Bình luận văn nghệ

By Văn Nghệ Xứ Thanh




TỪ NGUYÊN TĨNH QUA TRUYỆN NGẮN

NGƯỜI TÌNH CỦA CHA

                                      

                                    NGUYỄN MINH KHIÊM


    Với tên bài viết như vậy chắc có người sẽ bảo khác nào nhìn cánh đồng qua một khoảnh ruộng nhìn cây đại thụ qua một chiếc lá. Quả đúng thế. Một khối lượng trang viết đồ sộ đã khẳng định Từ Nguyên Tĩnh không phải chỉ là nhà văn tầm cỡ xứ Thanh mà còn xứng đáng là cây bút có tên tuổi sáng giá trong giới văn đàn cả nước. Chưa cần điểm đến mảng tiểu thuyết  nơi ông đã rất nổi tiếng với các tác phẩm Mảnh vụn chiến tranh Cõi người. Chưa cần nhắc tới mảng thơ ( chính mảng thơ đã đưa ông vào Hội văn học nhê thụât chứ không phải văn xuôi) nơi ông đã có trường ca Hàm Rồng được giải ba của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật toàn quốc cùng nhiều bài thơ được các nhạc sĩ chọn làm lời cho những ca khúc… Chỉ riêng mảng  truyện ngắn ra mắt bạn đọc trong mấy chục năm qua đủ để khẳng định Từ Nguyên Tĩnh thật sự là một cây bút lớn. Với người viết làng nhàng như tôi thì Từ Nguyên Tĩnh sừng sững như một trái núi không dễ gì với tới. Nói như thế để hiểu vì sao tôi chỉ dám cảm nhận Từ Nguyên Tĩnh qua truyện ngắn Người tình của cha mà không dám nhìn Từ Nguyên Tĩnh qua toàn bộ sáng tác rộng lớn nhà văn đã trình làng. Muốn đánh giá Từ Nguyên Tĩnh theo hàm nghĩa học thuật thì cái tâm thôi cái tình thôi chưa giải quyết được gì. Quan trọng nhất là người viết phải có nhiều loại vốn kiến thức có tầm có phông có độ giãn về không gian thời gian… Cái đó đòi hỏi chờ đợi ở các nhà nghiên cứu phê bình mang tính chuyên nghiệp cao. Tôi chỉ là người viết đúng hơn là người sáng tác thấy người sáng tác qua một tác phẩm. Đó là một tác phẩm có sức lôi cuốn và ám ảnh. Tinh lực của nhà văn độ chín của nhà văn bút pháp tư tưởng lớn của nhà văn thường có độ hội tụ rất cao và phát sáng mạnh ở chính những tác phẩm này. Người tình của cha là một trường hợp như thế.
    Ngay từ khi ra mắt công chúng cách đây chừng mười lăm năm truyện ngắn Người tình của cha đã làm xôn xao bạn đọc cả nước. Khi Người tình của cha thành phim chiếu trên mà ảnh nhỏ thêm một lần nữa gây xúc động bao tâm hồn người Việt. Năm 2006 – 2007 Người tình của cha được chọn lọc đưa vào chương trình Văn học địa phương lớp 9 THCS. Trong tổng tập truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh gồm 45 truyện (tôi tạm gọi thế) được nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành qúy 3 – 2006 Người tình của cha cũng như bốn mươi tư truyện khác không ghi năm tháng sáng tác nhưng toàn bộ nội dung diễn biến cốt truyện chứng minh rằng truyện được viết khi chiến tranh kết thúc lâu rồi. Thường thường sau chiến tranh có hai thái cực diễn ra. Một là những nhà văn không là người lính trực tiếp cầm súng trên mặt trận họ lao vào tìm tư liệu chiến tranh thể hiện chiến tranh qua bom đạn dữ dội và ác liệt. Hai là những nhà văn là người lính xương máu cùng đồng đội khi chiến tranh kết thúc họ nhanh chóng lùi xa “những cái cối xay thịt” để có cái nhìn về người lính nhìn về sự hy sinh của dân tộc nhìn vào bản chất cái sống và cái chết cái được và cái mất cái cao thượng và cái thấp hèn cái thiện và cái ác những tiếng đại bác và tiếng gọi mẹ…nó đạt đến cõi nhân sinh hơn. Tất nhiên có một bộ phận rất lớn các nhà văn mặc áo lính từng giáp mặt với kẻ thù vẫn trung thành với bút pháp mô tả hiện thực chiến tranh bằng cách dựng lại cuộc chiến trong các tác phẩm của mình.Cũng mô tả hiện thực nhưng  Từ Nguyên Tĩnh không làm như thế. Mặc dù ông đã là lính bảo vệ Hàm Rồng nhiều năm nhưng nhà văn viết về chiến tranh nhìn về chiến tranh bằng cách khác. Để có được truyện ngắn Người tình của cha một câu   chuyện về gia đình người lính ba người hai vợ chồng một đứa con cùng một tuyến nhân vật không có đối lập cấu trúc theo mạch thẳng đẹp đẽ gọn gàng chứa đựng tính nhân văn sâu  sắc thể hiện được sự hy sinh tận đáy của con người Từ Nguyên Tĩnh không phải chỉ biết cách lùi xa chiến tranh mà ông còn chứng tỏ có học vấn sâu sắc có sự chiêm nghiệm chắt lọc nhiều năm. Cũng không ít người cầm bút tìm cách lùi xa hiện thực để hiểu rõ hiện thực hơn khái quát tốt hơn…nhưng không phải ai cũng thành công. Từ Nguyên Tĩnh làm chủ được ngòi bút là chủ được mạch cảm xúc. Nếu không phải một cây bút già rặn có bản lĩnh nén chi tiết thì khi đụng đến chiến trường nhà văn sẽ bị hàng loạt chi tiết như “súng đại bác xe tăng…vang lên rung chuyển” thể hiện vốn sống thu hút bạn đọc dễ tính. Từ Nuyên Tĩnh biết gạt bỏ. Ông để cho cái ác liệt hiện qua ngôn ngữ tự thuật của cô gái mười bảy tuổi: “mẹ Thu của con đã cứu cha thoát chết bởi những trận sốt rét ác liệt. Hàng tháng trời cha nằm ở trạm giao liên. Mẹ lội khắp rừng tìm lá thuốc nam sắc cho cha uống.Mẹ xuống bìa rừng bắt giun dùng lá chè xanh rừng chuốt sạch nhớt bắt cha nuốt. Sau khi thoát chết là đói. Đói đến nỗi tóc và lông mày rụng hết cha phải dùng cả hai tay mới bò nổi từng bước. Mẹ lại lần đến những bản xa xôi của người cùi không ai dám tới xin bắp về nấu cháo bón cho cha từng thìa …”Có thể gọi đây là đoạn phim phóng sự về ký ức chiến tranh thể hiện trình độ tay nghề bậc cao của tác giả.ống kính có tầm quét rất rộng về không gian thời gian đồng thời thể hiện khả năng quay đặc tả cận cảnh đạt đến trình độ kỹ xảo.Chi tiết hình ảnh trong đoạn văn nói riêng trong truyện ngắn nói chung chuyển động nhanh linh hoạt đạt đến tốc độ của truyện dân gian  . Chỉ một đoạn như thế người đọc tiếp nhận bao nhiêu thông tin. Một gia đình người lính. Sự chịu đựng gian khổ của người lính. Tình yêu đích thực của người lính. Sự cài đặt chi tiết nhẹ nhàng tự nhiên hết sức tài tình. Chìa khoá sáng tạo ra Người tình của cha đã được ông khéo léo trao cho người đọc. Non tay một chút truyện sẽ bị vỡ ngay ở chỗ này. Nếu thêm một vài từ nữa là cái nút bị bung ra. Cái đắt của chi tiết trở thành rẻ rúng nông cạn. Từ Nguyên Tĩnh rất thành công trong việc xây dựng hai cái đẹp cơ bản trong CÁI ĐẸP – Một phạm trù cơ bản của mỹ học Mác-Lênin. Đó là cái đẹp về sự hy sinh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và cái đẹp về tính nhân văn.
    Chỉ với chín trang in chưa đầy 4000 tiếng Từ Nguyên Tĩnh đã mô tả sự hy sinh nhiều lớp lồng nén vào nhau êm như ru. Nhân vật Cha nhân vật mẹ Thu-Maria Liên lặng lẽ trở về đời thường thanh thản như những vị thánh không một lời than thở không một lời dính đến công trạng. Mặc dù họ là lính “thoát chết   bởi    những
trận sốt rét ác liệt” họ phải nuốt giun sống   “đói đến nỗi tóc và lông âng mày rụng hết”! Họ tự nguyện hy sinh bản thân nhẹ nhàng tựa dâng hiến. Nốt trầm của bản anh hùng ca giữ nước vĩ đại của dân tộc Việt là đấy. Hoà bình lập lại bao nhiêu gia đình hạnh phúc bao nhiêu người tìm cách chiếm đoạt vinh quang bước lên bục vinh quang quyền cao chức trọng tính sổ với cách mạng với dân tộc. Vợ chồng người lính phải lặng lẽ chia tay nhau. Người vợ khi còn ở chiến trường đi tìm bắp về nuôi đồng chí đồng đội-người chồng đã bị nhiễm bệnh hủi. Vì tương lai của Thu Trang người con gái niềm hạnh phúc thiêng liêng duy nhất người vợ đến nhập vào làng cùi xa xôi. Ngay cả sự chia ly đau xót ấy cũng không được công khai sự thật. Người chồng phải tung tin dựng hiện trường người vợ chết đuối. Mục đích cuối cùng là bảo vệ hạnh phúc chắc chắn cho con. Và thỉnh thoảng họ vụng trộm gặp nhau như đôi tình nhân bất chính. Người con khinh bỉ cha vì cho rằng cha đã phụ bạc mẹ nó dối trá với nó Người mẹ làm một cuộc trốn chạy sự truy đuổi của lương tâm. Cái bi kịch gia đình đẩy đến đỉnh điểm. Ấy thế mà không bật được thành lời. Đấy là sự điển hình nhất về sự hy sinh của người lính trong sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh nói riêng và Văn học Việt Nam nói chung. Họ đau về thể xác đau về tinh thần. Họ trả giá cho chiến tranh trả giá cho cuộc sống cho hạnh phúc lớn quá đắt quá. Họ hy sinh cho cá nhân ư? Cá nhân bệnh tật. Họ chiến đấu cho gia đình ư? Gia đình chia lìa ly tán. Họ chiến đấu hy sinh cho cuộc đời ư? Cuộc đời dè bỉu xa lánh. Với Người tình của cha Từ Nguyên Tĩnh còn đặt ra một vấn đề lớn hơn. Đó là vấn đề thời đại và thế hệ. Một thế hệ hy sinh cho một thế hệ.Toàn bộ câu chuyện tưởng chừng chỉ đơn giản giải quyết vấn đề người tình của cha. Người tình của cha là ai?Tại sao cha và người tình phải bí mật vụng trộm gặp nhau? Tại sao cha có người tình vụng trộm song vẫn gieo vào lòng vào tình cảm người con tất cả những gì đẹp nhất về người mẹ? Trả lời được những câu hỏi ấy chính là một cuộc khám phá đầy ý nghĩa không phải chỉ của người con đối với người cha và người mẹ mà đó chinh là cuộc khám phá của một thế hệ đối với một thế hệ.Phải chăng đó là thông điệp lớn nhà văn ngầm gửi tới người đọc? Không phải sự hy sinh nào cũng được hiểu đúng hiểu đủ được qúy trọng ngay từ đầu. Sự cao thượng và thanh thản đến thánh thiện nếu không được giáo dục cẩn thận nhiều khi cái tốt không thanh minh được cái xấu cái ngờ vực nghi vấn của người đời miệng đời. Tính cách người Việt tâm lý người Việt đạo đức truyền thống của người Việt kết tinh nhân vật người cha và nhân vật người mẹ có tên là Thu. Cái tầm văn hoá dân tộc cái đặc trưng nhất  của người Việt được thẩm thấu trọn vẹn trong Người tình của cha. Nói trọn vẹn bởi vì hình ảnh người  lính sự hy sinh của người lính còn được Từ Nguyên Tĩnh đề cập đến trong một số truyện ngắn khác như Mối tình chàng Lung Mù Tiếng thở dài của dòng sông Chờ B52 Người đàn bà sau chiến tranh …Những nỗi đau những mất mát những bi kịch những nỗi éo le trong các truyện ngắn này không phải chỉ thể hiện trí thông minh giàu sức tưởng tượng của tác giả.Rất nhiều chi tiết gây xúc động cho người đọc.Nhưng không phải truyện nào cũng thành công. Ngay cả khi tác giả dùng thủ thuật dựng các chi tiết găm vào trí nhớ người đọc truyện khép lại vẫn mờ. Điều đó chứng tỏ rằng thủ thuật có thể tạo ra được chi tiết nhưng thủ thuật không tạo ra tư tưởng lớn cho tác phẩm. Người tình của cha chứa đựng một tư tưởng lớn. Truyện có thể kết thúc nhanh chóng hơn vì cốt truyện rất đơn giản không có những tình tiết ly kỳ câu khách. Diễn biến cũng không phức tạp. Trong Người tình của cha Từ Nguyên Tĩnh cũng dùng thủ thuật hay còn gọi là ngón nghề gây tò mò hồi hộp cho người đọc. Ví như khi ông để cho Thu Trang nghe thấy mấy bà hàng xóm thì thầm “:Ông có người tình là phải thôi” rồi trong bóng đêm lờ mờ Thu Trang thấy người đàn bà áo đen gục đàu vào cha. Hay đoạn phục bắt quả tang cha và người tình trong nhà… Nhưng tất cả những tình tiết mang tính thủ thuật đó lại nhằm đạt hiệu quả của chủ đề biểu đạt tính thẩm mỹ. Đó chính là cái đẹpcủa sự hy sinh cái đẹp của yêu thương cái đẹp của con người sống vì nhau. Vì đồng đội đồng chí vì người chồng người vợ bất chấp mọi gian khổ chấp nhận cả khi thân thể bị bệnh hủi dày vò. Vì con người mẹ chấp nhận mang tiếng chết đuối về làng cùi. Người mẹ đổi cả tên (từ Thu thành Maria Liên) để cho con có một lí lịch “sáng” không bị bạn bè xa lánh. Vì phẩm chất người lính vì lòng chung  thuỷ vì tình yêu đến bằng xương máu đến lượt người chồng vẫn da diết với người vợ bị cùi. Người cha chan chứa yêu con bằng lòng nhân hậu. Và rồi khi sự thật oà ra người con xúc động ào vào lòng mẹ. Tính nhân văn cao cả được Từ Nguyên Tĩnh kết tinh hoàn mỹ trong Người tình của cha. Bằng lối kể riêng ngôn ngữ giản dị một cốt truyện không có gì đặc biệt trở nên có sức hấp dẫn lay động đặc biệt. Càng ngẫm nghĩ càng đặt câu chuyện vào những hoàn cảnh mà nhân cách lòng nhân ái đức hy sinh tinh thần vị tha sự chia sẻ và nhiều phẩm chất tốt đẹp khác đang bị đối mặt thử thách bởi tiền tài danh vọng địa vị… càng thấy nó ngời sáng. Từ Nguyên Tĩnh đã sáng tạo ra được một viên dạ minh châu không phải cho riêng mình.


                                                   Ngày 25 tháng 5 năm 2007

More...

CÓ MỘT ĐÀO PHỤNG TRONG CÕI TA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

CÓ MỘT ĐÀO PHỤNG TRONG CÕI TA

(Lược thuật hội thảo tập thơ Cõi ta của Đào Phụng)

                                                        Lâm Bằng

      Có một Đào Phụng chầm chậm lặng lẽ trong làng thơ xứ Thanh chầm chậm lặng lẽ trong bạn đọc. Đào Phụng thuộc lớp hội viên sáng lập Hội Văn nghệ Thanh Hóa hơn ba mươi năm trước năm 1974. Có nghĩa anh làm thơ đã từ rất lâu thậm chí từ khi còn là cậu bé ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Gần bốn mươi năm sáng tác với hàng trăm bài thơ anh đã cho trình làng 3 tập: Kỷ niệm miền quê (1978) Cúc trắng (1998) và Cõi ta (2006). Cõi ta được nhận giải thưởng của y ban toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt Nam năm 2006. Bày tỏ những cảm thức về Cõi ta cùng Đào Phụng sáng ngày 17 tháng tư năm 2007 tại Thư viện khoa học tổng hợp Thanh Hóa Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa và Thư viện khoa học tổng hợp Thanh Hóa đã tổ chức hội thảo về tập thơ Cõi ta của nhà thơ Đào Phụng. Đông đảo các nhà thơ nhà văn nhà nghiên cứu phê bình văn học và bạn đọc yêu thơ… đã đến dự. Nhà văn Lê Xuân Giang Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa chủ trì cuộc hội thảo.

More...

Lý luận - Phê bình

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Đọc ký của Hoàng Trọng Cường và Lâm Bằng

                                                          TỪ NGUYÊN TĨNH

     Nhà thơ Mạnh Lê phàn nàn: “Bây giờ bài lý luận thật hiếm hoi. Không có người viết hoặc có bài chỉ là ngộ nhận. Cái luận ít nên cái lý thật là thiếu. Vậy mà cứ đòi in. Chưa nói học được một cua thầy nói thầy bàn thì xào sáo lại từ đời tám hoánh nào mà bộ mặt lại rất com lê ca vát”. Chia sẻ nỗi “đau nghề nghiệp” này tôi đùa: “Có cuộc họp về Lý luận phê bình ở Đồ Sơn ông cũng viết nhiều sao không xin một giấy ra đó nghe học và ôm một ít bài về”. Mạnh Lê lại tiếp tục than thở: “Có ích chi. Người ta nhiều khi chỉ khoe sở đọc ra với nhau đấy thôi. Chứ giúp ích thì ít lắm. Mấy ông ở thủ đô hoặc ở “phố lớn” quen thói bắt nạt dân tỉnh lẻ. ấy thế mà khi có một cuốn sách của ông thủ trưởng văn nghệ nào đó in ra chưa ráo mực thì đã xúm lại bốc thơm. Còn của mấy anh nhà quê có biếu tặng thì chưa chắc đã đọc nhưng vẫn nói xã giao là đã đọc rồi. (Có lần tôi tình cờ cầm một cuốn sách trên giá của một ông bạn ở thủ đô sách do tác giả tặng với lời đề tặng trang trọng. Cuốn sách in đã lâu nhưng những trang giấy do nhà in xén không hết còn dính nhau vẫn còn nguyên như lúc lấy ở nhà in về). Thế đấy.

Có người bảo cơ chế thị trường không vào được giới ta. Tôi thì tôi chả tin. Viết lời bạt tựa khen chê... phải đặt tiền cả đấy. Nhiều anh mới làm thơ nhưng vẫn được một vài ai đó viết giới thiệu như những tên tuổi lớn triển vọng lớn... (mà khi trích khen lại toàn những câu thơ dở).

Lý luận đi về đâu nếu anh không gắn bó với thực tế sáng tác với cái cụm từ cũ xưa ta vẫn gọi là phong trào sáng tác.

Nào phải chờ đợi gì ở đâu xa ngay “trong nhà” cũng đã có khối cuốn để viết phê bình. Những năm gần đây các cây bút ở tạp chí Xứ Thanh năm nào chẳng cho trình làng một hai đầu sách. Chỉ tính mươi năm trở lại đây các anh cũng đã có tới hơn chục đầu sách. Hai năm 2005 2006 Hoàng Trọng Cường và Lâm Bằng đều cho ra mỗi người một tập ký. Hoàng Trọng Cường với Ký ức miền Thanh (Nhà xuất bản Văn học 2005); Lâm Bằng với Đất và Người (Nhà xuất bản Văn học 2006). Đất và Người của Lâm Bằng dày hơn 300 trang viết về quê hương Thanh Hóa. Tôi nói với Mạnh Lê: “Ông viết một bài đi. ít ra Lâm Bằng và Hoàng Trọng Cường cũng ở với ông trên dưới hai chục năm rồi. Nhìn tập ký của họ là biết họ đi tới đâu và đóng góp cho Hội này Tạp chí này ra sao rồi”.

Gợi ý một số người viết đôi điều cảm nhận về hai tập ký của Hoàng Trọng Cường và Lâm Bằng. Mỗi tập đều có 24 bài ký. Có nghĩa là trong hơn hai mươi năm về “ngôi nhà” này ngoài thơ và truyện ngắn mỗi năm họ đều có một bài ký góp mặt với đời.

Có thể đó đây có người sẽ ý kiến rằng nhiều lần gửi ký đến tạp chí Xứ Thanh mà các anh không in thậm chí có lần còn to tiếng nữa. Xin nhận điều sơ sót ấy. Tạp chí mỗi tháng một kỳ mà ký của bạn không phải là “muôn thuở”. Bạn vì lý do gì đó mà viết ra còn tạp chí có chủ trương và chuyên đề cho từng số có kế hoạch hẳn hoi. Hai tác giả của tạp chí có lợi thế là họ được cử đi viết theo kế hoạch của từng số chuyên đề. Ngoài ra họ còn viết để tham gia các cuộc thi khác nữa. Nói thế không phải các bài ký đó đã hay và toàn bích đâu. Dẫu sao ta cũng ngó đến xem sao.

*

Ký thuộc thể loại báo chí hay văn học? Ký bao giờ và khi nào để góp “chất quặng” cho truyện đây? Truyện ngắn và dài và tiểu thuyết. Tờ báo Văn nghệ cũng có ký tờ báo văn nghệ địa phương cũng có ký và hàng ngàn tờ báo khác cũng in ký và cũng gọi là ký... Thật ra thì thể loại này bàn xưa rồi trong đó các nhà lý luận bàn nhão ra mà cũng chưa kết luận bao giờ. Ta chỉ biết rằng tạp chí báo tùy theo từng nhu cầu của mỗi số và người đọc mà sử dụng thể loại uyển chuyển vì thế ký cũng phát triển sao cho phù hợp với nhịp điệu thời đại của mình. Hoàng Trọng Cường và Lâm Bằng viết ký trong tình hình ấy.

Ký ức miền Thanh của Hoàng Trọng Cường cũng thật là đa dạng và phong phú. Cái hồ hởi và vồ vập của người đi viết ký đã thể hiện trên tên bài rồi. Từ ngoại vi thành phố Thanh Hóa “Thành phố chim Hạc” anh lý giải về sự ra đời của thành phố này cư dân ở nơi đây và sự hy sinh thân mình của thành phố trong tiêu thổ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ và hôm nay thành phố tuy còn bề bộn chưa đẹp nhưng vẫn với thế chim Hạc bay trong niềm hy vọng đổi mới.

Rồi xã “Ngoại thị” viết về xã Quảng Thắng mới nhập cư vào cái thành phố này Hoàng Trọng Cường đã trăn trở nhiều trước một cộng đồng cư dân tuy “là dân thành phố một trăm phần trăm theo đúng nghĩa đen nhưng nghề vẫn là nghề làm ruộng”. Anh viết: “Tôi thấy lòng nao nao vẳng tâm sự của nhiều người Đất nước ta có trên 85% dân số là nông dân. Mà đã là nông dân thì ở vùng nào cũng na ná có số phận giống nhau. ở nơi nào con cái nông dân lớn lên cũng luôn tìm cách tìm nghề để thoát khỏi cái nghề cha truyền cho mình. Trước hết vì một lẽ giản đơn là công nhân trong biên chế nhà nước dẫu chỉ là đào đất lật cỏ thôi nhưng vẫn có cuộc sống ổn định nhờ vào đồng lương chứ không phải quanh năm ngày tháng thấp thỏm trông trời trông đất trông mây. Và khi về già họ còn có chế độ bảo hiểm xã hội. Còn ở nông thôn lớp người già lớp người đã hết sức lao động là lớp người cơ cực nhất. Bao cảnh thương tâm đã xẩy ra với họ...” Và: “Hàng của nông dân cung ứng cho xã hội là hàng thật thật trăm phần trăm. Hạt gạo con cá lá rau không thể giả được. Thế nhưng hàng của xã hội về với nông dân rất khó phân định đâu là thật đâu là giả. Đến phân đạm thuốc trừ sâu cũng có hàng giả... Có những gia đình đi mua thuốc trừ sâu về phun diệt rầy nâu càng phun rầy phát triển càng mạnh. Kết quả cả sáu sào lúa đang ngậm sữa cháy rụi. Cả một khu ruộng trắng xóa... Tất nhiên cái gia đình ấy sẽ phải nợ sản phải đi vay để ăn và cũng tất nhiên đói nghèo là điều trông thấy”. Với tất cả đồng cảm chân thành.

Ca ngợi Quảng Xương đang xanh lên bởi là huyện cửa ngõ thành phố. Chuyện làm đá núi Nhồi. Chuyện giữ gìn cuộc sống bình yên của các chiến sỹ công an. Chuyện những người chiến sỹ kiểm lâm chiến đấu giữ rừng. Những người lính ở hải đảo (Lính đảo Mê) cuộc sống cùng những tâm tình của họ hôm nay: “Chiến sĩ ở đảo không có chế độ nghỉ phép. Sĩ quan họa hoằn có một chuyến kết hợp đi công tác mới rẽ qua nhà tí chút rồi hối hả đi ngay mang theo bao day dứt thường nhật về trách nhiệm của người chủ gia đình. Ngày lễ tết ngẩn ngơ nhìn hút qua làn sóng bạc phía xa ấy là đất liền là nơi có ngôi nhà của mình có những người thân của mình đang chong đèn chờ đợi đêm đêm mà bồi hồi thương nhớ. Nhiều lúc thèm nghe một tiếng khóc tiếng cười con trẻ đến cồn cào. Vời vợi nỗi nhớ đất liền. Đó cũng là một thử thách đối với người lính thời bình...”. Là những chiến sỹ biên phòng bảo vệ biên giới biển trời của tổ quốc (Đêm Hoằng Trường). Đến phát hiện ra người chiến sỹ đã từng tham gia bắt sống tướng Đờ Cát ở Điện Biên Phủ mà lâu nay bị người ta bỏ quên... Bài ký này được in trên báo tạp chí ở trung ương và đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam tạo được nhiều ấn tượng.

Đặc biệt với vùng Triệu Sơn quê hương vùng mía Lam Sơn quê hương các anh hùng dân tộc Lê Hoàn Lê Lợi; các vùng Vĩnh Lộc Thạch Thành Ngọc Trạo... nhiều nhà báo đi và viết Hoàng Trọng Cường cũng đi và viết nhưng anh đều có sự phát hiện riêng tạo ra dấu ấn riêng của mình. Một người lính Hàm Rồng bây giờ làm kinh tế như Phó Tổng giám đốc Lê Xuân Thanh. Một người lấy cả đời ra suy nghĩ về cây mía về sự no ấm của nông dân như anh hùng lao động Lê Văn Tam Công ty mía đường Lam Sơn... “... Dựa vào sức dân nhưng cũng phải chăm lo cho dân. Phải coi nông dân trồng mía là những công nhân ngoài nhà máy. Không có vùng nguyên liệu thì không có nhà máy...”. Bài này được Hội nhà báo Việt Nam tặng Bằng khen và giải A Trần Mai Ninh.

Không phải ta cứ vơ vào lấy được vì anh ta là “người mình”. Hoàng Trọng Cường dầu đã cố gắng nhưng còn phải đầu tư nhiều lắm ký của anh mới có sự trầm lắng mới gây được sự xúc động lòng người. Người đi viết ký không phải là người đi làm làm cái việc “tiền trao cháo múc” “tiền nào vải ấy”. Dẫu là làm báo “nhà” hay báo “người” cũng phải đặt người viết là người sáng tạo ra cái văn hóa mà tiếp cận với nó khác với cái ngày hôm qua. Trong 24 bài ký chắc đó mới chỉ là chọn lựa thiếu hẳn sự phê phán phát hiện độc đáo. Người viết nếu chỉ ca ngợi một chiều đôi khi cũng rơi vào đơn điệu nhàm chán.

Lâm Bằng với tập Đất và Người cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2006. Là người đi viết cho tạp chí các cuộc vận động và các cuộc thi nên Lâm Bằng cũng chú ý và chọn lựa. Vốn là người làm thơ nên anh đã tạo cho mình sự uyển chuyển dí dỏm trong thể hiện trong không ít bài viết. Làng nón Yên Lai Huyện mang tên một nền văn hóa Nhiễu Hồng Đô Nhà máy của nông dân Hà Trung đất và người... Đọc Hà Trung đất và người ta cảm thấy có dịp để Lâm Bằng trả nghĩa cho quê hương khi thể hiện. Bằng cách kể ấm cúng anh đã giúp cho người đọc hiểu thêm nhiều về quê hương mình. Thật thú vị khi nghe tên xã mà du dương như đi vào bài hát. “Hà Trung lúc này có mười xã. Mỗi xã lúc bấy giờ lớn lắm có xã có tới gần hai chục làng rộng mênh mông. Sau cải cách ruộng đất được chia lại thành hai mươi lăm xã. Và mô hình ấy tồn tại cho đến bây giờ. Có một điều đặc biệt là tất cả hai mươi lăm xã trong huyện Hà Trung đều có chữ Hà đứng đầu: Hà Long Hà Vân Hà Đông Hà Dương… gọi tên các xã mà cứ như hát: Bình Ninh Phong Phú Thái Lai Châu… Người trong huyện đi dân công đắp đê đi hội họp đi công việc hàng huyện khi hỏi nhau câu cửa miệng không hỏi là xã mà hỏi bằng Hà: Hà nào đấy? Anh ở Hà nào?.v.v…Đó cũng là điều độc đáo” (Hà Trung đất và người)

Tuy có dài nhưng là dịp để đưa vào để nói được cho quê mình.

Ta gặp ở “Quê tôi Hà Bình” cái mạnh của Lâm Bằng là anh chịu khó và trách nhiệm với từng trang viết. “Hà Bình có tuyến đường thiên lý bắc nam có đường tàu thống nhất chạy qua có nhiều cơ quan đơn vị công xưởng kho tàng của huyện của tỉnh và trung ương… đồn trú. Lại nằm trong khu vực giao điểm của hai đường thủy bộ lớn của quốc gia (quốc lộ số 1A và sông Lèn) cho nên đây cũng là nơi tiếp xúc khá sớm và khá nhạy cảm với mọi kênh văn hóa cả hay lẫn dở của xã hội. Tuy nhiên vùng đất Hà Trung trong đó có Hà Bình quê tôi vốn là đất quý huyện đất tổ của một vương triều phong kiến khá dài trong lịch sử có một trầm tích văn hóa với trường lực khá mạnh nên mọi kênh văn hóa ngoại lai khó có thể xâm nhập. Bởi vậy mà Hà Trung nói chung và Hà Bình nói riêng sự pha tạp về văn hóa đã không xảy ra. May thay…” (Quê tôi Hà Bình). Anh đồng cảm trăn trở với người nông dân trồng cói với số phận cây thông với nghề trồng dâu nuôi tằm nghề đan nón... ở mỗi bài viết Lâm Bằng đều phát hiện được một điều gì đó để nói với người đọc: “Cây cói và nghề cói Nga Sơn có thể có những thăng trầm có thể có những bước tiến thoái. Nhưng bao giờ và ở đâu khi con người mỗi tối còn ngả lưng trên tấm chiếu khi mỗi trưa còn ngồi trên tấm thảm cói... thì nghề cói và cây cói xứ Nga vẫn còn vẫn song hành với một niềm kiêu hãnh trong diện mạo của nền kinh tế tiểu thủ công nghiệp nước nhà” (Cây cói Nga Sơn). “Mấy năm lại đây khắp cả nước đâu đâu cũng làm du lịch người ta khai thác triệt để các tiềm năng du lịch. Huế Hội An Mỹ Sơn Tuần Châu rồi Nghệ An Phú Thọ... sôi động quá. Hẳn ai cũng biết cái “anh” Cửa Lò của Nghệ An so với cái Sầm Sơn thì còn kém xa về đẹp nếu không muốn nói là một trời một vực. Nhưng gần đây du khách từ Hà Nội người ta không dừng lại ở Thanh nữa mà đã đi tuột vào với Cửa Lò hầm hập gió lào. Sao vậy ? đơn giản là người ta đã không chịu nổi cái lối làm du lịch đầy manh nha của người Sầm Sơn một thứ văn hóa du lịch bình dân pha chút chất chợ búa”. (Huyện mang tên một nền văn hóa). “Có lẽ không có thế trận nào bằng thế trận lòng dân. Không có sức mạnh nào bằng sức mạnh lòng dân. Hơn ai hết cơ quan quân sự cấp huyện là nơi gây dựng là nơi huy động được và tổ chức được sức mạnh vô cùng quan trọng đó. Gây dựng huy động và tổ chức... là những yếu tố vừa khoa học lại vừa là nghệ thuật một nghệ thuật dụng nhân và điều binh. Sự bình yên của mỗi xóm làng sự vững chắc của từng phên dậu quốc gia và nói tóm lại là nền hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc chúng ta chờ đợi nhiều hy vọng nhiều vào tư duy khoa học và nghệ thuật dụng nhân nghệ thuật điều binh ấy...” (Lũy thành vùng đông bắc).

Viết không phải là gãi ngứa là kéo rào trượt qua mà có dịp để người đọc hình dung ra cái tiềm năng văn hóa địa lịch sử kinh tế của vùng đất ấy. Để có thể nắm bắt lấy một cơ hội làm giàu đẹp cho quê hương mình. Đi viết ký không phải là người đi làm thuê nhận bồi dưỡng rồi viết trả nợ. Mà phải đọc kỹ các bài trước đó tác phẩm trước đó (nếu có) để đặt ra cách suy nghĩ độc lập khách quan của nhà báo nhà văn về miền quê ấy. Giúp cho cấp ủy chính quyền có cách nhìn mới để hoạch định một chính sách một sự đổi mới. Như thế người viết ký đã là người có khả năng dự báo. Một số bài ký của Lâm Bằng trong tập này đã được nhận giải ở các cuộc thi ở tỉnh và trung ương và giải báo chí Trần Mai Ninh tuy chưa phải là giải cao. Lâm Bằng đã đi đúng hướng. Sự cần mẫn và đào sâu làm giàu thêm kho tàng học đi và viết... con đường tất yếu của một người viết.

*

Là hai cây bút chủ chốt của tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh Hoàng Trọng Cường và Lâm Bằng đã có những đóng góp nhất định vào mảng ký trên tạp chí. Nhưng chính vì “người nhà” mà đòi hỏi các anh phải khắt khe hơn nữa với chính mình phải tạo ra được sự sáng láng trong cách thể hiện. Không thể dễ dãi dài lời dẫn đến chủ quan tới mức viết liều làm cho cái tên của mình nhẹ đi. Ký còn có ý nghĩa ký thác với đời nữa là cái lẽ đó. Với Ký ức miền Thanh và Đất và Người ta có quyền hy vọng nhiều hơn nữa vào hai cây bút Hoàng Trọng Cường và Lâm Bằng.

                                                                    Cuối thu 2006.

                                                                         T.N.T

More...