BÁC HỒ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

BÁC HỒ VÀ TẾT TRỒNG CÂY


                                                                      HOÀNG KHÔI



       Từ cuối năm 1959 Bác Hồ đã phát động tết trồng cây hướng tới toàn dân. Trên báo Nhân Dân số 2082 ngày 28 - 11 - 1959 bài "Tết trồng cây" Bác khẳng định "Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều". Bác còn diễn giải một cách cụ thể đại ý: miền Bắc hiện có độ mười bốn triệu người trong đó có ba triệu trẻ em thơ ấu còn mười một triệu người từ tám tuổi trở lên đều có thể trồng cây. Mỗi tết trồng khoảng 15 triệu cây thì sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960 - 1965) chúng ta có khoảng 90 triệu cây vừa có cây ăn quả cây có hoa cây làm cột nhà và trong 10 năm nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp khí hậu điều hòa hơn đời sống nhân dân cải thiện hơn.

Toàn dân đã hưởng ứng lời Bác và đã có phong trào một tháng trồng cây từ ngày 6 - 01 - 1960 đến 6 - 02 - 1960 rầm rộ. Từ đó trở đi hoạt động mang tính văn hóa đẹp được duy trì bền bỉ thành "Tết trồng cây" hàng năm.

Tự tay Bác Hồ cũng cầm xẻng xúc đất xách bình tưới nước cho cây và quan niệm của Bác là phải trồng cây nào sống cây ấy trồng thật sự chứ không phải trồng để quay phim chụp ảnh. Mỗi lần đến thăm các địa phương Bác thường trồng cây. Cây được Bác trồng nhiều là đa vì Người cho rằng loài này trồng nơi công cộng là rất thích hợp. Nó tỏa bóng mát nhiều ít sâu bệnh dễ sống tuổi thọ lâu.

Có một chuyện vui. Lần đi thăm xã Nam Cường thuộc huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình Bác phát hiện hai hàng cây mới trồng trên đường làng bèn hỏi ông Ngô Duy Đông Bí thư Tỉnh ủy khi ấy là có phải do bà con mới trồng vội để đón mừng không? Ông Đông phải thừa nhận đúng như vậy. Bác mỉm cười và dặn thêm rằng phải rào lại để khỏi bị trâu bò phá phải chăm sóc để tất cả đều sống.

Từ chuyện Bác Hồ phát động tết trồng cây 50 năm trước đây mà liên hệ hôm nay. Thế giới ngày nay đang trở nên bất an vì những xâm hại của tự nhiên - đó là hành vi phản văn hóa. Do đó người ta xây dựng những nội dung phát triển bền vững. Đó là một sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai. Những nội dung ấy là: 1 - Tăng trưởng kinh tế 2 - Công bằng xã hội 3 - Bảo vệ môi trường 4 - Phát triển văn hóa giáo dục công nghệ 5 - Bảo đảm tự do dân chủ 6 - Phát triển con người. Tất nhiên những nội dung cấp thiết này chỉ mới xuất hiện những năm 90 của thế kỷ XX song trước đó một trong những nội dung thiết yếu trên đã được Bác Hồ đề cập.

Xét trong vấn đề toàn cầu thì Bác Hồ chính là người nêu ra và thực hành tích cực cho việc bảo vệ sinh thái bảo vệ môi trường.

H.K

More...

KỶ NIỆM CHIẾN THẮNG HÀM RỒNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Lê Xuân Giang

Hàm Rồng
Cây cầu huyền thoại

(Tiếp theo kỳ trước)



 

      VIII. Quyết tâm bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 100 để được đón Bác Hồ vào thăm Hàm Rồng.

Theo thống kê của Trung đoàn pháo cao xạ Hàm Rồng thì năm 1965 Hàm Rồng bắn Mỹ rơi được 53 máy bay giặc Mỹ năm 1966 bắn rơi 15 chiếc và năm 1967 bắn rơi 30 chiếc. Tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi ở Hàm Rồng đã lên tới 98 chiếc. Chỉ còn 2 chiếc nữa là tròn 100.

Ban chỉ huy trung đoàn Hàm Rồng xây dựng quyết tâm bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 100 phải là chiếc bị bắn rơi tại chỗ.

Suốt 3 tháng đầu năm 1968 những đợt gió mùa đông bắc ào ạt kéo về. Thời tiết xấu địch chuyển từ chiến thuật đánh tập trung với tốp lớn sang đánh lén với những tốp nhỏ lẻ. Cuộc chiến đấu kéo dài dai dẳng nên trong suốt 3 tháng trời Hàm Rồng mới chỉ bắn rơi được 1 chiếc máy bay Mỹ đưa số máy bay Mỹ bị bắn rơi ở đây lên 99 chiếc. Đúng vào lúc ấy ngày 30-3-1968 Giôn xơn tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở vào. Tuyên bố là thế nhưng trên thực tế cuộc ném bom hạn chế của giặc Mỹ chỉ diễn ra từ vĩ tuyến 19 (cầu Bùng Nghệ An) trở vào.

ở Hàm Rồng chỉ còn những chuyến bay trinh sát của máy bay Mỹ mà chủ yếu là máy bay trinh sát không giặc lái.

Nhiều người ở Hàm Rồng đã nghĩ rằng con số 99 là con số mang màu sắc huyền thoại ở Hàm Rồng. Vì theo truyền thuyết về dãy núi Rồng thì:

99 ngọn ở bên sông.

Còn ngọn núi Nít bên đông chưa về.

Ngay trong lời truyền miệng của nhân dân Hàm Rồng người ta đồn rằng khi người Pháp xây dựng cầu treo Hàm Rồng chỉ riêng việc lắp chốt trên đỉnh cầu cũng đã có 99 người tử nạn. Bây giờ con số 99 máy bay Mỹ bị bắn rơi góp vào huyền thoại ở Hàm Rồng màu sắc mới.

Tháng 5 năm 1968 nhân dịp kỷ niệm lần thứ 78 ngày sinh Bác Hồ khẩu đội trưởng Khẩu đội 4 Đại đội 4 Lê Xuân Thanh là chiến sĩ Quyết thắng được thay mặt bộ đội Hàm Rồng ra Hà Nội mừng thọ Bác Hồ.

Trong buổi chúc thọ Bác Hồ Lê Xuân Thanh báo cáo với Bác: "Hàm Rồng bắn rơi được 99 máy bay giặc Mỹ". Bác ôn tồn nói: "Hàm Rồng bắn rơi chiếc thứ 100 để Bác vào thăm".

Thế là suốt những tháng còn lại của năm 1968 và nửa đầu 1969 mặc dù địch chỉ dùng máy bay không người lái trinh sát nhưng trên khắp các trận địa Hàm Rồng trong lán ở hay ở hầm pháo đều có câu khẩu hiệu: "Hàm Rồng quyết tâm bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 100 để đón Bác Hồ vào thăm".

Nhưng Hàm Rồng đã không kịp thực hiện được quyết tâm ấy. Ngày 2-9-1969 Bác Hồ về cõi vĩnh hằng. Quân và dân Hàm Rồng biến đau thương thành hành động quyết tâm bắn rơi bằng được chiếc máy bay thứ 100 để thỏa lòng mong ước của Người.

IX. Thực hiện Di chúc Bác Hồ Hàm Rồng bắn rơi chiếc máy bay thứ 100.

Hôm ấy đã là ngày chủ nhật cuối cùng của năm 1971 ngày 26 tháng 12. Tính từ ngày giặc Mỹ ném bom hạn chế ở miền Bắc (ngày 2-4-1968) đến khi giặc Mỹ ném bom trở lại (26-12-1971) đã có 3 năm 9 tháng liền Hàm Rồng không có tiếng bom rơi.

Trận công kích bất ngờ vào cầu Hàm Rồng sáng ngày 26-12-1971 gần như không nằm trong một chương trình đánh phá nào của giặc Mỹ. Quy mô và lực lượng giặc Mỹ sử dụng cũng chỉ có 4 chiếc ào đến ném một loạt bom phá vào phía hạ nguồn cách cầu khoảng 300 mét.

Một trận tập kích bất ngờ với quy mô nhỏ bé ấy lại trở thành trận đánh lịch sử: Hàm Rồng bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay Mỹ thứ 100.

Hôm ấy là ngày chủ nhật. Mọi hoạt động của bộ đội Hàm Rồng trên các trận địa vẫn diễn ra bình thường. Gần một phần ba số trận địa ở trạng thái trực ban bộ đội phải có 100% quân số trực chiến. Các đơn vị khác được cho 10% quân số ra ngoài trận địa nhưng số còn lại vẫn phải đảm bảo sẵn sàng chiến đấu.

Chế độ sẵn sàng chiến đấu ấy đã được duy trì ở Hàm Rồng hàng năm nay rồi. Nó đã thành nếp sống của người lính Hàm Rồng.

Đến 9 giờ bỗng có lệnh báo động khẩn cấp. Trên bản đồ tình huống của sở chỉ huy trung đoàn xuất hiện một tốp mục tiêu ở hướng Đông Nam đang xồng xộc lao vào Hàm Rồng. Các đơn vị cao xạ ở Hàm Rồng đã vào vị trí sẵn sàng chiến đấu nhưng rất ít ai tin rằng kẻ địch vào ném bom có chăng cũng chỉ là bọn đi trinh sát mà thôi.

Không ngờ cả 4 chiếc F4D lao vào từ hướng thị xã Thanh Hóa ném bom xuống Hàm Rồng. Trận địa Đại đội 1 trên cao điểm 57 nằm sát điểm cao 134 là đơn vị trực ban nên phát hiện tốp mục tiêu này rất sớm. Khi vào đến cự ly bắn pháo Đại đội 1 bắn giòn giã. Các đại đội khác trong khu vực cũng liên tiếp bắn vào đội hình địch đang lao xuống thả bom. Một chiếc F4D trúng đạn bốc cháy ngùn ngụt lao ra hướng biển nhưng không kịp. Toàn thân cháy đỏ của nó lao xuống ven một xóm nhỏ thuộc địa phận xã Quảng Định huyện Quảng Xương. Tên giặc lái không kịp nhảy dù ra liền bị thiêu trụi. Một chiếc F4D khác trúng đạn bị thương lao ra cách biển Hoằng Hóa 15 hải lý thì rơi tõm xuống biển.

Chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi tại chỗ ở Hàm Rồng sáng ngày 26-12-1971 là chiếc máy bay thứ 100 bị bắn rơi tại đây.

Thế là sau bao đêm ngày mong đợi bộ đội Hàm Rồng đã thực hiện được lời hứa với Bác Hồ. Chỉ ân hận rằng chiến công ấy không thực hiện được sớm hơn để Hàm Rồng được đón Bác.

Sau này khi một trong số những tên giặc lái đi ném bom Hàm Rồng sáng 26 tháng 12 năm 1971 bị ta bắt sống nó khai: Chúng sử dụng bom laze ở Lào từ năm 1970-1971. Nhưng bên Lào không có mục tiêu kiên cố như cầu Hàm Rồng nên chúng chưa có điều kiện thử nghiệm sức công phá của loại bom này.

Trận 26 tháng 12 năm 1971 chúng đánh Hàm Rồng là để thử nghiệm sức công phá của loại bom mới này. Thế là Hàm Rồng lại là nơi đầu tiên ở miền Bắc đụng độ với chiến thuật ném bom bằng tia laze của giặc Mỹ.

X. Hàm Rồng đánh thắng chiến thuật ném bom laze vào cầu.

Nguyên thủy bom laze là loại bom thông thường mang ký hiệu Na1-84 nặng 2000 bảng Anh. Điểm khác với các loại bom thường khác là ở đầu nổ của bom laze được lắp bộ phận tự điều khiển có 4 cánh nhỏ. Muốn cho bom laze tự điều khiển đến mục tiêu phải có một máy bay khác mang thiết bị chiếu tia laze vào mục tiêu để máy bay mang bom laze tiếp cận đến chùm ánh sáng này liền thả bom để bom tự điều khiển vào mục tiêu. Chính vì có bộ phận tự tìm mục tiêu này nên bom laze được gọi là bom Tinh khôn hoặc bom Có mắt.

Tối tân là vậy nhưng bom laze cũng bộc lộ không ít rắc rối. Mỗi lần đi ném bom laze phải có ít nhất 2 máy bay một mang bom một mang thiết bị chiếu tia laze. Mặt khác nếu tên mang bom không thả đúng chùm laze thì bom rơi tự do và phát nổ như bom thường.

ở Hàm Rồng sau trận đánh thử nghiệm bằng bom laze ngày 26-12-1971 bị thất bại giặc Mỹ vẫn rắp tâm đánh gục cầu bằng loại bom có mắt này.

Tháng 4 năm 1972 khi Níc xơn mở lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc bom laze trở thành vũ khí thông dụng trong các cuộc ném bom thì Hàm Rồng là mục tiêu đầu tiên được chúng lựa chọn.

Ngày 13-4-1972 giặc Mỹ đánh bom laze vào Hàm Rồng lần thứ 2.

Ngày 21-4-1972 giặc Mỹ lại cho máy bay F4D mang bom laze vào đánh cầu Hàm Rồng. Lần này chúng sử dụng một chiếc bay vòng tròn qua cầu để chiếu tia laze và 3 chiếc F4D khác mang bom laze cùng lao vào ném bom.

Đối mặt với thủ đoạn ném bom laze của Mỹ bộ đội Hàm Rồng sớm nhận ra mối hiểm họa từ chiếc máy bay lượn vòng chiếu tia laze. Nếu chúng ta đánh vào tên này tia laze nó chiếu xuống không trúng vào cầu thì bom laze sẽ rơi tự do ra ngoài.

Với cách đánh thông minh ấy suốt từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1972 Pháo cao xạ Hàm Rồng đã liên tục chiến đấu đánh thắng chiến thuật dùng bom laze đánh cầu của Hải quân Mỹ bảo vệ cầu Hàm Rồng an toàn.

Để tránh những phiền toái khi phải sử dụng một chiếc máy bay chiếu tia laze một chiếc khác ném bom từ tháng 7 năm 1972 giặc Mỹ cải tiến thiết bị chiếu tia laze lắp thẳng vào máy bay mang bom để tiện cho việc sử dụng bom laze và để tránh tổn thất. Với chiến thuật đánh bằng bom laze đã được cải tiến này mỗi chiếc máy bay phải có một thời gian bổ nhào ổn định để chiếu tia laze vào cầu và giữ như thế cho đến lúc cắt bom xong mới được ngoặt ra. Lính Hàm Rồng gọi lúc chúng bổ nhào ổn định như thế là bổ nhào bằng cánh (có nghĩa là không lật ngang lật ngửa như lúc bay thông thường). Nhè vào lúc nó bổ nhào bằng cánh như vậy mà đánh vồ mặt nhất định thằng địch phải luồn lách để tránh đạn. Tia laze và bom laze do chính nó ngắm vào cầu cũng không còn chính xác nữa. Bộ đội Hàm Rồng gọi cách đánh ấy là: "Đánh bằng cánh đánh bổ nhào".

Từ đó trên khắp các trận địa pháo Hàm Rồng rộ lên phong trào thi đua: "Đánh bằng cánh đánh bổ nhào; Tiêu diệt dịch bảo vệ cầu". Để đánh vồ mặt khi chúng bổ nhào bằng cánh không có cách nào khác pháo thủ phải cực kỳ dũng cảm chọn đúng thời cơ nổ súng.

Từ tháng 7 năm 1972 trở đi. Bộ đội Hàm Rồng lại đánh thắng thủ đoạn sử dụng bom laze mới của kẻ thù bảo vệ cầu an toàn.

Cuộc chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng trong cuộc đọ sức lần thứ 2 với giặc Mỹ thật cực kỳ gay go và ác liệt. Mỗi pháo thủ Hàm Rồng không chỉ cần có lòng dũng cảm mà còn phải am hiểu thủ đoạn đánh phá của kẻ thù để đánh thắng nó. Khi vũ khí của kẻ thù cũng biết tinh khôn lên thì con người càng phải tinh khôn gấp bội.

Con người chứ không phải là vũ khí quyết định chiến thắng.

(Còn nữa)

L.X.G

More...

KỶ NIỆM THANH HÓA - QUẢNG NAM KẾT NGHĨA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

               THANH - QUẢNG
          KHÔNG CHỈ LÀ CÁI TÊN

     Khoảng giữa năm 1973 có một đoàn văn công mang tên Thanh Quảng đã từ Thanh Hóa vào phục vụ tại Quảng Nam nói riêng khu V nói chung. Đoàn tập hợp nhiều nghệ sĩ gốc Thanh Hóa và miền Tây Quảng Nam (Chủ yếu là những nghệ sĩ người dân tộc Cơtu thuộc các huyện Tây Giang Đông Giang và Nam Giang). Nghệ sĩ A Tùng Vẻ hiện nay đang sống tại Đông Giang là trưởng đoàn văn công Tây Quảng Đà đã cùng với một số anh chị em khác ra Hà Nội bồi dưỡng thêm nghiệp vụ rồi sau đó nhập cùng các nghệ sĩ của đoàn văn công Thanh Hóa lập ra đoàn văn công mang cái tên đậm chất nghĩa tình giữa hai vùng đất: Thanh Quảng. Đây là tiền thân của Đội Văn công khu V nổi tiếng một thời. Vào Quảng Nam đoàn đóng ở vùng Nước Y bắc Trà My để từ đó vừa sản xuất lương thực vừa tỏa ra biểu diễn văn nghệ phục vụ nhân dân và chiến sĩ. Những nghệ sĩ nổi tiếng của đoàn như cô Vinh A-Lăng Hoa A-Lăng Mỹ Tám Bút...hiện nay có người đã chết nhưng nhiều người vẫn còn sống và đang phục vụ văn nghệ tại Đà Nẵng Quảng Nam. Trong số những nghệ sĩ đã hy sinh vì một nền văn học nghệ thuật cách mạng có Trần Vũ Mai người xứ Thanh đã vĩnh viễn nằm lại với vùng đất kết nghĩa Quảng Nam... (Tại Bảo tàng khu V ở Phước Trà huyện Hiệp Đức vẫn còn lưu lại hình ảnh của nghệ sĩ trong đoàn chụp lưu niệm với đồng chí Võ Chí Công).

Đây có thể nói là sự khởi đầu đẹp đẽ cho mối quan hệ gắn kết trên lĩnh vực Văn học Nghệ thuật giữa hai tỉnh. Sau năm 1975 những người con Thanh Hóa như Đỗ Văn Đông Lê Đình Nghi nhạc sĩ Trần Hồng... vẫn ở lại Đà Nẵng công tác và trở thành những cây bút quan trọng ở nhiều lĩnh vực sáng tác nghệ thuật. Những năm đầu của thập niên 80 khi mà văn học nghệ thuật cả nước đang phát triển mạnh các trại sáng tác văn học nghệ thuật do Hội VHNT Quảng Nam-Đà Nẵng và Trung ương mở tại Đà Nẵng đều có mời những cây bút chủ công của Thanh Hóa tham gia. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh (sau này là Phó Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa Tổng Biên tập tạp chí Xứ Thanh) cũng từ những trại sáng tác ngày ấy sau khi được anh em văn nghệ sĩ Quảng Nam đưa đi thực tế nhiều nơi đã bắt đầu thai nghén tiểu thuyết lịch sử Truyền thuyết sông Thu Bồn và nhiều truyện ngắn khác viết về đất và người Quảng Nam. Tháng 6 năm 2005 trong một chuyến đi thực tế sáng tác tại các tỉnh phía Bắc 14 Văn nghệ sĩ Quảng Nam thuộc ba chuyên ngành Văn học Âm nhạc Nhiếp ảnh đã có chuyến dừng chân tham quan nhiều di tích lịch sử văn hóa và thắng cảnh của Thanh Hóa. Đoàn Quảng Nam đã được đích thân đồng chí Chủ tịch và Phó Chủ tich Hội VHNT Thanh Hóa tiếp đón và sau đó có buổi giao lưu đầy tình cảm giữa văn nghệ sĩ hai Hội. Một năm sau Đoàn Văn nghệ sĩ của Thanh Hóa do đồng chí Lê Xuân Giang Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa dẫn đầu lại vào Quảng Nam tham quan giao lưu học tập kinh nghiệm lẫn nhau trong tình cảm anh em kết nghĩa thắm tình bằng hữu.

Trong tổng hợp tác phẩm văn học tham gia Giải thưởng VHNT Đất Quảng 5 năm lần thứ nhất 2010 (sẽ được xét chọn và trao giải vào tháng 3 năm 2010) điều thú vị là đã có hai tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của hai tác giả là người Thanh Hóa tham gia. Đó là tác phẩm Thượng Đức của nhà văn Nguyễn Bảo và Truyền thuyết sông Thu Bồn của nhà văn Từ Nguyên Tĩnh.

Có lẽ sự khởi đầu là từ một cái tên: Thanh Quảng. Để rồi len giữa dòng chảy tình cảm Quảng Nam - Thanh Hóa kết nghĩa hợp giao văn học nghệ thuật giữa hai tỉnh cũng đã được nhen nhúm ngày một thắm đậm hơn đất và người Quảng Nam - Thanh Hóa đã trở nên gắn kết với nhau hơn. Do vậy có thể nói Thanh Quảng không chỉ là một cái tên cái tên của một đội văn công mà là sự khẳng định lâu bền của một tình cảm đẹp.

                                                                  Nguyễn Đình Quý

                                                           (Hội VHNT Quảng Nam)

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TỪ NGUYÊN TĨNH

Dịch hạch

Truyện ngắn


      Sự khắc khoải trong tôi là cái đói. Một ngày hai lạng gạo có ngày đứt bữa chỉ rau rừng. Có khi nhịn uống nước suông hàng tuần lễ. Cái đói tưởng truyền kiếp từ thủa xa xôi của loài người dày vò một cách thú vật. Ước gì được ăn một bữa thật no một nồi quân dụng cũng ăn cho kì hết. Ngày ở miền Bắc khi được phân công xuống làm phụ anh nuôi đứa nào cũng ngốt lên khi nhìn nồi cơm cười. Vậy mà bây giờ cái đói chao ôi là đói ước chi có được cơm mà ăn gạo khô mốc thôi cũng được ăn đi rồi có chết cũng chẳng sao. Thủa nhỏ tôi nghe mẹ kể về cái chết của người ăn quá no sau một thời gian dài bị đói bị bội thực mà chết. Nhưng dẫu sao thì cũng chết sau lúc ăn no. Sự dối trá của cái đói khó chịu làm sao. Làm giả vờ no ư? Lúc nào anh ta cũng tưởng tượng ra đủ trò phờ phỉnh cái dạ dày nhưng không tài nào che đậy nổi sự cồn cào. Sự co bóp của dạ dày lấy gì trong luễnh loãng ấy để tìm sự an bình.

Cảm giác ớn lạnh của cái đói bám riết suốt cuộc đời và nghĩ đến là người lại rã rời. Đêm đó tụi tôi đi lấy gạo ở Kỳ Sơn một xã vùng núi của Tam Kỳ. Tôi Thắng và mấy chiến sĩ nuôi quân xăng xái ra đi nhưng chắc gì lấy được gạo cảm giác vô vọng đó thật đau lòng. Phỏng nói ra sự thể đó có ích gì hay đó cũng là lời tự thú mà mãi mãi về sau ai minh chứng cho về cái đói trong chiến tranh. Khi ta ngồi ăn với sự bầy biện thịnh soạn sự ê hề của bia bọt giò chả... sự chán ngán của tiệc tùng... Nhưng lúc ấy chỉ là sự thèm khát mà tưởng tượng ra thật rùng mình bởi sự vầy vò gáo réo của dạ dày.

Đêm đó chúng tôi đi theo cô gái giao liên dẫn đường đến Kỳ Hà. Cô gái chưa kịp hỏi tên thì đã trúng mìn hi sinh. Quay lại thì lấy gì mà sống nhưng tiếp tục đi thì biết nơi đâu mà lần. Thôi thì phó thác cho may rủi dùng la bàn mà cắt rừng tìm đường. Lần mò hết đêm rồi sang ngày hết ngày rồi sang đêm mệt rã rời thì tuốt lá ra mà nhai bụng dạ sôi ì oạp. Có cậu nói đùa:

- Giờ mà sẩy đụng độ địch thì nguy to!

- Nói giỡn! Lúc đó sức lực được huy động chớ!

Nói vậy là nói cứng để an lòng nhau thôi chúng tôi chờ vào sự may rủi của số phận. Đang chuẩn bị lót ổ qua đêm thì nghe tiếng réo từ đâu làm cho cả bọn giật thót:

- Ơ tụi bây! lấy gạo hỉ ?

- Anh Hai!... Thắng reo lên ném khẩu cạc-bin xuống chân chạy tới một gốc cây.

Người mà Thắng gọi là Hai hiện ra thật kỳ dị. Tôi tưởng ổng từ sao Kim hay sao Hỏa rớt xuống tóc thưa thớt vàng vọt như rễ si. Anh ta nói giọng cục cằn mệnh lệnh không ra mệnh lệnh hăm dọa không ra hăm dọa:

- Tụi bây coi chừng mà chết vì gạo nghen!

Chúng tôi như được thần linh tiếp sức hối hả theo ảnh vào một lòng khe và đứa nào đứa nấy thích vào chật cứng bao lô và cả những ruột tượng đem theo.

- Tụi bây tự tiện mà bồng nghen! - Một âm điệu ồ ề phát ra nơi anh Hai thủ kho nghe gớm ghiếc. Mớ tóc thiếu áng sáng đong đưa sau ót. Thời gian đã làm rụng hết sự màu mỡ nơi con người anh. Hàm răng nhơn nhơn mỗi khi anh nói chiếc nọ xô đẩy chiếc kia phân bua về cái vẻ thiếu hấp dẫn của mình.

- Tao thiếu vitamin đó! Tụi bay thì thiếu cái nầy! - Nói rồi lại cười hệch hoạc chỉ vào bì gạo. Suốt đời tôi không sao quên được nụ cười méo mó phủ nhận cái sự đói sự trần tục của con người. Anh nhìn tụi tôi đưa vào miệng những hạt gạo như một thằng ăn vụng.

- Tụi bay ở lại qua đêm hả! - Anh ta hỏi.

- Không! Bọn em phải vượt qua xanh mà! - Thắng lanh lợi trả lời

- ờ lấy đại mà biến đi

Ai biết anh ta bao nhiêu tuổi - ở chiến trường mà đoán tuổi là khùng. Khi tụi tôi xúc gạo anh nói phách là đã có cặp bồ rồi. Tay anh phác một cử chỉ nom ra dáng lắm rằng hết chiến trận anh sẽ vào mỹ viện nào đó làm phim. Tôi biết anh ta thèm khát sự gần gũi cùng con người. Tôi ngó trân trân vào anh Thắng phải quát lên:

- Mày không lo đoạn đường vượt qua dốc hả. Trung sỹ i nốc.

Anh ta phát bẳn bắt tôi vục bớt gạo từ ba lô ra. Anh ta mau lẹ giằng ba lô từ vai tôi xuống.

- Mày là thằng đểu! Mày nện gạo sao chặt dữ vậy?

Tôi phát uất mở dây buộc ra vơi bớt gạo đi. Trong dạ xót xa một nỗi nào tôi có được ăn một mình đâu. Biết bao người nóng lòng chờ tụi tôi về chờ gạo và biết có được ăn gạo hay đã hy sinh rồi?

- Mày biết không khi đến ông mới vội vàng vận quần áo ông tụt từ trên cây xuống như con khỉ. Có người ông mới mang đồ? Trời đất ông tiếc của làm chi ổng ghét mầy là phải thôi vì ổng ở kho 12 năm mới mang được lon hạ sỹ tao gọi mày là trung sỹ ổng cáu mà?

Thôi nói chi nhiều về ổng thủ kho mà tội nghiệp. Đêm ấy chúng tôi ngủ nằm úp thìa trên đỉnh núi có được hạt gạo mà đứa nào cũng cười toang toác:

- Trên đời này không ở đâu ghét bằng mấy cha coi kho nếu đếm được hết từng hạt gạo chắc mấy cha cũng làm.

Tội nghiệp cái đói làm chúng tôi tầm thường xép nép và có vẻ nịnh bợ khi gặp một người có quyền. Xin đừng ai nghĩ là ở chiến trường bao giờ cũng hào hùng hy sinh trong bom đạn lúc xung phong bị pháo úp sập hầm và cũng có lúc nằm trên võng mà lịm đi hun hút vào cõi hư vô.

Đêm ấy chúng tôi nằm úp thìa vào nhau trên ngọn núi Trẻ. Biết ai đó đã đặt tên cho ngọn núi như vậy. Mỗi đứa nhai một vốc gạo gạo tan ra đến đâu thấy người tỉnh ra đến đó. Chắc tổ tiên mình đã từng ăn gạo sống nhưng không có được sự ngọt ngào như chúng tôi lúc ấy.

Sáng ra tụi nó đều cứng ngắt. Chúng nó nằm cong queo úp thìa vào nhau trong miệng còn gạo. Thắng và tôi lúng túng trước cái chết của tụi nó. Tôi không nhắc tên làm chi vì đằng nào tụi nó cũng chết đói. Đã thế Thắng lại réo lên:

- Tụi nó chết vì quá chén mày ạ!

- Trời đất. Biết làm sao được. Chúng nó nằm úp thìa vào nhau. Chúng nó vừa cười cợt trêu đùa kể những tiệc tùng no say mà sáng ra sương đã thấm lạnh từng mái tóc thấm lạnh cả con người. Thôi đừng gọi tên tụi nó làm chi cần chi vì chúng nó có phải là anh hùng đâu mà người đời cần nhớ tên.

*

Tôi và Thắng quại nhau về cái chết của tụi nó. Thắng cho rằng đáng lý phải ngồi mà nhai nhai khi thức; nằm mà nhai thần chết đến mang đi luôn. Tôi cho rằng cậu ta bậy bạ tụi ấy chết đói là sự thật.

- Vậy tại sao khi có gạo vào bụng lại chết?

- Tại sao không phải là thần chết cõng đi từng đứa?

- Tại sao? Không gặp điều gở được khi bắt đầu nằm xuống lại có tiếng cú kêu?

Nó ngồi thu lu bên gốc cây sau khi tuôn ra một tràng uất ức. Tôi phát hoảng vì cách ngồi như dán chặt vào thân cây rất sợ nó dính vào đó. Mái tóc mốc màu lá đôi mắt lờ đờ thiếu sinh khí. Giọng nói hổn hển rời rạc cơn sốt thất thần co giật làm cậu ta phải ôm ghì lấy thân cây những giọt mồ hôi to như quả táo vỡ ra từ màu da vàng ệch. Đôi mắt nhắm nghiền ấy bỗng nhiên mở ra với cái giọng triết lý vĩnh cửu mà ai nghe cũng thấy ghê sợ:

- Nếu có được một bát cháo cho tụi nó thì đâu đến nỗi... Thiệt oan nghiệt!

Tôi im lặng. Chỉ có hai chúng tôi là nhân chứng của cảnh bi thương. Cố sống cố chết tôi cũng không tha nổi ngần ấy bao lô gạo về và lại được phiên vào một đơn vị mới ngoắc. Thắng vẫn râu tóc như cụ già giờ đã là trung trưởng. Còn tôi vẫn là chức A như cũ vì đá đít một cậu lính đòi thêm phần gạo. Nghĩ cũng cực những con người to lớn thế kia mà phải sống bằng ngần ấy nắm gạo. Ký ức của tôi lại hiện về những lần mẹ kể. Rằng năm ấy làng đói khát cả làng dắt nhau đi xin ăn cả nhà nằm chết gục bên cổng nhà giàu. Có nhà lại bới tìm phần thức ăn thối rữa nơi cống rãnh. Nhưng cái đói lúc ấy làm sao so với sự chịu đựng đầy kiêu hãnh của chúng tôi. Sự không khuất phục của người lính thật cảm động xiết bao chúng tôi nhai từng hạt gạo ngọt ngào. Từng hạt béo bở ngấm vào trong con người thấy khỏe ra. Cuộc đời chẳng có ai khinh ai khi cái đói được chia đều. Vì chiến tranh là ở từ mọi phía trước mặt sau lưng bên tả bên hữu và ở cả trên trời lẫn mặt đất bất chợt sẽ đến. Trong những người kia biết ai mất ai còn sau một trận đánh mới. Rồi mọi sự ghanh ghen theo thói thường cũng không lai vãng đến cấu véo lương tâm con người... Tôi đã đi qua cái chết và đi qua được cái đói xanh người ở chiến trường như vậy. Sự việc sẽ không được nhắc lại làm chi nếu tôi nằm trong số người nằm lại chiến trường sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Ngày ấy tôi và Thắng biệt xứ lại gặp nhau hai đứa nước mắt lưng tròng ôm lấy nhau. Thắng còn nguyên hai tay nhưng mất một chân. Tôi còn nguyên hai chân nhưng mất một tay. Chúng tôi có đủ ba tay ôm lấy nhau mừng mừng tủi tủi. Cái chết qua đi cái đói cũng qua đi sao mặt Thắng vẫn hốc hác tưởng chừng sự bi ai đó bám riết dai dẳng đã thế những giọt nước mắt ít ỏi như người già khóe miệng mở ra méo xệch:

- Dịch hạch! Dịch hạch mầy ạ!

- Trời ơi! mầy nói chi lạ vậy khi tụi mình là người chiến thắng trở về.

- Tụi nó chết đói chết vì dịch hạch đó Tú ơi! - Tôi quên không nói đến tên mình. Nếu không gặp Thắng thì tôi cũng quên cả tên mình luôn vì chỉ tụi nó mới gọi được đúng cái âm thanh thất thần đó trước lúc chia ly.

*

Đem gạo được về đến đơn vị để rớt mấy đứa bạn nằm lại ở trên đỉnh núi. Những đứa bạn ở cùng tiểu đội - chúng nằm dưới mồ còn nhai gạo. Thật ra cái chết chẳng nên đến với cái tuổi của chúng nó. Nhưng ai mà biết được sự thể lại như vậy. Khi gạo ăn chẳng có chỉ dùng rau rừng qua bữa. Có người bị thói quen thi vị hóa rau rừng khi ngồi ăn tiệc. Họ giả đò nhíu mày khao khát một chút rau đắng đót chát đắng dường như là sự cảm khoái màu mè. Nhưng tụi tôi lúc đó chán ngán mọi thứ rau. Phải nhắm mắt nuốt từng ngọn tàu bay từng đọt măng đắng ngoét. Đã thế lại thiếu muối. Chao ôi! Đã ai tự hành tội mình nếu thử khảo nghiệm một lần cái đói dai dẳng rùng mình nuốt những ngọn rau thiếu muối mặn. Chắc chỉ cuộc chiến tranh đã dạy cho con người ta sự chịu đựng phi thường đó. Chúng tôi ước một ngày nào đó sẽ gặp được gạo nói đến gạo là nói đến cuộc đời thường sự lãng quên khinh khi của người giàu có họ cần chi màng tới? Còn tụi tôi lại mơ ước giò chả cá rán thịt đông xôi chè cỗ bàn và... cả sự thèm khát cơm nguội... Nhưng lần ấy tôi là người tìm ra bí quyết cay đắng thay thế gạo.

Bây giờ thì tôi kể tên những đồng đội được rồi. Đó là những chàng trai thật tuyệt vời. Cậu Chúc người cân đối tạo hóa lại cho anh chàng một chiếc răng khểnh kèm với nụ cười tươi tắn trên môi. Làn da của anh hồng hào làm các cô gái phát ghen lên được. Đứng cạnh anh ta tôi chỉ là dấu phẩy của sự nhạt nhẽo. Còn thằng Thắng chỉ là dấu chấm tròn vo. Mọi cuộc dân vận Chúc phải đảm nhận còn tôi và Thắng phải gác thêm ca vì tội xấu trai của mình nhường cho Chúc đi thay. Nhưng nói làm chi cái lần nhịn đói ba ngày vượt Vu Gia từ Lộc Sơn sang ái Nghĩa trinh sát. Cậu ấy nằm vĩnh viễn ở đấy rồi. Bây giờ tôi vẫn nhìn thấy cậu ấy cười cười. Cậu ấy cười gió. Nhưng không phải đâu Chúc cười cơn đói của Thắng. Rồi như có phép tiên Chúc moi ra từ túi ngực vài cục mốc vốn gọi là lương khô hay tên gì cũng được cho vào miệng có mùi vị khẳn đắng. Thú thật từ thủa nhỏ tôi chưa hề biết mùi vị đó. Vậy là Thắng hết luôn cơn đau bao tử. Chúc thì vẫn cười gió phớt đời. Cậu ấy ngã xuống khi đi trinh sát căn cứ ái Nghĩa quận lỵ Đại Lộc. Chúc vẫn hay chê tay Lân là hay dài dòng lý sự. Trên đời này không có gì cực bằng đã đói lại còn hay thích hội ý họp hành. Họp hành lại dài dòng như chàng Lân lại hay quan trọng hóa vấn đề. Lêu têu cái gì cũng muốn lên lớp cho người ta bằng cái giọng khê khê rè rè khó nghe thế... Khi vào chiến trận cậu ấy cũng hay nhắc tới ba bốn lần cái điều mọi người đã rõ. Rằng: Phải chịu đựng phải an tâm chấp hành ý kiến của trên... Chúc đã nói thẳng đuột: Nếu không phải trên cử thì bọn tớ đã hê cái chức "mũi trưởng" của cậu rồi! Nhưng Lân nằm lại cùng sông Thu Bồn. Có lẽ cái chết đã làm cho người còn lại xí xóa đi cho nó những lỗi lầm vì lần hấp tấp đụng phải quả mìn làm lộ kéo theo ba đồng đội khác hy sinh. Bây giờ tôi vẫn thấy nó bay lượn vẩn vơ quanh đây đó là thằng Lân "bặp" mà! Kỷ niệm chao ôi đó là những nỗi đau người mất đi để lại cho người còn sống mang theo. Tay Cứu lại khác có hàm răng vẩu cứ cố tình mím lại cho khít nhưng làm cho mọi người phải chú ý. Ai lại nỡ đùa cợt nhằm vào cái dị dạng không ra người ấy. Có đứa lại còn nói Cứu là sự gửi gắm của người tiền sử cho cuộc chiến này. Nó đánh vật với từng lời nói mà chẳng chót lọt. Tạo hóa đã sinh ra con người sao lại chẳng ban phát cho sự hoàn thiện? Nhưng bù lại nó có sức chịu đựng hơn người và sự nhường nhịn kiếm được chút lá rừng cũng dành cho tiểu đội. Lúc mọi người đói rã cánh thì cậu vẫn hít được đâu đó có vị lá ăn được. Mỗi lần qua miệt rừng là cậu ấy khịt khịt mũi phát hiện ra nguồn sống ở đời. Cậu ấy là người Cứu mạng tụi tôi trong lúc nguy nan. Tất cả sự khiếm khuyết ấy đã làm thành cái chung đồng đội của tụi tôi mà mai này dù ở đâu cũng chẳng thể tìm ra nổi tình yêu mến ấy cả.

Tụi tôi bị bao vây ở dốc Kiên Cường sau này nếu ai đi tàu Thống Nhất vào cực Nam có vui vì chuyện đời mới hãy nhớ đền đáp những người lính nằm lại nơi đó. Còn lúc bấy giờ bảo an địa phương quân và chủ lực quân từ Non Nước An Hòa Kiếm Lâm... Mở nhiều cuộc hành quân "chặt đứt chân Việt Cộng" tạo ra những vùng trắng xung quanh Đà Nẵng và trục đường số Một. Chúng tôi mới từ Gò Nổi vượt sông Bà Đén sang trú tại những vùng tụi địch đã cho bom đạn cày ủi không còn bóng một người dân. Bây giờ ta có thể ung dung mà đi cùng trời khắp đất từng cơn gió nóng bay lên cuồn cuộn tàn lả tả như cháy nhà. Trên bầu trời hết lượt tàu cán gáo qua lại đến bầy phản lực nhào xuống ném bom mọi phía vào nơi nào chúng thấy có chút gì nghi kỵ. Một mùi hôi thối hoang dã bay lên ám vào người tạo ra sự khó thở buồn nôn.

Ban ngày chúng tôi nằm vùi trong cát nóng như thiêu ban đêm mới xuất hiện đi tìm dân và nếu gặp địch sử dụng ngay hỏa lực tùy theo tốp giặc lớn hay nhỏ. Thật cực vô cùng là lính đặc công mà phải đóng vai trò của bộ binh đi chặn càn chống càn. Nhưng chiến tranh bao giờ cũng là điều bắt anh phải chấp nhận đối tượng của trận đánh xảy ra dù đó là quy mô nhỏ hay lớn như thế nào.

Nhưng thật không may cho tụi tôi không thể vượt qua Thu Bồn mà sang Đại Lộc càng không thể vòng qua vùng núi Sơn Mỹ được vì địch suốt ngày đêm hành quân. Thời kỳ này Mỹ đưa nhiều quân đội vào miền Nam với quyết tâm đánh bật ta lên rừng xanh. Phá nát cơ sở của ta ở nông thôn tạo những điểm lập cư ở xung quanh các quận lỵ. Ban ngày các loại máy bay kể cả B52 quần đảo ném bom như vãi trấu. Ban đêm các loại pháo thi nhau từ các căn cứ căn theo tọa độ hòng kéo ta ra khỏi các hầm trú ẩn. Kho tàng của ta sau Mậu Thân càng bị vỡ nhiều mùa màng ở đồng bằng sẵn lúa gạo nhưng cơ sở không đong được gạo không huy động được vì các kho của ta bị đứt nhiều. Vẫn là Lân Cứu Chúc Thắng và tôi đã ba ngày kiến bò trong bụng rau dại ở đây cũng chẳng thể đào đâu ra ngoài từng đám bổi cháy khi gặp gió lại bùng lên như người thổi vào con cúi. Tôi phát hiện ra có mùi thơm thơm đâu đó lẫn trong vị nồng nặc của mùi khen khét đạn bom. Lạ lùng trong chốn hoang vu toàn bổi cháy thành tro bụi như thế đào đâu ra thịt nướng? Tôi tưởng là bị đánh lừa bởi cảm giác huyễn hoặc do đói. Tôi lại sợ nói ra ý nghĩ ấy sẽ bị các cậu ấy công kích là háu ăn nên làm bộ đặt ra câu hỏi:

- Đố các cậu thịt gì nướng thơm?

- Cá! - Thằng Chúc bộp chộp nói đại.

- Đã gọi là thịt cơ mà! Tôi vặc lại.

- ừ phải! Thịt bò nướng chấm nước mắm tỏi gia vị... thì chỉ còn cách là ăn no. Tôi nhìn thấy cục hầu của các cậu ấy nhảy lên nhảy xuống mà xót xa. Khi người ta gầy bao giờ các cục hầu ở vườn địa đàng ấy cũng nổi lên to lạ. Nhưng không để cho Thắng là tác giả độc nhất của món ăn các cậu ấy lại tiếp tục nói dóc.

- Thịt cầy nướng có bóp mẻ và mắm tôm

- Phải!

- Cho vào xiên quạt than vàng lên là vừa!

- Đúng

- Tạo hóa gọi là "chả chó" hả?

- Phải

- Ngồi mà tẩm cho kỳ ngán hả?

Thằng Chúc muốn chuyển sang một đề tài khác nhưng tôi vội xua tay hỏi như vô tình: Các cậu có "đánh hơi" thấy tình hình gì không?

Tôi nhìn tụi nó căng mũi ra khắp bốn phía mà tức cười. Tôi ngó quanh quẩn nơi có làn khói xì xèo luẩn quẩn theo làn gió. Thủ phạm đây rồi đó là mấy con chuột hoang được nướng căng do lửa bom từ hồi nào. Mỡ đang rớt xuống làm ướt đám tro. Ôi! sự liên tưởng thật ma quái sự lập luận đểu cáng của cái đói khi nhận ra cái ăn được lại tầm thường đến vậy. Thế là tôi tìm thấy luận lý của sự liều lĩnh mà mai sau khi được nhậu lai rai chút thịt nướng lại nhớ đến cái vị ám ảnh của thịt chuột thui ngày ấy. Tôi đã tìm thấy chút ánh sáng của sự kiếm sống giản đơn. Tụi nó nhăm nhăm nhìn vào hai tay tôi đang múa máy.

Tôi tìm thấy kho từ vị và sự thuyết phục của nó: Ăn. Tôi là vật thí điểm đầy dũng cảm khi dùng con dao găm sắc lẻm chặt phăng cái đầu bốn chân moi ruột cạo cho tuột da đi và hỡi ôi! Sự phô bày niềm ngọt ngào của tạo hóa. Chúng tôi sẽ không tìm thấy ở đâu món "điểm tâm" ngon lành trên trái đất như thế. Cái lúc tôi cõng Chúc vượt qua sông nó cũng nói với tôi cái giọng hau háu thèm ăn:

- Tú ơi! Anh mà cho em được ăn bữa cỗ như hôm ý thì em hết đau luôn!

Nó ra đi mang theo hoài niệm về bữa tiệc trong kho tàng từ vị ngọt ngào của loài người. Hỡi ôi! Các nguyên thủ của các quốc gia của mọi cường quốc trên trái đất khi các ngài cùng nhau mỉm cười hỉ xả gật đầu cụm ly phát ra "xin mời" chẳng hề thấy sự đói khát dày vò chẳng hề thấy sự nhục hình của cái đói thì lúc bấy giờ ngồi quây quần bên nhau năm đứa đại diện cho năm vùng quê cho năm cuộc đời cho năm cách nhai ngấu nghiến khác nhau có chung cái đói cồn cào của thú vật. Không trang hoàng khoe mẽ người nhuộm màu than đen đúa mặc độc xà lỏn. ở phía ngoài kia là thành phố với đầy đủ mùi miếng cách sống tân kỳ chỉ chúng tôi là một hành tinh khác không ai tưởng tượng ra không ai đoái hoài đến. Thằng Chúc nó nằm ngay ở dốc Kiên Cường mà bây giờ tàu Thống Nhất vẫn thường qua tôi và Thắng đã tiễn đưa đứa em ở tiểu đội nằm nơi đó. Dẫu là tội lỗi ở đời nhưng chúng tôi đã làm một việc nhân đạo của loài người. Làm cái điều cha ông từng giữ lấy sự sinh tồn kỳ diệu. Đôi mắt man dại của Chúc nhìn bàn tay của tôi quá chậm chạp vụng về. Đôi mắt Chúc chỉ nhìn con chuột béo ngậy. Tôi cố làm mau lẹ mong tiếp cho Chúc chút sức lực. Nhưng tất cả đều uổng phí Chúc vẫn mở đôi mắt bất động nhìn vào hai bàn tay chậm chạp của tôi. Nhưng Chúc không còn có mặt ở trên đời này nữa. Vĩnh viễn không còn bị cái đói dày vò và hàng ngày chẳng cần can dự vào cuộc đời tủn ngủn của chúng tôi. Vì anh đã đi không thèm chấp nhận khẩu phần của mình. Tôi và Thắng vuốt mắt cho Chúc và vùi bạn bên dốc Kiên Cường. Chúng tôi lặng lẽ nhận lấy bản án cuộc đời cái tội để một đồng đội ra đi nếu như anh ta không bị cái đói khổ dày vò.

Tôi và Thắng là hai đứa còn lại sau chiến tranh. Thắng còn nguyên hai tay nhưng mất một chân; tôi thì còn nguyên hai chân nhưng chỉ còn một tay. Chẳng sao chúng tôi cũng đủ ba tay ôm lấy nhau vừa khóc vừa cười. Chúng tôi từng thức cùng các bạn để khỏi bị chuột hoang gặm nhấm. Nếu như không bị cái đói dày vò chắc rằng mất mát những người bạn của chúng tôi và chiến thắng có lẽ cũng mang một tầm vóc lớn hơn chăng.

Lời nói của Thắng cắt ngang ý nghĩ của tôi như một bản án tử hình:

- Các cậu ấy chết vì dịch hạch Tú ơi!

- Trời mày bảo sao.

- Dịch hạch! Dịch hạch!

Tôi không thể nào tin được và đừng bao giờ tin điều đó là sự thật ở trên đời. Nhưng chiến tranh. Sự hy sinh là vô giá. Có cả sự chịu đựng đói khát và bệnh tật. Điều đó chắc ai cũng hiểu nhưng ít nói tới. Nó là dịch hạch bạn ơi!

Trại sáng tác Văn học

Quảng Nam-Đà Nẵng

                                                                        Tháng 6-1985

                                                                               T.N.T

TIÊU ĐÌNH

Con gái tuổi cọp

Truyện ngắn


 

      Tuổi thơ tôi được tẩm ướp bằng nhiều chuyện kể về con hổ mà người đời thường gọi tránh đi với những cái tên nghe có vẻ bí ẩn như ông Ba Mươi ông Ngài Chúa sơn lâm và một vùng đất nhiều đền thờ với nhiều hình con hổ bên trong bên ngoài nhe răng nhọn hoắt. Dù là con hổ vẽ to hay nhỏ đứng hay nằm hoặc là con hổ cứu người hay ăn thịt người trong cổ tích tôi đều không thấy sợ. Ngược lại còn cảm giác thinh thích nữa là khác. Có phải vì thế mà tôi đâm yêu cả cái tuổi Dần khen khét mùi lông cọp xanh lè đôi mắt ông Ngài oai phong dáng vẻ của vị Chúa sơn lâm?

Tại sao tại sao mẹ lại như vậy? Tại sao mẹ lại nói với người ta rằng con tuổi Mẹo? Con tự hào về tuổi con cọp của mình lắm mà. Và con cũng không muốn nói dối anh điều gì. Trong tình yêu điều cần nhất đối với con là sự thành thật. Sự thành thật mẹ ạ. Càng thắc mắc trăn trở tôi càng thấy giận mẹ. Nằm ép sát mặt vào gối mà nước mắt vẫn còn đường chảy ra. Con ơi con không hiểu gì cả con gái tuổi Dần khó lấy chồng lắm. Mẹ mang cả cuộc đời của mẹ ra mà cá cược với con rằng điều đó đúng. Mà có sai đi nữa thì đó cũng là vấn đề tâm linh đã hằn sâu từ nghìn năm trong nếp sống quanh ta không dễ gì một hai ngày mà xóa bỏ đi được. Người ta là gia đình giàu sang lễ giáo nghe nói tuổi con Cọp thì không ai chịu cưới hỏi gì đâu. Đừng khờ con ạ. Hãy để cho mẹ mừng rằng con sắp có một đời chồng một gia đình riêng như mong ước của mẹ.

Mẹ dỗ dành tôi cũng từ trong nước mắt. Vẫn chưa tin những gì mẹ nói nhưng nước mắt tôi đã khô queo từ lúc nào. Nằm nghiệm lại đời mẹ tôi thấy hơi lo lo. Tại sao mãi đến trên ba mươi tuổi mẹ mới sinh ra tôi mà không dám nói thật về một người chồng người cha? Ai hỏi mẹ chỉ cười và sau nụ cười bí ẩn đó là một ánh mắt xa xăm gờn gợn u buồn. Tại sao đã hơn nửa đời người mà mẹ vẫn chưa có được một người đàn ông để sẻ chia nửa đời kia khuyết mẻ? Nào phải mẹ hư đốn gì đâu. Chỉ trừ việc bán thân là tao chưa làm còn ở mướn kiếm cơm từng bữa cũng rồi vào rừng đốn củi cũng rồi xuống sông mò ốc cũng rồi. Việc lớn nhỏ nặng nhẹ gì hễ có tiền là tao xông vô ngay. Không thì lấy chi nuôi mày khôn lớn xinh đẹp như hôm nay. Mẹ con muốn mẹ nói thêm câu nầy và ở đâu mẹ vẫn là mẹ giàu nghị lực biết cam chịu nhưng vẫn không quên mơ mộng. Có phải là do cái tuổi Dần khó lấy chồng đã vận toàn cay đắng vào đời mẹ? Bây giờ lại đến tuổi Dần đời con như sự lặp lại của một nghiệt ngã tiền định.

Từ buổi trưa hôm đó tôi bắt đầu có thói quen hay khoe cái tuổi con mèo vừa đẹp vừa khôn biết sưởi nắng ấm biết chui vào trốn lạnh trong chăn biết đuổi chuột cho chủ biết giấu phân khéo léo biết cào cửa khi muốn ra vào biết cà cọ bộ lông mượt êm vào da người thân khi đói. Thấy không nhìn nó lười biếng ngủ suốt ngày hay linh hoạt rượt đuổi con mồi đều thấy sướng mắt. Khoe như thế không chỉ để mẹ yên lòng mà còn để vê vo những chỗ sứt mẻ đời tôi. Ai đó có nghi ngờ về điều nầy điều kia thì cũng chỉ để bụng hoặc hỏi cho có hỏi mà thôi.

May là ít khi anh gạn hỏi kỹ về tuổi của tôi. Thậm chí đôi khi tôi cảm giác như anh muốn lờ đi cái chuyện mà người đời thường cho là quan trọng ấy. Tính anh là thế. Tôi yêu anh cũng từ đó: biết nhiều nói ít cái không cần nói không nói cái không cần buồn không buồn. Còn tôi lẽ nào lại không biết cách giữ anh giữ tình yêu? Giấu những điều không hay về mình mà có lợi cho tình yêu thì cũng nên giấu lắm chứ! Nghe tôi nói tuổi Mẹo anh cười nói với tôi như lời mẹ anh hay nói: Hợi Mẹo Mùi là tam hợp đó. Vợ chồng mình rồi sẽ giàu nhanh cho mà xem. Tôi mừng trong bụng và thầm biết ơn mẹ tôi người mẹ đã vun vén hạnh phúc đời con từ những trải nghiệm khổ đau của đời mình.

*

"Con cọp cái dễ thương của anh" "con cọp cái ngoan hiền của anh" "con cọp cái giỏi giang của anh"... Tôi cười mỗi khi nhớ lại biệt danh "cọp cái" ngồ ngộ mà anh đã gán cho tôi ngay trong tuần trăng mật ở Bà Nà. Con cọp cái dễ thương của anh ơi nhanh quá phải không em hôm nay đã là thứ bảy rồi chỉ còn một ngày nữa là chúng mình phải trở về với công việc bề bộn của cơ quan... Tôi thấy hơi lo sợ khi nhớ có lần dữ dằn cãi lộn về chuyện làm ăn mẹ cũng bị người ta mắng là "đồ cọp cái". Anh muốn ám chỉ điều gì đây? Trong vòng tay anh âu yếm tôi vẫn không thể nào yên lòng nên cố kiểm lại mình xem mấy ngày vừa qua có vô ý bộc lộ chuyện ân ái hoặc cư xử quá ngưỡng hay không? Vô lý hay anh đã phát hiện ra tuổi con cọp của mình? Thôi đúng rồi. Nè anh ơi tôi hồi hộp hỏi sao lại gọi em là con cọp cái nghe kinh quá vậy? Một thoáng suy nghĩ rồi anh lại cười hiền hiền ờ há anh nói cho vui vậy mà hơi đâu em suy nghĩ. Tưởng em dữ lắm hóa ra lại rất dễ thương!

ổn. Giấu được điều cố giấu mà có lợi cho tình yêu cũng là một thành công đời người. Và với cái đà yên tâm rằng mọi chuyện đã ổn tôi cố chí chu lo tính cho từng việc trên dưới lớn nhỏ trong gia đình nhà chồng được êm xuôi. Lạy trời xin hãy để chúng tôi bình yên. Cũng là để cái tông tích tuổi Dần của tôi hết cơ hội phá phách người khác. Và không ai còn cơ hội nghiệm ra người vợ tuổi Dần thích làm bà chúa sát chồng thích quậy phá hay thích lấn chiếm chủ quyền điều hành mọi người mọi việc trong gia đình. Vừa lo toan việc nhà chồng tôi vừa lo sợ bất trắc sẽ thình lình đổ ập lên đầu vợ chồng tôi lúc nào không hay biết. Ghê quá cái dấu ấn con gái tuổi cọp dù đã là vết tích xem ra vẫn còn âm ỉ đau. Nó dai dẳng đeo bám cuộc đời tôi như một bóng ma oan nghiệt.

Có một thời người dân vùng tôi giàu lên rất nhanh từ việc nuôi tôm nước lợ. Nhà nhà nuôi tôm người người nuôi tôm. Thấy dễ kiếm tiền vợ chồng tôi cũng chung vốn nuôi tôm với một người bạn thân. Không ngờ gần đến ngày thu hoạch thình lình tôm bị bệnh chết trắng bạc cả ao. Nhà tôi bay vèo hơn trăm triệu vốn dành dụm được từ những đồng lương xương máu. Chuyện động trời như thế mà anh vẫn giấu bặt vợ. Vỡ việc ra tôi giận anh bỏ ăn một ngày ngủ riêng gần tuần. Thì việc đã rồi em có biết cũng chẳng giải quyết được chi. Lại phụ nữ hay lo sinh đau ốm ích gì. Tôi vẫn quay mặt vào tường không nói không cười không nhúc nhích. Cái nghề nầy là vậy mà dễ sống dễ chết được làm vua thua làm giặc em ơi. Được mãi thì tiền của để đâu cho hết. Tản tài lần nầy biết đâu lại tránh được tản mạng...

Anh nói nhiều lần đầu tiên anh nói nhiều và nói mát dịu nghe như không có tai nạn làm ăn bất trắc vừa xảy ra. Nhưng tôi vẫn không nhúc nhích không cười không quay mặt ra. Cho đến khi cảm giác như là không phải anh nói mà là một âm giọng nào đó ngọt ngào hơn trầm lắng hơn con cọp cái ngoan hiền của anh ơi hạnh phúc đâu có chỗ cho sự hờn giận lâu ngày đúng không? Tuổi con cọp mà làm chủ tài khoản thì lo chi không lấy lại được những gì đã mất.

Hóa ra là anh đã biết rõ tuổi cọp của tôi từ những ngày chưa lấy nhau. Tôi khóc. Thật khó giải thích cho những giọt nước mắt. Một chút ngạc nhiên một chút vui mừng một chút của lo âu v.v... Tôi cười. Cũng thật khó giải thích nụ cười. Nhưng trong sâu thẳm của chính nó là giận thương trộn lẫn. Thương nhiều hơn giận là cái chắc. Và anh anh ngất ngưỡng như là điều kỳ diệu nhất của đời tôi. Nhưng mà lạ sau đó sau khi chúng tôi hôn nhau như ngày mới cưới tôi lại cảm thấy vu vơ buồn lo. Không biết tuổi con cọp của tôi có thực sự là con quỷ dữ luôn rình rập để ám hại hạnh phúc gia đình anh?

Em con cọp cái giỏi giang của anh lại buồn nữa rồi. Buồn nhiều hư hết da của anh đó! Da của anh... da là của em chứ da gì của anh! Chúng tôi làm lành với nhau bằng những câu như thế.

Tôi tính từng ngày công tác nước ngoài để mong được về bên anh. Viêng Chăn đang mùa ấm trời. Hoa may mắn nở vàng rực cả một không gian tĩnh tại. Con cọp cái dễ thương của anh ơi nhớ em lắm biết không? Nhớ không phải là độc quyền của anh tôi bấm tin trả lời và nghe lòng vui chi lạ. Hơn hai mươi năm cưới nhau đã có sợi tóc đổi màu nhà cửa công việc đều ổn định con có đứa đã vào đại học vậy mà vẫn cứ con cọp cái con cọp cái... Ơ... mà không anh nói nữa đi hãy cứ nói như thế nữa đi. Anh ơi không biết từ lúc nào điệp khúc "con cọp cái" trong em đã thay cho lời ru của mẹ lời ru mượt mịn ngọt như mía đường quê mình. Thiếu nó em buồn chết được.

T.Đ

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

VŨ THỊ KIM PHƯỢNG

Thì thầm đầu năm

Truyện ngắn


 

      Chiều ba mươi. Năm giờ mười. Không sáu giờ kém hai hai phút. Muộn thật rồi nàng ngồi bần thần giữa một đống ngổn ngang những đồ hàng mã. Ông bà bố chú anh chị đã mua đủ. Thế mà vẫn còn thiếu. Em bé mới hơn một tháng tuổi thai mẹ nạo đi "làm kế hoạch". Chả nhẽ em của chị không có áo mới mặc tết? Hương vùng dậy dắt xe. Su đấy à. Sao ôm chặt chân chị thế. Chị đi một tý thôi. ở nhà trông chuột cho chị nhá. Kìa bỏ chân chị ra nào - ừ thì xoa đầu một cái - chị đi đây.

Chỉ lác đác vài người đang quét dọn. Giờ này còn ai bán hàng người ta cũng phải cúng tất niên chứ. Mình đúng là dở hơi.

- Cô muốn mua gì?

Một bác dừng chổi mở cái khẩu trang che mặt ra hỏi:

- Dạ cháu đang tìm ít đồ hàng mã.

- Thế thì may cho cô rồi. Cái nhà có cửa xanh ấy. Bà ta lúc nào cũng bán.

- May quá! Cám ơn bác.

Về nhà vẫn Su rối rít. Yên nào để chị cúng các cụ. Hương kính cẩn bày đồ lễ. Đầu tiên là cho em. Em ơi không biết em là bà cô hay ông mãnh đây. Nhưng chị vẫn mua cho em một con ngựa trắng để em cưỡi đi chơi tết cho oai. Lại cả quần áo nữa em mặc vào chắc đẹp lắm. Nhớ đi với anh Hà cho có anh có em bé nhé. Anh Hà. Anh mất lúc chưa đầy năm tuổi khi em mới lên hai. Mẹ kể anh cưng em lắm thấy người lớn cứ dọa bế em đi đổi cho bà hàng bún là anh lại khóc tướng lên - không cho ai đụng vào em. Bây giờ anh mà còn cũng chả giữ được em nữa rồi. Chết sớm có khi lại sướng. Vô tư đi chơi hội xuân anh nhỉ. Giờ em cũng xin gửi anh một con ngựa trắng để anh cưỡi. Bộ quần áo này em mua hàng xịn đấy anh ạ. Anh nhớ dắt em bé nhà ta đi cùng với nhé. Kẻo nó bé quá nhỡ lạc thì khổ. Còn chị - Chị mất lúc mười sáu tuổi. Mười sáu ngày xưa cũng là thì xuân sắc rồi. Em gửi biếu chị bộ áo mớ bảy mớ ba để chị đi chơi hội. Đây là nón ba tầm giầy dép. Lại cả vòng vàng xuyến bạc này nữa chị đeo vào đi hội xuân chắc sẽ kéo theo ánh mắt của bao người. Mẹ bảo con gái mẹ đứa nào cũng đẹp mà đẹp nhất là chị. Mong sao ở dưới đó chị của em được vui vẻ chị nhé. Còn ai nữa nhỉ? à chú cháu chào chú. Chú là liệt sỹ cháu xin biếu chú bộ quân phục sỹ quan cáp tá hẳn hoi. Cả xe máy điện thoại di động để chú chỉ huy cho tiện. Và bố. Bố ơi! Bố nhớ con nhiều không bố. Lúc bố mất con đã bảy tuổi nên nhớ rõ mồn một. Lúc ốm bố xanh gầy quá. Bố cứ nhìn chị em con mà ứa nước mắt nhất là những lúc bố mếu cái miệng bố méo hẳn đi. Con thương quá cứ phải chạy trốn vào buồng nấp sau cánh cửa khóc thầm một mình. Bố không giận con chứ bố. Bố ơi không biết cõi âm có giống trần thế không chứ ở đây nhà cửa đắt đỏ lắm. Con xin gửi bố một ngôi nhà để bố với ông bà có chỗ mà an cư nha bố. Còn đây là vải vải nhiều vô kể. Cháu biếu ông bà để may mặc quanh năm kẻo trên này người ta không biết ông bà mặc kiểu gì mà may cho hợp. Lại tiền nữa cả tiền Việt tiền đô có đến cả tỷ. Tết đến xin ông bà phân phát cho mọi người. Cháu xin chúc nhà ta ở dưới đó xum họp vui vẻ. Bố ơi Tết này chỉ mình con với Su thôi. ồ mà sao xung quanh con lại toàn người âm thế này. Mẹ Quan âm ơi! Xin mẹ cứu con! Phật dạy: "Biển khổ mênh mông quay đầu là bờ". Mẹ Quan âm ơi! Sao con chỉ thấy một mình với trầm luân. Mười hai năm rồi năm nào nàng cũng cầu cứu. Tiếng kêu mỗi năm càng khẩn thiết và tuyệt vọng hơn...lại là Su đấy. Em chỉ có em là trung thành với chị thôi. Còn Hằng sao em nỡ bỏ chị. Hai lăm tết chị đi làm về em ra sân bay với chỉ một dòng tin nhắn "Chị ơi! trăm nghìn lần em xin lỗi chị". Sao lại thế Hằng ơi. Hè rồi em ở Hà Nội vào chị đã thấy khang khác. Suốt ngày em không ngớt kể về chú. Dù biết là không nên nhưng em vẫn cứ phải kể. Chú ví em thế này chú dạy em thế kia. Chị nghe mà biết em đã rơi vào đâu rồi. Những bài học đó chị cũng từng được chú dạy từ hồi mười bảy tuổi. Hôm em hớn hở dắt cái piagio về chị lạnh cả xương sống. Lặng lẽ nhìn những tiện nghi bủa vây quanh chị mà có cảm giác như chúng là tấm vải liệm đắt tiền người ta sắm cho chính mình. Rồi chị lại nhìn em. Em của chị còn trẻ quá đẹp quá. Làm sao cứu được em đây.

Không biết kiểu gì mà một trung cấp kế toán như Lan - chị nàng - lại quen được với chú. Chú lừng lững trên tivi và cũng là trái núi trong nhà nàng. Từ những việc động trời như chị Lan có sự cố trong công việc bị đuổi thẳng cổ thế mà chỉ sau hai hôm đã có quyết định nhận lại rồi mẹ nàng mổ tim phải đặt máy hết hàng trăm triệu; đến việc nhỏ như xin cho em Hằng về học ở trường điểm của thành phố đối với chú thật dễ dàng. Với gia đình nàng chú là ân nhân là bồ tát. Vậy mà chú lại vui vẻ thân thiết như người nhà. Có lúc chú còn giả bộ trang nghiêm cúi người nâng bàn tay nàng lên đến tận môi nói: "Xin phép tiểu thư" rồi đặt lên đấy một nụ hôn thật lâu. Sau đó cất tiếng cười vang. Cứ galăng như thế cứ vô tư như thế. Cho đến một hôm. Chú trang trọng nói với nàng: "Cháu có biết sức hấp dẫn của mình mạnh đến thế nào không? Mỗi lần gặp cháu chú cứphải căng người như sợi dây đàn để chiến đấu. Còn hôm nay... hôm nay có lẽ anh thua mất rồi...!" Vừa nói chú vừa ào đến ghì riết lấy nàng.

Rồi sau đó như vị thần đèn trong truyện Aladin chú lập tức nhấc nàng vào Sài Gòn đặt trong một ngôi biệt thự xinh xắn làm việc nhàn nhã ở một cơ quan ít người và quan trọng nhất là ai cũng thân mật lịch sự tịnh không một ánh mắt tò mò. Năm đó nàng mười tám tuổi vừa tốt nghiệp phổ thông trung học đang định kiếm việc làm.

Đến năm hai hai tuổi hình như nàng cũng có một mối tình. Đó là buổi chiều mùng tám tháng ba. Cơ quan mở tiệc chúc mừng chị em. Những lời hoa mỹ những câu chân thành được tung ra để ca ngợi chị em. Không khí hể hả vui vẻ mãi không dứt. Đến khi một ai đó kêu lên "Chết đến giờ đón con rồi" thì ai nấy mới giật mình. Tất cả túa ra về. Riêng nàng chả đi đâu mà vội. Nàng về phòng làm việc dọn dẹp mấy thứ. Đến khi quay lại thì Minh đã đứng như trời trồng trước mặt. Như người bị bắt quả tang anh đứng ngay đơ mặt đỏ dần đỏ dần đến tận mang tai miệng lắp bắp:

- Hương đừng về vội. Tôi có cái này tặng Hương.

Anh đi vội đến bàn làm việc của mình mở ngăn kéo lấy ra một cuốn sổ lớn. Đem đến đặt vào tay nàng. Nàng bối rối đón nhận miệng lí nhí:

- Cám ơn anh!

Anh mỉm cười

- Bắt tay Hương cái nào.

Rồi chìa tay chờ đợi. Bàn tay anh mở rộng ngón thuôn dài - dấu hiệu của tài hoa - cởi mở đón chờ. Không hiểu sao nàng không giơ tay ra bắt mà lại ngoan ngoãn đặt bàn tay mình vào lòng bàn tay ấy. Anh khẽ khép những ngón tay. ấm nóng thân thiết và nâng niu nâng niu đến lạ lùng. Nàng choáng váng chưa bao giờ nàng được biết một cử chỉ lại đem đến sự giao cảm của tâm hồn đến như thế. Biết bao yêu thương bao trân trọng gửi cả vào một cái nắm tay. Bàn tay của chú chỉ có những tìm kiếm đầy ích kỷ. Nó khác hẳn với bàn tay anh. Khác hẳn như loài thú với loài người vậy. Bất giác nàng rùng mình mạnh đến nỗi anh phải kêu lên: "Hương". Nàng về vội như người chạy trốn. Vào đến nhà việc đầu tiên là mở món quà của anh ra xem. Phải định tâm một lúc nàng mới nhận ra đó là những tấm phác thảo. Minh là họa sỹ mới ra trường được hai năm. Bàn làm việc của anh ngay sau lưng nàng. Đây là mái tóc nàng buông xõa sau lưng bóng mượt như nước đổ. Cái này là eo lưng. Ôi! đây là mình ư. Nàng thấy mặt nóng bừng vì hãnh diện sung sướng. Còn đây là đôi bờ vai mà sao mong manh quá đỗi. Những đường nét ẩn hiện chưa định hình. Nàng có cảm giác tác giả của nó cũng nương nhẹ nương nhẹ đến ngại ngần. Gấp cuốn sổ lại nàng khẽ nhắm mắt như muốn đi tìm những giấc mơ. Những ngày sau đó nàng như người sống trong truyện cổ tích. ánh mắt nàng lúc nào cũng như vừa tìm kiếm lại vừa trốn chạy ánh mắt của anh. Ngồi làm việc mà như có ai quạt lửa vào lưng. Tám giờ vàng ngọc với nàng vừa là chịu đựng vừa lâng lâng hạnh phúc. Thế mà bỗng dưng anh biến mất. Chỉ còn lại chiếc ghế của anh là chưa có người thay thế. Nó trơ trọi trống hoác trong lòng nàng. ở cơ quan mọi người vẫn thân mật và lịch sự cứ như là chưa từng có anh ngồi đó chưa từng có anh trên cõi đời này.

Nàng đổ ập xuống như cây non bị đốn gốc. Chú vào ngay.

- Em là báu vật em là ngàn vàng. Em là quý phi mà mỗi bước đi hoàng đế phải rải xuống chân một bông sen bằng vàng. Còn thằng đó nó có gì để trải xuống chân em chứ. Thôi ở trên cung trăng thế là đủ rồi. Tỉnh lại đi. Tỉnh lại nhìn em kìa. Làn da mịn màng của anh đâu mất rồi.

Nàng hận chú. Nhưng mà hận thì làm được gì kia chứ. Lại vẫn là sự chiếm đoạt đến tận cùng và khoái lạc đến tột độ. Chỉ có điều với nàng từ đó đôi bàn tay chú giống như những chiếc vòi bạch tuộc dày đặc xúc tu mỗi khi bám vào da thịt chỉ còn biết đờ người ra chịu đựng... Thế mà chị vẫn phải sống. Chị sống được là nhờ có em. Em càng lớn em càng xinh đẹp. Học hành tử tế tự tin đàng hoàng. Chị nhìn em ứa nước mắt vì sung sướng. Thế là em đã thoát đã không như chị ngày xưa lầm lũi vất vả lúc nào cũng ngập chìm trong lo âu và mặc cảm nghèo hèn. Gần tám năm nay chị đã quen thấy em lớn lên trong vòng tay chị như thế. Vậy mà đã mấy tháng rồi em không đụng đến tiền của chị. Thứ bảy được nghỉ chị định đi siêu thị thì em đã chất đầy ắp thức ăn trong tủ lạnh. Chị chỉ còn biết tủi thân mà khóc thầm. ít ra em cũng chừa một cửa để chị còn có thể ngẩng mặt lên với đời chứ. Sao em nỡ vậy Hằng ơi.

*

Reng reng reng!... reng reng reng. Tiếng chuông hối hả. Nàng tỉnh giấc với tay lên đầu giường tìm chiếc điện thoại.

- Alô! Hằng hả. Sao nói to lên. Giọng em sao thế. Sao? Chú làm sao? Chết! sao lại chết...

Trời ơi! Tay nàng run bắn. Bầu trời như đổ ập xuống đầu. Toàn thân căng cứng. Chẳng nghĩ được gì thêm nàng nhắm mắt vùi đầu vào bóng tối. Không biết nằm yên được bao lâu nàng tỉnh lại dần. Những câu hỏi lại lơ mơ hiện về. Mười một giờ đêm. Đêm nay mà còn ở khách sạn. Chẳng chịu về cúng ông bà tổ tiên. Đúng là trác táng. Đôi tay giống vòi bạch tuộc lại hiện về. Nàng rùng mình lại nhắm mắt vùi đầu vào gối. Khổ thân giờ thì rách việc rồi. Lập biên bản mổ tử thi. Đúng là chết cũng chẳng được yên. Tội nghiệp em giờ này còn bị giữ lại làm việc. Cầu cho em tai qua nạn khỏi. Nàng trở mình nằm nghiêng co rúm người lại chịu đựng tai họa. Một lát nàng bỗng nghe tiếng thở phào nhè nhẹ lan tỏa khắp cơ thể. Tiếng thở làm giãn dần cơ bắp đưa nàng về với trạng thái tự nhiên. Con Su lại cào cào vào chân chắc nó thấy nàng tỉnh tưởng trời đã sáng. Đồng hồ chỉ gần hai giờ. Nàng bỗng nhớ ra. Hôm nay là ngày đầu tiên của năm mới.

Tháng 4 - 2008

V.T.K.P

More...

ÔNG TRƯỞNG BAN NỘI CHÍNH CUỐI CÙNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ÔNG TRƯỞNG BAN NỘI CHÍNH CUỐI CÙNG

CỦA TỈNH ỦY THANH HÓA

                                                Nguyễn Thiện Phùng

Cha ông từng là bí thư Huyện ủy huyện Thọ Xuân chú ruột của ông là một trong 8 liệt sĩ ở Thanh Hóa hy sinh trước năm 1930. Ông nguyên là tỉnh ủy viên hai khóa XII và khóa XIII (1986 - 1996) là đại biểu dự đại hội Đảng toàn quốc lần thư VIII. Từng giữ chức Phó Chủ nhiệm Thường trực ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Thanh Hóa. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lao Động hạng 3. Hai lần được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Sau 45 năm cống hiến cho dân cho Đảng ông về hưu ở tuổi 61. Năm 2001 cũng là lúc theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng Ban Nội chính các tỉnh thành ủy cả nước kết thúc vai trò lịch sử chuyển giao nhiệm vụ cho Văn phòng cấp ủy.

Trong cuốn sách "Hai anh em - hai chiến sĩ cộng sản" do Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản năm 2001. Trong lời tựa cho cuốn sách tiến sĩ Đỗ Hữu Thích nguyên ủy viên Thường vụ Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa viết: "... Nội dung cuốn sách góp phần khơi dậy lòng tự hào về truyền thống yêu nước cách mạng của cha ông cho con cháu trong dòng tộc phát huy truyền thống đó trong việc xây dựng gia đình quê hương đất nước phồn vinh...".

Cuốn sách kể về gia đình cụ Lê Văn Thuận (1882 - 1964) ở tổng Diên Hào phủ Thọ Xuân trước đây nay là xã Xuân Hòa huyện Thọ Xuân. Cụ Thuận sinh được 3 người con trai. Các con của cụ được ăn học để có thể ra làm công chức hoặc làm quan. Nhưng người con cả là Lê Lam Châu và người con thứ hai Lê Văn Chuyên đã sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng. Ông Lê Văn Chuyên tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội và đã dũng cảm hy sinh bảy tháng trước ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930). Ngày 22 tháng 8 năm 1997 Đảng và Nhà nước truy tặng ông Lê Văn Chuyên danh hiệu liệt sĩ. Ông là một trong 8 liệt sĩ của tỉnh Thanh Hóa hy sinh trước 1930.

Ông Lê Lam Châu vào đảng năm 1930 tháng 2 năm 1931 ông bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao Thanh Hóa. Ra tù ông lại tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Ông đã được Đảng giao nhiều nhiệm vụ nhiệm vụ nào ông Châu đều hoàn thành xuất sắc. ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng huân chương Kháng chiến huân chương Độc Lập hạng hai.

Con cháu của hai ông đã kế tục và phát huy truyền thống cách mạng yêu nước của cha chú. Có nhiều người công tác ở cấp tỉnh và Trung ương. Trong số con cháu thành đạt của gia đình. Tôi xin kể về ông Lê Nguyên Xương người con thứ 6 và cũng là con trai duy nhất của cụ Lê Lam Châu.

Ông Lê Nguyên Xương sinh năm Canh Thìn (1940) tại thôn Tân An xã Xuân Hòa huyện Thọ Xuân. Năm 18 tuổi ông thoát ly gia đình đi làm kế toán cho Hợp tác xã mua bán huyện Thọ Xuân. Năm 1960 - 1961 ông được đi học trung cấp ngoại ngữ của Bộ Công nghiệp nặng. Tại trường ông đã tập trung học tập tu dưỡng phấn đấu thể hiện rõ bản lĩnh tố chất năng lực. Ông là học sinh duy nhất của khóa học được vinh dự kết nạp vào Đảng (22 - 8 - 1961). Ra trường ông Lê Nguyên Xương được điều về làm việc tại Tổng Công ty Vận tải của Bộ Ngoại thương. Sau đó ông xin chuyển về Thanh Hóa làm việc năm 1972 ông được Tỉnh đề bạt làm phó Giám đốc Công ty ô tô vận chuyển Lâm sản. Năm 1979 ông được Tỉnh ủy bố trí đi học chính trị ở trường Nguyễn ái Quốc Trung ương 2.

Năm 1982 - 1985 ông tiếp tục theo học tại chức ở trường Đại học Kinh tế quốc dân.

Năm 1986 ông được đề bạt làm phó Giám đốc Sở Lâm nghiệp. Đại hội tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ XII ông được bầu làm Tỉnh ủy viên được cử giữ chức Phó chủ nhiệm Thường trực ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy. Sau đó ông được Thường vụ Tỉnh ủy phân công làm Trưởng Ban nội chính Tỉnh ủy Thanh Hóa.

Công việc của ông đòi hỏi sự trung thực khách quan nhưng để có khách quan trung thực phải có tấm lòng đối với Đảng với nhân dân với đồng chí mình. Theo ông thì công tác kiểm tra là để cho đội ngũ đảng viên phát huy được tính cách mạng trong sạch trong nội bộ vững mạnh về tổ chức như một nhà thơ đã viết "Để chất Đảng được trở về với Đảng". Khi ông chuyển sang làm trưởng Ban Nội chính ông nghĩ càng phải ra sức rèn luyện bản lĩnh bổ sung kiến thức từ đó mở ra tư duy cho mình. Ông đã được Ban Nội chính Trung ương chọn cử đi nghiên cứu học tập chống tham nhũng ở một số quốc gia như Singapo Malaisia Philipin... Ông có tâm niệm để rồi thực hiện tự giác: "Làm cán bộ lãnh đạo dù nhỏ như giám đốc Công ty xí nghiệp của Nhà nước hay như thôn xã đã phải nắm vững để làm chứ cái chức trưởng Ban Nội chính phải có uy tín có năng lực mới làm tốt nhiệm vụ nhất là những vụ án lớn có liên quan đến nhiều người đến cán bộ cấp ủy quản lý phải nghiên cứu tìm hiểu rất kỹ giám sát cơ quan pháp luật để xử lý đúng người đúng tội mang đậm dấu ấn nhân văn tâm phục khẩu phục".

Sau hơn 45 năm công tác năm 2001 ông Lê Nguyên Xương về hưu. Ông sinh được năm người con bốn trai một gái. Sau khi người vợ đầu mất một thời gian dài ông mới làm bạn với một nhà giáo dạy văn phổ thông trung học. Họ sống với nhau êm ấm hạnh phúc trong căn nhà khiêm tốn vừa phải mà ngày trước ngành lâm nghiệp đã cấp đất cho ông. Cứ mối tuần hai ngày nghỉ con cháu về thăm ông bà còn bình thường cánh cửa nhà ông vẫn mở đón người thân bạn văn thơ bạn đàm luận thời cuộc thế thái để vui cảnh lão. Tính cả dâu rể ông bà có mười người con đa số đã tốt nghiệp đại học chính quy hiện có một nửa học xong cao học có bốn người đã tốt nghiệp lý luận cao cấp Mác - Lênin dù làm việc ở trong và ngoài nước dù bất cứ ở cương vị công tác nào dù ở vào tuổi 35 đến ngoài 40 nhưng họ vẫn chịu nghe theo lời dạy bảo của cha.

Thi thoảng ông Xương về thăm quê hương bạn bè con cháu. Chơi một vài giỏ hoa một vài con chim để ông có thể thả hồn về ký ức của những năm tháng ở ngành lâm nghiệp Thanh Hóa. Ông đọc nhiều sách thích thì viết những trang hồi ký làm thơ. Ông tâm sự ở thời buổi cơ chế thị trường này giữ cho được truyền thống nề nếp gia phong của một gia đình cách mạng được xây đắp nên bằng xương máu thật là khó.

Trong nhà ông treo huân huy chương của cụ Lê Lam Châu bằng Tổ quốc ghi công của người chú ruột Lê Văn Chuyên. Tôi chú ý đến một câu của người xưa mà ông rất tâm đắc "Gia đình thịnh hay suy không cốt ở giàu nghèo mà nhìn vào đường ăn ý ở". Ông cho tôi xem một số bài thơ ông làm trong số đó cũng có những bài bạn bè thích rồi gửi đăng báo. Đọc thơ ông tôi thầm nghĩ: Có sống hết mình với bè bạn đồng chí một cách nghĩa tình trọn vẹn có say lòng thật với nghĩa Đảng tình dân thì mới có được câu thơ như vậy:

Suy ngẫm đời mình để gạn lọc tìm ra

Những cái được và những gì đã mất

Những khoảnh khắc để tìm ra sự thật

Để mỗi ngày sống đẹp sống vì nhau...

Trong bài thơ "Thắp sáng những niềm tin" nhân 60 năm thành lập ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng ông viết:

Ai tham lam

Ai trục lợi cửa quyền

Ai dũng cảm bước lên đài công lý

Ai dao động rời xa tình đồng chí

Gương mặt nào kiên định lúc nguy nan

Vào cuộc kiểm tra là đứng trước bàn cân

Trân trọng lắm những con người trung thực.

Ông đã sống và làm việc hết mình để đến hôm nay cầm bút viết lên những câu thơ chẳng hổ thẹn với bạn bè đồng chí.

N.T.P

More...

THƠ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NGUYỄN TẤN SĨ

Điều anh chưa biết

còn không lúc đó ở đây

nhắm đôi con mắt thấy mây kín trời

bàn tay năm ngón tuyệt vời

trái tim tuyệt vọng rong chơi không mùa

một hôm phố xá bỏ bùa

cờ gian bạc lận được thua cơ cầu

còn không lúc đó ở đâu

vừa làm con cá vừa câu biển đời

buồn thăm thẳm mấy cuộc chơi

xét trên toàn diện là tơi tả mình

gõ nhầm cánh cửa vô minh

ai bên cửa ấy bạc tình như nhau

còn không bến nước giang đầu

con sông vô chủ chuyến tàu vô phương

chân đi để lại con đưòng

và em để lại...

Chưa mường tượng ra

N.T.S

NGUYỄN HẢI TRIỀU

Ngày xưa

Ta về

nhặt nhạnh

thời gian

gói

nắng sương

hỏi cỏ ngàn

xanh chưa?...

Bên trời

còn

lất phất mưa

hình như

em

với ngày xưa

tìm về!...

N.H.T

NGUYỄN ĐỨC DŨNG

Đất quê

              Kính hương hồn Cha một đời gian truân

Trôi xa xứ suốt thời trai trẻ

lông bông không cửa không nhà

âm ỉ nắm tro quê kiểng

từng chiều ngoái cổ trời xa

đi nửa đoạn mà ra người nửa phận

nửa bầy con lôi thôi

đứa tật

đứa khờ...

nửa sương khói xanh suông vào cây cỏ

nửa còn

mộng mị... hời quê !

quê mộng mị ngày gạo châu củi quế

ngày con áo khăn đuổi gió ngang trời

ngày con thả trôi hạt hạt phù sa lở mắt già xót đất

chiều ra sông

ngùi ngùi !

ngó sông...

đêm nhận được tin cha trả cõi

con rồi nên bão nên giông

chân thấp chân cao mong về gặp mặt

chờ trơ nấm đất không tròn !

quày quả nuộc lạt neo mình quày quả lòng xưa ấy

quày quả lứa măng dưới ngờm ngợp sinh thành

con chiếc nan tre

hẹn cánh diều cho trẻ

đất này thắp khói mà xanh...

Đêm Điện Bàn 7-2001

Tam Kỳ 10-02-2009

N.Đ.D




PHAN CHÍN

Tượng đá Mỹ Sơn

Nghìn năm vẫn vậy Mỹ Sơn

Nõn nà những búp tay son gái Chàm

Vẹn nguyên thanh tú nét rằm

Long lanh mắt tuổi mười lăm ươm tình

Ngoài kia đời hối hả xanh

Đá cười cốt để quên mình đang rêu

Để khi nắng tắt sau chiều

Thắp lên rạo rực tình yêu vô cùng!

Náu mình suốt mấy kiếp rừng

Vàng son bỏ mặc dửng dưng đền đài

Riêng lòng tượng đá ai hay

Vẫn da diết vẫn nồng cay nỗi tình!...

P.C

NGUYỄN LOAN

Tôi tìm mua lại xuân thì

Cuối năm đi chợ mua gì

Tôi tìm mua lại xuân thì ngày qua

Người ta sắm áo sắm hoa

Chứ ai mua được ngày xa tháng gần

"Lộc" trời tặng mấy "đồng cân"

Tôi "tiêu" hoang phí chẳng mong kiếm lời

Mua không xong được xuân thời

Dễ gì đem bán tuổi đời hoàng hôn

Bao nhiêu một mớ dại khôn

Tôi lơ ngơ giữa "thương trường" cuộc chơi

Xuân thì như giấc mơ thôi

Tôi đành ôm lấy... mộng đời - xót xa

Bỗng nhiên thấy một nhành hoa

Rũ tàn trong gió - ngẫm ra kiếp người...

Huế cuối năm 2009

N.L



 

MAI VĂN HOAN

Nụ hôn liều

Em là người tôi thầm ao ước

Tôi thầm mơ và tôi vẫn thầm yêu

Giây phút ấy không sao cầm lòng được

Tôi đã trao em một nụ hôn liều

Em e thẹn đỏ bừng đôi gò má

Mắt long lanh như ánh sao chiều

Tôi ôm gọn tấm lưng mềm thon thả

Nghe khơi xa dào dạt nhịp thủy triều...

Tôi đã hôn như người đói khát

Tôi đã hôn như gã cuồng say

Làn da em làn da em thơm mát

Mới chạm vào hồn tôi đã ngất ngây...

Nụ hôn ấy rồi sẽ thành bất tử

Ký ức ghi cái giây phút tuyệt vời

Không tương lai cũng không là quá khứ

Nụ hôn liều cháy bỏng cả làn môi!

M.V.H


 

CHỬ VĂN LONG

Thế giới

Thế giới như thể bàn cờ

Bày ra dập xóa

Những bàn tay đeo găng trắng muốt chơi cờ trên số

phận nhân dân...

Nhưng thế giới cũng còn bao điều khác nữa

Dù muôn vạn đổi thay

Tim tôi như cây đàn xưa cũ

Tháng mười về vuốt nhẹ lên dây

Câu dân ca Việt Nam mang nỗi buồn trong trẻo

Em dịu dàng bên dáng liễu tóc bay.

C.V.L

PHAN QUẾ

Gặp biển ở rừng

Từ Sầm Sơn đến Như Thanh

Biển ơi còn chỗ cho anh lên cùng

Nhấp nhô là núi là rừng

Ngổn ngang là phút ngập ngừng Bến En

Chòng chàng như lạ như quen

Mà cuồn cuộn một nỗi riêng gọi người

Như Thanh ngọt nụ em cười

Mía chan giọng nói hồ khơi nỗi niềm

Rộng dài đến mỏi cánh chim

Đất lành nên biển cũng hiền như em!

Thanh Hóa cuối thu 2009

P.Q

VŨ THỊ KHƯƠNG

Dạ... Ơi...

Anh gọi: Em ơi

Em chả ơi

Mà em lại: Dạ.

Đến là vui!

Em gọi: Anh ơi

Anh không dạ

Mà anh lại: Ơi

Thật buồn cười

Dạ... Ơi... Ơi... Dạ

Ơi Ơi ... Dạ

Ơi

Dạ

Hai người ở hai nơi...

19- 9- 2009

V.T.K

HUY TRỤ

Mùa xuân nhớ bạn

Nhớ nhà thơ Lã Hoan

Tiếng cười bạn nghe rất sang

Cười rung liếp cửa cười vang xóm giềng

Quả dưa hấu Mai An Tiêm

Nuôi câu thơ bạn đỏ miền khát khao...

Đâu ngờ trời thấp đất cao

Phải đưa bạn đến cõi vào hư không

Cây tàn trút lá vào đông

Đời người bất chợt... sắc không hỡi người!

Câu thơ bạn nói thay lời

"Dòng sông ăm ắp sinh sôi mỡ màu..." (*)

Vòng khăn trắng đất Bạch Câu

Nén tâm nhang cháy mãi vào câu thơ...

Cuối đông 2009

H.T

(*) Câu thơ trong bài thơ "Về lại dòng sông" của Lã Hoan

LÃ HOAN

Tuổi trẻ tôi

Ai đó tìm tuổi thơ trên tóc

Tuổi trẻ tôi hát trong nhịp tim mình.

Nhịp tim ấy hình như không đổi được

Nên suốt đời tôi có tuổi xuân xanh!

2009

LỮ THỊ MAI

Tháng Hai

Em chờ

Mùa hoa cải tháng hai

Khi cơn gió nén mình yên lặng

Sương giăng

Mùa hoa muộn.

Em chờ

Buổi sáng bình minh

Bên hiên nhà đám sẻ nâu đập cánh

Xuyến chi ướt lạnh

Hoa xoan quay quắt tím sang chiều

Tháng hai về em cô độc lối yêu

Hái đầy tay những mùa hoa không tuổi

Lễ vu quy một chiều mưa bụi

Tuổi xuân thì theo gió sang ngang.

L.T.M




 

VIÊN LAN ANH

Chiếc áo màu xanh

Kính tặng cha - liệt sĩ Viên Đình Tuyển

Thẳm xa như một cánh rừng

Đằm trong chiếc áo xanh màu lá xanh

Cái thời đất nước chiến tranh

Cha từ đất Quảng về Thanh thăm nhà

Một lần con được hôn cha

Thoảng mùi thuốc súng sương sa chiến trường

Thế rồi cha lại lên đường

Mình con đứng với con đường hút xa

Thế rồi cha mãi đi xa

Cây xoan trước ngõ vẫn là cây xoan

Thoắt đà mấy chục năm tròn

Nhớ cha con lại đêm hong áo này

Vẫn còn lại một ống tay

Phía lưng thủng đạn lệ đầy tay con

Một bên tà áo vẹt mòn

Tưởng như hơi ấm còn vương của Người

Cha giờ trong cõi đất trời

Mà sao áo vẫn xanh hồi tươi xanh.

V.L.A



 

VIÊN LAN ANH

Hội làng

Trống đình đã giục nôn nao

Nào đâu khăn áo lụa đào tung bay

Ơ kìa mắt phượng mày ngài

Này đây xôi oản trầu cay vôi nồng.

Sân đình còn thiếu ai không?

Để tơ hồng cứ bâng khuâng ngóng chờ.

Hội làng như một giấc mơ

Bao nhiêu hạnh phúc bất ngờ thành duyên

Lòng ai như một con thuyền

Trôi vui trong mộng hoa quyên tưng bừng

Xin đừng vờ nhạt dửng dưng

Xin đừng lạc lối xin đừng lỡ quên...

Ngoài kia đu đã bay lên

Bao nhiêu trai gái ngồi bên thắm tình

Người ơi trống giục sân đình

Nhanh chân em đợi chúng mình thành đôi.

V.L.A



 

NGUYỄN ĐỨC DỤC

Chợ quê

Chợ quê đậu ở ven sông

Dưới thuyền trên bến người đông chật người

Râm ran giòn vỡ tiếng cười

Tiếng chào mua bán cứ tươi mặn nồng

Sáng lên cháy cả vừng đông

Nụ cười ai thắp cho lòng ai say

Mời nhau một miếng trầu cay

Nồng nàn bánh đúc bánh dày bánh đa

Chuối cam vải nhãn hồng na

Cứ thơm phưng phức quê ta bốn mùa

Ngọt lời người bán kẻ mua

Cứ đầy ăm ắp bốn mùa chợ quê

Dùng dằng chẳng muốn ra về

Cốm xanh nức cả hồn quê một vùng

Kìa ai bán cái khốn cùng

Này ai bán cái não nùng vào tim

Chợ quê đầy ắp nổi chìm

Nghe trong hơi thở nhịp tim quê nhà.

N.Đ.D




 

TRỊNH HẢI YẾN

Tôi mơ

Tôi mơ về đám cỏ xanh

Mặt hồ ánh bạc

Con cá rô chảy mùa giáp hạt

Con chìa vôi hú hý bông đùa

Tôi dư giả bên quả thị của bà

Loài kiến di cư trước ngày nước đổ

Loài ve mít ướt suốt hè

Đom đóm đi hoang trên đầu ngọn cỏ

Ai thả lời nguyền về ánh trăng khuya

Tôi lưu đày trên đường nóng nảy

Quên cỏ non mây trắng chim theo bầy

Quên chiếc kiềng kê gạch lung lay

Nồi bánh chưng cả nhà ngồi đợi

Trên ổ rơm nghe tiếng lửa vui vầy

ở thành phố lâu ngày...

Câu ca dao gieo vần giữa phố

Ai giật mình tìm cánh cò bay

ở thành phố ít gặp tiếng gà khuya

Chỉ có chú chim trụi lông chạy ra đường lật ngã

Người lao công chạy theo chiều chiếc lá

Đến ngã tư rác xếp theo bầy

Tôi lang thang tìm cơn gió ngày nhàn hạ

không gian ngổn ngang mùi lạ

theo gió đi xa rồi lội ngược trở về.

Hà Nội 16-1-2010

T.H.Y



 

TRẦN VŨ MINH

Chia ly

Khi trái tim em run rẩy lạnh buồn

Anh đá sắc

Cứa vào nỗi nhớ

Ngày theo anh dối mẹ qua cầu...

Khi trái tim em mạnh mẽ lần đầu

Mơ khát một cánh buồm đỏ thắm

Chở tình anh - hồn nắng

ấm mềm tỏa sáng bên em

Bút cũ mực loang

anh vẽ cho em bầu trời xanh mây lửng lơ bay và

những đóa hoa hồng rực rỡ

Em muốn tin điều ấy là sự thật

Nhưng bầu trời xanh dải phù vân và những đóa

hoa hồng cứ im lìm lặng ngắt!

Đồng em nứt nẻ

Xói lở tơi bời

Đã yêu anh hoang phí nửa cuộc đời

Phải xa anh là điều không thể khác

Dẫu có phải bắt đầu từ thuở trước

Khát vọng trong em - sống lại một kiếp người.

T.V.M

TRẦN VŨ MINH

Lỡ hẹn mùa xuân

Cho những người xa quê

Đi trong mưa phùn một mùa xuân muộn

Gió sớm mai se biết lỡ ngày về

Chân líu ríu bên đường cỏ mượt

Có ngọn cỏ nào từ hạt giống đất quê?

Em thút thít - Khói nhà ai nồng ấm

Chẳng có em xuân vơi chút nồng nàn

Mùa xuân gọi em không về được

Nhớ em gió buồn nên gió tha phương

Đi chợ hoa em mua hoa xứ lạ

Ngậm ngùi thương đồng cỏ quê nhà

Dẫu thị thành hương thơm không vướng vất

Buồn chi em hoa vẫn cứ là hoa!

Vẫn cứ nở khi xuân về trong giá rét

Vẫn cứ duyên như một nét môi cười

Xa đồng nội hoa vẫn làm xuân đẹp

Có em xuân thành phố thêm tươi.

Tháng 12-2009

T.V.M

TRẦN VŨ MINH

Lời người yêu

Người yêu tôi khuyên tôi bớt làm thơ

Xác chữ rong rêu gió thoảng

Yêu đi anh thật nhiều và cháy bỏng

Như Adam yêu Eva

Khát vọng đam mê dâng hiến

Thật giả trắng đen rành rọt

Không ỡm ờ lẫn lộn vàng thau

Yêu đi anh thơ xin hẹn kiếp sau

Khô khát tim em thơ anh - dòng sông cạn rát

Nước mắt em rơi...

Tình anh

Sẽ nở hoa trên nấm mộ chiến tranh

Chôn nén đau thương về miền dĩ vãng

Tình anh

Ngọn lửa muôn đời cháy thẳng

Dập rờn cánh én mùa xuân.

T.V.M



 

LÊ THÀNH VĂN

Thơ xuân viết ở đình làng

Đình làng cong nét ưu tư

Cụ ông chậm chậm hiền từ dáng xưa.

Mùa xuân hương sắc đong đưa

Gái trai xúm xít hẹn hò những đâu?

Thuở nào mất áo ca dao

Luyến lưu đã phủ bạc màu rêu phong.

Tôi về chơi hội đình làng

Tìm em em đã lấy chồng từ lâu.

Hỏi sen sen mọc chốn nào

Hỏi mây hỏi gió hỏi đâu bây giờ?

Ngẩn ngơ tôi một chuyến đò

Lao xao giữa sóng bến bờ mù tăm.

Thắp nhang lạy trước đình làng

Mùa xuân cạn chén... tình tang với mình!

L.T.V



 

LÊ THANH XUÂN

Cánh buồm

Tôi lặng lẽ tiễn đưa chiều cuối bãi

Nắng mơ hồ loang lổ trên sông

Giữa dòng chảy một chút hồn nâu thẫm

Chút mắt em ngây dại cuối mùa đông

Cỏ chợt biếc phóng mầm tơ biếc

Triền đê cong qua mùa lạnh tê lòng

Xuân chờ đợi sắp đến ngày mãnh liệt

Rồi mai đây nước cũng sẽ nâng dòng

Tôi phổng phao ung dung ca bài hát

Giọt trong veo lấp lánh tự nguồn sông

Biển còn xa. Nhưng đã nghe dào dạt

Trong tim tôi thức dậy một mênh mông...

L.T.X

PHƯƠNG TÂM

Tiếng tù và

Tiếng tù và

Trong đêm

Chín giờ ba mươi!

Khoảng thời gian duyên nợ

Anh mang về từ kiếp trước

Cho em.

Có tình yêu nào chỉ hẹn trong đêm

Lũ bạn cười:

Ngưu lang - Chức nữ

Cho anh tình yêu

Em giàu lòng tha thứ

Ngày dài... nỗi nhớ... lặng trôi.

Chín giờ ba mươi!

Lại tiếng tù và

Chỉ lúc ấy em thấy lòng x

More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Long trọng tổ chức ngày Thơ Việt Nam lần thứ VIII

với chủ đề "Mùa xuân Đất nước Con người"


Sáng 28 tháng 2 năm 2010 đúng ngày Rằm tháng Giêng năm Canh Dần tại Trung tâm văn hóa tưởng niệm Bác Hồ (thành phố Thanh Hóa) Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa UBND thành phố Thanh Hóa Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch và Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thanh Hóa đã long trọng tổ chức ngày thơ Việt Nam lần thứ VIII với chủ đề "Mùa xuân Đất nước Con người". Các đồng chí Nguyễn Văn Lợi ủy viên Trung ương Đảng Bí thư Tỉnh ủy; Nguyễn Đức Thắng ủy viên Ban Thường vụ Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Nguyễn Xuân Phi Chủ tịch UBND thành phố Thanh Hóa; nhạc sỹ Đồng Tâm Chủ tịch Hội VHNT; nhà văn Kiều Vượng Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thanh Hóa đại diện lãnh đạo Sở VH-TT và Du lịch; đại diện một số cơ quan ban ngành cấp tỉnh và thành phố Câu lạc bộ ca trù Thanh Hóa Câu lạc bộ thơ UNESCO Thanh Hóa Câu lạc bộ thơ UNESCO t.p Thanh Hóa Câu lạc bộ thơ Đường Thanh Hóa và đông đảo các nhà thơ tác giả thơ và công chúng yêu thơ... đã đến dự.

Mở đầu ngày thơ là màn đánh Trống Đồng của đoàn tuồng Thanh Hóa. Tiếp đó lá cờ Thơ có biểu tượng Chim Lạc được đồng chí Bí thư Tỉnh ủy long trọng kéo lên trong nền khúc ngâm bài thơ Nguyên tiêu của Bác Hồ và lễ thả Thơ với chùm bóng bay ngũ sắc đã đưa những vần thơ tiêu biểu của nền thơ xứ Thanh và cả nước bay lên trong bầu trời xuân và tiết nguyên tiêu ấm áp.

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ VIII diễn ra trong tiết xuân đầm ấm với các nội dung phong phú: Đọc thơ ngâm thơ hát ca trù hát ca khúc phổ thơ.v.v... của các nhà thơ ca sỹ nghệ nhân... thực sự là một sinh hoạt văn hóa có ý nghĩa trong những ngày đầu xuân và đang dần trở thành mỹ tục mỗi khi tết đến xuân về.

                        P.V

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Nhớ Quế Anh


                           VĂN ĐẮC

      Tôi đọc bài thơ "Núi Thề" của Quế Anh vào những năm thập kỷ 60. Bài thơ gửi tặng những trai làng:

Chào hòn núi!

Ta lên đường nhập ngũ

Mang vết chân thề trong mỗi bước ta đi

Những câu thơ như thế vào thời đầu chống Mỹ vẫn còn rất hiếm hoi.

Quế Anh từ ngành công an về công tác tại ty Văn hóa Thanh Hóa. Anh là hội viên đầu tiên của Hội Văn nghệ Thanh Hóa. Chúng tôi ít có dịp gặp nhau mãi sau này tôi mới biết anh đã bỏ về quê Hải Hòa mở tiệm cắt tóc mang theo một cuộc tình ngang trái thật đẹp và buồn.

Về Hải Hòa vài năm cũng không yên thân lại chuyển về xã Trường Lâm áp vào dãy núi Xước cạnh rừng mà lại nằm giữa vùng trũng ngập nước. Hai gian nhà với một túp lều tre nứa lợp rạ lè tè nuôi sống mấy mạng người và cả một "nhà thơ lỡ dở".

Năm 1978 tôi từ Nam về tìm gặp anh. Mưa lụt đã qua mấy ngày trời nắng rồi mà đường đi vào nhà anh vẫn ngập nước. Gọi mãi mới có tiếng người thưa. Con trai anh mang tấm ván lát qua chỗ hón sâu mới đẩy xe máy cà là tàng của tôi vào đến sân nhà. Chung quanh nước trắng ngôi nhà mái rạ với mấy đụn rơm vàng vừa được hong khô nổi lên như những cây nấm mọc trên nước.

Cơm nước chuyện trò đến khuya tôi rúc vào anh ngủ trên một chiếc giường tre. Trời tháng tám về đêm lạnh trăng sáng lắm. Cả một vùng thưa vắng nhà ở chỉ có gió và nước chỉ nghe tiếng côn trùng ỉ eo và thỉnh thoảng rơi vài tiếng Vạc ăn đêm. Tôi ngủ thiếp đi gần sáng tỉnh dậy quờ tay không thấy anh đâu. Tung chiếu chạy ra sân thì thấy anh chui ra từ trong đống rơm. Hai anh em vặn to đèn ngồi hút thuốc lào rượu xếch chuyện vặt. Sắp sáng anh bảo: "Đắc ngủ tiếp đi tao vào trong xóm làm thịt lợn cho người ta kiếm ít lòng lợn tiết canh nghe chưa". Thế là anh đi...

Chị Anh Thơ đã có lần tìm gặp anh ở đấy. Dạo ấy anh tặng chị bài thơ "Hoa xạ can" bài thơ sau này được nhà xuất bản Thanh Hóa in trong tập "Ngõ vắng".

Xạ can hoa nở lòng đào

Những nơi thôn dã ai nào có hay

Từ ngày chị đến nơi đây

Bỗng dưng tôi quý hoa này biết bao

Anh lại đọc cho tôi nghe bài "Cỏ mỡ". Một loài cỏ giống hệt lúa lá dài sắc trổ bông mọc tốt. Người nông dân dầu dãi với đất ruộng mà vẫn nhầm nó với lúa. Rồi bài "Thăm đồng".

"Mỗi sáng thăm đồng ngây ngất say/ Biết hương lúa không hề thiên vị/ Lẽ công bằng là thế/ Hương lúa chia đều cho mỗi khách qua". Lại nữa bài "Gieo vừng" kết thúc bằng câu:

Hạt vừng nhỏ đánh rơi khó nhặt

Con kiến tìm mồi cũng đạp chân lên

Một vùng quê heo hút ấy không chỉ cho anh hạt gạo củ khoai mà còn cho anh những bài thơ câu thơ làm sống lại tình người. Những bài thơ câu thơ như thể những lời tâm sự nhỏ nhẹ vừa than cho mình vừa nhắc gửi cho người vừa bám chặt niềm tin vào trời đất. Những câu thơ đẹp như giọt sương trên cỏ ướt như giọt lệ trên mi mắt người yêu đi lấy chồng.

Những năm sau này anh sống với người vợ quê trong hai gian nhà nhỏ bên đường quốc lộ 1 chạy xuống cảng Nghi Sơn. Những lần đi công tác Tĩnh Gia tôi đều tìm đến thăm anh vẫn với dáng vẻ "lừ đừ như ông Từ" rủ rỉ nói những câu hóm hỉnh. Một lần tôi ngủ lại với anh nhà có một chiếc giường con anh cứ nài nhường cho tôi ngủ. Tôi không nghe. Anh lấy trên chái nhà một tấm bao bì xác rắn đã khâu các miếng nhỏ lại thành tấm rải trên hè. Tôi nằm gối đầu lên bậc cửa nửa người duỗi thẳng ra ngoài sân. Trăng vằng vặc gió xông xổng tôi đánh một giấc dài trong tĩnh lặng và mát mẻ. Tỉnh dậy thấy anh đang ngồi uống rượu bên ngọn đèn dầu. Anh nhát gừng nói "Đắc ạ... đêm qua... tao bắt được...Văn Đắc ngoại tình với trăng".

Chao ôi! Câu nói dí dỏm mà đẹp như một câu thơ khơi gợi sâu sắc như một tư tưởng.

Anh sống như thế suốt những năm cuối đời làm thơ và làm thuốc. Mỗi buổi chợ anh mang thuốc ra bày bán quen dần người bệnh xa gần tìm đến nhờ anh bắt mạch kê đơn thầy thuốc Quế Anh nổi tiếng một vùng còn thơ Quế Anh thì ít người biết đến.

Năm 2007 chị Phương Chi vợ nhà thơ Vĩnh Mai từ Hà Nội đánh đường vào Thanh mua sắm cho anh một tủ đựng thuốc và ở lại với gia đình Quế Anh một tháng. Dạo đó Quế Anh vào tuổi 77 chị Phương Chi ngót tuổi 80. Anh có bài thơ "Cây Vạn niên thanh" thật mới mẻ.

"Ai sinh ra cây/ ai tạo ra màu xanh cho lá/tám mươi tuổi đời cũng vậy xanh lên hồn người/ xanh cả nỗi cô đơn/ màu xanh không có tuổi/ ai bỏ tù được nỗi nhớ/ người ơi/ màu xanh này/ hình như màu xanh lứa đôi".

Không biết thơ làm cho anh trẻ hay chính hồn trẻ đã cho anh thơ. Có lẽ cả hai.

Mệnh của thi nhân sao mà lạ! Quế Anh lui mãi về nơi góc biển áp vào chân núi Xước mà hóa thân vào trời đất. Ngày anh đi ở xa không có tin tức chúng tôi không mấy ai biết mà đến tiễn anh. Anh sống âm thầm và đi lặng lẽ thế ư? Quế Anh! Tôi hỏi anh đấy. Tôi hỏi anh từ thành phố Thanh Hóa đây này anh có nghe không?

                      V.Đ









 

LBT: Sau khi Tạp chí Xứ Thanh số tháng 9 năm 2009 đăng bài "Văn Đắc và nghệ thuật găm thơ vào người đọc" của tác giả Nguyễn Minh Khiêm nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Trọng Miễn có viết bài trao đổi gửi tới Tạp chí. Xứ Thanh giới thiệu bài viết của ông Trọng Miễn để bạn đọc cùng tham khảo

        THƯ NGỎ GỬI ÔNG NGUYỄN MINH KHIÊM

TÁC GIẢ BÀI VIẾT "VĂN ĐẮC VÀ NGHỆ THUẬT GĂM THƠ VÀO NGƯỜI ĐỌC"


                                                                  Trọng Miễn


 

          Tháng 7 năm 2009 nhà thơ Văn Đắc đến thăm tôi và có đọc cho tôi nghe trường ca "Tôi người Thanh Hóa" ông vừa viết xong mùa đông 2008. Sau đó ông để lại cho tôi một bản đánh máy vi tính. Tôi là người thích tìm hiểu về đất và người Thanh Hóa nên có những tác phẩm viết về Thanh Hóa hoặc có liên quan đến Thanh Hóa là tôi tìm đọc say sưa. Vì vậy trường ca "Tôi người Thanh Hóa" mặc dù đã được nghe tác giả đọc tôi vẫn đọc lại nhiều lần. Có điều rất lạ là đọc mãi mà vẫn chưa biết Văn Đắc nói gì trong "Tôi người Thanh Hóa". Đang lúng túng thì tôi vớ được một báu vật đó là bài viết của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm: "Văn Đắc và nghệ thuật găm thơ vào người đọc" in trong tạp chí Xứ Thanh số 9-2009. Mừng quá tôi đọc ngay càng đọc càng sáng ra nhiều điều. Tôi xin chân thành cảm ơn nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm đã chỉ bảo cho tôi nhiều điều khi tiếp cận với thơ Văn Đắc nói chung và trường ca "Tôi người Thanh Hóa" nói riêng. Sau đây tôi xin bày tỏ vài suy nghĩ tản mạn về bài viết "Văn Đắc và nghệ thuật găm thơ vào người đọc" của tác giả Nguyễn Minh Khiêm và trường ca "Tôi người Thanh Hóa" của Văn Đắc.

Tác giả Nguyễn Minh Khiêm viết: "Ông đã găm được một số câu thơ vào tâm trí bạn bè người đọc mà nhiều cây bút khác chưa có thể so sánh. Từ những năm 70 của thế kỷ trước người yêu thơ đã ngân nga những câu thơ này của ông: "Giặc bỏ bom ngang / Ta xây làng dọc / Giặc bỏ bom dọc / Ta dựng làng ngang / Trận địa ta giăng hàng / Dài hơn tầm bom giặc" (Làng sơ tán); Ta xuống với sông khoát dòng nước sáng / Mới biết dòng sông chảy mạnh vô cùng" (Dòng sông trong đêm); hay "Tay em đã vín vào cành / Thì bao nhiều lá cũng thành lời yêu" (Vụng thầm). Chính những câu xuất sắc này (theo chủ quan của cá nhân tôi) đã góp phần làm nên chân dung diện mạo tầm vóc nhà thơ Văn Đắc". Cứ cho những nhận xét này của Nguyễn Minh Khiêm là đúng vậy chân dung diện mạo tầm vóc nhà thơ Văn Đắc như thế nào? Những câu thơ mà Nguyễn Minh Khiêm dẫn trong đoạn viết vừa rồi thì theo thiển ý của tôi chỉ là những câu thơ trung bình đọc được. Những câu thơ xuất sắc hoặc những bài thơ xuất sắc phải là những câu những bài độc đáo có khám phá phát hiện mới cả về nội dung và nghệ thuật biểu hiện. Viết về dòng sông về tình yêu đôi lứa từ xưa đến nay đã có vô số người viết. Hầu như tất cả những người làm thơ (kể cả văn học dân gian) đều viết về dòng sông quê hương về tình yêu đôi lứa. Bởi dòng sông và tình yêu đôi lứa là hồn là mộng là gan ruột là máu thịt họ là nguồn cảm hứng vô tận của họ. Nếu có một thống kê những câu thơ của các tác giả từ xưa đến nay viết về hai đề tài này tôi tin rằng sẽ có vô số những câu hay xuất sắc.

Về bài thơ "Làng sơ tán" của Văn Đắc thuộc loại thơ phong trào. Thơ sự kiện thơ phong trào thơ người tốt việc tốt cũng đã nhiều người viết. Nếu người viết là một tài năng thật sự thì loại thơ này vẫn là những áng văn hay truyền đời "Mẹ Suốt" của Tố Hữu là một ví dụ. Những câu thơ mà Nguyễn Minh Khiêm trích trong "Làng sơ tán" của Văn Đắc nhỉnh hơn những câu tuyên truyền cho phong trào hợp tác hóa nông nghiệp 1958 1959: "Làm ăn có đội có đoàn / Như đò có nhịp hò khoan mà chèo". Thơ phong trào cũng có tác dụng đối với quần chúng nhưng chủ yếu vẫn là tuyên truyền động viên cổ vũ.

Nguyễn Minh Khiêm từng là học trò của ông Văn Đắc có lẽ vì vậy mà trong bài viết "Văn Đắc và nghệ thuật găm thơ vào người đọc" đã nhiều đoạn anh viết như một học trò trả nghĩa thầy: "Tôi đã giật mình rợn cả người khi đọc câu thơ ông viết trong bài Vũ nữ Chàm: Còn một nét người vũ nữ còn múa/... / Một mình trong đá múa si mê. Ông phát hiện cực giỏi. Giỏi hơn là ông đã mã hóa hồn mình vào hình ảnh một cách tinh tế. Đọc một câu thơ mà chân trời mỹ học mở ra còn hơn cả trăm trang lý luận. Phải là người từng trải giàu tri thức có khả năng mở được nhiều mạch nhiều tầng nhiều vỉa của ngôn ngữ mới đi hết được chiều sâu chiều rộng của những câu thơ ấy. Nói là tuyên ngôn nghệ thuật của ông cũng được mà nói là tuyên ngôn sức sáng tạo của ông cũng được". Đọc đi đọc lại đoạn vừa rồi tôi cứ ngỡ Nguyễn Minh Khiêm viết về ai đó chứ không phải viết về Văn Đắc. Thơ ca Việt Nam từ cổ chí kim từ Nguyễn Trãi Nguyễn Du Hồ Xuân Hương Cao Bá Quát Nguyễn Khuyến Trần Tế Xương Nguyễn Đình Chiểu Đào Tấn đến Hàn Mặc Tử Xuân Diệu Chế Lan Viên Huy Cận Tố Hữu... chưa ai được đánh giá cao như Văn Đắc. Tôi biết Văn Đắc từ năm 1979. Tôi công tác ở Sở Văn hóa Văn Đắc làm việc ở Hội Văn nghệ hai nhà nhưng một ngõ. Tôi có đọc thơ Văn Đắc tuy không đọc được hết những sáng tác của ông. Tôi cũng thường xuyên đọc những bài nghiên cứu lý luận phê bình văn học trong tạp chí Xứ Thanh báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam và một số báo tạp chí khác nhưng tôi chưa thấy ai viết về thơ Văn Đắc như Nguyễn Minh Khiêm. Phải chăng chỉ có nhà thơ xứ Thanh mới biết được tầm vóc nhà thơ xứ Thanh? Văn Đắc viết về người vũ nữ Chàm trong bức phù điêu say mê nghệ thuật cống hiến hết mình cho nghệ thuật: "Còn một nét người vũ nữ còn múa/... /Một mình trong đá múa si mê". Nguyễn Minh Khiêm khen: "Ông phát hiện cực giỏi. Giỏi hơn là ông đã mã hóa hồn mình vào hình ảnh một cách tinh tế". Có lẽ Nguyễn Minh Khiêm đã nhầm người đã mã hóa hồn mình vào hình ảnh (tức người vũ nữ trong phù điêu) là tác giả làm ra bức phù điêu ấy chứ không phải nhà thơ Văn Đắc. Không có nghệ nhân hoặc nhà điêu khắc làm ra bức phù điêu thì Văn Đắc không thể có cảm hứng để viết những câu thơ ấy. Và thực ra những câu thơ này Văn Đắc chỉ nói lại ý của nghệ nhân hoặc nhà điêu khắc chứ không có phát hiện gì mới. Vậy mà Nguyễn Minh Khiêm lại viết đến mức: "Đọc một câu thơ mà chân trời mỹ học mở ra còn hơn cả trăm trang lý luận. Phải là người từng trải giàu tri thức có khả năng mở được nhiều mạch nhiều tầng nhiều vỉa của ngôn ngữ mới đi hết được chiều sâu chiều rộng của những câu thơ ấy". Thực lòng khi đọc đoạn này tôi cứ thấy ngượng thế nào ấy. Có lẽ từ nay về sau không ai dám viết về thơ Văn Đắc nữa giống như Lý Bạch không đề thơ ở Hoàng Hạc lâu vì đã có thơ của Thôi Hiệu rồi vậy!

Vẫn theo mạch văn như thế Nguyễn Minh Khiêm viết: "Ông (tức Văn Đắc - T.M) rất tâm đắc với câu thơ Trái đất quay đúng chỗ tôi ngồi. Có được một câu thơ ý tứ thâm trầm sâu xa như thế cả bài thơ Nhà tôi của ông gần như lan man từ đầu đến cuối: "Nhà tôi / Vui niềm vui bận rộn / Cái ghế làm con tàu / Cái bàn thành bến cảng / Sóng gió trở buồm nâu / Một chiếc lồng gà đậu bên lối ngõ / Tiếng cười mở ra ngoài đường.../ Những ngày mưa mây xuống bắc cầu... Ông kể như cổ tích cho trẻ con nghe. Sau hai mươi câu dẫn lang thang ít trọng lượng ấy mới đến câu kết Trái đất quay đúng chỗ tôi ngồi! Câu thơ phát sáng như một mặt đá kim cương". Viết như thế tôi e Nguyễn Minh Khiêm hiểu không đúng thơ Văn Đắc chính xác hơn hiểu không đúng Văn Đắc. Trong bài viết của mình Nguyễn Minh Khiêm đặt vấn đề: "Văn Đắc và nghệ thuật găm thơ vào người đọc" nên ông đã dẫn ra những câu thơ hay "xuất thần" của Văn Đắc. Nhưng tất cả những câu thơ ấy của Văn Đắc lại toát lên một ý hoàn toàn khác: Đó là sự kiêu ngạo của nhà thơ "thường thường bậc trung" này. Trái đất quay đúng chỗ tôi ngồi nghĩa là Văn Đắc là tâm của trái đất là rốn của vũ trụ! Nguyễn Minh Khiêm viết rằng "Ông rất tâm đắc với câu thơ Trái đất quay đúng chỗ tôi ngồi". Tôi lại cho rằng Văn Đắc cố ý viết như thế để tự đề cao mình. Điều này thể hiện rất rõ trong trường ca "Tôi người Thanh Hóa". Ngay khổ thơ đầu tiên Văn Đắc viết: "Phía Đông là biển / Phía Bắc là dãy Tam Điệp / Phía Tây là biên giới Lào Việt / Phía Nam là núi Chẹt / Toàn vần trắc / Cao thấp chập chờn / Sóng nước sóng đất / Đâu phải vần bằng mà tung tăng rong chơi / Mênh mông là trời / Thì ra ngoài mà ngó / Trời Thanh Hóa của tôi là cái vó / Thả lúc nào cũng vớt được tôi lên". Vâng chỉ ra khỏi Thanh Hóa mà nhìn thì mới thấy được sự vĩ đại khổng lồ của Văn Đắc. Và vì Văn Đắc vĩ đại khổng lồ nên chắc chắn là phải khác người vì thế vó thả lúc nào cũng vớt được ông ta lên. Đọc không kỹ không thể hiểu được tầm tư duy của Văn Đắc. Thời kỳ văn hóa phục hưng Âu châu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI sản sinh ra rất nhiều nhà văn nhà thơ hoạ sĩ điêu khắc triết học khoa học khổng lồ. Sự khác nhau giữa những con người khổng lồ này và Văn Đắc là ở chỗ họ sáng tạo nên những tác phẩm vĩ đại mang đầy tính nhân văn còn Văn Đắc lại dùng thơ văn mình để đề cao chính mình.

ở đoạn ba của trường ca "Tôi người Thanh Hóa" Văn Đắc viết: "Nếu ai hỏi: Ông ở đâu / Tôi nói / Tôi người Thanh Hóa / Cái khuôn đúc sẵn của trời / Đã xoay đủ cách vẫn trồi tôi ra". Một lần nữa Văn Đắc khẳng định sự khổng lồ dị biệt của mình đến mức khuôn của trời - tức khuôn của tạo hóa dù xoay đủ cách thì Văn Đắc vẫn là Văn Đắc. Nói cách khác con người Văn Đắc văn thơ Văn Đắc sự vĩ đại của Văn Đắc là bất biến là vĩnh hằng cùng trời đất sông núi xứ Thanh. Ai không nhận ra điều này thì không hiểu gì thơ văn Văn Đắc không hiểu gì về con người Văn Đắc.

Con người khổng lồ phải có tính cách đặc biệt: "Thích thì vác đá xây thành/ Uất thì chọc thủng trời xanh mà cười". Với hai câu này Văn Đắc đã nói trọn vẹn được cái tôi của mình trong "Tôi người Thanh Hóa" mà không cần đến bất cứ một biện pháp tu từ nào.

Tạp chí Xứ Thanh số 8-2003 có bài "Khúc hát của tình yêu" (Đọc tập thơ tình Lời cho em của Văn Đắc - Nhà xuất bản Thanh Hóa 2003) của Mạnh Lê. Đọc xong bài viết này có rất nhiều người (trong đó có tôi) đến hỏi Mạnh Lê: Sao ông dám viết như thế này: "Đọc Lời cho em dù chỉ là phần thơ tình yêu thời luống tuổi ta vẫn gặp một Văn Đắc đam mê say đắm một Văn Đắc ngây thơ vụng dại một Văn Đắc tinh tế tài hoa và rõ nhất là một Văn Đắc có trái tim đa cảm. Tình yêu Hàn Mặc Tử trong trẻo thơ ngây rồi dần cũng chết lặng trong máu điên cuồng xót đau day dứt. Tình yêu Xuân Diệu ở độ tuổi trai trẻ vồ vập vội vàng thì sau này cũng nhuốm màu nhớ mong ao ước. Tình yêu Nguyễn Bính nỗi niềm thân phận gái quê rồi cũng thấm thía nỗi buồn mất mát vẩn vơ. Tình yêu Văn Đắc thấm thía nỗi đời một vị say vị đắng chiêm nghiệm muốn tỏ bày rằng "Hỡi con người hãy yêu hãy thương hãy sống với nhau độ lượng". Viết như thế nghĩa là ông xếp thơ tình yêu của Văn Đắc trên cả thơ tình yêu của Hàn Mặc Tử Xuân Diệu Nguyễn Bính?

Mạnh Lê là người hiền lành thật thà tốt bụng có năng lực cảm thụ văn học và sáng tạo văn học. Anh biết nghề biên tập lại đương đảm nhiệm Phó Tổng biên tập tạp chí Xứ Thanh nên khi được hỏi câu trên anh cười rất hiền rồi nhỏ nhẹ nói: "Em không viết như thế. Có một người mượn bản thảo về xem lại rồi tự ý viết thêm đoạn ấy vào. Tạp chí có lỗi là không đọc lại cứ để thế đánh máy và in. Khi in xong mới biết thì đã muộn". Sau đó ít lâu tôi gặp Văn Đắc ở Hội Văn nghệ Thanh Hóa tôi nói: "Sao tạp chí Xứ Thanh dám so sánh thơ tình Văn Đắc với thơ tình Hàn Mặc Tử Xuân Diệu Nguyễn Bính?" Văn Đắc nói ngay: "Mạnh Lê có công bày sàng ra thơ tình Hàn Mặc Tử thế này thơ tình Xuân Diệu thế này thơ tình Nguyễn Bính thế này thơ tình Văn Đắc thế này". Tôi buột miệng: "Thằng điên".

Thưa ông Nguyễn Minh Khiêm được trò chuyện với một người có kiến thức sâu rộng như ông tôi lấy làm vinh hạnh lắm. Điều đó càng làm cho tôi mạnh dạn muốn bày tỏ với ông về sự kiêu ngạo của nhà thơ Văn Đắc mà ông đã nhắc tới trong bài viết của mình. Theo tôi thi sĩ Văn Đắc đã có sự lầm lẫn: Ông ta đã đồng nhất kiêu ngạo với ngông. Thực ra kiêu ngạo có cái khác với ngông. Kiêu ngạo là kiêu căng tỏ ra khinh thường ngạo mạn trắng trợn với người khác. Còn ngông thì tỏ ra bất cần có cách nói năng cử chỉ khác với lẽ thường một cách quá quắt. Tuy nhiên cái ngông và kiêu ngạo mà chúng ta nói ở đây là cái ngông cái kiêu ngạo của nhà văn trong thơ văn. Chúng ta cũng cần thống nhất với nhau rằng nói cái ngông của nhà văn cũng tức là nói cái ngông trong văn thơ của nhà văn đó và ngược lại. Cái ngông của nhà văn phải do hai yếu tố tạo nên: Tài năng thực của nhà văn và xã hội của nhà văn đó sống làm việc. Nhà nghiên cứu phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh đã viết về cái ngông của Nguyễn Tuân như thế này: "Trước cách mạng Nguyễn Tuân sống và viết như để chơi ngông với xã hội quanh mình. Nói chung ngông là một thái độ phản ứng tiêu cực nhưng kiêu căng đối với xã hội cho nên nó sẽ trở thành vô duyên vô nghĩa nếu không dựa vào một tài năng hơn người. Nhu cầu của phong cách ấy buộc Nguyễn Tuân phải gắng trau dồi lấy cho mình một trình độ tri thức và tài hoa "xuất chúng" đồng thời buộc anh mỗi khi cầm bút nhất thiết phải chứng tỏ bằng được cái "uyên bác" cái "hay chữ" cái "chất nghệ sĩ tài hoa" của mình. Sau cách mạng nhu cầu ngông không còn lý do tồn tại nhưng chế độ mới chẳng những không ngăn cấm anh tiếp tục sống như một người uyên bác hay chữ và tài hoa mà còn tạo điều kiện cho anh phát huy hơn nữa nếu anh muốn dùng nó để phục vụ nhân dân phục vụ cách mạng" (Nguyễn Đăng Mạnh Nhà văn - Tư tưởng và Phong cách Nxb Tác phẩm mới Hội Nhà văn Việt Nam 1979 trang 109 110).

Còn kiêu ngạo thì sao? Theo tôi kiêu ngạo là biểu hiện của người không thực tài nhưng lại cố tình tỏ ra là mình có tài. Điều đó dẫn đến một mặt anh ta kiêu căng ngạo mạn khinh thường người khác mặt khác lại muốn mọi người phải coi anh ta có tài thật sự bởi vậy mới phải tự huyễn hoặc mình tự đề cao mình một cách vô lối. Cách đây mấy ngàn năm đức Khổng Tử đã dạy rằng: "Đừng lo người khác không hiểu mình chỉ sợ mình không có năng lực" (Luận ngữ Thiên XIV - Hiến vấn).

Thưa ông Nguyễn Minh Khiêm thư tôi viết đã dài nhưng những điều tôi muốn bày tỏ với ông thì còn nhiều. Xin được hầu chuyện ông vào một dịp khác. Chúc ông mạnh khỏe. Kính thư!

                                                   T.M


 

VỀ HAI BÀI THƠ CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG

VÀ CHÚA TRỊNH CƯƠNG KHẮC TRÊN VÁCH ĐÁ NÚI BÀI THƠ Ở HẠ LONG (QUẢNG NINH)

                                                                 TRẦN NHUẬN MINH

I

BÀI THƠ CỦA VUA LÊ

Trong số những bài thơ vua Lê Thánh tông (1442 - 1497) viết về tỉnh Quảng Ninh ngày nay bài thơ khắc vào vách đá núi Truyền Đăng là quan trọng nhất. Chính vì bài thơ này mà nhân dân đã đổi tên núi Truyền Đăng thành núi Bài Thơ. Ngày nay ra thăm di tích bài thơ ta đi theo một con phố hẹp có tên là phố Bài Thơ vòng qua cầu ghép bằng những phiến bê tông bắc qua một đoạn nước biển của Vịnh Hạ Long ngang chân núi Bài Thơ. Năm 1985 có một phim thơ ra đời chiếu trên VTV 1 có tên là Thị xã Bài Thơ trong đó thơ của tôi được chọn đọc thay cho lời bình. Lúc ấy thành phố Hạ Long hiện nay còn là một thị xã. Năm 1988 nhân 520 năm bài thơ vua Lê khắc vào vách đá núi Truyền Đăng Tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Ninh cho phép Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảnh Ninh tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh vào 28 tháng 2 âm lịch tương đương là ngày 29 tháng 3.

Toàn văn bài thơ của vua Lê như sau (chép từ Thơ chữ Hán Lê Thánh tông Tổng tập của Viện Nghiên cứu Hán Nôm do Mai Xuân Hải chủ biên NXB Văn học năm 2003).

NGỰ CHẾ THIÊN NAM ĐỘNG CHỦ ĐỀ

Quang Thuận cửu niên xuân nhị nguyệt dư thân xuất lục quân duyệt binh vu Bạch Đằng giang thượng. Thi nhật phong hòa cảnh lệ hải bất dương ba Hoàng Hải tuần An Bang trú sứ Truyền Đăng sơn hạ ma thạch đề thi nhất luật

Cự tẩm uông dương triều bách xuyên

Loạn sơn kỳ bố bích liên thiên

Tráng tâm sơ cảm Hàm tam cổ

Tín thủ dao đề Tốn nhị quyền

Thần Bắc khu cơ sâm hổ lữ

Hải Đông phong toại tức lang yên

Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại

Chính thị tu văn yển vũ niên

Dịch:

Tháng 2 mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9 (1468) ta thân chỉ huy sáu quân duyệt võ trên sông Bạch Đằng. Hôm ấy gió hòa cảnh đẹp biển không nổi sóng ta vượt qua Hoàng Hải đi tuần An Bang đóng quân dưới núi Truyền Đăng bèn mài đá đề một bài thơ

Nhận nước trăm sông sóng cuộn đầy

Núi bày cờ thế biếc liền mây

Xưa theo người khác luôn bền chí

Giờ đã tung hoành một chớp tay

Đế Chủ điệp trùng quân hổ mạnh

Hải Đông đã tắt khói lang bay

Trời Nam muôn thuở non sông vững

Yển vũ tu văn dựng Nước này!

(Trần Nhuận Minh dịch)

Bài thơ này hiện có 3 bản dịch tôi giới thiệu bản dịch của tôi chỉ vì lý do đơn giản là tôi hiểu nó hơn cả do đó dễ trình bày lại để bạn đọc rà soát và có gì thì chỉ giáo cho. Từ năm 1988 bài thơ này được phổ nhạc hát trong các ngày hội thơ nhiều năm đã được Ban quản lý di tích viết trên bảng gỗ chữ sơn cắm bên cạnh bài thơ để khách thăm và các bậc cao minh cho ý kiến sau được nhà Hán Nôm học Mai Xuân Hải ghi nhận Viện Nghiên cứu Hán Nôm nghiệm thu in trong Tuyển tập thơ chữ Hán Lê Thánh tông đến nay tập tuyển đã được tái bản nhiều lần.

Hiểu bài thơ này là cả một quá trình nhất là từ năm 1988 khi Ngày thơ Quảng Ninh ra đời tổ chức hằng năm vào mùa xuân tháng 2 bài thơ này đã được đặt ở vị trí khai sinh do đó góp phần quan trọng dẫn tới hội thảo về Cụm di tích núi Bài Thơ năm 1992 ở Quảng Ninh và 5 năm sau năm 1997 hội thảo Lê Thánh tông ở Hà Nội.

Trước hết về văn bản bài thơ các bạn có ở trên là văn bản chuẩn bởi được chép ra từ núi Bài Thơ. Nhiều chữ trên vách đá không còn đọc được bằng mắt thường nhưng bản dập bằng các biện pháp khoa học thì vẫn còn đọc được và những chữ quá mờ vẫn còn đoán ra được. Căn cứ vào bản dập này thì văn bản bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục của nhà bác học Lê Quý Đôn vốn được coi là chuẩn mực vẫn sai đến 6 chữ trong đó có những chữ vô cùng quan trọng như vua Lê xưng Ta rất thân mật thì cụ Lê Quý Đôn chép là Trẫm...

Trong nguyên tác bài thơ không có đầu đề vì thế mỗi bản in có một đầu đề khác nhau là điều dễ hiểu còn tác giả thì đề là Thiên Nam động chủ. Thiên Nam động chủ là hiệu của vua Lê Thánh tông.

Điều quan trọng nhất là câu thơ thứ 3 và 4 nên hiểu như thế nào đặc biệt hai cụm từ Hàm tam cổ và Tốn nhị quyền gây ra nhiều tranh cãi. Ngay cả nhà văn hóa lớn Hoàng Xuân Hãn và nhà Hán Nôm học lão thành Nguyễn Duyên Niên cũng có những kiến giải khác nhau về hai cụm từ này mà về sau các nhà Hán Nôm học khác không thừa nhận.

Về ba chữ Hàm tam cổ thì chữ cổ có nhiều nghĩa có một nghĩa là trống. Cổ bề thanh nguyệt tràng thành động (Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt) do đó có người hiểu Hàm tam cổ là vọng ba hồi trống điều đó có cơ sở là cuộc duyệt binh của vua Lê Thánh tông mà ông có ghi trong lạc khoản ở đầu bài thơ. Trong hội thảo khoa học về Cụm di tích núi Bài Thơ với sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành của viện Văn học viện Sử học viện Hán Nôm mà tôi còn nhớ có các vị như: Phan Huy Lê Nguyễn Huệ Chi... thì Hàm tam cổ được thống nhất hiểu là hào tam (3) quẻ Hàm của Kinh Dịch. Quẻ Hàm có nghĩa là cảm và chữ cổ ở hào 3 là cái bắp đùi. Tôi tra trong Kinh Dịch thì Lời Kinh của hào tam trong quẻ Hàm nguyên văn như sau: "Hàm kỳ cổ chấp tùy kỳ vãng lận" Nghĩa là cảm lần thứ 3 ở đùi (lần thứ nhất ở ngón chân lần thứ 2 ở bụng chân) mà đùi muốn cử động được phải theo sự điều hành của cơ thể. Dó đó Tráng tâm sơ cảm Hàm tam cổ tôi hiểu là: Xưa theo người khác luôn bền chí. Cũng theo mạch tư duy của Kinh Dịch có người hiểu Tốn nhị quyền là hào nhị (2) quẻ Tốn. Lẽ thường của câu thơ luật là như thế nhưng té ra là không phải. Đây cũng là cái rắc rối thứ hai trong việc tìm hiểu câu thơ này. Nếu đọc hào 2 quẻ Tốn trong Kinh Dịch ta có nguyên văn Lời Kinh như sau: "Tốn tại sàng hạ dụng xử vu phân nhược cát! Vô cữu!" Nghĩa là "Nhún ở dưới giường dùng thày bói thày cúng bời bời vậy. Tốt! Không lỗi!" Nội dung đó hoàn toàn xa lạ với ý thơ trong bài. Nhưng Tốn Nhị là "hai luồng gió chồng lên nhau tức là theo gió. Theo và chồng là trên dưới đều thuận" Đó là lời giải của Trình Di về quẻ Thuần Tốn trong Kinh Dịch. Như vậy Tốn Nhị không phải là hào 2 quẻ Tốn mà là Thuần Gió có sức mạnh ghê gớm tung hoành trong trời đất gây ra sấm sét mưa bão. Do đó Tín thủ dao đề tốn nhị quyền tôi hiểu là Giờ đã tung hoành một chớp tay. Cách hiểu khác nhau dẫn đến cách dịch khác nhau đều xuất phát từ hai câu thơ rất uyên bác và hiểm hóc này. Tôi nghĩ đây là thực trạng của nhà vua trong quá trình củng cố quyền lực từ lúc ban đầu phải theo người khác để giữ yên tình thế đến lúc trên dưới đều thuận nên mình mới có thể mạnh tay hành động lớn để làm những đại sự cho quốc gia. Hai chữ Thần Bắc và Hải Đông trong cặp đối rất chuẩn của câu luận cũng rất khó dịch cho chuẩn về âm tiết và ngữ nghĩa. Thần Bắc là sao Bắc Đẩu chỉ bậc Đế Chủ là nhà vua. Hải Đông thì uyên bác đến như cụ Đông Khê Nguyễn Hữu Tiến cụ Nguyễn Duyên Niên còn hiểu là Biển Đông. Bây giờ thì ta thấy rõ cách hiểu này là không có sức thuyết phục vì không ai đốt củi ở biển Đông cả. Hải Đông chính là tên một vùng đất rộng lớn ở thời Trần Lê trong đó có tỉnh Quảng Ninh ngày nay ở đây có trạm báo hiệu - truyền tin - về kinh thành Thăng Long chính là núi Truyền Đăng mà vua Lê đề thơ. Ngày xưa khi biên cương có giặc người lính biên phòng đốt trên ngọn quả núi này những cây gỗ khô có phân chó sói khói bốc thẳng lên trời để kinh thành biết là giặc đã tràn vào biên giới. Hải Đông đã tắt khói lang bay là đã tắt ngọn lửa hiệu báo có chiến tranh xâm lược. Hai câu kết thì Yển vũ tu văn là một thành ngữ chỉ chiến lược của nhà cầm quyền ở thời bình trong việc cân đối hài hòa giữa việc phát triển kinh tế văn hóa bang giao giáo dục y tế... (đều gọi tắt là Văn) với việc xây dựng lực lượng quân sự (Vũ) thế nào cho hợp lý đủ để bảo vệ tổ quốc mà không quá đà... Do đó dịch là tăng văn giảm võ xem ra không ổn hoặc giảm binh nhung cũng không lột hết được cái ngụ ý của chiến lược quân sự thời bình của nhà vua nên tôi nghĩ tốt nhất là nên giữ nguyên thành ngữ đó không dịch. Chính thị là chính lúc này chỉ thời gian vậy chữ niên không nên hiểu là năm nghĩa là thời gian mà hiểu theo nghĩa thứ 2 của chữ này là được mùa là làm được cái việc ấy. Do đó tôi hiểu: Yển vũ tu văn dựng nước này. Đây là lối dịch thoát theo ý tưởng của cả bài thơ mà tôi nghĩ là đúng với dụng ý của tác giả.

Chính vì lẽ đó hội thảo khoa học 1992 xác nhận là: "Bài thơ là một bản Tuyên ngôn độc lập về toàn vẹn của chủ quyền lãnh thổ của quốc gia Đại Việt đồng thời là ý chí quyết tâm xây dựng một đất nước hòa bình cường thịnh và bền vững ở thời Lê (dẫn theo kỷ yếu Hội thảo).

Hội thảo cũng khẳng định Ngày thơ Quảng Ninh tổ chức hằng năm vào tháng 2 mùa xuân nhân sự kiện văn hóa này là một sáng kiến lớn của tỉnh Quảng Ninh. Tròn 15 năm sau ngày 11 tháng 10 năm 2003 nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam tại đại hội lần thứ VIII Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh đã phát biểu: Thay mặt Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam tôi xin trân trọng thông báo với các đồng chí lãnh đạo tỉnh và các bạn văn nghệ sĩ dự Đại hội toàn thể của Hội Văn học Nghệ thuật lần thứ VIII của tỉnh Quảng Ninh rằng: Từ thực tế tổ chức và những kinh nghiệm của Ngày thơ Quảng Ninh Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam trong phiên họp toàn thể ngày 26 tháng 12 vừa qua đã quyết định lấy ngày Rằm tháng Giêng âm lịch hằng năm ngày được ghi trong bài Nguyên tiêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Ngày thơ Việt Nam" (dẫn theo báo Hạ Long số chào mừng thành công của Đại hội).

Vua Lê Thánh tông viết bài thơ này năm ông 26 tuổi sau 8 năm ở ngôi vua cho thấy bản lĩnh lớn tầm chiến lược xa rộng và tầm văn hóa rất cao thể hiện sức mạnh vượt trội của một nhà nước đang phát triển trong hòa bình.

II

BÀI THƠ CỦA CHÚA TRỊNH

261 năm sau cũng vào tháng 2 mùa xuân ngày 28 âm lịch chúa An Đô vương Trịnh Cương (1686 - 1730) đã dẫn đoàn thủy quân qua đây và viết bài thơ Họa khắc trên vách đá cách bài thơ Xướng của vua Lê khoảng non 30 mét. Bài Họa cũng không có đầu đề. Toàn văn như sau:

Thời điều ngọc chúc tuế thực kim nhương thích vạn vu chi dư nhàn thức nhất du chi hữu độ dư chinh chu sư giá dư hoàng lãm vu đồng minh lãm đảo dữ chi như họa giao thất trừng thanh diệu thủy bộ chi như lôi hổ sư hoàn tráng đan thần đột hứng trì thảo dũng sinh. Viên thuật huyền nhai di vận trác tựu thất ngôn vĩnh lưu vu thạch.

Minh hạnh vô nhai hối tổng xuyên

Sơn liên trám thủy thủy man thiên

Thần kỳ mạc trạng an bài chưởng

Hàm nhuận nan danh hóa dục quyền

Đại viễn thượng di cầm Thát xú

Xuân quang điệp kiến lạn hoa yên

Tái tuân nhất dự phu đài duyệt

Quần hổ cam ca hải yến niên

Nhật Nam Trịnh chủ đề

Bảo Thái Kỳ Dậu trọng xuân tứ thất nhật

Dịch:

Nay gặp thời tiết ôn hòa trong năm được mùa lại vừa lúc mọi việc thư nhàn nên thực hiện một cuộc tuần du cũng là đúng phép. Ta chỉnh đốn thủy quân ngự thuyền ra biển Đông ngắm biển sâu nước trong các hòn đảo lớn nhỏ trông như vẽ quân thủy bộ đều mạnh mẽ như hổ khí thế rầm rập như sấm. Tinh thần ta khi ấy nảy sinh hứng thú thanh nhàn trong lòng ta trào dâng cảm xúc bèn theo vần thơ còn lại trên vách núi mài rũa thành một bài thơ thất ngôn lưu giữ mãi trên đá.

Mênh mông sông tụ triều lên

Nước in bóng núi núi in bóng trời

Bàn tay tạo hóa tuyệt vời

Thần kỳ nhuần thấm lòng người bấy nay

Giặc Nguyên xưa bắt ở đây

Giờ xuân sáng khói hoa bay quanh người

Cuộc chơi ai cũng vui cười

Các quan ca tụng biển trời lặng trong

Nhật Nam Trịnh chủ đề

ngày 28 tháng 2 năm Kỷ Dậu

niên hiệu Bảo Thái (1729)

(Trần Nhuận Minh dịch)

Chúa Trịnh Cương tên húy là Chù tước là An Đô vương lên ngôi chúa năm 18 tuổi văn võ toàn tài. Ông được ghi nhận là người biết nghe những lời nói thẳng của quần thần để cải tổ nền chính trị của đất nước.

Bài thơ trên của ông hiện còn nguyên vẹn trên vách đá núi Bài Thơ chữ rất đẹp và sau nhiều phôi pha của thời gian vẫn còn rất rõ đứng ở dưới cách khá xa vẫn đọc được. Đây là bài thơ Họa nghĩa là tác giả bị ràng buộc bởi nguyên vận trong bài Xướng của vua Lê Thánh tông nhưng Trịnh Cương viết vô cùng thoải mái và phóng túng chứng tỏ ông thực sự là một nhà thơ có tài. Bài thơ uyên bác mà rất thông thoáng dễ hiểu không dùng điển tích cầu kỳ gì. Đây là một trong số ít những bài thơ hay nhất xưa nay về Vịnh Hạ Long.

Phải đến thơ Trịnh Cương thì Vịnh Hạ Long mới hiện lên trong vẻ đẹp của một cảnh quan du lịch kỳ thú. Đi trên Vịnh Hạ Long là đi chơi. Người đi chơi là các quan: Cuộc chơi ai cũng vui cười / Các quan ca tụng biển trời lặng trong. Và cảnh trên Vịnh Hạ Long cũng phải đến Trịnh Cương mới rõ ra là sự an bài của tạo hóa mà sự thần kỳ

More...

VĂN HÓA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Tuồng xứ Thanh với nhiệm vụ

Thanh Hóa - Quảng Nam kết nghĩa


                                                      NGUYỄN NGỌC QUYỀN



      Đoàn nghệ thuật tuồng Thanh Hóa tiền thân là đoàn tuồng Thanh Quảng thành lập theo quyết định của UBHC tỉnh Thanh Hóa. Dưới sự đỡ đầu của Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa và Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Nhiệm vụ của đoàn là tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng và Chính phủ tuyên truyền phổ biến việc kết nghĩa với tỉnh Quảng Nam nhằm động viên sức người sức của cho chiến trường miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Đồng thời đoàn còn có nhiệm vụ bí mật đào tạo các nghệ sỹ tăng cường cho đoàn tuồng giải phóng Trung Trung bộ thuộc Ban Tuyên huấn Khu ủy V.

Ngay từ khi thành lập đoàn đã được sự yêu quý của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thanh Hóa từ vùng núi Quan Hóa Bá Thước tới các trận địa nóng bỏng như Hàm Rồng Phà Ghép...

Nhiều chiến sỹ của Trung đoàn đặc công Lam Sơn Thanh Hóa còn nhớ mãi kỷ niệm trước khi bí mật vào chiến trường Quảng Đà được xem và được các nghệ sỹ đoàn tuồng Thanh Quảng đưa tiễn lúc lên đường làm nhiệm vụ. Tình cảm của nhân dân Thanh Hóa còn dành cho đoàn bởi hơn một nửa số lượng nghệ sỹ của đoàn là con em miền Nam thân yêu: Huế Quảng Nam Bình Định và mỗi một đêm diễn của đoàn như thúc giục nhắc nhở trái tim mỗi người hướng về miền Nam hướng về Quảng Nam yêu thương.

Năm 1968 sau Tổng tiến công tết Mậu Thân. Theo yêu cầu của Ban Tuyên huấn Khu ủy V Tỉnh ủy và UBHC tỉnh Thanh Hóa đã tăng cường năm nghệ sỹ của đoàn: Tống Phương Cơ Trịnh Bá Tảo Lưu Trung Tùng Trịnh Quyền Trịnh Tấu vào chiến trường bổ sung cho đoàn Tuồng Giải Phóng Trung Trung bộ vì một số nghệ sỹ của đoàn này đã hy sinh và bị địch bắt đầy đi Phú Quốc.

Năm nghệ sỹ của đoàn vào chiến trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được tặng thưởng nhiều huân chương các loại.

Số còn lại ngoài Bắc vẫn tiếp tục biểu diễn phục vụ nhân dân và đào tạo lực lượng sẵn sàng tăng cường cho chiến trường. Năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng ngay sau đó chấp hành lệnh của ủy ban tỉnh Thanh Hóa đoàn đã lên đường theo chân đoàn quân giải phóng phục vụ bộ đội và nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng đem tiếng nói của miền Bắc XHCN đến với những vùng vừa bị giặc chiếm đóng. Đồng thời giúp bạn xây dựng một thiết chế văn hóa - văn nghệ theo định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Năm 1976 cùng với sự vui mừng cả nước bầu Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất đoàn cũng hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình và được Tỉnh ủy ủy ban tỉnh cho đổi tên là Đoàn tuồng Thanh Hóa.

Trong quá trình từ 1962 - 1976 đoàn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều cán bộ nghệ sỹ của đoàn được tặng bằng khen của Bộ Văn hóa và Mặt trận Tổ quốc hai tỉnh Thanh Hóa - Quảng Nam. Nhiều vở diễn của đoàn mang tính giáo dục sâu sắc góp phần động viên nhân dân hăng say lao động và sẵn sàng lên đường đánh Mỹ như: Chị Ngộ Ngọn lửa Hồng Sơn Đề Thám Triệu Quốc Trinh Cô gái bến phà (viết về các nữ thanh niên xung phong phà Ghép)...

Từ năm 1976 - 1999 đất nước vừa thoát ra khỏi chiến tranh. Mặc dù còn khó khăn vất vả nhưng anh chị em nghệ sỹ của đoàn vẫn kiên trung tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng. Tích cực rèn luyện nghề nghiệp đi vào các vùng sâu vùng cao phục vụ nhân dân hoàn thanh chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao. Đoàn thường xuyên được làm nhiệm vụ của tỉnh như: biểu diễn đón phái đoàn: Lào Liên Xô (cũ) Trung Quốc... Biểu diễn phục vụ các đồng chí lãnh đạo cao cấp về thăm tỉnh nhà: Lê Duẩn Trường Chinh Phạm Văn Đồng Võ Nguyên Giáp Lê Đức Anh Lê Khả Phiêu...

Năm 1985 đoàn tham gia hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc tại Thanh Hóa đã đạt huy chương vàng với vở diễn "Lời thề Trinh Nữ". Ngay sau đó đoàn được vinh dự biểu diễn phục vụ đồng chí Trường Chinh khi ông vào trao Huân chương Sao Vàng cho tỉnh ta.

Từ năm 1990 đến nay là một bộ môn truyền thống mặc dù gặp nhiều khó khăn trong cơ chế thị trường nhưng đoàn vẫn luôn phấn đấu năng động chuyển đổi phương thức hoạt động tìm ra hướng đi thích hợp biểu diễn phục vụ nhân dân và phục vụ nhiều nhiệm vụ chính trị của Tỉnh của Ngành giao như: Lễ hội giao thừa thiên niên kỷ lễ hội Lam Kinh lễ hội Lê Hoàn lễ khánh thành tượng đài Lê Lợi... đều có sự góp sức của các nghệ sỹ đoàn nghệ thuật Tuồng để lại trong lòng công chúng sự cảm mến trân trọng. Tiếng trống Tuồng thường xuyên vang lên khắp các vùng quê vùng cao xa xôi hẻo lánh. Trong các kỳ hội thi hội diễn toàn quốc đoàn tuồng xứ Thanh được bạn bè đồng nghiệp Bắc - Trung - Nam đánh giá cao về chất lượng chuyên môn: 7 nghệ sỹ của đoàn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sỹ ưu tú. Nhiều giải thưởng huy chương vàng Huy chương bạc cho vở diễn và cho các cá nhân càng minh chứng khẳng định nghệ thuật tuồng truyền thống đang được lưu giữ đúng quy chuẩn trên quê hương Đào Duy Từ.

Ngoài công việc biểu diễn và sáng tạo nghệ thuật đoàn đã kết nghĩa với nhiều địa phương hỗ trợ về chuyên môn kinh phí xây dựng các câu lạc bộ tuồng và các đội văn nghệ: Vĩnh Lộc Hà Trung Hậu Lộc Hoằng Hóa... Dưới sự lãnh đạo của Bộ Văn hóa Thông tin nay là Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch và Bộ Giáo dục đào tạo đoàn đã đưa dự án "Sân khấu học đường" vào ba trường THCS Hậu Lộc và Hoằng Hóa. Góp phần xây dựng đời sống văn hóa cơ sở thêm phong phú. Năm 2003 đoàn đã giúp đội tuồng huyện Hà Trung và đội tuồng huyện An Lão - thành phố Hải Phòng đi tham dự hội diễn tuồng không chuyên toàn quốc tại thành phố biển Nha Trang đạt huy chương vàng.

Với thành tích biểu diễn và công tác năm 1999 đoàn được Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen. Năm 2004 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba trong thời kỳ đổi mới.

Kỷ niệm 50 năm ngày Thanh Hóa - Quảng Nam kết nghĩa và 48 năm thành lập đoàn Tuồng Thanh Quảng chúng ta càng nhận thức sâu sắc tầm nhìn chiến lược của Đảng không những động viên sức người sức của giải phóng miền Nam thống nhất đất nước mà còn lấy văn hóa nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị nóng bỏng lúc bấy giờ và lưu giữ nghệ thuật truyền thống cho tương lai.

Mùa xuân mới lại đến với mọi người mọi nhà. Được sự quan tâm thương yêu của lãnh đạo và nhân dân các dân tộc trong tỉnh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch anh chị em nghệ sỹ đoàn nghệ thuật tuồng đang hồ hởi bước vào chặng đường mới.

Tiếng trống tuồng lại vang cao vang xa trên khắp nẻo miền quê làm rạo rực lòng người góp phần làm xanh lại ruộng đồng xanh lại núi đồi. Làm bừng thêm sắc xuân trên quê hương Lê Lợi Đào Duy Từ...

                                        N.N.Q

NHÌN KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ NGƯỜI THÁI THANH HÓA


                                                         HÀ NAM NINH

          Người Thái Thanh Hóa là một bộ phận của người Thái Việt Nam gắn với cộng đồng Thái Tây Bắc Nghệ An và Lào sống tập trung ở các huyện phía tây như Quan Hóa Bá Thước Mường Lát Lang Chánh Thường Xuân Như Xuân Như Thanh một bộ phận sống xen kẽ các huyện đồng bằng như ở Tĩnh Gia Thọ Xuân. Trong mấy chục năm nay dân số cơ học dao động từ 21 đến 24 vạn người. Hiện nay có 23 vạn. Một bộ phận chuyển cư vào sinh sống ở Tây Nguyên.

Người Tày Thái là một bộ phận dân cư bản địa của người Việt cổ từ thời kỳ nhà nước Văn Lang và Âu Lạc. Cộng đồng Thái Thanh Hóa được hình thành từ ba bộ phận chính là người Thái cổ bản địa người Thái đen Thái trắng ở Tây Bắc bổ sung vào hòa nhập với nhau tự danh là "Can Tay" "Phú Tay". Cộng đồng Phú Tay này sống tiếp giáp xen kẽ hòa đồng với người Mường Việt kể cả phương diện địa lý đời sống vật chất tinh thần hôn nhân và có giao lưu với người Lào người Chăm Pa người Khơ mú mới đây có thêm người Dao người Hoa và người Hơ mông. Do đó văn hóa vật chất và phi vật thể người Thái Thanh Hóa có đặc điểm nổi bật là:

- Giữ được những nét chung nhất của cộng đồng người Thái Việt Nam và người Tày - Thái cổ Việt Nam.

- Hình thành bản sắc địa phương về cả hình thức thể hiện ngôn ngữ và nội dung gắn với lịch sử địa danh cụ thể.

- Văn hóa người Thái Thanh Hóa có sự giao thoa hòa quện với văn hóa Mường Việt trực tiếp là nhóm Mường Trong. Do quá trình hòa nhập đã diễn ra hàng nghìn năm cho nên hầu hết các lĩnh vực sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần của người Thái và người Mường Thanh Hóa có nhiều mô típ tương tự nhau không còn phân biệt được nguồn gốc từ Mường hay từ Thái. Ví dụ như: Tập quán canh tác ruộng nước nương rẫy ẩm thực nhà ở thuốc nam y phục tín ngưỡng lễ tục thiết chế bản mường nhạc cụ múa hát... Riêng tiếng nói và chữ viết thì không lẫn. Xét về mặt hình thức thì người Thái Thanh Hóa có nhiều nét giống người Mường Thanh Hóa hơn là Thái Tây Bắc. Người Mường Thanh Hóa giống người Thái hơn giống người Mường Hòa Bình - Phú Thọ.

- Người Thái Thanh Hóa có ký ức về văn hóa Chăm Pa Lào và nhóm Thái Phủ Quỳ (Nghệ An) nhiều hơn Tây Bắc.

Lâu nay đã có một số công trình nghiên cứu về người Thái Thanh Hóa. Thời Pháp thuộc có báo cáo khoa học số 1 "Nhận xét về người Tày Đèng ở Lang Chánh" của R.Rô-ben in tại nhà in Viễn Đông năm 1941.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ty Văn hóa Thanh Hóa đã phát động sưu tầm Văn học dân gian miền núi khai thác và giới thiệu được một số tư liệu thuộc thể loại truyện cổ ca dao tục ngữ dân ca truyện thơ.

Đáng chú ý là Khặp Thái truyện thơ Khăm Panh do nhóm tác giả Bùi Tiên Hoàng Anh Nhân Vương Anh sưu tầm và dịch Trường ca U Thêm do cụ Hà Văn Ban ( từng là Chủ tịch UBND tỉnh) sưu tầm dịch và xuất bản bằng hình thức song ngữ. Gần đây có tác phẩm "Bản sắc văn hóa bản Thái" của tác giả Vương Anh đã khái quát các phong tục tập quán và sinh hoạt văn hóa của người Tày Thái Thanh Hóa. Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái Việt Nam tại Thanh Hóa đã sưu tầm biên soạn bộ Chữ Thái cổ Thanh Hóa phối hợp với ngành Giáo dục tổ chức mở lớp dạy chữ Thái cổ cho giáo viên phổ thông trong các dịp bồi dưỡng hè và dạy cho cán bộ nhân dân trong các Trung tâm học tập cộng đồng.

Những ấn phẩm đã xuất bản được độc giả rất quan tâm đặc biệt là đồng bào Thái. Nhưng số bản quá ít dung lượng quá khiêm tốn so với vốn có trong thực tế và thiếu phần tiếng dân tộc chữ dân tộc... Nên chưa đáp ứng được sự mong mỏi của độc giả và đồng bào. Nguyên nhân chính là do thiếu (gần như vắng bóng) các học giả tâm huyết có điều kiện sưu tầm nghiên cứu giới thiệu về mảng này. Các cụ tiền bối đã có công khơi dậy như Hà Văn Ban Bùi Tiên không còn nữa. Những người đương thời thì chưa kế tục được bước của những người đi trước.

Do vậy khi nói về văn hóa Thái người ta chỉ quen nghĩ đến Tây Bắc còn vùng đất xứ Thanh có 38 mường người Thái đang còn mờ nhạt.

CáC HìNH THứC VĂN HóA PHI VậT THể MANG TíNH ĐạI DIệN CủA NGƯờI THáI THANH HóA

Được tiếp nhận qua con đường huyết thống và sinh hoạt cộng đồng của cha mẹ đẻ và mấy chục năm vừa làm công tác xã hội vừa kết hợp tìm hiểu văn hóa dân tộc chúng tôi nhận thấy rằng trong vốn kho tàng văn hóa Thái Thanh Hóa có một phần vốn liếng chung của người Thái Việt Nam và Đông Nam á nói chung đồng thời có một phần vốn liếng riêng được "sản xuất và sử dụng tại chỗ" hoặc cải biên từ cái chung thành dị bản mang đậm bản sắc địa phương. Một số hình thức thể hiện mang tính chất phổ biến và đặc sắc có thể điểm mặt như:

Trong lĩnh vực sinh hoạt tín ngưỡng lễ tục phải kể đến: Mo đám tang chia làm nhiều bước mỗi bước có một thủ tục và một bài ca riêng. Đám tang ở Quan Hóa Quan Sơn Bá Thước Lang Chánh... thầy Mo sẽ cúng các bài: Hó pu hắp mò (Đặt trầu đón rước mo) Chắm tảy (Cúng ma mo) Hấm khuống (Đuổi ma tà khỏi nhà) Kháu mạy (Vào quan tài) Pộc pàng (Khai cuộc) Toi ặm ọc mó (Kể về nguồn gốc thầy cúng) Xơ chua khoai (Cúng trâu làm thịt) Xơ pau ngai (Cúng bữa Trưa tối) Toi ặm ọc nặm đin (Đẻ đất đẻ nước) Toi ặm óc cân tài (Kể về cuộc đời người chết) Toi ắm óc mạy (Kể cây gỗ quan tài) Nóp xứa mạy (Ca ngợi áo quan) Mó khấn phạ (Đưa hồn lên trời) Khài bóc (Đưa hồn đi chơi chợ bán hoa) Nung âm ty (Đưa hồn về bàn thờ tổ tiên). ở Mường Khòng (Bá Thước) còn thêm bài mo Mái Nha gần giống điếu văn đọc ở dưới sân...

Lời mo Thái chứa đựng nhiều kiến thức thực tế về thế giới tâm hồn đầy trí tưởng tượng được chép lại bằng sách chữ Thái (Xư mo). Theo ông Hà Văn Ban sách Mo ở Thanh Hóa từ đầu đến cuối mỗi bộ 21 quyển chúng tôi mới tìm thấy 12 quyển mà đã thấy dài hơi.

Hiếc khoăn (Gọi hồn hay làm vía) bao gồm cả gọi hồn người hồn trâu và hồn lúa. Đó là những lời cầu chúc mạnh khỏe hạnh phúc bài trừ điều xấu xa. Có nhiều loại gọi vía cho người như: óc phay (Cầu vía cho trẻ khi ra cữ) Lung tá (Cậu mợ bên ngoại làm vía cho cháu) Khoăn lúng (Gọi vía bị lưu lạc trở về) Khoăn lục lán (Con cháu cầu sức khỏe cho ông bà Khoăn pí nọng (Anh em gặp nhau hay sắp đi xa nhau buộc chỉ cổ tay cho nhau) Khoăn cua (Làm vía họ). Có một tập quán làm vía đầy ý nghĩa của dòng họ Phạm ở mường Ca Da và họ Lò Khăm ở bên Lào tổ chức tại biên giới trên địa phận Tén Tằn huyện Mường Lát cứ ba năm tổ chức gặp gỡ giữa hai họ một lần để trao đổi tâm tư tình cảm cầu phúc cho nhau và vui chơi giải trí. Vật thờ cúng phải là trâu trắng.

Lễ hội thờ thần gọi là Xơ xân hầu hết các thần đều là nhân thần. Thần lớn gọi là Xân ái là những người có công với nước với cộng đồng lớn. Thần bản thần mường thờ những người có công khai phá sáng lập ra bản mường. Thờ thần lớn gắn liền với lễ hội "Căm mương". Trước đây nô nức nhất là lễ hội Căm mương mường Ca Da thờ thần Khăm Ban Mường Ký Mường Giao Lão thờ Vua Lê Mường Khoòng thờ Khăm Panh Khun ý Lân và Long vương Mó Nủa Mường Lát Tén Tằn và Mường Xia mường Mìn thờ Tư Mã Hai Đào mường Din Chiềng Vạn thờ Cầm Bá Thước. Thần mường Thần bản thường gắn liền với thờ thần nông cầu mùa màng.

Các lễ tục ở trong nhà đáng chú ý là Kin khấu mớ (Mừng lúa mới) thời xa xưa tổ chức vào trung tuần tháng 10 nay chuyển sang tết năm mới (Nguyên đán) để hòa nhập với người Mường - Việt. Tục thờ Thần Lửa tổ chức vào tháng Giêng.

Các tín ngưỡng nông nghiệp còn có tục cầu mưa (gọi là ủ lúm ủa lang có nơi gọi là ù lúm ù lang); tục Nang đống (Cầu cho mặt trăng mặt trời).

Kin chiêng boóc mạy là một loại hình trò diễn xung quanh cây hoa và chĩnh rượu cần với mục đích cầu chúc sức khỏe và tạ ơn các thần chữa bệnh. Thực tế đây là một trò vui có nhiều mô típ na ná như trò Xuân Phả ở Thọ Xuân Kin chiêng boóc mạy nâng cấp lên cả số lượng người tham gia và nội dung số lượng các trò Thành phấn chá (vùng Thường Xuân gọi là Cá sa xằng khàn). Các nhà nghiên cứu đã khai thác dàn dựng ở làng Rộc Răm (Như Thanh) và làng Tráng (Bá Thước). Hiện nay bản Hạ (Quan Sơn) đang còn duy trì tốt.

Tục uống rượu cần trở thành một hình thức giao lưu văn hóa có bài bản thể hiện sự khôn khéo trong ứng xử thông qua lời đối đáp hát Khặp cầu khấn theo một trình tự hợp lý: Xin mở rượu cúng ma nhà mời khách xin phép uống cảm ơn chủ lời chám thả nước Khặp xin chối từ chào ra về...

Ngoài ra còn nhiều hình thức lễ tục khác trong đám cưới tết đầu năm... có những chi tiết hết sức tế nhị khéo léo thể hiện tính nhân văn và tâm hồn phong phú.

Dân tộc Thái cũng như dân tộc khác có một vốn văn học dân gian khá phong phú. Tính chất địa phương của văn học dân gian Thái Thanh Hóa thể hiện rõ nét trong truyện cổ và thơ ca dân gian.

Người Mường có Đẻ đất đẻ nước người Thái có Toi ặm oóc nặm đin. Tây Bắc có chuyện khổng lồ ải Lậc Cậc Thanh Hóa có ái Pu Té mường Khoòng Lung Quan Khà ở mường Ký. Chuyện núi đá Pha Tém phản ánh sự từ bỏ chế độ quần hôn theo huyết thống. Chuyện cổ tích giải thích các đặc điểm núi sông các giai thoại đối đáp giữa mường này mường khác giữa dân Páy và Tạo các câu chuyện về tình yêu nam nữ... mường nào cũng có. Truyện cổ Thái thường kèm theo những đoạn thơ rất hay có truyện cổ Thái và Mường ở Thanh Hóa có một loạt câu chuyện ngụ ngôn lấy con vật cây cỏ làm nhân vật rất dí dỏm và đầy tính giáo dục.

Thơ ca dân gian gồm có Khặp Xường Bí Khoam co lo ke le. Về nội dung thì có nhiều điểm tương ứng với thơ ca dân gian Tây Bắc nhưng về phương diện ngôn ngữ và cách diễn đạt thì có nhiều điểm khác biệt với Tây Bắc vì tiếng Thái đen Sơn La Yên Bái Điện Biên phát âm cao thấp trái ngược với Thanh Hóa. Một số từ cũng không hoàn toàn giống nhau đặc điểm thơ ca là phải có vần mà từ ngữ thanh điệu không hoàn toàn đồng nhất thì tất nhiên ca dao tục ngữ thành ngữ phương ngôn câu đố của người Thái Thanh Hóa phải có nét riêng của Thanh Hóa. Trước đây đã có người tập hợp các bài ca dân gian thành bài ứng dụng vào hoàn cảnh của mình được công chúng thừa nhận như Hiến Pù Le (Quan Hóa) hoặc tập hợp các câu tục ngữ theo chủ đề thành những bài học luân lý gọi là Xứ xón cân (Sách dạy người) như các bài: Căn dặn con cái làm người căn dặn vợ chồng ăn ở phải đạo căn dặn dân làng giữ gìn thuần phong mỹ tục căn dặn người yêu đi lấy chồng... Rất tiếc là các tài liệu này hiện nay chưa tìm thấy văn bản chính thức chỉ mới nghe người nhớ được đọc lại.

Về văn học viết đáng chú ý nhất là ba truyện thơ khuyết danh:

Khăm Panh một câu chuyện tình sử có thật xảy ra tại mường Khoòng (Cổ Lũng huyện Bá Thước) vào thế kỷ thứ XVI viết bằng thơ Thái tiếng mường Khoòng. Phần dịch đã được Bùi Tiên Hoàng Anh Nhân Vương Anh giới thiệu nhưng phần tiếng Thái chữ Thái chưa in ấn.

Truyện thơ Tư Mã Hai Đào phản ánh đề tài lịch sử diễn ra vùng biên giới Việt Lào cuối thời Hậu Lê hiện nay đang còn phổ biến vùng Quan Sơn Mường Lát.

Truyện thơ Pha Tém viết về đề tài dân gian sự tích Pha Tém một vách đá cheo leo in bóng xuống dòng sông Mã phía dưới cầu Na Sài (Quan Hóa).

Về lĩnh vực ca múa nhạc người Thái Thanh Hóa có những đặc trưng riêng.

Các làn điệu dân ca phổ biến là khặp ru em hát nghi lễ các làn điệu hát đồng dao. Khặp của Thanh Hóa có các làn điệu: Khặp ơi (hay còn gọi là ối hôi) giọng cao khỏe tự do và vang xa thường sử dụng trong môi trường tự nhiên thoáng đãng không cần phải nhạc đệm. Khặp son láy êm dịu hơn thường hát khi đối đáp giao duyên có thể đệm khèn bè sáo ôi khặp một khặp muồn có giai điệu riêng. ở Thanh Hóa còn có làn điệu "Nhuôn" của người Tày Dọ (Thường Xuân) một làm điệu êm dịu thiết tha mượt mà. Các làn điệu này có thể sử dụng làm chất liệu để sáng tác bài hát mới gần gũi với âm hưởng của đồng bào Thái Thanh Hóa.

Âm nhạc nhộn nhịp nhất là Khua Lóng trống chiêng bóng bú; êm dịu có Pí khúi khèn bè tính tốn; tha thiết có Pí một Pí khèn v.v...

Các lĩnh vực hội họa phải nói đến các hình nét màu sắc hoa văn trên mặt thổ cẩm. Người Thái Thanh Hóa sử dụng y phục thêu dệt hoa văn nhiều hơn Tây Bắc đặc biệt là thân váy sử dụng cả hoa văn dọc ngang và hoa văn hình quả trám khăn thêu như Khăn Piêu.

Tóm lại trong hầu hết các loại hình văn hóa người Thái Thanh Hóa có những nét riêng. Đó là sản phẩm sáng tạo của ông cha trong suốt quá trình xây dựng bản mường góp sức cùng các dân tộc anh em xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam thân yêu.

                             Bá Thước ngày 20-11-2009

                                           H.N.N

More...