai coi chúng cho mình đi buôn. Thời bây giờ cứ có tiền là có tất cả. Chữ nghĩa mà làm gì .

      Vừa nói Tư vừa mở chiếc khăn mùi xoa gói hơn chục chỉ vàng ra ngắm nghía say sưa như người ta chiêm ngưỡng bức tranh nghệ thuật. Vợ Tư thở dài tính của Tư cực đoan đã nói là làm vợ con cấm cãi. Được cái anh không rượu chè trai gái. Cả đời tích góp làm giàu không dám ăn tiêu không mua một cái gì kể cả cái đài bán dẫn vài chục ngàn đồng. Hình như anh dị ứng với văn chương với thời sự nghệ thuật. Nhiều người vợ nói với chị có được anh chồng chí thú làm ăn là nhất rồi. Chả bù cho chồng người ta suốt ngày cờ bạc làm đồng nào ăn nhậu hết về còn đánh vợ chửi con. Chị còn ngẫm nghĩ người ta nói cũng có phần đúng. Như chị chẳng phải học ngày nào vẫn có sao đâu.

Lúc đã nằm trong tay chồng thiu thiu ngủ chị bỗng nghe thấy tiếng nhạc vọng xuống "Quê hương nếu ai không nhớ sẽ không lớn nổi thành người". Chị chợt nhìn sang chồng. Anh đang ngủ say. Tiếng gà ò ò đều đặn. Lấy nhau cả chục năm trời vậy mà chị chưa một lần bước tới quê anh làm lễ ra mắt bố mẹ chồng:

- Này anh có nghe bài hát quê hương không?

      Bị đánh thức bởi câu hỏi ngớ ngẩn của vợ Tư càu nhàu: "Quê hương hở bao giờ được mười cây vàng thì về".

      Chị thắc mắc "chúng ta làm mười năm rồi mới có được một cây. Một trăm năm nữa mới được mười cây lúc đó có còn sống không mà về" Bỗng Tư choàng tỉnh hẳn ngồi dậy và cả đêm hôm đó thao thức mãi. Sáng ra chị thấy mặt anh dại đi đôi mắt thâm quầng con ngươi đỏ nọc. Anh khóc chăng? Không từ ngày làm bạn với anh chưa bao giờ chị thấy anh khóc dù là gặp hoàn cảnh đau thương nhất. Và chị giật mình nhận thấy mới có một đêm thức trắng tóc anh đã bạc đi quá nửa. Anh nói với chị:

- Em và con ở đây anh phải đi Long xuyên một bữa. Mai anh về.

      Chị linh cảm ở anh có cái gì hệ trọng. Hình như anh muốn nói với chị điều gì nhưng lại thôi. Tính anh lầm lì chị cũng quen rồi không hỏi han nhiều. Ngày anh đi chị nóng lòng cứ ra vào không yên. Ngày hôm sau cũng không thấy anh trở lại hai ngày tiếp theo cũng bặt tin. Chị và các con cứ ngóng ra con đường trước cánh đồng tìm bóng anh.

      Người đà bà thở dài nhìn ra ngoài bờ kênh Trung cũng dõi theo mắt chị. Phía đó Đồng Tháp mênh mông nắng chói mắt bốc hơi nước lang láng một cơn gió xoáy cuốn bụi lên thành một chiếc vòi chạy ra xa tít.

- Hôm ấy anh trở về dẫn theo chiếc xe đạp sau xe là một thùng kem to tướng. Anh rung chuông leng keng và cười khi thấy mẹ con em:

- Kà rem đây kà rem sầu riêng Châu Đốc đây!

     Em phì cười vì từ cách ăn mặc cho đến điệu bộ của anh giống một ông lão bán kem quá. Còn mấy đứa con reo ầm cả lên:

- Ba bán kem! Ba bán kem! Cho con ăn với.

Anh nghiêm nét mặt:

- Ai ăn kem phải trả tiền.

Hai đứa bé ngơ ngác. Anh phì cười mở nắp thùng kem trao tận tay mỗi đứa hai cây kem đang bốc hơi nghi ngút.

     Sau này em mới hiểu vì sao anh đổi sang nghề bán kem. Anh thấy cứ buôn mắm mãi thì rất khó làm giàu nhanh được. Chỉ còn cách đi buôn lậu. Anh lên biên giới Việt - Miên mua thuốc lá ba số năm mang về Sài Gòn bán lời một gấp rưỡi. Nhưng từ đường biên giới về phải qua ba trạm kiểm soát rất gắt gao. Có người bỏ thuốc lá trong bụng giả làm bà chửa có người nẹp thuốc lá vào bắp chân bỏ trong cốp xe gắn máy v v... Tất cả các mánh khóe đều bị phát hiện. Anh nghĩ ra cách làm một thùng kem bốn cạnh rỗng để gắn xốp giảm nhiệt cho kem khỏi chảy đút được bốn cây thuốc. Một thùng kem anh giấu được mười sáu cây. Anh giả bộ mua kem bỏ đầy thùng vừa đạp qua chạm gác vừa rung chuông leng keng: "Kem sầu riêng Châu Đốc đây". Những người ở trạm kiểm soát nghi ngờ tất cả những người qua trạm.

Thùng kem to tướng kia chắc là mục tiêu chú ý của những người kiểm soát. Họ vẫy anh vào:

- Bán kem vào đây .

     Người kiểm soát viên lấy cây que chọc từ trên thùng kem xuống đến tận đáy rồi rút ra ướm lên bên ngoài thùng. Chiếc que chỉ đúng chiều cao của thùng như thế thùng chỉ toàn là kem không phải loại thùng hai đáy.

- Được rồi đi đi.

     Anh thoát qua các chạm kiểm soát một cách đàng hoàng như thế. Mỗi chuyến anh kiếm được cả trăm ngàn đồng lãi. Sau buổi giao hàng xong anh để riêng số tiền lời sang một cặp vuốt ve nó âu yếm như người con trai vuốt ve mái tóc của người con gái mới chớm yêu.

     Đi đêm có ngày gặp ma. Bữa đó anh bị cơ sở báo. Trạm kiểm soát đầu cầu kiểm tra anh rất kỹ không thấy gì đã cho anh đi. Anh thở phào nhảy lên xe mới đạp được vài thước lại thấy tiếng còi rú lên. Lần này là người trạm trưởng to béo vẫy anh trở lại. Đúng là một ông quan "mặt sắt đen xì" ông ta cũng thọc que vào thùng kem lẩm bẩm: "quái lạ không tin được". Ông gõ que vào bốn cạnh thùng kem. Tim anh thót lại. Anh toát mồ hôi trán "Thôi rồi gặp lão này là chết rồi". Quả nhiên ông trạm trưởng ra lệnh:

- Tháo thùng kem xuống!

Anh Tư cố lấy giọng cứng cỏi:

- Chỉ có kem thôi. Ông cho con đi kẻo trễ.

- Tôi biết thùng kem của anh có gì rồi. Tháo xuống mau.

     Nói rồi ông ta tự tay gỡ nhanh dây ràng thùng kem lật sấp thùng kem xuống. Ông ta nhìn thấy "cánh cửa" để anh đút thuốc lá lậu. Mặt anh tái bét. Anh ôm lấy chân ông trạm trưởng kêu lên:

- Ông tha cho con. Con trót dại.

Ông trạm trưởng mặt bừng bừng tức giận:

- Tinh vi thật! Tinh vi thật... Đừng hòng qua được tai mắt của nhân dân...

     Anh lao vào ông trạm trưởng như một con hổ anh đấm đá túi bụi miệng hét điên loạn:

- Trả thuốc cho tôi. Trời ơi toàn bộ vốn liếng của tôi.

Những người lính của ông xông đến. Họ áp vào vật sấp anh xuống và còng tay anh nhốt vào một căn phòng kín mít. Mặc cho anh vùng vẫy gào thét đến khản đặc đôi bàn tay bật máu. Lúc người ta mở cửa xem thì thấy anh ngất xỉu. Họ vội chở anh đến bệnh viện. Anh tỉnh dậy trở nên ngơ ngơ ngác ngác... Điều trị đã lâu mà anh vẫn không bình phục.

                                                  *

     Trung vào nhà thương dành cho những người tâm thần tìm Tư. Bây giờ Tư chỉ là một cái xác không hồn. Mắt anh nhìn xoáy vào hư vô. Nhà thương dành riêng cho anh một góc và anh thơ thẩn với các góc của mình hiền lành như một đứa trẻ đôi khi lại vừa khóc vừa cười. Tư không còn nhận ra Trung nữa.

Trung lên đường trở về với một khoảng trống không cứu vãn nổi như một mảnh quê hương anh đã đánh rơi ở một nơi nào đó.

      Bây giờ đứng trước bàn thờ của Tư Trung lại thấy nghèn nghẹn ở cổ. Có nên nói sự thật cho mẹ Tư nghe không? Thôi bà đã già yếu quá rồi đừng để bà phải nhận thêm một nỗi đau nữa. Rưng rưng anh cũng đốt ba cây nhang cắm lên bàn thờ dưới tấm ảnh đã ngả màu vàng ố của Tư.

Một con bướm từ ngoài vườn lọt qua song cửa sổ bay chấp chới theo chiều uốn lượn của những vòng khói hương đang lan tỏa. Mẹ Tư thì thầm :

- Thằng Tư về đó Tư ơi có linh thiêng thì xuống đây với mẹ đi con!

     Con bướm vàng rập rờn trên mái tóc bạc phơ của bà Sáu rồi nhẹ nhàng đậu lên vai bà.

      Ngoài kia nơi cuối thôn chuông nhà thờ đổ một hồi dài. Xóm làng tĩnh lặng tiếng chuông ngân vang rất xa.

                                                                       N.T

More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Thanh Thản

Một người xưa

Truyện ngắn

     Bà cụ Bản đã ngoài tám mươi. Mái tóc cụ đã bạc phau nhưng lưng cụ chưa còng như nhiều cụ trong làng. Nhờ giời cụ vẫn còn khá mạnh khỏe bước đi còn vững đôi mắt còn tinh tường. Cụ còn ăn được ngủ được.

Cụ có một anh con cả hy sinh tại mặt trận phía Nam một cô con gái lấy chồng xa. Ngọc là người con trai út của cụ hiện là một cán bộ nhà nước có nhà trên tỉnh. Vợ chồng Ngọc cứ muốn mời cụ lên ở với con cháu cho vui cho con cháu có điều kiện phụng dưỡng tuổi già của cụ. Lúc khỏe đã vậy lúc trái gió giở giời thì sao. Tuổi già như trứng treo đầu đẳng ai mà biết trước được điều gì. Vậy mà chỉ lên với con cháu được một hai ngày là cụ lại nằng nặc đòi về ngay. Cụ bảo cụ nhớ nhà ở phố không quen không sao ngủ được. Nhà cao cửa rộng nó cứ rỗng rễnh thế nào ấy...

     Có lần vợ chồng anh Ngọc đã bảo với cụ:

- Nhà cửa ở quê có gì mà mẹ phải nhớ?... mấy gian nhà cũ với toàn những thứ cổ lỗ sĩ... những thứ ấy... thế nào cũng có lúc chúng con cho dẹp hết...

Nghe con nói vậy cụ buồn lắm. Cụ lại lo nữa. Biết đâu rồi lại chả có lúc con cháu chúng làm thật. Thì ở làng giờ đó thôi hỏi có còn nhà nào giữ được như thế. Nhà nào cũng đã làm nhà mới hết. ở xóm làng mà nay cứ như ở phố. Ao chuôm đã lấp nhiều. Tre pheo cũng chả còn mấy. Nhà nhà đua nhau làm mái bằng nhà cao tầng rồi chóp vuông chóp nhọn tua tủa. Nhà nào cũng ti-vi quạt máy bếp điện bếp ga... Cả làng đã có nước máy nước sạch dùng. Cái nhà tắm có vòi hoa sen vặn nước xòe xòe... Đời sống như thế ai chả muốn. Thật là sung sướng gấp vạn lần ngày xưa. Thế mà sao cụ vẫn nhớ đến cảnh cũ làng xưa... Sao mà nó gần gũi thân quen gắn bó... Mà mới đó chứ nào đã xa xôi gì... Thế là cụ ở nhà. Cụ bảo ở nhà ở quê mới được gần với ông bà tiên tổ... Lễ tết đầu tháng ngày rằm còn hương hoa nhang khói cho ông bà tiên tổ... Chứ không thì nhà nó vắng vẻ lạnh lùng lắm...

     Nhà cụ vẫn giữ được như xưa. Năm gian nhà gỗ lim mái ngói từ đời các cố cũng đã hơn trăm năm. Cột kèo đã lên nước đen bóng không mọt nào gặm nổi. Hai hàng cột vẫn giữ nguyên hai câu đối chữ Nho sơn son thếp vàng... Cụ không biết chữ Nho những ngày xưa khách khứa đến chơi nhiều người đọc bình cụ chỉ nghe mà cũng thuộc lòng nhớ mãi: "Văn vũ gia thanh truyền dịch hiệp - Phong lưu thế phổ hợp liên chi" nghĩa là tiếng nhà văn võ còn truyền mãi nối dõi mãi. Phong lưu ở đời tụ lại như muôn cành xanh cây tốt lộc... Nói rồi cụ mỉm cười mà không dám chỉ vào câu đối sợ chỉ nhầm bên nọ sang bên kia vì cụ có biết mặt chữ đâu cụ chỉ thuộc miệng vậy. Thế mà ai cũng tấm tắc khen "Cụ đúng là con cháu các cụ đồ cụ Nho"...

      Khắp mọi nơi trong nhà từ trong nhà xuống dưới bếp ra ngoài vườn nhìn vào đâu cũng chỉ thấy toàn những thứ vợ chồng anh Ngọc gọi là "cổ lỗ sĩ". Nhưng với cụ thì nó không thể nào thiếu được. Nhìn vào bất cứ vật gì lúc nào cụ cũng như thấy nó hiện lên bao nhiêu kỷ niệm mà suốt đời cụ không thể nào quên được. Một căn nhà thân thương gắn bó với cụ từ những ngày cụ khăn gói bước về làm dâu...

      Nào là bộ tràng kỷ gỗ gụ xung quanh khảm trai kê giữa nhà kia là nơi ông bố chồng cụ một nhà Nho có tiếng trong vùng thường cùng bầu bạn nâng chén trà thơm ngồi đàm đạo văn chương thế sự... Nhiều lần cụ được hầu nước nghe chuyện các cụ cũng được mở mang đầu óc nhiều. Rồi đến đời chồng cụ cũng vậy... Lắm lúc cụ vẫn còn như thấy bóng các cụ vào ra quây quần rồi tiếng các cụ êm êm thật là đầm ấm cửa nhà. Dưới chân bộ tràng kỷ vẫn là chiếc điếu bát có cái cần trúc vàng óng dài ngoẵng... Tiếng rít thuốc giòn tan của người xưa cụ không sao quên được. Gian đầu nhà kia nơi có cái cửa sổ gỗ kéo lên hạ xuống là chiếc sập gụ chân quỳ dạ cá các cụ thường ngồi quây quần bên ấm trà chai rượu. Các cụ xưa sao mà hay thế. Chiếc ấm sành da lươn thì chỉ bé như quả cam nhỏ mấy cái chén cũng bé tý như hạt mít. Nước pha trà thì phải là nước mưa ở chum sành hứng từ ngọn cây cau hoặc nước hứng từ những giọt sương đêm trên tàu lá sen. Trà thì các cụ bỏ vào hoa sen buộc kỹ ủ từ hôm trước nên có ấm trà con con mà cứ thơm nức cả mấy gian nhà. Khi uống các cụ lại chỉ nhấp tý một rồi gật gù tấm tắc khen chứ chả ly cốc tu một hơi như cánh trẻ uống bia bây giờ. Rượu cũng vậy chỉ một nậm sứ nhỏ mà các cụ ngồi khề khà suốt buổi không hết...

      Dưới chân giường cụ vẫn giữ chiếc âu đựng trầu cau và chiếc cối giã trầu nhỏ bằng ngón chân cái đều bằng đồng nước đồng đã lên bóng đỏ au. Cạnh đó là lọ bình vôi tầm như quả dừa miệng quyệt đầy vôi và cũng vẫn còn nguyên chiếc que ngoáy vôi cắm vào miệng bình. Mỗi lần nhìn vào những thứ ấy cụ lại tần ngần nhớ đến các bạn già trong xóm sớm chiều thường quây quần bên nhau chia nhau từng miếng trầu miếng vỏ. Nhất là những đêm trăng sáng các cụ vừa ngồi ngoáy trầu vừa bỏm bẻm nhai vừa trò chuyện vui vẻ tận khuya. Các cháu nhỏ thì ngồi bên nghe các bà kể chuyện xem các bà nhai trầu. Trông thật vui các cụ nhai miếng trầu cay mà cứ như trẻ nhỏ nhai kẹo...

     Đầu hồi nhà là cái cối xay lúa. Phía ngoài vẫn nguyên cái dại tre che mưa che nắng. Nay trong làng đã có ba máy xát gạo. Vài thùng thóc quẩy đi chỉ một loáng là xong. Cái cối xay không ai còn dùng đến nữa nhưng cụ vẫn giữ. Nó đã gắn bó với cả đời cụ. Cụ quên sao được những buổi sớm buổi chiều đứng xay lúa ù ì lúc lắc... Chiếc cối quay tròn gạo trắng như muối rào rào trút xuống cái nia đặt dưới trông đến là vui mắt. Hồi còn bé cụ cũng thích xem xay lúa. Rồi đến bạn bè đố nhau "Sừng sững mà đứng giữa nhà. Hễ ai động đến thì òa khóc lên"... là cái gì? Đến vui. Trên gác hiên thì vẫn còn gác lỉnh kỉnh các thứ nong nia dần sàng... cứ y nguyên như xưa.

      Đầu hồi nhà vẫn là cái chum sành đựng nước mưa có cái tàu cau khô buộc từ thân cây cau hứng nước từ ngọn cây xuống. Miệng chum gác một chiếc gáo dừa có cái cán dài hàng nửa sải tay. Nước mưa trong như lọc lại ngọt như đường cát mát như đường phèn... Cả xóm ai pha trà móc câu cũng xách ấm sang xin nước mưa của cụ. Những trưa hè bà con đi làm đồng về qua thì không mấy ai là không ghé vào xin cụ gáo nước mưa. Người trước người sau đứng chuyền tay chiếc gáo dừa ngửa cổ tu ừng ực. Uống xong ai cũng giơ tay áo quyệt ngang miệng rồi cười nói vui vẻ "Gớm tỉnh cả người..." cụ cứ đứng nhìn mà cũng thấy vui thấy mát ruột...

      Đầu chái bếp cũng vẫn còn đó chiếc cối giã gạo thân bằng cây sung dài ngoẵng. Bọn trẻ bây giờ nhiều đứa đố có biết cái cối giã gạo thế nào. Với cụ thì nó vẫn gần gũi thân thuộc như không thể thiếu được mặc dù bây giờ kể cả năm cũng chẳng mấy ai đụng đến. Cụ nhớ nhất là những lúc giã gạo canh khuya. Ban ngày bận công việc đồng áng có thúng thóc xay tối mới đổ vào giã. Tiếng cối giã thình thịch đều đều vang lên trong đêm vắng nghe đến hay. Vừa giã gạo một người vừa đếm... một đôi... hai đôi... đến chừng bốn trăm năm trăm đôi tức là khoảng tám trăm đến một nghìn chầy là được. Hồi trẻ vợ chồng đứng bên nhau giã gạo chân đạp đều cần cối lên xuống nhịp nhàng. Phía ngoài có sợi dây thừng buộc ngang để vịn tay. Có khi vợ chồng nắm tay nhau cùng đứng giã gạo rủ rỉ chuyện trò đến là thân thương tình tứ. Vợ chồng đứng bên nhau giã gạo đến khuya vẫn không thấy mệt...

Đặc biệt dưới gian bếp thì lại cũng còn khá nhiều thứ "cổ lỗ sĩ" hơn nữa. Góc kia là cái thùng trấu to bằng cái chiếu để đựng trấu đựng rơm rác. Cụ vẫn thường hay kể với các cháu là hồi còn bé mùa đông tháng giá mấy chị em cụ cứ tranh nhau chui vào thùng trấu nằm ngủ còn ấm hơn cả ổ rơm ấy. ở bếp vẫn là bộ đầu rau nặn bằng đất sét từ hồi ông chồng cụ còn sống nặn với cái kiềng ba chân bằng sắt đã có nhiều han gỉ... Buồn cười có lần về chơi các con anh Ngọc cứ cầm cái que cời lửa gõ vào đầu ông đầu rau nghịch làm cụ phát hoảng. Cụ liền vội giữ tay cháu lại:

- ấy chết... phải tội đấy cháu ạ!... mà cũng còn phải gọi là ông đầu rau cháu nhớ...

     Các cháu bé ngơ ngác chẳng hiểu cụ lại phải kể. ở bếp có ông Táo quân coi giữ... năm nào tết đến gần ngày hai ba tháng chạp ông cũng cưỡi cá chép bay về trời tâu với Ngọc Hoàng tức là ông Trời đủ mọi chuyện của hạ giới của từng nhà. ông tâu nhiều lắm vậy mới gọi là dài như sớ Táo Công... làm các cháu nghe cứ ôm bụng cười ngặt nghẽo...

     Phía gần cửa vẫn là cái trạn bát bằng gỗ có cái ống luồng đựng đũa cũng đã lâu lắm rồi. Trên gác bếp vẫn lỉnh kỉnh chất đầy các thứ. Nào là gầu sòng gầu dây cái riu cái rủi tép cái dậm đánh cua cái rọ đơm cá rô ống chúm đánh lươn... toàn những thứ mà giờ tìm khắp làng cũng không mấy nhà còn... Cụ vẫn quý lắm. Những thứ đó tuy lặt vặt nhưng con cá con tôm con cua con tép đã góp phần nuôi sống cả nhà cụ bao nhiêu đời...

Nếp nhà cụ là thế nhìn vào đâu cũng toàn thấy những vật cũ dụng xưa... Đến cái ao bèo xung quanh cụ còn cấy những hàng khoai nước để nuôi lợn tất nhiên giờ cụ cũng chỉ toàn cho hàng xóm sang lấy. Cụ chỉ thích nhất là những bát canh dãi khoai nấu với mẻ sao mà nó mềm nó mát đến thế cứ như ăn bún vậy. Giữa ao cụ vẫn thả bè rau rút. Nồi canh cua mà có ít rau rút thả vào thì thật ngọt thật thơm tưởng không gì bằng. Những dịp cuối xuân đầu hạ trời đổ những trận mưa rào đầu mùa thì bốn bề quanh ao rộn những tiếng con ếch ộp kêu tìm bạn tiếng con chão chuộc "chuộc...chuộc...chẳng chuộc..." nghe đúng là đêm làng quê. Có lần lên tỉnh ở nhà con đêm mưa cụ vẫn như nghe thấy văng vẳng bên tai tiếng con ếch con chão chuộc kêu bên ao tiếng con sạt sành đầu trái tiếng dế kêu rỉ rả góc tường... cụ lại nôn nao nhớ nhà đến không ngủ được...

     Biết mẹ trân trọng gìn giữ mọi thứ ấy nên anh Ngọc cũng không dám bỏ đi cái gì. Đến muốn lấp cái ao làm vườn anh cũng chưa dám. Chị Ngọc thì hay nói vui với mẹ chồng:

- Mẹ đúng là... người xưa... cả làng giờ chả còn tìm thấy ai như mẹ... mẹ giữ làm gì mãi những thứ ấy... chỉ tổ bừa bộn chật nhà...

Cụ không nói sao nhưng vẫn không muốn bỏ đi một thứ gì. Cũng có lúc nghĩ đến lời các con... cụ lại thấy buồn buồn lo lo... Cụ chỉ sợ khi cụ không còn nữa thì tất cả những thứ kia... đến cả ngôi nhà này chắc gì cũng còn nữa... Không biết khi ấy ông cha tiên tổ dưới suối vàng có buồn như cụ không...

                                              *

     Thế rồi cả làng cùng đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Làng xóm nhà mái bằng nhà cao tầng đã san sát. Nhiều quán xá hai bên đường cũng đua nhau mọc lên. Làng xóm đổi thay sớm hôm tấp nập đông vui xe đạp xe máy rộn cả làng chắng kém gì thị tứ thị trấn... Một con đường lớn trải bê tông phẳng lỳ chạy giữa rạch làng ra làm đôi chạy thẳng vào khu du lịch hang động phía mấy xã trong. Làng đã tấp nập lại càng tấp nập đông vui hơn. Người qua lại làng ngày một nhiều. Có nhiều xe máy ô tô đi du lịch qua làng. Vui nhất là những đoàn du lịch người nước ngoài mà bà con quen gọi là du lịch "Tây ba lô". Họ đi theo từng tốp năm bảy người. Chả biết họ đến từ những nước nào mà trông thật giống nhau. Người nào cũng cao to xồ xề nước da trắng tóc vàng mắt xanh mũi lõ... Có người chắc đã đi nhiều ở xứ Viễn Đông này nên nước da đã sạm nắng gió... Trông đến tức cười là những ông bà đi xe đạp thuê của khách sạn. Người họ cao lớn ngồi chồm chỗm trên chiếc xe đạp nhỏ trông cứ như làm xiếc.

     Vào làng trông thứ gì họ cũng thấy lạ lẫm. Một tấm bia đá mốc rêu trước cái miếu cũ bên đường họ cũng quây lại xem. Một mái đầu đao đình làng họ cũng dừng ngắm nghía lại còn giơ máy ảnh ra chụp. Họ còn tỏ ra rất thích là những bóng đa tỏa mát là khóm trúc bờ tre là cái ao làng có những bông trang bông súng hoa trắng hoa đỏ đua nhau nở...

      Có điều lạ là không biết có ai giới thiệu mà người nào qua làng cũng ghé vào thăm nhà cụ Bản. Lúc đầu cụ sợ lắm. Sợ vì lạ vì cụ chả hiểu họ vào làm gì mà cứ hết tốp này đến tốp khác người ta chen lẫn người Tây. Có hôm cụ đã đóng cổng mà họ vẫn cứ xin vào. Mãi khi nghe mấy người Việt nói là xin phép cụ vào tham quan cụ mới hiểu và yên tâm. Nhưn cụ lại nghĩ nhà mình có gì mà họ tham quan nhỉ. Thì ra những thứ mà nhiều lần anh Ngọc con cụ muốn dẹp bỏ ấy lại là những thứ họ muốn vào xem. Họ ngó xem thậm chí còn xem kỹ còn tỏ ra thích thú đủ thứ trong nhà cụ. Người xoa tay xem đi xem lại cái án thư cái sập ngụ chân quỳ dạ cá. Người thì vần ông bình vôi ra tận hè xem vẻ lạ lùng thích thú lắm. Có cô gái Tây còn cầm cái que ngoáy bình vôi đưa lên miệng nhấm nhấm thử rồi rũ ra cười. Cái cối xay lúa có người đứng xay thử. Cái cối giã gạo cũng có người bảo cụ bỏ ít gạo vào cho họ đứng lên giã thử mấy chầy... Có người còn ra chum nước mưa múa hàng gáo đầy chuyền tay nhau uống rồi xì là xì lồ nói với nhau gì đó. Chắc là họ khen vì thấy họ nhìn nhau gật đầu và cười vui. Nhiều người còn thi nhau mở máy ảnh ra chụp tanh tách lóe sáng. Họ chụp nhiều chụp đủ thứ...

     Nhiều lần lại có những tốp thanh niên nam nữ kéo vào. Trông người nào cũng trẻ trung tươi rói. Họ tự giới thiệu với cụ họ là sinh viên đại học mỹ thuật tức là học sinh trường vẽ. Họ xin phép cụ được đem các thứ bày ra hè ra sân để vẽ. Có anh chị còn nhờ cụ ngồi ngoáy trầu hoặc têm trầu hoặc ngồi sàng gạo hoặc ngồi bó chổi rơm hoặc đứng xay lúa... cho họ vẽ. Họ xúm xít xung quanh giở giấy giở mầu ra ngắm nghía rồi cắm cúi vẽ. Cụ chỉ tức người là làm mẫu gì mà cứ phải ngồi im giữ nguyên một động tác... Bà con xóm giềng thấy thế kéo đến xem chen nhau hàng trong hàng ngoài đứng kín sân. Ai cũng nức nở khen. Gớm các cháu bây giờ sao mà giỏi... họ vẽ chỉ loáng cái là xong mà mầu mè đẹp còn hơn cả chụp. Họ còn bảo đem đi Hà Nội triển lãm làm cụ vui lên gấp bội. Có người còn chỉ vào tranh đùa vui trêu cụ "Cụ Bản ngồi têm trầu đứng xay lúa ngồi dần gạo mà cũng được vào tranh được đem đi triển lãm ở thủ đô... đấy! Làng ta nhất cụ rồi...".

     Điều lạ nhất là người nào vào xem vào chụp ảnh hoặc vào vẽ xong cũng vui vẻ rút tiền ra biếu cụ. Có người rút hẳn tờ trăm nghìn mới cứng. Lại có ông Tây bà Tây rút ra loại tiền gì đó lạ lắm đưa biếu cụ. Lần đầu cụ phải cầm đi hỏi mọi người mới biết đó là tiền "đô" tiền đô là của Mỹ. Tiền "đô" gấp hơn chục nghìn lần tiền ta. Cụ lại giật mình sao cụ cho mình nhiều thế. Thực tình lúc đầu cụ chẳng dám nhận tiền của ai vì cụ nghĩ họ chỉ vào xem rồi ra thôi chứ có phải mua bán gì đâu. Nhưng cụ không lấy họ cũng cứ ấn vào tay cụ hoặc để ngay ngắn trên bàn. Nhiều lần cụ phải cầm tiền chạy ra đến tận ngã ba trả lại nhưng họ vẫn nhất định cứ ấn tiền vào túi áo cụ rồi lên xe phóng thẳng làm cụ chạy đuổi theo không kịp...

     Từ đấy nhà cụ vô tình trở thành một "trung tâm triển lãm" của làng. Sớm chiều người vào ra tấp nập làng xóm cũng thêm vui. Có ngày mưa gió cũng có người vào. Có ngày cụ được khách biếu đến năm sáu trăm ngàn đồng. Tính ra như vậy hàng tháng cụ cũng đã có một khoản thu rất khá mà đến mấy ông cai xây dựng trong làng cũng không bằng. Cả làng ai cũng mừng cho cụ mặc dù cụ bảo cụ chả muốn như vậy tý nào. Mấy đứa còn anh chị Ngọc chả biết có phải mẹ xui hay không mà cũng năng về thăm bà hơn. Lần nào cháu về cụ cũng cho tiền có khi đến dăm ba triệu gửi lên cho con sửa nhà mua sắm...

Tưởng chỉ dừng lại đấy... nào ngờ một hôm làng xóm xôn xao cả lên vì có một chiếc ô tô con bóng nhoáng phóng về nhà cụ Bản. Có bốn người thì đến ba người "bụng to trán hói" ăn mặc sang trọng hồ hởi bước vào nhà cụ. Họ xin phép cụ được ngắm nghía ngôi nhà xem bộ tràng kỷ xem cái sập gụ chân quỳ dạ cá... Cuối cùng họ bảo họ muốn mua tất. Cái nhà là ba trăm triệu bộ tràng kỷ năm triệu cái sập ba triệu cái cối xay lúa hai triệu cái cối giã gạo hai triệu... vào bao nhiêu các thức khác nữa... như ông bình vôi cái lờ cái đó cái gầu dây gầu sòng cái riu cái rủi tép cái nia cái mẹt cái cối giã trầu ba ông đầu rau... thứ thì một triệu thứ thì dăm bảy trăm... Cụ hỏi các thứ "cổ lỗ sĩ này thì các ông mua làm gì?". Họ bảo mua về trưng bày trong một khu du lịch dân tộc để giới thiệu với khách quốc tế về cuộc sống nông thôn ngày xưa của dân ta... Thế mà cụ vẫn một mực nhất định không bán... Họ đành phải quay ra. Trước khi về họ còn dặn cụ nên bàn với con cháu bán cho họ lần sau họ sẽ quay lại...

     Biết tin ấy vợ chồng anh Ngọc liền phóng xe máy về luôn. Anh Ngọc còn bảo mẹ nếu họ quay lại phải đòi giá cao hơn nhưng cụ vẫn lắc đầu rồi quay nhìn cảnh nhà cửa mà lòng lại buồn nẫu hình như cụ lại lo lắng một điều gì đó...

     Chuyện vui nhất sảy ra ở làng là sau ngày đó thì có đến bảy gia đình liền đổ ra khá nhiều tiền của đi phục chế đi sưu tầm mua những thứ như đã có trong nhà cụ Bản về bày. Có người còn thuê viết quảng cáo rất to đẹp mầu mè sặc sỡ treo ở cổng mời khách du lịch vào tham quan... Nhưng không ngờ họ cũng chỉ đón khách được lần đầu sau đấy thì tịnh không có ai vào nữa. Thì ra ở đời cái thật cái giả đâu dễ lẫn lộn. Mấy nhà tiếc tiền đã bỏ vốn ra mà không thu được gì lại thành chuyện đàm tiếu cho thiên hạ đâm ra vợ chồng cãi nhau ầm ĩ để cán bộ hòa giải phải đến nhà dàn xếp mới xong.

Lại một hôm chả biết ai nhắn tin trên điện thoại là "có một chiếc ô tô con đẹp lắm lại phóng về làng..." làm cho vợ chồng anh Ngọc đang đi nghỉ mát ở Sầm Sơn phải vội vã phóng xe về luôn. Vợ chồng anh chỉ sợ mẹ ở nhà lại bán hớ ngôi nhà và các thứ...

     Nhưng về đến làng thì anh chị chẳng thấy có chuyện gì nên tức đến lộn ruột. Anh nhìn ngắm ngôi nhà ông cha để lại rồi lại chợt nghĩ ra một điều... Những thứ không ngờ trở nên quý giá này coi chừng cũng dễ mất cắp lắm đây... Mẹ anh thì đã già đêm hôm thui thủi cổng giả thì tuyềnh toàng... Vợ chồng anh liền bàn nhau phải đưa thằng lớn đang học lớp mười một về quê ở với bà để trông coi rồi còn phải xây lại cái cổng cho chắc chắn phải mua mấy con bẹc dê cho nó ngày đêm trông coi nhà... thì mới yên tâm được.

     Kế hoạch ấy tức khắc được chị Ngọc nhất trí triển khai thực thi ngay. Bây giờ mới thấy chị nhìn bà mẹ chồng kính mến vui vẻ nói:

- Không ngờ mẹ gìn giữ cho chúng con một đống của mà chúng con không biết... vốn liếng ông cha xưa để lại thế mà đồ sộ.. mẹ nhỉ?

     Nghe con dâu nói thế bà cụ Bản lại ngân ngấn đôi mắt. Cụ khẽ cúi đầu giấu đi những giọt nước mắt lại như đang muốn trào ra. Cụ không còn biết nói gì hơn nữa... cụ chỉ thấy vui thấy toại nguyện. Rồi bỗng cụ lại ngước đôi mắt già lên đăm đắm nhìn cửa nhà nhìn mọi thứ đồ vật thân thương... Có lẽ cụ lại nhớ đến các bậc ông cha tiên tổ xưa và cụ lại như thấy có bao nhiêu con mắt từ xa xôi đang nhìn về...

     Một lát sau cụ lặng lẽ đứng dậy bước đến bên giường thờ. Đôi tay run run cụ sửa lại đĩa hoa quả rồi thắp lên mấy nén nhang... Căn nhà lại bỗng ngạt ngào mùi thơm hương khói...

                                                                              T.T

More...

Thơ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Ngô Xuân Tiếu

(Dự thi)

Nói và làm theo Bác

Sen tỏa hương vào mùa sinh Bác

Ta hát ca về Hồ Chí Minh

Sáng tháng Năm hương sen thơm ngát

Gương Bác ta soi và tự sửa mình

Anh Ba xuống tàu từ Bến Nhà Rồng

Đi tìm đường cứu nước

Phụ bếp bồi bàn kiếm sống

Cánh chim bằng cưỡi sóng đại dương

Băng tuyết trời Âu buốt thấu xương

ủ viên gạch nung tìm hơi lửa ấm

Cạm bẫy người Tây ngục tù quân Tưởng

Khôn khéo vượt qua mọi cách giam cầm.

Bác tận tâm phục vụ nhân dân

Không một chút riêng tư vướng bận

Đôi dép cao su ngôi nhà sàn nhỏ

Giữa thủ đô - xúc động mãi lòng dân

Thương cây lúa nghẹn đòng đòi tưới

Bác xuống đồng guồng nước đạp nhanh

Về với biển chung tay kéo lưới

Người để lưng trần trên biển xứ Thanh

Trời làm mất mùa dân tình thiếu đói

Người bớt bữa ăn quyên góp gạo ngay

Gạo bớt bữa đức cao như núi

Lãnh tụ mấy ai chịu bớt bữa thế này.

Bác cuốc đất trồng rau nuôi cá

Vườn ao kia tay Bác nuôi trồng

Hoa thơm quả ngọt chia phần cả

Khăn mặt vắt vai bồng cháu xem hoa

Anh Ba - Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh

Nói và làm như hình với bóng

Người nêu gương "Cần - Kiệm - Liêm - Chính"

Cho ta soi và đổi mới cách nhìn!

                     Vĩnh Lộc ngày 12-9-2008

                                  N.X.T

Lê Hường

(Dự thi)

Rượu quê

Vài ba chén rượu quê thôi

Quây quần bầu bạn ta ngồi bên nhau

Thơ vui ngẫu hứng đôi câu

Quên bao sóng gió bể dâu đường đời

Trẻ trai chớp nhoáng một thời

Tóc xanh bạc nửa đầu rồi mới hay

Sang hèn lọt cả kẽ tay

Thảnh thơi cùng nhấp nhén say... tình người.

                                      L.H

Lê Hường

(Dự thi)

Ngày mùa

Ngày mùa cái nắng xôn xao

Từng đôi chim ngói lượn chao ngang trời

Tiếng bà ru cháu à ơi

Tiếng em cười sáng sân phơi hạt vàng

Ngày mùa cái gió mênh mang

Đưa vui bên ấy vui sang bên này

Nhịp chày cốm giã thơm bay

Chuối tơ vừa độ chín cây trĩu buồng

Nhớ người một nắng hai sương

Xa xôi năm hẹn mười thương nên gần

Ngoài đồng chân rộn bước chân

Gái trai rước lúa về sân hội mùa

Máy reo tròn bóng cây trưa

Hạt vàng tung xuống sân mưa hạt vàng

Ngọn tre ngả mặt trời sang

Nắng đơm hoa dọc đường làng đường vui

Ngày mùa lúa gặt chưa vơi

Đã nghe mạ gọi ời ời sau lưng...

                      L.H

Lê Đăng Sơn

(Dự thi)

Tiếng chim đồi Thiên Tôn...

Về Lăng miếu Triệu Tường (*)

Nghe tiếng chim da diết

Đồi Thiên Tôn (**) xanh biếc

Ngập tràn âm thanh rơi.

Khói hương trầm chơi vơi

Nhớ Người xưa xa khuất

Chúa Nguyễn đi mở đất

Xanh sắc trời phương Nam.

Ơi ngọn gió thời gian

Chẳng bao giờ ngừng thổi

Cội nguồn nơi mở cõi

Hương trầm thơm tiếng chim.

                        Hà Long tháng 9-2008

                                   L.Đ.S

(*) Lăng miếu Triệu Tường nơi thờ Nguyễn Kim thân phụ của chúa Nguyễn Hoàng người đã mang gươm đi mở cõi.

(**) Đồi Thiên Tôn thuộc dãy núi Triệu Tường xã Hà Long Hà Trung. Tương truyền có mộ Nguyễn Kim vị thủy tổ của nhà Nguyễn được thiên táng tại đây và rất thiêng.

Trịnh Anh Đạt

Nhớ một miền quê

                  
                Cảm tạ nữ thi sỹ Vũ Thị Khương

Đằm tay đặc sản Bỉm Sơn

Phong thư thiếu nữ khác hơn mọi miền

Màu phù sa lắng dịu hiền

Gần nhau như đất mà biền biệt xa.

Còi tầm thị xã vào ca

Khói xi măng trắng tỏa ra núi đồi

Ba Bùi mía tím lịm môi

Vua đâu tiến nữa ngọt lời trao nhau.

ĐìnhTrung mắm tép đỏ au

Đóng vò xuất khẩu trong màu nâu men.

Bương luồng xanh bến sông Lèn

Dô tà dô tả... đan chen nhịp hò...

Tha hương đổi đói lấy no

Lớn khôn từ gió quạt mo quê nhà.

Phong thư đẫm sắc phù sa

Dịu hiền mầu đất cho ta nhớ về!

T.A.Đ

(*) Ba làng Bùi: Bùi Nga Bùi Trạng Bùi Đà có giống mía nổi tiếng ngày xa chỉ dùng để tiến vua.

Trịnh Anh Đạt

Làng Chua

Tên nghe như lúa nghẹn đòng

Dáng hình uốn khúc lưng còng già nua

Nối đời tần tảo chiêm mùa

Quê nghèo gợi nỗi chát chua thuở nào...

Dẫu còn nắng gió hanh hao

Làng vui mở hội ngạt ngào chùa Hang

Phù Lưu lúa đã khoe vàng

Đá thành bột nhẹ rộn ràng xe đi...

Làng Chua như gái dậy thì

Ngực căng hương cốm bật khuy giữa trời.

                                T.A.Đ

More...

Thơ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Lâm Bằng

Chiều Bái Đền

Chỉ còn ngàn cây

Vi vu lời gió

Đâu đền đài xưa

Nắng chiều nghiêng ngả

Đâu lăng Trường Nguyên

Đâu tòa Triệu Miếu

Đâu thành Thiên Tôn...

Mái đình nắng đổ.

Vương triều một thuở

Nay còn ngàn cây

Triệu Tường thành cổ

Chỉ còn mây bay.

Nền cũ lá rơi

Chiều nghiêng nghiêng gió

Thềm rêu xanh phủ

Xạc xào lời thu.

Bái Đền mây thưa

Vòm xanh vòi vọi

Đền đài sương khói

Trắng chiều Thiên Tôn...

Hà Long 31-7-2008

L.B

Nguyễn Trọng Liên

Những con đường đi từ Hà Trung


Kính tặng Đảng bộ và nhân dân

huyện Hà Trung

I.

Gồng gánh cũng từ đây

Xe đạp thồ cũng từ đây

Nơi khởi nguồn đường Hai mười bảy

Anh đi với em theo chiều dài đánh giặc

Đêm giăng mây mưa đổ cuối rừng

Những chặng đường cách xa

Chiếc cọc thồ oằn vai anh

Em còn ở phía sau

Vai em uốn cong đòn gánh

Mới một tuần ta không gặp nhau

Trời heo may

Đêm em nằm không chăn

Chăn em đem che gạo

Sương rơi ở nơi anh

Đất đã sang mùa

Cả cánh rừng mang đầy nhung nhớ!

Con đường đi qua phà Công

Ta quen nhau từ đó...

Cái đêm anh gánh giùm em gánh gạo lên phà

Người và xe cứ chen nhau qua

Đường ra hỏa tuyến ấm những mô tê

Hỏi em quê đâu?

Em che khăn lên môi

- Quê em Tiên Hòa Thanh Xá.

Con đường sang phà La Hán

Nghe tin máy bay "bà già" vãi đạn

Sông Mã tiễn người ra trận

Gầm sóng đêm thâu đuổi giặc cùng người

Đường Hai mười bảy trở thành đường Anh hùng

Cả cuộc đời con đường tận hiếu tận trung

II.

Đường sắt gạt đất Hà sang một bên

Ga Đò Lèn tạc dấu ấn chiến tranh

Đêm chiến hào dân quân tải đạn

Anh lính phòng không súng chớp đỏ nòng

Cầu Đò Lèn gồng mình cho tầu qua

Xình xịch khói tầu lao lên phía trước

Giặc Mỹ cuồng điên ném bom miền Bắc

Lần đầu tiên chúng ném xuống đất này!

Thần Sấm Con Ma rơi tại đây!

Oanh liệt lắm Hà Trung ơi! Máu lửa!

Ra phía Bắc là Cầu Cừ

Vào phương Nam gặp cầu Hàm Rồng

Hà Trung trong miền bom nổ

Vẫn hiên ngang chiến đấu đến cùng

Đêm vọng về tiếng hát bến sông

Các cô thanh niên xung phong

Lắp cầu cho xe vào Nam đánh giặc.

III.

Đường Mười ba như một mũi tên

Từ Hà Trung đâm về phía biển

ở nơi ấy có hang Từ Thức

Chàng Từ Thức lên Tiên...

ở nơi ấy có một ông quan

Vung gươm đuổi sóng

Và đêm đêm thức với ca trù

Tiếng tom chát rơi vào bầu rượu

Say ả đào đề thơ nhắc khéo với thiên thu...

ở nơi ấy Mai An Tiêm vào bờ dâng vua quả ngọt

Đổi cuộc đời mình cho đắng cay chua chát

Quả da thần thành một trang thư!...

IV.

Đường số Một chạy ra Thủ đô

Hà Trung nối với trái tim Tổ quốc

Hà Trung như lồng ngực khổng lồ

Máu rơi cho tự do nước mắt để dành cho Hạnh phúc

Sáu mươi hai năm gian khổ vững vàng

Lồng ngực ấy vẫn tràn căng sức trẻ

Những đứa con đi xa nay trở về để nhớ

Như đã có lần người chắt máu viết nên thơ!

                         Hà Bình tháng 8-2008

                                     N.T.L

Trần Minh Đát

Sắc màu quê ta

Xa quê đã quá nửa đời

Hôm nay được gặp lại người con yêu

Bờ đê lồng lộng gió chiều

Sữa non ngô mới làm xiêu lòng người

Sông Lèn thêm mấy bãi bồi

Phù xa đỏ hạt gắng nuôi đất lành

Ai về thăm lại Hà Thanh

Thái Lai Hải Toại lối anh đi về

Châu Vinh một dải chân quê

Vân Dương sông Hoạt vỗ về sớm hôm

Phú Lâm Phong Ngọc Đông Sơn

Xuôi dòng mát mái đâu hơn chốn này

Phải rồi Thị trấn là đây

Tròn hai mươi tuổi căng đầy sức xuân

Mát lòng bè bạn xa gần

Tha hương chốn ấy mấy lần dừng chân

Mai về ngược đất Hà Tân

Đường lên rừng Sến giữ chân dặm trường

Bắc Long Giang một đoạn đường

Sắn thơm mía ngọt lưng nương nắng chiều

Tiến Yên nặng gánh thương yêu

Tép riu đỏ thắm khói chiều lơ thơ

Lĩnh Bình Ninh đẹp như mơ

Anh hùng một thuở đất chờ đơm hoa

Hà Trung yêu dấu quê ta

Đất lành chim đậu đường xa nên gần

Hai mươi năm sắc thắm dần

áo tươi mầu hóa thân những là

Núi cao nhường chỗ cho nhà

Nấm tươi phố mới mượt mà đồng xanh

Ai nuôi hạt gạo trong lành

Để quê tôi có bức tranh hài hòa

Một đời công mẹ cha ta

Gieo trồng vun xới xót xa đã từng

Dấu yêu hai tiếng Hà Trung

Muốn ôm trọn cả một vùng bao la

Suối dài đồng rộng sông xa

Nhà vườn sinh thái trại gà vạn con

Đảng dân một dạ sắc son

Dân đi theo Đảng Đảng còn có dân

Đảng cho ta cả mùa xuân

Chồi xanh lộc biếc đang tầm vươn xa

Ngàn năm ta lại về ta

Sông Lèn vẫn chảy hiền hòa quanh năm.

                                  T.M.Đ

Hoàng Chất

Người Hà Trung

"Người Hà Trung bảo anh đừng sợ lạc.." (*)

Ôi những tháng năm đất trời đổi khác

Mẹ lo cho anh không bước tiếp đường dài

Hà Thái Hà Bình Hà Ngọc Hà Lai

Anh dừng chân trăng chưa tròn chưa khuyết

Chiếc ba lô có lá thư viết vội

Cơm nắm vo tròn trong túi cóc đầy căng

Trường Sơn dặm dài suốt mấy mùa măng

Anh vẫn nhớ dưa sắn đồi kho cá

Chiếc võng bạc đung đưa miền đất lạ

Họng súng căng nồng nhớ lời mẹ ru xưa

"Muốn ăn cua rốc ốc nhồi

Đem con mà gả cho người Hà Trung..."

Câu ca dao đến lạnh lòng...

Các con trở về với cánh đồng Cẩm La cỏ lác

Tung những nắm vôi trên vùng nước bạc

Mong mầu xanh như tuổi mẹ hôm nào

Người Hà Trung mang bao nỗi ước ao

"Hạ Long cạn" vùng Hà Tân Hà Tiến

Để xanh mãi một màu xanh rừng Sến

Cùng Đò Lèn trẻ mãi đất Tam Quy

Ngày trở về con chẳng lạc lối đi

Mẹ đưa anh về Hà Phong Hà Ngọc

Gác chuông chùa Trần nụ cười và tiếng khóc

Năm ba mươi chi bộ Đảng ra đời (**)

Thắp sáng niềm tin cháy suốt một thời

ấm mãi lòng anh người Hà Trung đổi mới

Em có nghe mùa xuân vẫy gọi

Xiết vòng tay ơi đất mẹ Hà Trung.

                             H.C

(*) Câu thơ của Vũ Đình Văn

(**) Ngày 10-10-1930 chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Hà Trung thành lập tại gác Chuông chùa Trần thuộc xã Hà Ngọc.

More...

Tác phẩm và Dư luận

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Nguyễn Duy

Có Cả vầng trăng vẫn nhớ ngọn đèn

(Nhân đọc bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy)


                                             NGÔ VĩNH BìNH


Đò Lèn


Nguyễn Duy


Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư-thực

giữa bà tôi và tiên Phật thánh thần

cái năm đói củ dong giềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm

Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Tôi đi lính lâu không về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

khi tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ là một nấm cỏ thôi.

                                N.D


     Bạn tôi nhà phê bình văn học Nguyên An có một bài viết về nhà thơ Nguyễn Duy đăng trên tờ Văn học & Tuổi trẻ với cái tít rất lạ Nguyễn Duy ở đâu ? Cái câu hỏi mà tác giả bài viết nêu ra cứ ám ảnh tôi hoài. Hôm đám tang nhà văn Nguyễn Khải gặp Nguyễn Duy ở Thành phố Hồ Chí Minh ông bảo ông sắp sang đất Phật Nêpan. Mấy bữa sau lại thấy báo đưa tin ông tới Pháp tìm tư liệu về mấy vị vua yêu nước... Trong Hội Nhà văn Việt Nam có lẽ ông chỉ thua cụ Tô Hoài về số lần xuất ngoại còn nơi nội quốc có lẽ Nguyễn Duy ở vào hàng đầu về sự " đi".

      Trong bài thơ Tự bạch ông thừa nhận về cái sự đi về cung "thiên di" của mình:

Cứ bèo bọt bước thiên di

đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng

     Đi nhiều đi bụi đi hoang có; đi trong không khí cuồng nhiệt của các fan hâm mộ có và đi trong ánh sáng trong vinh quang của thơ có... nhưng với Nguyễn Duy như câu thơ của nhà thơ Nam bộ:

Có cả vầng trăng vẫn nhớ ngọn đèn

Đi khắp núi sông vẫn thương về xóm nhỏ

(Viễn Phương - Đám cưới giữa mùa xuân)

     Cái ngọn đèn kia cái xóm nhỏ nọ với ông đó là quê hương Hà Trung (Thanh Hóa) - mảnh đất địa linh nhân kiệt cửa ngõ ra Bắc vào Nam của xứ Thanh nơi ông đã sinh ra và sống một tuổi thơ vô tư hồn nhiên trong suốt và đẹp như cổ tích mà trong bài thơ Đò Lèn của ông đã nói đến.

     Bài thơ như một ký ức một hoài niệm như một trường đoạn phim về thời niên thiếu của nhà thơ với những cảnh câu cá bắt chim bám váy bà đi lễ chùa đi chơi hội... và cả cảnh đi hái trộm trái cây; nhưng bao trùm lên cả là tình cảm da diết sâu nặng với bà ngoại với quê hương yêu dấu của mình.

Dẫu đã đi khắp núi sông nhưng những cống Na chùa Trần đền Cây Thị đền Sòng (đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh) đồng Quan chợ Bình Lâm đò Lèn... nơi quê ngoại cùng những đêm hội với "điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng" và " mùi huệ trắng quyện khói trầm..." còn như những vầng sáng trong ký ức nhà thơ:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

Chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

...

     Quê hương với ông không chỉ như những "chùm khế ngọt" mà còn là nỗi nhớ da diết không dễ nguôi ngoai một niềm thương không bờ không bến đối với bà ngoại. Ông tự trách mình rằng đã không biết thương bà yêu bà; không biết cuộc đời cơ cực của bà: "Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế"!

Ta như thấy nhà thơ nước mắt lưng tròng trước di ảnh người bà nhỏ nhắn tần tảo chịu thương chịu khó trong những tháng năm đất nước chiến tranh nghèo đói với những giỏ cua rổ tép ổ trứng bó chè xanh nồi củ dong giềng luộc sượng:

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo Đồng Giao thập thững những đêm hàn

     Cuộc đời người bà của nhà thơ cũng giống như nhiều bà mẹ Việt xưa là những chuỗi ngày cơ cực mưu sinh hy sinh tất thảy vì con vì cháu; vượt qua tất cả đói nghèo chiến tranh bền gan vững chí để quê hương và nòi giống trường tồn. Sức sống của bà của người mẹ Việt Nam thật là kỳ diệu. Đói nghèo và chiến tranh tưởng đã giết được bà tất cả tưởng đã "bay" đi hết nhưng vẫn còn bà dẫu lam lũ dẫu quê mùa nhưng kiên gan sống:

Bom Mỹ dội nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay bay tất cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

     Bà là thế âm thầm sống lặng lẽ sống; đến khi mất cũng lặng lẽ âm thầm như đất đai như cây cỏ "bà chỉ là một nấm cỏ mà thôi"! Nhưng với tác giả Đò Lèn thì chính bà ngoại của ông cũng là tiên Phật thánh thần là mùi hương mùi hoa tỏa thơm từ những nơi linh thiêng chốn quê nhà:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư-thực

giữa bà tôi và tiên Phật thánh thần

cái năm đói củ dong giềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm

     Tình quê hương trong bài thơ Đò Lèn là tình cảm bao trùm trong nhiều bài thơ khác của Nguyễn Duy. Dường như đến đâu ông cũng nhìn thấy bóng hình quê hương người thân của mình là thế không ai cảm thấy ngạc nhiên khi tác giả Tổ quốc nhìn từ xa cũng là tác giả của những Cát trắng ổ rơm Tre Việt Nam ánh trăng Mẹ và Em... và bất chợt gặp một lão nông Nam bộ đã thốt lên thốt lên thành thơ: "giống cha tôi quá thể"!

                                             Thập Tam trại (Hà Nội) 10-2008

                                                              N.V.B




Những ngày với nhà văn

Nguyễn Thế Phương


                                 Mai Ngọc Thanh

                                     (nhà thơ)


       Tôi có gần bốn năm công tác với nhà văn Nguyễn Thế Phương ở Ty Văn hóa Thanh Hóa.

       Đầu năm 1964 anh từ Hà Nội về. ý tưởng của anh là muốn ở quê hương này có một tạp chí làm diễn đàn tập hợp phát hiện để đào tạo những cây bút sáng tác văn học. Được các cấp có thẩm quyền đồng tình và nhiệt liệt ủng hộ tạo mọi điều kiện cần thiết thế là tập san Người bạn văn hóa ra đời.

Theo ý kiến nhiều người lúc ấy lấy cái tên như vậy khiêm tốn hơn. Trong văn hóa là có cả văn học nghệ thuật. Tập san vừa là diễn đàn của văn hóa vừa là diễn đàn của văn nghệ.

      Buổi đầu dùng hai chữ Người bạn tạo ra được yếu tố tình cảm cho người cộng tác.

      ở Thanh Hóa thời ấy người viết phần đông là ở ngành giáo dục đã vậy lại có hiện tượng "lệch" chỉ toàn là người làm thơ ca hò vè tấu. Được mỗi Thạch Giản quê ở Định Thành (Yên Định) khi vừa học xong cấp ba (Trung học phổ thông) anh đã viết được cuốn tiểu thuyết Hòn đá cõi. Nhưng tại địa phương thì không có cách gì để in cho anh. Ông Phùng Thị Trưởng ty Thông tin lúc bấy giờ giới thiệu với Nhà xuất bản Văn học. Chưa kịp in thì Thạch Giản đã được đi du học ở Liên Xô. Về nước anh hành nghề luật ở Hà Nội.

      Như vậy là trước ngày anh Nguyễn Thế Phương về làm tập san Người bạn văn hóa ở Thanh Hóa chưa có lực lượng sáng tác văn xuôi.

       Bộ máy để cho tập san hoạt động được hình thành. Anh Nguyễn Thế Phương trực tiếp phụ trách chung. Người duyệt cuối cùng bài vở là trưởng ty.

Công việc đầu tiên mà Nguyễn Thế Phương làm là mở trại sáng tác nhằm phát hiện lực lượng mới. Đây là nguồn cung cấp bài vở cho Tập san. Lúc này tôi cũng vừa tốt nghiệp đại học sư phạm khoa văn. Đang những ngày suy tính về lại ngành giáo dục hay tìm một nơi nào đó trong hoặc ngoài tỉnh có thể dung nạp công việc văn chương của mình thì được gọi đi dự cái trại sáng tác này. Trước hôm nhận giấy giới thiệu xuống các cơ sở thâm nhập cuộc sống anh Nguyễn Thế Phương gợi ý tôi nên đi thực tế ở vùng cói - Công giáo huyện Nga Sơn. Anh nói: "Người theo đạo Thiên chúa cũng là đồng bào của ta thôi mà là người nông dân giàu lòng yêu nước; nếu có cái khác là khác ở nơi cổ có đeo thánh giá. Đừng vì cá nhân một vài linh mục theo giặc làm xấu đạo mà mặc cảm định kiến với tất cả. Sống với họ cậu sẽ hiểu điều đó...". Sau một tháng ở với Nga Thanh Nga Liên tôi đem về được hai bài thơ và cái ký. Vốn chỉ làm thơ đất cói là bút ký đầu tiên của tôi. Được anh đánh giá là bút ký hay của trại. Rồi được báo Văn nghệ in Đài Tiếng nói Việt Nam đọc.

      Từ đây tôi quyết định gác lại việc dịch thuật sau khi đã có vài ba cuốn sách dịch văn học Trung Quốc nhằm dồn hết tâm trí cho sáng tác với mong muốn tới lúc nào đó sẽ được khẳng định. Sau trại thì đời tôi có bước ngoặt đáng mừng. Buổi sáng ấy Lê Sĩ Oanh đưa anh Nguyễn Thế Phương tới nhà riêng gặp tôi. Nguyên là thế này anh Hồ Tuấn Hùng về Ty Văn hóa chưa được bao lâu thì cảm thấy công việc ở Người bạn văn hóa không phù hợp với mình dẫu anh cũng đã có ít nhiều thơ ca. Anh xin quay lại nghề dạy học ở trường cấp ba Lam Sơn và giới thiệu tôi thay thế. Dĩ nhiên là tôi nhận lời ngay. Bởi vì ngày còn dạy tiếng Trung Quốc ở trường Trung cấp kiến trúc Hà Nội tôi đã mất một cơ hội chuyển nghề khi xin ra làm báo Vùng Mỏ với nhà văn Võ Huy Tâm. Còn gì sung sướng hơn là được làm công việc mà mình yêu thích. Thơ là nỗi đam mê là ám ảnh da diết từ thời tôi còn là học sinh cấp ba. Về với Nguyễn Thế Phương vừa làm biên tập tổ chức phong trào sáng tác vừa được đi đây đi đó tiếp xúc với hiện thực muôn mặt của đời sống xã hội rất cần cho cảm xúc sáng tác.

       Trước ngày về lại quê hương Nguyễn Thế Phương đã nổi tiếng với truyện ngắn Người bạn cũ Đào chèo và tiểu thuyết Đi bước nữa. Và như vậy là cho tới lúc này ở tỉnh ta mới độc nhất có anh là nhà văn (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam). Những người viết trẻ chúng tôi coi anh là "của quý hiếm" là người thầy trong nghề này. Nhưng anh lại rất đáng yêu dung dị lạ lùng rất chan hòa rất dễ gần gũi với tất cả. Anh có hình thể cân đối cao vừa phải và đẹp trai lắm. Đôi mắt kính cận không hề làm mất đi ánh nhìn đầy tình cảm. Và nụ cười nữa nụ cười tươi tắn và đôn hậu làm sao!

Công việc mở trại viết diễn ra thường xuyên hàng năm. Lần thì ở ngay nơi cơ quan sơ tán (thời kỳ này đang chống chiến tranh phá hoại bằng không quân Mỹ mà). Lần thì ở một huyện xa có "vấn đề" cho người viết thâm nhập lấy tư liệu cho sáng tác. Dĩ nhiên bao giờ anh Nguyễn Thế Phương cũng phải làm Trại trưởng phụ trách chung và đặc biệt quan tâm đến các cây bút văn xuôi trong trại. Đến lúc đi thực tế thì anh tôi và Lê Sĩ Oanh chia nhau đi với các trại viên vừa làm người tổ chức vừa làm công việc thâm nhập như các trại viên vậy.

      Những ai đã từng dự các trại viết ngày ấy hẳn không thể quên hình ảnh Nguyễn Thế Phương một nhà văn có tên tuổi rồi nhưng mỗi lần sửa soạn mở trại là trưởng trại anh không ngồi đấy để rồi khi khai mạc thì ra đọc một diễn văn hay nói dăm câu ba điều. Cũng như chúng tôi xe đạp của anh cũng chở trên poóc - ba - ga những thúng rổ xoong rau củi tới nơi mở trại cho nhà bếp. Cử chỉ ấy khiến mọi người yêu mến anh hơn kính trọng anh hơn. Một nhà văn đã thành danh có tấm lòng với các cây bút trẻ như thế đấy.

Nguyễn Thế Phương ơi! Xin được thay mặt những cây bút đầu những năm 70 ấy kính lạy linh hồn anh!

       Người bạn văn hóa tuy không ra theo định kỳ nhưng do nhu cầu phục vụ cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước nên khoảng cách xuất bản giữa số trước và số sau cũng ngắn nhặt lắm. Những người sáng tác chúng tôi ngày ấy có hạnh phúc thực sự bởi tác phẩm của chính mình được chiến sĩ dân quân tự vệ thanh niên xung phong và nhân dân nhất là nhân dân ở những vùng trọng điểm đánh phá của giặc đón đọc với tất cả lòng say mê. Các mối quan hệ nghề nghiệp và tình tri âm giữa những người sáng tác ngày ấy cũng chặt chẽ da diết hơn bây giờ (?) Có sáng tác mới là tìm đến nhau dẫu đường xa và đầy hiểm nguy vì bom đạn Mỹ để đọc cho nhau nghe và nhận một lời khen hoặc một lời chê rất bạn bè.

       Có Nguyễn Thế Phương ở tập san này các nhà văn nhà thơ làm việc ở trung ương và Hà Nội có thêm lý do để lui tới. Do vậy nhiều người viết trẻ chúng tôi có dịp được gặp gỡ các anh chị ấy được nhận cho mình thêm chất men say nghề nghiệp được nhận cho ngòi bút mình thêm kinh nghiệm sống và viết.

       Nguyễn Thế Phương trở thành nhà văn sau khi công bố hai truyện ngắn Người bạn cũ và Đào chèo. Hai truyện ngắn ấy thôi đã đủ khẳng định một tài năng. Nhưng rất nhanh sau đó khi ba mươi tuổi tiểu thuyết Đi bước nữa đã ra đời (và được tái bản tới lần thứ 5) thì anh đã tự chứng tỏ với người đọc là một nhà tiểu thuyết thực thụ rồi. Đỉnh cao về tiểu thuyết của anh phải nói đến Nắng. Tôi không rõ trước khi hạ bút sơ thảo ngày còn ở Hà Nội thì Nguyễn Thế Phương đã mất bao nhiêu thời gian để nghiên cứu các tư liệu về Thiên chúa giáo để thâm nhập thực tế đạo và đời của đồng bào công giáo qua các họ đạo xứ đạo ở nhiều nơi qua các ngày lễ lạt nữa... Khi về làm việc với anh tôi thấy một chồng cao những cuốn kinh Tân ước Cựu ước và rất nhiều sách về công giáo bằng tiếng Việt tiếng Pháp. Nắng được anh khởi thảo những ngày cơ quan sơ tán lên làng Vạn Lộc (Đông Sơn). Anh viết đều đặn vào các ban đêm; ban ngày khi công việc chung giãn rồi anh cũng viết. Viết kiên trì miệt mài. Tôi hay gọi đùa anh là Ông thợ cày văn. Quả là thế gần anh mới cảm thấu được hết cái lao động nhọc nhằn của các nhà văn viết tiểu thuyết. Thật là đáng sợ với người làm thơ!

       Nhưng ít đêm anh thức trắng. Chậm nhất là 12 giờ đêm anh dừng bút. Tôi hỏi anh nhỏ nhẹ: "Thứ lao động này lao động thơ cũng vậy hao tổn tâm lực lắm. Phải biết giữ sức cho bền mà làm không thì ngoẻo sớm bỏ dở hết". Oái oăm thay vậy mà bệnh tật lại bắt anh phải bỏ bút lúc chưa trọn 59 tuổi!

Tôi được anh cho đọc bản thảo Nắng qua từng phần mỗi khi viết xong. Nắng bộc lộ được hết tài hoa của nhà tiểu thuyết Nguyễn Thế Phương cho tới lúc ấy. Cái ngày anh chia tay với tôi để quay ra Nhà xuất bản Văn học thì bản thảo Nắng trọn vẹn đã nằm trong cái túi vải bạt anh đeo bên hông. Gần bốn năm ròng rã anh mới cày xong "thửa ruộng" Nắng. Mà rất có thể sau đó khi đã an cư tại Hà Nội anh còn phải cày lại phần này phần kia của thửa ruộng lớn ấy.

Đọc Nguyễn Thế Phương tôi nhận ra nét tài hoa nổi bật ở anh là khắc họa rất thành công hình tượng người phụ nữ. Hình tượng nào cũng đẹp đẹp chân thật chứ không phải do tô hồng điểm lục. Anh neo được vào lòng người đọc những Bích (Đào chèo) Hoan (Đi bước nữa) Phấn (Giáp trận) và đặc biệt là Anna Dâng (Nắng) những người phụ nữ rất Việt Nam và cũng rất Thanh Hóa. Nếu là tôi đúng trong nhận định thì có thể nói rằng: Trong các nhà tiểu thuyết của ta Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Thế Phương là tài hoa nhất trong xây dựng nhân vật phụ nữ.

      Có lần vào Đồng Nai anh Lê Tân và Đỗ Minh Dương ở báo Đồng Nai giới thiệu cho gặp Bí thư Tỉnh ủy lúc đó là chị Hai Liên. Chị Hai Liên rất thích đọc văn học. Những năm trước 1975 chị hoạt động trong vùng đồng bào công giáo. Trong chuyện trò chị cho biết những ngày được Trung ương gọi ra Hà Nội tiếp thu những chủ trương mới Ban Tuyên giáo đưa cho chị đọc hai tiểu thuyết về đề tài Công giáo có Nắng của Nguyễn Thế Phương. Theo chị chị thích Nắng hơn. Tôi hỏi nguyên do chị nói: Viết như Nắng thì người Công giáo họ mới chịu. Vì chân thật phản ánh đúng họ không nống lên hơn sự thật...

      Vì thế tôi đồng tình với nhà văn Nguyễn Khắc Trường khi anh thay mặt Tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam chào mừng Đại hội Văn nghệ Thanh Hóa lần VI (tháng 7-2001) có nói đại ý rằng: Thanh Hóa là nơi sản sinh nhiều nhà văn nhà thơ cho đất nước... Có nhà văn Nguyễn Thế Phương mà tài năng đã thể hiện nổi bật qua tác phẩm đặc biệt là tiểu thuyết Nắng rất đáng được nghiên cứu kỹ lưỡng để làm sáng tỏ...

       Nhà văn Nguyễn Thế Phương tên thật là Nguyễn Xuân Phê sinh ra ở làng Bình Lâm huyện Hà Trung một làng khá đẹp có ngọn núi cái tên cũng đẹp: Hoa Lâm bên bờ bắc sông Lèn ở phía dưới cây cầu. Cái làng và cây cầu đã cho anh những tư liệu chủ yếu để xây dựng các tác phẩm thời chống Mỹ.

Cái tên gọi thường ngày cũng là bút danh Nguyễn Thế Phương của anh có xuất xứ thú vị đáng nói. Người anh ruột của anh tên là Nguyễn Xuân Phương trước cách mạng tháng Tám năm 1945 làm một viên chức nhỏ và đã tham gia các hoạt động yêu nước bí mật một trong những người lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên ở huyện Hà Trung. Sau ngày ông Nguyễn Xuân Phương mất phụ thân ông lấy tên "Phương" đặt cho Nguyễn Xuân Phê coi như Phê là người thay thế cho anh (Phương). Vì vậy mà có cái tên Nguyễn Thế Phương. Ông Nguyễn Xuân Phương mất đi có Nguyễn Xuân Phê thay thế (bằng cách mang tên). Nhưng nhà văn Nguyễn Thế Phương mất đi thì chẳng có ai thay thế được...

      Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa ra đời khi Nguyễn Thế Phương đã quay trở lại Hà Nội. Nhưng tôi vẫn luôn luôn nghĩ rằng anh với công lao khá lớn đã nhen nhóm gây dựng nên một lực lượng sáng tác văn học khá mạnh cho quê hương cũng chính là một người góp phần quan trọng vào việc hình thành Hội sau đó bảy năm (1974)

                                                                            M.N.T

More...

Nghiên cứu

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Những người đi mở cõi

                                      Hoàng Khôi

     Truyền thuyết và sử sách đều nói sự quyết định đi vào miền trong của Nguyễn Hoàng là do lời chỉ dẫn kín đáo của Nguyễn Bỉnh Khiêm "Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân". Nguyễn Hoàng (1524 - 1613) là con trai của Nguyễn Kim quê làng Gia Miêu (nay thuộc huyện Hà Trung) vì sợ bị anh rể là Trịnh Kiểm làm hại đã nhờ chị là Ngọc Bảo xin cho mình vào trấn thủ đất Thuận Quảng.

     Đây không phải là cuộc rút lui để bảo toàn sinh mạng mà là một cuộc ra đi mang tầm chiến lược đi để mở mang cơ nghiệp mở rộng cõi bờ. Đây là một cuộc ra đi mang tầm văn hóa lớn. Đến triều Nguyễn đất nước Việt Nam ta không chỉ gồm một dải lục địa từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau mà còn cả một vùng không gian rộng lớn biển trời và vô vàn đảo lớn nhỏ từ Hoàng Sa đến Trường Sa tít tắp ngoài khơi. Cái công lao vĩ đại ấy Nguyễn Hoàng phải là người đầu tiên được khẳng định.

     Tầm nhìn văn hóa của Nguyễn Hoàng có thể ghi nhận ở những nét đại lược như sau:

1. Nguyễn Hoàng thấy được Thuận Quảng và các vùng miền rộng lớn phương nam vừa là nơi dụng võ vừa là nơi dựng nghiệp. Trước ông các vua nhà Lý nhà Hồ nhà Lê đều đã vào Nam nhưng chỉ là để chinh phạt lập võ công và tiêu diệt ý đồ gây hấn. Họ cũng chiếm được đất đai nhưng chưa hề có ý định xây dựng và phát triển. Nguyễn Hoàng có thể xem là người đầu tiên có quan điểm phát triển đất phương Nam.

2. Nguyễn Hoàng đã có một kế hoạch di dân rộng lớn. Từ trước đó sau một số trận đánh ở xa các triều đại các tướng tá của ta đã đặt những chế độ lưu quan lưu đồn và một số vùng phía Bắc đã tiến hành một cách tự phát việc Việt hóa cư dân bản địa. ở vùng Thanh - Nghệ thì có việc cho người Chiêm lập ấp lập làng mới. Chỉ có Nguyễn Hoàng là chủ trương đưa dân đi hẳn vào một phương trời mới lạ nước lạ non. Và kết quả là ông đã tạo ra miền Nam cho nước ta. Đáng chú ý là ông đã truyền lại cái ý đồ chiến lược này cho tất cả con cháu ông như các vị Nguyễn Phúc Chu Nguyễn Phúc Khoát... họ đều tiếp tục được cái chiến lược phát triển của ông. Tầm ảnh hưởng này rất rộng các tướng lĩnh dưới quyền các chúa Nguyễn sau này đều thực hiện sự nghiệp khai phá mở mang ấy.

3. Chủ trương di dân của Nguyền Hoàng là dựa vào cảm tình của ông đối với người dân Thanh Nghệ không dựa vào sự bắt buộc nào của chính quyền. Triều đình Lê - Trịnh không thể ủng hộ ông theo chủ trương này. Ông cũng không phải là quan đi trấn thủ vùng ấy. Vậy mà các dòng họ các làng xã đều tin theo ông họ ra đi mà chưa hề biết vùng đất ấy thế nào. Cho đến nay ta vẫn chưa biết Nguyễn Hoàng đã có những biện pháp văn hóa gì mà tạo được niềm tin tuyệt đối như vậy?

4. Tầm văn hóa chiến lược của Nguyễn Hoàng rất cao còn thể hiện rất rõ ở cách thức tổ chức làng xã hướng sản xuất ổn định nhân tâm tạo ra tập quán mới mà không quên gốc. Nhân dân Thuận Quảng và các vùng miền sau này đã dần dần an cư lạc nghiệp và mặc dù phải cùng họ Nguyễn đối đầu với họ Trịnh nhưng vẫn nhớ đến nhà Lê nghĩa là vẫn nhớ mình là con Lạc cháu Hồng. Rõ ràng những người cầm đầu mà trước hết là Nguyễn Hoàng phải có một tiềm thức giống nòi về đất nước thế nào đó mới giữ gìn cái tình cảm ấy bền vững và sâu sắc được. (Nhận xét này của chúng tôi cũng tương ứng với một nhận xét bằng thơ của Huỳnh Văn Nghệ khi ông nói hộ tâm sự Nguyễn Hoàng nỗi niềm nhớ Bắc:

Ai đi về Bắc ta theo với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

5. Ngoài ra ta còn thấy Nguyễn Hoàng có nhiều khả năng xuất sắc khác. Ông giỏi dùng binh đánh thắng quân Mạc ông biết nhún mình giữ lễ đảm bảo quan hệ với vua Lê chúa Trịnh để giữ hòa khí những buổi ban đầu. Ông biết sử dụng nhân tài biết giáo dục thuộc hạ. Có rất nhiều truyền thuyết dân gian cho thấy ông thực sự là một nhân vật văn hóa gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng dân.



Đình Gia Miêu (Hà Long Hà Trung Thanh Hóa) thờ Chúa Nguyễn Hoàng
(ảnh do nhà thơ Nguyễn Duy chụp năm 1997 trước khi được trùng tu)


                                                *

     Hơn 100 năm sau đất Gia Miêu xuất hiện một nhân tài mở cõi nữa. Đó là Nguyễn Hữu Cảnh (1650 - 1700). Có thể còn nhiều người Thanh Hóa chưa quen lắm với cái tên này. Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là Nguyễn Hữu Kính là con thứ ba của Nguyễn Hữu Dật quê làng Gia Miêu Hà Trung. Nguyễn Hữu Dật làm trấn thủ ở Quảng Bình năm 46 tuổi sinh ra Nguyễn Hữu Cảnh. Nguyễn Hữu Cảnh có anh trai là Nguyễn Hữu Hào tác giả truyện thơ Song Tinh bất dạ. Gia đình Nguyễn Hữu Cảnh cha ông đều là con trực tiếp của Thanh Hóa.

Nguyễn Hữu Cảnh đã theo cha trên những bước đường chinh chiến và lập nhiều chiến công: đánh Chiêm Thành (1692) đánh Chân Lạp (1698) và được giao trấn thủ nhiều vùng đất mới gia nhập bản đồ Việt Nam như Diên Khánh Khánh Hòa. Nhưng thành tích lớn lao nhất mà lịch sử Việt Nam không thể không ghi công lớn là ông đã lãnh đạo khai thác miền Đông Phố thành lập các dinh Trấn Biên Phiên Trấn (Biên Hòa và Gia Định ngày nay). Tạo ra được Sài Gòn nay là thành phố Hồ Chí Minh công đầu là của Nguyễn Hữu Cảnh.

     Nét đặc sắc của Nguyễn Hữu Cảnh trong những năm cuối thế kỷ XVII là tầm văn hóa của ông trong đường lối mở mang cơ nghiệp. Kế hoạch của ông đầy đủ bao quát chi tiết mà nổi bật lên là lòng nhân đạo sự nhiệt tình với dân với nước. Ta hãy hình dung lại: vào cuối thế kỷ XIX Pháp đã xâm chiếm Việt Nam với trình độ khoa học và kỹ thuật thời đó họ cũng chỉ mở mang đất Sài Gòn trong một phạm vi hạn hẹp. Thế mà từ ba thế kỷ trước đó cả miền Nam mênh mông và hoang sơ đã được Nguyễn Hữu Cảnh qui hoạch tổ chức và kiến thiết thành một miền trù phú bao la thì đúng là một tài năng xuất sắc - ông đã cho thực hiện:

1. Ông đưa ra và thực hiện kế sách "Đao canh hỏa nậu" (đốt cỏ để trồng lúa) tức là khai phá rừng rậm đất hoang thành đất trồng.

2. Ông tổ chức hệ thống làng xã chia địa bàn cư trú một cách qui mô hợp lý. Đất Đông Phố được ông lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (những tên Phước Long Tân Bình vốn là tên làng tên huyện ở Quảng Bình nơi sinh ra Nguyễn Hữu Cảnh - Đây là một cách đặt tên mang ý nghĩa văn hóa vì gắn với ý thức cội nguồn). ở Phước Long có dinh Trấn Biên (nay là Biên Hòa; ở Tân Bình có dinh Phiên Trấn (nay là Sài Gòn). Ông cho lập đinh điền đặt ra các lân (thôn nhỏ) xã khóm ấp. Ông cũng định ra các mức thuế tô thuế dụng.

3. Ông tổ chức lại giao thông cho phát triển thương mại. Người Hoa được cho định cư nhập sổ hộ bộ Việt Nam lập thành các làng xã như xã Thanh Hòa (Biên Hòa) xã Minh Hương (Sài Gòn). Ông cho phép tàu bè nước ngoài vào cảng Đại Phố khuyến khích dân chúng ở Đàng Ngoài vào lập nghiệp. Câu ca dao:

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định Đồng Nai thì về

nói về không khí nhộn nhịp phồn vinh của vùng đất này được cho là xuất hiện thời Nguyễn Hữu Cảnh kinh dinh đất mới.

4. Sáng kiến của Nguyễn Hữu Cảnh trong khi mở mang đất mới có thể thấy rõ ở hai hướng. Vùng nông thôn hay miền núi ông chia ra các loại sơn điền thảo điền và cho dân khẩn hoang lập thành nông trại. ở vùng cư dân sầm uất ông cho lập các phố thị. Đặc biệt ông chú trọng đường sá ở các khu phố thị này ví như ở Đại Phố có ba loại đường: đại nhai lộ là đường lớn lót đá trắng hoành nhai lộ là đường ngang lót đá ong và tiểu nhai lộ là đường nhỏ lót đá xanh. Sáng kiến này tạo cho phố thị một diện mạo mới.

5. Nguyễn Hữu Cảnh còn là một nhà ngoại giao xuất sắc. Hồi ông mở mang biên cương vùng phía Nam thì người Chân Lạp không phục tùng song vì thấy binh uy của ông quá mạnh vua Nặc Ông Thu bỏ trốn để cho cháu là Nặc Yêm đầu hàng. Nguyễn Hữu Cảnh chiếm thành nhưng giữ nghiêm lệnh không tơ hào của dân không xâm phạm tính mạng dân nên dân là người Chân Lạp cảm ân đức đã toàn tâm qui phục. Vua Nặc Ông Thu cũng về hàng. Ông khuyễn khích được tình thân thiện giữa các dân tộc Chân Lạp Hoa Việt nên khi mất đi được thờ phụng nhiều nơi. Ngay ở Nam Vang cũng có điền thờ ông.

Nhân dân miền Nam rất nhớ ơn Nguyễn Hữu Cảnh và họ biểu lộ sự thành kính tri ân này bằng một hành động rất văn hóa là dựa vào tên làng của ông mà đặt tên cho nơi ở của mình.

     Nguyễn Hữu Cảnh vừa cơ bản xây dựng xong miền Nam thì nhuốm bệnh. Thuyền chở ông về đến Rạch Gầm ngã ba Tiến Giang thì ông mất thọ 51 tuổi. Triều đình phong cho ông nhiều chức tước nhưng nhân dân thì chỉ nhớ ông là một vị chưởng binh. Họ gọi ông là Ông Lớn đền thờ ông gọi là Đền Ông. Con sông do ông chỉ huy đào phía dưới Vàm Nao (Châu Đốc) đặt tên là Long Giang được người dân gọi là sông Lòng Ông. Cả một vùng đất Thủ Điền xưa (thời thuộc Pháp đổi tên là Kiến Long) thì được gọi là Cù lao Ông Chưởng với câu ca dao nhớ ơn ông còn truyền tận bây giờ:

Lao xao quạ nói với diều

Cù lao Ông Chưởng quá nhiều cá tôm.

                                               *

     Ôn lại cuộc đời và thành tích vĩ đại của Nguyễn Hoàng Nguyễn Hữu Cảnh có thể có chăng một liên hệ suy tư? Phải chăng đây là một nét văn hóa truyền thống của người Thanh Hóa: khẩn hoang và lập nghiệp? Ngược dòng lịch sử đất Nga Sơn đã được khai phá với Mai An Tiêm ông Tu Nưa đã tạo ra núi Quảy sông Cày rồi Nguyễn Hoàng mở mang Đàng Trong dựng nên đế nghiệp rồi Nguyễn Phúc Chu là vị chúa trực tiếp của Nguyễn Hữu Cảnh đến Nguyễn Hữu Cảnh rồi sau nữa là Nguyễn Phúc Khoát đã thu phục được Mạc Thiên Tứ sát nhập Hà Tiên vào bản đồ Việt Nam. Vô tình hay có qui luật nào để có được những người xứ Thanh như vậy? Và vô tình hay hữu tình mà những con người tiêu biểu này những người đi mở cõi này đại đa số lại có nguồn gốc từ đất Gia Miêu.

                                                           Rằm tháng 7 năm Mậu Tý

                                                                         H.K

More...

Nghiên cứu

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Bàn về những liên hệ giữa

hình tượng thờ Nữ thần và

Thánh mẫu liễu hạnh ở Thanh Hóa

                                                   TS. Lê Văn Tạo

      Hình tượng hay biểu tượng dùng thờ tự trong tôn giáo tín ngưỡng của người Việt là một vấn đề rất rộng lớn cả về tính lý luận và thực tiễn. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin chỉ đưa ra một số ý kiến về diễn biến hình thức tạo hình của một số hình tượng nữ thần ở Thanh Hóa. Mong rằng có thể tìm thấy những liên hệ nào đó ở các hình tượng nữ thần thông qua thời kỳ khác nhau chăng?

     Đó là hình tượng về nữ thần thuộc phong cách văn hóa Đông Sơn muộn (hình người chiến binh là phụ nữ trên cán dao găm tìm thấy nở núi Nưa đầu công nguyên mà dân gian cho là hình Bà Triệu) hình tượng các Phật Bà trong các chùa thời Lý- Trần ở Thanh Hóa tượng thờ các liệt nữ nhân thần hiển linh như bà Phạm Trần Hoàng hậu bà Ngô Thị Ngọc Dao (Quang Thục Thánh mẫu) thế kỷ XV ở Thọ Xuân hai tượng Đức Bà ở Phủ Voi thế kỷ XIX năm tượng Hoàng hậu các vua Lê ở đền Lê - (Bố Vệ thế kỷ XIX) đặc biệt các tượng Thánh mẫu ở đền Sòng Sơn (Bỉm Sơn) và đền Mẫu Liễu ở Phố Cát (Thạch Thành).

      Chúng ta dễ dàng nhận thấy yếu tố nữ có tính trội hơn trong bất kỳ hình tượng biểu tượng tôn giáo tín ngưỡng nào trên đất Việt. Đức mẹ Maria trong Kitô giáo được người Việt rất xem trọng. Tượng Phật Bà Quan Âm là một biểu tượng mà ngươì Việt sáng tạo không ngừng trong diễn trình của văn hóa phật giáo của dân tộc.

     Trong điêu khắc đình làng xứ Thanh ít thấy biểu tượng Nam Thần được chạm khắc trên các cấu kiện kiến trúc phần lớn là tượng các hộ pháp canh gác bên ngoài. Tại một số đền đình chùa ở Thanh Hóa như: đình Phú Điền chùa Hoa Long Tự đền Trần Khát Chân Bảng Môn đình có nhiều hình tiên nữ trong hoạt cảnh Rồng - Tiên được chạm khắc trên các câu đầu xà ngang diềm y môn...

     Vấn đề là số lượng hình tượng nữ thần ở Thanh Hóa không nhiều so với các vùng châu thổ sông Hồng nhưng lại mang tính điển hình ở mỗi thời kỳ tại sao vậy? Xin được nêu ra những pho tượng sau để cùng bàn luận:

Bức tượng người đàn bà có sớm nhất của người Việt có lẽ là hình người trên cán dao găm bằng đồng ở núi Nưa - Thanh Hóa (dài 25cm) có niên đại đầu công nguyên khắc chạm hình người phụ nữ Việt tóc vấn cao trên đỉnh tai đeo khuyên tròn to gần bằng chiều dài của tai mặt trái xoan mắt to môi dày ngực nở áo váy gợi hoa văn hình sóng cổ tay đeo nhiều vòng lớn dây thắt lưng vấn nhiều lớp gợi về y phục người Mường ngày nay. Hình tượng ngưòi phụ nữ này dân gian truyền tụng cho là hình tượng Bà Triệu.

      Bức tượng có tư cách là người phụ nữ bình dân đầu tiên bằng đá của người Việt được linh hóa là hai tượng ở lăng Ngô Thị Ngọc Dao (Quang Thục Thánh mẫu) tại Lam Kinh (Thanh Hóa) niên đại thế kỷ XV (có chiều cao 1 2m). Gồm hai tượng đăng đối chầu hai bên thần đạo. Dáng tượng mập mạp y phục thụng chùng phủ kín gót chân khăn vấn đầu hình chóp trụ hai tay cung kính dấu kín trong khăn. Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao là người Động Bàng huyện Yên Định Thanh Hóa là con gái tướng công họ Ngô mẹ bà là con gái quan thượng thư họ Phan. Tương truyền bà là người thông tuệ nết na xinh đẹp được vua Lê Thái tông yêu quý. Do công đức lớn của Hoàng Thái hậu trong việc nuôi dạy hoàng tử Tư Thành (sau là vua Lê Thánh tông) nhiều tham vấn mưu lược cho vua trong nội vụ và trong chiến trận bình Chiêm Thành mà dân chúng khắp trong nước xem Bà là Mẫu nghi thiên hạ. Nhiều làng trong nước xem bà là Thần hoàng làng của họ ví như ở xã Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) có đền thờ bà gọi là đền Hoàng Vân hay đền Bà Chúa (cách biển Thiên Cầm khoảng 6km)... Lăng mộ Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao có thể là lăng mộ duy nhất được phép không phải phân biệt với lăng vua theo điển lệ của nhà Lê đựơc bày đặt các linh thần làm tượng chầu trong đó có hai tượng hầu nữ.

Hai pho tượng nữ thần đã gây nhiều ấn tượng cho giới sử nghệ thuật học là các tượng Đức Bà bằng đá ngồi tọa thiền trong kiệu ở Phủ Voi Đông Sơn Thanh Hóa có niên đại ở thế kỷ XVIII (tương truyền là hai bà cô Tướng công Hoàng Bùi Hoàn?). Hai tượng có kỹ thuật diễn tả đặc điểm tính cách khá giống nhau phong cách tả thực cao. Vấn đề nêu lên ở hai tượng này là tính phản ánh các khía cạnh trong văn hóa tâm linh của Việt ở thế kỷ XVIII XIX. Các tượng đều có dáng ngồi chân xếp lên nhau kiểu tọa thiền của tượng Phật. Nhưng các thế tay lại khác nhau tượng ở kiệu thờ bên tả có tay cầm túi têm trầu tượng bên kiệu hữu tay phải cầm quạt tay trái lần tràng hạt. Y phục nhiều lớp bên ngoài là bộ thụng phủ kín thân đường nét mềm mại bó sát người khăn chít đầu mỏ quạ mặt tròn phúc hậu tuổi chừng 40. Về tổng thể tượng Đức Bà ở Phủ Voi (Đông Sơn- Thanh Hóa) gợi về liên tưởng về dáng của các bà lên đồng trong các đền Thánh Mẫu ngày nay.

     Năm pho tượng gỗ sơn son thếp vàng có niên đại thuộc thế kỷ XIX ở đền Lê (Bố Vệ TP. Thanh Hóa) là những tượng thờ có phong cách tả thực cao mỗi tượng với một vẻ cá tính thể hiện rõ trên mỗi chân dung hoàng hậu các vua nhà Lê đương thời.

     Các tượng Thánh mẫu ở Phố Cát (Thạch Thành) và đền Sòng Sơn (Bỉm Sơn Thanh Hóa) không xác định được niên đại nhưng dòng tượng Thánh mẫu hiện biết ở Thanh Hóa ít còn bản nguyên gốc trước thế kỷ XIX.

Vấn đề của chúng tôi xin nêu lên ở đây là những bức tượng trên ngoài vấn đề nghệ thuật học thì có nói lên điều gì khác nữa? đặc biệt trong biểu tượng về tín ngưỡng thờ Mẫu Liệu có một liên hệ gì từ những hình nữ thần xa xưa đến tượng Thánh Mẫu và mối liên hệ gì của các biểu tượng tín ngưỡng đó với con người đương đại?

     Các biểu tượng tín ngưỡng tôn giáo của người đều gắn liền với tính phồn thực và yếu tố trọng nữ. Tứ bất tử của người Việt gồm: Thánh Tản Viên Phù Đổng Thiên Vương Chử Đồng Tử Mẫu Liễu trong đó duy nhất chỉ có Thánh mẫu Liễu Hạnh là nữ nhưng biểu tượng lại rất đa dạng và phong phú cả về hình tượng và ý nghĩa tâm linh.

     Trong sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo biểu tượng Thánh mẫu Liễu Hạnh là một sáng tạo độc đáo của người Việt. Việc tôn thờ các thần thánh nữ không chỉ phổ biến ở Việt Nam nhưng vấn đề là ở tính biểu tượng và hình thức lý giải vừa siêu hình vừa trần thế của Mẫu Liễu Hạnh của người Việt.

Thanh Hóa là đất trọng các yếu tố Nho giáo tự cho mình là trung tâm của dòng tư tưởng chính thống suốt từ năm 1428 - 1802. Do vậy các cơ sở thờ tự tín ngưỡng tôn giáo yếu tố nữ khó mà có thể đa dạng và phong phú so với các vùng văn hóa châu thổ sông Hồng. Thế nhưng nếu không bàn về số lượng thì yếu tố mang tính khởi đầu và yếu tố mang tính trọng tâm thì các tượng thờ nữ thần ở Thanh Hóa có nhiều điều độc đáo. Ví như phong cách tạo hình tượng Mẫu Liễu Hạnh ở đền Sòng Sơn (Bỉm Sơn) không thể hiện tính nối tiếp các phong cách tượng phật tượng lăng mộ hay tượng thờ nhân thần trước đó bao nhiêu ở Thanh Hóa. Ngoại trừ cách tạo khối chân dung nhưng được tô son cho gần với người thực. Các tượng Mẫu thường được mặc y phục quý phái (Công chúa Ngọc hoàng giáng trần đời Thiên Hựu-1557) rất chú trọng diễn mầu và thần thái chân dung. Mầu sắc y phục của các tượng trong tam tòa thường có vị trí và y phục như sau: Thánh Mẫu Liễu Hạnh có vị thế cao nhất trong ban thờ sắc phục mầu đỏ (có nơi mầu vàng); thấp hơn bên hữu là Mẫu đệ nhị tức Mẫu Thoải y phục mầu trắng; tương ứng về phía tả là Mẫu đệ tam tức Mẫu Thượng Ngàn y phục mầu xanh.

     Xuất xứ Thánh mẫu có nhiều dị bản huyền thoại nhưng việc sinh thác thì gần như đồng nhất cho là ở Vụ Bản Nam Hà. Nhưng người ta cũng cho rằng bà có gốc gác ở Thanh Hóa vì căn cứ vào việc giáng trần lần thứ hai là ở Phố Cát (Thạch Thành Thanh Hóa) và lúc hiển thánh là ở đền Sòng Sơn (Bỉm Sơn Thanh Hóa).

     Thực ra Mẫu Liễu Hạnh là biểu tượng của đạo Mẫu ở Việt Nam có nguồn gốc từ lâu đời. Liễu Hạnh công chúa chỉ là hình tượng sáng tạo cuối cùng kết tinh cao nhất của ngươì Việt vào thế kỷ XV về việc thờ Thần Nữ. Xét về khởi thủy những sự tương đồng trong tín ngưỡng tâm linh thờ thần nữ đã có tiền đề cho hình tượng Mẫu Liễu rồi. Chúng ta thử xét từ những hình tượng nhân thần liệt nữ và linh thần huyền thoại trong lịch sử như Tiên Dung Man Nương Mỵ Châu đến những thánh nữ là nhân vật lịch sử bước vào thần thoại như Hai Bà Trưng Bà Triệu Ngọc Trần Thánh mẫu (Phạm Hoàng hậu) Quang Thục Thánh mẫu... thì việc ra đời một hình tượng Thần nữ có tính Mẫu nghi Thiên hạ như Thánh mẫu Liễu Hạnh là một tất yếu.

     Vấn đề biểu tượng Thánh mẫu là một hình tượng dân gian đã ngầm định không chú trọng về hình khối điêu khắc chuyển từ phong cách tạo khối truyền thông trước đó sang cảm quan mầu sắc và thần thái. Có thể xem tượng thờ Mẫu là sản phẩm văn hóa có tính sáng tạo độc đáo của dân tộc cần được nghiên cứu và bảo lưu. Đặc biệt khi các bức tượng này đựơc thức dậy trong không gian thiêng liêng với những nghi lễ của các giá đồng kéo dài gần như liên miên trong những ngôi đền nhỏ bé. Trong đó đáng quan tâm nhất là việc sáng tạo ra các nghệ thuật liên ngành như: hát múa tạo hình và tâm thức tín ngưỡng dân gian đa chiều. Với hình ảnh bà đồng được thay đổi y phục qua các giá gần như các y phục của Thánh Mẫu trên tam tòa.

Những pho tượng nữ thần mà cổ nhân để lại qua những thời đại khác nhau đều có sự liên kết nhất định trong một dòng chảy văn hóa tâm linh truyền thống thực ra đó là những biểu đạt sáng tạo về chính mình của con người.

                                                                            L.T

Diện mạo tầm vóc hò sông Mã


                                                  Văn Hòe

      Hò sông Mã là điệu hò của những người làm nghề chèo chống đò dọc trên hệ thống dòng sông Mã.

Gọi là hệ thống sông Mã bởi sông Mã có những hợp lưu và các chi lưu như:

1. Sông Luồng (sông Lò hợp lưu vào sông Mã ở Hồi Xuân Quan Hóa).

2. Sông Bưởi từ Ninh Bình chảy qua Thạch Thành Kim Tân hợp lưu vào sông Mã ở địa phận Vĩnh Lộc.

3. Sông Cầu Chày từ Lang Chánh hợp lưu vào sông Mã ở địa phận huyện Yên Định.

4. Sông Chu (sông Lương) là hợp lưu của sông Cao sông Đạt và sông Âm thành sông Chu rồi hợp lưu vào sông Mã ở ngã ba đầu nơi giáp ranh của ba huyện Đông Sơn Thiệu Hóa Hoằng Hóa.

5. Sông Tống Giang từ Ninh Bình chảy qua Thạch Thành Hà Trung đến Nga Sơn chia thành hai nhánh. Nhánh phía nam hợp lưu vào sông Mã.

Ngoài các hợp lưu còn có các con kênh đào nối sông Mã với sông Yên rồi thông vào Nghệ An.

     Như vậy sông Mã là một hệ thống giao thông đường sông. Thuyền bè có thể giao thông đi lại khắp nội địa và thông ra cả cửa biển như Lạch Sung Lạch Hới Lạch Trào Lạch Bạng để chạy vượt với ngoài đại dương.

Thời xa xưa khi giao thông đường bộ chưa được mở mang các phương tiện vận tải chưa có trang bị cơ giới thì vận tải bằng đường sông trên hệ thống sông Mã là phương tiện vận tải thuận lợi nhất. Trong đó đò dọc chở hành khách buôn hàng chuyến từ các vùng về ăn chợ tỉnh vào các ngày 2 7 12 17 22 27 âm lịch hàng tháng. Tuyến ở xa phải đi trước nhiều ngày tuyến ở gần thì lại ngắn ngày. Như vậy dò dọc thường xuyên xuôi ngược trên dòng sông Mã.

      Các tuyến đò dọc sông Mã:

Đò dọc sông Mã có 4 tuyến chính

1. Tuyến nguồn: Hàm Rồng - Hồi Xuân Quan Hóa.

2. Tuyến Vạn: Hàm Rồng - Trình Vạn Hồi Xuân.

3. Tuyến lạch: Hàm Rồng - Lạch Sung Nga Sơn.

4. Tuyến Kim Tân: Hàmg Rồng - Kim Tân Thạch Thành.

Có những con đò đi suốt tuyến và cũng có những con đò đi các tuyến ngắn tùy một số hành khách theo mùa vụ và nhu cầu của hành khách.

Sông Mã lắm thác ghềnh luồng lạch từng khúc sông có đặc điểm khác nhau nên những con đò dọc đi tuyến nào thì trở thành cố định tuyến ấy nếu không quen luồng lạch thì rất khó vượt trên dòng sông.

Ngoài các con đò chợ vận hành thường xuyên theo định kỳ hệ thống sông Mã còn có các con thuyền vận tải lưu thông hàng hóa nội địa và đi ra ngoại tỉnh vào miền trung ra miền bắc của dân dụng ngoài ra còn có những con thuyền nhà binh vận chuyển quân lương.

      Bởi vậy mật độ thuyền bè trên hệ thống sông Mã xưa kia có tới hàng mấy ngàn chiếc.

      Các dòng chảy trên sông Mã

Sông Mã trên chặng thượng lưu có nhiều thác ghềnh vực chảy nước đổ ầm ầm chảy xiết nước xoáy...

      Chặng trung lưu dòng sông uốn lượnũen nhiều cánh đồng cồn bãi qua mỗi mùa mưa thường hay thay dòng đổi lạch thuyền dễ mắc cạn.

Chặng hạ lưu chịu tác động thủy triều lên xuống mỗi khi thuyền từ lạch lên ngược nước chảy xiết không thể chèo được mà phải dùng sào chống ngược rất khó nhọc.

      Tổ chức vận hành đò dọc

      Do tính chất đặc điểm dòng sông như vậy mà hành trình các chuyến đò phải cặp bến đúng sáng ngày chợ phiên. Bởi vậy các trai đò phải có một tập thể có tổ chức chặt chẽ. Số lượng gồm bốn trai đò lúc thì cùng chèo lúc thì cùng chống sào dưới sự điều khiển của người cầm lái. Trai đò còn có tên là "Hóp đò".

      Tất cả các mệnh lệnh chèo chống do người cầm lái ban ra đều được âm nhạc hóa đó là những điệu hò khác nhau để thay đổi các động tác chống chèo khác nhau bằng những điệu "xô" khác nhau.

Ví dụ trai đò đương hò điệu đường trường "Dô khoan dô huầy" bỗng nghe ông lái bắt cái "Dô tã á dô ta à..." tức là điệu "hò làn ai" thì tất cả phải chuyển sang hò làn ai. Tốc độ do người cầm lái hò nhanh hay chậm theo tiết tấu phần xô đã ước lệ.

      Những điệu hò đò dọc.

      Cho tới nay theo chúng tôi sưu tầm được thì hò đò dọc sông Mã có những điệu hò như sau:

1. Hò rời bến: Dứt khoát phấn chấn thể hiện sự tự tin. Lời hò giới thiệu con đò... hoặc thể hiện chào xã giao của trai đò với khách nằm đò.

Ví dụ: Thuyền tôi ván táu sạp lim

Đôi mạn săng lẻ lại khắc đôi chim phượng hoàng

Hoặc nhắc nhở: Cầu lim ván táu song sào

Rửa chân cho sạch mời vào trong khoang. v.v...

2. Hò nhịp đôi kiểu một: Cũng có con đò gọi là hò bắt cái

Phần xô: ế dô khoan dố khoan dô huầy

Bấy lâu vắng mặt cô mình

Như gương nhớ lược lộc bình nhớ hoa. v.v...

3. Hò nhịp đôi kiểu hai:

ế dố khoan là dố khoan

Lênh đênh một chiếc thuyền hà

Nay sửa mai sửa của nhà sạch trơn. v.v...

4. Hò làn ai: Khi con đò đi qua chặng sông trên bờ có bãi tha ma thì trai đò thường hò làn ai.

Dô tã á dô ta à...

Thiếp sắm cho chàng tiểu đại hoa chanh

Hai đầu chữ thọ chung quanh hoa hồi

Đã về kiếp ấy thì thôi

Xin chàng ngồi dậy ăn xôi nghe kèn! v.v....

5. Hò ru ngủ: Khi trời về khuya thì thường hò điệu ru ngủ để khách hàng đò ngon giấc.

Xô "Dô khoan dô khoan dô khoàn ế hề hò khoan ới dô khoan" chú ý hò chậm dần nhẹ dần.

Trách thân lang bạt kỳ hồ

Buồm xiêu vì gió trăng mờ vì mây. v.v....

6. Hò làn văn: Thường hò khi con đò đi qua đền thờ.

Khoan khuất là tính dô hồ khoan

Trên đồi ngàn gió thổi rung cây

Dưới khe con cá lội một đàn chim bay về ngàn . v.v...

7. Hò niệm phật: Thường hò khi con đò qua các chùa chiền

Hôm nay mươi bốn mai rằm

Ai muốn ăn oản thì nằm với sư . v.v...

8. Hò vượt thác: Vượt thác là vô cùng khó khăn phải chèo rất dứt khoát tiết tấu nhanh chắc.

Dô tá à

Yêu anh thì quyết với anh

Dù cho vượt thác qua ghềnh cũng theo. v.v...

9. Hò cầu chúa: Thường dùng khi con đò qua chỗ có nhà thờ công giáo.

a... men lạy đức chúa tôi

Ngước lên chữ thập nhà thờ

Đức mẹ đứng đó đang chờ các con.

10. Hò sắng ngược (hò chống sào) Khi gặp nước chảy xuôi mà đò phải lên ngược thì hò sắng ngược.

Dô... thêm à vào... thêm có đây dô....

Thương ai đứng bụi nấp bờ

Sáng trông đò ngược tối chờ thuyền xuôi

Thêm a... vào... thêm a có đây... v.v...

11. Hò kéo cạn: Khi con đò bị cạn vừa đáy thuyền hơi sát xuống cát người ta xuống sông dùng giây kéo.

Hò ớ hờ... thuyền đã mắc cạn lên đây...

Mượn đôi dải yếm làm giây kéo thuyền

ớ hờ hờ hò dô ta lắng lặng mà nghe mà nghe ta hò... v.v...

12. Hò vác cạn: Khi con đò bị doi cát làm cạn đáy trai đò phải ghé vai vác đò.

ớ hò vác... vác này

Thấy em anh cũng muốn thương

Nhưng còn e nhất quốc lưỡng vương thế nào?

ớ hò vác... vác này... v.v...

13. Hò cập bến: Qua một đêm vận hành thuyền đã tới bến. Mọi người háo hức hành khách thì chuẩn bị hành lý trai đò chèo tăng tốc để con thuyền cặp vào sát bến.

Hò: Dô tà....

Lác trông phong cảnh vui thay

Báo Bồng có phải chốn này hay không? v.v...

     Trên đây là tổng cộng các điệu hò. Tùy từng khúc sông từng con đò áp dụng các điệu cho thích hợp chứ không phải tuân theo thứ tự. Có chặng sông con đò chỉ dùng toàn hò xuôi nhưng cũng có đoạn sông phải vượt thác thì lại hò khác v.v..

      Ngoài ra còn phải hò kể nhật trình các tuyến sông.

- Đặc biệt hò sông Mã là hò để chèo tiết tấu nhịp hò phải hợp với động tác chèo chống nói cách khác Hò sông Mã là âm nhạc hóa động tác chống chèo. Còn lời hò là tả tâm trạng tự sự của các chàng trai đò. Đối tượng của hò là các cô gái khách đò.

     Tiết tấu các điệu hò sông Mã phù hợp với tiết tấu nhịp điệu các động tác chèo chống khác nhau. Bởi vậy hò sông Mã là tín hiệu của người cầm lái (thuyền trưởng) ban ra để các trai đò (thủy thủ) tuân theo thay đổi cách chèo chống.

- Lời hò vừa tả cảnh sắc đôi bờ dòng sông vừa phản ánh tâm trạng hoàn cảnh người làm nghề đò giang sông nước. Vừa giao duyên đơn phương với khách hàng đò hầu hết là nữ giới còn trai đò hoàn toàn là nam giới.

- Tác giả của hò sông Mã là những người trai đò dọc nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ. Họ tự vận ra câu hò để nói lên nỗi lòng của mình vừa để thể hiện tài năng trước phái nữ là khách hàng đò để thu hút được nhiều hành khách về đò của mình. Vì phải hò thâu đêm qua nhiều chặng sông nên ngoài những câu nói về đò giang sông nước người ta còn phải hò cả truyện thơ như truyện Kiều truyện Phương Hoa v.v... và hò lên các bài nhật trình sông Chu sông Mã chính là để giáo dục cho lớp trẻ thuộc các dòng sông ấy.

Đặc điểm hò sông Mã là hò để chèo vì tiết tấu của hò chính là tiết tấu của động tác chèo chống. Bởi vậy các điệu hò sông Mã là sản phẩm tinh thần của những người chèo chống chuyên nghiệp kế tiếp nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác.

     Cứ đêm xuống trăng lên các con đò dọc xuôi ngược trên sông điệu hò vang vọng hòa với tiếng chân dậm thình thịch trên sạp thuyền của trai đò tiếng rì rào của mái chèo khua sóng nước điệu hò vang lên lúc khoan lúc nhặt lúc nặng nhọc ngược dòng lúc lướt nhẹ xuôi dòng. Lời hò vang lên vừa tả cảnh sắc vừa tả tâm trạng vừa buồn thương vừa vui nhộn vừa hài hước trào phúng.

     Hò sông Mã là món ăn tinh thần của khách hàng đò của trai đò và cũng còn là món ăn tinh thần của nhân dân xóm làng đôi bờ sông Mã qua nhiều năm tháng.

                                                                           V.H

More...