KỶ NIỆM CHIẾN THẮNG HÀM RỒNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

     CHIẾN THẮNG HÀM RỒNG BẢN ANH
 
   HÙNG CA
CỦA THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH


                                                    NGUYỄN ĐỨC THẮNG

                                                     Ủy viên Ban Thường vụ

                                               Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Cách đây vừa tròn 45 năm trong hai ngày 3 4-4-1965 Đảng bộ chính quyền nhân dân và các lực lượng vũ trang tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp cùng các quân binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng - hợp đồng chiến đấu với thế trận của chiến tranh nhân dân và đã lập nên chiến thắng Hàm Rồng huyền thoại: Bắn rơi 47 máy bay hiện đại của không lực Hoa Kỳ (riêng khu vực Hàm Rồng bắn rơi 31 chiếc) bắt sống giặc lái Mỹ. Đây là chiến công hiển hách nhất của quân và dân Thanh Hóa trong thời đại Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng với chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Cầu Hàm Rồng xứ Thanh đã đi vào lịch sử trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến tất cả để chiến thắng kẻ thù xâm lược"; Với sức mạnh tổng hợp của cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh "Không sợ Mỹ dám đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ". Trong đạn bom khốc liệt cây cầu ấy đã được giữ vững nối liền mạch máu giao thông thông suốt trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ âm mưu ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. Tại cây cầu lịch sử ấy đã chôn vùi 117 máy bay hiện đại các loại của Mỹ trong đó có cả siêu pháo đài bay B52.

Chiến thắng Hàm Rồng 3 4-4-1965 đã làm nức lòng bè bạn khắp năm châu bốn biển được Trung ương Đảng và Bác Hồ ngợi khen được nhân dân cả nước ngưỡng mộ cổ vũ khâm phục. Lần theo hành trình lịch sử chúng ta thấy vùng đất Hàm Rồng là nơi có làng cổ Đông Sơn - một trong hai làng cổ nhất Việt Nam - nơi đã phát hiện ra trống đồng Đông Sơn thời Vua Hùng trở thành biểu tượng của một nền văn hóa rực rỡ của Việt Nam và nhân loại - nền văn hóa Đông Sơn. Chính mảnh đất giàu truyền thống của văn hóa Đông Sơn ấy đã vun đúc nên khí phách quật cường của người dân Thanh Hóa anh hùng. Hàm Rồng xưa và nay đã đi vào thi ca nhạc họa ... của các bậc vua chúa hiền tài các tao nhân mặc khách và các văn nghệ sỹ các thời đại. Đã có hàng ngàn bài báo của Việt Nam và thế giới ca ngợi chiến thắng Hàm Rồng. Hàm Rồng đã khắc sâu trong ký ức những người lính của các quân binh chủng những tự vệ dân quân những người dân ngày ấy tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ cầu. Chiến thắng Hàm Rồng bản anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh đang tiếp thêm sức mạnh cho sự khởi sắc của tỉnh Thanh anh hùng và tươi đẹp trong sự nghiệp đổi mới đất nước quê hương.

Với ý nghĩa ấy tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách "Hàm Rồng cuộc đụng đầu lịch sử" của nhà xuất bản Thanh Hóa đến với bạn đọc nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng Hàm Rồng lịch sử 3 4-4-1965 - 3 4-4-2010.

                                                                            N.Đ.T



HUY CẬN


Những ngày tháng bám cầu Hàm Rồng




 

Năm 1967 Mỹ liên tục đánh phá cầu Hàm Rồng chiếc cầu anh hùng tượng trưng cho tinh thần kháng chiến kiên cường bất khuất của nhân dân Thanh Hóa của đất Lam Sơn khởi nghĩa của quê hương của Bà Triệu... Tháng 9 tôi vào Thanh bám cầu Hàm Rồng một mặt để thay mặt Bộ Văn hóa chỉ đạo riêng công tác văn hóa ở tỉnh Thanh và ở thị xã mặt khác đối với tôi là đi thực tế sống cuộc sống chiến đấu cùng với đồng bào và bộ đội địa phương. Cùng bám cầu Hàm Rồng với tôi có anh Hồ Bông nhạc sĩ cán bộ của Vụ Nhạc múa. Anh Hồ Bông người Nam bộ quê ở Đồng Tháp là một người tôi quen đã từ lâu cũng ham đi thực tế những vùng khói lửa. Hai anh em vào liên hệ với Tỉnh ủy ủy ban và Tỉnh đội thì các đồng chí ở tỉnh muốn bố trí chúng tôi ở một huyện hậu phương cũng có chiến đấu nhưng không căng thẳng lắm. Nhưng hai chúng tôi khẩn khoản xin được bám cầu Hàm Rồng để được sống cuộc sống chiến đấu khẩn trương hàng ngày với dân và quân trên cầu và hai bên cầu. Sau một tuần chúng tôi ở Rừng Thông nơi tỉnh đội đóng các đồng chí tỉnh không từ chối được nhưng dặn chúng tôi phải hết sức cẩn thận thỉnh thoảng ra cầu để cho biết không khí chiến tranh không nên có mặt ở đó luôn. Tỉnh đội cũng giới thiệu chúng tôi về một gia đình của xã Hoàng Long cách cầu Hàm Rồng khoảng 2 cây số. Hai anh em chúng tôi dọn ngay đến ở nhà ông Năng một gia đình nông dân có nhà ngói có sân gạch đủ ăn. Bà cụ mẹ ông Năng đã già yếu nhưng thấy cán bộ đến ở thì rất quý và chăm nom bếp nước giúp vợ chồng ông Năng để "nuôi" chúng tôi. Ông Năng người chất phác trạc tuổi 45 ít nói nhưng rất ý tứ thấy chúng tôi cần giúp đỡ cái gì là tìm cách giúp ngay. Sau hôm chúng tôi đến chúng tôi thấy ông cứ nhìn mãi chúng tôi mà không nói lại đi quanh nhìn vào đầu chúng tôi... Chúng tôi tự hỏi hay là ông này nghi ngờ mình không phải là cán bộ chăng... Sau cùng tôi hỏi thẳng: "Bác có điều gì băn khoăn phải không? Hay có điều gì muốn hỏi chúng tôi? Hôm chúng tôi đến đã đưa bác xem đủ các giấy tờ... thì ông Năng có vẻ bối rối trả lời: "Không có gì đâu chỉ có điều là tóc hai đồng chí hơi dài quá tôi muốn xin phép được cắt tóc cho hai đồng chí". Thì ra ông cụ thân sinh ông Năng đã có nhận xét là cán bộ đi kháng chiến thường để tóc quá lứa cho nên ông cụ bảo ông Năng đi tìm mua một bộ đồ cúp tóc để khi nào cán bộ đến ở nhà hoặc đi qua thì cúp hộ tóc cho cán bộ. Thế là những tháng chúng tôi ở đó cứ hai tuần chúng tôi được cúp tóc một lần rất tử tế. Bữa cơm nhà ông Năng không nhiều thịt cá nhưng theo yêu cầu của chúng tôi thì có cà muối dầm mắm rất ngon. Tuy vậy bà cụ không yên tâm thỉnh thoảng cụ mua được một ít thịt lợn kho dừa cho chúng tôi ăn vì vườn nhà có mấy cây dừa và thỉnh thoảng chúng tôi vẫn được uống nước dừa rất ngọt và rất mát.

Hàng ngày sau buổi ăn sáng anh Hồ Bông và tôi lại ra cầu Hàm Rồng xem anh em thợ chữa cầu làm việc vì địch đánh liên tục cầu không sập nhưng luôn luôn có những thanh thép trên thân cầu bị đạn bắn xuyên thủng hoặc mảnh bom rơi từ xa hàm vạt đi từng khúc... Lại còn một số thợ cầu làm hai bên đầu cầu để củng cố đường cho xe tải và xe con chạy... Mỗi ngày máy bay địch đến đánh phá mấy đợt súng phòng không của ta bắn lên đan lửa trên trời nên thường địch ném bom trệch mục tiêu phần lớn bom rơi vào thôn Yên Vực một thôn nhỏ phía bắc cầu Hàm Rồng ở bên trái con đường từ trong đi ra. Thôn Yên Vực được bà con gọi là "Xtalingrat của Thanh Hóa". Rất nhiều lần máy bay ập đến anh Bông và tôi đang ở giữa cầu nhưng cũng chạy kịp vào hang ở đầu cầu bên này. Lần nào cũng hú vía. Mà máy bay Mỹ nó đổi giờ đánh luôn để bắt chộp ta không cho ta nắm quy luật tấn công của nó. Anh Bông thường nói đùa với tôi giữa đám anh em công nhân: "Ông Cận ơi ông có chết thì chết ở đầu cầu tôi còn tha ông về hang được. Chứ nếu ông chết ở giữa cầu thì ông nặng quá tôi không kéo nổi về hang đâu!". Chúng tôi còn đòi tỉnh đội cho chúng tôi vào sống vài tuần ở thôn Yên Vực để cho biết cái không khí chiến đấu của quân và dân tại chỗ nhưng tỉnh đội không đồng ý. Chúng tôi bèn đi "chui" vào thôn Yên Vực vào những buồi chiều sau khi mặt trời lặn nghĩa là vào cái giờ mà máy bay địch có thể không hoạt động nữa. Thế mà có buổi chiều tôi và anh Bông vừa bì bõm lội vào thôn và như mọi lần thôn Yên Vực lại hứng mấy quả bom trệch mục tiêu cầu Hàm Rồng. May mà chúng tôi tụt kịp xuống hầm... Cứ như thế hai anh em chúng tôi trở đi trở lại nhiều lần cái thôn Yên Vực thân yêu của chúng tôi... Đồng chí Bàn bí thư chi bộ Yên Vực lúc đó thấy chúng tôi gắn bó với thôn cũng ái ngại khuyên chúng tôi không nên về thôn luôn để tránh nguy hiểm. Có một lúc địch đánh căng thẳng quá đảng ủy xã và chi bộ thôn chủ trương cho dân sơ tán đi một xã xa chỉ để lại một trung đội dân quân tự vệ 40 người phần lớn là nam cũng có mấy chị em tham gia.

Nhiều người tình nguyện ở lại làm đội trực chiến nên hợp tác xã phải bầu những người được ở lại. Bà con được lệnh sơ tán dọn đồ đạc đi cố gắng dọn được hết càng tốt... Tuy vậy trong lúc sơ tán vội vàng có nhà phải để lại con lợn đang nuôi để lại con gà mái đang ấp trứng thậm chí có nhà còn để lại cả con chó không kịp dắt đi... Rồi thì có gia đình không kịp mang thúng ngô đang ướt vì gặp mưa chưa phơi... Sau một tuần mấy bà con kia trở lại để dọn nốt tài sản thì thấy lợn vẫn béo và máng cám vẫn đầy bầy gà con nở ra vẫn được khoanh trong một cái bu to và được cho ăn tử tế và cả con chó cũng được nhốt trong buồng với những bát cơm nguội... còn thúng ngô thì đã được phơi khô gác tử tế lên giàn bếp... Và bà con ngạc nhiên hết sức là con đường đi vào thôn đã được trồng thêm hai dãy dừa non vì anh em trực chiến đã khám phá ra những quả dừa giống của hợp tác xã đã lên mầm khá cao và vội đi trồng cho "đúng tuổi" dừa. Tình đồng đội tình đồng chí rất thực mà nghe như truyện truyền thuyết ấy làm cho anh Bông và tôi hết sức xúc động và nghe chị Tâm kể lại cứ ứa nước mắt. Một đêm trăng anh Bông và tôi ngồi trên bờ đê của thôn nhìn xuống dòng sông Mã nghe chị Tâm kể chuyện và tâm sự. Chị là một trong những người trực chiến người thâm thấp béo chắc khỏe mạnh về sản xuất chị là một tay lao động nhiều điểm nhất về chiến đấu là một tay súng cừ khôi mà về văn nghệ cũng là một "cây" hát... Người yêu của chị đang ở chiến trường miền Nam có chuyến xe nào đi ra chị cũng đón hỏi tin tức miền Nam và cứ hy vọng là người yêu gặp xe ra Bắc thì gửi thư về cho chị. Chị chờ đợi chờ người chờ thư. Trong lúc chờ thì chị chiến đấu chị sản xuất chị làm văn nghệ trong đội trực chiến. Chị ham đọc sách và gặp chúng tôi không xin gì chỉ xin sách xin báo. Thế rồi cũng có một lần chị Tâm nhận được thư của người yêu gởi một xe tải từ đường Trường Sơn đem về... Chị đọc đi đọc lại đến mòn cả bức thư sau chị phải xin một miếng giấy ni lông để bọc bức thư và cho vào túi trong phía ngực. Đội trực chiến của chị 41 người ban đêm thường tập trung ngủ ở chùa của thôn tất nhiên là phân tán vào nhiều hầm đào trong vườn chùa. Rồi một buổi tối bom địch đã trúng vào hầm và ba đồng chí hy sinh. Được tin bà con sơ tán lại xung phong về thay ba người đã mất lại phải một cuộc lựa chọn của chi ủy và hợp tác xã vì nhiều người xung phong quá. ở Yên Vực tôi còn nhớ câu chuyện: một chiều máy bay địch từ xa bay tới đội dân quân bắn súng máy bay đã bố trí trận địa sẵn sàng súng bắn máy bay có đến mấy khẩu nhưng hôm ấy lại vắng mất một đội viên. Thế là có một đồng chí bộ đội đi nghỉ phép về qua đường thấy đội trực chiến đang loay hoay thì xung phong vào bổ sung khẩu đội. Và cuộc chiến đấu diễn ra rất đẹp tuy không bắn rơi được máy bay nhưng kế hoạch tác chiến hoàn thành đẹp đẽ. Bắn xong đồng chí bộ đội lại lên xe đạp về quê đội trực chiến cũng quên hỏi tên anh và trong sổ truyền thống của thôn chỉ ghi: "Anh bộ đội nghỉ phép qua đường bổ sung khẩu đội". Những ngày tháng tôi và anh Bông bám cầu Hàm Rồng còn thường ra thăm đội nữ công binh nhân dân xây dựng cầu Tào. Đó là một đội toàn là chị em tình nguyện đi xây cầu chữa cầu để bảo đảm giao thông đội cầu Tào xây cầu toàn bằng gỗ mà rất chắc chắn xe lửa có thể đi qua được.

Bám cầu Hàm Rồng anh Bông và tôi chết hụt nhiều lần. Chỉ xin kể ra đây một trường hợp. Chiều hôm đó nắng trong mây tạnh anh Bông và tôi đã hẹn họp với chi đoàn thanh niên trong thôn Nam Ngạn. Tụ tập rồi sắp họp thì đồng chí Bí thư thị ủy là đồng chí Thi cho người đến gọi tôi về ngay thị ủy để cùng các đồng chí đón đoàn Liên Xô đến thăm. Anh Bông và tôi vừa đạp xe đạp về đến trụ sở thị ủy thì máy bay đến và nghe tiếng bom nổ ở đàng sau. Nửa giờ sau thị ủy cho người về Nam Ngạn lấy tin thì biết bom trúng vào cái nhà mà đoàn thanh niên và chúng tôi suýt họp ở đó. Thanh niên đã giải tán không ai việc gì: nhưng gia đình có 9 người thì chết mất 6 trong đó có 2 em bé. Cũng hôm đó hoặc là sau vài hôm tôi không nhớ rõ bom Mỹ đã đánh sập mấy hầm liền hơn 30 đồng chí dân quân tự vệ và cán bộ xã và thôn đã bị hy sinh. Phải đào suốt hai ngày đêm mới tìm đủ xác các đồng chí. Đồng chí bí thư đã có một sáng kiến rất xúc động là tổ chức một cuộc giao ban giữa những người đã hy sinh và những người còn lại. Trước thi hài những người đã mất đồng chí bí thư đã phân công những ai phải làm việc thay cho những đồng chí đã hy sinh sau cuộc giao ban tình nghĩa và đầy sĩ khí ấy mới tổ chức đưa đám những anh em đã mất. Tôi đã ghi cảm tường về sự kiện lịch sử ấy của thôn Nam Ngạn trong một bài thơ Giao ban.

Đào suốt hai ngày đêm

Mới đủ xác anh em

Dẫu chết rồi cũng phải cho đủ mặt

Đồng chí bí thư giao ban trong

nước mắt

Phân công thay những người đã mất

Ai làm thêm phần việc của ai

Nuốt nước mắt cuộc chiến đấu

ngày mai

Còn tiếp tục.

ở đâu cái chết ghê rợn

ở đâu người chết vụt biến hư vô

ở đây cái chết có cuộc đời ở cạnh

Một cuộc giao ban bi thiết biết

chừng mô.

Anh Hồ Bông đã phổ nhạc ngay bài thơ này với một giai điệu trầm hùng có hát thử lên cho anh em nghe thì thấy xúc động nói được nỗi đau thương nén lại và tình đồng chí keo sơn giữa kẻ mất người còn. Nhưng cả bài nhạc và bài thơ lúc ấy chúng tôi không cho đăng báo sợ gợi lên nhiều đau xót quá sợ nhắc đến những mất mát đau thương quá...

Trong chuyến bám cầu Hàm Rồng khu Nam Ngạn gần 8 tháng ấy anh Hồ Bông cũng đã làm được mấy ca khúc cảm động: Đội gái thuyền nan Những nữ dân quân tỉnh Thanh Trực chiến (bài sau này là phổ nhạc bài thơ cùng tên của tôi). Riêng tôi đợt ấy làm được hơn 30 bài thơ mà một số đã đăng báo in sách như: Cầu Hàm Rồng Giờ trưa Gió mưa sấm sét Sông Mã sông Chu Tháo bom bi Chào Đông Sơn Thăm Lò Chum Bàn tay nữ pháo thủ... Ngoài những bài thơ ngắn tôi cũng có viết một bản trường ca. Làng thép bên núi Ngọc ca ngợi sự tích anh hùng của dân quân thôn Yên Vực. Trường ca này tôi viết bằng thơ ngũ ngôn còn một chương chưa viết xong tôi sẽ cố gắng hoàn thành bản Trường ca này để tặng cái thôn Xtalingrát của Thanh Hóa nơi mà anh Hồ Bông và tôi đã sống những ngày hào hứng và hào hùng với bà con trong tình đồng chí mặn nồng thắm thiết.

Trở lại cuộc sống và chiến đấu của thôn Yên Vực. Đến mùa cấy lúa đội trực chiến không thể làm kịp vụ cho nên huyện ủy đã động viên xã viên các hợp tác xã bên cạnh hoặc ở xung quanh đến cấy giúp cho thôn anh hùng. Mọi việc nước nôi phân bón bà con cũng trợ lực cho Yên Vực. Cảm động biết mấy khi thấy những bà những chị gánh từng gánh phân chuồng đến thôn Yên Vực và rải xuống ruộng sắp cấy. Các bà vừa gánh vừa nói đùa: "Chăm bón cho mảnh đất anh hùng chả mất đi đâu mà sợ!". Thậm chí thôn thiếu mạ bà con xung quanh quẩy mạ tới để cấy kịp thời vụ. Rút cục thôn Yên Vực lại được cấy xong trước trong vùng...

Những ngày chiến đấu căng thẳng hồi đầu năm 1965 lúc Mỹ bắt đầu ném bom khu Nam Ngạn Hàm Rồng chúng tôi cũng đã đến đó và tiếp xúc với anh chị em dân quân với các tổ tự vệ thôn xã. Lúc bấy giờ nổi lên hai cô gái chiến đấu dũng cảm là chị Tuyển (sau được tuyên dương anh hùng) và chị Nguyễn Thị Hằng (sau được tuyên dương chiến sĩ thi đua toàn quốc được bầu vào Quốc hội và vào Ban chấp hành T.Ư của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh). Nhưng có một người nữa cũng rất anh hùng mà báo chí ít nói đến là chị Nguyễn Thị Hiền người đã vác những hòm đạn nặng chạy qua cầu kịp tiếp đạn cho các đơn vị pháo bắn mảy bay. Thành tích của chị cũng xấp xỉ như thành tích của chị Tuyển chị Hằng nhưng địa phương cũng không thể lựa chọn hết để đem vào danh sách anh hùng chiến sĩ... Nhưng tỉnh và huyện vẫn rất quý chị Hiền và đã tạo điều kiện cho chị học bổ túc công nông và giao công tác trong ủy ban huyện... Chị Hiền mồ côi cha mẹ phải một mình nuôi hai em nhỏ ăn học. Lúc đã hơi yên tiếng súng chị mở một cái quán bán nước chè chè xôi để kiếm đồng ra đồng vào nuôi em. Tôi ái ngại trước hoàn cảnh neo túng của chị và đã đưa giúp chị 50 đồng chị ngần ngại không muốn nhận tôi đành phải nói là cho chị vay khi nào có thì chị giả lại cũng được. Chị Hiền sau này đã lập gia đình với một đồng chí giáo viên cấp 2 ở huyện đã có 2 con... Sau ngày giải phóng Sài Gòn một hôm tôi nghe người gọi cổng một chị gánh mấy quả dừa bước vào hỏi thăm tôi. Tôi hỏi chị là ai? Thì chị kia giọng rơm rớm nước mắt: "Anh Cận không nhận ra em à? Em là Hiền ở cầu Hàm Rồng đây mà chắc là em đã già quá nên anh không nhận ra?". Quả thật chị vất vả lam lũ nuôi em nuôi con nên nét mặt cũng đứng trước tuổi... Thiệt thòi chung cho người phụ nữ là vậy. Chị biếu tôi lấy quả dứa gọi là có nhớ những ngày tôi giúp đỡ... Tôi hỏi chuyện con cái về công việc làm ăn về công tác của anh chị. Cũng như mọi cuộc đời đời của chị Hiền là một sự can đảm hàng ngày một sự chịu thương chịu khó liên tục âm thầm giữa hoàn cảnh chung của đất nước đang nhiều bề khó khăn. Biết bao nhiêu chị em của chúng ta như thế rất anh hùng rất dũng cảm làm người mẹ tận tụy nuôi con làm người chị cưu mang các em từ tấm bé. Chị Hiền không được tuyên dương anh hùng tôi xin dành riêng một trang hồi ký này tặng chị tỏ lòng cảm mến của tôi đối với người con gái đất Thanh anh hùng mà từ tốn.

Anh Hồ Bông và tôi bám cầu Hàm Rồng nhưng thỉnh thoảng cũng đi về các huyện như huyện Hậu Lộc huyện Yên Định huyện Tĩnh Gia huyện Thạch Thành để tìm hiểu sâu phong trào dân quân chống Mỹ. Tại một xã bên bờ sông Chu lúc bấy giờ trung đội nữ bắn máy bay của chị Nguyễn Thị Hằng hàng ngày kéo nhau ra tập gần một bãi sông. Mấy chị đi tập khá sớm và đi qua nhà tôi ở trẻ con thấy chị Hằng xinh hay chạy theo trêu chị chị đuổi ngay. Tôi gọi chúng vào và bày cho các cháu mấy câu ca dao:

Chị Hằng chẳng ở cung trăng

ở khu Nam Ngạn bắn thằng Mỹ chơi

Mỹ buồn Mỹ rụng Mỹ rơi

Bên bờ Nam Ngạn cười tươi cô Hằng.

Thế là hôm sau các cháu cũng bám theo cô Hằng mà hát lên mấy câu lục bát này thì chị Hằng chưa đuổi ngay. Nhưng lúc các cháu hát xong thì chị lại đuổi "tụi bay cút đi để cho người ta tập!". Cái xen này cứ lập đi lập lại mãi mỗi buổi sáng giữa lũ trẻ tinh nghịch với cô đội trưởng xinh đẹp.

Đêm đêm trên cầu Hàm Rồng sáng loáng những ngọn lửa xanh của các anh em thợ hàn sì hàn những vết thương cho chiếc cầu. Anh Hồ Bông và tôi đứng cách cầu chừng 500 mét nhìn về phía cầu thấy mà nức lòng như thấy một mảng trời sao nhấp nháy xuống đậu trên cầu như một mảng trời đất thức giữa đêm khuya đánh đi bốn phương tín hiệu của lòng dũng cảm. Mà thật thế đêm đêm trèo lên những thanh cầu giàn cầu đâu có phải là chuyện thường là trò chơi thể thao! Mỗi một lần là một thử thách mỗi ngọn lửa xanh là một mục tiêu sáng rõ cho máy bay đêm của Mỹ bay chớp nhoáng từ biển vào.

Đánh Mỹ là chuyện sự sống cái chết đặt lại hàng giờ hàng phút

Phải sống anh hùng không có

cách nào hơn

Đánh Mỹ là mỗi đêm bước lên cầu Hàm Rồng không nhụt không run

Tay cầm ngọn lửa xanh êm rịt

hàn xương thép

(Niềm tự hào viết ở Hàm Rồng tháng 9-1967)

Anh Hồ Bông và tôi được Ban chỉ huy trận địa pháo bảo vệ cầu Hàm Rồng dẫn đến xem chỉ huy sở cách nhà ông Năng nơi chúng tôi ở có mấy trăm thước. Ra đa bắt mục tiêu rất nhạy mục tiêu là những máy bay Mỹ từ hạm đội bảy ở Thái Bình Dương bay vào. Trên màn ra đa những hình máy bay lao tới sở rất đầy đủ. Những bạn lính trẻ hoặc là sinh viên đại học tòng quân hoặc là học sinh tốt nghiệp lớp 10 mới nhập ngũ điều khiển các máy móc rất thạo. Nhìn chỉ huy sở mường tượng như một nhà máy con. Tôi nhớ đồng chí Tiến thượng tá phó chỉ huy đứng trên nắp hầm chỉ huy trận đánh rất nhạy rất lẹ tư thế gắn liền với kỹ thuật khí tài mà vẫn rất hiên ngang. Chiều hôm đó hai máy bay bốc cháy lao nhanh về phía biển. Cả đội pháo chỉ tiếc có một điều là không bắt được giặc lái tại chỗ không nhặt được mảnh máy bay tan xác. Anh Tiến người nhỏ nhắn quê ở ngoài Bắc dáng nho nhã mà lúc chỉ huy sao mà oai hùng thế anh chỉ huy giỏi nên được điều động vào chiến trường miền Nam để diệt máy bay địch trong đó. Sau ít lâu chúng tôi được tin anh đã hy sinh trong chiến trường B bà con xã Hoàng Long ai cũng thương tiếc khóc anh như khóc nhớ người thân.

Anh Hồ Bông và tôi còn đi vào thôn Đông Sơn sơ tán phía sau các gia đình ở trong hang đá lởm chởm. Thôn Đông Sơn lúc đó cũng là một thôn chiến đấu rất anh dũng trong tập thể anh hùng là khu vực Nam Ngạn - Hàm Rồng.

Chào bà mẹ tạm vào hang với cháu

Để con trai đi đánh giặc chiến

trường xa

Để con gái con dâu ra đồng làm

lúa gạo

Hột gửi miền Nam hột để nuôi nhà

Đông Sơn thôn anh hùng đánh Mỹ

Nơi sơ sinh nền văn hoá quê nhà

Trống đồng vọng từ ba mươi thế kỷ

Lấp lánh trong luồng mắt chớp

ra đa.

Bám cầu Hàm Rồng một buổi chiều chúng tôi về rừng Thông để tiễn một số đồng chí tân binh lên đường đi B. Thanh Hóa là hợp điểm của các đoàn tân binh từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng vào từ các huyện Thanh Hóa dồn về nữa. Một cuộc tiễn đưa lên đường náo nức xúc động ở dưới những cây thông lực lưỡng mà thanh tao đoàn tân binh đi nhẹ bước chân không rầm rập như trong các phim ảnh ta thường xem thấy người thì đi chân trần giầy đeo vào ba lô người thì đi dép cao su đúc. Ngoài các đồng chí lãnh đạo tỉnh các đồng chí tỉnh đội còn rất nhiều bà con ở gần rừng Thông ra tiễn đoàn quân đi chiến trường xa. Tôi vừa nhìn vẫy chào anh em tân binh vừa nghe câu chuyện bà con trao đổi với nhau. Ai cũng khen tân binh khỏe và trẻ nhất là trẻ có cậu khoảng 16 17 tuổi thôi. Bỗng có một bà nông dân trạc 50 tuổi thốt lên: "Các con ơi chừng ấy đủ đánh giặc Mỹ chưa? Nếu chưa đủ thì các mẹ ráng đẻ thêm một lứa nữa cho đủ con đi bổ sung chiến trường.... Trời ơi! Tôi nghe mà giật mình. Lời bà mẹ nói vui nói đùa mà sao sâu thấu tâm can. Không bà không nói đùa đâu! Lời gan ruột của bà mẹ Việt Nam đó chứ đâu có đùa vui. Sinh con nuôi con cho khôn lớn để con theo cha lên đường đánh Mỹ. Lời của bà mẹ đứng bên tôi hay là lời của mẹ Tổ quốc thương yêu? Các mẹ bình dị mà gặp ý Bác Hồ lo nghĩ sâu như Bác: "Độc lập Tự do ta phải làm bằng xương máu của ta. Đời ta đánh giặc chưa xong thì đời con đời cháu sẽ tiếp tục cho kỳ giành được tự do độc lập.... Tối hôm ấy tôi về cầu Hàm Rồng có làm bài thơ Lời Mẹ Tổ quốc để ghi nỗi xúc động của tôi cái buổi chiều tiễn anh em tân binh vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ...

                                                                            H.C

LÊ XUÂN GIANG



Hàm Rồng - Cây cầu huyền thoại



(Tiếp theo và hết)



X. Hàm Rồng đánh thắng chiến thuật ném bom laze vào cầu.

Nguyên thủy bom laze là loại bom thông thường mang ký hiệu Na1-84 nặng 2000 bảng Anh. Điểm khác với các loại bom thường khác là ở đầu nổ của bom laze được lắp bộ phận tự điều khiển có 4 cánh nhỏ. Muốn cho bom laze tự điều khiển đến mục tiêu phải có 1 máy bay khác mang thiết bị chiếu tia laze vào mục tiêu để máy bay mang bom laze tiếp cận đến chùm ánh sáng này liền thả bom để bom tự điều khiển vào mục tiêu. Chính vì có bộ phận tự tìm mục tiêu này nên bom laze được gọi là bom Tinh khôn hoặc bom Có mắt.

Tối tân là vậy nhưng bom laze cũng bộc lộ không ít rắc rối. Mỗi lần đi ném bom laze phải có ít nhất 2 máy bay một mang bom một mang thiết bị chiếu tia laze. Mặt khác nếu tên mang bom không thả đúng chùm laze thì bom rơi tự do và phát nổ như bom thường.

ở Hàm Rồng sau trận đánh thử nghiệm bằng bom laze ngày 26-12-1971 bị thất bại giặc Mỹ vẫn rắp tâm đánh gục cầu bằng loại bom có mắt này.

Tháng 4 năm 1972 khi Níc xơn mở lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân ra miền Bắc bom laze trở thành vũ khí thông dụng trong các cuộc ném bom thì Hàm Rồng là mục tiêu đầu tiên được chúng lựa chọn.

Ngày 13-4-1972 giặc Mỹ đánh bom laze vào Hàm Rồng lần thứ 2.

Ngày 21-4-1972 giặc Mỹ lại cho máy bay F4D mang bom laze vào đánh cầu Hàm Rồng. Lần này chúng sử dụng 1 chiếc bay vòng tròn qua cầu để chiếu tia laze và 3 chiếc F4D khác mang bom laze cùng lao vào ném bom.

Đối mặt với thủ đoạn ném bom laze của Mỹ bộ đội Hàm Rồng sớm nhận ra mối hiểm họa từ chiếc máy bay lượn vòng chiếu tia laze. Nếu chúng ta đánh vào tên này tia laze nó chiếu xuống không trúng vào cầu thì bom laze sẽ rơi tự do ra ngoài.

Với cách đánh thông minh ấy suốt từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1972 Pháo cao xạ Hàm Rồng đã liên tục chiến đấu đánh thắng chiến thuật dùng bom laze đánh cầu của Hải quân Mỹ bảo vệ cầu Hàm Rồng an toàn.

Để tránh những phiền toái khi phải sử dụng 1 chiếc máy bay chiếu tia laze 1 chiếc khác ném bom từ tháng 7 năm 1972 giặc Mỹ cải tiến thiết bị chiếu tia laze lắp thẳng vào máy bay mang bom để tiện cho việc sử dụng bom laze và để tránh tổn thất. Với chiến thuật đánh bằng bom laze đã được cải tiến này mỗi chiếc máy bay phải có một thời gian bổ nhào ổn định để chiếu tia laze vào cầu và giữ như thế cho đến lúc cắt bom xong mới được ngoặt ra. Lính Hàm Rồng gọi lúc chúng bổ nhào ổn định như thế là bổ nhào bằng cánh (có nghĩa là không lật ngang lật ngửa như lúc bay thông thường). Nhè vào lúc nó bằng cánh như vậy mà đánh vồ mặt nhất định thằng địch phải luồn lách để tránh đạn. Tia laze và bom laze do chính nó ngắm vào cầu cũng không còn chính xác nữa. Bộ đội Hàm Rồng gọi cách đánh ấy là: "Đánh bằng cánh đánh bổ nhào".

Từ đó trên khắp các trận địa pháo Hàm Rồng rộ lên phong trào thi đua: "Đánh bằng cánh đánh bổ nhào; Tiêu diệt dịch bảo vệ cầu". Để đánh vồ mặt khi chúng bổ nhào bằng cánh không có cách nào khác pháo thủ phải cực kỳ dũng cảm chọn đúng thời cơ nổ súng.

Từ tháng 7 năm 1972 trở đi. Bộ đội Hàm Rồng lại đánh thắng thủ đoạn sử dụng bom laze mới của kẻ thù bảo vệ cầu an toàn.

Cuộc chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng trong cuộc đọ sức lần thứ 2 với giặc Mỹ thật cực kỳ gay go và ác liệt. Mỗi pháo thủ Hàm Rồng không chỉ cần có lòng dũng cảm mà còn phải am hiểu thủ đoạn đánh phá của kẻ thù để đánh thắng nó. Khi vũ khí của kẻ thù cũng biết tinh khôn lên thì con người càng phải tinh khôn gấp bội.

Con người chứ không phải là vũ khí quyết định chiến thắng.


XI. Hàm Rồng bắn rơi chiếc thứ 300 ở Thanh Hóa.

Hôm ấy nhằm vào ngày 7 tháng 5 năm 1972 ngày kỷ niệm 18 năm chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử. Với sự nhạy cảm của các nhà báo ngay từ sáng sớm phóng viên Nguyễn Văn Trợ (báo Thanh Hóa) đã có mặt ở Trung đoàn bộ để săn tin tức. Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Khung khi tiếp nhà báo còn khoe: Ngày 7-5-1972 còn là ngày kỷ niệm 7 năm Trung đoàn 228 kéo vào bảo vệ cầu Hàm Rồng. Mới đó mà đã 7 năm.

Với 7 năm nằm bám chốt bảo vệ cầu Hàm Rồng Trung đoàn 228 đã gắn bó với nhân dân Thanh Hóa như người nhà rồi. Nhiều trận địa pháo gắn liền với một tên xã tên làng hàng mấy năm liền. Đại đội 4 trên đồi 54 với làng Đông Sơn Đại đội 2 của Đại đội trưởng Tòng trên đồi Đám Cháy gắn liền với nhà máy điện Hàm Rồng; Đại đội 5 của đại đội trưởng Nguyễn Gia Nhuệ gắn liền với trận địa Đồng Đá; Đại đội 6 nằm ở trận địa Yên Vực v.v...

Đối với các đơn vị bảo vệ yếu địa sự am tường về địa hình và thành thạo trong thao tác chiến đấu là thế mạnh để chủ động tấn công kẻ thù.

Trận đánh chiều ngày 7-5-1972 diễn ra trong thế mạnh ấy của các trận địa chốt ở Hàm Rồng.

Vào lúc 16 giờ 15 phút có 2 chiếc máy bay trinh sát bay từ Đò Lèn vào Hàm Rồng.

Đại đội 16 pháo 100 ly đóng ở Bắc Tào phát hiện mục tiêu và bắn liền một loạt pháo 100 lên trời. Điểm nổ của đạn 100 chùm lấy mục tiêu. Tuy loạt đạn ấy không làm sát thương được địch nhưng lại như người chỉ điểm cho các trận địa tầm thấp ở Đồng Đá Yên Vực Từ Quang đồng loạt nổ súng. Một số đại đội ở bờ Nam cũng được dịp đánh tạt sườn vào 2 chiếc máy bay đang lạng lách để tránh đạn. Một chiếc trúng đạn tầm thấp bốc cháy dữ dội rồi lao ngay xuống bến Than chỉ cách cầu Hàm Rồng về phía hạ nguồn hơn 1 cây số.

Tên giặc lái nhảy dù rơi đúng vào nơi cách đây mấy năm tên giặc lái Chu - đi lái chiếc A6A bị quân và dân Hàm Rồng bắn rơi hôm 18-7-1965.

Và điều không ngờ chiếc AZJ bị bắn rơi chiều hôm ấy lại là chiếc máy bay Mỹ thứ 300 bị bắn rơi tại Thanh Hóa.

Đứng ở Sở chỉ huy trung đoàn nhìn thấy máy bay cháy phóng viên Nguyễn Văn Trợ nhảy cẫng lên reo hò. Anh nói: "Thật bõ công cả ngày hôm nay anh chầu chực ở đây". Có những chiến công ý nghĩa vô cùng to lớn nhưng lại diễn ra chóng vánh đến kỳ lạ. Đó là chiến công Kỷ niệm 18 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ và Kỷ niệm 7 năm Trung đoàn 228 chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng.


XII. Hàm Rồng và B52 của giặc Mỹ.

Năm 1972 Hàm Rồng còn trải qua những đêm máy bay B52 rải từng thảm bom trùm lên cả khu vực rộng lớn tới vài km2. Trong ký ức của người Hàm Rồng ngày đó chưa ai quên được cái đêm 21-4-1972 đầy ắp tiếng bom ấy.

Đêm 21-4-1972 lần đầu tiên B52 ném bom rải thảm lính Hàm Rồng chưa ai biết B52 đánh mình. Vì thế dẫu là pháo 37 rồi 57 tầm bắn không tới được B52 nhưng ở khắp các trận địa pháo thủ vẫn bắn liên hồi kỳ trận. Sáng sớm ra nhìn quanh trận địa chỉ thấy rặt một màu đất đỏ au chùm lên khắp mấy vạt đồi mới biết đêm qua B52 đánh mình.

Trở lại những ngày tháng 4 năm 1972 chúng ta thấy trận đánh của B52 xuống Hàm Rồng đêm 21- 4 -1972 nằm trong một chiến dịch giặc Mỹ gọi là Lai-nơ Bếch-cơ I (Cứu bóng trước khung thành). Sau này Mỹ mở chiến dịch 12 ngày đêm cuối 1972 ở Hà Nội bằng B52 được chúng gọi là Lai-nơ Bếch-cơ II.

Như chúng ta đã biết ngày 30-3 -1972 Quân giải phóng đồng loạt mở cuộc tấn công chiến lược trên khắp miền Nam Việt Nam. Níc xơn liền bãi lệnh ngừng ném bom và lập tức cho máy bay B52 thực hiện 5 phi vụ ném bom miền Bắc.

Đêm 10-4 B52 ném bom thành phố Vinh.

Đêm 13-4 B52 ném bom Sân bay Sao Vàng (Thọ Xuân - Thanh Hóa).

Đêm 16-4 B52 ném bom Hải Phòng.

Đêm 21-4 B52 ném bom Hàm Rồng.

Đêm 23-4 B52 ném bom Hàm Rồng.

Bây giờ nhìn lại chúng ta mới thấy trong mỗi phi vụ ném bom bằng B52 giặc Mỹ đều nhằm cùng một lúc 2 mục đích rõ ràng. Trước hết chúng dùng B52 ném bom theo kiểu hủy diệt là để đánh vào tinh thần dân chúng. Và sau đó những điểm B52 đánh phá đều là những mục tiêu quan trọng ở miền Bắc.

Riêng việc B52 ném bom Hải Phòng giặc Mỹ còn ngầm nói rằng: B52 rất có thể ném bom Hà Nội hay bất kỳ một mục tiêu nào ở miền Bắc Việt Nam.

Đêm 21 tháng 4 năm 1972 sau khi tiếng bom B52 vừa ngớt cả Hàm Rồng sáng rực bởi những đám cháy khổng lồ. Cả làng Hạc Oa bốc cháy dữ dội ánh lửa bùng lên từ hàng trăm nóc nhà ở sườn núi. ở bên kia sông xã Hoằng Phượng huyện Hoằng Hóa ngọn lửa đỏ rực cả một vùng rộng lớn. Bên đồi Quyết Thắng những tiếng nổ dữ dội kèm theo những ngọn lửa bốc cao mỗi khi một phi xăng phát nổ.

Đứng giữa vòng lửa ấy mỗi chiến sỹ Hàm Rồng bỗng trào lên một tình cảm kỳ lạ. Ôi đất nước có những giờ phút thiêng liêng đến thế này ư. Người mang trên mình biết bao máu và nước mắt. Những ngọn lửa đêm nay đỏ ngàu như máu in đậm trong tim bao người còn sống nhắc nhở họ hãy nhớ lấy mối thù này. Những phút giây đau thương và hào hùng này trở thành sức mạnh để bộ đội Hàm Rồng chấp nhận những thách thức mới ác liệt hơn những năm trước đây rất nhiều.

Sau trận đánh ngày 21 và 23 tháng Tư năm 1972 bộ đội Hàm Rồng được lệnh hễ B52 ném bom các trận địa pháo 57 và 37 trở xuống đều được lệnh ẩn nấp tránh thiệt hại để ban ngày quần nhau với bọn máy bay cường kích.

Để trụ lại giữa bãi bom B52 bộ đội Hàm Rồng đào sâu xuống lòng đất dựng những chiếc hầm chữ A theo kiểu hầm mọi người quen gọi là hầm Quảng Bình. Chỉ có khác là ở Hàm Rồng chúng tôi dựng hầm chữ A theo hình của một tam giác đều mỗi cạnh bằng đúng một thanh tà vẹt của đường sắt mà chúng tôi đi kiếm được. Những đêm nằm chờ B52 đến nhiều pháo thủ Hàm Rồng năm ấy đang là sinh viên tình nguyện vào lính tán vui với nhau: Cũng là các bon cả thôi nhưng các phân tử các bon được cấu trúc dưới dạng những khối tam giác đều thì trở thành kim cương có độ

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 

Từ Nguyên Tĩnh


Vô danh



Truyện ngắn



 

Tôi để ý trong những người lính hành hương về Hàm Rồng có một cựu chiến binh rất lạ. Tuồng như anh rất ít chuyện trò với ai nếu không nói quá rằng không bao giờ anh chủ động bắt chuyện. Đồng đội nói nói cười cười anh cũng vui lây nhưng có vẻ không tự nhiên một chút nào. Thật chả bù cho những người lính khác họ ùa lên trận điạ bất kể có phải là trận địa trước kia mình đặt pháo hay không. Niềm tự hào của người lính cao xạ là thế đấy chiến công là chiến công chung không ai một mình bắn rơi được máy bay. Khẩu đội sáu bảy pháo thủ lại còn trinh sát thông tin ra đa tầm xa trạm mặt đất... Có nghĩa là cái anh bộ binh hạ được mấy thằng địch nó rõ còn anh cao xạ là cả một tập thể hợp đồng... Khi người ta chụp ảnh hay quay phim cũng chả nhanh chân lên một tý rồi thiệt đấy thôi tất nhiên là anh không có mặt ai trách anh trong đám đông ấy nhỉ có người công trạng có ra làm sao nhưng gặp dịp là hồi ký người nghe cứ tưởng là người anh hùng đội bom đạn không bằng.

Đến lúc ăn tiệc cũng thế người ta thì cụng ly "một trăm phần trăm"còn mình thì khẽ nhấp cái nhìn trống rỗng như thể không có ai ở quanh mình. Cũng do thói quen nghề nghiệp mà tôi bắt chuyện hoặc do cái nhìn trắc ẩn của anh ta mà khêu gợi tôi cũng chả hiểu nữa rõ ràng tôi đang phấn hứng mà lại. Tôi cũng không nghĩ rằng mình công lớn hay là nhỏ nữa. Đang tràn ngập trong niềm vui mà nhìn thấy một bộ mặt vô cảm thì anh nghĩ sao. Không gây sự được thì ta bắt chuỵên vậy.

- Này đồng đội đằng ấy ở đơn vị nào đấy! - Hỏi rồi mới biết rằng mình ngố. Trong lúc chuếnh choáng bia rượu mà hỏi vậy có khác chi người thẩm tra lý lịch hay nghi ngờ về sự hiện diện của người ta không bằng. Không ăn đấm là may đấy. Tôi quá nhạy cảm mà tưởng tượng ra chứ làm gì hệ trọng thế.

- Hả! Mình ấy à... Cậu không biết là phải thôi! Mình có gì để mọi người nhớ ?

Người lính ấy có tên là Khủng không hiểu anh ta lôi ở đâu ra cái tên không nói lên điều gì cả. Còn câu chuyện thì thú thật tôi vẫn tự hào rằng mình hiểu biết nhiều về Hàm Rồng nhưng thật ra còn biết bao câu chuyện chưa hề biết. Các cậu là "cây viết" chứ gì. Thì cứ viết. Cuộc chiến tranh này có biết bao nhiêu điều cần nói. Người ta đã có cả những viện nọ viện kia nghiên cứu về những bài học của chiến tranh. Các tướng lĩnh của cả hai phía đều chăm chắm nhìn cục chiến. Cái cần khép lại anh không nói thì chính nó cũng phải khép lại. Nhưng sự đau đớn và day dứt thì rất khác nhau. Khác nhau trong bản chất nhìn nhận sự vật đã đành. Còn khác nhau cơ bản nữa là nhìn nhận về cái anh hùng trong chiến tranh. Một quả bom nổ anh lính mình và anh lính của đối phương đều chết. Cậu bảo cái chết đó có bình đẳng không nào. Họa chăng có khác là trái bom đó của ai đã ném. Người khác sẽ nhìn về cái chết đó và vô số những bình luận trữ tình hoặc chính luận ngoại đề. Cậu không thấy đó sao trong vô số những người có dịp được "truyền hình" họ không nói lên được cái "chất lính" của mình mà rất thích làm vai trò của người lãnh đạo chiến tranh mà thực chất lúc đó họ đâu có đóng vai đó vì thế tính thú vị của câu chuyện mất đi. Người dẫn chuyện nhà làm sử và nhân vật anh hùng lẫn lộn. Vì sự thật có vô số những người "anh hùng" đang nghe họ nói mà không tìm được một sự thuyết phục nào cả.

- Thôi mà đồng đội lên đồi C4 rồi anh còn hứng thú kể câu chuyện bí mật như đã hứa nữa không?

- Thật ra thì chẳng có gì là bí mật cả chỉ khác nhau là cách nhìn về người lính. Người lính kể cũng kì thật.

- Tại sao anh lại có ý nghĩ ấy hay qua cuộc chiến tranh vừa rồi có điều gì không vừa lòng mà người đời vẫn hay gọi là bất mãn chẳng hạn. Tôi cố tình nhấn vào từ "bất mãn" để nắn gân con người có cái tên không mấy dễ nghe: Khủng.

Khủng nhìn tôi cười cái cười độ lượng của người từng trải. Tớ không phải là lính sáu lăm (1965) như các cậu đâu. Có nghĩa sau vụ vịnh Bắc bộ mới gọi nhập ngũ hàng loạt. Lính sáu hai (1962) tụi này được rèn rập cẩn thận lắm sau này phần lớn là cán bộ chỉ huy cả. Nhưng không ít người đã thông ngay với nhiệm vụ. Cho rằng Liên Xô và Trung Quốc mạnh thế lại chí tình giúp đỡ có dự thính thằng Mỹ cũng không dám đánh ra miền Bắc. Đơn vị có lệnh hành quân vào Hàm Rồng tớ cáo ốm nằm ì. Hay thật không hiểu ai đã nghĩ ra cái từ "nằm ì " nhỉ bây giờ ngẫm lại thấy hay thật. Không phải là ốm hàng ngày vẫn đánh chén đều thậm chí lại còn chén khỏe nữa là khác. Hết nghĩa vụ rồi kiếm cái nghề gì đó hoặc về quê tậu một cô vợ. Thời ấy nó thế không mấy ai suy nghĩ và lắm ước mơ đâu. Tớ đã không vào Hàm Rồng mà nằm lại doanh trại của đơn vị ở Hiệp Hòa chắc lính động viên như mấy cậu làm gì được sống ở doanh trại. Thôi điều ấy nói với cậu để làm gì nhỉ? Trong số lính nằm ì không nhận nhiêm vụ ấy cũng vơi dần. Cậu thì đi học kỹ thuật cậu thì đi học sĩ quan thời chiến mà lại con người thiếu lắm nhất là đã trải qua huấn luyện ở thời bình như bọn này có mà đắt như tôm tươi. Không hiểu thế nào cuối cùng tớ cũng rời doanh trại ra đi.

- Đi học sĩ quan? Không mấy mặn mà tôi hỏi lại.

- Không tôi vào làm quân khí ông ạ! Không hiểu do mẽ ngoài của tôi già hay nghề viết lách cũng làm cho người đời nể nể mà con người có cái tên ngang phè bỏ đi cách xưng hô cậu cậu tớ tớ của anh lính cũ coi thường anh lính mới. Mà này cái anh C4 các cậu tuy được phong anh hùng nhưng chắc gì đánh nhau đã bằng tụi này ở Đồng Đá Yên Vực Cồn Đu... Anh liệt kê một lô những tên trận địa chả lẽ tôi lại nói người anh em ơi ông không quên tôi cũng là một "sử gia rởm" đó sao. Sợ làm anh mất hứng tôi cũng hỏi chiếu lệ phải rất lâu trong cuộc đời cầm bút tôi mới có được thói quen chán ngoét đó.

- Anh được đề bạt à!

- Đã nói là làm quân khí mà lại. Cái chân đi kho lĩnh chế độ xà phòng dầu mỡ giẻ để lau pháo ấy mà.

- Nhưng anh không thấy đó là một công việc nhàm chán hay sao?

- Tất nhiên rồi đó là một công việc hết sức nhàm chán. Nhưng là cách nghĩ bây giờ còn lúc đó không mấy ai suy nghĩ được sâu sắc lắm đâu.

- Tại sao? chả lẽ trí óc con người ta lúc đó lại kém hơn bây giờ?

- Không phải như vậy. Người ta cử làm quân khí chỉ có hai trường hợp một là mắc kẹt không phát triển được hai là rất tin cậy nằm chờ dịp để đi học sĩ quan hoặc cất nhấc lên một cương vị gì đó.

- Anh chắc là nằm chờ đi học sĩ quan chứ gì? Không hiểu sao tôi lại hỏi Khủng với giọng trêu chọc thế không biết.

- Không đã nói mình vào cái diện chậm tiến bộ mà lại... Đấy mình từ trận địa Đồng Đá đi nhận giẻ lau pháo đáng lí qua cầu Hàm Rồng men theo Lò Cao mà sang hang núi Hạc Oa thì rất gần nhưng làm sao mà dám liều lĩnh qua cầu giữa ban ngày ban mặt. Phải mất trọn một ngày đi đường vòng. Những lúc xuống đò ra giữa sông mà có báo động máy bay mới biết rằng mình cô đơn và bất lực biết nhường nào.

- Anh có sợ không?

- Sợ chứ! Máy bay nó bổ nhào cắt bom. Những quả bom cứ xoáy vào mình. Ông bảo từ bến đò làng Giàng đến cầu đâu có xa. Mình làm gì có kinh nghiệm về ước lượng khoảng cách cự ly. Sau này thì mình mới hiểu rằng trong đánh nhau mỗi người một công việc dựa vào nhau mới khống chế được nỗi sợ hãi. Còn người chỉ huy lúc đứng một mình thật là cô đơn nếu không có bản lĩnh anh rất dễ run mà chỉ cần run một lần là lần sau cứ đến cử đó nó lập lại rất khó mà khống chế.

- Thế anh làm cái anh quân khí có lâu không?

- Tất nhiên là chiến tranh đã xảy ra rồi không còn đoán già đoán non gì nữa. Tớ xung phong lên trận địa. Từ một anh lính có nhiều chê trách tớ đã thành một người được ngừơi khác phải học tập. Tôi chỉ còn biết ồ ồ à à theo anh chàng Khủng (bố) này như kiểu người ta vẫn hát đế trong diễn chèo.

- Mình làm quân khí không lâu rồi được cất nhấc lên làm cán sự chính trị.

- Người ta đã bỏ qua cho cái tội nằm ì của anh rồi sao?

- Với những người có dính đến thành phần lớp trên thì ai bỏ qua nhưng với mình lại khác. Đã nói rằng mình từ chối đi học sĩ quan để được ra quân mà lại.

- Thế người ta đề bạt làm cán sự chính trị anh có vui không?

- Cái cậu này chiến tranh không có thể tránh khỏi nanh vuốt của nó. Không thể lùi lại phía sau cũng phải làm một cái gì chứ.

- Tôi không thể nào hiểu được cái triết lí của anh.

- Lý với lẽ cái mả mẹ gì. Làm cái anh cán sự chính trị như là cái anh giúp việc cho chính trị viên chứ báu bở gì. Nhưng lúc đó không mấy ai mà hiểu cho cặn kẽ. Tôi cũng không kịp suy nghĩ thì đã được đề bạt lên làm chính trị viên đại đội rồi ông ạ! Thế đấy chức vụ làm cho con người ta nó sang lên. Không biết có ai nhớ đến cái đoạn tôi không muốn vào Hàm Rồng không. Nhưng ai gặp là miệng một chào chính trị viên hai chào thủ trưởng. Nghe đầu tiên cũng ngượng tưởng đâu chức vụ là đi mượn của người khác nghe nhiều rồi quen. Có thằng nào mà gọi xếch mé cũng tức.

- Con đường binh nghiệp của anh đã mở ra thật sáng sủa chả bù cho tôi không làm sao mà vượt qua được cái anh hạ sĩ quan. Tôi thú nhận sự kém cỏi của mình với Khủng không chút e dè. Vì sự thật ở đời này có anh nào lên được tướng mà lại chịu ngồi im như thóc giống tôi.

- Sự việc bắt đầu từ đó mình tự tin một cách mãnh liệt rằng với vốn kiến thức của mình được đọc trong sách vở rèn luyện trong thời bình sẽ làm cho những người lính mộc mạc chân quê yêu mến đơn vị và mau chóng trở thành những người lính thực thụ.

Tôi nhìn tìm trong anh sự dũng cảm của người lính thực thụ hay là những kẻ cơ hội chức vụ đó không phải khả năng của mình nhưng không may rơi vào đầu mình vẫn bám giữ lấy với bao lý do. Anh không nhận nó thì cũng có một ai đó nhận. Chiến tranh có sự phi lý của nó. Một quả bom rơi vào bờ công sự người quay mặt ra thì hy sinh người quay mặt vào thì an toàn. Bây giờ quá khứ đang được quên đi đang khép lại để mưu đồ những chuyện khác anh ta mới có chuyện cởi mở thế kia. Nếu còn chiến tranh chắc anh ta rất tự hào về "nghề chính trị viên" của mình. Thử hỏi trong bản anh hùng ca của cuộc chiến tranh này đã bao giờ anh ta nghĩ cho kỳ cùng rằng mình chưa bao giờ là người cầm súng chưa bao giờ dám nói lên sự hèn nhát của mình một cách thẳng thắn. Anh kể cho tôi nghe bây giờ chẳng qua cũng chỉ là những dư vị đắng chát được bọc vẻ dịu ngọt mà thôi. Tại sao thế nhỉ ta lại có thể nghe một ai đó kể ra những điều không có thật anh ta không chứng kiến anh ta không trải qua mà hàng chục hàng trăm năm sau một ai đó tổng hợp lại câu chuyện Hàm Rồng có thể nói còn hay hơn anh ta. Bởi anh ta không bao giờ nghĩ rằng có rất nhiều người người đang sống họ mới thực sự là những người anh hùng. Vì họ là những người đã sống những cuộc đời thường của chiến tranh. Họ không phải là những sĩ quan vì vậy tính rủi ro của chiến tranh mới cao hơn họ có nguy cơ đương đầu với cái chết nhiều hơn.

- Mình đã sớm bắt nhịp với cuộc chiến ông ạ! Đấy trận địa của mình đóng ở làng Yên Vực ở Đồng Đá... Nói chung cũng đóng quân như hầu hết các trận địa. Tôi nhìn theo bàn tay anh chỉ chợt phát hiện ra bàn tay bị mất ngón trỏ và ngón giữa. Nhưng không hiểu sao tôi lại hỏi Khủng một câu đầy khiêu khích:

- Anh đã có lúc nào nghĩ rằng mình sẽ đào ngũ không?

- Nếu cứ đẩy cái xấu đến tận cùng thì nó sẽ ra sao?

- Tôi không biết được nữa tôi chưa bao giờ gặp những trường hợp như thế. Tôi chưa bao giờ có một cương vị gì cao để phải xử lý để va chạm đến con người hoặc quyền lợi của con người để gây ra điều ác cả.

- ông là người may mắn hoặc ông là môt thằng đểu chỉ lo đến sự an toàn của mình là trên hết. Làm cái gì cũng toan tính không có lợi cho mình là không làm. Tròn như viên bi không còn một cạnh nào để va chạm. Trái tim lúc nào cũng lâng lâng tai vang lên những điều phỉnh nịnh ta là người tốt vì không va chạm tới một ai cả. Nhưng anh có biết đâu mày là thằng ích kỷ nhất đấy không hy sinh cho ai một cái gì cả mà muốn được hết. Sự phẫn nộ trước cái ác đó là bạn đồng hành với niềm kiêu hãnh của người anh hùng. Họ phải chịu nhiều thiệt thòi nói trắng ra đó là sự âm thầm chịu đựng.

Tôi thật ích kỷ khi giữ lấy cậu Phạm ở lại trận địa để xây dựng thành cá nhân anh hùng. Đáng lý ra sau những trận chiến đấu ác liệt ở Bái Thượng trở về phải đề nghị phong anh hùng cho nó. Nhưng tôi lại cứ giữ dịt lấy nó chờ để phong ở Hàm Rồng kia. Phải là một mục tiêu lớn mới đáng mặt anh hùng hay sao. Bắt nó phải lặp lại những động tác anh hùng mà cả đời người mới ngẫu nhiên gặp một lần. Ta đã quen cách sống nô bộc mất rồi miệng thì bảo dân chủ nhưng không thích nghe ý kiến khác tai mình. Lòng thì ấm ức với trên nhưng không dám đấu tranh có điều kiện là sun xoe xu nịnh với cấp dưới thì mình thành ông trời con... Có lẽ lúc đó tôi chưa lập luận căng thẳng như thế. Nhưng trên bảo phải giữ lấy nó ở trận địa mà xây dựng thành anh hùng. Biết là không đúng đâu nhưng tôi nào dám nói. Thế là nó chết trong tư thế không anh hùng một tí nào cậu bảo làm sao mà phong được nữa.

Tôi định chửi vào mặt cái thằng cán bộ đểu này vì mày mà bao người phải chết oan còn rầu rĩ cái nỗi gì. Nhưng nghĩ lại ngày truyền thống của mọi người; cái anh ở Hàm Rồng chỉ một tuần rồi kéo pháo vào trong cái anh không công cán gì mà được đề bạt như cha Khủng kia có điều kiện lên hình sẽ sa xả tôi là cái này tôi là cái nọ làm như là cha linh hồn của người ta không bằng. Họ không thể hiểu được chiến tranh và sự chịu đựng lớn nhất là người lính. Chịu đựng sự bất công lớn nhất cũng là anh ta; anh không cần biết người chỉ huy có tài cán hay vô học cứ cắt cử là phải chấp hành mặc dù anh ta chưa qua một trường ốc nào cả. Như anh chàng kia đấy thôi mới hôm qua còn nằm ì...

- Tại sao lại không đề nghị phong cho Phạm anh hùng? Tôi hỏi Khủng.

- Phong làm sao được bọn nó đang đánh bài thì bị A6A ném bom mà lại.

- Khốn nạn... Tôi cũng chả hiểu mình chửi ai nữa... Tay Khủng này có tội không nhỉ !

Chán nhất là đơn vị lại được lệnh kéo pháo ra bảo vệ cầu Lèn Khủng kể với nét mặt buồn hiu. Đơn vị kéo ra chiếm lĩnh trận địa Lèn không mấy vui vẻ do thương vong ở Hàm Rồng một lý do nữa trận địa ở gần Y Ngô không thông thạo địa hình. Máy bay nó lợi dụng đỉnh núi Bà Triệu mà bổ nhào rồi bay vòng ra ngoài. Trận đó đơn vị thương vong cầu Lèn cũng dính bom không đảm bảo giao thông thông suốt. Đơn vị ngồi kiểm điểm với nhau hàng tuần mà không tìm ra nguyên nhân. Lúc bình thường thì cậu cậu tớ tớ rất thân mật nhưng đụng đến nguyên tắc là một đồng chí hai đồng chí ra với nhau đã căng thẳn lắm rồi. Cái giống càng ngồi họp lâu rất dễ đổ lỗi cho nhau là cái chắc.

Đánh nhau thương vong nhiều có phải là do tư tưởng của anh nó không kiên định không bình tĩnh thao tác chủ quan khinh địch không đánh thắng được nó có phải là anh chuyển sang hoang mang dao động không nào. Thời ấy ta vẫn ca một bài ấy cả. Lỗi có mấy khi anh cán bộ chính trị đại đội đứng ra nhận. Đại đội trưởng không phải là tay vừa. Được đào tạo rất chính quy trong thời bình không coi cái loại cán bộ đi tắt ra cái thá gì. Trong một trung đoàn còn ai lạ gì nhau. Hắn bảo mình biết cóc khô gì mà nói người ta bắn thì đứng nói dăm câu ba điều "ăn theo" bảo là chiến công chung sao lúc bị thương vong không nhận là tư tưởng của anh nó kém đi rồi mà chịu kỷ luật cho rồi. Quân lính nghe cứ bò ra mà cười. Có những thằng chuồn ông ạ. Không hiểu do nó hoang mang giao động sợ chết hay lí do nào khác. Tất nhiên là mất đoàn kết rồi mà đã mất đoàn kết rồi làm đoàn kết lại thì khó lắm. Thế là một trong hai thằng phải điều đi. Tưởng là bị thi hành kỷ luật thế mà lại đá hất lên thành cái anh chính trị phó tiểu đoàn ông ạ.

Những cựu chiến binh ùa lên trên đồi chen nhau để chụp hình. Không ai còn phân biệt ngày xưa anh là cấp bậc gì. Thế giới đang dang cánh tay ra ôm hôn nhau anh là chất chi trong nền kinh tế thị trường này?

Đợi cho họ chụp xong những tấm hình kỷ niệm Khủng kéo tôi ra sườn đồi phủ kín những tán lá thông xanh tốt. Không để tôi phải giục anh kể tiếp câu chuyện mà lúc đầu đã giáo toa rằng đó là nỗi buồn lớn của anh ở Hàm Rồng. Không kể ra thì không thể chịu nổi là lời tạ lỗi với hương hồn của người đã khuất.

Đơn vị mới của tôi là một tiểu đoàn pháo cao xạ hỗn hợp có các cỡ pháo từ 14ly5 đến 57 mi li mét phạm vi hoat động thi rộng lắm từ Lèn vào đến Nghệ Tĩnh và sang tận Lào. Thật vô cùng vất vả và chịu nhiều trận đánh ác liệt. Nhưng tôi không kể hết được cho ông tất cả những trận đánh ác liệt được. Việc đó của người làm sử mà tôi nghe nói ông có lúc đã làm cái anh ghi chép như là cái anh thống kê rồi thì phải.

- Thì tôi cũng như anh sinh ra ở nước nghèo ấy mà. Sang bãi thải của bọn tư bản nhìn thấy cái gì cũng muốn nhặt một bị đầy. Đem về giở ra thì thấy đẹp nhưng không biết làm được việc gì bỏ thì thương vương thì tội.

- Ông lại co mình vào rồi là người viết mà như thế hóa ra không nên viết mà làm gì vì nghĩ ra được điều gì thì nhân loại họ đã biết cả rồi. Anh phải cung cấp cho người đọc cái mà anh ta chưa có.

- Thế tại sao ông không viết?

- Tạo hóa không ban cho tôi cái sự dễ mủi lòng ấy! Khủng có vẻ văn hoa nhìn tôi cười. Tôi lại nghĩ cái chất khắc nghiệt của máu làm chính trị toan tính đã giết mất tâm hồn thi sĩ của tay Khủng tự lúc nào. Nhưng việc làm đã đẩy mình đến sự bế tắc về tâm hồn. Nếu linh hồn là một thực thể đo được bằng trọng lượng thì sự suy nghĩ của người ta có thể được giải thoát hoặc tích lại đến một ngày nào đó nó bục ra không may cho những ai gặp những hạt bụi vô nghĩa ấy đó là một cuộc tìm kiếm chủng loại của tâm hồn. Nghĩ vậy tôi hỏi:

- Quái thật ông có còn sinh hoạt trong tổ chức nữa hay bắt chước mấy lão đồng đội vì không lên được chức vụ mà chầy cối đấy?

- Ông yên chí lớn đi... Cái tạng ấy không phải của tôi.

Tôi không nói thì ông cũng biết rồi. Ních xơn đánh lại miền Bắc dùng B52 huỷ diệt Hà Nội Hải Phòng và một số thành phố khác. Thanh Hóa cũng nằm trong cơn khát máu đó. Hàm Rồng cũng phải chịu nhiều tổn thất bởi những trận rải thảm của B52. Nhưng nhà văn các ông chưa nói được gì về nỗi mất mát này ví dụ Hoằng Phượng Hạc Oa Nhồi Sao Vàng... Mà ngay như nhà máy điện Hàm Rồng nhà máy xay vẫn còn đang nằm ngoài trang văn của người viết. Tất nhiên người đọc không thể đòi hỏi nhà văn phải viết thế này viết thế kia. Nhưng với những người lính cầm bút như các ông sự đòi hỏi của tôi cũng là một nguyện vọng phải không nào ? Cũng có thể anh chưa biết gì về B52 anh chưa được chứng kiến những phút giây kinh hoàng tai như muốn vỡ ra nhét đầy tiếng nổ. Anh không làm chủ được mạng sống của mình anh run lên bần bật; hay bây giờ anh lại là kẻ thích đăng đàn thuyết giáo về những điều anh không hề biết anh đẩy những người lính ra ngoài suy nghĩ của anh mất rồi...

Chà thằng cha Khủng này hắn đang luận tội mình hắn làm như toàn bộ Hàm Rồng này mà không có gì để lại cho người đời là tội của người lính cầm bút hay sao. Hắn không biết được rằng rất nhiều và rất nhiều các nhà văn viết về chiến tranh trên thế giới này không nhất thiết cứ phải là người trải qua chiến tranh không nhất thiết là phải sống ở thời điểm đó. Họ tìm hiểu và đọc những tư liệu của cả hai phía họ lạnh lùng không mủi lòng về những giọng bi ai của chiến bại họ không bị những thần tượng rởm của những kẻ quen chỉ thị như anh thì mới mong muốn có những trang viết có hồn về chiến tranh. Tôi chưa kịp sửa lại cho ông đồng đội đầy tâm sự này thì anh ta đã kể tiếp như không có chuyện gì xảy ra từ hồi đến giờ.

Tôi cùng đơn vị cơ động bảo vệ các trận địa tên lửa. Công việc thật là vất vả và nguy hiểm. Không hiểu có gián điệp không nhưng đi đến đâu cũng bị máy bay địch đánh vào trận địa. Đơn vị mình cũng bị thương vong tổn thất. Phải nghĩ ra cách nghi binh địch bằng cách cho làm trận địa giả. Việc làm trận địa giả không phải là điều gì mới mẻ trên chấp nhận phương án cho rút một số ra dựng trận dịa giả ở các trận địa dự bị. Mình đã cử những tay hay có ý kiến trái khoáy hay khoét vào những khuyết điểm của đơn vị mỗi khi có thương vong cấp trên xuống rút kinh nghiệm. Không biết một người trung thực có làm điều ấy không nhưng với mình lúc đó cho như vậy là đúng. Tội gì lại để cho những tay cứng đầu nó cản trở con đường của mình phải không nào. Công việc có gì là vất vả đâu. Kiếm tre và gỗ đẽo ghép thành những khẩu pháo dùng nhựa đường mà quét màu đen rồi dựng trong công sự. Khi nghe lệnh thì dùng bộc phá giật nụ xòe cho nổ. Thu hút sự chú ý của địch vào mục tiêu giả có phải bớt đi phần thương vong của ta không nào. Sáng kiến ấy được trên khen cho rằng đó là một sáng tạo. Dĩ nhiên người mà được nhắc đến là thủ trưởng chứ ai vào đó nữa. Chính cái điều ấy mà cái anh phụ trách trận địa giả cũng không được lơ là phải hợp đồng như đánh nhau thật. Máy bay nó bay ra mới cho nổ thì có ích gì đâu. Mình đã đi kiểm tra mấy bố đó rất thường xuyên lại cũng nhắc nhở chân tình. Việc các đông chí không vất vả gì nhưng hết sức quan trọng trong lúc này. Góp phần chia lửa cùng toàn đơn vị. Một điều không nói ra các cậu này là lính có nhiều tuổi quân không phát triển được lại hay tán tụng em út Kiểm tra mà không có mặt thì chớ chết. Bây giờ nghĩ là hèn nhưng lúc đó đầy lý lẽ ai chống được mệnh lệnh chiến đấu nào. Có mà ra tòa án binh.

- Thế những người ở trận địa giả đó không có hầm trú ẩn sao? Tôi hỏi Khủng với giọng không giấu nổi sự bực tức. Cái thằng đểu thế là cùng. Gặp cái thằng chụp ảnh thần hồn nát thần tính nó hiểu lầm thì có phải là nướng con người ta trong bom không nào.

Những người lính đó họ chuộng danh dự. Khủng thú nhận với tôi với niềm chua chát. Họ không hề sợ nỗi cô đơn. Hàng ngày cắt cử một người xuống hậu cần xa hàng cây số gánh nước rửa mặt lấy cơm nước cho ba người. Phân công nhau trực ban. Nhận được lệnh là phát hỏa. Mình lại còn tỏ ra làm "tư tưởng" cho họ nữa chứ rằng phải cử những người có dày dạn kinh nghiệm chiến đấu có khã năng công tác độc lập tuy chỉ có ba người nhưng bằng cả một đại đội. Nếu họ mà bỏ đi đâu đó hoặc xuống núi đi tán gái chắc là mình không thương xót gì họ mà không kỷ luật hoặc ghi vào lý lịch. Ôi cái lý lịch chết tiệt đôi lúc là một sự hù dọa con người ta. Đành rằng không bao giờ thay đổi được quá khứ vậy mà con người ta vẫn khấn khó với quá khứ như một con bài trùng.

- Thế họ đã ra sao rồi? Có còn tay nào có mặt hôm nay không chính họ mới nên đăng đàn nói lên tính kiêu hùng của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của chúng ta đó... Tôi cũng bị lây câu chuyện về ba người lính ở trận địa giả.

- Họ đã chết cả rồi!

- Tại sao lại chết?

- Máy bay nó đánh vào trận địa chúng tưởng đó là trận địa thật. Các cậu đó dùng súng trường để chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

- Ông cũng tin là máy bay trinh sát của địch nó mắc lừa mấy trò trận địa giả đó sao?

- Không tin sao được máy bay nó đánh vào trận địa đó hàng nửa giờ mà... Khi chúng tôi đến thì không còn gì cả.

- Bây giờ thì ông ân hận lắm phải không phỏng có ích gì nào. Người chết thì đã chết rồi mà ông chỉ là cái máy thải của thời gian ân hận thì làm nên cơm cháo gì ?

- Tôi nghĩ mình và Mỹ đã bình thường quan hệ là tốt rồi! Khủng nhìn tôi muốn nói điều gì lại e ngại.

- Ông định làm ăn lớn hay sao? Hay là thời gian đi dã ngoại biết được mả thằng MIA nào tính chuyện đổi chác gì đây?

- Không ông ạ ! Tôi rất muốn làm cách chi vào được kho hồ sơ của địch tìm xem cái thằng chụp trận địa giả mà tôi giao cho ba cậu ấy mà... Thì mới yên lòng được.

                                           Cửa Hữu hè 2005

                                                     T.N.T




ĐẶNG ÁI

Đê Sông Mã


Truyện ngắn

Kính viếng những người đã hy sinh

trên đê sông Mã ngày 14-6-1972



Lời tác giả:

Cuối tháng 9-2009 tôi về quê ghé thăm Hội Văn nghệ. Nhạc sĩ Đồng Tâm Chủ tịch Hội cùng ông Chánh văn phòng Nguyễn Văn Túy mời tôi một chầu bia hơi. Việc này xem ra đã thành tục lệ. Cứ mỗi lần tôi ghé qua Hội là lại... bia hơi thân mật! Buổi chiều hôm đó ông chủ tịch hình như mới đi họp đâu đó về. Ngồi trước ly bia lạnh sủi tăm mà lâu nay vì sức khỏe ông cố gắng tránh xa nể nhau lắm mới chẹp qua vài ngụm nhỏ ông chủ tịch xúc động nói về một trận bom Mỹ vào năm 1972 tàn sát hàng trăm dân thường mà đến nay con số chính xác chưa biết là bao nhiêu...

Câu chuyện của Đồng Tâm gợi tôi nhớ về mùa hè năm ấy. Đó là thời kỳ của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ hai. Khác với lần trước lần này không quân Mỹ đánh ác liệt hơn với bom laze đánh các mục tiêu trọng điểm B52 ném bom rải thảm. Các tuyến đê cũng trở thành mục tiêu. Mà như ta biết đê điều là sự sống còn của hàng triệu người dân miền Bắc. Trận bom ngày 14-6-1972 là cuộc tấn công tội ác nhằm phá hoại đê. Tất cả những điều đó mãi sau này tôi mới tổng hợp lại được. Còn lúc ấy tôi cũng như những người dân thị xã Thanh Hóa đã quá quen với bom đạn hàng ngày. Báo động thì tránh hết báo động lại làm việc học hành bình thường. Mà nhiều khi bom đang nổ vẫn công việc bình thường thôi.

Hôm ấy tôi nghe có những tiếng bom ở mạn Hàm Rồng - Nam Ngạn cũng tưởng bình thường như mọi trận bom. Khoảng gần trưa tôi thủng thẳng đến chơi nhà anh Mai Ngọc Thanh. Bấy giờ tôi đã viết văn đã được mấy năm đã được giải thưởng ở "trung ương" (như cách nói rất trân trọng rất tự hào thời bấy giờ) còn anh Mai Ngọc Thanh là cây bút lớp trước là người phụ trách tập san "Người bạn văn hóa". Vì vậy quan hệ giữa chúng tôi khá mặn mà. Khi tôi đến thấy nhà vắng ngắt chỉ mình anh Thanh đang cởi trần loay hoay góc bếp. Lần nào đến nhà dường như tôi cũng thấy anh ở cái góc ấy khi thì lúi húi xào rán khi thì thảnh thơi với một cuốn sách trên tay. Lần này vừa ngồi bên bàn nước chuyện trò với tôi anh vừa chạy qua chạy lại cai quản cái bếp đang liu riu ngọn lửa.

Câu chuyện văn thơ đang lúc say mê thì nghe tiếng la láo nháo ngoài đường. Tôi ngoảnh ra thấy chị Tùng vợ anh Thanh lao sầm sầm vào nhà. "Chết hết rồi chú ơi! Chết hết ...hết...rồi! Chú ơi...rồ...ồi...!" Thấy tôi chị vội la lên giọng thất thanh. Chị Hoàng Thị Tùng là nhà giáo hàng ngày vốn chải chuốt tinh tươm vậy mà lúc này... Mặt cắt không một hạt máu đầu tóc rũ rượi quần một ống sắn ngang đùi một ống lệt bệt bắp chân khắp người bê bết bùn đất. "Chết hết rồi... chết... chết...". Chị Tùng cứ lắp bắp mãi như thế. Tôi cứ ngơ ngác không hiểu ra sao. Còn anh Thanh thì khỏi nói hoảng hốt rối tinh lên vừa lâng châng sau từng bước chân vợ vừa lắp bắp nói không nên lời.

Mãi sau khi chị Tùng đã bình tĩnh lại qua những lời lắp bắp của chị tôi mới hiểu: Sáng nay theo lệnh của nhà trường chị cùng các cô giáo đi đắp đê ở bờ nam sông Mã. Không chỉ riêng trường chị mà tất cả các trường cấp 1 2 3 trong thị xã. Cùng với đó là các giáo sinh Trường Sư phạm 7+2 Trường trung cấp Y sỹ... Hàng nghìn thầy trò phần lớn là nữ chen chúc trên cánh đồng trũng Nam Ngạn chuyển đất lên đê...

Câu chuyện máy bay Mỹ ném bom những người đắp đê những thầy cô giáo... khiến cho tôi - nói theo ngôn ngữ hiện nay là - bị sốc. Tôi quyết định phải làm một cái gì đó để tố cáo tội ác để ca ngợi sự hy sinh mà cái gì đó đối với tôi chỉ có thể là những trang viết. Tôi muốn viết một cái truyện ngắn chứ không phải bút ký ghi chép lại sự việc. Vấn đề là nghĩ ra được một cốt truyện vẽ ra được khuôn mặt nhân vật.

Hơn một lần tôi đã đến bờ đê nhìn về cánh đồng đỏ máu mà suy nghĩ. Dạo ấy tôi hay đến chơi nhà Khánh "cận". Anh là một họa sĩ của Xưởng Mỹ thuật. Lúc ấy đối với họa sĩ sáng tác là chuyện riêng ở nhà còn ở xưởng chủ yếu là sản xuất. Các họa sĩ danh tiếng thì được phân công vẽ truyền thần những bức chân dung hoặc chép lại các tranh cổ động còn anh em khác thì viết chữ. Từ khẩu hiệu những lời kêu gọi đến nội quy cơ quan... tất cả đều do họa sĩ viết tay trên những tấm pano lớn. Khánh là họa sĩ viết pano. Nhưng không chỉ có thế anh là một tài hoa ôm guita hát rất truyền cảm. Một hôm anh Khánh bảo sắp đến ngày giỗ cô em họ chết trong trận bom đánh đê một giáo sinh rất đẹp và có bệnh đau tim.

Trong lòng tôi lóe lên một tia sáng. Có lần trái tim tôi như đã nghẹn lại khi thấy một cô gái trắng đẹp mảnh dẻ trong sáng như một thiên thần tay cầm một nhành hoa dại ngồi sưởi nắng trên hàng ghế bệnh viện. Mấy hôm sau thì không thấy nữa. Hỏi ra mới biết cô gái bị bệnh tim đã chết đêm qua!

Tôi đã tóm được cái cần viết. Đó là một giáo sinh ốm yếu do bị bệnh tim bẩm sinh. Cô luôn bị dằn vặt bởi mình không được đóng góp cho xã hội như các bạn. Cho đến khi nhà trường điều động đi đắp đê thì cô nhất quyết đòi đi. Cô gắng chịu đựng gian khổ dũng cảm làm việc và rồi bị thương trong trận bom kinh hoàng đó. Cô chết trong giấc mơ có một bông hoa đẹp...

Tôi viết một mạch 13 trang giấy phải gạch sửa rất ít. Giọng văn tha thiết mà điềm tĩnh cái tên truyện cũng rất điềm tĩnh. Đầu tiên tôi định đặt một cái tên thật văn hoa là "Bông táo tiên trắng muốt" cuối cùng lại chọn 3 chữ mộc mạc nhưng gợi dấu ấn lịch sử: "Đê Sông Mã".

Viết xong tôi đưa cho Khánh "cận" xem. Đó là tháng 4 - 1973. Còn 2 tháng nữa là đến ngày giỗ đầu các cô giáo thầy giáo trận bom ấy. Khánh ngồi chép lại sạch sẽ tinh tươm bằng cái thứ chữ đẹp của họa sĩ mà anh thể hiện trên các pano! Mà không chỉ một bản 2 bản liền. Lúc ấy chưa có công nghệ photocopi cũng chưa biết cách kê giấy than mà viết chép được 2 bản là rất kỳ công. Chép xong anh bảo: "Ông cho tôi góp công vào làm mát lòng những người đã hy sinh với!". Tôi liền đề trên góc bản thảo: "Kính viếng những người đã hy sinh trên đê sông Mã ngày 14-6-1972".

Sau đó tôi có gửi cho ban biên tập tập san Văn nghệ tỉnh nhưng không được in. Do nội dung truyện không phải một chiến công mà lại là chuyện hy sinh! Lại thêm cái lời đề tặng chỉ đích danh một sự kiện quá đau thương mà chúng ta ngại nhắc đến. Đó là tâm lý là quan niệm là việc làm của một thời. Chúng ta sợ nói đến hy sinh thì nhụt ý chí chiến đấu. Do đó trong báo chí trong văn học trong các tài liệu tuyên truyền chỉ nhấn mạnh đến chiến thắng. Bao nhiêu quân địch bị diệt thì chúng ta nói rất rõ còn chúng ta bị thiệt hại bao nhiêu thì né tránh. Trong những chiến dịch lớn chiến dịch nhỏ hay cả trận bom ấy đều như thế. Chính vì điều đó mà đến nay bao nhiêu người đã thương vong trong trận bom ấy chúng ta chỉ biết đại khái không chính xác. Việc giải quyết chế độ chính sách còn tồn đến bây giờ!

Trên ba mươi năm đã trôi qua. Cuộc sống bận bịu cứ cuốn ta về phía trước. Tôi chỉ nhớ lại truyện ngắn này hoàn cảnh ra đời cũng những trang bản thảo khi cữ này năm ngoái tôi dành thời gian sắp xếp tài liệu với mục đích hiến tặng Thư viện tỉnh toàn bộ tác phẩm sách vở của tôi. Bản thảo "Đê sông Mã" nằm giữa những cặp giấy những bao bì đầy bụi mà tôi không ngờ qua bao nhiêu di dời biến chuyển nay vẫn còn!

Vâng xin vào truyện.

Hội đồng nhà trường cho biết tất cả giáo sinh và giáo viên của trường sẽ được điều động lên công trường đê để sửa lại những đoạn bị bom phá hỏng. Dạo này bọn Mỹ liên tiếp ném bom xuống những đoạn đã xung yếu với ý đồ gây nên nạn lụt. Theo sự tính toán của những người hiểu biết sức tàn phá ồ ạt của dòng nước thì nếu đê vỡ trong mùa lũ lụt này sự thiệt hại của nhân dân và của nhà nước sẽ còn khủng khiếp hơn bị ném bom nguyên tử. Nền kinh tế quốc dân những di sản văn hóa lâu đời và cuộc sống của hàng triệu con người ở vùng đồng bằng rộng lớn Bắc bộ - Thanh Nghệ đã bị đe dọa nghiêm trọng. Một sự đe dọa chưa từng trong lịch sử. Công tác hộ để trở nên khẩn thiết hơn lúc nào hết. ở lớp hôm nay thay vì học bài như thường lệ là một bác cán bộ nói về tình hình trong nước tình hình thế giới và đê điều.

Lê về nhà báo cho Oanh biết.

Oanh đang mệt đã nghỉ học mấy hôm nay. Cô giáo tương lai ấy đang dùng phi la tốp. Mà không chỉ bây giờ hầu như lúc nào Oanh cũng dùng thuốc. Mỗi ngày cô uống hai ống phi-la-tốp rất đều đặn. Trong cái va li nhỏ của Oanh lỉnh kỉnh những thuốc là thuốc. Hình như Oanh còn sống được là nhờ cái chất nước đen như cà phê có vị ngọt đó.

Oanh mắc chứng đau tim từ nhỏ hồi gia đình còn ở bên Thái Lan. Vì bệnh tật Oanh yếu đuối và lặng lẽ như một nữ tu. Hình ảnh một cô bé người mảnh khảnh uể oải như một cây lau khuôn mặt trái xoan trắng xanh với đôi mắt buồn xa xăm đã thành quen thuộc với dân phố. Dễ mười năm nay Oanh vẫn thế mặc dầu cô đã lớn lên trở thành một thi

More...

KỶ NIỆM CHIẾN THẮNG HÀM RỒNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐÀO THẮNG

Áp sát phía nam cầu Hàm Rồng

Bút ký lịch sử (Trích)

Được tham gia bảo vệ cầu Hàm Rồng đối với chúng tôi là một vinh dự lớn lao. Tuy chưa vào trận địa chốt nhưng chúng tôi được giao đánh tiêu diệt các tốp từ phía Ghép Sầm Sơn vào vào công kích cầu (hướng 34) và đánh các tốp từ phía núi Mật đánh trận địa chốt quan trọng trên đồi C4.

Sáng tinh mơ tôi trực tiếp dẫn pháo theo con đường nhỏ hai bờ bó gạch; cả hai phía đều có hồ nước. Tôi nhắc cậu lái xe "Tin ở tài xi nhan của tớ" tôi đùa: "Còn chuẩn hơn cả xế già" Cậu lái xe tay cầm vô lăng vẫn ngó cái cổ cò ra ngoài. Hắn nói chỉ chệch vài phân là cả pháo cả xe lăn tùm xuống hồ nước. Trận địa đặt trên nền khu nhà đổ gạch vữa vẫn còn lổn nhổn. Dắt xong bốn khẩu pháo vào khu trận địa tôi sục vào dãy nhà ba tầng chợt nhìn thấy có người ở lại bảo vệ cơ quan tôi hỏi vội:

- Khu nhà này là cơ quan nào hả bác.

Ông khẽ gắt:

- Đồng chí không biết à? Trường trung cấp thể dục thể thao.

Tôi vội vã trở về trận địa. Các pháo thủ đang dùng cuốc chim bổ phá nền gạch. Một số dùng xẻng pháo xúc gạch vữa bê tông. Những đôi tay lính sục như máy đào làm hùng hục chạy đua với thời gian bất cứ lúc nào bọn A6A cũng có thể rải bom. Đống phế thải gon lên thành hầm pháo. Anh Nhung đại đội trưởng cầm cây cờ chỉ huy đứng xạng chân nói to:

- Đào sâu xuống. Vun gọn gạch vỡ thành bờ công sự

Anh quát:

- Làm như mèo mửa thế à? Ra trồ múc nước tưới ướt. Lấy đất đắp bên ngoài. Để vậy bắn một loạt bụi đã mù trận địa bịt chặt mắt mình.

- Máy bay nó cho một quả rốc két thì chỉ mảnh gạch ngói đã đủ thương vong cả tiểu đội. Còn đánh chác ra cái khỉ gì!

Trời mùa đông mây mù rất thấp cứ một lúc lại một chiếc AD6 loại máy bay lái tự động đánh được trong mọi thời tiết ở độ cao mấy trăm mét từ biển bay vào tiếng máy bay lộng óc thắt ruột. A6A rải bom tọa độ khu núi Mật địa điểm bà con cán bộ thị xã Thanh Hóa sơ tán và trú ẩn rất đông. Chúng ném bom tọa độ từ hồi đêm. Để chuẩn bị chiến dịch đánh lớn vào cầu Hàm Rồng Bộ chỉ huy Mỹ cho máy bay đánh vào dân gây hoang mang và giảm bớt lực lượng hợp đồng chiến đấu với trung đoàn pháo cao xạ chốt bảo vệ cầu từ đầu cuộc chiến tranh (Trung đoàn 228 sau được gọi là đoàn Hàm Rồng).

Anh Nhung giao cây cờ chỉ huy cho anh Dương đứng vào hầm ở vị trí "cố vấn". Anh Dương giơ cao cây cờ chỉ huy. Ngay lúc ấy một chiếc A6A bay cắt ngang trận địa rất thấp tôi nhìn rõ rađa sục mặt đất úp xuống. Anh em tôi gọi là cái rậm ở xa thì bảo là cái râu máy bay. Bom nổ thành dây dài phía núi Mật. Tôi nghe rõ cả tiếng đá lở. Anh Dương giọng xúc động :

- Không nhìn thấy máy bay ta bắn theo màn đạn để bảo vệ đồng bào thị xã đang sơ tán trong chân núi Mật. Bom đạn Mỹ đã giết hại nhiều dân thường. Bắn mãnh liệt. Dù phải hy sinh là hy sinh bảo vệ đồng bào.

Anh nhắc lại từng tiếng:

- Pháo để sẵn góc bắn 25 độ.

- Khẩu đội trưởng kiểm tra xem tầm bắn có vướng nhà tầng nào không?

Báo cáo cả khu chỉ có mỗi nhà ba tầng trường thể thao ấy thôi.

- Ngắm tà trên nóc nhà tầng thể thao năm ly giác

- Chuẩn bị...

Chúng tôi nổ súng từng điểm xạ ngắn. Những chiếc A6A lái tự động có hai tên giặc lái chuẩn bị sẵn phần tử bay phần tử cắt bom vẫn lao vào rải bom. Một chiếc máy bay 24 quả bom. Bom nổ đập vào núi ập oàng không dứt.

Chỉ một lúc sau hai chiếc xe bò chở thi hài bà con bị bom sát hại đi qua trận địa chúng tôi. Đứng ở vị trí gần đường tôi hỏi được đây là số bà con bị chết ban đêm. ở chiếc xe đi trước một số thi hài đã được đặt trong quan tài. Trên chiếc xe sau người chết được phủ lên tấm bạt rách lỗ chỗ vì mảnh bom mảnh đá vỡ bắn vào. Những bàn chân thò ra ngoài tấm bạt dính đầy đất vàng và bụi đá trắng. Ngực tôi tức thở trái tim như bị co thắt lại.

Những chiếc xe bò chở người chết trong ngày hôm ấy tôi không dám đếm xem là bao nhiêu. Một không khí tang tóc và đớn đau phủ lên trận địa chúng tôi. Trong đời lính chiến tôi đã trải qua hàng trăm trận đánh. Có những trận đánh kết thúc trận địa chỉ còn mấy người như trận giữa năm 1968 ở Bến Thủy - thành phố Vinh anh Xương đại đội phó người Hoằng Hóa vốn là thầy giáo tôi rất yêu kính đã hy sinh thần kinh tôi cũng không bị chấn động mạnh bằng trận đánh này. Những chiếc xe chở xác đồng bào mình lộc cộc đi qua trận địa những người đẩy xe mặt nhòe nhoẹt nước mắt đầu rũ xuống trời mùa đông lạnh ngắt mưa mù mịt chúng tôi đều cảm thấy mình có lỗi. Lỗi lớn nhất là không bảo vệ được bố mẹ các anh chị em mình!...

Sau này nhiều lần về Thanh tôi một mình lặng lẽ đi tìm khu trận địa mùa đông vừa chiếm lĩnh vừa đánh máy bay địch gần chân núi Mật mà tôi chưa lần nào tìm ra. Chỉ đến lần vừa rồi đầu năm 2008 dự trại viết của chi hội nhà văn công an ở cùng có nhà văn Từ Nguyên Tĩnh Lê Xuân Giang. Anh Lê Xuân Giang là chính trị viên đại đội trên đồi C4 Hàm Rồng anh Từ Nguyên Tĩnh là chiến sỹ và là bạn của anh Giang. Được nghe các anh nói lại tôi mới thấy an lòng.

Đợt đó chiến dịch đó diễn ra khốc liệt. Đại đội chốt trên đồi C4 vãn người. Các trận địa Đồng Đá Nam Ngạn Yên Vực cũng mất nhiều anh em mình. Điều lớn nhất là ta giữ được cầu Hàm Rồng. Khí phách người Hàm Rồng bất tử - cây cầu bất tử. Lần ấy tôi đã đứng trên cầu dưới trời mưa nặng hạt hát bài "Chào sông Mã anh hùng". Tôi đứng tựa vào thành cầu tựa vào truyền thống tựa vào lịch sử tựa vào đồng đội đồng bào tôi để hát về sông Mã về Hàm Rồng về xứ Thanh bất diệt.

Vâng với thời gian ta có thể quên đi nhiều thứ để hướng tới tương lai xong với Hàm Rồng - Một biểu tượng anh hùng chói lọi của thời kỳ chống Mỹ cứu nước thì sẽ không bao giờ quên. Không bao giờ... !!!

                           (Trích bút ký lịch sử "Về xứ Thanh")

                                                   Đ.T

HÀN VIẾT HOAN

Tuổi thơ giữa tọa độ bom

Ký sự (Trích)

Cái hôm tôi còn ở dưới làng Vạn Sơn nằm ngửa cổ dưới chân đê đếm được ba mươi tư chiếc máy bay Mỹ bay vào đánh phá cầu Hàm Rồng chính là hôm ấy con đê sông Mã chạy qua làng tôi đẹp là thế mà bị bọn giặc trời Mỹ dùng bom phá băm nát cả một quãng dài. Mùa mưa lũ lại sắp đến mà lũ trên sông Mã thì cứ gọi là kinh hồn luôn. Dì tôi tức lắm ngày nào cũng chửi thằng giặc Mỹ: Đúng là quân ăn cướp. Đánh nhau với bộ đội không lại lại quay ra phá đê của dân? Sáng hôm ấy tôi đang vét cơm nguội thì mẹ tôi ở đâu chạy về giục: Đi sơ tán mau cả tau cũng phải đi. Để trâu đó cho nó ăn rơm khô. Xuống tạm làng ái Sơn rồi chiều lại về. Tôi với mẹ đeo túi quần áo để nhà lại cho dì trông rồi chạy ra đường làng. Trên đường làng nhiều người ở lại chăm lo sản xuất bây giờ có lệnh sơ tán khẩn cấp cũng phải đi ngay. Mọi người vừa đi vừa chạy như là bị ai đuổi. Xuống đến làng ái Sơn chừng mười giờ trưa thì bất ngờ tôi thấy hàng đàn hàng lũ máy bay Mỹ bay qua bổ nhào xuống làng tôi trút bom. Đạn pháo cao xạ vùng chân cầu Hàm Rồng nổ đen đặc trên bầu trời. Tên lửa Sam ở ngoài cánh đồng làng ái Sơn cũng lao vun vút về phía làng tôi đánh trả máy bay giặc. Khói lửa ở làng tôi đất đá vùng chân cầu bốc lên ùn ùn. Tôi lao lên mặt đê ở làng ái Sơn đứng ngóng về phía làng mình mà bụng dạ lo thót lại. Không hiểu tại sao hôm nay bọn Mỹ lại đánh phá làng tôi dữ dội thế nhỉ?

Quá trưa dì tôi quần áo dính đầy bùn đất người ngợm tả tơi chạy hộc tốc xuống làng ái Sơn gào lên thảm thiết: Chị Cò ơi! Chết hết cả rồi! Thịt người văng tung tóe vào trong làng chị ơi là chị ơi!. Mẹ tôi đứng chết lặng mãi sau mới nói: Ai chết chết ở mô mi bình tĩnh mà nói?. Số người đi sơ tán cũng xúm cả đến xung quanh dì tôi. ối trời ơi chết nhiều lắm! Dì tôi kêu lên rồi ngất xỉu. Đến chiều tối chúng tôi từ làng ái Sơn trở về làng. Một cảnh tượng rùng rợn đập vào mắt tôi: Người chết nằm la liệt ở sân kho Hợp tác xã. Xe ô tô chở quan tài về xếp đầy trong các gian nhà ngói. Người bị mất đầu người bị mất tay mất chân có người không còn hình thù gì nữa chỉ là mớ thịt bùng nhùng bùn đất dính đầy áo quần bị thổi bay đi đâu hết. Mà thật lạ ai cũng trắng trẻo thư sinh. Tối đến không nhà ai thắp đèn chỉ có những đốm nhang đỏ lập lòe ở sân kho hợp tác xã chập chờn rùng rợn kinh hoàng. Lúc này dì tôi mới sụt sùi kể: Theo lệnh của tỉnh học sinh sinh viên các trường trung học trong tỉnh về làng tôi đắp đê. Đoạn đê được đắp sáng nay nằm ở mé trên đầu xóm Chiến. Hàng trăm người cả các thầy cô giáo cũng lội xuống ruộng xắn đất vác lên đắp đoạn đê bị máy bay Mỹ ném bom hôm trước. Lũ sắp về mà. Trời ơi là trời? Mười giờ trưa hàng đàn máy bay Mỹ kéo đến cứ nhằm vào chỗ người đang đắp đê mà trút bom. Lúc đầu các thầy cô giáo và học sinh còn nằm ẹp xuống bùn để tránh về sau thì hoảng loạn chạy tứ tung cả mũ xác người bay lên trời văng cả vào nhà dân. Một số khác chạy như vỡ chợ vào trong thị xã. Máy bay Mỹ tập trung đánh phá một chập tồi cút thẳng ra biển. Dân quân làng tôi chạy lên nhặt từng cánh tay từng thi thể bị bầm giập cho vào ni lông vào xô chậu lội xuống bùn mò từng xác người cào đất tát nước cứu người bị thương. Nón mũ áo trắng áo nâu áo xanh bị hơi bom thổi bay tung tóe khắp mặt ruộng khắp thân đê. Mọi người trong làng bàn tán với nhau: Họ mặc áo trắng đội nón trắng nên mới bị máy bay Mỹ phát hiện tập trung bắn phá. Thê thảm quá! Đây là nỗi đau đớn tột cùng của cả làng tôi và mọi người dân trong tỉnh Thanh Hóa. Đó cũng là tội ác cực kỳ dã man của đế quốc Mỹ mà trời không dung đất không tha. Lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ra miền Bắc trái tim thơ trẻ của tôi phải chứng kiến cảnh đồng bào mình anh chị em học sinh sinh viên của quê hương mình bị bom Mỹ giết hại hàng loạt một cách dã man?

*

Những ngày sau đó làng tôi căng thẳng vô cùng. Bước sang tháng Mười năm Bảy hai các chú công an ở Đồn Cảnh sát Hàm Rồng cùng các chú dân quân trong làng cầm những chiếc loa bằng tôn sắt đi vào các ngõ suốt ngày "alô... alô!" thúc giục mọi người đi sơ tán triệt để một lần nữa. Ông già bà cả người đau ốm bệnh tật đều phải đưa đi sơ tán ngay. Chỉ trừ đơn vị dân quân của làng là phải ở lại làm nhiệm vụ. Những người đã đi sơ tán rồi không một ai được trở về làng nếu không được phép. Dì tôi bị ốm cũng được mẹ tôi đưa đi. Theo các chú công an và dân quân "alô" thông báo: Đợt này máy bay B52 sẽ đánh hủy diệt làng tôi và vùng chân cầu Hàm Rồng. Cả làng vắng tanh vắng ngắt không một tiếng chó sủa gà gáy. Dân quân ăn ở tập trung một nơi tối đến đi tuần các ngõ xóm.

Tôi lại lóc cóc dong "ông" trâu xuống làng Vạn Sơn. Mẹ tôi bảo: Lần ni thì chết mất thôi. Răng mà thằng Mỹ hắn ác rứa. Đánh vào làng thì còn nhà cửa mô mà ở? Dì tôi thì thủng thẳng: Chị Cò cứ lo hết chiến tranh lại dựng nhà mới để ở có chi mà sợ! Xuống đến nơi sơ tán được chừng hai ba ngày thì vào một đêm mẹ tôi lay mấy anh em tôi dậy giục đi xuống hầm. Tôi dụi mắt ngơ ngác: Có máy bay mô mẹ nờ? Mẹ tôi gắt: Không nghe thấy cái tiếng chi kêu trên trời à? Tôi dỏng tai có tiếng ì ì nặng nề như người ta xay cối đá từ xa đang vọng đến. Dì tôi lẩm nhẩm: Máy bay B52 đớ hôm nọ họp dân quân các anh ở trên thị xã về phổ biến nó chở nhiều bom nên tiếng kêu nghe rất nặng. Dì tôi vừa dứt lời thì đã nghe tiếng "rầm rầm" kéo dài từ trên làng tôi xuống nó giống như đoàn tàu hỏa chở nặng khi qua cầu Hàm Rồng vậy. Hết đợt "rầm rầm" kéo dài này đến đợt "rầm rầm" kéo dài khác tưởng như không bao giờ dứt lúc đầu hai tai còn chịu đựng được về sau nhức tai quá tôi phải lấy tay bịt chặt lại. Căn hầm nơi tôi đang trú ẩn cách xa nhà mười sáu mười bảy kilômét mà cũng bị đung đưa như đánh võng. Bà ngoại tôi luôn miệng niệm Phật cầu mong cho không ai việc gì. Đêm thứ nhất B52 vào rải thảm sáng ra mọi người đều nóng ruột muốn trở về làng xem nhà cửa có bị làm sao không nhưng chẳng ai được phép dời khỏi nơi sơ tán. Đêm thứ hai rồi đêm thứ ba tiếng "rầm rầm" vẫn kéo dài nhức nhối. Dì tôi sụt sùi: Nó rải bom như ri hắn ném bom răng mà trúng được. Anh trai tôi vốn là người ít nói cũng phải lên tiếng: Một hai năm nữa con lớn mẹ cho con đi bộ đội vô miền Nam đánh Mỹ như cậu của con đang ở trong bộ đội đặc công mẹ nờ! Bà ngoại tôi khóc: Bay đi hết đi. Vô nói với cậu mi giết giặc Mỹ thật nhiều hở? Tôi cũng tức tưởi: Con lớn con cũng đi bộ đội đánh Mỹ mẹ nờ. Trả thù cho làng mình phải không mẹ? Mẹ tôi lầm rầm: Cho tụi bay đi hết. Đánh xong Mỹ thì về làng lấy vợ!

Mãi gần một tuần sau các đợt ném bom rải thảm của máy bay B52 tôi mới được trở về làng. Chạy về đến bãi Âu Thuyền còn cách làng tôi gần một cây số tôi và mọi người dừng lại nhìn về làng mình: Chao ôi không còn nhận ra ngôi làng Nam Ngạn xinh đẹp như cánh lá sen của tôi nữa. Chỗ tôi đang đứng là vệt bom khi B52 bắt đầu rải thảm qua làng tôi nó xé nát khu vực xóm Toàn ở đầu làng vòng lên ao đình băm qua mặt đê sông Mã. Vệt bom B52 thứ hai từ lò vôi ở làng Minh Khai chạy qua cánh đồng Si quật tơi bời trận địa pháo cao xạ 100 ly ở cồn Đồng Sưởi lướt qua cồn Đồng Mau đập nát trận địa pháo ở Mỏm Lăng. Vệt bom B52 thứ ba bắt đầu từ giữa làng tôi kéo dài lên trận địa pháo ở bãi Nam Phát vòng qua đồi C4 sang núi Mắt Rồng. Vệt bom B52 thứ tư quật nát mố cầu Hàm Rồng ở bờ nam vòng qua làng Yên Vực làng Hoàng Long bên bờ sông Mã... Hố bom chi chít rộng lớn sâu hoắm. Đất đá nhà cửa lộn tùng phèo sập nát tan tành. Cây cối bị cháy rụi đổ ngôn ngang. Làng tôi có chín người chết một gia đình chủ quan không đi sơ tán có năm người bị sập hầm chết cả. Một cụ già ốm nặng liệt giường. Một chị mắc bệnh tâm thần bị văng mất cái đầu có mái tóc dài... Nhà tôi bị bay hai mái ngói tường nứt sắp đổ. Đất đá gạch ngói tre gỗ...ngổn ngang khắp làng. B52 Mỹ định xóa sổ làng tôi nhưng hơn một ngàn người dân làng tôi vẫn sống. Những ngôi nhà mái ngói rêu phong những hàng cau...vẫn đứng vững vàng. Ngoài đồng trên những miệng hố bom B52 cây lúa lại xanh tươi. Hàng trăm quả bom tấn bom tạ mà B52 rải thảm xuống làng tôi chỉ nói lên một điều: Đế quốc Mỹ hoàn toàn bất lực. Cây cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững hiên ngang nối đôi bờ Nam - Bắc cho các đoàn xe ra tiền tuyến. Làng tôi bị giặc Mỹ băm nát nhưng sức sống lại bất diệt!

                                                                      H.V.H

BÙI LÂM BẰNG

Đò Lèn nơi diễn ra


trận thử lửa đầu tiên

Ký sự lịch sử



 

Trên bản đồ phương vị của đô đốc tư lệnh hạm đội bảy của Mỹ ở Thái Bình Dương kinh độ 105 độ 47 phút đông vĩ độ 19 độ 98 phút bắc được đánh dấu đậm bằng chì đỏ với mật số tác chiến 22: Đó là Cầu Đò Lèn - một chiếc cầu nhỏ bé nhưng hết sức quan trọng trên đường quốc lộ 1 A con đường thiên lý bắc nam mạch máu giao thông quan trọng nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam - Một mục tiêu tác chiến được đối phương chọn làm mục tiêu tấn công đầu tiên của "Chiến dịch sấm rền 32 " (1) tháng 4 năm 1965 ở miền Bắc Việt Nam "Hòng cắt đứt con đường tiếp vận của Bắc Việt Nam" (2).

Cầu Đò Lèn cách thủ đô Hà Nội 131 ki lô mét về phía nam và cách Hàm Rồng 18 ki lô mét về phía bắc nằm vắt mình qua dòng sông Mã mà hai mố cầu bắc nam nằm trên địa phận hai huyện Hà Trung và Hậu Lộc của tỉnh Thanh Hóa.

Con sông Mã sau khi đi hơn nửa nghìn ki lô mét từ núi Pu Huôi Long (Điện Biên) đến đồng bằng Thanh Hóa được chia làm hai nhánh để trước khi đổ ra biển đông đều cùng với con đường thiên lý bắc nam tạo nên ở mỗi nhánh một cây cầu đi vào lịch sử đất nước: Cầu Hàm Rồng sừng sững hiên ngang soi bóng dòng xanh ở cửa ngõ phía bắc thành phố tỉnh lỵ Thanh Hóa và cầu Đò Lèn.

Phải chăng là ngẫu nhiên ở thế kỷ Hai mươi Đò Lèn lại trở thành nơi đụng đầu của lịch sử. Nơi cùng với Hàm Rồng Lạch Trường Phà Ghép... và cả nước biểu dương sức mạnh thần kỳ của dân tộc Việt Nam chiến đấu chống ngoại xâm.

Với quyết tâm "Cắt đứt đường tiếp vận của Bắc Việt Nam"(2). Bộ Quốc phòng Mỹ chủ trương tập trung một lực lượng lớn không quân đánh vào các cầu phà trong đó cầu Đò Lèn là một trong những mục tiêu quan trọng.

Thực hiện ý đồ đó từ tháng 2 năm 1965 đô đốc Grân-sáp Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã liên tục cho các loại máy bay U2 RF101 RF8 và cả máy bay không người lái liên tục thám sát vùng Đò Lèn và dọc đường quốc lộ 1A bắc Thanh Hóa. Trước tình hình đó hai đại đội pháo cao xạ thuộc trung đoàn 13 sư đoàn 213 của Quân khu Ba đang huấn luyện tại Ninh Bình đã được điều về đóng tại Đò Lèn.

Ngày 29 tháng 3 năm 1965 nhiều tốp máy bay trong đó có cả máy bay không người lái liên tục do thám vùng trời vùng biển và mặt đất Đò Lèn Cầu Cừ Hậu Lộc Lạch Trường...

Ngày mùng hai tháng tư trời Đò Lèn cao xanh vòi vọi mọi người dân đều ra đồng với tác phong khẩn trương của thời chiến mỗi dân quân còn khoác trên vai khẩu súng trường đầu đội mũ rơm. Đây đó trường học vang vang tiếng trẻ học bài. Bỗng có tiếng ì ầm từ đằng đông vọng tới chỉ lát sau xuất hiện hai chiếc máy bay do thám RF101 mầu xám xịt của đế quốc Mỹ bay dọc sông Lèn từ phía biển vào. Chúng lượn lờ trên cao một lúc rồi lại chuồn ra phía biển đông. Lập tức sáng hôm sau mùng 3 tháng 4 năm 1965 Huyện Hà Trung triệu tập lãnh đạo và xã đội trưởng của 25 xã trong toàn huyện quán triệt tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Huyện truyền đạt nhận định của trên: Có khả năng địch sẽ đánh lớn mà mục tiêu là cầu Đò Lèn và một số kho tàng cầu cống nhà ga.

Cuộc họp vừa bắt đầu được một lúc thì có tiếng máy bay. Lập tức tiếng kẻng phòng không từ các trạm gác phòng không trên đỉnh núi Phấn núi Đồng Chu núi Cả núi Chiếu Bạch núi Chung Chinh... dồn dập vang lên. Cuộc họp giải tán. Mọi người khẩn trương trở về địa phương chỉ đạo nhân dân sơ tán và chỉ huy chiến đấu. Hai đồng chí Huyện đội trưởng và Chính trị viên huyện đội Hà Trung đều tập trung về trận địa Đò Lèn trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Anh Phạm Hùng Sỹ xã đội trưởng Hà Ngọc cũng khoác nhanh khẩu K44 lên vai gò lưng đạp xe về trận địa Chùa Trần bên đầu cầu.

Lịch sử mãi mãi ghi nhớ cái thời khắc 8 giờ 45 phút sáng ngày ba tháng Tư năm 1965 đô đốc tư lệnh hạm đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương Bờ-lắc-bơớc đã ra lệnh cho 16 chiếc máy bay chiến đấu trên hai tầu sân bay Cô-ran-xi và Hen-cốc và hàng chục chiếc khác làm công việc tiếp liệu hộ tống cùng một lúc tập trung đánh phá Đò Lèn.

Đúng 9 giờ 16 chiếc máy bay A4 và F8 như đàn diều hâu điên cuồng gầm rú trên bầu trời Đò Lèn. Địch chia làm hai mũi mũi thứ nhất bổ nhào từ hướng nam ném bom xong lao thẳng ra hướng bắc. Mũi thứ hai bổ nhào từ đông sang tây. Mũi thứ hai này có lợi thế tận dụng được ánh sáng mặt trời nhưng tiết diện mục tiêu nhỏ. Tuy vậy địch vẫn chuyển sang đánh hướng này là chủ yếu vì chúng thấy dễ thoát thân hơn. Cùng lúc với công kích mục tiêu cầu Đò Lèn địch còn bố trí lực lượng đánh vào các trận địa pháo hòng làm giảm sự tấn công của ta. Liên tục cả giờ đồng hồ từng tốp từng tốp máy bay địch lượn gầm rú trên bầu trời và thi nhau bổ nhào trút bom như vãi trấu xuống cầu Lèn và các mục tiêu trận địa pháo kho lương thực bách hóa nhà ga xe lửa...

Lập tức lưới lửa phòng không của quân và dân Đò Lèn mà chủ yếu là đại đội pháo cao xạ 37 ly của trung đoàn 13 sư đoàn 213 (Quân khu 3) đại đội 14 5 ly của sư 304 (Phòng không) và các đơn vị dân quân của các xã Hà Lâm Hà Ngọc Hà Phong (Hà Trung) Đồng Lộc Đại Lộc (Hậu Lộc) tự vệ ga Đò Lèn... từ các trận địa Chùa Trần Đồng Xuân Bãi Nghè Đền Lý Bình Lâm Đại Lộc... đã trùm kín bầu trời bủa vây đàn quạ Mỹ. Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt. Ngay từ những phút đầu một chiếc A4D của Mỹ đã bị bắn rơi ngay tại chỗ.

Nhân dân hai bên bờ nam bắc cầu Lèn đã không quản hiểm nguy tham gia tiếp tế đạn dược cứu chữa thương binh tiếp nước uống hoa quả cho bộ đội dân quân và cành lá ngụy trang cho trận địa.

Cuộc chiến đấu ác liệt kéo dài đến gần 10 giờ. Lúc này dân quân và bộ đội ta phải bắn hết sức tiết kiệm đạn vì đạn được tiếp từ Bỉm Sơn vào cách cả chục kilômét. Quá 10 giờ trưa tốp máy bay cuối cùng trút vội loạt bom rồi lao nhanh ra phía biển.

Bầu trời Đò Lèn bình yên trở lại. Trời tháng tư vốn cao xanh vòi vọi ấy mà hôm nay đặc quánh khét lẹt khói bom. Từng cuộn khói đen ngòm bốc nhanh lên bầu trời. Tranh thủ lúc địch tạm ngừng bộ đội và dân quân ta ăn bữa trưa. Khẩu phần ăn là bánh nướng kẹo lạc nước si-rô từ cửa hàng bách hóa huyện ở Hà Ninh đưa vào.

Nhưng bình yên ở Đò Lèn không được bao lâu chỉ không đầy 30 phút sau từng đàn máy bay phản lực Mỹ từ phía hạm đội 7 gầm rú lao vào tiếp tục mở đợt công kích mới. Cuộc chiến đấu trở nên ác liệt và khẩn trương. Trời càng trưa nắng càng gắt cả bầu trời Đò Lèn nghi ngút khói bom mặt đất chao đảo như đưa võng nước sông Lèn như sôi sùng sục. Lửa đạn pháo 37 ly 14 ly 5 lửa đạn CKC K44 K50 như rạch bầu trời. Trận chiến càng ác liệt tinh thần chiến đấu của bộ đội dân quân càng lên cao ý chí chiến đấu càng ngoan cường. Đại đội phó Đoàn Văn Lưu ở trận địa Đại Lộc bị thương khắp cả tay chân đầu cổ nhưng anh vẫn không rời trận địa tinh thần và gương hy sinh dũng cảm của anh đã phấn khích tinh thần chiến đấu của dân quân bộ đội trên trận địa. Nhân dân hai bên đầu cầu không sợ hiểm nguy cũng tham gia tiếp đạn tải thương gánh nước uống cho bộ đội dân quân ngay trong khi máy bay địch đang gầm rú trên đầu. Lê Văn Trường học sinh trường cấp III Hà Trung tham gia tải đạn tải thương đã anh dũng hy sinh ngay trên trận địa khi chưa đầy 17 tuổi.

Trong tiếng rít tiếng xé tiếng gầm rú rùng rợn của bầy phản lực trên bầu trời Đò Lèn bỗng nổi tiếng ì ầm rồi tiếng nổ ùng ục. Rồi những cánh bay như những cánh én bạc lượn vun vút ẩn hiện trong mây. Mọi người cùng reo lên: Không quân ta xuất kích. Đây là thời khắc lịch sử của Không quân nhân dân Việt Nam lần đầu tiên Không quân Việt Nam xuất trận. Hai biên đội gồm 4 chiếc máy bay tiêm kích phản lực. Biên đội thứ nhất do Phạm Ngọc Lan chỉ huy trực tiếp đánh thọc sườn địch. Biên đội thứ hai do Trần Hanh chỉ huy có nhiệm vụ yểm hộ đã ra quân trận đầu trên bầu trời Đò Lèn Thanh Hóa. Lần đầu ra quân không quân ta mưu trí dũng cảm đã phối hợp chặt chẽ khiến cho địch hoảng sợ 2 chiếc F8 mang nhãn hiệu Hoa Kỳ đã bị không quân ta bắn cháy như hai bó đuốc rừng rực trên bầu trời Đò Lèn. Đánh thắng trận đầu ngày 3 tháng 4 năm 1965 trở thành ngày truyền thống của Không quân nhân dân Việt Nam.

Hàng trăm quả bom nhãn hiệu USA được sản xuất bằng công nghệ hiện đại từ bên kia bán cầu được những phương tiện bay cũng vô cùng hiện đại đưa đến vùng quê yên tĩnh xứ Thanh này tập trung vào cây cầu mỏng mảnh và dòng nước vốn rất đỗi hiền hòa hòng hủy diệt nó. Nhưng kỳ lạ thay hàng trăm quả bom ném xuống nhưng không một quả nào rơi trúng cầu (Và cả cho đến khi kết thúc chiến tranh cũng vẫn không có một quả bom nào rơi trúng cầu).

Sau nhiều đợt tổ chức tấn công với hàng trăm tấn bom ném xuống vẫn không phá hủy được mục tiêu. Địch thay đổi vũ khí bằng cách sử dụng loại rốc két LAV 127 ly (Tên lửa không đối đất). Đây là loại vũ khí lợi hại tuy sức công phá không lớn bằng bom nhưng có độ chính xác mục tiêu cao. Quả nhiên khoảng 4 giờ chiều ngày mùng 3 một loạt rốc két đã bắn trúng nhịp cầu phía bờ nam. Sức nóng của rốc két đã khiến các dầm sắt cong vênh nhịp giữa khuỵu xuống gần sát đáy sông kéo hai mố cầu nhả ra. Ngay lập tức các chiến sỹ cảm tử của đội cầu phà Đò Lèn và công nhân đường sắt đã lên cầu ngay dưới làn mưa bom để sửa chữa cầu quyết không để giao thông bị ngừng trệ. Dầm cầu võng xuống công nhân ta đã khắc phục bằng cách chồng thêm nhiều tầng dầm gỗ đồng thời gia cố mố cầu. Sau hơn 10 tiếng đồng hồ sửa chữa mạch máu giao thông đôi bờ nam bắc Đò Lèn lại được nối liền thông suốt. Kiên gan dũng cảm bảo vệ cầu đã là một kỳ tích mưu trí sáng tạo trong khắc phục sửa chữa cầu cũng là một kỳ tích của các chiến sỹ công nhân Việt Nam. Có lẽ điều đó chỉ có ở chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Đánh phá Đò Lèn Chỉ huy quân sự Mỹ hy vọng giành thế chủ động thu hút sự tập trung đối phó của ta để tiến đến đánh phá cầu Hàm Rồng "Gây điểm tắc lý tưởng" (2). Nhưng chúng đã lầm. Sáu chiếc máy bay của giặc Mỹ đã phải đền tội. Phi công Mỹ thiếu tá Vốt-đen đã bị dân quân Hậu Lộc bắt sống tại chỗ. Trong hai ngày oanh liệt mùng ba mùng bốn tháng tư năm sáu lăm quân và dân Đò Lèn đã bắn tan xác 12 máy bay giặc Mỹ. Góp phần cùng với Hàm Rồng Lạch Trường Phà Ghép bắn rơi 47 máy bay. Chiến công đầu đã làm nức lòng nhân dân Thanh Hóa và nhân dân cả nước. Giữ vững nhịp cầu nối liền mạch máu giao thông góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng Mùa xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Một cây cầu nhỏ bé một chiến tích anh hùng lừng danh sử sách. Quân và dân Đò Lèn mà cụ thể là Đảng bộ nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Hà Trung các xã Hà Phong Hà Ngọc Hà Lâm (Hà Trung) xã Đồng Lộc Đại Lộc (Hậu Lộc) đã được Đảng và nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đội cầu phà Đò Lèn được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Chiến thắng hạng Nhì. Hai đại đội dân quân xã Hà Ngọc và Hà Phong được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất anh Phạm Hùng Sỹ xã đội trưởng Hà Ngọc được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba chị Hoàng Thị Vường dân quân xã Hà Ngọc được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và được thay mặt quân dân Đò Lèn đi thăm Cu Ba được gặp Thủ tướng Phi đen Cáttơrô. Nhiều chiến sỹ dân quân chiến sỹ giao thông chiến sỹ bộ đội phòng không vinh dự được Bác Hồ gửi tặng huy hiệu của Người.

Đò Lèn - mảnh đất dòng sông cây cầu và trang sử oanh liệt hào hùng sẽ mãi mãi là niềm tự hào niềm ngưỡng vọng của nhân dân cả nước và bè bạn gần xa.

                                                                         B.L.B

(1) Chiến dịch "Sấm rền" từ tháng 3-1965 - 10-1968 đối phương leo thang chiến tranh ra miền Bắc ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc hòng cứu vãn sự sa lầy của chúng ở miền Nam.

(2) Quyết tâm chiến lược của Tổng thống Giôn sơn đối với kế hoạch leo thang chiến tranh ra miền Bắc.

More...

THƠ XỨ THANH THÁNG 4

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NHÀ THƠ MÃ GIANG LÂN

Tên khai sinh: Lê Văn Lân.

Quê quán: phường Nam Ngạn thành phố Thanh Hóa.

Giáo sư tiến sĩ văn học nghiên cứu giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1965. Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Paris 7 Cộng hòa Pháp năm 1998.

Hiện nay ông là Chủ nhiệm Bộ môn Văn học hiện đại Việt Nam; ủy viên Hội đồng Khoa học và Đào tạo trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn Hà Nội.

ủy viên Hội đồng Khoa học liên ngành Văn học - Báo chí Đại học Quốc gia Hà Nội

ủy viên Hội đồng Học hàm Giáo sư ngành Văn học

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam

Giải thưởng văn học: Giải thưởng thơ Báo Văn nghệ 1969-1970. Giải thưởng 5 năm thơ Hà Nội 1976-1981. Giải thưởng Văn học nghệ thuật của ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa 1987.

Các tác phẩm thơ: Bình minh và tiếng súng (1975). Hoa và dòng sông (1979). Một tình yêu như thế (1990). Những mảnh vỡ tiềm thức (2009). Về một cây cầu (2010)

Trụ cầu Hàm Rồng

Đạn hai mươi ly bắn thủng xi măng

Bom tấn ép bẻ cong cột sắt

Tên lửa nổ thép già thành nước

Trụ cầu Hàm Rồng chỉ làm bằng cốt sắt xi măng

Tinh mơ giặc ném bom

Tên lửa tầm xa phóng vội

Không ngày nào bọn cướp trời không tới

Không đêm nào bình yên

Cứ thế suốt bốn năm

Trụ cầu Hàm Rồng chỉ làm bằng cốt sắt xi măng

In xuống dòng sông

Là màu đỏ lá cờ

Như mặt trời mới mọc

Là lửa hàn nở trên từng thanh sắt

Những nụ cười công nhân

Những khẩu pháo phòng không

Một niềm đợi giặc

Các chiến sỹ cất cao tiếng hát

Mênh mông.

In xuống dòng sông

Là những đoàn tàu vận tải

Những đoàn xe chuyên cần nhẫn nại

Cứ thế suốt bốn năm

Trụ cầu Hàm Rồng chỉ làm bằng cốt sắt xi măng.

Trụ cầu ung dung đứng đó

Bọn giặc lái bị bắt qua đây cúi đầu run sợ

Cứ thế suốt bốn năm

Trụ cầu Hàm Rồng chỉ làm bằng cốt sắt xi măng.

                                     1969

                                     M.G.L

MÃ GIANG LÂN

Bình minh trên sông

Tiếng gõ thuyền đánh cá râm ran

Sóng xô nhau chạy

Ráng đỏ mặt sông bập bùng lửa cháy

Là lúc bình minh lên

Làng tôi nhìn ra sông

Mỗi sáng thấy mặt mình soi nước

Nghe tiếng cuộc đời xung quanh quen thuộc

Mát lành trong gió ban mai

Con sông dài

Bên bồi bên lở

Người ra đi lòng vẫn nhớ

Những bình minh quê nhà

Bình minh lên đàn cá ngạnh ăn xa

Đàn cá mương dập dình mép nước

Những ngôi sao hiện trên cát ướt

Sáng lung linh

Có trưa hè

nắng lóe

Súng dân quân nổ dòn hơn tiếng gõ thuyền đánh cá

Xác giặc cháy bùng như ráng đổ mặt sông

Đó cũng là bình minh trên sông

                                1969

                                M.G.L


 

MÃ GIANG LÂN

Một sáng Hàm Rồng

Tôi ngả lưng nhờ chiếc võng ca dao

người kiểm lâm quá trẻ

chỉ biết tấm bia ghi công

Đại đội 4 cao xạ anh hùng

và giao thông hào đã bê tông hóa

chỉ biết cây xanh rì rào

đàn gà líu ríu chạy quanh cổ tích

Từ đây tới biển rất gần

gần hơn tưởng tượng

gió lơ phơ chiếc áo cũ vắt vai

bao người lính năm xưa nằm xuống

bây giờ phiêu diêu nơi nào

Cây xanh đến nao lòng

hồn các anh xanh thế không

bây giờ mấy người mơ mộng

nhìn lung linh cầu đổ bóng mặt sông

Bốn lăm năm lại một sáng này

nhà chài tung lưới

đoàn tàu hối hả lao vào

hình như ngày hè găm đầy mắt lưới.

                             M.G.L

MAI NGỌC THANH

Những ngày giặc Mỹ đánh đê

Những ngày giặc Mỹ đánh đê

Những ngày này vất vả

Tháng sáu mẹ đắp đê sông Mã

Gió Lào quạt lửa sém da

Giặc ấp tới máu đê loang đỏ

Tháng tám cha đắp đê sông Chu

Trước mặt đó cống Ngọc Quang chúng phá

Suốt tuần mưa cơn nước lớn đã về...

Ta nâng đê lên bằng từng xẻng đất

Một quả bom Mỹ đánh vào đê khoét xuống mười

lăm thước

Cha nhìn mưa cha nhìn con đê

Nghĩ vai mình không thể yếu đi...

Thuở chưa có nước Mỹ

Ta đã có Sơn Tinh

Chúng muốn làm Thủy Tinh sao được

Nên một cây cỏ may mảnh mai

Cũng góp vào đê cái phần bền chắc

Con đê ta yêu

Như lịch sử các Vua Hùng dựng nước

Nhiều thế hệ qua đi

Nhiều mồ hôi nước mắt

Cái còn lại là sự tích diệu kỳ

Như cuộc đời ta có trong vòng đê

Những ngày này giặc Mỹ đánh đê

Những ngày này bi bô con hát

Chỉ điều ấy đã làm mẹ và cha

Chẳng tính về những nỗi khó nhọc

Bài giảng văn mai lớn con học

Có Sơn Tinh làm núi thắng Thủy Tinh...

Bài địa lý mai lớn con học

Có con đê sông Hồng sông Mã sông Chu

Và có thêm lời mẹ sẽ kể

Tháng sáu mẹ đắp đê...

Và có thêm lời cha sẽ kể

Tháng tám cha đắp đê...

Đến lúc ấy đắp đê

Chiếc đòn đánh tre chiếc đầm bằng đá

Với con có thể là xa lạ

Riêng ý nghĩ thì hẳn con vẫn giống mẹ và cha.

                     Đê sông Chu tháng 8 - 1972

                                    M.N.T

VŨ THỊ KHƯƠNG

Nhịp cầu mùa xuân

Bao nhiêu lần tôi qua cầu Hoàng Long

Bấy nhiêu lần tôi ngắm dòng sông Mã

Bấy nhiêu lần tôi ngước nhìn nhịp cầu Hàm Rồng

Bấy nhiêu lần cảm xúc trong tôi

Ký ức thuở xưa kỷ niệm một thời

Đôi bờ sông Mã...

Hàm Rồng những năm bom đạn

Lưới lửa bủa vây thiêu cháy tàu bay Mỹ.

Đen kịt những đụn khói bom

Trắng những vành khăn

Lở loét đất đai...

Cành lá dừa làng Yên Vực quệt ngang trời

Như cánh tay quệt ngang lau nước mắt

Trên mặt mẹ và em...

Hàm Rồng.

Mốc thời gian đau thương đã qua

Tất cả bây giờ là ký ức

Nhớ và quên...

Có cả những mối tình lỡ dở

Đợi chờ nhau...

Hàm Rồng.

Pho tượng lịch sử

Đầu gối lên núi Ngọc núi Rồng

Dòng sông Mã

Mùa lũ cuồn cuộn đỏ ngầu

Mùa xuân trong xanh màu ngọc bích

Lá hoa đôi bờ phủ lên chứng tích.

Lá hoa đôi bờ làm nên mùa xuân

Mùa xuân của nhịp cầu anh hùng

Tôi đi trên cầu Hoàng Long

Ngắm nhịp cầu Hàm Rồng

Lịch sử và chứng tích.

Gió xuân vuốt mái tóc tôi

Mênh mông câu hò sông Mã

Mênh mông câu hò Thanh Hóa.

                     V.T.K


 

NGUYỄN MINH KHIÊM

Sông Mã vẫn chảy bên
 
chái nhà ta

Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta

Sợi dây đàn căng từ thời tiền sử

Kể cho ta nghe những khúc ca về máu

Máu đã sinh ra đất thế mà

Máu đã sinh ra tên làng tên nước

Không có máu thì các thầy địa lý không có cách nào nhìn ra thế núi hình sông rồng cuộn hổ ngồi

Không có máu thì không có cách nào tìm ra huyệt đất

phát vương phát tướng

Máu kể về nơi những nghệ nhân chọn đất làm khuôn

Đúc trống đồng dâng lên các vua Hùng làm Quốc nhạc

Kể về sự sạt lở của các triều đại

Bao nhiêu ấn tín lâu đài thành trầm tích

trong giai thoại ngụ ngôn truyền thuyết

Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta

Chiếc khăn cũ mèm lau mồ hôi hết thế hệ này sang

thế hệ khác

Lau những ánh mắt mệt mỏi vật lộn trong cuộc mưu sinh

Lau những lưỡi cuốc lưỡi cày mẻ quằn mòm vẹt tìm về

hạt lúa

Lau những khuôn mặt tàn tro đốt rơm đốt rạ sau mùa

Làm rạng lên những nụ cười khô cằn lem luốc

Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta

Tiếng nấc nghẹn của những con khác hắt lên da thịt

nghìn năm

Những nỗi đau chưa tan xé vào ruột đất

Và những thứ chỉ còn là bong bóng

Chiếc bè gỗ quẫy đạp không muốn chết vì mắc cạn

Sợ chạm vô hài cốt những con thuyền

Con hến con trai đêm đêm ngoi lên thở trộm

nơi chôn rau cắt rốn của mình

Thỉnh thoảng vọng tiếng mõ dân chài thả lưới tìm hồi ức.

Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta

Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta...

8-1-2009

N.M.K

LÊ VĂN QUẾ

Huyền thoại Hàm Rồng

Tặng các bạn 7 + 3 khóa 70 - 73

Tôi đến Hàm Rồng

Tìm lại tên em.

Tấm bia đá lặng im!

Trên đồi sim tím.

Tôi đứng lặng!

Dù không còn gặp!

Cô nữ sinh sư phạm năm nào

Tuổi chưa tròn mười tám

Xa nhà nhớ mẹ nức nở thâu đêm.

Bảo vệ cầu giữ mạch máu giao thông

Cùng tuyến đê Nam Ngạn

Em đã hiến dâng

Dòng máu trong em thấm vào hồn thiêng sông núi

Khi máy bay thù quần đảo kín không trung

Trút những trận bom chúng phá cầu điên cuồng rồ dại.

Vượt mưa bom những hòm đạn từ tay em tiếp sức

Những gánh đất em đắp dày công sự

Đắp dày tuyến đê Nam Ngạn - Hàm Rồng

Giữa mưa bom

Bỗng!

Em ngã xuống!

Máu em nhuộm đỏ đất em nằm!

Tạc trọn dáng hình em giữa mảnh đất thiêng

Tên em thành tên núi tên sông

Tên cánh đồng tên làng quê thôn bản

Thành bài ca vang ngọn đồi Quyết Thắng

Thành rộng dài cuồn cuộn những dòng sông.

Dáng hình em trên đất lửa Hàm Rồng

Như vì sao sáng giữa trời cao rộng

Thành ngọn đuốc lửa hờn căm bất tận

Thổi tới chúng tôi lòng dũng cảm tấn công thù

Tất cả thẳng căn trút vào họng súng

Vít pháo đài bay cùng thần sấm con ma cánh cụp

cánh xòe.

Chúng tôi đã tiến công

Đã làm nên Huyền thoại Hàm Rồng

Trong đó có em cô nữ sinh sư phạm

Canh cánh lo toan cho sự nghiệp trồng người

Em làm tấm gương soi

Quyết giữ cầu giữ mạch máu giao thông

Giữ tuyến đê Nam Ngạn.

Em cùng chúng tôi lao vào chiến trận

Ngày đêm đánh máy bay thù

Làm nên huyền thoại

Trên đồi sim tím

Tên em đỏ thắm trong hàng quân anh dũng

Tôi kính cẩn nghiêng mình

Thắp nén hương trầm

Khẽ gọi tên em

Cô nữ sinh sư phạm -

Huyền thoại Hàm Rồng.

          14-6-1972 - 14-6-2009

                    L.V.Q



 

HOÀNG KHÔI

Hàm Rồng

Hàm Rồng chín mươi chín ngọn như tường thành

hiên ngang kiêu hãnh

Hàm Rồng sông Mã hợp lưu những sông Bưởi sông

Chu cuồn cuộn chảy về đông

Hàm Rồng Hỏa Châu Phong - núi Ngọc như một tòa

núi lửa

Hàm Rồng - Đông Sơn - Hạc Oa - Đông Khối - Núi Đọ

châu tuần

Hàm Rồng văn minh đá núi Thiệu Dương

Hàm Rồng văn minh Đông Sơn trống đồng Ngọc Lũ

Hàm Rồng Đô Dương theo Hai Bà Trưng sống bên

cùng lịch sử

Hàm Rồng Triệu Thị Trinh cưỡi gió mạnh đạp sóng dữ rạng danh Lệ Hải Bà vương

Hàm Rồng Chàng út Đại vương cùng dân Bào Thôn

ra trận

Hàm Rồng người đẹp Dương Xá Vân Nga vì nước

chuyển hoàng bào

Hàm Rồng mênh mông đất rộng trời cao

Hàm Rồng Nguyễn Huệ hội quân đánh giặc Thanh

từ làng Thọ Hạc

Hàm Rồng tàu qua cầu nao nao nhớ Tản Đà cảm tác

Hàm Rồng mùng ba mùng bốn tháng Tư năm một

chín sáu lăm lưới lửa đan dày đặc.

Hàm Rồng diệt Con Ma Thần Sấm bắt giặc lái Hoa Kỳ

Hàm Rồng những C4 anh hùng những dũng sĩ núi Ngọc những công nhân cầu chiến đấu hy sinh

Hàm Rồng cầu đứng vững nhà máy đèn vẫn bừng

sáng điện

Hàm Rồng - Dân Hàm Rồng - Quân những nét đẹp sáng ngời những lớp người thân thiện

Hàm Rồng là những người dân thường Yên Vực -

Nam Ngạn - Hoàng Long

Hàm Rồng Ngô Thị Tuyển tiếp đạn thành nữ anh hùng

Hàm Rồng Nguyễn Thị Hằng chỉ huy dân quân xứng

danh là chiến sỹ.

Hàm Rồng Ngô Thọ Sáu Ngô Thọ Lạn bơi thuyền

cùng Hải quân bắn máy bay Mỹ

Hàm Rồng ni cô Đàm Xuân mở rộng chùa chăm sóc

thương binh.

Hàm Rồng trời xanh én bạc Nguyễn Văn Cốc Trần

Hanh lùa bọn lưu manh AD6 F105 F111.

Hàm Rồng đất lành gái huyện Hậu già huyện

Hoằng bắn diệt bọn giặc trời.

Hàm Rồng Nguyễn Bá Ngọc trẻ thơ xả thân cứu trẻ

Hàm Rồng biết bao lớp người vô danh hy sinh vì độc

lập tự do

Hàm Rồng xứ Thanh đất Việt dựng cơ đồ: đường lên

hạnh phúc rộng thênh thênh thời đại Hồ Chí Minh

rạng rỡ.

                        Tháng Giêng 2010

                                   H.K




 

LÊ TUẤN LỘC

Bên kia cầu văn



Bên kia đầu cầu Văn

Có một con đường nhỏ

Có một hàng dừa xanh

Giếng làng trong lung linh

Em thường ra gánh nước

Bên kia đầu cầu Văn

Có một hàng dâm bụt

Có một mái nhà gianh

Chiều chiều tôi đi học

Em gặp tôi bên đình

Hai bà mẹ chúng mình

Hẹn thông gia từ bé

Nhưng em thì nhỏ quá

Còn anh đã to rồi

Chưa bao giờ hẹn hò

Chưa bao giờ gió trăng

Thế mà như là có...

Thế mà như đã từng...

Vụt cái hai đứa mình

Đã thành hai người lớn

Hai đứa hai phương trời

Quê nhà xa thăm thẳm

Gặp nhau chỉ mỉm cười

Đáng nói không nói nữa

Cái cầu Văn nho nhỏ

Bây giờ còn không em?

         Hà Nội mùa xuân 2008

                   L.T.L



 

NGUYỄN VĂN TÚY

Giấc mơ xuân

Thủ thỉ là... thủ thỉ ơi!

Xuân về gặp bạn - Cho tôi gặp mình

Làn da trắng nét cười duyên

Dấu trong tà áo mỏng mềm phất bay

Thời gian lọt kẽ bàn tay

Tiếng cười trong vắt cái ngày ấy đâu?

Xuân thì tựa bóng chim câu

Cánh đào ửng đỏ nhuốm màu thời gian

Giá mà xuân mãi đừng tàn

Cho tôi với bạn... cho nàng gặp anh

Đêm xuân gặp giấc mơ lành

Tôi về bên bạn đã thành trăm năm!

                     Xuân Canh Dần 2010

                                N.V.T

NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN

Xanh dòng sông lịch sử


 

Cầu Hàm Rồng

Đồi cao Xê bốn

Giữa mưa bom anh bắn

Nòng pháo lửa nung...

...Tình quê dâng trào

Dán mắt dõi tầng cao

Em cởi áo

đắp nòng pháo...

Máy bay rơi trên đồng

Máy bay rơi trên sông...

Anh hy sinh!

Dân làng xông lên

Thay anh làm pháo thủ

Cờ tổ quốc tung bay

Giữa dòng xanh đất lửa

Cho từng chuyến xe qua

Còi nhà máy vươn xa

Giữa đồi bờ sông Mã!

N.T.H.V

More...

THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ HỮU LOAN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Thương tiếc Nhà thơ Hữu Loan
 
tác giả Màu tím hoa sim



Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan sinh năm 1916 tại quê làng Vân Hoàn xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa được học bổng toàn phần đậu Thành chung và tự học tú tài bán phần thi đậu thư ký văn phòng phủ Toàn quyền nhưng không đi làm. Sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận bình dân (1936) rồi tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa). Năm 1943 ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê và khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra ông làm Phó Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Trước năm 1945 ông đã từng là cộng tác viên các báo tập san xuất bản tại Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám ông được cử làm ủy viên Văn hóa trong ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa phụ trách bốn ty: Giáo dục Thông tin Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ Hữu Loan tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam làm chủ bút báo Chiến sỹ Đại đoàn 304. Sau năm 1954 ông làm việc tại Báo Văn nghệ. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Ông nổi tiếng với các bài thơ Màu tím hoa sim Đèo cả Hoa lúa Những làng đi qua Quách Xuân Kỳ...

Ông từ trần vào lúc 19 giờ 00 ngày 18-3-2010 tại quê nhà hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang nhà thơ Hữu Loan đã được Hội Nhà văn Việt Nam địa phương và gia đình tổ chức trọng thể. Nhà thơ Hữu Thỉnh Phó Chủ tịch đoàn chủ tịch UBTQ liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc điếu văn.

Đoàn Hội Văn nghệ Thanh Hóa do nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm Chủ tịch Hội dẫn đầu đoàn Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thanh Hóa do nhà văn Kiều Vượng Chi hội trưởng dẫn đầu cùng đông đảo các nhà văn nhà thơ Thanh Hóa đã đến viếng và tiễn đưa nhà thơ Hữu Loan đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua
 
hôm nay và mai sau của chúng ta

(Điếu văn do nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc tại lễ tang nhà thơ Hữu Loan ngày 19-3-2010)

Làng Vân Hoàn hôm nay có tang lớn.

Nhà thơ Hữu Loan một trong những người nổi danh nhất của xứ Thanh đã vĩnh biệt chúng ta vào hồi 19 giờ ngày 18 tháng 3 năm 2010 tại quê nhà hưởng thọ 95 tuổi. Ông ra đi nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chờ xong một chuyến xe đá. Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời mà chính là bước sang một thế giới khác sinh sinh hóa hóa vô thường.

Nhà thơ Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916 trong một gia đình nông dân có truyền thống nho học. Với tư chất thông minh vượt trội ông luôn luôn là học sinh xuất sắc ở trường làng và đã dễ dàng lấy được tấm bằng thành chung danh giá. Một người xuất sắc và tu chí như thế nhưng cuộc đời lại không sẵn sàng chào đón ông.

Hữu Loan bắt đầu vào đời bằng con đường dạy học. Song đây chỉ là trạm dừng chân tạm thời để chuẩn bị điều kiện cho một bước ngoặt quyết định. Bước ngoặt ấy đã đến khi Hữu Loan tròn 20 tuổi. Từ các lớp học chật chội ông xổ lồng đến với cách mạng hăng hái diễn thuyết tuyên truyền viết báo trong Mặt trận Dân chủ ở Thanh Hóa.

Qua lớp người trẻ tuổi nhiệt thành và đầy sinh lực như Hữu Loan người ta cảm thấy tầm vóc và sức mạnh một cuộc cách mạng thực sự đang làm thay đổi tận gốc rễ một xã hội vô luân và lỗi thời.

Đến khi phong trào bị đàn áp Hữu Loan trở về quê nhà và trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của Mặt trận Việt Minh huyện Nga Sơn. Năm 1945 Hữu Loan tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền tại Nga Sơn với cương vị Phó Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa. Sau cách mạng tháng Tám Hữu Loan được cử làm ủy viên văn hóa trong ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa phụ trách bốn Ty: Giáo dục Thông tin Thương chính và Công chính.

Cho đến khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ ông tham gia quân đội giữ chức chính trị viên tiểu đoàn phụ trách báo Chiến sĩ sư đoàn 304.

Đây là thời kỳ hoàng kim kết hợp tuyệt đẹp hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca của Hữu Loan. Thơ của ông được đón nhận nồng nhiệt ở mọi miền đất nước làm say lòng hàng triệu con người làm bịn rịn nhớ nhung bao ngả đường kháng chiến.

Ai đã đến với Hữu Loan dù chỉ một lần thì không bao giờ quên.

Ông là nhà thơ hai lần đặc sắc. Đặc sắc ở hồn quê và đặc sặc trong khí phách. Những bài Đèo Cả Quách Xuân Kỳ táo bạo mới mẻ ngang tàng và quyết liệt bao nhiêu thì Màu tím hoa sim Hoa lúa Những làng đi qua quyến luyến tha thiết bấy nhiêu. Hữu Loan là nhà thơ đi tiên phong trong việc đổi mới thơ trong kháng chiến chống Pháp tài hoa rất mực mà cốt cách đến điều. Từ thơ ông và từ con người ông toát lên vẻ đẹp thuần khiết của một thi nhân và ngọn lửa ấm của một nghệ sĩ cách mạng.

Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua hôm nay và mai sau của chúng ta. Những gì mà ông đã để lại sẽ còn mãi mãi với quê hương và đất nước và sẽ được các thế hệ đời sau nhớ mãi. Nhớ mãi nhà thơ chiến sĩ nhớ mãi một nghị lực một tấm gương hiếm có vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để giữ trọn sự cao khiết của hồn thơ. Hình ảnh thi nhân chở đá xây đời từ sự thật đầm đìa mồ hôi đã thành biểu tượng cao lộng.

Hữu Loan quyết liệt vinh danh cách mạng và kháng chiến vinh danh quê hương xứ sở. Từ hồn quê hôm nay Hữu Loan nhập cùng hồn nước. Gánh nặng của đời thi nghiệp thơ giờ đây ông dồn lên vai tất cả chúng ta.

Trong giờ phút đau thương và mất mát vô hạn này thay mặt Hội Nhà văn Việt Nam Hội Văn nghệ Thanh Hóa và thi hữu cả nước xin gửi tới gia quyến nhà thơ những lời chia buồn thống thiết nhất.

Xin vĩnh biệt nhà thơ Hữu Loan kính mến.


 

Tiễn tác giả Màu tím hoa sim

về miền cực lạc


 

Cái tin nhà thơ Hữu Loan từ biệt dương gian như một luồng gió mạnh ngay trong đêm 18-3-2010 bằng điện thoại đã tràn đi khắp nơi trong nước và cả nước ngoài. Và sáng hôm sau nhiều trang mạng đã tiếp ứng truyền tới hàng triệu độc giả. Không có nhiều nhà thơ mà cuộc ra đi cuối cùng lại được nhiều người quan tâm với sự cảm phục yêu mến và cả tò mò sốt sắng đến vậy.

Những con đường thôn Vân Hoàn vốn lặng lẽ như mọi con đường nông thôn bỗng người đổ ập về từ khắp nơi. Không kể con cháu đầy đàn khăn tang trắng xóa.

Cũng chưa kể người làng người xã người huyện có cả những học sinh đồng phục đã chật ních cả khoảnh vườn. Xe máy ô tô rầm rập từ các nơi đổ về. Nóng lòng nhất là các nhà báo trẻ từ Hà Nội từ Thanh Hóa. Lại có cả người cưỡi máy bay từ thành phố Hồ Chí Minh ra. Và rất nhiều là các anh em văn nghệ Thanh Hóa những người vốn coi Hữu Loan như người cha người anh như niềm tự hào của riêng mình. Đám tang nhà thơ không thể thiếu món thơ. Văn Đắc ngồi trên sân nhà văn hóa thôn ngay sau nhà Hữu Loan viết một bài thơ viếng cụ. Huy Trụ mang đến một bài chép nắn nót mới viết lúc sáng. Trịnh Ngọc Dự tâm sự đang suy nghĩ... Lại nhiều bài thơ khác của những bạn yêu thơ kính trọng Hữu Loan treo trên tường nhà lối ngõ.

Một đám tang to nhất từ trước đến nay và có lẽ rất lâu sau thôn Vân Hoàn xã nga Lĩnh huyện Nga Sơn hiếm có đám nào to đến thế.

Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam do nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội dẫn đầu kính cẩn cúi đầu tiễn biệt.

Cái quan định luận. Thực ra mọi người đã hiểu Hữu Loan đã biết giá trị thơ và đời ông từ lâu. Nhưng trong giờ khắc tiễn biệt trước cái nhìn thăm thẳm hư vô từ tấm ảnh thờ của thi sĩ đàn anh nhà thơ Hữu Thỉnh đã đọc bài điếu văn "định luận" một cách sơ bộ vắn tắt nhưng cơ bản nhất về Hữu Loan: Hữu Loan là bậc lão thành cách mạng là nhà thơ đặc sắc ở hồn quê và đặc sặc trong khí phách ông đã quyết liệt vinh danh đất nước quê hương. Những gì mà ông đã để lại sẽ còn mãi mãi với quê hương và đất nước và sẽ được các thế hệ đời sau nhớ mãi. Đó là những đánh giá chính thức đúng đắn đầy tính nhân văn.

Đúng giờ đã định giờ Mùi - 3 giờ chiều linh cữu Nhà thơ được con cháu và dân làng đưa ra khỏi nhà căn nhà mà Hội Văn nghệ tỉnh đã xây tặng ông nơi ông đã sống gần 20 năm cuối cùng của cuộc đời đầy mệt nhọc trăn trở mà vinh quang của mình.

Đám đưa chầm chậm trên đường làng nhằm hướng núi mà đi tới. Bóng chiếc quan tài đỏ và đoàn người cứ lặng lẽ trôi mãi vào hướng núi trong trời chiều hoe nắng cái cảnh cứ lâng lâng ngọt lịm dẫn dắt tâm tưởng người vào chốn vô định mênh mang.

Đây là quả núi mà một thời Hữu Loan đẽo từng tảng đá chất lên xe thồ làm kế sinh nhai. Giờ đây núi lại đón nhận ông làm chỗ mãi mãi cho linh hồn ông yên nghỉ. Chợt nhớ một câu thơ Hữu Loan viết về tướng quân huyền thoại Nguyễn Sơn: "Một đám tang đi không bao giờ tới huyệt." Câu thơ xuống thang đầy những gập ghềnh chứ không bằng phẳng như giờ ta chép lại. Cũng như vị tướng mà thi sĩ coi như thần tượng Hữu Loan thuộc vào số ít người.

Hữu Loan



Đèo Cả

Đèo Cả!

Đèo Cả!

núi cao ngất!

mây trời Ai Lao

sầu đại dương

Dặm về heo hút

Đá bia mù sương!

Bên quán Hồng Quân

Người

ngựa

mỏi

Nhìn dốc

ngồi than

thương

ai

lên

đường!

Chầy ngày

lạc giữa núi

sau chân

lối vàng

xanh tuôn

Dưới cây

bên suối độc

cheo leo

chòi canh

như biên cương

Tóc

râu

trùm

vai rộng

Không nhận ra

người làng

Rau khe

cơm vắt

áo phai mầu sa trường

Ngày thâu

vượn hú

Đêm canh

gặp hùm

lang thang!

Gian nguy

lòng không nhạt

Căm thù trăm năm xa

máu thiêng sôi dào dạt

tự nguồn thiêng

ông cha

- Cầu xây chiến lũy ngất

đây hình hài niên hoa!

- Xâm lăng!

- Xâm lăng!

súng

thèm

gươm

khát!

- Ai ngân

lung lay

đêm quê nhà!

Khách ghé thăm Đèo Cả

Hậu phương từ rất xa

Ăn với nhau

bữa heo rừng

công thui

chấm muối

ngủ với nhau

sạp rừng

nửa tối

biệt nhau

rừng hoang

canh gà

Râu ngược

chào nhau

bên sườn núi

Giặc từ Vũng Rô bắn tới

Giặc từ trong tràn ra

Nhưng Đèo Cả

vẫn

giữ

vững

Chân đèo Nam

máu giặc

bao lần

nắng khô

Sau mỗi lần thắng

Những người lính Đèo Cả

về bên suối

đánh cờ

Người hái cam rừng

ăn nheo mắt

Người vá áo

thiếu kim

mài sắt

Người đập mảnh chai

vểnh cằm

cạo râu...

Suối mang bóng người

soi

những

về

đâu?!

(1946)

(Rút từ tập thơ Màu tím hoa sim NXB Hội nhà văn - 1990)

More...

THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ HỮU LOAN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Thương tiếc Nhà thơ Hữu Loan
 
tác giả Màu tím hoa sim

Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan sinh năm 1916 tại quê làng Vân Hoàn xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa được học bổng toàn phần đậu Thành chung và tự học tú tài bán phần thi đậu thư ký văn phòng phủ Toàn quyền nhưng không đi làm. Sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận bình dân (1936) rồi tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa). Năm 1943 ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê và khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra ông làm Phó Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Trước năm 1945 ông đã từng là cộng tác viên các báo tập san xuất bản tại Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám ông được cử làm ủy viên Văn hóa trong ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa phụ trách bốn ty: Giáo dục Thông tin Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ Hữu Loan tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam làm chủ bút báo Chiến sỹ Đại đoàn 304. Sau năm 1954 ông làm việc tại Báo Văn nghệ. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Ông nổi tiếng với các bài thơ Màu tím hoa sim Đèo cả Hoa lúa Những làng đi qua Quách Xuân Kỳ...

Ông từ trần vào lúc 19 giờ 00 ngày 18-3-2010 tại quê nhà hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang nhà thơ Hữu Loan đã được Hội Nhà văn Việt Nam địa phương và gia đình tổ chức trọng thể. Nhà thơ Hữu Thỉnh Phó Chủ tịch đoàn chủ tịch UBTQ liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc điếu văn.

Đoàn Hội Văn nghệ Thanh Hóa do nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm Chủ tịch Hội dẫn đầu đoàn Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thanh Hóa do nhà văn Kiều Vượng Chi hội trưởng dẫn đầu cùng đông đảo các nhà văn nhà thơ Thanh Hóa đã đến viếng và tiễn đưa nhà thơ Hữu Loan đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua
 
hôm nay và mai sau của chúng ta

(Điếu văn do nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc tại lễ tang nhà thơ Hữu Loan ngày 19-3-2010)

Làng Vân Hoàn hôm nay có tang lớn.

Nhà thơ Hữu Loan một trong những người nổi danh nhất của xứ Thanh đã vĩnh biệt chúng ta vào hồi 19 giờ ngày 18 tháng 3 năm 2010 tại quê nhà hưởng thọ 95 tuổi. Ông ra đi nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chờ xong một chuyến xe đá. Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời mà chính là bước sang một thế giới khác sinh sinh hóa hóa vô thường.

Nhà thơ Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916 trong một gia đình nông dân có truyền thống nho học. Với tư chất thông minh vượt trội ông luôn luôn là học sinh xuất sắc ở trường làng và đã dễ dàng lấy được tấm bằng thành chung danh giá. Một người xuất sắc và tu chí như thế nhưng cuộc đời lại không sẵn sàng chào đón ông.

Hữu Loan bắt đầu vào đời bằng con đường dạy học. Song đây chỉ là trạm dừng chân tạm thời để chuẩn bị điều kiện cho một bước ngoặt quyết định. Bước ngoặt ấy đã đến khi Hữu Loan tròn 20 tuổi. Từ các lớp học chật chội ông xổ lồng đến với cách mạng hăng hái diễn thuyết tuyên truyền viết báo trong Mặt trận Dân chủ ở Thanh Hóa.

Qua lớp người trẻ tuổi nhiệt thành và đầy sinh lực như Hữu Loan người ta cảm thấy tầm vóc và sức mạnh một cuộc cách mạng thực sự đang làm thay đổi tận gốc rễ một xã hội vô luân và lỗi thời.

Đến khi phong trào bị đàn áp Hữu Loan trở về quê nhà và trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của Mặt trận Việt Minh huyện Nga Sơn. Năm 1945 Hữu Loan tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền tại Nga Sơn với cương vị Phó Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa. Sau cách mạng tháng Tám Hữu Loan được cử làm ủy viên văn hóa trong ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa phụ trách bốn Ty: Giáo dục Thông tin Thương chính và Công chính.

Cho đến khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ ông tham gia quân đội giữ chức chính trị viên tiểu đoàn phụ trách báo Chiến sĩ sư đoàn 304.

Đây là thời kỳ hoàng kim kết hợp tuyệt đẹp hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca của Hữu Loan. Thơ của ông được đón nhận nồng nhiệt ở mọi miền đất nước làm say lòng hàng triệu con người làm bịn rịn nhớ nhung bao ngả đường kháng chiến.

Ai đã đến với Hữu Loan dù chỉ một lần thì không bao giờ quên.

Ông là nhà thơ hai lần đặc sắc. Đặc sắc ở hồn quê và đặc sặc trong khí phách. Những bài Đèo Cả Quách Xuân Kỳ táo bạo mới mẻ ngang tàng và quyết liệt bao nhiêu thì Màu tím hoa sim Hoa lúa Những làng đi qua quyến luyến tha thiết bấy nhiêu. Hữu Loan là nhà thơ đi tiên phong trong việc đổi mới thơ trong kháng chiến chống Pháp tài hoa rất mực mà cốt cách đến điều. Từ thơ ông và từ con người ông toát lên vẻ đẹp thuần khiết của một thi nhân và ngọn lửa ấm của một nghệ sĩ cách mạng.

Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua hôm nay và mai sau của chúng ta. Những gì mà ông đã để lại sẽ còn mãi mãi với quê hương và đất nước và sẽ được các thế hệ đời sau nhớ mãi. Nhớ mãi nhà thơ chiến sĩ nhớ mãi một nghị lực một tấm gương hiếm có vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để giữ trọn sự cao khiết của hồn thơ. Hình ảnh thi nhân chở đá xây đời từ sự thật đầm đìa mồ hôi đã thành biểu tượng cao lộng.

Hữu Loan quyết liệt vinh danh cách mạng và kháng chiến vinh danh quê hương xứ sở. Từ hồn quê hôm nay Hữu Loan nhập cùng hồn nước. Gánh nặng của đời thi nghiệp thơ giờ đây ông dồn lên vai tất cả chúng ta.

Trong giờ phút đau thương và mất mát vô hạn này thay mặt Hội Nhà văn Việt Nam Hội Văn nghệ Thanh Hóa và thi hữu cả nước xin gửi tới gia quyến nhà thơ những lời chia buồn thống thiết nhất.

Xin vĩnh biệt nhà thơ Hữu Loan kính mến.


 

Tiễn tác giả Màu tím hoa sim

về miền cực lạc


 

Cái tin nhà thơ Hữu Loan từ biệt dương gian như một luồng gió mạnh ngay trong đêm 18-3-2010 bằng điện thoại đã tràn đi khắp nơi trong nước và cả nước ngoài. Và sáng hôm sau nhiều trang mạng đã tiếp ứng truyền tới hàng triệu độc giả. Không có nhiều nhà thơ mà cuộc ra đi cuối cùng lại được nhiều người quan tâm với sự cảm phục yêu mến và cả tò mò sốt sắng đến vậy.

Những con đường thôn Vân Hoàn vốn lặng lẽ như mọi con đường nông thôn bỗng người đổ ập về từ khắp nơi. Không kể con cháu đầy đàn khăn tang trắng xóa.

Cũng chưa kể người làng người xã người huyện có cả những học sinh đồng phục đã chật ních cả khoảnh vườn. Xe máy ô tô rầm rập từ các nơi đổ về. Nóng lòng nhất là các nhà báo trẻ từ Hà Nội từ Thanh Hóa. Lại có cả người cưỡi máy bay từ thành phố Hồ Chí Minh ra. Và rất nhiều là các anh em văn nghệ Thanh Hóa những người vốn coi Hữu Loan như người cha người anh như niềm tự hào của riêng mình. Đám tang nhà thơ không thể thiếu món thơ. Văn Đắc ngồi trên sân nhà văn hóa thôn ngay sau nhà Hữu Loan viết một bài thơ viếng cụ. Huy Trụ mang đến một bài chép nắn nót mới viết lúc sáng. Trịnh Ngọc Dự tâm sự đang suy nghĩ... Lại nhiều bài thơ khác của những bạn yêu thơ kính trọng Hữu Loan treo trên tường nhà lối ngõ.

Một đám tang to nhất từ trước đến nay và có lẽ rất lâu sau thôn Vân Hoàn xã nga Lĩnh huyện Nga Sơn hiếm có đám nào to đến thế.

Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam do nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội dẫn đầu kính cẩn cúi đầu tiễn biệt.

Cái quan định luận. Thực ra mọi người đã hiểu Hữu Loan đã biết giá trị thơ và đời ông từ lâu. Nhưng trong giờ khắc tiễn biệt trước cái nhìn thăm thẳm hư vô từ tấm ảnh thờ của thi sĩ đàn anh nhà thơ Hữu Thỉnh đã đọc bài điếu văn "định luận" một cách sơ bộ vắn tắt nhưng cơ bản nhất về Hữu Loan: Hữu Loan là bậc lão thành cách mạng là nhà thơ đặc sắc ở hồn quê và đặc sặc trong khí phách ông đã quyết liệt vinh danh đất nước quê hương. Những gì mà ông đã để lại sẽ còn mãi mãi với quê hương và đất nước và sẽ được các thế hệ đời sau nhớ mãi. Đó là những đánh giá chính thức đúng đắn đầy tính nhân văn.

Đúng giờ đã định giờ Mùi - 3 giờ chiều linh cữu Nhà thơ được con cháu và dân làng đưa ra khỏi nhà căn nhà mà Hội Văn nghệ tỉnh đã xây tặng ông nơi ông đã sống gần 20 năm cuối cùng của cuộc đời đầy mệt nhọc trăn trở mà vinh quang của mình.

Đám đưa chầm chậm trên đường làng nhằm hướng núi mà đi tới. Bóng chiếc quan tài đỏ và đoàn người cứ lặng lẽ trôi mãi vào hướng núi trong trời chiều hoe nắng cái cảnh cứ lâng lâng ngọt lịm dẫn dắt tâm tưởng người vào chốn vô định mênh mang.

Đây là quả núi mà một thời Hữu Loan đẽo từng tảng đá chất lên xe thồ làm kế sinh nhai. Giờ đây núi lại đón nhận ông làm chỗ mãi mãi cho linh hồn ông yên nghỉ. Chợt nhớ một câu thơ Hữu Loan viết về tướng quân huyền thoại Nguyễn Sơn: "Một đám tang đi không bao giờ tới huyệt." Câu thơ xuống thang đầy những gập ghềnh chứ không bằng phẳng như giờ ta chép lại. Cũng như vị tướng mà thi sĩ coi như thần tượng Hữu Loan thuộc vào số ít người.

Hữu Loan



Đèo Cả

Đèo Cả!

Đèo Cả!

núi cao ngất!

mây trời Ai Lao

sầu đại dương

Dặm về heo hút

Đá bia mù sương!

Bên quán Hồng Quân

Người

ngựa

mỏi

Nhìn dốc

ngồi than

thương

ai

lên

đường!

Chầy ngày

lạc giữa núi

sau chân

lối vàng

xanh tuôn

Dưới cây

bên suối độc

cheo leo

chòi canh

như biên cương

Tóc

râu

trùm

vai rộng

Không nhận ra

người làng

Rau khe

cơm vắt

áo phai mầu sa trường

Ngày thâu

vượn hú

Đêm canh

gặp hùm

lang thang!

Gian nguy

lòng không nhạt

Căm thù trăm năm xa

máu thiêng sôi dào dạt

tự nguồn thiêng

ông cha

- Cầu xây chiến lũy ngất

đây hình hài niên hoa!

- Xâm lăng!

- Xâm lăng!

súng

thèm

gươm

khát!

- Ai ngân

lung lay

đêm quê nhà!

Khách ghé thăm Đèo Cả

Hậu phương từ rất xa

Ăn với nhau

bữa heo rừng

công thui

chấm muối

ngủ với nhau

sạp rừng

nửa tối

biệt nhau

rừng hoang

canh gà

Râu ngược

chào nhau

bên sườn núi

Giặc từ Vũng Rô bắn tới

Giặc từ trong tràn ra

Nhưng Đèo Cả

vẫn

giữ

vững

Chân đèo Nam

máu giặc

bao lần

nắng khô

Sau mỗi lần thắng

Những người lính Đèo Cả

về bên suối

đánh cờ

Người hái cam rừng

ăn nheo mắt

Người vá áo

thiếu kim

mài sắt

Người đập mảnh chai

vểnh cằm

cạo râu...

Suối mang bóng người

soi

những

về

đâu?!

(1946)

(Rút từ tập thơ Màu tím hoa sim NXB Hội nhà văn - 1990)

More...

THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ HỮU LOAN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Thương tiếc Nhà thơ Hữu Loan
 
tác giả Màu tím hoa sim



Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan sinh năm 1916 tại quê làng Vân Hoàn xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa được học bổng toàn phần đậu Thành chung và tự học tú tài bán phần thi đậu thư ký văn phòng phủ Toàn quyền nhưng không đi làm. Sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận bình dân (1936) rồi tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa). Năm 1943 ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê và khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra ông làm Phó Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Trước năm 1945 ông đã từng là cộng tác viên các báo tập san xuất bản tại Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám ông được cử làm ủy viên Văn hóa trong ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa phụ trách bốn ty: Giáo dục Thông tin Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ Hữu Loan tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam làm chủ bút báo Chiến sỹ Đại đoàn 304. Sau năm 1954 ông làm việc tại Báo Văn nghệ. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Ông nổi tiếng với các bài thơ Màu tím hoa sim Đèo cả Hoa lúa Những làng đi qua Quách Xuân Kỳ...

Ông từ trần vào lúc 19 giờ 00 ngày 18-3-2010 tại quê nhà hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang nhà thơ Hữu Loan đã được Hội Nhà văn Việt Nam địa phương và gia đình tổ chức trọng thể. Nhà thơ Hữu Thỉnh Phó Chủ tịch đoàn chủ tịch UBTQ liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc điếu văn.

Đoàn Hội Văn nghệ Thanh Hóa do nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm Chủ tịch Hội dẫn đầu đoàn Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thanh Hóa do nhà văn Kiều Vượng Chi hội trưởng dẫn đầu cùng đông đảo các nhà văn nhà thơ Thanh Hóa đã đến viếng và tiễn đưa nhà thơ Hữu Loan đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua
 
hôm nay và mai sau của chúng ta

(Điếu văn do nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc tại lễ tang nhà thơ Hữu Loan ngày 19-3-2010)

Làng Vân Hoàn hôm nay có tang lớn.

Nhà thơ Hữu Loan một trong những người nổi danh nhất của xứ Thanh đã vĩnh biệt chúng ta vào hồi 19 giờ ngày 18 tháng 3 năm 2010 tại quê nhà hưởng thọ 95 tuổi. Ông ra đi nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chờ xong một chuyến xe đá. Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời mà chính là bước sang một thế giới khác sinh sinh hóa hóa vô thường.

Nhà thơ Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916 trong một gia đình nông dân có truyền thống nho học. Với tư chất thông minh vượt trội ông luôn luôn là học sinh xuất sắc ở trường làng và đã dễ dàng lấy được tấm bằng thành chung danh giá. Một người xuất sắc và tu chí như thế nhưng cuộc đời lại không sẵn sàng chào đón ông.

Hữu Loan bắt đầu vào đời bằng con đường dạy học. Song đây chỉ là trạm dừng chân tạm thời để chuẩn bị điều kiện cho một bước ngoặt quyết định. Bước ngoặt ấy đã đến khi Hữu Loan tròn 20 tuổi. Từ các lớp học chật chội ông xổ lồng đến với cách mạng hăng hái diễn thuyết tuyên truyền viết báo trong Mặt trận Dân chủ ở Thanh Hóa.

Qua lớp người trẻ tuổi nhiệt thành và đầy sinh lực như Hữu Loan người ta cảm thấy tầm vóc và sức mạnh một cuộc cách mạng thực sự đang làm thay đổi tận gốc rễ một xã hội vô luân và lỗi thời.

Đến khi phong trào bị đàn áp Hữu Loan trở về quê nhà và trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của Mặt trận Việt Minh huyện Nga Sơn. Năm 1945 Hữu Loan tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền tại Nga Sơn với cương vị Phó Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa. Sau cách mạng tháng Tám Hữu Loan được cử làm ủy viên văn hóa trong ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa phụ trách bốn Ty: Giáo dục Thông tin Thương chính và Công chính.

Cho đến khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ ông tham gia quân đội giữ chức chính trị viên tiểu đoàn phụ trách báo Chiến sĩ sư đoàn 304.

Đây là thời kỳ hoàng kim kết hợp tuyệt đẹp hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca của Hữu Loan. Thơ của ông được đón nhận nồng nhiệt ở mọi miền đất nước làm say lòng hàng triệu con người làm bịn rịn nhớ nhung bao ngả đường kháng chiến.

Ai đã đến với Hữu Loan dù chỉ một lần thì không bao giờ quên.

Ông là nhà thơ hai lần đặc sắc. Đặc sắc ở hồn quê và đặc sặc trong khí phách. Những bài Đèo Cả Quách Xuân Kỳ táo bạo mới mẻ ngang tàng và quyết liệt bao nhiêu thì Màu tím hoa sim Hoa lúa Những làng đi qua quyến luyến tha thiết bấy nhiêu. Hữu Loan là nhà thơ đi tiên phong trong việc đổi mới thơ trong kháng chiến chống Pháp tài hoa rất mực mà cốt cách đến điều. Từ thơ ông và từ con người ông toát lên vẻ đẹp thuần khiết của một thi nhân và ngọn lửa ấm của một nghệ sĩ cách mạng.

Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua hôm nay và mai sau của chúng ta. Những gì mà ông đã để lại sẽ còn mãi mãi với quê hương và đất nước và sẽ được các thế hệ đời sau nhớ mãi. Nhớ mãi nhà thơ chiến sĩ nhớ mãi một nghị lực một tấm gương hiếm có vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để giữ trọn sự cao khiết của hồn thơ. Hình ảnh thi nhân chở đá xây đời từ sự thật đầm đìa mồ hôi đã thành biểu tượng cao lộng.

Hữu Loan quyết liệt vinh danh cách mạng và kháng chiến vinh danh quê hương xứ sở. Từ hồn quê hôm nay Hữu Loan nhập cùng hồn nước. Gánh nặng của đời thi nghiệp thơ giờ đây ông dồn lên vai tất cả chúng ta.

Trong giờ phút đau thương và mất mát vô hạn này thay mặt Hội Nhà văn Việt Nam Hội Văn nghệ Thanh Hóa và thi hữu cả nước xin gửi tới gia quyến nhà thơ những lời chia buồn thống thiết nhất.

Xin vĩnh biệt nhà thơ Hữu Loan kính mến.


 

Tiễn tác giả Màu tím hoa sim

về miền cực lạc


 

Cái tin nhà thơ Hữu Loan từ biệt dương gian như một luồng gió mạnh ngay trong đêm 18-3-2010 bằng điện thoại đã tràn đi khắp nơi trong nước và cả nước ngoài. Và sáng hôm sau nhiều trang mạng đã tiếp ứng truyền tới hàng triệu độc giả. Không có nhiều nhà thơ mà cuộc ra đi cuối cùng lại được nhiều người quan tâm với sự cảm phục yêu mến và cả tò mò sốt sắng đến vậy.

Những con đường thôn Vân Hoàn vốn lặng lẽ như mọi con đường nông thôn bỗng người đổ ập về từ khắp nơi. Không kể con cháu đầy đàn khăn tang trắng xóa.

Cũng chưa kể người làng người xã người huyện có cả những học sinh đồng phục đã chật ních cả khoảnh vườn. Xe máy ô tô rầm rập từ các nơi đổ về. Nóng lòng nhất là các nhà báo trẻ từ Hà Nội từ Thanh Hóa. Lại có cả người cưỡi máy bay từ thành phố Hồ Chí Minh ra. Và rất nhiều là các anh em văn nghệ Thanh Hóa những người vốn coi Hữu Loan như người cha người anh như niềm tự hào của riêng mình. Đám tang nhà thơ không thể thiếu món thơ. Văn Đắc ngồi trên sân nhà văn hóa thôn ngay sau nhà Hữu Loan viết một bài thơ viếng cụ. Huy Trụ mang đến một bài chép nắn nót mới viết lúc sáng. Trịnh Ngọc Dự tâm sự đang suy nghĩ... Lại nhiều bài thơ khác của những bạn yêu thơ kính trọng Hữu Loan treo trên tường nhà lối ngõ.

Một đám tang to nhất từ trước đến nay và có lẽ rất lâu sau thôn Vân Hoàn xã nga Lĩnh huyện Nga Sơn hiếm có đám nào to đến thế.

Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam do nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội dẫn đầu kính cẩn cúi đầu tiễn biệt.

Cái quan định luận. Thực ra mọi người đã hiểu Hữu Loan đã biết giá trị thơ và đời ông từ lâu. Nhưng trong giờ khắc tiễn biệt trước cái nhìn thăm thẳm hư vô từ tấm ảnh thờ của thi sĩ đàn anh nhà thơ Hữu Thỉnh đã đọc bài điếu văn "định luận" một cách sơ bộ vắn tắt nhưng cơ bản nhất về Hữu Loan: Hữu Loan là bậc lão thành cách mạng là nhà thơ đặc sắc ở hồn quê và đặc sặc trong khí phách ông đã quyết liệt vinh danh đất nước quê hương. Những gì mà ông đã để lại sẽ còn mãi mãi với quê hương và đất nước và sẽ được các thế hệ đời sau nhớ mãi. Đó là những đánh giá chính thức đúng đắn đầy tính nhân văn.

Đúng giờ đã định giờ Mùi - 3 giờ chiều linh cữu Nhà thơ được con cháu và dân làng đưa ra khỏi nhà căn nhà mà Hội Văn nghệ tỉnh đã xây tặng ông nơi ông đã sống gần 20 năm cuối cùng của cuộc đời đầy mệt nhọc trăn trở mà vinh quang của mình.

Đám đưa chầm chậm trên đường làng nhằm hướng núi mà đi tới. Bóng chiếc quan tài đỏ và đoàn người cứ lặng lẽ trôi mãi vào hướng núi trong trời chiều hoe nắng cái cảnh cứ lâng lâng ngọt lịm dẫn dắt tâm tưởng người vào chốn vô định mênh mang.

Đây là quả núi mà một thời Hữu Loan đẽo từng tảng đá chất lên xe thồ làm kế sinh nhai. Giờ đây núi lại đón nhận ông làm chỗ mãi mãi cho linh hồn ông yên nghỉ. Chợt nhớ một câu thơ Hữu Loan viết về tướng quân huyền thoại Nguyễn Sơn: "Một đám tang đi không bao giờ tới huyệt." Câu thơ xuống thang đầy những gập ghềnh chứ không bằng phẳng như giờ ta chép lại. Cũng như vị tướng mà thi sĩ coi như thần tượng Hữu Loan thuộc vào số ít người.

Hữu Loan



Đèo Cả

Đèo Cả!

Đèo Cả!

núi cao ngất!

mây trời Ai Lao

sầu đại dương

Dặm về heo hút

Đá bia mù sương!

Bên quán Hồng Quân

Người

ngựa

mỏi

Nhìn dốc

ngồi than

thương

ai

lên

đường!

Chầy ngày

lạc giữa núi

sau chân

lối vàng

xanh tuôn

Dưới cây

bên suối độc

cheo leo

chòi canh

như biên cương

Tóc

râu

trùm

vai rộng

Không nhận ra

người làng

Rau khe

cơm vắt

áo phai mầu sa trường

Ngày thâu

vượn hú

Đêm canh

gặp hùm

lang thang!

Gian nguy

lòng không nhạt

Căm thù trăm năm xa

máu thiêng sôi dào dạt

tự nguồn thiêng

ông cha

- Cầu xây chiến lũy ngất

đây hình hài niên hoa!

- Xâm lăng!

- Xâm lăng!

súng

thèm

gươm

khát!

- Ai ngân

lung lay

đêm quê nhà!

Khách ghé thăm Đèo Cả

Hậu phương từ rất xa

Ăn với nhau

bữa heo rừng

công thui

chấm muối

ngủ với nhau

sạp rừng

nửa tối

biệt nhau

rừng hoang

canh gà

Râu ngược

chào nhau

bên sườn núi

Giặc từ Vũng Rô bắn tới

Giặc từ trong tràn ra

Nhưng Đèo Cả

vẫn

giữ

vững

Chân đèo Nam

máu giặc

bao lần

nắng khô

Sau mỗi lần thắng

Những người lính Đèo Cả

về bên suối

đánh cờ

Người hái cam rừng

ăn nheo mắt

Người vá áo

thiếu kim

mài sắt

Người đập mảnh chai

vểnh cằm

cạo râu...

Suối mang bóng người

soi

những

về

đâu?!

(1946)

(Rút từ tập thơ Màu tím hoa sim NXB Hội nhà văn - 1990)

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

       THƠ HÀM RỒNG


       HÀM RỒNG THƠ


(Đọc tập Hàm Rồng - thơ NXB Thanh Hóa năm 2010)



                                           Văn Đắc

Khi nói về Hàm Rồng người ta thường liên tưởng đến cả một vùng thiên nhiên lịch sử con người ở đấy. Đó là các cặp liên từ: Hàm Rồng - Sông Mã; Hàm Rồng - Đông Sơn Hàm Rồng - Núi Đọ Hàm Rồng - Núi Ngọc Núi Rồng - Thành Hạc Hàm Rồng - Đò Lèn - Phà Ghép và Hàm Rồng - Thanh Hóa. Tất cả các liên từ đều cho ta một ấn tượng đẹp - xứ Thanh. Thiên nhiên đã bày đặt ra từ xa xưa Hàm Rồng nơi sơn thủy hữu tình - một miền thơ:

Non xanh xanh

Nước xanh xanh

Nước non như vẽ bức tranh tình

(Tản Đà)

Đấy là nơi nhiều thi nhân mặc khách thăm thú đề thơ. Thi sĩ - nhà vua Lê Thánh tông đến đây "Đề động Long Quang"

Vẻ đẹp tận rừng khe tít tắp

Như mời ngự giá tới thăm riêng

Phan Huy ích - Vị quan trông coi việc an ninh ở Thanh Hóa đến "Long Hạm Nham tức hứng"

Kia núi Bàn A trông đối diện

Ai hay tạo hóa khéo kỳ công

Núi sông Hàm Rồng vừa phô vẻ đẹp vừa gợi tình người như sông núi có hồn làm ai qua cũng phải động lòng xao xuyến

Lên cao thấy rõ non cùng nước

Tiếng ốc thành xưa lạnh núi sầu

(Đêm trăng qua núi Hàm Rồng của Lê Thực Đình)

Thi sĩ Tản Đà "Qua Hàm Rồng hứng bút":

Cảnh còn biếc nước xanh non

Dẫu ai tóc trắng duyên còn thắm tơ

Để ai thương nhớ đợi chờ

Mà ai đi mãi bao giờ đến nơi

Tập "Hàm Rồng - thơ" NXB Thanh Hóa ấn hành vào dịp chào đón kỷ niệm 45 năm ngày chiến thắng Hàm Rồng do Ban Liên lạc Cựu chiến binh Hàm Rồng tổ chức tác phẩm. Đấy là một tập hợp lưu niệm đáng quý về tư liệu văn học Hàm Rồng. Và góp thêm những chứng tích lịch sử oai hùng về chiếc cầu Hàm Rồng huyền thoại.

Đó là chiếc cầu - biểu tượng cao đẹp của ý chí chiến thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng suốt một thời cả dân tộc ta đánh giặc Mỹ xâm lược. Suốt bao nhiêu năm những là "đạn 20 ly" "bom tấn" "tên lửa" "Thần sấm" "Con ma"... hết ngày rồi đêm nhằm vào chiếc cầu mà "Trụ cầu ung dung đứng đó/ Bọn giặc lái bị bắt qua đây run sợ/ Cứ thế suốt bốn năm/ Trụ cầu Hàm Rồng chỉ làm bằng sắt thép xi măng" (Trụ cầu Hàm Rồng - Mã Giang Lân). ở chính nơi đó sông Mã vẫn đón những bình minh lao động với những mẻ lưới cá đầy và những bình minh chiến thắng hiện ra trong pháo sáng trong khi máy bay bùng cháy trên mặt sông (Bình minh trên sông - Mã Giang Lân).

Hàm Rồng với một không gian rộng của cuộc chiến tranh nhân dân đã ngời sáng lên gương mặt đất nước con người và lịch sử trân trọng. Thanh Hóa quê hương của Đò Lèn Phà Ghép sông Mã sông Chu... nơi nào cũng âm vang bài ca của người thắng trận.

Chào Đông Sơn nơi văn minh tha thiết

Của dân tộc từ mùa chim Lạc Việt

Chào Đông Sơn thôn đánh Mỹ hiên ngang

Lồng lộng trời xanh nhìn qua những cửa hang

(Chào Đông Sơn - Huy Cận)

Cuộc chiến đấu của Hàm Rồng Nam Ngạn Yên Vực Đông Sơn Hoằng Hóa Phà Ghép Đò Lèn... là bản anh hùng ca dội lên hòa vào dàn hợp xướng chống Mỹ của cả nước. Những trường ca những bài thơ dài nhiều chương của Trinh Đường Mã Giang Lân Mạnh Lê Từ Nguyên Tĩnh... là những câu chuyện bằng thơ những đường nét khắc chạm những hình khối phù điêu hình tượng anh chiến sỹ chị dân quân những bà mẹ nuôi quân những ông già chuyền đạn những trận đánh quyết tử những niềm vui trào nước mắt những tấm lòng yêu thương những ước mơ hy vọng... Có thể nói Hàm Rồng là nơi gặp gỡ của nhiều nhà thơ nhà văn là nơi sinh hạ nhiều tác phẩm mang đậm chất anh hùng ca và tình ca về nhân dân đất nước.

Tập Hàm Rồng thơ do ba chàng nguyên là chiến sỹ pháo cao xạ Hàm Rồng lại là nhà văn nhạc sỹ nên tập thơ vừa lộ ra chất trí tuệ vừa tỏ rõ tâm tình. Khá đầy đủ những tác phẩm thơ tiêu biểu về Hàm Rồng suốt từ xưa đến thời chống Mỹ và trong xây dựng hòa bình được tuyển trọn. Các cây bút trong tỉnh ngoài tỉnh chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp đều được chọn và sắp xếp hợp lý. Đặc biệt các cây bút chiến sỹ Hàm Rồng được chọn vào tập sách đã tạo thêm màu sắc chân thực một cách hồn nhiên tin cậy.

Họ nói:

Chúng tôi đón cái vui sướng bất ngờ

Bằng nhạy cảm của giác quan người lính

(Tiếng chim trên trận địa - Lê Đình Bằng)

Họ tâm sự:

Và từ đây lịch sử đã chọn rồi

Đoàn Trung Dũng phất cao cờ quyết thắng

ở trận tuyến này - Hàm Rồng Nam Ngạn

Giữ nhịp cầu đứng vững giữa bom rơi

(Tâm sự người lính - Nguyễn Minh Chúc)

Phần nhiều tác phẩm ghi lại những dấu ấn không phai mờ những tài liệu sống về Hàm Rồng cần lưu giữ. Cũng không ít tác phẩm vừa có chiều cao tư tưởng vừa có chiều sâu nghệ thuật giàu tính hình tượng khái quát. Rất nhiều bài thơ câu thơ cảm động:

Thương quá cái ông hay hút thuốc lào

Giờ nằm lại giữa chiến trường khói lửa

Nhớ lắm cái ông ván cờ còn đánh dở

Đã nằm lại nơi đâu...

quân tốt đã đi rồi

(Trường văn hóa Trung đoàn Hàm Rồng - Ngọc Khuê)

Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh nguyên là chiến sỹ pháo cao xạ Hàm Rồng sau hơn bốn mươi năm trở lại viết những câu thơ nhớ thương thăm thẳm:

Mái tóc bạn chớm bạc

Đầu ta cũng bớt tóc

Cây ai trồng trên trận địa đồi cao đã lên xanh

Cây ơi cây có nhớ

Người ta trẻ năm nào?

(Trở lại Hàm Rồng)

Lê Xuân Giang "Có một mối tình" trong khói lửa Hàm Rồng. Bài thơ kể chuyện mà ý tứ cô đọng nhiều câu nhiều đoạn vừa triết lý vừa tình cảm:

Từ ngày yêu nhau đã mấy bận chia tay

Ta không tính xa nhau bằng độ dài địa lý

Vì em vẫn gần anh trong ý nghĩ

Nên chẳng bao giờ ta xa nhau.

Hàm Rồng thơ - Thơ Hàm Rồng nhòa lẫn vào nhau tạo một ấn tượng về một vùng thiên nhiên một kỳ tích đang gợi ý cho chúng ta mở ra rất nhiều dự định mới đẹp cho mai sau.

V.Đ

    CA TRÙ NÉT TRUYỀN THỐNG


ĐANG ĐƯỢC BẢO LƯU VÀ PHÁT TRIỂN

                                                               Trần Thị Liên

Hát ca trù là một hình thức sinh hoạt Văn hóa truyền thống đặc sắc thời kỳ trước cách mạng tháng Tám 1945. Theo các nhà nghiên cứu hát ca trù xưa kia phổ biến ở các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc và có ở hầu khắp các tỉnh Nghệ An Thanh Hóa Ninh Bình Hà Tây Hà Nội... Trong đó Hà Tĩnh Hà Nội Thanh Hóa được xem là 3 nơi có sinh hoạt ca trù sớm nhất.

Về xuất xứ của hát ca trù Thanh Hóa các nhà nghiên cứu cho rằng khá xa xưa ông bà tổ ca trù ở làng Ngọc Trung xã Xuân Minh huyện Thọ Xuân ngày nay. Chuyện kể rằng vào thời Hán Vũ đế (năm 111 - T.c.n) làng Ngọc Trung có chàng Lê Phong đàn giỏi hát hay nổi tiếng trong vùng; Anh được tuyển sang Trung Quốc để xung vào đội vũ nhạc của nhà vua. Khi được thưởng thức tài đàn hát của chàng Mãn Đường Hoa Công chúa con vua Hán Vũ đế đã say mê và nhất quyết xin với vua cha được thành thân với Lê Phong. Được vua cha ưng thuận hai vợ chồng xin về quê làng Ngọc Trung sinh sống. Cả hai vợ chồng Lê Phong đều đàn giỏi hát hay và truyền nghề đàn hát cho dân. Theo thần tích: về già ông hóa thành con rắn xanh trườn xuống sông Cầu Chày bà hóa thành cây đào tươi tốt vì vậy thần tích tại đền thờ của 2 thần được phong là "Thanh xà trợ thuận tôn thần" và "Mãn đường hoa phương phi Trinh thục Tư hoa công chúa tôn thần".

Đền thờ ông bà tổ Ca Công dựng trên dải đất Cồn Đàn và dải đất Túi Sênh. Thần tích này ghi trong Thanh Hóa chư thần lục bằng chữ Hán vào năm Thành Thái thứ 15. Câu chuyện có thể là truyền thuyết nhưng làng Ngọc Trung dải đất Cồn Đàn Túi Sênh là địa danh có thật. Tương truyền xưa kia vào ngày giỗ tổ giáo phường Ca Công trong ngoài tỉnh về đây múa chầu tổ rất nhộn nhịp đông vui.

Ngoài làng ca công Ngọc Trung xưa kia Thanh Hóa còn nổi tiếng với giáp ca công Bàn Thạch. Theo truyền thuyết làng ca công này nổi tiếng từ thời Lê Lợi khởi binh chống giặc Minh. Làng Bàn Thạch (nay thuộc xã Xuân Quang huyện Thọ Xuân) gần kề với đất Lam Sơn nhiều người trong họ ca công tham gia nghĩa quân. Có lần Lê Lợi đi qua miếu thờ của làng nghe phảng phất trong miếu có tiếng đàn hát rất hay. Vua ngầm xin hỗ trợ nghĩa quân và quả nhiên khi vào trận dân Bàn Thạch lập công giòn giã. Thắng trận trở về vua cho tu bổ miếu thờ thần và ban quốc tính cho họ ca công. Thần tích của làng còn ghi thần là công chúa thứ 3 của vua Trần được phong là Tối linh Công chúa và ban cho dân Bàn Thạch cúng tế.

Một họ ca công nổi tiếng nữa là làng Bái Thủy nay thuộc xã Định Liên huyện Yên Định. Làng này có dòng họ Nguyễn hát ca công. Trong làng có một giếng đất rất to nước trong ngọt mát vô cùng. Tục truyền uống nước giếng này vừa đẹp người lại thanh giọng nên con gái họ Nguyễn đẹp nhất làng và hát rất hay nên người ta gọi giếng này là "giếng ca công". Dòng họ ca công này nổi bật nhất là vào cuối thời Lê đầu thời Nguyễn. Theo trí nhớ của các cụ cao tuổi thì vào thời vua Khải Định và Bảo Đại dòng họ ca công này đã được mời vào Huế để biểu diễn trong triều và các tư dinh đến nửa năm trời. Tây Đô (Vĩnh Lộc) Văn Trinh (Quảng Ngọc Quảng Xương) Nổ Giáp (Nguyên Bình Tĩnh Gia) cũng là những điểm hát ca công thời xưa khá phát triển. Tuy mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng các làng đều được ghi nhận là có truyền thống hoạt động ca công. Vào đầu thế kỷ XX các làng như làng Đoài (Trường Trung Nông Cống) làng Tràn (Thiệu Tân Thiệu Hóa) làng Bái Hà (Xuân Lộc Hậu Lộc) Nam Cai (Thọ Xuân) làng Cửu làng Dưỡng (Triệu Sơn) đều có họ hát ca công quan hệ mật thiết với giáp ca công Bàn Thạch.

Hát ca trù ở Thanh Hóa thể hiện chủ yếu ở 3 hình thức là hát Cửa đình để thờ thần; hát quan viên trong các dịp khao vọng ăn mừng tại gia đình hoặc dòng họ và hát cô đầu hát nhà trò ở các nhà hàng chuyên nghiệp.

- Hát cửa đình là hát thờ thần trong dịp tế lễ thành hoàng vào mùa xuân. Mục đích chính là hát thờ thần linh tôn vinh thành hoàng cầu cho dân làng nhân khang vật thịnh trong dịp lễ hội hàng năm của làng; Người hát ở ngoài thềm trước bàn thờ thần quan viên hương lão ngồi theo thứ tự trên dưới quanh chiếu hát dân làng ngồi nghe ở sân đình. Đào kép chủ yếu ngồi hát cũng có khi đứng hát tay cầm quạt làm động tác phụ họa. Đào kép hát cửa đình chuyên nghiệp sinh hoạt trong các làng hát có làng thành lập giáp riêng gọi là giáp ca công. Người đứng đầu gọi là quản giáp. Một lối hát thờ thần khác gọi là hát thị lập. Lối này không dùng đào hát mà chọn con gái thanh tân con em trong làng từ 8 hoặc 10 12 cô đứng hát trong lúc tế thần. Nhà nào có con gái được chọn là niềm vinh dự cho cả gia đình nên họ đều tự nguyện sắm sửa quần áo khăn nón quạt cho con em hầu thánh.

- Hát quan viên là hát tại tư dinh trong đám xá nhà quan. Trong các dịp khao vọng hay ăn mừng người ta rước đào kép về hát tại nhà. Các đào kép được lựa chọn mời về nhà quan để hát là điều rất vinh dự. Về sau khách đến nghe hát ở nhà hàng cũng được gọi là quan viên và cách gọi này trở thành phổ biến.

- Hát nhà trò hát cô đầu vốn từ tên gọi hát ả đào mà ra và tên này xuất hiện từ đầu thế kỷ XX. Đến giai đoạn này người ta có thái độ coi thường người đàn hát bởi các nhà hàng vì lợi nhuận kinh doanh đã làm biến tướng lối hát thanh cao thành thú vui thô thiển. Vào những năm 1925 trở đi ở Thanh Hóa đã mọc lên các nhà hàng cô đầu ở thị xã và các huyện. Đến đây cô đầu đã phân hóa thành 2 loại là đào hát và đào rượu. Đào hát thanh cao tao nhã đàn hát xong thì về nhà; đào rượu trẻ hầu rượu phục dịch cho khách trong đám hát.

Tất cả các hình thức hát này ở Thanh Hóa cũng gọi chung là hát ca công. Lối hát này có một đào (là nữ) vừa gõ phách vừa hát một kép đánh đàn đáy là nam và có một người đánh trống chầu để phân biệt với các lối hát chèo tuồng hay hát ghẹo.

Từ những năm 1920 ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố) đã có những điểm hát ca trù dần dần chuyển sang hát cô đầu ở các khu vực tương đối ổn định là Cửa Hậu Quán Giò Cầu Sâng Cầu Chanh. Các nhà hàng có quan hệ trao đổi mật thiết với các nhà hàng ở Khâm Thiên Vạn Thái (Hà Nội) và Cống đệ Nhị Cống đệ Nhất ở Vinh (Nghệ An).

Hát ca trù là một loại hình sân khấu nhỏ. Sân khấu là thềm đình cửa đình chiếu hát. Người thưởng thức ngồi chung với diễn viên. Sân khấu hạn chế tối đa số diễn viên chỉ cần một đào một kép là đủ và quy định rõ đào nữ kép nam với phương thức đơn ca độc huyền và không chấp nhận dàn nhạc. Lối biểu diễn là đàn hát đơn vị diễn xướng là bài hát chứ không có kịch bản. Người cầm trống chầu cũng chính là trọng tài để "khen chê". Hát hay thì đánh trống chầu để thưởng hát dở thì gõ tang trống để phạt rất nghiêm minh.

Theo lệ hàng năm các làng hát thường nắm được lịch tiết lễ hội ở các làng trong địa phương. Làng đến mời hát đem trầu rượu và xôi gà đến làng hát lễ tổ. Lễ xong chia đều cho các gia đình trong giáp ca công. Quản giáp thống nhất việc cắt cử đào kép đến làng phục dịch hát thờ thần. Quy mô cuộc hát to hay nhỏ bao nhiêu người tham gia; tiền công nhiều hay ít đều do quản giáp điều hành và thống nhất với làng mời hát.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 một đám hát cửa đình có hai hình thức là hát theo đám rước kiệu ban ngày và hát thờ thần ban đêm. Hát theo đám rước kiệu ban ngày thường hát các bài như Bầu trời cảnh bụt (Hương Sơn phong cảnh) và bài Thuyền lan nhè nhẹ (Cảnh Tây Hồ); còn hát trước bàn thờ thần ban đêm là những bài hát ru Nhị thập tứ hiếu Phú Vương Lăng Ông Lang Nhẫn đi tu trên núi nhiều khi có sử dụng cả những bài ca dao quen thuộc như

Tay bưng chén muối đĩa gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

hay: Đố ai quét sạch lá rừng

Để ta khuyên gió gió đừng rung cây ...

Về làn điệu hát trong hát cửa đình và hát thị lập chủ yếu là hát lót. Mở đầu hát lót là điệu ngâm để bắt vào điệu lót. Điệu hát lót gần giống điệu nói sử trong dân ca với hai làn chính là sử xuân khi ca ngợi và sử rầu khi than thân trách phận. Lời ca trù là thơ tất cả các thể thơ lục bát song thất ngũ ngôn đều có thể được sử dụng. Trong quá trình vận động có một thể thông dụng hơn cả là Hát nói.

Từ hát lót dân dã cổ xưa phát triển lên bậc cao là hát nói của ca trù cuối thế kỷ XIX là cả một quá trình phát triển liên tục. Hát ca công - ca trù là một truyền thống phát triển tách từ ca hát dân gian được cung đình hóa và sau đó phát triển độc lập thành hát nói ca trù rồi lại trở về với dân gian. Tác giả của thể loại hát này là các nhà nho cách tân được khởi xướng từ thời Lê Mạt và phát triển mạnh vào giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Những tác giả tiêu biểu cho sáng tác thể loại hát này phải kể đến Nguyễn Công Trứ Phan Bội Châu Cao Bá Quát Dương Khuê Nguyễn Khuyến Tản Đà... Từ đầu thế kỷ XX đến trước năm 1945 thể loại này bị khai thác phát triển theo xu hướng truỵ lạc gắn với thú "ăn chơi" cùng "bàn đèn thuốc phiện" "tổ tôm xóc đĩa" và "cô đầu" đã làm ảnh hưởng trực tiếp vào hạnh phúc gia đình trở thành tệ nạn xã hội. Chính vì vậy hơn nửa thể kỷ qua tệ nạn này đã được quét ra khỏi cuộc sống mới ca trù đã bị lắng xuống và phần nào như bị lãng quên.(1)

Ngày nay với quan điểm đổi mới của Đảng ta việc khai thác những tinh hoa văn hóa truyền thống phục vụ cuộc sống mới đã trả lại cho ca trù những giá trị đích thực. Tháng 1-2005 Chi hội VNDGVN tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức thành công hội thảo Ca trù Thanh Hóa lần thứ nhất. Cũng trong năm 2005 Cục Nghệ thuật Biểu diễn của Bộ VHTT (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) tổ chức liên hoan Ca Trù toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Tĩnh Câu lạc bộ ca trù Thanh Hóa do Trung tâm Văn hóa Thông tin của tỉnh tổ chức tham gia đã đạt giải vàng toàn đoàn. Năm 2007 Cục VHTTCS Bộ VHTT nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức liên hoan ca trù toàn quốc lần thứ hai tại Hải Dương câu lạc bộ ca trù Thanh Hóa đã đạt một giải vàng và một giải bạc tại cuộc liên hoan.

Hiện nay trên đất Thanh đã có nhiều câu lạc bộ ca trù được thành lập và hoạt động hiệu quả đó là các câu lạc bộ ca trù t.p Thanh Hóa Quảng Xương Hà Trung (2 CLB) Vĩnh Lộc Hoằng Hóa và Đông Sơn... Việc khôi phục phát triển các câu lạc bộ ca trù tại nhiều địa phương trong tỉnh là việc làm thiết thực góp phần thực hiện nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về "Xây dựng một nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc".

Trong một tương lai gần ca trù sẽ trở về vị trí trong đời sống văn hóa mọi người dân và sẽ xứng đáng là loại hình văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại.

T.T.L

(1) Xem Khảo sát hát Ca Công ở Thanh Hóa NXB Văn hóa Dân tộc Hà Nội 2002

More...