tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh số tết Canh Dần

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Mời các bạn đón đọc tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh số tết Canh Dần

Kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010) và đón xuân Canh Dần 2010 tạp chí xuất bản số đặc biệt với các nội dung:


- Phát huy vai trò báo chí văn nghệ phục vụ đắc lực các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và nhân dân (Đinh Viết Ba Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

- Kỷ niệm về những lời dạy của Bác (Thiều Quang Toa)

- Hoàng Lệ Kha người chiến sỹ Cộng sản (Nguyễn Thiện Phùng)

- Hàm Rồng cây cầu huyền thoại (Lê Xuân Giang)

- Mùa xuân trở về (truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh)

- Chuyện của hai người (truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh)

- Gái quê (truyện ngắn của Nguyễn Bá Doanh)

- Nghi Sơn trước thềm xuân (bút ký của Bùi Lâm Bằng)

- Sợi dây chuyền bạc (truyện ngắn của Cẩm Hương)

Thơ của các tác giả: Nguyễn Bao Nguyễn Hoa Ma Trường Nguyên Văn Đắc Nguyễn Ngọc Quế Vũ Thị Khương Lê Quang Sinh Đào Phụng Phạm Minh Dũng Nguyễn Minh Khiêm Lê Tuấn Lộc Trịnh Anh Đạt Đinh Ngọc Diệp Nguyễn Duy Chinh Lê Huy Hoàng Lê Đăng Sơn Trương Thị Mầu Nguyễn Trọng Liên Nguyễn Xuân Nha Lê Văn Sự Viên Lan Anh Ngô Xuân Tiếu Nguyễn Hữu Ngôn...

Và các bài của : Kiều Vượng Hoàng Khôi Hoàng Minh Tường Hoàng Hoa Mai Trịnh Hoành Minh Thông...

Tranh ảnh minh họa câu đối của: Thanh Sơn Sỹ Tốt Trọng Thắng Nguyễn Thống Trần Đàm Hoàng Bình Trọng Trần Đình Thân...

Tạp chí sẽ phát hành ngày 25 - 01 - 2010.

More...

Chúc mừng năm mới

By Văn Nghệ Xứ Thanh

More...

Một số hình ảnh trong chuyến đi Lào và Thái Lan

By Văn Nghệ Xứ Thanh

     
      Trong những ngày từ 26-4 đến 3-5-2008 đoàn cán bộ tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh đã đi tham quan và học tập tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Thái Lan. Xin giới thiệu một số hình ảnh trong chuyến đi này.



   Ở cửa khẩu Cầu Treo



   Ở Nhà xuất ban Chính trị quốc gia Lào



   Ở quảng trường Thạt Luồng




   Ở Thạt Luông: ông Lê Văn Thông Giám đốc Nhà in báo nghệ An (thứ 3 từ phải sang) và ông ĐặNG Xuân Bảng (thứ 3 từ trái sang)



Bên Phatouxai



   Ở khu chùa cổ Noọng Chai (Thái Lan)



  Dừng lại ở Thị trấn Pan xa tỉnh Pôlykhămxay

 
   Người phụ nữ mến khách ở Panxan (tỉnh Bôlykhămxay)

More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Hà Thị Cẩm Anh
 


Mưa bụi bay bay


                                     Truyện ngắn


       lẽ vì năm Đinh Hợi không có tháng dư nên tết Mậu Tý đến cũng có phần vội vã. Mùa Đông còn chưa kịp chia tay với thung lũng Si Dồ. Hoa đào hoa mận cũng chưa kịp nở. Những cơn gió bấc lạnh lẽo và giai dẳng vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong các hẽm núi sâu hun hút thỉnh thoảng lại đổ ập vào cửa vóng của những ngôi nhà sàn bập bùng lửa đêm.
Mùng hai Tết. Ngày vẫn ngắn và lạnh. Mưa bụi lây rây. Mây mù từ trên những cánh rừng già âm u và rậm rạp của khu bảo tồn thiên nhiên dưới chân dãy Pù Luông quanh năm mơ màng mây khói theo những con suối cạn chảy tràn xuống dòng sông che kín cả mặt nước.  Ông Đán thở một cách khó nhọc nhưng vẫn cứ gắng gượng bước từng bước nặng nề chậm chạp trên bãi sông vắng ngắt trắng xóa sương mù và bụi mưa. Chiếc mũ phớt kiểu Pháp - Cái áo khoác ngoài bằng dạ đen đắt tiền đủ ấm nhưng không gian vắng vẻ những bụi mưa li ti hình như có một sức nặng ghê gớm bao trùm lên người đàn ông cao lớn đơn độc làm cho đôi vai ông xuôi xuống dáng đi của ông liêu xiêu. Ông đi về phía những bãi rau cải đang nở hoa vàng rực. Ông đi ngược với dòng chảy của con sông ông thờ ơ với những con sóng nhỏ lao xao và những cuộn nước đang hối hả lôi nhau chảy xuôi về ngã ba Bông nơi ba con sông lớn được bắt nguồn từ ba hướng núi của xứ Thanh hẹn hò gặp gỡ trước khi đổ ra cửa biển. Những kỷ niệm của một thời trai trẻ trên bãi sông này cứ xối xả ập đến khiến cho ông đau đớn. Nỗi nhớ thương bị dồn nén. Tuổi già. Cuộc sống độc thân cô đơn nơi đất khách quê người làm ông phát ốm. Ông quyết định trở về tổ quốc. Lặn lội qua nửa vòng trái đất để trở về đặt chân xuống sân bay chưa kịp nghỉ ngơi chưa kịp thu xếp cho cuộc sống lâu dài của mình ở chốn cố hương sau ngần ấy năm biền biệt. Ông đi thẳng về Mường Dồ. Ông nhớ nàng. Ông nhớ mùa hoa cải ven sông. Ông nhớ mùi thơm ngai ngái của cỏ dại tỏa ra bao bọc lấy chỗ hai người nằm để yêu nhau da diết. Như một kẻ mộng du ông giơ rộng vòng tay già nua nhưng vẫn còn săn chắc của mình ra. Người thiếu nữ Mường Dồ nhỏ nhắn xinh đẹp có mùi thơm da thịt nồng nàn khiến ông phải một đời đau đáu nhớ thương lao vào. Ông mơ màng nói.
- Cuối cùng em cũng đến. Em yêu. Em yêu quý của anh! Cuối cùng anh cũng đã gặp được em.
Ông ôm nàng. áp thật chặt thân hình nàng vào trái tim thổn thức của ông. Ông đặt một nụ hôn chuếnh choáng lên mái tóc dài mềm mại của nàng. Một cơn gió bấc ào qua. Hất tung chiếc mũ trên đầu ông xuống. Nụ hôn lạnh ngắt. Ông Đán bừng tỉnh. Thì ra ông đã đi vào giữa bãi rau rộng mênh mông. Trong vòng tay ông chỉ là những vồng hoa cải. Bây giờ đang là mùa rau cải. Gặp rét. Cải lên vồng và nở rộ hoa. Những bông hoa cải mới nở vàng rực mầu nắng tỏa mùi thơm thoang thoảng nhẹ nhàng mơn man trên khóe miệng ông... Những cánh hoa rải vàng trên thân thể mượt mà và trinh trắng của nàng. Đôi vú đầy đặn với hai núm vú đỏ hồng ngập trong cánh hoa. Gã trai hai mươi mốt tuổi vùi mặt vào chỗ eo lưng thon nhỏ với những đường cong thánh thiện nức nở khóc. Đán khóc vì hạnh phúc. Khóc vì yêu. Lần đầu tiên trong đời Đán được cho và cũng được nhận sự hiến dâng đủ đầy và trọn vẹn của tình yêu. Chỉ còn vài giờ nữa là hai người đã phải xa nhau. Còn vài giờ nữa là chiến sĩ pháo cao xạ Lê Xuân Đán phải tạm biệt Niên tạm biệt Mường Dồ tạm biệt bãi phù xa mịn màng êm ái đã nâng giấc cho hai người. Tạm biệt cả bầu trời cao và rộng của thung lũng Si Dồ đã giăng mắc một lớp mây trắng mỏng bồng bềnh để che chở cho hai người trẻ tuổi yêu nhau. Tạm biệt cỏ thơm và hoa cải đã quấn quýt đã tỏa hương nồng nàn để chúc mừng cho hạnh phúc của họ. Đán ra đi để cùng với đơn vị hành quân vào mặt trận phía Nam. Nơi ấy đang cần Đán. Nơi ấy cuộc chiến tranh đang đi vào giai đoạn cam go và ác liệt nhất. Cũng ở nơi ấy sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc nhưng Đán thấy yên lòng. Anh yên lòng vì anh đã có Niên. Trái tim hai người đã thuộc về nhau. Anh yêu Niên yêu Mường Dồ yêu bãi sông có Niên của anh biết mấy? Hình bóng người con gái vùng sơn cước này sẽ theo anh vào những trận đánh. Sẽ tiếp sức cho anh. Anh sẽ chiến đấu cho ngày xum họp của hai người chóng đến... Tiếng cồng tiếng chiêng tiếng trống tiếng hát xướng đối đi đáp lại của đám con gái con trai rồi tiếng nói tiếng cười tiếng reo hò ồn ào ầm ĩ từ trong làng theo gió chập chờn vọng đến. Mường Dồ đã khai hội đầu Xuân. Ông Đán vẫn úp khuôn mặt nhợt nhạt của mình vào đám cỏ dại mọc chi chít giữa những cây cải đã lên vồng và đã nở hoa vàng rực...
Ngày ấy. Chàng trai được sinh ra từ một con phố cổ của Hà Nội cậu sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Y khoa và cũng là binh nhì của một đơn vị pháo cao xạ đang làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ một bến phà trên tuyến đường giao thông huyết mạch của hậu phương miền Bắc chi viện người và của cho chiến trường miền Nam vốn rất thích phong cảnh núi sông kỳ vĩ của vùng thung lũng rộng lớn này vì thế cứ có được một chút thời gian bình yên rỗi rãi giữa hai trận đánh là cậu ta lại lang thang dọc bờ để khám phá bí mật của dòng sông.Vào một buổi chiều không biết mải mê thế nào khi đi ngược dòng chảy của con sông mà Đán bị lạc vào giữa vương quốc của loài rau cải. Theo suốt cả triền sông thuộc phần đất của người Mường Dồ là một bãi phù xa rộng lớn và mầu mỡ. Khắp bãi sông bạt ngàn là rau. Có đám mới gieo. Có chỗ rau đã lên xanh tốt lá rau đã xòe ra che kín cả mặt đất nhưng đẹp nhất vẫn là những vạt rau đã lên vồng và đã nở hoa vàng rực. Đán thích mê và quên cả thời gian. Anh say sưa ngắm những vạt rau và nôn nao nhớ nhà nhớ Hà Nội. Mùa này những vườn hoa ở Quảng Bá ở Nghi Tàm Nhật Tân các loại hoa cũng đang thi nhau khoe sắc thắm. Thời còn là sinh viên trường Y. Chiều chủ nhật nào anh cũng cùng lũ bạn đạp xe ra vùng ngoại thành để ngắm hoa. ở bãi sông Hồng cũng cơ man là rau cải nhưng cứ từng mảng từng mảng vá víu xen kẽ giữa loại này với giống kia  nên không đẹp bằng hoa cải ở bến sông này. Ngắm hoa thỏa thích rồi Đán chọn những bông hoa cải đẹp nhất hái một bó định đem về trang trí căn hầm của khẩu đội. Bỗng nhiên một bóng áo cóm từ trong giữa bãi hoa rau đột ngột chui ra. Đán đứng ngây. Hai chân như bị dính chặt xuống đất. Cô ta đẹp quá! Thon thả nhỏ nhắn khuôn mặt trái xoan trắng hồng. Nhất là đôi mắt. Đôi mắt như hút hồn chàng trai trẻ. Thế mà người ta cứ đồn đại với nhau con gái Mường Dồ thô thiển và hoang dã ? Vài phút bất ngờ đến choáng váng trước sự xuất hiện của người đẹp qua đi. Đán phá lên cười Đán cười làm cho cô bé càng lúng túng. Đôi mắt đen sáng ngời ngợi của thiếu nữ Mường cụp xuống hai má đỏ lựng. Đán cười vì từ đầu đến chân bộ váy cóm chiếc thắt lưng bằng lụa sồi mầu xanh lá mạ chiếc khăn đội đầu bằng thổ cẩm của cô ta dính đầy những cánh hoa cải vàng nên trông cô giống hệt một con ong. Đán bảo thế. Không biết cô ấy chui vào giữa đám hoa cải để làm gì nhỉ ? Đán hỏi. Thiếu nữ Mường rụt rè trả lời.
- Em thấy có người... lạ đến.
- Cô thấy tôi giống một kẻ lang thang xấu bụng à ?
- Không !
- Thế tại sao cô phải đi trốn. Tôi có ăn thịt cô đâu. Tôi cũng là người mà. Tôi là bộ đội. Bộ đội hiền lắm đấy.
Thế là họ quen nhau. Sau này khi đã vào chiến trường nhất là trước khi bước vào một trận chiến đấu căng thẳng ác liệt Đán thường nhớ đến lần gặp gỡ đầu tiên ấy với Niên. Nhớ đến Con Ong bé nhỏ của mình và Đán cảm thấy lòng mình ấm áp hơn yên ổn hơn và anh cũng thấy tự tin hơn khi giáp mặt với kẻ thù.
Đơn vị Đán đóng quân ở bến phà Mường Dồ gần trọn một năm cuộc leo thang đánh phá miền Bắc của không quân Mỹ ngày một quy mô hơn ác liệt hơn. Mường Dồ thành lập một trung đội dân quân gái. Niên trở thành trung đội trưởng trung đội dân quân gái ấy. Đơn vị của Niên được giao nhiệm vụ tiếp đạn tải thương và phối hợp chiến đấu với đơn vị pháo cao xạ bằng súng bộ binh. Niên và Đán được chiến đấu bên nhau rồi họ yêu nhau. Niên là một gái thông minh. Cô đã học hết cấp ba dưới phố huyện Si Dồ. Niên học giỏi và cô đã được gọi vào trường Đại học sư phạm Mười hai tháng Chín cũng đang sơ tán ở Mường Yến rất gần với đất Mường Dồ. Học Sư phạm là mơ ước của Niên. Niên muốn làm cô giáo. Nhưng chiến tranh ở cả hai miền ác liệt quá đám con trai Mường Dồ bạn bè của Niên đã lần lượt nhập ngũ. Mường Dồ vãn cả người. Làng nào cũng còn lại toàn trẻ con với đàn bà. Niên không nỡ bỏ nơi làng quê đang nóng bỏng lửa đạn rốc két và mù mịt khói bom mà ra đi... Đán cũng đồng ý với Niên như thế. Và họ đã hẹn nhau . Sau này hòa bình Đán trở về trường Y học tiếp. Niên cũng ra đấy học sư phạm. Học xong hai người sẽ cưới nhau. Cả Niên cả Đán đều rất tin tưởng vào tương lai tốt đẹp ấy.
Có những buổi chiều yên ả hai người cùng nhau ra bãi sông chơi. Đán hỏi : Tại sao bãi sông này chỉ gieo một loại rau cải. Niên bảo đấy là giống rau đặc sản của Mường Dồ. Giống rau cải Lê nhỏ cây thân mềm cũng không biết có phải rễ rau hút được chất ngọt trong đất phù sa mầu mỡ của bãi sông hay không nhưng cải Lê gieo trên bãi sông của Mường Dồ có hương vị rất riêng. Hạt rau cải gieo xuống bãi chả phải chăm sóc gì. Cứ thế rau mọc rồi tốt bời bời đến khi cây rau chúm chím ra vồng là nhổ về. Cũng chẳng phải chế biến cầu kỳ chỉ cần rửa thật sạch bằng nước sông rồi rắc muối  xoa  qua một chút cho đều nhận thật chặt vào vại sành. Hai ngày sau dưa chín vàng ươm gắp ra bát hương thơm xộc vào mũi. Nhiều người khách qua lại Mường Dồ vẫn bảo. Được ăn một bữa cơm gạo rẫy với dưa cải muối của Mường Dồ thì sau này có tiệc tùng canh gà cá rán cũng khó mà quên được. Quả thế. Từ khi về chiến đấu ở bến phà trên đất Mường Dồ Đán đã được ăn món dưa cải muối ngon tuyệt ấy. Thời chiến thức ăn khan hiếm thấy các anh ngày đêm gian khổ vất vả các mế các vạ trong làng thương thay nhau chăm sóc như con cái trong nhà. Cá thịt không có nhưng dưa cải thì cứ hết vại này các mế các vạ lại muối cho vại khác. Dưa cải muối cơm hẩm thế mà cánh lính cứ chén tì tì ăn đến no căng bụng vẫn còn muốn ăn thêm. Mới ăn dưa cải muối buổi sáng đến bữa cơm chiều đã thấy thèm. Niên có cách muối dưa khác với mọi người. Niên không muối bằng vại sành giống như các mế các vạ mà Niên muối dưa cải bằng ống nứa. Niên chọn những ống nứa to và dài tiện rỗng một đầu. Nhận rau cải đã xoa muối vào rồi đậy kín để gần bếp lửa. Hai hôm sau. Niên đem những ống nứa dưa muối chia đều cho các khẩu đội. Những anh lính trẻ ở những miền quê khác nhau nhất là những anh chàng người thành phố cứ tròn xoe mắt trước món ăn đặc biệt dân dã được chế biến có vẻ còn rất nguyên thủy của cô gái Mường. Đến bữa ăn khi gắp dưa ra bát nhìn thấy những cây cải vàng óng có mùi thơm rất lạ nhưng không mất đi hương vị đặc trưng của dưa cải mà thèm ứa nước miếng. Cho cọng dưa vào miệng dưa vừa ròn vừa chua rôn rốt lại vừa ngọt vị ngọt rất đậm đà. Không biết có phải Niên đã ăn món dưa cải được gieo trồng trên đất phù sa của bến sông này mà nàng có mùi phấn da thơm thơm ấm ấm và rất nồng nàn. Suốt mấy chục năm sống giữa thành phố Pari kinh đô hoa lệ của nước Pháp xứ sở của các loại nước hoa hàng đầu thế giới nhưng hễ cứ gần một cô gái nào có sức nước hoa dù cho là nước hoa đó đắt tiền bao nhiêu đi nữa cũng khiến ông không chịu nổi và rồi ông lại nhớ Niên nhớ mùi thơm trên cơ thể nàng đến cồn cào.
Ông Đán đã ngồi rất lâu giữa bãi hoa cải vàng. Mưa bụi dầy hơn. Mây mù dầy đặc  hơn. Trời rét đậm hơn. Tiếng trống tiếng chiêng tiếng cồng tiếng hát xường và tiếng cười nói vui vẻ từ chỗ hội Mường vang vọng đến cũng rõ hơn. Khuôn mặt đẹp rất điển hình của người đàn ông với cái miệng rộng sang trọng cái cằm vuông sống mũi cao và thẳng. Vầng trán cũng cao và rộng nhưng hằn sâu những nét buồn day dứt của ông Đán ướt đẫm và bất động. Ông gỡ cặp kính trắng xuống những cánh hoa cải vàng bám lấm tấm trên mắt kính khiến ông cứ chần chừ mãi không lau... Họ chia tay nhau khá vội vàng. Sau vụ B52 của Mỹ ném bom hủy diệt xuống Hà Nội. Không quân Mỹ thất bại nặng nề. ở miền Nam ta đánh mạnh Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán ở Pari. Hiệp định được ký kết. Đơn vị pháo cao xạ của Đán được lệnh rút khỏi Mường Dồ để hành quân gấp vào mặt trận. Thật may mắn làm sao đại đội trưởng một người cũng quê ở Hà Nội với Đán lại báo tin cho anh và Niên biết trước được mấy tiếng đồng hồ. Đán chạy xuống bãi sông tìm người yêu. Quả nhiên anh thấy Niên cũng đang bồn chồn  đợi anh ở đấy. Hôm ấy cũng vào chiều mùng hai Tết. Cũng mưa bụi bay bay. Cũng sương mù rét ngọt và cũng tiếng cồng tiếng chiêng tiếng trống tiếng cười nói tiếng reo hò rộn rã từ trong  làng vọng ra như bây giờ . Hai người dắt tay nhau chui vào giữa bãi rau cải đang nở hoa vàng rực. Người lính pháo hai mươi mốt tuổi chàng trai trẻ lần đầu tiên yêu và được yêu vùi khuôn mặt nóng bừng vào thân thể thơm nồng và ngát mùi hương hoa cải của cô thiếu nữ Mường Dồ yêu dấu rồi thổn thức dặn dò:
- Anh đi rồi anh sẽ trở về. Em cố gắng chờ đợi.
Người thiếu nữ ôm xiết lấy tấm thân dính đầy những cánh hoa cải vàng của người yêu.
- Vâng! Em sẽ chờ. Em sẽ đợi anh. Em chờ đợi anh bao lâu cũng được. Nhưng nhất định anh phải trở về Mường Dồ. Trở về bãi sông này với em.
- ừ! Anh sẽ trở về. Nhất định anh sẽ trở về bãi sông này để gặp lại em. Em đã là vợ anh rồi. Nhất định chúng mình phải có được nhau. Phải sống với nhau cho đến hết cuộc đời em ạ.
Thế rồi họ chia tay. Trời xùi xụt. Mưa bụi bay bay. Những cánh hoa cải vàng rơi lã chả như những giọt nước mắt của cô thiếu nữ Mường Dồ. Đán cũng không ngờ cuộc chia tay đó lại là mãi mãi. Ông đi gần nửa thế kỷ mới trở về. Sông thì vẫn chảy. Bầu trời hình như cũng đã già nua và trơ trọi giữa bao la cô quạnh. Bãi sông vẫn thế. Hoa cải vẫn nở vàng. Chỉ vắng mỗi bóng Niên. Nàng đã mất.
- Này! Này. Ông có phải là thằng Đán Hàng Đào không?
Ông giật nẩy mình. Ngoắc vội cái kính chưa kịp lau vào mặt. Mắt kính ướt nhòe. Trước mặt ông là một chiếc xe lăn. Ngồi trên xe là một người đàn ông mù lòa. Khuôn mặt dúm dó vì bị những vết bỏng kéo lại. Người đàn ông còn bị teo cả hai chân.  Đôi chân ông được phủ một tấm chăn bằng thổ cẩm của người Mường. Đẩy xe cho người đàn ông là một cặp vợ chồng trẻ. Ông Đán bắt gặp cái nhìn của người chồng anh ta vào khoảng bốn mươi người cao dong dỏng mắt đen cằm  vuông mũi thẳng. Anh ta nhìn ông ngỡ ngàng rồi bỗng reo lên.
- Giáo sư! Giáo sư! Sao thầy lại ở đây?
Ông Đán lắp đi lắp lại.
- Anh... Anh... Anh là ...
- Vâng ! Em là Nguyên. Em đã sang Pháp học tập một lần em đã được nghe thầy lên lớp.
- Thầy... thầy... giáo sư cái... con khỉ... Mày hở Đán?
Ông Đán hết nhìn Nguyên rồi lại nhìn người đàn ông ngồi xe lăn. Ông nghĩ. Với tiến bộ của y học ngày nay việc trả lại khuôn mặt bình thường cho người đàn ông này không khó. Còn đôi mắt ? Không biết đôi mắt còn chút hy vọng nào không ? Ông Đán khẽ lắc đầu. Lại công việc Sao công việc cứ ám ảnh ông ở mọi chỗ mọi nơi thế này?
Ông Đán vẫn nhìn người đàn ông ngồi trên xe lăn? Thật khổ cho ông ta. Biết làm thế nào được? Cũng như ông thôi. Đó là mất mát mà mỗi người đều phải chịu. Vì đôi mắt đẹp của Niên mà ông đã theo học chuyên khoa mắt và trở thành một vị giáo sư danh tiếng ở một trường Đại học danh tiếng trên thế giới. Ông có hàng trăm đề tài khoa học về đôi mắt và chính đôi bàn tay ông đã mổ mắt đem ánh sáng đến cho cả ngàn người ở các châu lục nghèo. Nhưng đôi mắt mà ông yêu quý đôi mắt đẹp của Niên thì ông không giữ được.
- Ông... Ông là ai? Sao ông lại biết tên tôi ?
Tiếng nói cộc lốc cất lên từ cái xe lăn.
- Khang đấy! Khang đại đội trưởng. Khang Đội Cấn. Mày không nhận ra sao ?
- Trời ơi!
- Mày đi đâu biền biệt ngần ấy năm trời?
- Anh Khang ơi? Sao anh lại ở đây ? Em nghe tin anh đã hy sinh rồi mà.
- Đồ khỉ! Tao đã đội mồ chui lên. Làm sao tao không ở đây được chứ? Tao ở đây chờ mày. Mùng hai Tết năm nào tao cũng đến đây. Niên dặn tao làm thế. Em bảo nhất định mày sẽ trở về.
Ông Đán nhìn cặp vợ chồng trẻ đang đứng nép bên chiếc xe lăn chứng kiến cảnh hội ngộ li kỳ: Ông ấp úng hỏi:
- Thế... Thế anh và Niên đã...?
- Về nhà đi ! Về Mường Dồ rồi hãy nói. Chuyện dài lắm. Rồi tao sẽ kể.
 Miệng nói thế nhưng người đàn ông tên Khang ngồi trên xe lăn lại nói :
- Với người Mường Dồ thì tao với Niên là hai vợ chồng tâm đầu ý hợp.
Ông đưa hai bàn tay nhăn nheo run rẩy sờ soạng lần tìm những bàn tay của vợ chồng Nguyên rồi tiếp:
- Các con cũng nghe đấy. Hôm nay bố sẽ nói với các con mọi chuyện .
Ông quay lại phía ông Đán đang rũ xuống bên cạnh chiếc xe lăn:
- Tao với Niên chỉ là hai người bạn là anh trai và em gái trên mọi ý nghĩa. Hai anh em tao tuy ngủ chung một sàn nhưng đệm ai người đó nằm chăn ai người đó đắp. Niên chăm tao như đứa em gái chăm sóc cho một người anh tật nguyền như con gái chăm sóc một người cha già cả. Không phải là tao không yêu Niên nhưng Niên trong sáng quá thánh thiện quá và thủy chung quá khiến tao không thể làm điều gì có lỗi với Niên có lỗi với mày Đán ạ.
Hai vợ chồng Nguyên hết nhìn ông Đán rồi lại nhìn ông Khang. Cả hai người đều rất bồn chồn và nhợt nhạt. Hình như cả hai đều đã hiểu được phần nào câu chuyện.
Ông Khang kể tiếp:
- Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng. Niên đã đi tìm mày. Em đã ra Hà Nội. Người nhà mày đã cho em biết mày đã đi du học bên Pháp và đã nhập quốc tịch Pháp hiện tại mày đang giảng dạy ở một trường đại học bên đó. Niên rất đau đớn nhưng em lại nghe tin tao bị thương nặng nhưng không trở về Hà Nội vì ngôi nhà của tao đã có chủ mới. Vợ tao đã lấy người đàn ông khác và đưa ông ta về đấy ở thằng con trai tao thì đã bị chết ở bệnh viện Bạch Mai hôm Mỹ bỏ bom B52 xuống Hà Nội. Tao ở lại trạm thương binh nặng vì thế Niên đã đi tìm và đưa tao về Mường Dồ để chăm sóc suốt đời. Em bảo: Có tao được chăm sóc cho tao em cũng được an ủi một phần. Bởi vì tao với mày là người cùng quê Hà Nội. Hồi còn ở đơn vị cao xạ pháo tao với mày như hai anh em ruột. Với lại cũng nhờ tao hồi ấy đã tạo điều kiện cho hai đứa gặp nhau trước giờ ra trận nên... Niên bảo thế đấy. Niên không giận mày đâu. Em vẫn yêu mày. Nó đã chờ đã đợi mày. Em tin nhất định mày sẽ trở về bãi sông này để gặp nó. Năm nào cũng thế cứ chiều mùng hai tất Niên lại ra đây đứng một mình dưới trời mưa bụi để đợi mày. Thương em quá! Trước khi mất nó còn nhờ tao hễ còn sống năm nào thì mùng hai tết cố mà đi đón mày. Vì thế nghe tiếng thở nặng nề ban nẫy tao đã chắc chắn là mày. Mày đã trở về. Thật là tốt Đán ơi!
Ông Đán vẫn đứng rũ ra bên cạnh chiếc xe lăn. Giọng ông Khang đầy nước mắt. Ông  Khang kéo tay ông Đán đặt vào tay Nguyên.
- Đán à ! Đây là cháu Nguyên. Con trai mày đấy ! Còn đây là cái Mây vợ nó. Hai đứa cùng là bác sĩ. Chúng nó làm việc ở bệnh viện huyện Si Dồ.
Mây khóc.
Giọng ông Khang nức nở :
- Nguyên à ! Người đàn ông này là cha đẻ con. Tên cha con là Đán. Còn bố. Bố chỉ là bố nuôi là bác của con là anh trai của cả bố cả mế con thôi. Mế dặn bố khi nào cha con về thì nói cho con biết mọi chuyện.
 Ông Đán đã hoàn toàn suy sụp. Ông gắng gượng để không bị đổ ụp xuống giữa đám hoa cải vàng dưới chân ông Khang. Còn Nguyên thì chưa hết bàng hoàng. Thảo nào từ khi mế mất năm nào chiều mùng hai tết bố cũng bảo vợ chồng Nguyên đưa bố đến đây? Nguyên cứ ngơ ngơ ngác ngác. Đầu óc Nguyên rối tung ý nghĩ của anh cứ lộn xộn mơ hồ. Anh hết nhìn ông Khang rồi lại nhìn ông Đán. Anh có biết vị giáo sư này. Ông là một vị giáo sư bác sĩ người Pháp gốc Việt danh tiếng. Một chuyên gia hàng đầu thế giới về nhãn khoa. Nguyên đã được học các giáo trình của ông soạn thảo. Lần đi thực tập sinh bên Pháp anh đã được nghe ông giảng. Hình như có một lần anh tình cờ gặp giáo sư ở hành lang giảng đường giáo sư có hơi sững người ra trong giây lát nhưng rồi lập tức ông lấy lại được phong thái đĩnh đạc nghiêm trang đến lạnh lùng của mình. Sao lại là cha anh được ? “Với lại cũng nhờ tao hồi ấy đã tạo điều kiện cho hai đứa gặp nhau nên... mới có được thằng Nguyên” chứ gì ? Chắc ý bố muốn nói thế? Tại sao khi đưa bố từ Viện điều dưỡng thương binh nặng về mế lại bảo “Đây là bố Khang con!” Tại sao mình lại học chuyên khoa mắt? Phải chăng là do den di truyền của cha. ?
            *
Chiếc xe lăn có hai người ngồi nên cứ lún sâu xuống bãi sông ẩm ướt. Hai vợ chồng Nguyên đã gò lưng đẩy nhưng chiếc xe vẫn cứ lăn đi một cách chậm chạp. Mây lấy chiếc mền của ông Khang ủ ấm cho cả hai ông già. Cả hai người đều đã rất mệt. Cả hai đều đã rất xúc động vì cuộc hội ngộ sau một thời gian dài đằng đẵng. Ông  Đán lại lang thang  suốt cả buổi chiều trên bãi sông mưa mù và gió lộng. Ông gục đầu vào ngực ông Khang như một đứa trẻ con  to xác. Giọng ông nức nở:
- Em thật có tội với Niên và với con em.
Ông Khang đã bình tĩnh hơn. Ông vẫn bỗ bã như ngày nào còn là đại đội trưởng ở đơn vị pháo cao xạ.
- Thôi nào! Tội lỗi gì? Số phận cả. à này! Nhưng làm sao mà chú vọt sang tận nước Pháp rồi còn trở thành người nước họ nữa thế ?
- Chuyện dài lắm. Về nhà rồi từ từ em sẽ kể.
- Cái chính là chú đã trở về. Chú trở về tức là đã không quên Niên không quên Mường Dồ không quên bãi sông và hoa cải vàng của hai đứa. Thế là tốt rồi.
- Em có bao giờ quên được Niên đâu anh ? Em nhớ Niên lắm lắm. Em yêu Niên nhớ Niên nên đã sống với Niên bằng những kỷ niệm của chúng em cho đến bây giờ. Đã bao nhiêu lần em muốn trở về bên cô ấy nhưng công việc cứ cuốn em đi.
Bỗng ông Khang dằn giọng.
- Công việc! Công việc hay là cái danh nó cuốn chú đi ?
- Đối với em thật sự là công việc. Em đã sống ở Châu Phi hơn mười năm. ở đó họ còn nghèo khổ hơn cả chúng ta. Họ rất cần những cống hiến của các nhà khoa học.
Mây chen vào :
- Bố à ! Cha con trở về là tốt rồi mà ! Chắc mế con ở Mường trời cũng yên lòng lắm. Đêm nay nhất định phải mời ậu mo đến nhà để cúng năm mới cho mế để báo tin cho mế biết các con đã gặp cha rồi. Cha đã trở về Mường Dồ. Cha đã không quên mế. Được không bố?
Ông Khang nắm chặt tay đứa con dâu. Ông rơm rớm nước mắt.
- ừ! Nhất định phải làm thế con à! Đán này. Bây giờ chú dự định thế nào? ở lại Mường Dồ hay lại ra đi?
Ông Đán:
- Có lẽ ở vùng rừng này cũng cần tới em. Cả anh nữa. Có thể anh cũng cần tới em nữa đấy! Em sẽ khám mắt cho anh .
Nguyên:
- Mắt của bố cũng còn có chút hy vọng cha à ! Nhưng ở đây các phương tiện kém lắm. Con đã không làm được gì khi gặp những ca còn có chút hy vọng như mắt của bố.
- Con đừng buồn. Trước khi trở về cha đã thu xếp cả rồi.
Ông Khang tần ngần :
- Nỗi nhớ thương thì dài mà cuộc đời lại ngắn.
Mây hỏi :
- ý bố là gì thế ạ ?
Ông Khang:
- à không ! ý bố là ở đời có ai đó để mà nhớ mà  thương cũng là niềm hạnh phúc lớn lao.
Mây nén tiếng thờ dài “ Thật tội nghiệp bố tôi” rồi chị cười:
- Không ngờ bây giờ chúng con có hai người bố. Các cháu có hai ông Nội. Chắc ở trên trời mế Niên cũng đang cười phải không bố?
                                                                                   22-12-2007
                                                                                      H.T.C.A

More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh





Nguyễn Thị Phước


Cỏ mềm


Truyện ngắn


       Thư vừa xóa xong cái tin nhắn cuối cùng của người ấy. Đau và tiếc. Chẳng khác gì vừa tự khía vào da thịt mình. Đó là bằng chứng cuối cùng về sự tồn tại của một mối tình. Một tình yêu từ phía Thư thì đúng hơn. Cũng hơn một năm rồi cái tin nhắn ấy khi người ấy kết thúc thời hạn được điều đi tăng cường về quê Thư.
Thực ra anh là ai Thư cũng không biết. Không phải theo ý nghĩa nhân thân mà theo ý nghĩa một đời sống tinh thần về một gã đàn ông. Không biết. Không biết gì hết. Vậy mà đã mê muội đã “chết đứt” luôn chỉ vì một câu chào!
Lần đầu tiên Thư gọi cho anh vì công việc của cơ quan. Anh cảm ơn Thư nhưng chắc anh không đến được... Em biết rồi! Anh không bận mới là lạ. Nhưng anh chỉ cần xuất hiện dùm em chừng nửa tiếng hay mười lăm phút thôi. Anh phát biểu mấy câu nữa thì tốt quá... Anh sẽ cố. Nhưng anh cũng không dám hứa Thư nhé!
“Alô! Anh chào Thư!” - Đó là câu anh nhận điện thoại ở cuộc thứ hai. Nó làm Thư bất nghờ quá dỗi. Bất ngờ vì anh lưu lại số máy chị ở cơ quan mà anh thì có lẽ không nhớ mặt chị vì chị chỉ mới gặp anh một lần và chào anh đúng một câu. Bất ngờ vì âm điệu lời nói ấy thật dịu dàng. “Alô! Anh chào Thư!”... Vẫn biết cái âm thanh của tên gọi mình bao giờ cũng thật dễ chịu nhưng mà đã có biết bao người gọi Thư sao chưa bao giờ mình cảm thấy xúc động đến thế? “Alô! Anh chào Thư!”. Chỉ có vậy mà đã khiến Thư xao xuyến mãi. Cái tâm hồn lãng mạn của cô thôn nữ năm xưa tưởng đã ngủ yên vì đã được ủ kín bao nhiêu năm giữa cuộc sống thị thành ngột ngạt cuộc sống đơn điệu tẻ nhạt với những lo toan vặt vãnh những lười biếng chậm rãi vì tuổi đời ngày một nhiều những mệt mỏi vì những duyên cớ cực kỳ vớ vẩn... bây giờ lại bỗng nhiên thức dậy xốn xang.
Cuộc hội nghị ấy anh đã có mặt đã phát biểu ngắn ngọn nhưng thật đầy đủ vừa thông minh vừa khiêm tốn vừa là giọng của một vị có chức sắc cao nhất trong hội trường lại vừa là lời lẽ của một đồng nghiệp dành cho những đồng nghiệp khả kính. Và không chỉ mười lăm phút hay nửa tiếng như Thư mong mà anh đã dự trọn vẹn đến phút cuối cùng để cùng cạn với mọi người “ly rượu nhạt”. Hôm ấy Thư có hơi xúc động run một chút nhưng điều hành đâu ra đấy trang nghiêm mà ý nhị rất “có hồn”. Lâu lắm rồi khoa chị mới có một hội nghị lớn và thành công như vậy. Thư nghĩ đó là nhờ sự có mặt của anh.
Thư nhắn tin cảm ơn. Những lời lẽ trả lời thật khôn khéo. Và cứ thế. Thư đã dẫn mình vào mê cung do chính Thư tạo nên lúc nào không biết. Thư tự xây đắp bao giấc mộng như thể chị là thiếu nữ chứ chưa hề là thiếu phụ bước qua tuổi bốn mươi đã từng làm vợ làm mẹ. Mỗi tối Thư ngồi trước màn hình chờ mong anh xuất hiện trong chương trình thời sự địa phương. Không hẳn đẹp trai nhưng gương mặt anh có ánh sáng nhất là khi anh cười. Thư thấy nghẹt thở mỗi lần bắt gặp anh cười trên tivi. Nhiều hôm Thư không chịu đựng nổi phóng xe lượn qua cơ quan anh hướng mặt về phía căn phòng ấy nơi anh vừa ở vừa làm việc hy vọng được trông thấy anh. Buổi tối Thư thường đưa con đến công viên ở gần đấy. Con gái chị tung tăng trên sân cỏ xung quanh đài phun nước trên các bậc đá còn chị chọn một ghế đá hướng mặt về phòng anh. Thư ghen tị cả với hạt bụi trong căn phòng ấy. Thư ước mình là cỏ mọc bên thềm ngôi nhà ấy để được gần anh để được chạm vào anh. Ước cho lối anh đi cỏ thật thơm đá thật mềm và mây thật xốp. Phải rồi Thư làm mây đi theo anh che mát anh! Ước gì những ngọn gió đi qua vườn hoa này mang cả hơi thở của Thư đến căn phòng ấy và anh nhận ra Thư. Ước gì được cùng anh một lần ở chính nơi này im lặng thả bộ bên nhau chỉ có tiếng bước chân thật khẽ thật dịu êm... Thư đã không còn chịu đựng nổi. Chị soạn tin rồi xóa rồi soạn lại. Và rồi Thư đã gửi đi những điều ước đấy. Bao giờ bấm lệnh gửi xong chị đều thấy hối hận. Nhưng chị không sao cưỡng lại được. Tự nguyền rủa mình khinh ghét mình rồi vẫn lặp lại ngớ ngẩn. Người ấy từ chối chị thật khéo. Từ chối mà chị không hề tuyệt vọng không hề hận trách không hề giảm bớt sự say mê ngưỡng mộ. Anh gọi cho chị hỏi han công việc hỏi han gia đình. Anh gọi chị là em gái. Nhưng hình như giọng anh run run!
Thư đau mãi. Đau mãi. Chỉ muốn chết được. Chỉ muốn nguôi bớt. Nhưng không thể. Nặng lòng quá Thư không giữ nổi. Người bạn gái thân nhất của Thư người được Thư thổ lộ rất sắc sảo thông minh. Thư chỉ cho xem một cái tin nhắn Quy đã đoán ngay ra anh. Quy cười phá ra:
- Hắn trót mặc áo cà sa biến mày thành Thị Mầu rồi Thư ơi! Nhưng tao thề rằng hắn không phải thầy tu. Mày có muốn tao chứng minh không?
- Đừng quy nạp lung tung. Cho dù đàn ông như thế cả thì cũng trừ anh ấy
- Thôi thì cứ để cho mày một thần tượng để mày còn được yêu. Còn yêu được là may rồi. Yêu thế cũng khổ nhưng có lẽ còn hơn tao. Tao có hai người đàn ông mà hiểu họ quá đến không thể yêu được. Tao ngủ với họ nhưng lại khinh thường họ. Tao cũng khốn nạn thật. Thì thà cứ ngớ ngẩn dại dại ngốc ngốc như mày có khi lại hay!
- mày cũng vừa thôi. cẩn thận lão ấy mà biết thì rồi đời!
- Mày tưởng lão không biết à? Cũng như tao biết lão có bồ mà tao vẫn để lão yên. Càng yên thân! Đỡ phải làm bò cho hắn cưỡi.
Thư ngạc nhiên đến sững người. Mấy năm chơi thân với nhau Thư cũng biết rằng vợ chồng Quy ai lo thân người ấy rằng Quy có bạn trai. Thư không trách Quy vì cho rằng đấy là một cách để giữ “cân bằng” cũng như Thư đã chọn cách chia tay với chồng. Nhưng vợ chồng còn bao nhiêu thứ ràng buộc Quy giữ lấy thế có khi lại tốt. Hai đứa con của Quy không phải xa bố như bé Chi của mình. Dù chẳng thật tốt với nhau nhưng Quy cũng có một chỗ để dựa vào những lúc mệt mỏi nản lòng. Đằng này người đàn ông Quy kết “bồ” ấy nếu đã không còn tin yêu tôn trọng nhau thì sao vẫn...?
Giọng Quy chùng xuống:
- Thư ơi! mày lo làm khoa học không biết gì cả. Cuộc sống bây giờ không như thời tụi mình còn trẻ nữa rồi! Người ta chỉ sống cho chính họ! Hai gã đàn ông của tao đấy! Dối trá ích kỷ tham lam...Tại sao tao cần họ ư? Thì chính tao cũng thế mà! Nhưng biết làm sao? Chọn cách của mày có khi lại hay. Hai đứa trẻ nhà tao không ngoan và giỏi như con bé Chi đâu. Chúng còn bé mà đã ham hưởng thụ và chẳng biết quan tâm đến ai ngoài bản thân. Mình cũng hết hơi hết sức để dạy dỗ kèm cặp chúng tử tế. Nhưng sao dạy được con thiên hạ lại không dạy nổi con mình!?...
Thư đáng lẽ ra là người cần được động viên an ủi bây giờ lại thành người an ủi động viên người khác. Chưa muộn đâu Quy à. Trẻ con chúng nó tinh lắm. Lòng thương yêu của người mẹ không thể không có sự hy sinh. Những ham muốn thú vui và cả ý thích trả thù Quy phải hy sinh hết; để cứu lấy hai đứa con! Vả lại bọn mình còn phải dạy học trò không phải lúc nào cũng được làm như mình thích...
Đến đây thì Thư bỗng giật mình! Chính chị đã muốn đã thèm khát được “phá giới”. Chị đã khao khát đã quyến rũ anh phạm lỗi. Nếu chị thành công thì anh đã trở thành kẻ dối trá dối vợ con dối bạn bè dối học trò. Ông giáo sư đầu ngành sẽ phải giảng trước hàng ngàn học trò những điều mà ông không tin tưởng và không thể làm được! Thật mừng cho anh. Thật buồn mà cũng thật may cho mình. Mình đã giảng cho học trò rằng người ta có thể đến với cuộc đời từ nhiều phía. Cả tình yêu hạnh phúc cũng vậy! Thế mà mình đã khăng khăng tìm hạnh phúc từ phía ấy đã tin rằng mình chỉ có một hạnh phúc nếu có được tình yêu của Thức dù phải đánh đổi tất cả. Quy bảo chỉ có một cách để Thư quên Thức đi là phải tin Thức là gã tầm thường cũng giống như bao kẻ ta vẫn gặp. Muốn tin cũng dễ thôi chính Quy có thể tìm ra bằng chứng về cái tầm thường của Thức... Nhưng Thư không muốn ai đạp đổ bức tượng thờ của mình:
- Thư ơi! Giáo sư Thao anh trai Thức hôm nay về giảng bên khoa Triết cho lớp cao học đấy. Quy nói và liếc Thư.
- Sao cậu biết? Thư hỏi mặt hơi đỏ.
- Tao cái gì chả biết! Nhớ người ta quá thì sang ngắm ông anh một chút cho đỡ nhớ. Khéo giống quá lại phải lòng ông anh thì bỏ mẹ!
Thư lườm bạn rồi vội vã cất cặp vừa hỏi:
- Mày có sang không?
- Tao không thích triết!
Thư lặng lẽ vào lớp bằng cửa sau. Mấy học viên nhận ra chị gật đầu chào. Họ có vẻ ngạc nhiên vì sự xuất hiện của Trưởng khoa Toán - Tin.
Thao giảng bài bằng giáo án điện tử. Giọng ông hơi khàn và ho nhiều. Ông có nét hao hao giống Thức nhất là khi nhìn nghiêng thì càng giống hơn. Ông có vẻ vui tính và cởi mở hơn em trai. Thư rất thích nhìn ông cười. Khi ấy trông ông giống hệt Thức! Thư chưa bao giờ được nghe Thức giảng bài. Thư nghĩ giá mình ở Hà Nội sẽ xin theo một khóa học nào có Thức dạy.
Buổi tối cô lễ tân khách sạn Phượng Hoàng mang lên phòng ông Thao một túi quà. Cô nói người gửi quà không nhắn gì thêm; đó là một phụ nữ tầm tuổi bốn mươi ăn mặc giản dị trông nghiêm nghị. Ông Thao mở gói quà ngạc nhiên vì ông chẳng quen biết thân mật với người phụ nữ nào ở đây. Ông vào đây lần đầu vì đây là lớp cao học triết đầu tiên của trường này. Có mấy hộp thuốc ho dạng nước được tinh chế từ thảo dược mấy vỉ viên ngậm và một hộp Paracet tất cả điều được sản xuất từ úc nhưng không có bản hướng dẫn chữ Việt của nhà nhập khẩu. Ông đoán chúng được “xách tay”. Dường như sợ ông không thạo tiếng Anh chủ nhân của nó ghi vắn tắt hướng dẫn sử dụng. Nét chữ mềm mại không bay bướm không nắn nót vừa gọn gàng vừa linh hoạt rất đẹp. Ông nghĩ mình có thể dễ dàng tìm được chủ nhân của nét chữ này. Chắc là một học trò!
Nhưng ông đã nhầm. Anh lớp trưởng đã so nó với 46 bản khai lý lịch của học viên nghĩa là so cả chữ của học viên nam nhưng vẫn không ai có thể là chủ nhân của nó.
Sang ngày thứ ba anh lớp trưởng mới phát hiện ra trong lớp có người “lạ” ở cuối lớp. Anh xuống “chào cô” rồi đưa mắt cho thầy giáo và gật đầu. Thư biết mình bị “lộ” mặt đỏ bừng và đứng dậy định bỏ đi. Nhưng thầy giáo Thao đã đứng trước mặt chị.
Thư không giải thích được với ông Thao điều gì. Chị nói mình rất thích học triết nhưng chưa có dịp đi sâu vào bộ môn này. Ông muốn chị nghe hết đợt giảng hai tuần. Và chị chỉ bỏ mất ba buổi vì không thể sắp xếp được lịch.
Ông Thao nhận ra nói chuyện với Thư rất dễ chiụ. Ông luôn cảm thấy chị như cô học trò nhỏ bé lại như người bạn gái rất hiểu và trân trọng ông. và quả thực ông đã không chỉ rất mến Thư. Buổi tối cuối cùng không dễ từ chối cuộc liên hoan với lớp nhưng ông uống rất ít. Lòng ông buồn khó tả. Không bao giờ ông nghĩ mình phải buồn đến thế này. Ông luôn cho rằng mình làm chủ được bản thân.
Họ sánh vai thả bộ trong công viên. Đó là điều bao lần Thư ước ao được cùng với Thức. Những tiếng bước chân dịu dàng êm ái gieo như những nốt nhạc chỉ có điều nó không phải làm nên một tình ca Thư nghĩ. Ông Thao đang xúc động. Thư để yên bàn tay mình trong tay ông. Tối nay ông không nói gì đến triết học cả dù ông biết chị rất hứng thú về những điều ông đã nói đã giảng.
Họ là những người còn lại cuối cùng trong công viên. Thư dẫn ông đi theo những lối nhỏ bậc ghép bằng một loại đá nâu được lấy từ một ngọn núi ăn ra biển. Họ ngồi lại trên đỉnh núi và nhìn sang hồ nước phía bên kia công viên. ánh điện lung linh dưới đáy hồ. Thành phố đầy sao. Sao trời và sao của các kiểu mầu đèn điện. Khung cảnh thật tuyệt vời cho những đôi lứa. Lâu lắm Thư mới đi cạnh một người đàn ông lại còn tay trong tay thế này. Thư theo đuổi giấc mơ với Thức hai năm trời cũng không có cảnh này. Vậy mà khi ra đi anh lại gửi lại tin nhắn: “Biết ơn và rất nhớ em!”. Bây giờ Thư cũng đang xúc động như khi chị nhận được tin nhắn ấy.
chị đang được đi cạnh một người đàn ông mạnh mẽ cả tinh thần và thể chất. Chị đang được ông yêu quý và trân trọng. Thao mới là cõi thực của dòng đời chị. Là bến đậu bình yên. Là tấm khiên che chở mẹ con chị. Chị yêu ông. Không nhất định chị sẽ yêu ông! Thật đằm thắm thật sâu sắc. Yêu một cách xứng đáng không lừa dối...
Thư thấy thân thể mình bừng lên cái ánh sáng bao lần chị cố vùi dập. Cái ánh sáng của dục vọng mà chị coi là thấp hèn mà chị luôn cố tách nó ra khỏi tình yêu dành cho Thức. Chị vẫn biết các nhà khoa học khuyên con người hãy kính trọng thân thể. “Thân thể có tâm thức riêng của nó... Bất kỳ việc giáo dục nào không dạy cho bạn yêu lấy thân thể mình không dạy cho bạn từ bi với thân thể mình không dạy cho bạn cách đi vào trong những bí ẩn của nó thì đều không có khả năng dạy cho bạn cách đi vào trong tâm thức riêng của mình”. Thư đã ở trong vòng tay ông Thao. Tự chị cuốn mình vào đấy rất dịu dàng chị cũng ôm chặt ông. Chị đáp trả đôi môi ông cơ thể ông để hai thân xác hút chặt vào nhau.
Và họ yêu nhau trên cỏ dưới những bóng cây mới được dăm tuổi dưới ánh sáng của ngàn vạn sao trời.
Thư cảm thấy mãn nguyện hạnh phúc như vừa tự làm nên một công trình vĩ đại. Chị vừa khám phá rằng cơ thể chị thật tuyệt vời! Chị vẫn nằm yên trên cỏ và giữ chặt lấy người mà từ nay chị sẽ gọi là chồng. Anh sẽ về với chị bất kỳ lúc nào có thể. Và chị cũng vậy...
Nhưng chị đã không thể có điều đó. Mà nguyên do chỉ vì cỏ!
Khi chị nghiêng mình để ngồi dậy toàn thân chị chợt nhận ra mình đang ở trên thảm cỏ mềm mượt như nhung mượt và mềm đến mức không lằn dấu trên da thịt chị. Thao giúp chị mặc quần áo và dìu chị đứng dậy xuống núi Chị vừa quay lại nhìn vạt cỏ nơi hai người vừa làm chúng ngã rạp xuống. Thư nhớ có lần chị nói với Thức chị chỉ ước là cỏ để giữ lấy dấu chân ai đó. Thức bảo thế thì Thư là cỏ quý rồi. Ôi! Anh Thức! Em có lỗi với anh với cả anh Thao nữa. Giá mà anh Thao không phải là anh trai của anh! Ban đầu em đã đến với anh Thao chỉ để quên được anh. Bây giờ em sẽ phải nói với anh Thao thế nào? Em yêu anh. Nhưng em cũng yêu anh Thao theo một cách khác. Và em lại không thể có được anh Thao vì anh. Từ bây giờ em cũng không còn là cỏ quý của anh nữa. Em không muốn làm cỏ quý. Em không thể là cỏ quý. Em chỉ là cỏ dại thôi. Cỏ dại cũng có loài mềm lắm mà!
                                                                               Vinh 2007
                                                                                   N.T.P




Đỗ Văn PHác

Chân dung người đã khuất

 
Truyện ngắn


       Năm nào cũng thế đúng vào ngày ba mươi tết tôi đến thắp hương trên bàn thờ anh Ngoạn. Lễ vật tôi mang đến cúng anh là một bức thư. Thư năm nay tôi viết:
Anh Ngoạn ơi! Một cái tết nữa lại đến. Vắng anh năm mươi lăm năm rồi nhưng em tưởng tượng như anh vẫn còn hiện diện đâu đây. Bây giờ nhiều nhà không nấu bánh tết. Người ta bỏ tiền mua sắm vừa được ăn bánh ngon vừa đỡ mất công nhưng năm nào nhà em cũng nấu bánh. Em ngồi đun lửa bên nồi bánh chưng để được sống lại kỷ niệm cùng anh ngồi bên nồi bánh chưng cuối cùng trước lúc anh lên đường tòng quân…
            *
Thuở nhỏ tôi được tiếng là thông minh sáng dạ học đâu biết đấy. Thậm chí có người còn phóng lên học một biết mười. Vậy mà đến tám tuổi thầy mẹ tôi mới cho tôi vào lớp một. Lớp một thời tôi học gọi là lớp tư (*). Trước khi vào lớp này thầy tôi cho tôi đi học với một người trong làng đang học Đệ tứ niên Trung học ngoài tỉnh. Tôi vào học với anh một tháng thì bằng người ta học cả năm. Anh khuyên thầy tôi cho tôi lên trường xã. Trường xã tôi hồi ấy gọi là Trường cơ bản có từ năm 1927. Anh bảo với thầy tôi để cho ăn chắc học tuần tự từ dễ đến khó nên phải học từ lớp tư. Vào đây tôi thấy loại bé tí như mình chẳng có mấy phần nhiều là những người đã lớn tồng ngồng. Có anh con trai đã lấy vợ. Trong số những người lớn tuổi cùng làng tôi chơi thân với anh Ngoạn. Nói đúng ra là anh Ngoạn kết thân với tôi chứ mình bé tí đời nào dám kết bạn với người lớn. Các môn khác anh học được. Riêng môn toán rất chậm. Về nhà tôi thường giảng lại cho anh. Rồi anh bàn với thầy mẹ tôi cho tôi tối tối ngủ lại cùng anh tiện cho việc học hành. Thầy mẹ tôi ưng thuận ngay vì anh Ngoạn là con ông phó Hãn. Ông Phó Hãn với thầy tôi là bạn đồng môn thời học chữ Hán với ông đồ Sửu. Ông đang làm lý trưởng thì trúng chân Phó tổng Yên Thái. Ngày quan Phủ hiểu dụ các vị  chức sắc hàng tổng lý trưởng làng Tân Tuế mượn cho ông tân Phó tổng một con ngựa. Phó Hãn trèo lên yên được mấy bước con ngựa lạ hơi tung bốn vó. Ông Phó ngã xuống lấm bê bết. Về nhà thay quần áo xong thầy trò lốc cốc chạy bộ hàng chục cây số đến phủ. Đúng giờ cửa phủ đóng lính lệ không cho vào. Trong kia đề lại đã xướng danh. Phó tổng Yên Thái vắng mặt thế là bị cách luôn. ở nhà bọn tôi tớ đã mổ bò mổ lợn để khao vọng dân làng. Phó Hãn trở thành phó tổng hụt còn dân làng được bữa khao túy lúy. Từ đó người trong tổng vẫn gọi ông lý cựu là ông Phó. Bà phó đã mất tự bao giờ. Các con lớn của ông đã có gia thất ra ở riêng. Anh Ngoạn trở thành người nội trợ hàng ngày chăm lo cho bố từ miếng cơm đến bát nước. Phó Hãn vốn là người có chữ nghĩa hay đi lại giao du với các nhân sỹ trong vùng. Thầy tôi là một trong những người ông thường qua đàm đạo việc làng việc xã chuyện thế thái nhân tình.
Việc tôi với anh Ngoạn kết thân như anh em làm cho tình cảm giữa ông Phó Hãn và thầy tôi càng gắn bó hơn. Thầy tôi là người ý tứ nên mỗi khi ông Phó nói đến chuyện chính trị người gạt đi. Ông phó biết ý từ đó về sau khi ngồi với thầy tôi ông không bao giờ nói chuyện chính trị nữa.
Đến tết Nhâm Thìn (1952) anh Ngoạn sang tuổi 18. Có lần ông phó giục anh lấy vợ để có người đỡ đần việc đồng áng cho mà đi học. Anh Ngoạn ậm ừ tặc lưỡi rồi đứng dậy đi làm việc. Biết là con chưa thuận tình ông Phó không ép. Năm ấy giặc Pháp hay đánh lấn ra các vùng tự do khu Bốn. Máy bay Đacôta Bêvanhxit… thỉnh thoảng quần đảo ném bom chợ búa cầu cống… Ban đêm chúng thường từ các chiến hạm ngoài biển nã moóc chi ê vào làng. Làng tôi cách biển năm cây số đường chim bay vừa tầm bắn nên bị nã suốt. Gần tết những trận moóc chi ê giã vào làng càng dày hơn. Nhà ai cũng có hầm trú ẩn lại có cả hầm để giấu lương thực. Nhà nhà quân sự hóa người người quân sự hóa. Chúng tôi đi học ban đêm phải mang theo quần áo lương thực đề phòng giặc đổ bộ sẽ theo cán bộ hướng dẫn tản cư luôn.
Chúng tôi được nghỉ tết từ 25 tháng chạp. Trường tôi lại gần chợ Chào. Anh Ngoạn rủ tôi vào chợ chơi. Anh mua cho tôi mấy con tò he và một cây trống bỏi. Cây trống bỏi có hai hạt cườm đeo dây khi lắc hai hạt cườm gõ vào trống phát ra tiếng kêu tom tom nghe rất vui tai.
Ngày 29 tết anh Ngoạn rủ tôi đến nhà chơi cùng anh gói bánh ống bánh chưng. Tôi chẳng biết làm gì cứ lăng xăng bên anh. Lúc thì mang nắm lạt lúc bê sàng lá chuối đặt cạnh nơi anh ngồi. Anh khéo tay lắm. Chỉ vài tiếng đồng hồ những đòn bánh ống những cặp bánh chưng lá xanh biêng biếc được thít bằng lạt giang trắng ngần trông thật đẹp mắt. Bánh được xếp vào nồi đồng to gọi là nồi ươm đổ nước ngâm đến tối mới bắt đầu nấu.
Tôi thức cùng anh bên nồi bánh chưng bắc ngay giữa nhà ngang. Những gốc tre khô gốc cây trong vườn được anh bổ ra từ vài tháng trước chụm vào bếp rắc trấu xung quanh cháy rất đượm. ánh lửa lúc nào cũng lom rom vừa đủ cho nồi bánh sôi ùng ục. Lâu lâu nghe tiếng sôi nhỏ dần tức là nước đã cạn anh dùng nước nóng trong nồi bắc bên cạnh để thêm vào nồi bánh. Ngoài trời mưa phùn rây rây. Những giọt mưa li ti thỉnh thoảng bị làn gió bấc quất mạnh chui vào ngách bay đến chỗ chúng tôi ngồi tạo ra cảm giác buốt nhói. Những lúc như thế anh quàng tay ôm chặt tôi. Hơi ấm của anh và hơi lửa làm tôi dễ chịu hơn. Tôi có cảm giác được anh che chở như người anh ruột bởi vì tôi chẳng có anh trai.
Đêm ấy một đêm trước đêm trừ tịch anh kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện. Anh luôn nhắc đến tên một người con gái trong làng. Đó là Hảo. Một lần Ngoạn cùng Hảo chăn trâu ngoài bãi sác với đám trẻ con. Chiều đến họ rủ nhau ra sông tắm. Hảo lội ra xa để vùng vẫy cho thỏa thích và cũng để tránh xa bọn con trai sợ chúng nó lấm lét nhìn trộm cơ thể mình. Chẳng may Hảo sa vào vùng nước xoáy. Bọn trẻ thấy Hảo "giã gạo" tay chới với mái tóc trải xòa trên mặt nước thì kêu la toáng cả bến sông nhưng không đứa nào dám xông ra vớt. Tiếng kêu như mách bảo Ngoạn điều chẳng lành. Anh nhào đến vùng nước có mái tóc đang trải ra trên mặt nước nhưng khi lao đến nơi thì mái tóc chìm nghỉm. Anh hụp lặn xuống tầng nước sâu mới gặp Hảo đang quờ quạng tay chân trong làn nước chơi vơi. Ngoạn dùng chân đạp mạnh vào người Hảo đẩy Hảo từng quãng một dứt khoát. Khi thấy người Hảo nổi hẳn lên anh bế xốc lên vai dốc đầu xuống lắc mạnh cho nước trong miệng ộc ra rồi đặt Hảo nằm xuống bãi cỏ cúi xuống dùng miệng mình hà hơi kích thích hô hấp cho người bị nạn. Ngoạn còn dùng tay day mạnh nơi ngực trái của Hảo. Chỉ vài phút sau Hảo mở mắt ngơ ngác nhìn anh. Năm ấy anh 15 còn Hảo mới 13.
Sau lần chết hụt ấy trong lòng Hảo luôn có hình bóng Ngoạn. Dù chưa ý thức được rõ ràng nhưng cả hai thấy cần có nhau. Ngoạn vẫn nhớ như in thân hình mềm mại trắng nõn nà bầu vú mới bắt đầu nhô lên hai núm vú hồng hồng trên khuôn ngực con gái mới lớn. Một đường lõm giữa hai vú chạy dọc xuống bụng xuống rốn mà bàn tay Ngoạn đã ấn vào vuốt xuôi để tạo sự lưu thông khí huyết. Mỗi lần nhìn vào đôi mắt đen láy có hàng mi cong vút và hai má đầy lông măng của Hảo lòng Ngoạn rạo rực còn Hảo thì mặt đỏ gay đỏ gắt vội nhìn đi chỗ khác để tránh ánh mắt của Ngoạn. Những ngày nông nhàn bọn trẻ chăn trâu thường cắt phiên cứ một con trai kèm một con gái chăn giữ cả bầy trâu hàng trăm con. Chiều đến bọn trẻ mới ra đồng tìm trâu lùa về nhà. Hảo thường đi cùng phiên với Ngoạn. Chỉ có những lúc đi chăn trâu mới được nhìn nhau âu yếm nhau cho thỏa thích nhớ mong.
Quá nửa đêm mắt tôi díp lại. Ngoài trời từng cơn gió bấc quất ràn rạt vào mái tranh. Thỉnh thoảng một con chó nhà ai cất tiếng sủa cầm canh vào đêm mênh mông. Đêm nay làng xóm tấp nập bận rộn chứ không giống những đêm khác. Thì ra xung quanh nhiều ánh lửa từ các nồi bánh chưng vẫn tỏa sáng yếu ớt. Lác đác đã có lợn kêu. Người ta chung nhau mổ lợn sớm để còn gói giò làm nem nấu đông.
Thấy tôi gà gật anh Ngoạn giục tôi đi ngủ. Tôi vẫn gắng vì muốn được ngồi với anh trọn đêm. Gà gáy canh ba anh vớt bánh nhúng vào nước bỏ ra nia lăn cho bánh ống tròn mịn còn bánh chưng thì bắt góc cho đẹp. Nhìn những chiếc bánh mắt tôi sáng lên không còn muốn ngủ. Anh Ngoạn chọn một chiếc bánh ống dài to nhất trao cho tôi:
- Em cầm chiếc bánh này về đưa cho bố mẹ bảo là ông Phó biếu…
Tôi tần ngần không dám đưa tay ra đỡ. Anh giục:
- Nào cầm lấy. Em ngại gì…
Bỗng có tiếng gì như tiếng gió rít vút ngang đầu.
Bụp! ùng oàng! Tiếng nổ làm rung ngôi nhà ngang bé nhỏ. Anh Ngoạn nhận đầu tôi xuống nằm đè lên. Sau loạt đạn moóc chi ê bất thình lình ấy ông Phó đang ngủ ở nhà trên lục đục xuống nhà ngang. Ba bố con ông cháu tôi xuống hầm. Hầm đào ngay trong nhà. Những loạt đạn moóc chi ê vẫn xối xả lao vun vút trên đầu. Ông Phó tặc lưỡi:
- Tổ cha quân giặc. Đến cái tết hắn cũng không cho người ta yên ổn. Liệu ở nước nhà hắn có ai mang bom đạn đến tàn phá thế không…
Anh Ngoạn nói với bố:
- Kháng chiến đang vào giai đoạn chuẩn bị tổng phản công nên quân Pháp tăng cường khủng bố các vùng tự do. Thầy giáo con bảo thế.
- ừ đúng rồi! Nghe đâu ra giêng có đợt tuyển tân binh cử người đi dân công…
Những điều bố con ông Phó nói với nhau tôi cũng biết láng máng nhưng không dám góp chuyện.
Tiếng súng ngớt chừng năm phút ông Phó lên nhà trên. Anh Ngoạn cầm đòn bánh ống dắt tay tôi chạy lắp xắp về nhà. Đến ngõ anh ấn chiếc bánh vào tay tôi. Chiếc bánh nặng trĩu tay. Anh quay gót chạy vụt đi. Con Mực nhà tôi chạy ra cửa đón chủ mừng tíu tít. Thầy tôi vẫn đun nồi bánh chưng ở góc sân. Thấy tôi vác chiếc bánh to tướng ông ngớ người. Tôi bảo:
- Bố con ông Phó cho nhà mình đấy thầy ạ!
- Ai lại làm thế khó coi lắm. Nhà người ta bố con đàn ông. Việc gì cũng đến tay anh Ngoạn. Mình chả giúp gì được…
Nói thế nhưng thầy tôi cũng đỡ lấy chiếc bánh ngắm nghía và khen:
- Cái anh Ngoạn thế mà khéo tay…
Mồng mười tháng giêng chúng tôi trở lại trường. Vẫn phải học ban đêm dưới ánh đèn tù mù. Dầu hỏa vào thời ấy là hàng xa xỉ. Anh Ngoạn sắm đèn bảo tôi ngồi bên cạnh. Anh chìa ra một tờ giấy bạc mệnh giá một đồng:
- Anh mừng tuổi em…
- Anh cho em lắm thế…
- Giữ lấy mà mua giấy mực học dần.
Tôi lúng túng chẳng biết nói với anh một lời cảm ơn.
Hai mươi tháng giêng lúc trong làng việc tế lễ của các dòng họ đã xong anh Ngoạn gặp tôi chẳng úp mở thông báo ngắn gọn:
- Hai ba tháng này anh lên đường vào tân binh…
Tôi sửng sốt há hốc mồm trố mắt nhìn anh. Tôi cứ nhìn như thế hồi lâu chẳng nói được gì nước mắt ngân ngấn. Anh Ngoạn cười vỗ vai tôi động viên:
- Anh đi hết giặc lại về anh em ta tiếp tục đi học với nhau
Mười một tuổi đầu tôi chưa thể hình dung ra sự khốc liệt của chiến tranh. Thỉnh thoảng nhìn thấy những anh bộ độ về làng được các bà  mẹ chị em phụ nữ săn đón ân cần quà cáp ngập nhà tôi nghĩ rồi anh Ngoạn sẽ được thế. Nghĩ đến đấy lòng tôi nguôi ngoai. Tôi ấp úng:
- Anh đi… thỉnh thoảng gửi thư về… kể chuyện đánh giặc cho em nghe với…
- ừ anh sẽ viết thư nhiều cho em.
- Lớn lên em cũng đi tân binh giống như anh…
- Chả lẽ đến lúc ấy vẫn còn giặc…
Anh trao cho tôi toàn bộ vở viết các môn học của năm lớp Nhì đã được bọc giấy báo buộc giây cẩn thận và dặn:
- Giữ giúp anh thứ này. Đây là những quyển vở học của năm lớp Nhì. Hết giặc trở về anh sẽ học tiếp. Khi ấy em phải làm thầy dạy anh đấy…
Tôi run run chìa hai tay đỡ lấy tập vở của anh rạo rực tình cảm mà chẳng thốt lên lời.
Bỗng dưng nhớ đến Hảo tôi hỏi:
- Thế anh đã nói với chị Hảo chưa?
- Rồi … yên tâm đi.
- Anh có hẹn chị chờ khi anh trở về…
- Có…có…
- Chị có khóc không?
Anh xoa đầu tôi:
- Chú mày cũng thóc mách khiếp…
Anh cười độ lượng
Anh đi lòng tôi trống rỗng đến hàng tháng mới lấy lại thăng bằng. Thỉnh thoảng tôi vẫn qua lại nhà ông Phó để được sống lại không khí những ngày cùng anh trong căn nhà gỗ sang trọng cổ kính. Đến đây tôi đỡ nhớ anh hơn.
Tôi liên tục nhận được thư anh. Thư nào anh cũng kể cho tôi nghe những trận chiến đấu ác liệt giữa quân ta và quân Pháp trên vùng Tây Bắc. Anh là tiểu đội trưởng. Lúc bấy giờ tôi chẳng hiểu chức vụ ấy tầm cỡ thế nào. Tôi cứ hình dung ra anh đã oai vệ lắm. Rồi đến một lúc nào đó anh về làng cũng cưỡi ngựa đeo súng ngắn giống như anh rể tôi lúc đã lên cấp chỉ huy.
Trước khi đi chiến dịch Điện Biên Phủ anh có gửi thư về cho tôi. Dạo ấy tôi đã học lớp bốn đã có nhận thức nên hiểu lờ mờ về tầm quan trọng của chiến dịch này. Làng tôi hàng chục người đi dân công thanh niên xung phong để phục vụ chiến dịch có quy mô to lớn ấy. Đầu tháng năm 1954 chúng tôi sắp nghỉ hè chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc. Học sinh chúng tôi được đi dự mít tinh chào mừng chiến trắng. Trong giờ phút tưng bừng ấy tôi nghĩ đến anh Ngoạn. Tôi tin anh sẽ về. Thỉnh thoảng tôi chạy đến nhà ông Phó Hãn hỏi thăm tin tức anh. Ông Phó lặng lẽ lắc đầu.
Vài tháng sau đó có tin dữ về làng Rằng làng tôi có ba anh bộ đội hy sinh tại chiến trường Điện Biên Phủ trong đó có anh Ngoạn. Rồi đến một ngày tin dữ thành sự thật. Xã tổ chức lễ truy điệu cho ba liệt sĩ ngay tại đình làng. Một lễ truy điệu gọn nhẹ trang nghiêm cảm động. Khói hương nghi ngút quấn quanh vòng hoa mang tên các anh. Không ai có một tấm ảnh chân dung. Họ là con những người nông dân chân lấm tay bùn làm gì có ảnh. Chụp ảnh lúc bấy giờ là một thứ xa xỉ. Anh Ngoạn chẳng có thì thôi chứ ai còn có nữa. Người làng tôi ai cũng khóc. Đàn ông nước mắt lưng tròng. Đàn bà thút thít. Tôi để ý đến chị Hảo. Năm ấy chị đã mười tám tuổi người tròn lẵn hai má hây hây dong dỏng cao tóc dài tận eo lưng. Không thấy chị đâu tôi đoán chị đã sụp đổ tinh thần khi nghe tin anh Ngoạn hy sinh. Chị không còn đủ bình tĩnh để ra đình dự lễ truy điệu anh.
Hôm sau tôi cầm tập  vở của anh Ngoạn lững thững đến nhà ông Phó Hãn. Ông đã lập bàn thờ cho con. Trên bàn một tấm bài vị bằng chữ Hán một đĩa hoa quả khói hương nghi ngút. Tôi thưa chuyện với ông trao tập vở của anh Ngoạn vào tay người bố tóc đã bạc trắng khuôn mặt hốc hác đôi mắt trũng sâu. Ông lần giở từng trang vở của con hai tay run run. Ông nói với tôi:
- Nhờ có cháu mà ông còn có chút hơi hướng của nó… thật cảm ơn cháu…
Ông gói tập vở đặt lên bàn thờ anh Ngoạn khấn vái lầm rầm. Tôi cũng bắt chước ông thắp hương cho anh.
Cuối năm 1954 người dân quê tôi được học tập về cải cách ruộng đất. Tiếp đến là những anh cán bộ cải cách xuất hiện. ít lâu sau bộ đội miền Nam ra tập kết về đóng quân tại làng. Những ngày vui náo nức chiến thắng rồi hòa bình lập lại chưa mất đi nét hân hoan trên gương mặt người thì những sự kiện khác lại đến. Người quê tôi buồn vui xen lẫn. Đêm đêm chị gái tôi đi họp chi bộ về thầy tôi thường hỏi dò. Chả là trước đây ông từng giữ chân phó lý nhiều ruộng đất phải thuê người làm. Được cái công sá sòng phẳng không nạt nộ bóc lột ai lại phá sản từ lâu nên cũng yên tâm. Ông Phó Hãn bị quy thành phần địa chủ cường hào gian ác phải đi cải tạo. Biết thế nào nông dân cũng tịch thu tài tản nhà ông. Tôi đã tìm cách lấy lại những quyển vở của anh Ngoạn mang về nhà cất giấu. Khi biết tin này thầy tôi rất lo. Ông bảo nếu cán bộ cải cách biết gia đình tôi sẽ bị liên quan với địa chủ tôi có thể bị đuổi học. Nghe bố mình nói thế tôi lo lắm. Nhưng rất may việc làm của tôi chẳng ai biết . gia đình tôi chẳng hệ lụy gì.
Cho đến khi giải phóng miền Nam nước nhà thống nhất công tội của từng người đều được đánh giá một cách rạch ròi công bằng. Một người cháu gọi anh Ngoạn bằng chú thờ cúng anh. Đến lúc ấy tôi mới đường đường chính chính mang tập vở của anh đến đặt lên bàn thờ mà thông báo ngắn gọn để anh biết. Tôi giở tất cả các quyển vở ra bày trên bàn thờ. Thứ giấy rơm cách mấy chục năm đã mục những nét chữ mực tím mờ dần. Tôi nẩy ra ý định: chọn lấy một trang vở chữ đẹp nhất đưa đến hiệu ảnh chụp lại lồng vào khung kính để thờ thay cho chân dung. Đó là bài giảng văn anh chép dở:
          Giờ Quốc Sử
Những buổi sáng vầng hồng le
 lói chiếu
Trên non sông làng mạc khắp
 đồng quê
 
Chúng tôi ngồi yên lặng lắng
tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ
 Quốc sử
Thầy tôi bảo: các em nên nhớ rõ
Nước chúng ta là một nước văn minh
Bao anh hùng thuở trước của giang sơn
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc

Thực tình tôi chỉ nhớ được đúng như anh chép dở. Tôi chẳng nhớ tên tác giả bài thơ. Mỗi lần nhìn vào bức ảnh chụp trang vở của anh tôi chắc là lúc hăng hái tòng quân anh đã nghĩ đến nghĩ vụ của người trai thời loạn là phải tiếp bước những anh hùng thuở trước ra mặt trận đối mặt với quân thù để giữ gìn độc lập tổ quốc. Và anh đã làm đúng điều mình nghĩ.
Mỗi lần đứng trước  bàn thờ anh tôi ngắm nhìn không biết chán những nét chữ nghiêng nghiêng rắn rỏi mà vẫn đẹp. Nét chữ ấy là tính cách con người anh.
                                                       *
Đọc xong bức thư tôi cầm nguyên trong tay vái anh một vái rồi châm lửa đốt. Gọi là "hóa" đi thì người thân mới nhận được những điều tâm sự của mình. Tàn giấy bay quấn quýt bên cành đào đã bừng lên sắc hoa đỏ. Khói hương lãng đãng. Ngoài trời mưa xuân như rắc bụi trong không gian.

                                                                                      Đ.V.P





Hoàng Trọng Cường


Hoa Cổ Y đã nở


                                      Truyện ngắn


         Hồng lù lù xuất hiện ở nhà tôi sau mười năm biệt tích. Trông hắn khá phong trần. Hắn đặt cái giỏ to đựng một loại cây gì đấy trông rất lạ xuống giữa nhà cười khì khì:
- Về đến Hà Nội thì gặp thằng Quang đang lượn sắm đồ tết. Hắn cho tôi địa chỉ nhà ông.May quá. Xuống xe là tôi tìm đến đây ngay. Ông bà cho tôi ngủ nhờ một đêm. Mai tôi về quê.
- Vội đi đâu. Cơm nước nghỉ ngơi hàn huyên cái đã. Bao nhiêu năm giờ mới gặp nhau.
Vừa nói tôi vừa chạy luôn vào bếp tính làm chút gì nhắm rượu:
 - Vợ tôi hôm nay đi trực ở cơ quan nhà chỉ có tôi với ông thôi.
Hắn lăn kềnh ra giường ngáp:
- Tôi ăn cơm dọc đường rồi. Ngủ đã. Mệt bã người.
Tôi quay ra thì hắn đã ngáy pho pho. Đành lắc đầu đi lấy chăn gối ủ cho hắn rồi cũng đóng cửa trèo lên giường. Trời rét buốt. Nhiệt kế chỉ mười một độ C. Có ngồi xem ti vi cũng ngại. Đắp chăn nằm cho ấm lưng là tốt nhất.
Thế nhưng trằn trọc mãi mà tôi không tài nào ngủ được. Cứ miên man nghĩ về Hồng. Cái thằng. Lận đận long đong như thế mà xem chừng ra hắn vẫn cứ vô tư bỗ bã như không.

                                                              *

      Tôi với Hồng suýt soát tuổi nhau. Hai nhà cách nhau một khoảng vườn cao không có nước tưới. Quanh năm khu vườn rộng ấy chỉ để trồng đậu trồng cà và gieo vừng. Tôi và Hồng cùng học với nhau từ lớp vỡ lòng. Cùng đi chăn bò chăn vịt. Không hiểu thế nào mà hai thằng cứ quấn lấy nhau như hình với bóng. Cứ ăn cơm xong là tôi tót sang nhà hắn. Một dạo tôi bị lên sởi phải nghỉ học. Suốt ngày Hồng cứ quẩn ở bên tôi. Mẹ tôi bảo phải kiêng kẻo bị lây thì khổ. Hắn mặc kệ. Hắn bảo sợ tôi buồn.
Nhà Hồng nghèo nghèo lắm. Mẹ con côi. Nghe nói mẹ Hồng hồi trẻ khá đẹp gái. Sau khi sinh Hồng không hiểu bà bị bệnh gì mà hai chân teo lại đi lại phải chống hai tay vào hai đầu gối mới lê được từng bước. Bố Hồng bỏ đi lấy vợ ở huyện khác và ở quê vợ luôn không ngó ngàng gì đến hai mẹ con nữa. Có lẽ vì thế mà Hồng trưởng thành trước tuổi. Hắn tháo vát. Kéo te đánh dặm đơm đó bắt lươn hắn đều rất thạo. Ngoài buổi học là hắn lăn ở ngoài đồng bắt cua bắt cá. Thậm chí đêm hắn còn theo người lớn đi đánh câu dây đi soi cá. Hôm nào được nhiều cá hắn lại chọn vài con cá ngon đem đến cho tôi. Cũng có vài lần tôi theo hắn đi kiếm cá nhưng tôi vụng về chủ yếu là đi theo xách giỏ cho Hắn. Một lần năm học lớp năm mùa đông năm ấy rét kinh khủng. Nước đóng váng. Hồng rủ tôi đi nhặt cá chết cóng. Cả cánh đồng Trịnh vốn là cánh đồng trũng quanh năm ngập nước nên có rất nhiều cá to. Nước ngập ngang đầu gối. Đặt chân xuống ruộng nước có cảm giác như có một sợi thép xuyên qua người. Nhưng cá nhiều quá. Chúng nằm thẳng đơ trong làn nước lạnh buốt. Chỉ việc thò tay nhặt lên đem về bỏ vào trong vại nước ấm chừng bốn lăm độ C phải một hồi lâu mới thấy chúng ngoe nguẩy đuôi. Ham nhặt cá quá tôi bị tê cóng hết chân tay người cứng đơ không bước đi được nữa. Hồng phải cõng tôi về. Đận ấy tôi bị sưng phổi. Từ đấy Hồng không cho tôi đi theo kiếm cá nữa. Nhưng những việc khác thì đi đâu hai đứa cũng cặp kè bên nhau.
Hồng học rất khá dù không có thời gian để học bài ở nhà. Chủ yếu là hắn thuộc bài ngay trên lớp. Hắn nhớ bài rất tốt. Và nhớ rất dai nữa. Chữ viết của hắn đẹp nhất lớp. Các thầy cô giáo đều hy vọng hắn sẽ có một tương lai sáng sủa. Nhưng cuối năm lớp sáu thì Hồng bỏ học. Ai khuyên cũng không được. Mẹ Hồng đã bị tàn tật dạo ấy lại ốm đau triền miên bà bị đủ các thứ bệnh. Hồng bỏ học để đi làm lấy công điểm của hợp tác xã trợ giúp cho mẹ.
Năm Hồng mười tám tuổi thì mẹ nó mất. Năm sau nó nằng nặc đòi đi bộ đội. Đóng quân ở tận biên giới phía Bắc. Tôi thì ở trong Nam. Hai đứa vẫn thư từ cho nhau đều đặn. Lần nghỉ phép đầu tiên thật trùng hợp hai đứa cùng được về vào dịp giáp tết nguyên đán. Ngôi nhà tranh của mẹ con Hồng sau mấy năm không có người ở đã thành một đống mùn rác. Tôi bảo Hồng về ở nhà bố mẹ tôi. Về đến nhà buổi chiều thì buổi tối Hồng bắt tôi đi chơi với hắn.
 Hồng kéo tôi đến nhà cô Thâu người làng Đại Giáp với làng tôi. Nhà Thâu họ hàng nhà cô toàn những người giàu có máu mặt trong làng xã. Thâu học đến lớp mười (hệ mười hai năm) thì bỏ vì học kém quá không theo kịp bạn bè lại bị thầy giáo môn toán nhiếc móc nên xấu hổ b

More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh




Lưu Nga


Dấu chim biển

                              Truyện ngắn


     Con đường uốn lượn theo hai hàng cây xanh rì dẫn lên ngôi nhà nhỏ. Từng cơn gió nhẹ ru cảnh vật nơi đây vào sự tĩnh lặng và thanh bình. Ngôi nhà nằm hướng ra biển giàn hoa thiên lý đang vào mùa vàng rộm. Từ bên ngoài nhìn vào trong nhà một ánh sáng dịu nhẹ hắt vào. Đồ vật tuy đã cũ nhưng được bài trí khá gọn gàng và khéo léo. Tiếng sóng ì ào xô đẩy nhau như một bản nhạc lãng mạn. Cả không gian nơi đây mang hơi thở cổ xưa vừa pha chút thanh tịnh. Tiếng bước chân cùng tiếng cười nói vui vẻ vang đến:
- Anh đưa em xuống biển chơi đi Quang!
- Thôi. Thủy triều lên cao lắm không tốt cho sức khỏe của em đâu
- Anh với bà lúc nào cũng coi em như bệnh nhân cả.
Lời nói của cô gái khiến chàng trai nhăn mặt. Gương mặt đàn ông của chàng hiện lên nỗi buồn lẫn xót xa:
- Ai nói với em vậy nào? Khương của anh đã khỏe rồi mà. Chúng ta đi biển thì ai trông nhà và chờ bà về?
- Nhưng em muốn ngắm mặt trời lặn. Đã lâu rồi em không được ra khỏi nhà.
Đôi mắt cô gái hướng ra xa vẻ đầy tư lự giọng vẫn trầm buồn:
- Anh nhìn xem biển lại đổi màu rồi đấy. Màu đỏ bạc đẹp  quá phải không anh? ước gì em sẽ biến thành chim Hải Âu để theo dấu mặt trời về với biển.
Xiết nhẹ vòng tay chàng trai giấu đi nỗi buồn. Bây giờ qua khung cửa sổ mở rộng trước mắt hai người mặt biển chỉ còn là một màu đỏ tuyền. Những cánh chim đang vội vã bay về phía chân trời. Đã bao nhiêu lần hai người dựa vào nhau ngắm cảnh hoàng hôn biển như thế này. Mỗi lần họ đều khám phá thêm nhiều vẻ đẹp kỳ diệu ẩn chứa trong lòng biển rộng lớn.
Cô gái có thân hình mảnh mai gương mặt còn rất trẻ. Một vẻ đẹp đến kỳ lạ trong như pha lê và thánh thiện như đức mẹ. Làn da trắng mịn màng đôi chân mày đen thẫm luôn nhíu lại đầy suy tư. Đôi mắt cô gái là điểm thu hút bất cứ ai. Đối diện với đôi mắt ấy là cả mặt biển bao la chứa đựng nhiều trạng thái. Đôi lúc sáng long lanh như mọi sinh lực đều được bộc phát nhưng có lúc lại tối sầm u uất. Cô quấn chiếc khăn màu hồng nhạt quanh đầu bay trong gió. Một nét đẹp dễ gây thương cảm và lòng trắc ẩn của con người.
- Em vừa qua phẫu thuật. Để khỏe hẳn anh sẽ đưa em đi bất kỳ đâu mà em thích Khương ạ!
- Sao anh và bà lại bắt em làm phẫu thuật? Bây giờ mái tóc của em không còn nữa em khác nào một ni cô an phận trong ngôi nhà cô độc ở biển này.
- Đừng nghĩ bậy. Anh và bà muốn tốt cho em thôi. Em yêu biển mà biển cũng có lợi cho em lúc này. Em còn có bà có anh và có những chú chim biển vẫn bay về mỗi chiều kia mà
- Vâng! Những chú chim
Câu chuyện của họ hòa lẫn vào tiếng sóng tiếng gió rì rào. Đôi mắt cô gái vẫn như không có điểm sáng cứ mãi nhìn về phía xa chờ đợi. Chờ đợi một điều kỳ diệu sẽ đến với mình. Từ phía bãi biển những tiếng đập nhẹ nhàng dội vào sau đó những chấm đen dàn hàng ập đến. Tiếng cô gái reo lên trong gió:
- Hải âu về
éàn Hải Âu nối tiếp nhau bay về. Những chiếc bụng bé bỏng dường như phính ra. Đôi cánh bay nhanh hơn. Cô gái ùa theo bầy chim về phía biển. Rồi đưa tay huơ huơ trong không trung như người dẫn đường thành thạo đôi mắt sáng lên một sức mạnh vô hình làm cả không gian bừng tỉnh bỏ lại đằng sau cái mơ màng của chiều tà chuyển mình.
Chàng trai lặng lẽ đứng nhìn người con gái trước mặt. Lòng anh quặn đau. Nỗi đau anh không thể nói ra. Anh cứ mải miết nhìn tấm lưng thon không nén được tiếng thở dài. Anh muốn níu giữ thật chặt thân hình ấy lần bàn tay rắn rỏi của mình vào từng ngón tay búp măng mềm mại mà  nắm mạnh. Phải nhìn người yêu quằn quại vì những cơn co giật anh thấy mình bất lực. Gương mặt anh đanh lại lạnh lùng lẫn nhức nhối. Số phận và duyên nợ đã gắn anh vào cô gái với những buổi mưa biển dữ dội.
            *
Đưa tay định gõ cửa nhưng Mây lại lưỡng lự rụt tay về. Lần đầu tiên một nhà báo bản lĩnh và khá thành công như cô thấy khó quyết định về một việc nhỏ và đơn giản thế này. Chỉ ba tiếng cộc...ộc...ộc... sao Mây thấy khó đến vậy. Đằng sau cánh cửa vô tình kia là cả câu chuyện dài. Nhưng nên hay không khi sau cánh cửa đó cô phải đối diện với một quá khứ buồn. Mây đã tình nguyện để được đến đây viết bài về một doanh nhân đầy tiếng tăm đầy những kỳ tích đáng nể phục. Một người từ bàn tay trắng xung phong lên miền đất khi còn hoang dại khai thác cải tạo trở thành một tỉ phú được nhiều người kính nể báo chí truyền hình ca ngợi không tiếc lời. Vậy mà đối với Mây mỗi khi nghĩ về người đó cô lại thấy buồn. Do dự mãi rồi Mõy cũng đưa tay gõ cửa:
- Mời vào!
Mây đẩy nhẹ cửa. Dường như sự xuất hiện hơi đường đột của cô khiến người đàn ông vội vàng thu dọn những lá thư đã hoen vàng cho vào chiếc hộp.  
- Xin lỗi anh tôi là nhà báo đã có hẹn trước.
Người đàn ông vẫn cắm cúi thu nhặt những vật còn lại trên bàn trả lời Mây mà không hề ngẩng lên nhìn cô lấy một lần. Cô thấy như bị xúc phạm.
- Tôi biết. Xin chờ tôi một phút.
Từng tia nắng gay gắt ở vùng Tây Nguyên chiếu rọi cả căn phòng tràn ngập trong một màu vàng mật. Khi vừa đặt chân lên mảnh đất này cô đã chuẩn bị tâm lý cho mình khá kỹ càng. Vậy mà hơi nóng ram ráp rồi cả những làn bụi đất đỏ vẩn đục lên sau mỗi chiếc ô tô chạy qua khiến cho cô như nghẹt thở. Mây nhìn những đứa trẻ vô tư nước da ngăm đen mặc nhiên đùa nghịch với nhau trong bụi đất trong những rừng cà phê bạt ngàn mà cô thấy mình dường như quá yếu đuối.
Một phút trôi qua. Người đàn ông ngẩng lên nhìn người khách của mình. Lúc này ông mới sững người chết lặng. Trước mắt ông hình ảnh ngày xưa ùa về dữ dội. Hình ảnh đã đeo bám ông nhức nhối gần hai mươi năm.
- Khương!
Mây mỉm cười nụ cười chát chúa. Nụ cười mà người đàn ông kia không hề nhận ra có cái nhếch môi thách thức. Mây lách người tránh đôi bàn tay vồ vập khi người đàn ông lao đến mình. Giọng cô lạnh lùng:
- Ông nhầm người rồi. Tôi là Mây phóng viên báo Kinh tế.
- Nhầm. Không thể. Em là Khương là Khương của hai mươi năm về trước.
Từng lời nói của ông bị đứt quãng. Hơi thở gấp gáp như cố trấn tĩnh lại cảm xúc của mình nhưng không được. Tiếng ông bộc phát trong tiềm thức xoáy vào người đối diện:
- Giám đốc Quang! Hãy nhìn kỹ lại xem tôi có phải là Khương hay không? Sự nhầm lẫn là một điều xúc phạm đối với tôi. Nhất là khi tôi đến đây vì công việc.
Sự lạnh lùng lẫn ánh mắt như có lửa khiến ông giật mình. Nhưng làm sao ông có thể nhầm lẫn được. Gương mặt ấy dáng người ấy nhất là đôi mắt như đánh gục đối phương kia giận dữ nhưng cũng rất dịu dàng thì làm sao ông có thể quên cho được.
- Khương à! Anh biết anh có lỗi với em. Anh không thể quỳ gối xin em tha thứ vì anh không xứng đáng càng không mong em chấp nhận anh. Nhưng em đừng từ bỏ chính mình và tuyệt tình với anh như vậy. Em có thể đối xử với anh thế nào cũng được chỉ xin em đừng dập tắt niềm tin và hy vọng của anh.
- Niềm tin hy vọng. Ông cũng biết những điều đó hay sao ông Quang? Hai mươi năm trước chính ông đã từ bỏ Khương để lựa chọn cuộc sống khác thì bây giờ ông không nên bới móc kỷ niệm làm gì nữa.
Căn phòng như căng phồng vì sức chứa của cả hai con người đầy tâm trạng. Uất hận trái tim Mây nghẹn lại nước mắt trào ra theo lời nói. Mây nhìn người đàn ông đang sụp xuống dưới chân mình vẻ mặt thành khẩn đôi mắt thất thần. Đâu rồi vị giám đốc oai phong? Đâu rồi người đàn ông rắn rỏi hét ra uy quyền và danh vọng? Trước Mây ông như con thú sa bẫy trông thật thảm hại. Sau hơn hai mươi năm gặp lại Quang Mây thấy ở Quang chẳng có gì thay đổi. Ngày đó Mây đã theo Quang đến bãi biển trong một màn mưa chứng kiến cảnh ông lao vào biển gào thét tên Khương trong lòng không hề nguôi giận. Vẫn đôi mắt sáng kiên nghị khuôn mặt vuông vức đàn ông dáng người cao lớn nước da đen sạm. Chỉ có mái tóc đã điểm hoa râm càng làm cho Quang vững vàng hơn. Mây chạnh lòng. Tiếng Quang càng thêm não nề:
- Vậy cô thực sự là ai?
Mây xoay lưng về phía cửa sổ nhìn dòng người như một đàn kiến chen lấn nhau. Cô cầm ảnh của Khương. Nụ cười Khương thật đẹp nhưng cũng thật héo úa. Khương trước biển nhỏ bé cô đơn và tội nghiệp. Càng nhìn Mây càng như bị xé toang lồng ngực.
- Ông Quang! Đến giờ này tôi cũng chẳng cần giấu ông về thân phận của tôi làm gì. Tôi đã chờ đợi giây phút gặp ông hơn hai mươi năm nay rồi. Trước hết tôi xin nhắc lại với ông lần nữa tôi là Mây em gái song sinh với chị Khương. Chắc ông cũng đã nghe chị tôi nhắc đến nhiều rồi phải không? Khi ông và chị Khương yêu nhau thì tôi đang du học tại Pháp. Khi tôi trở về thì ông cũng đã ra đi.
Quang nhớ lại rất nhiều lần anh được nghe Khương nhắc đến Mây. Cũng đã rất nhiều lần anh nhìn hai chị em giống nhau như một trong những khung ảnh bài trí quanh nhà từ cái nhíu mày từ ánh mắt đẹp. Chỉ có điều Mây được ưu ái về sức khỏe bao nhiêu ham mê thể thao bao nhiêu thì Khương lại yếu đuối bệnh tật bấy nhiêu. Dường như sức lực ông trời rút cạn kiệt từ người chị để truyền sang cho em. Cái đẹp không bao giờ có thể tồn tại số nhiều nhất là cái đẹp đó lại hiện hữu ở con người. Khương say mê âm nhạc suốt ngày làm bạn với cây vi ô lông vẻ đẹp mong manh hư ảo. Còn Mây một sự hoàn hảo trọn vẹn. Quang mỗi lần thấy Khương phải giáp mặt với thần chết giành giật từng giây để được sống lại thấy ghen tị với Mây- người con gái chưa từng gặp. Giờ đây nhìn thấy Mây anh như nhìn thấy Khương hiển hiện sau một cuộc hồi sinh.
Quá khứ như cuộn phim cứ dần dần hiện ra trong trí nhớ của mỗi người.
            *
Khu phố trở nên náo nhiệt hơn bao giờ hết. Những âm thanh hỗn độn. Tiếng leng keng của chiếc xích lô vui tai tiếng hỏi mua bán từ chợ vang đến. Khương nóng lòng đi ra đi vào nơi ngưỡng cửa. Giàn hoa thiên lý quấn quanh khoảng trống trước sân nhà. Sau phẫu thuật Khương về khu nhà của cha mẹ để lại hòa mình vào cuộc sống với mọi người. Tóc Khương đã chấm đến ngang vai ngan ngát mùi hương bưởi. Nét xanh xao vẫn chưa mờ hẳn.
Chiếc ô tô dừng lại ở cổng làm Khương vội vàng chạy ra. Trên xe một cô gái giống Khương như lột bước xuống. Cô gái cười tươi gương mặt tràn đầy sức sống và sinh lực của tuổi trẻ.
- Chị Khương!
- Mây!
Hai người con gái ôm chầm lấy nhau. Nước mắt vỡ ra. Gió bắt đầu nổi lên nhẹ nhàng. Tiết trời đang chuyển sang thu vừa hiu hắt vừa buồn buồn. Sau giây phút gặp nhau mừng tủi Mây nhìn lại người chị đã bảy năm xa cách. Đôi mắt ưu tư của Khương vẫn đượm buồn phảng phất thêm nỗi đau nhức nhối. Chiếc váy rộng thùng thình không thể che lấp được bụng ngày càng to ra của Khương.
- Cháu vẫn khỏe chứ chị?
Giọng Khương có phần ngượng nghịu trả lời em:
- ừ! Vẫn khỏe em ạ. Còn hơn một tháng nữa chị mới sinh cháu. Em đi đường xa chắc mệt lắm. Vào nhà tắm rửa nghỉ ngơi một chút. Chị đã nấu những món ăn mà em thích rồi đấy!
Biết chị né tránh chuyện riêng Mây khẽ gật đầu vào nhà. Căn nhà vẫn vậy không có gì thay đổi so với hồi cha mẹ Mây còn sống. Đơn sơ và giản dị. Bảy năm đi du học nước ngoài cuộc sống hào hoa và phồn thịnh đã làm Mây mệt mỏi rã rời. Nhiều khi Mây thèm được nói tiếng Việt đến phát điên. Hàng tối cô ngồi trước hình của cha mẹ và của Khương để bộc bạch chính mình cho vơi nỗi khát khao về quê hương người thân. Về nước với bao ngổn ngang thắc mắc trong lòng Mây muốn hỏi Khương. Nhưng đôi mắt u uất của chị luôn chặn đứng ý nghĩ của cô.
Nắng vàng cuối hè còn rơi rớt lại hắt vào nhà. Mây quanh quẩn bên chị nói cười tíu tít như hồi còn nhỏ. Hơi chần chừ nhưng Mây không đủ kiên nhẫn để chịu đựng những thắc mắc đốt cháy tâm trí mình thêm một ngày nào nữa. Cô muốn biết giữa Khương và Quang đã xảy ra chuyện gì để đến nỗi ly tán. Chị cô phải vất vả chịu đựng dư luận. Mỗi lần nhận được thư chị gái gửi sang ngoài chuyện nhà Khương còn kể cho Mây nghe về Quang- người đàn ông chị cô tôn thờ và yêu hết lòng. Tình yêu của Khương giành cho Quang qua ngày tháng đã thấm vào tâm thức của Mây lúc nào không hay biết. Mây thấy nhẹ nhàng khác lạ mỗi khi nghĩ đến Quang- người yêu chị gái mình mà không lý giải được tại sao.
- Khương à! Kể em nghe về chuyện của chị đi. Quang đâu rồi?
Không còn cách nào khác Khương ngồi xuống ghế nước mắt chực trào ra. Đứa trẻ trong bụng lại bắt đầu ngọ nguậy. Quang bỏ đi đối với Khương là cả một cú sốc mà cô khó lòng đứng dậy. Cô không hề trách Quang mà chỉ buồn cho mình. Quang yêu cô một tình yêu có thể hy sinh bản thân. Vậy mà tình yêu đó lại không nuôi dưỡng được Quang mãi mãi.
- Anh ấy đã vào công tác trong Nam gần một năm rồi. Sau khi hồi sức hoàn toàn bọn chị chuyển về đây. Anh Quang chăm sóc lo lắng cho chị từng chút một bỏ bê cả công việc dẫn đến công ty bị phá sản. Anh ấy như người mất hồn. Cả ngày không nói một câu khiến ruột gan chị héo đi. Chị thấy mình càng có tội nhiều hơn. Không một lời trách móc không bao giờ bộc lộ trước chị nhưng chị biết Quang rất khổ sở vì một số nợ quá lớn.
- Sau đó thế nào?
- Chị bán hết nữ trang gom góp tiền của đưa anh ấy trả nợ. Quang không nhận mà còn cho đó là hành động coi thường. Giữa bọn chị dần có khoảng cách. Quang lao vào rượu say tối ngày. Trong một lần tình cờ bà ngoại bắt gặp Quang đi với một cô gái bán hoa. Chị đã không chịu đựng nổi sự phản bội đó nên yêu cầu Quang ra đi và rời xa chị vĩnh viễn.
Tiếng thở dài cùng với những giọt nước mắt thi nhau lăn xuống. Khương đang phải trải qua những giây phút bị mổ xẻ cả về thể xác lẫn tinh thần.
- Thế anh ấy có biết chị mang thai hay không?
- Không. Quang đi rồi chị thấy trong người khác lạ. Kết quả thai đã hơn hai tháng. Chị định báo cho anh ấy nhưng lúc đó chị nghe nói anh ấy quyết tâm làm lại sự nghiệp chị sợ làm bận lòng Quang thêm nữa. Đứa trẻ này chị sẽ tự mình nuôi lớn.
Mây vỗ về an ủi. Cô thầm trách Quang - người đàn ông đã đánh mất niềm tin không những ở chị cô mà cả ở chính cô nữa. Cô thấy bước chân mình như bị hụt đi tự hỏi tại sao con người lại có thể dễ dàng dời xa tình yêu của mình vì thứ vật chất xa xỉ như vậy. Nhìn gương mặt Khương đang nhíu lại suy tư Mây đưa tay xoa nhẹ vào bụng chị. Cô cảm nhận sự quậy phá của bào thai như đang muốn chui ra ngoài. Tiếng Khương đứt quãng:
- Chị thấy đau bụng quá muốn nghỉ một lát.
Khương gượng đứng dậy nhưng lại khụy xuống sàn nhà. Cô đau đớn. Mây hoảng hốt nâng chị.
- Chị sao thế?
- Có lẽ chị sinh sớm Mây ạ. Em gọi xe hộ chị nhanh lên!
Mây răm rắp làm theo lời Khương. Mười lăm phút sau Khương đã có mặt ở bệnh viện.

                     *
- Vậy giờ Khương và con trai tôi ra sao Mây?
Căn phòng Giám đốc Lê Quang lặng lẽ trôi đi trong thời gian dài. Ông đã mất hết sự phong trần của một người từng trải và thành đạt. Ông có ngờ đâu sự ra đi của mình ngày ấy lại dẫn đến một câu chuyện như vậy? Mây đứng bên cửa sổ đôi mắt vẫn thẫn thờ. Trước mắt cô hình ảnh của Khương đang vật vã vượt cạn. Cô mở túi lấy ra tấm ảnh chàng trai tầm hai mươi tuổi gương mặt rắn rỏi đôi mắt sáng nước da ngăm đen khỏe mạnh đưa cho Quang.
- Tên nó là Quang Minh. Chị Khương đã đặt tên con theo ý anh. Nó giống anh quá phải không? Chỉ tiếc rằng thằng bé mới chào đời đã không được mẹ ôm ấp. Chị Khương mất khi sinh cháu do bị kiệt sức. Tôi gửi cháu  đi du học nội trong tuần này cháu sẽ về Việt Nam. Trước khi mất chị ấy bắt tôi thề khi nào thằng Minh tròn hai mươi tuổi mới cho hai bố con anh gặp nhau và nhờ tôi gửi lại anh cuốn nhật ký này. Đọc nó anh sẽ hiểu tất cả.
Cầm cuốn nhật ký tay Quang run run. Từng nét chữ mềm mại của Khương như phảng phất nụ cười đau đớn dằn vặt và ân hận. Những nếp nhăn nổi lên chồng xéo đôi mắt đỏ ngầu khiến Quang như già sọp hẳn đi. Có nỗi đau nào bằng sự mất mát. Bao nhiêu năm trôi qua ông đã đi cùng trời cuối đất để tìm lại Khương. Nhưng Khương giống như loài Hải Âu bay về với biển mà không bao giờ dừng xải đôi cánh. Ông mong xây dựng sự nghiệp để về tìm Khương mang cuộc sống sung túc và hạnh phúc cho người mình yêu. Vậy mà giờ đây Khương đã vĩnh viễn không còn ở trên thế gian nữa. Sự thật này làm sao Quang có thể chấp nhận được. Ông ngờ đâu mình đã để lại giọt máu cho Khương. Khương đã vì ông mà chịu biết bao buồn tủi biết bao thiệt thòi. ông nào xứng đáng với sự hy sinh ấy.
- Tôi thật có lỗi với cô ấy. Không bao giờ tôi tha thứ cho mình được.
Giọt nước mắt người đàn ông rơi xuống. Trang nhật ký nhòe đi. Mây chạnh lòng. Cô đã từng thất vọng về người đàn ông này. Nhưng giờ đây cô thấy xao lòng. Xúc cảm mà Quang đã bộc lộ không thể là giả tạo được. Người đàn ông kia không yêu chị cô tại sao lại phải cố tìm kiếm người xưa làm gì. ở tuổi năm mươi với những gì thành đạt nhất ông vẫn cô đơn. Căn phòng này đầy hình ảnh của Khương.
- Anh đừng khổ tâm quá làm gì. Chị Khương từ bé luôn muốn được giống loài chim Hải Âu có đôi cánh để bay về với biển. Bây giờ chị ấy đã được toại nguyện. Hãy để chị ấy được siêu thoát ngày đêm chơi viôlông bên sóng biển rì rào.
Quang nhìn bức ảnh Khương. Dường như Khương sinh ra để thuộc về nơi đó mà không ai kể cả Quang có thể níu giữ được. Giờ đây ông còn có con sợi giây neo cuối cùng Khương để lại cho ông. Giọt máu mà ông đã không hay biết bấy lâu. Quang hy vọng ở thế giới bên kia Khương sẽ tha thứ và phù hộ ông có thể gặp được con. Ông sẽ dồn hết tình yêu thương để chuộc lại một phần lỗi lầm do mình gây ra.
Trước mắt Quang bầy chim sau một ngày kiếm mồi mệt mỏi đang bay dần về phía chân biển. Mặt biển đỏ au như quả bóng tròn vành vạnh. Nơi đó Khương vẫy tay gọi Quang nụ cười của cô thật rạng rỡ mà ông chưa bao giờ nhìn thấy. Trăng chênh chếch lơ lửng trên mỏm đá ở biển.

                                                                  Sầm Sơn 9 - 9 - 2007
                                                                               L.N
   


Tiêu Đình

Hang Ngài


                           Truyện ngắn


         Núi Thấp như dấu ấn về sự lơ đễnh của tạo hóa đã sơ ý làm chảy một vệt dài đất đá tràn xuống cánh đồng bậc thang cơ hồ như chỉ có chiều dài. Đầu mũi của vệt đất giống ngọn thiên bút chấm vào cái hố nước ngầm luôn líu ríu giữ mát xanh cho chân lúa. Có người đã ví dải đất như cái diều của tổ ong trầm tích bao mật đời và thâu tóm những tinh túy của cả một không gian núi rừng thoáng đãng. Sơn thủy hữu tình và sơn thủy tạo thế địa linh nhân kiệt cho cái xóm nhỏ xíu bọc quanh “độc nhủ sơn” ấy. Bốn mùa xóm tươi xanh cây lá rượi mát khí hậu và có không ít người vang danh khắp nơi. Thủy tổ của xóm là một ông thầy địa lý nghe đâu đã mua được hàm quan cửu phẩm nhỏ nhất mang về đây lập xóm. Cho nên từ xưa người ta quen gọi xóm là xóm Cửu Nho.
Cha cày mảnh đất nhỏ mé rừng thường dẫn tôi theo tôi lững thững cầm dây mũi bò đi trước cha vác cày theo sau. Khi tra ách cày xong tôi còn phải dắc bò đi mấy đường thả ví theo sự chỉ dẫn của cha rồi mới được leo lên tảng đá ngồi ngắm trời mây hay dạo vào rừng hái sim. Có lúc cha bảo tôi phải theo bò tập cầm lái đuôi cày. “Muốn cạn thì chậm đuôi cày xuống còn muốn sâu thì bợ lên” bài học đơn giản như thế sao tôi tập hoài cũng không thành. Sợ nhất là con bò thình lình rượt nhanh như có ai quất đuổi chạy theo nó đã mệt sức đâu nữa mà tập trung cho việc giữ chắc đuôi cày. Thế là lưỡi cày trượt xước lên mặt đất một đường dài ma thuật tôi bị cha cú cho một cái đau điếng.
Với tôi xóm Cửu Nho núi Thấp trong veo hiền hậu và đơn giản như thế đó. Rồi một hôm khi cha tôi ngồi nghỉ mở bọc lá chuối ra bẻ cây rừng làm đũa để ăn nửa buổi nắm xôi mẹ nấu gói từ tờ mờ sáng cha đã kể cho tôi nghe về hang Ngài. Trên núi Thấp cha chỉ tay về phía mênh mông cây rừng có một cái hang đá sâu miệng hang giống hình một con sư tử há mồm nằm nhìn về xóm. Đá lớp lớp trơn trợt vào mùa mưa nóng phỏng chân vào mùa nắng cứ như một lũ cọp con gối lên nhau mà ngủ. Thỉnh thoảng trên đá có in dấu chân cọp đi về như di tích cuộc sống ở thời tiền sử đá cũng nhão nhoét giống đất bùn. ở đó có một con cọp đực to lớn đêm nào cũng sau khi no mồi lững thững từ núi cao về nghỉ trong hang. Vì vậy người ta thường gọi là hang Ông Ngài. “Chừ có ông Ngài ở trên đó không hả cha?”. Làm ra bộ linh thiêng đến cấm kỵ cha tôi lắc đầu tối khuya Ngài mới về.
Không hỏi nữa nhưng kể từ đó tôi biết sợ khoảng chạng vạng giao thừa giữa ngày và đêm sợ cái hướng tây của xóm có rẻo núi Thấp thòng xuống như bọng diều tổ ong mật. Tôi muốn trời sáng thì sáng cho rõ để khi nhìn thấy Ngài từ xa tôi còn đủ thời gian chạy trốn. Hoặc tối mịt cho ra tối để tôi đóng cửa đắp mền nằm trên giường mà tưởng tượng hai mắt Ngài trắng xanh chòm ria tua tủa làm nổi rõ những cái răng nanh trắng dài nhọn hoắt. Rồi tôi cố xác định cái mùi hôi như xác người thối rữa của Ngài theo lời cha kể là hôi như thế nào. Có hôm tôi hỏi bà: “Bà đã thấy Ngài về lần nào chưa bà”. “Bà mới về làm dâu xóm núi này thôi. Chỉ hồi còn sống nghe ông mày kể là có thấy con cọp to như con bò gầm lên một tiếng là cả xóm già trẻ gái trai gì đều im thin thít. Được điều là nó hiền nên cũng ít khi tha trâu bò hay bắt người lên núi...”
Trí tò mò con nít bị thách thức dạo loanh quanh xóm tôi hay hỏi người này người kia về con cọp đực chiếc về cái hang Ngài chưa lần được trông thấy. Có người bảo là cái hang đá để trú máy bay Pháp chứ làm gì có cọp trong đó. Có người lại đoán chắc rằng có có mấy con cọp đuôi như chùm lau phơ phất tha một con nai về hang nhai như người ta nhai trầu nước đỏ ọc ra chảy dài. Mấy đứa trẻ trong xóm mỗi lần khóc dai hay lười ăn uống lại bị đem ra đối thoại với Ngài: “Nín đi không thì cọp tha mất đó nghe chưa!” Đứa trẻ nín khóc không muốn ăn cũng nhướn cổ nhai nuốt. Những tối không trăng xóm chìm trong đen ngòm trời đất người ta hay thắp hương ngoài sân vái cho Ngài đừng về phá phách đừng bắt mất con heo con bò. Tôi thiên về suy nghĩ cho rằng có một hang cọp trong thẳm sâu núi rừng. Tuổi thơ tôi ướp đầy cái mùi cọp khen khét hình ảnh đôi mắt sáng xanh lè và mấy cái nanh trắng nhọn hoắt. Từ đó tôi tưởng tượng thêm để có một dải núi một cái hang cọp hư hư thực thực nửa cổ tích nửa sáng rõ như ban ngày. Tôi thèm có một ngày nào đó được cùng lũ bạn trèo lên núi xem tận mắt sờ tận tay cái hang Ngài nửa thích thú nửa sợ đó. Đem ý tưởng đó nói với mẹ mẹ làm ra vẻ quan trọng đừng có nói bậy con!
Nơi tận cùng của rừng núi giáp ranh với xóm có một cái miếu không tên gọi cụ thể như miếu ông Thu miếu bà Tại mà tôi thường nghe nói. Cha dạy rằng đó là nơi thờ các bậc tiền bối đã có công khai sinh ra xóm. Tôi cứ thắc mắc vậy sao không gọi là miếu Cửu Nho đi cho khỏe. Hay trước ông Nho còn có một thế lực vô hình nào đó đã hô đất ùn lên thành núi vẫy đá lớp lớp chồng lên thành cái hang. Mỗi năm theo lệ “xuân thu nhị kỳ” dân trong xóm sắm lễ vật trọng thể cúng miếu với chiêng trống rình rang có đội nhạc cổ ò e tang rụp rộn ràng. Cha tôi dù ở vai thứ bái nghe nói cũng khăn đóng áo dài ăn chay nằm đất bảy ngày mới được vào lạy tiền bối. Trong dịp ấy người ta điều dành riêng lễ vật là một thịt sống một tợ thịt nướng thơm phức với nem chả gì đó đầy mâm đậy lá chuối mang lên hang Ngài để cúng. Người ta nói không cúng Ngài đường hoàng thì năm ấy không thiên tai cũng bị bắt mang lên núi mấy con bò con heo.
Dựa thế cho tôi là người lớn tuổi có trách nhiệm với thần linh khi cúng bao giờ cũng được quỳ thủ ở tả bàn để lạy tổ tiên tôi xin theo chân cha lên xem cúng hang Ngài. Chỉ có mấy người đàn ông lớn tuổi mới được theo đoàn lên cúng Ngài. Có vẻ như thích thú với ý tưởng của con ý tưởng xem trọng thế giới thần bí mà cha tôi là một tín đồ cha vò đầu tôi cười cười. Hồi lâu ông mới bảo để sang năm sang năm hết năm tuổi cha dẫn theo. Tôi không buồn mà ấm ức. Năm tuổi thì đã sao nào? Ngồi ăn lễ cúng với lũ con nít quanh cái nong tròn được thả trên cỏ xanh mà đầu có tôi cứ tưởng tượng thắc mắc con hổ đực to tướng ấy sẽ xuống ăn miếng thịt nướng hay miếng thịt sống trước? Chắc là tối nay no mồi nó ngủ ngáy khì dưới trăng bọn chúng tôi tha hồ chơi trò trốn tìm đến tận khuya. Cứ nghĩ đến đó là tôi thấy khỏe nmgười ra nhẹ bỗng những điều bán tín bán nghi: Sao nó ăn thịt mình mà mình lại thờ cúng nó?
Sang năm! Hết cơ hội ấy rồi! Mùa hè trước khi tế thu ở hang Ngài xóm tôi bị một trận sét đánh kinh hoàng. Sét chạy một đường dài dọc theo triền núi như có cả một đoàn thiên lôi vừa đánh trống đì đùng vừa cầm bó đuốc bay vùn vụt. Rồi tất cả gộp lại thành một tiếng ầm long trời đanh gọn dứt khoát như sự thị uy cuối cùng sau đợt tập trận lớn. Kết quả một con bò đang gặm cỏ bỗng ngã lăn ra phơi bụng trắng hếu bốn cẳng đưa lên trời. Lạ lùng đứa trẻ ngồi trên lưng bò bị hất bay xa gần trăm mét nằm bất tỉnh mà vẫn cứu được. Cha đứa bé đang cuốc ruộng cạnh đó lại chết xém da. Cả xóm tối đến phải đóng cửa từ sớm vì sợ oan hồn người bị sét đánh sẽ dạo phá từng nhà. Tôi nhìn chiếc đèn dầu hiu hiu có những người canh xác chết cháy được chôn thật sâu dưới lòng dất mà nghĩ không biết có phải do sơ xuất việc cúng miếu cúng hanh Ngài mà xóm rơi vào tình trạng tang thương ấy? Càng nghĩ càng sợ. Người thân phải canh giữ cái xác đến ba tháng mười ngày như mới nới tay ra được. Nghe nói không giữ sẽ  bị người ta đào lên lấy đầu thì nguy cơ cho xóm càng lớn hơn nhiều.
Sau trận sét chết người năm ấy người ta đồn rằng không còn nghe tiếng cọp gầm rợn gáy. Không còn ai trông thấy đôi mắt xanh lè mấy cái nanh nhọn lững thững về hang nó sợ bỏ đi chớ chết gì. Tôi hỏi cha Ngài chết rồi thì mình có cúng nữa không? Cha lặng im như đang suy nghĩ một điều gì hệ trọng lắm. Tôi lại thắc mắc hay điều tra linh cảm là trận đánh  lớn có máy bay Mỹ lần đầu tiên thả bom trên núi Cao. Núi Cao núi Thấp chỉ là cách gọi theo thói quen địa hình. Núi Cao chảy tràn một bên thành núi Thấp núi Thấp lại chảy tràn tiếp thánh cái diều tổ ong mật thọc vào sườn xóm tôi. Chớ gì khác nhau lắm đâu. Nghĩa là xác người chết trên núi Cao sẽ được đưa ngang qua xóm tôi mới xuống dưới quận bom nổ được trên núi Cao rồi cũng sẽ tràn xuống núi Thấp như đất đá. Người dân xóm tôi bắt đầu hoang mang lo sợ. Có người đã tập trung đào hầm trú bom đạn cho gia đình. Có người nghĩ đến chuyện đi tản đi nơi khác. Lại có người mê tín cái xóm Cửu Nho như bị người tỉnh bỏ ngãi: “Có chết cũng chết ở nơi đây chứ đi mô. Nhổ rễ khỏi đất Đồng Nai con này thì có mà chết khô chết héo. Cùng lắm thì vô trong hang Ngài mà ở ở trong đó có bom đạn trời cũng chẳng là chi”.
Trận đánh như một điềm gở được dự báo từ sự mất tích của con cọp đực to bằng con bò. Người dân xóm tôi tin là thế. Cho nên Ngài dù mất hay còn cái hang Ngài dù khét lẹt mùi cọp hay thơm lựng hoa rừng vẫn cứ là điều huyền bí đối với xóm. Không khí bom đạn là thế mà vẫn có người lén lút mang chút thịt sống gói lá chuối lên hang Ngài thắp mấy cây hương để cầu nguyện sự bình an. Tôi sợ Ngài hơn bom đạn mà Ngài thì đâu còn nữa. Thế là một buổi khô nắng chân lúa tôi rủ mấy thằng bạn cũng thuộc loại ma chê quỷ hờn đội lá xem hang Ngài. Đường lên núi sau một mùa xuân rậm rịt cây cỏ. Có những đoạn lởm chởm đá nhọn đoạn khác lại dựng đứng đất đỏ những cái lối mòn thì vẫn còn đó ngoằn nghoèo khi hiện rõ khi mất hút. Thàng Thìn dẫn đầu lớn tuổi to con leo núi như chạy nên thỉnh thoảng lại chui vào bụi rậm chờ tôi đến nhảy ra “Hù” một cái dễ đứng tim như chơi.
Lên đến nơi thì áo tôi ướt đẫm mồ hôi dính ướt sát lưng rin rít. Nhưng tôi không thấy mệt mà chỉ thấy thích cái thích thú của trí tò mò được vỗ về óc mạo hiểm được nắn bóp. Lúc đầu chúng tôi dè dặt lắm. Lỡ có một chú cọp con hay cọp đực bị thương vẫn còn nằm đây đó thì sao? đá xanh rêu hơi trơn càng làm tăng thêm vẻ cổ kính hoang sơ. Miệng hang đúng là há rộng như mồm chú cá sấu đói bụng đang chờ chực con mồi. Ba thằng khom lưng nhìn vào bên trong. Một hòn cuội được ném vào đá chạm đá “cạch” một âm thanh nặng nề. Đàn dơi bay loạn xạ làm tôi giật mình cúi người. Vẫn không thấy gì khác hơn mặc dù sau đó ba thằng đã đi thêm được mấy bước nữa có lắng nghe giương mắt nhìn. Bỗng thằng Thìn bắt chước tiếng hổ gầm lên một tiếng dội vào hang nghe như không có điểm dừng. Tôi ré thét lên rồi ba thằng đều cười vang trở ra mỗi đứa chọn một cục đá để ngồi “mày biết dấu chân cọp ở đâu không? “ Bấy giờ tôi mới để ý đến những nắm chân hương cũ nằm ở góc này góc kia nghiêng ngả. Có cọng đã mục đen có gọng còn tươi ròng. Tôi nhìn kỹ một tảng đá rộng bằng phẳng rất đẹp nhưng không tìm ra dấu chân cọp như lời cha đã kể. Thấy tôi lắc đầu thằng Thìn chỉ mấy lỏm đá có khoảng cách nhau khá đều: “Đó là dấu chân cọp đó”. Theo ngón tay chỉ của nó tôi thấy có lỏm đá còn đọng chút nước mưa rừng tối qua. Trở về chúng tôi mỗi đứa một bọc đầy trái sim và dủ dẻ. Ngoái trông hang Ngài tôi nói không biết với ai: “ừ trông giống cái đầu con sư tử thật đấy”.
Sau lần đó tôi được đưa xuống quận gởi ở nhà bà con để đi học. Thực ra thì cha tôi muốn giữ lại cho cái “Hũ mắm treo đầu giàn” khỏi bị bom đạn xơi mất. Tôi nghe được ý đó trong một lần cha tôi nói chuyện cùng mấy người lớn trong họ hàng. Lần đầu tiên xách áo quần sách vở đi xa nhà tôi thấy nửa thinh thích nửa bùi ngùi thế nào ấy. Bấy giờ những trận đánh nhau trên núi cao đã dầy hơn. Hang Ngài của xóm như hành trang mang theo trong đầu cứ thực mà hư hư mà thực. Mà lạ sao những đêm xa nhà một mình tôi không nhớ ai lại cứ nhớ nó?
Chiến tranh kết thúc xóm ông Ngài - cái tên mới có chiều hướng thay dần cái tên cũ - được tổng kết là ít thiệt hại nhất vùng cả người lẫn của.
Tên xóm giờ đây như tiếng lục tục của chị gà mái gọi đàn con trong thế bắt buộc phải lẻ mẹ lại trở về lũ lượt lớn nhỏ từ mọi nơi. Trong đó có tôi người con được xem là nhờ ân phước tổ tiên long mạch sơn thủy và sự phù hộ của Ngài nên không những còn nguyên vẹn tay chân mắt mũi khi băng qua cuộc chiến mà còn kiếm được ít chữ nghĩa thánh hiền để bụng. Bấy giờ ở xóm quan võ đã có một người từng là đốc binh dưới thời Hường Hiệu còn quan văn như tôi hiếm lắm. Có điều chuyện về ông Ngài mất tích sau trận sét năm nào và cái hang bỏ phế lâu ngày trong chiến tranh ít được  nhắc đến như hồi xưa. Đúng hơn tâm đã an nhưng trí vẫn còn phải lo nhiều việc nên đành xếp lại những việc từu tượng. Người ta lo dựng lại nhà khai hoang vỡ hóa có những vàng mả những bờ bụi được tận dụng đến không còn ngọn cỏ cho trâu bò ăn. Hình như khi sinh mạng con người không còn cảm thấy bị treo lơ lửng trên sợi tóc sống chết thì người ta mới đủ tâm thế lao vào cuộc mưu sinh lâu dài.
Chiến tranh đến với xóm ông Ngài rất bất ngờ đi qua cũng nhanh và hồi phục lại sau đó càng nhanh hơn. Đất xanh lại là màu xanh của bàn tay con người núi rừng xanh lại màu xanh đặc trưng bị mất nhanh chóng như sự có mặt của những đứa con mới những hộ gia đình mới được tách ra hay từ các xóm khác xin nhập cư. Đất lành? ừ thì đất lành chim đậu. ở cái thời mà người ta bắt đầu đổ xô đi mua nhà mua đất dưới xuôi có một xóm núi nhỏ chỉ tụ mà không tán như thế này là điều hiếm thấy. Tôi dẫn một anh bạn nhà báo chuyên viết mảng văn hóa đi thăm hang Ngài. Hóa ra từ lâu trong tôi vẫn ngấm một niềm tự hào không rõ đường nét. Hang Ngài bây giờ lạnh hơn ngày xưa nhiều cái lạnh giống như ngôi cổ tháp bị vùi trong cỏ dại. Cái mùi phân dơi hăng hăng chua chua tỏa ra xóa mất đường bay của mùi hoa rừng. Tiếng ve trùm đầy núi Ngài - tên gọi mới của núi Thấp - gợi nhớ mùa hè cuối cùng của tuổi thơ tôi ở xóm núi cơ hồ không có bề ngang lại còn bị dải đất có hình tổ ong mật sà cái bọng diều xuống lấn chen vào khúc giữa eo thắt. Còn những cọng hương bình hương mới cũ ngả nghiêng lại gợi nhớ chuyện dẫu là chiến tranh hay nghèo đói đời sống tâm linh con người vẫn khó mất.
Không biết từ đâu mà bấy giờ ở xóm tôi có tin đồn rằng trời đánh Ngài chết là để phát tán lộc trời cho nhiều nhà nhiều người. không thấy hồi xưa long mạch tập chung của cho dòng tộc Cửu Nho đó sao? Ngài sống giống như thần giữ của cho con cháu Cửu Nho. Giờ thì đầu xóm đuôi xóm nhà ngói mọc đều con cái ai cũng ăn nên làm ra học hành sáng dạ có người đã là quan chức ăn trên ngồi trước thiên hạ. Vậy là người ta truyền nhau đến thuộc làu những thuyết lý như thế. Rồi nhiều người đã bắt đầu nghĩ đến sự linh ứng của cái hang Ngài bị bỏ quên. Và lại thêm một hộ mới từ bên kia con suối bươn sang xóm ông Ngài xin dựng nhà để hít hà chút ân huệ đất tròi.
Hôm mười chín chủ của xóm họp để bàn việc trùng tu miếu xóm và hang Ngài có nhiều ý kiến trái ngược nhau tranh luận sôi nổi. Biết Ngài còn sống hay chết mà thờ? Thì chết sống gì thờ cũng được thôi. Trời sao lại thờ cái giống ăn thịt người ấy hả? Nè ông nên nhớ hồi xưa cha ông mình vẫn có đền thờ Mã Viện Sầm Nghi Đống đấy. Chết rồi còn nói chi chuyện thù hay bạn. Đã  là thần linh thiêng thì ai tốt người ta phù hộ có trừ ra người nào đâu. Có người tỏ ra quyết liệt hơn ông coi chừng cái răng cái mồm mà ăn với nói. Tiếng là thú dữ nhưng hồi xưa Ngài đã ăn thịt ai đâu. Thôi như thế này có được không miếu xóm thì cần phải trùng tu lại để đổ nát thế ngó khó chịu lắm. Còn cái miếu Ngài thì để từ từ rồi tính. Giờ đời sống của một số gia đình vẫn còn đang khó...Khó khăn gì nữa ý kiến bàn ra bị cắt ngay không thấy người ta xây lại nhà thờ đền chùa miếu mạo tràn lan ra dó sao? Đời ta còn đây không lo được chuyện thần linh ông bà thì sau nầy  ai lo. Bao giờ mới lo được? Nên nhớ con cháu càng ngày càng phát thì càng đi làm ăn xa cả chứ đâu có bám trụ được xóm núi này như mình. Có ăn dưa cà mắm muối gì mà thấy chúng nó bằng đại học nầy tiến sĩ nọ quân hàm tướng tá lấp lấnh vai áo cũng mừng cũng hãnh diện lắm chứ. Vì chút tư lợi cá nhân mà không tận dụng được lộc trời thì uổng lắm. Đúng rồi nói như ông Lập là đúng không thì xem như ta thờ sự bình yên cho xóm để an tâm làm ăn thế thôi!
Miếu thờ Ngài một mái đổ về phía sau giống như hai khối vuông chồng lên nhau trống ba bên trước phải trái. Mặt sau tựa vào đá có vẽ hình một con cọp nằm ngước đầu nhìn về xóm rằn rực thân hình. Cây si bên cạnh lâu ngày không ai dám phá lồi rễ ngoằn nghoèo càng lèm tăng thêm vẻ cổ kính linh thiêng. Thực ra đó chỉ là một cái khám nhỏ để có chỗ thắp hương không thể mạnh ai nấy cắm chỗ này chỗ nọ. Hôm khánh thành miếu xóm và nơi thờ Ngài con cháu từ xóm đi ra làm ăn tứ phương đều được mời về dự lễ. Tiền đóng góp chỉ riêng những người thành danh từ xa về đã thừa mấy triệu bạc. Tiền của bà con trong xóm chỉ dùng tiêu cho việc tiệc tùng và để lại cúng tế hằng năm. Nghe thủ quỹ báo cáo thu chi như thế mọi người vỗ tay khuôn mặt ai nấy an vui lạ lùng. Thế rồi chiêng trống nổi lên người dân trong xóm dù là khăn đóng áo dài quần nâu áo cánh hay com lê cà vạt đều quỳ lạy tuốt tuồn tuột. Tôi thấy nhớ cha vô cùng. Thế hệ của cha đã hầu hết nằm yên trong lòng đất chánh bái thứ bái đều là lớp sau như tôi. Và còn vô số con cháu của xóm đông và lớn nhanh như dua mỗi lần về xóm là mỗi lần phải hỏi tên hỏi con ông nào bà nào. Tôi kéo tay thằng Thìn bây giờ đang làm trong Bộ chỉ huy quân sự tỉnh ra xa miếu Ngài thắp thuốc và nói:
- Hóa ra từ bao đời nay người dân xóm mình vẫn sống với những gì hư hư thực thực.
- ừ! Có cái để tin mà sống như thế là quý lắm.
                                                                                              T.Đ

More...

Bút ký

By Văn Nghệ Xứ Thanh



Mai Ngọc Thanh

Paris hoa lệ

                                 Bút ký


       Chiều qua ở Tây Ban Nha còn là mùa hè sáng nay sang đến Pháp đã se se chớm thu rồi. Pháp ở xa khí hậu nóng khô Địa Trung Hải mà Paris lại càng xa nữa. Thiên nhiên Pháp đẹp lắm. Đẹp còn hơn thiên nhiên ở Italia và Tây Ban Nha. Dễ hiểu thôi Pháp có diện tích rộng nhất trong các nước Tây Âu. Đã vậy phần lớn vùng nông thôn của Pháp vẫn giữ nguyên các trang trại kiểu cổ và những ngôi làng hầu như không hề đổi thay  qua bao nhiêu thế kỷ. Nhưng Pháp vẫn là nước sản xuất một khối lượng nông sản lớn nhất so với các nước châu Âu chỉ đứng sau nước Nga.
Thiên nhiên của Paris cũng thế đẹp hút hồn với các loại cây đặc trưng ôn đới như ngân hạnh phong sồi bulô… trong các công viên trên đường phố. Nếu tính từ thủa chính quyền đô hộ của Đế chế La Mã xây dựng khu La tinh thì Paris đã có 2032 năm tuổi. Nhưng Paris  trở nên  thành phố hoa lệ là kinh thành ánh sáng thì chưa phải lâu lắm. Mãi tới thập niên 1850 và 1860 theo lệnh của Napoléon Đại đế III Paris  mới được trùng tu và được mở mang về qui mô. Do vậy Paris  như được thay đổi hình hài thông thoáng với những đường phố trồng cây cho bóng mát mà bây giờ quen gọi là đại lộ thênh thang và dài hun hút và những ngôi  nhà bảy tầng đồ sộ màu tro xám. Các đại lộ như vậy ta không gặp ở Rô ma (Italia) và Mađơrít (Tây Ban Nha).
Đến Paris  lần đầu ai cũng háo hức muốn được nhìn thấy ngay tháp Eiffel (épphen). Tháp là biểu tượng của Paris 118 năm rồi. Cao 310 mét cao nhất thế giới lúc bấy giờ. Làm bằng 9000 tấn sắt thép. Ban đêm nó càng đẹp bởi được ánh sáng màu vàng của hàng ngàn ngọn đèn bao phủ nom như cả cái tháp được đúc bằng vàng lung linh khiến mặt nước sông Seine (Xen nơ) mà nó soi bóng cũng được nhuộm màu vàng lung linh ấy mà trở nên huyền ảo…
Năm 1889 kỷ niệm 100 năm Cách mạng tư sản Pháp một cuộc thi sáng tác mẫu biểu trưng cho Paris  được tổ chức. Gustave Eiffel kiến trúc sư người Mỹ tham dự với mẫu tháp này. Chung cuộc mẫu tháp của ông được chọn. Ông đã tặng nước Pháp và tháp đã mang tên Eiffel luôn.
Nhìn người xếp hàng dài dằng dặc mà ngại. Rất may. Công ty du lịch Paris  đã đăng ký trước với Ban quản lý tháp nên chỉ mươi phút sau là được thông báo vào ca bin cáp để lên tầng hai. Mỗi lần ca bin cáp đưa được 110 người lên. Còn du khách nào muốn lên tầng ba thì phải tự bỏ tiền. ở độ cao của tầng hai là có thể ngắm toàn cảnh Paris  rồi. Tại đây có các cửa hàng cà phê và cửa hàng bán đồ lưu niệm. Paris  có 13 triệu dân nhưng nội thành chỉ có 2 triệu. Do vậy ở nội thành ngoài khối nhà 59 tầng gọi là tháp Montparnasse cao 230 mét (Mông tơ pác nát xơ) không có một nhà chọc trời nào khác nữa. Câu chuyện bảo dưỡng Eiffel có những tình tiết cũng khá lý thú. Cứ bảy năm là phải sơn lại sơn trong một năm mới xong và tốn 50 tấn sơn. Còn những thợ sơn thì sao. Kể từ lần sơn đầu tiên năm 1896 công việc này vẫn  chỉ giao cho những người thuộc các thế hệ của một dòng họ ấy mà thôi.
Quãng cách từ tháp Eiffel đến nhà thờ Đức Bà Mairia chẳng là bao. Và cả hai cùng soi bóng xuống mặt nước sông Seine (Xen nơ). Paris  tráng lệ tô điểm cho sông Seine đoạn chảy giữa lòng mình trở nên thơ mộng. Ba mươi tám chiếc cầu nối hai phần Paris thực sự là những công trình nghệ thuật khiến du khách mê mải ngắm. Đều là những cầu vòm mỗi cầu một kiểu dáng mỗi cầu làm bằng những vật liệu gần như không giống nhau hoặc bằng  những vật liệu phối hợp. Có thể so sánh với những chiếc cầu của thành phố Xanh Pê téc bua của Nga mà tôi được biết  khi còn gọi là Lênigrat. Cầu đã đẹp lại còn các cây đèn chùm tượng và nhóm tượng đặt hai đầu cầu và giữa cầu. Một giờ đi du thuyền trên sông Seien để thưởng ngoạn cảnh đẹp Paris là khoái cảm khó quên. Dọc bờ sông Seine cách quãng lại gặp Ki ốt bán sách. ấy là chưa kể còn rất nhiều người bán sách mà sách được đặt trong những chiếc tủ con bắt vít gắn vào lan can ven sông. Hết giờ bán thì khóa tủ lại. Người mua sách rất đông. Hơn một lần tôi nghĩ văn hóa đọc không mất do áp lực của các công phương tiện nghe nhìn như một số người lo lắng. Sông Seine chảy kề bên nhà thờ Đức Bà. Nhà thờ có niên đại gần 900 năm. Lúc chúng tôi vừa từ du thuyền bước lên bờ thì cũng là lúc tiếng chuông đôi (nhà thờ có hai tháp chuông) của nhà thờ vang lên dồn dập và ngân nga báo đã 12 giờ trưa. Nghe tiếng chuông tôi nhớ ngay đến Quadimôđô anh gù kéo chuông trong "Nhà thờ Đức Bà Paris" của đại văn hào  Victor Hugo. Ra đời từ năm 1831 dường như tiểu thuyết ấy khiến cho nhà thờ này vốn đã nổi tiếng càng nổi tiếng hơn. Trong tiếng chuông đang ngân vang trưa nay có hòa âm cả tiếng chuông của Quadimôđô đấy chăng…
Và bỗng gặp giữa Paris một phần không gian đầu phố Tràng Tiền của Hà Nội ta - Nhà hát Opéra  Paris  và Nhà hát lớn Hà Nội phải là thiết kế của một tác giả? Chỉ một chút khác là nhà hát Paris lớn hơn thôi. Những ngày ở đây đi qua hoặc dừng lại chỗ này chỗ kia của nhiều đường phố và đại lộ. Nhưng được một giờ đi dạo trên Đại lộ Champs Elysées (Săng Êlidê) đại lộ đẹp và rộng nhất của Paris   là thích thú nhất. Điện Elysée nơi ở và làm việc của Tổng thống nhìn ra đại lộ thêng thang và vô cùng mỹ lệ này. Cuối đại lộ là Khải hoàn môn. Đi qua Khải hoàn môn thì gặp quảng trường lớn hình ngôi sao mang tên cố Tổng thống De Gaulle (Đờ Gônlờ).Quảng trường khá lộng lẫy. Một nửa đại lộ hai bên có các công trình kiến trúc còn một nửa dành cho người đi bộ thì hai bên chỉ có cây có hoa và công viên.
Paris có nhiều quảng trường đẹp như thắng tích Trocadéro và La Concorde (quảng trường trung tâm) rộng lớn và gợi cảm nhất.
Bức tranh Mona Lisa kiệt tác của Lêôna ĐơVanhxi với nụ cười bí ẩn mà bao nhiêu năm rồi chưa ai giải mã được thì rất nhiều người đã nhìn thấy các phiên bản in trong sách và bưu ảnh. Chiều nay tại bảo tàng Louvre  (Luvơrờ) chúng tôi được chiêm ngưỡng bản gốc. Có điều lạ đúng như nhiều nhận xét là ai đứng ở vị trí nào cũng thấy đôi mắt nàng đang nhìn mình vậy. Louvre là bảo tàng lớn nhất thế giới lưu giữ hàng vạn tác phẩm nghệ thuật qua các thời đại. Công trình kiến trúc này vốn là cung điện của các triều vua Pháp trước các vua Louis (lu-i). Chỉ có thể xem một số phòng tiêu biểu và ở mỗi phòng cũng chỉ xem được mấy tác phẩm tiêu biểu. Thế mà di chuyển tới mức mỏi rù chân.
Còn có một địa chỉ cũng gây chộn rộn trong tâm thức nhiều du khách nhất là những ai có ít nhiều am hiểu lịch sử nước Pháp. Địa chỉ gắn liền với sự khởi phát của Cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Đó là cung điện Versailles (Véc xay ơ) chỉ cách Paris  chưa đầy 30 ki lô mét. Một trong những cung điện nguy nga nhất Châu Âu. Versailles được vua Louis thứ 13 cho xây dựng trong những năm đầu thế kỷ 17 để ở và tiện cho ông đi săn bắn ở các cánh rừng chung quanh. Nên lúc đầu chỉ gọi là lâu đài Versailles. Đến đời Louis thứ 14 thì quyết định dời hoàng cung khỏi Paris kéo theo 3000 tùy tùng cùng gia quyến họ về hẳn đây. Từ đấy gọi là cung điện. Và thành phố Versailles cũng bắt đầu được xây dựng bây giờ đã có tới 200.000 dân là một thành phố tráng lệ. Riêng cung điện chiếm một diện tích rộng tới 800 héc ta! Bao gồm cả khu vườn Hoàng gia các hồ sông đào và cảnh quan hai bên để vua và hoàng tộc dạo chơi bằng du thuyền. Quả là chỉ có vua mới làm được như thế!
Nhưng triều đại Louis chỉ tồn tại được bốn đời vua. Đến đời Louis thứ 16 thì bị Cách mạng tư sản lật đổ. Trong cung điện Versailles còn giữ nguyên những tác phẩm mỹ thuật vô giá từ thời Louis 14 trong các gian phòng rộng lớn rực rỡ mà sinh thời các vua Louis hoàng hậu và con cái họ từng ở và thiết triều kể cả phòng hoàng đế Napôlêông sau đó. Bước vào đây cứ ngỡ như vào thế giới huyền thoại vậy; bằng sự tưởng tượng thì không thể nào hình dung ra nổi!
Buổi chiều trước ngày về nước chúng tôi đi thăm điểm cuối cùng là đồi Mông mác và khu phố cổ dưới chân đồi này. Trên đường đi xe qua đoạn đường hầm nơi mười năm trước công nương Diana vợ thái tử nước Anh đã tử nạn. Vết tường vỡ do xe đâm vẫn giữ nguyên và ở cửa hầm phía xe lên một tượng lớn - ngọn lửa đúc bằng khối đồng lớn vàng chóe đã được đặt để kỷ niệm cái chết thương tâm của công nương cũng là để ghi công đức làm từ thiện của bà.
Đồi Mông mác nằm ở ngoại ô Paris. Trên đỉnh đồi tọa lạc ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo rất đồ sộ và rất đẹp đẹp cả bên ngoài và cả bên trong kiến trúc Bizăngtin (Cổ đại La Mã) Tháp chuông hình chóp tròn khác với kiến trúc nhà thờ Đức Bà phong cách Gôtích ra đời sau thời Trung cổ. Nhà thờ này có tên Sacré -  Coeur (Trái Tim Thiêng Liêng).
Khu phố cổ dưới chân đồi Mông mác hấp dẫn lắm hấp dẫn hơn khu phố Latinh nhiều. Người ta bảo tồn được gần như nguyên vẹn những gì là cuộc sống vật chất  và tinh thần từ thủa nguyên sơ của Paris. Nhà cửa vườn tược đường phố (đều lát đá) đến những cây đèn thắp bằng dàu những quán xá những chiếc ô tô "con cóc" nhãn hiệu Citroen (Xitơrôen)… Những buổi ca nhạc dạo với một hoặc ba bốn nhạc công diễn ra ngay trên đường phố dĩ nhiên là không bán vé; đã để sẵn chiếc thùng nho nhỏ gắn tấm bìa có chữ MERCI (cám ơn) để tùy hảo tâm từng người… Có lúc gặp trên một đoạn phố năm bảy họa sĩ ngồi vẽ và bán tranh của mình luôn. Cư dân ở đây như cô hướng dẫn viên Valéry vui tính cho biết là từ các triết gia thi sĩ văn sĩ   họa sĩ cho đến những kẻ "hai ngón" (chỉ bọn gian móc túi) chung sống với nhau thành một cộng đồng vui vẻ êm đềm như chính khu phố cổ ấy…
Chẳng ngờ ở cái lúc sắp sửa "Aurevoir Paris" từ trên đỉnh đồi này chúng tôi được ngắm lại lần nữa cả thành phố Paris niềm kiêu hãnh của nước Pháp. Chào vậy thôi chứ biết rằng với số nhiều du khách trong đoàn làm sao có thể có chuyến thứ hai trở lại Paris cho được.
                                                                                    8/2007
                                                                                     M.N.T



(*) Aurevoir: (Ô rơvoa) tiếng chào có nghĩa là Tạm biệt Hẹn gặp lại






Lê Quốc Thịnh

Một góc phía nam Trung Hoa

                                                             Ghi chép


        Từ cửa khẩu Hữu Nghị đoàn cán bộ dược sĩ của Sở Y tế Thanh Hóa được phía bạn đưa về Thành phố Nam Ninh thủ phủ tỉnh Quảng Tây bằng xe ô tô. Phong cảnh hai bên đường không khác mấy so với bên Lạng Sơn của ta. Cũng núi non trùng điệp và những cánh đồng mía trải dài những rừng cây xanh ngút ngát. ấn tượng nhất là con đường cao tốc từ Bằng Tường về Nam Ninh khoảng 20 kilômet với sáu làn xe chạy có dải phân cách cứng ở giữa là một dải cây xanh và hoa. Khi đi qua trạm kiểm soát ở hai  đầu con đường lái xe được phát cho một tấm các đồng thời camera ghi lại biển số xe. Đến khi hết đường cao tốc xe qua trạm sẽ trả tấm các này cho nhân viên kiểm soát đồng thời trên màn hình điện tử hiện lên số tiền phải trả. Tôi đọc được số tiền lái xe phải trả là 215 tệ tương đương với 430.000 đồng Việt Nam. Dọc đường nếu lái xe ra khỏi đường cao tốc ở các địa điểm rẽ đều có biển chỉ dẫn “exit” và các đường ngang điều có cầu vượt. Chính vì vậy đây là con đường không có tai nạn giao thông và cũng không thể có tiêu cực trong chuyện thu phí đường bộ (Bán vé trạm trước thu tiền trạm sau giám sát lẫn nhau). Hai bên đường thỉnh thoảng có những trạm dừng được báo trước cách hai kilômet bằng biển xanh ghi khu vực dịch vụ lái xe có thể dừng để mua xăng sữa chữa xe đi vệ sinh hoặc ăn uống giải khát không hề có nhà dân hai bên đường không có những điểm dừng bất tắc dĩ cũng không thấy bóng dáng của cảnh sát.
Thành phố Nam Ninh là một thành phố miền núi của tỉnh Quảng Tây Trung Quốc. Chính vì vậy mà nó có vẻ đẹp phóng khoáng với những đường phố mới xây dựng ở khu Lãng Đông bên cạnh những khu phố cũ buôn bán sầm uất. Dòng Ung Giang chảy quanh co qua thành phố này trong những dải sương chiều mờ ảo trên đỉnh núi Thanh Tú. Hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc được gọi là khu tự trị dân tộc Choang một tộc người chiếm 60% dân số của hai tỉnh này. Ngôn ngữ của họ gần giống như người Tày - Nùng bên Lạng Sơn Cao Bằng của Việt Nam.
Khu du lịch Thanh Tú nằm ở trung tâm thành phố Nam Ninh. Đó là một công viên tự nhiên lớn có cả núi non cây xanh và hồ nước đẹp tuyệt vời. Nam Ninh được mệnh danh là thành phố xanh vì họ giữ được nhiều khung cảnh tự nhiên ngay trong lòng một thành phố đang phát triển với những hệ thống giao thông hiện đại và những khối nhà cao tầng. Trên đỉnh núi Thanh Tú và Phượng Hoàng với hình ảnh của một con chim phượng hoàng dang đôi cánh rộng và kiêu hãnh vươn đầu lên cao. Đứng trên điểm cao nhất của lầu Phượng Hoàng có thể quan sát toàn cảnh thành phố Nam Ninh với những khu nhà cao tầng hiện đại dòng Ung Giang quanh co và những cây cầu vượt đang xây dựng. Đi thăm Trung Quốc bạn phải chuẩn bị tinh thần để leo cao đi bộ nhiều và di chuyển nhiều. Vì vậy phải bố trí thời gian hợp lý đi giầy vừa chân và có đế thấp để tranh thủ thăm được nhiều nơi và học được một cái gì đó có bài bản và họ có một nghệ thuật tiếp thị hàng hóa không chê vào đâu được. Là một đất nước rộng lớn Trung Quốc có nhiều tiềm năng du lịch để khai thác và làm hài lòng du khách. Cứ xem cách họ tiếp thị bán đồ trang sức bằng ngọc trai quần áo và vải vóc từ lụa tơ tằm thì thấy cả một mê đồ trận để khách phải xiêu lòng mà mua những món đồ không hề rẻ. Nhưng có một thứ khách du lịch không nên mua đó là các loại thuốc có nguồn gốc dược liệu. Rất nhiều người đã mua các lọai thuốc này với số tiền lên đến hàng triệu đồng nhưng hiệu quả không như lời quảng cáo. Tuy nhiên đó cũng là một nét riêng trong cách tiếp thị thuốc Trung y. Màn biểu diễn nung đỏ xích sắt gây bỏng tay và bôi thuốc trị bỏng gây ấn tượng mạnh cho khách du lịch. Họ cũng bẻ gẫy và cắt gân chân gà sau đó bó bằng thuốc và một lúc sau gà lại bình thường để bán thuốc thấp khớp. Tôi cho rằng đó không hẳn là những thứ không tốt nhưng có tác dụng tâm lý là chính.
Từ Nam Ninh chúng tôi lên tàu hỏa đi Quảng Châu. Tàu hỏa của Trung Quốc cũng giống như tầu Thống Nhất của ta nhưng do đi trên đường có khổ rộng hơn nên tốc độ khá nhanh và không gây tiếng ồn lớn như tầu hỏa đi trên đường sắt Việt nam. Mỗi khoang có sáu giường và có một màn hình tinh thể lỏng để xem tivi. Tàu đêm đến 9 giờ tối tức là 10 giờ của Trung Quốc sẽ cắt điện để mọi người ngủ. Chỉ có điện ở khu vệ sinh là để sáng suốt hành trình. Điều gây ấn tượng nhất ở hai nhà ga Nam Ninh và Quảng Châu là họ giữ vệ sinh nơi công cộng khá tốt. Không có những nơi nồng nặc mùi xú uế. Không có rác vứt trên sân nhà ga. Ga Quảng Châu là đầu mối lớn của ngành đường sắt Trung Quốc nên rất đông người. Trung Quốc có hơn 1 tỷ dân xong tại các thành phố lớn vào giờ làm việc không có nhiều người đi lại trên đường. Họ đều đang có công việc nào đó. Chỉ ở các phố đi bộ các công viên hoặc các siêu thị thì mới thấy người chen chân nhau. Bảng báo giờ tại nhà ga Nam Ninh và Quảng Châu hoàn toàn tự động bằng điện tử. Và dĩ nhiên là tầu đi và đến các ga rất đúng giờ. Họ thiết kế những lối đi dành riêng cho xe lăn của người tàn tật phòng chờ dành riêng cho phụ nữ có mang hoặc đem theo con nhỏ khu vực dành riêng để hút thuốc lá... Đó là biểu hiện của một xã hội có kỷ cương tốt.
Quảng Châu là  thành phố lớn chỉ sau Thượng Hải và Bắc Kinh. Số dân gần 12 triệu người. Thành phố đẹp và hiện đại bên bờ Châu Giang này có nhiều địa danh gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt Nam. Đến Hoàng Hoa Cương chúng tôi viếng mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái người thanh niên đã tuẫn tiết trên dòng Châu Giang sau khi ám sát không thành viên toàn quyền Merlin người Pháp tại khu tô giới Sa điện ở Quảng Châu. Bia mộ liệt sĩ bằng hai thứ tiếng Việt và Trung ghi liệt sĩ Phạm Hồng Thái sinh năm 1893 hy sinh ngày 19 - 6 - 1924. Ông là người quê Nghệ An và là thành viên của Tâm Tâm xã một tổ chức cách mạng chủ trương bạo động do Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn thành lập. Ngày 19 tháng 6 năm 1924 sau khi viết bản cáo trạng tố giác của thực dân Pháp đến nhân dân toàn thế giới Phạm Hồng Thái giả dạng ký giả vào khách sạn Victory tại tô giới Sa Diện để ám sát toàn quyền Merlin là  toàn quyền Đông Dương khi ấy sang Nhật để điều hành việc trục xuất các nhà Cách mạng Việt Nam. Trên đường từ Nhật về Đông Dương. Merlin dừng lại thăm khu tô giới của Pháp ở Quảng Châu dự tiệc đêm 18 tháng 6 năm 1924. Tổ chức Tâm Tâm xã định trừng trị tên  thực dân đầu sỏ này để gây thanh thế. Phạm Hồng Thái được sự hỗ trợ của Lê Hồng Sơn thực hiện xứ mạng này. Phạm Hồng Thái đã quăng một quả bom nhỏ vào giữa bàn tiệc nhưng mưu sát không thành. Merlin bị thương nhẹ thoát chết và Phạm Hồng Thái phải gieo mình xuống dòng Châu Giang tự tử khi chỉ mới 28 tuổi. Sự kiện này được nêu tên “Tiếng bom Sa Điện” đã làm chấn động thòi sự trong vùng. Thi hài Phạm Hồng Thái được Chính phủ Tôn Trung Sơn trân trọng chôn cất ở đài liệt sĩ Hoàng Hoa Cương với 72 liệt sĩ Trung Quốc khác.
Khu lưu niệm Tôn Trung Sơn ở thành phố Quảng Châu là một tòa nhà lớn đặt trong công viên lớn có bố cục đẹp và kiến trúc đặc trưng của Trung Hoa. Tòa nhà chính phía sau tượng đài Tôn Trung Sơn là một hội trường với kiến trúc mái vòm rất đặc biệt đến nay vẫn được sử dụng cho các cuộc hội họp hoặc biểu diễn nghệ thuật của thành phố Quảng Châu. Tòa nhà này xây dựng vào năm 1929 và hoàn thành vào năm 1931. Với kiến trúc vòm mái tròn rộng đặc biệt không hề có cột chịu lực không hề có máy điều hòa nhiệt độ và không có hệ thống âm thanh hiện đại  nhưng vào trong rất mát và chỉ cần một người đứng trên sân khấu nói to là ở góc độ nào cũng nhìn và nghe thấy. Tôn Trung Sơn (1866 - 1925) người sáng lập nền Cộng hòa - Dân chủ sau khi cuộc vận động Cách mạng Tân Hợi (1911) lật đổ triều đại Mãn Thanh chấm dứt chế độ quân chủ ngàn đời ở quốc gia khổng lồ và có nhiều ảnh hưởng đến các nước Châu á trong đó có Việt Nam. Năm 2000 tờ báo có uy tín “Thời đại” (time) chọn Tôn Dật Tiên là một trong 25 nhà hoạt động chính trị (trong đó có Chủ Tịch Hồ Chí Minh) của thế giới đã làm “thay đổi bộ mặt hành tinh của chúng ta trong thế kỷ XX”.
Trong vành đai ba của thành phố Quảng Châu xe máy đã bị cấm lưu hành kể từ 1-7-2007. Để thực hiện được điều này cách đây 10 năm 1997 Quảng Châu bắt đầu ngừng đăng ký xe máy. Sau 10 năm để các xe máy cũ đào thải thành phố hiện nay chỉ còn xe ô tô tàu điện ngầm xe buýt điện và xe đạp. Quảng Châu cũng là một thành phố du lịch nổi tiếng với biểu tượng rất đặc biệt là “ngũ dương thành” - thành phố 5 con dê. Biểu tượng này được phóng to và treo khắp nơi trong thành phố. Tượng đài 5 con dê này cũng là nơi được nhiều khách du lịch chụp ảnh nhất thành phố. Nó gắn liền với sự tích ra đời của địa danh này và biểu tượng của sự sung túc no đủ. Quảng Châu phồn hoa và cũng rất hiện đại với hệ thống đường bộ cầu vượt chằng chịt. Cây cầu đầu tiên của người Anh xây dựng bắc qua dòng Châu Giang nay đã soi bóng cùng hàng chục cây cầu khác đẹp lỗng lẫy nối hai bên bờ sông. Người Trung Quốc có câu: Biết lái xe chưa phải là giỏi biết lái xe ở Quảng Châu mới là lái xe cừ. Họ tự hào vì Quảng Châu là một trong “ngũ châu” gồm các thành phố Liễu Châu nổi tiếng với gỗ quý Tô Châu nổi tiếng với đồ may mặc từ tơ lụa Hàng Châu nổi tiếng có nhiều phong cảnh đẹp Quý Châu nổi tiếng với loại rượu ngon là những địa danh thu hút khách du lịch của Trung Hoa hiện đại với những cảnh đẹp sản vật nổi tiếng. Quảng Châu nổi tiếng với các món ăn ngon của miền Nam Trung Hoa là thành phố thủ phủ của tỉnh Quảng Đông nằm trong đồng bằng châu thổ sông Châu Giang. Một số ý kiến cho rằng thành phố đầu tiên được xây dựng trên địa điểm nơi Quảng Châu hiện diện ngày nay là Phiên Ngung. Năm 206 trước công nguyên Phiên Ngung trở thành kinh đô của nước Nam Việt. Khi nhà Hán thôn tính Việt Nam vào năm 111 trước công nguyên Phiên Ngung trở thành tỉnh lỵ và giữ vai trò này cho đến tận ngày nay. Cái tên Quảng Châu vốn là tên tỉnh người dân quen với việc gọi tên thành phố theo tên tỉnh trong một khoảng thời gian dài khiến cho cái tên Phiên Ngung dần bị lãng quên. Năm 1711 người Anh thiết lập trạm giao dịch ở thàn phố khởi đầu cho sự có mặt của những người Châu Âu. Triều đình vua Càn Long buộc những thương nhân nước ngoài phải dồn vào một quận riêng việc này dẫn đến nhiều biến động cho số phận thành phố về sau. Năm 1842 kết thúc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất theo hiệp ước Nam Kinh Quảng Châu trở thành “nhượng cảng” phải mở cửa cho thương nhân phương Tây tự do giao dịch. Đến năm 1918 thành phố được mang tên chính thức là Quảng Châu. Vào những năm 1930 và 1953 người ta đề xuất trao cho Quảng Châu quy chế thành phố tự trị nhưng những đề xuất trên điều bị hủy bỏ ngay trong năm. Quân đội Nhật Bản chiếm đóng thành phố này từ năm 1938 đến 1945. Ngày nay khách du lịch đến thăm Quảng Châu không khỏi ấn tượng với dòng Châu Giang lung linh trong đêm với nhưng tòa nhà cao lộng lẫy ánh đèn màu được mệnh danh là Pa- ri của Trung Quốc. Đoàn du khách chúng tôi đã có một buổi tối tuyệt vời trên du thuyền đi dọc theo dòng Châu Giang để ngắm cảnh Quảng Châu ban đêm. Giá vé lên tàu là 100 tệ/khách (bằng 200.000 đồng tiền Việt). Tuy có hơi đắt xong ai cũng đi vì biết đến khi nào mới lại được soi bóng trên dòng Châu Giang như đêm nay.
Từ Quảng Châu đi Thâm Quyến chỉ hết hơn một giờ. Xe đi qua một dải cù lao nằm giữa dòng Châu Giang với cây xanh hoa đẹp và sạch đến không ngờ. Chúng tôi đến thăm trường Đại học Quảng Châu mà cứ ngỡ như đây là một quần thể du lịch trong một công viên rộng lớn với hệ thống đường đi lối lại nối giữa khu giảng đường khu nội trú sinh viên cung thể thao và sân chơi cho sinh viên. vào đầu năm học nên các sinh viên đang tập quân sự khiến chúng tôi tưởng nhầm là một đơn vị quân đội. Được biết nơi đây có khá nhiều sinh viên Việt Nam sang du học. Và cũng có khoa tiếng Việt do giáo viên Việt Nam sang giảng bài. Khách du lịch Việt Nam sang thăm Quảng Châu rất đông cho nên sinh viên theo học ngành tiếng Việt ra trường hầu như đều có việc làm và có thu nhập khá so với mặt bằng chung.
Thâm Quyến là một thành phố trẻ được xây dựng sau chính sách mở cửa Đặng Tiểu Bình. Từ một làng chài nghèo đói có khoảng 300.000 dân nằm ngay cạnh Hồng Kông hoa lệ đến nay nó là đặc khu kinh tế với quy hoạch hiện đại có 13 triệu dân và hơn 3 triệu xe ô tô. Đặc khu kinh tế Thâm Quyến có diện tích 2020 ki lô mét vuông GDP 493 7 tỷ nhân dân tệ. Thành phố giáp địa giới với Hồng Kông cách Quảng Châu 160 cây số về phía Nam. Cảng Thâm Quyến là một trong những cảng tấp nập nhất Trung Quốc. Trong 27 năm qua Thâm Quyến đã thu hút 30 tỷ USD đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp bên ngoài.
Năm 1979 lãnh đạo tối cao của nước Trung Hoa đã cho lập đặc khu kinh tế Thâm Quyến. Đây là đặc khu đầu tiên của Trung Quốc do lợi thế nằm giáp Hồng Kông( lúc đó còn là một thuộc địa Anh). Việc thành lập đặc khu này được coi như là thử nghiệm mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại nước Trung Quốc cộng sản. Địa điểm này được chọn vì cả dân Thâm Quyến và dân Hồng Kông cùng có chung ngôn ngữ (tiếng Quảng Đông) chung văn hóa và dân tộc nhưng lại có giá nhân công đất đai rẻ hơn nhiều. ý tưởng đã thành công rực rỡ tạo tiền đề cho Trung Quốc đẩy nhanh quá trình cải cách mở cửa kinh tế. Thâm Quyến đã trở thành một thành phố lớn nhất vùng đồng bằng châu thổ Châu Giang trung tâm kinh tế của Trung Quốc và là phân xưởng sản xuất của thế giới.
Thành phố Thâm Quyến bao gồm 6 quận: La Hồ Phúc Điền Nam Sơn Diên Điền Bảo An và Long Cương. Cảng Nhan Điền là cảng nước sâu container lớn thứ hai của Trung Quốc và lớn thứ 4 thế giới. GDP xếp thứ 4 trong các thành phố của Trung Quốc. Thâm Quyến là một trung tâm chế tạo lớn của Trung Quốc. “Mỗi ngày một cao ốc 3 ngày một đại lộ” là khẩu hiệu nổi tiếng của Thâm Quyến cuối thập kỷ 90. Với 13 tòa cao ốc cao hơn 200 mét (bao gồm tòa nhà Shun Hing Square cao thứ 8 thế giới cao thứ ba ở Trung Hoa) Thâm Quyến là một thành phố diệu kỳ lúc màn đêm buông xuống. Nó là nơi đặt trụ sở của nhiều công ty IT thành công như Huawei và ZTE. FoxCom có nhà máy tại đây chế tạo phần lớn máy nghe nhạc số cá nhân (iPod) và máy tính xách tay cho hãng Apple. Thành phố có sự hiện diện của hơn 400/500 công ty lớn nhất thế giới. Sở giao dịch chứng khoán của Thâm Quyến có 540 công ty niêm yết 35 triệu nhà đầu tư niêm yết và 177 nhân viên chứng khoán tổng vốn 122 tỷ USD mỗi ngày có 600.000 giao dịch giá trị 807 triệu USD. Sân bay Thâm Quyến cách trung tâm thành phố ki lô mét có các chuyến bay quốc tế. Đường sắt và đường bộ hiện đại nối liền với Hồng Kông và các thành phố khác của Trung Quốc. Tàu điện ngầm bắt đầu vận hành từ 27-12-2004 có hai tuyến. Từ Thâm Quyến có thể đi Chu Hải Ma Kao Hồng Kông Sân bay Chek-lap-lok bằng tàu thủy cao tốc.
Công viên cửa sổ thế giới nằm ở trung tâm Thành phố là một quần thể vui chơi giải trí đa dạng với hàng trăm công trình biểu tượng thu nhỏ của các quốc gia trên thế giới. Ngay từ phía cổng vào họ đã có những câu khẩu hiệu bằng hai thứ tiếng Trung và Anh: Chào mừng bạn đến thăm thế giới của chúng tôi; Nhìn ngắm thế giới chỉ trong một ngày; Bạn cho chúng tôi một ngày chúng tôi cho bạn cả thế giới. Sân khấu ngoài trời hình quả địa cầu được bao bọc bởi các bức tường và những phiên bản tượng nổi tiếng thế giới. Chúng tôi đã đến khu vực Đông Nam á và chụp ảnh lưu niệm bên biểu tượng kiến trúc dân tộc Việt Nam là Chùa Một Cột. Những Thạt luổng của Lào Ăng co vat của Cam-pu-chia tháp Ep-phen của Pháp Kim Tự Tháp của Ai Cập Điện Krem-li của Nga tháp nghiêng Pi-sa của ý... đều có mặt trong công viên này với kiến trúc thu nhỏ. Thâm Quyến là một hình mẫu cho sự phát triển hài hòa với môi trường cảnh quan tự nhiên. Đứng trên đồi cao dựng tượng Đặng Tiểu Bình người ta có cảm nhận rõ nhất về điều này khi bao quát toàn cảnh thành phố với những tòa nhà cao tầng xen lẫn cây xanh. Cũng như Quảng Châu Thâm Quyến không có xe máy và không có tiếng còi xe ồn ào. Nó đôi khi cũng bị tắc đường vào giờ cao điểm vì có nhiều xe ô tô quá. Tuy nhiên tại các nút giao thông hệ thống đèn hiệu hoạt động tốt và có ý thức chấp hành của người dân khiến cho tình trạng này nhanh chóng được giải quyết. Thâm Quyến thực sự là một thành phố vườn hoa yên bình và sạch đẹp.
Tạm biệt Thâm Quyến đoàn chúng tôi trở về Quảng Châu rồi đáp tàu hỏa về Nam Ninh. Xe đưa đoàn khách về đến cửa khẩu Hữu Nghị vừa đúng vào buổi trưa. Sáu ngày trên đất Trung Hoa trôi qua nhanh chóng. Người xưa có câu: cưỡi ngựa xem hoa. Còn nay chúng tôi cưỡi ô tô và tàu hỏa xem hoa vì di chuyển chủ yếu của đoàn là hai phương tiện đó và hai bên đường đúng là rất nhiều cây và hoa. Dù chỉ mới đi một góc phía nam Trung Hoa cũng cảm nhận được đôi nét về sự to lớn của đất nước đông dân nhất thế giới này. Khi về đến Hà Nội xe đưa đoàn chúng tôi đi qua sông Hồng bằng cây cầu Thanh Trì mới xây dựng xong. Hai bên đầu cầu hệ thống đường dẫn vẫn đang tiếp tục thi công. Dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa lững lờ trôi. Hà Nội cũng đang vươn cao với những công trình mới. Chắc chắn sau này hai bên bờ sông Hồng cũng sẽ mọc lên những công trình hiện đại như dòng Châu Giang của thành phố Quảng Châu mà chúng tôi vừa mới sang thăm.
                                                                                     L.Q.T

More...

Bút ký

By Văn Nghệ Xứ Thanh



Lâm Bằng



Xuân về trên quê hương

Bông Thau Quả Thiếc

Bút ký



     Cảm nhận đầu tiên khi tôi trở lại Bá Thước lần này là mùa xuân đã chộn rộn. Đây đó trên lưng núi trên sườn nương đã lắc rắc đôi cành đào phơn phớt hồng. Ngõ bản khói bếp lêu ngêu lan man một màu bình yên ấm cúng. Thị tứ Đồng Tâm tuy đã có thêm nhiều nhà hai ba tầng nhiều cửa hàng cửa hiệu nhưng vẫn còn giữ được dáng vẻ đáng yêu của một phố núi: Cành đào xà xuống mái hiên ngõ phố thấp thoáng váy áo thổ cẩm sặc sỡ một vài lưng gùi địu hàng.v.v...
Một chiếc xe ca từ phía xuôi lên chạy chậm rồi đỗ xịch bên lề đường bụi tung mù mịt. Vài ba người khách xuống xe quần áo xộc xệch đầu tóc lấm lem bụi đường uể oải xếp tạm hành lý bên rệ đường. Chiếc xe lại rồ ga từ từ trườn đi. Đấy là xe đi Hồi Xuân. "Chuyện thường ngày ở huyện" ấy mà. Chỉ thế thôi cũng đã làm cho phố núi rào lên một chút. ít phút sau đó Đồng Tâm lại trở về với cái vẻ bình yên êm ả vốn có của miền sơn cước. Có một dạo Đồng Tâm đã từng là lỵ sở của huyện Bá Thước.
Bá Thước là huyện miền núi của tỉnh Thanh. Trước đây cư dân Bá Thước chủ yếu chỉ hai dân tộc Thái và Mường trong đó có tám mường lớn là: Mường Khoòng Mường Khô Mường Lau Mường Ký Mường Ôống Mường Ai Mường Điền Mường Khôông và bảy mường nhỏ là Mường Pa Khán Mường Dổi Mường Đào Mường Đèn Mường Rầm Mường ấm và Mường Chậm sống chủ yếu rải rác ở vùng thung lũng sông Mã và địa phận phía đông. Chỉ có một nhóm người Mường Bi tự danh là Âu Tá sống ở vùng cao Thành Sơn Lũng Cao. Người mường Bá Thước thuộc nhóm Mường Trong có đặc điểm riêng về ngôn ngữ trang phục phong tục tập quán. Mường Ai và Mường Ôống được coi là quê gốc của Mường Trong từng có tên trong truyền thuyết Mường và Thái.
Đã từ ngàn đời người Mường ở đây lấy nghề trồng lúa làm kế sinh nhai trong đó có trồng lúa nước và làm nương rẫy ngoài ra còn có nghề trồng dâu dệt thổ cẩm. Đầu váy của người Mường Bá Thước dệt hoa văn tinh vi theo họa tiết của mình. Việc ăn mặc trang điểm đã làm cho phụ nữ Mường Bá Thước thêm thon thả dịu dàng cộng với nét tính cách cởi mở khoáng đạt trong sáng thủy chung đẹp như thơ của cư dân đã sản sinh ra truyện thơ nàng ờm chàng Bông Hương là quê hương của Bông Thau Quả Thiếc của cây Chu Đá lá Chu Đồng...
Người anh em sinh đôi với người Mường Bá Thước là người Thái. Người Thái Bá Thước nằm trong cộng đồng Thái sông Mã mà các học giả phương Tây gọi là Thái đỏ. Người Thái dựng bản làm nương rẫy ở đây đã từ lâu lắm. Họ từ Mường Khoòng Mường Lau Mường Ký phát tán đi nhiều nơi như Mường ét Xiềng Khọ Mường Xôi (nước Lào) rồi cả Phủ Quỳ Tương Dương của Nghệ An. Mối quan hệ giao lưu rộng rãi đó chính là sản phẩm của cuộc sống du canh du cư trước đây. Người Thái ở đây ngoài kinh nghiệm trồng lúa nước còn có kỹ thuật làm ruộng bậc thang bắc máng làm guồng (cọn nước) đạt đến trình độ hoàn hảo. Phụ nữ Thái Bá Thước cũng có nghề dệt thổ cẩm tinh xảo. Người Thái có chữ viết riêng. Trường ca Khăm Panh được viết bằng chữ Thái là một trong những tác phẩm văn học tiêu biểu trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc ít người Việt Nam.
Viết đến đây tôi chợt nhớ có lần anh Cầm Bá Lai một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian người dân tộc Thái phàn nàn: Vốn văn hóa các dân tộc thiểu số đang mai một quá nhanh nếu không có biện pháp lưu giữ có hiệu quả thì chỉ vài mươi năm nữa sẽ chẳng còn gì tất cả sẽ "Kinh hóa" hết. Sự lo ngại của anh Cầm Bá Lai là một thực tế. Chả nói đâu xa chính con trai của anh Lai đấy thôi. Cả bố và mẹ cháu đều là người Thái nhưng cháu được ăn học ở miền xuôi và bây giờ cháu đã là người xuôi một trăm phần trăm. Chắc hẳn giờ đây cậu con trai anh Lai chẳng biết đến tự dạng của chữ Thái là gì và nhiều lắm thì cũng chỉ biết được cái tên của trường ca Khăm Panh là cùng.
- Nhà sàn ở Bá Thước còn nhiều không anh ? Tôi hỏi anh Lê Bá Chế Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện.
Anh Chế trả lời:
- Còn ít lắm anh ạ. Chỉ còn một ít ở các chòm bản vùng sâu vùng xa thôi. Bà con họ phá gần hết rồi. Bây giờ họ toàn làm nhà nền đất thậm chí nhà tầng nữa là đằng khác.
Cũng phải thôi tốc độ đô thị hóa như thế này rồi cũng đến lúc một nếp nhà sàn cũng trở thành của hiếm của độc là đối tượng săn lùng của dân chơi đồ cổ. Thị trấn Cành Nàng là nơi thể hiện rõ nhất tốc độ đô thị hóa là cái gạch nối của hai vùng văn hóa.
Vừa rồi tỉnh vừa khánh thành trạm phát sóng truyền thanh truyền hình Kỳ Tân. Công trình có tổng mức đầu tư lên tới hơn 30 tỷ đồng. Trạm phát sóng sẽ đưa sóng phát thanh và truyền hình của quốc gia và tỉnh tới một phần các huyện Quan Hóa Quan Sơn Bá Thước Lang Chánh Ngọc Lặc Thường Xuân Cẩm Thủy. Có nghĩa là người dân ở một vùng đất rộng lớn phía tây tỉnh Thanh sẽ được nghe và xem trực tiếp các chương trình truyền thanh truyền hình của quốc gia và của tỉnh mà từ trước tới nay họa hoằn mới được xem qua băng hình muộn mằn hoặc sóng phát thanh yếu ớt của chiếc rađiô. Vấn đề không phải là công trình đó to lớn mức nào hay tỷ nọ tỷ kia mà từ nay tiếng nói của Đảng chính sách của Đảng Nhà nước và các nguồn ánh sáng văn hóa khác sẽ đến được với người dân vốn xưa nay chỉ quen cuốc bẫm cày sâu nhưng thiếu đói văn hóa nơi bản xa heo hút.
Tôi đồng cảm với những suy tư trăn trở của anh Lê Huy Hoàng Bí thư Huyện ủy Bá Thước rằng Bá Thước là huyện đất rộng người thưa. Tiềm năng tài nguyên thì nhiều nhưng nguồn lực khai thác còn nhiều hạn chế chưa tương xứng. Thực ra huyện miền núi nào cũng thế cả. Cũng đất rộng cũng người thưa cũng dồi dào tiềm năng tài nguyên. Tuy nhiên cái quan trọng nhất vẫn là nguồn nhân lực cụ thể hơn là những con người những cái đầu biết lo toan những bàn tay và khối óc để biến tiềm năng ấy thành những giá trị hiện hữu của cuộc mưu sinh và lớn hơn nữa là cho sự giàu đẹp của quê hương của đất nước. Nói đến cuộc mưu sinh nói đến sự giàu và đẹp của Bá Thước có lẽ cũng cần phải điểm qua đôi chút những kết quả đã đạt được Đảng bộ và nhân dân Bá Thước trong năm vừa qua. Năm hai linh bảy vừa qua Bá Thước là một trong những huyện bị hai cơn bão số một và số năm tàn phá nặng nề ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất. Nhưng được sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp ủy chính quyền các cấp và sự nỗ lực phấn đấu của toàn dân huyện vẫn đạt được nhiều kết quả trên tất cả các mặt: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8 2% giá trị xuất khẩu là 1 76 triệu đô la Mỹ bình quân thu nhập bốn triệu đồng một người. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 18.540 triệu đồng tăng mười bảy phần trăm so với năm hai linh sáu. Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản là 52 205 tỷ đồng tăng hai mươi mốt phẩy hai phần trăm so với năm hai linh sáu. Tổng thu ngân sách đạt 108 460 tỷ tăng 40 8% so với kế hoạch.v.v... Các lĩnh vực văn hóa - xã hội quốc phòng - an ninh xây dựng hệ thống chính trị chính quyền... đều có bước phát triển.
             *
Con sông Mã như một vệt mây nhỏ len lỏi dưới những tán rừng xứ Thanh trong đó có hơn bốn mươi cây số trên địa phận huyện Bá Thước. Con sông đi tới đâu tạo nên hai bên tả hữu ngạn những cụm chòm bản tươi tắn mang đầy đủ sắc thái yên bình đầm ấm của làng quê xứ Thanh với tiếng mõ trâu lốc cốc đường chiều khói bếp lêu ngêu mái rạ... Tôi đã cảm nhận được một Thiết ống làng Kế một Ban Công Lũng Cao Lũng Niêm rồi Mường Ký Mường Khô Mường Dổi nơi có sự tích "cây Chu Đá lá Chu Đồng" "Bông Thau Quả Thiếc" "Lai Li Lai Láng" chớm xuân... Sản vật cỏ cây Bá Thước đã vinh dự được góp phần xây dựng Lăng Bác Hồ ở Thủ đô Hà Nội. Năm 1974 một đoàn kỹ sư địa chất đã phát hiện ở Điền Hạ có loại đá đỏ tươi có một không hai dùng để ghép lá cờ tổ quốc và cờ Đảng ở Lăng Bác. Rồi cây luồng một sản vật nổi tiếng của rừng núi xứ Thanh cũng được góp mặt trong vườn cây xanh bên Lăng Bác. Tôi cũng đã cảm nhận được một Pù Luông cao ngất với một hệ sinh thái phong phú bậc nhất của xứ Thanh chẳng kém gì Cúc Phương của Ninh Bình. Bá Thước đang chủ trương xây dựng Pù Luông thành khu du lịch sinh thái bảo tồn thiên nhiên để cùng với các khu du lịch Thác Mơ ở Điền Quang và Mái Đá Điều ở Hạ Trung thành một tua du lịch hấp dẫn và thú vị ở miền tây bắc xứ Thanh.
Mùa xuân đang về với rừng Pù Luông với rừng Bá Thước với quê hương của Bông Thau Quả Thiếc quê hương của Cây Chu Đá Lá Chu Đồng. Những vệt mây mỏng luấn quấn trên những ngọn đồi đã điểm xuyết nét tươi tắn cho núi rừng miền tây xứ Thanh. Đây đó những cành đào lấm tấm hoa đang xà xuống từng bờ suối từng mái hiên như đem cả mùa xuân về cho mỗi nhà.


                                                       Đồng Tâm chớm xuân Mậu Tý
                                                                        L.B

More...

Thơ

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Lê Thị Mây



Hoa tết



Hoa tết năm nay nở thật hồng
Mưa phùn ướt Huế cây cũng ướt
Lời hoa hạnh phúc có gì không

Hoa nở hồn xuân lòng ướt xuân
Ta nâng từng cánh rung mình nụ
Pháo tép trẻ reo nổ chật sân

Lay dơn lay dơn lay dơn hồng
Một thềm hoa tết văn chương đến
Hương tỏa ra ngoài lệ bên trong
               L.T.M





Từ Nguyên Tĩnh



Người câu cá đêm


Đêm ập xuống
Cỏ cây con người chìm vào giấc ngủ
Người câu đêm ngửa mặt nhìn trời
Như thể lời khẩn cầu
Hay tìm điều gì chẳng rõ

Đeo giỏ vắt vẻo cần câu ra đi
Bàn chân lướt nhẹ trên cỏ mềm như lụa
Gió ở đâu rủ nhau về cánh đồng nô đùa
Đêm đầy bí hiểm như ngàn đời vẫn thế

Mắc con mồi và bắt chước tiếng gọi
- Bập! Bập! Bập!… Các con ơi! Mau lên ăn thôi!
Điều ấy không động lòng ếch nhái
Chúng nỉ non gào khóc trong đêm
Cả lũ rắn đi săn mồi khi sương xuống
Không hề muốn cắn vào gót chân
Và hơi thở của ma hiện về đi nữa
Có sợ thì run không được cất tiếng lên!

Cần câu rê nhẹ nhàng như hơi thở
Con cá chắc vừa tỉnh ngủ
Bập vào mồi cho đỡ cơn thèm
Sau tiếng đớp là tiếng quẫy
Làm xao động cả lòng đêm


Trời chạng vạng cái giỏ đã trĩu nặng
Cần câu vắt vẻo bước trên đường
Cũng có khi đem ra chợ sớm
Người mua về trống ở trong chum.

Cái dáng đứng cũng thật phi phàm
Như bức tượng đồng dựng giữa màn đêm.
                   1-1-2008
                     T.N.T



Từ Nguyên Tĩnh


Đàn bà


Người đàn bà
Cõng đằng sau đứa con
Ôm đằng trước cái bếp
Không nấu thức ăn cho riêng mình
Giữ lửa cho ấm
Yêu mến cái nồi đậy kín cái vung
Sinh ra đã là mẹ
Không biết đôi vú có sữa để nuôi con

Những người đàn bà
Tóc dài
Nước mắt cũng dài
Đi qua cuộc đời ta
Muốn níu kéo lại mùi hương ấy
Ta không túm được bao giờ
Bay lên trời cao để tìm tự do.

                                T.N.T





Nguyễn Hoa



Tuổi cốm xanh


Má sen hồng
Dậy thì
Tuổi cốm xanh!
            N.H



Hào quang


Hào quang người
Như
Hương hoa cây!
            N.H




Văn Đắc


Chuyện phiếm trên xe miền Trung


Một nhà văn kể chuyện về một nhà văn
Một cô bé nhà hàng
ở trong phòng với nhà văn
Trò chuyện suốt đêm…

Sáng mai
Trước lúc lên xe
Nhà văn yêu cầu chờ một lát
Ông đi như chạy…

Có người bảo
    - Ông ấy đi chào các lãnh đạo
Người khác bảo
    - Hình như có mấy bạn cũ thời chiến tranh

Không lâu lắm
Ông hớt hải chạy về
Một người hỏi
    - Chào ai mà lâu thế?
Nhà văn vừa thở vừa trả lời
    - Chào cô bé nhà hàng hôm qua chứ ai!
Cả xe cười rộ lên…

Người nói một câu
Người hùn thêm vài tiếng
Cho đến khi con đường ngắn lại
Vượt qua hàng trăm khốn khó và chiến tranh
Xe chúng tôi đi suốt dọc đường miền Trung
Không dứt tiếng cười.
                     Tháng 10 năm 2007
                    V.Đ





Mạnh Lê


Chạm


Môi chạm tuyết thấy lạnh
Môi chạm lửa thấy nóng
Môi chạm sóng biển thấy mặn
Môi chạm lá non thấy mát
Môi chạm môi thấy khát...

                        SaPa đầu xuân 2008
                                     M.L




Lâm Bằng


Khúc luân vũ của những giá trị


Siêu thị ăm ắp ngôn ngữ ngoại văn
Ngôn từ dán tem bảo hành
Tem phát chẩn…
Tiếng tổ tiên cha mẹ… lơ đễnh long đong.

Chợ trời luận văn
Khóa luận bày sàng… không nhãn mác.
Tri thức bán rao.

Chiêu sinh sự thật
Sự thật không cửa ra vào.

Lòng tốt thăng hương
Lời hoa mỹ tạc tượng đồng bia đá.
Tem bảo hành rơi lả tả…

Những đồng xu mặc cả
Những đồng xu ngoại tình
Canh bạc cuối mùa trả giá.

Phẩm tước chức vị… quy đồng mỹ kim
Tri thức đầu thai nhầm chỗ.

ác nhân tụng ca
Lòng nhân từ thua thiệt phiên đấu giá.
Phẩm giá ăn đong…

Trí tuệ lật đật bụi đường
Cơ bắp lên ngôi hoàng đế.

Dã nhân so găng văn hóa
Đấu trường mặc cả…
Quỹ đen lên lớp thị trường.

Tín chấp văn chương
Văn chương vỡ nợ.

Đức tin hóa giá
Kinh luân bày sàng hôm mai…
                             21-8-2007
                      L.B



Đào Phụng



Em về chơi tết rồi đi


Em về chơi tết rồi đi
Bỗng như ai mất thứ gì "rất riêng"
Một năm không có tháng giêng
Thiệt làng cháy hội thiệt duyên chúng mình

Cô đơn cả một ngôi đình
Thương cho chiêng trống vô tình không hay
Giận mưa buồn vội đào phai
Nhớ chi mong ngóng giêng hai chóng chầy

Tính mùa đếm lịch gió mây
Hình như ai bỏ thêm ngày vào năm.
                   12-2007
                Đ.P      




Lê Tuấn Lộc



Tết của nhà tôi xưa


Mẹ tôi lo nhất tết
Suốt ngày ra vào bếp
Ai đến cũng bưng mâm
Ai về cũng mừng tuổi

Bố tôi lo nhất tết
Nấu bánh chưng nhiều củi
Chuẩn bị ba tháng giời
Đun một đêm hết sạch

Vợ tôi không thích tết
Bao nhiêu tiền phải lo
Này về quê gửi tết
Này chạp họ đầu năm…

Tôi loay hoay với tết
Toàn mừng tuổi người ta
Mình thì chưa phải già
Mình lại không còn trẻ

Nhưng ai cũng mong tết
Ai cũng mong xuân về
Tết đi ai cũng nhớ
Tết về ai cũng vui
               Xuân Mậu Tý 2008
            L.T.L



Vũ Thị Khương



Tiếng đàn xuân


Tiếng đàn ai vẳng từ xa lắm
Vọng về trong buổi sớm mùa xuân
Ô cửa xanh nhìn ra đồng ruộng
Nắng chưa tan những hạt sương đêm

Cây lúa vừa rũ xong lá mạ
Non tơ như thiếu nữ dậy thì
Ngây thơ mơ màng trong hư ảo
Tiếng đàn như tiếng kẻ si mê
Tiếng đàn ai vẳng từ xa lắm
Chao nghiêng cánh én lưng trời
Như thêu dệt sợi tơ mỏng mảnh
Như đa tình lơi lả với đàn xuân

Tiếng đàn ai vọng từ xa lắm
Mùa xuân
         Mùa xuân
            Mùa xuân
                     1-2-2007
                 V.T.K





Nguyễn Ngọc Quế


Người đẹp


        Tặng ô Thận ô Lập

Người đẹp do trời sinh
Da trắng môi hồng
Người đẹp do cha mẹ dưỡng
Nết na hiền thục
Người đẹp không mua được

Một cười nghiêng thành
Hai cười nghiêng nước
Đôi cánh tay nõn nà
Xô đổ thành Troa
Nhóm lửa đốt Ly Cung
San nước Ngô thành bình địa
Người đẹp mua được cả thế gian

Ta có trái tim yêu ngây dại
Khóc khi nàng buồn
Hát khi nàng vui
Ta gom hết những nắng mùa thu
Kết vương miện vàng nàng đội
Ta gom hết cỏ mềm mùa xuân
Dệt đôi hài ấm nàng đi

Người đẹp do trời sinh
Người đẹp do cha mẹ dưỡng
Nàng tựa vào vai ta bé bỏng
Ta mua được người đẹp!
             Cuối thu 2007
                  N.N.Q



Đỗ Trọng Khơi


Đêm nay


Nhẹ là bóng ảo là trăng
đêm nay có một vĩnh hằng bên tôi

Giường một chiếc gối một đôi
trăng in một nửa bóng ngồi một bên

Cho hay cái gió trăm miền
cái sương ngàn nẻo dồn lên một người

Đã rằng xa lắm đôi mươi
thưa rằng thương lắm da mồi tóc sương
                Đ.T.K



Ngô Ngọc Cư



Về Triệu Sơn


Lòng gập ghềnh trước dãy Na Sơn
Lại thấy rừng Như Xuân trước mặt
Uống nước sông Chu mấy lần chưa đã khát
Mơ sông Hoàng thấp thoáng áng mây trôi
đồi muôn hình vạn trạng sinh sôi
Tôi chưa thấy đồi vặn mình như thế
Nếu không đến đất này có nhẽ
Cuộc đời tôi thiếu hẳn một phần tôi
Một phần hồn tổ quốc nơi đây
Chúng tôi biến đồi hoang thành rừng xanh thắm
Ơi chú nai vàng tắm mình trong nắng
Ngẩn ngơ soi bên suối mộng mơ
Chiều xuân nay lòng như lá non tơ
Tôi muốn ngủ gối đầu lên đá xám
Không uống rượu mà lòng chếnh choáng
Có tiếng gì ngân bảng lảng không trung…

Tôi chợt thấy mùa xuân đang đến với mình
                  N.N.C





Lê Đình Bằng



Phóng sinh


Con chim được phóng sinh
Để trở về  với nơi đã sinh ra nó
ấy là lúc bầu trời tự do đã đợi chim bên ngoài ô cửa nhỏ
Giữa thiên đường và địa ngục trần gian chỉ gang tấc
  tơ mành.

Con chim được phóng sinh
Nó háo hức bay lên theo bản năng của loài có cánh
Nó quên mất rằng sống trong chiếc lồng con chỉ cần
 đôi chân mảnh khảnh
Mất bản năng sinh tồn chim loạng choạng chơi vơi!

Giữa mặt đất và bầu trời là khoảng cách chim rơi
Cái gia tốc nhanh dần đều lần đầu tiên nó biết
Bị tước mất bản năng sẽ cận kề cái chết
Nó đuối sức     
        rơi
              rơi…
               Mặt đất nhận nó về

Người thả chim đứng lặng dưới chân đê
Cứ ngỡ phóng sinh không nghĩ rằng hiến tế
(Định luật của trần gian sao dữ dằn đến thế!
Thiện - ác kề nhau Họa - phúc cũng song hành)


Bầu trời tự do vẫn xanh vẫn xanh
Con chim trở về với trời cao khi mất dần khái niệm
Sự ban phát tự do bao giờ cũng thiêng liêng thánh thiện
Nhưng con chim được phóng sinh khi đã quá muộn mằn!

Người thả chim ngửa mặt cười:
- Sự sống muôn năm!
                L.Đ.B



Nguyễn Minh Khiêm



Đọc đời mình trên lá


Tôi đã đọc đời mình trên lá
Người nâng niu lộc biếc mùa xuân
Người hóng mát dưới trưa mùa hạ
Người gom về đốt lửa sưởi mùa đông.

Tôi đã đọc đời mình trên lá
Lúc non tơ óng ánh bình minh
Lúc rách nát gió vò bão quật
Lúc cao xanh lúc về đất vô hình.

Tôi đã đọc đời mình trên lá
Có thể khổng lồ có thể bé li ti
Dẫu tồn tại một giây vẫn tươi niềm kiêu hãnh
Đã sinh ra chẳng sợ sức mạnh gì.
                 16-11-2007
                    N.M.K





Huy Trụ


Nhớ rừng


          Tặng những người Thanh Hóa xa quê


"Sống đất này dám chấp nhận cùng nhau
Một câu nói nửa rừng nửa biển"
Câu nói ấy một thời ta chứng kiến
Cốc rượu nào nồng nhạt nhả bùa mê…

Nhớ cây trầm khuất nẻo cánh rừng kia
Trăm thứ gỗ đua chen bằng sắc lá
Trầm chỉ thơm khi đốt hết mình trong lửa
Mọi thứ dây leo sao che được ánh mặt trời

Có thể nào quên dòng suối xa xôi
Âm thầm chảy xẻ đôi từng ngọn núi
Để có ngày gặp biển xanh vời vợi
Vẫn nhớ rừng phát tán những cơn mưa…

Trời vào thu thay lá đổi mùa
Câu thơ ấy mai sau còn nhắc đến
"Một câu nói nửa rừng nửa biển"
Nửa cuộc cờ xe pháo mới sang sông…
            Xứ Thanh ngày giáp tết
                   H.T





Phạm Khang



Rượu xuân


Rượu đắng
xuân vui canh chầu
tàn đêm chếnh choáng
men tình em đổ về đâu...

Rượu không chảy vào vô định
đàn khuya gẫy khúc hoan ca
khóc vui dăm chén đời tưng tửng
tóc xanh thêm mắc nợ lòng xuân

Khôn dại
đêm xuân gối ấp tay kề
đếm đong phận mỏng thiệt hơn
em sôi nổi hồng hào câu đối đỏ
phổng phao xuân ngây ngất đêm đầy

Người nồng nàn quá đi thôi
xuân mách lối con đường dan díu
chén rượu bây giờ sao lại ngọt
đổi ngôi mùa ta lịm giữa non tơ...!
                2007
                 P.K

More...

Câu đối

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Câu đối
 


Mặt trống đồng vang vọng tiếng ngân tiếng bổng tiếng trầm muôn thuở
 
ấm hồn dân tộc

Dáng ngựa đá uy nghi thế đứng thế vươn thế chạy ngàn thu rạng
 
nét tài hoa.


                                                    Xuân Thơm




Tý là chuột chuột cũng phải liệu hồn chớ cậy thế nhọn mồm mà khoét bậy

Sửu đúng trâu trâu càng cần giữ sức đừng ỷ quyền to xác để húc bừa.

                                                 
                                               Hoàng Bình Trọng
 



    Làng Văn hóa như đóa hoa Xuân tươi nhuần cuộc sống

    Người Văn minh tựa cành lộc Tết xinh tươi đời người


                                                     Nguyễn Tiến Bình


 


Báo chí nâng cao dân trí mỗi tin bài Nhà báo nêu cao ý chí vì đời sống
 
con người.

Văn chương đắp bồi nhân văn từng tác phẩm Nhà văn viết thấm đậm lương
 
tâm cộng đồng xã hội.
                                                     
 
                                                      Nguyễn Tiến Bình
 
 
 


Nhân kỷ niệm 219 năm chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa mùa xuân Kỷ Dậu 1789


Nội trị thần trung thiên hạ hữu

Ngoại giao đế giả thế gian vô
 

(Việc nội trị dựa vào tôi trung thiên hạ đã có
Việc ngoại giao cho người đóng giả vua thiên hạ chưa có) (*)
 
 
 
 

     (*) Sau khi đại phá 29 vạn quân Thanh vào đầu năm Kỷ Dậu 1789 Hoàng đế Quang Trung đặt vấn đề ngoại giao ngay với nước Trung Hoa để phát triển kinh tế chấn hưng đất nước.
     Vì việc nước nhà khẩn cấp và bộn bề hơn nữa Ngài cũng nâng cao cảnh giác nên Ngài giao cho cháu ngoại là Phạm Công Trị đóng giả mình trong việc ngoại giao
     Việc này trên thế giới chưa có ai làm


                                                                    Hồ Bá Quỳnh

More...