ĐẠI HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM TỈNH THANH HÓA LẦN THỨ IV

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG PHẤN ĐẤU XÂY DỰNG

TỔ CHỨC HỘI NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH


                                                                  PHẠM MINH THIỆU

                                                 Tỉnh ủy viên Tổng Biên tập báo Thanh Hóa

                                            Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa

     Trong những năm qua báo chí và đội ngũ những người làm báo tỉnh ta luôn luôn là lực lượng xung kích trên mặt trận thông tin truyền thông văn hóa tư tưởng của Đảng Nhà nước đồng thời báo chí cũng là kênh thông tin đại chúng chính thống là diễn đàn quan trọng của nhân dân trong tỉnh.

Hiện nay tỉnh ta có 4 cơ quan báo chí: Báo Thanh Hóa Đài Phát thanh và Truyền hình tạp chí Xứ Thanh báo Văn hóa và Đời sống (trước đây là Báo Văn hóa - Thông tin) với 4 loại hình báo chí: báo in báo nói báo hình và báo điện tử. Trong những năm qua các cơ quan báo chí của tỉnh luôn bám sát nhiệm vụ chính trị tuyên truyền kịp thời hiệu quả các chủ trương đường lối của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước đến đông đảo các tầng lớp nhân dân. Phát hiện cổ vũ nhân rộng kịp thời các điển hình tiên tiến của tập thể cá nhân gương người tốt việc tốt trong các tầng lớp nhân dân từ đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh và Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI.

Báo Thanh Hóa phản ánh nhanh nhạy kịp thời các sự kiện thời sự chính trị kinh tế xã hội trong tỉnh trong nước quốc tế. Những vấn đề gần gũi trong đời sống liên quan tác động trực tiếp đến nghĩa vụ quyền lợi chính đáng của công dân được đề cập thông tin nhiều hơn; các bức xúc nổi cộm trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội cần đề cập cũng xuất hiện nhiều hơn trên mặt báo đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng cao của bạn đọc trong và ngoài tỉnh trở thành cầu nối giữa Đảng với Nhân dân - Nhân dân với Đảng

Cùng với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị hiện đại cho sản xuất chương trình và phát sóng trong những năm qua Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh luôn quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ phóng viên biên tập viên. Không ngừng nâng cao chất lượng tin bài các chương trình và các chuyên mục đưa đến cho người xem nhiều món ăn tinh thần bổ ích.

Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh là diễn đàn văn học nghệ thuật luôn thực hiện tốt tôn chỉ mục đích của một tạp chí văn nghệ địa phương. Trong những năm qua tạp chí từng bước được cải tiến cả nội dung và hình thức thể hiện góp phần làm phong phú thêm đời sống văn học nghệ thuật nâng cao mức hưởng thụ tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Báo Văn hóa và Đời sống mỗi tuần xuất bản một số đã chú trọng thông tin phản ánh về chức năng nhiệm vụ quản lý Nhà nước hướng dẫn nghiệp vụ chuyên ngành các hoạt động bảo tồn khai thác phát huy di sản văn hóa cũng như xây dựng con người mới nền văn hóa mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Báo còn có nội dung đa dạng phong phú đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân góp phần xây dựng môi trường văn hóa của tỉnh trong sạch và lành mạnh.

Ngoài các cơ quan báo chí ở địa phương còn có một số ấn phẩm tuyên truyền do một số cơ quan ban ngành xuất bản hàng tháng hàng quý nhân các sự kiện quan trọng các ngày kỷ niệm truyền thống như: Diễn đàn Công luận của Hội Nhà báo tỉnh tập san Khoa học của trường đại học Hồng Đức tạp chí Khoa học của Liên hiệp hội khoa học tỉnh tập san Giáo dục Thanh Hóa Thông tin Văn phòng Tỉnh ủy bản tin của Sở Thông tin và Truyền thông v.v... đã làm cho sức mạnh binh chủng tuyên truyền thông tin đại chúng của tỉnh ta được tăng cường và mở rộng.

Bên cạnh những kết quả đạt được trên báo chí tỉnh nhà còn một số hạn chế cần phải khắc phục. Đó là nội dung hình thức của báo chí chưa thật hấp dẫn phong phú. Còn thiếu những tác phẩm có tính phát hiện định hướng dư luận xã hội có giá trị nhân văn cao. Báo chí còn chưa thật sự phát huy vai trò của lực lượng xung kích trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng lãng phí chống tiêu cực chống những thói hư tật xấu trong lối sống bảo vệ những giá trị đạo đức truyền thống góp phần làm lành mạnh đời sống kinh tế - xã hội. Các tác phẩm báo chí như phóng sự điều tra phê bình có sức nặng còn ít. Số nhà báo và cộng tác viên có khả năng phát hiện và năng lực sáng tạo tác phẩm báo chí chất lượng cao cũng như trình độ nghiệp vụ của một số nhà báo trẻ còn hạn chế. Cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động báo chí vẫn chưa tương xứng với yêu cầu đổi mới công tác báo chí trong giai đoạn hiện nay. Chế độ nhuận bút còn thấp chưa kích thích được sự đầu tư sáng tạo của nhà báo.

Hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều đổi mới theo hướng thiết thực hiệu quả gắn với hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan báo chí và ngày càng phát huy vai trò vị thế của mình trong đời sống chính trị kinh tế - xã hội của tỉnh.

Tính đến thời điểm này Hội Nhà báo tỉnh Thanh Hóa đã có gần 130 hội viên. Nhờ làm tốt việc giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức nghề nghiệp cho hội viên giúp hội viên nâng cao bản lĩnh chính trị có đạo đức nghề nghiệp trong sáng nắm vững định hướng tuyên truyền của Đảng 5 năm qua mặc dù hoạt động trong cơ chế thị trường có nhiều diễn biến phức tạp nhưng không có hội viên nào vi phạm đạo đức nghề nghiệp vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật của nhà nước. Song song với đó là công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho hội viên cũng rất được chú trọng và đạt được một số thành quả đáng kể.

Trong nhiệm kỳ vừa qua tổ chức Hội đã được củng cố xây dựng vững mạnh từ cơ sở góp phần nâng cao chất lượng hội viên từ đó tác động trực tiếp đến hoạt động của Hội. Theo đó sau Đại hội III các chi hội được củng cố đi vào hoạt động nề nếp. Việc sinh hoạt được duy trì theo đúng Điều lệ Hội. Nội dung sinh hoạt được cải tiến theo hướng thiết thực cụ thể đi sâu vào các hoạt động nghiệp vụ nên đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo hội viên. Việc xét kết nạp hội viên mới theo đúng Điều lệ Hội và hướng dẫn của Hội Nhà báo Việt Nam trong đó coi trọng chất lượng không chạy theo số lượng vì vậy chất lượng hội viên ngày càng được nâng cao có bản lĩnh chính trị vững vàng có trình độ năng lực nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức trong sáng. Trong nhiệm kỳ qua Hội Nhà báo tỉnh luôn quan tâm tạo điều kiện cho hội viên hành nghề và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên trong hoạt động nghiệp vụ.

Hội Nhà báo tỉnh luôn chủ động đề xuất với các cơ quan báo chí để thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền rèn luyện bản lĩnh chính trị đạo đức nghề nghiệp về quản lý đội ngũ những người làm báo trên địa bàn.

Hội Nhà báo tỉnh cũng đã tổ chức tốt các phong trào thi đua gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cơ quan báo chí như phong trào thi đua rèn luyện nghiệp vụ phong trào thi đua chào mừng các ngày lễ lớn trong năm phong trào thi đua chào mừng Đại hội Đảng các cấp phong trào thi đua chào mừng kỷ niệm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam và gần đây nhất là phong trào thi đua chào mừng Đại hội IV Hội Nhà báo tỉnh nhiệm kỳ 2010 - 2015. Các mặt hoạt động xã hội - từ thiện của Hội và các cơ quan báo chí cũng như công tác đối ngoại của Hội đã được triển khai rộng rãi và có sức hút mạnh mẽ đến công chúng.

Có thể nói rằng trong nhiệm kỳ qua hoạt động của Hội Nhà báo tỉnh đã có nhiều đổi mới trong hoạt động và đạt được kết quả toàn diện vững chắc. Tổ chức Hội đã được củng cố kiện toàn và đi vào hoạt động nền nếp. Hoạt động của Hội thiết thực cụ thể gắn với chi hội hội viên hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan báo chí. Hội viên hăng hái học tập chính trị nghiệp vụ rèn luyện đạo đức nghề nghiệp và đã có những đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng tuyên truyền góp phần cùng cơ quan báo chí hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Với kết quả hoạt động ấy Hội Nhà báo tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Được Hội Nhà báo Việt Nam đánh giá là một trong những tổ chức Hội hoạt động có hiệu quả trong toàn quốc. Vai trò vị thế của Hội Nhà báo tỉnh từng bước được nâng lên trở thành mái nhà chung của những người làm báo trong tỉnh.

Bên cạnh những thành tích kết quả đạt được trên các mặt hoạt động nghiêm túc đánh giá hoạt động của Hội Nhà báo tỉnh nhiệm kỳ qua còn những hạn chế như về nội dung phương thức hoạt động của Hội chưa thật phong phú hấp dẫn để thu hút tập hợp hội viên. Các tiểu ban của Hội được thành lập nhưng hoạt động chưa đều chưa hiệu quả. Chất lượng hoạt động của các chi hội không đồng đều sinh hoạt chi hội còn đơn điệu thiếu hấp dẫn. Vai trò tư vấn phản biện giám định đối với những vấn đề liên quan đến hoạt động báo chí còn hạn chế. Nhận thức về Hội tham gia đóng góp cho Hội của một số hội viên chưa cao. Trên cơ sở những tồn đọng yếu kém trên Hội Nhà báo Thanh Hóa cũng đã rút ra những bài học bổ ích cho mình và đề ra những phương hướng nhiệm vụ cụ thể khóa IV nhiệm kỳ 2010 - 2015.

Với phương hướng chung 5 mục tiêu và 10 nhiệm vụ giải pháp được đề ra trong bản báo cáo đại hội lần thứ IV hy vọng rằng trên cơ sở thành tích kết quả đạt được và những mặt tồn tại cần khắc phục trong nhiệm kỳ này Hội Nhà báo tỉnh quyết tâm rèn luyện phấn đấu đoàn kết vượt mọi khó khăn thách thức năng động trách nhiệm trong công tác Hội và hoạt động báo chí làm tốt vai trò tham mưu phản biện cho cấp ủy chính quyền trong việc lãnh đạo chỉ đạo phát triển báo chí; tiếp tục đổi mới nâng cao vai trò chất lượng hoạt động của Hội Nhà báo tỉnh nhà trên tinh thần Chỉ thị 37 - CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng; triển khai thực hiện tốt kết luận số 221 - TB/TW ngày 12-2-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục nâng cao vị trí vai trò chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cấp hội Nhà báo Việt Nam từ đó làm cho mỗi cơ quan báo chí mỗi nhà báo nhận thức đầy đủ hơn trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của mình chú trọng đổi mới nội dung hình thức hoạt động của Hội theo hướng thiết thực hiệu quả phấn đấu xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh trở thành trung tâm đoàn kết là mái nhà chung của những người làm báo trong tỉnh.

                                                                 P.M.T

          Tăng cường tính chuyên nghiệp


          của nhà báo Tạp chí Xứ Thanh

                                                                 HOÀNG TRỌNG CƯỜNG

                                                                     Tổng Biên tập tạp chí Xứ Thanh

       Chi hội nhà báo Tạp chí Xứ Thanh hiện có năm hội viên. Họ là những nhà báo công tác ở một cơ quan báo chí có tính đặc thù.

Tính đặc thù ở Tạp chí Xứ Thanh thể hiện ở chỗ đó là một tờ báo văn nghệ một loại hình văn hóa đọc mang đặc trưng nghề nghiệp về chân thiện mỹ có tính chuyên ngành loại biệt về nội dung và hình thức; có lực lượng cầm bút công chúng... đặc thù; Tạp chí chỉ có biên tập viên chứ không có phóng viên thuần túy như các tờ báo khác. Vì vậy nhà báo Tạp chí Xứ Thanh vừa là nhà báo đồng thời là văn nghệ sỹ; vừa là biên tập viên vừa là phóng viên lại cũng là những người trực tiếp làm những công việc bếp núc của tòa soạn.

Do đặc thù riêng đó mà đòi hỏi tính chuyên nghiệp của Tạp chí phải cao. Phải luôn luôn đổi mới để đáp ứng nhu cầu của công chúng văn nghệ. Đòi hỏi đội ngũ biên tập viên cũng là các nhà báo phải có trong mình cả tư duy văn nghệ và tư duy báo chí. Cũng có nghĩa là chất lượng của Tạp chí có phần phụ thuộc khá quan trọng vào chất lượng đội ngũ nhà báo đang công tác ở Tạp chí.

Cho nên vấn đề nâng cao chất lượng nói rõ hơn là nâng cao tính chuyên nghiệp của nhà báo Tạp chí luôn được đặt lên hàng đầu trong việc nâng cao chất lượng của Tạp chí.

Nhiệm kỳ III Hội nhà báo Thanh Hóa (2004 - 2010) các nhà báo Tạp chí Xứ Thanh với sự cộng tác nhiệt tình đắc lực của các cộng tác viên đã nỗ lực vượt qua khó khăn thách thức đưa Tạp chí tiếp tục đứng vững và phát triển đúng định hướng. Tiếp tục làm tốt sứ mệnh của mình: là diễn đàn văn nghệ địa phương là cầu nối văn nghệ địa phương với văn nghệ cả nước và là nơi phát hiện ươm mầm những tài năng trẻ. Ngày càng gắn bó sâu hơn chặt hơn với các nhiệm vụ chính trị của địa phương và đất nước. Những tác phẩm: truyện ngắn bút ký thơ những bài nghiên cứu bình luận văn nghệ nghiên cứu biên khảo văn hóa văn nghệ dân gian những tác phẩm mỹ thuật ảnh nghệ thuật... đăng tải trên Tạp chí đã chuyển tải những thông điệp cuộc sống với cả lương tâm trách nhiệm nghĩa vụ công dân của đội ngũ văn nghệ sỹ. Cổ vũ các nhân tố mới cỗ vũ lòng nhân ái ca ngợi vẻ đẹp tiềm ẩn trong con người trong cuộc sống bằng đặc thù văn nghệ và báo chí văn nghệ. Góp phần làm phong phú trong trẻo và nhân hậu thêm đời sống xã hội. Đội ngũ nhà báo của Tạp chí vững vàng về chính trị tư tưởng chuyên nghiệp về chuyên môn nghiệp vụ. Lực lượng cộng tác viên ngày càng đông đảo rộng khắp trên mọi miền tổ quốc. Tiếp tục tạo được uy tín trong lòng bạn đọc bạn viết gần xa. Chững chạc đứng cùng tạp chí Văn nghệ các tỉnh bạn mà vẫn giữ được dấu ấn riêng. Tạp chí đã có những đóng góp nhất định vào việc cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân địa phương.

Đất nước quê hương đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Thực tế cuộc sống bộn bề những được mất truyền thống văn hóa dân tộc đang đứng trước những thách thức...

Quán triệt sâu sắc Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về: "Xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới"; để làm tốt và ngày càng tốt hơn nhiệm vụ của mình Tạp chí Xứ Thanh phải thường xuyên đổi mới không ngừng nâng cao chất lượng cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Khâu then chốt là phải không ngừng nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ những người làm báo ở Tạp chí.

Những người làm báo ở Tạp chí phải luôn trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng; tâm huyết với sự nghiệp cách mạng sự nghiệp đổi mới của Đảng của nhân dân; luôn bám sát thực tế của đời sống xã hội; luôn trau dồi kỹ năng nghề nghiệp tự học hỏi rèn luyện có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao năng động sáng tạo và nhạy bén; chuyên nghiệp với chính mình để Tạp chí Xứ Thanh ngày càng khởi sắc hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về hưởng thụ văn hóa văn nghệ của công chúng. Góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; củng cố và nâng cao bản sắc riêng của vùng đất con người xứ Thanh; góp vào nền báo chí cả nước một tiếng nói văn nghệ đậm đà phong vị xứ Thanh.

                                                                                H.T.C

CÁC NHÀ BÁO TẠP CHÍ XỨ THANH NỖ LỰC


SÁNG TẠO PHẤN ĐẤU TẠO RA


NHỮNG TÁC PHẨM BÁO CHÍ CÓ GIÁ TRỊ


                                                                      LÂM BẰNG

                                                                        Thư ký Chi hội Nhà báo

                                                                             Tạp chí Xứ Thanh



 

        Nhiệm kỳ III (2004 - 2010) của Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa nằm trọn trong giai đoạn đất nước có nhiều sự kiện chính trị lớn và chuyển biến tích cực là thời kỳ toàn Đảng toàn dân thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI; là thời điểm Đảng phát động và đẩy mạnh cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng như đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.

Quán triệt đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) và Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển VHNT thời kỳ mới. Được sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng đoàn Thường trực Hội Văn nghệ và Thường trực Hội Nhà báo tỉnh Thanh Hóa mặc dù còn nhiều khó khăn về đội ngũ về kinh phí về cơ sở vật chất và điều kiện làm việc thời gian qua Chi hội nhà báo tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh đã cùng với Ban Biên tập tạp chí hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao thực sự là cơ quan ngôn luận và diễn đàn văn học nghệ thuật; góp phần phổ biến tuyên truyền đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng tuyên truyền thực hiện các nghị quyết của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước. Tạp chí đã thường xuyên đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về hưởng thụ văn hóa văn nghệ của công chúng góp phần nâng cao đời sống tinh thần văn hóa của nhân dân; Phát hiện giới thiệu và bồi dưỡng tác giả để bổ xung cho đội ngũ tác giả văn học nghệ thuật xứ Thanh và cả nước từ đó góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc rõ nét sắc thái xứ Thanh.

Thông qua các tác phẩm văn học nghệ thuật tạp chí đã góp phần phản ánh và tuyên truyền về các sinh hoạt chính trị lớn của đất nước của tỉnh. Đặc biệt đã hưởng ứng nhiệt liệt và có hiệu quả cuộc vận động sáng tác và quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí về chủ đề Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Ban Tuyên giáo Trung ương phát động. Các tác phẩm văn học và nghệ thuật được giới thiệu trên tạp chí đã phần nào đề cập và phản ánh sinh động mọi mặt đời sống xã hội của tỉnh những thành tựu kinh tế - xã hội của các địa phương ngành các đơn vị tạo nên hiệu ứng tích cực trong đời sống xã hội; đồng thời tạp chí cũng phối hợp với các huyện thị xã thành phố đơn vị... thực hiện các chuyên trang giới thiệu những thành tựu và những kết quả trên nhiều lĩnh vực trong công cuộc CNH-HĐH đất nước quê hương.

Hiện nay Chi hội nhà báo tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh có 5 hội viên trong đó có 4 hội viên làm công tác quản lý và chuyên môn. Do lực lượng cán bộ biên tập và phóng viên của tạp chí quá mỏng nên nguồn phát triển hội viên cũng hạn chế. Chi hội thường xuyên tham gia các đợt tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ do Hội nhà báo Thanh Hóa tổ chức. Hội viên trong Chi hội đã phát huy trách nhiệm hội viên nhiệt tình tham gia các hoạt động hội cũng như chuyên môn sáng tạo nhiều tác phẩm báo chí có chất lượng. Hàng năm hội viên trong Chi hội đều có tác phẩm báo chí chất lượng cao và có tác phẩm được trao giải báo chí Trần Mai Ninh. Trong số các hội viên đang sinh hoạt đã có 4 hội viên được nhận Huy chương Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam 6 lượt hội viên được nhận Bằng khen của Hội Nhà báo Việt Nam và UBND tỉnh về thành tích hoạt động báo chí. 9 lượt hội viên được nhận Giải báo chí Trần Mai Ninh hàng năm. Chi hội được Hội nhà báo Việt Nam và UBND tỉnh tặng bằng khen.

Chi hội đã phối hợp với chính quyền thực hiện có hiệu quả việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho hội viên. Đảm bảo các hội viên được thực hiện đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của mình cũng như tạo điều kiện tốt nhất để hội viên lao động sáng tạo tạo ra những tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí có chất lượng cao.

Bước vào nhiệm kỳ 2010 - 2015 dưới ánh sáng đường lối văn hóa văn nghệ và báo chí của Đảng quán triệt nhiệm vụ đại hội IV Hội nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa và đại hội VII Hội Văn nghệ Thanh Hóa với bản lĩnh chính trị vững vàng bằng ngòi bút sắc bén và khả năng lao động sáng tạo trên nhiều lĩnh vực văn học nghệ thuật và báo chí các nhà báo Chi hội tạp chí Xứ Thanh sẽ khắc phục những khó khăn về kinh phí về cơ sở vật chất và điều kiện làm việc đoàn kết nỗ lực sáng tạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao tạo ra những tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí có giá trị xứng đáng là những chiến sỹ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng và truyền thông. Góp phần cùng nhân dân cả tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI XVII đề ra và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu "Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh".

                                                                            L.B

Dấu ấn sau một kỳ đại hội

                                                                HOÀI THƯƠNG

                                                                             (Hội Nhà báo)


      Trong buổi làm việc với thường trực Hội Nhà báo tỉnh chuẩn bị cho đại hội Hội Nhà báo Thanh Hóa lần thứ IV nhiệm kỳ 2010 - 2014 vào cuối tháng 7 năm 2009 đồng chí Nguyễn Đức Thắng Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã ghi nhận: "Hội Nhà báo tỉnh trong nhiệm kỳ (2004 - 2009) đã có sự đổi mới theo hướng thiết thực hiệu quả từng bước trưởng thành khẳng định vị trí vai trò và trách nhiệm đối với sự nghiệp báo chí của tỉnh biết tập hợp đoàn kết động viên các nhà báo phát huy tài năng sáng tạo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên trong hoạt động nghiệp vụ tạo đà cho báo chí tỉnh ta trong 5 năm qua có bước chuyển mạnh mẽ cả về quy mô số lượng và chất lượng đội ngũ những người làm báo không ngừng lớn mạnh trưởng thành được đào tạo cơ bản có phẩm chất chính trị vững vàng trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt và ngày càng được trẻ hóa đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới quê hương đất nước".

Một trong những việc làm trọng tâm trong nhiệm kỳ qua là Hội Nhà báo tỉnh luôn quan tâm đến phát triển hội viên. Hiện nay Hội Nhà báo Thanh Hóa có gần 130 hội viên sinh hoạt tại 5 chi hội nhà báo cơ sở: Báo Thanh Hóa Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh báo Văn hóa - Đời sống tạp chí Xứ Thanh Văn phòng Hội Nhà báo tỉnh (không kể hội viên đã nghỉ hưu trong nhiệm kỳ) so với nhiệm kỳ trước tăng gần 40 hội viên trong đó số hội viên là đảng viên chiếm gần 70% số hội viên có trình độ cao đẳng đại học chiếm 97%. Số hội viên có trình độ lý luận chính trị cử nhân cao cấp trung cấp chính trị chiếm tới trên 70%.

Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho hội viên cũng được Hội Nhà báo tỉnh đặc biệt quan tâm hàng năm Hội tổ chức từ 2 đến 3 lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ theo các chuyên đề khác nhau cho hội viên nhà báo ở cả 5 chi hội với gần 400 lượt hội viên tham gia. Năm năm qua đã cử hơn 15 lượt hội viên tham dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ở Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ Hội Nhà báo Việt Nam. Ngoài ra Hội Nhà báo tỉnh còn phối hợp với báo Thanh Hóa Đài Phát thanh và Truyền hình mở các lớp nghiệp vụ theo từng chuyên ngành về báo in báo hình báo nói cho hàng trăm lượt hội viên. Hội cũng đã tổ chức được 3 chuyến đi thực tế trao đổi nghiệp vụ tại Hội Nhà báo một số tỉnh thành phố với trên 50 lượt hội viên tham gia nhằm tạo điều kiện cho hội viên nhà báo nâng cao kỹ năng hoạt động nghề nghiệp từ đó có được những tác phẩm báo chí hay hấp dẫn bạn đọc bạn nghe đài bạn xem truyền hình.

Ngoài ra Hội Nhà báo tỉnh còn phối hợp với các cơ quan báo chí tổ chức các cuộc thi: Viết về công tác xây dựng Đảng viết về anh bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp đổi mới viết về những điển hình tiên tiến trong nông nghiệp nông thôn tấm gương tiêu biểu trong cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông... tạo ra một "sân chơi" nghiệp vụ hết sức thiết thực bổ ích cho các nhà báo thông qua đó góp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ cho hội viên.

Giải báo chí Trần Mai Ninh của tỉnh được duy trì thường xuyên có chất lượng các thể loại tham dự phong phú hơn số lượng tác phẩm tham gia cũng tăng hơn so với nhiệm kỳ trước mỗi năm có từ 20 đến 22 tác phẩm báo chí tiêu biểu được tỉnh trao giải. Điều này khẳng định sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cơ quan báo chí sự quan tâm có hiệu quả của Ban thư ký các chi hội và sự nhiệt tình của cán bộ hội viên.

Hội Nhà báo tỉnh còn tích cực tham gia giải báo chí toàn quốc giải báo chí quốc gia và các giải báo chí chuyên ngành ở trung ương năm 2009 có 1 tác phẩm đoạt giải C giải báo chí quốc gia của tác giả Nguyễn Thanh Phương chi hội Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh. Đây là thành tích đáng khích lệ của các nhà báo địa phương. Ngoài ra hàng chục hội viên nhà báo đoạt các giải thưởng chuyên ngành như: giải báo chí Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc Vì trẻ em các cuộc thi ảnh khu vực v.v... Những kết quả trên khẳng định chất lượng hoạt động nghiệp vụ của Hội Nhà báo Thanh Hóa đã được nâng lên so với đồng nghiệp cả nước.

Trong 4 năm gần đây Hội Nhà báo tỉnh còn triển khai thực hiện có hiệu quả việc hỗ trợ sáng tạo tác phẩm báo chí chất lượng cao theo đề án đã được Chính phủ phê duyệt từ năm 2005 đến nay Hội đã đầu tư hỗ trợ kinh phí cho gần 100 tác giả nhóm tác giả. Việc hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượng cao tạo không khí hoạt động nghiệp vụ khá sôi nổi trong các chi hội và hội viên góp phần nâng cao chất lượng tuyên truyền của các cơ quan báo chí và hoạt động nghiệp vụ của Hội.

Hội Nhà báo tỉnh còn duy trì xuất bản và từng bước nâng cao chất lượng tập san Diễn đàn Công luận Thanh Hóa mỗi quý một số. Đây là tài liệu nghiệp vụ bổ ích được đông đảo hội viên hoan nghênh đón nhận có tác dụng tốt trong hoạt động nghiệp vụ của các nhà báo hội viên. Có những bạn đọc tâm đắc đã nói: Tập san Diễn đàn Công luận vừa lấp lánh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của các nhà báo xứ Thanh vừa là cầu nối để bạn đọc hiểu biết thêm người làm báo và nghề làm báo.

Những hoạt động không thể thiếu mỗi khi tết đến xuân về Hội Nhà báo tỉnh Phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức thành công Hội báo xuân: Mừng Đảng mừng Xuân mừng đất nước đổi mới với gần 400 loại báo ấn phẩm số dương lịch và số xuân nhiều đầu sách của Nhà xuất bản Thanh Hóa các tác phẩm ảnh thời sự nghệ thuật của các nghệ sỹ trong tỉnh tham gia trưng bày. Có thể nói Hội báo xuân là dịp để biểu dương khẳng định những đóng góp của báo chí tỉnh nhà trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Ghi nhận những thành tích đã đạt được trong nhiệm kỳ qua Hội Nhà báo Thanh Hóa đã được Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen về các phong trào hoạt động chung của Hội. Ngày 22 tháng 6 năm 2009 Hội Nhà báo tỉnh vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong công tác góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Đã có những thành tích dấu ấn tuy nhiên làm gì và làm như thế nào để hoạt động của Hội Nhà báo tỉnh thực sự đổi mới nội dung hình thức hoạt động theo hướng thiết thực hiệu quả trở thành trung tâm đoàn kết là mái nhà chung của những người làm báo xứ Thanh thiết nghĩ bên cạnh tinh thần trách nhiệm sự năng động sáng tạo của mỗi hội viên rất cần sự góp sức nhiệt tình hơn của lãnh đạo các cơ quan báo chí trong tỉnh trong đó có vai trò không nhỏ của Ban Chấp hành Thường trực Hội Nhà báo tỉnh.

                                                                                         H.T

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐINH DUY TƯ

Ngọn lửa thiêng


Truyện ngắn

    Tôi lên Trường An vào một chiều mưa. Lúc này đang đầu thu nên mưa cũng không nặng hạt nhưng vì không nặng hạt nên đường càng khó đi. Bụi đường như thứ bột pha nhuyễn nhỏ nhoẹt và đặc quánh. Chiếc ba lô áo quần thì ít giấy bút thì nhiều đè nặng trên vai khiến tôi cứ phải rướn người lên phía trước. Thỉnh thoảng bị mất đà loạng choạng suýt ngã nhào xuống vực. Phải gần nửa ngày đường mới đặt chân tới bản. Ngồi ở đầu dốc trong một chòi cạnh vườn tôi moi thuốc lá ra hút. Chao chút khói mới ấm bụng làm sao? Hút và nghĩ ngợi... Mông lung nhìn những ngôi nhà sàn thấp thoáng trong mưa lòng tôi chao chạnh buồn. Chao ôi có lẽ nào?...

Tôi mới ra trường đại học có tên nôm na là đại học tiểu học. Những tưởng lấy được bằng các trường miền xuôi sẽ đón tôi "Nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa" nào ngờ ông trưởng phòng giáo dục gọi lên trao cho quyết định sở gửi về. Nội dung quyết định là đưa tôi về phụ trách trường tiểu học bản Trường An hưởng chế độ giáo viên miền núi... Và - theo lời giới thiệu của ông trưởng phòng tôi sẽ ở nhà ông trưởng bản có tên gọi Hồ Tân...

*

Sau khi lội qua một con suối hẹp leo lên một con dốc đá ngắn thì bản Trường An hiện ra như cái mỏ lộ thiên. Bản có vài chục ngôi nhà xếp hình vòng cung cong như trăng lưỡi liềm. Tôi từng nghe nói đồng bào dân tộc thiểu số còn nghèo lắm xơ xác lắm. Nhưng với Trường An chẳng khác gì những thôn làng dưới xuôi thậm chí còn hơn dưới xuôi bởi ở rừng mà bản thoáng đãng không có cây cối rậm rạp um tùm. Nhà ở cách nhà vài chục mét ngăn chia nhau những dậu mồng tơi trên đường vào ngõ. Nhà sàn! Cả bản đều nhà sàn mái lá. Duy nhất một nhà đầu bản lợp ngói đỏ au. Nhà ông Hồ Tân...

Tôi chậm rãi leo lên chiếc cầu thang nhỏ bằng gỗ loại đắt tiền. Sàn dưới được quét dọn rất sạch sẽ. Dưới những cây ăn quả như: Mãng cầu mít chanh là những mạ gà ôm con chờ mưa tạnh...

Tôi đứng ở cửa nhìn vào. Trong nhà được bài trí rất đơn giản nhưng trang nhã. Đó là bộ bàn ghế rặt gỗ mun thoáng nhìn đã mát lạnh một tủ đứng ba buồng cũng được làm bằng gỗ tốt. Trên bàn thờ hiếm ai ở xuôi có được bàn thờ như thế. Bàn thờ đặt ở vị trí vừa tầm tay để thắp hương và cắm hoa khi thờ cúng. Tất cả đồ cúng lễ được chế tác bằng đồng lúc nào cũng sáng rực như được phát quang trên bàn thờ chỗ trang trọng nhất là bức ảnh Bác Hồ. Rõ là "Bác đứng trên cao đưa tay Bác vẫy chào". Và điều tôi chú ý nhất vẫn là ngọn đèn. Một ngọn đèn dầu được dặt trong khung kính lúc này vẫn đang cháy sáng... Đã mười giờ sáng chủ nhân vẫn chưa về. Đặt ba lô xuống bên góc nhà tôi định bước xuống cầu thang để "xem ló ngó đồng" một lúc cho đỡ buồn thì thấy một người đàn ông đang xăm xăm đi vào ngõ. Hồ Tân đã về...

Mặc dù nhìn thấy tôi nhưng Hồ Tân không chút vồn vã niềm nở tựa như tôi ở trong ngôi nhà này đã lâu lắm rồi. Chậm rãi đến mức khoan thai và thong thả ông bước về phía bể nước. Sau khi chùi sạch cái cuốc trên vai ông bắt đầu kỳ cọ chân tay vuốt hai ống quần xuống ông nhìn quanh một lúc rồi đi lên cầu thang. Không đợi tôi chào ông hỏi ngay:

- Thầy giáo mới lên à?

- Dạ!...

Ông đi tới một góc phía bàn thờ thò tay lấy đôi kính trắng rồi ngồi xuống ghế:

- Thầy cho tôi xem cái giấy!...

- Giấy gì ạ? Tôi trở nên chậm hiểu.

- Thầy lên đây bằng hai tay không à?

Tôi thoáng nhìn ông và hiểu ra món giấy tờ tùy thân. Vừa chìa giấy giới thiệu cho ông xem tôi vừa thấy lạnh với cái chuyện ngày xửa ngày xưa...Cái thời ra đường gặp gián điệp vào rừng gặp biệt kích thám báo bây giờ đang tái diễn ở bản nhỏ này đúng hơn ở nhà trưởng bản... Đọc mấy dòng ông ngước mắt lên:

- Thầy tên là Hào... Đỗ Vĩnh Hào à? Hai mươi hai tuổi trẻ quá hè!...

Trao lại tờ giấy cho tôi ông nói tiếp:

- Thầy thông cảm dù sao cảnh giác vẫn không thừa. Độ này bọn lâm tặc thú tặc đang săn lùng ráo riết.

Tôi ngạc nhiên:

- Thú tặc là gì ạ?

- à bọn buôn bán động vật hoang dã đấy mà!

Hồ Tân nói xong liền hỏi luôn: Thầy Hào không mang theo gạo à?

Không trả lời ông tôi chỉ tay vào chiếc ba lô và nói:

- Bác tính ngần ấy sách cũng nặng lắm rồi. Thấy tôi không nói gì thêm ông bố trí cho tôi cái phòng lồi để ngủ rồi ông dặn:

- Trong nhà này có hai nơi thầy bất khả xâm phạm. Một là bàn thờ hai là buồng ngủ của vợ chồng tôi... Còn thì thầy cứ tự do trong khuôn phép mà thầy đã học ở đời...

Như một nhà hiền triết Hồ Tân đứng dậy làm những công việc thường nhật. Còn tôi tôi đến thăm lớp học mà mình sắp đứng trên bục giảng. Một lớp học khá đàng hoàng và khang trang. Đây là kết quả của các dự án "một ba lăm một ba tư" của chính phủ dành cho miền núi. ở lớp học này tôi đứng lớp hai buổi. Buổi sáng lớp một buổi chiều lớp hai còn lớp ba thì lên trường xã...Vòng vo một lúc tôi ghé chân vào một ngôi nhà bên cạnh lớp. Biết tôi thầy giáo ở xuôi lên chủ nhà - một người đàn ông trung niên khỏe mạnh như một xúc gỗ lim vội vã lấy rượu ra mời.

- ở đây chỉ có rượu thôi vớ!... Nước trà không quen vớ!.

Anh ta nói rằng mình có con sắp vào lớp một đứa khác đang học trường dân tộc miền núi dưới huyện.

- Hai con thôi à? Tôi buột miệng hỏi.

- Thầy giáo mà cũng hỏi thế à? ở đây nghe theo trưởng bản chỉ hai con thôi.

Tôi được thế hỏi luôn

- Trưởng bản mấy con?

- Cũng hai thôi vớ! Hai đứa con gái xinh đẹp và ngoan lắm vớ. Cả hai đứa đang học đại học ở Hà Nội!...

Qua câu chuyện tôi được biết ở bản này mọi người đều gọi Hồ Tân là con cả của Bác Hồ. Hễ động đến việc gì Hồ Tân cũng bảo: Bác Hồ nói Bác Hồ dạy cần phải làm theo... Hồ Tân là con "mọt" đài. Bất cứ đi đâu làm gì trong túi áo của ông đều có một chiếc đài nhỏ bằng bao thuốc lá kè kè trong túi áo. Nghe nói chiếc đài này ông được đài phát thanh tỉnh tặng trong cuộc thi "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đợt một. Bữa đó Hồ Tân kể một câu chuyện về Bác mới lạ mà chưa ai được nghe. Đó là sau ngày giải phóng miền Nam cả nước tổ chức "Rước đuốc Bác Hồ" Hồ Tân phải cuốc bộ hơn một ngày ròng rã ăn chực nằm chờ ở trung tâm văn hóa huyện mới lấy được ngọn lửa vừa được nhà truyền thống thắp lên. Trên đường về trời bỗng nổi lên dông bão con suối đầu làng nước dâng lên ngập cả đôi bờ. Tiến thoái lưỡng nan Hồ Tân phải chui vào trong hang đá dùng ngọn lửa của Bác đốt lên một lò than hồng suốt ba ngày ròng rã...Ngày đó ai cũng tưởng Hồ Tân chết rồi!...

Buồn lòng tôi kể cho anh nghe chuyện Hồ Tân hỏi xem giấy tờ và hỏi chuyện gạo cơm... Anh ta giật thột kêu lên:

- Thôi chết trưa nay thầy bị đói rồi! ở lại đây ăn cơm cũng được... Ai chứ ông ấy thì phải báo trước.

Anh ta khuyên tôi nên giữa ý nhiều người cho rằng Hồ Tân khó tính nhưng suy cho cùng không phải thế. Ông ta học đòi rập khuôn theo Bác Hồ nhưng vì thái quá nên trở thành khắt khe. Những tưởng làm theo được Bác nhưng làm sao theo được một vĩ nhân? May lắm chỉ học theo được Bác những điều rất nhỏ nhưng với con người bình thường - như chúng ta như Hồ Tân được thế cũng mãn nguyện lắm rồi. Tôi trộm nghĩ.

Tôi từ chối bữa cơm mà anh ta mời rồi ra về. Nhà lại vắng. Tôi đi ra sau bếp lật vung nồi cơm điện và nhận ra không có một hạt cơm nào? Tôi nghe đói. Không lẽ lấy gạo nhà ông để đặt lên bếp ga? Bụng bảo dạ thôi đành nhịn vậy.

Chiều hôm đó tôi ngủ thiếp đi. Chiều tối vợ ông - người đàn bà đã luống tuổi đánh thức tôi dậy:

- Thầy giáo có ăn cơm không ạ?

Tôi ngồi bật lên:

- Có chị nấu cho tôi với.

Buổi tối bên mâm cơm khá thịnh soạn với các món: Thịt rừng cá hấp canh rau ngót. Hồ Tân bê ra một thẫu rượu nhìn tôi và hỏi:

- Thầy giáo có sài được không?

Dù không mấy khi uống rượu nhưng tôi không nỡ chối từ.

- Dạ! ít thôi ạ...

Hồ Tân uống cũng không nhiều ly trước vừa qua ly sau ông đã nẽ theo mực tàu:

- Trưa nay thầy nhịn bụng phải không? Thầy đói là phải thôi. Ngày xưa Bác Hồ đi công tác luôn mang theo khẩu phần ăn của mình. Để tôi kể chuyện thầy nghe...

Hồ Tân bắt đầu thao thao bất tận chuyện về Bác Hồ mà ông đã đọc trên báo nghe trên đài xem trên ti vi...Còn hứng lên đọc hai câu thơ: "Bác thường bỏ dĩa thịt gà mà ăn trọn quả cà xứ Nghệ không nói tiếng to và đi nhẹ cả trong vườn..." Chuyện bạn bè quốc tế biếu cho Bác nhiều thứ lắm nhưng Bác đem san sẻ cho mọi người. Rồi Hồ Tân kết luận:

- Cái bản này không có Bác không có Đảng thì còn khổ muôn đời...

Hồ Tân kể rằng ông đi bộ đội năm 1972 trận đầu cũng là trận giữ thành Quảng Trị. Ông đang làm lính bắn tỉa ở Động Do phục thằng Thiệu xuống Quảng Trị để "tỉa" cho hắn một phát đạn nào ngờ khi Thiệu vào tầm ngắm thì hắn ra vẻ "Vì tương lai con em nước nhà" cúi xuống ôm lấy một đứa bé và bồng luôn trên tay như đang bồng một đứa con tin...Chỉ vì không chớp được thời cơ ông bị kỷ luật cho sang lính bộ binh đánh xáp lá cà với bọn nguỵ ở trong thành Cổ. Bắn được vài thằng đâm được dăm thằng rút lê ra vuốt máu định đâm tiếp thì ông bị trúng thương ở khoang bụng...Khi tỉnh lại ông thấy mình đang ở trong bệnh xá dã chiến Tà Rụt. Người chăm sóc ông là y tá Hồ Thị Lựu... Cô Lựu vừa học xong trường trung cấp y Quảng Bình thì được điều lên đây thực tập và quyết định ở luôn dài dài...

Sau giải phóng Hồ Tân ra quân rồi quay vào Tà Rụt cưới cô Lựu làm vợ. Đưa vợ về quê Lựu cứ lóng ngóng trước việc nhà chồng: Sinh được đứa con gái đầu lòng cả nhà lâm vào nghèo đói. Ngày đó ở quê người ta rủ nhau vào kinh tế mới miền Nam như một đợt di cư đồng loạt. Hồ Tân không vô Trảng Bom Đồng Nai Đồng Xoài mà chở vợ con trên một chiếc thuyền khai khẩn đất này làm ăn...

- Bác Hồ nói rồi nước Việt Nam này đâu cũng là quê hương cha ông cũng nói rồi đất lành thì chim đậu... à ngày bác lên đây...

Bà Lựu nhắc:

- Khuya rồi thầy giáo mệt rồi!...

- ờ tao cũng mệt rồi. Ngủ thôi mai sẽ kể tiếp cho thầy nghe...

Không cần Hồ Tân kể tiếp nhưng càng ở trong nhà ông tôi càng đọc được ý ông qua mỗi việc làm qua từng cách ứng xử. Khi ông lên đây bốn bề um tùm những loài cây hoang dại hai vợ chồng gửi lại con cho ông bà nội chăm bẵm mang theo hai bàn tay trắng một con trâu đực và một chiếc cày gỗ... Hồ Tân cùng vợ chặt cây bứt cỏ tranh dựng lên một ngôi nhà tạm. Để tránh rắn rết thú dữ ông kết cấu ngôi nhà theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc. Rồi chặt đốt hớt trỉa đất làm tới đâu trâu cày tới đó. Chỉ vài năm ông đã mở mang tới chục héc ta đất canh tác đủ loại: Cao su hồ tiêu khoai sắn. Xung quanh trang trại ông chuối cam chanh và nhiều loại cây ăn quả khác. Ông còn chặn dòng một con suối cụt để tạo thành hồ nuôi cá... Trâu bò vài con ban đầu nay thì trâu đàn bò đàn mỗi năm ông bán tới vài chục con. Trong nhà ông dưới tấm ván thờ có một tờ áp phích to: "Không có việc gì khó chỉ sợ lòng không bền đào núi và lấp biển quyết chí ắt thành công". Trên băng ngang xà ngang dán đầy đủ những câu nói của Bác Hồ nhìn cứ tưởng một đàn bướm trắng đậu lên trên đó. Câu nói của Bác ông cắt từ báo ra cũng có mà tự tay ông sao chép lại cũng nhiều...

Thấy ông phát tài ông bà dân tộc mấy bản bên kéo sang nhận làm anh em kết nghĩa. Ông nhận tất. Lại giúp họ mở mang đất làm nhà rồi sinh con đẻ cái lập nên cái bản Trường An bây giờ...

Hồ Tân không ai bầu nghiễm nhiên trở thành trưởng bản. Sau khi có quyết định thành lập bản mới cũng nhiều lần bản tổ chức bầu lại nhưng Hồ Tân đã đóng rễ trong lòng dân mất rồi. Dần dà tên tuổi của ông lên trên mặt báo huyện báo tỉnh và báo trung ương với những cái tít rất dân dã: Hồ Tân đứa con của rừng; người giàu xứ núi; đứa con cả họ Hồ... Mới đây ông được ra Hà Nội dự lễ tổng kết cuộc vận động: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đợt đầu... Về nhà Hồ Tân chia quà cho dân lại kể thêm chuyện mới về Bác Hồ.

Mới đây có chuyện Hồ Tân mất một con bò cái đang bụng mang dạ chửa. Công an huyện bắt được kẻ chủ mưu liền gọi ông đến để dắt bò về. Hồ Tân phải đi xa lắm mới tới được nhà kẻ trộm. Tới nơi mới thấy cảnh nhà hắn ta nghèo quá tơi tả quá Hồ Tân không nỡ dắt bò về liền phán:

- Tôi cho anh con bò con! Khi nào nó khôn thì trả lại cho tôi con bò mẹ...

Và ông bái nại. Tuần vừa rồi người kia dắt con bò mẹ trả ông với một cút rượu gọi là trả nghĩa...

Trao tôi chén rượu tình ấy Hồ Tân hỏi:

- Thầy có nhớ Bác Hồ dạy câu gì không? Rồi ông nói luôn: Thấy việc tốt có lợi cho dân thì làm.

Người trong bản còn kể: Bộ bàn ghế bằng gỗ mun trong nhà Hồ Tân và đặc biệt khung gỗ gian thờ nó vô giá lắm. Đó là quà tặng của ngành kiểm lâm thưởng công ông đã báo cho họ chặn bắt một xe gỗ mun trên chục khối lọt trạm kiểm soát trong đêm... Bọn lâm tặc trả thù bắt cóc ông khi đang một mình trên rẫy. Chúng trói ông rồi vứt vào một hang đá mấy hôm sau dân trong bản mới tìm ra. Còn nhà ngói: Mỗi lần về huyện họp ông cõng một ba lô. Kiến tha lâu cũng đầy tổ ông lợp đủ nhà. Có người bảo: Bọn lâm tặc nó sợ gì ông? Nó sợ tư tưởng Bác Hồ thấm trong máu ông đấy thôi.

Tôi đã ở trong nhà Hồ Tân năm năm. Vâng một quãng thời gian rất đáng nhớ. Tôi đã học được ở ông rất nhiều điều và cũng từ bỏ được chữ "tôi" trong nhiều điều khác. Nói chung ông với tôi luôn luôn hợp ý tâm đầu. Duy chỉ có một điều mà tôi chưa thực hiện được. Đó là rất nhiều lần Hồ Tân khuyên tôi nên bỏ thuốc lá...Tôi hút nhiều lắm khiến ông vô cùng khó chịu.

Cho tới một hôm... Phải hôm đó trời mưa Hồ Tân cùng vợ sang nhà bên ăn đám giỗ. Tôi ở nhà hì hục soạn giáo án. Vừa pha một ấm trà ngon nhấp môi chợt nhớ đến mùi thơm điếu thuốc. Tôi lấy gói thuốc trong túi đặt lên mặt bàn và quờ quạng tìm bao diêm. Trong hộc bàn la liệt vỏ bao thuốc lá và vỏ bao diêm nhưng tiếc thay không còn một que diêm nào cả. Tôi chợt nhớ tối qua ngồi bên bếp lửa thuận tay lấy bao diêm - còn lại một que duy nhất đốt lên chấm vào điếu thuốc. Ông Hồ Tân nhìn tôi trách:

- Thầy sao phí thế? Khi cần một que diêm cũng quý.

Ông kể dạo còn trai tráng đã từng theo chúng bạn "ngậm ngãi tìm trầm". Làn ấy cả bọn vượt qua một con suối trong mùa lũ không ngờ túi ni lông đựng bật lửa và thuốc lá bị nước cuốn trôi. Qua tới bờ ai nấy chết rét tìm lửa để sưởi nhưng cả bọn đành bất lực. May sao ông chợt nhớ trong túi quần của mình còn có một bao diêm và bao diêm ấy - như của tôi lúc đó cũng chỉ còn duy nhất một que. Cả bọn lạy sống lạy chết mong thoát nạn...

- Rồi sao bác? Tôi hỏi.

- Thì thoát được chứ sao? Nếu không có que diêm ấy thì phải quay về... Mà về đâu có dễ?...

Tôi biết ông nhắc tôi bài báo hôm qua kể chuyện Bác Hồ đến thăm một đơn vị quân đội. Lúc xuống thăm bếp ăn trong tay Bác đang cầm một điếu thuốc. Người anh nuôi thấy vậy liền đưa bao diêm để Bác dùng nhưng Người ra hiệu không dùng đến. Bác châm điếu thuốc bằng một que củi nhỏ và nói: Khi cần một que diêm cũng quý.

Tôi giật mình: Phải chăng bác đã báo cho tôi điều ấy. Tôi nhìn quanh và nhìn lên ảnh Bác. A! Có lửa rồi. Trên bàn thờ ngọn đèn vẫn sáng. Tôi biết Hồ Tân quý ngọn đèn hơn cả tính mạng của mình. Đi đâu về đứng ở bậc cửa ông cũng đau đáu nhìn lên bàn thờ. Mỗi tuần một lần ông đưa ngọn đèn xuống tiếp thêm dầu và lau chùi rất cẩn thận. Mặc dù ngọn đèn vỏ bằng đồng rất nhẹ nhưng lúc nào ông cũng trịnh trọng nâng đỡ bằng hai bàn tay. Ông ngồi tần mẫn bên ngọn đèn như đang tâm niệm một điều gì thiêng liêng lắm:

Ngoài trời vẫn mưa.

Ngoài bếp cửa khóa.

Ngoài đường vắng ngắt.

Chần chừ một lúc thật lâu tôi không cưỡng được sự thèm thuồng của người nghiện thuốc liền đứng dậy. Theo cách làm của Hồ Tân mỗi lần quét dọn bàn thờ tôi kê thêm chiếc ghế gỗ nhỏ từ từ - rất chi từ từ tôi rướn tay về phía ngọn đèn. Tay tôi đứng lên rồi vừa chạm vào đèn mát lạnh thì con người cũng lạnh luôn một tiếng quát như của Trương Phi ở cầu Tràng Bản vọng lên:

- Thầy giáo!...Xuống.

- Dạ! Cháu...Tôi nói như một kẻ sắp chết giấc.

- Xuống! Cút ngay. ...Hồ Tân trừng mắt nhìn tôi như nhìn đứa con nít tay chỉ ra đường mắt đằng đằng sát khí...

Tôi cúi gằm mặt không lời nào lọt qua được cửa miệng. Để ông bớt giận tôi nhìn ra cửa từ từ xuống cầu thang tôi ôm lấy chiếc cột nhà dưới sàn và òa khóc. Tôi khóc rấm rứt như thế rất lâu. Hồ Tân xuống cầu thang và tiến lại bên tôi. Đặt tay lên vai tôi giọng ông như một sợi dây truyền cảm:

- Thầy Hào à?... Thầy hãy tha lỗi cho bác. Một lúc lâu ông lại nói như quở trách: Bác đã dặn trước rồi thầy đừng đặt tay lên đó lỡ ra...

- Thưa bác - tôi đã lấy lại bình tĩnh: Đó là một vật gia bảo nhà ta phải không ạ?

Hồ Tân gật đầu:

- Không phải riêng nhà ta đâu mà của cả dân tộc này đấy. Giọng ông trở nên tha thiết: Cháu biết không đó là ngọn lửa của Bác Hồ mà bác đã gìn giữ từ ngày rước đuốc Bác Hồ đến nay... Ông ngậm ngùi nói thêm: Hơn ba mươi năm đã qua rồi nhanh thật đấy.

Nghẹn ngào tôi ôm lấy Hồ Tân và tôi đã hiểu trái tim của người lính già một người lính từ đau khổ của nhân dân mà bước vào đời. Một cuộc đời bắt đầu từ ngọn lửa rất đỗi thiêng liêng ấy...

                                                           10 - 2009

                                                             Đ.D.T



 

CAO LINH QUÂN

Núi Nưa

Truyện ngắn


     Đại úy Đoàn Hữu Cư anh hùng lực lượng Quân Giải phóng miền Nam trở về làng Ân Nghĩa xã Thanh Lâm huyện Triệu Sơn...

Giải phóng miền Nam được một năm nhân chuyến đi công tác từ Sài Gòn ra Hà Nội Cư mới có điều kiện về Ân Nghĩa ghé thăm cô Nga vợ thầy Châu và viếng mộ người thầy kính yêu của anh.

Cư và chú lái xe đến nhà cô giáo lúc 3 giờ chiều. Trò chuyện với cô Nga đến 5 giờ anh xin phép cô được một mình ra viếng mộ thầy Châu ở nghĩa trang liệt sỹ.

Chiều xuống.

Đầu óc mãi nghĩ đâu mà chân bước vào nghĩa trang lúc nào không hay. Cư dừng lại nhìn quanh...

Nghĩa trang liệt sỹ này kề bên nghĩa địa làng. Theo lời cô Nga kể thì một năm sau ngày hy sinh thầy Châu của anh đã được Nhà nước ta công nhận liệt sỹ. Tới đầu năm ngoái bà con trong xã và các thầy cô giáo lại bốc mộ đưa thầy từ nghĩa địa bên kia sang nghĩa trang bên này...

Một hai ba bốn năm... Cư đếm theo thói quen tự nhiên. Anh cúi nhìn những dòng chữ trên tấm bia. Thầy Châu ơi thầy nằm ở đâu?... Cư đấy hả em? Thầy đây... ơ kìa! Hình như có tiếng ai? Đây kia mà!

Mắt Cư bỗng nhòa ra cứng đờ. Đại úy sững lại. Bàn chân mình hay bàn chân ai? Nặng trĩu. Chôn xuống đất. Và bàn tay nào kéo vai xoay đầu bắt anh nhìn xuống...

- Thầy Châu ơi!

Cư sụp ngồi xuống hai tay choàng ôm lấy phần mộ ngay sát bên. Trước mặt anh tấm đá bia xứ Thanh to đẹp hơn những tấm bia kề bên khắc ghi rõ những dòng chữ:

Huỳnh Châu - Liệt sỹ

1940 - 1968

Quê ở Bến Tre. Giáo viên cấp Ba Thọ Sơn. Hy sinh chiều 23 tháng 5 năm 1968 trong lúc làm nhiệm vụ chống đế quốc Mỹ cứu sống các em học sinh nhỏ...

- Thầy Châu ơi! Trò Cư của thầy đây! - Cư nghẹn ngào... Hôm nay 30 tháng 5 năm 1976 học trò từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm thầy... Em có ngờ đâu mình lại về miền Nam trước thầy gặp lại thầy nơi vùng đất trường xưa như thế này...

Dòng suối ký ức tuôn trào. Gục đầu xuống mộ môi áp vào đất cỏ trăn qua trở lại... một hồi lâu anh mới sực nhớ đứng dậy đi thắp hương cho những ngôi mộ xung quanh. Tự nhiên anh cảm thấy nhồn nhột bên mình canh cánh trong lòng. Hình như có ai nãy giờ đang theo dõi anh? Nghĩa trang bốn bề vắng lặng. Ai? Ô kìa! Ngẩng đầu lên Cư thấy núi Nưa hiện ngay trước mặt mình. Anh nhìn sững.

Nằm án ngữ cả chân trời phía tây nam nối liền hai huyện Triệu Sơn - Nông Cống dù ai đi đâu về đâu ở vùng quê Thanh này cũng có thể thấy núi Nưa trước mặt bên mình. Nơi Cư đang đứng đây là chỗ nhìn Núi chính diện nhất. Núi có dạng đôi vai người nông dân cũng tựa mái nhà ở làng quê lại phảng phất mình voi tượng của Bà Triệu... Và ngôi mộ của thầy Huỳnh Châu ngọn núi Nưa bé nhỏ trong cõi đời còn nằm lại nơi đây!

*

Một ngày hè tháng 5 năm 1967 Cư hồi tưởng lại... Buổi chiều hôm ấy... Dưới gốc cây đa bên đường phía ngoài nghĩa trang đang còn đứng kia thầy Châu và trò Cư cùng ngồi bên nhau.

Nhìn kìa! Thầy Châu vỗ vai Cư ngón tay trỏ chỉ về phía trước. Từng đàn cò trắng cả mấy trăm con từ cánh đồng dưới chân núi từ ngón tay thầy đưa lên rợp trắng... Vừa đúng lúc mặt trời đã xuống bên kia núi rồi còn tinh nghịch tung vội những tia vàng trong vắt như quấn như đan làm rối tung cả lũ tán loạn cả bầy trong tấm lưới vàng mênh mông...

- Núi Nưa! - Thầy kêu lên - Cư có biết tên chữ Hán của nó không? Na Sơn! Ngày xưa Triệu Thị Trinh sinh ra ở đây. Bà Triệu cỡi voi đánh cồng thúc giục quân sỹ tiến lên. Bọn Tàu xâm lược kinh hồn bỏ chạy. Cư có biết Bà Triệu nói gì không? Tôi muốn đạp cơn gió mạnh cỡi con sóng dữ ngoài biển Đông... không muốn làm tỳ thiếp cho người ta! Thế đấy! Cái vùng lặng lẽ hoang vu này xưa kia đã sanh ra một con người vĩ đại!

Lại trở về im lặng trầm tư sau những phút giây sôi nổi.

- Lớn lên Cư sẽ làm gì?

Câu thầy hỏi thật bất ngờ khiến cho Cư lúng túng.

- Thành một nhà văn nghen?

- ối! Cư la lên. Em dốt văn viết chưa thành một câu mà thầy!

- Sao thế? Tại vì em chưa muốn đó thôi. Thầy bảo nghen sau này em sẽ ghi lại những ngày thơ ấu ở quê hương Quảng Trạch - Quảng Bình. Chuyện bố em một xã đội trưởng dân quân bị Pháp giết; Mẹ em và các đồng chí đang đêm mang khăn gói đi lấy đầu bố bị địch treo ở đầu làng đưa về nhà. Chuyện mẹ em chết đi để con lại nhờ ông em nuôi dạy... Quá hay! Hay là... Cư trở thành nhà khoa học?

- ối! Em lạy thầy! Em ngu như ri mà làm răng trở thành khoa học được!

- Vậy thì... thành anh hùng. Dám không? - Thầy cau mặt nhìn Cư vẻ như thách đố - Sao không dám làm anh hùng hả?

Cư cúi đầu im lặng.

- Thưa thầy thầy có... ý định trở thành nhà thơ nhà văn không? Cư rụt rè hỏi - Các bạn bảo thầy làm thơ hay lắm.

- ừ thì mình cũng có viết... - Thầy mỉm cười mắt sáng. - Có hai bài thơ được đăng báo Văn nghệ Tiền phong... nhưng vốn sống hiểu biết của mình còn ít quá phải đi phải sống như các nhà văn Giải phóng: Nguyễn Thi Lê Anh Xuân Dương Thị Xuân Quý... Vừa cầm bút vừa cầm súng.

- Thầy cũng muốn... như họ?

Thầy gật đầu thở dài.

- Tôi đã viết đơn tình nguyện gửi lên trên rồi. Tôi xin về ngay Bến Tre quê hương Đồng Khởi của tôi. Vậy mà chẳng hiểu sao chưa thấy người ta đáp ứng nguyện vọng. Sốt ruột quá.

Thầy cất giọng ngâm nga: Em ơi sao tóc em thơm vậy? Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng? Cư có biết hai câu thơ đó của ai không? Lê Anh Xuân! Tuyệt vời! Không phải là dân Nam Bộ sống ở miệt vườn làm sao có được cảm xúc đó? Cư ạ thầy nói giọng Bến Tre nghe hơi đanh gắt nhưng lại sảng khoái ngang tàng - Tôi quan niệm rằng Con Người chúng ta Nói Viết và Sống ba cái ấy phải là Một. Thầy giơ tay chỉ núi Nưa: Phải sống cho ra sống! Cư ơi! Mỗi một người chúng ta phải là một ngọn núi một vì sao! Phải sống sao cho không hổ thẹn rằng mình là con cháu Bà Triệu ở vùng núi Na Sơn anh hùng!

Sao Hôm bỗng hiện ra trước mắt lấp lánh trên đầu núi. Mắt sao long lanh thoáng điểm nụ cười. Gió lộng. Một màu xanh rười rượi tươi mát không rõ từ đất trời hay từ chính tuổi hoa niên con người lan tỏa. Có buổi chiều nào đẹp như buổi chiều này không? Tiếng ai vọng lên trên đầu họ trong tâm hồn họ. Mai sau... Đời chúng ta dù có những buổi chiều đẹp đến thế nào chăng nữa rồi cũng sẽ không có buổi chiều nào như buổi chiều hôm nay đâu! Bạn hỡi cuộc đời thật là đẹp và đáng sống!

Ba tháng sau buổi chiều ấy thi tốt nghiệp phổ thông trung học xong Cư viết đơn tình nguyện nhập ngũ lên đường vào Nam...

*

Đêm

Căn nhà nhỏ lợp tranh hai gian chìm trong yên lặng vùng quê. Cô Nga kể lại đoạn cuối đời của thầy Châu cho trò Cư và chú lái xe nghe.

Một con dế bỗng cất tiếng kêu lanh lảnh ở đầu hè. "Xin chào các anh! Những người anh hùng từ miền Nam ra! Thế nào? Hòa bình rồi từ nay chúng ta sẽ sống..."

Một con đom đóm từ ngoài sân tự nhiên cũng lừng lững vào nhà. Đom đóm xanh ngời; viên ngọc to và sáng đến nỗi hai người lính Trường Sơn cùng có ý nghĩ rằng từ thuở còn thơ dại đến nay hình như họ chưa bao giờ thấy chú đom đóm nào sáng và đẹp đến thế.

Đom đóm bay thẳng tới bàn thờ lượn quanh tìm cách đậu lên bức ảnh chân dung người đã khuất như có chủ ý gì rồi lại bay xuống những con người đang ngồi cạnh giường quanh bàn... Và cuối cùng lượn quanh đầu Cư đậu xuống gù vai... Một cảm xúc mê tín mà không dị đoan trào dâng trong anh lòng thành kính. Đom đóm còn rà xuống tìm tới túi áo bên trái ngực anh và dừng lại. Cư ngồi sững. Không dám giơ tay chạm viên ngọc biếc đang sáng tối lập lòe dâng lên hạ xuống cùng nhịp đập hơi thở trong lồng ngực mình...

- Thầy đã về!

Cô Nga nói rồi đứng dậy đi tới bàn thờ đốt cây nhang vừa cúi đầu lạy vừa khấn:

- Nam mô a di đà phật...

Quay lại nhìn thấy đom đóm đã bay qua cửa ra tới ngoài sân trong ánh mắt dõi theo của mấy con - người - dương cô nói khẽ giọng đùa vui mà nghẹn buồn:

- Thầy thiêng lắm các trò ạ.

...

Thầy cô cưới nhau đúng vào Tết Mậu Thân năm 68. Sau tết thầy nhận được lệnh trên điều ra Bộ Giáo dục. Cứ theo như lời trong thư thầy gửi về nhà lộ bí mật cho biết thì các thầy cô được tuyển chọn đi vào Nam đợt ấy trong số đó có thầy tập trung ở Trung du Vĩnh Phú để tập luyện một thời gian: đeo ba lô gạch đi bộ leo đồi hành quân cả ngày lẫn đêm... Hai tháng trời trôi qua. Cô nóng lòng viết thư ra báo tin cho thầy cô đã mang thai. Cô nhắn thầy nếu có thể được thì xin phép trên về thăm nhà bà cụ sinh ra cô vừa qua một trận ốm nặng. Khi viết những dòng ấy cô kể lại tự nhiên chẳng hiểu sao thấy bồn chồn lo lắng thậm chí hoảng sợ. Lẽ ra đừng viết không nên viết. Nhưng lỡ viết rồi và thư đã gửi bưu điện. Đúng là... Một điềm gở. Cô ân hận suốt đời!

Thầy về tới nhà lúc một giờ chiều. Trời nắng như đổ lửa. Vừa chuyện trò hỏi han được dăm câu cô đã phải chuẩn bị giáo án đồ dạy học lên lớp. Từ nhà ra tới lớp học chỉ một khúc quanh; nhiều hôm ngồi ở nhà thầy nghe rõ cả tiếng cây thước gỗ cô đập trên bàn tiếng cô la gọi học trò.

Cô vừa lên lớp được một lúc thì máy bay Mỹ tới. Chúng lượn quanh một vòng rồi nhào xuống cắt bom. Tiếng bom nổ nghe không lớn lắm nhưng tiếng rốc két thì nghe như khoan như xé màng tang ra. Rồi trước mắt cô cả dãy nhà bốn lớp học đổ xuống bốc cháy. Cứu con với! Cứu con với! Tiếng kêu khóc của lũ học trò nhỏ chìm át đi trong tiếng gào hú xé trời của Con Ma Thần Sấm. Các thầy cô dẫn bọn nhóc lũ gà con lớp mình chạy ra lối cửa sau xuống hầm hào. Cô Nga một tay ôm một đứa vào ngực tay kia xốc nách... hai đứa yếu ốm nhất lớp. Hai nửa lớp đã kịp lăn bò rớt được xuống dưới hào. Quay trở vào cô thấy thầy Châu chồng mình đứng ngay trong lớp học. Cô nhìn thầy vừa ngạc nhiên vừa lo lắng. Làm sao chồng mình lại ra đây? Bình tĩnh! Bình tĩnh! Thầy la to. Thầy ôm từng đứa một tay quàng đầu nó vào ngực đưa chúng xuống hào. Rồi lại quay vào ôm đứa khác. Cúi thấp người xuống! Đi lối này! Đừng chạy ra sân! Thầy hét lên giọng khản đặc. Rồi lao sang lớp bên cạnh... Khi ngồi đông đủ dưới hào rồi thầy quay sang hỏi cô và lũ nhỏ: Còn em nào chưa xuống nữa không? Đếm lại xem. Đủ cả rồi hả? Tụi nhỏ cùng la lên: Dạ đủ! Lửa bom bốn phía tỏa khí bốc hơi khét nóng đến nỗi có đứa chịu không nổi khóc ré... Bỗng một đứa nhổm đầu dậy nói to: "Thưa cô còn bạn Hải chưa xuống đang nằm trong lớp ạ". "Chỉ bạn Hải thôi còn bạn nào nữa không?" Thầy hỏi. "Dạ chỉ còn có bạn đó thôi!"

Cô chưa biết nên xử trí như thế nào thầy Châu đã lao lên khỏi hào chạy vào trong lớp. Cô sửng sốt nhìn theo. Lúc bấy giờ chẳng cứ bom đạn Mỹ mà tên lửa pháo cao xạ bộ đội phòng không từ bốn phía Núi súng trường của dân quân ở đầu làng cuối thôn xé trời chuyển đất chẳng còn phân biệt được. Vẫn chưa thầy thầy Châu ra. A! Kia rồi! Thầy khom người cúi đầu chạy hai tay ôm thằng Hải áp sát đầu nó vào ngực mình. Hai ba cánh tay ở dưới hào cùng giơ lên. ấn vội thằng bé xuống hào thầy ngồi nghỉ hai tay chống đất... Nhưng kìa thầy xoải hai tay đầu nghoẹo sang bên ngật ra phía sau. Cô ơi thầy làm sao thế! Bọn nhỏ la lên. Một vệt máu từ sau gáy đầu thầy ứa ra ộc xuống...

Máy bay Mỹ đã đi xa. Chỉ còn nghe tiếng người kêu cứu tiếng lửa cháy nổ... Các thầy cô giáo trường cấp Một cấp Ba và bà con trong Hợp tác xã tới. Đặt thầy Châu lên cáng võng đưa thầy tới bệnh viện Thọ Sơn lúc ấy khoảng 3 giờ chiều. Mảnh rốc két cắm vào sau đầu thầy được bác sỹ mổ lấy ra. Thầy còn mở mắt nhìn cô và mấp máy mấy tiếng: "Đừng khóc! Tội thân em"... Các bác sỹ y tá trong viện quen biết thầy học trò cũ tiếp máu cho thầy. Thầy lại chìm đi trong cơn mê. Vào khoảng tám giờ rưỡi tối hồi tỉnh thầy ra hiệu bảo cô tới gần. "Nga em"... Thầy nói "Anh gửi lại cho em giọt máu cuối cùng của đời anh trên miền Bắc. Đừng buồn. Gắng nuôi dạy con nên người. Cảm ơn em các bạn bà con... Nhớ ơn mẹ. Xin mẹ tha lỗi"... Thầy tắt thở. Những người đứng quanh không sao cầm được nước mắt.

Đám tang thầy vào chiều hôm sau trời lại đổ cơn mưa. Người đi đưa đứng đầy cả trên đường dưới ruộng. Tuần sau đó ông chú và chị ruột của thầy từ Hà Nội vào. Đến khi ấy cô mới được biết đôi nét về gia cảnh của thầy. Thầy quê ở Bến Tre. Ông thân sinh ra thầy là Tỉnh ủy viên bị Pháp đày ra Côn Đảo và chết ở ngoài ấy. Chị em thầy mồ côi mẹ từ nhỏ sống với bà con cô bác cho đến năm 54 mới theo chú ruột ra Bắc tập kết. Ông chú làm ở Bộ Ngoại giao. Bà chị đi Liên Xô về lấy chồng ở Hà Nội.

Cuối năm 75 hai người lại ghé về đây ngỏ ý muốn đưa mẹ con cô vào Nam. Cô xin phép họ chờ thong thả ít lâu nữa để còn tính liệu... Bây giờ Cư ghé thăm cô lại cũng có ý định mời mẹ con cô vào miền Nam sống cùng gia đình vợ chồng em cô cảm ơn tấm lòng các em... Cô sinh ra từ làng quê quen sống với đồng ruộng sợ vào Sài Gòn sống ở thành phố không hợp. Vả lại mộ thầy còn ở nghĩa trang đây cô phải ở đây hương khói chăm sóc...

*

Huỳnh Sơn hạt giống đỏ thầy Châu để lại cho vùng đất dưới chân núi Nưa - Cậu bé đã lên bảy. Vóc người hao hao giống mẹ nhưng điệu bộ ăn nói và nhất là ánh mắt nhìn thì y chang như bố. Dễ thường từ chiều nay khi hai chú Giải phóng đi xe tới nhà cậu bé quấn quýt bên họ không muốn dời.

Năm ngoái ông chú bà cô vào đây cho Sơn nhiều quà: Nào là quần áo bánh kẹo ô tô búp bê nhựa... Vậy mà nó không ham. Cô Nga kể: Bà cô dang tay ra muốn bế nó... Nó cứ rúc đầu vào ngực tôi ôm cứng không chịu. Bà cô rơm rớm nước mắt. Cái thằng lạ thế. Không ham người nhà mà lại thích bộ đội. Chắc ba nó xui khiến nó...

Cái đài national chú Cư biếu mẹ Nga bây giờ để trên bàn thờ thỉnh thoảng mở ra cho ba Châu và bà ngoại nghe. Phần nó chỉ có mấy phong kẹo dừa B

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐINH DUY TƯ

Ngọn lửa thiêng


Truyện ngắn

    Tôi lên Trường An vào một chiều mưa. Lúc này đang đầu thu nên mưa cũng không nặng hạt nhưng vì không nặng hạt nên đường càng khó đi. Bụi đường như thứ bột pha nhuyễn nhỏ nhoẹt và đặc quánh. Chiếc ba lô áo quần thì ít giấy bút thì nhiều đè nặng trên vai khiến tôi cứ phải rướn người lên phía trước. Thỉnh thoảng bị mất đà loạng choạng suýt ngã nhào xuống vực. Phải gần nửa ngày đường mới đặt chân tới bản. Ngồi ở đầu dốc trong một chòi cạnh vườn tôi moi thuốc lá ra hút. Chao chút khói mới ấm bụng làm sao? Hút và nghĩ ngợi... Mông lung nhìn những ngôi nhà sàn thấp thoáng trong mưa lòng tôi chao chạnh buồn. Chao ôi có lẽ nào?...

Tôi mới ra trường đại học có tên nôm na là đại học tiểu học. Những tưởng lấy được bằng các trường miền xuôi sẽ đón tôi "Nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa" nào ngờ ông trưởng phòng giáo dục gọi lên trao cho quyết định sở gửi về. Nội dung quyết định là đưa tôi về phụ trách trường tiểu học bản Trường An hưởng chế độ giáo viên miền núi... Và - theo lời giới thiệu của ông trưởng phòng tôi sẽ ở nhà ông trưởng bản có tên gọi Hồ Tân...

*

Sau khi lội qua một con suối hẹp leo lên một con dốc đá ngắn thì bản Trường An hiện ra như cái mỏ lộ thiên. Bản có vài chục ngôi nhà xếp hình vòng cung cong như trăng lưỡi liềm. Tôi từng nghe nói đồng bào dân tộc thiểu số còn nghèo lắm xơ xác lắm. Nhưng với Trường An chẳng khác gì những thôn làng dưới xuôi thậm chí còn hơn dưới xuôi bởi ở rừng mà bản thoáng đãng không có cây cối rậm rạp um tùm. Nhà ở cách nhà vài chục mét ngăn chia nhau những dậu mồng tơi trên đường vào ngõ. Nhà sàn! Cả bản đều nhà sàn mái lá. Duy nhất một nhà đầu bản lợp ngói đỏ au. Nhà ông Hồ Tân...

Tôi chậm rãi leo lên chiếc cầu thang nhỏ bằng gỗ loại đắt tiền. Sàn dưới được quét dọn rất sạch sẽ. Dưới những cây ăn quả như: Mãng cầu mít chanh là những mạ gà ôm con chờ mưa tạnh...

Tôi đứng ở cửa nhìn vào. Trong nhà được bài trí rất đơn giản nhưng trang nhã. Đó là bộ bàn ghế rặt gỗ mun thoáng nhìn đã mát lạnh một tủ đứng ba buồng cũng được làm bằng gỗ tốt. Trên bàn thờ hiếm ai ở xuôi có được bàn thờ như thế. Bàn thờ đặt ở vị trí vừa tầm tay để thắp hương và cắm hoa khi thờ cúng. Tất cả đồ cúng lễ được chế tác bằng đồng lúc nào cũng sáng rực như được phát quang trên bàn thờ chỗ trang trọng nhất là bức ảnh Bác Hồ. Rõ là "Bác đứng trên cao đưa tay Bác vẫy chào". Và điều tôi chú ý nhất vẫn là ngọn đèn. Một ngọn đèn dầu được dặt trong khung kính lúc này vẫn đang cháy sáng... Đã mười giờ sáng chủ nhân vẫn chưa về. Đặt ba lô xuống bên góc nhà tôi định bước xuống cầu thang để "xem ló ngó đồng" một lúc cho đỡ buồn thì thấy một người đàn ông đang xăm xăm đi vào ngõ. Hồ Tân đã về...

Mặc dù nhìn thấy tôi nhưng Hồ Tân không chút vồn vã niềm nở tựa như tôi ở trong ngôi nhà này đã lâu lắm rồi. Chậm rãi đến mức khoan thai và thong thả ông bước về phía bể nước. Sau khi chùi sạch cái cuốc trên vai ông bắt đầu kỳ cọ chân tay vuốt hai ống quần xuống ông nhìn quanh một lúc rồi đi lên cầu thang. Không đợi tôi chào ông hỏi ngay:

- Thầy giáo mới lên à?

- Dạ!...

Ông đi tới một góc phía bàn thờ thò tay lấy đôi kính trắng rồi ngồi xuống ghế:

- Thầy cho tôi xem cái giấy!...

- Giấy gì ạ? Tôi trở nên chậm hiểu.

- Thầy lên đây bằng hai tay không à?

Tôi thoáng nhìn ông và hiểu ra món giấy tờ tùy thân. Vừa chìa giấy giới thiệu cho ông xem tôi vừa thấy lạnh với cái chuyện ngày xửa ngày xưa...Cái thời ra đường gặp gián điệp vào rừng gặp biệt kích thám báo bây giờ đang tái diễn ở bản nhỏ này đúng hơn ở nhà trưởng bản... Đọc mấy dòng ông ngước mắt lên:

- Thầy tên là Hào... Đỗ Vĩnh Hào à? Hai mươi hai tuổi trẻ quá hè!...

Trao lại tờ giấy cho tôi ông nói tiếp:

- Thầy thông cảm dù sao cảnh giác vẫn không thừa. Độ này bọn lâm tặc thú tặc đang săn lùng ráo riết.

Tôi ngạc nhiên:

- Thú tặc là gì ạ?

- à bọn buôn bán động vật hoang dã đấy mà!

Hồ Tân nói xong liền hỏi luôn: Thầy Hào không mang theo gạo à?

Không trả lời ông tôi chỉ tay vào chiếc ba lô và nói:

- Bác tính ngần ấy sách cũng nặng lắm rồi. Thấy tôi không nói gì thêm ông bố trí cho tôi cái phòng lồi để ngủ rồi ông dặn:

- Trong nhà này có hai nơi thầy bất khả xâm phạm. Một là bàn thờ hai là buồng ngủ của vợ chồng tôi... Còn thì thầy cứ tự do trong khuôn phép mà thầy đã học ở đời...

Như một nhà hiền triết Hồ Tân đứng dậy làm những công việc thường nhật. Còn tôi tôi đến thăm lớp học mà mình sắp đứng trên bục giảng. Một lớp học khá đàng hoàng và khang trang. Đây là kết quả của các dự án "một ba lăm một ba tư" của chính phủ dành cho miền núi. ở lớp học này tôi đứng lớp hai buổi. Buổi sáng lớp một buổi chiều lớp hai còn lớp ba thì lên trường xã...Vòng vo một lúc tôi ghé chân vào một ngôi nhà bên cạnh lớp. Biết tôi thầy giáo ở xuôi lên chủ nhà - một người đàn ông trung niên khỏe mạnh như một xúc gỗ lim vội vã lấy rượu ra mời.

- ở đây chỉ có rượu thôi vớ!... Nước trà không quen vớ!.

Anh ta nói rằng mình có con sắp vào lớp một đứa khác đang học trường dân tộc miền núi dưới huyện.

- Hai con thôi à? Tôi buột miệng hỏi.

- Thầy giáo mà cũng hỏi thế à? ở đây nghe theo trưởng bản chỉ hai con thôi.

Tôi được thế hỏi luôn

- Trưởng bản mấy con?

- Cũng hai thôi vớ! Hai đứa con gái xinh đẹp và ngoan lắm vớ. Cả hai đứa đang học đại học ở Hà Nội!...

Qua câu chuyện tôi được biết ở bản này mọi người đều gọi Hồ Tân là con cả của Bác Hồ. Hễ động đến việc gì Hồ Tân cũng bảo: Bác Hồ nói Bác Hồ dạy cần phải làm theo... Hồ Tân là con "mọt" đài. Bất cứ đi đâu làm gì trong túi áo của ông đều có một chiếc đài nhỏ bằng bao thuốc lá kè kè trong túi áo. Nghe nói chiếc đài này ông được đài phát thanh tỉnh tặng trong cuộc thi "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đợt một. Bữa đó Hồ Tân kể một câu chuyện về Bác mới lạ mà chưa ai được nghe. Đó là sau ngày giải phóng miền Nam cả nước tổ chức "Rước đuốc Bác Hồ" Hồ Tân phải cuốc bộ hơn một ngày ròng rã ăn chực nằm chờ ở trung tâm văn hóa huyện mới lấy được ngọn lửa vừa được nhà truyền thống thắp lên. Trên đường về trời bỗng nổi lên dông bão con suối đầu làng nước dâng lên ngập cả đôi bờ. Tiến thoái lưỡng nan Hồ Tân phải chui vào trong hang đá dùng ngọn lửa của Bác đốt lên một lò than hồng suốt ba ngày ròng rã...Ngày đó ai cũng tưởng Hồ Tân chết rồi!...

Buồn lòng tôi kể cho anh nghe chuyện Hồ Tân hỏi xem giấy tờ và hỏi chuyện gạo cơm... Anh ta giật thột kêu lên:

- Thôi chết trưa nay thầy bị đói rồi! ở lại đây ăn cơm cũng được... Ai chứ ông ấy thì phải báo trước.

Anh ta khuyên tôi nên giữa ý nhiều người cho rằng Hồ Tân khó tính nhưng suy cho cùng không phải thế. Ông ta học đòi rập khuôn theo Bác Hồ nhưng vì thái quá nên trở thành khắt khe. Những tưởng làm theo được Bác nhưng làm sao theo được một vĩ nhân? May lắm chỉ học theo được Bác những điều rất nhỏ nhưng với con người bình thường - như chúng ta như Hồ Tân được thế cũng mãn nguyện lắm rồi. Tôi trộm nghĩ.

Tôi từ chối bữa cơm mà anh ta mời rồi ra về. Nhà lại vắng. Tôi đi ra sau bếp lật vung nồi cơm điện và nhận ra không có một hạt cơm nào? Tôi nghe đói. Không lẽ lấy gạo nhà ông để đặt lên bếp ga? Bụng bảo dạ thôi đành nhịn vậy.

Chiều hôm đó tôi ngủ thiếp đi. Chiều tối vợ ông - người đàn bà đã luống tuổi đánh thức tôi dậy:

- Thầy giáo có ăn cơm không ạ?

Tôi ngồi bật lên:

- Có chị nấu cho tôi với.

Buổi tối bên mâm cơm khá thịnh soạn với các món: Thịt rừng cá hấp canh rau ngót. Hồ Tân bê ra một thẫu rượu nhìn tôi và hỏi:

- Thầy giáo có sài được không?

Dù không mấy khi uống rượu nhưng tôi không nỡ chối từ.

- Dạ! ít thôi ạ...

Hồ Tân uống cũng không nhiều ly trước vừa qua ly sau ông đã nẽ theo mực tàu:

- Trưa nay thầy nhịn bụng phải không? Thầy đói là phải thôi. Ngày xưa Bác Hồ đi công tác luôn mang theo khẩu phần ăn của mình. Để tôi kể chuyện thầy nghe...

Hồ Tân bắt đầu thao thao bất tận chuyện về Bác Hồ mà ông đã đọc trên báo nghe trên đài xem trên ti vi...Còn hứng lên đọc hai câu thơ: "Bác thường bỏ dĩa thịt gà mà ăn trọn quả cà xứ Nghệ không nói tiếng to và đi nhẹ cả trong vườn..." Chuyện bạn bè quốc tế biếu cho Bác nhiều thứ lắm nhưng Bác đem san sẻ cho mọi người. Rồi Hồ Tân kết luận:

- Cái bản này không có Bác không có Đảng thì còn khổ muôn đời...

Hồ Tân kể rằng ông đi bộ đội năm 1972 trận đầu cũng là trận giữ thành Quảng Trị. Ông đang làm lính bắn tỉa ở Động Do phục thằng Thiệu xuống Quảng Trị để "tỉa" cho hắn một phát đạn nào ngờ khi Thiệu vào tầm ngắm thì hắn ra vẻ "Vì tương lai con em nước nhà" cúi xuống ôm lấy một đứa bé và bồng luôn trên tay như đang bồng một đứa con tin...Chỉ vì không chớp được thời cơ ông bị kỷ luật cho sang lính bộ binh đánh xáp lá cà với bọn nguỵ ở trong thành Cổ. Bắn được vài thằng đâm được dăm thằng rút lê ra vuốt máu định đâm tiếp thì ông bị trúng thương ở khoang bụng...Khi tỉnh lại ông thấy mình đang ở trong bệnh xá dã chiến Tà Rụt. Người chăm sóc ông là y tá Hồ Thị Lựu... Cô Lựu vừa học xong trường trung cấp y Quảng Bình thì được điều lên đây thực tập và quyết định ở luôn dài dài...

Sau giải phóng Hồ Tân ra quân rồi quay vào Tà Rụt cưới cô Lựu làm vợ. Đưa vợ về quê Lựu cứ lóng ngóng trước việc nhà chồng: Sinh được đứa con gái đầu lòng cả nhà lâm vào nghèo đói. Ngày đó ở quê người ta rủ nhau vào kinh tế mới miền Nam như một đợt di cư đồng loạt. Hồ Tân không vô Trảng Bom Đồng Nai Đồng Xoài mà chở vợ con trên một chiếc thuyền khai khẩn đất này làm ăn...

- Bác Hồ nói rồi nước Việt Nam này đâu cũng là quê hương cha ông cũng nói rồi đất lành thì chim đậu... à ngày bác lên đây...

Bà Lựu nhắc:

- Khuya rồi thầy giáo mệt rồi!...

- ờ tao cũng mệt rồi. Ngủ thôi mai sẽ kể tiếp cho thầy nghe...

Không cần Hồ Tân kể tiếp nhưng càng ở trong nhà ông tôi càng đọc được ý ông qua mỗi việc làm qua từng cách ứng xử. Khi ông lên đây bốn bề um tùm những loài cây hoang dại hai vợ chồng gửi lại con cho ông bà nội chăm bẵm mang theo hai bàn tay trắng một con trâu đực và một chiếc cày gỗ... Hồ Tân cùng vợ chặt cây bứt cỏ tranh dựng lên một ngôi nhà tạm. Để tránh rắn rết thú dữ ông kết cấu ngôi nhà theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc. Rồi chặt đốt hớt trỉa đất làm tới đâu trâu cày tới đó. Chỉ vài năm ông đã mở mang tới chục héc ta đất canh tác đủ loại: Cao su hồ tiêu khoai sắn. Xung quanh trang trại ông chuối cam chanh và nhiều loại cây ăn quả khác. Ông còn chặn dòng một con suối cụt để tạo thành hồ nuôi cá... Trâu bò vài con ban đầu nay thì trâu đàn bò đàn mỗi năm ông bán tới vài chục con. Trong nhà ông dưới tấm ván thờ có một tờ áp phích to: "Không có việc gì khó chỉ sợ lòng không bền đào núi và lấp biển quyết chí ắt thành công". Trên băng ngang xà ngang dán đầy đủ những câu nói của Bác Hồ nhìn cứ tưởng một đàn bướm trắng đậu lên trên đó. Câu nói của Bác ông cắt từ báo ra cũng có mà tự tay ông sao chép lại cũng nhiều...

Thấy ông phát tài ông bà dân tộc mấy bản bên kéo sang nhận làm anh em kết nghĩa. Ông nhận tất. Lại giúp họ mở mang đất làm nhà rồi sinh con đẻ cái lập nên cái bản Trường An bây giờ...

Hồ Tân không ai bầu nghiễm nhiên trở thành trưởng bản. Sau khi có quyết định thành lập bản mới cũng nhiều lần bản tổ chức bầu lại nhưng Hồ Tân đã đóng rễ trong lòng dân mất rồi. Dần dà tên tuổi của ông lên trên mặt báo huyện báo tỉnh và báo trung ương với những cái tít rất dân dã: Hồ Tân đứa con của rừng; người giàu xứ núi; đứa con cả họ Hồ... Mới đây ông được ra Hà Nội dự lễ tổng kết cuộc vận động: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đợt đầu... Về nhà Hồ Tân chia quà cho dân lại kể thêm chuyện mới về Bác Hồ.

Mới đây có chuyện Hồ Tân mất một con bò cái đang bụng mang dạ chửa. Công an huyện bắt được kẻ chủ mưu liền gọi ông đến để dắt bò về. Hồ Tân phải đi xa lắm mới tới được nhà kẻ trộm. Tới nơi mới thấy cảnh nhà hắn ta nghèo quá tơi tả quá Hồ Tân không nỡ dắt bò về liền phán:

- Tôi cho anh con bò con! Khi nào nó khôn thì trả lại cho tôi con bò mẹ...

Và ông bái nại. Tuần vừa rồi người kia dắt con bò mẹ trả ông với một cút rượu gọi là trả nghĩa...

Trao tôi chén rượu tình ấy Hồ Tân hỏi:

- Thầy có nhớ Bác Hồ dạy câu gì không? Rồi ông nói luôn: Thấy việc tốt có lợi cho dân thì làm.

Người trong bản còn kể: Bộ bàn ghế bằng gỗ mun trong nhà Hồ Tân và đặc biệt khung gỗ gian thờ nó vô giá lắm. Đó là quà tặng của ngành kiểm lâm thưởng công ông đã báo cho họ chặn bắt một xe gỗ mun trên chục khối lọt trạm kiểm soát trong đêm... Bọn lâm tặc trả thù bắt cóc ông khi đang một mình trên rẫy. Chúng trói ông rồi vứt vào một hang đá mấy hôm sau dân trong bản mới tìm ra. Còn nhà ngói: Mỗi lần về huyện họp ông cõng một ba lô. Kiến tha lâu cũng đầy tổ ông lợp đủ nhà. Có người bảo: Bọn lâm tặc nó sợ gì ông? Nó sợ tư tưởng Bác Hồ thấm trong máu ông đấy thôi.

Tôi đã ở trong nhà Hồ Tân năm năm. Vâng một quãng thời gian rất đáng nhớ. Tôi đã học được ở ông rất nhiều điều và cũng từ bỏ được chữ "tôi" trong nhiều điều khác. Nói chung ông với tôi luôn luôn hợp ý tâm đầu. Duy chỉ có một điều mà tôi chưa thực hiện được. Đó là rất nhiều lần Hồ Tân khuyên tôi nên bỏ thuốc lá...Tôi hút nhiều lắm khiến ông vô cùng khó chịu.

Cho tới một hôm... Phải hôm đó trời mưa Hồ Tân cùng vợ sang nhà bên ăn đám giỗ. Tôi ở nhà hì hục soạn giáo án. Vừa pha một ấm trà ngon nhấp môi chợt nhớ đến mùi thơm điếu thuốc. Tôi lấy gói thuốc trong túi đặt lên mặt bàn và quờ quạng tìm bao diêm. Trong hộc bàn la liệt vỏ bao thuốc lá và vỏ bao diêm nhưng tiếc thay không còn một que diêm nào cả. Tôi chợt nhớ tối qua ngồi bên bếp lửa thuận tay lấy bao diêm - còn lại một que duy nhất đốt lên chấm vào điếu thuốc. Ông Hồ Tân nhìn tôi trách:

- Thầy sao phí thế? Khi cần một que diêm cũng quý.

Ông kể dạo còn trai tráng đã từng theo chúng bạn "ngậm ngãi tìm trầm". Làn ấy cả bọn vượt qua một con suối trong mùa lũ không ngờ túi ni lông đựng bật lửa và thuốc lá bị nước cuốn trôi. Qua tới bờ ai nấy chết rét tìm lửa để sưởi nhưng cả bọn đành bất lực. May sao ông chợt nhớ trong túi quần của mình còn có một bao diêm và bao diêm ấy - như của tôi lúc đó cũng chỉ còn duy nhất một que. Cả bọn lạy sống lạy chết mong thoát nạn...

- Rồi sao bác? Tôi hỏi.

- Thì thoát được chứ sao? Nếu không có que diêm ấy thì phải quay về... Mà về đâu có dễ?...

Tôi biết ông nhắc tôi bài báo hôm qua kể chuyện Bác Hồ đến thăm một đơn vị quân đội. Lúc xuống thăm bếp ăn trong tay Bác đang cầm một điếu thuốc. Người anh nuôi thấy vậy liền đưa bao diêm để Bác dùng nhưng Người ra hiệu không dùng đến. Bác châm điếu thuốc bằng một que củi nhỏ và nói: Khi cần một que diêm cũng quý.

Tôi giật mình: Phải chăng bác đã báo cho tôi điều ấy. Tôi nhìn quanh và nhìn lên ảnh Bác. A! Có lửa rồi. Trên bàn thờ ngọn đèn vẫn sáng. Tôi biết Hồ Tân quý ngọn đèn hơn cả tính mạng của mình. Đi đâu về đứng ở bậc cửa ông cũng đau đáu nhìn lên bàn thờ. Mỗi tuần một lần ông đưa ngọn đèn xuống tiếp thêm dầu và lau chùi rất cẩn thận. Mặc dù ngọn đèn vỏ bằng đồng rất nhẹ nhưng lúc nào ông cũng trịnh trọng nâng đỡ bằng hai bàn tay. Ông ngồi tần mẫn bên ngọn đèn như đang tâm niệm một điều gì thiêng liêng lắm:

Ngoài trời vẫn mưa.

Ngoài bếp cửa khóa.

Ngoài đường vắng ngắt.

Chần chừ một lúc thật lâu tôi không cưỡng được sự thèm thuồng của người nghiện thuốc liền đứng dậy. Theo cách làm của Hồ Tân mỗi lần quét dọn bàn thờ tôi kê thêm chiếc ghế gỗ nhỏ từ từ - rất chi từ từ tôi rướn tay về phía ngọn đèn. Tay tôi đứng lên rồi vừa chạm vào đèn mát lạnh thì con người cũng lạnh luôn một tiếng quát như của Trương Phi ở cầu Tràng Bản vọng lên:

- Thầy giáo!...Xuống.

- Dạ! Cháu...Tôi nói như một kẻ sắp chết giấc.

- Xuống! Cút ngay. ...Hồ Tân trừng mắt nhìn tôi như nhìn đứa con nít tay chỉ ra đường mắt đằng đằng sát khí...

Tôi cúi gằm mặt không lời nào lọt qua được cửa miệng. Để ông bớt giận tôi nhìn ra cửa từ từ xuống cầu thang tôi ôm lấy chiếc cột nhà dưới sàn và òa khóc. Tôi khóc rấm rứt như thế rất lâu. Hồ Tân xuống cầu thang và tiến lại bên tôi. Đặt tay lên vai tôi giọng ông như một sợi dây truyền cảm:

- Thầy Hào à?... Thầy hãy tha lỗi cho bác. Một lúc lâu ông lại nói như quở trách: Bác đã dặn trước rồi thầy đừng đặt tay lên đó lỡ ra...

- Thưa bác - tôi đã lấy lại bình tĩnh: Đó là một vật gia bảo nhà ta phải không ạ?

Hồ Tân gật đầu:

- Không phải riêng nhà ta đâu mà của cả dân tộc này đấy. Giọng ông trở nên tha thiết: Cháu biết không đó là ngọn lửa của Bác Hồ mà bác đã gìn giữ từ ngày rước đuốc Bác Hồ đến nay... Ông ngậm ngùi nói thêm: Hơn ba mươi năm đã qua rồi nhanh thật đấy.

Nghẹn ngào tôi ôm lấy Hồ Tân và tôi đã hiểu trái tim của người lính già một người lính từ đau khổ của nhân dân mà bước vào đời. Một cuộc đời bắt đầu từ ngọn lửa rất đỗi thiêng liêng ấy...

                                                           10 - 2009

                                                             Đ.D.T



 

CAO LINH QUÂN

Núi Nưa

Truyện ngắn


     Đại úy Đoàn Hữu Cư anh hùng lực lượng Quân Giải phóng miền Nam trở về làng Ân Nghĩa xã Thanh Lâm huyện Triệu Sơn...

Giải phóng miền Nam được một năm nhân chuyến đi công tác từ Sài Gòn ra Hà Nội Cư mới có điều kiện về Ân Nghĩa ghé thăm cô Nga vợ thầy Châu và viếng mộ người thầy kính yêu của anh.

Cư và chú lái xe đến nhà cô giáo lúc 3 giờ chiều. Trò chuyện với cô Nga đến 5 giờ anh xin phép cô được một mình ra viếng mộ thầy Châu ở nghĩa trang liệt sỹ.

Chiều xuống.

Đầu óc mãi nghĩ đâu mà chân bước vào nghĩa trang lúc nào không hay. Cư dừng lại nhìn quanh...

Nghĩa trang liệt sỹ này kề bên nghĩa địa làng. Theo lời cô Nga kể thì một năm sau ngày hy sinh thầy Châu của anh đã được Nhà nước ta công nhận liệt sỹ. Tới đầu năm ngoái bà con trong xã và các thầy cô giáo lại bốc mộ đưa thầy từ nghĩa địa bên kia sang nghĩa trang bên này...

Một hai ba bốn năm... Cư đếm theo thói quen tự nhiên. Anh cúi nhìn những dòng chữ trên tấm bia. Thầy Châu ơi thầy nằm ở đâu?... Cư đấy hả em? Thầy đây... ơ kìa! Hình như có tiếng ai? Đây kia mà!

Mắt Cư bỗng nhòa ra cứng đờ. Đại úy sững lại. Bàn chân mình hay bàn chân ai? Nặng trĩu. Chôn xuống đất. Và bàn tay nào kéo vai xoay đầu bắt anh nhìn xuống...

- Thầy Châu ơi!

Cư sụp ngồi xuống hai tay choàng ôm lấy phần mộ ngay sát bên. Trước mặt anh tấm đá bia xứ Thanh to đẹp hơn những tấm bia kề bên khắc ghi rõ những dòng chữ:

Huỳnh Châu - Liệt sỹ

1940 - 1968

Quê ở Bến Tre. Giáo viên cấp Ba Thọ Sơn. Hy sinh chiều 23 tháng 5 năm 1968 trong lúc làm nhiệm vụ chống đế quốc Mỹ cứu sống các em học sinh nhỏ...

- Thầy Châu ơi! Trò Cư của thầy đây! - Cư nghẹn ngào... Hôm nay 30 tháng 5 năm 1976 học trò từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm thầy... Em có ngờ đâu mình lại về miền Nam trước thầy gặp lại thầy nơi vùng đất trường xưa như thế này...

Dòng suối ký ức tuôn trào. Gục đầu xuống mộ môi áp vào đất cỏ trăn qua trở lại... một hồi lâu anh mới sực nhớ đứng dậy đi thắp hương cho những ngôi mộ xung quanh. Tự nhiên anh cảm thấy nhồn nhột bên mình canh cánh trong lòng. Hình như có ai nãy giờ đang theo dõi anh? Nghĩa trang bốn bề vắng lặng. Ai? Ô kìa! Ngẩng đầu lên Cư thấy núi Nưa hiện ngay trước mặt mình. Anh nhìn sững.

Nằm án ngữ cả chân trời phía tây nam nối liền hai huyện Triệu Sơn - Nông Cống dù ai đi đâu về đâu ở vùng quê Thanh này cũng có thể thấy núi Nưa trước mặt bên mình. Nơi Cư đang đứng đây là chỗ nhìn Núi chính diện nhất. Núi có dạng đôi vai người nông dân cũng tựa mái nhà ở làng quê lại phảng phất mình voi tượng của Bà Triệu... Và ngôi mộ của thầy Huỳnh Châu ngọn núi Nưa bé nhỏ trong cõi đời còn nằm lại nơi đây!

*

Một ngày hè tháng 5 năm 1967 Cư hồi tưởng lại... Buổi chiều hôm ấy... Dưới gốc cây đa bên đường phía ngoài nghĩa trang đang còn đứng kia thầy Châu và trò Cư cùng ngồi bên nhau.

Nhìn kìa! Thầy Châu vỗ vai Cư ngón tay trỏ chỉ về phía trước. Từng đàn cò trắng cả mấy trăm con từ cánh đồng dưới chân núi từ ngón tay thầy đưa lên rợp trắng... Vừa đúng lúc mặt trời đã xuống bên kia núi rồi còn tinh nghịch tung vội những tia vàng trong vắt như quấn như đan làm rối tung cả lũ tán loạn cả bầy trong tấm lưới vàng mênh mông...

- Núi Nưa! - Thầy kêu lên - Cư có biết tên chữ Hán của nó không? Na Sơn! Ngày xưa Triệu Thị Trinh sinh ra ở đây. Bà Triệu cỡi voi đánh cồng thúc giục quân sỹ tiến lên. Bọn Tàu xâm lược kinh hồn bỏ chạy. Cư có biết Bà Triệu nói gì không? Tôi muốn đạp cơn gió mạnh cỡi con sóng dữ ngoài biển Đông... không muốn làm tỳ thiếp cho người ta! Thế đấy! Cái vùng lặng lẽ hoang vu này xưa kia đã sanh ra một con người vĩ đại!

Lại trở về im lặng trầm tư sau những phút giây sôi nổi.

- Lớn lên Cư sẽ làm gì?

Câu thầy hỏi thật bất ngờ khiến cho Cư lúng túng.

- Thành một nhà văn nghen?

- ối! Cư la lên. Em dốt văn viết chưa thành một câu mà thầy!

- Sao thế? Tại vì em chưa muốn đó thôi. Thầy bảo nghen sau này em sẽ ghi lại những ngày thơ ấu ở quê hương Quảng Trạch - Quảng Bình. Chuyện bố em một xã đội trưởng dân quân bị Pháp giết; Mẹ em và các đồng chí đang đêm mang khăn gói đi lấy đầu bố bị địch treo ở đầu làng đưa về nhà. Chuyện mẹ em chết đi để con lại nhờ ông em nuôi dạy... Quá hay! Hay là... Cư trở thành nhà khoa học?

- ối! Em lạy thầy! Em ngu như ri mà làm răng trở thành khoa học được!

- Vậy thì... thành anh hùng. Dám không? - Thầy cau mặt nhìn Cư vẻ như thách đố - Sao không dám làm anh hùng hả?

Cư cúi đầu im lặng.

- Thưa thầy thầy có... ý định trở thành nhà thơ nhà văn không? Cư rụt rè hỏi - Các bạn bảo thầy làm thơ hay lắm.

- ừ thì mình cũng có viết... - Thầy mỉm cười mắt sáng. - Có hai bài thơ được đăng báo Văn nghệ Tiền phong... nhưng vốn sống hiểu biết của mình còn ít quá phải đi phải sống như các nhà văn Giải phóng: Nguyễn Thi Lê Anh Xuân Dương Thị Xuân Quý... Vừa cầm bút vừa cầm súng.

- Thầy cũng muốn... như họ?

Thầy gật đầu thở dài.

- Tôi đã viết đơn tình nguyện gửi lên trên rồi. Tôi xin về ngay Bến Tre quê hương Đồng Khởi của tôi. Vậy mà chẳng hiểu sao chưa thấy người ta đáp ứng nguyện vọng. Sốt ruột quá.

Thầy cất giọng ngâm nga: Em ơi sao tóc em thơm vậy? Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng? Cư có biết hai câu thơ đó của ai không? Lê Anh Xuân! Tuyệt vời! Không phải là dân Nam Bộ sống ở miệt vườn làm sao có được cảm xúc đó? Cư ạ thầy nói giọng Bến Tre nghe hơi đanh gắt nhưng lại sảng khoái ngang tàng - Tôi quan niệm rằng Con Người chúng ta Nói Viết và Sống ba cái ấy phải là Một. Thầy giơ tay chỉ núi Nưa: Phải sống cho ra sống! Cư ơi! Mỗi một người chúng ta phải là một ngọn núi một vì sao! Phải sống sao cho không hổ thẹn rằng mình là con cháu Bà Triệu ở vùng núi Na Sơn anh hùng!

Sao Hôm bỗng hiện ra trước mắt lấp lánh trên đầu núi. Mắt sao long lanh thoáng điểm nụ cười. Gió lộng. Một màu xanh rười rượi tươi mát không rõ từ đất trời hay từ chính tuổi hoa niên con người lan tỏa. Có buổi chiều nào đẹp như buổi chiều này không? Tiếng ai vọng lên trên đầu họ trong tâm hồn họ. Mai sau... Đời chúng ta dù có những buổi chiều đẹp đến thế nào chăng nữa rồi cũng sẽ không có buổi chiều nào như buổi chiều hôm nay đâu! Bạn hỡi cuộc đời thật là đẹp và đáng sống!

Ba tháng sau buổi chiều ấy thi tốt nghiệp phổ thông trung học xong Cư viết đơn tình nguyện nhập ngũ lên đường vào Nam...

*

Đêm

Căn nhà nhỏ lợp tranh hai gian chìm trong yên lặng vùng quê. Cô Nga kể lại đoạn cuối đời của thầy Châu cho trò Cư và chú lái xe nghe.

Một con dế bỗng cất tiếng kêu lanh lảnh ở đầu hè. "Xin chào các anh! Những người anh hùng từ miền Nam ra! Thế nào? Hòa bình rồi từ nay chúng ta sẽ sống..."

Một con đom đóm từ ngoài sân tự nhiên cũng lừng lững vào nhà. Đom đóm xanh ngời; viên ngọc to và sáng đến nỗi hai người lính Trường Sơn cùng có ý nghĩ rằng từ thuở còn thơ dại đến nay hình như họ chưa bao giờ thấy chú đom đóm nào sáng và đẹp đến thế.

Đom đóm bay thẳng tới bàn thờ lượn quanh tìm cách đậu lên bức ảnh chân dung người đã khuất như có chủ ý gì rồi lại bay xuống những con người đang ngồi cạnh giường quanh bàn... Và cuối cùng lượn quanh đầu Cư đậu xuống gù vai... Một cảm xúc mê tín mà không dị đoan trào dâng trong anh lòng thành kính. Đom đóm còn rà xuống tìm tới túi áo bên trái ngực anh và dừng lại. Cư ngồi sững. Không dám giơ tay chạm viên ngọc biếc đang sáng tối lập lòe dâng lên hạ xuống cùng nhịp đập hơi thở trong lồng ngực mình...

- Thầy đã về!

Cô Nga nói rồi đứng dậy đi tới bàn thờ đốt cây nhang vừa cúi đầu lạy vừa khấn:

- Nam mô a di đà phật...

Quay lại nhìn thấy đom đóm đã bay qua cửa ra tới ngoài sân trong ánh mắt dõi theo của mấy con - người - dương cô nói khẽ giọng đùa vui mà nghẹn buồn:

- Thầy thiêng lắm các trò ạ.

...

Thầy cô cưới nhau đúng vào Tết Mậu Thân năm 68. Sau tết thầy nhận được lệnh trên điều ra Bộ Giáo dục. Cứ theo như lời trong thư thầy gửi về nhà lộ bí mật cho biết thì các thầy cô được tuyển chọn đi vào Nam đợt ấy trong số đó có thầy tập trung ở Trung du Vĩnh Phú để tập luyện một thời gian: đeo ba lô gạch đi bộ leo đồi hành quân cả ngày lẫn đêm... Hai tháng trời trôi qua. Cô nóng lòng viết thư ra báo tin cho thầy cô đã mang thai. Cô nhắn thầy nếu có thể được thì xin phép trên về thăm nhà bà cụ sinh ra cô vừa qua một trận ốm nặng. Khi viết những dòng ấy cô kể lại tự nhiên chẳng hiểu sao thấy bồn chồn lo lắng thậm chí hoảng sợ. Lẽ ra đừng viết không nên viết. Nhưng lỡ viết rồi và thư đã gửi bưu điện. Đúng là... Một điềm gở. Cô ân hận suốt đời!

Thầy về tới nhà lúc một giờ chiều. Trời nắng như đổ lửa. Vừa chuyện trò hỏi han được dăm câu cô đã phải chuẩn bị giáo án đồ dạy học lên lớp. Từ nhà ra tới lớp học chỉ một khúc quanh; nhiều hôm ngồi ở nhà thầy nghe rõ cả tiếng cây thước gỗ cô đập trên bàn tiếng cô la gọi học trò.

Cô vừa lên lớp được một lúc thì máy bay Mỹ tới. Chúng lượn quanh một vòng rồi nhào xuống cắt bom. Tiếng bom nổ nghe không lớn lắm nhưng tiếng rốc két thì nghe như khoan như xé màng tang ra. Rồi trước mắt cô cả dãy nhà bốn lớp học đổ xuống bốc cháy. Cứu con với! Cứu con với! Tiếng kêu khóc của lũ học trò nhỏ chìm át đi trong tiếng gào hú xé trời của Con Ma Thần Sấm. Các thầy cô dẫn bọn nhóc lũ gà con lớp mình chạy ra lối cửa sau xuống hầm hào. Cô Nga một tay ôm một đứa vào ngực tay kia xốc nách... hai đứa yếu ốm nhất lớp. Hai nửa lớp đã kịp lăn bò rớt được xuống dưới hào. Quay trở vào cô thấy thầy Châu chồng mình đứng ngay trong lớp học. Cô nhìn thầy vừa ngạc nhiên vừa lo lắng. Làm sao chồng mình lại ra đây? Bình tĩnh! Bình tĩnh! Thầy la to. Thầy ôm từng đứa một tay quàng đầu nó vào ngực đưa chúng xuống hào. Rồi lại quay vào ôm đứa khác. Cúi thấp người xuống! Đi lối này! Đừng chạy ra sân! Thầy hét lên giọng khản đặc. Rồi lao sang lớp bên cạnh... Khi ngồi đông đủ dưới hào rồi thầy quay sang hỏi cô và lũ nhỏ: Còn em nào chưa xuống nữa không? Đếm lại xem. Đủ cả rồi hả? Tụi nhỏ cùng la lên: Dạ đủ! Lửa bom bốn phía tỏa khí bốc hơi khét nóng đến nỗi có đứa chịu không nổi khóc ré... Bỗng một đứa nhổm đầu dậy nói to: "Thưa cô còn bạn Hải chưa xuống đang nằm trong lớp ạ". "Chỉ bạn Hải thôi còn bạn nào nữa không?" Thầy hỏi. "Dạ chỉ còn có bạn đó thôi!"

Cô chưa biết nên xử trí như thế nào thầy Châu đã lao lên khỏi hào chạy vào trong lớp. Cô sửng sốt nhìn theo. Lúc bấy giờ chẳng cứ bom đạn Mỹ mà tên lửa pháo cao xạ bộ đội phòng không từ bốn phía Núi súng trường của dân quân ở đầu làng cuối thôn xé trời chuyển đất chẳng còn phân biệt được. Vẫn chưa thầy thầy Châu ra. A! Kia rồi! Thầy khom người cúi đầu chạy hai tay ôm thằng Hải áp sát đầu nó vào ngực mình. Hai ba cánh tay ở dưới hào cùng giơ lên. ấn vội thằng bé xuống hào thầy ngồi nghỉ hai tay chống đất... Nhưng kìa thầy xoải hai tay đầu nghoẹo sang bên ngật ra phía sau. Cô ơi thầy làm sao thế! Bọn nhỏ la lên. Một vệt máu từ sau gáy đầu thầy ứa ra ộc xuống...

Máy bay Mỹ đã đi xa. Chỉ còn nghe tiếng người kêu cứu tiếng lửa cháy nổ... Các thầy cô giáo trường cấp Một cấp Ba và bà con trong Hợp tác xã tới. Đặt thầy Châu lên cáng võng đưa thầy tới bệnh viện Thọ Sơn lúc ấy khoảng 3 giờ chiều. Mảnh rốc két cắm vào sau đầu thầy được bác sỹ mổ lấy ra. Thầy còn mở mắt nhìn cô và mấp máy mấy tiếng: "Đừng khóc! Tội thân em"... Các bác sỹ y tá trong viện quen biết thầy học trò cũ tiếp máu cho thầy. Thầy lại chìm đi trong cơn mê. Vào khoảng tám giờ rưỡi tối hồi tỉnh thầy ra hiệu bảo cô tới gần. "Nga em"... Thầy nói "Anh gửi lại cho em giọt máu cuối cùng của đời anh trên miền Bắc. Đừng buồn. Gắng nuôi dạy con nên người. Cảm ơn em các bạn bà con... Nhớ ơn mẹ. Xin mẹ tha lỗi"... Thầy tắt thở. Những người đứng quanh không sao cầm được nước mắt.

Đám tang thầy vào chiều hôm sau trời lại đổ cơn mưa. Người đi đưa đứng đầy cả trên đường dưới ruộng. Tuần sau đó ông chú và chị ruột của thầy từ Hà Nội vào. Đến khi ấy cô mới được biết đôi nét về gia cảnh của thầy. Thầy quê ở Bến Tre. Ông thân sinh ra thầy là Tỉnh ủy viên bị Pháp đày ra Côn Đảo và chết ở ngoài ấy. Chị em thầy mồ côi mẹ từ nhỏ sống với bà con cô bác cho đến năm 54 mới theo chú ruột ra Bắc tập kết. Ông chú làm ở Bộ Ngoại giao. Bà chị đi Liên Xô về lấy chồng ở Hà Nội.

Cuối năm 75 hai người lại ghé về đây ngỏ ý muốn đưa mẹ con cô vào Nam. Cô xin phép họ chờ thong thả ít lâu nữa để còn tính liệu... Bây giờ Cư ghé thăm cô lại cũng có ý định mời mẹ con cô vào miền Nam sống cùng gia đình vợ chồng em cô cảm ơn tấm lòng các em... Cô sinh ra từ làng quê quen sống với đồng ruộng sợ vào Sài Gòn sống ở thành phố không hợp. Vả lại mộ thầy còn ở nghĩa trang đây cô phải ở đây hương khói chăm sóc...

*

Huỳnh Sơn hạt giống đỏ thầy Châu để lại cho vùng đất dưới chân núi Nưa - Cậu bé đã lên bảy. Vóc người hao hao giống mẹ nhưng điệu bộ ăn nói và nhất là ánh mắt nhìn thì y chang như bố. Dễ thường từ chiều nay khi hai chú Giải phóng đi xe tới nhà cậu bé quấn quýt bên họ không muốn dời.

Năm ngoái ông chú bà cô vào đây cho Sơn nhiều quà: Nào là quần áo bánh kẹo ô tô búp bê nhựa... Vậy mà nó không ham. Cô Nga kể: Bà cô dang tay ra muốn bế nó... Nó cứ rúc đầu vào ngực tôi ôm cứng không chịu. Bà cô rơm rớm nước mắt. Cái thằng lạ thế. Không ham người nhà mà lại thích bộ đội. Chắc ba nó xui khiến nó...

Cái đài national chú Cư biếu mẹ Nga bây giờ để trên bàn thờ thỉnh thoảng mở ra cho ba Châu và bà ngoại nghe. Phần nó chỉ có mấy phong kẹo dừa B

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐINH DUY TƯ

Ngọn lửa thiêng


Truyện ngắn

    Tôi lên Trường An vào một chiều mưa. Lúc này đang đầu thu nên mưa cũng không nặng hạt nhưng vì không nặng hạt nên đường càng khó đi. Bụi đường như thứ bột pha nhuyễn nhỏ nhoẹt và đặc quánh. Chiếc ba lô áo quần thì ít giấy bút thì nhiều đè nặng trên vai khiến tôi cứ phải rướn người lên phía trước. Thỉnh thoảng bị mất đà loạng choạng suýt ngã nhào xuống vực. Phải gần nửa ngày đường mới đặt chân tới bản. Ngồi ở đầu dốc trong một chòi cạnh vườn tôi moi thuốc lá ra hút. Chao chút khói mới ấm bụng làm sao? Hút và nghĩ ngợi... Mông lung nhìn những ngôi nhà sàn thấp thoáng trong mưa lòng tôi chao chạnh buồn. Chao ôi có lẽ nào?...

Tôi mới ra trường đại học có tên nôm na là đại học tiểu học. Những tưởng lấy được bằng các trường miền xuôi sẽ đón tôi "Nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa" nào ngờ ông trưởng phòng giáo dục gọi lên trao cho quyết định sở gửi về. Nội dung quyết định là đưa tôi về phụ trách trường tiểu học bản Trường An hưởng chế độ giáo viên miền núi... Và - theo lời giới thiệu của ông trưởng phòng tôi sẽ ở nhà ông trưởng bản có tên gọi Hồ Tân...

*

Sau khi lội qua một con suối hẹp leo lên một con dốc đá ngắn thì bản Trường An hiện ra như cái mỏ lộ thiên. Bản có vài chục ngôi nhà xếp hình vòng cung cong như trăng lưỡi liềm. Tôi từng nghe nói đồng bào dân tộc thiểu số còn nghèo lắm xơ xác lắm. Nhưng với Trường An chẳng khác gì những thôn làng dưới xuôi thậm chí còn hơn dưới xuôi bởi ở rừng mà bản thoáng đãng không có cây cối rậm rạp um tùm. Nhà ở cách nhà vài chục mét ngăn chia nhau những dậu mồng tơi trên đường vào ngõ. Nhà sàn! Cả bản đều nhà sàn mái lá. Duy nhất một nhà đầu bản lợp ngói đỏ au. Nhà ông Hồ Tân...

Tôi chậm rãi leo lên chiếc cầu thang nhỏ bằng gỗ loại đắt tiền. Sàn dưới được quét dọn rất sạch sẽ. Dưới những cây ăn quả như: Mãng cầu mít chanh là những mạ gà ôm con chờ mưa tạnh...

Tôi đứng ở cửa nhìn vào. Trong nhà được bài trí rất đơn giản nhưng trang nhã. Đó là bộ bàn ghế rặt gỗ mun thoáng nhìn đã mát lạnh một tủ đứng ba buồng cũng được làm bằng gỗ tốt. Trên bàn thờ hiếm ai ở xuôi có được bàn thờ như thế. Bàn thờ đặt ở vị trí vừa tầm tay để thắp hương và cắm hoa khi thờ cúng. Tất cả đồ cúng lễ được chế tác bằng đồng lúc nào cũng sáng rực như được phát quang trên bàn thờ chỗ trang trọng nhất là bức ảnh Bác Hồ. Rõ là "Bác đứng trên cao đưa tay Bác vẫy chào". Và điều tôi chú ý nhất vẫn là ngọn đèn. Một ngọn đèn dầu được dặt trong khung kính lúc này vẫn đang cháy sáng... Đã mười giờ sáng chủ nhân vẫn chưa về. Đặt ba lô xuống bên góc nhà tôi định bước xuống cầu thang để "xem ló ngó đồng" một lúc cho đỡ buồn thì thấy một người đàn ông đang xăm xăm đi vào ngõ. Hồ Tân đã về...

Mặc dù nhìn thấy tôi nhưng Hồ Tân không chút vồn vã niềm nở tựa như tôi ở trong ngôi nhà này đã lâu lắm rồi. Chậm rãi đến mức khoan thai và thong thả ông bước về phía bể nước. Sau khi chùi sạch cái cuốc trên vai ông bắt đầu kỳ cọ chân tay vuốt hai ống quần xuống ông nhìn quanh một lúc rồi đi lên cầu thang. Không đợi tôi chào ông hỏi ngay:

- Thầy giáo mới lên à?

- Dạ!...

Ông đi tới một góc phía bàn thờ thò tay lấy đôi kính trắng rồi ngồi xuống ghế:

- Thầy cho tôi xem cái giấy!...

- Giấy gì ạ? Tôi trở nên chậm hiểu.

- Thầy lên đây bằng hai tay không à?

Tôi thoáng nhìn ông và hiểu ra món giấy tờ tùy thân. Vừa chìa giấy giới thiệu cho ông xem tôi vừa thấy lạnh với cái chuyện ngày xửa ngày xưa...Cái thời ra đường gặp gián điệp vào rừng gặp biệt kích thám báo bây giờ đang tái diễn ở bản nhỏ này đúng hơn ở nhà trưởng bản... Đọc mấy dòng ông ngước mắt lên:

- Thầy tên là Hào... Đỗ Vĩnh Hào à? Hai mươi hai tuổi trẻ quá hè!...

Trao lại tờ giấy cho tôi ông nói tiếp:

- Thầy thông cảm dù sao cảnh giác vẫn không thừa. Độ này bọn lâm tặc thú tặc đang săn lùng ráo riết.

Tôi ngạc nhiên:

- Thú tặc là gì ạ?

- à bọn buôn bán động vật hoang dã đấy mà!

Hồ Tân nói xong liền hỏi luôn: Thầy Hào không mang theo gạo à?

Không trả lời ông tôi chỉ tay vào chiếc ba lô và nói:

- Bác tính ngần ấy sách cũng nặng lắm rồi. Thấy tôi không nói gì thêm ông bố trí cho tôi cái phòng lồi để ngủ rồi ông dặn:

- Trong nhà này có hai nơi thầy bất khả xâm phạm. Một là bàn thờ hai là buồng ngủ của vợ chồng tôi... Còn thì thầy cứ tự do trong khuôn phép mà thầy đã học ở đời...

Như một nhà hiền triết Hồ Tân đứng dậy làm những công việc thường nhật. Còn tôi tôi đến thăm lớp học mà mình sắp đứng trên bục giảng. Một lớp học khá đàng hoàng và khang trang. Đây là kết quả của các dự án "một ba lăm một ba tư" của chính phủ dành cho miền núi. ở lớp học này tôi đứng lớp hai buổi. Buổi sáng lớp một buổi chiều lớp hai còn lớp ba thì lên trường xã...Vòng vo một lúc tôi ghé chân vào một ngôi nhà bên cạnh lớp. Biết tôi thầy giáo ở xuôi lên chủ nhà - một người đàn ông trung niên khỏe mạnh như một xúc gỗ lim vội vã lấy rượu ra mời.

- ở đây chỉ có rượu thôi vớ!... Nước trà không quen vớ!.

Anh ta nói rằng mình có con sắp vào lớp một đứa khác đang học trường dân tộc miền núi dưới huyện.

- Hai con thôi à? Tôi buột miệng hỏi.

- Thầy giáo mà cũng hỏi thế à? ở đây nghe theo trưởng bản chỉ hai con thôi.

Tôi được thế hỏi luôn

- Trưởng bản mấy con?

- Cũng hai thôi vớ! Hai đứa con gái xinh đẹp và ngoan lắm vớ. Cả hai đứa đang học đại học ở Hà Nội!...

Qua câu chuyện tôi được biết ở bản này mọi người đều gọi Hồ Tân là con cả của Bác Hồ. Hễ động đến việc gì Hồ Tân cũng bảo: Bác Hồ nói Bác Hồ dạy cần phải làm theo... Hồ Tân là con "mọt" đài. Bất cứ đi đâu làm gì trong túi áo của ông đều có một chiếc đài nhỏ bằng bao thuốc lá kè kè trong túi áo. Nghe nói chiếc đài này ông được đài phát thanh tỉnh tặng trong cuộc thi "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đợt một. Bữa đó Hồ Tân kể một câu chuyện về Bác mới lạ mà chưa ai được nghe. Đó là sau ngày giải phóng miền Nam cả nước tổ chức "Rước đuốc Bác Hồ" Hồ Tân phải cuốc bộ hơn một ngày ròng rã ăn chực nằm chờ ở trung tâm văn hóa huyện mới lấy được ngọn lửa vừa được nhà truyền thống thắp lên. Trên đường về trời bỗng nổi lên dông bão con suối đầu làng nước dâng lên ngập cả đôi bờ. Tiến thoái lưỡng nan Hồ Tân phải chui vào trong hang đá dùng ngọn lửa của Bác đốt lên một lò than hồng suốt ba ngày ròng rã...Ngày đó ai cũng tưởng Hồ Tân chết rồi!...

Buồn lòng tôi kể cho anh nghe chuyện Hồ Tân hỏi xem giấy tờ và hỏi chuyện gạo cơm... Anh ta giật thột kêu lên:

- Thôi chết trưa nay thầy bị đói rồi! ở lại đây ăn cơm cũng được... Ai chứ ông ấy thì phải báo trước.

Anh ta khuyên tôi nên giữa ý nhiều người cho rằng Hồ Tân khó tính nhưng suy cho cùng không phải thế. Ông ta học đòi rập khuôn theo Bác Hồ nhưng vì thái quá nên trở thành khắt khe. Những tưởng làm theo được Bác nhưng làm sao theo được một vĩ nhân? May lắm chỉ học theo được Bác những điều rất nhỏ nhưng với con người bình thường - như chúng ta như Hồ Tân được thế cũng mãn nguyện lắm rồi. Tôi trộm nghĩ.

Tôi từ chối bữa cơm mà anh ta mời rồi ra về. Nhà lại vắng. Tôi đi ra sau bếp lật vung nồi cơm điện và nhận ra không có một hạt cơm nào? Tôi nghe đói. Không lẽ lấy gạo nhà ông để đặt lên bếp ga? Bụng bảo dạ thôi đành nhịn vậy.

Chiều hôm đó tôi ngủ thiếp đi. Chiều tối vợ ông - người đàn bà đã luống tuổi đánh thức tôi dậy:

- Thầy giáo có ăn cơm không ạ?

Tôi ngồi bật lên:

- Có chị nấu cho tôi với.

Buổi tối bên mâm cơm khá thịnh soạn với các món: Thịt rừng cá hấp canh rau ngót. Hồ Tân bê ra một thẫu rượu nhìn tôi và hỏi:

- Thầy giáo có sài được không?

Dù không mấy khi uống rượu nhưng tôi không nỡ chối từ.

- Dạ! ít thôi ạ...

Hồ Tân uống cũng không nhiều ly trước vừa qua ly sau ông đã nẽ theo mực tàu:

- Trưa nay thầy nhịn bụng phải không? Thầy đói là phải thôi. Ngày xưa Bác Hồ đi công tác luôn mang theo khẩu phần ăn của mình. Để tôi kể chuyện thầy nghe...

Hồ Tân bắt đầu thao thao bất tận chuyện về Bác Hồ mà ông đã đọc trên báo nghe trên đài xem trên ti vi...Còn hứng lên đọc hai câu thơ: "Bác thường bỏ dĩa thịt gà mà ăn trọn quả cà xứ Nghệ không nói tiếng to và đi nhẹ cả trong vườn..." Chuyện bạn bè quốc tế biếu cho Bác nhiều thứ lắm nhưng Bác đem san sẻ cho mọi người. Rồi Hồ Tân kết luận:

- Cái bản này không có Bác không có Đảng thì còn khổ muôn đời...

Hồ Tân kể rằng ông đi bộ đội năm 1972 trận đầu cũng là trận giữ thành Quảng Trị. Ông đang làm lính bắn tỉa ở Động Do phục thằng Thiệu xuống Quảng Trị để "tỉa" cho hắn một phát đạn nào ngờ khi Thiệu vào tầm ngắm thì hắn ra vẻ "Vì tương lai con em nước nhà" cúi xuống ôm lấy một đứa bé và bồng luôn trên tay như đang bồng một đứa con tin...Chỉ vì không chớp được thời cơ ông bị kỷ luật cho sang lính bộ binh đánh xáp lá cà với bọn nguỵ ở trong thành Cổ. Bắn được vài thằng đâm được dăm thằng rút lê ra vuốt máu định đâm tiếp thì ông bị trúng thương ở khoang bụng...Khi tỉnh lại ông thấy mình đang ở trong bệnh xá dã chiến Tà Rụt. Người chăm sóc ông là y tá Hồ Thị Lựu... Cô Lựu vừa học xong trường trung cấp y Quảng Bình thì được điều lên đây thực tập và quyết định ở luôn dài dài...

Sau giải phóng Hồ Tân ra quân rồi quay vào Tà Rụt cưới cô Lựu làm vợ. Đưa vợ về quê Lựu cứ lóng ngóng trước việc nhà chồng: Sinh được đứa con gái đầu lòng cả nhà lâm vào nghèo đói. Ngày đó ở quê người ta rủ nhau vào kinh tế mới miền Nam như một đợt di cư đồng loạt. Hồ Tân không vô Trảng Bom Đồng Nai Đồng Xoài mà chở vợ con trên một chiếc thuyền khai khẩn đất này làm ăn...

- Bác Hồ nói rồi nước Việt Nam này đâu cũng là quê hương cha ông cũng nói rồi đất lành thì chim đậu... à ngày bác lên đây...

Bà Lựu nhắc:

- Khuya rồi thầy giáo mệt rồi!...

- ờ tao cũng mệt rồi. Ngủ thôi mai sẽ kể tiếp cho thầy nghe...

Không cần Hồ Tân kể tiếp nhưng càng ở trong nhà ông tôi càng đọc được ý ông qua mỗi việc làm qua từng cách ứng xử. Khi ông lên đây bốn bề um tùm những loài cây hoang dại hai vợ chồng gửi lại con cho ông bà nội chăm bẵm mang theo hai bàn tay trắng một con trâu đực và một chiếc cày gỗ... Hồ Tân cùng vợ chặt cây bứt cỏ tranh dựng lên một ngôi nhà tạm. Để tránh rắn rết thú dữ ông kết cấu ngôi nhà theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc. Rồi chặt đốt hớt trỉa đất làm tới đâu trâu cày tới đó. Chỉ vài năm ông đã mở mang tới chục héc ta đất canh tác đủ loại: Cao su hồ tiêu khoai sắn. Xung quanh trang trại ông chuối cam chanh và nhiều loại cây ăn quả khác. Ông còn chặn dòng một con suối cụt để tạo thành hồ nuôi cá... Trâu bò vài con ban đầu nay thì trâu đàn bò đàn mỗi năm ông bán tới vài chục con. Trong nhà ông dưới tấm ván thờ có một tờ áp phích to: "Không có việc gì khó chỉ sợ lòng không bền đào núi và lấp biển quyết chí ắt thành công". Trên băng ngang xà ngang dán đầy đủ những câu nói của Bác Hồ nhìn cứ tưởng một đàn bướm trắng đậu lên trên đó. Câu nói của Bác ông cắt từ báo ra cũng có mà tự tay ông sao chép lại cũng nhiều...

Thấy ông phát tài ông bà dân tộc mấy bản bên kéo sang nhận làm anh em kết nghĩa. Ông nhận tất. Lại giúp họ mở mang đất làm nhà rồi sinh con đẻ cái lập nên cái bản Trường An bây giờ...

Hồ Tân không ai bầu nghiễm nhiên trở thành trưởng bản. Sau khi có quyết định thành lập bản mới cũng nhiều lần bản tổ chức bầu lại nhưng Hồ Tân đã đóng rễ trong lòng dân mất rồi. Dần dà tên tuổi của ông lên trên mặt báo huyện báo tỉnh và báo trung ương với những cái tít rất dân dã: Hồ Tân đứa con của rừng; người giàu xứ núi; đứa con cả họ Hồ... Mới đây ông được ra Hà Nội dự lễ tổng kết cuộc vận động: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đợt đầu... Về nhà Hồ Tân chia quà cho dân lại kể thêm chuyện mới về Bác Hồ.

Mới đây có chuyện Hồ Tân mất một con bò cái đang bụng mang dạ chửa. Công an huyện bắt được kẻ chủ mưu liền gọi ông đến để dắt bò về. Hồ Tân phải đi xa lắm mới tới được nhà kẻ trộm. Tới nơi mới thấy cảnh nhà hắn ta nghèo quá tơi tả quá Hồ Tân không nỡ dắt bò về liền phán:

- Tôi cho anh con bò con! Khi nào nó khôn thì trả lại cho tôi con bò mẹ...

Và ông bái nại. Tuần vừa rồi người kia dắt con bò mẹ trả ông với một cút rượu gọi là trả nghĩa...

Trao tôi chén rượu tình ấy Hồ Tân hỏi:

- Thầy có nhớ Bác Hồ dạy câu gì không? Rồi ông nói luôn: Thấy việc tốt có lợi cho dân thì làm.

Người trong bản còn kể: Bộ bàn ghế bằng gỗ mun trong nhà Hồ Tân và đặc biệt khung gỗ gian thờ nó vô giá lắm. Đó là quà tặng của ngành kiểm lâm thưởng công ông đã báo cho họ chặn bắt một xe gỗ mun trên chục khối lọt trạm kiểm soát trong đêm... Bọn lâm tặc trả thù bắt cóc ông khi đang một mình trên rẫy. Chúng trói ông rồi vứt vào một hang đá mấy hôm sau dân trong bản mới tìm ra. Còn nhà ngói: Mỗi lần về huyện họp ông cõng một ba lô. Kiến tha lâu cũng đầy tổ ông lợp đủ nhà. Có người bảo: Bọn lâm tặc nó sợ gì ông? Nó sợ tư tưởng Bác Hồ thấm trong máu ông đấy thôi.

Tôi đã ở trong nhà Hồ Tân năm năm. Vâng một quãng thời gian rất đáng nhớ. Tôi đã học được ở ông rất nhiều điều và cũng từ bỏ được chữ "tôi" trong nhiều điều khác. Nói chung ông với tôi luôn luôn hợp ý tâm đầu. Duy chỉ có một điều mà tôi chưa thực hiện được. Đó là rất nhiều lần Hồ Tân khuyên tôi nên bỏ thuốc lá...Tôi hút nhiều lắm khiến ông vô cùng khó chịu.

Cho tới một hôm... Phải hôm đó trời mưa Hồ Tân cùng vợ sang nhà bên ăn đám giỗ. Tôi ở nhà hì hục soạn giáo án. Vừa pha một ấm trà ngon nhấp môi chợt nhớ đến mùi thơm điếu thuốc. Tôi lấy gói thuốc trong túi đặt lên mặt bàn và quờ quạng tìm bao diêm. Trong hộc bàn la liệt vỏ bao thuốc lá và vỏ bao diêm nhưng tiếc thay không còn một que diêm nào cả. Tôi chợt nhớ tối qua ngồi bên bếp lửa thuận tay lấy bao diêm - còn lại một que duy nhất đốt lên chấm vào điếu thuốc. Ông Hồ Tân nhìn tôi trách:

- Thầy sao phí thế? Khi cần một que diêm cũng quý.

Ông kể dạo còn trai tráng đã từng theo chúng bạn "ngậm ngãi tìm trầm". Làn ấy cả bọn vượt qua một con suối trong mùa lũ không ngờ túi ni lông đựng bật lửa và thuốc lá bị nước cuốn trôi. Qua tới bờ ai nấy chết rét tìm lửa để sưởi nhưng cả bọn đành bất lực. May sao ông chợt nhớ trong túi quần của mình còn có một bao diêm và bao diêm ấy - như của tôi lúc đó cũng chỉ còn duy nhất một que. Cả bọn lạy sống lạy chết mong thoát nạn...

- Rồi sao bác? Tôi hỏi.

- Thì thoát được chứ sao? Nếu không có que diêm ấy thì phải quay về... Mà về đâu có dễ?...

Tôi biết ông nhắc tôi bài báo hôm qua kể chuyện Bác Hồ đến thăm một đơn vị quân đội. Lúc xuống thăm bếp ăn trong tay Bác đang cầm một điếu thuốc. Người anh nuôi thấy vậy liền đưa bao diêm để Bác dùng nhưng Người ra hiệu không dùng đến. Bác châm điếu thuốc bằng một que củi nhỏ và nói: Khi cần một que diêm cũng quý.

Tôi giật mình: Phải chăng bác đã báo cho tôi điều ấy. Tôi nhìn quanh và nhìn lên ảnh Bác. A! Có lửa rồi. Trên bàn thờ ngọn đèn vẫn sáng. Tôi biết Hồ Tân quý ngọn đèn hơn cả tính mạng của mình. Đi đâu về đứng ở bậc cửa ông cũng đau đáu nhìn lên bàn thờ. Mỗi tuần một lần ông đưa ngọn đèn xuống tiếp thêm dầu và lau chùi rất cẩn thận. Mặc dù ngọn đèn vỏ bằng đồng rất nhẹ nhưng lúc nào ông cũng trịnh trọng nâng đỡ bằng hai bàn tay. Ông ngồi tần mẫn bên ngọn đèn như đang tâm niệm một điều gì thiêng liêng lắm:

Ngoài trời vẫn mưa.

Ngoài bếp cửa khóa.

Ngoài đường vắng ngắt.

Chần chừ một lúc thật lâu tôi không cưỡng được sự thèm thuồng của người nghiện thuốc liền đứng dậy. Theo cách làm của Hồ Tân mỗi lần quét dọn bàn thờ tôi kê thêm chiếc ghế gỗ nhỏ từ từ - rất chi từ từ tôi rướn tay về phía ngọn đèn. Tay tôi đứng lên rồi vừa chạm vào đèn mát lạnh thì con người cũng lạnh luôn một tiếng quát như của Trương Phi ở cầu Tràng Bản vọng lên:

- Thầy giáo!...Xuống.

- Dạ! Cháu...Tôi nói như một kẻ sắp chết giấc.

- Xuống! Cút ngay. ...Hồ Tân trừng mắt nhìn tôi như nhìn đứa con nít tay chỉ ra đường mắt đằng đằng sát khí...

Tôi cúi gằm mặt không lời nào lọt qua được cửa miệng. Để ông bớt giận tôi nhìn ra cửa từ từ xuống cầu thang tôi ôm lấy chiếc cột nhà dưới sàn và òa khóc. Tôi khóc rấm rứt như thế rất lâu. Hồ Tân xuống cầu thang và tiến lại bên tôi. Đặt tay lên vai tôi giọng ông như một sợi dây truyền cảm:

- Thầy Hào à?... Thầy hãy tha lỗi cho bác. Một lúc lâu ông lại nói như quở trách: Bác đã dặn trước rồi thầy đừng đặt tay lên đó lỡ ra...

- Thưa bác - tôi đã lấy lại bình tĩnh: Đó là một vật gia bảo nhà ta phải không ạ?

Hồ Tân gật đầu:

- Không phải riêng nhà ta đâu mà của cả dân tộc này đấy. Giọng ông trở nên tha thiết: Cháu biết không đó là ngọn lửa của Bác Hồ mà bác đã gìn giữ từ ngày rước đuốc Bác Hồ đến nay... Ông ngậm ngùi nói thêm: Hơn ba mươi năm đã qua rồi nhanh thật đấy.

Nghẹn ngào tôi ôm lấy Hồ Tân và tôi đã hiểu trái tim của người lính già một người lính từ đau khổ của nhân dân mà bước vào đời. Một cuộc đời bắt đầu từ ngọn lửa rất đỗi thiêng liêng ấy...

                                                           10 - 2009

                                                             Đ.D.T



 

CAO LINH QUÂN

Núi Nưa

Truyện ngắn


     Đại úy Đoàn Hữu Cư anh hùng lực lượng Quân Giải phóng miền Nam trở về làng Ân Nghĩa xã Thanh Lâm huyện Triệu Sơn...

Giải phóng miền Nam được một năm nhân chuyến đi công tác từ Sài Gòn ra Hà Nội Cư mới có điều kiện về Ân Nghĩa ghé thăm cô Nga vợ thầy Châu và viếng mộ người thầy kính yêu của anh.

Cư và chú lái xe đến nhà cô giáo lúc 3 giờ chiều. Trò chuyện với cô Nga đến 5 giờ anh xin phép cô được một mình ra viếng mộ thầy Châu ở nghĩa trang liệt sỹ.

Chiều xuống.

Đầu óc mãi nghĩ đâu mà chân bước vào nghĩa trang lúc nào không hay. Cư dừng lại nhìn quanh...

Nghĩa trang liệt sỹ này kề bên nghĩa địa làng. Theo lời cô Nga kể thì một năm sau ngày hy sinh thầy Châu của anh đã được Nhà nước ta công nhận liệt sỹ. Tới đầu năm ngoái bà con trong xã và các thầy cô giáo lại bốc mộ đưa thầy từ nghĩa địa bên kia sang nghĩa trang bên này...

Một hai ba bốn năm... Cư đếm theo thói quen tự nhiên. Anh cúi nhìn những dòng chữ trên tấm bia. Thầy Châu ơi thầy nằm ở đâu?... Cư đấy hả em? Thầy đây... ơ kìa! Hình như có tiếng ai? Đây kia mà!

Mắt Cư bỗng nhòa ra cứng đờ. Đại úy sững lại. Bàn chân mình hay bàn chân ai? Nặng trĩu. Chôn xuống đất. Và bàn tay nào kéo vai xoay đầu bắt anh nhìn xuống...

- Thầy Châu ơi!

Cư sụp ngồi xuống hai tay choàng ôm lấy phần mộ ngay sát bên. Trước mặt anh tấm đá bia xứ Thanh to đẹp hơn những tấm bia kề bên khắc ghi rõ những dòng chữ:

Huỳnh Châu - Liệt sỹ

1940 - 1968

Quê ở Bến Tre. Giáo viên cấp Ba Thọ Sơn. Hy sinh chiều 23 tháng 5 năm 1968 trong lúc làm nhiệm vụ chống đế quốc Mỹ cứu sống các em học sinh nhỏ...

- Thầy Châu ơi! Trò Cư của thầy đây! - Cư nghẹn ngào... Hôm nay 30 tháng 5 năm 1976 học trò từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm thầy... Em có ngờ đâu mình lại về miền Nam trước thầy gặp lại thầy nơi vùng đất trường xưa như thế này...

Dòng suối ký ức tuôn trào. Gục đầu xuống mộ môi áp vào đất cỏ trăn qua trở lại... một hồi lâu anh mới sực nhớ đứng dậy đi thắp hương cho những ngôi mộ xung quanh. Tự nhiên anh cảm thấy nhồn nhột bên mình canh cánh trong lòng. Hình như có ai nãy giờ đang theo dõi anh? Nghĩa trang bốn bề vắng lặng. Ai? Ô kìa! Ngẩng đầu lên Cư thấy núi Nưa hiện ngay trước mặt mình. Anh nhìn sững.

Nằm án ngữ cả chân trời phía tây nam nối liền hai huyện Triệu Sơn - Nông Cống dù ai đi đâu về đâu ở vùng quê Thanh này cũng có thể thấy núi Nưa trước mặt bên mình. Nơi Cư đang đứng đây là chỗ nhìn Núi chính diện nhất. Núi có dạng đôi vai người nông dân cũng tựa mái nhà ở làng quê lại phảng phất mình voi tượng của Bà Triệu... Và ngôi mộ của thầy Huỳnh Châu ngọn núi Nưa bé nhỏ trong cõi đời còn nằm lại nơi đây!

*

Một ngày hè tháng 5 năm 1967 Cư hồi tưởng lại... Buổi chiều hôm ấy... Dưới gốc cây đa bên đường phía ngoài nghĩa trang đang còn đứng kia thầy Châu và trò Cư cùng ngồi bên nhau.

Nhìn kìa! Thầy Châu vỗ vai Cư ngón tay trỏ chỉ về phía trước. Từng đàn cò trắng cả mấy trăm con từ cánh đồng dưới chân núi từ ngón tay thầy đưa lên rợp trắng... Vừa đúng lúc mặt trời đã xuống bên kia núi rồi còn tinh nghịch tung vội những tia vàng trong vắt như quấn như đan làm rối tung cả lũ tán loạn cả bầy trong tấm lưới vàng mênh mông...

- Núi Nưa! - Thầy kêu lên - Cư có biết tên chữ Hán của nó không? Na Sơn! Ngày xưa Triệu Thị Trinh sinh ra ở đây. Bà Triệu cỡi voi đánh cồng thúc giục quân sỹ tiến lên. Bọn Tàu xâm lược kinh hồn bỏ chạy. Cư có biết Bà Triệu nói gì không? Tôi muốn đạp cơn gió mạnh cỡi con sóng dữ ngoài biển Đông... không muốn làm tỳ thiếp cho người ta! Thế đấy! Cái vùng lặng lẽ hoang vu này xưa kia đã sanh ra một con người vĩ đại!

Lại trở về im lặng trầm tư sau những phút giây sôi nổi.

- Lớn lên Cư sẽ làm gì?

Câu thầy hỏi thật bất ngờ khiến cho Cư lúng túng.

- Thành một nhà văn nghen?

- ối! Cư la lên. Em dốt văn viết chưa thành một câu mà thầy!

- Sao thế? Tại vì em chưa muốn đó thôi. Thầy bảo nghen sau này em sẽ ghi lại những ngày thơ ấu ở quê hương Quảng Trạch - Quảng Bình. Chuyện bố em một xã đội trưởng dân quân bị Pháp giết; Mẹ em và các đồng chí đang đêm mang khăn gói đi lấy đầu bố bị địch treo ở đầu làng đưa về nhà. Chuyện mẹ em chết đi để con lại nhờ ông em nuôi dạy... Quá hay! Hay là... Cư trở thành nhà khoa học?

- ối! Em lạy thầy! Em ngu như ri mà làm răng trở thành khoa học được!

- Vậy thì... thành anh hùng. Dám không? - Thầy cau mặt nhìn Cư vẻ như thách đố - Sao không dám làm anh hùng hả?

Cư cúi đầu im lặng.

- Thưa thầy thầy có... ý định trở thành nhà thơ nhà văn không? Cư rụt rè hỏi - Các bạn bảo thầy làm thơ hay lắm.

- ừ thì mình cũng có viết... - Thầy mỉm cười mắt sáng. - Có hai bài thơ được đăng báo Văn nghệ Tiền phong... nhưng vốn sống hiểu biết của mình còn ít quá phải đi phải sống như các nhà văn Giải phóng: Nguyễn Thi Lê Anh Xuân Dương Thị Xuân Quý... Vừa cầm bút vừa cầm súng.

- Thầy cũng muốn... như họ?

Thầy gật đầu thở dài.

- Tôi đã viết đơn tình nguyện gửi lên trên rồi. Tôi xin về ngay Bến Tre quê hương Đồng Khởi của tôi. Vậy mà chẳng hiểu sao chưa thấy người ta đáp ứng nguyện vọng. Sốt ruột quá.

Thầy cất giọng ngâm nga: Em ơi sao tóc em thơm vậy? Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng? Cư có biết hai câu thơ đó của ai không? Lê Anh Xuân! Tuyệt vời! Không phải là dân Nam Bộ sống ở miệt vườn làm sao có được cảm xúc đó? Cư ạ thầy nói giọng Bến Tre nghe hơi đanh gắt nhưng lại sảng khoái ngang tàng - Tôi quan niệm rằng Con Người chúng ta Nói Viết và Sống ba cái ấy phải là Một. Thầy giơ tay chỉ núi Nưa: Phải sống cho ra sống! Cư ơi! Mỗi một người chúng ta phải là một ngọn núi một vì sao! Phải sống sao cho không hổ thẹn rằng mình là con cháu Bà Triệu ở vùng núi Na Sơn anh hùng!

Sao Hôm bỗng hiện ra trước mắt lấp lánh trên đầu núi. Mắt sao long lanh thoáng điểm nụ cười. Gió lộng. Một màu xanh rười rượi tươi mát không rõ từ đất trời hay từ chính tuổi hoa niên con người lan tỏa. Có buổi chiều nào đẹp như buổi chiều này không? Tiếng ai vọng lên trên đầu họ trong tâm hồn họ. Mai sau... Đời chúng ta dù có những buổi chiều đẹp đến thế nào chăng nữa rồi cũng sẽ không có buổi chiều nào như buổi chiều hôm nay đâu! Bạn hỡi cuộc đời thật là đẹp và đáng sống!

Ba tháng sau buổi chiều ấy thi tốt nghiệp phổ thông trung học xong Cư viết đơn tình nguyện nhập ngũ lên đường vào Nam...

*

Đêm

Căn nhà nhỏ lợp tranh hai gian chìm trong yên lặng vùng quê. Cô Nga kể lại đoạn cuối đời của thầy Châu cho trò Cư và chú lái xe nghe.

Một con dế bỗng cất tiếng kêu lanh lảnh ở đầu hè. "Xin chào các anh! Những người anh hùng từ miền Nam ra! Thế nào? Hòa bình rồi từ nay chúng ta sẽ sống..."

Một con đom đóm từ ngoài sân tự nhiên cũng lừng lững vào nhà. Đom đóm xanh ngời; viên ngọc to và sáng đến nỗi hai người lính Trường Sơn cùng có ý nghĩ rằng từ thuở còn thơ dại đến nay hình như họ chưa bao giờ thấy chú đom đóm nào sáng và đẹp đến thế.

Đom đóm bay thẳng tới bàn thờ lượn quanh tìm cách đậu lên bức ảnh chân dung người đã khuất như có chủ ý gì rồi lại bay xuống những con người đang ngồi cạnh giường quanh bàn... Và cuối cùng lượn quanh đầu Cư đậu xuống gù vai... Một cảm xúc mê tín mà không dị đoan trào dâng trong anh lòng thành kính. Đom đóm còn rà xuống tìm tới túi áo bên trái ngực anh và dừng lại. Cư ngồi sững. Không dám giơ tay chạm viên ngọc biếc đang sáng tối lập lòe dâng lên hạ xuống cùng nhịp đập hơi thở trong lồng ngực mình...

- Thầy đã về!

Cô Nga nói rồi đứng dậy đi tới bàn thờ đốt cây nhang vừa cúi đầu lạy vừa khấn:

- Nam mô a di đà phật...

Quay lại nhìn thấy đom đóm đã bay qua cửa ra tới ngoài sân trong ánh mắt dõi theo của mấy con - người - dương cô nói khẽ giọng đùa vui mà nghẹn buồn:

- Thầy thiêng lắm các trò ạ.

...

Thầy cô cưới nhau đúng vào Tết Mậu Thân năm 68. Sau tết thầy nhận được lệnh trên điều ra Bộ Giáo dục. Cứ theo như lời trong thư thầy gửi về nhà lộ bí mật cho biết thì các thầy cô được tuyển chọn đi vào Nam đợt ấy trong số đó có thầy tập trung ở Trung du Vĩnh Phú để tập luyện một thời gian: đeo ba lô gạch đi bộ leo đồi hành quân cả ngày lẫn đêm... Hai tháng trời trôi qua. Cô nóng lòng viết thư ra báo tin cho thầy cô đã mang thai. Cô nhắn thầy nếu có thể được thì xin phép trên về thăm nhà bà cụ sinh ra cô vừa qua một trận ốm nặng. Khi viết những dòng ấy cô kể lại tự nhiên chẳng hiểu sao thấy bồn chồn lo lắng thậm chí hoảng sợ. Lẽ ra đừng viết không nên viết. Nhưng lỡ viết rồi và thư đã gửi bưu điện. Đúng là... Một điềm gở. Cô ân hận suốt đời!

Thầy về tới nhà lúc một giờ chiều. Trời nắng như đổ lửa. Vừa chuyện trò hỏi han được dăm câu cô đã phải chuẩn bị giáo án đồ dạy học lên lớp. Từ nhà ra tới lớp học chỉ một khúc quanh; nhiều hôm ngồi ở nhà thầy nghe rõ cả tiếng cây thước gỗ cô đập trên bàn tiếng cô la gọi học trò.

Cô vừa lên lớp được một lúc thì máy bay Mỹ tới. Chúng lượn quanh một vòng rồi nhào xuống cắt bom. Tiếng bom nổ nghe không lớn lắm nhưng tiếng rốc két thì nghe như khoan như xé màng tang ra. Rồi trước mắt cô cả dãy nhà bốn lớp học đổ xuống bốc cháy. Cứu con với! Cứu con với! Tiếng kêu khóc của lũ học trò nhỏ chìm át đi trong tiếng gào hú xé trời của Con Ma Thần Sấm. Các thầy cô dẫn bọn nhóc lũ gà con lớp mình chạy ra lối cửa sau xuống hầm hào. Cô Nga một tay ôm một đứa vào ngực tay kia xốc nách... hai đứa yếu ốm nhất lớp. Hai nửa lớp đã kịp lăn bò rớt được xuống dưới hào. Quay trở vào cô thấy thầy Châu chồng mình đứng ngay trong lớp học. Cô nhìn thầy vừa ngạc nhiên vừa lo lắng. Làm sao chồng mình lại ra đây? Bình tĩnh! Bình tĩnh! Thầy la to. Thầy ôm từng đứa một tay quàng đầu nó vào ngực đưa chúng xuống hào. Rồi lại quay vào ôm đứa khác. Cúi thấp người xuống! Đi lối này! Đừng chạy ra sân! Thầy hét lên giọng khản đặc. Rồi lao sang lớp bên cạnh... Khi ngồi đông đủ dưới hào rồi thầy quay sang hỏi cô và lũ nhỏ: Còn em nào chưa xuống nữa không? Đếm lại xem. Đủ cả rồi hả? Tụi nhỏ cùng la lên: Dạ đủ! Lửa bom bốn phía tỏa khí bốc hơi khét nóng đến nỗi có đứa chịu không nổi khóc ré... Bỗng một đứa nhổm đầu dậy nói to: "Thưa cô còn bạn Hải chưa xuống đang nằm trong lớp ạ". "Chỉ bạn Hải thôi còn bạn nào nữa không?" Thầy hỏi. "Dạ chỉ còn có bạn đó thôi!"

Cô chưa biết nên xử trí như thế nào thầy Châu đã lao lên khỏi hào chạy vào trong lớp. Cô sửng sốt nhìn theo. Lúc bấy giờ chẳng cứ bom đạn Mỹ mà tên lửa pháo cao xạ bộ đội phòng không từ bốn phía Núi súng trường của dân quân ở đầu làng cuối thôn xé trời chuyển đất chẳng còn phân biệt được. Vẫn chưa thầy thầy Châu ra. A! Kia rồi! Thầy khom người cúi đầu chạy hai tay ôm thằng Hải áp sát đầu nó vào ngực mình. Hai ba cánh tay ở dưới hào cùng giơ lên. ấn vội thằng bé xuống hào thầy ngồi nghỉ hai tay chống đất... Nhưng kìa thầy xoải hai tay đầu nghoẹo sang bên ngật ra phía sau. Cô ơi thầy làm sao thế! Bọn nhỏ la lên. Một vệt máu từ sau gáy đầu thầy ứa ra ộc xuống...

Máy bay Mỹ đã đi xa. Chỉ còn nghe tiếng người kêu cứu tiếng lửa cháy nổ... Các thầy cô giáo trường cấp Một cấp Ba và bà con trong Hợp tác xã tới. Đặt thầy Châu lên cáng võng đưa thầy tới bệnh viện Thọ Sơn lúc ấy khoảng 3 giờ chiều. Mảnh rốc két cắm vào sau đầu thầy được bác sỹ mổ lấy ra. Thầy còn mở mắt nhìn cô và mấp máy mấy tiếng: "Đừng khóc! Tội thân em"... Các bác sỹ y tá trong viện quen biết thầy học trò cũ tiếp máu cho thầy. Thầy lại chìm đi trong cơn mê. Vào khoảng tám giờ rưỡi tối hồi tỉnh thầy ra hiệu bảo cô tới gần. "Nga em"... Thầy nói "Anh gửi lại cho em giọt máu cuối cùng của đời anh trên miền Bắc. Đừng buồn. Gắng nuôi dạy con nên người. Cảm ơn em các bạn bà con... Nhớ ơn mẹ. Xin mẹ tha lỗi"... Thầy tắt thở. Những người đứng quanh không sao cầm được nước mắt.

Đám tang thầy vào chiều hôm sau trời lại đổ cơn mưa. Người đi đưa đứng đầy cả trên đường dưới ruộng. Tuần sau đó ông chú và chị ruột của thầy từ Hà Nội vào. Đến khi ấy cô mới được biết đôi nét về gia cảnh của thầy. Thầy quê ở Bến Tre. Ông thân sinh ra thầy là Tỉnh ủy viên bị Pháp đày ra Côn Đảo và chết ở ngoài ấy. Chị em thầy mồ côi mẹ từ nhỏ sống với bà con cô bác cho đến năm 54 mới theo chú ruột ra Bắc tập kết. Ông chú làm ở Bộ Ngoại giao. Bà chị đi Liên Xô về lấy chồng ở Hà Nội.

Cuối năm 75 hai người lại ghé về đây ngỏ ý muốn đưa mẹ con cô vào Nam. Cô xin phép họ chờ thong thả ít lâu nữa để còn tính liệu... Bây giờ Cư ghé thăm cô lại cũng có ý định mời mẹ con cô vào miền Nam sống cùng gia đình vợ chồng em cô cảm ơn tấm lòng các em... Cô sinh ra từ làng quê quen sống với đồng ruộng sợ vào Sài Gòn sống ở thành phố không hợp. Vả lại mộ thầy còn ở nghĩa trang đây cô phải ở đây hương khói chăm sóc...

*

Huỳnh Sơn hạt giống đỏ thầy Châu để lại cho vùng đất dưới chân núi Nưa - Cậu bé đã lên bảy. Vóc người hao hao giống mẹ nhưng điệu bộ ăn nói và nhất là ánh mắt nhìn thì y chang như bố. Dễ thường từ chiều nay khi hai chú Giải phóng đi xe tới nhà cậu bé quấn quýt bên họ không muốn dời.

Năm ngoái ông chú bà cô vào đây cho Sơn nhiều quà: Nào là quần áo bánh kẹo ô tô búp bê nhựa... Vậy mà nó không ham. Cô Nga kể: Bà cô dang tay ra muốn bế nó... Nó cứ rúc đầu vào ngực tôi ôm cứng không chịu. Bà cô rơm rớm nước mắt. Cái thằng lạ thế. Không ham người nhà mà lại thích bộ đội. Chắc ba nó xui khiến nó...

Cái đài national chú Cư biếu mẹ Nga bây giờ để trên bàn thờ thỉnh thoảng mở ra cho ba Châu và bà ngoại nghe. Phần nó chỉ có mấy phong kẹo dừa B

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐINH DUY TƯ

Ngọn lửa thiêng


Truyện ngắn

    Tôi lên Trường An vào một chiều mưa. Lúc này đang đầu thu nên mưa cũng không nặng hạt nhưng vì không nặng hạt nên đường càng khó đi. Bụi đường như thứ bột pha nhuyễn nhỏ nhoẹt và đặc quánh. Chiếc ba lô áo quần thì ít giấy bút thì nhiều đè nặng trên vai khiến tôi cứ phải rướn người lên phía trước. Thỉnh thoảng bị mất đà loạng choạng suýt ngã nhào xuống vực. Phải gần nửa ngày đường mới đặt chân tới bản. Ngồi ở đầu dốc trong một chòi cạnh vườn tôi moi thuốc lá ra hút. Chao chút khói mới ấm bụng làm sao? Hút và nghĩ ngợi... Mông lung nhìn những ngôi nhà sàn thấp thoáng trong mưa lòng tôi chao chạnh buồn. Chao ôi có lẽ nào?...

Tôi mới ra trường đại học có tên nôm na là đại học tiểu học. Những tưởng lấy được bằng các trường miền xuôi sẽ đón tôi "Nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa" nào ngờ ông trưởng phòng giáo dục gọi lên trao cho quyết định sở gửi về. Nội dung quyết định là đưa tôi về phụ trách trường tiểu học bản Trường An hưởng chế độ giáo viên miền núi... Và - theo lời giới thiệu của ông trưởng phòng tôi sẽ ở nhà ông trưởng bản có tên gọi Hồ Tân...

*

Sau khi lội qua một con suối hẹp leo lên một con dốc đá ngắn thì bản Trường An hiện ra như cái mỏ lộ thiên. Bản có vài chục ngôi nhà xếp hình vòng cung cong như trăng lưỡi liềm. Tôi từng nghe nói đồng bào dân tộc thiểu số còn nghèo lắm xơ xác lắm. Nhưng với Trường An chẳng khác gì những thôn làng dưới xuôi thậm chí còn hơn dưới xuôi bởi ở rừng mà bản thoáng đãng không có cây cối rậm rạp um tùm. Nhà ở cách nhà vài chục mét ngăn chia nhau những dậu mồng tơi trên đường vào ngõ. Nhà sàn! Cả bản đều nhà sàn mái lá. Duy nhất một nhà đầu bản lợp ngói đỏ au. Nhà ông Hồ Tân...

Tôi chậm rãi leo lên chiếc cầu thang nhỏ bằng gỗ loại đắt tiền. Sàn dưới được quét dọn rất sạch sẽ. Dưới những cây ăn quả như: Mãng cầu mít chanh là những mạ gà ôm con chờ mưa tạnh...

Tôi đứng ở cửa nhìn vào. Trong nhà được bài trí rất đơn giản nhưng trang nhã. Đó là bộ bàn ghế rặt gỗ mun thoáng nhìn đã mát lạnh một tủ đứng ba buồng cũng được làm bằng gỗ tốt. Trên bàn thờ hiếm ai ở xuôi có được bàn thờ như thế. Bàn thờ đặt ở vị trí vừa tầm tay để thắp hương và cắm hoa khi thờ cúng. Tất cả đồ cúng lễ được chế tác bằng đồng lúc nào cũng sáng rực như được phát quang trên bàn thờ chỗ trang trọng nhất là bức ảnh Bác Hồ. Rõ là "Bác đứng trên cao đưa tay Bác vẫy chào". Và điều tôi chú ý nhất vẫn là ngọn đèn. Một ngọn đèn dầu được dặt trong khung kính lúc này vẫn đang cháy sáng... Đã mười giờ sáng chủ nhân vẫn chưa về. Đặt ba lô xuống bên góc nhà tôi định bước xuống cầu thang để "xem ló ngó đồng" một lúc cho đỡ buồn thì thấy một người đàn ông đang xăm xăm đi vào ngõ. Hồ Tân đã về...

Mặc dù nhìn thấy tôi nhưng Hồ Tân không chút vồn vã niềm nở tựa như tôi ở trong ngôi nhà này đã lâu lắm rồi. Chậm rãi đến mức khoan thai và thong thả ông bước về phía bể nước. Sau khi chùi sạch cái cuốc trên vai ông bắt đầu kỳ cọ chân tay vuốt hai ống quần xuống ông nhìn quanh một lúc rồi đi lên cầu thang. Không đợi tôi chào ông hỏi ngay:

- Thầy giáo mới lên à?

- Dạ!...

Ông đi tới một góc phía bàn thờ thò tay lấy đôi kính trắng rồi ngồi xuống ghế:

- Thầy cho tôi xem cái giấy!...

- Giấy gì ạ? Tôi trở nên chậm hiểu.

- Thầy lên đây bằng hai tay không à?

Tôi thoáng nhìn ông và hiểu ra món giấy tờ tùy thân. Vừa chìa giấy giới thiệu cho ông xem tôi vừa thấy lạnh với cái chuyện ngày xửa ngày xưa...Cái thời ra đường gặp gián điệp vào rừng gặp biệt kích thám báo bây giờ đang tái diễn ở bản nhỏ này đúng hơn ở nhà trưởng bản... Đọc mấy dòng ông ngước mắt lên:

- Thầy tên là Hào... Đỗ Vĩnh Hào à? Hai mươi hai tuổi trẻ quá hè!...

Trao lại tờ giấy cho tôi ông nói tiếp:

- Thầy thông cảm dù sao cảnh giác vẫn không thừa. Độ này bọn lâm tặc thú tặc đang săn lùng ráo riết.

Tôi ngạc nhiên:

- Thú tặc là gì ạ?

- à bọn buôn bán động vật hoang dã đấy mà!

Hồ Tân nói xong liền hỏi luôn: Thầy Hào không mang theo gạo à?

Không trả lời ông tôi chỉ tay vào chiếc ba lô và nói:

- Bác tính ngần ấy sách cũng nặng lắm rồi. Thấy tôi không nói gì thêm ông bố trí cho tôi cái phòng lồi để ngủ rồi ông dặn:

- Trong nhà này có hai nơi thầy bất khả xâm phạm. Một là bàn thờ hai là buồng ngủ của vợ chồng tôi... Còn thì thầy cứ tự do trong khuôn phép mà thầy đã học ở đời...

Như một nhà hiền triết Hồ Tân đứng dậy làm những công việc thường nhật. Còn tôi tôi đến thăm lớp học mà mình sắp đứng trên bục giảng. Một lớp học khá đàng hoàng và khang trang. Đây là kết quả của các dự án "một ba lăm một ba tư" của chính phủ dành cho miền núi. ở lớp học này tôi đứng lớp hai buổi. Buổi sáng lớp một buổi chiều lớp hai còn lớp ba thì lên trường xã...Vòng vo một lúc tôi ghé chân vào một ngôi nhà bên cạnh lớp. Biết tôi thầy giáo ở xuôi lên chủ nhà - một người đàn ông trung niên khỏe mạnh như một xúc gỗ lim vội vã lấy rượu ra mời.

- ở đây chỉ có rượu thôi vớ!... Nước trà không quen vớ!.

Anh ta nói rằng mình có con sắp vào lớp một đứa khác đang học trường dân tộc miền núi dưới huyện.

- Hai con thôi à? Tôi buột miệng hỏi.

- Thầy giáo mà cũng hỏi thế à? ở đây nghe theo trưởng bản chỉ hai con thôi.

Tôi được thế hỏi luôn

- Trưởng bản mấy con?

- Cũng hai thôi vớ! Hai đứa con gái xinh đẹp và ngoan lắm vớ. Cả hai đứa đang học đại học ở Hà Nội!...

Qua câu chuyện tôi được biết ở bản này mọi người đều gọi Hồ Tân là con cả của Bác Hồ. Hễ động đến việc gì Hồ Tân cũng bảo: Bác Hồ nói Bác Hồ dạy cần phải làm theo... Hồ Tân là con "mọt" đài. Bất cứ đi đâu làm gì trong túi áo của ông đều có một chiếc đài nhỏ bằng bao thuốc lá kè kè trong túi áo. Nghe nói chiếc đài này ông được đài phát thanh tỉnh tặng trong cuộc thi "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đợt một. Bữa đó Hồ Tân kể một câu chuyện về Bác mới lạ mà chưa ai được nghe. Đó là sau ngày giải phóng miền Nam cả nước tổ chức "Rước đuốc Bác Hồ" Hồ Tân phải cuốc bộ hơn một ngày ròng rã ăn chực nằm chờ ở trung tâm văn hóa huyện mới lấy được ngọn lửa vừa được nhà truyền thống thắp lên. Trên đường về trời bỗng nổi lên dông bão con suối đầu làng nước dâng lên ngập cả đôi bờ. Tiến thoái lưỡng nan Hồ Tân phải chui vào trong hang đá dùng ngọn lửa của Bác đốt lên một lò than hồng suốt ba ngày ròng rã...Ngày đó ai cũng tưởng Hồ Tân chết rồi!...

Buồn lòng tôi kể cho anh nghe chuyện Hồ Tân hỏi xem giấy tờ và hỏi chuyện gạo cơm... Anh ta giật thột kêu lên:

- Thôi chết trưa nay thầy bị đói rồi! ở lại đây ăn cơm cũng được... Ai chứ ông ấy thì phải báo trước.

Anh ta khuyên tôi nên giữa ý nhiều người cho rằng Hồ Tân khó tính nhưng suy cho cùng không phải thế. Ông ta học đòi rập khuôn theo Bác Hồ nhưng vì thái quá nên trở thành khắt khe. Những tưởng làm theo được Bác nhưng làm sao theo được một vĩ nhân? May lắm chỉ học theo được Bác những điều rất nhỏ nhưng với con người bình thường - như chúng ta như Hồ Tân được thế cũng mãn nguyện lắm rồi. Tôi trộm nghĩ.

Tôi từ chối bữa cơm mà anh ta mời rồi ra về. Nhà lại vắng. Tôi đi ra sau bếp lật vung nồi cơm điện và nhận ra không có một hạt cơm nào? Tôi nghe đói. Không lẽ lấy gạo nhà ông để đặt lên bếp ga? Bụng bảo dạ thôi đành nhịn vậy.

Chiều hôm đó tôi ngủ thiếp đi. Chiều tối vợ ông - người đàn bà đã luống tuổi đánh thức tôi dậy:

- Thầy giáo có ăn cơm không ạ?

Tôi ngồi bật lên:

- Có chị nấu cho tôi với.

Buổi tối bên mâm cơm khá thịnh soạn với các món: Thịt rừng cá hấp canh rau ngót. Hồ Tân bê ra một thẫu rượu nhìn tôi và hỏi:

- Thầy giáo có sài được không?

Dù không mấy khi uống rượu nhưng tôi không nỡ chối từ.

- Dạ! ít thôi ạ...

Hồ Tân uống cũng không nhiều ly trước vừa qua ly sau ông đã nẽ theo mực tàu:

- Trưa nay thầy nhịn bụng phải không? Thầy đói là phải thôi. Ngày xưa Bác Hồ đi công tác luôn mang theo khẩu phần ăn của mình. Để tôi kể chuyện thầy nghe...

Hồ Tân bắt đầu thao thao bất tận chuyện về Bác Hồ mà ông đã đọc trên báo nghe trên đài xem trên ti vi...Còn hứng lên đọc hai câu thơ: "Bác thường bỏ dĩa thịt gà mà ăn trọn quả cà xứ Nghệ không nói tiếng to và đi nhẹ cả trong vườn..." Chuyện bạn bè quốc tế biếu cho Bác nhiều thứ lắm nhưng Bác đem san sẻ cho mọi người. Rồi Hồ Tân kết luận:

- Cái bản này không có Bác không có Đảng thì còn khổ muôn đời...

Hồ Tân kể rằng ông đi bộ đội năm 1972 trận đầu cũng là trận giữ thành Quảng Trị. Ông đang làm lính bắn tỉa ở Động Do phục thằng Thiệu xuống Quảng Trị để "tỉa" cho hắn một phát đạn nào ngờ khi Thiệu vào tầm ngắm thì hắn ra vẻ "Vì tương lai con em nước nhà" cúi xuống ôm lấy một đứa bé và bồng luôn trên tay như đang bồng một đứa con tin...Chỉ vì không chớp được thời cơ ông bị kỷ luật cho sang lính bộ binh đánh xáp lá cà với bọn nguỵ ở trong thành Cổ. Bắn được vài thằng đâm được dăm thằng rút lê ra vuốt máu định đâm tiếp thì ông bị trúng thương ở khoang bụng...Khi tỉnh lại ông thấy mình đang ở trong bệnh xá dã chiến Tà Rụt. Người chăm sóc ông là y tá Hồ Thị Lựu... Cô Lựu vừa học xong trường trung cấp y Quảng Bình thì được điều lên đây thực tập và quyết định ở luôn dài dài...

Sau giải phóng Hồ Tân ra quân rồi quay vào Tà Rụt cưới cô Lựu làm vợ. Đưa vợ về quê Lựu cứ lóng ngóng trước việc nhà chồng: Sinh được đứa con gái đầu lòng cả nhà lâm vào nghèo đói. Ngày đó ở quê người ta rủ nhau vào kinh tế mới miền Nam như một đợt di cư đồng loạt. Hồ Tân không vô Trảng Bom Đồng Nai Đồng Xoài mà chở vợ con trên một chiếc thuyền khai khẩn đất này làm ăn...

- Bác Hồ nói rồi nước Việt Nam này đâu cũng là quê hương cha ông cũng nói rồi đất lành thì chim đậu... à ngày bác lên đây...

Bà Lựu nhắc:

- Khuya rồi thầy giáo mệt rồi!...

- ờ tao cũng mệt rồi. Ngủ thôi mai sẽ kể tiếp cho thầy nghe...

Không cần Hồ Tân kể tiếp nhưng càng ở trong nhà ông tôi càng đọc được ý ông qua mỗi việc làm qua từng cách ứng xử. Khi ông lên đây bốn bề um tùm những loài cây hoang dại hai vợ chồng gửi lại con cho ông bà nội chăm bẵm mang theo hai bàn tay trắng một con trâu đực và một chiếc cày gỗ... Hồ Tân cùng vợ chặt cây bứt cỏ tranh dựng lên một ngôi nhà tạm. Để tránh rắn rết thú dữ ông kết cấu ngôi nhà theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc. Rồi chặt đốt hớt trỉa đất làm tới đâu trâu cày tới đó. Chỉ vài năm ông đã mở mang tới chục héc ta đất canh tác đủ loại: Cao su hồ tiêu khoai sắn. Xung quanh trang trại ông chuối cam chanh và nhiều loại cây ăn quả khác. Ông còn chặn dòng một con suối cụt để tạo thành hồ nuôi cá... Trâu bò vài con ban đầu nay thì trâu đàn bò đàn mỗi năm ông bán tới vài chục con. Trong nhà ông dưới tấm ván thờ có một tờ áp phích to: "Không có việc gì khó chỉ sợ lòng không bền đào núi và lấp biển quyết chí ắt thành công". Trên băng ngang xà ngang dán đầy đủ những câu nói của Bác Hồ nhìn cứ tưởng một đàn bướm trắng đậu lên trên đó. Câu nói của Bác ông cắt từ báo ra cũng có mà tự tay ông sao chép lại cũng nhiều...

Thấy ông phát tài ông bà dân tộc mấy bản bên kéo sang nhận làm anh em kết nghĩa. Ông nhận tất. Lại giúp họ mở mang đất làm nhà rồi sinh con đẻ cái lập nên cái bản Trường An bây giờ...

Hồ Tân không ai bầu nghiễm nhiên trở thành trưởng bản. Sau khi có quyết định thành lập bản mới cũng nhiều lần bản tổ chức bầu lại nhưng Hồ Tân đã đóng rễ trong lòng dân mất rồi. Dần dà tên tuổi của ông lên trên mặt báo huyện báo tỉnh và báo trung ương với những cái tít rất dân dã: Hồ Tân đứa con của rừng; người giàu xứ núi; đứa con cả họ Hồ... Mới đây ông được ra Hà Nội dự lễ tổng kết cuộc vận động: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đợt đầu... Về nhà Hồ Tân chia quà cho dân lại kể thêm chuyện mới về Bác Hồ.

Mới đây có chuyện Hồ Tân mất một con bò cái đang bụng mang dạ chửa. Công an huyện bắt được kẻ chủ mưu liền gọi ông đến để dắt bò về. Hồ Tân phải đi xa lắm mới tới được nhà kẻ trộm. Tới nơi mới thấy cảnh nhà hắn ta nghèo quá tơi tả quá Hồ Tân không nỡ dắt bò về liền phán:

- Tôi cho anh con bò con! Khi nào nó khôn thì trả lại cho tôi con bò mẹ...

Và ông bái nại. Tuần vừa rồi người kia dắt con bò mẹ trả ông với một cút rượu gọi là trả nghĩa...

Trao tôi chén rượu tình ấy Hồ Tân hỏi:

- Thầy có nhớ Bác Hồ dạy câu gì không? Rồi ông nói luôn: Thấy việc tốt có lợi cho dân thì làm.

Người trong bản còn kể: Bộ bàn ghế bằng gỗ mun trong nhà Hồ Tân và đặc biệt khung gỗ gian thờ nó vô giá lắm. Đó là quà tặng của ngành kiểm lâm thưởng công ông đã báo cho họ chặn bắt một xe gỗ mun trên chục khối lọt trạm kiểm soát trong đêm... Bọn lâm tặc trả thù bắt cóc ông khi đang một mình trên rẫy. Chúng trói ông rồi vứt vào một hang đá mấy hôm sau dân trong bản mới tìm ra. Còn nhà ngói: Mỗi lần về huyện họp ông cõng một ba lô. Kiến tha lâu cũng đầy tổ ông lợp đủ nhà. Có người bảo: Bọn lâm tặc nó sợ gì ông? Nó sợ tư tưởng Bác Hồ thấm trong máu ông đấy thôi.

Tôi đã ở trong nhà Hồ Tân năm năm. Vâng một quãng thời gian rất đáng nhớ. Tôi đã học được ở ông rất nhiều điều và cũng từ bỏ được chữ "tôi" trong nhiều điều khác. Nói chung ông với tôi luôn luôn hợp ý tâm đầu. Duy chỉ có một điều mà tôi chưa thực hiện được. Đó là rất nhiều lần Hồ Tân khuyên tôi nên bỏ thuốc lá...Tôi hút nhiều lắm khiến ông vô cùng khó chịu.

Cho tới một hôm... Phải hôm đó trời mưa Hồ Tân cùng vợ sang nhà bên ăn đám giỗ. Tôi ở nhà hì hục soạn giáo án. Vừa pha một ấm trà ngon nhấp môi chợt nhớ đến mùi thơm điếu thuốc. Tôi lấy gói thuốc trong túi đặt lên mặt bàn và quờ quạng tìm bao diêm. Trong hộc bàn la liệt vỏ bao thuốc lá và vỏ bao diêm nhưng tiếc thay không còn một que diêm nào cả. Tôi chợt nhớ tối qua ngồi bên bếp lửa thuận tay lấy bao diêm - còn lại một que duy nhất đốt lên chấm vào điếu thuốc. Ông Hồ Tân nhìn tôi trách:

- Thầy sao phí thế? Khi cần một que diêm cũng quý.

Ông kể dạo còn trai tráng đã từng theo chúng bạn "ngậm ngãi tìm trầm". Làn ấy cả bọn vượt qua một con suối trong mùa lũ không ngờ túi ni lông đựng bật lửa và thuốc lá bị nước cuốn trôi. Qua tới bờ ai nấy chết rét tìm lửa để sưởi nhưng cả bọn đành bất lực. May sao ông chợt nhớ trong túi quần của mình còn có một bao diêm và bao diêm ấy - như của tôi lúc đó cũng chỉ còn duy nhất một que. Cả bọn lạy sống lạy chết mong thoát nạn...

- Rồi sao bác? Tôi hỏi.

- Thì thoát được chứ sao? Nếu không có que diêm ấy thì phải quay về... Mà về đâu có dễ?...

Tôi biết ông nhắc tôi bài báo hôm qua kể chuyện Bác Hồ đến thăm một đơn vị quân đội. Lúc xuống thăm bếp ăn trong tay Bác đang cầm một điếu thuốc. Người anh nuôi thấy vậy liền đưa bao diêm để Bác dùng nhưng Người ra hiệu không dùng đến. Bác châm điếu thuốc bằng một que củi nhỏ và nói: Khi cần một que diêm cũng quý.

Tôi giật mình: Phải chăng bác đã báo cho tôi điều ấy. Tôi nhìn quanh và nhìn lên ảnh Bác. A! Có lửa rồi. Trên bàn thờ ngọn đèn vẫn sáng. Tôi biết Hồ Tân quý ngọn đèn hơn cả tính mạng của mình. Đi đâu về đứng ở bậc cửa ông cũng đau đáu nhìn lên bàn thờ. Mỗi tuần một lần ông đưa ngọn đèn xuống tiếp thêm dầu và lau chùi rất cẩn thận. Mặc dù ngọn đèn vỏ bằng đồng rất nhẹ nhưng lúc nào ông cũng trịnh trọng nâng đỡ bằng hai bàn tay. Ông ngồi tần mẫn bên ngọn đèn như đang tâm niệm một điều gì thiêng liêng lắm:

Ngoài trời vẫn mưa.

Ngoài bếp cửa khóa.

Ngoài đường vắng ngắt.

Chần chừ một lúc thật lâu tôi không cưỡng được sự thèm thuồng của người nghiện thuốc liền đứng dậy. Theo cách làm của Hồ Tân mỗi lần quét dọn bàn thờ tôi kê thêm chiếc ghế gỗ nhỏ từ từ - rất chi từ từ tôi rướn tay về phía ngọn đèn. Tay tôi đứng lên rồi vừa chạm vào đèn mát lạnh thì con người cũng lạnh luôn một tiếng quát như của Trương Phi ở cầu Tràng Bản vọng lên:

- Thầy giáo!...Xuống.

- Dạ! Cháu...Tôi nói như một kẻ sắp chết giấc.

- Xuống! Cút ngay. ...Hồ Tân trừng mắt nhìn tôi như nhìn đứa con nít tay chỉ ra đường mắt đằng đằng sát khí...

Tôi cúi gằm mặt không lời nào lọt qua được cửa miệng. Để ông bớt giận tôi nhìn ra cửa từ từ xuống cầu thang tôi ôm lấy chiếc cột nhà dưới sàn và òa khóc. Tôi khóc rấm rứt như thế rất lâu. Hồ Tân xuống cầu thang và tiến lại bên tôi. Đặt tay lên vai tôi giọng ông như một sợi dây truyền cảm:

- Thầy Hào à?... Thầy hãy tha lỗi cho bác. Một lúc lâu ông lại nói như quở trách: Bác đã dặn trước rồi thầy đừng đặt tay lên đó lỡ ra...

- Thưa bác - tôi đã lấy lại bình tĩnh: Đó là một vật gia bảo nhà ta phải không ạ?

Hồ Tân gật đầu:

- Không phải riêng nhà ta đâu mà của cả dân tộc này đấy. Giọng ông trở nên tha thiết: Cháu biết không đó là ngọn lửa của Bác Hồ mà bác đã gìn giữ từ ngày rước đuốc Bác Hồ đến nay... Ông ngậm ngùi nói thêm: Hơn ba mươi năm đã qua rồi nhanh thật đấy.

Nghẹn ngào tôi ôm lấy Hồ Tân và tôi đã hiểu trái tim của người lính già một người lính từ đau khổ của nhân dân mà bước vào đời. Một cuộc đời bắt đầu từ ngọn lửa rất đỗi thiêng liêng ấy...

                                                           10 - 2009

                                                             Đ.D.T



 

CAO LINH QUÂN

Núi Nưa

Truyện ngắn


     Đại úy Đoàn Hữu Cư anh hùng lực lượng Quân Giải phóng miền Nam trở về làng Ân Nghĩa xã Thanh Lâm huyện Triệu Sơn...

Giải phóng miền Nam được một năm nhân chuyến đi công tác từ Sài Gòn ra Hà Nội Cư mới có điều kiện về Ân Nghĩa ghé thăm cô Nga vợ thầy Châu và viếng mộ người thầy kính yêu của anh.

Cư và chú lái xe đến nhà cô giáo lúc 3 giờ chiều. Trò chuyện với cô Nga đến 5 giờ anh xin phép cô được một mình ra viếng mộ thầy Châu ở nghĩa trang liệt sỹ.

Chiều xuống.

Đầu óc mãi nghĩ đâu mà chân bước vào nghĩa trang lúc nào không hay. Cư dừng lại nhìn quanh...

Nghĩa trang liệt sỹ này kề bên nghĩa địa làng. Theo lời cô Nga kể thì một năm sau ngày hy sinh thầy Châu của anh đã được Nhà nước ta công nhận liệt sỹ. Tới đầu năm ngoái bà con trong xã và các thầy cô giáo lại bốc mộ đưa thầy từ nghĩa địa bên kia sang nghĩa trang bên này...

Một hai ba bốn năm... Cư đếm theo thói quen tự nhiên. Anh cúi nhìn những dòng chữ trên tấm bia. Thầy Châu ơi thầy nằm ở đâu?... Cư đấy hả em? Thầy đây... ơ kìa! Hình như có tiếng ai? Đây kia mà!

Mắt Cư bỗng nhòa ra cứng đờ. Đại úy sững lại. Bàn chân mình hay bàn chân ai? Nặng trĩu. Chôn xuống đất. Và bàn tay nào kéo vai xoay đầu bắt anh nhìn xuống...

- Thầy Châu ơi!

Cư sụp ngồi xuống hai tay choàng ôm lấy phần mộ ngay sát bên. Trước mặt anh tấm đá bia xứ Thanh to đẹp hơn những tấm bia kề bên khắc ghi rõ những dòng chữ:

Huỳnh Châu - Liệt sỹ

1940 - 1968

Quê ở Bến Tre. Giáo viên cấp Ba Thọ Sơn. Hy sinh chiều 23 tháng 5 năm 1968 trong lúc làm nhiệm vụ chống đế quốc Mỹ cứu sống các em học sinh nhỏ...

- Thầy Châu ơi! Trò Cư của thầy đây! - Cư nghẹn ngào... Hôm nay 30 tháng 5 năm 1976 học trò từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm thầy... Em có ngờ đâu mình lại về miền Nam trước thầy gặp lại thầy nơi vùng đất trường xưa như thế này...

Dòng suối ký ức tuôn trào. Gục đầu xuống mộ môi áp vào đất cỏ trăn qua trở lại... một hồi lâu anh mới sực nhớ đứng dậy đi thắp hương cho những ngôi mộ xung quanh. Tự nhiên anh cảm thấy nhồn nhột bên mình canh cánh trong lòng. Hình như có ai nãy giờ đang theo dõi anh? Nghĩa trang bốn bề vắng lặng. Ai? Ô kìa! Ngẩng đầu lên Cư thấy núi Nưa hiện ngay trước mặt mình. Anh nhìn sững.

Nằm án ngữ cả chân trời phía tây nam nối liền hai huyện Triệu Sơn - Nông Cống dù ai đi đâu về đâu ở vùng quê Thanh này cũng có thể thấy núi Nưa trước mặt bên mình. Nơi Cư đang đứng đây là chỗ nhìn Núi chính diện nhất. Núi có dạng đôi vai người nông dân cũng tựa mái nhà ở làng quê lại phảng phất mình voi tượng của Bà Triệu... Và ngôi mộ của thầy Huỳnh Châu ngọn núi Nưa bé nhỏ trong cõi đời còn nằm lại nơi đây!

*

Một ngày hè tháng 5 năm 1967 Cư hồi tưởng lại... Buổi chiều hôm ấy... Dưới gốc cây đa bên đường phía ngoài nghĩa trang đang còn đứng kia thầy Châu và trò Cư cùng ngồi bên nhau.

Nhìn kìa! Thầy Châu vỗ vai Cư ngón tay trỏ chỉ về phía trước. Từng đàn cò trắng cả mấy trăm con từ cánh đồng dưới chân núi từ ngón tay thầy đưa lên rợp trắng... Vừa đúng lúc mặt trời đã xuống bên kia núi rồi còn tinh nghịch tung vội những tia vàng trong vắt như quấn như đan làm rối tung cả lũ tán loạn cả bầy trong tấm lưới vàng mênh mông...

- Núi Nưa! - Thầy kêu lên - Cư có biết tên chữ Hán của nó không? Na Sơn! Ngày xưa Triệu Thị Trinh sinh ra ở đây. Bà Triệu cỡi voi đánh cồng thúc giục quân sỹ tiến lên. Bọn Tàu xâm lược kinh hồn bỏ chạy. Cư có biết Bà Triệu nói gì không? Tôi muốn đạp cơn gió mạnh cỡi con sóng dữ ngoài biển Đông... không muốn làm tỳ thiếp cho người ta! Thế đấy! Cái vùng lặng lẽ hoang vu này xưa kia đã sanh ra một con người vĩ đại!

Lại trở về im lặng trầm tư sau những phút giây sôi nổi.

- Lớn lên Cư sẽ làm gì?

Câu thầy hỏi thật bất ngờ khiến cho Cư lúng túng.

- Thành một nhà văn nghen?

- ối! Cư la lên. Em dốt văn viết chưa thành một câu mà thầy!

- Sao thế? Tại vì em chưa muốn đó thôi. Thầy bảo nghen sau này em sẽ ghi lại những ngày thơ ấu ở quê hương Quảng Trạch - Quảng Bình. Chuyện bố em một xã đội trưởng dân quân bị Pháp giết; Mẹ em và các đồng chí đang đêm mang khăn gói đi lấy đầu bố bị địch treo ở đầu làng đưa về nhà. Chuyện mẹ em chết đi để con lại nhờ ông em nuôi dạy... Quá hay! Hay là... Cư trở thành nhà khoa học?

- ối! Em lạy thầy! Em ngu như ri mà làm răng trở thành khoa học được!

- Vậy thì... thành anh hùng. Dám không? - Thầy cau mặt nhìn Cư vẻ như thách đố - Sao không dám làm anh hùng hả?

Cư cúi đầu im lặng.

- Thưa thầy thầy có... ý định trở thành nhà thơ nhà văn không? Cư rụt rè hỏi - Các bạn bảo thầy làm thơ hay lắm.

- ừ thì mình cũng có viết... - Thầy mỉm cười mắt sáng. - Có hai bài thơ được đăng báo Văn nghệ Tiền phong... nhưng vốn sống hiểu biết của mình còn ít quá phải đi phải sống như các nhà văn Giải phóng: Nguyễn Thi Lê Anh Xuân Dương Thị Xuân Quý... Vừa cầm bút vừa cầm súng.

- Thầy cũng muốn... như họ?

Thầy gật đầu thở dài.

- Tôi đã viết đơn tình nguyện gửi lên trên rồi. Tôi xin về ngay Bến Tre quê hương Đồng Khởi của tôi. Vậy mà chẳng hiểu sao chưa thấy người ta đáp ứng nguyện vọng. Sốt ruột quá.

Thầy cất giọng ngâm nga: Em ơi sao tóc em thơm vậy? Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng? Cư có biết hai câu thơ đó của ai không? Lê Anh Xuân! Tuyệt vời! Không phải là dân Nam Bộ sống ở miệt vườn làm sao có được cảm xúc đó? Cư ạ thầy nói giọng Bến Tre nghe hơi đanh gắt nhưng lại sảng khoái ngang tàng - Tôi quan niệm rằng Con Người chúng ta Nói Viết và Sống ba cái ấy phải là Một. Thầy giơ tay chỉ núi Nưa: Phải sống cho ra sống! Cư ơi! Mỗi một người chúng ta phải là một ngọn núi một vì sao! Phải sống sao cho không hổ thẹn rằng mình là con cháu Bà Triệu ở vùng núi Na Sơn anh hùng!

Sao Hôm bỗng hiện ra trước mắt lấp lánh trên đầu núi. Mắt sao long lanh thoáng điểm nụ cười. Gió lộng. Một màu xanh rười rượi tươi mát không rõ từ đất trời hay từ chính tuổi hoa niên con người lan tỏa. Có buổi chiều nào đẹp như buổi chiều này không? Tiếng ai vọng lên trên đầu họ trong tâm hồn họ. Mai sau... Đời chúng ta dù có những buổi chiều đẹp đến thế nào chăng nữa rồi cũng sẽ không có buổi chiều nào như buổi chiều hôm nay đâu! Bạn hỡi cuộc đời thật là đẹp và đáng sống!

Ba tháng sau buổi chiều ấy thi tốt nghiệp phổ thông trung học xong Cư viết đơn tình nguyện nhập ngũ lên đường vào Nam...

*

Đêm

Căn nhà nhỏ lợp tranh hai gian chìm trong yên lặng vùng quê. Cô Nga kể lại đoạn cuối đời của thầy Châu cho trò Cư và chú lái xe nghe.

Một con dế bỗng cất tiếng kêu lanh lảnh ở đầu hè. "Xin chào các anh! Những người anh hùng từ miền Nam ra! Thế nào? Hòa bình rồi từ nay chúng ta sẽ sống..."

Một con đom đóm từ ngoài sân tự nhiên cũng lừng lững vào nhà. Đom đóm xanh ngời; viên ngọc to và sáng đến nỗi hai người lính Trường Sơn cùng có ý nghĩ rằng từ thuở còn thơ dại đến nay hình như họ chưa bao giờ thấy chú đom đóm nào sáng và đẹp đến thế.

Đom đóm bay thẳng tới bàn thờ lượn quanh tìm cách đậu lên bức ảnh chân dung người đã khuất như có chủ ý gì rồi lại bay xuống những con người đang ngồi cạnh giường quanh bàn... Và cuối cùng lượn quanh đầu Cư đậu xuống gù vai... Một cảm xúc mê tín mà không dị đoan trào dâng trong anh lòng thành kính. Đom đóm còn rà xuống tìm tới túi áo bên trái ngực anh và dừng lại. Cư ngồi sững. Không dám giơ tay chạm viên ngọc biếc đang sáng tối lập lòe dâng lên hạ xuống cùng nhịp đập hơi thở trong lồng ngực mình...

- Thầy đã về!

Cô Nga nói rồi đứng dậy đi tới bàn thờ đốt cây nhang vừa cúi đầu lạy vừa khấn:

- Nam mô a di đà phật...

Quay lại nhìn thấy đom đóm đã bay qua cửa ra tới ngoài sân trong ánh mắt dõi theo của mấy con - người - dương cô nói khẽ giọng đùa vui mà nghẹn buồn:

- Thầy thiêng lắm các trò ạ.

...

Thầy cô cưới nhau đúng vào Tết Mậu Thân năm 68. Sau tết thầy nhận được lệnh trên điều ra Bộ Giáo dục. Cứ theo như lời trong thư thầy gửi về nhà lộ bí mật cho biết thì các thầy cô được tuyển chọn đi vào Nam đợt ấy trong số đó có thầy tập trung ở Trung du Vĩnh Phú để tập luyện một thời gian: đeo ba lô gạch đi bộ leo đồi hành quân cả ngày lẫn đêm... Hai tháng trời trôi qua. Cô nóng lòng viết thư ra báo tin cho thầy cô đã mang thai. Cô nhắn thầy nếu có thể được thì xin phép trên về thăm nhà bà cụ sinh ra cô vừa qua một trận ốm nặng. Khi viết những dòng ấy cô kể lại tự nhiên chẳng hiểu sao thấy bồn chồn lo lắng thậm chí hoảng sợ. Lẽ ra đừng viết không nên viết. Nhưng lỡ viết rồi và thư đã gửi bưu điện. Đúng là... Một điềm gở. Cô ân hận suốt đời!

Thầy về tới nhà lúc một giờ chiều. Trời nắng như đổ lửa. Vừa chuyện trò hỏi han được dăm câu cô đã phải chuẩn bị giáo án đồ dạy học lên lớp. Từ nhà ra tới lớp học chỉ một khúc quanh; nhiều hôm ngồi ở nhà thầy nghe rõ cả tiếng cây thước gỗ cô đập trên bàn tiếng cô la gọi học trò.

Cô vừa lên lớp được một lúc thì máy bay Mỹ tới. Chúng lượn quanh một vòng rồi nhào xuống cắt bom. Tiếng bom nổ nghe không lớn lắm nhưng tiếng rốc két thì nghe như khoan như xé màng tang ra. Rồi trước mắt cô cả dãy nhà bốn lớp học đổ xuống bốc cháy. Cứu con với! Cứu con với! Tiếng kêu khóc của lũ học trò nhỏ chìm át đi trong tiếng gào hú xé trời của Con Ma Thần Sấm. Các thầy cô dẫn bọn nhóc lũ gà con lớp mình chạy ra lối cửa sau xuống hầm hào. Cô Nga một tay ôm một đứa vào ngực tay kia xốc nách... hai đứa yếu ốm nhất lớp. Hai nửa lớp đã kịp lăn bò rớt được xuống dưới hào. Quay trở vào cô thấy thầy Châu chồng mình đứng ngay trong lớp học. Cô nhìn thầy vừa ngạc nhiên vừa lo lắng. Làm sao chồng mình lại ra đây? Bình tĩnh! Bình tĩnh! Thầy la to. Thầy ôm từng đứa một tay quàng đầu nó vào ngực đưa chúng xuống hào. Rồi lại quay vào ôm đứa khác. Cúi thấp người xuống! Đi lối này! Đừng chạy ra sân! Thầy hét lên giọng khản đặc. Rồi lao sang lớp bên cạnh... Khi ngồi đông đủ dưới hào rồi thầy quay sang hỏi cô và lũ nhỏ: Còn em nào chưa xuống nữa không? Đếm lại xem. Đủ cả rồi hả? Tụi nhỏ cùng la lên: Dạ đủ! Lửa bom bốn phía tỏa khí bốc hơi khét nóng đến nỗi có đứa chịu không nổi khóc ré... Bỗng một đứa nhổm đầu dậy nói to: "Thưa cô còn bạn Hải chưa xuống đang nằm trong lớp ạ". "Chỉ bạn Hải thôi còn bạn nào nữa không?" Thầy hỏi. "Dạ chỉ còn có bạn đó thôi!"

Cô chưa biết nên xử trí như thế nào thầy Châu đã lao lên khỏi hào chạy vào trong lớp. Cô sửng sốt nhìn theo. Lúc bấy giờ chẳng cứ bom đạn Mỹ mà tên lửa pháo cao xạ bộ đội phòng không từ bốn phía Núi súng trường của dân quân ở đầu làng cuối thôn xé trời chuyển đất chẳng còn phân biệt được. Vẫn chưa thầy thầy Châu ra. A! Kia rồi! Thầy khom người cúi đầu chạy hai tay ôm thằng Hải áp sát đầu nó vào ngực mình. Hai ba cánh tay ở dưới hào cùng giơ lên. ấn vội thằng bé xuống hào thầy ngồi nghỉ hai tay chống đất... Nhưng kìa thầy xoải hai tay đầu nghoẹo sang bên ngật ra phía sau. Cô ơi thầy làm sao thế! Bọn nhỏ la lên. Một vệt máu từ sau gáy đầu thầy ứa ra ộc xuống...

Máy bay Mỹ đã đi xa. Chỉ còn nghe tiếng người kêu cứu tiếng lửa cháy nổ... Các thầy cô giáo trường cấp Một cấp Ba và bà con trong Hợp tác xã tới. Đặt thầy Châu lên cáng võng đưa thầy tới bệnh viện Thọ Sơn lúc ấy khoảng 3 giờ chiều. Mảnh rốc két cắm vào sau đầu thầy được bác sỹ mổ lấy ra. Thầy còn mở mắt nhìn cô và mấp máy mấy tiếng: "Đừng khóc! Tội thân em"... Các bác sỹ y tá trong viện quen biết thầy học trò cũ tiếp máu cho thầy. Thầy lại chìm đi trong cơn mê. Vào khoảng tám giờ rưỡi tối hồi tỉnh thầy ra hiệu bảo cô tới gần. "Nga em"... Thầy nói "Anh gửi lại cho em giọt máu cuối cùng của đời anh trên miền Bắc. Đừng buồn. Gắng nuôi dạy con nên người. Cảm ơn em các bạn bà con... Nhớ ơn mẹ. Xin mẹ tha lỗi"... Thầy tắt thở. Những người đứng quanh không sao cầm được nước mắt.

Đám tang thầy vào chiều hôm sau trời lại đổ cơn mưa. Người đi đưa đứng đầy cả trên đường dưới ruộng. Tuần sau đó ông chú và chị ruột của thầy từ Hà Nội vào. Đến khi ấy cô mới được biết đôi nét về gia cảnh của thầy. Thầy quê ở Bến Tre. Ông thân sinh ra thầy là Tỉnh ủy viên bị Pháp đày ra Côn Đảo và chết ở ngoài ấy. Chị em thầy mồ côi mẹ từ nhỏ sống với bà con cô bác cho đến năm 54 mới theo chú ruột ra Bắc tập kết. Ông chú làm ở Bộ Ngoại giao. Bà chị đi Liên Xô về lấy chồng ở Hà Nội.

Cuối năm 75 hai người lại ghé về đây ngỏ ý muốn đưa mẹ con cô vào Nam. Cô xin phép họ chờ thong thả ít lâu nữa để còn tính liệu... Bây giờ Cư ghé thăm cô lại cũng có ý định mời mẹ con cô vào miền Nam sống cùng gia đình vợ chồng em cô cảm ơn tấm lòng các em... Cô sinh ra từ làng quê quen sống với đồng ruộng sợ vào Sài Gòn sống ở thành phố không hợp. Vả lại mộ thầy còn ở nghĩa trang đây cô phải ở đây hương khói chăm sóc...

*

Huỳnh Sơn hạt giống đỏ thầy Châu để lại cho vùng đất dưới chân núi Nưa - Cậu bé đã lên bảy. Vóc người hao hao giống mẹ nhưng điệu bộ ăn nói và nhất là ánh mắt nhìn thì y chang như bố. Dễ thường từ chiều nay khi hai chú Giải phóng đi xe tới nhà cậu bé quấn quýt bên họ không muốn dời.

Năm ngoái ông chú bà cô vào đây cho Sơn nhiều quà: Nào là quần áo bánh kẹo ô tô búp bê nhựa... Vậy mà nó không ham. Cô Nga kể: Bà cô dang tay ra muốn bế nó... Nó cứ rúc đầu vào ngực tôi ôm cứng không chịu. Bà cô rơm rớm nước mắt. Cái thằng lạ thế. Không ham người nhà mà lại thích bộ đội. Chắc ba nó xui khiến nó...

Cái đài national chú Cư biếu mẹ Nga bây giờ để trên bàn thờ thỉnh thoảng mở ra cho ba Châu và bà ngoại nghe. Phần nó chỉ có mấy phong kẹo dừa B

More...

THƠ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THANH THẢN

Nhớ ngày vui giải phóng


Cứ mỗi năm đến ngày Ba mươi tháng Tư

Lại thấy tim đập như hồi còn binh nhì binh nhất

Lại thấy trong lòng vang lên tiếng hát

Sài Gòn ơi... ta đã về đây!

Ôi những ngày bước thần tốc như bay

Vừa mới Tây Nguyên Thừa Thiên Quảng Trị

Vụt đã Sài Gòn - Cờ đỏ bay rợp trời thành phố

Rừng người rừng hoa chào vẫy bước quân về.

Sớm ấy miền Nam rực rỡ nắng hè

Sắc trời xanh như chưa bao giờ xanh thế

Anh Giải phóng quân nụ cười tươi trẻ

Sắc áo xanh đẹp lạ giữa phố phường.

Hai mươi mốt năm mới liền dải non sông (*)

Mỹ cút Ngụy nhào - Đẹp sao lời thơ Bác

Cả nước tưng bừng đêm dài thao thức

Mọi giấc mơ đều được gặp Bác Hồ.

Nhớ sao ngày Ba mươi tháng Tư

Đất nước ngàn năm vẹn toàn thống nhất

Ba mươi lăm năm rồi vẫn niềm vui rạo rực

Đồng độ ơi nhớ lắm tháng Tư về

                                 T.T

(*) 1954 - 1975



LÊ ĐĂNG SƠN

Cảm xúc Ba mươi tháng Tư


Đồng đội ơi!

Tôi đang bay trên trời cao

Những đám mây như những toa tàu vũ trụ

Đưa tôi về với thiên đàng ánh sáng

Nơi đó

Tất cả là bè bạn

Từ hạt bụi

Đến chúa trời

Ngày hôm nay ngày hò hẹn khắp nơi

Ba mươi tháng Tư non sông lễ hội

Không còn đắng cay

Không còn chia ly

Không còn đau khổ

Xóa bỏ hận thù

Không còn bão tố...

Đồng đội ơi!

Ngày hôm nay vừa thực vừa mơ

Kỷ niệm đưa tôi về trần thế

Tôi đang say trong nỗi nhớ bùi ngùi

Một thời trận mạc

         30 - 4 - 2010

              L.Đ.S

HOÀNG THI

Đò qua sông Mã

Đạn bom một thuở tro vùi

Dòng sông - vó ngựa chẳng lùi bước chân

Nghìn năm mưa núi mưa rừng

Cuộn vào thác chảy ầm ầm binh đao

Đất thiêng sông núi ta vào

Tạc nên dáng đứng cầu cao Hàm Rồng

Tôi người lữ thứ qua sông

Mắt nhìn bốn hướng giữa vòng trời mây

Vẳng nghe vó ngựa đâu đây

Sông gầm lửa đạn bủa vây giặc trời

Dô hò sông Mã người ơi!

Đò như cuộn sóng bời bời vượt sông...

                        Tháng 12 - 2008

                                  H.T

VĂN ĐẮC

Chân dung

         Tưởng nhớ nhà thơ Hữu Loan

Hình ông trong ảnh

Nhìn phía nào cũng thấy

Ông ngồi đối diện chúng tôi

Cười!

Nhưng...

Sự thật!

Ông đang nằm nghiêng

Vẽ một nét

Tay ngai xe thồ

Dốc Đèo Cả

Tóc ngả màu hoa sim tím....

Chúng tôi cúi đầu nhìn

Ông đang tự hóa quyết liệt

Sau chín lăm năm làm Người

Thành Thi Nhân.

                Ngày lễ tang nhà thơ Hữu Loan

                                  V.Đ


NGUYỄN TRỌNG LIÊN

Đóa vô thường

                Kính viếng nhà thơ Hữu Loan


 

Trời cho chút gió chiều nay

Ông đi đến những cõi gầy nhớ mong

Bên vườn chiếc võng ru ông

Đàn chim quen cứ lượn vòng cuối thung

Đời ngông đến thế là cùng

Bện thơ vào một dây thừng buộc xe

Rượu loang giấc chảy về khuya

Xem thường cái chuyện mây mưa lỡm lờ

Hoa sim màu tím ngẩn ngơ

Bên đồng hoa lúa đang chờ dậy hương

Khẳm lòng thắp một nén thương

Chín lăm năm đóa vô thường: Sắc Không

                                19 - 3 - 2010

                                    N.T.L




NGUYỄN DUY CHINH

Thế là

        Kính viếng nhà thơ Hữu Loan



Thế là rụng xuống

một cái tên

Được

Thua

Gàn

Cãi

Và trước sau

Ông là người đồng bãi

Gió gần sông rất rộng

Gió núi thổi bốn chiều

Tha hồ thở

Chẳng ai cấm được ông

Vườn cây xanh đang độ mùa xuân

Tiếng chim sà xuống võng

Nghe tiếng hót mà sao yên lặng

Ông đã đi

Ông thồ đá

Ông thồ củi

Hay ông lên núi tìm thơ?

Gió chuyển mùa trời lất phất mưa

Mùi hoa bưởi vườn nhà đang chín

Ngẩn ngơ tìm bài thơ mầu tím...

Chắc ông đã mang theo

                       22 - 3 - 2010




HOÀNG MINH TƯỜNG

Viên ngói Ly Cung

Tượng hình trái tim người thợ



Cầm trên tay một mẩu đất nung

Viên ngói Ly Cung* sáu trăm năm trước

Ngói vô tri ẩn chứa bao thông điệp

Trong sắc hồng hiện bóng dáng cha ông.

Tôi nhìn vào quá khứ xa xăm

Thấy hiện ra những người dân quê Việt

Gắn bó với đất đai và ngày đêm mải miết

Tạc hồn mình vào viên ngói Ly Cung.

Viên ngói in hình phượng múa rồng bay

Viên ngói mang hình trái tim người thợ

Màu hồng ấy đến giờ vẫn thế

Lòng người xưa bền bỉ sắt son...

Tôi thầm gọi tên: Nghệ nhân xưa ơi!

Người hiểu rõ hơn ai Ly Cung rồi tàn lụi

Gác tía lầu son trở thành cát bụi

Chỉ nhân dân còn mãi muôn đời.

Viên ngói Ly Cung thao thức trong tôi

Như vầng mặt trời muôn đời sáng tỏ

Nghệ nhân ơi! thuở ấy giọt mồ hôi người rỏ

Nên viên ngói Ly Cung nay tôi ghé soi mình.

                                          H.M.T

* Ly Cung: thực chất là nơi Hồ Quý Ly giam hãm vua Trần thuộc xã Hà Đông huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa.




HOÀNG CHIẾN THẮNG



 

Bà tôi


Bà vẫn thường thức giấc lúc nửa đêm

Dậy mở cửa thẫn thờ nhìn ra ngoài hiên vắng

Dẫu chỉ là chiếc lá liệng trao ngoài vuông cửa

Cũng khẽ thầm thì: Có phải Đán không con?

Ngày bé

Mỗi khi đưa tôi đến trường

Nghe tiếng kẻng bà hớt hải kéo tôi chạy vào góc khuất

Ngó lên trời im lặng

Hồi lâu...

Cậu tôi lên đường khi tôi còn ở một miền nào xa lắm

Cũng bắt đầu bà thức giấc nửa đêm

Nghe mẹ kể mùa hè đổ lửa

Cậu con thành cát gió không về

Xa quê

Nhớ dáng bà từng đêm bên bếp lửa

Sợ cậu tôi về lạnh sương

Cứ chiều đến ra đầu làng đứng đợi

Gặp ai cũng: Có phải Đán không con?

Chiều nay ở nghĩa trang Trường Sơn

Nghe lá rụng

Chợt tôi hỏi: Có phải bà không cậu?

                                H.C.T



 

HẢI MINH

Nắng Sầm Sơn

Nõn nà nắng

Nõn nà cát

Nõn nà sóng

Em nằm sõng xoài

Trên bãi biển

Lim dim

Trời đất lên hương.

Nắng xõa tóc

Tung tẩy reo ca

Nồng nàn

Tỏa ngát.

Bao ánh mắt

Tỏa nắng

Đắm đuối

Khát khao

Vị mặn mòi thế hệ.

Nắng tỏa ánh mắt

Run rẩy

Giữa mùa hè tình linh

Thanh khiết.

                   H.M




 

BẠCH HUỆ ANH

Bay lên sau mùa khói


 

Tôi là giọt lệ mồ côi

bay lên từ sau mùa khói hun rạ đốt đồng

Nhìn xuống!

Thấy mình tội nghiệp giữa loài người

Lủi thủi thân gà nhặt hạt thóc rơi

Đơn côi tắc kè nghẹn ngào gọi bạn.

Mẹ mang tôi trên đôi cánh nhọc nhằn

Ghé xuống trần gian một thoáng

Để tôi ở lại!

Sống bằng nỗi niềm cày ải

Cha tôi vẽ những nét đời hoang hoải

Thiếu hụt cả đời!

Tôi bay mà không rơi

Mang những khao khát không làm được

ở cõi người

Lên trời!

Nơi giọt lệ mồ côi

hóa mây trôi

Xanh lại những mùa hun khói!

                          B.H.A





TRẦN TẤT TRỪ


 

Cánh phượng hồng đang bay

Có mặt trận không nghe tiếng súng

tiếng ve cong thao nhánh phượng cong

góc văn phòng

nàng Kiều đàn nguyệt

bản nhạc không lời từ Gia Tĩnh triều Minh...

Dựng lại tháng năm hối hả

day dứt

bấm máy

hồn nhiên trẻ

khóc cười hoen má

Cả câu thơ khi bình giảng chưa thành

Phủi bụi tranh

ngày lễ đỏ học đường nguyên sắc đỏ

ẩn ức gối mùa

ngơ ngẩn nắng hành lang

Mở thời gian gặp từng chữ thức

Cánh phượng hồng đang bay

               Quảng Nhân 04 - 8 - 2007

               Quảng Lưu 20 - 11 - 2008

                            T.T.T


NGUYỄN NGỌC HƯNG

Hương lúa



 

Đất trăn trở cùng nắng mưa quay quắt

Hạt giống gieo thắc thỏm nước lăn tràn

Ngay cả lúc mạ ngồi cây lúa trổ

Uốn câu rồi vẫn sợ gió đâm ngang

Lo nước lo phân lo rầy sâu bệnh

Ráng mỡ gà sa sương muối càng lo

Một trận bão xoàng một cây lụt ói

Không trắng tay cũng xơ vạc xác cò

Thương đất bạc vắt kiệt mình nuôi lúa

Chiu chắt phù sa sông tặng cánh đồng

Tạ ơn người đổ mồ hôi khó nhọc

Cây lúa nghĩa tình mẩy hạt sây bông

Có vụ trúng to có mùa thất bát

Càng quý hạt vàng hạt ngọc trời cho

Tíu tít vui cùng lũ chim nhặt thóc

Người no cơm rơm rạ ấm lưng bò...

Quên gì quên không thể nào quên được

Hương lúa sinh từ đất ải phân hoai

Là con cháu của nhà nông thuần phác

Phải giữ thơm trong lẫn sạch ngoài!

                                      N.N.H

More...

THAM LUẬN TẠI HỘI THẢO CÁC VÙNG KINH ĐÔ VIỆT NAM

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                Trước thềm Giỗ tổ Hùng Vương ngày 14-4-2010 tại thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ đã diễn ra Hội thảo "Nâng cao chất lượng báo chí Văn nghệ các vùng kinh đô". Lãnh đạo các Hội Văn học nghệ thuật các cơ quan báo chí văn nghệ của 5 tỉnh thành phố thuộc vùng kinh đô xưa và nay: Phú Thọ Hà Nội Ninh Bình Thanh Hóa Thừa Thiên - Huế đã tham dự và tham luận. Văn nghệ Xứ Thanh trích giới thiệu phát biểu bế mạc hội thảo của nhà văn Đỗ Xuân Thu - Tổng Biên tập tạp chí Đất Tổ.

                                                                                 
                                                                    Ban Biên tập



PHẤN ĐẤU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ


VĂN NGHỆ CÁC TỈNH VÙNG KINH ĐÔ

XƯA VÀ NAY



                                                                    ĐỖ XUÂN THU

                                                          Phó Chủ tịch Hội VHNT Phú Thọ

                                                           Tổng Biên tập tạp chí Đất Tổ

          Với tinh thần trách nhiệm cao các tham luận đã làm rõ những vấn đề những yêu cầu mà hội thảo đặt ra. Hầu hết các bài tham luận đều tỏ rõ niềm tự hào và trách nhiệm của báo chí văn nghệ các vùng kinh đô ngàn năm văn hiến cùng những đòi hỏi của sự đổi mới phát triển đi lên cả về nội dung và hình thức của tờ báo tạp chí; cả về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ phóng viên biên tập viên cộng tác viên và bạn đọc cả công tác phát hành cùng những công việc bếp núc của tòa soạn. Tất cả đều xoay quanh và trả lời được câu hỏi: Làm thế nào để nâng cao chất lượng báo chí văn nghệ của Hội VHNT các vùng kinh đô xưa và nay cho xứng tầm với nhiệm vụ và yêu cầu mới?

Qua cuộc hội thảo dân chủ cởi mở và khoa học này chúng ta đã học được của nhau nhiều điều bổ ích và lý thú. Nhà thơ Bùi Việt Mỹ Tổng Biên tập báo Người Hà Nội đã cho chúng ta 3 giải pháp để nâng cao chất lượng tạp chí văn nghệ địa phương. Đó là: công tác quản lý cần đánh giá lao động sáng tạo VHNT ở vị trí riêng để có cơ chế phù hợp tranh thủ chất xám có chế độ phụ cấp thêm trả nhuận bút cao... Đó là phải coi yếu tố nội lực là quan trọng hàng đầu. Báo chí chúng ta nên cố gắng khai thác các mảng hoạt động khác của đời sống đô thị. Càng gần đời sống kinh tế chúng ta càng tranh thủ được bạn đọc được các đơn vị thương trường sáp lại. Ta không nhất thiết tự trói buộc mình chỉ vào sáng tác của mình. Đó là cần bám sát sự lãnh đạo của cơ quan chủ quản là Hội VHNT song khẳng định "được chủ động về tổ chức và hạch toán thì đó là vấn đề lý tưởng nhất".

Nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc quyền Tổng Biên tập tạp chí Sông Hương lại nêu 5 giải pháp quan trọng đó là: Nâng cao nội lực của đội ngũ cán bộ nhân viên tạp chí; xây dựng đội ngũ cộng tác viên; phát triển hơn nữa trang thông tin điện tử và ra số đặc biệt (hiện nay Sông Hương đã ra 2 số đặc biệt); là xây dựng hệ thống phát hành và các văn phòng đại diện; có nhiều hoạt động bổ trợ cho sự phát triển chung. Sông Hương hiện có các chương trình bổ trợ như: Chương trình phát triển không gian văn hóa nghệ thuật chương trình phát triển tài năng trẻ chương trình tặng thưởng hàng năm; chương trình "Tình sông Hương". Có lẽ đây là những điều mà chúng ta cần học hỏi.

Nhà văn Hoàng Trọng Cường Tổng Biên tập tạp chí Xứ Thanh đã đặt vấn đề "Muốn sống được báo chí văn nghệ phải có đội ngũ cộng tác viên. Chất lượng tờ báo tạp chí nằm ở chất lượng tác phẩm của cộng tác viên". Anh còn xác định mảng văn học là cái xương sống có vai trò quyết định sự sống còn của một tạp chí văn nghệ. Vì thế phải coi trọng xây dựng đội ngũ cộng tác viên cả ở phương diện sáng tác cũng như lý luận phê bình không chỉ trong tỉnh mà còn mở rộng giao lưu với bạn đọc bạn viết trong cả nước. Xứ Thanh có kinh nghiệm để làm được điều đó bằng cách tổ chức các cuộc thi sáng tác trên tạp chí.

Nhà văn Vũ Thanh Lịch biên tập viên tạp chí Văn nghệ Ninh Bình cho hay kinh nghiệm về việc tổ chức và duy trì các chuyên mục coi trọng khâu biên tập trả nhuận bút cao và kịp thời chú ý hướng tới đối tượng độc giả là các em học sinh sinh viên. Đặc biệt vừa qua tạp chí Văn nghệ Ninh Bình đã tổ chức Hội thảo cũng với chủ đề như chúng ta hôm nay nên đã thu được rất nhiều kinh nghiệm hay và hôm nay thêm một lần nữa để chúng ta học tập.

Tỉnh chủ nhà Phú Thọ có 5 tham luận của các tác giả Vũ Kim Liên Trưởng ban Biên tập nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn biên tập viên văn xuôi Nguyễn Anh Đào cộng tác viên văn xuôi Cao Văn Định cộng tác viên thơ Quang Hưng cộng tác viên mỹ thuật. Các ý kiến đều làm rõ hơn công tác biên tập chọn lựa bài vở tổ chức các cuộc hội thảo tranh luận. Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn nêu rõ yêu cầu của biên tập viên trước hết là phải tinh thông nghề nghiệp không được nhầm lẫn thể loại văn học phải đọc nhiều và vô tư khi chọn sử dụng bài vở. Nhà thơ Cao Văn Định nhà văn Nguyễn Anh Đào đề nghị tạp chí cần mạnh dạn tổ chức cầm trịch các cuộc tranh luận để từ đó thắp lên sự sáng tạo khuyến khích những đề tài nghiên cứu tránh sự sáo mòn minh họa. Họa sỹ Quang Hưng trăn trở với mảng phê bình nghệ thuật còn thiếu và yếu trên tạp chí và đề xuất cần đặt bài về lĩnh vực này. Đồng thời cần coi trọng hình thức tạp chí cho đẹp sinh động để hấp dẫn bạn đọc.

Hội thảo chỉ giới hạn trong các cơ quan báo chí của Hội VHNT các vùng kinh đô nhưng với trách nhiệm của mình các đồng chí lãnh đạo tỉnh Phú Thọ lãnh đạo các Hội và Liên hiệp Hội VHNT các tỉnh đều dự đầy đủ và có những ý kiến quý báu cả bên trong và bên lề hội nghị. Nhà thơ Bằng Việt - Phó Chủ tịch UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đồng chí Hà Kế San UVTV - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Thọ đã đến dự và có bài phát biểu. Các đồng chí đều khẳng định: Việc nâng cao chất lượng của báo tạp chí văn nghệ các vùng Kinh đô xưa và nay là một việc làm cần thiết quan trọng vì báo chí văn nghệ là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống hiện đại nó bắt nguồn từ trong đời sống và phục vụ đời sống. Chúng ta cần bám sát hơn nữa các quan điểm định hướng của Nghị quyết TW 5 về giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam tiên tiến hiện đại và các quan điểm của Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về VHNT làm cơ sở nâng cao chất lượng báo chí văn nghệ nhất là báo chí văn nghệ các vùng Kinh đô - nơi cả nước luôn quan tâm hướng về để những giá trị văn hóa của các vùng Kinh đô mãi mãi được lưu truyền được tỏa sáng trong dòng chảy văn hóa chung của thời đại.

Họa sỹ Đỗ Ngọc Dũng Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Phú Thọ cơ quan chủ quản của tạp chí Văn nghệ Đất Tổ cũng đã có bài phát biểu chào mừng cuộc hội thảo. Đồng chí muốn báo chí văn nghệ phải mạnh hơn nữa hay hơn nữa thực sự là diễn đàn VHNT của giới văn nghệ sỹ địa phương là công cụ tuyên truyền của Đảng trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. ý kiến của đồng chí cũng là ý kiến chung mang tính chỉ đạo của các đồng chí Chủ tịch Hội và Liên hiệp Hội VHNT các tỉnh thành có mặt trong cuộc hội thảo này.

Sự nghiệp báo chí văn nghệ các vùng kinh đô xưa và nay với những công việc mới điều kiện mới sau cuộc hội thảo này đang mở rộng đầy hứa hẹn ở phía trước. Chào mừng đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội chào mừng 85 năm ngày báo chí cách mạng Việt Nam 60 năm thành lập Hội Nhà báo Việt Nam với những gì thu được qua cuộc hội thảo này chúng ta sẽ làm cho tờ báo tạp chí văn nghệ các vùng kinh đô xưa và nay ngày càng phong phú hơn hấp dẫn hơn.

Đ.X.T

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Nữ sỹ Phương Chi


người con của xứ Thanh

Nữ sỹ Phương Chi tên thật là Lê Thị Phương Chi bút danh: Mai Chi. Bà sinh ngày 10-10-1927 tại thôn Do Trung xã Thịnh Lộc huyện Hậu lộc tỉnh Thanh Hóa. Bà là cán bộ lão thành cách mạng được tặng huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Nữ sĩ Phương Chi từng là thường vụ Huyện ủy Hậu Lộc Chủ tịch Hội phụ nữ huyện Hậu Lộc những năm đầu sau cách mạng tháng Tám. Bà là vợ nhà thơ Vĩnh Mai.

Nữ sỹ Phương Chi đã có nhiều thơ đăng trên các báo tạp chí trung ương và địa phương. Khi tuổi đã cao bà vẫn tham gia nhiệt tình với Ban liên lạc Văn nghệ sỹ đồng hương Thanh Hóa tại Hà Nội.

Nữ sỹ Phương Chi mất ngày 01-5-2009 tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội.

 

Mối tình Vĩnh Mai - Phương Chi

                                                              NGUYỄN BAO


 

     Hơn nửa thế kỷ trước đây khi còn đang học ở trường Lam Sơn (Thanh Hóa) tôi đã được đọc thơ Vĩnh Mai.

Bài "Khóc hoài" đã đem đến cho lớp thiếu niên chúng tôi ngày ấy những hình ảnh cao đẹp về tình bạn và mẫu người lý tưởng: Say mê hoạt động cách mạng và cũng rung động sâu sắc trước vẻ đẹp của tình bạn tình đời.

Bên cạnh những bài thơ cách mạng và kháng chiến Vĩnh Mai còn có thơ về tình yêu - Có thể nói tất cả thơ tình của Vĩnh Mai đều bắt nguồn từ một nàng thơ duy nhất: Đó là Phương Chi người con gái xứ Thanh người yêu người vợ mà nhà thơ trọn đời yêu thương gắn bó.

Chị Phương Chi quê ở làng Do Trung xã Thịnh Lộc đã trưởng thành cùng quê hương Hậu Lộc. Tham gia cách mạng từ thời tiền khởi nghĩa qua bao chặng đường từ công tác phụ nữ đến công tác y tế... chị đã trở nên một cán bộ có uy tín. Hơn nữa với năng khiếu yêu văn chương được sống với nhà thơ Vĩnh Mai được hòa mình vào không khí sáng tạo văn nghệ lúc nào cũng hào hứng và sôi động chị đã có những bài thơ đoạn văn đầu tay.

Chị đã có những bài thơ về làng quê Do Trung với câu chữ giản dị mà đằm thắm:

Xa quê man mác khúc buồn

Bây giờ trở lại bồn chồn tình quê

Đường làng một thuở con về

Nao nao dáng mẹ trưa hè bóng cau

(Tình quê)

Không phải là nhà thơ chuyên nghiệp nhưng với tình cảm chân thực chị đã bộc lộ nỗi đau xót khi người chồng là nhà thơ Vĩnh Mai ra đi mãi mãi:

Thơ tôi dù chỉ đôi hàng

Đáy lòng đọng mãi muôn vàn nhớ thương

Niềm thương tiếc "biết đến bao giờ mới nguôi" đã hiện lên mặt giấy:

Lệ chảy thành thơ những nỗi niềm

Từ nay thao thức biết bao đêm

Đời em ấp ủ bao hoài niệm

Lắng nỗi đau dài xuống đáy tim!

Hướng về ngọn đồi Từ Hiếu ở xứ Huế xa xôi nơi chồng yên nghỉ Phương Chi cảm thấy trống trải càng thương nhớ:

Anh về Từ Hiếu cùng sương gió

Trống trải Thăng Long một cõi lòng

Yêu thương chồng tha thiết vượt qua nỗi cô đơn dằng dặc mặc cho sức ngày càng đuối... Phương Chi vượt qua mọi trở ngại để sưu tầm di cảo và xuất bản hàng chục tuyển tập thơ văn hồi ký và những trang viết của bạn bè về Vĩnh Mai.

Đặc biệt tập "Thơ tình Vĩnh Mai - Phương Chi" xuất bản năm 2004 là một hiện tượng văn học đáng chú ý.

Tình yêu và nỗi nhớ mảnh đất chôn rau cắt rốn đã khiến chị gắn bó chặt chẽ với Ban Văn nghệ đồng hương Thanh Hóa tại Hà Nội. Trước lúc đi xa trong Di chúc chị còn nhớ tới anh chị em văn nghệ với sự săn sóc quan tâm cụ thể để văn nghệ sỹ đồng hương thêm điều kiện về quê thâm nhập đời sống sáng tác xuất bản.

Với riêng tôi nguyên Trưởng ban liên lạc văn nghệ sỹ đồng hương chị còn nhờ viết trước điếu văn! Tôi đã nói: "Sao chị vội vàng thế mới tám mươi chị còn gắn bó ít ra với văn nghệ đồng hương chín mười năm nữa!" Và thay vào điếu văn tôi viết tặng chị một bài thơ. Chị đã đọc và tạm vừa lòng. Nghe tin chị mất tôi ngậm ngùi nhớ lại câu chuyện về bài thơ viết theo yêu cầu của người đã khuất: "Người con gái xứ Thanh".

Phương Chi như tên gọi chị là một nhành cây thơm thảo!

Tháng 3 - 2010

NGƯỜI ĐẮM ĐUỐI VỚI


TÁC PHẨM CỦA CHỒNG


 

                                                                   VÕ VĂN TRỰC

     Sau Cách mạng tháng Tám Xứ ủy Trung Kỳ mở một lớp đào tạo cán bộ cho các tỉnh. Trong đoàn cán bộ được cử đi học của Thanh Hóa có chị Phương Chi. Thầy giáo là các đồng chí Hải Triều Nguyễn Chí Thanh Tố Hữu Vĩnh Mai.

Hồi đó chị Phương Chi là ủy viên Ban chấp hành Huyện Đảng bộ Hậu Lộc trực tiếp làm hội trưởng Phụ nữ huyện có chân trong Ban Chấp hành phụ nữ Tỉnh. Tuy đã là một cán bộ lãnh đạo nhưng chị vẫn giữ nền nếp của một nữ sinh: mặc áo trắng quần trắng đi guốc trắng đội mũ trắng.

Lớp học mở tại Huế kéo dài trong hai tháng. Nội dung chương trình học gồm: Chủ nghĩa Mác - Lênin đường lối Cách mạng Việt Nam và có cả văn học Việt Nam văn học thế giới.

Vĩnh Mai là thầy giáo văn học. Lúc bấy giờ anh làm Bí thư Thành ủy Huế Chủ nhiệm tờ báo Quyết chiến. Các thầy Hải Triều Nguyễn Chí Thanh Tố Hữu thường bận việc đột xuất. Vĩnh Mai phải dạy bù. Do đó giờ học văn tăng lên. Thầy Vĩnh Mai tiếp xúc nhiều với học sinh.

Phương Chi bị cuốn hút trong những giờ nghe giảng văn học thế giới văn học Pháp thơ ca Việt Nam. Thầy Vĩnh Mai dáng người cao da ngăm ngăm mắt sáng với cách nói dí dỏm hài hước càng ngày càng in đậm vào tâm trí chị.

Từ đó dọc đường công tác hình ảnh Vĩnh Mai và thơ của Vĩnh Mai trở thành một phần hữu cơ trong tâm hồn chị. Cùng chung một lý tưởng giải phóng dân tộc cùng chung một tình yêu văn học hai người ngày càng gắn bó với nhau và trở thành bạn đời của nhau.

Năm 1955 hai người cùng công tác ở Hà Nội. Vĩnh Mai chuyển hẳn sang làm việc ở ngành văn học càng có điều kiện sáng tác. Phương Chi chăm sóc chồng hết sức chu đáo: vừa làm nhiệm vụ một người vợ vừa làm nhiệm vụ một thư ký. Chị sắp xếp bản thảo chép lại bản thảo và thuộc nhiều bài thơ của chồng từ khi còn ở dạng bản thảo.

Những khi Vĩnh Mai nằm trên giường bệnh ở nhà hoặc ở bệnh viện chị rất mực tận tình vừa như một hộ lý vừa như một thầy thuốc (chị là bác sỹ). Chị thường xoa dịu cơn đau của chồng bằng cách đọc cho chồng nghe những bài thơ của chồng sáng tác từ khi mới đưa ánh mắt giao duyên đến lúc yêu nhau rồi cùng xây tổ ấm gia đình. Qua giọng đọc ngọt ngào của vợ chập chờn hiện trước mặt anh hình ảnh thời thanh xuân: Em ngồi bên cửa mơ màng/ Nhìn ao sen trắng dịu dàng đượm hương... Với thôn Do Trung quê vợ lần đầu anh đặt chân đến: Làng em có ruộng có đồi/ Đường đi râm mát giữa đôi hàng dừa... Anh thiu thiu ngủ trong lời ru kỷ niệm...

Những lúc anh tỉnh táo vui vẻ chị đọc thơ trào phúng. Vĩnh Mai không những sáng tác thơ trữ tình mà còn sáng tác thơ châm biếm và đả kích với bút danh Búa Tạ. Không ngờ chị nhớ đến thế. Vĩnh Mai mỉm cười. Có lúc anh cười to thành tiếng rồi anh cùng đọc với vợ. Mấy cô bác sỹ ở bệnh viện cũng xúm lại nghe. Thỉnh thoảng chị hỏi đùa: "Mấy hôm nay anh có làm thơ châm ai không?". Anh cười: "Có chứ. Xuống âm phủ anh vẫn châm châm bọn nịnh hót châm bọn ăn như rồng cuốn nói như rồng leo làm như mèo mửa". Anh nhìn mọi người xung quanh rồi nhìn tôi: "Trực là đồ Nghệ mà không làm thơ châm à? Các ông đồ Nghệ giỏi châm lắm". "Khi nào anh khỏi bệnh mạnh khỏe anh dạy em làm thơ châm. Hai anh em ta cùng thi nhau châm...".

Tôi quen thân gia đình anh chị qua nhà thơ Trần Hữu Thung một người bạn rất thủy chung của anh chị. Khi anh bắt đầu nghỉ hưu thì tôi về biên tập thơ báo Văn nghệ. Vừa là tình cảm riêng tư vừa là trách nhiệm cơ quan tôi thường qua lại những khi anh đau ốm. Tôi thấy hiếm có một người vợ như chị Phương Chi săn sóc chồng vừa bằng thuốc thang vừa bằng thơ của chính chồng mình. Nhiều lúc anh đọc thơ nhớ sai chị sửa lại cho đúng: "Câu thơ anh đọc là câu trong bản nháp đầu tiên sau khi sửa chữa hoàn chỉnh câu thơ như thế này cơ...".

Ngày anh qua đời. Cả cơ quan xúm lại cùng với chị tổ chức chu đáo lễ tang vừa là tình cảm đối với một nhà thơ công tác lâu năm trong tòa soạn vừa là lòng tôn kính đối với một chiến sỹ cách mạng lão thành.

Nhà thơ Phạm Hổ Phó tổng biên tập nói với chị Phương Chi: chép một bài thơ mới nhất của Vĩnh Mai để in vào số lễ tang.

Hai hôm sau chị đến gặp tôi ở tòa soạn nói với giọng có vẻ hốt hoảng: "Chú Trực ơi chị có lỗi lớn với anh Vĩnh Mai". "Lỗi gì thế hở chị?". "Hôm kia chị đưa bài thơ của anh Vĩnh Mai cho Phạm Hổ chép sai một câu sai câu thơ thứ sáu: Nguyên văn bài thơ là thế này". Tôi cầm đọc:

Gửi Phương Chi (II)

Ba mấy năm này tay nắm tay

Từ mùa xuân ấy đến xuân này

Có vui xum họp buồn xa cách

Có ngọt bùi thêm có đắng cay.

Như những dòng sông chảy lướt qua

Tháng ngày đọng lại những phù sa

Ân tình ủ lớp phù sa ấy

Mỗi độ xuân về lại trổ hoa!

Bệnh viện Việt Xô xuân 1961

Chị đọc thuộc lòng hai lần cả bài chép sai cả bài chép đúng rồi nói: "Chú có cách nào sửa lại giúp chị được không? Nếu in sai chị không yên lòng với vong linh anh". Biết làm sao bây giờ? Báo đã đưa đi nhà in. Nhưng thấy chị quá tôn thờ thơ chồng tôi không nỡ bỏ qua. Đành dẫn chị ra nhà in ở phố Tràng Tiền. Cả buổi sáng đi hết phòng này đến phòng kia gặp hết giám đốc đến trưởng phòng đến công nhân xếp chữ. Toát cả mồ hôi. Anh chị em ở nhà in thấy chị tất ta tất tưởi gương mặt phờ phạc tìm mọi cách giúp chị sửa lại một câu thơ in sai. (Nhân đây tôi xin kể thêm một mẩu chuyện về vợ một nhà thơ khác. Tập thơ của chồng đã in xong đã đưa ra các hiệu sách. Đọc lại thấy sai một chữ chị đến tất cả các hiệu sách Hà Nội để sửa lại... Đáng kính phục thay những người vợ như thế!).

Đêm nào trước khi đi ngủ chị cũng đọc lại tập thơ của anh đã in. Ròng rã mấy chục năm trời chị là người vợ tần tảo vừa là người thư ký cần mẫn. Chép lại sạch sẽ tất cả những bài anh đã hoàn chỉnh. Sắp in một tập nào chị cũng sắp xếp bản thảo đúng theo ý anh rồi cầm đến nhà xuất bản. Những ngày còn chung sống anh đã được nâng trên tay những đứa con tinh thần thân yêu của mình: Khóc Hoài Người dân quân xã Tiếng hát hòa bình Đôn và Thanh Lên đường Tiếng hát.

Còn lại những gì nữa trong di cảo? Vĩnh Mai viết nhiều thể loại: thơ trữ tình truyện thơ thơ trào phúng văn xuôi. Tác phẩm đã in chỉ mới là một phần nhỏ. Phần lớn còn nằm rải rác trong sổ tay trong các tập giấy nháp để lẫn vào giá sách vào hòm quần áo và các thứ giấy tờ linh tinh khác. Đêm nào chị cũng lục xới tìm cho kỳ hết những dòng chữ của chồng. Đây là tờ giấy rời chép bài thơ hồi ở Quảng Trị. Đây là mảnh giấy nứa vàng ố nháp bài thơ hồi ở Việt Bắc. Đây là những đoạn văn xuôi viết trong nhà tù. Đây là cuốn nhật ký từ hồi anh chị mới gặp nhau...

Hầu hết di cảo không còn nguyên vẹn nữa. Mọt cắn nham nhở. Giấy mủn. Chữ bị nhòe. Chị vuốt nhẹ từng tờ rồi xếp lại bằng phẳng. Các cuốn nhật ký đã đứt lề đóng lại theo thứ tự ngày tháng.

Dò từng dòng chữ chị chép lại. Phải là "người thư ký" rất thuộc tính cách và nét chữ của "thủ trưởng" mới có thể phục hồi được văn bản nguyên vẹn.

Một đêm mùa hè tôi đến nhà chị. Mất điện. Bên ngọn đèn dầu chị cắm cúi chép lại bài hồi ký "Tết trong tù" anh viết từ năm 1945. Mồ hôi đầm đìa rơi trên trang giấy.

Đêm giao thừa năm ấy tôi đến nhà chị. Bàn thờ thiêng liêng hương khói với tấm ảnh nhà thơ Vĩnh Mai chụp năm 1973 cười rất có duyên cái răng sứt càng điểm tô gương mặt thêm duyên dáng.

Chị ngồi viết bên chiếc bàn đặt trước bàn thờ. Trên bàn đặt một chồng nhật ký của Vĩnh Mai. Chị đã đóng lại tất cả những cuốn nhật ký ấy cho nên bìa thì mới mà ruột thì đã cũ nát. Chị dừng bút nhìn lên bàn thờ... Phin cà phê bên mâm ngũ quả nhỏ đều đặn từng giọt. Lúc sinh thời nhà thơ Vĩnh Mai nghiện cà phê. Sau khi anh qua đời chị thường pha cà phê cúng anh trong ngày giỗ ngày tết.

Chị đang viết gì vậy? Nhẹ tay lật từng tờ ố vàng chị chép lại một đoạn nhật ký Vĩnh Mai viết từ năm 1958:

6-8-1958. Sắp đến 9-8 rồi (kỷ niệm ngày cưới) không hiểu Phương Chi có cảm tưởng gì không?... Giá mà được ở nhà thì được một hôm thích thú nhất là vừa nhận được lương...

30-8-1958. Cuộc đấu tranh trong văn nghệ đã chấm dứt những thắc mắc trong lòng ta chưa dứt. Những thực tế trước mắt còn đè nặng lên tâm hồn mình...

Hàng ngày hàng giờ Vĩnh Mai vẫn hiện diện trong căn phòng này. Chị đắm đuối với tác phẩm của chồng. Hình ảnh chồng vẫn tươi nguyên trong tâm hồn chị. Sắp xếp lại di cảo thành từng phần để đưa in. In xong tác phẩm này lại phát hiện thêm di cảo mới. In xong tập mới lại phát hiện thêm di cảo. Ban ngày bận công việc cơ quan và thu vén việc gia đình. Ban đêm chị hì hục tìm di cảo bị xót hì hục chép lại hì hục hoàn thành từng tập bản thảo. Đi đến tận cùng tình yêu. Năm 1981 nhà thơ Vĩnh Mai qua đời thì năm 1982 chị đã đưa in tác phẩm mới của anh: Đất đen và hoa thắm. Từ đó đến năm 2003 trong vòng hai mươi năm chị đã lần lượt trình diện với bạn đọc năm đứa con tinh thần của chồng (cũng là những đứa con chung của hai vợ chồng): Từ mùa xuân ấy chàng trai ấy thơ Vĩnh Mai Thơ tình Vĩnh Mai Vĩnh Mai tuyển tập (văn thơ). Một người vợ tận tình chăm sóc và xuất bản di cảo của chồng như chị thật là quý hiếm.

                                                                                       V.V.T

PHƯƠNG CHI

Nhớ anh Vĩnh Mai


 

Em nơi đây anh đã xa xôi

Trăng tròn bỗng xẻ chia hai nửa

Non nước cũ... bóng lồng hai đứa

Riêng mình em dõi nửa trăng soi!

Lòng em thương nhớ khôn nguôi!

Bản thảo đang còn dang dở

Nét chữ dáng người thân quen

Mỗi hàng một dòng máu rỏ.

Con tằm rút ruột nhả tơ

Một đời hoài vọng hồn thơ trao đời.

                            P.C

Hương đá

Em Hà Nội vào

Đưa anh lên đồi Từ Hiếu

Nào bà con ruột thịt

Đồng chí bạn cũ và thơ

Dòng người thầm lặng dâng hương

Hương cháy bùng lên ánh lửa

Ngọn lửa diệu kỳ mầm nhựa

Như hương đá đồi thông

Em hiểu anh anh vẫn lặng thầm

Muốn đốt hết đi bản thảo

Vì đời còn lắm chông gai

Khi có nhà thơ còn mê quyền lực

Năm tháng qua đi

Em tìm về cõi thực

Những trang thơ vượt quá chuyện đời

Và hôm nay lấp lánh anh ơi!

               Nhớ ngày cải táng nhà thơ Vĩnh Mai

            trên đồi thông Từ Hiếu (Huế) 22-4-1984

                                      P.C

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NHÀ PHÊ BÌNH HỒ NGUYÊN CÁT VỚI BÀI THƠ


"ĐỘC NGUYỄN DU THI TẬP CẢM ĐỀ"


                                                                       TRỌNG MIỄN

         Tôi biết anh Hồ Nguyên Cát từ 1973 năm tôi về công tác ở Ty Văn hóa Thanh Hóa. Lúc ấy anh Hồ Nguyên Cát ở Ban Vận động thành lập Hội Văn nghệ Thanh Hóa. Cả hai cơ quan cùng ở khu Nhà hát nhân dân vì vậy chúng tôi thường gặp nhau luôn.

Anh Hồ Nguyên Cát là nhà phê bình văn học có uy tín của Hội Văn nghệ Thanh Hóa. Anh viết ít nhưng sâu. Đọc văn anh người ta nhận ra cái chất trí tuệ của người hiểu biết rộng đọc sách nhiều đồng thời cũng nhận ra cái hóm hỉnh của một người sinh ra và lớn lên ở đất "ông đồ xứ Nghệ" chịu ảnh hưởng sâu sắc nền giáo dục Nho học trước đây. Chúng tôi là bạn vong niên của nhau nhưng tôi luôn coi anh là người anh đáng kính của mình. Mới mấy hôm trước tôi lấy cuốn "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" trên giá sách xuống đọc. Thật ngạc nhiên trang 174 phía dưới phần Dịch thơ bài "Độc Tiểu Thanh ký" của Nguyễn Du (Vũ Tam Tập dịch) có bài thơ "Độc Nguyễn Du thi tập cảm đề" của Hồ Nguyên Cát do chính anh dịch nghĩa.

Trước khi đề cập đến bài thơ "Độc Nguyễn Du thi tập cảm đề" của Hồ Nguyên Cát chúng tôi xin chép lại bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" của Nguyễn Du để bạn đọc tiện theo dõi:

ĐỘC TIỂU THANH KÝ

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.

Chi phấn hữu thần liên tử hậu

Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vân kỳ oan ngã tự cư.

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như.

Dịch nghĩa:

ĐỌC TẬP TIỂU THANH KÝ

Vườn hoa bên Tây hồ đã thành bãi hoang rồi

Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ.

Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết

Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở

Những mối hận cổ kim khó mà hỏi trời được

Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã.

Không biết hơn ba trăm năm sau

Thiên hạ ai người khóc Tố Như?

Đây là bài thơ của Hồ Nguyên Cát:

ĐỘC NGUYỄN DU THI TẬP CẢM ĐỀ

Quân độc Tiểu Thanh ngã độc quân

Biệt thời lưỡng hệ khả thông lân

Bách niên vãng sự yên hà hợp

Sổ tự tồn chương huyết lệ ngân

Do thị trần gian đa qủy quắc

Đương nhiên tài giả bất yên thân

Đăng tiền độc đối hàng phương cảo

Sái lệ thành thi khấp cố nhân.

Dịch nghĩa:

Ông đọc thơ Tiểu Thanh tôi đọc thơ ông

Khác nhau về thời đại hai thế hệ nhưng có thể thương nhau

Trăm năm chuyện đã qua đi như mây khói

Mấy chương còn lại như máu và nước mắt chảy dài

Bởi vì trần gian lắm bọn ma quái

(Thì) tất nhiên kẻ có tài không yên thân được

Trước đèn một mình với mấy hàng chữ thơm

(Tôi) giỏ nước mắt thành thơ khóc người xưa.

Như vậy Độc Tiểu Thanh ký là tiếng khóc của Nguyễn Du đối với người con gái tài hoa bạc mệnh; còn Độc Nguyễn Du thi tập cảm đề là tiếng khóc của Hồ Nguyên Cát đối với thi hào Nguyễn Du. Nói cách khác Hồ Nguyên Cát đồng cảm sâu sắc với tâm sự của Nguyễn Du qua bài thơ Độc Tiểu Thanh ký. Từ đó Hồ Nguyên Cát thể hiện sự đồng cảm và tâm sự của mình qua bài thơ Độc Nguyễn Du thi tập cảm đề. Hai câu đầu ông viết:

Quân độc Tiểu Thanh ngã độc quân

Biệt thời lưỡng hệ khả thông lân

(Ông đọc thơ Tiểu Thanh tôi đọc thơ ông

Khác nhau về thời đại hai thế hệ nhưng có thể thương

nhau)

Hồ Nguyên Cát và Nguyễn Du là những người thuộc hai thế hệ nhưng Hồ Nguyên Cát Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du ông coi mình có thể hiểu nhau thương nhau được. Ông viết như vậy không phải tự đề cao mình mà thể hiện sự đồng cảm về cái nhìn cái tình của Nguyễn Du đối với người con gái tài hoa bạc mệnh.

Hai câu thực:

Bách niên vãng sự yên hà hợp

Sổ tự tồn chương huyết lệ ngân

(Trăm năm chuyện đã qua đi như mây khói

Mấy chương còn lại như máu và nước mắt chảy dài)

Hai câu này Hồ Nguyên Cát nói về nàng Tiểu Thanh người con gái tài sắc sống vào đầu đời Minh. Nàng họ Phùng lấy lẽ một người cũng tên là Phùng vì tránh tên chồng nên gọi là Tiểu Thanh.Vợ cả ghen bắt nàng ở một ngôi nhà trên núi Cô Sơn cạnh Tây hồ chẳng bao lâu nàng buồn mà chết. Lúc bấy giờ nàng mới mười tám tuổi. Tiểu Thanh có một tập thơ nói về tâm sự của mình. Lúc nàng chết rồi vợ cả ghen lấy đốt đi còn sót một số bài người ta chép lại gọi là phần dư cảo. Hồ Nguyên Cát gọi phần dư cảo ấy là "Mấy chương còn lại như máu và nước mắt chảy dài". Chúng ta không được đọc thơ của Tiểu Thanh nhưng chúng ta đồng tình với cách nói của Hồ Nguyên Cát. Có lẽ thơ của Tiểu Thanh đẫm máu và nước mắt. Vì nó là tiếng ruột tiếng lòng là tâm sự nỗi niềm là cuộc sống trắc trở cô quạnh của một người con gái có tài có sắc nhưng bị hắt hủi phũ phàng.

Hai câu thực như thế nên hai câu luận ông viết:

Do thị trần gian đa quỷ quắc

Đương nhiên tài giả bất yên thân

(Bởi vì trần gian lắm kẻ ma quái

(Thì) tất nhiên kẻ có tài không yên thân được)

Viết hai câu này một phần Hồ Nguyên Cát thông cảm sâu sắc với cuộc đời nàng Tiểu Thanh với những gì mà nàng đã phải chịu đựng trong một xã hội lắm kẻ ma quái; một phần ông cũng muốn gửi gắm tâm sự của mình qua hai câu này. Hồ Nguyên Cát sinh năm 1931 tại làng Quỳnh Đôi xã Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An làng có dòng họ Hồ nổi tiếng với các danh nhân: Hồ Phi Diễn Hồ Xuân Hương Hồ Phi Huyền... Hồ Nguyên Cát thuộc dòng dõi Hồ Quý Ly. Theo chính sử thì: "Quý Ly tên tự là Lý Nguyên tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang đời Hậu Hán thời Ngũ Quý sang làm Thái thú Diễn Châu. Sau đó làm nhà ở hương Bào Đột châu này rồi là trại chủ. Đến đời Lý (có người) lấy công chúa Nguyệt Đích sinh ra công chúa Nguyệt Đoan đến đời cháu thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại Thanh Hóa làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn từ đấy lấy Lê làm họ của mình. Quý Ly là cháu bốn đời của Huấn"(1) (Đại Việt sử ký toàn thư NXB KHXH 1985 tập II trang 195 196).

Hồ Nguyên Cát dạy học ở Thanh Hóa và Thanh Hóa trở thành quê hương thứ hai của ông. Trong những năm dạy học và sau đó là nhiều năm liền phụ trách mảng lý luận phê bình của Tập san Văn nghệ Thanh Hóa biên tập viên Nhà xuất bản Thanh Hóa ông có điều kiện đi được nhiều nơi danh lam thắng cảnh của Thanh Hóa. Một trong những nơi đó là thành nhà Hồ. Thành nhà Hồ gắn liền với tên tuổi Hồ Quý Ly - người mà từ xưa đến nay luôn gây nên những cuộc tranh luận sôi nổi về vai trò và trách nhiệm của ông của triều Hồ đối với lịch sử nước nhà. Hồ Nguyên Cát đã dành nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Quý Ly nhằm dựng lại chân dung nhân vật bi hùng này theo cách nhìn của ông. Sau nhiều năm tháng suy nghĩ Hồ Nguyên Cát đã viết được kịch bản văn học: Hồ Quý Ly. Vở kịch gồm 5 hồi đề cập đến nhiều sự kiện trong đó có sự kiện vua Trần nhường ngôi cho Hồ Quý Ly. Về phương diện lịch sử sự kiện này từ xưa đến nay đều bị các sử gia phê phán kịch liệt. Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Tháng 2 ngày 28 (1400) Quý Ly bức vua truyền ngôi và buộc tôn thất và các quan ba lần dâng biểu khuyên lên ngôi. Quý Ly giả vờ cố tình từ chối nói: "Ta sắp xuống lỗ đến nơi rồi còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế ở dưới đất nữa?". Rồi tự lập làm vua đặt niên hiệu là Thánh Nguyên quốc hiệu là Đại Ngu đổi thành họ Hồ (sđd NXB KHXH 1985 tập II trang 199). Lịch sử Việt Nam (tập I) thì viết: "Hồ Quý Ly cướp một một cách bất chính sau khi nắm chính quyền lại thi hành nhiều chính sách nhằm thâu tóm quyền hành và lợi ích vào tay dòng họ thống trị. Vì vậy triều Hồ tuy mới thành lập đã mất lòng dân và do đó không đoàn kết được toàn dân không phát huy được sức mạnh vĩ đại của dân tộc để chống giặc giữ nước (NXB KHXH 1971 tập I trang 235). Thế nhưng Hồ Nguyên Cát lại có cách nhìn khác về sự kiện này. Ông cho việc truyền ngôi từ nhà Trần sang nhà Hồ là tính tất yếu của lịch sử. Đây là một đoạn đối thoại giữa Hồ Quý Ly và công chúa Huy Ninh vợ Hồ Quý Ly (hồi ba):

Huy Ninh: Tưởng đức ông trọn đời giúp rập nhà Trần; bây giờ tôi mới biết đức ông đã thay lòng đổi dạ. Thử nghĩ lại xem nghĩ lại xem: đức ông nên danh nên giá nên chức nên phận nên vinh nên hiển là nhờ ai? Tôi và đức ông thành vợ thành chồng là nhờ ai? Tiên đế Nghệ Tôn đã hậu tứ cờ kiếm cho đức ông (chỉ vào cờ kiếm). Cờ kiếm hãy còn đây! Cờ ban tám chữ: "Văn võ toàn tài quân thần đồng đức". Còn kiếm? Kiếm là để phò vua giúp nước. Cái ân nghĩa ấy đức ông quên được hay sao?

Hồ Quý Ly: Không! Ta không quên. Không thể nào quên.

Huy Ninh: Thì đức ông phải giúp nhà Trần cho tận tình tận nghĩa chứ! Muốn giữ nghiệp cho nhà Trần đức ông hãy nghe tôi: bỏ việc truyền ngôi đi. Thế là yên chuyện.

Hồ Quý Ly: Tận tình tận nghĩa! Ta vẫn muốn giữ tình nghĩa với họ Trần. (buồn bã) nhưng không được nữa rồi. (lắc đầu) Họ Trần! Cái nhà của họ Trần đã mục nát không còn cách chống đỡ...

Huy Ninh: Không còn cách chống đỡ... Tôi cứ nghĩ đức ông là một bậc nhân tài thánh trí. (mỉa mai) Tài trí mà không chống đỡ nổi một cái nhà?!

Hồ Quý Ly: (cười hồn nhiên) Có tài trí ta mới nhìn thấy ngôi nhà họ Trần mục nát phải dọn đi để dựng nhà mới sáng đẹp vững vàng. Có tài trí ta mới nhìn thấy xã tắc này đã đến ngày phải thay đổi. Phu nhân không thấy sao? Giờ đây hào khí Đông A không còn nữa. Lê dân nô tỳ nhan nhản khắp nơi lang thang đầu đường xó chợ mắt bạc thiếu cơm mặt xám như đất. Vua ấy dân ấy nước này... Thật đáng thở dài! (nói mạnh) Phải thay đổi nước! Phải thay đổi ngôi.

Điều đáng buồn là kịch bản Hồ Quý Ly của ông mới viết xong thì đã bị một "bạn văn" - mà ông coi như một người bạn thân thiết "cuỗm mất". Hồ Nguyên Cát bị sốc ông buồn vô hạn. Ông rất quý trọng bạn bè không bao giờ nói xấu bạn vậy mà đã phải làm một việc bất đắc dĩ: Kiện kẻ "đạo văn" đó lên Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa và Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa. Ông nói với bạn bè: Viết văn là công việc đòi hỏi tài năng. Không có tài thì đừng cầm bút. Cầm bút mà lại ăn cắp trí tuệ của người khác làm của mình là hèn là vô liêm sỉ. Do quan niệm như vậy nên hai câu luận trong bài thơ "Độc Nguyễn Du thi tập cảm đề" ông mới viết như thế.

Hai câu kết của bài thơ:

Đăng tiền độc đối hàng phương cảo

Sái lệ thành thi khấp cố nhân

(Trước đèn một mình với mấy hàng chữ thơm

Giỏ nước mắt thành thơ khóc người xưa).

Đó là tấm lòng của ông đối với đại thi hào Nguyễn Du đồng thời cũng là câu trả lời của người đời sau về câu hỏi của Tố Như:

Bất tri tam bách dư niên hậu (2)

Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như

(Không biết hơn ba trăm năm sau

Thiên hạ ai người khóc Tố Như)

Đã có nhiều người khóc Tố Như mỗi người khóc theo cách của mình Hồ Nguyên Cát chỉ là một trong số những người đó.

Giới thiệu bài thơ "Độc Nguyễn Du thi tập cảm đề" của Hồ Nguyên Cát chúng tôi hy vọng một ngày gần đây những văn thơ kịch Hồ Quý Ly của ông sẽ được đến với công chúng bạn đọc rộng rãi thông qua con đường xuất bản chính thức của nhà nước có sự tài trợ của tỉnh. Giá trị nội dung và nghệ thuật của những tác phẩm ấy xứng đáng được như thế bạn đọc bạn viết cũng cần được đọc những tác phẩm ấy của ông.

                                                           Đầu Đông 2009

                                                                    T.M

(1) Lịch sử Thanh Hóa (tập II) NXB KHXH 1994 trang 156 viết: "Đến đời cháu thứ 11 của Hồ Hưng Dật trại chủ đất Bào Đột có quan hệ với Tuyên úy Lê Huấn người có thế lực ở hương Đại Lý phủ Thanh Hóa. Ông cho con trai là Hồ Liêm ra làm con nuôi Lê Huấn rồi lấy họ Lê làm họ của mình Hồ Quý Ly là cháu bốn đời của Lê Liêm".

(2) Tam bách dư niên: Có thuyết nói: ba trăm năm là tính từ khi Tiểu Thanh mất cho đến lúc Nguyễn Du làm bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" khóc nàng.

Về hai câu thơ này trước kia trong cuốn Truyện cụ Nguyễn Du của Lê Thước và Phan Sĩ Bàng soạn năm 1924 hai tác giả dựa theo lời cụ nghè Nguyễn Mai thuộc thế hệ thứ mười họ Nguyễn Tiên Điền nói rằng: đó là lời khẩu chiếm của Nguyễn Du lúc sắp mất. Trần Trọng Kim trong bài tựa Truyện Kiều xuất bản năm 1925 cũng nói như thế. Sau này năm 1943 ông Đào Duy Anh thấy trong bài Độc Tiểu Thanh ký có hai câu thơ ấy mới cải chính lại (chú thích 2 là của sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du NXB Văn học 1978 trang 173).

NGUYỄN DU TÌNH THƠ


VÀ NHỮNG NGƯỜI ĐẸP THĂNG LONG


 

                                                                             HOÀNG KHÔI




     Tài tử thi nhân mà gặp tài nữ giai nhân thì chắc chắn có chuyện phong tình. Một thi nhân như Nguyễn Du mà gặp những giai nhân kỳ nữ Thăng Long mộng mơ thì hồn thơ phải vô cùng lai láng. ấy là giả định chợt nghĩ thế thôi song cũng là một ý nghĩ thú vị.

Tôi may mắn được là người Nghi Xuân lại đang ở Hà Nội rất mê cái tài tử phong lưu của cụ Nguyễn Du cụ Nguyễn Công Trứ nên muốn tìm hiểu xem sao? Nguyễn Du sinh tháng Giêng năm 1766 tại phường Bích Câu Thăng Long. Cùng năm này thân phụ ông Nguyễn Nghiễm được thăng Thiếu phó rồi mấy năm sau ra làm Tể tướng. Anh Nguyễn Du là Nguyễn Khản làm Bồi tụng sau lên Thượng thư Bộ lại khi Nguyễn Du lên 17 tuôi (1782). Cả nhà Nguyễn Du khi ấy đều sống ở Thăng Long và Nguyễn Du gọi là cậu Chiêu Bảy được anh trai nuôi ăn học giữa cái nôi văn hóa Thăng Long rồng bay này.

Câu chuyện "Tình tang" đầu tiên của Nguyễn Du là với một cô gái đò ngang ngày ngày chở chàng trai xứ Nghệ này qua lại Nhị Hà thụ giáo với một ông thày Kinh Bắc. Cô gái ấy tên là Đỗ Thị Nhợt.

Lần ấy Chiêu Bảy chờ sang đò nhưng cô Nhợt lại ra muộn. Đò vắng khách! Cậu Chiêu "hiền lành" bèn trổ cài trò sau quỷ sau ma của đám học trò. Cậu ứng tác rằng:

Cô ơi chèo chống tôi sang

Kẻo trời trưa trật lỡ làng tôi ra

Còn nhiều qua lại lại qua

Giúp cho nhau nữa để mà...

Cậu ngừng ở chữ thứ sáu của câu chứ không đọc hết. Cô Nhợt nhẹ nhàng:

- Cậu đã đọc hết đâu?

Nguyễn Du giả đò tần ngần:

- Còn hai chữ nữa muốn nhờ cô gợi cho.

Cô Nhợt hai má ửng hồng long lanh cặp mắt líu ríu nhắc mái chèo:

- Thưa dùng hai chữ "quen nhau" có được không ạ?

...

Chuyện không dừng ở đó chỉ mấy ngày sau đôi bên đã chủ động chuyển từ "quen nhau" thành "thương nhau".

Chiêu Bảy hớn hở say sưa hồn thơ càng lai láng. Những câu thơ lãng mạn tuôn trào...

Quen nhau nay đã nên thương

Cùng nhau se mối tơ vương chữ tình

Người xinh xinh cảnh xinh xinh

Trên trời dưới nước giữa mình với ta.

Những tưởng đôi bên sẽ có hạnh phúc lâu dài những chuyện đồn đến tai phụ huynh thế là bi kịch bắt đầu từ đó. Phép nhà không cho một công tử con quan Tể tướng lấy một cô gái lái đò! Còn cái cô lái đò kia sao lại dám chơi trèo chòng ghẹo con quan? Đò ngang bị chức dịch trong làng thay người chèo chống. Chiêu Bảy cũng không thể gặp lại người tình. Ông đau đớn:

Yêu nhau những muốn gần nhau

Bể sâu trăm trượng tình sâu gấp mười

Vì đâu cách trở đôi nơi

Bến nay còn đó nào người năm xưa

Và:

Trăm năm dẫu lỗi hẹn hò

Cây đa bến cũ con đò thủa xưa

Cây đa bến cũ còn lưa

Con người năm ngoái năm xưa đâu rồi!

Lần này là những câu thơ nước mắt

Thì ra chàng nho sinh Nguyễn Du không hề "hiền lành" như người ta tưởng mà là một chàng trai rất đỗi đa tình. Mối tình thủa "ban đầu lưu luyến" này đúng là tình của một người tài tử cái tình gắn với ca dao thôn dã chứ không phải là cái tình trong gia pháp uy nghiêm. Phải chăng cái tín hiệu ban đầu này sẽ cho thấy Nguyễn Du ngay từ thủa thiếu thời dù là một cậu ấm con quan ông đã rất gần với lớp người thôn dã.

Cuộc gặp gỡ thứ hai là với một tài nữ Thăng Long khác một cô gái đánh đàn quen gọi là cô Cầm. Cầm vừa là ca nương vừa có ngón đàn điêu luyện cuốn hút hồn người. Cô rất tươi xinh lại rất đường hoàng bản lĩnh. Cô nhận tiền thưởng không chút e dè nói cười tự nhiên cử chỉ ngang tàng phóng khoáng! Tiệc được tổ chức trong dinh Nguyễn Nễ là anh của Nguyễn Du bấy giờ là Đông các đại học sỹ dưới triều Tây Sơn. Nguyễn Du và nhiều người khác chuốc rượu cho cô. Cô không từ chối ai uống đến say nằm lăn ra đất. Nhiều người lắc đầu tỏ ý thương hại chê bai nhưng Nguyễn Du thì cảm nhận dường như con người này đang là hiện thân của một sự đoạn tuyệt mơ hồ nào đó. ấy là vào năm 1791 khi Tố Như 26 tuổi cô Cầm 21 tuổi. Hơn hai chục năm sau Nguyễn Du gặp lại cô Cầm trong một tiệc rượu khác tại Thăng Long nhưng không tài nào nhận ra vì trước mặt ông chỉ là một người đàn bà gầy gò tiều tụy mặc áo vá lẫn trong một đoàn nữ nhạc không nói không cười. Chỉ đến khi nàng bật dây đàn Nguyễn Du mới cảm nhận có một nét gì quen thuộc. Ông đã chủ động hỏi han... Và đây là những lời của ông trước khi chuyển cảm xúc thành một bài thơ nổi tiếng: "Than ôi! Người ấy sao đến nỗi này! Đời người trăm năm vinh nhục buồn vui thật không lường được. Sau khi từ biệt suốt trên đường đi cảm thương vô cùng nên làm bài này để gửi cảm ứng". (Trang 109 - Thơ chữ Hán Nguyễn Du - NXB Văn học H.1988)

Bài thơ Long thành cầm giả ca ra đời không chỉ là nỗi cảm thương với một thân phận tài hoa mệnh bạc một tài nữ kỳ diệu bậc nhất kinh đô một thời nay chỉ còn là một người tóc điểm bạc/ Mặt gầy sắc võ hình nhỏ nhoi/ phờ phạc đôi mày không tô điểm mà còn gắn cả với một nỗi buồn thế sự một liên tưởng một chiêm nghiệm về lẽ mất còn.

Thành quách đổi thay người chuyển dời

Bãi biển nương dâu biết mấy nơi

Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tán sạch

Luống còn một người con hát thôi

Trăm năm thấm thoát là bao tá

Đau lòng việc cũ lệ tầm tã

Từ Nam trở lại trắng phơ đầu

Trách gì nhan sắc chẳng tàn tạ

(Bản dịch Nguyễn Huệ Chi - S.đ.d)

Hình ảnh mái tóc của thi nhân bạc phơ - Nam Hà quy lai đầu tận bạch - không chỉ được nhắc trong bài thơ này nó còn lặp đi lặp lại ở nhiều bài với Tráng sỹ bạch đầu bi hướng thiên rồi Tiếu ngã bạch đầu mang bất liễu Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly Bà bạch phát hồng trần lộ Bạch phát thu hà hận Bạch đầu thiên lý tẩu thu phong... trước những điều trông thấy ở một tâm hồn đa cảm.

Nguyễn Du còn có cả tình ý với nữ sỹ nổi tiếng tài hoa Hồ Xuân Hương ở kinh thành Thăng Long cũng trong cái năm 26 tuổi ấy. Bấy giờ Xuân Hương đã là một cô gái được giới tài tử văn nhân Thăng Long chú ý bởi văn tài. Thơ Hồ Xuân Hương có những bài đầy giọng thách thức coi thường thế gian. Xuân Hương cũng là một mẫu kỳ nữ giai nhân mang một tâm hồn phong phú một nỗi lòng phức tạp trước cuộc đời trăm mối ngổn ngang một lối sống vượt ra khỏi khuôn mẫu. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương đã cùng nhau đi hái sen ở Hồ Tây và Xuân Hương đã thực sự trao trái tim mình cho chàng trai đa cảm ấy. Họ quyến luyến cùng nhau có đến ba năm trời nhưng có lẽ vì nhiều những biến thiên của thế kỷ XVIII bấy giờ khiến cho đôi bạn chỉ xem nhau như tri kỷ chứ không thể nghĩ đến việc trăm năm được!

Nhiều năm sau Xuân Hương vẫn ở quanh vùng Hà Nội còn Nguyễn Du thì đã làm quan to. Ông được Gia Long thăng Chánh điện Học sỹ tước Hầu và được giao đi sứ Trung Quốc. Trên đường đi Bắc ông ghé Thăng Long và nhận được một lá thư trong là một bài thơ Nôm dưới đề "Xuân Hương thủ bút". Bài thơ cho thấy cái tình Xuân Hương dù trải bao năm tháng với Nguyễn Du vẫn còn rất gắn quyện thiết tha. Xuân Hương mừng vì Tố Như: Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập và tỏ bày về mình phấn son càng tủi phận long đong. Cuộc tình mà Xuân Hương kỳ vọng với Tố Như hóa ra chỉ là giấc mộng rồi ra nửa khắc không!

Bài thơ thật sự đã làm Nguyễn Du bàng hoàng. Bao nhiêu kỷ niệm ùa về. Suốt đêm ấy ông trăm trở và sáng hôm sau dậy viết một mạch năm bài thơ "Chiêm bao được hái sen" như là một cách tạ từ với người xưa cũ. Dưới đây là một trong năm bài thơ ấy:

Hoa sen ai cũng ưa

Cuống sen nào ai thích

Trong cuống có tơ mành

Vấn vương không thể dứt

(Phạm Khắc Hoan - Lê Thước dịch. S.đ.d)

Không rõ khi viết Đoạn trường tân thanh nhắc đến tình yêu Thúy Kiều - Kim Trọng câu thơ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng của Nguyễn Du có phải là một liên tưởng với câu chuyện tình này không? Nếu thế thì thêm một lần nữa ta thấy tài hoa trác tuyệt và tâm hồn sâu lắng của con người thi nhân.

Những người đẹp Thăng Long đi qua cuộc đời Nguyễn Du cho thấy cái tình của thi sỹ - Tấm lòng thơ vẫn tình đời chứa chan (Tố Hữu). Tuổi trẻ thơ Nguyễn Du trong sáng lãng mạn gần gũi với thiên nhiên gần gũi với những nét dân dã. Nhưng nguồn cảm hứng chính của ông vẫn gắn với cảm hứng dâu biển của cuộc đời. Những người đẹp Thăng Long đã có lúc làm ông bừng lên niềm vui tươi lạc quan nhưng thời thế và đặc biệt thời gian hình như không muốn thế! Thăng Long sau hai mươi năm cách biệt những cô gái Thăng Long sau hai mươi năm cách biệt:

Nghìn năm dinh thự thành quan lộ

Một dải tân thành lấp cố cung

Người đẹp thuở xưa nay bế trẻ

Bạn chơi thuở nhỏ thảy thành ông

Thâu đêm chẳng ngủ lòng thêm bận

Địch thổi trăng trăng tiếng não nùng

(Quách Tấn dịch - S.đ.d)

Bình phẩm Nguyễn Du tôi không dám lạm bàn. Tôi chỉ thích thú với ý nghĩ rằng: Cụ Nguyễn Du của chúng ta đã từng yêu và được bao nhiêu cô gái đẹp Thăng Long yêu cụ yêu Thăng Long và nhờ tình yêu mà thăng hoa thành nhiều bài thơ mà dân mình truyền tụng. Cho một tình yêu ngàn năm Thăng Long cụ Nguyễn cũng dự phần.

                                                                        H.K

Sách tham khảo

- Thơ chữ Hán Nguyễn Du - NXB văn học H.1988

- Ba trăm năm lẻ - Vũ Ngọc Khánh - NXB Lao động H 2005

- 101 giai thoại về phụ nữ Việt Nam - Hoàng Khôi - NXB phụ nữ H.1978.

Đôi lời thưa lại ông Trọng Miễn

                                                               NGUYỄN MINH KHIÊM




 

       Thưa ông Trọng Miễn!

Cứ cho là ông không còn nhớ thể loại văn viết thư được học từ lớp bốn ngày xưa lá thư được mở đầu như thế nào chữ nghĩa tự nhiên nhảy tót vào trang giấy tôi vẫn đọc rất cẩn thận bài "Thư ngỏ..." ông gửi cho tôi được in trên tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh tháng 3-2010. Tôi cũng có may mắn được đọc một số bài dưới dạng thư ngỏ này trên các báo Văn nghệ và một vài tờ báo khác. Tiếng là thư nhưng thực chất nội dung là bàn dến các vấn đề học thuật. Nói rõ ra là bên A người gửi thư dùng vốn học vấn uyên bác của mình chỉ bảo cho bên B người được đọc thư những chỗ non yếu sai lệch chưa chính xác về một vấn đề nào đó. Tình cảm thanh minh ở trong thư chỉ là chuyện nhỏ. Tóm lại tác giả muốn thể hiện mình là bậc thày là thày hơn người nhận thư một cái đầu. Tôi biết người khôn nói trăm câu cũng có câu sai. Nhọn như cái kim đít cũng có lỗ thủng. Ngọn rau non cái gốc nó cũng già. Chính vì thế khi đọc thư ông viết dài đến gần 5 trang thì mừng lắm. Người xưa chỉ được người khác chữa có một chữ trong bài thơ mà cả đời bái họ làm thày để bây giờ có câu "Nhất tự vi sư". Gần năm trang ngỏ của ông chắc mình phải bái tạ ông mấy lần thày cho đủ? Nhưng càng đọc càng thất vọng. Tìm lấy một chữ để bái làm thày cũng không! Gần 5 trang in không hề dính đến học thuật. Tiếng là thư ngỏ nhưng chỉ toát lên một vấn đề ông dị ứng thơ văn Đắc muốn hắt thơ Văn Đắc đi muốn bôi tro trát trấu vào thơ Văn Đắc. Từng câu từng chữ đều toát lên ông đố kỵ với Văn Đắc. Ông giãy nảy lên khi ai đó khen thơ Văc Đắc. Không chỉ thế ông nghi ngờ kiến thức của họ. Nhưng từ trước tới nay ông không biết xả oi bức bằng cách nào? Ông bà bảo hay khen hèn chê. Cá thưởng thức theo kiểu của cá. Sâu thưởng thức theo kiểu của sâu. Chim thưởng thức theo kiểu của chim. Chả ai cấm ai. Cả nước hiện có trên năm trăm tờ báo ra mỗi ngày. Ngay Thanh Hóa cũng không thiếu chỗ thả chữ múa bút. Người có bản lĩnh đủ tự tin về tri thức đủ độ chín về tư duy đủ lý luận đủ sự am hiểu đặc biệt là có lòng tự trọng và nhân cách thì không phải đợi đến bài của tôi in trên tạp chí Xứ Thanh "Văn Đắc và nghệ thuật găm thơ vào người đọc" mới xả được cái ấm ức của mình. Nhưng giếng sâu sợi dây thừng ngắn. Mọi ngôn ngữ của ông không chạm tới đáy. Con dao mổ trong tay ông chưa đủ khả năng để tách bóc từng tia từng mạch từng lớp từng thùy của các vấn đề chữ nghĩa.

Tôi xin có đôi lời thưa lại với ông!

Đúng là ông không đọc kỹ không hiểu đúng bài "Văn Đắc và nghệ thuật găm thơ vào người đọc" của tôi. Vì viết bằng định kiến nên bài của ông lạc hẳn nội dung bài viết của tôi. Xin nhắc lại là lạc hẳn. Tạm chia bài viết của ông thành hai phần chính: Phần một ông chê tôi khen thơ Văn Đắc không đúng; và ông bất bình vì một số lời bình của tôi. Phần hai ông tập trung vào Trường ca "Tôi người Thanh Hóa" của Văn Đắc lý giải về cái ngông cái kiêu ngạo. Rất đầu ngô mình sở! Trong bài viết này tôi chỉ xin thưa lại những chỗ ông nói trực tiếp đến tôi thôi. Phần nào không liên quan tôi không bàn tới.

Thưa ông Trọng Miễn! Đối tượng nghiên cứu phân tích làm rõ của tôi không phải cái hay cái đẹp nghệ thuật cơ bản tính mỹ học của ngôn ngữ hay trường ca của Văn Đắc. Đối tượng nghiên cứu của tôi chỉ bó hẹp trong một rãnh nghệ thuật đó là: Nghệ thuật găm thơ vào người đọc của Văn Đắc mà thôi. Nó là thủ thuật là cái mẹo cái cách là cái ngón nghề để làm sao người khác nhớ được thơ mình. Sự lập đi lập lại cái ngón nghề này thành hệ thống có ý đồ trở thành bút pháp thi pháp sáng tạo riêng của Văn Đắc. Ông quan niệm không cần nhiều mỗi bài người khác nhớ được một vài câu là đạt rồi. Cái triết lý ấy được tôi đúc kết cho ông: Một câu sáng rạng cả bài. Và tôi đã tập trung chứng minh ông đã làm như thế. Rõ nhất là từ tập thơ "Trái tim dọc đường" xu hướng này chi phối gần như toàn bộ sáng tác của ông. Trong bài viết tôi cũng nói rất cặn kẽ cái được cái mất cái mạnh cái yếu cái ưu cái nhược của thủ thuật này. Đơn giản vậy thôi. ấy vậy mà không hiểu sao ông Trọng Miễn cứ nổi đóa lên long sòng sọc lên đến nỗi chẳng còn làm chủ được ngôn ngữ của mình nữa. Xét về bản chất vấn đề thiết nghĩ như thế là quá rõ rồi. Bài viết có thể dừng ở đây đã trọn vẹn. Nhưng nói như thế sợ ngái quá. Xin bạn đọc cho tôi nói gần cùng ông Trọng Miễn một chút.

Sau khi dẫn một đoạn viết của tôi có dẫn có bình những câu thơ của Văn Đắc ông Trọng Miễn kết "Những câu thơ mà Nguyễn Minh Khiêm dẫn trong đoạn viết vừa rồi thì theo thiển ý của tôi chỉ là những câu thơ trung bình đọc được. Những câu thơ xuất sắc hoặc những bài thơ xuất sắc phải là những câu những bài độc đáo có khám phá phát hiện mới cả về nội dung và nghệ thuật biểu hiện". Thứ nhất thơ là tiếng nói của tâm trạng nỗi niềm sự chiêm nghiệm. Người không có tâm trạng nỗi niềm sự từng trải làm sao hiểu được chia sẻ được. Nó làm cho người ta vô cảm. Tất nhiên thiếu học vấn cũng dẫn đến vô cảm. Thứ hai thường có hai kiểu chê. Một kiểu là thày chê trò. Chê trò hát không hay múa không đẹp thày hát mẫu ngay múa mẫu ngay. Hơn thế thày chỉ ra cơ sở lý luận cơ sở khoa học chỉ ra các tiêu chí tiêu chuẩn cho trò thấy. Kiểu chê thứ hai là khán giả chê ca sĩ nghệ sĩ hát múa không hay. Nhưng chỉ ra không hay chỗ nào thì chịu. Cùng lắm thì khùng lên. Bảo hát mẫu múa mẫu. Chịu. Cứ chê theo kiểu khán giả thế này thì cùng một lúc có thể chê mười lăm hai mươi người. Giá như thay bằng chê suông ông dẫn ra một vài câu mà theo ông là chuẩn mực của thi ca thì không riêng tôi nhà thơ Văn Đắc mà những người làm thơ mang ơn biết bao nhiêu. Cho tôi bái ông thêm một bái sau khi ông chê tôi dẫn những câu thơ của Văn Đắc mà ông xếp vào loại trung bình thì được ông hé lộ bài xuất sắc là bài thơ "Mẹ Suốt của Tố Hữu là một ví dụ"! Thưa ông đây là bài thơ mà Tố Hữu vận dụng thể loại vè vùng Bình Trị Thiên để làm. Nghệ sĩ Châu Loan rất nổi tiếng khi thể hiện bài thơ này dưới làn điệu dân ca vè của chính xứ ấy. Ông chê bài Làng Sơ Tán của Văn Đắc được Tuần báo Văn nghệ trao giải Ba năm 1971-1972 là thơ phong trào thơ sự kiện tuyên truyền. Ông có ý thức được bài Mẹ Suốt là một câu chuyện bằng thơ? Và Tố Hữu làm chủ yếu là để tuyên truyền? Xa hơn Tố Hữu còn có bài Bà Bủ Bà má Hậu Giang cũng cùng một mô tuýp này tiếc là ông không dẫn cùng bài Mẹ Suốt một thể.

Ông viết về tôi "Đã nhiều đoạn anh viết như một học trò trả nghĩa thầy...". Tôi hiểu sự mỉa mai khi ông nói đến đạo lý làm người thưa ông Trọng Miễn! Con chim ăn quả khế con chim còn biết trả một cục vàng. Không biết ông có được học với thày giáo giỏi nào không và ông đã viết trả nghĩa với người nào là thày giáo mình chưa? Tôi thật vinh dự tự hào vì trong đời có thày giáo đồng thời là một nh

More...

VĂN HÓA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THƯƠNG HOA HỘI QUÁN


MỘT CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC NGHỆ

THUẬT ĐỘC ĐÁO

                                                       Thạc sỹ sử học VŨ THỊ HƯỜNG

                                                Ban Quản lý di tích-danh thắng Thanh Hóa


 

Trấn lỵ Thanh Hoa xưa và Thương Hoa Hội quán

Thương Hoa Hội quán trước đây nằm ở giáp Đông Phố của trấn lỵ Thanh Hoa ngày nay là số 248 phố Trần Phú phường Ba Đình thành phố Thanh Hóa.

Thanh Hóa bước vào thế kỷ XIX là sự bắt đầu với việc xây dựng trấn lỵ Thanh Hoa mới. Nó không còn thuần khiết là một trấn lỵ hàng tỉnh thông thường như trước đây mà hình thành nên một trung tâm Chính trị - Kinh tế - Văn hóa tiếp cận với văn minh hiện đại.

Năm 1804 Gia Long cho thành lập trấn lỵ Thanh Hoa mới chuyển từ làng Dương Xá (Làng Giàng) ở huyện Đông Sơn về làng Thọ Hạc và cho xây dựng Hạc Thành.

Đây là một vùng đất rộng cao ráo có điều kiện phát triển lâu dài và mở rộng xung quanh có các làng nghề như: Đức Thọ Vạn làm đồ sành sứ nổi tiếng trong nước làng Nghĩa Phương làm nồi đất làng nghề đục đá núi Nhồi nổi tiếng trong và ngoài nước. Chính các làng cổ làng nghề thủ công cổ truyền thống này đã tạo cho trấn lỵ mới thế mạnh về vành đai làng nghề thủ công tạo điều kiện cho phát triển kinh tế thương nghiệp. Mặt khác Thọ Hạc nằm trên trục đường bộ chính nối liền Nam - Bắc "con đường thiên lý" cũng là đầu mối của các phủ huyện trong tỉnh. Ngoài ra còn có mạng lưới đường thủy với sông ngòi lớn nhất là hệ thống sông Mã và các cửa sông biển đảo quan trọng (Hội triều Y Bích...) vì thế nơi đây thường có thuyền buôn của người nước ngoài neo đậu vào buôn bán trong đó có các thương nhân Hoa kiều. Tuy nhà Nguyễn thực hiện chính sách "bế quan tỏa cảng" nhưng đối với thương nhân Hoa kiều thì lại được tự do buôn bán vì thế đến thế kỷ XIX ở xứ Thanh giao thương phát triển chợ búa được mở lớn nhất là chợ Tỉnh rồi chợ phiên ở các làng xã và hình thành những trung tâm buôn bán của thương nhân Hoa kiều với các mặt hàng chủ yếu là: bánh kẹo sáp nến thuốc bắc hay những quán mỳ vằn thắn... đặc biệt có các cửa hàng lớn như: Tân Thành Vinh Phúc Hưng Nhân Hòa đường... Ngoài việc buôn bán thương nhân Hoa kiều ở đây còn đứng ra chiêu mộ dân phu để khai thác mỏ bạc ở châu Lang Chánh (Thanh Hóa) như Cao Hoàng Đức Hoàng Quế Thành v v... Chính vì sự lớn mạnh của người Hoa kiều về cả số dân và sự phát triển kinh tế như vậy đòi hỏi phải có nơi để họ gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm cũng như giao lưu sinh hoạt văn hóa cộng đồng vì thế Thương Hoa Hội Quán được hình thành.

Đây là nơi hội họp giao lưu sinh hoạt văn hóa cộng đồng của thương nhân Hoa kiều ở Thành phố Thanh Hóa. Trung đường - nơi chính của Hội quán người ta thờ Quan Công (Quan Vân Trường) người hội đủ các yếu tố: Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín theo chuẩn mực của người quân tử trong học thuyết Nho giáo. Vì vậy Hoa Thương Hội quán có công năng tương tự như Đình làng của người Việt. Ngoài ra người ta còn thờ Phật và có thể còn có cả "Tứ vị Thánh Nương" nhưng đó là phối thờ. Đến nay chưa tìm thấy tài liệu nào ghi lại thời gian xây dựng Thương Hoa Hội quán chỉ còn các bia "Trùng kiến Hoa Thương Hội quán bi ký" và "Tổn đề phương danh vĩnh lai bất hủ" và chữ trên một vài mảnh gỗ cho biết thời gian trùng tu Hội quán lần cuối vào năm Thành Thái thứ 8 tương ứng với triều vua Quang Tự 23 Nhà Thanh (1896).

Một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo

Thương Hoa Hội quán - Một kiểu thức kiến trúc Trung Hoa truyền thống bao gồm các hạng mục sau: Tam Quan Tiền đường Tháp Nghinh Phong Trung đường và Hậu cung. Với lối kết cấu vì kèo kiểu "chồng rường giả thủ" các rui gỗ được xẻ cong thể hiện kỹ thuật khéo léo tạo cho phần Hiên và giải Vũ có kiến trúc vòm cuốn (vỏ cua) rất đẹp. Mái lợp ngói ống theo lối (âm dương) phần đầu của ống ngói được bịt bằng sứ men xanh ngọc bích nổi lên hình hoa lá đẹp và trang nhã. Đường tàu đính các lèo gỗ có hoa văn tinh xảo thể hiện tài năng kiệt xuất của các nghệ nhân làm ra chúng hai bên tường vỉ đựợc đắp kiểu (giả sơn).

Tuy Thương Hoa Hội quán đã bị xuống cấp nghiêm trọng cả phía trong và phía ngoài. Nhưng hình dáng của kiến trúc cũng như các cấu kiện được làm bằng gỗ lim kết hợp với đá nguyên khối ngói ống được kết hợp giữa đất nung và sứ tráng men... cho thấy đây là một công trình kiến trúc độc đáo một tài sản - di sản quý. Thương Hoa Hội quán được xây dựng trên một địa thế bằng phẳng rộng rãi nằm ở trung tâm của trấn lỵ Thanh Hóa trước đây và là trung tâm của thành phố Thanh Hóa ngày nay kết hợp được cả thuyết phong thủy và tụ thủy có thế "rồng cuốn hổ chầu". Toàn bộ hệ thống công trình của Hoa Thương Hội quán được kiến trúc theo thuật phong thủy của người Trung Hoa đó là các kiến trúc theo "Ngũ hành (gồm 5 hạng mục: Tam quan; Tiền đường; Tháp Nghinh phong; Trung đường và Hậu cung) âm dương: (có tháp đón nắng gió trời lại có bể nước và hòn non bộ có Pháp Vũ và Pháp Lôi đậy bờ đắp giả sơn có sân được xem là "giếng trời"... tất cả nhằm điều hòa âm dương tạo cho Hội quán vừa thoáng mát về mùa hè và ấm áp vể mùa đông)". Ngoài ra Hội quán còn được xây dựng theo lối kết cấu kiến trúc "tam môn tứ trụ" đó là Tam quan; ba cửa ngách và cứ 4 cột thì tạo thành một kết cấu kiến trúc đứng độc lập.

Phóng tầm nhìn ra xa một chút ta thấy: Thương Hoa Hội quán phía trước mặt thì nhìn ra sông cầu Cốc đây là nơi tụ thủy của 3 con sông (Phía bên phải là sông nhà Lê chảy qua Bố Vệ đến Lai Thành thì hòa vào nước sông Cốc phía bên trái thì có sông cầu Sâng gặp sông cầu Cốc ở cầu Bốn voi). Còn phía sau lưng thì tựa vào thế núi Nhồi (Đông Sơn). Trước mặt nhìn về nguồn nước nơi khởi thủy của cuộc sống con người nơi phát sinh ra sự sống mong muốn làm ăn phát đạt giàu có như thủy triều lên sau lưng lại tựa vào thế núi vững chãi thế hổ phục mong muốn cuộc sống an lành sung túc.

Giá trị lịch sử của Thương Hoa Hội quán

Thời kỳ Trung Hoa kháng Nhật (1939 - 1945) dưới sự lãnh đạo của Mặt trận đồng minh chống phát xít Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa ủy ban vận động quần chúng ở Thanh Hóa đã phát động nhân dân quyên góp ủng hộ nhân dân Trung Hoa chống Nhật thông qua các hội tương tế ái hữu các cơ sở hội Thanh niên học sinh những người buôn bán... đã quyên góp tiền và lấy chữ ký biểu thị sự đồng tình ủng hộ nhân dân Trung Hoa kháng Nhật. Đặc biệt là ngày 7 tháng 7 năm 1939 tại Thương Hoa Hội quán đã diễn ra cuộc mít tinh lớn thu hút 5600 người của các huyện lân cận và nhân dân Thị xã Thanh Hóa tham dự Thay mặt Đảng bộ tỉnh và nhân dân Thanh Hóa đồng chí Bùi Đạt đọc diễn văn ca ngợi tinh thần kháng chiến anh dũng của nhân dân Trung Hoa và bày tỏ tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân Thanh Hóa với nhân dân Trung Hoa anh em. Thông qua đại diện Hoa kiều ở Thanh Hóa đồng chí Bùi Đạt đã trao số tiền 108 đồng bạc Đông Dương và hàng trăm lá thư với hàng nghìn chữ ký nhờ chuyển về cho nhân dân Trung Hoa. Cuộc mít tinh giành được thắng lợi ngay sau đó đồng chí Bùi Đạt đã bị chính quyền thuộc địa bắt giam nhằm ngăn cản làn sóng đấu tranh. Nhưng làn sóng đấu tranh không những không bị dập tắt mà còn trở nên mạnh mẽ hơn ở khắp các địa phương với các phong trào đòi thả đồng chí Bùi Đạt v.v...

Như vậy Thương Hoa Hội quán không chỉ có giá trị về kiến trúc mà nó còn có giá trị về lịch sử. Vì thế việc trùng tu tôn tạo Thương Hoa Hội quán là việc cần thiết bởi xứ Thanh chúng ta muốn được như Hà Nội Huế Hội An Sài Gòn... Bên cạnh những di tích ghi lại dấu ấn của cộng đồng người Việt lại có những kiến trúc mang dấu ấn của người nước ngoài trên đất Việt thì càng làm cho vẻ đẹp của xứ Thanh thêm phong phú và đa dạng hơn nhằm thu hút khách du lịch và vốn đầu tư của các doanh nhân trong và ngoài nước để xây dựng và phát triển Thanh Hóa ngày càng giàu đẹp hơn trong tương lai.

                                                                                     V.T.H

More...