PHỎNG VẤN ĐẦU XUÂN

By Văn Nghệ Xứ Thanh


PHÁT HUY VAI TRÒ BÁO CHÍ VĂN NGHỆ PHỤC VỤ ĐẮC LỰC CÁC NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN



Nhân dịp đón xuân Canh Dần Tạp chí Xứ Thanh đã có cuộc phỏng vấn
đồng chí Đinh Viết Ba Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy về nhiệm vụ của
Tạp chí năm 2010.



Phóng viên: Thưa đồng chí Đinh Viết Ba là người theo dõi và chỉ đạo hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh xin đồng chí cho biết một số đánh giá về Tạp chí Xứ Thanh trong năm qua?
Đồng chí Đinh Viết Ba:
Tạp chí Xứ thanh là một trong bốn cơ quan báo chí chính thức của tỉnh. Lại là cơ quan báo chí có tính đặc thù riêng. Là tiếng nói của Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa là nơi đăng tải các sáng tác mới có chất lượng của các tác giả trong tỉnh và của các tác giả trong cả nước quan tâm đến Thanh Hóa góp phần làm phong phú thêm diện mạo VHNT của tỉnh nhà và khích lệ niềm say mê sáng tạo của các văn nghệ sỹ. Tạp chí tham gia hoạt động báo chí bằng đặc thù có tính chuyên sâu chuyên nghiệp đúng tôn chỉ mục đích của mình nhưng vẫn không ngoài nhiệm vụ chính là góp phần giữ vững định hướng chính trị giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc nâng cao dân trí củng cố niềm tin hoàn thiện con người.
Năm 2009 là năm ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tài chính tiền tệ và suy thoái kinh tế trên phạm vi toàn cầu tác động sâu sắc tạo ra những khó khăn thách thức rất to lớn không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn có tác động bất lợi nhiều mặt đối với đời sống xã hội nước ta. Thanh Hóa không nằm ngoài những tác động bất lợi đó. Nhưng với quyết tâm rất cao của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh Thanh Hóa đã đạt tăng trưởng kinh tế cao hơn hai lần bình quân chung cả nước (Thanh Hóa 10 8% cả nước 5 32%). Tình hình chính trị trật tự an toàn xã hội ổn định đời sống các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện. Trong những nỗ lực để có được thành tích chung đó có phần đóng góp không nhỏ của công tác tuyên truyền nói chung hoạt động báo chí xuất bản nói riêng. Các cơ quan báo chí tiếp tục có những tìm tòi đổi mới cả nội dung và hình thức thể hiện trách nhiệm chính trị rất cao phát huy tốt kết quả đạt được từ những năm trước khắc phục những khó khăn vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao.
Tạp chí Xứ Thanh năm 2009 mặc dù có nhiều khó khăn: Đội ngũ thiếu Ban Biên tập không được bổ sung kịp thời; kinh phí hoạt động còn hạn hẹp. Tuy nhiên Tạp chí đã vươn lên tiếp tục khẳng định uy tín trong hàng ngũ báo chí Văn nghệ các địa phương của cả nước. Bám sát tôn chỉ mục đích quán triệt đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng trực tiếp là Nghị quyết T.Ư5 (khóa VIII) và Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển VH-NT trong thời kỳ mới. Là tờ báo chuyên nghành có những bài viết chuyên sâu vừa bám sát các sự kiện thời sự chính trị của tỉnh vừa khai thác phản ánh có chiều sâu về vùng đất xứ Thanh - một vùng trầm tích văn hóa lịch sử định hướng lý tưởng thẩm mỹ tiến bộ hoàn thiện nhân cách con người theo khát vọng chân thiện mỹ. Hàng ngàn tác phẩm gồm: Truyện ngắn ký thơ lý luận - phê bình văn học nghệ thuật nghiên cứu văn hóa nhạc tranh ảnh... đã được đăng tải trên 12 số tạp chí trong năm; trong đó có nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại VHNT hưởng ứng cuộc vận động sáng tác quảng bá các tác phẩm báo chí - văn học nghệ thuật về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Cuộc thi thơ phát động trong hai năm 2007-2009 được đông đảo tác giả trong và ngoài tỉnh hưởng ứng được đánh giá cao. Tạp chí đã thực hiện tốt việc đẩy mạnh giao lưu với các cơ quan báo chí văn nghệ và các báo bạn trong cả nước góp phần củng cố và nâng cao chất lượng của Tạp chí.
Phóng viên: Thưa đồng chí hiện nay trong quá trình hội nhập toàn cầu tỉnh ta có những định hướng cơ bản gì cho hoạt động Văn học nghệ thuật Thanh Hóa nói chung và Tạp chí Xứ Thanh nói riêng trong năm 2010 và những năm tiếp theo?
Đồng chí Đinh Viết Ba:
Thanh Hóa là một vùng địa linh nhân kiệt là vùng đất văn hóa mang đậm bản sắc truyền thống Việt Nam. Trong tình hình toàn cầu hóa quốc tế hóa đất nước sẽ hội nhập sâu hơn cao hơn và toàn diện hơn Thanh Hóa cũng như nhiều địa phương trong cả nước đều đứng trước một mâu thuẫn cơ bản là mối quan hệ giữa nhu cầu hội nhập và phát triển với việc bảo tồn phát huy các giá trị truyền thống dân tộc. Vì vậy để giữ vững bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập hướng tới mục tiêu xây dựng nền VHNT Thanh Hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc rõ nét sắc thái xứ Thanh quan điểm của Tỉnh là: quán triệt sâu sắc mục tiêu quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị VHNT Thanh Hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn để sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao có tác dụng to lớn xây dựng con người đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân dân; chăm lo phát hiện bồi dưỡng và phát huy các tài năng VHNT tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập sáng tạo của văn nghệ sỹ những người có lòng yêu nước nồng nàn gắn bó máu thịt với nhân dân nêu cao trách nhiệm công dân sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị phụng sự quê hương và đất nước.
Năm 2010 năm cả nước cũng như trong tỉnh có nhiều sự kiện chính trị trọng đại và nhiều ngày kỷ niệm lớn: Năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI năm diễn ra Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; năm Đảng Nhà nước và Thủ đô Hà Nội phối hợp với một số địa phương - trong đó có Thanh Hóa tổ chức Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội; Kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng 55 năm thành lập Nước 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước năm Thanh Hóa kỷ niệm 45 năm Chiến thắng Hàm Rồng và kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng bộ tỉnh...
Năm 2010 một số cơ sở công nghiệp lớn của tỉnh sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động; các dự án lớn như: Nhiệt điện Lọc hóa dầu Nghi Sơn sẽ chính thức khởi công xây dựng nhà máy sức mạnh nội lực tiềm năng phát triển của tỉnh còn rất lớn... Đây là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động VHNT và báo chí; đồng thời nhiệm vụ truyên truyền cũng đặt ra hết sức nặng nề. Hội VHNT và Tạp chí Xứ Thanh cần chủ động lập kế hoạch chuẩn bị lực lượng phương tiện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Tạp chí Xứ thanh năm 2010 cũng như những năm tiếp theo phải luôn nâng cao chất lượng nội dung và nghệ thuật bám sát cuộc sống của nhân dân trên khắp các vùng miền phục vụ đắc lực - theo đặc trưng của VHNT - những nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa phát huy truyền thống văn hóa của quê hương khuyến khích những sáng tác tốt với sự đổi mới đúng hướng về nội dung và nghệ thuật để góp phần định hướng và kích thích sáng tác làm cho Văn nghệ Xứ Thanh ngày càng thêm bổ ích và hấp dẫn đối với các tầng lớp nhân dân ngày càng nâng cao vị thế của Văn nghệ Xứ Thanh trong cả nước
Phóng viên: Xin cảm ơn đồng chí. Chúc đồng chí một mùa xuân tươi vui hạnh phúc an khang thịnh vượng.






 KỶ NIỆM SÂU SẮC VỀ  NHỮNG LỜI DẠY
              CỦA BÁC HỒ
         
                                 Thiều Quang Toa



      Năm 1959 ngành văn hóa có một loạt trường nghệ thuật được thành lập. Trong đó có trường Múa Việt Nam.
 Bộ trưởng Bộ Văn hóa ông Hoàng Minh Giám vào Phủ Chủ tịch báo cáo hoạt động của bộ với Bác Hồ và trình bày dự kiến của bộ sẽ thành lập một số trường nghệ thuật trong đó có trường dạy múa. Bác hỏi ông Giám: Thế các chú định đặt tên trường là gì? Ông Giám trả lời: Thưa Bác Vụ Nghệ thuật đã họp và trình lên Bộ lấy tên là trường Vũ Việt Nam ạ.
Suy nghĩ một lát Bác xua tay vẻ không đồng tình Bác nói: Vũ là từ mượn từ tiếng Trung Quốc vũ tức là múa. Muốn nói theo Trung Quốc thì phải nói là: Việt Nam vũ đạo học hiệu mới đúng. Vũ đạo là nhảy múa. Chẳng nhẽ lại đặt tên là trường nhảy múa Việt Nam? Nên phải đặt tên làm sao cho người Việt Nam đọc lên ai cũng hiểu vậy nên đặt tên trường là trường múa Việt Nam. Lời dạy của Bác rất giản dị và đầy ý nghĩa. Tháng 10 năm 1959 trường khai giảng khóa học đầu tiên với tên trường là trường Múa Việt Nam. Năm 1961 tức là sau một năm học đầu tiên trường Múa xây dựng một chương trình cho học sinh thực hành và cũng là báo cáo kết quả sau một năm trường phấn đấu gồm các tiết mục:
Vũ kịch chúc thọ Bác Hồ. Kịch bản nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Biên đạo Thái Ly Âm nhạc Vĩnh Cát.
Vũ kịch dân tộc được mùa. Biên đạo Thái Ly Âm nhạc Xuân Hòa
Trích đoạn vũ kịch Nga: Suralie. Biên đạo là chuyên gia Nga bà Bờ- ru-nắc.
Âm nhạc cả hai chương trình do dàn nhạc giao hưởng Việt Nam thể hiện dưới sự chỉ huy của nhạc sĩ Vũ Lương. Nhân thành tích này trường được vinh dự đón Bác về thăm. Buổi sáng hôm Bác đến thăm mọi việc vẫn diễn ra bình thường nhưng sau tiết học đầu tiên ban giám hiệu cho người xuống từng lớp thông báo. Tất cả ăn mặc nguyên quần áo tập lên nhà tập một (nhà tập lớn kiêm hội trường) tập trung Bác Hồ đến thăm trường. Nghe được tin này từ thầy đến trò đều cuống cả lên vội vàng lên nhà tập một đón Bác. Cánh cửa ô tô mở ra từ sân trường Bác thoăn thoắt bước về nhà tập mọi người đều hô vang Bác Hồ muôn năm! Bác Hồ muôn năm! Niềm vui đến quá bất ngờ trong lòng ai cũng dâng trào một niềm sung sướng trào nước mắt. Vào đến hội trường Bác giơ tay ra hiệu và nói: Các cháu ngồi cả xuống sàn. Chúng tôi ngoan ngoãn vâng lời. Bắt tay Ban giám hiệu xong Bác niềm nở hỏi thăm chuyện học hành ăn ở những thuận lợi và khó khăn của trường Bác khuyên các cháu phải học tập giỏi để xứng đáng là chủ nhân của đất nước sau này xứng đáng là lớp học sinh nghệ thuật múa đầu tiên được đào tạo chính quy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Một học sinh tốt là phải vừa hồng vừa chuyên.
Bác giải thích chuyên là chuyên môn. Hồng là đạo đức mà muốn có đạo đức tốt sau này xây dựng đất nước phải chịu khó không chỉ học chuyên môn mà phải học chính trị nữa. Vậy trường ta có học chính trị không? Bác quay sang chú Hoàng Châu như ý hỏi. Cả hội trường đồng thanh: Thưa Bác có ạ!
Bác lại hỏi: Vậy cháu nào biết chính trị là gì nào? Cả hội trường hướng về Bác mà im phăng phắc bỗng chú Kỳ Thanh giơ tay xin nói (chú là trưởng phòng giáo vụ của trường).
Bác chỉ vào chú Kỳ Thanh gật đầu: Cháu nói đi.
Chú Kỳ Thanh trả lời: Thưa Bác chính trị là thống soái ạ!
Bác mỉm cười vui vẻ và chậm rãi nhắc lại chính trị... là thống soái. Cháu nào giải thích nữa? Đứng cạnh Bác chú Hoàng Châu vội trả lời. Thưa Bác chính trị là chìa khóa vàng ạ.
Vẫn nụ cười đôn hậu Bác nhắc lại. Chính trị là thống soái chính trị là chìa khóa vàng.
Thấy không khí có phần căng Bác nói.
- Thôi bây giờ đến Bác. Chính trị là chủ trương chính sách đường lối của Đảng và chính phủ. Học chính trị là các cháu học chủ trương đường lối chính sách của Đảng và chính phủ. Giải thích như vậy thì ai cũng nghe lọt và dễ hiểu phải không nào?
Thầy trò không ai bảo ai đều đồng thanh: Phải ạ! Rồi cũng vỗ tay theo Bác.
Bốn năm học tập kết thúc. Năm 1963 ra trường tôi được Bộ phân về Đoàn Ca múa Trung ương (nay là Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam). Về đoàn tôi lại có dịp nhiều lần được gặp Bác qua các lần vào Phủ Chủ tịch biểu diễn cho khách Chính phủ. Những năm đó năm nào Nhà nước ta cũng có nhiều đoàn khách nước ngoài sang làm việc đoàn nào sang cuối cùng cũng có văn công phục vụ.
Trong các đoàn nghệ thuật trung ương thì Đoàn ca múa trung ương và Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị là thường xuyên được thay nhau vào phục vụ khách. Biểu diễn nhỏ tính chất xalông thì trong Phủ Chủ tịch lớn thì sân khấu hội trường Ba Đình. Thường một tháng chúng tôi được vào Phủ Chủ tịch một lần đi theo lối cổng sau đường Bách Thảo vào thẳng nhà lớn. Đột xuất có khi một tháng hai lần. Tiết mục do đó không thay kịp theo như dân gian nói "Cũ ta mới người". Theo thông lệ ngoại giao mỗi khi nhận được công văn điều đi biểu diễn công văn ghi rõ tên đoàn khách do vậy tùy thuộc từng nước chương trình có một phần ba tiết mục của nước đó gọi là phần giao lưu hữu nghị. Bài vở do các đại sứ quán bộ phận tùy viên văn hóa cung cấp đoàn tập trước đến việc là lắp vào.
Thời kỳ này khách chủ yếu là 12 nước xã hội chủ nghĩa anh em còn tư bản và trung lập thì hạn hữu cũng do tiết mục của chương trình biểu diễn quá quen nên mỗi khi đoàn chúng tôi đến (đoàn ca múa nhân dân trung ương) Bác thường gọi vui là Đoàn Nón - Bầu - Ô - Lục - Sạp. Buổi lễ mở màn bao giờ cũng là múa Nón Thái (Hoa ban nở) của biên đạo   Minh Tiến. Tiếp theo là đàn Bầu do nghệ sĩ Nguyễn Văn Chương người quê Thọ Xuân Thanh Hóa khi đó được coi là số 1 Việt Nam. Tiếp theo là múa Ô (múa nữ Mèo cầm ô) biên đạo Minh Hiến rồi tốp nữ hát đánh đàn thập lục (gọi tắt là tốp nữ Thập Lục) với bài "Quê em" phát triển dân ca của phó giáo sư nhạc sĩ kéo ác cooc đê ông Xuân Tứ. Sau này tốp có bài thứ hai là bài "Quảng Bình quê ta ơi" của nhạc sĩ Hoàng Vân. Tốp nữ thập lục được vinh dự nhận danh hiệu thi đua là tổ lao động XHCN đầu tiên của đoàn - Cuối chương trình biểu diễn bao giờ cũng kết bằng điệu múa Sạp đông người nhất. Điệu múa do tập thể sáng tác sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Do vậy Bác rất dí dỏm và vui vẻ tặng cho đoàn là Đoàn Nón - Bầu - Ô - Lục - Sạp.
Thời đó. Biểu diễn xong về nhà ăn bồi dưỡng toàn đoàn do anh nuôi nấu (khá ngon) hôm phở hôm cháo gà tiêu chuẩn chung là 3 hào trừ vào tiền bồi dưỡng còn tiền bồi dưỡng tính đồng loạt không kể sô lô đơn ca hay tốp tập thể. Cứ ba tiết mục là được bồi dưỡng 1 đồng 2 hào có biểu diễn 4 5 tiết mục cũng chỉ có thế ấy vậy mà không hề thắc mắc ganh tỵ nhau. Đối với cánh nam trẻ chúng tôi nếu hôm nào có hai tiết mục thì phụ trách chuyên môn phân cho một công việc trong đêm diễn hoặc chiếu đèn than hoặc bê vác...  thì  cũng được coi là một tiết mục và cũng được 1đồng 2. Thời đó Hà Nội phở ngon nhất là phở gánh Phan Bội Châu cũng chỉ 4 hào còn là 3 hào một bát.
Mỗi khi vào Phủ Chủ tịch biểu diễn ngoài tiền bồi dưỡng của đoàn Bác còn cho mỗi người phục vụ một xuất bồi dưỡng là 4 hào trị giá bằng một cân gạo được quy ra vật chất là một gói kẹo vừng do hậu cần của phủ chế biến. Mỗi lần biểu diễn khách về hết còn lại là diễn viên phục vụ và Bác. Theo thông lệ chúng tôi xếp hàng ngang ngồi xuống để Bác phát quà. Ông Vũ Kỳ thư ký của Bác bê một chiếc thúng trong đựng các gói kẹo vừng đi theo sau Bác Bác quay lại lấy từng gói kẹo chia đến tận tay từng người một có lẽ Bác rất hiểu tâm lý chúng tôi cháu nào cũng muốn nhận được quà từ tay Bác. Một lần chia hết người ngồi mà kẹo trong thúng vẫn còn Bác biết ngay còn người vắng mặt (vì danh sách gửi vào bao nhiêu thì phục vụ chuẩn bị bấy nhiêu xuất) Bác vội hỏi? Còn cháu nào chưa có mặt. Ông Nguyễn Quang Giáp phó đoàn kiêm bí thư vội thưa.
- Còn mấy đồng chí làm hậu đài
Bác gặng hỏi: Cái gì? Tưởng mình thưa còn thiếu ông Quang Giáp thưa: Thưa Bác còn mấy đồng chí hậu đài đương dọn đồ. Bác vẫn nghiêng tai hỏi như chưa rõ. Cái gì? Chợt hiểu ra ông Giáp vội cải chính: Thưa Bác còn mấy đồng chí đương dọn dẹp sau sân khấu ạ.
Bác à... một tiếng thật thoải mái rồi Bác nói tiếp làm sau sân khấu. Vậy là chúng ta có cách nói của chúng ta việc gì lại phải mượn tiếng nước ngoài. Hậu đài là chỉ sau sân khấu của tiếng Trung Quốc dịch ra. Từ nay các cháu cứ dùng từ nước mình có ai cũng hiểu. Tiện tay Bác vỗ vào vai ông Giáp lúc đó tai đương đỏ bừng. Bác nở nụ cười đôn hậu. Ra về Bác tươi cười vẫy tay như truyền cho chúng tôi hơi ấm của một tình thương bao la.
Một lần khác sau khi được Bác chia quà và chụp ảnh chung với Bác trước khi chia tay Bác hỏi chuyện chúng tôi: ở đơn vị các cháu có đoàn kết không. Thưa Bác có ạ. Đúng! Bác nói đoàn kết là sức mạnh nhưng muốn giữ vững đoàn kết phải liên tục phê bình và tự phê để mình để bạn biết sửa lỗi nhỏ không để thành khuyết điểm lớn nhưng phê bình cũng phải có phương pháp mới có hiệu quả. Nếu bạn có mắc ba khuyết điểm mình phê bình hai bạn sửa được một là tốt chứ hăng hái quá nói cả ba khuyết điểm bạn tự ti thấy mình xấu quá hoặc vì quá tự ái mà không sửa chữa điểm nào thì phê bình không có kết quả.
Bác ân cần dạy phê bình và được phê bình cũng như mình có kẹo cho bạn ăn kẹo cho bạn từng cái một thì thấy kẹo ngọt nhưng cầm cả nắm kẹo đưa vào đầy miệng bạn cho hóc bạn từ chối thì từ điều làm tốt thành không tốt. Bác hỏi có phải thế không nào? Chúng tôi đồng thanh: Thưa Bác đúng ạ.
Kỷ niệm về những lời dạy của Bác mãi ấm áp trong mỗi chúng tôi để suốt đời chúng tôi học tập sửa mình.                   T.Q.T








HOÀNG LỆ KHA - NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN

       
                                 Nguyễn Thiện Phùng



      Cuối năm 1959 và đầu năm 1960 phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên và các tổ chức quần chúng cả hai miền Nam - Bắc đã diễn ra rầm rộ đòi chế độ độc tài Ngô Đình Diệm phải ngừng và hủy bỏ bản án tử hình Hoàng Lệ Kha. Nhưng bất chấp dư luận tiến bộ ngày 12 tháng 3 năm 1960 chính quyền Sài Gòn đã hành quyết Hoàng Lệ Kha người chiến sĩ cộng sản Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Tây Ninh bằng máy chém theo luật 10/59 vào lúc 5 giờ sáng tại Trảng Lớn huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh.
Ông Hoàng Lệ Kha tên thật là Hoàng Lệ Cẩn có bí danh nữa là Nguyễn Văn Tòng sinh tháng 11 năm Đinh Tỵ (1917) tại thôn Trang Các tổng Ngọ Xá nay là xã Hà Phong huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng có truyền thống được học hành chu đáo. Cha ông là cụ Hoàng Lệ Châu thời Pháp thuộc làm Đội Trạm (Trạm trưởng Bưu điện). Anh cả ông Kha là Hoàng Lệ Thường một người học rộng nên đã từng làm đốc học (hiệu trưởng) nhiều vùng ở Thanh Hóa Nghệ An. Năm 1952 ông Hoàng Lệ Thường đã làm Trưởng ban Bình dân học vụ tỉnh Thanh Hóa. Trong một lần ra vùng Tề (huyện Nga Sơn) ông đã bị chúng giết hại. Một người anh nữa liền với ông Kha là liệt sĩ hy sinh tại Khánh Hòa.
Thuở nhỏ ông Hoàng Lệ Kha được học và tốt nghiệp tiểu học phủ Hà Trung năm 1932. Năm 1933 ông trúng tuyển vào trường Bách nghệ Hà Đông (Quận Hà Đông - Hà Nội hiện nay). Trường có tên Pháp là E cole-Pratme. Học trong trường ông Hoàng Lệ Kha luôn tích cực tham gia phong trào hoạt động yêu nước trong học sinh sinh viên. Năm 1936 ông được chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động bí mật trong nhà trường kết nạp vào Đảng. Sau khi tốt nghiệp ông ra làm việc ở sở Caiđát (Địa chính) tỉnh Hà Đông. Năm 1939 thế chiến thứ hai bùng nổ mặt trận bình dân ở Pháp chuyển biến tốt có lợi cho cách mạng Việt Nam ông Hoàng Lệ Kha được tổ chức Đảng bí mật chuyển vào Nam bộ.
Vào Nam lúc đầu ông vẫn chủ yếu hoạt động trong các tổ chức sinh viên học sinh và Đoàn Thanh niên cứu quốc Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Từ 1946 đến 1950 ông lần lượt giữ các chức vụ: Tỉnh đội trưởng Dân quân Trưởng ty Thông tin Trưởng ty Kinh tế Canh nông Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Gia Định.
Sau Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 ông được Đảng và Bác Hồ giao cho tiếp tục ở lại miền Nam cùng nhân dân miền Nam và cả nước tổ chức đấu tranh đòi chính quyền thực dân Pháp thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản trong Hiệp định Giơ ne vơ hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất tổ quốc (theo hiệp định là ngày 20-7-1956).
ở lại miền Nam ông Hoàng Lệ Kha tiếp tục được giữ các chức vụ: ủy viên ủy ban kháng chiến tỉnh Gia Định Quận ủy quận Châu Thành tỉnh Tây Ninh Tỉnh ủy viên phụ trách thị xã Tây Ninh ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh và năm 1956 (khi ông 39 tuổi) ông Hoàng Lệ Kha làm Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh. Hoạt động trong điều kiện khó khăn và luôn bị chúng vây ráp lùng sục bắt bớ và giết chóc nhất là từ khi Pháp hết vai trò lịch sử Mỹ thế chân hà hơi tiếp sức cho chính quyền ngụy tay sai ở miền Nam. Chúng phá bỏ hiệp định Giơ ne vơ và ra sức đàn áp phong trào đấu tranh thủ tiêu thô bạo và bắt bớ vô cớ nhiều cán bộ đảng viên và những người dân yêu nước. Chúng cho ra đời luật 10/59 (Ngô Đình Diệm ký ngày 6 tháng 5 năm 1959) cứ thế lê máy chém và thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng.
Ngày 5 tháng 8 năm 1959 (tức ngày 2 tháng 7 Kỷ Hợi) Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh Hoàng Lệ Kha đến dự hội nghị Thị xã ủy. Tại cuộc họp này ông đi sâu phân tích diễn biến tình hình âm mưu thâm độc của Mỹ - Ngụy đẩy mạnh "Tố cộng" "Diệt cộng" ông chỉ đạo phổ biến một số chủ trương cấp bách vận động nhân dân chống lại âm mưu thủ đoạn đen tối của chúng. Bọn mật vụ của Ngụy quyền tỉnh Tây Ninh đứng đầu là tên Nguyễn Văn Trúc một tên mật báo đặc biệt nhà nghề trực tiếp theo dõi bao vây nơi họp với quyết tâm của chúng bắt sống bằng được "tên Việt Cộng nguy hiểm" Hoàng Lệ Kha.
Trước nguy cơ sống còn của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Thị xã ủy ông ra lệnh: "Tất cả rút lui bảo toàn lực lượng". Riêng Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Lệ Kha để bảo vệ đồng chí của mình nên ông vừa chạy vừa hô xung phong để thu hút địch. Bọn chúng trông rõ ông nên đã tập trung bao vây. Ông đã chống trả quyết liệt để kéo dài thời gian cho đồng chí đồng đội vượt ra khỏi vòng nguy hiểm. Cuối cùng Hoàng Lệ Kha đã sa vào tay giặc.
Mỹ - Diệm đã tra tấn đánh đập ông thậm tệ rồi lại chuyển sang mua chuộc dụ dỗ nhưng đều vô hiệu. Ngày 12 tháng 3 năm 1960 (tức ngày rằm tháng 2) chính quyền độc tài gia đình trị Diệm - Nhu đưa ông ra xử chém.
Sau khi ông qua đời phong trào đấu tranh lên án chế độ độc tài khát máu Ngô Đình Diệm trở nên sôi sục buộc Diệm phải tuyên bố từ bỏ luật 10/59 chiếc máy chém giết hại ông Kha là người cuối cùng hiện đang trưng bày ở Nhà trưng bày chứng tích chiến tranh (số 28 Võ Văn Tần - thành phố Hồ Chí Minh). Như vậy ông Hoàng Lệ Kha là người cuối cùng chịu cái luật hà khắc ngang thời trung cổ mà chế độ Diệm - Nhu tái thiết hòng làm cho "Cộng sản phải khiếp sợ". Mười một tháng chúng lê máy khắp miền Nam để thị uy như một con ngáo ộp hăm dọa răn đe nhưng chúng không ngăn cản được cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.
Hình ảnh ông Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh Hoàng Lệ Kha hiên ngang trên đoạn đầu đài đã làm cho quân thù khiếp sợ.
Tên đao phủ Phan Văn Phối (tức Tư Phối) bấm nút chiếc máy chém mấy ngày sau bị "hồn" ông Hoàng Lệ Kha ám mãi hắn có lúc khóc rống lên rồi tự mò vào các chùa chắp tay xám hối và từ bỏ luôn cái nghề mà theo hắn "mạt hạng và thất đức nhất".
Bà vợ sau của ông Hoàng Lệ Kha tên là Nguyễn Thị Nghi hiện 83 tuổi đang ở số nhà 342 Phan Văn Trị - Quận Bình Thạnh. Bà Nghi là người Nam Bộ (Bà vợ trước của ông Kha ngoài Bắc năm 1939 ông vào miền Nam không có điều kiện về Bắc ông đã viết thư về khuyên bà nên đi lấy chồng trong bức thư gửi cho ông Hoàng Lệ Vấn người cháu gọi ông bằng chú ruột ông viết: "...Về phần thím con thì con gặp thím nói với thím là chú rất thông cảm đoạn đường của thím đã qua và chú rất cảm mến và biết ơn lòng chung thủy của thím con...". Như vậy từ năm 1939 đến 1958 bà vợ cả Hoàng Lệ Kha ở quê vẫn đợi vẫn một lòng chung thủy son sắt chờ ông mãi đến khi có bức thư của ông gửi cho người cháu ruột ngày 1 tháng 6 năm 1958 bà mới đi lấy chồng theo lời khuyên đầy tình nghĩa của ông. Trong lúc ở Nam bộ tổ chức đã đồng ý cho ông được kết hôn với bà Nguyễn Thị Nghi vào đầu năm 1950 khi đó ông 33 tuổi bà Nghi 23 tuổi). Bà Nguyễn Thị Nghi kể.
"...Cuối năm 1949 đầu năm 1950 Gia Định và Tây Ninh hợp lại thành tỉnh Gia Ninh anh Kha được bổ sung vào Tỉnh ủy Gia Ninh phụ trách luôn Bí thư huyện Châu Thành (1951-1952) rồi Bí thư huyện Dương Minh Châu (1952-1954). Năm 1951 tôi có thai tổ chức cho tôi dời chiến khu về với ba má tôi ở Sài Gòn kết hợp mua các loại văn phòng phẩm gửi vào cho cơ quan hồi đó tôi làm thư ký đánh máy ty Thông tin Gia Định. Có kẻ xấu khai báo việc của tôi với địch chúng bất ngờ ập đến nhà tôi bắt tôi tra khảo đánh đập chúng dùng cả điện dí vào những phần đặc biệt kín đáo trên cơ thể tôi. Tôi không khai và cũng may tôi không bị văng thai. Chúng giải tôi về bốt Catina. Ba má tôi kịp lo lót chúng thả tôi về. Mấy ngày sau tôi sinh hai thằng liền theo anh Kha đặt tên cho các cháu là Hoàng Lệ Hùng và Hoàng Lệ Hổ... Sau hiệp định Giơ ne vơ Gia Ninh lại chia tách. Chúng tôi được biên chế ở Tây Ninh. Thời kỳ đó tôi lại về chiến khu công tác như cũ còn anh Kha bận việc mở đường cho các anh em đồng chí mình đi tập kết ra Bắc qua đường Phụng Hiệp (Giá Rai - Rạch Giá). Năm 1955 tôi sinh Hoàng Lệ Kiếm (cháu gái). Từ năm 1955 đến 1956 thỉnh thoảng anh Kha mới về Sài Gòn báo cáo làm việc với ủy ban quốc tế (gồm: miền Bắc miền Nam Ba Lan Canađa) tình hình vi phạm các điều khoản hiệp định Giơ ne vơ của chính quyền Diệm. ít khi anh về nhà anh thường liên hệ nhắn người dùm để tôi đến gặp anh hoặc ở Sài Gòn hoặc ở Tây Ninh năm 1957 tôi sinh Hoàng Lệ Dũng (Dũng đã mất năm 1993). Những năm sau tình hình ngày càng căng thẳng vợ chồng ít được gặp nhau. Lần cuối cùng tôi đi Tây Ninh thăm anh vào tháng 6 năm 1959 anh có vẻ rất nhớ con anh nói: "Thăm anh đừng mua gì hết mang một đứa đi theo là anh mừng".
Thế rồi tháng 8 năm 1959 anh bị chúng bắt chúng đưa anh ra tòa quân sự đặc biệt hễ tòa tuyên xong là thi hành chứ không được kháng án. Nhưng vì dư luận kịch liệt phản đối đặc biệt là ở miền Bắc lúc đó và có sự can thiệp của ủy ban quốc tế nên chúng tạm dừng việc giết anh Kha. Chúng giải anh về khám Chí Hòa.
Tôi nghe lời khuyên của anh Mười Đôi (tức Mười Lý. Sau ngày thống nhất anh Mười Lý là Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch tỉnh Tây Ninh đại biểu Quốc hội). Anh Mười Lý lúc đó bảo tôi làm đơn xin thăm nuôi anh Kha. Tôi đến tòa án quân sự đặc biệt ở Tân Sơn Nhất gần trụ sở của Quân khu VII bây giờ viên Chánh án là Nguyễn Văn Thọ phê vào đơn "Chỉ được nuôi chứ không được thăm". Tôi tiếp tục chạy nhiều cửa để vừa đấu tranh vừa lo lót mục tiêu là cứu chồng. Thậm chí tôi làm đơn trực tiếp gửi cho Ngô Đình Diệm (gửi qua bưu điện). Nghĩ đến lời tôi đã hứa với anh: "Mình đã hoạt động là một chân đã ở trong tù rồi có thể phải chấp nhận hy sinh đến tính mạng... Nếu phải hy sinh thì.. .đàn bà có thể ở vậy thờ chồng nuôi con còn đàn ông bước tiếp bước nữa chắc con khổ lắm..."
Trước khi anh Kha bị xử tử trong số thư gửi cho anh tôi hứa với anh rằng anh có mệnh hệ gì tôi sẽ ở vậy nuôi con đến trưởng thành để khi từ trần xuống suối vàng gặp anh tôi sẽ không xấu hổ. Nghe nói anh xúc động lắm còn tôi đã sống như vậy để thực hiện lời hứa của mình từ năm tôi 31 tuổi đến giờ là bà lão 83.
Chúng giam anh Kha ở Khám Chí Hoà rất nghiêm ngặt nhưng vì cả nhà tôi lo lót nên mọi thư từ giữa anh và tôi vẫn được thường xuyên. Được thể tôi còn gửi quần áo thêm vào cho anh.
Tôi gặp luật sư Đỗ Mạnh Quát người được chúng phân công bào chữa cho Hoàng Lệ Kha nhưng ông Quát cho biết anh Kha đã khước từ tất cả vì anh coi đó chỉ là bức màn che mắt. Ông Quát nói với tôi: "Tôi nói thực với bà ông Kha là người rất thông minh khí phách trượng phu ăn nói lưu loát có thể ông Kha tự bào chữa được cho mình nhưng...". Ông Quát cười rồi buông thõng "Nhưng phải tội ông ấy rất cứng đầu".
Lại nói sau khi phiên tòa xử anh kết thúc nhiều tờ báo như: Buổi sáng Lẽ sống Sài Gòn mới Tiếng chuông... Đặc biệt tờ Buổi sáng do Trần Tín Quốc làm chủ bút có đăng bài của một nữ phóng viên sắc sảo trong giới báo chí hồi đó là Kim Mai: "... Con người rất thông minh thẳng thắn và rất bình tĩnh suốt phiên xử không lần nào có từ ngữ nào xin sự khoan hồng của nơi tòa...".
Trong lúc chờ ra pháp trường anh viết thư kể cho tôi là chúng cho người bí mật dụ dỗ anh. Chúng bảo nếu anh đầu hàng thì chức vụ bên cộng sản cấp nào chúng sẽ thăng lên hai cấp liền chúng sẽ cấp cho nhà và xe hơi... Nhưng anh đã khinh bỉ trước những đòn cũ rích mà bọn chúng vẫn thường vừa đấm vừa xoa.
Hoàng Lệ Kha là nhà hoạt động cách mạng sôi nổi ngay từ khi còn học trong trường. Mười chín tuổi ông vào Đảng Cộng sản 22 tuổi dời quê hương vào Nam theo sự phân công của Đảng. Từ năm 1939 đến 1960 là thời kỳ ông được giao nhiều nhiệm vụ trọng trách nhất và cũng gặp nhiều khó khăn gian khổ nguy hiểm nhất. Hoàng Lệ Kha luôn tỏ rõ lòng trung thành với Tổ quốc với nhân dân với Đảng. Theo bà Nguyễn Thị Nghi vợ ông các cán bộ lão thành cách mạng tiền khởi nghĩa những người cùng thời với ông có xác nhận bằng bút tích và kể lại: Lúc còn ở Thanh Hóa - Hà Nội ông Kha hay đi lại với ông Lê Hữu Kiều (lão thành cách mạng nhà hoạt động chính trị có tiếng) là anh ruột ông Lê Hữu Khải nguyên Thường vụ tỉnh ủy Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hóa nhiều khóa liền.
Ông Trần Hữu Hàn (tức Văn Hà) nguyên chỉ huy phó bộ đội du kích Lê Hồng Phong chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Thống Nhất cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh Gia Định kiêm trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Định rất biết rõ về ông Hoàng Lệ Kha: Thời hoạt động phong trào hướng đạo ông Kha viết vở kịch Đêm Lam Sơn (1943) và chính ông tự vào vai Nguyễn Trãi rất thành công.
Tính ông thương người thích trẻ con. Một lần ông đi công tác có cần vụ đi theo gặp một gia đình ở nông thôn vùng rừng thấy 3 - 4 đứa trẻ nhếch nhác thèm ăn ông hỏi thì biết bố mẹ chúng đi làm rẫy cả còn ít gạo ở ruột tượng mang theo ông Kha đổ ra rá vo gạo bảo người cần vụ nấu cơm rồi cho mấy đứa trẻ ăn hôm đó cả ông và người cần vụ bị đói. Tình cảm như vậy nhưng tính ông dứt khoát mạnh mẽ ngay đặt tên cho con cái đều do ông đặt cả gái trai đều mang tên rất hùng rất mạnh như: Hoàng Lệ Dần (nữ) Hoàng Lệ Hùng Hoàng Lệ Hổ Hoàng Lệ Kiếm (nữ) Hoàng Lệ Dũng.
Có chuyện: Một đồng chí cán bộ cấp dưới trước khi đi công tác mới thực thà nói với ông Kha "Anh Tư ơi! bữa đó về gặp địch rượt đuổi em đã bị mất hết quần áo tấm đắp". Ông Kha thương người cán bộ cấp dưới liền đưa quần áo và tấm chăn mỏng của mình cho người cán bộ người cán bộ từ chối ông nói: "Tôi sắm sau chú đi đến đồng bào thiếu quá thì hoàn thành nhiệm vụ thế nào". Thế rồi ông phải tự khắc phục thiếu thốn hàng vài tháng vì khi đó cán bộ bộ đội hoạt động ở miền Đông Nam bộ là chịu khổ nhiều.
Ba mươi bảy năm sau ngày ông Hoàng Lệ Kha hiên ngang bước lên máy chém của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm ông Hoàng Lệ Kha được Đảng và Nhà nước truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (quyết định số 1305 KT/CTN do Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký  ngày 23 tháng 7 năm 1997).
ở miền Nam từ ngày thống nhất đất nước có nhiều địa phương nơi ông Hoàng Lệ Kha đã từng hoạt động trong những năm tháng nằm gai nếm mật đặc biệt tỉnh Tây Ninh nhân dân ở đây đã coi Hoàng Lệ Kha như người con thực sự của quê hương tên của ông được đặt cho đường phố bệnh viện trường học nhà in... Tên ông được nhắc thường xuyên trong cuộc sống sinh hoạt hội nghị đại hội... Cảm động nhất là gặp các thế hệ trẻ ở Tây Ninh hôm nay họ phần nhiều biết đến sự tích anh hùng Hoàng Lệ Kha. Khu tưởng niệm Hoàng Lệ Kha nơi ông hiên ngang trước máy chém quân thù được xây dựng trong một khuôn viên rất trang trọng. Vượt ra ngoài tỉnh Tây Ninh ở huyện Lấp Bò nơi ráp ranh hai tỉnh Đồng Tháp - Cần Thơ cũng có đài tưởng niệm Hoàng Lệ Kha với bức tượng bán thân cỡ lớn bằng xi măng cốt thép đằng sau tượng là tấm phù điêu vững trãi uy nghi.
Trở lại làng Trang Các xã Hà Phong huyện Hà Trung nơi ông sinh ra và những năm ông theo học ở trường tiểu học phủ Hà Trung nay đã khác nhiều lắm cái nghèo đói triền miên cảnh xơ xác tiêu điều đã trở về thời dĩ vãng xa xưa chỉ nhắc lại để rồi mà nhớ mà thương mà rồi từ đấy mới thấy sức vươn lên nhất là từ những năm đổi mới những chủ trương đường lối của Đảng chắp cánh cho nông nghiệp nông thôn nông dân cứ thế mà vươn ra cả chiều rộng chiều dài. Hà Phong nay cũng trên đà tìm cái ngon mà ăn cái đẹp mà mặc đồng ruộng hai vụ ăn chắc trường học nhà văn hóa trạm y tế công sở làng xã nhiều nhà trong dân cũng cứ tầng hóa mà vươn ra. Các thế hệ con em xã Hà Phong lần lượt trưởng thành: Có cán bộ trung cao cấp của Đảng và Nhà nước ở các cấp cán bộ khoa học quản lý giáo dục văn hóa quân đội v.v... Nhiều tấm gương cá nhân và các gia đình nông dân sản xuất giỏi.
Năm 1991 thể theo nguyện vọng của nhân dân và Đảng bộ huyện Hà Trung trường trung học phổ thông Trung Sơn được đổi tên thành trường Trung học phổ thông Hoàng Lệ Kha và được di dời từ xã Hà Toại lên thị trấn. Trường hiện tại có 85 thầy cô giáo và cán bộ. Nhà trường luôn có khoảng từ 1600 đến 1800 học sinh. Năm học 2007 - 2008 theo chủ trương của ngành giáo dục tổ chức kỳ thi tốt nghiệp chặt chẽ nhất thì trường Hoàng Lệ Kha vẫn đạt 93% học sinh đỗ tốt nghiệp và có trên 55% đỗ vào các trường đại học cao đẳng. Nhà trường có tới 79 giải cấp tỉnh ở các môn học có giải quốc gia về vật lý.
Tôi xem bút tích bức thư của bác Kha viết cho người cháu đã trên 50 năm mà nhà trường sưu tầm lại được bản phô tô. Thời điểm đó cách mạng ở miền Nam gặp vô vàn khó khăn luôn bị kẻ thù lùng sục để bắt bớ giết chóc thế mà bác Kha viết thư dặn người cháu là: "...Chú ở đây cần sách báo ở miền Bắc mấy con mua xem rồi thì kiếm cách gởi vào cho chú có thứ gì cho thứ nấy nhất là những loại cho nghiên cứu học tập và một số tiểu thuyết cần thiết để luân chuyển trong nhân dân xem như: Nhật ký trong tù của Bác Vượt Côn Đảo Bà mẹ của Ma ri quy ri... gởi lần lần đừng gởi nhiều một lúc...".
Nửa thế kỷ đã qua tấm gương người cộng sản người Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Tây Ninh quê ở Hà Trung - Thanh Hóa người anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vẫn giữ mãi giá trị nguyên vẹn cho thế hệ hôm nay và mai sau.
                                               N.T.P
 


More...

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 45 NĂM CHIẾN THẮNG HÀM RỒNG (3-4/4/1965 - 3-4/4/2010)

By Văn Nghệ Xứ Thanh

LÊ XUÂN GIANG


 

HÀM RỒNG - CÂY CẦU HUYỀN THOẠI

(Tiếp theo kỳ trước)


Câu Hàm Rồng trong những năm chống mỹ

V. Hàm Rồng trong Chiến dịch 21 22 23 tháng 9 năm 1966.

Mãi sau này trong các bản tổng kết chiến tranh người ta mới gọi đợt đánh phá có quy mô lớn của máy bay Hải quân Mỹ vào Hàm Rồng trong ba ngày 21 22 23 tháng 9 năm 1966 là một Chiến dịch. Vì đợt đánh phá này giặc Mỹ chuẩn bị rất kỹ càng và có hẳn một kế hoạch tác chiến hẳn hoi. Theo kế hoạch tác chiến này Hải quân Mỹ huy động trên 80% lực lượng máy bay cường kích tấn công khu vực Hàm Rồng liên tục trong ba ngày liền. Mục tiêu ném bom của chúng cũng không chỉ là cầu Hàm Rồng mà chúng còn công kích các mục tiêu khác như Cầu Tào Nhà máy Điện các trận địa pháo v.v... Có nghĩa là trên diện tích khoảng 2 kilômét vuông nằm ở hai bên mố cầu Hàm Rồng có mục tiêu nào giặc Mỹ đều oanh tạc hết. Chúng biến khu vực Hàm Rồng thành một bãi trống như máy bay B52 rải thảm.

Thủ đoạn đánh phá của chúng cũng hết sức xảo quyệt. Chúng huy động một đợt đánh phá từ 30 đến 40 máy bay cường kích bay vào khu vực Hàm Rồng cùng một lúc theo đội hình mà chúng gọi là Lá rụng nhiều tầng; có nghĩa một tốp dày đặc bay nhiều tầng nhiều lớp khiến đối phương không biết nên bắn vào chiếc nào.

Thời gian đánh từ trận này đến trận khác chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ để đối phương chưa giải quyết xong hậu quả của trận trước đã phải đối phó với trận sau. Trong mỗi trận công kích giặc Mỹ dành trên 50% số máy bay tham chiến đánh vào các trận địa pháo trước rồi mới bổ nhào đánh cầu.

Cách đánh theo chiến thuật Lá rụng nhiều tầng chỉ có máy bay của hải quân Mỹ mới sử dụng. Bản chất của chiến thuật này là việc cơ động lắt léo trên không. Chúng gọi cách công kích này là chiến thuật cơ động tổng hợp gồm cả độ cao hướng và đôi khi cả tốc độ. Chính vì vậy khi vào tiếp cận mục tiêu máy bay của hải quân Mỹ luồn lách loạn xạ cả lên. Tư lệnh Phùng Thế Tài trong một lần quan sát bọn Hải quân vào công kích Hàm Rồng đã thốt lên: "Máy bay của chúng nhảy như tôm tươi".

Ngày 21 tháng 9 năm 1966 địch đánh 8 trận lớn dồn dập từ 7 giờ sáng đến ba giờ chiều không kể những trận chúng cho máy bay vào trinh sát kết quả.

Ngày đầu gặp thủ đoạn công kích mới của kẻ địch pháo cao xạ còn lúng túng. Các trận địa pháo mạnh ai nấy bắn không tập trung được lực lượng để tiêu diệt địch. Nhiều trận địa pháo của ta bị địch công kích bằng bom sát thương bộ đội hy sinh và bị thương khá nhiều. Có khẩu đội máu chảy lênh láng trên mâm pháo.

Để đối phó với âm mưu mới của kẻ thù đặc biệt để đánh bại chiến thuật Lá rung nhiều tầng của Hải quân Mỹ ngay đêm 21-9-1966 lực lượng cao xạ ở Hàm Rồng được tăng cường. Số đại đội pháo từ 100 ly 57 ly đến 37 ly đã lên tới gần 30 đơn vị. Đó là chưa kể các đơn vị 14 5 ly và 12 ly 7 của địa phương đón lõng địch trên các đỉnh núi. Đây là thời kỳ hỏa lực của Hàm Rồng được tăng cường gấp ba lần lúc bình thường.

Ban chỉ huy trung đoàn chia hỏa lực thành ba cụm mội cụm án ngữ một hướng công kích của địch.

ở mỗi cụm trung đoàn bố trí đủ ba tầm hỏa lực: Tầm cao tầm trung và tầm thấp. Mỗi loại pháo còn được phân công đánh vào các thời điểm khác nhau pháo trung cao chỉ bắn khi chúng mới tiếp cận tới vòng hỏa lực chiếm lĩnh độ cao để bổ nhào. Pháo 57 bắn khi giặc đã bổ nhào chuẩn bị cắt bom. Các loại pháo khác như 37 và 14 5 ly bắn khi chúng bắt đầu cắt bom chuẩn bị ngoặt ra. Đánh vào thời điểm ấy giặc lái phải cơ động để tránh đạn vì thế bom chúng ném ra cũng không thể trúng vào cầu được. Với lối đánh dũng mãnh đối mặt với kẻ thù như vậy nên trong hai ngày 22 và 23 tháng 9 năm 1966 giặc Mỹ huy động tới 360 lần chiếc máy bay công kích liên tục nhưng cầu Hàm Rồng vẫn được bảo vệ an toàn.

Sau trận đánh bọn phi công Mỹ xác nhận: Khi máy bay bổ nhào ném bom hỏa lực mặt đất bắn đối đầu rất mãnh liệt. Lưới lửa 57 và 37 dày đặc ở khu vực Hàm Rồng làm cho máy bay phải cơ động nhiều quá khó ngắm mục tiêu đôi khi không nhìn rõ mục tiêu.

Trong ba ngày 21 22 23 tháng 9 năm 1966 Bộ đội Hàm Rồng đã chiến đấu liên tục bền bỉ đập tan chiến thuật công kích Lá rụng nhiều tầng với quy mô lớn của Hải quân Mỹ bắn rơi 8 máy bay bảo vệ cầu Hàm Rồng an toàn.

Quân và dân Hàm Rồng gọi ba ngày 21 22 23 tháng 9 năm 1966 là một Chiến dịch. Trong những ngày Chiến dịch ấy quân và dân Hàm Rồng không quản hy sinh gian khổ ngày chiến đấu đêm cơ động đào cộng sự kéo pháo vào trận địa rầm rập khắp từ bờ Bắc sang bờ Nam.

Những ngày chiến đấu gian khổ hào hùng của Chiến dịch 21 22 23 tháng 9 năm 1966 còn để lại trong ký ức người Hàm Rồng nhiều kỷ niệm khó quên.

VI. Hàm Rồng bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay Mỹ thứ 2000 trên miền Bắc.

Đến tháng 5 năm 1967 cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân của giặc Mỹ đã leo thang ra đến Hà Nội và Hải Phòng. Số máy bay Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc đang nhích dần tới con số 2000. Như đã thành lệ khi số máy bay Mỹ bị bắn rơi gần tới chiếc chẵn trăm chẵn nghìn ở khắp các đơn vị lại rộ lên phong trào thi đua bắn rơi chiếc máy bay chẵn đó. Với chiếc thứ 2000 trên miền Bắc này cũng vậy. Gần như cả nước hàng ngày dõi theo tin thắng trận trên đài tiếng nói Việt Nam để đếm từng chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi.

Ngày 5-6-1967 trời Hàm Rồng dày đặc những đám mây bay lang thang theo chiều gió. Nhiều chỗ mây như vỡ ra để lộ một khoảng trống bầu trời xanh biếc cao vời vợi. Bộ đội Hàm Rồng đã quen với cảnh: "Nắng thì bổ nhào mưa rào thì tọa độ". Nhưng ngày 5-6-1967 này thời tiết không nắng cũng không mưa rào nên cả buổi sáng kẻ địch im hơi lặng tiếng. Đến 11 giờ trưa tiếng kẻng báo động rộ lên. Nhìn lên bầu trời chỉ toàn thấy những đám mây xám xịt. Bỗng từ một khoảng trời như vỡ ra của một tảng màu đen một chiếc F 84 trắng xuất hiện phơi mình trắng hếu trước mặt các pháo thủ. Tên F 80 này bay từ hướng Sầm Sơn theo dọc sông Mã lẻn vào trinh sát cầu Hàm Rồng. Không ngờ khi y vừa ló ra khỏi đám mây định hạ thấp độ cao để chụp ảnh cầu thì lập tức bị các nòng pháo ở khắp các trận địa Hàm Rồng đồng loạt nổ súng. Chiếc F 84 bốc cháy ngay trên đỉnh Cầu Tào. Cả một khối lửa khổng lồ lao xuống cánh đồng xã Hoằng Quỳ tên giặc lái máy còn kịp bấm dù nhảy dù ra.

Gió đẩy chiếc dù của tên giặc lái về phía cây đa bên cạnh lò gạch của hợp tác xã Hoằng Quỳ. Ông Chấn và Ông Chân là hai anh em ruột bỏ việc đúc gạch chạy ào tới bắt tên giặc lái. ở thửa ruộng cạnh đó chị Được chị Nhung đang gặt lúa cũng vác đòn gánh chạy đến hỗ trợ. Anh Quế công nhân đường sắt đang trên đường đi làm thấy phi công nhảy dù cũng chạy vội tới. Chỉ trong chớp mắt tên giặc lái đã được tóm gọn.

Đó là tên giặc lái trên chiếc máy bay mang số hiệu 992 USA được bọn Hải quân Mỹ phái đi trinh sát cầu Hàm Rồng để chuẩn bị cho một đợt công kích mới bằng bom Vô tuyến. Y thú nhận Hạm đội Ri-sớt của y đã đánh Hàm Rồng hai trận bằng bom vô tuyến mà không thành công.

Ngay bản tin buổi tối ngay 5-6-1967 Đài tiếng nói Việt Nam đưa tin quân và dân Hàm Rồng Thanh Hóa bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay thứ 2000 trên miền Bắc. Tin vui đến bất ngờ. Cả Hàm Rồng tràn ngập niềm vui chiến thắng.

VII. Thà gục trên mâm pháo Quyết không để cầu gục.

Khi nói đến quy luật leo thang trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc giặc Mỹ không chỉ leo thang đơn thuần về mặt địa lý từ vĩ tuyến này lên vĩ tuyến khác mà chúng còn leo thang về lực lượng đánh phá phương tiện kỹ thuật và thủ đoạn công kích nữa. Một trong những thủ đoạn xảo quyệt ấy là chúng tăng cường đánh phá vào các trận địa cao xạ của ta.

Đầu năm 1967 giặc Mỹ đưa ra một bản Tổng kết khá công phu rằng: "80% số phi cơ Mỹ bị hạ là do cao xạ bắn". "Điểm mạnh nhất của cao xạ là số lượng súng và kỹ thuật bắn". Theo chúng: "Loại pháo 37 ly và 57 ly là loại bắn giỏi nhất và chính xác nhất. Loại cao xạ cỡ nhỏ này bắn lên ôm trùm khu vực mục tiêu máy bay có lọt qua được cũng nhờ vào may rủi mà thôi".

Cùng với việc đánh giá cao vai trò của cao xạ. Giặc Mỹ liền đề ra biện pháp đối phó. Từ năm 1967 trở đi Hải quân Mỹ có hẳn một chủ trương chế áp các trận địa cao xạ trước khi chúng ném bom mục tiêu.

Những tháng đầu năm 1967 Hải quân Mỹ sử dụng 30% số máy bay trong một trận công kích để đánh các trận địa pháo. Đến giữa năm 1967 số này đã lên tới 50% và có trận chúng sử dụng tới 80% cho việc chế áp các trận địa pháo.

Vũ khí dùng để đánh vào các trận địa pháo của Hải quân Mỹ có hai loại chính: Bom bi và bom Pi dăng. Bọn giặc lái khai:

"Một quả bom bi mẹ dài 1 8 mét đường kính 0 4 mét nặng 340 kilôgam. Mỗi quả bom bi mẹ đựng được 340 quả bom bi con. Mỗi quả bom bi con có 360 viên bi. Mỗi quả bom bi mẹ có thể làm sát thương trên một diện tích rộng 300 mét vuông. Mỗi máy bay mang 4 quả bom bi mẹ sẽ sát thương trên diện tích hơn 1000 mét vuông".

Còn với bom Pi dăng: Là loại bom thường nhưng lại được lắp ngòi nổ đặc biệt chúng gọi là ngòi nổ Vô tuyến. Khi bom rơi cách mặt đất khoảng 6 mét bom phát nổ trên không toàn bộ mảnh bom chùm xuống mặt đất theo một hình nón".

Bọn phi công của hải quân Mỹ tỏ ra thành thạo trong việc đánh vào các trận địa pháo. Chúng còn biết đánh bằng bom phá trước rồi mới ném bom bi để tiêu diệt người ra cứu.

Chính thủ đoạn tàn ác xảo quyệt của kẻ thù đã đẩy cuộc chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng lên một đỉnh cao mới: Gian khổ hơn khốc liệt hơn và hào hùng hơn các năm trước rất nhiều.

Trên khắp các trận địa: Đồng Đá Yên Vực Nam Bình Cồn Đu ở bờ bắc; đồi Xê 4 Đám Cháy Phân Lân Nam Phát Nam Ngạn Đồi Không Tên ở bờ Nam không ngày nào không bị địch công kích vào trận địa. Ngay các trận địa trung cao ở vòng ngoài như Đức Giáo Đông Tác Lêu Việt Định Hòa cũng bị địch đánh bom thường xuyên. Máu của các pháo thủ Hàm Rồng đổ xuống từng ngày.

Trận đánh ngày 3- 9-1967 ở đồi Xê 4 là trận điển hình về tính chất ác liệt của cuộc chiến những ngày năm 1967.

Đúng 8 giờ sáng ngày 3-9-1967 là giặc Mỹ ầm ĩ kéo vào đánh phá Hàm Rồng. Và ngay lập tức 3 tốp đi đầu thay nhau cường kích vào trận địa Đại đội 4 trên điểm cao 54. Tốp đi đầu chúng ném bom Pi dăng. Bom nổ phát sáng rực ngay trên các hầm công sự pháo. Hai tốp sau là bom bi. Một tốp nó ném trùm lên trận địa pháo còn tốp kia tập trung đánh vào đồi chỉ huy. Phút chốc trận địa Đại đội 4 bị nhấn chìm trong khói bom. Hầu hết các công sự pháo đều trúng bom bi. ở khẩu đội 5 bom bi rơi trúng bờ công sự số 5 Được bị thương nặng. Số 1 Lê Xuân Lộc nghiến răng đạp cò nhưng pháo không nổ được. Tiểu đội trưởng Điện sau cơn choáng vì tiếng bom nổ gần anh gượng đứng dậy hét lớn: "Các đồng chí chúng ta bám pháo đánh đến cùng. Còn người còn vũ khí còn chiến đấu".

Pháo thủ Lê Văn Tĩnh vô cùng xúc động. Anh muốn ghi lại một điều gì đó. Nhìn thấy viên phấn còn xót lại ở góc hầm anh nhặt lên rồi chọn một mảnh gỗ bên vách công sự pháo nắn nót viết "Thà gục trên mâm pháo quyết không để cầu gục".

Đó là lời thề son sắt của người lính Hàm Rồng đối với nhịp cầu. Khẩu đội trưởng điện nhìn thấy câu khẩu hiệu xúc động nói:

- Các đồng chí. Đây là lời thề của chúng ta. Tôi đề nghị các đồng chí tuyên thệ trước pháo.

Cả Khẩu đội 5 xếp hàng ngay sau pháo như những lần chúng tôi đứng nghe cấp trên phổ biến nhiệm vụ. Khẩu đội trưởng Điện hô to:

- Chúng ta xin thề: Thà gục trên mâm pháo quyết không để cầu gục.

- Xin thề xin thề xin thề.

Tiếng hô trút từ trong lồng ngực trong trái tim của mỗi người. Chúng tôi thề với tất cả lòng thành kính của mình với Tổ quốc với nhân dân mà biểu tượng thiêng liêng ấy lúc này là nhịp cầu.

Sau này câu khẩu hiệu bên bờ công sự của Khẩu đội 5 Đại đội 4 anh hùng do pháo thủ Lê Văn Tĩnh sáng tạo ra đã trở thành lời thề son sắt của Pháo thủ Hàm Rồng. ở hầm pháo trên khắp các trận địa cao xạ Hàm Rồng lời thề ấy được khắc lên bờ công sự. Nó biến thành quyết tâm và hành động chiến đấu của hàng trăm hàng ngàn chiến sĩ pháo cao xạ Hàm Rồng là một trong những nguyên nhân để chúng ta chiến thắng kẻ thù.

Trong trận chiến đấu ngày 3 tháng 9 năm 1967 Đại đội 4 trên đồi 54 hy sinh 11 người bị thương 20 pháo thủ. Dân quân làng Đông Sơn đã kịp lên thay pháo thủ đánh những trận tiếp theo. Vì thế pháo của Đại đội 4 lại nện ròn rã vào kẻ thù.

                                          (Còn nữa)

                                             L.X.G

More...

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 1000 NĂM THĂNG LONG - HÀ NỘI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                NHỮNG ĐƯỜNG PHỐ THỦ ĐÔ 
           MANG TÊN DANH NHÂN THANH HÓA

    Nội ngày nay chỉ tính nội thành và phụ cận đã có tới hơn 700 đường phố ngõ có tên gọi. Trong đó có gần 300 tên người gồm các danh nhân lịch sử văn hóa anh hùng cách mạng... của địa phương Hà Nội và của cả nước. Các danh nhân quê Nghệ An Hà Tĩnh Thừa Thiên Huế Quảng Nam Nam Định Sơn Tây Bắc Ninh Hải Dương... chiếm số lớn trong danh sách trên.

Nhưng đương nhiên Thanh Hóa có số lượng không nhỏ - 18 nhân vật.

Chúng tôi xin lược qua những phố này.

1- Phố Bà Triệu. Dài gần 2 cây số từ bờ Hồ Gươm xuống phía nam đến đường Đại Cồ Việt. Đây là một trong những trục bắc - nam chính của thành phố (Quận Hoàn Kiếm và quận Hai Bà Trưng).

2- Phố Đinh Lễ. Dài khoảng 200 mét nối đường Ngô Quyền với đường Đinh Tiên Hoàng ngay sát Trung tâm Bưu điện thành phố được gọi là phố sách phố tiền vì nhiều cửa hiệu sách nhiều người đổi tiền (Quận Hoàn Kiếm).

3- Phố Đinh Liệt. Dài 180 mét nối phố Hàng Bạc với phố Cầu Gỗ nằm trong khu vực 36 phố phường đất cổ Kẻ Chợ vô cùng tấp nập (Quận Hoàn Kiếm).

4- Phố Khuông Việt. Tức là Khuông Việt Đại sư Ngô Chân Lưu. Phố dài 700 mét thuộc thị trấn Sóc Sơn (huyện Sóc Sơn).

5- Phố Lê Đại Hành. Dài 450 mét nối phố Thể Giao với Đại Cồ Việt cắt ngang qua phố Bà Triệu (Quận Hai Bà Trưng).

6- Phố Lê Lai. Dài 400 mét nối đường Trần Quang Khải với Đinh Tiên Hoàng bên cạnh phía bắc vườn hoa Lý Thái Tổ (vườn hoa Chí Linh) cạnh UBND thành phố. Con phố ngắn nhưng rất đẹp. (Quận Hoàn Kiếm).

7- Phố Lê Phụng Hiểu. Dài 300 mét nối phố Trần Quang Khải với phố Ngô Quyền cạnh vườn hoa Diên Hồng (vườn hoa Con Cóc) khách sạn Mêtơrôphôn nhìn sang Bắc bộ phủ (nhà khách Chính phủ). (Quận Hoàn Kiếm).

8- Phố Lê Thạch. Dài hơn 200 mét nối phố Ngô Quyền với Đinh Tiên Hoàng cạnh phía nam vườn hoa Lý Thái Tổ nhà khách Chính phủ. Phố không có nhà dân. (Quận Hoàn Kiếm).

9- Phố Lê Thái Tổ. Dài 680 mét phía tây Hồ Hoàn Kiếm từ quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục gặp phố Tràng Thi - Bà Triệu. Đây là con phố trung tâm đặc sắc nhất Thủ đô. (Quận Hoàn Kiếm).

10- Phố Lê Thánh Tông. Dài gần 700 mét chạy dài từ quảng trường Nhà hát Lớn (quảng trường Cách mạng Tháng Tám) đến phố Trần Hưng Đạo qua Viện Đại học Hà Nội. (Quận Hoàn Kiếm).

11- Phố Lê Văn Hưu. Dài 360 mét ngã năm Lò Đúc đến ngã tư phố Huế - Nguyễn Du. (Quận Hai Bà Trưng).

12- Phố Lê Văn Linh. Dài 65 mét nối phố Phùng Hưng với Lý Nam Đế. (Quận Hoàn Kiếm).

13- Phố Tô Vĩnh Diện. Dài 500 mét từ ngà tư đầu phố Vương Thừa Vũ vào doanh trại đất sân bay Bạch Mai. (Quận Thanh Xuân).

14- Phố Trần Khát Chân. Dài khoảng 2 ki lô mét chạy dài từ phố Nguyễn Khoái cạnh đê sông Hồng qua Ô Cầu Dền Ô Đống Mác... đến Đại Cồ Việt. (Quận Hai Bà Trưng).

15- Phố Trần Xuân Soạn. Dài 450 mét nối phố Lò Đúc với phố Huế cạnh Chợ Hôm. Phố buôn bán sầm uất. (Quận Hai Bà Trưng).

16- Phố Triệu Quốc Đạt. Dài 130 mét nối phố Tràng Thi và phố Hai Bà Trưng. Một đầu là tòa án một đầu là bệnh viện Việt Đức. (Quận Hoàn Kiếm).

17- Phố Đào Duy Từ. Dài 300 mét kéo dài từ cửa Ô Quan Chưởng đến phố Lương Ngọc Quyến. (Quận Hoàn Kiếm).

18- Phố Tống Duy Tân. Dài 200 mét nối phố Trần Phú với đường Điện Biên Phủ. Là phố ẩm thực đầu tiên và duy nhất của Hà nội. (Quận Hoàn Kiếm).

Qua danh sách này ta thấy phần lớn các danh nhân xứ Thanh có tên ở đây đều là vua quan và người có công chiến đấu bảo vệ tổ quốc chỉ Lê Văn Hưu và Đào Duy Từ là bậc trí giả. Các nhân vật thời Lê chiếm khá đông và đều được "quy hoạch" chung quanh Hồ Hoàn Kiếm. Một số nhân vật rất lớn của thời kỳ tiền độc lập như họ Dương triều Hồ các chúa Trịnh các chúa và vua nhà Nguyễn... đã không được chính quyền Thủ đô chọn đặt tên. Điều này nói lên quan niệm của một thời.

Bên cạnh tên người một số địa danh xứ Thanh cũng xuất hiện ở Thủ đô như Ba Đình (quảng trường) Chí Linh (vườn hoa ở phía đông Hồ Hoàn Kiếm nay đổi thành vườn hoa Lý Thái Tổ). Cái tên Hồ Tây có vẻ như là sự nhắc lại Tây Hồ ở Lam Kinh? Ngoài ra đền Đồng Cổ ngôi đền thờ trống đồng ở phố Thụy Khuê quận Tây Hồ... cũng được đưa từ Thanh Hóa ra.

Phương Đông (Biên soạn)

CÁC NHÀ VĂN QUÊ THANH HÓA Ở THĂNG LONG

                                                         Kiều Vượng

 Tính đến hết năm 2009 số hội viên Hội Nhà văn Việt Nam quê Thanh Hóa đứng thứ 3 cả nước sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là 66 người.

Trong số này các nhà văn quá cố là 16 người các nhà văn trụ lại quê nhà là 11 người sống ở thành phố Vũng Tàu Sài Gòn Nha Trang là 5 người còn tập trung ở thủ đô Hà Nội là 34 nhà văn. Tuổi đời trẻ nhất là 51 (nhà thơ Mai Linh) và cao tuổi nhất là 95 (nhà thơ Hữu Loan).

Phải khẳng định rằng trong số 16 nhà văn quê Thanh Hóa đã quá cố nhiều tên tuổi trên văn đàn làm cả nước nể trọng như Hồ ZDếnh Thôi Hữu Hồng Nguyên Nam Mộc Lê Đại Thanh Xuân Sách Nguyễn Thế Phương Lữ Giang Triệu Bôn v.v... Các nhà văn quá cố đã lưu lại cho hậu thế nhiều tác phẩm đáng nhớ.

Điều đáng nói là 33 nhà văn quê Thanh hiện đang sống và làm việc tại thủ đô Hà Nội đã có nhiều tác phẩm làm rạng rỡ quê hương và xứng đáng với đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.

Hai nhà thơ hai anh em Nguyễn Bao và Định Hải (Nguyễn Biểu) sinh ra và lớn lên ở làng Sét xã Định Hải (Yên Định) là một điển hình về lòng nhân ái và để lại các dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc. Ngay sau ngày hòa bình vừa lập lại. Năm 1954 tất cả người Việt Nam ra đường gặp nhau đều dừng lại để nhảy múa và hát vang bài "Yêu hòa bình tổ quốc chúng ta yêu ruộng vườn quê hương ngàn đời..." của nhà thơ Nguyễn Bao. Em trai ông là Nguyễn Biểu lấy bút danh xã Định Hải của mình để làm hàng triệu trẻ em trên khắp hành tinh cùng nhảy múa để hát vang bài "Trái đất này là của chúng mình".

Năm 2007 nhà thơ Định Hải được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Nơi xứ Yên Định ấy còn có nhà văn Đức ánh sống ở thành phố Hồ Chí Minh với khối lượng tác phẩm đáng nể sức lao động miệt mài.

Hai cha con hai nhà thơ đều là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là Mai Ngọc Thanh và Mai Linh quê gốc Quảng Xương ở sát bến phà Ghép anh hùng. Mai Linh là nhà thơ trẻ nhất trong số nhà văn quê Thanh Hóa cũng đã vào tuổi 51 hiện đang làm Tổng Biên tập báo điện tử Tổ Quốc (Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch). Thơ Mai Linh sắc sảo trí tuệ và nặng tình vượt xa thơ của cha mình. Cái làng Ghép xã Quảng Chính ấy còn có nhà văn lão thành Trần Hiệp luôn miệt mài sống chết với nghề. Và tại xã Quảng Thọ lại có Lê Ngọc Minh đằm thắm với thơ thâm trầm với văn xuôi và sắc sảo với điện ảnh. Hiện anh đang là Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh Việt Nam.

Cha con anh em cùng quê là thế nhưng có một vùng đất nhiều tên tuổi văn chương đáng nói là huyện Vĩnh Lộc. Giáo sư Hà Minh Đức từng nhiều năm làm Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam với một khối lượng sách nghiên cứu phê bình và lý luận văn học thật đáng trọng. Nơi chúa Trịnh xa xưa có một Trịnh Xuân Ba sắc sảo về phóng sự văn học và nổi trội trên làng báo. Vĩnh Lộc còn có hai đại tá nhà văn khá đặc biệt đó là Nguyễn Bảo và Phạm Hoa. Nhắc đến Nguyễn Bảo bạn đọc nhớ đến tiểu thuyết "Thượng Đức" và hiện anh là Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội. Còn đại tá nhà văn Phạm Hoa quê xã Vĩnh Yên bên bờ bắc sông Mã đã gây ấn tượng trong cuốn sách "Đùa của tạo hóa". Nhà văn Nguyễn Bảo nhiều năm nay thay nhà thơ Nguyễn Bao đảm nhận Trưởng ban liên lạc văn nghệ sĩ Thanh Hóa tại Hà Nội. Đại tá nhà văn Phạm Hoa thì chúng ta luôn gặp trong chương trình truyền hình "Chúng tôi là chiến sỹ".

Nơi sông Mã và sông Bưởi gặp nhau còn có nhà thơ Lê Quang Sinh hiện là Giám đốc Trung tâm Văn hóa của Hội Nhà văn Việt Nam. Những nhà văn quê Hoằng Hóa đang ở Hà Nội cũng đáng nói lắm. Một Nguyễn Trần Thiết đã ngoài 80 tuổi vẫn say mê đi và viết. Đại tá nhà văn này có vinh dự đặc biệt là hai lần hỏi cung hai viên tướng thất trận của hai chiến dịch lừng lẫy năm châu. Năm 1954 ông đã trực tiếp hỏi cung tướng Đờ cát Tơ ry tại Điện Biên Phủ và 21 năm sau ông lại được lấy cung tướng Dương Văn Minh khi giải phóng Sài Gòn. Ông say mê viết và đầu sách xuất bản nhiều hơn số tuổi của mình. Nơi ấy còn có nhà thơ duyên dáng và đằm thắm Lê Minh Hoài con gái cưng của nhà văn nhà dịch thuật nổi tiếng Nam Mộc (tên thật là Lê Hữu Kiều). Nam Mộc đã dịch bộ Sông Đông Người mẹ của Goóc ky và nhiều đầu sách nổi tiếng khác. Nhà văn đã từng làm Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ vào thời điểm khắc nghiệt của lịch sử dân tộc.

Cái huyện đồng chiêm trũng Nông Cống rất đáng tự hào cho xứ Thanh về con đường văn nghiệp. Xã công giáo Công Chính đã có một Lữ Giang vừa ra đi để lại cho đất nước thánh thót tiếng đàn bầu nhỏ to "Cung thương là tiếng mẹ cung trầm là giọng cha ngân nga em hát...". Còn xã Trường Giang có nhà thơ Minh Hiệu và nhà thơ Xuân Sách vừa ra đi. Xuân Sách đã để lại nhiều dấu ấn nhất là bài "Việt Nam trên đường chúng ta đi" của ông.

Nơi vùng gió cát Tĩnh Gia có nhà thơ Lê Văn Vọng và nhà văn Lê Minh Khuê. Chị Minh Khuê xuất thân thanh niên xung phong ra đi từ xã Hải An. Tác phẩm của Lê Minh Khuê được bạn đọc đón nhận như là một sự kiện. Những tập truyện như: Cao điểm mùa hạ Ngôi sao xa xôi Đoạn kết Thiếu nữ mặc áo dài xanh Một chiều xa thành phố Em đã không quên Màu xanh man trá. Năm 2007 nhà văn được nhận giải thưởng quốc tế mang tên văn hào Hàn Quốc ByeongSuLee. Giải thưởng quốc tế đầu tiên này đã trao cho nữ nhà văn Việt Nam Lê Minh Khuê. Và vùng đất Lam Kinh nơi nhà Lê hội tụ có một nhà thơ Lê Đình Cánh mà ít ai quên câu lục bát trong bài Mẹ ra Hà Nội "Lên thang chẳng dám bước dài/ Vào khu tập thể gặp ai cũng chào..."

Người làng Nam Ngạn còn có giáo sư Mã Giang Lân người gắn bó với quê với Hàm Rồng trong suốt cuộc đời sáng tác của mình.

Các nhà văn quê Thanh đang sống và làm việc tại Hà Nội phải kể đến các nhà văn Đặng Ái Trần Thiên Hương Nguyễn Hương Trâm. Các nhà thơ Anh Chi Nguyễn Ngọc Quế Lê Tuấn Lộc v.v... Các nhà lý luận phê bình Nguyễn Văn Lưu Chu Văn Sơn Thành Duy Ngọc Trai v.v...

Tất cả các tên tuổi trên đã làm nên diện mạo văn học của vùng đất và con người xứ Thanh ở thủ đô Hà Nội. Chúng ta rất tự hào và có quyền tự hào về những người con của quê mình đang sống và làm việc giữa đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.

                                                                               K.V

More...

THƠ SỐ TẾT

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NGUYỄN BAO

Ta gặp mùa xuân

Ta gặp mùa xuân trong mắt ai

Có sóng hồ xanh sắc liễu dài

Tưởng như nắng sáng ùa tận đáy

Thu cả đất trời một sớm mai.

Dẫu khắp trời quê còn se lạnh

Nụ hồng như lửa tự ta nhen

Sương mai ai vẫn bừng đôi má

Đường vui sóng sánh bước chân chen.

Như buổi ban đầu ta đã gặp

Đường xa chung bước bỗng thêm gần

Xuân của lòng ta ta dựng mới

Cây mùa mở lộc sắc thanh tân.

               N.B

MA TRƯỜNG NGUYÊN

Mùa xuân lại đến rồi

Tưởng như vào tiết cuối mùa

Chuyển sang khô ráo từ giờ trở đi

Vẫn xuân hoa héo hết thì

Một thời hương sắc còn gì nữa đâu?

Cái nhìn chợt lặng trong nhau

Mà như thấy trái địa cầu đảo chao

Nửa năm tạnh ráo hanh hao

Cây âm thầm khát đợi vào tiết đông

Nhưng lòng thầm vọng nuối trông

Biết đâu em chúa xuân hồng lại ban?

Tưởng như vào tiết xuân tàn

Bỗng đâu sấm dậy chứa chan mưa về

Reo mừng cây lá hả hê

Lại tươi tốt lại sum xuê nở bừng

Đã từng ngày tháng ngóng mong

Hạt xuân như tự trong lòng bật ra

Lặng nhìn ánh mắt thiết tha

Mùa xuân lại đến mặn mà sắc hương

                            M.T.N

NGUYỄN HOA

Cho tôi tin trở lại

Ở đây tôi đã tin

Và không tin gì nữa...

Khổ quá. Qua khung cửa

Trời xanh nõn trong nắng lửa

Sóng mát rượi mặt hồ

Và em vẫn bất ngờ

Chịu mọi điều có thể

Kiếp sống của cõi người!

Để mùa xuân sinh sôi

Để miệng cười roi rói

Cho tôi tin trở lại!

                    N.H

VĂN ĐẮC

Vườn chiều

Những bông hoa cởi yếm bêu lêu

Những chú ong phải lòng mê mệt

Nhờ ngọn gió đánh ghen mà ong thoát chết

Ong vằng ra khỏi hoa

Như kẻ bị bắt quả tang

Về tội đánh cắp sự lả lơi của hoa

Hoa không nói gì lặng lẽ...

Từ đó

Mây mang phấn hoa làm tổ

Rót xuống vườn chiều

Toàn nắng mật ong.

               Chiều cuối năm 2009

                  V.Đ

NGUYỄN NGỌC QUẾ

Chuyện con hổ rừng xa

         Cho cháu Hương Lan


 

Trong một cánh rừng xa

Có một con Hổ trắng.

Dẻo dai và dũng mãnh.

Làm gì cũng lơ mơ.

Theo học thầy đồ Cóc

Được chữ A chữ O

Tưởng là thầy hết chữ

Bỏ đi chơi trăng mờ.

Thỉnh thoảng nhớ học lên

Ào... oa... gầm như sấm

Làm cả rừng rung động

Chim đêm bay loạn cành

Theo bác Mèo học võ

Thế phục là thế vồ

Thế chạy như lướt gió

Nhưng lại quên thế trèo (*)

Nghe anh Trâu xui dại

Tìm trí khôn của Người

Nên bị trói đốt lửa

Áo cháy xém vàng khè (**)

Tự cho mình giỏi nhất

Phong làm chúa Sơn lâm

Nhưng lại buồn cô độc

Chẳng có ai chơi gần

              1-2009

              N.N.Q

(*) Hổ không được mèo dạy trèo

(**) Sự tích bộ lông vàng của Hổ

VŨ THỊ KHƯƠNG

Em đi đón mùa xuân

Hoa trong vườn như nở sớm hơn

Bông cúc mùa thu vượt giá rét mùa đông

Nán lại khoe sắc vàng đằm thắm

Bên đóa hồng lung linh sương sớm

Mùa xuân về sớm hơn phải không anh?

Cả bầu trời mưa xuân dăng dăng

Những sợi mưa như tơ như phấn

Mỏng mảnh thế mà làm tan giá buốt

Mùa xuân về sớm hơn phải không anh?

Nỗi đợi chờ dằng dặc tháng năm

Qua bão dông qua mưa dầu nắng dãi

Qua bao nỗi thăng trầm biến cải

Mùa xuân về thức dậy nỗi khát khao...

Như trái tim chờ đợi đớn đau

Con đường vắng gió cuốn vàng bụi lá

Như cánh đồng khát mưa nứt nẻ

Mùa xuân về

Em đi đón mùa xuân...

        Một ngày cuối đông

      Tháng Chạp Kỷ Sửu 2009

                  V.T.K

LÊ QUANG SINH

Thủy

Tặng T

Sóng chưa đẫm lòng anh đã bão

thu còn xa vời vợi đã rồi!

Chiều nay anh một mình bên biển

nắng rắc đầy những nắng không thôi!...

Biển mênh mông... giọt giọt luân hồi!

Anh hứng lên tay anh chìm trong nước.

Gió là gì để một chiều hư thực!

Sao hoàng hôn cứ tím cả hoàng hôn!

Sao không như hoa cỏ trong vườn

khỏi giấu giếm mỗi lần xuân chợt đến

sao không phải là giọt tan giọt biến

thất thường qua một thoáng mây trôi!

Anh hỏi anh mà cát ướt bồi hồi

khỏa lấp hết những gì còn xao xác!

Anh hỏi em mà trời xanh xa lắc

nước có là!... Hay chỉ ngắt trong thôi?

              Đêm 30-10-2009

                  L.Q.S

LÊ TUẤN LỘC

Gặp cụ Tú Xương bên hồ Vị Xuyên

Tôi kính cẩn cúi chào thì cụ lặng im

Tôi nghĩ cụ kiêu ngạo

Những bài thơ cụ viết để đời

Hay đáo để tài hoa sắc lẹm

Tôi thưa cụ: người đời bảo cụ ngông

Vì thế mà thi trượt

Cụ lặng im không nói

Tôi chép miệng: Thi nhân chơi bời lêu lổng

Vợ khổ là phải

Cụ cau mặt lại

Tôi hỏi

Nếu cụ thi đỗ

Thơ cụ có được hay thế không

Cụ trừng mắt làm tôi phát hoảng

Tôi lại hỏi

Nếu cụ thi đỗ

Cụ có chửi đời thậm tệ thế không

Cụ hầm hầm bỏ đi không nói một lời

Hồ Vị xuyên vương khói

                      01-3-2009

                         L.T.L

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 

Từ Nguyên Tĩnh

Mùa xuân sẽ về

Truyện ngắn

1

Vào tết rồi những trận mưa xuân không xóa hết dấu vết bom B52 rải từ Nam Ngạn đến trận địa đồi Ba Cây Thông. Đồi Ba Cây Thông ở cách cầu không xa. Bữa trước lên trận địa có thể đi tắt từ ngã ba Hàm Rồng gần Cầu Chui. Nhìn thấy người lính cảnh giới gọi ới một tiếng là có thể hỏi và chào cho cả khoang trời nghe được.

- Anh Diệm ơi! "có nhà" hay không?

Đám con gái làng Đông Sơn hay Nam Ngạn chẳng biết nhiều khi gánh qua là cứ gọi hỏi hú họa thôi. Họ đã quen đi đắp công sự cho bộ đội đến từ lúc đêm sáng đi làm đồng qua chỉ còn trơ lại những công sự là công sự. Như những cặp mắt buồn của người đi để lại. Một trận mưa ào tới còn đọng lại sự long lanh thấm ướt trên bờ cỏ chưa kịp lên xanh bị hố bom mới chồng lên đỏ lòm.

Bây giờ thì Diệm đang trong giờ cảnh giới. Buổi trưa trận địa lặng nghe được tiếng kéo bễ vo vo của tay nào đó ngáy trong hầm pháo. Thói quen tay cầm chiếc kẻng bằng vỏ đạn và chiếc dùi treo vào đập vào nghe leng keng như tiếng nhạc cô đơn của một bộ phim nào trong ký ức của Diệm. Diệm cũng buồn ngủ lắm rồi. Đêm qua báo động liên miên có cậu liều quàng chăn rồi khoác áo mưa ngồi thu lu trên pháo. Trung đội trưởng Hậu thương nên chỉ nhắc cho chân xa bàn đạp cò kẻo ngủ mê dậm một điểm xạ là kỷ luật ráo. Anh cũng quên khuấy khóa nòng đóng kín làm sao mà có đạn. Khẩu pháo ngay hố bom B52 bị nhiều mảnh làm cho sứt sẹo kéo pháo đi sửa chữa nên các khẩu còn lại thấy văng vắng thiêu thiếu một cái gì. Buồn không thể chịu được. Nhưng mấy cậu của khẩu đội 4 thì vui. Đứa được phép qua nhà đứa đi theo pháo cũng gọi là cải thiện không khí. Tết nhất sắp đến nơi coi bộ năm nay buồn. Bò và lợn tăng gia của đơn vị bị bom cướp mất cả. Lại những quả bom B52 chết tiệt này nữa làm cho cả một khoảng đồi đã trọc lại trọc thêm. Như có bàn tay cầm con dao khổng lồ gọt suốt từ trận địa đến bờ đê Nam Ngạn sang cả bên kia sông núi Ngọc như thể cái đầu đang bị cúp dở những nhát kéo của tay thợ cạo vụng về.

Diệm chợt nhìn thấy có bóng người đi đi lại lại ở đoạn ngã ba lên trận địa đến Cầu Chui. Không phải những cô gái chăn dê. Lúc này làm gì có chuyện lùa dê về. Chúng đang leo trèo trên vách núi đá con thì nằm ngủ đùa nhắm mắt đấy nhưng có con đực nào đến tranh bạn gái thì coi chừng. Con dê màu gụ thì đang làm động tác kỳ dị quẹt hai chân trước xuống đá lại dậm hai chân sau xuống dọa một con khác. Thì ra ở dưới cái vách tun hút kia có một cô nàng đang nhởn nhơ gặm cỏ không thiết gì đến chàng dê choai tơ trêu chọc.

Cái bóng lạ kia đang đi rồi quay lại. Hết dừng ngó nghiêng lên trận địa lại rảo bước.Thật đáng nghi.Diệm được phổ biến. Bọn chỉ điểm dùng chiếc gương phản chiếu để báo cho máy bay đến bắn phá. Trận địa và cầu Hàm Rồng chúng còn lạ gì mà phải làm trò đó. Mới lại đi như thế làm sao không bị tóm. Hay là mấy em Thanh niên xung phong nhớ đến chàng pháo thủ nào? Không có lý. Có mà nhìn thấy mình đã hò trêu liền.

Đến đây em mới hỏi chàng

Có phải "xê bốn" chỉ đường em lên

Thì mình sẽ đáp lại:

Em còn nhớ hay là quên

Đêm nao liều chết đưa em về nhà

Mải mê với ý nghĩ quá trớn mà "kẻ lạ mặt" đột nhập lúc nào không hay. Không kịp hô: Ai? Đứng lại!

- Xin hỏi đồng chí! Một giọng nói dịu dàng phát ra từ khuôn mặt cũng dịu dàng dễ ưa. Diệm không tài nào làm bộ mặt "quân sự" được nữa.

- Kìa nữ đồng chí! Sao lại lên trận địa vào lúc này?

- Sao kia ạ tôi tưởng là... Cô gái mà không còn trẻ nữa bộ mặt có vẻ đượm mệt mỏi bởi đường xa. Diệm chưa kịp nói gì thì mùi nước hoa thoảng ra từ người cô. Chết thật cái món này chỉ bọn tư bản mới có. Nghĩ thế Diệm lấy lại tư thế cảnh giác.

- Trận địa... Không biết máy bay Mỹ đến bắn phá lúc nào... Không được an toàn đâu. Nói ra được điều đó Diệm cảm thấy mình đã trút bỏ cái mùi thơm cám dỗ kia ra ngoài.

- Tôi không sợ đâu! Cô gái rắn rỏi nhìn thẳng vào mặt Diệm làm cho chàng pháo thủ xưa nay chỉ lém cái miệng nhưng chưa bị ai "chiếu tướng" như thế cả. Da mặt tự dưng nóng lên. Nhưng Diệm cũng trấn tĩnh nói với cô gái xa lạ mà đầy mùi thơm.

- Điều ấy thì chưa biết được. Máy bay đã đến đâu mà biết ai sợ ai không.

Cô gái có mùi nước hoa thơm ngào ngạt. Loay hoay như đang lục tìm cái gì. Cái túi du lịch cũng đặc biệt. Trên miệng nó cũng cài khóa. Cô gái mở ra và đưa cho Diệm không ra vẻ trình mà cũng không kịp để cho Diệm xem cái gì nữa.

- Tôi... tìm gặp người này.

Diệm cầm lấy bì thư đã ố vàng nhưng nét chữ thì rõ rằng lắm. Chết rồi thì chính chữ của thằng Long khẩu đội mình chứ ai.

- Thế cô là Chiến phải không?

- Vâng! Sao anh biết. Chiến ngạc nhiên không kém gì Diệm tỏ ra mừng rỡ. Nhưng lại lo âu.

- Long nó đi rồi... Đấy cô nhìn thấy hố bom kia thì biết. Chợt nhận ra mình lỡ lời nên kịp kìm lại.

Thấy tiếng ồn ào mấy chiếc bễ lò rèn thôi thổi vội vàng đến lúc nào. Trung đội trưởng Hậu cũng kịp hỏi:

- Có chuyện gì mà ồn ào vậy đồng chí Diệm?

- Báo cáo Trung đội cô Chiến người yêu của cậu Long từ Đông Đức về ạ!

- Thì sao nào?

- Em xem đúng là thư của Long gửi cho cô ấy! Diệm hấp tấp trả lời.

Hậu nhìn Chiến. Thật ra Long đã cho cả trung đội này xem thư. Xem cả ảnh của cô gái chụp trong Bảo tàng Các Mác. Chỉ khác là ăn mặc lúc đó diêm dúa vì thời tiết lạnh cũng có thể do đi đường mà khuôn mặt của Chiến cũng gày đi ít nhiều. Chiến đoán được ý nghĩ của Hậu hay sao bây giờ mới lục được giấy tùy thân nên vội đưa ra trình.

- Em làm các anh mất ngủ... Nước mắt của Chiến rân rấn.

- Không sao!... Hậu cầm lấy giấy mà không khỏi phân vân. Chiến thấy sự tư lự của Hậu. òa khóc.

- Anh Long của em đâu rồi...Các anh ơi!.. Cứ nói để em biết.

- Ai bảo cô là Long ?... Hậu giật mình hỏi lại Diệm.

- Thì lúc nãy đồng chí trực ban bảo anh ấy đi... rồi mà... Cái hầm pháo của anh ấy đây mà...

- Thật đấy đồng chí Long mới đi cùng pháo về Hòa Bình để tu sửa! Hậu không giấu nổi sự thương cảm nhìn cô gái. Tôi bảo nên về tranh thủ mấy ngày... Cái cậu này.

- Em không tin. Đôi mắt Chiến ậng nước nhìn những người lính đang vây lấy mình. Thật ra thì họ chưa bao giờ gặp được người yêu của lính lại có vẻ duyên dáng nước da trắng trẻo như thể là cớm nắng trong thời buổi chiến tranh này.

- Bây giờ thì cô Chiến cứ ở lại cùng chúng tôi trực chiến. Còn Diệm đành phải đi Hòa Bình một chuyến thôi. Xe kéo pháo hỏng nên không thể đi nhanh được. Nhất định không đi theo đường 1 mà theo đường 15... đồng chí Diệm sẽ đi gọi Long về.

- Em có thể đi cùng anh ấy được không?

- Không được! Cô làm sao có thể chạy bộ được?

- Chết! Em làm sao mà đi bộ đuổi kịp ô tô kéo pháo hả Trung đội? Diệm lo lắng hỏi.

- Bình thường cậu thân với cậu Long lắm kia mà... Nó chẳng cho cậu xem ảnh người yêu... Có phải không cô Chiến. Hậu pha trò.

- Cho em đi với... Biết đâu sẽ đuổi kịp anh ấy.

- Cô từ nước Đức xa xôi về... Cũng chỉ có chiếc xe "Vĩnh cửu" của đồng chí Tiếp phẩm cho mượn may ra đuổi kịp xe của Long lại còn lai nó về chứ?


2

Hậu tiễn chân Diệm xuống dốc trận địa với giọng khẩn khoản không ra vẻ gì là giao nhiệm vụ:

- Diệm đã có lần đưa pháo ra X2 chữa rồi nên quen đường chiến lược 15 đi từ Thanh Hóa ra Hòa Bình. Đón được thăng Long về kẻo tội. Chúng nó xa nhau ba bốn năm nay. Người ta bỏ ra cả một chuyến đi về thăm thằng lính Hàm Rồng mà tết nhất đến nơi rồi. Chắc cả nhà cô Chiến lo lắm đấy.

- Trung đội yên chí. Nhưng còn với trên lỡ ra các ông ấy biết thì sao?

- Cái thằng này. Mình đã báo cáo với trên rồi. Với lại mấy đứa chưa kịp về tranh thủ. Nghe chuyện có con dâu ở nước ngoài về thăm lính Hàm Rồng bọn nó tình nguyện ở lại trực thay rồi.

Diệm nhảy lên chiếc xe Vĩnh Cửu của tiếp phẩm đại đội mà vẫn còn nghe tiếng dặn với theo: "Cẩn thận đấy". Diệm như con chim sổ lồng cua những vòng tròn trong lòng trào lên niềm vui. Thế nào cũng phải tóm cho được thằng Long về. Nó phục mình sát đất. Tại sao lại có chuyện mới vừa ra đi từ sáng lại có người đuổi theo gọi về. Hay là nói về có lệnh đi B gấp. Không được có giấy tờ gì để nó tin kia chứ. Chà. Cái xe. Tay Khủng này quả là đại liều. Để lai cho được nhiều hàng đã tháo ra gác đờ bu nhìn như thể người cởi trần. Nếu không có gì cản trở thì tối nay sẽ đến được Thạch Thành rồi sẽ sang Nho Quan. Nhưng biết chúng nó kéo pháo có dám đi ban ngày hay chờ đến đêm vì sợ máy bay oanh tạc. Mà bọn hắn đi đêm thì làm sao nhận ra. Khẩu pháo đã che bạt kín chứ có phải để trần bảo còn nhận ra là bị thương. Nghĩ miên man đến lúc thấy bế tắc thì mặc kệ nó cho xong. Lúc mình đi cái Chiến cứ nằng nặc đòi đi theo. Em chỉ cần gặp anh ấy rồi lại trả về cho các anh thôi. Có cậu nào đó nói thầm. Có mà dứt ra được. Lỡ chúng nó lại kiếm xe ra Hà Nội thì mất tiêu. Ông Hậu xì một cái rõ dài. Cái quân chỉ được nói dại. Sự nghiệp và tiền đồ của cả đời chứ bộ lắng quắng một lúc... Mải nghĩ lung tung đến Thạch Thành lúc nào không hay. Mấy bà và mấy cô đi cấy muộn để tránh máy bay réo lên trêu:

- Anh bộ đội ơi! được về phép hay sao mà đạp xe như mất của quý thế kia. Không nghe người ta báo động máy bay hay sao. Nó mà ném bom là oan cho chúng tôi lắm đấy. Nghe tiếng rẹt một cái. Một cột khói đen ngòm phủ lấy mình Diệm vứt vội chiếc xe cà khổ mà lăn xuống ruộng. Đáng lý phải xin lỗi người ta nhưng không hiểu ai móc miệng ra lại hỏi: Các chị có thấy một xe xích kéo pháo chạy qua đây không?

- Ơ! Cái nhà anh này đến lạ... Đang có máy bay trên đầu lại hỏi xe với pháo. Hay là gián điệp đấy? Nghe đến đấy Diệm không khỏi giật mình. Lỡ họ mà giữ lấy mình lúc này thì chỉ có khóc. Biết thanh minh với thằng Long làm sao đây. Cũng thật may một cô gái nom mặt dễ ưa giọng thật thà:

- Có! Một chiếc xe xích kéo pháo mấy anh bảo vệ trật tự xạc cho một mẻ đấy. Đi từ nửa buổi kia. Có dễ sang đến Nho Quan rồi cũng nên. Diệm nói giọng ngọt lừ: Cảm ơn! Tôi phải đuổi theo họ. Nói rồi cua những vòng xe như kẻ chạy trốn. Trống ngực vẫn đập thình thịch.

Một chiếc xe gat từ phía sau đang lao tới. Diệm đã cố tình tránh ra mãi ngoài mép đường mà nó phanh kít lại. Thôi bỏ mẹ rồi. Chắc là có ai báo nên nó chạy theo để bắt kẻ gian chắc.

- Dừng lại! Từ trên ca bin lái xe nhảy xuống. Cũng trạc tuổi của Diệm. Diệm nói giọng lạc cả tiếng.

- Có việc gì đấy đồng chí?

- Cho xe lên thùng đi.

- Sao cơ?

- Còn sao nữa. Thấy đằng ấy cua xe như người chạy trốn nên tôi cho đi nhờ. Nói rồi anh chàng lái xe cầm lấy xe đạp ném chồng lên mấy bì gai chở gạo hay sắn không biết.

- Lên ca bin ngồi cùng tôi. Đi phép hả?

- Có được thế đã vui.

- Tôi đi báo công. Vận chuyển hoàn thành kế hoạch Đông - Xuân nên được thưởng phép. Được đánh xe về nhà để lúc đi lấy luôn hàng ở Hà Nội. Người lính lái xe nói như khoe. Lúc nào đói thì nói đấy. Đằng này có xôi và thịt gà nữa. Người yêu ở Binh Trạm không đi được nên lo cho ăn đường đấy. Chàng lái xe thổi sáo một điệu gì vui lắm. Chạy được chừng chục cây số như sực nhớ có mặt Diệm mới hỏi:

- Hay đằng ấy qua nhà tôi chơi đi.

- Không được. Tôi còn phải lo một chuyện quan trọng lắm.

- Cóc gì. Hay lại hẹn em thanh niên xung phong chứ gì?

- Có được thế đã vui. Tôi phải đi bắt người. Diệm lại lỡ lời.

- Bắt người chàng lái xe có tên là Thức ngạc nhiên. Đảo ngũ hả?

- Không. Là chuyện thế này... Cái xe gặp đoạn đường xốc làm Diệm cứ phải gào lên kể cho Thức nghe. Không hiểu Thức có rõ được đầu cua tai nheo của câu chuyện không. Thức tặc lưỡi: Cũng đáng! Sao kia? Diệm hỏi lại. Là tôi nói ông giúp bạn như thế là phải!

Một chút lưỡng lự Thức nói giọng cương quyết: Ông bạn đến nhà tôi đi. Thăm mẹ mình một tí. Kể từ khi lên đường nhận nhiệm vụ lái xe trên đường Trường Sơn đã về thăm mẹ lần nào đâu. Mình sẽ lái xe đưa bạn lên Hòa Bình. Từ Hòa Bình mình về Hà Nội luôn. Trầm ngâm một tí giọng của Thức nói như mơ: Cô Chiến ấy xứng đáng được bọn mình giúp đỡ. Cậu Long mà không gặp được người yêu thì cũng tội nghiệp. Tiếng xe rù rù chen vào sự im lặng của hai người.

3

Lính mình đến xem cô dâu tương lai đi học nước ngoài về ăn tết với bộ đội Hàm Rồng. Ban đầu có vẻ không được lịch sự lắm như kiểu xem văn công hóa trang. Chả lẽ lại đuổi mấy cậu ấy ai về khẩu đội nấy. Hậu mới nghĩ ra cách liên hoan văn nghệ "tiếng hát át tiếng bom" xem cô Chiến này còn cái gốc quê nhà hay đã "biến chất" rồi. Nơi bom ném sạt một góc trận địa mấy cậu lính mình cũng thật sáng kiến lấy tà vẹt cừ lại sẵn ván hòm đạn ghép ngay một gian thoáng đãng lại có cả bàn uống nước nữa. Ra vẻ là chiêu đãi sở tất nhiên không vướng víu đến quan sát bắn máy bay từ hướng núi Nhồi bổ nhào. Bây giờ mà đứng ở ngã ba đường xuống Cầu Chui là nhìn thấy cái cửa của căn nhà xinh xắn này. Hậu khoát tay ra hiệu cho trung đội trật tự.

- Trong lúc chờ đợi chú rể từ nơi biên ải về. Chúng ta mời cô Chiến tham gia văn nghệ. Đây là những tiết mục giao thừa năm nay sẽ biểu diễn. Nếu không có gì ngại xin mời cô Chiến ở lại đón xuân Hàm Rồng với anh em.

- Hoan hô! Mấy cậu lính tán thưởng.

- Nào ai sẽ hát bài "Kéo pháo lên cao điểm" ?

- Loan đâu?

Tay Loan pháo thủ số ba vốn lém lỉnh nhưng gặp "cô Tây" mùi nước hoa thoảng trong gió mất nhuệ khí e hèm mấy lần mà không vào được bài hát. Bị đẩy ra trước mặt Chiến không còn ra vẻ là "nghệ sĩ bất đắc dĩ" chào theo kiểu tài tử hề xiếc.

- Tôi xin hầu quý vị tiết mục này đáng ra phải "bí mật" để đúng giờ giao thừa kia đấy!

- Thôi mà! Chả gì anh em mình cũng nhịn miệng đãi khách. Một cậu nào đó đế vào.

Cuộc vui bất thần. Ban đầu còn e dè sau thì cái hồn hậu của cuộc sống lan tỏa ra làm cho người ta không đừng đựợc muốn đóng góp một cái gì mặc dù lấy cái nhiệt huyết là chính. Chờ đến lúc mọi người vui hầu như quên mình có mặt Chiến buớc ra giữa ụ pháo. Tay khẽ vuốt mái tóc che khuôn mặt đã hoàn lại sắc. Có thể do lo lắng không gặp được Long. Lên được trận địa rồi nhìn thấy hố bom lại sợ Long hy sinh. Bây giờ thì đã hiểu được cuộc đời người lính sự hy sinh bất cứ lúc nào có thể đến. Họ lạc quan yêu đời như thế cái mà tiền không thể mua bán nổi. Long đã viết thư cho Chiến và nói về những đêm liên hoan sau trận đánh. Gặp một cô văn công lên trận địa biểu diễn cứ tưởng là em kia đấy may mà không gọi...

- Thưa các anh bộ đội Hàm Rồng... Em được nghe anh Long kể về cuộc sống và chiến đấu của các anh. Bạn bè của em đọc thư và rất cảm phục. Nhưng được tận mắt nhìn thấy các anh mới thấu hiểu cuộc sống chiến đấu kiên cường của người lính. Em sẽ hát tặng các anh bài dân ca quen thuộc mà người Đức ưa thích...

...Những bông tuyết rơi

Trước mùa của chúng

Nỗi buồn tìm đến

Con đường tuyết trắng phủ đầy

Anh yêu Xin anh hãy yêu em

Em là kẻ bất hạnh

Anh hãy ôm em trong vòng tay

Và mùa đông sẽ qua đi

(Khi những bông tuyết nhảy múa)

Giọng ấm trầm của Chiến đưa người nghe vào một xứ sở xa xôi mà chưa ai một lần đặt chân tới. Những dãy núi cao phủ tuyết trắng xóa lẫn trong màn mây trắng lạnh. Ước mơ càng thêm nồng đượm khát khao...

Bỗng tiếng kẻng báo động khua lên. Cái thoáng chốc của thanh bình như bị xóa mất. Tiếng động cơ ào ào ập xuống trận địa cùng tiếng bom.

Ai đó đẩy Chiến vào căn hầm trú ẩn khẽ nói: An toàn đấy. Bom B52 bỏ cũng không việc gì đâu. Tiếng pháo nổ rộ lên. Tiếng bom rung chuyển cả quả đồi.

4

Ngày thứ hai Diệm đi đón Long mà không thấy tăm hơi. Những câu chuyện "xã giao" kiểu văn nghệ cũng không xóa đi được sự lo âu trong mắt của Chiến và cánh pháo thủ. ý kiến của đại đội không thể để cho Chiến ở trên trận địa được sợ xảy ra chuyện thương vong thì thật đáng tiếc. Nhưng ở trận địa còn giúp Chiến nguôi ngoai lúc không có báo động. Đưa xuống làng Đông Sơn thì lấy ai mà chuyện trò động viên cô ấy. Hay là đưa cô ấy xuống chùa Nam Ngạn nhờ nhà sư Đàm trông hộ? Cậu nào đó nói cậu Long mấy lần đưa pháo vào sân chùa cho thợ sửa có quan hệ mật thiết với nhà chùa mà. Nghe được điều này Chiến tỏ ra rắn rỏi:

- Cứ để cho em ở trên trận địa cùng các anh. Có việc gì phân công cho em làm cũng đựợc... Chỉ trừ một việc... Nói không hết câu Chiến quay mặt đi giấu những giọt nước mắt.

- Không sao... Chắc là các cậu ấy đang thồ nhau về. Đường xá xa đấy! - Trung đội trưởng Hậu nói mà không giấu được sự lo lắng trong dạ.

Tiếng kẻng báo động lại ran lên. Mọi người lại ra pháo. Lần này Chiến không nấp trong hầm nữa. Cô nói với các pháo thủ.

- Cũng phải cho em nhìn thấy máy bay Mỹ chứ. Để em còn kể cho các bạn nghe phải không anh.

Mấy hôm nay lính ở các khẩu đội không nghỉ trưa. Không phải họ tò mò ngắm Chiến đâu. Ngắm gái đẹp thì làm sao cho chán đựợc. Các cậu ấy còn phải kỳ cạch cưa rũa lược bằng đuyra lấy ở xác máy bay và vỏ rốc két để tặng cho Chiến làm quà cho bạn. Tổ chức đám cưới thì nhẫn vô khối có đeo vào các ngón tay vẫn còn dư. Ai cũng nhìn xuống phía chân đồi nơi ngã ba đường có Cầu Chui qua đường sắt có tiếng xe xích hay ô tô xuất hiện là nháo nhác nhìn xem Diệm và Long đã về chưa?

Mấy cậu lính trẻ thì bình luận. Long mà về thì nó và cô Chiến kia sẽ làm sao nhỉ. Chả lẽ cứ đứng ngẩn tò te ra mà nhìn nhau hay sao. Làm như phim nước ngoài thì không dám đâu. Chào thôi à? Mấy cha lớn tuổi thì nhếch mép cười bảo: ngu. Lại còn phải dạy cho bọn nó. Chiến đi loáng thoáng dưới chân đồi nghe được hai má đỏ ửng vì thẹn thùng. Cô thấm thía một điều. Tuy được chiến đấu ở miền Bắc nhưng các anh lính cao xạ cũng gian khổ thiếu thốn tình cảm. Có nhiều cậu còn trẻ quá như tuổi em của Chiến mà đã phải dời bỏ trường học đi chiến đấu. Ngay như anh Long của Chiến đấy thôi. Không gặp được anh Long thì sao nhỉ? Chả lẽ cứ ở đây mà chờ phép đang cạn ngày mà tết đang đến gần. Mấy anh bảo ở lại ăn tết với bộ đội xem có khác với sinh viên không. Chiến rất muốn nhưng còn mẹ và đi thăm làng xóm. Ước gì anh Long cùng về đi thăm bà con và nói với mọi người...

Một ngày nữa lại trôi đi trong sự chờ đợi khắc khoải. Nhưng hôm nay có một điều mới lạ với Chiến cô nhìn thấy máy bay bổ nhào và những khẩu pháo nhả đạn vào chúng.

5

Hôm nay trời hửng nắng xua đi cái rét và những trận mưa lâm thâm. Cỏ mọc lên xanh từ sườn đồi bất chấp hố bom mới hôm qua còn lở loét đỏ lòm. Lạ thật mới một đêm mà như có người đem cỏ cấy lên cho màu xanh mát lan ra trên sườn đôi. Trong từng hầm pháo người lính đang trang hoàng những tờ báo tường để đón xuân. Xuân này có thêm một người khách đặc biệt là Chiến người yêu của Long sẽ ăn tết với họ. Tuy bận bịu với công việc nhưng tai họ tập trung lắng nghe tiếng động cơ máy bay. Họ sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ nhịp cầu như bảo vệ cho người con gái từ nơi xa xôi trở về Tổ quốc. Tai còn lắng nghe tiếng của Diệm ở dốc trận địa. "Bắt" được Long về cậu ấy thế nào chả gọi toáng lên cho mọi người biết.

Nhưng một ngày nữa lại trôi đi. Đến bữa cơm ai cũng trễ nải ăn không còn ngon và như câu ngạn ngữ ví von "ăn pháo thủ ngủ lái xe...". Cô dâu của Hàm Rồng cũng cố nuốt cho trôi bát cơm. Không phải vì sự kham khổ mà nể phục sự chăm sóc của đơn vị anh ấy. Chiến như thể đứa trẻ chơi bầy đồ hàng hết giở đồ trong túi du lịch ra lại xếp lại. Ra đến khẩu pháo chuyện trò cùng các chiến sĩ trực chiến mà lòng dõi tận đâu đâu. Hy vọng. Rồi thất vọng dâng lên làm nghẹn cả con tim. Không biết Diệm có tìm được anh Long không nhỉ. Hay ta để lại thư cho anh. Nhưng nếu vừa dời trận địa anh ấy về thì sao. Trong lòng Chiến cả trăm mối tơ vò.

Trời sang chiều. Hoàng hôn của mùa đông rải xuống chân đồi nhàn nhạt man mác. Như thể nỗi nhớ từ trong vạn kiếp của người yêu nhau còn sót lại. Những đàn dê đang từ trên ngọn đồi loang lổ hố bom chạy theo con đầu đàn về chuồng. Một thiếu nữ giơ chiếc roi lên dư dứ vào con dê nhỏ chực chạy đi khỏi đàn. Một giọng hò từ đâu đó trêu người con gái. Có thể xa lạ và có thể họ đã quen nhau. Mượn lời để tỏ tình

Ai đem nắng đến cho chiều

Anh đem xuân gửi tình yêu cho nàng

Cô gái chăn dê cũng không phải vừa bèn đáp lại có lẽ lời thơ mới vừa vụt đến nên không khỏi sự vụng dại đáng yêu.

Nắng ơi! Xin chớ vội vàng

Chờ cho xuân đến anh sang bên nhà

Chiến thèm tình yêu thương giản dị ấy đến thế. Một cuộc sống chiến đấu để rồi được yêu nhau hết mình không một chút thêu dệt. Nhưng lại thấm đẫm một sức sống bất diệt. Chiến không thể nghe hết được sự đối đáp của người lính và cô gái chăn dê. Tình thương anh tự nhiên dâng lên nghẹn ngào khoang ngực. Có lẽ đêm nay sẽ là đêm dài chờ đợi. Ngày mai ở hay về Chiến không dám nghĩ đến Chiến rất sợ sự chia ly này. Bỗng có tiếng reo của ai đó dựng người Chiến dậy. Chiến mới biết mình đang sống trong mơ.

- Chúng mày ơi! Thằng Diệm về rồi. Nó đang vác xe lên trận địa kia kìa!

Chiến hấp tấp chạy ra dốc trận địa Hậu và các chiến sĩ đã có mặt ở đó chờ Diệm.

- Sao lại về có một mình? Hậu hỏi.

Rồi mọi người cũng hiểu ra câu chuyện mà Diệm kể. Anh gặp người lái xe có tên là Thức ấy. Thăm mẹ Thức qua quýt rồi chở Diệm ra xưởng X2 nhưng họ nói chưa có khẩu pháo nào kéo ra từ Hàm Rồng. Chia tay cậu ấy hứa đi lấy hàng và lúc vào sẽ đi theo đường một nếu gặp Long là "tóm" ngay. Diệm lại một mạch phóng xe từ Hòa Bình về đây. Không gặp được Long. May mà về tới dốc trận địa này xe mới hỏng xăm. Nói xong Diệm lăn ra làm mọi người hoảng hồn. Y tá bảo nó thèm ngủ đấy.

Đoạn kết

Đó là đêm nặng nề trong cuộc đời của Chiến. Khổ đau và chờ đợi dâng lên làm cho nước mắt tràn ra khuôn mặt. Cô muốn khóc thành tiếng mà không dám sợ phiền lòng các anh bộ đội đã chăm sóc cho mình. Một lúc nào đó Chiến hoài nghi cho rằng Long đã hy sinh các anh ấy có lẽ sợ mình đau khổ nên bày ra thế thôi.

Cả trận địa đồi "Ba cây thông" cũng không tài nào ngủ được. Các cậu lính trẻ thì lo lắng như chính việc của mình. Những người từng trải thì trầm lặng nghĩ mà thương cho Chiến và day dứt không làm sao gọi Long về gặp mặt người yêu. Có thể ngày mai Chiến sẽ ra về. Ba bốn năm sau liệu có gặp được Long hay không. Chiến tranh ai dám chắc điều gì sẽ xảy ra. Và cả tuổi thanh xuân của người con gái?

Đêm ập xuống. Trận địa im lìm không một tiếng động. Tiếng thổi bễ của mấy tay ngáy cừ cũng không xuất hiện. Tiếng va của chiếc dùi vào vỏ đạn làm kẻng dội âm thanh khi xa khi gần buồn bã âm u như thể tiếng vọng của màn đêm tối tăm và bí ẩn.

Bỗng tiếng kẻng báo động vang lên. Tiếng người chạy ra pháo. Tiếng kéo khóa nòng nạp đạn. Chỉ huy sở hỏi:

- Làm gì có mục tiêu mà báo động? Tiếng quát hỏi cậu gác đêm. Cậu ta báo cáo:

- Nhìn thấy ánh sáng của xe xích đang lên đồi chắc là cậu Long về nên cuống lên mới gõ kẻng.

Mọi người nhìn ánh đèn pha và tiếng gầm gào của xe xích đang bò và phía sau nó là khẩu pháo. Khẩu pháo được kéo vào vị trí công sự của khẩu đội 4 và dừng lại. Từ trên pháo nhảy xuống một người không phải ai khác mà chính là Long. Long báo cáo là đã kéo pháo đi theo đường Một. Đến Lèn thì gặp báo động. Bí quá đặt pháo ở gần trận địa Lèn. Lên thao tác không ngờ khóa nòng mở được ra và đánh tốt. May mà gặp đồng chí trợ lý kỹ thuật đang kiểm tra vũ khí ở ngoài đó. Ông ấy quyết định chịu trách nhiệm cho kéo pháo về sữa chữa tại trận địa nên bây giờ mới về.

Long tưởng là mệt và đứt hơi nên hoa mắt vì nhìn thấy người xuất hiện trước mặt mình là Chiến. Lẽ nào Chiến có thể bay từ nước Đức xa xôi về đây. Nhưng đó là Chiến thật. Cánh lính bây giờ quen có mùi nước hoa thoảng trên trận địa.

Những quả bom bi mà lính đào hố lấp lại cho an toàn không hiểu sao lại nổ. Hậu nói với trung đội:

- Kệ nó! Pháo nổ đón xuân về đấy!

Tay Diệm còn kể lại câu chuyện này nhiều lần. Chỉ có điều cậu ấy bịa lại được bạn về trận địa gặp người yêu thì cái khung xe cũng gãy tài thật.

                                        Cửa Hữu Xuân Canh Dần

                                                   T.N.T

Hà Thị Cẩm Anh

Chuyện của hai người


Truyện ngắn

      
    Hai người lại gặp nhau. Vẫn như những lần gặp trước. Họ không nói với nhau một lời. Họ chỉ ăn với nhau một miếng trầu. Trầu cánh phượng. Cau lòng tôm bổ sáu do người đàn bà đã chuẩn bị từ đêm hôm trước. Hai người im lặng ngồi đối diện nhau bên bếp khách của nhà sàn. Lửa cháy phần phật. Hơi nóng từ bếp than hồng tỏa ra. ánh nắng vàng rực ấm áp của buổi chiều cuối đông chảy tràn từ trên núi xuống ùa vào cửa vóng chiếu hắt lên khuôn mặt nhăn nheo của người đàn bà. Khuôn mặt già nua bỗng nhiên sáng bừng lên và tràn trề hạnh phúc. Người đàn ông đăm đăm nhìn vào khuôn mặt ấy. Thời gian lặng lẽ trôi đi nhưng cũng chỉ đủ để ăn nhạt miếng trầu là họ chia tay. Người đàn ông vội vã xuống thang để quay trở về Mường Phấm kẻo đường xa trời tối. Thung lũng Si Dồ có một con đường đất đỏ nối từ phố huyện đến đất Ba Mường. Con đường quanh co xa thêm vài bận quăng dao nhưng không cách núi cách khe. Ông lão tuổi đã rất cao không thể cắt rừng Chuông Cò mà đi theo lối mòn như hồi còn trai tráng vì thế ông lão nhất định phải đi theo đường lớn. Mỗi tháng một lần ông lão chống gậy đi ra khỏi nhà. Gặp con đường đất đỏ au chạy dài phía trước mặt ông lão dừng lại một chút ngửa mặt lên nhìn mặt trời rồi nhìn hút theo con đường. Hình như ông cụ nhẩm tính quãng thời gian còn lại của mặt trời và khoảng cách con đường rồi mới bước đi. Ông lão cứ miệt mài đi. Đi mãi. Đi mãi đến tận chỗ ngoặt của con đường đất đỏ nơi có chiếc cầu sắt nhỏ vượt qua một con suối sâu nước trong veo. Dưới suối có hai cái cọn nước xộc xệch già nua quanh năm nắng cũng như mưa hai cái cọn như hai người bạn già cứ cần mẫn quay. Quay không mệt mỏi để múc từng ống bương nước nhỏ từ dưới suối lên đổ vào cái máng bằng những thân cây thốn bổ đôi dẫn vào cánh đồng bậc thang chật hẹp của làng Chiềng Va ông lão mới dừng chân ngồi nghỉ. Ông rửa qua mặt mũi tay chân rồi ăn qua quýt vài miếng cơm nắm mang theo trong cái thông nhãng bằng thổ cẩm đeo vắt qua vai trước khi lên sàn làm khách của bà lão làng Chiềng Va.

Hôm nay đã là ngày rằm. Trăng sẽ rất tròn.


*

Ông lão Mường Phấm đã xấp xỉ tám mươi. Ông lão góa vợ đã từ rất lâu. Hình như đã ba mươi năm có lẻ. Ông lão góa vợ khi con trai đã lấy vợ con gái đã gả chồng. ở tuổi ấy nhiều người đàn ông vẫn còn tính đến chuyện tái giá nhưng người đàn ông Mường Phấm thì không! Ông không thể đi bước nữa vì con trai và cả con gái ông nữa. Mỗi lần nghe tin ông quen biết chào hỏi thân thiện với một người đàn bà nào có chung hoàn cảnh là con ông đôi khi cả những đứa cháu còn chưa kịp lớn của ông nữa đã xúm lại dằn vặt ông nhiếc móc ông. Nhiều lần còn tìm đến đe dọa đánh đập cả người đàn bà mà ông chỉ mới tình cờ gặp qua một lần. Cả hai người chưa nói với nhau chuyện gì. Thậm chí còn chưa thật sự trở thành bạn của nhau. Ông buồn và cảm thấy xấu hổ với các bếp(*) bên cạnh nhà mình với những người đàn ông Mường Phấm. Ông cứ thui thủi một mình trơ trọi một mình. Ông cũng muốn đến sàn nhà ai đó trong làng để ngồi chơi một lúc bên bếp khách uống chút rượu cần với người già và nói dăm ba câu chuyện nhưng các con ông cứ dõi theo từng bước ông đi vì thế ông cũng không dám lên thang làm khách nhà ai. Năm ông sáu mươi tuổi con ông làm một căn nhà sàn nhỏ trên đất rẫy rồi để ông ở luôn trong núi trông coi hơn một chục héc ta rừng mà anh ta nhận khoanh nuôi và bảo vệ. Tiện thể trông coi luôn cả rừng luồng và khu rẫy cho đứa em gái. Để bố khỏi buồn chán vì nhàn rỗi con trai ông thả dưới tán rừng một đàn bò lai gần chục con và mấy trăm con gà. Chỉ có mỗi một mình ông ở trên nhà rẫy để trông coi chăn thả. Công việc ngập đầu. Nửa đêm ông còn chưa được đặt lưng xuống sàn. Ông ăn uống thất thường. Nhiều hôm công việc xong xuôi ông mệt bã người chả thiết gì đến chuyện ăn uống. Cũng có nhiều lần trời mưa to nhà rẫy hết gạo ông chỉ uống chén rượu trừ bữa. Các cháu bận học hành. Con trai say sưa với những chuyến đi tỉnh đi huyện với những bản báo cáo thành tích phát triển kinh tế đồi rừng do chính ông tạo dựng lên. Con gái bận chuyện con nhỏ chồng say nên chẳng mấy quan tâm được đến bố già. Hơn mười năm ở một mình trong núi người đàn ông cao lớn hồng hào khỏe mạnh của Mường Phấm biến đổi thành một người rừng hôi hám tóc bạc lưng còng da dẻ nhăn nheo bủng xanh như mắc bệnh phù thủng. Một lần ông bị sốt rất cao trong nhà rẫy. Ông sốt li bì đã mấy ngày liền nhưng không một ai hay biết. Con trai ông đang xuống tỉnh dự đại hội những gia đình làm kinh tế giỏi. Con gái ông bận xây nhà mới. Nhưng thật may mắn cho ông! Có một người đàn bà từ Mường Dồ lên núi tìm con nghé bị lạc. Gặp phải lúc trời mưa thấy có một căn nhà sàn bà đã ghé vào trú tạm. Bà nhìn thấy ông đang nằm co quắp trên sàn. Trong bếp lửa đã tắt ngấm. Người đàn bà Mường Dồ vội vã chụm củi nhóm bếp đỡ cho người ốm nằm ngay ngắn bên cạnh cho bớt lạnh rồi đội mưa vào rừng hái nắm lá thuốc gia truyền của dòng họ Trương làng Chiềng Va. Bà giã nhỏ lá thuốc vắt lấy nước cốt cậy răng người ốm đổ cho ông ta uống. Suốt mấy ngày liền người đàn ông vẫn cứ sốt li bì vì thế người đàn bà góa họ Trương không thể bỏ ông ta nằm lại một mình trong rừng. Bà đành phải ở để chăm sóc cho ông lão. Ban ngày bà thả cho đàn bò vào ăn trong núi hái lá thuốc dọn phân gà cho đàn gà con ăn tấm thả cho đàn gà lớn đi bới giun trong vườn. Ban đêm thức trông chừng những lúc người đàn ông mê sảng. Khoảng một tuần sau người đàn ông mới bớt sốt. Ông nói cho bà biết mình là ai và nhờ bà về Mường Phấm báo tin cho người nhà. Nhưng người đàn bà Mường Dồ còn chưa kịp đặt chân vào đến cửa man đã bị con gái người đàn ông Mường Phấm chửi mắng thậm tệ. Bà vội vã bỏ chạy. Nhưng cô ta vẫn còn cao giọng chửi theo:

- Các người chim chuột với nhau trên đó đến nỗi lăn ra ốm còn về đây báo tin làm gì?

Người đàn bà góa Mường Dồ vừa đau đớn vừa xấu hổ. Bà không quay trở lại ngôi nhà sàn trong núi nữa. Bà cũng không bao giờ nói lại với ông chuyện gì đã xảy ra. Nhưng người đàn ông cũng đoán được cơ sự gì khi các con ông lên núi.

Sau chuyện ấy người đàn ông Mường Phấm hoàn toàn suy sụp. Ông ốm dai dẳng suốt mấy tháng liền. Khi đã đi lại được ông cương quyết dọn về căn nhà sàn cũ ba gian do chính tay vợ chồng ông đã dựng lên từ mấy chục năm trước ở Mường Phấm. Ngôi nhà bây giờ đã bị con trai ông bỏ hoang từ khi xây được nhà ba tầng bằng gạch. Ông từ chối tất cả những gì con gái và con trai ông chu cấp. Ông bán đi vài cái vòng bạc của vợ ông để lại lấy tiền làm vốn đóng bè nuôi cá lồng. Mỗi năm ông nuôi vài lồng cá ngoài bến Mổ. Dưới vườn ông thả mấy chục con gà mái. Ông tìm về làng Chiềng Va cảm ơn người đàn bà đã cứu sống mình. Bà cảm thương cho hoàn cảnh của ông mà bỏ qua mọi chuyện. Hai người trở thành bạn bè suốt nhiều năm liền và cho đến khi đã ngoài bảy mươi tuổi ông mới nhận ra rằng: Ông yêu bà và trong l&

More...

THƠ SỐ TẾT

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐINH NGỌC DIỆP

Người tạc thời gian

theo dáng Bác Hồ

Kính tặng ông Nguyễn Đình Sơn

Thời gian đang đi

Ai đó nhắc

Không có con người chỉ là thời gian chết

Dù chỉ con người bé nhỏ đang đi

Ngước lên trời cao đám mây hình Rồng

Cha bảo: "Ngày mai ông Nguyễn Ái Quốc

Sẽ đứng đầu làm việc cho dân..."

Nguyễn ái Quốc là Con Người - Người nhất

Nghe lời cha con được theo Người

mang tên Ái Quốc

Hồ Chí Minh

sinh ra đời cho vạn vật tái sinh

Người sinh nở cả thời gian

Cái nhìn mở ra thế giới

Tạo hóa

vốn phong kín thời gian bằng những mắt câm!

Con đã được học theo tiếng nói

Những ánh nhìn như nắng đầu tiên

Cái gì Hồ Chí Minh - Bác Hồ cho con

Con nhận cho người khác

Ai đó bảo: Chính con giàu nhất!

Bởi có Người con có cả Thời gian!

"Không có việc gì khó

... Quyết chí ắt làm nên"

Từ cậu bé làng Đông Yên học làm cách mạng

Trải "năm thứ quân"(*) vẫn trong ánh sao vàng!

Ngày về hưu con giàu có thời gian...

Đầy cả tháng ngày con theo những dấu Bác đi

Con chắp nối từng mẩu thời gian Bác Hồ chạm tới

Những tấm ảnh thước phim bút tích của Người

Thời gian thiêng

vượt cả thời gian vật chất

Cậu bé làng Đông Yên là con - hạnh phúc tột cùng!

Ở con hẻm phố Tân Sơn(**)

Thành phố xứ Thanh

Có một Bảo tàng về Bác

Kỷ vật Bác còn

tức Bác không hề xa vắng

Bác trong thời gian - ai kẻ biết nhìn?

                                     Đ.N.D

(*) Ông Nguyễn Đình Sơn từng tham gia Dân quân tự vệ TNXP bộ đội cảnh vệ CAND khi về hưu lập phòng lưu niệm Bác Hồ tại gia đình.

(**) Phố Tân Sơn TP Thanh Hóa.

ĐÀO PHỤNG

Tóc trắng

Tóc vừa xuống trắng như hoa cúc

Mắt đã ngời sắc em qua

Thảo nào trời đất giêng hai ấm

Ngó đâu thấy bóng ai già

                   12-2009

                      Đ.P

PHẠM MINH DŨNG

Vẩn vơ ngày giáp tết

Bóc tờ lịch tết cận kề đâu đó

Bao cái lo toan ập đến quanh mình

Cây mai già nói điều chi không rõ

Ngắm nụ chồi lòng dạ cứ rung rinh

                               P.M.D

NGUYỄN MINH KHIÊM

Viếng Cống Quỳnh

Vào nhà thờ họ Cống Quỳnh

Khói hương mà cứ thấy mình tiếu lâm

Khách sang kẻ trọng về thăm

Đâu đây ông cứ nhăm nhăm đá bèo!

Cây cậy chẳng có ai trèo

Hồng hồng cứ lủng lẳng treo trên đầu!

Chợt nghe bụng đói cồn cào

Giá có mầm đá thuở nào đãi vua?

Cột buồm dựng tự thuở xưa...

Tôi cười... Thưa Trạng! Ông chưa băng hà!

Ông thè nửa chiếc lưỡi ra

- Dân gian chưa chết thì ta hãy còn!

                         10-10-2009

                              N.M.K

LÊ ĐĂNG SƠN

Miền của gió

Miền của gió em ơi

Mênh mông và kỳ thú

Gió cuộn thành thác đổ

Gió thì thầm suối reo

Gió lơ lửng lưng đèo

Gió cheo leo sườn dốc

Gió nhọn như đinh ốc

Gió sắc như lưỡi gươm

Gió hiền như mắt mẹ

Gió của thời tuổi trẻ

Nồng nàn và tỏa hương

Gió mát như người thương

Bao nhiêu năm trở lại

Gió của miền hoa trái

Gió của miền thương yêu.

               Xuân 2010

                  L.Đ.S

TRỊNH ANH ĐẠT

Uống nước chè xanh ở Núi Đối

Ngất ngây... hương vị đậm đà

Bỗng dưng thấy nhớ quê nhà quá thôi

(Chè Núi Đối uống một hơi

Để người bên cạnh liếm môi cũng thèm!)

Đành rằng trước lạ sau quen

Anh vò hăm hở em thèn thẹn sao?

(Yêu đừng mắt liếc như dao

Thương đừng ngún lửa nước dào em ơi!)

Thơm ngon cạn đến đáy rồi

Còn ngơ ngẩn tiếc còn hồi hộp mong

(Sông Đa Độ nước xanh trong

Hãm chè Núi Đối đượm không đâu bằng!)

Chỉ là ấm tích giỏ nan

Vị chè Núi Đối mà làm nên quê

(Cho người đi kẻ trở về

Trước sông trước núi lặng nghe lòng mình!)

Đường chiều lạc khách đa tình

Uống chè Núi Đối nhớ hình bóng quê!

                      T.A.Đ

NGUYỄN HỮU NGÔN

Rượu cần bản Mường

Trụ nhà đã vững

Sàn nhà đã êm

Bản dưới làng trên hội ngộ

Chóe rượu bản Mường ăm ắp

Cần cong sắc vàng óng ánh

Vị Trám tinh anh nói lời hay của Bản

Ngọt hơn mía nướng sắn lùi:

Cần rượu cong nhưng lòng ngay thẳng

Thương yêu nhau xin uống thật lòng.

Xin mời chàng uống một sừng

Mời chàng uống thêm sừng này nữa

Mai lên bè em theo về xuôi

Thiếu nữ Mường lóng lánh mắt cười

Vít cong cần miệng xinh hoa riềng hoa bắp.

Xin mời cứ uống đừng phân vân cao thấp

Hãy liếc mắt sang

Hãy chụm đầu lại

Nguồn nước trong ngọt mãi

Em lấy từ suối xa.

Em hát cùng bản ta

Điệu Xường hoan ca

Ru sông dài núi rộng

Hoa đơm bông lúa thêm mùa vụ

Ru cùng rượu nồng

Say cùng trai làng gái bản

Quên người cầm sừng thả nước

Ngất ngây nghiêng ngả cả sàn

Trống chiêng của bản ngân vang

Ru cùng năm tháng

Rượu nồng Mường ơi!

                  N.H.N



 

NGUYỄN DUY CHINH

Mùa của ngày chưa hết

Ngày phố dài

Gửi nhớ cho em

Thương con đường heo may đến sớm

Nghe cơn bão xa ngọn gió chiều chợt tím

Có ai gọi về thăm thẳm mùa thu

Em!

chân trời của những giấc mơ

Một sợi nắng cũng theo về trong ấy

Mười mấy nghìn ngày ngóng tin không trở lại

Khói bay hoa phượng cháy sân trường

Anh gom nhặt về mùa trĩu - không em

Gieo cho mình - mùa đợi

Giá trong ấy không có mùa nước nổi

Sang xuân nắng ấm em về?

Trời ngoài này trong xanh đến nhường kia

Ai lỗi hẹn thì anh không biết

Em có thấy từng đàn chim én bay

mùa của ngày xưa chưa hết

Mùa của thời áo trắng

Gọi

Mùa em.

               9-9-2009

More...

BÚT KÝ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 

BÙI LÂM BẰNG


Nghi
Sơn trước thềm xuân


Bút ký

            Chuyện kể rằng từ xưa đã lâu lắm có lẽ là từ thuở hồng hoang đất trời chưa chia cõi mây nước giao hòa. Một sớm khi vầng dương lên lung linh cả một vùng trời phía đông có bầy tiên nữ cưỡi mây đi chơi hạ giới. Khi vầng mây bạch trôi đến vùng Cù lao Bãi Biện các tiên nữ chợt thấy một vùng biển nước xanh biếc với bãi cát dài phẳng mịn xa xa phía tây có núi non mờ xanh. Các tiên nữ liền rủ nhau xuống tắm. Vẫy vùng thỏa thích một lúc bầy tiên nữ rủ nhau lên bãi cát có những lùm cây chen cành mát rượi đùa giỡn. Khi các tiên nữ về trời Ngọc Hoàng thấy thiếu một công chúa bèn cho các thiên thần đi tìm nhưng chẳng thấy. Hóa ra có một nàng Công chúa - Tiên nữ đã ngủ quên trong rừng bên bãi bể Cù lao Bãi Biện.

Ngày qua tháng lại ở thượng giới chắc chỉ mới vài mươi hôm nhưng chốn hạ giới xứ Cù lao Bãi Biện đã bước sang những năm cuối của thiên niên kỷ thứ hai công lịch.

    Có chàng hoàng tử lơ ngơ tới

    Mây chợt ngừng bay gió thôi lay...

    Có một chàng hoàng tử đã đến với Nàng Công chúa ngủ quên. Chàng hoàng tử ấy đã đến với quyết định số tám trăm bốn mươi bảy ngày mùng mười tháng mười năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy của Thủ tướng Chính phủ. Quyết định ấy đã phê duyệt định hướng quy hoạch vùng nam Thanh - bắc Nghệ xác định đây là một trong ba vùng phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của khu vực và trọng điểm kinh tế của Bắc Trung bộ. Nàng công chúa ngủ quên đã được đánh thức.


     Một ngày mới đã bắt đầu trên vùng đất ngàn năm im lìm lặng lẽ.

     Cù lao Bãi Biện hay Biện Sơn mà nay ta hay gọi là Nghi Sơn vốn thuộc xã Hải Thượng huyện Tĩnh Gia phía nam tỉnh Thanh. Hòn đảo này như một cánh tay khổng lồ chìa ra biển ôm gọn trong lòng nó một vụng nước với độ sâu thích hợp cho tàu thuyền ẩn náu mỗi khi bão gió. Năm 1996 khi khảo sát vùng này đoàn chuyên gia thuộc Viện phát triển kinh tế Nhật Bản (JICA) đã nhận định: "Nằm ở cuối phía nam bờ biển Thanh Hóa Nghi Sơn có tiềm năng về xây dựng một cảng biển nước sâu có độ sâu từ 15-18 mét. Sau khi xây dựng một nhà máy xi măng lớn một cảng chuyên dùng và tuyến kỹ thuật hạ tầng vào Khu công nghiệp đồng thời với sự đầu tư tổng hợp sẽ cho phép vùng Nghi Sơn trở thành một trong các trung tâm công nghiệp hiện đại của vùng Bắc Trung bộ và của cả nước sẽ là cửa ngõ chính của tam giác kinh tế phía Bắc..."

    Vùng đất cỗi cằn nổi tiếng nghèo khó "Nhất Xương nhì Gia" vốn lặng lẽ im lìm bỗng rùng rùng đất chuyển. Tương lai hé mở cho một khu kinh tế trọng điểm đa ngành đa lĩnh vực với trọng tâm là công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản như: Công nghiệp lọc hóa dầu; công nghiệp luyện cán thép cao cấp; cơ khí chế tạo sửa chữa và đóng mới tàu biển; công nghiệp điện; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất hàng tiêu dùng; chế biến xuất khẩu.v.v...

    Cánh chim đầu tiên đậu xuống miền đất hứa là Nhà máy xi măng Nghi Sơn dự án liên doanh giữa Tổng Công ty xi măng Việt Nam với tập đoàn Mitsubishi Heavy Industri và Taiheiyo Ciment (Nhật Bản) với vốn đầu tư là 373 triệu USD công suất 2 3 triệu tấn/năm của giai đoạn 1 và 248 triệu USD của giai đoạn 2 nâng công suất lên 4 3 triệu tấn (tổng vốn đầu tư cả hai giai đoạn là 622 triệu USD). Dự án Nhà máy xi măng đã thực sự khởi phát cho sự chuyển động rầm rộ vùng đất nam xứ Thanh; rồi bến số 1 và số 2 Cảng Nghi Sơn được xây dựng với quy mô có thể đón tàu 3-5 vạn tấn vào bến và năng lực hàng hóa qua cảng đạt bốn triệu tấn. Đặc biệt là các dự án trọng điểm Khu liên hợp lọc hóa dầu; Trung tâm nhiệt điện; Khu công nghiệp luyện kim và công nghiệp sản xuất xi măng... Cả vùng Nghi Sơn cả vùng nam Tĩnh Gia bỗng trở nên một đại công trường bề bộn và ngổn ngang sôi động và náo nhiệt đất thở rùng rùng người dân hồ hởi. Làng quê yên tĩnh bao năm với cồn cát rặng phi lao luống khoai xanh... nay ầm ào tiếng máy. Những cuộc di dân những cuộc đổi thổ nhường đất cho công trình lớn. Có hồ hởi hân hoan nhưng cũng không ít băn khoăn nghi ngại bởi cũng không ít nhiêu khê không ít khúc mắc. Lẽ thường là vậy. Quê cha đất tổ bao đời ăn ở gắn bó nay bỗng dỡ nhà ra đi đâu có thể nhẹ tênh như nhấc cọng rau đâu phải giản đơn là chuyển một căn nhà. Luyến lưu bịn rịn tiếc nuối... âu cũng là chuyện thường tình. ấy là chưa kể biết bao nhiêu sự khúc mắc trong kiểm kê đền bù giá cả chính sách.v.v... Thế nhưng người dân ở đâu cũng thế có thể là nghèo khó nhưng tấm lòng thì rộng mở và chân thật. Nếu những năm chiến tranh chống Mỹ người dân Tĩnh Gia đã từng dỡ nhà để lát đường bắc cầu cho xe ra tiền tuyến thì trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay người dân Tĩnh Gia lại cũng sẵn sàng nhường đất để Nhà nước kiến thiết cũng vì quê hương giàu đẹp cả thôi...

Dự án Nhà máy liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn là dự án lớn nhất từ trước đến nay đứng chân trên các xã Hải Yến Mai Lâm Hải Thượng Hải Hà và Tĩnh Hải có tổng diện tích 962 héc ta với tổng vốn đầu tư cho giai đoạn I là 6 tỷ USD. Dự án có vốn góp ban đầu là 200 triệu USD do Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) góp 25 1%; Tập đoàn dầu khí Cô-oét (KPI) góp 35 1%; Công ty Idemitsu (IKC Nhật Bản) góp 35 1% và Công ty Hóa chất Mitsui (Nhật Bản) góp 4 7%. Giai đoạn I dự án có công suất lọc dầu 200.000 thùng/ngày (tương đương 10 triệu tấn/năm) sử dụng 100% nguyên liệu dầu thô do Công ty dầu khí quốc gia Cô-oét đảm bảo cung cấp cả đời cho dự án. Dự kiến năm 2013 dự án này sẽ đưa vào vận hành thương mại. Giai đoạn II công suất sẽ được nâng lên 20 triệu tấn/năm.

Còn dự án Nhà máy luyện thép Nghi Sơn giai đoạn 1 nằm trong khu liên hợp luyện gang thép với tổng công suất 2 2 triệu tấn phôi thép/năm. Dự án có tổng vốn đầu tư là 1.475 tỷ đồng sản xuất phôi thép bằng lò điện hồ quang siêu công suất khai thác triệt để tính tối ưu tiến bộ kỹ thuật mới nhất công nghệ hiện đại nhất thế giới từ các nước G7. Dự án sẽ giải quyết việc làm cho 1.500 lao động chủ yếu là lao động địa phương.

Theo cam kết trong vòng 22 tháng tỉnh sẽ hoàn thành giải phóng mặt bằng và xây dựng một số hạng mục hạ tầng cơ bản như điện nước đường giao thông cảng biển để khởi công xây dựng nhà máy đúng tiến độ. Coi đây là nhiệm vụ quan trọng tạo sự hấp dẫn để thu hút đầu tư cũng như đẩy nhanh tiến độ các dự án Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng do Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban đã kịp thời chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn vướng mắc đảm bảo bàn giao đất cho các dự án đúng tiến độ đảm bảo an ninh trật tự và môi trường thật sự tin cậy. Tính đến những ngày đầu năm 2010 này tổng diện tích đã bàn giao cho các dự án là 1.497 héc ta trong tổng diện tích phải thu hồi của các dự án đang triển khai là 2.117 héc ta; trong đó dự án Liên hợp lọc hóa dầu đã bàn giao 566 5 héc ta trong tổng diện tích là 675 héc ta riêng diện tích nhà máy là 328 héc ta. Dự án Trung tâm nhiệt điện đã bàn giao được 327 héc ta trên tổng diện tích là 350 héc ta. Các dự án khác như Nhà máy xuất khẩu Sun Jade; nhà máy luyện cán thép POMIDO khu công nghiệp đa năng nhà máy chế tạo cơ khí và sản xuất vật liệu xây dựng dự án ống sợi thủy tinh trường Cao đẳng nghề LICOGI... cũng đang được thực hiện đúng tiến độ.


                                                           *

     Một sáng cuối đông ẩm ướt chúng tôi vù vào Nghi Sơn chưa phải tiết xuân nhưng mưa phùn đã lây rây. Con đại lộ chạy ngang trước trụ sở Ban Quản lý khu kinh tế Nghi Sơn rộng thênh thang như một nét chấm phá cho bức tranh đô thị hiện đại nay mai. Một chiếc xe buýt đang chờ xuất bến. Hóa ra đây là điểm cuối của tuyến xe buýt Thành phố - Nghi Sơn.

     Các phòng ban của Ban Quản lý vắng teo mọi người đều đang chạy đua với công việc. Kỹ sư Lê Đình Thọ Trưởng ban thì đang họp Thường vụ Tỉnh ủy ngoài thành phố. Bí thư Đảng ủy Hoàng Bá Bộ bận họp Hội đồng nhân dân huyện. Phó trưởng ban Lê Thanh Hà thì đang ở dưới xã. Duy chỉ có Phó trưởng ban Nguyễn Tiến Dũng trực ở nhà. Trên đường đi xuống xã Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường Trịnh Gia Bình nói nhỏ với chúng tôi:

- Anh Hà đang ở trên Phú Lâm chỗ các cơ quan chức năng thực hiện cưỡng chế tháo dỡ...

Tôi hỏi Bình:

- Căng thế cơ à?

- Cũng chỉ vài hộ thôi anh ạ.

- Chỗ ấy là công trình gì - Tôi hỏi tiếp Bình trả lời:

- Đó là đường ống dẫn nước từ hồ sông Mực về cho nhà máy nước Nghi Sơn. Có vài ba hộ đã nhận tiền đền bù rồi nhưng cứ lần khân không chịu giao mặt bằng thành thử phải cưỡng chế.

- Nhiều nơi - Tôi nói tiếp - thường mỗi khi nghe tin sắp kiểm kê đền bù người dân thường cơi nới công trình xây mộ giả mộ gió. Ngay như ở thành phố Thanh Hóa đây biết hôm đó có đoàn đến kiểm kê tờ mờ sáng người ta chặt cành cây vạt nhọn cắm xuống đất. Chỉ ít phút lúc tinh mơ sáng ra vườn tạp đã biến thành vườn cây. Cây cối được kê biên để đền bù. Đoàn vừa đi khỏi cả vườn "cây" héo rũ thành mớ củi. Chuyện thật cứ như đùa. ở Nghi Sơn có chuyện đó không?

Bình thật thà:

- Không anh ạ. Trước kia thì cũng có nhưng bây giờ thì không.

Chuyện thu hồi đất giải phóng mặt bằng là chuyện dài dài ở đâu cũng thế muôn màu muôn vẻ rất nhiêu khê nào là kiện tụng nào chây ỳ thậm chí có cả phá phách chống đối v.v... ít nơi được suôn sẻ. Nhưng ở Nghi Sơn việc giải phóng mặt bằng được tỉnh chỉ đạo quyết liệt chính quyền và các ngành chức năng vào cuộc quyết liệt các tổ chức đoàn thể ở địa phương cũng tham gia rất quyết liệt và đặc biệt đại đa số người dân hồ hởi với những đổi thay của quê hương tương lai của quê hương mà sẵn sàng chấp nhận sự xê dịch để nhường đất cho những công trình lớn làm đẹp cho quê hương làm giàu cho đất nước. Sự đồng thuận sự hợp tác của người dân là yếu tố vô cùng quan trọng đối với bất cứ một công cuộc nào.

    Một con đường mới mở len qua những xóm quê bình dị cây cối lòa xòa rơm rác vương vãi. Ngồi trên chiếc Nisan cà khổ mà cứ êm ru. Hai bên đường còn chưa kịp mọc lên quán xá cửa hàng cửa hiệu thậm chí đang còn rất nhiều mái tranh tiêu điều. Thông thường cứ đường đi tới đâu thì dân trí và mức sống được nâng cao tới đó. Với nhiều nơi khi có con đường chạy qua thì bộ mặt và đời sống cư dân đổi thay rất nhiều. Hy vọng ở đây cũng sẽ như thế.

                                                                  *

      Khu tái định cư Trúc Lâm nằm kề đường quốc lộ số Một đối diện với trụ sở Ban Quản lý khu kinh tế sẽ là trung tâm đô thị Nghi Sơn trong tương lai một vị trí vô cùng hấp dẫn. Tôi từng có lần nói với anh Hoàng Bá Bộ Phó trưởng Ban Quản lý:

- Những vị trí đẹp thế này nhẽ ra phải để dành cho các công trình có tính chất điểm nhấn của đô thị như quảng trường tượng đài nhà hát khu triển lãm công viên hay bưu điện siêu thị vân vân. Chứ bố trí khu dân cư không khéo mươi lăm năm sau nữa lại phải di dời...

Anh Bộ cười:

- Thế mà dân còn khối người chưa muốn đến ở nữa đấy...

    Cũng phải thôi đô thị còn đang ở dạng phôi thai hoang sơ bốn bề đồng không mông quạnh nào đã có gì hấp dẫn mà người dân thì cứ chỗ nào đông vui tiện nghi thì người ta mới kéo đến. Tôi đùa với anh Bộ: "Bây giờ anh nào có tiền nhanh tay tậu lấy mấy mảnh đất khu tái này vài năm nữa hốt bạc tỷ chứ chả chơi".

     Cũng như Trúc Lâm các khu tái định cư Mai Lâm Tĩnh Hải Xuân Lâm-Nguyên Bình đã hoàn thành cơ bản các hạng mục chính và đang đón các hộ đến ở. Những ngày cuối năm này các khu tái định cư nhộn nhịp hẳn lên xe vào xe ra vật liệu xây dựng ùn ùn kéo đến chỗ này đào móng chỗ kia chặt sắt nhà kia đổ trần... náo nhiệt cả một vùng. Nhà cửa đang thi nhau mọc lên hai ba tầng có nội thất tiện nghi đắt tiền có cũng có nhà còn tàm tạm với căn nhà cấp bốn... nhưng ai ai cũng hồ hởi với nơi cư ngụ mới. Ông Nguyễn Tùng Sơn một cư dân mới của khu tái định cư nói: Nhà tôi ở làng không rộng lắm chỉ non hai sào đất nhưng cũng đủ vườn tược cây trái mùa nào thức ấy. Lên đây nhà cửa theo kiểu phố không còn vườn không còn sân cũng nhớ làng quê lắm nhưng không lẽ cứ khư khư giữ mãi cái bờ vườn bờ dậu để rồi quê hương mãi mãi nghèo con cháu mãi mãi nghèo. Có điều như ông bà tôi đây già rồi có đồng trợ cấp và con cháu chu cấp thì không nói làm gì nhưng còn nhiều gia đình đang trong độ tuổi lao động con cái đông lên đây không còn ruộng vườn chưa biết sẽ phải làm gì để sinh sống.

Trong mưa bụi lây rây tôi thả bộ lang thang trên phố mới xi cát gạch ngói rồi máy trộn bê tông máy hàn... ồn ỹ huyên náo tường vôi trắng ve vàng ve xanh... rực cả một vùng. Ngoài xa kia là cánh đồng đang phơi ải hắt lên mùi ngai ngái của đất ẩm. Phố quê thú vị đấy. Đồng quê sẽ cung cấp cho phố xá một lượng dưỡng khí trong sạch tuyệt vời mà các khu đô thị khác không thể ghen tỵ.

     Trúc Lâm Mai Lâm Tĩnh Hải Xuân Lâm-Nguyên Bình những phố mới đang hình thành. Rồi sẽ thêm nữa trường học nhà văn hóa trạm y tế nhà trẻ bưu điện và cả trung tâm thương mại nữa những cơ sở hạ tầng rất cần cho dân sinh. Tuy còn ngổn ngang bừa bộn nhưng đã mang dáng dấp của một khu dân cư sầm uất. Được biết Tập đoàn Dầu khí quốc gia đã đầu tư hơn 80 tỷ đồng và ngân sách nhà nước cũng ứng trước 161 tỷ đồng cho các khu tái định cư này.

     Bất giác tôi nhớ tới lời của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khi ông về thăm Nghi Sơn: "Trong quá trình xây dựng khu kinh tế cần xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng cho người dân. Phải đặc biệt quan tâm giải quyết tốt vấn đề hậu tái định cư để làm sao nơi ở mới phải tốt hơn nơi ở cũ đời sống nhân dân phải được nâng lên từ chỗ ăn chỗ ở học hành đến điều kiện sinh hoạt và đặc biệt là cần thực hiện tốt vấn đề chuyển đổi việc làm tạo công ăn việc làm cho vùng tái định cư".

    Một thành phố đang lên một thành phố đang hình thành hình thành từ tư duy từ ý chí và từ ước nguyện của những con người đầy trăn trở và lo toan và của cả những con người hết sức bình dị ở vùng đất "Nhất Xương nhì Gia này". Một Nghi Sơn đang chuyển mình chuyển mình với sức vươn trẻ trung như chàng trai làng Gióng năm nao. Tính đến đầu năm con Hổ này đã có 29 dự án đầu tư vào Khu kinh tế Nghi Sơn với tổng vốn đăng ký đầu tư 145.188 tỷ đồng tương đương 8 54 tỷ USD. Ngoài ra còn có hàng chục dự án khác đã được thỏa thuận địa điểm đang hoàn chỉnh hồ sơ để xin cấp phép đầu tư với tổng mức vốn dự kiến khoảng trên 2 tỷ USD. Và còn rất nhiều dự án khác như: Dự án xây dựng sân bay dân dụng; Dự án sản xuất các sản phẩm sau hóa dầu; Dự án cảng biển; Dự án cấp nước thô; Dự án sản xuất sản phẩm điện tử và công nghệ cao.v.v... cũng đang được kêu gọi đầu tư.

     Hy vọng rằng nàng công chúa kiều diễm xinh đẹp của xứ Cù lao Bãi Biện thức dậy theo lời gọi của chàng hoàng tử sẽ biến vùng đất phía nam tỉnh Thanh trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại của vùng Bắc Trung bộ là cửa ngõ chính của tam giác kinh tế phía Bắc và xứng đáng là hạt nhân của các vùng kinh tế trọng điểm trên cả nước. Đồng thời sẽ là động lực quyết định bước nhảy vọt về kinh tế của tỉnh Thanh.

    Đất trời đang ở thềm xuân Nghi Sơn đang ở thềm xuân. Những cành mận cành mơ Trường Lâm những cành đào Các Sơn Trúc Lâm đã chúm chím nụ đã lấm tấm hoa như báo hiệu một mùa xuân ấm áp đang về với Tĩnh Gia đang về với Nghi Sơn một Nghi Sơn căng đầy sức trẻ và tràn ngập sức lực mùa xuân.

                         Nghi Sơn tháng Giêng 2010

                                          B.L.B

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NGUYỄN CẨM HƯƠNG

Sợi dây chuyền bạc

Truyện ngắn


 

         Ngăn kéo thứ tám nhưng nó lại nằm trên cùng ngay cạnh tay phải nàng ở đó nàng để những kỷ vật của những người đàn ông mà nàng không muốn quên.

Mỗi khi nàng cảm thấy lòng trống rỗng bao giờ nàng cũng lại chiếc bàn có tám cái ngăn kéo ấy. Nơi đây nàng có thể ngồi hàng giờ đơn giản chỉ để thư giãn.

Thực ra những kỷ vật đó chẳng là gì dưới con mắt người khác nhưng với nàng đó lại là một cái thú khi nàng muốn nhớ về ai đó.

Đàn ông? Nàng luôn có đàn ông bên cạnh. Thậm chí lại toàn là những người đàn ông mà phụ nữ luôn mơ ước. Đó là những người đàn ông giàu có những người đàn ông có địa vị mà người ta hay gọi là đại gia. Còn nàng? Bây giờ người ta gọi nàng là gì nhỉ? Là gái bao gái bay gái gọi cao cấp hay điệu đàng hơn có thể là kiều nữ. Cũng thế cả thôi nhưng nàng vẫn có quyền để kiêu hãnh vì nàng thuộc một đẳng cấp khác trong giới bán hoa. Nàng có học và nàng đẹp. Một vẻ đẹp không giống bất cứ một cô người mẫu nào. Có thể nàng không chuẩn mực về số đo cho lắm so với các chỉ số thời bây giờ nhưng muôn đời cái duyên hấp dẫn của người đàn bà thì không thời nào có thể phủ nhận nàng được. Thân thể nàng phồn thực các đường cong cứ tròn mịn như tượng thạch cao. Một làn da nâu hồng đầy sức quyến rũ trong chốn phòng the. Cặp mắt to đen lúc nào cũng lúng liếng ướt dưới hàng mi dày. Nụ cười của nàng đã làm cho rơi rụng không biết bao nhiêu chức tước của các đấng mày râu. Và nàng đã biết phát huy điều đó. Mẹ nàng bảo nàng giống bố. Bố nàng là ai? ở đâu? Khuôn mặt thế nào? đã hơn ba mươi tuổi rồi nàng vẫn không có được câu trả lời. Khi còn bé nàng không có khái niệm về cha với nàng chỉ cần có mẹ là đủ. Khi ý thức được về một người cha thì nàng thấy căm thù ông ta. Người đã để lại cho nàng một tuổi thơ tủi nhục với nỗi mặc cảm khôn nguôi. Song dẫu vậy mỗi lần nhớ về cái thị trấn miền sơn cước ấy nàng vẫn thấy bồi hồi da diết.

Thường thì nàng ngồi trước gương vài phút ngắm khuôn mặt không trang điểm của mình như đang đối thoại với người trong gương. Rồi nàng mở cái ngăn kéo thứ tám nàng nhìn từng kỷ vật có thể hôm đó nàng thích ngắm cái khuy tay áo măng sec mạ vàng tây hình con cá sấu của người đàn ông mà nàng chỉ qua có một đêm. Người đàn ông đó nàng đã chủ động quyến rũ điều đó quá dễ đối với nàng. Nàng muốn được úp mặt vào vòm ngực rộng của ông ta được soi vào đôi mắt buồn nhưng đằm thắm của ông Nàng biết nàng sẽ không có được ông ta nhưng nàng được tận hưởng những phút giây ngọt ngào bên người đàn ông mà nàng mơ ước trước khi ông ta đặt vào tay nàng một xấp tiền phẳng lỳ. Nàng mỉm cười khi người đàn ông đó đã tròn xoe mắt nhìn nàng khá lâu khi nàng đẩy trả lại xấp tiền mà chỉ xin cái khuy tay áo "ô nó chỉ bằng sắt mạ vàng tây thôi mà" "Vâng nhưng em thích" "Nếu thích anh có thể cho em cả bộ" "Không cần chỉ một cái là đủ". Người đàn ông vẫn ngần ngừ khó hiểu. Tại sao người đàn ông thông minh đến thế lại không hiểu nổi nàng vẫn có quyền yêu chứ?. Hoặc có thể hôm đó nàng lại đặt lên bàn cái lược sừng xinh xinh màu hổ phách cái lược của chàng sinh viên điển trai và hay làm đỏm người đàn ông đầu tiên đã khảo sát cơ thể nàng trong một đêm nơi thôn dã khi lớp nàng đi thực tập. Hay cái chùm dây đeo chìa khóa này gồm cả bộ bấm móng tay một cái kéo nhỏ xíu một con dao nhíp và lại còn cả một cái ngoáy tai bằng đồng nữa chứ. Nàng mỉm cười nhớ lại người đàn ông đó với dáng vẻ ngô nghê của một người suốt đời chỉ biết đến khoa học. Chàng đã hơn bốn mươi tuổi nhưng vẫn độc thân. Có lẽ chàng sẽ chẳng bao giờ biết đến đàn bà nếu như không gặp nàng. Thần Tình ái đã chơi khăm. Tội nghiệp cho chàng nàng nghĩ. Nàng đã ban tặng cho người đàn ông chưa một lần bước chân vào vườn địa đàng đó một món quà tình ái ngọt ngào nhất mà nàng có. Nhưng nàng muốn giải thoát cho chàng. Không biết bây giờ chàng thế nào rồi khoa học có cứu nổi chàng không? chàng có trả lời được câu hỏi vì sao nàng và cả cái chùm chìa khóa bất di bất dịch ấy lại có thể biến mất khỏi chàng nhanh đến như vậy? Nàng không bao giờ lưu giữ những món quà tặng của những người đàn ông đã si mê nàng. Mặc dù hầu như chúng đều có giá. Nàng không bao giờ quan tâm đến chúng. Nhưng nàng lại chỉ thích lưu giữ những kỷ vật rất tầm thường mà nó luôn gắn chặt với người đàn ông nàng nhớ. Nhưng hôm nay... nàng lục lọi sâu trong cái ngăn kéo lộn xộn ấy để tìm một thứ mà nó chẳng liên quan gì tới cái xêri đàn ông kia cả.

Nhà cô bé Mến thực ra chỉ là một cái quán nhỏ nằm sát mặt đường quanh năm hứng trọn những cơn lốc bụi mù của những chiếc xe tải chạy qua. Mà ngay cái quán cũng là của nhà bác Tam mẹ con cái Mến chỉ ở nhờ. Bác Tam là một người đàn bà quá lứa sống độc thân. Sau giải ngũ Thanh niên xung phong bác trở về làm công nhân lâm trường trồng luồng. Rồi bác về mất sức và được chia một khoảnh đất sát với mặt đường cái đó là thiện ý của lãnh đạo lâm trường để bác có cơ may kiếm được tấm chồng. Có lẽ cái cơ may đó sẽ thành hiện thực nếu không có sự xuất hiện của mẹ cái Mến. Lúc đầu bác Tam không cho ở vì cái bản năng đàn bà của bác lên tiếng. Cô gái kia khác nào là kẻ sẽ phá tan cái cơ may của bác. Nhưng rồi nhìn cô gái với cái bụng lùm lùm bác chợt hiểu và đồng ý để cô ở lại. Bác Tam chờ đợi ngày khai hoa của cô gái như chính mình đang chuẩn bị sinh con. Cái Mến ra đời bác Tam cũng quên luôn giấc mơ làm vợ của mình mà chỉ nghĩ đến việc chăm nom cái Mến để mẹ nó rảnh việc bán hàng. Cái quán bán hàng thập cẩm từ gói mì tôm đến bao thuốc lá từ chai nước mắm đến chai rượu trước kia lèo tèo thế mà bây giờ có cô gái mới đến đông khách hẳn lên. Chủ yếu người ta đến để ngắm người đẹp. Mà mẹ cái Mến tỏ ra là người giỏi giang buôn bán hơn bác Tam nhiều. Hàng hết mẹ cái Mến còn biết theo ô tô về tận thành phố để lấy hàng cho rẻ nữa. Chính vì thế mà mẹ nó thường xuyên vắng nhà nhưng khi về cái Mến bao giờ cũng được những món quà và một bữa ăn thịnh soạn.

Cái Mến đã học lớp Một rồi mà đi về cứ thui thủi một mình nó không có bạn. Chả hiểu sao các bạn trong trường cứ xa lánh nó. có lần nó hỏi bác Tam: "Tại sao các bạn lại bảo cháu là con hoang nếu có bố thì không phải là con hoang đúng không bác?". "Bậy nào cháu là con có bố mẹ hẳn hoi đấy chứ chỉ có điều bố không ở với mẹ con cháu mà thôi". "Bác ơi cành cạch là gì hả bác các bạn gọi cháu là con nhà cành cạch". Bác Tam thường xoa đầu cái Mến cười buồn "Kệ chúng nó người ta vẫn luôn đố kỵ người đẹp mà tại vì mẹ cháu đẹp". Cái Mến lại hồn nhiên sống. Với lại nó cũng chả cần vì về nhà nó lại có người bạn hàng xóm vẫn trốn nhà sang chơi với nó. Cậu bé ở trong một căn nhà mái bằng thật đẹp cái Mến chỉ ngó qua hàng rào thôi vì nhà đó có cánh cổng gỗ to tướng và luôn luôn đóng lại còn con chó bec giê lúc nào cũng gầm ghè nhe hàm răng lởm chởm. Cậu bạn hàng xóm có cái tên rất công tử là Tuấn Anh nhưng Mến cứ gọi là anh Tuấn cho dễ. Vả lại Tuấn Anh chẳng công tử tý nào. Tuấn Anh chỉ hơn Mến có một tuổi mà ra dáng người anh ra trò nhường nhịn Mến đủ điều. Mến thích gì đòi gì Tuấn Anh cũng tìm cách làm cho Mến vui. Hai đứa chơi với nhau rủ rỉ thân thiết như hai anh em ruột. Chỉ có điều khi gần đến giờ mẹ cu Tuấn Anh đi làm về là cu cậu phải nhớ co cẳng chạy chui rào vào nhà cho kịp kẻo mẹ nó mà biết thì chỉ có nước ăn đòn. Mẹ cu Tuấn Anh làm ở phòng văn hóa huyện bố nó cũng là cán bộ huyện. Nên không thể để con cái chơi với cái loại "vô văn hóa" được. Mẹ nó luôn răn đe nó như vậy và quản lý nó rất chặt. Khi đi học thì mẹ nó đèo đến tận trường chiều ở nhà thì nó chỉ được quanh quẩn trong khu nhà. Cánh cổng gỗ bao giờ cũng bị khóa chặt sau lưng mẹ nó. Song chính mẹ nó lại không ngờ cái hàng rào vườn sau có một cây duối dại bị chết khô tạo nên một cái lỗ hổng đủ cho cu Tuấn chui lọt sang cái vườn hoang nhà bác Tam. Hai đứa trẻ chơi trong khu vườn như một thế giới riêng thật yên tĩnh. Bác Tam ốm yếu bỏ mặc khu vườn từ lâu nên cây ăn quả mọc lẫn cả những cây dại lơ thơ vài cụm rau ngót vài bụi chuối hột vài cây táo đã lão hóa chỏng trơ cành khô. Thế nhưng hai đứa trẻ vẫn coi nơi đó như một vườn cổ tích đầy hoa thơm trái ngọt. Chúng có thể nằm dài trên cỏ ngắm lũ chim làm tổ trên cành cao ngồi bệt xuống đất chơi trò chi chi chành chành chơi bi chơi đồ hàng... Khi nào thấy cái Mến uể oải xịu mặt Tuấn Anh lại chui rào về nhà kiếm cái gì sang cho Mến khi thì quả chuối củ sắn luộc hay chỉ là một trái khế ngọt rụng nó nhặt ở vườn nhà. Mẹ nó đe "Không được chơi với cái Mến vì cái Mến là con nhà hư hỏng" nhưng Tuấn Anh thấy cái Mến thật dễ thương ngoan và hiền. Tuấn Anh có một sợi dây bạc luôn đeo ở cổ để phòng cảm mạo. Nó thấy cái Mến hay nhìn vào cổ nó ngắm nghía nhưng nó không có quyền tháo ra nó sợ mẹ. Hôm đó đang chơi Tuấn Anh bị một con sâu róm rơi vào cổ nó ngứa gãi xước cả cổ nên bảo cái Mến tháo hộ sợi dây để nó gãi rồi quên luôn không đeo vào cổ nữa. Đến lúc sực nhớ cả hai đứa sục đi tìm thì không thấy đâu nữa. Vừa lúc đó bên nhà cu Tuấn Anh có tiếng chó rít lên ư ử mừng chủ về Tuấn Anh vội vã phủi vội quần áo rồi co cẳng chạy về nhà. Cái Mến chẳng để ý gì đến tình hình cu Tuấn Anh ra sao nó quên tiệt. Nhưng mãi đến tối khi nó vừa bưng bát cơm lên ăn thì nghe bên nhà Tuấn Anh có tiếng quát tháo. Nó bưng bát cơm chạy ra hàng rào nép vào nghe ngóng. "Mày khôn hồn thì tìm ngay sợi dây về đây cho tao nó dụ dỗ mày phải không? hả đồ dại gái. Rõ là mẹ nào con nấy đồ mèo mả gà đồng. Tao không ngờ mày lại vẫn lén lút sang chơi với nó nó cho mày ăn bả gì thế hả con.." Kèm theo mỗi tiếng chửi là một tiếng roi vút vào mông "Này cho mày chừa này..." nhưng cái Mến không hề nghe một tiếng khóc nào của Tuấn Anh chỉ có tiếng nó phân bua "Không phải cái Mến lấy con ngứa cổ nên tháo ra để trên thành giếng rồi không may nó rớt xuống giếng mất rồi". "Đến nước này thì tao phải bảo bố mày gửi mày lên tỉnh ở với bác mày mới được ở đây thì mày đến chết hư mất". Chính lúc này cái Mến mới nghe tiếng Tuấn Anh khóc váng lên "Mẹ ơi con xin mẹ mẹ đừng bắt con đi hừ hừ..." "Nếu vậy thì mày phải tìm được sợi dây về đây cho tao tao biết chỉ có quân nhà ấy lấy thôi".

Nàng cẩn thận mở cái hộp giấy con con đã cũ kỹ rồi dốc ra lòng bàn tay một sợi dây đen xỉn như một nhúm sắt vụn. Nàng cứ để yên như thế và nhìn đăm đăm. Trong lòng bàn tay nàng nàng không nhìn thấy sợi dây mà thấy ở đó là một ánh mắt. ánh mắt vừa nghiêm trang vừa đau khổ nhưng cũng thật tha thiết. Nó vừa quen vừa lạ như ánh mắt nàng vẫn thường gặp trong mơ thật gần gũi nhưng cũng thật xa vời.

Cũng lạ khi bước vào phòng điều tra xét hỏi nàng còn run bần bật vậy mà khi ngồi xuống chiếc ghế trước mặt người công an ấy nàng lại thấy bình tĩnh lạ thường. Có lẽ tại chính cái ánh mắt của người ấy chăng? "Chúng tôi cho mời chị đến đây là để mong chị cung cấp cho chúng tôi một số thông tin có liên quan đến Trần Xuân Khánh. Hiện nay tên này cùng với một số công sự của y đã bỏ trốn đem theo 20 tỷ đồng của công ty vàng bạc đá quý của tỉnh. Chúng tôi được biết chị đã từng có thời gian quen biết Trần Xuân Khánh mật thiết". "Đúng tôi có thời là bồ của ông ta nhưng đã cách đây mười năm rồi đến giờ tôi không biết gì về ông ta cả". "Nhưng chị có thể nhớ lại xem trong thời gian quen nhau ông ấy thường hay đưa chị đến những địa chỉ nào hoặc có người thân ở đâu? Những địa chỉ mới và ngay cả những người tình gần đây của ông ta chúng tôi không cần quan tâm. Cái chúng tôi cần là những địa chỉ cũ. Chị nên hợp tác với chúng tôi để sớm bắt được tội phạm. Chúng tôi cũng được biết ông Khánh không còn ý nghĩa gì với chị cả". "Vâng đúng vậy nhưng thực sự tôi không biết gì hơn về ông ta ngoài những chuyến đi Phi lip pin Thái Lan Singapo... và trong các nhà hàng khách sạn. Tôi không được biết địa chỉ một người thân nào của ông ta cả". "Thôi được chị cứ suy nghĩ kỹ và nhớ lại. Rất mong chị hợp tác với chúng tôi. Đây chị cầm lấy tấm card này nếu có thông tin gì chị cứ gọi vào số máy này".

Người thiếu tá công an bắt tay nàng rất chặt và lại còn tiễn nàng ra tận cổng cái bắt tay đến giờ nàng vẫn còn thấy ấm. Nguyễn Anh Tuấn chứ đâu phải là Tuấn Anh tại sao nàng cứ liên tưởng một cách mơ hồ thế nhỉ.

Hồi đó con bé Mến đâu có hiểu gì nó không tài nào cắt nghĩa nổi tại sao anh Tuấn lại biến mất từ sau cái hôm đó. Nó đã định ngày mai anh Tuấn sang chơi nó sẽ đem trả cái sợi dây chuyền bạc cho anh nhưng nó chờ mãi chờ mãi cho đến khi nó đủ hiểu rằng nó không bao giờ được phép chơi với những người như anh Tuấn vì anh là con nhà cán bộ còn nó chỉ là một đứa con nhà... Nó vẫn đi học một mình nhưng không đứa nào dám bắt nạt nó nữa vì nó đủ sức đánh trả lại đứa nào dám trêu chọc nó một cái túm tóc hoặc cái cắn tay đến chảy máu. Nó trở thành một đứa con gái lì lợm và hung tợn nhất trường. Nó dám đánh nhau với cả con trai nhất là những đứa con nhà cán bộ. Cái Mến ghét cay ghét đắng cái sắc phục công an vì nó cho rằng chính cái sắc phục ấy đã làm cho mẹ nó sợ hãi.

Hừ hợp tác giúp đỡ công an ư? Không đời nào mặc dù nàng cũng chẳng ơn huệ gì với cái lão Khánh ấy cả. Nàng mỉm cười ranh mãnh: Còn lâu công an mới tìm ra được con cáo già ấy. Nàng biết chắc chắn lão đang ở một chỗ mà công an ít ngờ nhất. Ngày xưa khi cùng nàng du hý những chuyến viễn du trở về bao giờ lão cũng đưa nàng đến đó vì lão bảo chỉ có nơi này mới đánh lừa được con hồ ly tinh nhà lão. Đó là một căn nhà cấp bốn tuyềnh toàng trên một con phố nhỏ thậm chí hơi ọp ẹp bên ngoài nhưng chỉ cần bước qua cái cánh cửa gỗ của căn nhà là vào một khu vườn bên trong rất rộng. ở giữa khu vườn có xây một căn nhà hai tầng xinh xắn và đầy đủ tiện nghi. Trông coi khu vườn và căn nhà là một bà lão xấu xí già nua nhưng vẫn khỏe như một mụ phù thủy. Tất cả khu đất đó là do Khánh bí mật bỏ tiền ra mua nhưng đứng tên bà cô ruột không chồng mà Khánh lôi từ dưới quê lên để trông nom. Quả thật là một điểm trú ngụ an toàn. Vì bà cô trung thành với Khánh còn hơn cả mẹ đẻ. Lão bảo chỉ có bồ ruột lão mới cho biết nơi này và chỉ duy nhất có một người. Ngày ấy lão yêu nàng như điên như dại. Hai mươi tỷ ông ta có thể đã đi rất xa nhưng cũng có thể chưa đi đâu cả. Đó là sự khôn ngoan của một con cáo. Lão sẽ ở lại đó một thời gian dài để án binh bất động. Dù cho bất cứ ai vào thăm thú khu vườn hay thậm trí vào cả căn nhà cũng hoàn toàn không thể phát hiện ra lão. Chỉ có nàng chỉ có nàng mới hiểu được ông ta đang trú ngụ ở đâu. Hừ không đời nào. Tuấn Anh hay Anh Tuấn? Người bạn thân duy nhất đã khắc sâu trong lòng cái Mến một nỗi đớn đau về đẳng cấp từ ngày ấy.

0912... Nàng bấm vào số máy trong tấm carad và không hiểu mình bấm để làm gì chuông reo rồi nàng vội vàng tắt máy nhưng đầu máy bên kia đã kịp lên tiếng như đã chực sẵn: "A lô alô... có phải...".

Sáng sớm nàng dậy và trang điểm qua loa nàng mặc bộ quần áo mà có lẽ ai đã từng gặp nàng đều không thể nhận ra nàng vì đó là một chiếc áo sơ mi đơn giản và một chiếc quần bò màu chàm tuy nhiên vẫn không làm giảm được những đường cong tuyệt mỹ trên cơ thể ngoài ba mươi của nàng. Mấy hôm nay nàng đã mặc như thế và đến những địa chỉ mà nàng quen biết để tìm việc nhưng tất cả đều trả lời bằng cái lắc đầu. Tấm bằng đại học loại khá vẫn nguyên xi trong chiếc túi hồ sơ đã cũ nát bởi nó đã được chuyền qua tay khá nhiều các giám đốc mà nàng vẫn chưa bao giờ được trở thành một nhân viên chuyên môn thực thụ. Mặc dù nàng đã làm nhiều chức danh nào là thư ký nào là bồ nhí rồi đến bồ cao cấp... cho khá nhiều giám đốc. Mệt mỏi bởi những cuộc chơi thâu đêm chán ngán những cảnh phải nằm dài trong căn phòng khách sạn chờ những thân hình phì nộn no nê bia rượu nhưng đang đói tình trở về từ những cuộc đấu trí trên thương trường nàng cắt đứt mọi cuộc liên lạc trở về bên mẹ. Thực ra nàng cũng đã mãn nguyện bởi nàng đã làm được cho mẹ nàng căn nhà mà mẹ nàng cả đời không dám mơ ước. Song hình như đến bây giờ mẹ nàng không cần tới điều đó bà suốt ngày đi chùa khấn vái đôi mắt đẹp buồn mênh mang thuở nào giờ cũng đã nhăn nheo và càng tối thẫm hơn. Nàng biết tất cả là vì nàng cái mẹ nàng mong bây giờ là hơi ấm của những đứa cháu ngoại.

Có tiếng chuông reo ngoài cửa. tiếng mẹ nàng ở tầng dưới vọng lên. "Con ơi xuống có khách". Quái trong số đám khách của nàng nàng có bao giờ cho địa chỉ nhà nàng và nếu có biết cũng không được phép đến đây cơ mà. Có thể ai được nhỉ? nàng định từ chối cáo ốm nhưng sự tò mò khiến nàng lại bước xuống. Trước mặt nàng là người công an hôm trước nhưng hôm nay không phải là anh ta hình như anh ta đã khác hẳn không chỉ vì bộ thường phục mà chính là ánh mắt cái ánh mắt tràn trề niềm hạnh phúc. Lạ nhỉ anh ta sao lại biết mình ở đây và tìm đến làm gì?. "Chào chị Đan Nhi có phải... có phải em là cái Mến ngày xưa không?" "Không anh nhầm rồi không có cái Mến nào ở đây cả" "Anh không nhầm hôm gặp em ở phòng hỏi cung anh đã ngờ ngợ rồi và anh đã tìm được ra em không khó khăn và không nhầm đâu vì anh là cảnh sát điều tra mà. Hôm qua anh đã về quê cái nơi mà chúng mình đã chơi hồi thơ bé ấy bây giờ không còn nhận ra được nữa nhà cửa xây san sát rồi anh cũng không còn nhận ra được nhà em nữa". "Nhận ra thế nào được sau khi bác Tam mất mẹ em đã bán ngôi nhà và đi lên đây ở cùng em rồi". "Ngày đó... anh thật có lỗi chắc hồi đó em đợi anh mãi phải không? Anh đi mà không chào tạm biệt em được anh cũng buồn lắm. Sau này đi đại học anh biết em cũng đã vào đại học nhưng đến tìm em mấy lần ở khu trọ mà đều không gặp em. Em đi làm thêm nhiều thế. à hôm nay em có định đi đâu không?". "Em cũng đang định đi à em cũng đang muốn đến gặp trưởng phòng điều tra xét hỏi để cung cấp một tin quan trọng" "ồ điều đó em có thể để đến mai cũng được hôm nay là chủ nhật anh cũng phải được nghỉ chứ. Hôm nay anh muốn đưa em đến một nơi. Anh biết em đang đi tìm việc làm đúng không? Anh sẽ giới thiệu em với một công ty mà anh quen biết em có thể làm việc đúng chuyên môn của mình". "ồ thật chứ" nàng bỗng nhảy lên sung sướng suýt nữa thì ôm chầm lấy người đàn ông đứng trước mặt như thói quen nàng vẫn thường làm thế với nhiều đàn ông". "Vâng à anh Tuấn này nếu anh không vội em cho anh xem cái này này". Nói rồi nàng chạy như bay lên nhà lục cái ngăn kéo thứ tám lôi ra một cái hộp giấy nhỏ rồi đổ ra lòng bàn tay nàng nắm chặt lại rồi đi xuống dưới. "Anh xòe tay ra nhắm mắt lại nào" "Lại chơi trò gì thế ù òa ù ập à" " mở mắt ra đi" "Cái gì thế này trời ơi cái sợi dây bạc đây à chà sao nó xấu xí thế nhỉ thế mà..." "Thế mà ngày ấy vì nó mà anh phải chịu đòn và phải xa nhà đúng không?" "Đúng hơn vì nó mà anh phải xa em" "Không chính là lỗi tại em hôm đó em đã tìm thấy nó nhưng em đã cố tình lấy lá che lại" "Vì em rất thích nó đúng không? chính anh cũng đã tìm thấy nhưng anh đã lờ đi để cho em" "Trời ạ thật vậy sao và anh phải chịu..." "ừ có điều anh không ngờ được vì nó mà anh lại phải xa em mãi mãi".

                                                               N.C.H

More...

THƠ SỐ TẾT

By Văn Nghệ Xứ Thanh

LÊ HUY HOÀNG

Hỏi lòng

Kính tặng nhà thơ Văn Đắc

Hỏi lòng: buồn tiếc hay vui

Những gì sót lại thì trời đã cho?

Năm tao bảy tuyết dặn dò

Chỉ xin tí tẹo hẹn hò lại thôi

Trăm năm ngắn lắm người ơi!

Mùa xuân cứ ghẹo trêu rồi bỏ đi...

Ai về ngơ ngẩn tình si

Để ai trách móc làm chi mất còn

Bộn bề trong nỗi cô đơn

Những câu thơ vẫn chập chờn tỉnh say

Hoàng hôn sao vội cạn ngày

Để cho thi sĩ đắm say tiếc hoài!

L.H.H




NGUYỄN XUÂN NHA

Vươn tới những vì sao

         Tặng Hạc Thành quê hương

Loài chim sếu mỏ đỏ (*) chân dài năm xưa đã về đây

Bắt cá mò tôm trên đồng làng Nam Ngạn

Đồng làng Hạc

Đồng Đông Hương đồng Ba Lít...

Rồi bay đi

Đàn voi trận thuở Bà Triệu đánh giặc từng hóa đá về đây

Dừng chân rất lâu trên các địa danh thành phố

Trong những ngôi chùa cổ

Đã dời đi

Tháng năm này

Là của dựng xây

Là lớn lao vĩ đại

Tháng năm này

Bên cầu Hàm Rồng

Và dòng sông Mã

Trên những cánh đồng chim hạc đã bay đi

Thành phố hai trăm năm

Đang mạnh mẽ chuyển mình cùng đất nước

Đường phố mở ra ngang dọc

Đại lộ mở ra

Phố mới công trình mới khắp nơi

Như nấm sau mưa cao ốc vượt lên chiếm lĩnh tầng không

Vươn tới những vì sao

3-2009

N.X.N

(*) Chim sếu mỏ đỏ còn gọi là chim hồng hạc





 

NGUYỄN TRỌNG LIÊN

Chuyện tình kể trên dòng sông

Ánh điện tràn trên mặt cầu mới bắc

Em tìm không ra chỗ dấu nụ cười

Chuyện tình xưa theo em đi về xuôi

Bãi dâu đó. Núi Đọ đó.

Cái nôi mấy ngàn năm cựa quằn hơi rhở

Sông Chu ơi! lụa Hồng Đô

mịn màng da

tim em đập khẽ

Không còn thuyền đưa những chĩnh tương sang sông

Không còn những chuyến phà chở xe thồ bánh tráng

Cầu đã nối hai bờ và sẻ chia vị mặn

Cuộc sống vươn mầm in khắc đỏ thời gian

Chiều. Phiên chợ. Tằm vào mùa ăn rỗi

Ai như em đãi hến dưới bến xưa

Hồ rau muống đầy vơi theo mùa lũ

Mây che trên ba ngọn một thân dừa(*)

Xin cứ nói đường ta về mộ Cuội

Hòn đá ai lăn lóc chốn trần gian

Mùi bùn ngấu cho làng vào mùa gặt

Trăng sáng đêm rằm trẻ nít hân hoan

Xin hát mãi chuyện chèo Dương Đình Nghệ

Xin được thắp hương trên mộ cụ Quán Nho

Tướng hai thời Trần - Lê

chết rồi còn mang theo bảo kiếm

Thức ngủ mấy trăm năm dưới bái núi làng Cường

Em có biết sông bao nhiêu ghềnh thác?

Cửa Hà Vụng Tôm. Sông Mã đổ nguồn.

Em có biết sông qua bao làng mạc?

Chia vòng đời cho lạch nhỏ tháng năm

Cát vàng phủ một màu thị trấn

ồn ào sông bến tắm vẫn người đông

Gặp lại em trên cầu tràn ánh điện

Ta kể nhau nghe chuyện tình dòng sông.

Tháng 10-2005

N.T.L

(*) Cây dừa ba ngọn nay vẫn còn trên mảnh đất sinh ra cụ Nguyễn Quán Nho thôn Dường Hòa xã Thiệu Hưng huyện Thiệu Hóa Thanh Hóa (nay là thị trấn Vạn Hà)

LÊ VĂN SỰ

Lên bờ

Tặng bác Huệ và hộ dân chài sống trên cạn

Mấy đời ngụp lặn trên sông

Đất làm ăn "chỉ mênh mông" nước trời

Dân chài cuộc sống đầy vơi

Con tôm cá chút lộc trời ban cho

Lưới câu sải lưới con đò

Lững lờ mặt nước sóng xô lòng thuyền

Đêm nghe cá đẻ vặn mình

Biết con nước đã xuống lên theo mùa

Gặp khi lũ cuốn gió to

Bữa cơm thất bát âu lo phận chài

Nhà - thuyền - ván ghép lại thôi

Cứ chòng chành với mây trời tháng năm

"Vào ra" vòm nhỏ không gian

Sớm còng lưng tuổi ngũ tuần mẹ ơi!

Mớ tôm lên bán chợ trời

Năm ba đấu gạo nuôi tôi những ngày

Đời sông muôn thuở lở bồi

Đời chài muôn thuở ngược xuôi thôi mà

Chỉ mơ đâu dám nữa là

Không tấc đất lại có nhà mới xây

Ngôi nhà tình nghĩa hôm nay

Bi bô tiếng trẻ đong đầy niềm vui...

Vĩnh Thành 5-2009

L.V.S

VIÊN LAN ANH

Người về

Ai về thăm hiếu mẹ cha

Có qua dốc gió ngõ nhà bạn xưa?

Đã đi qua nửa đời trưa

Xế chiều mà vẫn như vừa đôi mươi

Lặng trao nhau một nụ cười

Cái duyên trời đã định người nào quên?

ấy là chuyện của bao đêm

Người xa ngồi với ngọn đèn mờ xa

Chuyện người con gái quê nhà

Giam mình trong nỗi nhớ xa buồn gần

Cái ngày cách mấy bước chân

Ta như trẻ nhỏ bâng khuâng vào đời

Cái ngày nhớ một viền môi

Còn lo lắng với nỗi đời đa đoan

Đi qua mấy chặng vuông tròn

Bây giờ còn lại một dòng máu tươi

Chảy vô tư với tháng ngày

Cho tim còn đập cho ngày còn xanh

Người về thăm chị thăm anh

Thăm dòng máu đỏ chảy quanh đời mình.

V.L.A



 

NGÔ XUÂN TIẾU

Bên tượng vua Lê

Thấy trầm tích dưới chân ta quẫy cựa

Cây rừng ứ nhựa đòi xanh

Biển rộng đêm ngày sóng hát

Đồng gọi mùa đất ải nắng hanh...

Bao vương triều đã chọn xứ Thanh

Làm điểm tựa những ngày giữ nước

Phòng thủ tiến công kẻ thù không hiểu được

Đất mài gươm tụ nghĩa bốn phương

ánh mắt vua Lê có chút buồn vương

Làng lúa làng hoa chỉ còn câu hát

Người chỉ tay ra bờ xôi ruộng mật

Hóa sân gôn khách sạn hết sao?

Rừng vàng biển bạc bao hy vọng...

ánh mắt Người như có lửa bên trong

Người dạy ta biết yêu cây lúa

Phải giữ gìn từng tấc đất cha ông!

Đất sinh vua không thể thiếu nhân tài

Sao kẻ sĩ lại đi tìm đất hứa?

Câu hỏi lớn lẽ nào không lời giải

Muốn hỏi vua ngần ngại chẳng dám thưa...

Tháng 6-2009

N.X.T

TRƯƠNG THỊ MẦU

Nàng Ờm

Nàng quỳ đó từ bao lâu rồi

Trước mặt là nong tằm

Sau lưng có chàng Bông Hương

Dưới chân là bụi mún

Ai cũng mong nhặt được một lá

Ướp tình yêu bất tử như nàng.

Mấy ai hay nàng đổi bằng gì

Đâu chỉ là những lời thị phi

Có cả đòn hèo roi vọt

"Ba mươi hèo cây trảy Bảy mươi hèo lèn en".

Thịt nát da bươm máu chảy ròng

Chàng Bông Hương cõng nàng chạy miết

Má đỏ và áo trắng

Thành hoa bông trăng

Nửa trắng áo anh tình trong trắng

Nửa đỏ máu em rỏ từ tim.

Tình yêu hóa đá im lìm

Làm cho khối kẻ đi tìm ước ao.

Đá Làn Ai xanh xanh

Có bụi mún bất tử

Trên trời cao thẳm

Dưới vụng nước sâu thẳm

Khách qua đường ao ước

Lá bùa yêu chưa ai nhặt được

Có thể yêu là dại khờ

Tình yêu đẹp ai chẳng mơ

Nhưng không dễ như nhặt chiếc lá

Tháng 5-2008

T.T.M

* Lá mún: theo dân tộc Mường là lá bùa yêu

Làn Ai là nơi có truyền thuyết Nàng ờm - Bông Hương làn đá soi mình xuống dòng sông Mã thuộc xã Hạ Trung huyện Bá Thước

More...

VĂN HÓA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Đốt đình liệu đêm ba mươi tết tục cầu ánh sáng của cư dân Việt ở làng Động Bồng

                                                      HOÀNG MINH TƯỜNG

         Làng Động Bồng thuộc xã Hà Tiến huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. Qua khảo sát tại hang Chúa và núi Tượng Sơn các nhà khảo cổ học cho biết cách đây khoảng một vạn năm Động Bồng đã có người sinh sống. Tại hang động ở các núi đá vôi đã tìm thấy những di vật hài cốt của người tiền sử với ống xương tay xương chân đồ gốm sành... đã chứng minh điều đó dấu tích của con người thời cổ mượn mái hang làm nhà tránh gió mưa thú dữ để tồn tại mưu sinh vẫn còn hiện hữu. Nên Động Bồng - làng Hang Động tên làng gợi nhớ cho lớp người sau tìm về nguồn cội cha ông và địa bàn cư trú.

Động Bồng làng quê bình dị êm đềm nhấp nhô núi đá và mênh mông đồng trắng nước được ví như "Hạ Long cạn" của phủ Tống Sơn xưa và Hà Trung Thanh Hóa nay. Động Bồng về mùa mưa ngập nước đi lại phải dùng thuyền nên dân làng thường bảo nhau: "Sáu tháng đi bằng chân sáu tháng đi bằng tay" bởi vì mùa mưa cả vùng như một biển nước muốn đi lại phải chèo thuyền bằng tay thay cho đôi chân đi bộ. Trong lao động khi làm ruộng lúc lên núi đánh cá chăn vịt ngoài đồng... lúc nào người dân cũng không quên mang theo chiếc bùi nhùi giữ lửa để sưởi ấm hong khô quần áo nướng nấu thức ăn.

Người Động Bồng xưa có mối quan hệ thân thiết với các làng xã lân cận. Về phong tục tập quán họ có nhiều nét chung với người Mường - Ngọc Trạo Thạch Thành. Người Động Bồng kết chạ với một số làng người Mường - Thạch Thành. Hàng năm họ thường thăm hỏi gặp gỡ nhau nhất là vào dịp lễ tết hoặc những khi có việc lớn như dựng nhà dựng đình chùa chia sẻ vui buồn. Ví như Động Bồng dựng đình thì người Mường - Ngọc Trạo góp gỗ lim làm đình hoặc tục "làm xum" các làng giúp đỡ nhau trong những lúc công to việc lớn.

Xưa làng Chánh Lộc (Cẩm Bối Hà Giang) với làng Động Bồng kết nghĩa anh em với nhau. Chánh Lộc là làng anh Động Bồng làng em. Hai làng thờ chung Thành hoàng mỗi khi tế lễ Thành hoàng thì trống tế làng Chánh Lộc nổi lên trước sau đó mới đến trống Động Bồng nổi lên sau. Đời nối đời họ coi nhau như anh em cùng huyết thống do vậy mà người hai làng không bao giờ lấy nhau mối quan hệ gần gũi không ai bảo ai trở thành luật bất thành văn nam nữ không lấy nhau cho đến ngày nay hai làng vẫn duy trì.

Hà Trung vốn nổi tiếng là "đình huyện Tống" đình nhiều và lớn. Đình Động Bồng cũng là ngôi đình lớn nổi tiếng ở trong vùng. Đình được xây dựng đời vua Gia Long thứ 10 (1812) mang đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Nhìn tổng thể ngôi đình như một đóa sen khổng lồ đang từ từ mở cánh lung linh in bóng xuống mặt nước xanh trong hòa với cảnh sắc núi cao núi thấp nhấp nhô như sóng lượn giữa mênh mông đồng chiêm cò bay mỏi cánh.

Xa xưa Động Bồng thờ ai không rõ nhưng từ khi có ngôi đình và cho đến nay thì đình thờ hai vị thành hoàng làng đó là: Tô Hiến Thành - một ông quan thời Lý có tiếng chính trực công minh ghét bạo tàn luôn giúp đỡ người nghèo. Thành hoàng thứ hai là Tống Quốc Sư - người Trung Quốc giỏi bốc thuốc trị bệnh am tường địa lý tương truyền khi ông đến Tống Sơn thấy vùng đất đẹp đã ngồi nghỉ bên tảng đá và để cây gậy kê bên bỗng chốc cây gậy ấy nẩy chồi bén rễ xanh tốt trở thành cây tre có cành mọc ngược - dấu tích chỗ ông ngồi và giống tre mọc ngược vẫn còn đến bây giờ. Sau khi dừng lại nơi đây ông đã trị bệnh giúp dân được mọi người yêu mến. Người dân vùng này còn kể lại do cảm mến tài đức của nhau Tô Hiến Thành và Tống Quốc Sư đã kết nghĩa huynh đệ và được dân làng Cẩm Đới và Động Bồng tôn làm Thành hoàng vì có nhiều công lao hộ dân giúp nước.

Cùng với di sản văn hóa vật thể di sản văn hóa phi vật thể với những nét đặc sắc cũng in đậm ở làng quê nhỏ bé này đó là làng Động Bồng có tục đốt Đình Liệu vào đêm 30 tết lễ tục độc đáo này qua khảo sát của chúng tôi đến nay chưa địa phương nào trong tỉnh còn giữ được.

Đốt Đình liệu đã được cha ông đời nối đời truyền lại. Theo các cụ già trong làng kể lại hàng năm vào tháng chạp dân làng cử trai tráng là những người khỏe mạnh nhanh nhẹn và nghị lực lên các ngọn núi trong vùng như Ba Trạc Bái Bò Đầu Voi... những nơi có nhiều cây đóm - loại cây dùng làm nguyên liệu để đốt Đình liệu chặt lấy đem về. Đóm là cây thuộc họ lau lách lòng rỗng có đốt lá dài như lá mía loại cây có dầu rất rễ bắt lửa cháy. Khi lên núi lấy đóm trai tráng còn phải chọn tìm cả những đoạn cây thẳng chắc vừa dẻo vừa cứng dùng làm đòn gánh rồi bó đóm lại gánh về. Khi tới làng đóm phải được dỡ ra phơi khô. Đợi cho đóm thật khô hẳn mới thu lại một nơi để chuẩn bị cho việc kết bó tạo dáng Đình liệu.

Sau ngày tiễn Táo quân lên trời vào ngày 25 tháng chạp dưới sự chỉ đạo của các bậc cao niên trai tráng gom những cây đóm đã khô xếp nối tiếp nhau thành một bó đóm lớn có đường kính 65xănti mét chiều dài 25 mét tạo dáng giống như con rồng rồi đem đặt vào gian chính giữa tòa đại đình. Những đoạn cây làm đòn gánh để gánh đóm từ trên núi về được đặt theo hàng ngang đều đặn từ trong ra ngoài sau đó đặt bó đóm lên các đòn kê ấy để Đình liệu không bị ẩm lại vừa tạo dáng cho Đình liệu giống với con rồng. Toàn bộ bó đóm khổng lồ tựa hình con rồng đang quẫy khúc uốn lượn theo đòn kê từ trong hậu cung vươn ra mái hiên như đang chờ đợi giờ phút giao thừa dần đến. Sau ngày 25 các cụ trông coi đình không cho bất kể ai được đến gần Đình liệu - con rồng lớn đó.

Cũng trước ngày 25 tháng chạp trai tráng trong làng được phân công vào núi cấm trước làng để lấy củi khô đem về đình đốt lửa trong suốt mấy ngày tết. Làng Động Bồng ở vào phía nam Gia Miêu - đây là đất quý hương của các ông vua triều Nguyễn vì vậy mà nhà Nguyễn cấm dân trong vùng không được lấy đá chặt cây không làm kinh động đến lăng miếu Triệu Tường. Nếu ai tự ý lấy đá chặt cây thì sẽ bị phạt rất nặng vì vậy dân làng Động Bồng cũng như các làng khác có núi mà phải đi lấy củi đun và mua vôi ăn trầu ở nơi khác. Theo quy định mỗi năm chỉ một lần dân làng mới được phép vào núi thu gom những cành cây và gốc củi khô đem về đình đốt vào dịp tết nguyên đán để giữ lửa trong những ngày tết.

Chiều 30 tết được phép của các bậc tiên chỉ trai làng cùng nhau chuyển bó đóm khổng lồ bằng phương pháp chia số người ra hai bên đều nhau dùng những chiếc đòn kê đều tay chuyển bó đóm từ trong đình ra giữa sân đình. Sau đó họ dùng đòn kê dựng đứng néo lại hướng cho đầu rồng vươn lên cao rồi hạ thấp dần về phía sau. Trong ánh chiều buông nổi trên sân đình một con rồng khổng lồ vừa hiền lành vừa oai vệ từ sân đình vươn lên nền trời cao dồn sức lực đợi chờ giờ khắc thiêng liêng đến để hóa thân thành ngọn đuốc khổng lồ rồi tan biến vào vũ trụ mênh mang hóa nên mưa nhuần tưới tràn mặt đất trong tiết xuân ấm áp khiến vạn vật sinh sôi ấm no hạnh phúc đến với muôn người.

Khi con rồng được đưa tới vị trí đã định trai tráng trong làng trở về nhà làm lễ tất niên sau đó họ cùng bà con dân làng trở lại đình và mang theo một bó đóm nhỏ. Từ già tới trẻ ai cũng háo hức đợi chờ giao thừa đến. Trước khi đốt Đình liệu dân làng tổ chức tế lễ tại sân đình kính cáo trời đất thần linh sông núi về dự lễ với làng tiếp đó trong hậu cung các cụ cao niên làm lễ tâu với thành hoàng xin các ngài cho phép dân làng rước lửa đốt Đình liệu đón chào năm mới.

Khi lửa được rước ra từ hậu cung cũng là lúc tiếng trống cái nổi lên dóng dả trầm hùng tiếng chiêng điểm nhịp dàn trống con cùng lúc đổ dồn tấu lên giai điệu lễ rước lửa theo nhịp bước rộn ràng làm cho cả sân đình sôi động. Người vòng trong vòng ngoài cùng chen vai thích cánh ai cũng mong được đứng gần Đình liệu được thấy rõ ngọn lửa đầu tiên từ đầu rồng bùng cháy. Rồi phút giây chờ đợi giao thừa đã đến bùi nhùi làm râu và bờm rồng cùng với đuốc khô bén lửa cháy bùng lên. Muôn tiếng hò reo sung sướng tiếng trống cùng lúc đổ dồn từ sân đình vọng vang từ các làng bên vọng tới âm thanh từ các vách đá hang động vọng về làm cho lòng người thêm bâng khuâng rạo rực trước thời khắc giao hoan giữa trời và đất con người với thần linh và giữa con người với con người. ánh lửa bừng soi những nét mặt rạng người hân hoan hạnh phúc. Từ trong ánh lửa rừng rực cháy họ thầm mong ước và hy vọng ánh sáng sẽ xua đi sự âm u lạnh lẽo sự nghèo khó gian nan họ cầu mong ánh sáng sẽ đem đến cho họ một cuộc sống đủ đầy ấm no hạnh phúc. ánh sáng và lửa ấm xích họ lại gần nhau hơn để rồi cùng nhau vượt lên gian khó nhân lên niềm vui và sức mạnh xua đi nỗi buồn với một tinh thần lớn: Cộng cư - cộng mệnh - cộng cảm: Cùng chung địa bàn cư trú cùng tôn thờ các vị thần linh bảo trợ cùng cảm thông chia ngọt sẻ bùi trong cuộc mưu sinh.

Sau khi chứng kiến lễ đốt Đình liệu ở đình mọi người châm những bó đuốc mang theo lấy lửa rước điều may mắn đem về nhà thắp hương từ nguồn lửa ấy cáo tế với thổ công gia tiên và nhóm bếp làm đồ cúng đầu năm và giữ lửa trong suốt những ngày tết. Từ ngọn lửa ở sân đình tỏa về các gia đình trong thôn có hàng trăm ngọn lửa nhỏ lung linh cháy sáng. Đêm giao thừa cả Động Bồng như một hội hoa đăng mỗi ngọn đuốc như một vì tinh tú từ mặt đất rọi lên không trung từ trời cao chiếu tràn mặt đất làm cho cả một vùng lấp lánh ánh sáng chụm lại rồi tỏa ra thắp lên trong lòng người trong mỗi nhà một ánh sáng mới rạng rỡ thiêng liêng. Trong những ngày tết kể từ lúc giao thừa đến lễ hạ nêu (mùng 7 tết) những người trông coi đình và mỗi gia đình phải giữ ngọn lửa cẩn thận không bị tắt. Họ tin rằng giữ được lửa ngọn lửa luôn cháy sáng thì dân làng gặp nhiều may mắn làm ăn thuận lợi mùa màng bội thu dân khang vật thịnh. Sau lễ đốt Đình liệu trong ngày tết dưới mái đình dân làng Động Bồng tổ chức trò diễn trò chơi như: hát ru hát bội hát đúm hát đối đáp và các trò chơi dân gian thu hút đông đảo mọi người tham dự.

Một thời gian dài do trải qua chiến tranh và điều kiện không cho phép tục đốt Đình liệu rơi vào quên lãng. Những năm gần đây tục đốt Đình liệu đã được khôi phục lại tuy có ít nhiều thay đổi cho phù hợp với thực tế ở địa phương ví như thay vì đốt Đình liệu bằng cây đuốc giờ đã được thay thế bằng cây lè lè cùng họ cây đuốc nhưng lá nhỏ như lá tre mọc ở núi đá rất dễ cháy các lễ thức và trình tự vẫn được thực hiện như cha ông truyền lại.

Ngay từ xa xưa với điều kiện sinh sống của người Động Bồng ở trong hang động lấy mái đá làm nhà địa bàn cư trú là vùng chiêm trũng quanh năm ngập nước đi đâu cũng cần phải có lửa do vậy hơn bất cứ ở nơi nào khác lửa không thể thiếu trong cuộc sống của người Động Bồng. Chính vì vậy tục đốt Đình liệu trong đêm 30 tết đã ra đời từ đó. Qua tục đốt Đình liệu bước đầu rút ra một số nhận xét sau:

Đốt Đình liệu là lễ tục có từ lâu đời gắn với người Việt cổ ở Động Bồng để tỏ lòng thành kính và biết ơn của người xưa đối với lửa đã giúp họ sưởi ấm tìm kiếm cái ăn xua đi bóng đêm và thú dữ. Lửa đã giúp họ nướng chín thức ăn nhân lên sức mạnh của người cổ xưa trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên tuy hào phóng mà nghiệt ngã đầy hiểm họa và bất trắc đối với cuộc sống của con người.

Đốt Đình liệu ở Động Bồng có nguồn gốc xa xưa đó chính là tín ngưỡng thờ thần mặt trời cầu ánh sáng của người Việt cổ. Họ là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước cần có đủ ánh nắng giúp cho cây trồng tươi tốt con người và vật nuôi sinh sôi nảy nở. Cầu ánh sáng mặt trời cũng là ước vọng trị thuỷ nhằm hạn chế sức mạnh và sự tàn phá của lũ lụt đối với con người làng mạc ruộng đồng.

Đốt Đình liệu là mỹ tục độc đáo phản ánh nhận thức và tư duy thuần phát của cư dân Việt cổ về các hiện tượng của tự nhiên tác động tới sản xuất và đời sống. Lễ tục đặc sắc này hàm chứa nhiều giá trị nhân văn sâu sắc cần phải được tiếp tục bảo lưu gìn giữ phát huy nhằm tập hợp gắn bó các thành viên và cộng đồng làng xã nhằm nhân lên sức mạnh trong mỗi người để làm cho cuộc sống ngày càng ấm no vui tươi hạnh phúc thỏa lòng mong ước của tiền nhân đã dày công khai sơn phá thạch dựng ấp lập làng trao truyền cho các thế hệ muôn sau những giá trị văn hóa dân gian đặc sắc.

H.M.T

Danh nhân tuổi Dần xứ Thanh

                                                            TRỊNH HOÀNH

Lê Văn Hưu (1230-1322)

Lê Văn Hưu là người giáp Thần Hậu làng Kẻ Rỵ huyện Đông Sơn thời Trần; nay là làng Nam xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hóa. Ông mồ côi cha từ khi là bào thai mới bốn tháng tuổi nhưng được sinh ra và nuôi dưỡng trong một gia tộc có truyền thống nhân văn cùng sự chăm sóc của người mẹ họ Đỗ và với tư chất thông minh ông đã trở thành một nhân tài lớn của đất nước một danh nhân văn hóa lớn của xứ Thanh.

Lê Văn Hưu sinh năm Canh Dần (1230). Là người có khuôn mặt trung hậu sáng sủa tư chất thông minh bộc lộ tài năng từ khi còn là đứa trẻ. Mẹ ông là con gái cụ Đỗ Tất Bình một người uyên thâm Nho học và tinh tường thuật phong thủy đã dạy ông học chữ Nho rất sớm mong về sau ông thành danh báo đáp tổ tiên. Từ năm sáu tuổi trở đi cậu bé Hưu đã được ông ngoại dạy từng đoạn văn sách và thuộc rất nhanh. Tài hay chữ của cậu khiến cả ông đồ của Quán học trong làng cũng phải thán phục. Từ năm lên chín Lê Văn Hưu được mẹ cho đến học với ông đồ ở làng Phúc Triều vùng Cổ Bôn (thuộc xã Đông Thanh huyện Đông Sơn ngày nay). Tại lớp học này Lê Văn Hưu đã nổi tiếng là một thần đồng hay chữ đối đáp rất hay và nhanh văn sách làu thông.

Chuyện cậu học trò Hưu đối được câu đối của bác thợ rèn khiến cậu càng nổi tiếng. Chuyện kể rằng bên cạnh gốc đa to trên đường đi học từ làng Nam đến làng Phúc Triều mà Văn Hưu thường đi học có một lò rèn. Một lần đi học về dừng chân xem bác thợ rèn đang mài chiếc dùi đóng vở Văn Hưu rất thích. Thấy cậu học trò nhỏ ngắm nghía chiếc dùi bác thợ rèn bèn hỏi: Cậu có thích cái dùi đóng sách không?

Hưu đáp: Rất thích.

Bác thợ lại nói: Tôi ra vế đối nếu cậu đối lại được tôi sẽ tặng cậu chiếc dùi ấy và thêm ba tiền nữa để cậu mua giấy bút. Rồi bác thợ rèn đọc:

- Than trong lò lửa trong lò sắt trong lò thổi phì phò đúc nên dùi vở.

Bé Hưu không lưỡng lự đọc đối ngay:

- Giấy trong túi bút trong túi mực trong túi viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.

Bạn học đứng xem ngạc nhiên và reo vang. Bác thợ rèn liền thưởng chiếc dùi vở và ba tiền cho bé Hưu trong niềm thán phục và vui vẻ.

Tài ứng đối và ý chí muốn đoạt giải khôi nguyên đem tài năng giúp ích cho đời của Văn Hưu còn bộc lộ trong nhiều lần khác. Truyền rằng trước khi ra kinh đô Thăng Long ứng thí Văn Hưu đến núi An Hoạch (núi Nhồi) để ôn luyện. Sư trụ trì ngôi chùa An Hoạch thấy chàng trai tuấn tú chăm chỉ đọc sách suốt ngày đêm rất khâm phục. Một hôm sau khi trò chuyện với Văn Hưu sư chỉ cây thiên tuế trước chùa và đọc vế đối:

- Cây thiên tuế sống ngàn năm.

Có lẽ nhà sư muốn nói rằng cây thiên tuế vì sống lặng lẽ nơi cảnh chùa không bị bụi trần thế nên sống lâu. Văn Hưu chỉ giàn thiên lý gần đó đối lại ngay:

- Hoa thiên lý thơm ngàn dặm.

Nhà sư thấy rằng không như cây Thiên Tuế sống trầm lặng hoa Thiên Lý tỏa mùi thơm là tinh túy của trời đất tỏa đi xa có ích cho đời và phục ý chí của chàng thư sinh.

Với tài học của mình như thế nên khoa thi Thái học sinh mùa xuân năm Đinh Mùi (1247) của nhà Trần Lê Văn Hưu đã đậu Bảng nhãn là người xếp thứ hai của bảng vàng (sau Trạng nguyên Nguyễn Hiền và trước Thám hoa Đặng Ma La là ba bậc Tam khôi) khi ấy ông mới mười tám tuổi. Việc ông đoạt giải khôi nguyên với danh hiệu Bảng nhãn đánh dấu cái mốc đầu tiên cho khoa cử của xứ Thanh ông trở thành vị tiến sĩ đầu tiên của huyện Đông Sơn và Thanh Hóa thời phong kiến.

Nhờ học vấn uyên bác sau khi đậu Bảng nhãn Lê Văn Hưu trở thành thầy học của quý tộc nhà Trần và quan chức tài năng của triều Trần. Trải ba triều vua (Thái tông Thánh tông Nhân tông) từ chức Hàn Lâm viện thị độc lúc đầu qua chức Kiểm Pháp quan ông đã được thăng đến chức Thượng thư Bộ Binh. Nhưng lịch sử và nhân thế ít nhắc đến ông với danh Thượng thư mà thường nhắc đến ông với cương vị một nhà Sử học. Vào năm Nhâm Thân (1272) khi đang giữ chức Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử giám tu ông đã hoàn thành bộ quốc sử đầu tiên của nước ta là Đại Việt Sử ký gồm 30 quyển (chép sử nước ta từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu hoàng) dâng lên vua Trần Thánh tông (1259-1278) được vua khen ngợi. Do vậy giới nghiên cứu có người gọi ông là Hêrôđốt của Việt Nam hoặc Tư Mã Thiên của Việt Nam... coi ông như những nhà sử học lớn của thế giới.

Cuối đời Lê Văn Hưu nghỉ hưu ở quê dạy học trò và làm sách. Tương truyền ông có viết nhiều sách về phong thủy và Chu dịch. Những ngày cuối đời ông sống trong hạnh phúc gia đình với người vợ đẹp người đẹp nết là bà Nguyễn Thị Thanh (thọ 82 tuổi mất năm Giáp Dần - 1314) vốn là con gái đầu của thầy học họ Nguyễn ở làng Phúc Triều. Chuyện thầy đồ họ Nguyễn gả con gái công dung ngôn hạnh cho học trò Văn Hưu là một giai thoại kỳ thú. Một hôm đang ngồi học trong nhà thầy nhìn thấy ngoài sân có hai người con gái thầy đang phơi đậu chàng Hưu bị cuốn mất hồn vía thẫn thờ nhìn chẳng chú ý đến lời thầy giảng bài. Nhìn thấy thế thầy đồ liền gọi chàng Hưu đứng lên và đọc vế đối bảo chàng đối lại:

- Sân trước phơi đậu sân sau phơi đậu ngươi muốn đậu ta cho đậu.

Chàng Hưu lễ phép đáp lại:

- Cô lớn hái hoa cô bé hái hoa ông thám hoa tôi thám hoa.

(Thám hoa nghĩa là thăm hoa ẩn ý thám hoa bậc thứ ba trong Tam khôi). Thế rồi thầy đồ Nguyễn sau đó đã cho Lê Văn Hưu cưới người con gái lớn là Nguyễn Thị Thanh làm vợ và cho ở rể để tiện việc học hành.


Thiều Thốn (1326 - ?)

Thiều Thốn là hậu duệ của Thiều Kim Tinh hiệu Thuần Đức gốc người Thiều Châu Trung Quốc. Ông sinh năm Bính Dần (1326) tại thôn Triệu Đông xã Triệu Hạ huyện Đông Sơn trấn Thanh Hóa thời Trần nay là thôn Triệu Tiền xã Đông Tiến huyện Đông Sơn. Miền đất này có ngọn núi Thọ Sơn (nay quen gọi là Nhuận Thạch) soi bóng lung linh xuống dòng sông Hương trong xanh thuộc Kẻ Chiếu cổ.

Được nuôi dưỡng trong một gia đình danh gia thế phiệt "cha đi đâu cũng ngựa xe mẹ khoác trên mình lụa là gấm vóc" (1) Thiều Thốn sớm trở thành một chàng trai "sức vóc mạnh mẽ như tỳ hổ giỏi võ nghệ tài cưỡi ngựa bắn cung và lầu thông lược thao chí khí nuốt sao Ngưu sao Đẩu" (2). Chả thế mà năm mới thành niên được tuyển vào làm võ tướng ông được phong ngay chức Phó Đô tướng Kim Ngô vệ quản lĩnh một trong sáu vệ quân bảo vệ Kinh thành Thăng Long. Sau đó nhờ "anh dũng nhất ba quân lập công hơn trăm trận nổi tiếng là tướng trung dũng khắp triều" (3) nên được hoàng đế Dụ tông (1341 - 1369) sắc phong bậc quan võ nhất phẩm với hàm chức Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Kim Ngô vệ và gả công chúa Ngọc Chiêu "Sắc nước hương trời khiến chim sa cá lặn; nhân từ phúc hậu và hiếu hạnh như nàng Chu Thái thời Chu Văn Vương; đang ngóng đợi nhân duyên như chim tước trên bức bình phong của vua nhà Đường" (4)

Biết ý định của vua cha ghép duyên Châu Trần cho mình với hổ tướng Thiều Thốn tuy không phải trong Hoàng tộc nhưng cũng là dòng dõi phiệt hiệt Ngọc Châu công chúa muốn thử tài thi phú văn chương của chàng. Nàng ra điều kiện nếu chàng đối được vế đối sau thì sẽ ưng thuận kết bạn trăm năm:

- Trai Thọ Sơn đứng núi Thọ Sơn sơn sơn xuất anh hùng hào kiệt.

Câu thách đố lấy chữ "sơn" làm trục lại chơi chữ xuất với hai chữ sơn chồng nhau ý cao vời vợi khiến cho Thiều Thốn toát mồ hôi hột. Dưới ánh trăng thu bàng bạc phủ khắp cung thành Thăng Long Thiều Thốn ngước nhìn chị Hằng Nga trên cung trăng để cầu cứu như cầu cứu Nguyệt Lão cho tình yêu của mình. Thế rồi như được mách bảo của Hằng Nga chàng đã dùng chữ "nguyệt" để đối lại vế thách của Ngọc Chiêu:

- Gái cung nguyệt ngồi trong cung nguyệt nguyệt nguyệt bằng quân tử trượng phu.

Dễ dàng thấy rằng Thiều Thốn đã ví Ngọc Chiêu như Hằng Nga ngồi trong cung nguyệt và lấy hai chữ nguyệt ghép lại thành chữ bằng là bạn (trăm năm). Ngọc Chiêu công chúa nghe xong vế đối lại của Thiều Thốn ngỡ ngàng trước tài văn chương của chàng võ quan nhất phẩm. Thế là mối tình loan phượng giữa hai người được tác thành Thiều Thốn trở thành Phò mã đô úy triều Trần.

Không lâu Thiều Thốn được cử chức Phòng Ngự sứ Lạng Giang thống lĩnh quân của triều đình và Sơn Lão quân (quân của các dân tộc miền núi Lạng Sơn và Bắc Giang ngày nay) nhằm trấn giữ biên cương phía bắc ngăn chặn sự uy hiếp của giặc Minh đang mưu mô xâm lấn phương nam. Tại miền biên cương gian khổ. Phò mã Thượng tướng quân Thiều Thốn vốn là một hổ tướng tài ba lại khéo vỗ về quân lính nên họ coi ông như một người cha và đội quân của ông thực sự là một đội quân phụ tử luôn luôn đè bẹp các cuộc xâm lấn quấy nhiễu biên cương của giặc Bắc được triều đình ngợi khen và ban thưởng. Cuối đời vua Trần Dụ tông Thiều Thốn lại trở về Thăng Long chỉ huy quân cấm vệ bảo vệ kinh thành.

Sau khi Trần Dụ tông qua đời do vua không có con nối ngôi nên Hoàng tộc đã cho Dương Nhật Lễ là con nuôi của anh trai Dụ tông là Cung Túc vương Trần Dục lên kế vị. ở trên ngôi báu Dương Nhật Lễ trở nên dâm dật thao túng gian thần lũng đoạn triều chính và giết hại Hoàng tộc Trần âm mưu chuyển quyền bính sang tay họ Dương. Vì thế cuối năm 1370 Hoàng tộc nhà Trần cùng các trung thần đã khởi quân nghĩa phế Dương Nhật Lễ và lập Trần Phủ lên ngôi hoàng đế (đó là Trần Nghệ tông 1370 - 1372) khôi phục nhà Trần. Trong cuộc phế lập này Thiều Thốn đã tóm bắt được Dương Nhật Lễ ở bến Đông Bộ Đầu khi hắn định dùng thuyền chạy trốn. Với công lao ấy Thiều Thốn được ban thưởng hậu và trở nên "Khai quốc công thần" của nhà Trần.

Thiều Thốn là bậc anh hùng công ghi trùm xã tắc đức thấm muôn dân và được hưởng mối tình quốc sắc. Đó là phần thưởng vượt lên hết những phần thưởng vàng bạc quan chức mà nhà Trần đã trao cho ông. Sau khi ông qua đời nhà Trần đã cho xây đền thờ ông ở bản quán và phong làm Phúc thần để nhân dân hương khói phụng thờ. Đền thờ ông ở thôn Triệu Triều sáng ngời câu đối tôn vinh ông:

Công tại Trần triều danh lưu lịch sử

Sinh vi lương tướng tử Thượng đẳng thần

Tạm dịch:

Công với triều Trần tên lưu lịch sử

Sống làm tướng giỏi chết Thượng đẳng thần.

                         11-2009

                           T.H

(1) (2) (3) (4) Theo văn bia ở đền thờ Thiều Thốn (Đông Sơn huyện Thiều Thốn từ bi)

Chim tước trên bức bình phong của vua nhà Đường: Các vua Đường ở Trung Quốc thường treo bức họa có vẽ chim tước (chim Sẻ) đậu ngọn trúc làm bình phong. Khi kén phò mã nếu ai đứng từ xa bắn cung trúng mắt chim tước thì được vua gả công chúa.

More...