Truyện cổ dân gian

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Hòn ngọc Hàm rồng

(Theo Truyện cổ dân gian Thanh Hóa)

        Ngày xửa ngày xưa. Trời có một hòn bảo ngọc quý lắm. Nó quý ở chỗ luôn giữ cho hòa khí trời đất yên lành cây cối tốt tươi vạn vật sinh sôi nảy nở. Vì thế Trời giữ gìn cẩn thận lắm ban ngày luôn đeo bên mình còn ban đêm khi ngủ thì ngậm vào miệng.

Thời đó có một con quỷ Sắt biết được hắn nảy ra ý định muốn có viên bảo ngọc. Nhưng thiên bảo ngọc chỉ có một mà Trời thì giữ gìn cẩn thận như thế nên nó nghĩ chỉ có cách cướp đoạt.

Nhân lúc Trời mải mê ngắm cảnh quỷ Sắt bèn dùng phép đoạt ngọc việc thành công. Trời mất ngọc nổi giận sai Thiên Lôi đánh quỷ Sắt lấy lại bảo ngọc. Thiên Lôi và quỷ Sát đánh nhau quyết liệt hết ngày này sang ngày khác nhưng không phân thắng bại. Trong cơn hỗn chiến đã bị trọng thương quỷ Sắt để rơi viên bảo ngọc xuống vùng đất xứ Thanh. Ngọc rơi làm một làng và chết một số người. Dân xứ Thanh biết đó là viên ngọc quý và giận Trời làm thiệt hại mùa màng người và tài sản nên quyết định không trả lại bảo ngọc cho Trời. Họ bảo nhau rèn đúc cung tên đồng giáo mác đồng và mọi thứ vũ khí cần thiết để giữ gìn viên ngọc.

Phần vì tiếc ngọc phần nữa khinh thường trần gian Trời sai Hỏa Ngọc Long xuống trần định lấy lại viên ngọc nào ngờ tên đồng bắn lên tua tủa nên bị trọng thương sa xuống. Hỏa Ngọc Long vùng vẫy quẫy đạp phun lửa cháy rừng rực cả một vùng. Trời nhìn xuống thấy lửa cháy cao nóng cả mặt tưởng là trần gian đốt lửa đánh con mình liền lệnh cho thần Mưa dội nước xuống. Mây mưa xối xả lửa tắt ngóm thế là Hỏa Ngọc Long cũng hết phép và lại bị trọng thương nên giãy chết. Xác rồng dài đuồn đuột hóa đá thành dãy núi Hàm Rồng. Chỗ rồng quẫy đạp vùng vậy cùng với nước của thần mưa đổ xuống chảy dài thành dòng sông gọi là sông Mã ngày nay. Bờ nam sông Mã là xác rồng nằm đầu gác lên bờ sông miệng há hốc như muốn chực nuốt viên Ngọc bên bờ Bắc nhưng dòng sông chảy xiết ngăn cách lại đành nằm đó như một chứng tích. Và hòn bảo Ngọc vĩnh viễn ở lại với trần gian. Bởi thế xứ Thanh luôn mưa thuận gió hòa quy tụ được khí thiêng trời đất bốn mùa đều tươi tốt là vùng đất địa linh nhân kiệt.

                                                  (Truyện dân gian dân tộc Kinh)

More...

Truyện cổ dân gian

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Trời biển Sầm Sơn

(Theo Truyện cổ dân gian Thanh Hóa)

        Ngày xưa biển Sầm Sơn khác với bây giờ. Trời dất luôn luôn ú ám quanh năm sương mù ánh sáng mờ mờ cách nhau không đầy một trượng mà trông người không rõ mặt. Biển rộng mênh mông nước biển mặn đắng không giống vị nước ngày nay.

Dân chài lưới ở Sầm Sơn hồi ấy đã khá đông ngày ngày ra khơi vào lộng để sinh nhai. Sóng biển thường rất lớn nên họ phải đi thành đoàn để hộ vệ cho nhau.

Trong vạn chài ngày ấy có một thanh niên vạm vỡ khỏe mạnh chừng ngoài hai mươi tuổi. Cha mẹ mất sớm không có bà con họ hàng gì anh chỉ sống một mình trong túp lều tranh hàng ngày đi làm thuê cho các đoàn thuyền. Đoàn nào cũng thích mượn anh đi nghề vì anh chèo chống thạo mà tính tình lại vui vẻ lắm. Anh có cái biệt tài là hát rất hay hay đến nỗi người vật và cây cỏ khi nghe cũng đều say đắm. Mỗi lần anh hát giữa biển khơi là cá nối đuôi từng đàn chạy theo quanh thuyền không rời ra nữa. Bạn chài thả lưới vớt hết mẻ này sang mẻ khác nhưng đàn cá vẫn đắm đuối vì tiếng hát cứ kéo đến mỗi lúc một đông. Vì vậy các đoàn thuyền cứ tranh nhau mời chàng trai đi hộ cho mình. Sau đó họ phải chia nhau hôm nay anh di với đoàn này thì mai đi cho đoàn khác.

Xóm chài bên cạnh có một cô gái cũng trạc tuổi anh dáng người xinh đẹp và tính tình cũng hiền hậu lắm. Chiều chiều cô thường ra ngồi chờ ở đầu mom biển đón thuyền về chia cá lấy phần cho gia đình. ánh mặt trời chiếu vào cặp mắt đôi má của cô làm cho cô càng thêm dẹp. Tiếng đẹp của cô vang xuống tận dưới thuỷ cung làm cho thủy thần cũng đem lòng say đắm. cũng cứ chiều chiều như thế thủy thần làm phép để lên ngắm dung nhan người đẹp. Sóng biển ùn ùn dồn lên từ ngoài khơi vào bờ đổ ụp xuống bãi cát nhưng quanh chỗ cô gái ngồi sóng không bao giờ dám ném mình xuống một cách ào ạt mà chỉ uốn mình buông xuống một cách nhẹ nhàng êm ái thành những đợt nhỏ lăn tăn cho bọt nước không thể nào tung tóe đến mình nàng. Đó là lúc thủy thần đang tàng hình lượn trên mặt biển để nhìn cô gái. Ngày một ngày hai cô gái vạn chài không để ý đến hiện tượng lạ lùng ấy. Cô đang mải miết ngóng thuyền về và cũng là ngóng đợi tiếng hát du dương của chàng trai mà cô đã đem lòng yêu dấu. Cô cũng không sao biết được là ngay bên cạnh Thủy thần cũng đang vì cô mà trộm nhớ thầm thương.

Dần dần bà con trong hai xóm chài để ý và biết rõ mối tình của cô gái. Chàng thanh niên cũng rất sung sướng khi biết hạnh phúc đang chờ mình. Đôi trai gái ấy đã yêu nhau. Cả vạn chài ai cũng rất vui lòng tác thành cho họ. Ông trưởng vạn chài một ngày kia đã theo ý bà con đến nhà cô gái bàn chuyện hôn nhân. Bà con còn định góp nhau kẻ ít người nhiều giúp làm lễ cưới và sửa sang nhà cửa cho họ.

Tiếng đồn cô gái sắp lấy chàng trai kia đến tai Thủy thần. Thủy thần bất bình vô hạn. Nghe tin chàng trai chuẩn bị đi thêm vài trộ lưới nữa để lấy tiền chuẩn bị cưới xin Thủy thần liền làm cho biển động sóng to mưa gió liên tiếp mấy ngày đêm không lặng. Nhưng cơn giông vừa ráo Thủy thần lại được tin là hôn lễ vẫn cứ tiến hành. Thần tìm cách báo mộng cho cô gái và cha mẹ cô song ai nấy đều phì cười và cho là câu chuyện hoang đường quái lạ. Ai đời lại có một ông thần nước lấy vợ trần gian! Vả lại lời hứa đã định rồi Cả vạn chài đều một lòng giúp cho đôi vợ chồng trẻ. Ngày cưới họ là một ngày vui vẻ linh đình.

Thua trí người đời Thủy thần rắp tâm báo thù cho được. Thần ra lệnh cho đàn cá không được theo thuyền để nghe tiếng hát của chàng trai nữa và những lần chàng trai đi theo đoàn thuyền nào thì đoàn thuyền ấy gặp nhiều chỗ nước xoáy hoặc nhiều đợt sóng vô cùng ác liệt. Gió thổi ù ù sóng đánh tung tóe làm át cả tiếng hát ngân nga. Trời đất chóng tối hơn những ngày thường. Cảnh âm u kéo dài thêm cả một không khí nặng nề bao phủ vùng trời ấy. Và đến một hôm kia cô gái ngồi trên bờ biển vô cùng hoảng hốt khi không thấy chồng trở về. Đoàn thuyền chài bị đánh vỡ tan cả mấy chục người sau khi vật lộn với sóng khơi kiệt sức đã phải vùi thây nơi đáy bể.

Cô gái vạn chài trở nên mất trí. Biết chắc chồng không bao giờ trở về nữa nhưng nàng vẫn cứ ra ngồi trên bãi cát nhìn mãi ra khơi. Nàng khóc suốt đêm ngày nước mắt chảy ra như suối làm nhạt cả một vùng nước biển Sầm Sơn. Cho nên ngày nay nước biểm Sầm Sơn không mặn hẳn mà chỉ hơi lờ lợ. Cô gái thương chồng ngồi mãi kiệt sức nàng ngã xoài ra bãi cát chết dần. Nửa thân mình đã hóa cát nhưng cô gái vẫn cố ngẩng đầu lên nhìn những lớp sóng ngoài khơi. Đến khi cô chết hẳn chỗ đất ấy cũng bồi cao lên thành ra mũi biển Cổ Rùa bây giờ lúc nào cũng như muốn ăn dài ra bể. Còn chàng thanh niên từ khi bị thua sóng nước anh không còn cách về chốn trần gian nhưng không bao giờ quên được người vợ thương yêu không bao giờ quên được xóm làng. Thân thể chìm dưới đáy bể lâu ngày rữa nát nhưng quả tim anh vẫn không tan. Nó lớn thành một cục tròn đỏ ửng dần dần nhô lên khỏi mặt nước tỏa sáng ra chung quanh. Ngày ngày từ biển khơi xa quả tròn ấy cất mình lên quá chân trời rồi theo vòm trời mà đi dần lên qua mỏm Cổ Rùa để từ từ hạ xuống vào lúc trời gần tối. Nhờ có ánh sáng trái tim ấy tỏa ra các đoàn thuyền đi khơi được thuận lợi hơn. Mỗi lần trái tim nhô lên là sương mù tan biến mặt trời ở cửa bể Sầm Sơn ngày nay chính là trái tim của chàng trai chài lưới ấy. Những người khách đến Sầm sơn nghỉ mát thường dễ dàng nhận thấy rằng mặt trời ở Sầm Sơn suốt ngày hình như đi nghiêng xế về phía đông nam chứ không bao giờ đi thẳng một vòng cung ở giữa đỉnh trời. Đó là vì trái tim chàng trai cứ chếch về một bên để cho dễ nhìn thấy mũi biển Cổ Rùa đang ngẩng cao lên ngóng đợi tình lang đời đời kiếp kiếp không bao giờ mỏi mệt.

(Truyện dân gian dân tộc Kinh)

More...

Nghiên cứu - Lý luận

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Văn xuôi Trần Mai Ninh

                                                             

                                                         TRỊNH QUỐC TUẤN

       Văn xuôi của Trần Mai Ninh để lại không nhiều. Năm 1939 ông đã được giải tiểu thuyết của Tự lực Văn đoàn với tác phẩm Rạng Đông rất tiếc tác phẩm đã bị thất lạc. Năm 1940 Trần Mai Ninh vào Thanh Hóa hoạt động cách mạng (trốn sự quản thúc của thực dân Pháp ở Hà Nội). Thời gian này ông công bố trên báo chí cách mạng ở Thanh Hóa 3 tác phẩm: Trừ họa (truyện ngắn - 1940); Thằng Tuất (truyện dài - 1940); Ngơ ngác (truyện dài - 1941).

Với những tác phẩm ra đời liên tiếp trong thời gian rất ngắn ấy cho ta nhận ra bút lực tài năng của Trần Mai Ninh. Giáo sư Như Phong đánh giá: “Đó là nhà văn có một phong cách riêng khá vững chãi” (trang 46 - Thơ văn Trần Mai Ninh). Nhà văn Thạch Lam đánh giá tác giả tiểu thuyết Rạng Đông “là người có đức tính của nhà văn nhất”.

Cũng là người chiến sĩ cách mạng cầm bút trên văn đàn công khai Trần Mai Ninh không viết về đề tài người chiến sĩ cộng sản đấu tranh trong tù như Ngục Công Tum của Lê Văn Hiến Vượt ngục của Cựu Kim Sơn. Hai tác phẩm Trừ họa và Ngơ ngác của Trần Mai Ninh nội dung mang tính luận đề kiểu viết thường gặp của Nhất Linh - Khái Hưng trên văn đàn công khai. Thế nhưng thế giới cuộc sống và con người trong tiểu thuyết của Nhất Linh- Khái Hưng là lớp người thuộc tầng lớp quý tộc tư sản ông phủ bà huyện cậu ấm cô chiêu… Văn ở Trần Mai Ninh có nhiều nét tương đồng với Thạch Lam về đề tài và nhiều trang miêu tả nội tâm sâu lắng. Truyện Thằng Tuất của Trần Mai Ninh cũng có mô típ người nông dân ra tỉnh như tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng nhưng lại quá trình ngược. Nếu sự phát triển tiểu thuyết Số Đỏ là quá trình thăng hoa tha hóa tính cách lưu manh của một bộ phận nông dân trong không gian đô thị; thì truyện dài Thằng Tuất của Trần Mai Ninh là quá trình thanh lọc nhân cách lòng nhân ái và sự cao thượng trong đó có sự tác động giáo dục của người lớn hiểu lẽ đời có nhân cách có tri thức văn hóa.

Tìm đến văn của Trần Mai Ninh ta còn tìm ra cách thể hiện sâu sắc thâm trầm của một cách nhìn nghệ thuật mới về cuộc đời và con người. Một cách nhìn tích cực và cách mạng. Chính tư tưởng cách mạng và phẩm chất của người chiến sỹ Trần Mai Ninh đã thấm sâu vào văn của nghệ sĩ Trần Mai Ninh.

Qua ba tác phẩm truyện của Trần Mai Ninh đưa ta đến những khám phá cuộc sống đa dạng phong phú cách biểu hiện nghệ thuật độc đáo đặc sắc của ông.

Truyện ngắn Trừ họa (ông lấy bút danh là Mạc Đỗ đã đăng trên báo Bạn đường ở Thanh Hóa). Câu chuyện nói về cô bé Nhẫn 11 tuổi thi trượt sợ bố mẹ rầy la cô bé đã chống chế để che đậy sự kém cỏi thái độ tự phụ xem thường kẻ khác. Xuyên là người anh rất khó chịu với Nhẫn. Anh muốn dạy em một bài học nhưng lại thấy như có sự tương đồng với lỗi lầm của mình trong công việc đoàn thể. Có lần vì tự ái không chấp nhận những lời phê bình thẳng thắn đã đánh đồng chí của mình và cự tuyệt bỏ đi. Để rồi Xuyên nhận ra rằng: Muốn giáo dục người khác trước hết phải giáo dục chính mình. Và giáo dục con người không phải dùng liều thuốc giảm đau vỗ về cho qua chuyện mà điều cần thiết là cho họ thấy sự kém cỏi của chính mình để vươn lên hơn nữa.

Từ công việc nhỏ trong gia đình tác giả không chỉ nêu lên quan điểm giáo dục con người mà con nêu lên vấn đề người tri thức chân chính mang khát vọng lý tưởng cao đẹp sông trong đoàn thể phải tẩy trừ sự tự ái cá nhân và rèn luyện ý chí vươn lên hơn nữa.

Không gian và thời gian của câu chuyện trong gia đình nông dân diễn biến trong ba ngày tập trung vào hai nhân vật Nhẫn và Xuyên. Nhưng mở rộng bằng không gian và thời gian tâm tưởng đưa tác phẩm mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Tác phẩm còn cho người đọc đến những trang miêu tả nội tâm tâm lý nhân vật mang tính cá thể hóa. Đó là Nhẫn với cá tính rất trẻ thơ phù hợp tâm lý lứa tuổi nhân vật Xuyên lại giằng xé day dứt nội tâm trước khuyết điểm và phản ứng tiêu cực của mình tạo cho tác phẩm chân thực và sinh động.

Thành công nhất trong quan sát tâm lý trẻ thơ đó là truyện dài Thằng Tuất (ra đời năm 1940). Đây là chuyện hiếm hoi trên văn đàn bấy giờ viết về đề tài thiếu nhi.

Nhân vật trung tâm trong tác phẩm là Thằng Tuất - 10 tuổi. Những năm tháng ở quê nhà Tuất lớn lên trong cuộc sống lam lũ vất vả đói kém của người dân quê nhưng Tuất cũng nhận ra cái vẻ đẹp chân chất hiền hòa cả những điều dám đứng ra vạch trần cái xấu. Bắt quả tang thằng Xương con lão Bá giàu nhất làng đang ăn trộm tránh được sự nghi kị nhau “một mất mười ngờ” của người trong làng. Nghe ông già sửa ô sửa kính cả đời không luồn cúi ai phân tích cho Tuất việc trả thù vặt là sai làm Tuất rất xấu hổ nhận ra khuyết điểm của mình. Tình huống lạc đường đã đưa Tuất từ nông thôn ra đô thị. Sống lang thang Tuất làm mọi công việc để kiếm sống nơi lề đường hè phố. Khác với những đứa trẻ khác Tuất luôn thể hiện là con người đàng hoàng chân chính. Tuất khinh kẻ giàu có mà vô cảm với những đứa trẻ khốn khổ. 11 tuổi Tuất đã cưu mang hai đứa trẻ 10 tuổi và 7 tuổi cũng bị lạc bố mẹ như Tuất. Tuất còn biết tập hợp những đứa trẻ bán báo giúp nhau vực dậy đời sống trong cái đoàn thể nho nhỏ thanh lọc những tính xấu như dối trá trả thù vặt hèn kém sợ ma.

Truyện Thằng Tuất của nhà văn như một luận đề giáo dục: Trẻ nhỏ đừng để nó tha nhiễm những thói xấu của người lớn hãy phát huy những bản thể tốt đẹp của nó. Khi những bản thể tốt đẹp được phát huy có sự dạy dỗ dẫn dắt của người lớn thì dù có bị vùi dập trong cuộc sống nó vẫn đầy bản lĩnh để vươn tới vững vàng của một con người. Ba nhân vật trong tác phẩm: Ông già sửa ô sửa kính ở quê nhà bà cụ không quen biết ở thành phố nhà báo trẻ tên Vinh là những điểm tựa hình thành phát triển nhân cách của Tuất.

Viết về cậu bé làng quê Việt Nam bơ vơ ra tỉnh nhưng Trần Mai Ninh lại khát khao tìm đến nét chung tuổi thơ của nhân loại. Trong “mấy lời trước khi thuật truyện” ông thừa nhận: Truyện dài Thằng Tuất viết ra sau khi đã biết Gavơrốt (Những người khốn khổ- Nhà văn Pháp Vichto HuyGô) Tom Xoayơ (Cuộc phiêu lưu của Tom Xoayơ - Nhà văn Mỹ Mác Tuên) Latơrơ Chônpisơ (của nhà văn Mỹ PeCorl Buck). Ta gặp một TomXoayơ ở trong cậu bé Tuất Việt Nam từ nông thôn sống lang thang nơi đô thị với mọi thứ nghề như một cuộc phiêu lưu vậy. Nếu như Tom Xoayơ dạn dày thông minh vạch trần gã Giôlai da đỏ thì Tuất đã bắt thằng Xương ăn trộm đèn phơi bày thằng Mậu “4 ngón” lấy trộm báo của Bào. Nếu Gavorốt sống lang thang hè phố đêm lạnh lại chui vào một tượng voi như một vương quốc riêng thì Tuất lấy gác Khuê Văn ở đường Giám với sự thành thạo leo thang dây để trèo lên sống như một vương quốc riêng trong đêm hè phố thị. Sự vận động không gian nghệ thuật cũng là sự vận động phát triển của Tuất. Tuy vậy đôi chỗ miêu tả tâm lý trẻ thơ vẫn chưa thật nhuần nhuyễn. Tác giả đã gán tư duy người lớn trong chương đoạn “Tuất giữa làng báo”. Hình ảnh Tuất quá già dặn khi suy nghĩ muốn sắp xếp lại trật tự xã hội theo hướng tiến bộ. Tất nhiên trong hoàn cảnh bấy giờ không tránh khỏi sự vội vã nhưng truyện dài Thằng Tuất có đóng góp cho đề tài thiếu nhi và nhất là quan điểm giáo dục trẻ thơ cho đến giờ vẫn mang ý nghĩa sâu sắc.

Thành công nhất trong văn xuôi của Trần Mai Ninh là truyện dài Ngơ Ngác (công bố năm 1941). Nếu thể loại tiểu thuyết đề cập tới thân phận con người trong cuộc sống đời thường thì truyện dài Ngơ ngác có thể coi đây là tiểu thuyết của Trần Mai Ninh.

Gần 200 trang sách tác giả thể hiện lớp thanh niên trí thức học sinh bước vào đời ngơ ngác như chim lạc bầy vì chưa thấy bản chất của cuộc sống. Nhà văn kêu gọi “tẩy trừ sự ngơ ngác đổi những cặp mắt ngơ ngác thành những vì sao chói lọi đổi những cái miệng mở ra ngơ ngác thành những đường môi mím chặt trong sự làm việc và giúp ích phá tan làn không khí mịt mù ngơ ngác và tạo nên một trời thông minh lành mạnh và phì nhiêu”.

Những chàng trai trong truyện mới rời cánh cổng trường trung học giọng còn ồ ồ đặc đặc với biết bao những kỷ niệm mộng mơ thuở học trò. Tác giả giành những trang đầy chất thơ miêu tả cảnh núi Long núi Hổ đẫm mình trong dòng nước trong như pha lê ở hang núi Long. Dạo chơi bên dòng sông Nông Giang trong chiều hè gió mát mặt sông gợn như ánh bạc. Xa xa là đồng lúa bát ngát xanh um điểm ẩn hiện những vạt áo nâu non. Thỉnh thoảng một thân cò trắng vụt bay lên mất hút như mảng sao băng sẹt trong đêm hè.

Những dòng miêu tả ấy lại không phải là sự thi vị hóa nông thôn của các cây bút văn học lãng mạng bấy giờ mà đấy chính là cảnh rất chân thực cụ thể gắn với một vùng đất. Chất thi vị có chăng là cảnh sắc được khúc xạ qua tâm hồn tươi trẻ rất vô tư đắm hòa vào cảnh sắc thiết tha với quê hương để rồi từ giã tuổi thơ mỗi người đi mỗi nẻo đường đời. Theo thời gian vào đời tất cả đều chán chường trước cuộc sống “đời tàn ngõ hẹp”.

San muốn được học lên nữa nhưng bà mẹ không cho đi xa đành ở nhà làm cai đá núi Nhồi cho các ông chủ chở đá đi làm đường sắt. Nhịp sống đều đều vô vị San nghĩ đến chuyện viết văn thì bị trả lại với lời khuyên: viết phải “gần đời và gần người hơn nữa”. Tĩnh ra Hà Nội làm báo xông xáo vào dòng đời. Lịch mở trường dạy tư khấm khá muốn trở thành “siêu nhân” mọi người đều phải kính nể mà thời ấy muốn kính nể thì phải có nhiều tiền. Lịch say sưa với nghề tìm chọn đá quý với ý nhĩ: Sẽ giàu có và chiếm được trái tim người đẹp. Tống thì loay hoay không biết chọn nghề gì chỉ biết đốt thời gian đốt tiền vào chốn bình khang. Lợi khát vọng trở thành họa sĩ nổi tiếng nâng tâm hồn nghệ sĩ vẽ một bức tranh thật đẹp về dòng sông quê hương. Thế nhưng sự thực “dòng sông ấy đã già con sóng khóc trắng cả bờ để lại bao nhiêu ngấn lệ làm rầu chân cỏ ven sông”. Chán chường Lợi theo Tống đi tìm sự quên ở chốn “nhà tơ” mà cũng không khỏi sự lạc lõng ngơ ngác. Nhà văn đã khai thác đến tận cùng bi kịch của cuộc đời lớp trẻ tiểu tư sản học sinh trong xã hội cũ.

Chỉ có Tĩnh sống trong sự va đập của chính trường báo chí hiểu rõ sự thực ở đời chia sẻ thông cảm với bạn. Anh đã tìm ra căn bệnh của sự nhàm chán thậm trí tha hóa của lớp trẻ là “chưa nhận ra thấy một mục đích gì cao đẹp đáng cho họ tôn thờ”. Tĩnh còn nêu lên cách giải quyết bi kịch đó là: “Nếu nhận được rõ rệt cái đích cao xa ở đời là thay đổi cuộc sống sinh hoạt tối tăm và nhơ nhớp hiện thời thì ai cũng chăm chỉ cúi đầu làm cho đạt được ý tưởng ấy không có những người chơi nhảm hay than khóc vẩn vơ tin hão huyền vào số mệnh nữa”.

Từ những năm 1940 Trần Mai Ninh đã lý giải bi kịch cuộc đời của lớp trí thức tiểu tư sản học sinh bất giờ thông qua hình tượng nghệ thuật. Ta cảm nhận sâu sắc tư tưởng cách mạng của Trần Mai Ninh! Cho mãi sau này những năm 1960 Chế Lan Viên mới tự thú với thế hệ của mình thời xưa ấy: Lũ chúng ta ngủ trên giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con/ Hạnh phúc đựng trong một tà áo hẹp/ Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn/…Lòng ta thành con rối/ Cho cuộc đời giật dây (Người đi tìm hình của Nước).

Tác phẩm không đi vào thuyết lý luận khô cứng mà bằng một sáng tạo nghệ thuật thực thụ. Khác với kết cấu truyện dài Thằng Tuất theo trật tự thời gian truyện dài Ngơ ngác theo kết cấu đồng hiện. Bắt đầu là hai người bạn học cũ gặp nhau nhớ về những kỷ niệm đẹp thời học trò vô tư và tâm sự về cuộc đời của mình. Câu chuyện mở rộng đến những người bạn thuở cùng lớp cùng trường bước vào đời với những số phận những mảnh đời bi kịch để rồi hội tụ tìm lấy lẽ đời tươi sáng. Lời người dẫn truyện rất ít xuất hiện nhập thân vào nhân vật làm cho mỗi chương như một khúc thức tự truyện tạo cho người đọc trực tiếp chia sẻ với từng số phận nhân vật. Phương pháp cá thể hóa nhân vật được thể hiện cả hình dáng và tính cách chi phối với môi trường hoàn cảnh sống tạo ấn tượng về nét riêng của nhân vật. Hai không gian nghệ thuật Thanh Hóa và Hà Nội không phải là không gian từ quê lên tỉnh mà mang tính khái quát không gian xã hội nâng hiện thực của tác phẩm là là hiện thực bi kịch của trí thức tiểu tư sản Việt Nam thời ấy. Kết quả tác phẩm là sự hội tụ của lớp người tìm ra lẽ đời vững bước đi lên “ấp những ý hoa ý trái tươi và mạnh vô cùng” đã nâng hiện thực đời sống và con người của văn học lãng mạng và hiện thực thời bấy giờ. Trần Mai Ninh góp phần cùng các nhà văn cách mạng vô sản đưa vào văn đàn công khai một phương pháp sáng tác mới phương pháp thể hiện cuộc sống theo sự vận động phát triển đi lên tích cực và tiến bộ.

Qua văn của Trần Mai Ninh ta cảm nhận sự vận động phát triển của ngòi bút văn xuôi tài năng thực thụ của tư cách nhà văn trong chọn thể tài và tìm tòi phương pháp biểu hiện nghệ thuật. Đồng thời ta thấm thía về sự thành công của Trần Mai Ninh đó chính là nhà văn đã hòa nhập tâm hồn vào hiện thực đời sống của dân tộc để thăng hoa thành những tác phẩm đầy sức sống có sức lay động lòng người. Yêu một nhà văn là yêu cách nghĩ cách cảm về cuộc đời và con người yêu một nhân cách sống qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn.

                                                                                   6/9/2006

                                                                                    T.Q.T

More...

TRAO ĐỔI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Về bài viết “Vài nét về nghệ thuật

chạm khắc trang trí trên bia

tiêu biểu ở Lam Kinh”

                                                    LÊ VĂN VIỆN

      Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh số 135 tháng 10 năm 2006 có đăng bài: Vài nét về nghệ thuật chạm khắc trang trí trên bia tiêu biểu ở Lam Kinh của tác giả đặng Mai. Là người may mắn đang được công tác trực tiếp tại khu di tích lịch sử Lam Kinh - một di tích lớn của tỉnh Thanh Hóa cũng như của cả nước nên cầm trên tay tờ Tạp chí Xứ Thanh thấy bài viết của tác giả Đặng Mai tôi đọc ngay. Bởi tôi nghĩ mình là một cán bộ chuyên môn của di tích càng biết và hiểu sâu hơn về di tích thì càng tốt. Hơn nữa là một cán bộ trẻ sự hiểu biết còn có hạn nên cũng cần phải tìm hiểu nhiều hơn để trau hồi kiến thức hiểu biết cho bản thân. Tuy nhiên sau khi đọc bài viết của tác giả tôi không khỏi suy nghĩ về những vấn đề mà tác giả đưa ra trong bài viết còn thiếu tính thực tiễn. Chính vì vậy mà tôi muốn được trao đổi lại một số vấn đề mà tác giả đưa ra trong bài viết này.

ở đây tôi chỉ trao đổi về cách lập luận và những vấn đề mang tính thực tiễn trong bài viết của tác giả.

Thứ nhất. Trong phần giới thiệu chung về đặc điểm của bia ở Việt Nam tác giả cũng đã giới thiệu: “… ngoài chức năng là một văn bút thì bia đá còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo có giá trị thẩm mỹ cao”. Tiếp đến có đoạn: Nó chứa đựng nhiều yếu tố nghệ thuật chạm khắc trang trí đặc sắc tinh xảo qua các hoa văn rồng mây sóng nước hoa lá. Đến đây tác giả đặt một dấu chấm và chuyển sang đoạn khác. Như vậy theo tác giả thì ngoài những yếu tố như tác giả đã giới thiệu trên thì tấm bia hiện được lưu giữ tại nhà ông Lê Văn Thịnh xóm 12 xã Thọ Diên Thọ Xuân Thanh Hóa có ghi: Thượng tướng quân Đặc tiến khai phủ Nghi đồng Quốc trọng sự Thượng trụ quốc tặng Quảng quận công… Phần niên đại ghi: Hồng Đức nhị thập nhị niên nhị thập nhật ngũ nguyệt. Tức Hồng Đức năm thứ 22 (1492) tháng 5 ngày 20. Trang trí trên bia ngoài hoa văn hình cúc dây ở riềm trên trái bia mặt trước có trang trí 2 bên 2 hình phượng hóa long chầu nhật. Như vậy ngoài những yếu tố rồng mây sóng nước hoa lá như tác giả Đặng Mai đã giới thiệu thì chí ít trên bia đá ở Việt Nam còn có trang trí hình phượng chứ không phải chỉ có các yếu tố như tác giả đã khẳng định ở trên.

Thứ hai trong bài của tác giả có đoạn: Theo sử cũ ở Lam Kinh có tất cả 10 lăng ứng với 10 bia nhưng hiện nay 3 lăng đã hoàn toàn mất tích chỉ còn lại 7 lăng. Trong đó có 5 lăng an táng vua và 2 lăng an táng 2 bà hoàng.

Theo khảo sát thực tế và kết quả nghiên cứu khai quật khảo cổ học của các nhà khảo cổ học các nhà nghiên cứu thuộc Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam và nhiều nhà nghiên cứu khác cho thấy. ở Lam Kinh nói riêng chỉ có 6 khu lăng mộ của các vua triều Lê Sơ và 2 khu lăng mộ của các bà hoàng. Hơn nữa các nhà chuyên môn đã khẳng định: Khu trung tâm Lam Kinh với tính chất cơ bản là nơi thờ cúng và nơi sơn lăng an táng của các vị vua và Hoàng hậu triều Lê sơ gồm: Lê Thái tổ Lê Thái tông Lê Nhân tông Lê Thánh tông Lê Hiến tông Lê Túc tông và hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao hoàng hậu Huyên. Từ Lê Uy Mục trở đi thì được táng ở các nơi khác hoặc ở xung quanh khu vực Lam Kinh vùng đất Lam Sơn và trong tỉnh Thanh Hóa hoặc ở nơi khác ngoài tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay có 2 khu lăng mộ ở Lam Kinh không còn nữa là lăng mộ của Lê Nhân tông và hoàng hậu Huyên. Như vậy nói Lam Kinh là nơi an táng của 8 vị vua triều Lê và 2 bà hoàng là không chính xác. Bởi nếu nói đến vùng đất Lam Sơn thì đây là một vùng đất rộng lớn thời bấy giờ mà Lam Kinh chỉ là một trong những vùng đất nhỏ nằm trong vùng đất Lam Sơn rộng lớn mà thôi (theo sử cũ ghi lại thì: Điện Lam Kinh được xây dựng trên di chỉ làng Cham cổ nay là làng Cham thuộc thị trấn Lam Sơn huyện Thọ Xuân Thanh Hóa). ở đây nếu như nói: Theo sử cũ ở Lam Sơn có tất cả 10 lăng ứng với 10 bia… thì đúng. Nói đến Lam Kinh thì không thể nói như vậy được.

Vấn đề thứ 3: Khi tác giả miêu tả về con rùa ở bia Vĩnh Lăng có đoạn:… Chân rùa ngắn có 5 móng ngón chân út khuyết móng… chân gân guốc có 5 móng xòe ra móng sắc nhọn quặp lại…

Đây cũng là một vấn đề thiếu tính thực tế. Tôi không rõ tác giả đã đến Lam Kinh và xem kỹ con rùa ở bia Vĩnh Lăng chưa? Tác giả dựa vào đâu để khẳng định chân rùa ở bia Vĩnh Lăng chỉ có 5 móng thôi? Bởi trên thực tế thì con rùa ở bia Vĩnh Lăng mỗi bàn chân có 6 móng móng út được khoét khuyết. Hơn nữa rùa ở bia Vĩnh Lăng không chỉ mập mạp mà chân rùa cũng rất mập chứ không gân guốc như tác giả đã miêu tả ở trên.

Là cán bộ đang công tác tại di tích nên sau khi đọc bài của tác giả Đặng Mai tôi không thể không trao đổi lại những vấn đề trên có lẽ đây cũng chỉ là bất đắc dĩ mà thôi.

                                                                                  L.V.V

More...

Lý luận - Phê bình

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Về bài thơ  Đò Lèn của Nguyễn Duy

(Bài thơ được chọn giảng trong chương trình THPT

                              SGK lớp 12 - NXBGD - 2005)

                                           HỎA DIỆU THÚY

      Phải công nhận rằng những nhà biên tập chương trình sách giáo khoa mới đã có “con mắt xanh” khi chọn bài thơ Đò Lèn để đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông. Thế là cùng với Cây tre Việt Nam Hơi ấm ổ rơm ánh trăng và bây giờ là Đò Lèn Nguyễn Duy đứng trong danh mục những tác giả có tác phẩm được chọn giảng nhiều nhất trong nhà trường. Vinh dự thay và cũng đáng tự hào thay!

Cũng như các bài thơ đã từng được chọn giảng Đò Lèn có khả năng lay động đánh thức tâm hồn mà đánh thức một cách thật ấm áp ngọt ngào thấm thía. Bài thơ mở đầu bằng những gì rất thật:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

Níu váy bà đi chợ Bình Lâm

Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thử hỏi có cô cậu học trò nào không thiện cảm với khổ thơ này. Những câu thơ đánh thức kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo hồn nhiên như cỏ cây giữa đất trời. Những cô cậu ở vùng thôn quê thì thích thú vì sự đồng điệu tâm đắc; những cô cậu ở thành phố không có dịp “trải nghiệm” thì thích thú vì… thèm(!). Có lẽ vì vậy mà những địa danh: Cống Na Bình Lâm chùa Trần đền Sòng… bỗng trở nên gần gũi nó gợi lên hình ảnh những vùng quê bình dị nghèo khó có thể bắt gặp ở bất cứ nơi đâu trên đất nước này.

Khổ thơ còn một hình ảnh đáng nói nữa một hình ảnh giàu sức gợi và thật xúc động hình ảnh “Níu váy bà đi chợ Bình Lâm”. Chữ “níu” thật hay hiện lên trước mắt người đọc cặp hình ảnh “bà - cháu” thật sống động: thằng cháu là tác giả khi ấy khoảng lên sáu lên bảy chứ mấy (nên tầm tay mới chỉ “níu váy bà”) lần đầu được bà cho đi chợ (nên nhớ mãi) đôi mắt trong veo ngơ ngác mải nhìn (vì thấy gì cũng lạ cũng hấp dẫn) nên cậu “níu” lấy váy bà để chân bước theo vừa khỏi sợ lạc. Bà ngoại của cậu đúng là hình ảnh người bà hiền từ và tảo tần trong các câu chuyện cổ từ hình ảnh bà với chiếc váy nâu mộc mạc đến tình yêu cháu vô bờ qua cái cách bà cưng chiều cháu. Đi chợ đối với người phụ nữ lao động xưa không phải để dạo chơi kể cả ngày tết họ cũng không có thói quen “chơi chợ”. Họ đi chợ để bán và mua bán những gì trồng được như mớ rau quả ổi vườn nhà và để mua những thứ vật dụng không thể làm ra: muối dầu diêm đèn v.v… Chợ ở nông thôn xưa cũng không họp dềnh dàng cả ngày cả buổi mà chỉ ào một lúc để rồi còn tranh thủ việc đồng áng ao bèo. Bận như thế vội như thế mà cái thằng cháu ngoại - thằng “cu Duy” ấy nó cứ quấn lấy chân lẵng nhẵng thế mà bà vẫn cho cháu đi cùng. Thật hạnh phúc cho những ai khi sinh ra có bà còn bà.

Khổ thơ thứ hai thêm một nốt nhấn trong chuỗi kỷ niệm tuổi thơ song nó còn một dụng ý khá mở ra một liên tưởng so sánh bất ngờ trong sự đối lập của thế giới thực và thế giới ảo:

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

Chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Thế giới thần tiên ấy có lẽ cũng hấp dẫn Nguyễn Duy chả kém gì chuyện được đi chợ cùng bà. Một đằng đưa cậu vào những trò mê li của thế giới thực một đằng tâm hồn cậu được lơ lửng trong thế giới ảo giác mơ hồ. Tất cả đều là những kỷ niệm đẹp khiến cậu nhớ mãi. Song dường như thẳm sâu trong tâm hồn Nguyễn Duy khi ấy cái thực vẫn có sức ám ảnh lớn hơn. Tình yêu bà thương bà khiến cậu nhớ như in hình ảnh bà lam lũ

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

Bà mò cua bắt tép ở Đồng Quan

Bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo Đồng Giao thập thững những đêm hàn.

Một lần nữa Nguyễn Duy làm nhói lên trong trái tim độc giả bằng những câu chữ sống động đến đáng sợ đáng phục: “thập thững những đêm hàn”. Hai chữ “thập thững” không chỉ gợi những bước chân mệt mỏi sau một ngày tất tả nó còn gợi hình ảnh con đường đầy sống trâu ổ gà nên chân bước đi không đều mà “thập thững”; chưa hết đêm tối rét mướt đường xa mắt mờ cũng tạo nên những bước “thập thững” của bà. Tôi cho rằng những từ như từ “níu” từ “thập thững” Nguyễn Duy đã không dùng bằng sự quan sát của thị giác thông thường mà bằng linh giác. Kỷ niệm tuổi thơ sống cùng bà ngoại được ôm ấp che chở trong tình yêu của bà đã cho thi sĩ phép màu của tâm hồn nhạy cảm biết rung động cảm thông biết chia sẻ thương yêu.

Đến đây câu chuyện về tuổi thơ về Đò Lèn quê ngoại đã trở thành câu chuyện về bà ngoại từ lúc nào. Hai khổ thơ 5 6 bất ngờ bởi hai cặp so sánh thú vị: Bà với tiên phật thánh thần và thế giới thực với thế giới ảo:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực

Giữa bà tôi và tiên phật thánh thần

Cái năm đói củ rong riềng luộc sượng

Cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm

Bom Mỹ dội nhà bà tôi bay mất

Đền Sòng bay bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với phật rủ nhau đi đâu hết

Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.

Tuổi thơ ai chả tin có bà tiên cô tiên Nguyễn Duy cũng thế có điều Nguyễn Duy yêu bà ngoại của mình chẳng kém gì yêu bà Tiên trong tưởng tượng. Thi sĩ đã ngầm khẳng định điều ấy trong cấu trúc so sánh bà với tiên phật thánh thần. Hơn thế tiên phật - thánh thần còn sợ bom đi lánh nạn chứ Bà của Nguyễn Duy mặc bom đạn dội xuống vẫn “đi bán trứng ở ga Lèn”!

ở góc nhìn kết cấu Đò Lèn có một cấu trúc khá thú vị; với hai từ mở đầu bài thơ “thuở nhỏ” cứ ngỡ với giọng kể này bài thơ sẽ cấu trúc theo trật tự tuyến tính. Giọng kể còn tiếp tục ở khổ hai và ở một số chi tiết khác nữa. Song khi đọc xong toàn bộ bài thơ thì thấy kết cấu đối mới là kết cấu chính của bài. Đây nhé đối về thời gian: “thuở nhỏ” với “bây giờ”; đối không gian “xưa” và “nay”; đối ở chính chủ thể trữ tình: “tôi thuở nhỏ” với “tôi đã lớn - đi lính”; đối trong cặp hình ảnh “bà - cháu” (già - trẻ); đối trong so sánh tương quan: “bom Mỹ dội” thánh với phật “rủ nhau đi đâu hết” còn bà thì vẫn “đi bán trứng ở ga Lèn” v.v… có thể thấy tầng lớp so sánh đối sánh trong kết cấu của bài Đò Lèn. Và từ trong những cấu trúc đối ấy người ta “ngộ” ra những điều thấm thía: Tình yêu quê hương bắt đầu từ tình yêu những kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo thần tiên tình yêu quê hương bắt đầu với tình yêu bà ngoại tình yêu quê hương gắn liền với ý thức biết ơn quá khứ cội nguồn…

Vì thế khổ thơ cuối như một vĩ thanh của sự ân hận sám hối chân thành:

Tôi đi lính… lâu không về quê ngoại

Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!…

Đã có ai đó nói rằng; một bài thơ hay có khả năng đánh thức và thanh lọc tâm hồn. Đò Lèn của Nguyễn Duy là minh chứng cho khả năng tuyệt diệu ấy của thi ca.

Với Đò Lèn thơ ca Việt Nam có thêm một biểu tượng nữa về hình tượng quê hương: Từ “bờ tre” “giếng nước” đến “chùm khế ngọt” và bây giờ là “bà ngoại”!

                                                                  Tháng 10/2006

                                                                        H.D.T

More...

THƠ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THANH THẢN

Nhớ ngày vui toàn thắng

Ngày chiến dịch

Thuở Quang Trung hành quân thần tốc

Vạn dặm bước người võng cáng thay nhau

Ngày chiến dịch Hồ Chí Minh thần tốc

Rầm rập pháo tăng rung cả địa cầu.

Đường tiến quân

Vừa giải phóng Tây Nguyên đã Thừa Thiên Quảng Trị…

Lại Long Khánh Biên Hòa Bà Rịa Cần Thơ…

Đất giải phóng nối nhau giải phóng

Đường tiến quân chưa vui thế bao giờ.

Quân chiến bại

Lính đạp lính tháo thân bỏ chạy

Tướng tá chen nhau bám trực thăng chuồn

Loạn xạ phố phường “Tùy nghi di tản”

Từng đống quân trang vứt bỏ bên đường.

Ngày 30 tháng tư

Những đại lộ quân tiến về rầm rập

Phố xá thênh thang sạch bóng quân thù

Cả nước vang lừng “Bài ca thống nhất”

Sài Gòn sáng bừng một sớm tháng Tư.

                                              T.T

HUY TRỤ

Viết ở Sầm Sơn

Không có em

Biển đẹp để làm gì?

Biển sẽ chết

Vì cô đơn lặng lẽ

Không có anh

Em đẹp rồi cũng thế

Trước nõn nà

Con sóng vỗ ngu ngơ

Chả thế mà

đến đá cũng thành thơ

Cũng biết hóa thân

thành hòn Trống Mái

Hơn tất cả

để con người tồn tại

Là tình yêu

vỗ sóng gọi ta về…

                                 H.T

LÊ ĐĂNG SƠN

Sầm Sơn chiều tháng ba...

Sầm Sơn - Sầm Sơn!

Núi Trường Lệ (*)

Như nàng tiên nằm sát biển

Đón những đàn hải âu bay liệng

Những cánh buồm thấp thoáng phía trời xa

Rét tháng ba và nắng tháng ba

Câu dân ca của ông bà dẫn tôi về biển biếc

Ôi cây đại già trước đền Độc Cước (*)

Thân thành lũa rồi

Cây vẫn đơm hoa

Hạ sắp về- biển người sẽ ùa ra

Biển hoan ca

Con sóng hoan ca

Mây gió cũng hoan ca

Cùng những chú còng nhập nhòa trên cát

Nhấp một ngụm biển xanh mặn chát

Tôi tìm em trong xanh thắm biển chiều

                                                Sầm Sơn tháng 3 năm 2006

                                                                L.Đ.S

(*): Núi Trường Lệ đền Độc Cước những thắng cảnh đẹp nổi tiếng của Sầm Sơn

Hoàng Vũ Thuật

đêm ngọc thùy

cây đội trần nhà dựng vòm trời ẩn

dưới vòm trời

thập loại chúng sinh lang thang tìm lối sống

đá bao nhiêu đại đắp thành Hồ

sông bao nhiêu kỷ thành sông Mã

em bao nhiêu tuổi vỡ giọng

thành cậu bé ngốc nghếch anh qua mấy kiếp người

tháng chín đất sủi men

rốn gió phơi ngoài thân xác

tiếng nói nhập nhòa khói thuốc nhập nhòa

nét chữ nhập nhòa

trộn vào nhau

lẫn vào nhau

cảm vào nhau

nếu sống lại sau khi đã chết

vòm trời cao thêm và đất rộng hơn

những đôi chân mọc chéo trên cỏ ướt

dan díu nở ngàn sao Ngọc Thùy

tạ từ bờ khuya

tạ từ mắt nến

anh chạm mặt vào đêm.

                                   15/9/2005

                                      H.V.T

Hoàng Vũ Thuật

Điều ấy có ý nghĩa gì

sáng nào tôi cũng quỳ trước đóa bồ công anh

Điều ấy có ý nghĩa gì

nắng hoàn trả màu vàng kiêu hãnh

mấy con châu chấu tí tách đôi càng khô

đá vào thân lá non mới nhú

tôi buộc tôi vào góc phố

sáu mươi ngày bông lông chui qua ngón tay mồ côi

muốn dứt khỏi bàn

còn mọc lại như loài châu chấu

điếu ấy có ý nghĩa gì

thế giới ngủ sớm dậy muộn

mình vuông mộ Lép Tônxtôi tỉnh thức

cỗ xe ngựa đóng sẵn cho cuộc viễn du

ngược miền phù phiếm

điều ấy có ý nghĩa gì

nghẹt thở vì xe cộ

vì mỗi tháp chuông nhà thờ nối với một ngôi sao

vì chú lạc đà trong công viên bỏ quên sa mạc

vì đôi chân trần bạch dương quyến rũ

điều ấy có ý nghĩa gì

tôi thường đếm từng nấc cầu thang xuống lên

đếm tiếng trái tim khuya

dấu vết thương vừa ủ

cổ lỗ tên hề

điều ấy có ý nghĩa gì.

                                            Matxcơva - Phố Tuyết 2/8/2006

                                                                 H.V.T

THANH QUẾ

Thời gian

Thời gian như một con tàu

Bằng qua

Tôi- một người già - gọi to

- Dừng lại dừng lại cho tôi lên với

Nhưng tiếng của tôi thời gian không nghe thấy

Nó tiếp tục phóng nhanh

Bánh sắt gõ dập dồn

- Dừng lại dừng lại cho chúng tôi lên với

Những người già như tôi cùng gọi

Nhưng thời gian đã bỏ chúng tôi lại phía sau

Đi xa ngái…

                                               3/10/2004

                                                   T.Q

NGUYỄN ANH NÔNG

Soi gương

I

Ai ngồi trước mặt tôi lù lù?

Hai mắt - đôi cánh bướm ma?

Cái mũi dọc dừa

Đôi môi phập phù hàm răng ngô non?

Và cái lưỡi bập bùng sóng gió?

II

Tôi đấy - kẻ quen quen nào?

Hàng ngày vẫn gặp nó đùa vui bên dòng suối

Vẫy vùng cùng nhau bể men nước xanh?

Hắn khác hoa sen ở mùi hương

Hắn khác hoa huệ ở màu sắc

Hắn khác chiếc chuông ở tiếng ngân

Hắn khác người khác cái người khác không hề có.

III

Tôi đấy - cái bóng vật vờ ngây ngơ

Không rời nửa bước?

áo cơm - sợi dây vô hình

Cột đời ta vào cây lau mơ mộng

Phất phơ chân lý lên ngôi

Bùn đất tư duy sực nức hương vị

Tình yêu- nô lệ

Tôi đấy- gã lạc đà mộng mơ

Ngật ngưỡng bước qua thiên niên kỷ?

Mây bay bay trong chiếc gương kia

Gió ca hát lừng hang trinh nữ?

Mặt trời chói chang thời hiện tại

Tôi hóa hoa hay hoa hóa tôi đây?

                                   N.A.N

NGUYỄN ANH NÔNG

Loanh quanh

một khúc sông Bằng

( Nhớ Y Phương và các bạn vong niên ở Cao Bằng)

Có điều gì đau đáu Bằng Giang ơi!

Dòng sông quặn mình như người trở dạ

Vốc nước gói làm sao gói được?

Vòm tay lã chã ánh sao trời

Có điều gì nhồn nhột gót chân ơi?

Sỏi đá cựa mình tỉnh giấc

Lau sậy phất phơ tóc bạc

Có điều gì bứt dứt chẳng được yên?

Có điều gì mây gió thẫn thờ em?

Nắng đẹp? mưa giông? điềm lành? điềm dữ

Lũ chuồn chuồn vầng trán ưu tư...

Chẳng chờ nổi trời xanh kia thấu đáo

Trời cũng lơ ngơ như cây cỏ thôi mà

Cỏ thực đấy mà như hư ảo

Lịch kịch Bằng Giang đá đẻ hoa.

Trời ơi trời sao trời tít mù xa

Thôi trách trời làm chi trách mình chưa từng trải

Chợt nhớ bỗng nhiên ta trẻ lại

Phăm phăm bước ngựa không lòa.

                                   Thái Bình 1992

                                          N.A.N

VĂN CÔNG HÙNG

Hồi ức rơm rạ

Chiều ngoại thành mỏng tang như lụa

khói đồng lơ mơ mắc võng cánh diều

rơm rạ nồng nàn chống chênh hồi ức

trâu nghênh sừng đón gió. Trăng lên

thấp thoáng tuổi thơ tôm cua ốc nướng

quần đùi chân đất ngây ngấy bùn non

có em tóc ngắn tròn môi thổi lửa

căng mỏng nâu non zôn zốt mắt nhìn

cỏ mềm như đất ru ngủ ban trưa

em gánh mùa về rơm vàng như nắng

nón trắng ngập ngừng triền đê tóc rối

có một ánh mắt cánh buồm xa xăm

cánh buồm ấy giờ xa rồi

nón trắng không ai đội nữa

chỉ còn mùi thơm rơm rạ

vĩnh cửu thời gian

và tôi

chiều nay trước cánh đồng lộng gió

tự ru mình

cọng rơm ngày nào gầy guộc trên tay…

                                                      Pleiku 01/10/2003

                                                               V.C.H

Lê Thanh Tùng

Chuyện của ba

                                   Tặng con gái Lê Chiêu Lan Lan

Hồi xưa con bằng hạt ngọc

Ngược đầu cúi xuống trần gian

Mẹ mang con đi ngang dọc

Ba thì lo lắng miên man.

Rồi bình minh màu rực đỏ

Là máu mẹ lúc sinh con

Mặt trời nhô lên ngơ ngác

Dòng sông không chảy cho mình.

Ba đi một đời một chuyến

Dọc miền cao đạo nhân sinh

Vai mang chữ đầy ruột tượng

Vơi đi chẳng kiếm được mình

Con cứ chờ ba đầu ngõ

Ba về mang chỉ bình yên

Vì con ba làm ngọn gió

Mát lành nâng cánh diều lên.

                                  Sài Gòn 2002-2005

                                             L.T.T

Hồ Duy Sơn

Ngọn núi của mẹ tôi

Tôi hiện diện trong lòng mẹ tôi là một ngọn núi bời gió bời cây. Mẹ xây đắp nên và ngày ngày mẹ lẳng lặng chăm sóc cho ngọn núi đó tươi tốt ngập đầy màu xanh ngập đầy hương hoa và tiếng chim ríu rít… Mẹ yêu ngọn núi của mình.

Ngọn núi đó không ưa những cây hoa đổi màu sáng trưa chiều tối không cùng một dạ. Chỉ có tiếng chim trong veo là xuất hiện trên núi chỉ có gốc măng hiền ngoan mọc mầm trên núi… Ngọn núi của mẹ cương sức mùa đầy.

Cũng có lúc bão giông lũ quét. Ngọn núi của mẹ oằn oại mình ngập trong con dốc nước ồ ạt chảy. Nhưng mẹ vẫn vui vì ngày sau đó ngọn núi của mình lại tươi tốt sắc xanh tràn trề dưới ánh ngày lộng lẫy.

Nhưng mẹ biết ngọn núi của mẹ vô tâm lắm! Cứ nhởn nhơ cợt đùa với ánh ngày sót lại nhởn nhơ với tiếng chim hát ca không biết mệt mỏi. Mà đâu biết mỗi chiều mẹ lại trông về hướng núi mắt nhìn xa xăm. Có biết bao người con hiện diện trong lòng mẹ là một ngọn núi?

Mẹ xây nên ngọn núi để nương nhờ bóng mát bóng núi thì to mà sao không che hết bóng mẹ?

                                                                  H.D.S

Đặng Thịnh Tư

Đặng Thịnh Tư quê ở Nga Sơn Thanh Hóa. Hiện tại anh là thượng tá kỹ sư Trưởng phòng đào tạo của trường Trung học giao thông của Binh đoàn 12 (Quân đội). Đặng Thịnh Tư yêu thơ từ nhỏ làm thơ đã lâu sắp sửa ra mắt tập thơ 70 bài.

Tạp chí Xứ Thanh được nhà thơ Vương Trọng chọn gửi. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một chùm thơ của Đặng Thịnh Tư.                                                                                                   

                                                                      B.B.T

Rét tháng ba

Chỉ có nàng Bân chậm trễ

Nỡ kéo cả mùa đông về

Người vui trong tà áo ấm

Kẻ buồn cô quạnh tái tê.

Bến sông đỏ màu hoa gạo

Trời xanh chẳng thể nào xanh

Chiều lòng áo đan dang dở

Đâu ngờ bao bóng phong phanh

Qua rồi thôi đừng ngoảnh lại

Chạnh lòng ta đứng lỡ làng

Cỏ may một chiều xơ xác

Nuối nhìn theo chuyến đò sang

Có còn đường kim sợi chỉ

Gửi người ở tận phương xa

Tháng ba sao trời trở lạnh

Ai cùng chia rét với ta?

                                       Đ.T.T

Em đã quên anh

Bất chợt trời se lạnh

Gió ngơ ngẩn chiều hanh

Mảnh mai vài tia nắng

Em cồn cào trong anh

Đò vô tình bến cũ

Nước lặng tìm biển khơi

Mạn lục bình tan tác

Bờ hoang vắng sông trôi.

Tình yêu nào “có tuổi”

Giấc mơ mãi “còn xanh”

Chỉ lòng người thay đổi

Và em đã quên anh .

Hái về bao hoài niệm

Kết thành vành khăn tang

Buông theo dòng ảo vọng

Khóc cuộc tình nát tan.

Đ.T.T

Thăm quê

Chị em biền biệt xa nhau

Thời gian thấm thoắt sắc màu nhạt phai

Mẹ cha lấp bóng non đoài

Người thân ai đã là người cổ nhân

?ổi thay trời đất xoay vần

Tóc xanh hay nhuộm mười phần tuyết sương

Em về thăm lại cố hương

Nhấp nhô ngày ấy con đường giờ đâu?

Nơi nào vại nước hàng cau?

Hoa bay rơi trắng trời ngâu một chiều

Nơi nào mái ấm thân yêu?

Chị em ríu rít nhiễu điều giá gương

Đi qua biết mấy dặm trường

Chan chan chín nhớ mười thương đong đầy

Ước chi có lại một ngày

Khoai xanh đồng Ná cua gầy đồng Quan

Ước chi lặng bể yên ngàn

Lòng người nhẹ bớt đa đoan nỗi niềm

Em đi “chân cứng đá mềm”

Trời quê có một chị hiền dõi theo.

                                                              Đ.T.T

Bùi Đức Vinh

Hát dưới mưa sương

Hoa ngây vàng nức nở ban mai

Ngày tôi làm bạn với đám trẻ lang thang đánh

giầy ngoài phố

Có đứa tên là Ngôn đã mệnh danh tôi là thi sĩ

Ước thơ tôi là cơm nguội cho các em đỡ đói lòng

Em ngồi xuống cùng tôi cứ hồn nhiên mà cười nói

Em đừng bận tâm tấm áo manh quần bóng bẩy tôi sĩ diện

ngồi tán phét chuyện văn chương với người chủ quán

Hãy kết nạp tôi cùng quán cóc vỉa hè - chàng thi sĩ nửa mùa cô độc đánh bóng mãi chẳng được ngôn từ

nào giản dị cho em và thơ tôi thì em đâu có đọc.

Hy vọng trên cánh đồng đời em đừng là cỏ lồng vực

Vứt bỏ con chữ xa lạ và sáo rỗng chiều nay cầu mong tâm hồn em không chai sạn và an ủi được số phận em

những tháng ngày phiêu bạt

Tôi cao hứng có lần dùng những từ to tát

Nào biết quanh tôi bao nhiêu người khóc

Tôi chót mặc nhầm tấm áo khách thơ

Đam mê hết ngày viển vông mây khói

Chiều nay giật mình nghe tin trên trang báo

Có đứa trẻ cầm đôi giầy của ai đi mất hút

Đó không phải là thằng em Ngôn của tôi.

                                                            B.Đ.V

More...

TÔI VIẾT TRƯỜNG CA HÀM RỒNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                                                           TỪ NGUYÊN TĨNH

       Tôi không phải là người viết thơ xuất sắc của thời kỳ “Ban vận động thành lập Hội” ra đời. Chỉ được in “nhỏ giọt” vì thơ tôi có “nhiều vấn đề lắm”. Không lấy cái vần làm chủ mà đi theo một khuynh hướng khác. Làm thơ một lứa nhưng Nguyễn Hoa thì được các báo: Quân đội Quân khu ba thậm chí “Người bạn văn hóa” cũng in nhiều hơn. Vào Hội - chẳng qua là “cơ cấu”- Lính Hàm Rồng cho nó đẹp đội hình.

Nhưng chuyện viết Trường ca thì quả thật là “ngộ nhận” hay không biết ông trời mấy tuổi cũng là phải thôi. Thuở ấy trường ca ở cái quốc gia này (văn học miền Bắc) dường như mới chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trường ca “Chim Chrao” của Thu Bồn ra đời 1964 làm chấn động người đọc. Một số anh bạn lính (như XG chẳng hạn) đọc rất say mê đôi lúc còn bắt chước cả kiểu gieo vần ấy nữa.

Tôi không bắt chước ai đọc một vài tập thơ của Mai A đọc Fêtơphi thấy họ khác ta lắm. Cái vần lặn tăm còn một biểu tượng. Chính vì thế mà những năm cấp 3 hoặc ở cái hợp tác xã Đại Long (Xuân Quang) có rất nhiều nhà thơ: Lê Xuân Vấn Lê Đình An Lê Văn An Lê Đình Bằng Lê Xuân Giang… Thơ tôi khác họ. Họ bị cái áp chặt của nước giếng thơi (Nguyễn Bính) hoặc cái thằng dằng của thơ mới. Tôi thì phá cách - phóng túng như tính mình…Không phải tôi không bị sửa gọt có bài in lên: mừng - vui và xấu hổ. Nhưng thời đó được in một bài thơ quả là tự hào (cao ngạo) vì người ta chỉ viết tin bài cho báo hoặc đài (TNVN) mình được in thơ hẳn hoi. Nhưng đó là năm thì mười họa…

Tôi được triệu lên trung đoàn khi tiếng súng ở Hàm Rồng ngưng do có lệnh ném bom hạn chế của Giônsơn vào cuối năm 1968. Nằm ở Quan Nội rồi Cự Đà để đi tuyên truyền giáo dục chính trị cho bộ đội. Phùng Phê-lính đại đội 1 trung cao -thì vẽ tranh còn tôi thì viết lời để đọc. Bây giờ ai mà nghe tôi đọc thơ chăc sẽ chán lắm. Giọng khê nồng không diễn đạt được vì ít tự tin rằng thơ mình đến độ (vang) chứ nói chi cái kiểu khoa tay múa chân làm nghệ thuật.

Được rời trận địa mà tự do là sướng rồi. Chè vào thuốc lá là ngủ không còn biết trời đất là gì. Vì ở ban chính trị lấy ai mà thổi còi đốc thúc. Cái kiểu “vô tổ chức ấy” được phản ảnh tới tai lãnh đạo Ban - Ban thôi còn các ông cao hơn nữa thì hay đùa với tôi mà lại. Và có ý kiến không thấy tay Tĩnh nó chuẩn bị gì cả… Thế là “tức mình” đi bộ ra Yên Vực mua vài gói chè ba hào chè ba hào bán ngoài cũng năm hào là cùng. Uống đặc và ngồi thâu đêm viết. Phùng Phê vẽ dù là họa sĩ nghiệp dư thôi nhưng Hàm Rồng có ai hơn hắn. Lại có bộ mặt “tủi thân” vì mới bỏ vợ đang đeo đuổi một cô ở gái ở Âu Thuyền .

Do có phản ảnh mà ông Tuấn (khóe miệng có răng vàng) thúc dục phải thông qua để triển khai. Tôi nói cho mà biết chỉ vài chữ ở Ban chính trị về đại đội là coi như sự phấn đấu đi tong. Thế là thông qua. Để cho nó dễ dàng đọc theo tranh của Phùng Phê tôi đành viết một bài “tràng giang đại hải” thơ năm chữ - Tôi đọc thấy ở đâu đấy thơ “ngũ ngôn trình thiên” thì cứ thế mà kéo. Đoạn tả đoạn ca ngợi gương đoạn đưa lời lãnh tụ… Rồi bà mẹ giặc lái công nhân cô Tuyển cô Hằng nhà sư các chị các mẹ các em… Đã nói là chiến tranh nhân dân mà lại. Giấy không có Lý Đình Tuấn không hiểu đi lấy nhuận bút qua ban đã cho một tập hóa đơn bị loại. Thế là viết và lại sửa. “Thật là vĩ đại” - cuộc chiến tranh ở Hàm Rồng đã được tái hiện bằng thơ. Không ai ca ngợi tôi cả. Đó là cái may - không còn bị phê bình nữa. Ráp vài lần với tranh của Phùng Phê. Hắn chua lời ở dưới để tôi nhớ. Thú thật cái kiểu cầm cái que mà chỉ vào tranh và đọc “mê ly” - thơ - không phải là năng khiếu của tôi. Hai thằng kiếm một đoạn tre dùng giây thép mà khiêng tranh đi khắp trận địa để triển lãm. Bây giờ gặp các chiến hữu thì ai cũng nói một câu tiên tri: Hắn thành nhà văn là đúng rồi. Thời ấy đã thể hiện rõ rồi mà!… Nhưng thực ra không ít người bịt mũi vì cái giọng khê nồng của tôi.

Xong việc bỏ đi thì tiếc mới chép vào giấy đen có dòng kẻ đưa ra Ty Văn hóa. Thời đó tôi ngây ngu lắm. Tin là “mầm non” như mình sẽ được “cứu rỗi linh hồn”. Thế là chép gửi ra Ban vận động và chờ.

Thời đó Lê Xuân Giang cũng viết thơ in cũng sớm. Thơ anh ta hiền còn viết cả truyện ngắn nữa. Một hôm anh ta về có lẽ muốn làm tư tưởng nên rào đón tôi. Tớ mới ở Thanh Hóa về - Anh Mai Ngọc Thanh có gửi cho mày cái thư - phải thật sự bình tĩnh mà đọc. Tất nhiên viết thơ là khó nhất là trường ca mình không qua đại học Tổng hợp chưa có kinh nghiệm viết thì làm sao mà sáng tạo. Tôi run lắm giở thư ra: … Đối với các nhà văn nhà báo nói chung là người viết lách tôi quý trọng họ vô vàn. Tôi không được học mà họ có học cơ mà. Chả thế có lúc tôi đùa với ông Giang may cái thời đó ít bịp bợm chứ những thằng buôn trâu bò mà nó xưng danh nhà thơ thì mình cũng có đồng nào là lo cho chu đáo.

Thư anh Mai Ngọc Thanh ngày 06/05/1972 viết:

“Rất tiếc là tập trường ca của anh chúng tôi chưa thể sử dụng đựơc. Bởi vì đã là trường ca thì phải khắc họa được nhân vật - nhân vật lý tưởng mang ý nghĩa giáo dục người đọc. Trường ca đòi hỏi một công trình lao động nghệ thuật lớn lắm. Mà sự kết tinh của công trình ấy là hình tượng nhân vật xuyên qua toàn bộ tác phẩm. Về sự thể hiện anh dùng thơ năm chữ là không vào được. Điều này cũng do nội dung quyết định. Xác định được hình tượng nhân vật mang chủ đề tư tưởng của tác phẩm thì hình thức sẽ khác thôi.

Anh đã bỏ ra quá nhiều công phu. Chúng tôi rất thông cảm với anh điều đó. Nhưng không còn cách nào khác để sử dụng được.

Muốn viết trường ca phải có vốn sống rộng và lớn lắm. Nghệ thuật cũng đòi hỏi cao tay lắm anh Tĩnh ạ.

Chờ đợi anh những thành công mới

Chúc anh và các đồng chí khỏe”

Lê Xuân Giang đưa thư mà không nói gì cả. Vả lại anh ta biết nói gì. Có phải là phấn đấu vào Đảng đâu mà anh ta động viên rằng phải kiên trì cố gắng rồi tập thể và chi bộ sẽ chú ý không trước thì sau thế nào chả hy vọng.

Năm đó 25 tuổi đời bảy tuổi quân đã nếm mùi thất bại; với văn thơ thì không để đâu mà kể. Gửi đi và hy vọng nhưng bặt vô âm tín. ý kiến của anh Mai Ngọc Thanh lúc đó tôi có biết gì nhiều về lý luận mà bảo không cam chịu. Cất vào đáy hòm đạn cũng chẳng biết làm gì cả.

Vào đầu năm 1975 đi B không hiểu sao lại chuyển sách vở và đồ lề về quê. Thư của các báo trả lời bài vở và mấy tập bài in rô nê ô đen ngòm cả Trường ca Hàm Rồng cũng nằm ở quê. Sau này bao lần chuyển nhà không còn nhớ đến những cuốn sổ và bản thảo bị mối mọt ấy cả.

Đến cuối năm 1999 không hiểu sao Nhà xuất bản Quân đội nhân dân lại có giấy mời đi dự trại của họ ở Đồ Sơn. Có lẽ tôi đã in tiểu thuyết “Mảnh vụn chiến tranh” ở đấy. Tôi cũng kịp lấy mớ giấy in và bị mối mọt ấy ra xem sao. Buồn đốt đi thì tiếc mà để lại chả biết làm gì. Hóa đi gần hết. Thật buồn cười cái năm đi học đại học về vợ tôi nói chẳng phải là phàn nàn. Vì thiếu giấy đi vệ sinh không biết chữ mẹ tôi lấy cả một năm tem phiếu của ba mẹ con mà lau. Tôi gắt mẹ thiếu gì giấy mà mẹ lại không dùng lại dùng tem phiếu… Thời ấy tem phiếu mà mất là cả một năm vợ con phải ăn lạt. Lúc lục mớ giấy tờ - trường ca ra để đánh máy. Đưa một bản sang nhà xuất bản Lã Hoan biên tập và cứ khen ruồi: Lúc đó mà anh đã viết được cả ngàn câu thơ “chưa độc” nhưng kể là liều. Cậu ấy cười tôi chờ đợi. Hoan nửa kín nửa hở. Trường ca - có người bảo là (…) Tôi đi trại Đồ Sơn. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân nhận in rồi. In bao cấp. Đến trại mới cóp ra ba bản. Đưa cho Trần Đăng Khoa Nguyễn Đức Mậu và Vương Trọng nhờ xem. Nhà thơ Vương Trọng bảo ông mà đưa cho Trần Đăng Khoa nhiều việc chưa chắc đã nhớ. Tôi nhờ bác Mậu xem ông bảo nên dở ra mà làm lại. Tôi cũng quyết tâm mà “cải tử hoàn sinh” cho số phận của “Trường ca Hàm Rồng”. Khi in ra thật đã khác chú lính- 25 tuổi ngày nào. Tất nhiên nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã đẽo gọt và “nâng cao” cho tôi. Tôi thấy mình thật non kém. Anh Mai Ngọc Thanh thật là tinh tường - Trường ca quả là khó lắm không dễ dàng một chút nào.

Thế là gần ba mươi năm một “Trường ca Hàm Rồng” mới được ra mắt được giải chính thức của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Giải A Lê Thánh Tông của Hội. Và Hội Văn nghệ cũng xét gửi lên tỉnh tặng giải A năm năm. Nhưng tôi rút: Mạnh Lê nói có lẽ là nể tôi: Ban sơ khảo để loại B chỉ mình em có ý kiến. Thật ra ban sơ khảo họ đều có tác phẩm hàng năm đoạt giải B bây giờ xét 5 năm họ lại đưa lên giải A cả - Còn trường ca của tôi từ A xuống B. Được giải ở Trung ương cũng là tham khảo thôi chứ. Ôi! Trường ca mi cũng bị đánh đuổi đến cùng - Khó lắm. Viết được khó lắm… Tôi rút vì lẽ nữa. Đối với người lính Hàm Rồng tôi làm được một điều có ích. Tôi đã viết về họ. Ba mươi năm sau nó vẫn sống với trận địa và đồng đội. Tôi là chú lính đi tuyên truyền về Hàm Rồng - Anh hùng ca cũng là điều thú vị.

Viết Trường ca một cách tùy tiện - Vì nhiệm vụ chiến đấu tuyên truyền cho Hàm Rồng anh hùng. Không sợ “lý luận” và không hề biết gì về lý luận trường ca rối bươm cao chót vót… Bây giờ thì cái xứ Thanh có nhiều trường ca lắm rồi: Khúc hát bắt đầu từ nguồn nước (Văn Đắc) Thành Tây Đô (Văn Đắc) Trường ca Sơn Tỉ (Mai Ngọc Thanh) Người đánh thức đất đai (Mạnh Lê) và… Có lúc đùa dai với nhà thơ Mạnh Lê: “Viết thì một rừng Trường ca… chỉ có Trường ca Hàm Rồng của tớ là vào giải Trung ương thôi!” Chắc lúc đó mà có cái gương thì tôi cũng kịp nhìn bộ mặt của chú lính Hàm Rồng ngây thơ thuở nào đã biến sang “cao ngạo” nhưng vì tuổi tác mà có vẻ phụng phịu đến tức cười.

                                                                            Ra xuân 2007

                                                                                 T.N.T

More...

THƠ TRÊN TẠP CHI XỨ THANH

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                                                                          MẠNH LÊ

            Thanh Hóa là một vùng quê có bản sắc riêng. Cái bản sắc riêng thực sự có được khi các tác giả thơ Thanh Hóa bằng cái “tôi” của chủ thể sáng tạo để thể hiện được những tính cách cao đẹp của đất và người quê Thanh qua quá trình vận động và phát triển của lịch sử. Chỉ có riêng thơ Thanh Hóa hiện đại Thanh Hóa đã có những tác giả dù số lượng tác phẩm không nhiều nhưng đã có đóng góp cho sự phát triển của thơ ca hiện đại Việt Nam.

Thơ trên Tạp chí Xứ Thanh có thể kể đến thơ của các tác giả xuất hiện tự khi có tập san Người bạn văn hóa tiền thân của Tạp chí Xứ Thanh ngày nay. Thơ trên Tạp chí Xứ Thanh gắn liền với sự hình thành và phát triển của lực lượng sáng tác thơ Thanh Hóa. Từ bảy hội viên thơ ngày đầu thành lập Hội đến nay đã lên tới con số năm mươi hội viên chuyên ngành thơ. Cũng như chúng tôi những người được làm cán bộ biên tập thơ trên tạp chí từ nhà thơ Anh Chi đến nhà thơ Văn Đắc và bây giờ là tôi đều gắn bó công việc sáng tác của mình với sự phát triển của Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh.

Theo quan niệm của tôi công việc biên tập thơ và công việc sáng tác thơ là đồng sáng tạo. Cái tính đồng sáng tạo ở đây không có nghĩa là người biên tập sáng tạo lại tác phẩm thơ của cộng tác viên mà là sự hòa đồng xúc cảm cách cảm cách nghĩ ngôn ngữ giọng điệu giữa người biên tập với người sáng tác thông qua một tác phẩm thơ cụ thể.

Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh trong quá trình phát triển và đổi mới thực sự là địa chỉ tin cậy của các cộng tác viên thơ trong và ngoài tỉnh. Chúng tôi xác định rằng công việc hàng đầu của biên tập là khả năng phát hiện đánh giá lựa chọn những bài thơ tập thơ thực sự có chất lượng để giới thiệu trên tạp chí. Tạp chí Xứ Thanh không chủ trương “xã hội hóa” thơ. Đó là công việc của các câu lạc bộ thơ. Tác phẩm thơ được giới thiệu trên tạp chí phải là tác phẩm thơ mới về xúc cảm thơ có cấu tứ và ngôn ngữ thể hiện không xáo mòn cũ kỹ nhàm chán. Thơ trên tạp chí thực sự quan tâm đến những tác giả trẻ có giọng điệu riêng thể hiện ở cách cảm cách nghĩ mới và cách biểu hiện cũng mới. Tạp chí đã tổ chức cuộc thi thơ cuối thể kỷ XX (1998-2000) và trang thơ tuổi học trò nhằm phát hiện ra những cây bút sáng tác thơ trẻ và mới song các cuộc thi mới chọn được tác phẩm thơ có chất lượng cao còn mới và trẻ thì hầu như không tìm thấy. Những hiện tượng xuất hiện của các tác giả như Văn Cầm Hải (Huế) Vi Thùy Linh Phan Huyền Thư (Hà Nội)… là những tác giả thơ trẻ của cả nước chứ không giành riêng cho địa phương nào. Có thể nói Thanh Hóa chưa có lực lượng sáng tác thơ trẻ chứ chưa nói đến tác phẩm thơ mới mà hay.

Đội ngũ sáng tác thơ Thanh Hóa xuất hiện trên Tạp chí Xứ Thanh đa phần là tác giả đã định hình và có một số tác giả đã có giọng điệu riêng. Nội dung thơ Thanh Hóa chủ yếu vẫn là thơ phản ánh hiện thực đời sống xã hội và nếu là hiện thực tâm trạng thì cũng là tâm trạng mang hơi thở của hiện thực đời sống. Cái “ta” chung trong thơ Thanh Hóa chưa được thể hiện đậm nét qua cái “tôi” riêng. Giọng điệu thơ chủ yếu vẫn là kể và tả. Hình thức thể hiện vẫn sử dụng các thể thơ truyền thống và nghiêng về thơ tự do. Nhận xét về thơ trên Tạp chí Xứ Thanh những năm đầu thế kỷ đã có ý kiến cho rằng: “Nếu nhìn lại thơ Thanh Hóa trên đất Thanh Hóa lại chỉ “quanh quẩn mãi cũng vài ba dáng điệu tới hay lui cũng chừng ấy mặt người” từ nửa sau chống Mỹ đến cuối năm 1999. Họ vẫn là chủ nhân chủ lực của thơ…”(*)

Điều chúng tôi thực sự quan tâm là đội ngũ hội viên thơ của Hội Văn nghệ Thanh Hóa. Đây là lực lượng nòng cốt để có thể nâng cao chất lượng thơ trên Tạp chí Xứ Thanh. Các hội viên thơ Thanh Hóa đã có những bài thơ tập thơ đóng góp vào sự phát triển của Thơ Thanh Hóa. Song nhìn lại Thơ Thanh Hóa cũ mòn so với thơ ở một số địa phương khác. Để có một chất lượng thơ mới đội ngũ những người sáng tác thơ Thanh Hóa phải có sự thay đổi đột biến về nội lực sáng tạo. Quy luật của hoạt động sáng tạo không chấp nhận sự lặp lại mòn xáo. Cuộc sống đất nước ta từng ngày từng giờ đổi mới công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã đi vào chiều sâu. Hiện thực đời sống ấy cùng với sự động viên khích lệ của phong trào lẽ nào thơ Thanh Hóa cứ giẫm chân tại chỗ.

Trang thơ trên Tạp chí Xứ Thanh trong những năm qua đã được bạn viết bạn đọc đánh giá là trang thơ có chất lượng so với một số trang thơ được giới thiệu trên tạp chí của các địa phương khác. Điều mà chúng ta quan tâm là lực lượng sáng tác thơ trẻ và sự đổi mới trong ý tưởng xúc cảm ngôn ngữ giọng điệu ở các tác giả đã định hình. Chúng tôi mong mỏi ở nội lực sáng tạo của các hội viên thơ Thanh Hóa bởi quyết định chất lượng thơ trên tạp chí chủ yếu vẫn dựa vào lực lượng cộng tác viên nòng cốt lâu dài là đội ngũ hội viên chuyên ngành thơ Thanh Hóa. Còn việc giới thiệu thơ của các cộng tác viên ngoài tỉnh chỉ là hiện tượng ăn đong ăn vay nhằm duy trì chất lượng trang thơ cho tạp chí.

Vậy nên trang thơ trên Tạp chí Xứ Thanh luôn ở trạng thái hồi hộp chờ đợi một hiện tượng thơ có cách tân một cây bút trẻ một khởi sắc mới ở những cây bút đã định hình tất cả những chờ đợi đó đang nằm ở người sáng tác chứ không phải ở người biên tập.

                                                         Đầu xuân Đinh Hợi

                                                                   M.L

(*) Từ thơ trên Tạp chí Xứ Thanh 2006 nghĩ về thơ Thanh Hóa (Lưu Đức Hạnh - Xứ Thanh số 2+3/2007)

More...

TRUYỆN NGẮN DỰ THI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

CHUYỆN CHIẾC KHUNG XE

                                   Truyện ngắn dự thi của Trần Thúc Hà

     Giờ lành ngày tốt giám đốc Quyết chuyển về nhà mới. Chiếc xe bảy chỗ ngồi mới tinh lấp lánh bạc từ từ vào một vòm cổng lớn. Hai cánh cổng sắt cao rộng hoa văn màu vàng được đợi sẵn đẩy nhẹ lăn trên nền gạch màu nâu sẫm êm ru không tiếng động. Xe lượn một đường cong mà hai bên tùng vạn niên khoảng cách đều đặn xòe tán như chào đón. Xe dừng lại trước tiền sảnh của một ngôi biệt thự. Giám đốc Quyết tuổi độ bốn lăm khuôn mặt đầy đặn người vạm vỡ mặc bộ véc xanh đậm cà vạt cài khuy vàng giày nâu bóng hãnh diện bước xuống xe cùng vợ và đứa con trai mười bảy tuổi. Một người ở gái dìu bố Quyết. Ông ngoài bảy mươi nhưng khỏe. Có mấy chiếc va li cài khóa cẩn thận hai bố con Quyết tự tay xách theo. Mọi vật dụng từ cái cốc cho đến giường đệm dàn máy ti vi bồn tắm nóng lạnh… đều nguyên đai nguyên kiện được một công ty trang trí nội thất lắp đặt mấy hôm trước theo thiết kế cho sẵn. Quyết mở cửa dẫn cha đến phòng riêng dành cho ông. Phòng thoáng rộng nền lát sàn gỗ màu vàng nâu nhạt có bàn trà máy nóng lạnh chiếc ghế mát xa tự điều chỉnh nằm ngồi tùy ý. Phòng bên cạnh nhỏ hơn có cửa thông cho người ở gái giúp ông già. Ông già gật đầu theo con chỉ dẫn rồi thốt lên:

- Con chu đáo với cha quá. Cha không ngờ cuối đời lại được đầy đủ sung túc đến vậy!

Ông nói với người ở:

- Chị sen này. Chị đưa tôi ra vườn xem cây cảnh.

- Mới đến đang mệt cha nằm nghỉ vội gì. Quyết khuyên cha.

- Cha vui và khỏe lắm. Cha muốn biết bố trí cây cảnh trong vườn. Nó là sự hài hòa sang trọng tăng vẻ đẹp gấp đôi gấp ba cho ngôi nhà.

- Cha sẽ vừa ý. Con đã thuê công trình cây xanh đô thị thiết kế tạo cảnh và trồng các giống cây được lựa chọn kỹ.

Người ở gái tuổi chừng ba nhăm vốn quê mùa nhưng giúp việc vào nhà giàu có chị cũng được ăn mặc tử tế. Chị dẫn ông cụ ra vườn tựa như hai ông cháu. Chị phải nói cho ông cụ nghe vườn rộng bao nhiêu mét trồng những cây cảnh gì hàng cách hàng bao nhiêu có mấy thứ hoa vàng hay đỏ tường tận tỉ mỉ với ông. Ông rất khỏe. Nếu ở quê ông còn đi cày bổ củi được. Nhưng mấy năm lại đây chẳng hiểu sao đôi mắt mờ đục dần. Ông chỉ thấy thoang thoáng hình dạng không phân biệt màu sắc cây lá. Chợt ông hỏi chị:

- Vừa rồi cháu nói trước hiên nhà có đến sáu cây phát tài phải không?

Chị giúp việc dạ ông lại tiếp:

- Thường thì người ta trồng một cặp. Đằng này vậy là tham lắm. Rồi ông cười độ lượng. Thời đổi mới ai ai cũng cố sức làm giàu. Cũng chả trách.

Dạo khắp vườn ông trở về phòng. Vừa uống trà ông trò chuyện với chị ở gái:

- Chị thấy cơ ngơi ngôi nhà này thế nào?

- Dạ thưa ông! Bề thế sang trọng lắm. Con nhìn quanh quẩn trong vùng chẳng có biệt thự nào sánh nổi với nhà mình. Vật dụng trong nhà toàn mới khui hộp của ngoại rất đắt tiền. Nghe đâu cái nghế nằm cả ngồi tự động xoa bóp cho ông hàng của Mỹ đến mấy chục triệu bạc đấy!

- ừ ừ. Thằng con nhà tôi làm ăn được đấy chứ!

- Vâng. Cậu nhà là người chí thú làm ăn biết tích cóp đồng tiền. Cậu quan hệ rộng nhưng không như kẻ khác bồ bịch tiêu xài vung vãi.

- à này! Cái khung xe đạp của tôi nó để đâu nhỉ?

- Dạ để con hỏi lại cô cậu chủ.

Hôm sau Quyết vào phòng cha. Ông cụ khen ngôi nhà đẹp. Phòng ở của ông hướng ra khu vườn thoáng đãng mát mẻ hợp với tuổi già. Ông hỏi cái khung xe đạp Quyết đáp:

- Cha à! Hẳn con để quên nhà cũ. Con nghĩ trong phòng tiện nghi hiện đại này không có chỗ.

- Thì con cứ đóng mấy cái đinh móc vào tường cho cha.

- Sao tiện! Nhà mới gắn cái khung đạp rỉ vào trông nó lem nhem luốc nhuốc quê kệch. Thiên hạ sẽ cười mình không có văn hóa.

- Văn hóa gì lạ vậy? Bảo tàng kháng chiến nhà nước còn trưng bày những chiếc xẻng đất ống bương đựng nước nơi trang trọng nhất. Chiếc khung xe là vật kỷ niệm tôi đã kể cho anh nghe. Nhờ có nó nhà này mới nên cơ nghiệp. Giữ gìn nó mà là không có văn hóa?!

- Nhưng mà…

- Không nhưng gì hết - ông to tiếng - Anh cứ lấy về cho tôi. Không có nó tôi không chịu nổi đâu!

- Cha thật gàn. Con sẽ đi lấy.

Quyết bực bội bỏ đi.

Chiếc khung xe đạp khi còn ở ngôi nhà cũ nhiều lần Quyết đã muốn ném đi. Không phải vì nó hoen rỉ để góc nhà thêm chật chội mà sự khó chịu của vợ chồng Quyết. Vợ Quyết nói với Quyết giọng sắc lẻm: Không ngược xuôi mưu mẹo thì làm gì nên cơm nên cháo lúc nào cũng phải biết ơn cục sắt rỉ! Tâm trạng Quyết càng bức bối: giờ mình đường đường một giám đốc cỡ lớn một bước đi của vợ con dã có xe nhà đưa đón cả trăm người răm rắp kính nể cứ nhớ đến xuất thân con một ông xe thồ Quyết thấy ê chề hổ thẹn nhất là với đám thuộc hạ có gia thế này nọ. Quyết muốn quên muốn xua đẩy muốn không ai biết gì về quá khứ thế mà cái khung xe đạp cứ trêu ngươi cứ đeo đẳng như một minh chứng không thể chối cãi cha Quyết cố tình trương tranh níu giữ. Nhân thể về nhà mới Quyết xóa bỏ quên đi tất cả cái cũ để cho thiên hạ chỉ thấy cái thực tại quyền thế; giàu sang của Quyết. Quyết đã ném chiếc khung xe đạp với một số đồ vật dụng cho bọn ve chai sắt vụn.

Quyết định tảng lờ. Nhưng vài bữa ông cụ lại hỏi. Lần sau gay gắt hơn lần trước. Trong giọng nói của ông đầy phẫn uất. Chị người ở cho biết suốt ngày ông như người thất thần không nói một lời cơm chẳng buồn ăn gầy hẳn đi. Đến thế thì Quyết phải có cách. Quyết mỉm cười. Cả đến năm trăm con người trong xí nghiệp liên hiệp sản xuất thức ăn gia súc lắm kẻ tài ba cũng không qua được Quyết thì một việc cỏn con với ông bà già lẩm cẩm mắt kém có khó gì! Quyết tự đánh xe đi tìm. Quyết đến một hiệu sửa chữa xe đạp trông cũ kỹ lếch thếch ở ngoại ô. Họ chỉ Quyết một số khung xe Thống Nhất sau 1954 ở phía bắc của quốc doanh các cơ sở cá nhân ở phía nam nhưng chẳng có cái nào giống khung xe của ông cụ.

- Thế ông tìm loại gì? Chủ hiệu hỏi.

- Loại cũ nhất khoảng trước năm năm mươi năm mốt ấy!

- Chắc bố tôi biết. Bố tôi làm nghề đã gần sáu mươi năm.

Anh thợ gọi với vào trong nhà ông vui tính cười đùa với Quyết:

- Bọn thợ lem luốc này đón sếp lớn chắc hẳn được món bở đây! Nhận điếu thuốc trên tay Quyết mời ông nghiêm chỉnh nói: Có trước lúc đó thì nó phải được sản xuất trước năm 1945. Mà trước năm bốn lăm đều của Tây đưa sang. Ông có nhớ nhãn mác gì không hả! Không hả! Ông chỉ nhớ nó chắc thôi hơn các loại khung bây giờ. Trong các loại hồi đó có lin côn stét lin săm pi ô nan xanh ti chiên… Thằng xanh ti chiên thô khỏe nhất không có loại nào bằng.

Quyết mừng ra mặt:

- Tôi nhớ ra rồi! Đúng là mác xanh ti chiên. Có lần ông cụ nhà tôi đã kể về nó.

- Loại xe đạp đó Tây làm ra đầu thế kỷ đấy. Bây giờ ru bi hồng ngọc còn dễ tìm hơn loại ấy.

- Thế có loại nào na ná giống nó không?

- Không! Giờ mẫu mã mới cả. à mà có đấy. Một bảy một mười. Cái anh Vĩnh Cửu của Trung Quốc.

- Vậy thì tốt rồi! Ông đốt cho nó cháy hết nước sơn để nguội làm cho nó ý như cũ đã lâu. Mấy hôm nữa tôi quay lại. Và ông nhớ tạo ra vài chỗ móp méo tựa va phải đá nữa nhé.

Một cái thùng bằng giấy cứng bọc gói cẩn thận không ai nhận ra hàng gì được Quyết dấu trong đó chiếc khung xe đạp. Quyết thản nhiên mang vào phòng cha.

- Cha này! Con đã bảo con bận quá mà cha cứ nặng nhẹ với con. Bây giờ con đóng chiếc thùng vào tường phía trên cao ấy cho cha.

- Phải thế chứ con!

Ông già rạng rỡ. Chiếc khung xe đạp là cả cuộc đời của ông. Lịch sử quên sao được dân xứ Thanh trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Hàng vạn người xung phong đi dân công vận tải lương thực súng đạn từ khu 4 vào Điện Biên Phủ trên con đường cùng hiểm trở bằng gồng gánh mang vác xe đạp thồ. Ông được tổ chức vào đội xe thồ được giao chiếc xe đạp. Chính cái chiếc xanh ti chiên chắc khỏe thời đó nhiều người ưa chuộng dạo chơi phố phường. Bây giờ xe được cải tiến lắp khung gỗ hai bên để xếp hàng ghi đông nối dài cho tay lái khỏi vướng cọc yên ghép một thanh gỗ cao làm lực đẩy. Riêng cái bánh sau lắp thêm sáu thanh gỗ dày một phân rộng hai phân từ mô dơ đến vành để chịu lực chính cho các nan hoa. Ban đầu chất một tạ hàng tay lái chưa quen đẩy xe cứ nghiêng ngả có khi chỏng vó dọc đường. Tính ra còn thua người đi bộ đến nửa thời gian. Nhưng sau quen dần trọng tải tăng lên bất ngờ: 200 rồi 250 cân. Có xe đã vượt đến đích 300. Riêng xe của ông 350 cân! Tiếng đồn khắp tuyến vận tải. Có đoàn nhà báo đi theo chiến dịch không tin. Khi đến nơi họ thấy một chàng trai tuổi hai nhăm hai bảy da rám nắng tay nổi gân chân đất đang đẩy chiếc xe đạp thồ chất đầy hàng trên con đường gập gềnh. Họ cứ lặng lẽ theo sau. Khi đến chặng nghỉ họ vây quanh hỏi ông chở bao nhiêu ký lô? Ông đáp 10 hòm và chỉ con số 35 ký lô ghi trọng lượng trên mỗi hòm đạn. Họ lại hỏi ông vì sao bạn ông chỉ thồ được bảy tám hòm. Ông lấy ngón tay búng búng vào cái khung xe. Họ không hiểu ông giải thích nhờ cái khung xe nó chắc. Người ta lại hỏi nó nhãn mác nào ông đáp Xanh ti chiên là xe ra đời sớm nhất của người Pháp. Rồi ông buông một câu mà ông không ngờ mình có thể hài hước dí dỏm đến thế: Người Pháp làm loại xe chắc chắn này để cho chúng tôi chở súng đạn đánh Tây ở Điện Biên Phủ. Tất cả cùng cười. Các nhà báo bứt tay ông đầy thán phục. Kết thúc chiến dịch Điện Biên ông được tặng thưởng huân chương Lao động hạng hai được giữ chiếc xe làm phần thưởng. Năm 1958 cấp trên bí mật điều ông đi công tác và mang theo chiếc xe Xanh ti chiên. Con đường Trường Sơn vào Nam lúc bấy giờ mới mở chỉ có thể tải hàng bằng gùi vác. Ông đi cùng đoàn khảo sát. Ông quả quyết theo lối mòn ấy xe đạp có thể thồ được hàng. Những nơi phải leo qua núi đá dỡ hàng xuống chuyển từng đoạn. Ông đã lập được một tuyến thồ qua mấy cung trạm. Chừng nửa năm thì địch phát hiện. Một lần bị bom vùi nhưng ông thương nhẹ vài vết bom đập vào khung xe. Lần thứ hai ông thoát chết. Bom na pan thiêu trụi cả hàng lẫn xe chỉ còn trơ lại cái khung. Ông vác cái khung nhờ binh trạm cất giữ. Ông nhận một chiếc xe khác thồ hàng cho đến khi con đường mòn Trường Sơn vận chuyển hoàn toàn bằng cơ giới. ông trở về ngành giao thông công tác chiếc khung Xanh ti chiên theo ông cho đến ngày về hưu. Thằng Quyết con trai ông sau năm 1975 chỉ học hết lớp 7. Nhưng nhờ thành tích lí lịch của ông người ta cho đi học bổ túc công nông rồi tuyển thẳng vào đại học kinh tế. Mười năm sau nó được bổ nhiệm làm giám đốc công ty sản xuất thức ăn gia súc lớn. Bây giờ nó đã có một biệt thự sang trọng.

Ông thanh thản với tuổi già với kỷ niệm. Thường tuổi càng cao trí óc càng suy giảm ông cũng thế. Có lúc ông lú lẫn chuyện hàng ngày như vừa uống nước chè xong ông lại trách cứ người ở gái sao sáng nay chưa mang nước cho ông uống. Nhưng ký ức thời trai trẻ hy sinh gian khổ mà vui không mờ phai được. Đôi lúc ông mỉm cười nhớ lại. Cô gái làng bên cùng đi dân công với ông trong chiến dịch Điện Biên. Khi trả hàng xong xe đang rảnh rỗi cô ta háo hức muốn tập xe đạp. Thấy cô đẹp ông hẹn ra sau một quãng rừng trống để tránh đồng đội. Nếu biết ông sẽ bị phê bình vi phạm nội quy bảo vệ xe cộ. Vịn yên giữ xe cho cô ta tập được vài vòng mái tóc của cô dày cứ phả ngược vào mặt của ông. Cái mùi con gái làm ông ngây ngất ông đã cố ý cho xe ngoặt về một bên cô gái mất đà ngã nhào về phía ông. Ông dang tay đỡ cô gái vào lòng. Trong cái xiết tay thật mạnh vòng lưng cô gái của ông cô nhận ra một cảm giác lạ lùng nóng hổi mặt cô đỏ bừng. Cô để yên như thế vài giây rồi gỡ nhẹ tay ông ra vùng chạy. Về sau cô gái ấy là vợ ông. Ngày nào cũng như ngày nào ông sống lại ký ức xưa như là tuần hoàn của máu trong cơ thể làm cho ông sảng khoái như mình đang sống trong một thời oanh liệt. Nay vợ ông đã mất. Vật duy nhất còn lại của thời ấy là chiếc khung xe đạp. Nó không phải cục sắt vô tri vô giác. Nó là cả một quá khứ hào hùng là hơi thở máu thịt của một người bạn đời một người anh em chí cốt. Mỗi khi ông chạm vào nó sao mà dịu dàng êm ái đến thế. Nó thủ thỉ với ông ông trò chuyện với nó. Vài bữa không nhìn không sờ đến là nhớ nhớ đến se lòng tưởng như xa cách lâu lắm. Dạo thằng con chưa mang cái khung về ruột gan ông héo hắt mòn mỏi. Ông cảm thấy cô đơn trống trải đến mức không còn ý thức với cuộc sống nỗi bâng quơ sợ hãi cứ ám ảnh ông.

Khi chiếc khung đã được treo trên bức tường một đêm mộng dữ đến với ông: Chiếc xe thồ của ông đang vòng qua một hẽm dốc ông đã sơ suất cả xe lẫn hàng lao xuống vực thẳm tan tành. Ông thét lên một tiếng đau đớn làm cho chị người ở hoảng hốt chạy sang. Mồ hôi ướt đẫm toàn thân ông lạnh run. Chị lấy dầu xoa ủ ấm cho ông. Ông kể lại giấc mơ với chị và khóc rưng rức. Ông bảo sự thật không phải xe của ông mà lúc ấy trên đèo gần Điện Biên chiếc xe của bạn ông trời mưa trượt bánh lao xuống dốc nó dã ráng hết sức gìm xe nhưng rồi nó cũng rơi xuống vực thẳm với hàng hóa. Giấc mơ đêm qua làm ông bồn chồn nhớ đến chiếc khung. Đến sáng ông bảo chị ở gái mang cái khung cho ông. Chị ở gái bảo không gỡ xuống được vì chiếc khung đã vít chặt vào tường. Ông bảo chị kê bàn cho ông đứng lên. Ban đầu ông nghĩ qua một đêm mộng dữ mệt mỏi làm cho bàn tay ông kém nhạy cảm. Ông lại tiếp tục sờ khắp chiếc khung. Sao hình dáng nó lại nhỏ hơn tài đầu phuốc nó không to bè như Xanh ti chiên? Và nó lạnh ngắt hững hờ đến vậy?! Mọi lần chỉ chạm khẽ đầu mấy ngón tay người ông đã thấy ấm lên chiếc khung như cựa quậy hút vào ông để trò chuyện. Bất giác ông giật mình ngờ ngờ: có phải nó không giờ không còn nữa mà lại có những vết băm ở những nơi khác! Ông kêu lên: Không phải nó! Mặt ông tái xanh người nhão ra. Chị người ở nhanh tay đỡ ông xuống chiếc ghế tựa. Ông ngồi ngả cố giữ hơi thở đều hít thật sâu để giữ sức như ngày nào đang đẩy chiếc xe thồ hàng lên dốc ở chiến trường. Khi lấy lại được thăng bằng ông hỏi chị người ở giọng run run:

- Mắt chị rõ chị nhìn giúp lão.

- Dạ thưa ông không phải cái khung cũ ạ! Chị người ở quả quyết.

- Thế là thế nào đây! Chị có biết gì về chuyện này không?

- Dạ. Trước hôm về nhà mới con thấy cậu chủ vứt chiếc khung xe đạp cho bọn trẻ nhặt nhôm nhựa. Cậu lẩm bẩm tống đi cho khuất mắt để thêm ô nhiễm nhà mới! Gần đây ông hỏi luôn thì cậu chủ đi tìm chiếc khung khác thay thế. Hôm đưa về con chăm chú nhìn cậu chủ đe con. Cậu còn dặn không được nói gì cho ông hay. Có bạn cũ hồi chiến tranh đến thăm ông đưa ông ra phòng khách. Không được cho ai vào phòng ông. Hở chuyện con sẽ bị đuổi và trừ tiền công. Giờ con không nói ông cũng biết đấy là đồ giả.

- Trời ơi! Không có cái khung xe đạp thì đâu có mày ngày hôm nay? Đồ phản phúc loài ăn cháo đái bát. Quyết! Mày đối xử với cha mày như thế hử? Khốn nạn chưa! Phẫn uất quá mặt ông tím tái co giật rồi bất tỉnh.

Vài hôm sau ông qua đời.

Tang lễ xong chị người ở thôi việc. Nhưng ngày nào chị cũng đến viếng mộ ông đốt nén nhang khóc nức nở như người cha của mình mà năm năm qua chị chăm sóc để rồi ông chết một cách oan uổng!

Sau đám tang cha ít lâu bỗng nhiên khách hàng của xí nghiệp Quyết thưa dần không còn cái cảnh xe cộ nối đuôi nhau đến tải hàng về các nơi. Quyết vò đầu không hiểu nguyên nhân nào. Quyết còn nhớ ngày tổ chức ăn mừng vào nhà mới khách hàng các trại chăn nuôi đại lý các xí nghiệp có liên quan ai cũng đến chúc mừng nhiều giao ước mua hàng được bàn bạc trong bữa tiệc. Quyết ước tính phải tăng gấp đôi sản lượng mới đáp ứng kịp nhu cầu cho khách hàng. Rồi đám tang của cha Quyết người đến đưa tiễn còn đông hơn cả bữa tiệc. Đó thực sự biểu hiện uy tín của Quyết. Vậy giờ đây người ta cứ vắng dần. Sản xuất đã giảm hàng tồn kho vẫn ứ đầy. Tình thế này không chóng thì chầy xí nghiệp sẽ suy sụp. Bất chợt Quyết nghĩ đến câu: họa vô đơn chí! Quyết lo sợ lời người xưa nói không sai. Nhưng họa từ đâu đến thì Quyết chịu. Quyết tìm phương kế. Quyết lo lót chạy chọt trên dưới săn đón khách hàng bằng những ưu đãi riêng tư bằng giảm giá khuyến mãi. Quyết càng xuôi ngược vỗ về bao nhiêu khách hàng tỏ ra nghi ngờ tìm cách lánh mặt. Có người mách nước cho Quyết: Từ lúc về nhà mới đến nay chắc có sơ sẩy gì đây nên gặp rủi ro phải tìm thầy. Quyết tin. Xưa nay làm việc gì vợ chồng Quyết cũng coi ngày giờ cúng bái thần thánh lễ tạ rất hậu. Quyết nhớ đến ông thầy bạn của cha từng trong đội xe thồ ở chiến dịch Điện Biên sau trở về ông được học thêm làm kỹ sư địa chất. Ông nghỉ hưu chuyên tìm đọc sách cổ Trung Hoa. Kinh dịch lý số phong thủy ông thông hiểu cùng bạn tâm giao nhấp nháp chén trà đàm đạo một vùng quý ông lắm. Ông giúp cho người ta cất nhà chọn đất thuận theo hướng trời luồng sinh khí thủy thổ sao cho có lợi về sức khỏe cùng hài hòa vẻ đẹp gây được cảm tình xóm làng thân hữu. Hôm đưa tang cha Quyết ông đến tiễn và đợi mở cửa mả xong mới về. Giỗ trăm ngày cha Quyết mời ông đến . Quyết lựa lời nhờ ông xem có gì bất ổn nhà đất mà họa cứ đến với Quyết. Ông cho biết ngày đưa tang ông cụ ông đã quan sát âm dương mạch khí phương vị ngôi nhà phòng ăn chỗ ở đều thuận không có gì sơ suất. Chỉ có phòng ông cụ ông không được đến. Quyết đưa ông vào phòng. Ông ngắm một lúc rồi chỉ tay lên chiếc khung xe đạp treo trên tường:

- Hậu họa là do dị vật này đây!

Quyết tỏ ra không bằng lòng phân bua:

- Nhà cũ của tôi vẫn để chiếc khung xe đạp mà có điều gì không hay xảy ra đâu!? Thầy cũng biết chiếc khung này là của cha tôi cùng thầy đi vận tải ở Điện Biên Phủ sao bây giờ thầy nói là dị vật?

- Tôi biết! Chính nhờ nó lúc nào ông nhà cũng thồ hơn chúng tôi vài chục cân. Còn chiếc khung này vì sao nó là dị vật thì anh biết rõ hơn tôi.

- Tôi thật không hiểu thầy muốn nói gì?

- Có thể anh không hiểu. Đám tang ông cụ anh tổ chức kèn trống cờ phướn rầm rộ không ai bằng. Anh theo sau linh cữu ông cụ gào khóc khản tiếng. Nhưng anh không nghe được tiếng khóc đau đớn của người ở gái kể phút lâm chung của ông già. Anh không biết được những người đưa tang hôm ấy bàn tán về anh vứt chiếc khung xe đạp cũ rồi đánh lừa ông cụ đem chiếc khung khác về thay. Mọi tai họa từ đó mà ra. Người ta nói rằng đến cả cha mình còn như thế huống nữa là thiên hạ! ở đời sợ nhất là tâm địa con người! Vậy đó.

Quyết im lặng đưa mắt nhìn chiếc khung xe đạp treo trên tường.

                                                                                  T.T.H

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                         Qua đêm                    

                                                     Truyện ngắn của Trần Hiệp

        Thằng Sơn ngồi bên mép giường cầm chiếc quạt nan luôn tay phe phẩy cho em nó ngủ. Từ ngày bố mẹ lâm nạn cái Thủy rất khó ngủ mà đã ngủ là mơ màng gọi mẹ. Có hôm nó ngồi bật dậy mếu máo gọi: Mẹ ơi! Mẹ ơi! Thương em đến nẫu ruột Sơn chẳng biết làm gì. Cái Thủy nói như thúc vào tim Sơn: “Anh ơi em nhớ mẹ lắm em nhớ bố lắm”. “Anh biết rồi anh cũng nhớ bố mẹ như em”. Hai anh em ôm lấy nhau cùng khóc. Chiều nay nó vất vả lắm mới đào được mấy con cua lỗ đem ra chợ bán lấy tiền mua mớ khoai về luộc cho hai anh em cùng ăn. Thủy là đứa bé khảnh ăn. Trước đây bố đi biển về thường xoa đầu nó và nựng là con gái rượu. Nó đã sáu bảy tuổi mà bố còn kiệu lên cổ. Mẹ thì coi nó như cục vàng đòi gì mẹ cũng chiều nên nó càng nũng nịu. Cầm bát cơm nó ghệch ghệch từng hạt cho vào miệng như người ăn chắt thóc con nhà miền biển mà không có thịt là không chịu ăn cơm. Thế mà… hai hàng nước mắt Sơn trào ra. Buông màn dẹm các mép xuống dưới chiếu để muỗi không thể xông vào đốt em hắn nhẹ nhàng đi ra hè ngồi ôm đầu gục xuống mặc cho nước mắt rơi lã chã.

Cơn bão số sáu cùng với lũ quét từ thượng nguồn tràn về làm thay đổi hẳn cuộc đời anh em hắn. Gió to mưa lớn rồi có tin bão khẩn cấp mẹ hắn chạy ra bờ biển ngóng thuyền bố về nào ngờ sóng từ biển dựng lên như tầng tầng vách núi đá đổ vào bờ lũ từ đâu đổ xuống như vỡ đập mẹ không kịp chạy bố chẳng thể về thế là chỉ trong chốc lát anh em nó mất cả bố lẫn mẹ. Hai anh em đang được bố mẹ nuông chiều chăm sóc bỗng chốc trở nên côi cút không nơi nương tựa. Dù được nhà nước cứu trợ dân làng đùm bọc nhưng đâu phải ngày nào lúc nào người ta cũng lo cho anh em nó. Chỉ riêng cái làng Hải Hòa này có đến mấy chục gia đình lâm nạn vụ thiên tai ấy và cả trăm gia đình khó khăn túng bấn rồi còn các gia đình thương binh liệt sĩ… Nó là thằng bé biết tự trọng không bao giờ ngửa tay xin ai cái gì. Hồi còn sống bố mẹ Sơn cứ bảo nó là thằng con trai dễ xấu hổ. Mười ba tuổi đầu cao lêu nghêu như một chàng trai mười tám đôi mươi đang học lớp bẩy nó phải bỏ học để tần tảo nuôi em hơn một năm nay. Khi thì theo mấy người thợ đấu đắp đập vét bùn cho các hộ xây dựng khu đồng nuôi hải sản khi thì theo mấy chú thợ xây đi phụ hồ mỗi công từ sáng đến tối được trả mười lăm nghìn đồng… Nhưng một ngày có việc mấy ngày không. Dạo này không có việc nó phải đi mò cua bắt ốc hôi cá ở các cánh đồng hoặc chờ các lái vào bờ ai cho con cá con tôm nào thì lấy nó không như những đứa trẻ khác nhảy vào cướp cá cướp tôm để bị người ta lùa đuổi đánh. Giá như không vướng cái Thủy bé bỏng Sơn đã bỏ nhà đi tìm việc làm ở đâu đó. Nhưng với nó cái Thủy là ruột thịt là cùng cuống rốn mẹ đứt ruột đẻ ra cứ nghĩ đến em hai mắt Sơn lại mọng lên muốn khóc.

Trăng đã lên. Cả vùng biển sáng mờ mờ ảo ảo gió thổi thốc tháo. đêm trăng mùa hè ở biển thật là thú vị. Cởi trần hoặc áo vắt vai hai bàn chân trần lội trong cát cả lũ con trai đuổi nhau chạy trên trảng cát mịn màng hoặc hò nhau xuống biển tát nước… Thế mà đã lâu rồi nó không có đêm nào bước chân ra mép nước vì chẳng thể bỏ em ở nhà một mình. Nó ngồi đấy mà lo mà nghĩ cái đầu óc bé bỏng của nó rối tung cả lên. Không phải chỉ đến hôm nay mà đã mấy ngày rồi nó đã cảm thấy cuộc sống của anh em nó rất nguy cấp. Không còn gì để cho em ăn qua quýt cầm hơi đủ sống. Trông thấy em xanh rớt chân tay khẳng khiu nó không cầm được nước mắt. Chiều nay cái Thủy cầm củ khoai nhìn trân trân như nhìn một vật lạ mãi mới cho vào miệng vừa nuốt đã bị nghẹn nó vừa vuốt ngực cho em vừa cầm bát nước cho em uống mà lòng thắt lại. Nhưng đến ngày mai khoai cũng không có nữa em sẽ ăn bằng gì không lẽ húp bát canh suông chỉ có mớ rau tạp tàng nấu với muối? Cứ kiểu sống như thế này nó có thể trụ được lâu lâu còn cái Thủy ngày một ngày hai sẽ qụy mất. Nếu thế thì… thằng Sơn “hục” lên một tiếng như có ai bóp ngực nó đầu óc choáng váng mắt hoa lên.

Đêm đã khuya lắm có lẽ quá nửa đêm lâu rồi. Làng Hải Hà như đang thiêm thiếp. Lâu lâu mới nghe tiếng chó gắt gỏng đâu đó. Ngoài xa kia gió biển vẫn thổi man mát rừng phi lao êm ái tấu lên bài ca muôn thuở. Biển không có sóng cồn mà lòng bé Sơn thổn thức.

Sơn vào nhà đến bên giường nhìn vào trong màn cái Thủy ôm gối như mọi khi ấp cả thân người vào mẹ. Nó quay ra khép của khép cổng rồi bước ra đường. Nó đi như kẻ bị mộng du cúi đầu bước mà không biết đi đâu. Đây là lối quen của nó linh tính mách bảo nó hướng đến nhà chú Xoang bố thằng Xinh bạn học của nó. Nhà chú Xoang nhờ có cánh đồng nuôi tôm nên vào loại khá giả của làng. Khác với nhiều người trong làng hễ dư dật một chút là lo xây nhà sắm sửa đồ dùng đắt tiền chú Xoang dành tất cả cho mở rộng đồng nuôi tôm mua máy móc chăm sóc các đầm tôm vì thế mà nhà chú ấy ngày càng khấm khá hơn. Với ngôi nhà lá ông bà để lại cứ tuềnh toàng như mọi ngư dân trong làng. Khi còn đi học Sơn và Xinh chơi thân với nhau nhà chú Xoang có thứ gì để ở đâu nó đều biết. Không chỉ ti vi đài cát sét mà đến thùng gạo vại mắm để đâu nó cũng rất tường tận. Nhiều lần nó và thằng Xinh đi học về đã lấy gạo nấu cơm ăn khi người lớn vắng nhà. Nhà chú Xoang có hai con chó rất dữ nhưng chúng lại quá quen Sơn. Những lần Xinh và nó đi học về hai con chó đứng hai chân sau hai chân trước vờn vờn lên người hai đứa. Nghĩ đến nhà chú Xoang nó lại nghĩ đến nhà mình sáng mai cái Thủy ngủ dậy lấy gì cho nó ăn lót dạ? ước gì anh em nó có được một hũ gạo một hũ mắm của nhà chú Xoang. Sơn vẫn cắm cúi bước rồi một ý nghĩ táo bạo bắt đầu nảy sinh. Điều mà người làng này thường nói là “đói ăn vụng túng làm xằng” liệu đã ngấm vào đầu óc thằng bé mười ba tuổi này?

Đứng trước cổng nhà chú Xoang thằng Sơn cảm thấy hơi run nhưng rồi hắn vẫn liều. Đời còn dài đến lúc nào đó sẽ thú tội với cô chú ấy và trả lại những gì đã lấy. Các gia đình ở miền biển người ta không mấy chú ý đến tường cao cổng kín chỉ một bờ cúc tần hay bó nứa sặt cây bé như chiếc xe điếu cài mắt cáo để phân ranh giới là chính; cổng cũng thế hai cột tre hai cánh cửa liếp. Nhà chú Xoang có cái cổng chắc chắn hơn. Hồi làm cống đồng tôm còn thừa một ít sắt và xi măng chú ấy cho đúc hai cây cột và hàn hai cánh cổng sắt nhưng hàng rào vẫn chỉ là bờ cúc tần cao ngang bụng người dây tơ hồng vàng nhạt giăng mắc phía trên như kiểu trang trí. Sơn bước qua bờ rào là chạm bờ sân xi măng hai con chó xô ra nhưng không xủa mà lại vẫy đuôi như mừng lâu ngày mới gặp người quen. Sơn ngồi xuống vỗ vỗ vào đầu hai con chó mắt đảo nhìn khắp chỗ để xác định độ an toàn. Thằng Xinh- bạn nó đang ngủ ở cái giường một chỗ cửa sổ giáp gian buồng phía đông bà thằng Xinh nằm trong cái buồng liền đó gian buồng giáp bếp là chỗ nằm của mẹ con cô Sa và bé Tươi. ở gian ấy có hai cửa một cửa đi thông xuống phía sau nhà là giếng nước và nhà bếp một cửa thông ra ba gian nhà ngoài. Chú Xoang thì không thể bỏ đồng tôm để ngủ ở nhà khi đang chính vụ tôm ăn và lớn cho kịp thu hoạch trong tháng bẩy. Vào giờ này trời dịu mát ai nấy đều chìm trong giấc ngủ sâu. Thằng Sơn không đi ngang sân mà nép vào bờ rào cúc tần vòng lại sau bếp. Vừa đến hồi nhà bếp hắn ngồi xuống đề phòng vấp phải các đồ dùng vứt bừa bãi ở khu này. Hai chân vẫn dấn tới hai tay khuơ khuơ đằng trước. Lúc này trăng đầu tháng đã xuống phía sau núi Lau. Vẫn ở thế ngồi hắn lùi dần vào gian bếp mắt quan sát bên ngoài. Lùi vào sát vách sau nhà bếp hắn đứng lên đụng ngay cái rá treo ở đấy hắn cầm lấy và tiến lại cửa kho nhà bếp. Thằng Sơn không định lấy trộm gì nhiều mà chỉ xúc một ít gạo “cứu đói”. Gọi là kho nhưng cô Sa không khi nào khóa vì ngoài vại gạo với một số đồ dùng cũ kỹ kho chắng có gì đáng quý. Vại gạo đặt ở ngay gần cửa được đậy bằng cái chậu nhôm phòng chuột ăn vụng. Ngoài trời gió vẫn thổi đều đều từ trong tối nhìn ra Sơn thấy trời có vẻ sáng hơn dù đã khuất ánh trăng. Ngực hắn đập thình thịch hai tay run bắn khi nhấc cái chậu nhôm vì run quá nó để va vào miệng vại gạo. Chỉ một tiếng cạch khô khốc mà nó tưởng như tiếng một phát súng. Hắn lặng đi hồi lâu ngồi im nghe ngóng mãi sau mới rờ rẫm lên miệng vại gạo. Chao ơi vại gạo vẫn đầy hình như cô Sa mới đong có sẵn cái ống bơ úp trong vại gạo hắn xúc lấy xúc để đổ gạo ra rá. Bỗng hắn gặp phải vật gì như cái gói ni lông. Hắn dừng tay lấy cái gói ra mở xem thì đó là một gói tiền. Đây có lẽ là tiền cô Sa đi chợ về còn một ít vì vội việc gì nên nhét vào đấy. Lạ chưa cầm gói tiền thằng Sơn như sực tỉnh hắn ngồi thần ra. Có một lần lâu lắm rồi hồi còn học lớp năm hắn đi học về nhặt đựơc một gói tiền y hệt như thế này đem nộp cho công an trả lại người đánh rơi. Lần ấy đài truyền thanh huyện đã nêu danh hắn báo Thiếu niên- Nhi đồng về chụp ảnh viết bài về hắn và hắn được tuyên dương toàn trưòng. Bố mẹ Sơn hởi lòng hởi dạ vì đi đến đâu bà con trong làng trong xã cũng nói về thằng con trai của họ học giỏi đẹp trai và thật thà liêm khiết. Bần thần một lát khá lâu hắn tự vấn: không lẽ bây giờ mình lại là thằng ăn trộm! Bố mẹ biết chuyện này chắc buồn lắm. Riêng mình có thể vì vụ này mà suốt đời sẽ phải buồn phiền. Dù không ai biết nhưng lòng mình làm sao có thể thanh thản! ít ra mình cũng tự xấu hổ với mình. Không! Không thể như thế được! Hết ăn sáng mai mình sẽ chạy lên xã nói rõ với các ông ấy thế nào xã cũng có cách. Hắn để gói tiền vào chỗ cũ trút rá gạo vào vại lấy cái chậu úp lên như cũ. Hắn định quay ra thì có hai cái bóng lù lù trước mặt. Cái gì thế này? Hai cái bóng từ ngoài cửa tiến vào. Ôi hai con chó. Hắn trút hơi thở nhẹ nhõm. Thì ra đã có hai con chó rất thân với mình biết việc làm xấu xa của mình. Hắn vỗ vỗ lên đầu hai con chó như bảo chúng thông cảm rồi theo lối cũ để về nhà. Thằng Sơn đứng lên đi nép vào bờ rào cúc tần. Trăng dù đã xuống rất thấp ở phía sau nó nhưng vẫn rất sáng. Nó vừa nhấc chân bước qua hàng rào thì phía trước hắn có một người đang đi lại rất gần với hắn. Thằng Sơn như có ai buộc hai chân lại hắn không dám nhúc nhích một chân trong một chân ngoài bờ rào cúc tần và cứ đứng đực ra để cho người kia sáp lại.

*

Hồi còn bé chú Xoang cũng là “thằng nhóc” nổi tiếng cướp cá cướp tôm nhanh như chớp ở bãi biển mỗi buổi các lái cặp bến. Bố mẹ già yếu một tay người chị gái bươn chải bằng gánh cá xổi chạy bán các chợ miền trên để nuôi cả nhà. Lớn lên Xoang đi làm nghĩ vụ quân sự khi trở về thì bố đã mất chị đi lấy chồng nhưng vẫn phải trợ cấp cho mẹ già qua cái Sa cô gái hàng xóm trông coi bà cụ và nhà cửa thay chị chờ ngày Xoang về. Trở về với hai bàn tay trắng may có chị gái và anh rể tốt bụng đã giúp Xoang cưới được cô Sa và đầu tư vốn đấu thầu cánh bãi xây dựng đồng nuôi tôm ở sau làng nên đã nhanh chóng ăn nên làm ra. Chú coi thằng Sơn như con cháu trong nhà. Những hôm thằng Xinh và Sơn ngồi học bài với nhau chú thường bảo cô Sa làm cái gì bồi dưỡng cho hai đứa. Khi bố mẹ Sơn gặp nạn chú Xoang cũng đã giúp anh em Sơn một đôi lần bằng số tiền riêng của chú chú cũng đã tự đến báo cáo với xã và đề nghị xã quan tâm đến anh em nó. Nhưng từ ngày đồng tôm được mở rộng chú bận suốt ngày đêm nên cũng sao nhãng việc làm này.

- Ai?

Tiếng người đàn ông hỏi cộc lốc trong đêm thanh vắng như một tia chớp vụt qua mắt như một tiếng nổ bần thần thúc vào màng nhĩ. Thằng Sơn tưởng sẽ qụy xuống nhưng rồi hắn vẫn lên tiếng tiếng hắn như một hơi thở hắt:

- Cháu!

- Cháu là đứa nào?

Không có lời đáp người đàn ông tiến lại.

- Thằng Sơn có phải không?

- Vâng chú chú Xoang! Xin chú tha cho cháu.

- Mi đi mô mà lại bước qua rào?

- Cháu vào nhà chú.

Chú Xoang cầm tay thằng Sơn kéo hắn ra hẳn bên ngoài hàng rào.

- Có việc chi thì phải kêu cửa làm sao lại đi tắt thế này.

- Chú ơi cháu vào ăn trộm nhà chú.

- ăn trộm?

Thằng Sơn run bắn hai chân khuỵu xuống đổ cả thân hình vào người chú Xoang và khóc.

- Sao lại thế?

Thằng Sơn nói trong nước mắt: “Chú ơi em cháu sắp chết đói rồi”.

- Vào nhà nói rõ xem nào.

Chú Xoang mở cổng đưa thằng Sơn vào hè nhà ngồi. Chú hạ thấp giọng để không làm thức giấc những người trong nhà:

- đầu đuôi thế nào mi kể đi.

Thằng Sơn gạt nước mắt kể hết tình cảnh anh em nó mấy ngày hôm nay sống lay lắt như thế nào nó đã vào kho bếp nhà chú làm những gì và vì sao nó lại trở ra với hai tay không.

Lặng đi hồi lâu chú Xoang mới nói:

- Thật là may cho mi dại như thế gặp phải người khác thì nguy to. Hết thuốc hút tao về lấy ít thuốc rồi lại ra đồng ngay. ở đây chờ tao.

Xoang vào trong nhà một lát rồi trở ra bảo thằng Sơn cùng ra đồng tôm với chú. Trên đường đi ngót cây số hai chú cháu không ai nói gì. Thằng Sơn lo lắm mà lại xấu hổ nữa làm cho hai chân nó nặng trịch bước thấp bước cao. Ra đến chòi canh chú Xoang bật đèn điện lấy chai rượu rót ra chén và lấy gói bánh bích quy đưa cho Sơn. Khi đã nhấp gần cạn chén rượu mà thằng Sơn vẫn cúi gằm mặt không dám sờ vào gói bánh chú Xoang bảo:

- Ăn đi chú đã có cách rồi.

Thằng Sơn ngửa mặt nhìn chú chờ đợi một phép màu.

- Đơn giản thôi từ ngày mai hai anh em mi sang ở hẳn bên nhà chú cái Thủy chơi với cái Tươi và trông coi nó đỡ cho bà còn mi ra đồng tôm với chú rồi chú sẽ dạy cho cách vận hành các máy sục nước việc cho tôm ăn và chăm sóc mấy đầm tôm. Cái Thủy đến buổi vẫn tiếp tục đi học trường ở ngay trong làng lo gì riêng việc học hành của cháu chú sẽ tính sau. Trước mắt các buổi tối thằng Xinh đem sách vở ra ngoài này cháu cùng học với nó. Được không?

Thằng Sơn thu hai chân nhỏm đít lên quỳ hai gối xuống.

- Chú ơi cháu đội ơn chú!

- Ngồi lại tử tế! ơn huệ gì mi làm cho chú công xá chú trả như thuê người khác thừa để nuôi em cháu. Chú không cho không đâu.

Mãi đến bây giờ thằng Sơn mới để ý trên khắp cánh bãi đèn điện ở các đầm tôm như là ngàn vạn ngôi sao nhấp nháy. Ngoài kia nơi xa lắm tận cuối chân trời ánh hồng đã hắt lên những đám mây hình lớp lớp sóng bạc đầu. Đêm sắp qua một ngày mới đang đến.

                                                         Tháng world Cup 2006

                                                                        T.H

    (Truyện ngắn đã đoạt giải khuyến khích cuộc thi ký và truyện ngắn Vì hạnh phúc tuổi thơ do Hội Nhà văn Việt Nam và UBDS-GĐ và Trẻ em Việt Nam tổ chức năm 2006)

More...