KỶ NIỆM 85 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21-6-1925 - 21-6-2010)

By Văn Nghệ Xứ Thanh

CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HÔM NAY MẠCH NGUỒN

ĐỀ TÀI CHO CÁC NHÀ BÁO

                                                              TS CHU THÁI THÀNH

                                          Vụ trưởng Vụ Văn hóa - Xã hội tạp chí Cộng sản



 

    "Vùng nguyên liệu gốc" cho báo chí

Báo chí muốn phản ánh những vấn đề nóng hổi những sự kiện có ý nghĩa về văn hóa chính trị kinh tế quốc phòng an ninh nhất thiết phải bám sát tiến trình đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Bởi vì báo chí là ngôn ngữ của cuộc sống là tiếng nói của cuộc sống đề cập các mặt của đời sống trên quan điểm đường lối của Đảng và đề cập đường lối quan điểm của Đảng trên cơ sở gắn chặt với cuộc sống.

Nhà báo muốn phát huy được vai trò của mình tất yếu phải đi sâu vào công cuộc đổi mới vào phong trào của quần chúng để tìm hiểu và nắm vững tình hình mọi mặt của đời sống. Đây là một nguyên tắc quan trọng đặt ra đối với nhà báo. Xét cho đến cùng thì mạch nguồn vô tận của mọi đề tài cho nhà báo là hành động sáng tạo hằng ngày của hàng triệu quần chúng. Hoạt động của quần chúng mới là "vùng nguyên liệu" gốc của báo chí. Những tác phẩm báo chí hay là phản ánh được cuộc đấu tranh phong phú sôi động của quần chúng phản ánh được những con người cụ thể và những suy nghĩ của những con người cụ thể ấy trong cuộc đấu tranh để giải quyết những quan hệ khác nhau trong tiến trình của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa. Có nhà báo lão thành đã nhấn mạnh: không phải "đi" mà phải "sống". Sống trong cuộc sống. Bởi vì thực tế cuộc sống đầy rẫy những phức tạp bộn bề và luôn biến động... Nhà báo không chịu lăn lộn thực tế ngại khó ngại khổ sống hời hợt; đi vào đời sống mà cưỡi ngựa xem hoa thì khác nào người chỉ thấy rừng mà không thấy cây. Nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng nói: Làm văn cần có ba sự nhiều: đọc nhiều nghị luận nhiều trước thuật nhiều. Ông còn khuyên: Trong bụng không có được ba vạn quyển sách trong mắt không có được núi sông kỳ lạ của thiên hạ thì chưa chắc đã làm được văn... Đặc trưng nghề nghiệp của nhà báo cũng vậy. Phải đi nhiều nghe nhiều biết nhiều mới có thể viết được nhiều tác phẩm báo chí đúng trúng và hay.

Nhà báo thường xuyên đi vào thực tiễn của công cuộc đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa để nghiên cứu sáng tạo và không ngừng nâng cao vốn sống. Tất cả các ấn phẩm báo chí đều có một đặc điểm chung là xuất phát từ thực tiễn và phục vụ thực tiễn. Đánh giá một nhà báo một bài báo chúng ta dựa vào vào nhiều tiêu chuẩn nhưng tiêu chuẩn quan trọng nhất là nhà báo bài báo đó có đáp ứng một nhu cầu thực tiễn nào đó của công chúng hay không. Báo chí chỉ có gắn liền với thực tiễn phục vụ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm mới bắt rễ trong đời sống trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng và thực sự là món ăn tinh thần của nhân dân. Không có thực tiễn thì không có lý luận khoa học. Tất nhiên lý luận khoa học còn có vai trò dẫn đường dự báo song sự dẫn đường dự báo cũng chính là dẫn đường cho thực tiễn dự báo xu hướng phát triển của thực tiễn.

Không ngừng rèn luyện tích lũy kiến thức thực tiễn

Đối với nhà báo đương nhiên phải học tập lý luận trau dồi nghiệp vụ nhưng nắm bắt thực tiễn trong đó có thực tiễn đời sống là một vấn đề hết sức quan trọng. Dù có trình độ lý luận cao nhưng không đi sát cuộc sống không hằng ngày hằng giờ quan sát suy nghĩ những gì đang diễn ra trong thực tiễn thì không thể có những đề tài hay càng không thể có những bài báo hấp dẫn bạn đọc. Nhà báo nếu chỉ ngồi ở tòa soạn hoặc rất "bí" đề tài hoặc tạo nên những "phóng sự xa lông". Nhà báo đi ra đồng ruộng vào nhà máy lên rừng xuống biển tiếp xúc và trao đổi ý kiến với nông dân công nhân trí thức bộ đội và mọi ngành mọi giới mọi tầng lớp nhân dân... mới thấy vô vàn đề tài có thể tích lũy làm vốn sống làm tư liệu phong phú cho các bài báo.

Theo Cơ-rúp-scai-a thì Lê-nin đã từng đánh giá Mác-tốp coi đó là một nhà báo điển hình là một người hết sức nhạy bén. Nhờ đó mà Mác-tốp đã nắm được những gì đã xảy ra trong quần chúng và ở các địa phương có ý thức với những vấn đề nóng hổi biết sống với những vấn đề đó. Có nhà báo lão thành đã nói về nhiệm vụ của nhà báo rằng: Họ bao giờ cũng có mặt vào lúc cần có mặt là người thường nắm được tình hình thấy ngay tức khắc từng triệu chứng nhỏ nhất và bất cứ lúc nào cũng thu thập tư liệu cá nhân. Nhà báo thường xuyên có ý thức vươn lên để nắm vững những vấn đề nóng hổi nhất phản ánh những sự kiện có ý nghĩa nhất và sáng tạo những tác phẩm có giá trị nhất. Vì thế nhà báo cần không ngừng nghiên cứu thực tế công cuộc đổi mới. Càng đi vào đời sống "luôn luôn xanh tươi mặc dù sương gió" nhà báo càng sáng tạo ra nhiều tác phẩm báo chí có tính lý luận và thực tiễn cao. Đương nhiên đi sâu vào đời sống nhưng không biết tích lũy vốn sống thì vẫn thiếu vốn sống. Nhìn vào thực tế biết phân tích đâu là bản chất của tình hình những biểu hiện cụ thể của bản chất ấy. Muốn vậy nhà báo lăn lộn trong phong trào cách mạng bám sát đời sống thực tiễn ghi chép tư liệu tránh tác phong hời hợt đại khái chung chung. Nhà báo không thể chỉ khoanh vùng trong bằng cấp mà học hỏi để đến mức "cái gì cũng phải biết" và "biết tất cả mọi việc" như Lê-nin đã dạy.

Đối với nhà báo chúng ta thì lập trường phương pháp kiến thức thực tế hòa với nhau làm một tạo nên phẩm chất và tài năng của họ. M.Goóc-ki sau khi nói về trái tim của người viết hướng về đâu đã có nhận xét: ở đâu thiếu sự hiểu biết chính xác thì sự phỏng đoán sẽ hoành hành mười lần đoán thì chín lần sai đã sai thì không thể nào gọi là có "lập trường" được. Nhà báo rất cần bám sát công cuộc đổi mới để có vốn sống phong phú. Vốn sống là một thứ kiến thức đặc biệt mà không một thứ kiến thức sách vở nào có thể thay thế được. Bê-lin-sky cũng có ý nói rằng: Khoa học sách vở chưa đầy đủ nếu thiếu khoa học của cuộc sống. Vốn sống là yếu tố không thể thiếu đối với nhà báo. Vì vốn sống là sự cảm thụ trực tiếp và sự hiểu biết của người viết. Sống trong thực tiễn hòa mình với thực tiễn để không ngừng nâng cao vốn sống là một đức tính không thể thiếu của nhà báo. Chúng ta gọi những "nhà báo từng trải" chính là những người có vốn sống phong phú. Mỗi nhà báo thường được tòa soạn phân công theo dõi trên một lĩnh vực riêng. Cho nên không chỉ vươn lên hiểu biết mà bản thân nhà báo còn "có cuộc sống thật" "vốn sống mới" về lĩnh vực đó.

Sứ mệnh của nhà báo là phản ánh chân thật và nhanh nhạy sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước. Điều này đòi hỏi họ luôn luôn phải sống ở đầu nguồn của tin tức nghĩa là sống ở các cơ sở của hạ tầng xã hội. Bác Hồ dạy: "Muốn viết báo thì cần: gần gũi quần chúng cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực". Quá trình đi thực tế là quá trình quan trọng nhất trong việc lấy thông tin là quá trình mà nhà báo "đi đến xem xét mà thấy" như Bác Hồ đã dạy. Điều tra nghiên cứu cẩn thận nhà báo mới có thể nắm được bản chất của sự vật hiện tượng và phản ánh mới sâu sắc tránh được sự lẫn lộn các sự việc con số thành tích và hạn chế.

Đi sâu vào thực tiễn công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa để rèn luyện tích lũy kiến thức là một công việc quan trọng của nhà báo. Kết quả của mỗi chuyến đi thực tế của quá trình tích lũy thường xuyên của họ tạo nên bề dày và chiều sâu trong lao động và sáng tạo ra các sản phẩm báo chí có giá trị cao. Đời sống có nhiều mặt khai thác và đi sâu tìm hiểu mặt nào điều đó tùy ở sự lựa chọn của mỗi nhà báo và sự lựa chọn đó được quyết định bởi phẩm chất và năng lực của mỗi người.

Những phẩm chất và năng lực không thể thiếu

Để làm tốt hơn chức năng là người lính xung kích của Đảng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa trong thời kỳ mới công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới nhà báo cần có những phẩm chất và năng lực sau:

Một là say sưa nghiên cứu tìm hiểu và cắt nghĩa cái mới trong công cuộc đổi mới. Bác Hồ dạy viết cho chân thật sinh động và hùng hồn. Bài viết hùng hồn là bài viết với tất cả nhiệt tình của nhà báo nhằm khẳng định cái đúng phủ định cái sai kêu gọi hành động cách mạng. Bài viết của nhà báo không phải với tư cách là "người làm chứng" mà với tư cách là người tham gia tích cực vào cuộc sống. Lòng nhiệt tình của nhà báo hướng theo đường lối đổi mới phát triển kinh tế văn hóa của Đảng cổ vũ thiết tha cho việc thực hiện đường lối đó. Nghiên cứu tìm hiểu cái mới trong sự nghiệp đổi mới là điều rất cần nhưng rất khó. Tìm được điển hình mới đại diện cho xu thế mới của công cuộc đổi mới đã khó nhưng khó hơn là làm sao cắt nghĩa được những sự kiện mới ấy và từ đó rút ra những bài học có tính phổ biến. Điều đó đòi hỏi mỗi nhà báo say sưa nghiên cứu sẵn sàng lao vào cái mới vào mũi nhọn của cuộc sống để nắm vững tình hình mọi mặt của quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Hai là xông xáo và sâu sát với công cuộc đổi mới đến tận nơi xảy ra sự việc mắt thấy tai nghe tại chỗ. Như vậy nhà báo cần có tinh thần dũng cảm dám xông vào những nơi khó khăn gian khổ và nguy hiểm nhất nhưng cũng là nơi đầy những sự tích hào hùng của nhân dân. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể viết được những bài báo hay có sức thuyết phục cao. Có tác phong sâu sát chưa đủ nhà báo hết sức coi trọng việc rèn luyện một phong cách làm việc tỷ mỉ cụ thể chính xác và thận trọng. Thực tiễn công cuộc đổi mới vô cùng phong phú và phức tạp. Nhà báo tiếp xúc với sự kiện thường chỉ chứng kiến một phần của quá trình diễn biến trong một khoảng thời gian và không gian có hạn. Nếu không quan sát chặt chẽ sâu sát thì khó có thể thu thập được những tài liệu cần thiết và đầy đủ để phản ánh đúng thực chất của sự việc đồng thời lại phải qua tư duy của nhà báo để thẩm tra tính hợp lý tính khoa học của tư liệu. Nhà báo bám sát thực tiễn mà hời hợt thì khi viết thường mắc phải ba tình huống: hoặc là đưa ra những vấn đề thiếu chính xác sai sự thật; hoặc bịa đặt để bù vào chỗ thiếu; hoặc không có tình tiết cụ thể chỉ nêu ra những luận lý chung chung.

Ba là nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật tinh thần tập thể và tính chủ động sáng tạo trong biên tập viết bài. Trong khi đi vào thực tiễn đời sống các nhà báo có những hoạt động riêng nhưng không phải là một cá thể "độc lập" với mọi tổ chức xung quanh đồng thời họ là một bộ phận của cơ cấu tập thể rất chặt chẽ đó là các ấn phẩm báo chí. Chính vì thế nhà báo cần có tinh thần trách nhiệm tập thể ý thức tổ chức kỷ luật và tính chủ động sáng tạo cao mới có hiệu quả trong khi đi thực tế. Bài viết là của cá nhân nhà báo tờ báo lại là tiếng nói của tập thể. Vì thế bản thân mỗi nhà báo phấn đấu sao cho tiếng nói của mình ăn khớp với tiếng nói của tập thể làm phong phú thêm tiếng nói của tập thể nhất thiết không được đi ngược lại. Trên cơ sở phát huy cao tinh thần trách nhiệm tập thể cá nhân nhà báo còn phát huy tinh thần chủ động sáng tạo. Cách mạng là sáng tạo chân lý là cụ thể. Nhà báo đi vào thực tế với tinh thần chủ động sáng tạo mới có thể nhìn ra chân lý cụ thể. Cho nên nhà báo có tinh thần chủ động và sáng tạo là luôn vươn tới những chân trời mới mỗi bài viết là một công trình sáng tạo mỗi chuyến đi thực tế là một cuộc quan sát nghiên cứu nghiêm túc. Bất kỳ một tin bài điều tra phóng sự hay một chuyên luận nào có giá trị đều là một sự sáng tạo từ thực tiễn. Chủ động đi vào thực tiễn và sáng tạo là công việc không cùng của nhà báo. Đó là quá trình rèn luyện phẩm chất năng lực quá trình "đãi cát tìm vàng" gian khổ chứ không phải là kết quả của một giấc mơ bắt được vàng của nhà báo.

Bốn là tôn trọng sự thật khách quan là một phẩm chất rất quan trọng của nhà báo. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Không tôn trọng sự thật khách quan thì nhà báo không thể tìm đến sự thật. Con đường đi đến và tìm thấy bản chất sự vật là con đường gian khổ chông gai. Điều này đòi hỏi nhà báo nắm vững phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin tư tưởng Hồ Chí Minh đường lối chính sách của Đảng ta mới có khả năng đánh giá phân tích các vấn đề của hiện thực khách quan. Bạn đọc rất tin ở báo chí không ngoài mục đích nào khác là phục vụ công cuộc đổi mới cổ động xây dựng đời sống văn hóa mới đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Vì thế nhà báo cố gắng hết sức mình để phản ánh chân thật và hùng hồn công cuộc xây dựng đất nước xứng đáng với lòng tin cậy của nhân dân.

Năm là năng động và nhạy bén để phản ánh những vấn đề nóng hổi nhất có ý nghĩa nhất với chất lượng cao nhất là một đòi hỏi rất cao đối với nhà báo. Các ấn phẩm báo chí hiện nay không cho phép chậm trễ thời gian là một phần chất lượng. Tính năng động sự nhanh nhạy tinh thần hăng say lao vào thực tế cuộc sống chính là một biểu hiện của năng khiếu làm báo. Khi nói về tờ báo Tiến lên Lê-nin đã cho rằng điều chủ yếu là sự sốt dẻo ấn tượng sốt dẻo. Không có sự năng động và nhạy bén của nhà báo thì không thể có "sự việc sốt dẻo" và gây "ấn tượng sốt dẻo" cho người đọc.

Thực tiễn là gốc của lý luận là tiêu chuẩn của chân lý và cũng là nguồn cảm hứng vô tận của sáng tạo tác phẩm báo chí. Vốn thực tiễn cùng với lý luận là tài sản vô giá của mỗi nhà báo. Đối với nhà báo việc bám sát thực tiễn công cuộc đổi mới nắm vững tình hình mọi mặt của sự phát triển đất nước là tiền đề rất cơ bản để phát huy tài năng sáng tạo phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

                                                                                     C.T.T



 

BÁO CHÍ THANH HÓA VỚI VIỆC TUYÊN TRUYỀN

VỀ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

                                                                  NGUYỄN THANH PHƯƠNG



        ở Việt Nam nông nghiệp nông dân nông thôn có vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong 24 năm qua nông nghiệp nông dân nông thôn đã đi trước mở đường quá trình đổi mới tạo điều kiện để đất nước vươn lên. Chính vì vậy Đảng ta luôn thể hiện rõ chủ trương chiến lược nhất quán đối với nông nghiệp nông dân và nông thôn từng bước xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết hội nghị T.Ư 7 khóa X "về nông nghiệp nông dân nông thôn" đã chỉ rõ: "Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt" khơi dậy nguồn động lực to lớn trong nhân dân.

Thanh Hóa là một tỉnh lớn thuộc Bắc miền Trung có tổng diện tích tự nhiên 11.133 41 ki lô mét vuông dân số là 3.411.000 người. Trong những năm qua cùng với sự phát triển chung của cả nước nông nghiệp nông dân nông thôn Thanh Hóa có bước phát triển mạnh với những thành tựu quan trọng. Nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá cơ cấu cây trồng vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực; Giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng nhanh; Nông thôn đã có bước khởi sắc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư xây dựng; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn từng bước được cải thiện; Công tác xóa đói giảm nghèo giải quyết việc làm đạt kết quả đáng mừng; Hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường quyền dân chủ được phát huy an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội nông thôn được giữ vững.

Đồng hành cùng nông nghiệp nông dân nông thôn đội ngũ phóng viên biên tập viên các cơ quan báo chí Thanh Hóa đã có mặt ở các vùng miền tìm hiểu các lĩnh vực sâu sát gần gũi với nông dân tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; Phản ánh thực trạng tâm tư nguyện vọng của nhân dân góp phần mình vào việc tuyên truyền các đường lối chủ trương chính sách của Đảng về các vấn đề trên lĩnh vực nông nghiệp nông dân nông thôn. Đây là một nội dung quan trọng được các cơ quan báo chí trong tỉnh dành thời lượng đáng kể để tổ chức tuyên truyền. Các chuyên trang chuyên mục về nông nghiệp nông dân nông thôn trên báo cũng như trên phát thanh truyền hình của tỉnh ngày càng nhiều với những đề tài phong phú đa dạng bằng các thể loại báo chí phù hợp tạo được hiệu ứng xã hội tích cực. Trong quá trình tuyên truyền báo chí Thanh Hóa đã tập trung vào các vấn đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng quản lý của Nhà nước phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị ở nông thôn; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH HĐH xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại gắn với phát triển mạnh nghề tiểu thủ công nghiệp dịch vụ ở nông thôn; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi phát triển kinh tế trang trại nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp; đổi mới nâng cao chất lượng hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất dịch vụ ở nông thôn đẩy mạnh liên kết "bốn nhà" phát triển mạnh sản xuất hàng hóa; Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng quy hoạch gắn với phát triển đô thị xây dựng nông thôn mới; Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp nông thôn đào tạo nghề giải quyết việc làm cho nông dân...

Trong những năm qua Đài PT-TH Thanh Hóa đã mở nhiều chuyên mục trên cả hai sóng phát thanh và truyền hình tập trung tuyên truyền về nông nghiệp nông dân và nông thôn như: Nông dân Thanh Hóa; Tạp chí nông nghiệp; Chuyện nhà nông; Khuyến nông - khuyến lâm... Các chuyên mục phát sóng định kỳ mỗi tuần một chuyên mục với thời lượng từ 10 - 15 phút. Nội dung các chuyên mục phản ánh: Gương nông dân sản xuất giỏi vấn đề chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp nông thôn; Phổ biến kinh nghiệm sản xuất cây trồng vật nuôi từ các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao... Các chuyên mục này đã đi sâu phân tích mổ xẻ thông tin để người nghe người xem là nông dân có thể hiểu rõ được vấn đề và dễ làm theo.

Trong vấn đề xây dựng và phát triển nông thôn mới thì một lĩnh vực không thể xem nhẹ đó là bảo tồn và giữ gìn văn hóa làng xã xây dựng nếp sống văn hóa mới cũng được tuyên truyền một cách sâu đậm qua các chuyên mục: Sắc màu văn hóa xứ Thanh; Hương sắc vùng cao; Văn hóa Việt...

Đối với các lĩnh vực liên quan đến quy hoạch phát triển nông thôn như điện đường trường trạm y tế trung tâm văn hóa hệ thống thông tin liên lạc; Vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn cũng thường xuyên được đề cập trong các chuyên mục khác cũng như trong bản tin thời sự và các phóng sự chuyên đề. Hàng ngày trong cơ cấu bản tin thời sự luôn dành một thời lượng nhất định cho vấn đề nông nghiệp nông thôn. Nội dung chủ yếu là tình hình phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn; Thông tin thời sự về mùa màng hạn hán lũ lụt dịch bệnh của gia súc gia cầm; Thông tin về những điển hình làm kinh tế giỏi; Những tập thể tốt; Phản ánh đời sống sinh hoạt của bà con đồng bào vùng dân tộc vùng sâu vùng xa vùng đặc biệt khó khăn... Đó là tình trạng hạn hán nghiêm trong ở Nga Sơn Hậu Lộc; Mô hình nông dân huyện Ngọc Lặc biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt chăn nuôi; Mô hình trồng rau sạch ở Quảng Tiến; Thiệu Hóa xây dựng vùng lúa thâm canh cao...

Là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ và diễn đàn của nhân dân Thanh Hóa báo Thanh Hóa cũng đã tập chung chuyển tải nhiều thông tin trên tất cả các lĩnh vực trong đó thông tin về nông nghiệp nông thôn được đặc biệt quan tâm và chiếm dung lượng lớn nhất. Là tờ báo ngày phát hành từ thứ hai đến thứ bảy hàng tuần lĩnh vực phát triển nông nghiệp - nông thôn được báo Thanh Hóa quan tâm hàng đầu. Chuyên trang nông nghiệp nông thôn ở báo Thanh Hóa đã cung cấp kịp thời những thông tin về đường lối chủ trương chính sách của Đảng Nhà nước những chỉ đạo của Chính Phủ và các bộ ngành T.Ư cũng như của tỉnh về phát triển nông nghiệp nông thôn. Ngoài việc cung cấp các thông tin mang tính chất như những tài liệu hướng dẫn cung cấp cho bà con nông dân những kiến thức bổ ích thiết thực trong sản xuất các tin bài phóng sự còn phản ánh những mô hình sản xuất hiệu quả trong nông nghiệp các thông tin mang giá trị thực tiễn và ứng dụng cao. Một vấn đề về phát triển nông thôn mà báo Thanh Hóa quan tâm đề cập tới đó là: Những mặt trái quá trình đô thị hóa diễn ra làm thay đổi bộ mặt nông thôn và tác động đến kiến trúc kinh tế đời sống văn hóa xã hội; Chất lượng môi trường và sinh thái nông thôn. Tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo còn cao nông dân còn thiếu công ăn việc làm và thu nhập chưa ổn định; Tỷ lệ đói nghèo còn ở mức tương đối cao nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp xã hội có xu hướng gia tăng; Sự cách biệt quá lớn giữa thành thị và nông thôn trên nhiều phương diện; Nông dân bị mất đất trong quá trình công nghiệp hóa đô thị hóa; Các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống bị mai một tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng... Qua công tác tuyên truyền trên báo chí là một kênh thông tin quan trọng để kiểm nghiệm những chủ trương chính sách phù hợp của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống. Mặt khác nắm bắt những bất cập để các cấp ủy Đảng chính quyền địa phương rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh chỉ đạo với mục tiêu: Phát triển bền vững nông thôn cải thiện đời sống người nông dân chính là một yêu cầu cấp bách trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay.

Có thể thấy sự phong phú và đa dạng trong cách thức tuyên truyền từng bước làm chuyển biến nhận thức của người nông dân về sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Đó cũng là một bước cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng đặc biệt là đưa Nghị quyết T.Ư 7 về "Nông nghiệp nông dân và nông thôn" đi vào cuộc sống.

Tuy nhiên việc nâng cao nhận thức về nông nghiệp nông dân nông thôn trong tình hình mới cũng như tuyên truyền về vấn đề này cũng đang bộc lộ những hạn chế về cả từ nhận thức tổ chức thực hiện đến hình thức phương pháp lực lượng triển khai. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả tuyên truyền của báo chí ảnh hưởng đến việc đưa nghị quyết Đảng vào cuộc sống cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững. Để nâng cao chất lượng hiệu quả tuyên truyền về nông nghiệp nông thôn một vấn đề đặt ra là cần phải có sự đổi mới cả nội dung và hình thức tuyên truyền phản ánh chân thực và có chiều sâu để thu hút sự chú ý của công chúng. Trong đó năng lực của đội ngũ phóng viên viết về nông nghiệp nông thôn có tính quyết định.

Nâng cao chất lượng hiệu quả tuyên truyền về nông nghiệp nông thôn luôn luôn là yêu cầu đòi hỏi tất yếu hiện nay đối với báo chí cả nước nói chung và báo chí Thanh Hóa nói riêng.

                                                                       N.T.P

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

MAI TIẾN NGHỊ


Tỷ Hớt

Truyện ngắn

Trên sân khấu...

Tiếng kèn trompet lảnh lói tiếng trống đập ình ình. Hắn tung người trên không sải chân giang rộng ngực ưỡn căng đầu ngửa... Mắt hắn long lanh tinh lực tập trung xoáy vào lá cờ trên đôi tay đang duỗi thẳng. Lá cờ ngũ sắc no gió bung ra hết cỡ những cái tua cờ như những vây cá lắc lư lắc lư uốn éo như lách như lướt trong cuồn cuộn sóng vô hình... màu đỏ của chiếc khăn buộc trên đầu màu vàng của cái khăn thắt ngang lưng hòa cùng bộ quần áo tím có viền nẹp trắng của hắn như rực lên trong ánh sáng chan hòa hội tụ bởi hàng chục luồng vệt sáng đèn màu đùng đục bụi... Khỏe khoắn và dữ dội! Hưng phấn đến dựng cả tóc gáy tóc mai! Cái dữ dội và hưng phấn truyền đến khán giả. Người ta trầm trồ hú hét vỗ tay... Khán phòng sôi sục. Mấy ông giám khảo há hốc mồm ngỡ ngàng trước không khí cuồng nhiệt của nghệ thuật... vài ông bỏ máy điện thoại ra quay video chụp ảnh... Đèn flash nhoang nhoáng. Ôi chao! Thành công rồi. Lấp ló sau cánh gà ông trưởng ban Văn hóa xã Hùng Tiến đưa tay vuốt cái đầu hói... lòng lâng lâng hoan hỷ. Quả là tài... Tài thật!

*

Đất nước mình kể cũng hay một năm có dễ phải hơn trăm ngày kỷ niệm. Nào là năm chẵn năm lẻ năm tròn năm ý nghĩa lớn năm ý nghĩa trọng đại nào là ngành này ngành nọ... có bao nhiêu nghề thì có bấy nhiêu ngày tôn vinh... Để các ngày kỷ niệm được long trọng phải có phong trào thi đua lập thành tích cao nhất có thêm hoạt động chào mừng. Hoạt động thiết thực nhất là Hội diễn văn nghệ.

Nhưng cái tên Hội diễn có vẻ to tát quá vả lại cũng không khí thế mấy chưa kể còn những hệ lụy kéo theo. Đã hội diễn thì phải nhiều thể loại: Kịch chèo tấu tuồng thơ ca... đấy là nơi để các nghệ sỹ nghiệp dư có thể thả sức sáng tạo các tiết mục dài hàng tiếng đồng hồ vừa mệt cho giám khảo vừa mất thời gian mà lại rất dễ vi phạm lập trường tư tưởng. Để cho gọn người ta biến hội diễn thành hội thi. Đã là thi ắt phải có hơn thua. Vậy là các hội thi tràn đầy khí thế chiến đấu bằng mọi giá người ta phải giành giải nhất nhì ba chứ chả anh nào chịu mang tiếng bét... như hội thi Người đẹp chẳng hạn...

Có một dạo theo phong trào ở cấp huyện cũng tổ chức Thi Người đẹp ngành. Nhưng mấy ông trong Ban giám khảo chỉ thực thi chức phận được đúng một lần các lần sau đều nhất loạt kiên quyết xin từ chức thà bị kỷ luật vì tội thoái thác nhiệm vụ chính trị của địa phương... Mãi sau mới biết: Vì những người hơi đèm đẹp một tý thì đều đã có chồng. Chẳng anh chồng nào đủ can đảm đưa vợ ra cho mấy ông giương kính săm soi lại còn bị công chúng ngắm nguýt khen chê. Rốt cuộc đi thi chỉ còn những cô quá lứa lỡ thì dung nhan gần đến mức ma chê quỷ hờn. Giám khảo khen thì không đành chê thì không dám... Đâm ra sợ! Phụ nữ vốn hay thù dai.

Để khắc phục tình trạng ấy người ta tổ chức thi tiếng hát: Tiếng hát ngành Vật nuôi ngành Giống cây trồng ngành Thú y ngành Sinh đẻ có kế hoạch ngành... Một năm huyện này phải có đến hơn chục cuộc thi Tiếng hát...

Lần này trên sức cho các xã phải tham dự hội thi Tiếng hát Ngành Bảo vệ Thực vật của huyện. Xã Hùng Tiến xôn xao chọn tiết mục. ác một nỗi không có bài hát nào về cái ngành này cả. Ông Trưởng ban Văn hóa xã lo đứng lo ngồi suốt ngày giật giật tóc mai bồn chồn lo lắng. Ông có thói quen vuốt vuốt mái tóc mỗi khi khoái chí ngược lại khi lo lắng điều gì ông thường đưa tay dứt dứt tóc trên chỏm đầu. Đấy là nói chuyện ngày xưa. Còn bây giờ dẫu chưa đầy năm mươi tuổi mà ông đã hói tới tận đỉnh đầu. Cái thói quen cũ không bỏ được lúc khoái chí ông vừa vuốt vừa xoa cái mảng đầu nhẵn bóng lúc lo lắng ông đành giật giật tóc mai. Làm Trưởng ban Văn hóa xã - cái chức trách gắn liền với sự nghiệp tổ chức đám ma hễ có người chết là ông có mặt nên người ta gọi ông là Quạ từ dạo ông bị hói đầu thì tên ấy được gọi thành Quạ già. Lần này cái biệt danh ấy càng đúng vì có mấy ngày giời mà tóc gáy tóc mai của ông xù như quạ già thật. Để đầu tóc vậy thì không ra người quản lý văn hóa ông đến hiệu cắt tóc. Ngồi đợi đến lượt cắt tóc mà ông thở dài thườn thượt mặt mũi u ám như nhà có người mang trọng bệnh.

Tay thợ cắt tóc tên là Tỷ tuổi chưa đến năm mươi cao một mét bảy nặng bốn chín phảy năm ki lô gam. Đi bộ đội xong thì hắn xuất ngũ về nhà làm nghề cắt tóc. Cao gầy mà lại làm nghề cắt tóc nên hắn có được cái lưng cong cong và cái đầu lúc nào cũng gục xuống... trông thấy hắn ta lại tưởng tượng thấy một cái dấu hỏi to tướng... Mọi người gọi hắn là Tỷ Hớt.

Cái tên này có thể do tên thật ghép với nghề nghiệp - cắt tóc có nơi gọi là hớt tóc- nhưng cái chính là do hắn có cái tật hay hóng hớt chuyện thiên hạ nên người ta gọi như thế. Bao giờ cũng vậy đồng thời với động tác vung mạnh cái khăn choàng màu cháo lòng nồng nặc mùi mồ hôi tổng hợp quàng vào cổ khách hắn cất tiếng hỏi: Tình hình thế nào? Một câu hỏi rất chung chung nhưng lại kích thích người được hỏi. Vậy là khách trút bầu tâm sự hoặc nói cái điều mình đang nghĩ. Hắn chú ý nghe và hưởng ứng bằng nhịp kéo lách cách lách cách mau thưa theo nhịp diễn biến của câu chuyện. Sau đó đến lượt hắn trở thành nhà bình luận nhiệt tình. Khi nhà bình luận lên tiếng thì khách chẳng thể tỏ thái độ nào khác ngoài việc lặng im vì lúc ấy hắn đang cầm dao cạo. Cùng với tiếng nói ngàn ngạt do mồm diễn giả bị bịt lại bởi cái khẩu trang là cái dao cạo của hắn bay lượn xoay đảo một cách tùy hứng sát sàn sạt trước mặt làm người ngồi cắt tóc sợ đến sởn gai ốc... khi chuyên mục bình luận của hắn tới cao trào thì khách yếu bóng vía có thể ngất xỉu vì lo cái lưỡi dao bén đứt tóc ấy rất dễ xơi vào tai mũi họng bất cứ lúc nào...

Cái sự hóng hớt của Tỷ tuyệt nhiên không phải để ngồi lê đôi mách mà là sau khi nghe hắn còn sốt sắng bàn bạc những công việc nhiều khi không phải là của mình. Sau đó việc gì làm được là hắn xăng xái đi làm ngay bỏ luôn những ông khách cắt tóc khác cứ việc dài cổ ngồi chờ... Tận tâm tận lực vì mọi người như vậy nên thỉnh thoảng có người bày tỏ lòng biết ơn bằng cách rót mời chén rượu. Hắn từ chối với lý do làm nghề cắt tóc nên không dám uống rượu và ra về vừa đi vừa hỉ hả tấm tắc khen đứt lưỡi là người tử tế... Thấy đám đánh nhau là hắn xông vào can. Đã mấy lần vớ phải trận chiến giữa hai thằng cùn người can tự dưng trở thành đối thủ chung của cả hai bên. Mà hắn thì loẻo khoẻo gầy gò như La Hán... Kết quả là hòa bình cũng được vãn hồi nhưng người can thiệp để có hòa bình lại hóa thành nạn nhân. Trong một lần như vậy hai cái răng cửa của hắn bay đi mất để mỗi khi cười phải bặm môi che miệng lại... và mấy bận sưng vêu tím bầm mặt mũi. Những lúc ấy vợ con thường kêu ca tật "tự dưng mua rét về mà run" của hắn hắn chả bảo sao... có lẽ bị đau nên không nói được chứ ở nhà hắn cũng chẳng phải tay vừa vợ con một phép. Cũng nhiều kẻ chẳng ưa chửi thẳng: Ai khiến đến thằng Hớt! Chúng nó đánh nhau thì việc gì đến mình mà phải hớt. Hớt thì chết... Tỷ buồn mất mấy ngày nhưng sau đó đâu lại hoàn đấy. Bản tính của hắn đã như vậy thì sửa làm sao được! Mà nghĩ cho cùng không có thằng hớt thì mọi việc sẽ ra sao có khi đánh nhau loạn lên ấy chứ... vậy cũng chả cần phải sửa.

Chả cần phải sửa nhưng mà phải dè chừng. Không thể đám đánh nhau nào cũng nhảy xổ vào can. Sức mình yếu mấy thằng cùn lại có tý hơi men thì nó sá gì mà không cho ra tóp. Mà có ai khen đâu! Vậy là các lần sau gặp những đám tương tự là Tỷ cố tránh hoặc cùng lắm chỉ đứng ở ngoài như kiểu Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc ra sức kêu gọi hai bên kiềm chế. Cho đến một lần vào giấc trưa Tỷ Hớt đang thiu thiu bỗng choàng tỉnh giấc vì tiếng quát tháo của vợ chồng tay hàng xóm chuyên làm đậu phụ. Chồng thét: Ông cho mày chết! Vợ cũng thét: Bà cho mày chết...Ngó sang thấy anh chồng đang túm tóc cô vợ lôi xềnh xệch. Có nên can không nhỉ? Nhưng máu hớt nổi lên: Chả nhẽ vợ chồng nó đánh nhau mà mình lại đứng im! Vả lại ai còn lạ gì chuyện vợ chồng đánh nhau thì... cũng như phường chèo ra vẻ hùng hùng hổ hổ nhưng ngay sau đấy lại xí xớn anh anh em em... Không như mấy thằng cùn say rượu...Vậy là Tỷ hớt nhảy vào can. Hắn chen vào giữa gỡ tay anh chồng đẩy vai chị vợ... Tự dưng người ta bỗng thấy Tỷ ngã quay đơ mắt trợn ngược sùi bọt mép mặt mày tái xanh tái xám. Vợ chồng nhà nọ thấy vậy hoảng quá buông nhau ra mồm vẫn lảm nhảm cho mày chết cho mày chết.

Vợ Tỷ vội đưa chồng về nhà. Một lát sau vợ Tỷ chạy ra líu ríu các ông các bà ơi tìm thầy lang châm cứu ở đâu bây giờ? Sao mà phải châm cứu? Anh ấy vẫn chưa tỉnh à? Tỉnh rồi nhưng sờ... không thấy đâu. Khéo nó tọt lên cổ. Người ta bảo phải châm cứu nó mới xuống. Cha tổ bố cái giống đàn bà khốn nạn! Chồng tôi có tội tình gì mà nó khốn nạn... Mọi người ngơ ngác con mẹ nhà đậu phụ tức quá chạy ra thanh minh: Đếch ai khiến! Để nguyên tôi trị cái thằng sấp mặt nhà tôi một trận cho biết thân. Tự dưng nhảy vào can. Cho chết cái tội hớt! Thì ra con mẹ này khi bị chồng túm tóc thì đành phải giở võ cùn... Nhưng đúng lúc ấy Tỷ nhảy vào con kia đang tối tăm mặt mũi quờ tay vớ được bộ ấm chén của Tỷ tưởng của chồng. Đây rồi. Cho mày chết! Phen này bà cho ra bã...Vậy là nghiến răng lấy hết sức bình sinh lên gân tay bóp như vắt bột làm đậu phụ...

Kết quả vợ chồng tay đậu phụ chưa tối đã xí xớn anh em. Còn Tỷ nằm bệt nhăn nhó vì đau và vì ngại chường mặt để mọi người đàm tiếu. Vợ Tỷ cũng rầu rĩ ủ ê vừa xót chồng vừa lo của quý không biết có phục hồi được không...Từ đấy trở đi Tỷ cạch những đám đánh nhau. Kệ bố chúng mày. Thích thì cứ đánh nhau. Chả nhẽ cái đời người cứ phải đánh cãi nhau mới được hay sao. Người ta bảo công việc hòa giải là việc của đoàn thể ông chẳng đoàn thể nào sất... dính vào đầu chẳng phải lại phải tai nó đánh cho thì thiệt... May phúc bộ ấm chén không việc gì nhưng mà xấu hổ. Nghĩ ra mình cũng dại! Các cụ có câu: Hát ca tìm đến đánh đấm bỏ đi. Chỗ nào vui vẻ thì ông đến. Vậy thôi. Mà vui vẻ thì ngay cái quán cắt tóc của Tỷ đã có đầy. Có khách cắt tóc thì nói chuyện vắng khách thì lôi vài cái đàn treo trên vách quán xuống độc diễn. Lúc thì tưng tửng đàn nguyệt ngật ngưỡng khúc hầu giá Cô Bơ lúc lừng phừng ghi ta xoạc mồm âm ư: ai cho tôi tình yêu... Ngày nào chả vui...

Quạ già bất đắc dĩ mới phải đến quán Tỷ Hớt. Đơn giản vì cả xã mới có một hiệu cắt tóc không cắt ở đấy thì biết đi đâu. Thực ra trong bụng Quạ Già coi Tỷ Hớt là kẻ thù không đội trời chung vì cái tội hớt hóng của hắn. Chả là có lần ở một đám ma trong khi Quạ Già đang lâm ly đọc điếu văn: "Giữa lúc toàn dân đang hăng hái thi đua trừ sâu diệt chuột bảo vệ dàn lúa chiêm xuân thì cụ đây đột ngột từ trần..." Tỷ Hớt cũng đứng ở đám chả biết hắn nói gì mà mọi người cười ồ... Quạ Già tức lắm lấy danh nghĩa Trưởng ban Văn hóa sạc cho Tỷ Hớt một trận vì cái tội vô văn hóa dám bày trò cười giữa đám ma. Tỷ cãi: Tại ông nói dở bỏ mẹ người ta cười cho là phải. Quạ già vặc lại: Dở là dở thế nào? Tỷ giải thích: Này người chết thì bao giờ chả phải hai tay "đậy cu" sao lại còn phải bảo "cụ đây". Còn nữa.... giữa lúc toàn dân hăng hái thi đua diệt chuột thì cụ đây đột ngột từ trần... viết vậy chẳng hóa ra cụ chết vì ăn nhầm thuốc chuột (!) Quạ Già gầm lên: Ai khiến thằng hớt...tóc! Đúng là đồ Hớt! Tỷ cũng chẳng vừa: ừ thì hớt tóc đấy! Sinh ra cái nghề hớt tóc là để sửa đầu óc tóc tai mặt mũi cho thiên hạ. Mỗi tháng mấy trăm cái đầu nhớn bé đều phải qua tay thằng này đấy. Chỉ những thằng không mọc được tóc thì thằng hớt mới đếch bao giờ sờ đến đầu... Thằng Hớt còn hơn thằng ngu chán vạn lần! Ông bảo ai ngu?... Ông ngu chứ còn ai!...???... Tỷ còn bảo chỉ thằng hớt mới trị được những thằng ngu. Những thằng ngu thường hay lên mặt hợm hĩnh cứ tưởng mình là thiên hạ đệ nhất thông minh. ối người biết điều này nhưng có mấy ai dám nói. Chỉ những thằng hớt mới nói ra. Không có thằng hớt thì mấy thằng ngu đến đời mục mả cũng chả biết là mình ngu. Không biết mình ngu thì liệu đến ngày nào mới khôn lên được!

Thấy Quạ Già giật giật tóc mai lo lắng Tỷ Hớt bèn ra điều thông cảm hỏi han. Được lời như cởi tấm lòng quên mọi oán thù khép lại quá khứ hướng tới tương lai... Quạ Già mở gan mở ruột bày tỏ nỗi lo của mình. Tỷ Hớt ngẫm câu hát ca tìm đến... ờ nhỉ sao không thử. Vậy là bảo khó đếch gì. Khoán tớ sáng tác cho. Ông trưởng ban có ý nghi ngại: "Đúng là thằng hớt tưởng dễ lắm đấy đầy người bằng nọ cấp kia còn chả làm được...". Tỷ Hớt đọc được cái ý nghĩ ấy liền giao kèo: Hễ có sản phẩm được nghiệm thu thì mới lấy tiền. Quạ Già nhìn cái đàn ghita treo trên vách: Có nhẽ thằng này làm được thật? Mà xét cho cùng thì mình có mất gì đâu. Cứ thử xem! Vậy là hỏi: Bao nhiêu? Một triệu! Đếch được. Đắt quá! Ba trăm thôi. Tỷ Hớt bảo: Tiết mục dự thi hàng huyện chứ có phải cái điếu văn của ông đâu mà trả ba trăm. Hắn nói như vậy vì chả lạ gì cái thói "ăn thịt người chết" của Quạ già. Mỗi đám ma lão bắt gia chủ phải trả chi phí cho "công tác tổ chức" và nhuận bút điếu văn những ba trăm nghìn. Trưởng ban ngã giá: Thôi! Năm trăm! Tỷ hớt nghĩ một tý rồi bảo "Xong béng! Nhưng tôi làm là vì phong trào của xã đấy nhá chứ mấy trăm bọ đáng đếch gì." Quạ già còn cẩn thận dặn thêm là không được phạm chính trị. "Yên tâm đi! Sẽ có một ca khúc hoành tráng xứng tầm quốc gia quốc tế mà lại nói về bảo vệ thực vật ở xã ta".

Tối hôm ấy tay thợ cắt tóc hí hửng đến nhà ông trưởng ban văn hóa: Đây rồi xong rồi! Tỷ Hớt đưa ra mẩu giấy vỏ bao thuốc lá trên có mấy dòng loằng ngoằng. Trưởng ban đọc mãi chẳng ra cái chữ gì: Vớ vẩn! Có thấy nốt nhạc nào đâu?

Bắt chước một lãnh đạo đã từng chỉ vào đầu: Chủ nghĩa xã hội ở đây này! Tỷ Hớt cũng chỉ vào trán mình: Nhạc ở đây này! Cần gì phải viết ra cái cơ bản là phải có tâm hồn. Hắn âm ư lấy giọng rồi gân cổ:

Nghe tin loa vang nào ta sát vai cùng nhau...

Quyết tâm lên đường!

Diệt quân thù kia giữ yên màu xanh...

Chúng ta sẵn sàng!

Nào ta cùng đi - diệt thù khi còn trong trứng

Diệt hết kẻ thù giữ đồng lúa xanh

Ngày hôm nay cùng vui ca.

Diệt hết kẻ thù thêm xanh mầu xanh cho quê... hương...

Trưởng ban gật gù: "Nghe cũng được đấy. Nhịp hai bốn ra kiểu hành khúc lắm. Nhưng mà cái đoạn cho quê hương là không được".

- ???

- Tớ nghe hát chữ cho quê hương như chó quê hưởng.

- Đấy cái tiếng Việt vào âm nhạc nó khó thế đấy! Tay thợ cắt tóc lúc lắc cái đầu ra vẻ nhạc sỹ chuyên nghiệp: Tớ định kết bằng cao trào rồi về chủ. Thôi đành tớ sẽ hạ thấp nốt cho và đưa về âm át...

Trưởng ban khoát tay ngắt lời:

- Đếch biết át hay chủ cậu hát lại tớ nghe xem nào!

Tay thợ cắt tóc băn khoăn: Nhà ông có rượu không? Trưởng ban ngạc nhiên: Sao? Ông cũng uống rượu à? Mọi khi có bao giờ thế đâu! Tỷ Hớt bảo lúc làm anh hớt tóc thì phải tỉnh táo nhưng đã là văn nhân nghệ sỹ tất phải có rượu. Rượu là men của nhạc của thơ... nói chung là men của nghệ thuật... Phải có rượu mới ra vấn đề. Không có rượu thì chuyển tải hồn vía bài hát thế chó nào được! Không thể thăng hoa được!

Trợn mắt trợn mũi uống hết chén rượu của chủ nhà đưa cho ca sỹ kiêm nhạc sỹ nghe chừng bốc máu nhuận giọng hắn nhắm nghiền mắt tay vung lên thể hiện tác phẩm. Trưởng ban Văn hóa cũng tỏ ra am hiểu nghệ thuật đập tay lên bàn làm nhịp trống. Cái bàn giãy nảy chịu những nhát đấm nghệ thuật kêu lên ình ịch ình ịch... Đang đấm mặt bàn say sưa trưởng ban bỗng dừng lại:

- Họ!... họ đã! Thế bài hát này viết về cái gì?

*

Sau một hồi tung hoành trên sân khấu người múa cờ đã lui vào cánh gà.

Dàn đồng ca với những tà áo dài xanh đỏ trắng tím vàng tha thướt hàng nam dạng chân đứng đằng sau hùng dũng hiên ngang áo trắng ca vát đủ màu. Tất cả đang say sưa hát. Bài hát có đủ các bè cao thấp thanh trầm. Đầu tiên là cánh phụ nữ đung đưa theo nhịp mắt mơ màng làm duyên:

Nghe tin loa vang nào ta sát vai cùng nhau...

Đám đàn ông ồ lên:

Quyết tâm lên đường!

Và rồi lại lặp lại cái quy trình đối đáp giao duyên tân thời ấy:

Diệt quân thù kia giữ yên màu xanh...

Chúng ta sẵn sàng!

Giọng kim the thé của các bà các cô hòa cùng giọng thổ khàn khàn của cánh đàn ông tạo thành một thứ âm thanh hỗn hợp sền sệt như bánh đúc nhão lẫn gai bồ kết. Đấy là lúc bài hát chuyển sang cao trào:

Nào ta cùng đi - diệt thù khi còn trong trứng

Diệt hết kẻ thù giữ đồng lúa xanh của quê ta.

Ngày hôm nay cùng vui ca

Diệt hết kẻ thù thêm xanh mầu xanh cho quê... hương...

Cả đám hát lại một lần nữa rồi trong nền nhạc dạo lanh lảnh tiếng kèn ầm ầm tiếng trống... một cô áo đỏ ưỡn ẹo bước ra:

- Thưa ban Giám khảo thưa quý khán giả! Đội văn nghệ xã Hùng Tiến đang trình bày bài hát "Hành khúc diệt ốc bươu vàng"... sáng tác tự biên của nhạc sỹ Xuân Tỷ.

Giám khảo vừa gật gù vừa giương kính cúi xuống ghi chép. Ông Trưởng ban Văn hóa miệng lẩm bẩm: Tốt rồi! Tốt rồi... và chạy lại chỗ người múa cờ. Người múa cờ chẳng phải ai xa lạ. Chính là anh chàng thợ cắt tóc kiêm nhạc sỹ Xuân Tỷ biệt danh Tỷ Hớt. Trong bộ quần áo tím nẹp trắng khăn đỏ đội đầu khăn vàng thắt lưng Tỷ Hớt rũ rượi ngồi bệt đầu gối quá tai miệng thở hí hóp mồ hôi rịn đầy gương mặt hốc hác... trông như người ốm. Ông Trưởng ban hối hả:

- Chuẩn bị đi! Ra làm phát nữa cho chúng nó lác mắt!

- Đệch mùa được nừa! Nghệ sỹ múa Tỷ Hớt nói giọng khản đặc.

- Sao vậy?

- Rượu! Phài cò rườu mời mùa được mời thằng hòa được.

Trưởng ban chạy vội ra mua nửa lít rượu ở hàng nước ngay cạnh đó. Tỷ Hớt ngửa cổ làm một hơi gần hết...

*

Tỷ Hớt là nhà sáng tác tiết mục điều ấy thì đã rõ. Nhưng hắn còn là nghệ sỹ múa thì ra hắn cũng lắm tài?...

Có được bài hát rồi lại khổ vì việc triệu tập người hát. Người ta chỉ thích đơn ca. Nhưng yêu cầu phải hát tập thể mới có điểm cao vì đang vận động thực hiện "xã hội hóa" phong trào ca hát. Giá như ngày xưa còn chế độ công điểm HTX thì đã đành đi hát khỏi phải ra đồng. Còn bây giờ đi hát bỏ việc nhà đấy thì ai làm cho ruộng của mình ai cào cỏ bón phân? Vậy là khó! Ông Trưởng ban Văn hóa đến từng nhà vận động dựa vào các đoàn thể để vận động. Gần chục ngày mới lôi được vài người đồng ý tham gia. Đang ngao ngán thì được Tỷ Hớt mách nước: Ông sang ủy ban đề nghị huy động toàn bộ các cô Mầm non. Chỉ để lại mấy cô trực coi trẻ. Ông còn vận động thêm được gần chục anh làm nghề giết mổ gia súc tham gia dàn đồng ca. Cánh này hào hứng lắm vì suốt ngày phải chui rúc các chuồng lợn để kiếm nguồn hàng nay lại được lên sân khấu nên cũng khoái. Tốt rồi! Ông đề nghị Tỷ Hớt thợ cắt tóc kiêm nhạc sỹ sáng tác bây giờ kiêm luôn cả đạo diễn. Địa điểm tập ở trường Mầm non. Mỗi khi dàn đồng ca cất tiếng hát thì bọn trẻ bị bỏ lăn lóc trong các giường cũi ở các phòng bên cạnh lại khóc ré lên hưởng ứng. Tiếng hát người lớn hòa cùng tiếng khóc của trẻ tạo thành bản hợp xướng vừa hùng tráng vừa ai oán...Tỷ Hớt lo lắng về tiết mục đến nỗi ăn không ra bữa ngủ không thành giấc người hắn gầy xọp râu ria tua tủa. Đã vậy với đội ngũ ô hợp ai cũng cho là mình giỏi ai cũng cảm thấy phải có ý kiến luận bàn... như cái chợ chẳng ai nói ai nghe thành ra ông đạo diễn cứ phải gào lên. Đến sát ngày hội diễn thì Tỷ Hớt khản đặc giọng nói không ra tiếng. Cũng may các tiết mục tạm hòm hòm. Nhất là cái bài "Hành khúc diệt ốc bươu vàng". Đảng ủy ủy ban các ban ngành đến duyệt. Mọi người gật gù chắc hẳn phen này xã ta giật giải!

Cả đoàn văn nghệ xã Hùng Tiến bừng bừng khí thế lên huyện tham dự Hội thi với phần thắng chắc chắn trong tay. Nhưng đến khi khai mạc nghe trưởng ban giám khảo trịnh trọng phổ biến quy chế hội thi thì cả đoàn hoảng tam tinh. Ông trưởng ban đầu hói lại một lần nữa dựng đứng tóc gáy tóc mai mồ hôi chảy ròng ròng: Tiết mục của mình không có múa phụ họa. Thua là chắc! Toi công bao nhiêu ngày tập luyện toi công ông đi vận động và nhịn như nhịn cơm sống để cúc cung bọn ca sỹ nửa mùa suốt ngày yêu sách làm ông rạc cả người.

Chắc bạn đọc sẽ bảo rằng rõ vớ vẩn. Thi tiếng hát thì chủ yếu là giọng hát chứ sao lại có múa. Nhưng mỗi cuộc thi đều có tiêu chí cụ thể. Các tiêu chí này nằm ngoài nghĩa đen của từ ngữ danh xưng cuộc thi. Trên ti vi người ta vẫn hát có múa đấy thôi. Vậy là người ta phải đặt tiêu chuẩn cho hội thi tiếng hát: Hát không có múa thì coi như không có điểm.

Còn nữa ai mà chả biết hát! Nếu chỉ thi tiếng hát thì quá nhiều người đăng ký tham gia. Ngành nào cũng vậy có vô vàn ca sỹ karaoke. Không cho hát thì giận mà cho thì có lẽ thi cả năm cũng không hết nhân tài!

Phải nói đây là chiêu độc! Các ca sỹ karaoke chỉ có thể hát và múa kín trong áo mấy cô ca ve chứ bảo múa biểu diễn thì có thách cả cây vàng cũng chẳng anh nào dám. Nhưng không làm thì mất điểm xếp loại phong trào. Lấy thành tích đâu mà chào mừng!... Người ta buộc phải tham gia nhưng số tiết mục được hạn chế tới mức tối đa.

Giải thích như vậy chắc bạn đọc vừa lòng rồi chứ ạ!

Trưởng ban gọi Tỷ Hớt ra hội ý. Trong lúc ông Trưởng ban giật giật tóc mai thì tay thợ cắt tóc kiêm nhạc sỹ kiêm đạo diễn đần mặt ngẫm nghĩ. Một lúc sau Tỷ Hớt đanh mặt thể hiện tinh thần quyết chiến bằng giọng khản đặc phì phào qua hai cái răng cửa bị gãy:

- Mùa thì mùa! Sờ đệch gì!

- Bây giờ đào đâu ra người múa còn phải tập luyện nữa chứ! Làm sao mà kịp. Tối nay đã phải diễn rồi. Mà múa như thế nào? Ông trưởng ban nghi ngờ hỏi lại.

- Mùa cờ!

- Ai múa?

- Tồ.i.i..! Tỷ Hớt khào khào. ồng về chuần bì gập...

Ông trưởng ban vội vàng về gấp theo lời Tỷ Hớt. Ông ra chùa làng nói khó với sư cụ mượn được cái cờ ngũ sắc về chặt ngay cán chỉ để thò ra độ hai mươi phân. Xong! Ông cuốn lại buộc vào xe máy rồi hấp tấp tìm người quản trang của xã. Tìm mãi mới thấy ông này đang say khướt nằm ngoài lều vó. Lão này vừa đi vừa càu nhàu vì cái việc vớ vẩn làm mất giấc ngủ của lão: "Văn nghệ văn gừng kiểu đếch gì mà lại mặc quần áo âm công khiêng người chết... Thật chả ra làm sao!". Nhưng rồi lão cũng mở cái hòm hôi sì ám mùi tử khí đựng quần áo của đô tùy bảo ông trưởng ban chọn bộ nào thì chọn. Chọn được một bộ tươm tươm một tý ông trưởng ban gật gù: Quần áo màu tím nẹp trắng đúng kiểu truyền thống dân tộc... trông hay ra phết. Thằng Hớt đến là tài! Vậy là ông phóng xe lên huyện.

Nửa đường chợt nhớ ra còn một việc phải làm Trưởng ban tạt vào chợ. Nhưng chợ đã tan. Mua đâu được vải đỏ vải vàng làm thắt lưng với khăn đội đầu cho diễn viên múa bấy giờ? Mà không có khăn không có thắt lưng thì diễn viên múa thành ra anh âm công khiêng người chết. Ông lại phóng xe lên huyện gặp Tỷ Hớt. Tỷ Hớt bặm môi suy nghĩ. Rồi hắn chợt nhớ ra hôm tổng kết trường Mầm non thấy bọn trẻ con biểu diễn áo vàng áo đỏ đủ bộ rực rỡ hỏi mấy cô giáo đào đâu ra lắm vải đỏ vải vàng đến vậy mấy cô bảo chúng em "xã hội hóa" bằng cách đi xin các câu đối bức trướng đám ma về giặt đi may cho các cháu. Tốt rồi! Khoản này thì thuận rồi. Chức trách trưởng ban Văn hóa chuyên tổ chức các đám ma nên nói mọi người phải nể vả lại nhà đám cũng chẳng giữ những thứ ấy làm gì.

Vậy là ông Trưởng ban lại hùng hục lên xe phóng ngược về xã...

Quả như lời Tỷ Hớt. Cái nhà mà Trưởng ban Quạ già vừa tổ chức đám ma tháng trước nghe ông trình bày xong liền hăng hái bỏ ra một đống câu đối bức trướng cho ông chọn thoải mái. Mừng quá chỉ phải lột đi hàng chữ "Thiên thu vĩnh biệt" ở cái biển màu đỏ và chữ "Tây phương cực lạc" ở cái biển tang màu vàng là có được hai cái khăn như ý. Phấn khởi vì nhiệm vụ Tỷ Hớt giao cho đã hoàn thành ông phóng xe về Hội thi lòng tràn trề hy vọng.

*

Bài hát "Hành khúc diệt ốc bươu vàng" đã hát sang lần thứ bốn để chuẩn bị kết thúc.

Cánh phụ nữ lại đung đưa theo nhịp mắt nhấp nháy làm duyên:

Nghe tin loa vang nào ta sát vai cùng nhau...

Lập tức đám đàn ông ồ lên:

Quyết tâm lên đường!

Nhưng lần này có nhiều tiếng trẻ con ở chỗ khán giả hòa vào với tiếng hát của cánh đàn ông:

á... li... ba bà!

Giám khảo và khán giả ngơ ngác: Sao lại á li ba bà?

Và rồi trên sân khấu lại lặp lại cái quy trình đối đáp giao duyên tân thời:

Diệt quân thù kia giữ yên màu xanh...

Bọn trẻ con ngồi ở dưới cùng đồng thanh gào lên đáp lại át cả cánh đàn ông trên sân khấu:

á... li...ba...bà!

Mấy ông giám khảo ngành vốn chẳng mấy khi nghe hát nên chả hiểu ra làm sao. Khán giả cũng chẳng hiểu sao bọn trẻ lại tự nhiên đồng thanh gào lên á li ba bà hòa với dàn đồng ca. Trong cánh gà ông Trưởng ban bứt rứt giật giật tóc mai... Ông đưa mắt nhìn sang Tỷ Hớt: Ra! ...ra đi! Hắn vẫn ngồi không nhúc nhích. Quạ Già nhặt lá cờ ấn vào tay nghệ sỹ múa và đẩy hắn ra sân khấu...

Bọn trẻ con bỗng im bặt khi thấy người múa cờ lảo đảo xuất hiện. Người ta thấy đôi chân anh ta như sắp khuỵu xuống trong những bước "hai tiến một lùi" mỗi lần bàn chân chạm đất thì người sững lại như giật mình rồi lại đi xiên xẹo vặn thừng như người mẫu trong khi cái lưng hơi cong cong cố đỡ cái đầu ngật ngưỡng lúc ật sang bên trái lúc ngoẹo sang bên phải lúc rũ xuống lúc ngửa về phía sau. Khi đầu rũ xuống thì toàn thân anh ta như một cái dấu hỏi còn lúc ật cổ về phía sau thì cả người làm thành cái dấu ngã dựng đứng. Một tay anh ta tỳ vào cán lá cờ lúc này tự dưng biến thành một cây gậy chống để giữ cho cái thân hình vẹo vọ khỏi bị đổ xuống còn tay kia huơ huơ trên đầu như cố túm lấy vệt ánh sáng đèn đùng đục bụi...

Giám khảo chụm đầu: Diễn cái kiểu gì thế nhỉ? Một ông ra vẻ am hiểu thì thào: Đang diễn tả cái chết của ốc bươu vàng như kiểu trên ti vi quảng cáo bọn vi trùng gặp nước rửa bồn cầu toa lét. Đúng! Đúng! Rồi cả đám gật gù: Sáng tạo!...

Tiếng bọn trẻ con: Túy quyền! Túy quyền. Hoan hô túy quyền... chúng mày ơi!

Như bừng tỉnh nghệ sỹ múa bỗng khựng lại vươn cái đầu về phía trước. Đôi chân đang khuỵu chợt thẳng lên tạo thành một bước nhún rồi rướn người để cả thân hình như bay lên cùng với lá cờ vung mạnh bung ra trong ánh sáng...

Khán giả há hốc mồm...

Lá cờ quay tròn trên sân khấu như một quả cầu ngũ sắc. Tiếng gió cuộn vù vù. Âm thanh của tiếng hát nhòa đi mọi người chỉ thấy loang loáng loang loáng một bóng người xoay đảo bên lá cờ đang cuộn lên từng đợt sóng. Mặt đỏ gay môi bặm lại mắt rực lên phản chiếu ánh sáng đèn nghệ sỹ múa Xuân Tỷ trút hết hồn vía vào các động tác múa cờ. Hắn tung người chân xoải rộng lá cờ xoáy tít quanh đầu như một đóa hoa khổng lồ như một quầng lửa trắng. Dải khăn đỏ trên đầu người múa cũng bị hút vào dòng xoáy ấy nó cũng xoáy tít làm thành cái nhụy của đóa hoa quầng lửa...

Tiếng vỗ tay tiếng hú hét ngập cả khán phòng. Người ta trầm trồ trước tài nghệ của người múa. Ông trưởng ban xoa xoa cái đầu hói...

Chợt tay cờ dừng lại. Dải khăn đỏ và cả cái lá cờ ngũ sắc vẫn lượn xoáy vun vút theo quán tính nó xoáy tròn xoáy tròn cuộn lấy tâm điểm là cái đầu của nghệ sĩ múa. Chới với... một khối người đổ huỵch xuống sàn sân khấu. Bất động!

Khán phòng im bặt. Trong cánh gà sân khấu ông Trưởng ban Quạ già đang vuốt cái đầu hói vội nhổm người chộp lấy cái dây kéo màn miệng gào: "Tắt đèn".

*

Tỷ Hớt đập đầu xuống sàn bất động. Tưởng rằng hắn bị chấn thương sọ não nhưng may mắn không việc gì nhờ cái lá cờ nhà chùa và cái khăn đỏ bức trướng đám ma cuốn chặt bảo vệ cho cái đầu. Mọi người đưa vội hắn về nhà. Cái đầu không việc gì nhưng mình mẩy đau ê ẩm xương khớp như bị tra tấn đến vỡ vụn. Hắn nằm bẹp trên giường ai hỏi thì hắn mới phều phào trả lời giọng khản đặc...

Sau hôm tổng kết hội thi ông Trưởng ban Văn hóa đến nhà thò ra hai trăm bạc đưa cho hắn bảo rằng đây là thanh lý hợp đồng. Tỷ Hớt điên người nhổm lên nhưng không được vì vẫn còn đau. Nhà sáng tác kiêm đạo diễn kiêm nghệ sỹ múa đành nằm mà hỏi bằng giọng khản đặc như người sắp chết: "Sào lại cò vậy?". Đã chuẩn bị từ trước lão Quạ già vừa vuốt vuốt cái đầu hói vừa giải thích rành rẽ:

- Hợp đồng với ông là bài hát được nghiệm thu thì trả năm trăm. Nghiệm thu tức là phải được giải A. Nhưng vì bài hát được giải bê nên chỉ trả được cho ông ba trăm. Tớ trừ tiền nước uống tập luyện tiền nửa lít rượu hôm diễn cộng bữa hôm tổng duyệt. Tất cả vị chi là một trăm. Còn lại đưa cho ông. Vậy là xong nhá!

Chưa kịp phản ứng Tỷ Hớt đã nghe lão nói tiếp giọng vừa tiếc rẻ vừa trách móc:

- Đếch ai như ông nốc cho lắm rượu vào rồi khướt. Múa với chả máy cái kiểu gì để ngã ngay trên sân khấu làm tiết mục bị gẫy đoạn cuối. Giá mà không bị cái cú ngã ấy thì mình giải A là cái chắc! à mà hình như ông lấy bài "Alibaba và bốn mươi tên cướp" làm bài "Hành khúc diệt ốc bươu vàng" phải không? Thấy bọn trẻ con nó kháo thế...

Nhà nhạc sỹ kiêm nghệ sỹ múa nhìn ông Trưởng ban Văn hóa với ánh mắt mang hình viên đạn. Giá mà khỏe mạnh thì chắc chắn Tỷ Hớt đã giáng vào cái đầu hói Quạ già mấy chưởng. Nhưng không thể gượng dậy được nên hắn đành nằm im. Trưởng ban nhận thấy ánh mắt không lấy gì làm thân thiện ấy liền rón rén đặt hai trăm lên bàn rồi vội vã chuồn.

Tỷ Hớt nhìn theo bóng ông Trưởng ban: "Đồ quạ già đã ngu lại còn ăn bẩn như mõ. ừ đấy! Ông lấy bài "Alibaba và bốn mươi tên cướp" đấy! Sao bây giờ mới biết! Thua cả mấy thằng trẻ con. Đã không biết xấu hổ lại còn lấy cớ để ăn chặn... Tức thật! Mà lũ trẻ... Ai khiến chúng nó! Chỉ được cái nước hóng hớt- Chợt nhớ ra cái biệt danh ấy mọi người đã gán cho mình Tỷ Hớt ngẩn người bật cười khoái chí: Chả phải một mình ông! Vậy ra thiên hạ có khối thằng hớt... sau này còn có đầy thằng hớt... chỗ nào cũng có."

*

Độ một tháng sau người ta lại thấy ông Trưởng ban Văn hóa xã Hùng Tiến vừa đi vừa giật tóc mai lò dò đến hiệu cắt tóc của Tỷ Hớt. Nghe đâu lại chuẩn bị có Hội thi Tiếng hát Sinh vật cảnh...

Tỷ Hớt từ trong hiệu cắt tóc thấy ông Trưởng ban Văn hóa thì ghét lắm: "Giật giật mạnh nữa vào... cho trụi hết mọi cái tóc của lão đi để đừng bao giờ đến đây nữa. Đồ quạ già! Định đến gạ mình đây. Bố mày phải một cái dại thì rái đến già! Đừng có mà hòng!..."

Hải Hậu tháng 12 năm 2009

M.T.N

More...

TRANG THƠ CÁC NHÀ BÁO

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Cao Hạnh

(Tạp chí Cửa Việt)


Phù sa em



Phù sa em - thơm tuổi dậy thì

Hương mái tóc xanh làn môi ấm ngọt

Phù sa em - bàn tay ngà ngọc

bay trên phím đàn

tưới vào hồn anh

Những âm thanh

Rạo rực mùa sinh nở

Phù sa em - ấy là hơi thở

Là thi ca - con chữ non tơ

Thắp sáng màu xanh lên bến bãi đợi chờ

ướp hồn anh vào hoa lá

Phù sa em - hôi hổi sức xuân

ập vào miền sỏi đá

Cuốn xiết!

Dâng trào!

Vùi dập!

Phù sa em làm ngột thở đất đai

Làm tanh tưởi

chốn hoang linh

của miền anh

từ ấy...

Để bật dậy những mầm non run rẩy

Anh - miền sỏi đá hóa phì nhiêu.

                                    C.H



Bùi Việt Mỹ

(Báo Người Hà Nội)


Với tờ lịch tháng mười



Bóc thêm tờ lịch mới

đã mùa thu Tháng Mười.

Chút heo may úa lá động cành

đều đặn rắc rơi lối cũ

mỗi sớm mặt trời lên nắng táp vào trang sử

dát vàng mé trước Tam quan.

Tờ lịch hôm nay đứng thứ một ngàn

tôi đặt khung bàn cửa sổ

nơi vệt sáng đốm đồng tiền hoa đỏ

rễ si leo lẹm mạch tường

Ngỡ thềm đá ong trầm mặc nét cương thường

mang ẩn tích Hoa Lư điệp trùng chiến lũy

vết chân chim nhát kiếm miếng bã trầu cổ tích

cha tôi trổ nét thứ năm mươi làm dấu nối đời.

Vẫn ánh vàng màu sáng nguyên khôi

để Thăng Long đượm đà thêm hoài cổ

để tôi lại một ngày với nhiều mắc nợ

chưa có chứng lý nào thấu hiểu ý dân gian.

                                  B.V.M


Huy Trụ

(Báo Gia đình và Xã hội)


Trắng

        Tặng các y Bác sỹ bệnh viện



Dao kéo bông băng tất cả đều màu trắng

Trắng ga chải giường trắng áo Blu

Cả ca mổ trắng đêm không ngủ

Cho giọt máu đỏ con tim người bệnh chảy về...

                                  H.T



Bùi Quang Thanh

(Báo Bảo vệ Pháp Luật)



Hoàng hôn ải Bắc



Giữa mười vạn tinh binh kiêu tướng vẫn rơi đầu

Ải Chi Lăng thêm một hòn đá xám

Bóng ma hờ - cánh dơi chiều chạng vạng

Biển tinh kỳ tơ tướp hóa rừng lau

Bao năm qua. Rồi nhiều ngàn năm sau

Đá giấu mặt sau mây sau cỏ

Hồn bại tướng vật vờ trong lau gió

Cõi thâm u khát một giọt cam lồ

Hoàng hôn này bên bệ đá nàng Tô

Vẳng tiếng trẻ khóc cha từ bờ kia biên ải

Sương hóa lệ. Cánh dơi chiều chững lại...

Mã Yên Sơn vẫn dáng ngựa tung bờm

                                       B.Q.T



 

Bùi Lâm Bằng

(Tạp chí Xứ Thanh)


Ám ảnh đường phố



Tổ tiên vốn dùng tứ chi di chuyển

Hậu bối vươn mình đi bằng hai chân

Kế thế... đi những bước dài

Bước loằng ngoằng

Bàn chân rạch trái đất thành những đường

kinh tuyến vĩ tuyến địa cầu

Dọc ngang nhan nhản dấu vết quần sinh

Vệt mòn chia chác đại ngàn...

Ước mơ chật căng khát thèm bay lên.

Một buổi mai

Bình minh chợt rạng rỡ

Những bộ óc nhập đàn

Sản phẩm của công nghệ tiên tiến làm lười nhác bàn chân

Ngã tư ngã năm nhung nhúc những vật thể di

chuyển được sinh ra từ bộ óc con người

Dấu sắc dấu huyền dấu nặng nhầu nhĩ khóe môi chửi tục

Còi xe thả sức tung tăng

Những bánh quay vô hồn rền rĩ nhựa đường

Những bánh quay vô hồn...

Rầm...

Thực tiễn trở về trên xe lăn...

                               23-9-2009

                                 B.L.B



Hạ Nguyên

(Tạp chí Sông Hương)



Gánh cơm hến đi trong sương




Phá vỡ sự đông đặc trắng

lửa hồng gánh cơm hến của em

mở lối trong sương

thành phố bắt đầu tỉnh giấc

Gánh cơm hến của em đi trong sương

Tôi nhìn thấy lễ hội của rau cỏ

mười ba hay mười bốn

những đoàn xiếc xanh và đỏ treo ngược

những cay - đắng - ngọt - bùi

trộn lẫn những chiêm nghiệm của dòng Hương

qua nghìn triệu mắt hến

ôi xanh Huế nói gì trên vai em?

Nói gì mà chén cơm nguội vẫn bốc khói?

Nói gì mà miếng da rán rộn ràng?

Nói gì mà miếng cơm hến thanh ngọt đọng mùi bùn

những ngày sông đục

Nói gì mà cay?

Mỗi sáng người sông Hương điểm tâm

bằng triết lý cuộc đời

nên mỗi người là một triết nhân là nghệ sỹ

làm nên sự sang trọng của nghèo khó

và sự tinh tế của dân dã...

từ một chút cơm nguội chút ruốc chút muối

chút hến và vô số rau cỏ...

và những trái ớt cay - sự lừa dối tự nuôi sống.

Rồi em vẫy những chiếc nón chào những người xa lạ

đổi sự im lặng sống động này lấy sự sống động khác

Từ lễ hội của rau cỏ

Em làm nên "thành phố của nghệ thuật sống"

Vục mặt vào gánh cơm hến bốc khói của em

lắng nghe sự thủy chung sôi động

rồi hít hà thấy mồ hôi mặn của mình nhỏ xuống

Ôi thành phố này! Đừng có bốc hơi đi!

                             2-12-2002

                                  H.N



Vũ Kim Liên

(Tạp chí Đất Tổ)


Điều không ai muốn tin



Như đã được lập trình

Đêm nào cũng vào giờ ấy

Di động của chị bật sáng:

"Ngủ ngon nhé em yêu!..."

Dẫu biết đó chỉ là lời nói suông

Từ phía người đàn ông không thuộc về mình

mà chị vẫn mỉm cười...

Rồi chìm sâu vào giấc ngủ

Cũng vào giờ ấy

Bên người đàn bà của mình người đàn ông cũng

chìm vào giấc ngủ

Viên mãn như đứa trẻ no sữa mẹ môi còn nhếch

một nụ cười...

Như là đã an bài

Vào giờ ấy chị lại ngẩn ngơ chờ đợi

Di động lại sáng đèn:

"Hôn nhiều nhé em yêu!..."

Rồi yên tâm nhắm mắt mơ giấc mơ có người đàn ông

nâng niu cánh tay mình

Dẫu chị biết rằng ở nơi kia người ấy đang làm việc ấy

với người đàn bà ấy...

Chỉ có người đàn ông mới biết

Anh ta là ai giữa hai người đàn bà mà cả hai đều

yêu anh tha thiết

Và cũng chỉ anh ta mới biết ai là người đàn bà

mà anh ta yêu...

(Thực ra anh ta chẳng yêu ai ngoài bản thân mình)

Tội nghiệp những người đàn bà không muốn tin

vào những điều họ biết...

                                     V.K.L



Viên Lan Anh

(Báo Thanh Hóa)


Với con gái


Mẹ rất muốn có con cả khi mẹ vui và khi mẹ cô đơn

Mẹ rất muốn có con khi đường đời giông bão

mẹ muốn có con như cây tre có thêm đọt măng

Và con đã hoài thai trong nỗi chờ mong của mẹ

Mẹ được tin mừng này khi con mới nhỏ

như hạt đậu ván bám vào thành bụng mẹ

Con ngúng nguẩy hỏi mình là ai?

Rồi con lớn dần lên theo nỗi nhọc nhằn của mẹ

ở trong lòng mẹ con nghe rõ mẹ hát và cười

ở trong lòng mẹ con nghe rõ mẹ buồn và khóc

Con nghe rõ tiếng va đập đồ đạc trong nhà

Con đã nhìn thấy nước mắt mẹ trong như thủy tinh

Dòng nước mắt dịu hiền chảy vào buồng tim làm

môi con mặn chát.

Mẹ lơ đãng nhìn cuộc đời.

Và mang con đi qua những nẻo đường trần gian.

Khi có con mẹ vượt qua trăm ngàn sự nỗ lực cực nhọc.

Và vật lộn đấu tranh

Mẹ không còn thích ngắm mình trong gương

Cho dù đôi mắt vẫn huyền và khuôn mặt xinh tươi

còn có bao người mơ ước

Mẹ không thích tòa nhà cao tầng nơi mẹ vừa xây cho

dù trước đây nó từng là giấc mơ của mẹ

Mẹ không thích ồn ào trong tiếng hoan hô

Mẹ không muốn làm con thiên nga trong cánh rừng già

Hay như con cá vàng nhởn nhơ quẫy đuôi trong bể nước

Nhưng mẹ cũng không thể là con cá lau bể nhẫn nại

cam chịu đến độ đáng thương

Mẹ muốn như chính mẹ từng như vậy

Để mong cuộc đời chấp cánh những ước mơ bay xa

cho chúng ta.

                                             V.L.A



Thanh Phương

(Báo Đời sống - Pháp Luật)


Tìm em



Đi về phía mặt trời

Ký ức là chiếc bóng đeo nặng bàn chân

Quay mặt nhìn tháng ngày vụng dại

Nhập nhòe dòng chảy thời gian.

Em dấu chân mình trong cỏ rối

Để mùa thu mải miết đi tìm?

Anh bỗng hóa thành heo may nông nổi

Lật dỡ từng chiếc lá tìm em.

Bến sông oằn mình

Tiếng gió ru ngày tháng dở dang.

Em sang ngang mù u không đợi chín

Chiếc đò chiều chở ký ức đa mang.

                                         T.P

More...

THỂ LỆ CUỘC THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THỂ LỆ CUỘC THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ

TRÊN TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH

Mục đích:

- Quán triệt tinh thần Nghị quyết T.Ư 5 (khóa VIII) và Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa X) về "Tiếp tục xây dựng và phát triển VHNT thời kỳ mới"; Nhằm phát hiện bồi dưỡng tác giả văn học trẻ để bổ sung cho lực lượng sáng tác văn học xứ Thanh và cả nước; Củng cố và phát triển đội ngũ cộng tác viên của tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh.

Nội dung - thể loại:

- Các sáng tác thuộc các thể loại: Truyện ngắn thơ (không chấp nhận: tiểu phẩm mẩu chuyện trường ca truyện thơ kịch thơ thơ vui châm biếm phóng tác thơ dịch...). Chú trọng những giọng điệu mới tìm tòi và sáng tạo. Ưu tiên đặc biệt những tác phẩm đề cập đến mảnh đất và con người xứ Thanh.

Đối tượng dự thi:

- Tất cả các tác giả bạn viết là thanh niên học sinh sinh viên đang học tập công tác sinh sống trong cả nước; trong độ tuổi từ 15 đến 28 đều có thể gửi tác phẩm dự thi.

Quy cách tác phẩm:

- Tác phẩm dự thi là tác phẩm chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào bất kỳ ở đâu.

- Mỗi tác giả có thể dự thi cả 2 thể loại truyện ngắn và thơ có thể dự thi nhiều tác phẩm và gửi nhiều lần.

- Độ dài bài thơ không quá 50 câu; độ dài truyện ngắn không quá 5.000 từ.

- Tác phẩm dự thi được đánh máy vi tính sạch sẽ in một mặt trên khổ giấy A4. Dưới mỗi bài dự thi cần ghi rõ tên thật và một số thông tin cần thiết về nhân thân: Ngày tháng năm sinh quê quán nơi đang học tập làm việc hoặc cư trú địa chỉ liên hệ chính thức điện thoại... Mỗi tác giả dự thi chỉ dùng một bút danh.

- Tác phẩm dự thi sẽ được chọn đăng trên tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh. Tác giả được hưởng nhuận bút theo chế độ hiện hành.

- Ban Tổ chức không trả lại bản thảo dự thi.

Giải thưởng:

- 2 giải Nhất (mỗi thể loại 1 giải): gồm Bằng chứng nhận và 3.000.000 đ/giải

- 4 giải Nhì (mỗi thể loại 2 giải): gồm Bằng chứng nhận và 2.000.000 đ/giải

- 6 giải Ba (mỗi thể loại 3 giải): gồm Bằng chứng nhận và 1.500.000 đ/giải

- 8 giải Tư (mỗi thể loại 4 giải): gồm Bằng chứng nhận và 1.000.000 đ/giải.

Giám khảo: Ban Tổ chức sẽ mời một số nhà văn nhà thơ có uy tín trong tỉnh và trung ương tham gia ban Sơ khảo và Chung khảo.

Thời gian cuộc thi

- Bắt đầu nhận tác phẩm từ 15-6-2010 đến hết ngày 30-10-2011.

- Tổng kết và trao giải thưởng: tháng 12-2011.

Nơi nhận tác phẩm dự thi:

- Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh

Số 25 - phố Cửa Tả phường Ba Đình t.p Thanh Hóa

Điện thoại: (037)3.859.400; E-mail: vnxuthanh@yahoo.com.vn

                                                     BAN TỔ CHỨC CUỘC THI

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐÀM QUỲNH NGỌC

Nghề báo

         Tặng anh T.H.C

Truyện ngắn


 

       Trước lúc chia tay để ra Hà Nội tôi gọi đùa ông là nhà báo nhân dân ông cười tủm tớ chỉ muốn đạt được danh hiệu người chồng nhân dân cho oách và có hiệu quả thu nhập cao. Tôi cười theo nghiêng ngả thấy ông xuề xòa vui tính nhưng hóm hỉnh ai ông cũng nói chuyện được bất kể là thành phần nào trong xã hội khác với những ngày đầu mới gặp ông. Nhưng đó là chuyện mười năm trước tôi còn là sinh viên thực tập báo chí ở báo của ông chuyện ấy nói sau còn mới hôm qua đây tình cờ gặp lại trong một tình huống bất ngờ. Trong chuyến đi công tác ở xứ Nghệ sáng sớm đi thể dục trên đường phố nghe ai đó gọi tên mình. Ai thế nhỉ? Cứ nhìn quanh quất đường vắng tanh chỉ thấy một ông già có mái tóc trắng tinh đang hỏi mua tờ báo của cậu bé bán rong. Dừng bước nghiêng ngó một chốc tôi không quen ông già này mà có phải mình nghe nhầm không nhỉ? Đang dợm bước chân lại nghe tiếng gọi lần này ông già tóc trắng đang nheo mắt cười tủm với tôi. Thôi chết rồi cái điệu cười chết người ấy là ông tôi nhận diện được ngay có điều chỉ hơi gầy đen hơn tóc trắng hơn chưa kịp reo lên ôi à thì ông đã xưng danh trước:

- Anh Nam nhà báo nhân dân đây quên rồi à?

Ông nói rồi lại cười tủm làm sao tôi quên được những ngày đầu đi thực tập ở miền Trung đầy nắng và gió Lào cát trắng. Ngày ấy tôi được phân công về tờ báo ngành do ông phụ trách. Thực tình lúc ấy tôi chưa có cảm tình với tờ báo và người phụ trách. Tổng Biên tập gì mà nhìn giống người nông dân dáng người thấp đậm da đen tóc muối tiêu mắt đeo kính cận hất lên hất xuống đã thế trong phòng làm việc của ông còn có điếu cày thi thoảng lại rít lên sòng sọc mặc dầu trong túi ông không thiếu thuốc lá ngoại của người cộng tác viên cho. Những lúc ông nói chuyện nom gương mặt rạng rỡ và trẻ trung lúc ông ngồi một mình suy nghĩ thật già nua và khắc khổ. Bài đầu tiên của tôi với nghề làm báo ông xem đi xem lại rồi lắc đầu nói thẳng thắn rằng viết bài này để tính điểm số lượng bài vở thì được chứ không phải để in báo in làm sao được bài vở mà chẳng có hồn vía gì cả chẳng nói phát hiện được điều gì mới. Bài viết về cuộc sống của người dân tộc không có gì là sai nhưng cũng chỉ xoay quanh dữ liệu: diện tích dân số tệ nạn xã hội những khó khăn... Điều ấy báo chí đưa tin nhiều rồi nói nhiều chỉ làm rối thêm mà chẳng giải quyết được gì. Những điều cần giải quyết được cho dân thì ban ngành chức năng đã giải quyết vả lại không phải muốn là được phải có cả một quá trình lâu dài và bền bỉ mới có sự thay đổi ví như phong tục tập quán lối sống... Nghe ông nói tôi nóng mặt phải vất vả trèo đèo lội suối đến ba ngày mới có bài viết về người dân tộc đang thời kỳ khó khăn ông thẩm định thế nào mà lại "phán" thế nhỉ? Là người mới quen nên sự thân tình cũng phải có chừng mực ăn nói cũng phải có chừng mực vả lại đang là sinh viên thực tập nên tôi vâng vâng dạ dạ nhưng trong lòng muốn dùng chữ "giáo điều" để "phán" lại ông. Ông vẫn vui vẻ hồn nhiên với những gì vừa nói với tôi không để ý đến phản ứng của người nghe. Uống nước hút thuốc rồi ông rủ tôi đi cơm bụi. Thực tình tôi không muốn nhưng không hiểu sao vẫn cun cút bước theo ông. Quán cơm đông chật người ăn trưa ông hồ hởi gọi thức ăn xắn tay áo vào nhà bếp lấy rau thấy người xe ôm đứng lơ ngơ chờ khách nơi cửa quán ông gọi vào ăn cơm luôn. Quả tình nhìn ông vào lúc này tôi càng thấy ông chẳng có gì là nhà báo cả. Mặc dầu là tổng biên tập một tờ báo của ngành lớn đã có danh có vai vế trong xã hội ở đâu chẳng biết bây giờ thấy ông đang chuyện trò vui vẻ với xe ôm nghe ra thân thiết lắm cũng quàng tay qua vai chén rượu chai nút lá chuối đĩa lòng lợn đang bốc khói ăn to nói lớn hút thuốc lào xỉa răng tanh tách. Tôi ghé vào tai ông hỏi nhỏ có phải anh muốn viết về xe ôm hay sao mà có vẻ thâm nhập thực tế sâu sát thế. Ông cười tủm tỉm viết gì chúng nó là bạn rượu bạn cơm bụi của tớ đấy chúng nó khổ quá vợ dây đến ma túy bị tóm rồi một đoàn con nheo nhóc đang ăn theo chiếc xe máy sắp tàn. Tớ đã nói trường hợp này với đứa bạn làm bên Ngân hàng chính sách cho nó vay một ít làm vốn để nuôi dê thằng này máu nuôi dê làm giàu lắm. Trước đây nó có cả đàn dê ở Thanh Chương rồi đấy chứ nhưng con vợ cờ bạc đề đóm sa đà cả ma túy nên bị trắng tay may chưa phải dựa cột còn mỗi xe máy rách kiếm cơm chim cho con qua ngày đoạn tháng thằng cha đang cú đời đấy. Tôi đưa đà anh viết về nhân vật này cũng có giá hấp dẫn nữa chứ sao không viết. Ông tròn mắt nhìn tôi thế cái gì cũng đưa lên báo à thằng xe ôm có gì đâu mà viết chuyện gia đình nó nát như tương nguyên nhân thì đã rõ ràng như mặt trời rồi nghèo khổ do nó gây ra chỉ mỗi việc cần vốn làm ăn "xóa đói giảm nghèo" tớ đã nói với Ngân hàng chính sách đưa thân tớ ra để thế chấp họ đồng ý cho vay tuần sau xong thủ tục nhận tiền nó về quê chuẩn bị chăn nuôi dê tạm biệt xe ôm.

Ông nói lại cười mọi chuyện nhẹ nhàng như không có chuyện gì xảy ra. Bữa ăn trưa kết thúc tôi và xe ôm tranh nhau trả tiền. Ông cười dí dỏm để đấy tớ không trả tiền sẽ có sự bất công khi so sánh thu nhập giữa các thành phần lao động. Nói thế tất nhiên là ông có quyền chi bữa ăn trưa để bảo đảm tính công bằng trong ba người. Ai cũng đều cười vui vẻ.

Những ngày sau đã thân quen tôi biết nhiều điều về ông. Ví như ông có rất nhiều bạn bè ở mọi tầng lớp trong xã hội ai ông cũng đối xử như nhau không phân biệt địa vị trong xã hội. Có người nhờ cậy việc này việc nọ ông thường làm đến nơi đến chốn. Nhất là những người dân quê người lao động chân tay thường vây quanh ông như người thân quen lâu lắm rồi để nhờ cậy. Có những việc giúp được thì ông trả lời kết quả không giúp được cũng trả lời không phải chờ đợi lâu. Thực tình những việc ông giúp đỡ dân nghèo không có gì liên quan đến nghề báo chẳng qua đều do quen biết mà giúp thôi. Có lần tôi được ngồi uống cà phê sáng với ông và mấy tay xích lô hứng lên ông đọc thơ:

Nực cười mấy vị chính quyền

Có duyên đi đứng trên miền quê hương

Dân thì một nắng hai sương

Đào cua đổi muối sớm hôm tảo tần

Còn như các vị vô cùng

Bán đất bán biển dành phần cho nhau

Dân nghèo lặn lội trước sau

Ai ăn ai bớt ai giàu ai sang

Các anh trong cánh ủy ban

Tiền vơ nặng túi làm gian công trình

Ông đọc xong có tiếng cười tiếng vỗ tay lẹt đẹt ông giao hẹn tớ chỉ lên án mấy vị chính quyền thôi nếu tất cả đều như thế thì làm gì còn chính quyền. Uống cà phê đang vui đúng lúc ấy có chiếc xe của một vị đầu ngành xịch tới ông mang túi vào vai chào cảm ơn chú em đúng hẹn. Ông dặn tôi ở tòa soạn viết cho xong bài sốt xuất huyết đi nhé tớ đi nhờ xe dự lễ khởi công nhà máy thủy điện lớn ở miền Trung.

Chuyện của mười năm trước tôi đi thực tập ở miền Trung có kỷ niệm vui buồn về Tổng biên tập như vậy. Rồi cuộc sống cuốn tôi trôi vào vòng quay kiếp mưu sinh. Và nói cho cùng những ngày đi thực tập tiếp xúc với Tổng biên tập tóc trắng là bài học quý giá cho nghề nghiệp mà dần dà theo thời gian tôi mới nhận ra. Tuổi trẻ hồn nhiên cuộc sống quay cuồng nhiều lúc khiến tôi giống như là kẻ vô ơn. Bây giờ đây ông già tóc trắng đang hỏi han về cuộc sống nghề nghiệp của tôi đến đâu rồi có gì cần tớ giúp nữa không? Ông hỏi tôi rồi đi lúc ấy tôi mới nhận ra một điều rằng giúp đỡ người khác cũng là thói quen của một người cả một đời làm báo. Tại sao chỉ có ông giúp đỡ mà không có hành động nào ngược lại từ tôi với ông?

                                                                 Tháng 11 - 2009

                                                                        Đ.Q.N

More...

GHI CHÉP

By Văn Nghệ Xứ Thanh

ĐINH QUANG THÀNH

Vươn lên từ

đôi bàn tay trắng

Ghi chép


 

        Chiến Thắng là cái tên làng chài nhỏ của xã Ngư Lộc nằm kẹp giữa hai cửa Lạch Trung và Lạch Trường (Thanh Hóa) hình thành từ phù sa bồi đắp nên khá chật chội vá víu. Ngoài biển cách làng chài không xa là hòn Nẹ nơi những con thuyền không đủ sức ra khơi đành buông lưới trong lộng quanh hòn đảo hoặc ven biển kiếm đàn cá nhỏ hoặc đám ruốc đám moi. Trong một lần qua đây thi sỹ Tố Hữu đã viết:

... Hòn Nẹ ta ơi mảng về chưa đó

Có nhiều không con nục con thu?

Con nục con thu trong lộng giờ đã hiếm. Thoảng vẫn có đôi con mắc lưới nhưng những đứa trẻ ở đây đã từ lâu "không biết mùi con nục con thu ra răng" là bởi mảng về đến bờ các thương lái đã dành nhau cân vội mang sang Sầm Sơn phục vụ du khách. Nhớ về những ngày thơ ấu ở cái làng chài còn nghèo đến tận nay anh bạn tôi giờ đã là chủ tịch HĐQT một doanh nghiệp lớn nổi tiếng trong ngành xây dựng mắt vẫn rưng rưng.

*

Bùi Dương Hùng lớn lên đồng hành cùng những nhọc nhằn trong cái làng chài mang tên Chiến Thắng ấy. Làng có nghề đánh cá đã lâu đời nhưng không một gia đình nào có đủ vốn đóng con tàu có sức ra khơi chỉ có những con thuyền gỗ mảnh và những chiếc mảng ghép bằng tre bương vượt không quá vùng sâu 50 sải nước đành quẩn quanh trong lộng. Phụ nữ thì tất bật suốt ngày bên các ang chượp làm mắm hoặc tần tảo các chợ quanh vùng bán mớ tôm mớ cá... Mỗi sáng lũ trẻ đến trường thường chỉ có vài củ khoai luộc hoặc bát cơm vàng màu ngô độn. Sau giờ tan lớp chúng giãi nắng suốt buổi chiều trên bãi biển kiếm con còng con rạm hoặc lội theo các lạch nước vớt ít trứng cá da trơn theo con nước vào đẻ rồi về rang mặn cho bữa cơm chiều. Cả làng biển ấy chen chúc trên diện tích chưa đầy một cây số vuông với mười ba nghìn dân sinh sống. Đất chật người đông lũ trẻ lớn lên đều cố vùng vẫy khỏi cái nơi đã nuôi chúng suốt thời thơ ấu nhưng nào có dễ gì.

Học hết cấp II Bùi Dương Hùng được người chú gửi ở nhờ tại trại nuôi cá tận Gia Viễn (Ninh Bình) cách nhà 70 cây số và hai lần đò ngang để học tiếp. Đang tuổi ăn tuổi ngủ khốn nỗi thiếu tiền ăn học ngày nghỉ và các buổi chiều cho tận tối mịt Hùng theo cánh thợ đấu ở Nam Định đi đắp đê. Hết việc làm đất Hùng đi quại cói thuê cho HTX làm thảm xuất khẩu. Có lần nhớ nhà Hùng đi bộ về thăm. Đường xa bụng đói Hùng nằm lả bên đường thiếp đi. Hai giờ đêm tỉnh giấc bước thấp bước cao cậu học sinh nghèo hướng theo tiếng sóng biển vỗ ầm ào vào bờ cát quê nhà...

Năm 1975 Hùng thi đỗ vào đại học xã có ba học sinh thi đỗ thì hai được ủy ban xã cấp giấy cho đi riêng Hùng bị giữ lại chỉ với những lý do mà ở tuổi Hùng không sao hiểu nổi. Hơn mười năm đèn sách đâu chịu bỏ Hùng lên huyện rồi lên tỉnh năn nỉ kêu xin mới được nhận vào Đại học kiến trúc nhưng muộn mất một tháng. Biết mình phận nghèo Hùng chăm học nên môn nào cũng giỏi. Đang học năm thứ tư thì biên giới có biến. Hùng và các bạn cùng trường gia nhập quân đội và được đưa lên Bắc Quang (Hà Giang) huấn luyện. Ba tháng sau Hùng cùng năm bạn cùng lớp được cử về trường văn hóa Quân khu II dạy toán cấp 3. Được tiền bồi dưỡng đứng lớp Hùng dành dụm cho những năm tháng sau này. Bốn năm qua nhanh tháng 7 - 1983 Hùng rời quân ngũ và trở lại trường học tiếp hai năm còn lại. Năm năm miệt mài trong trường Kiến trúc Hùng luôn được bầu là sinh viên ưu tú và ra trường với tấm bằng tốt nghiệp loại ưu. Tính ra từ ngày vào đại học đến khi ra trường anh mất gần mười năm.

Cầm tấm bằng tốt nghiệp đi xin việc Hùng run lên vì xúc động. Cả quãng đời niên thiếu đầy gian khổ nhọc nhằn giờ đã sang trang mới giục anh nuôi chí lớn. Năm Hùng ra trường cũng là năm Nhà nước ta bắt đầu thời kỳ đổi mới và hội nhập khó khăn và cam go vô cùng.

Thời gian đầu anh được điều về Tổng Công ty xây dựng Hà Nội. Không lâu sau Bộ Xây dựng lại cử anh sang Tổng Công ty lắp máy. Có việc làm nhưng đồng lương chưa giúp gì nhiều cho một anh kỹ sư mới lập nghiệp. Hùng tranh thủ ngày nghỉ và sau buổi chiều ở cơ quan làm thêm việc trác đạc cho các xã ngoại thành để thêm tiền mua sách tham khảo và không quên gửi tiền về quê giúp mẹ nuôi em.

Làm quen với thiết bị hiện đại trên các công trình xây dựng Hùng say mê lao động nghiên cứu tìm tòi nên có nhiều cải tiến kỹ thuật trong việc nâng hạ và lắp đặt các kết cấu bê tông có trọng lượng lớn như dầm cầu Mai Động tấm mái nhà A76 sân bay quốc tế Nội Bài lắp nồi hơi nhà máy đường Lam Sơn... Bùi Dương Hùng đã nhiều lần cải tiến cần cẩu nâng tải trọng vật liệu lên gấp rưỡi so với thiết kế. Chỉ riêng việc lắp đặt kết cấu dàn mái các xưởng máy nhà máy điện Phả Lại Công ty anh đã làm lợi cho Nhà nước gần 100 triệu mỗi ngày. Duy có một việc mãi sau này anh vẫn không quên: Đó là việc Hùng được giao khôi phục lại cây cổng Xanh số 2 của Phủ Chủ tịch có từ gần 100 năm trước đã hỏng nhiều bộ phận sắt đã rỉ cong. Hùng dành cả tuần đo đo vẽ vẽ thiết kế lại một số chi tiết rồi đưa gia công lại. Cổng hoàn thành như nó vốn có và được dựng ở lối vào Phủ Thủ tướng trên đường Hùng Vương hiện nay.

Năm 1998 Bùi Dương Hùng được mời về làm phó giám đốc Công ty cơ khí - lắp máy thuộc Tổng Công ty Licogi chuyên trách xây lắp nhà máy điện Phả Lại. Tại đây Hùng thỏa sức vẫy vùng với mong muốn đóng góp phần mình cho nhà máy nhiệt điện lớn nhất nước. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và học được nhiều điều từ các chuyên gia Hàn Quốc Bùi Dương Hùng được cử vào thành phố Hồ Chí Minh cùng với chín đồng nghiệp thành lập Công ty Licogi16 với số vốn chỉ vẻn vẹn 1 9 tỷ đồng. Khó khăn chồng chất nhưng anh không nản. Hùng nhanh chóng tìm được hướng đi đúng cho Công ty do anh làm giám đốc tạo uy tín với khách hàng bằng chính việc bảo đảm tiến độ thi công và chất lượng các công trình nên ngày càng được giao thi công nhiều công trình lớn kỹ thuật phức tạp như: xây lắp nhà máy gạch granite Đồng Nai nhà máy thủy tinh nổi Viglacera ở Bình Dương nhà máy nước Thủ Đức đóng tầu Dung Quất; các nhà máy Thủy điện A - Vương Đồng Nai 3 Thủy điện Hướng Điền ở Huế Ba Hạ ở Phú Yên Bản Vẽ ở Nghệ An Cửa Đạt ở Thanh Hóa và đặc biệt là nhà máy thủy điện Bản Chát ở Lai Châu nơi Công ty đã đầu tư 270 tỷ đồng nhập từ châu Âu và Mỹ xưởng bê tông đầm lăn hiện đại nhất Việt Nam dùng đắp gần 2 triệu mét khối bê tông đầm lăn tại đập nước thủy điện này. Công ty Licogi16 cũng đã chế tạo và lắp đặt các trạm biến áp lớn tại Bình Dương Đồng Nai Vũng Tàu và Lai Châu; Xây dựng các nhà ga sân bay Nội Bài Đà Nẵng Tân Sơn Nhất. Công ty của anh cũng rất thành công trong đầu tư kinh doanh các khu đô thị mới như: các nhà liên kế tại khu Trung tâm thương mại Ngãi Giao (Bà Rịa - Vũng Tàu) khu đô thị Long Tân ở Đồng Nai diện tích lên tới 240 héc ta v.v...

Tám năm sau ngày thành lập từ 1 9 tỷ đồng vốn ban đầu nay vốn chủ sở hữu của Licogi16 đã tăng lên hơn 1000 tỷ đồng lợi nhuận năm 2009 đạt gần 200 tỷ đồng. Công ty có hàng trăm xe máy thi công hiện đại có thể thi công nhiều lĩnh vực khác nhau trên địa bàn toàn quốc.

Hai tư năm công tác trong ngành xây dựng giờ Bùi Dương Hùng đã là Chủ tịch Hội đồng Quản trị một Công ty lớn với 9 Công ty thành viên giá trị tổng sản lượng đạt gần 2000 tỷ đồng/năm.

Những năm gần đây Licogi16 luôn định hướng đầu tư vào các dự án sản xuất các sản phẩm thân thiện và bảo vệ môi trường như: Góp vốn đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất tro bay từ nguyên liệu là xỉ than thải ra từ các nhà máy nhiệt điện để sản xuất tro bay và than hạot tính tạo ra phụ gia khoáng phẩm cao cấp để sản xuất bê tông đầm lăn dùng đắp đập công trình thủy điện lớn liên doanh cùng với Nhật Bản và Tổng Công ty Dầu Việt Nam xây dựng nhà máy sản xuất Bio - ETHANOL công suất 300.000 lít/ngày dùng pha vào xăng nhằm giảm bớt lượng khí thải độc hại vào môi trường; đầu tư 270 tỷ đồng nhập dây truyền sản xuất bê tông đầm lăn công nghệ tiên tiến của Đức và Mỹ công suất 500m3/giờ hiện đặt tại nhà máy thủy điện Bản Chát (Lai Châu) giúp tiết kiệm điện năng giảm khí thải ra môi trường được các chuyên gia trong ngành đánh giá đạt nhất Việt Nam. Trò chuyện với tôi Hùng cho biết giờ là lúc anh có điều kiện nghĩ về việc làm giàu cho quê hương Thanh Hóa. Công ty Licogi16 do anh lãnh đạo đã đầu tư hàng ngàn tỷ đồng xây dựng Trung tâm luyện cán Thép tại khu công nghiệp Nghi Sơn và xây dựng ở đây trường Cao đẳng ứng dụng khoa học Licogi có thể tiếp nhận tới 2000 sinh viên/năm dành cho các tỉnh Khu 4 cũ đặc biệt là Thanh Hóa.

Tôi được biết thêm là từ vài năm trở lại đây Công ty của anh đã nghĩ tới việc thiện. Đợt đầu góp 400 triệu đồng khôi phục ngôi chùa cổ Ngọc Châu ở Cẩm Thủy (Thanh Hóa). Gia đình anh cũng đã cúng 200 triệu để đúc quả chuông đồng lớn đặt tại chùa Chặng ở xã Cẩm Sơn. Anh cũng đã góp phần mình và kêu gọi bạn bè đồng hương góp được gần 8 tỷ đồng trùng tu lại đền chùa nghè Diêm Phố và các di tích đã được Bộ Văn hóa xếp hạng tại quê nhà huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa). Anh thường nhắc tôi nếu có chuyến đi làm từ thiện ở vùng cao xin cho biết để anh gửi chút quà tặng và anh đã giữ trọn lời hứa. Chuyển cho tôi chiếc phong bì đựng tiền để mua chăn áo ấm sách vở và chiếc máy thu hình tặng bà con nghèo học sinh và thầy cô giáo ở xã Lũng Cú Hà Giang mắt anh rưng rưng Hùng nói: gia đình tôi giờ đã thoát nghèo nhờ anh gửi chút quà đến những người vẫn còn nghèo như tôi xưa. Xin ghi nhận tấm lòng thơm thảo của Bùi Dương Hùng Chủ tịch Hội đồng Quản trị Licogi16 và là chiến sỹ thi đua toàn quốc của ngành xây dựng nhiều năm qua.

Đ.Q.T

NGUYỄN THẾ TƯỜNG

Trở lại xứ Thanh

Ghi chép

      Mũ phớt áo ghi lê dày bát kết tôi ăn vội suất sáng dành cho trại viên sáng tác văn học ở nhà nghỉ dưỡng Hương Thanh Sầm Sơn.

- Đi đâu thế?

- ... !

- Đi đâu mà cũng không biết?!

Sự thực tôi cũng chưa biết đi về hướng nào. Sau lưng là biển Sầm Sơn còn thì cất bước sang bên trái bên phải trước mặt cứ vào sâu đất Thanh là gặp các tầng dày mỏng của ký ức hướng nào cũng tìm lại được mình cả...

Kỷ niệm gần...

Năm đầu tiên của Thiên niên kỷ thứ ba ầm ĩ lên chuyện hài cốt của tám thanh niên xung phong quê Hoằng Hóa (Thanh Hóa) trong hang Tám Cô đường Hai Mươi Quảng Bình. Tôi về Hoằng Thịnh Hoằng Trường... Đến nhà các liệt sỹ Lương Mai Tơ Huệ Vụ... gặp thân nhân. Vụ việc lên tận Quốc hội. Tôi đi lại con thoi Quảng Bình - Thanh Hóa - Hà Nội viết hơn chục bài báo đối thoại với ba Bộ (Lao động - Thương binh - Xã hội; Quốc phòng; Văn hóa - Thông tin) bế tắc vẫn hoàn toàn bế tắc. Năm 1972 trên đường Hai Mươi tám thanh niên xung phong trên đây đang làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông thì bị bom B52 vùi lấp chết thảm trong hang đá. Có những động tác không chuẩn khi khai quật (nấm mộ chung) này biến họ thành liệt sỹ vô danh. Cái việc của chúng tôi làm là trả lại tên cho các bạn ấy. Một chiều tôi về tới nhà Mai nhà Lương. Ba mẹ của Mai đã khuất núi chỉ còn người em trai tên là Phước thì đang lên rừng khai thác luồng kiếm tiền nuôi một lũ con. Nhà Lương còn mẹ già mẹ Ngoạn. ở Quảng Bình những ngày mùng một rằm tôi thường tới thắp hương lên những nấm mộ vô danh mà người ta mang từ hang Tám Cô về chôn giấu ở nghĩa trang Thọ Lộc. Những lần ấy như có thần giao cách cảm kéo tôi tới một nấm mộ mà tôi đoán là của Lương. Bạn ấy bằng tuổi tôi đồng mạng tương giao. Nên những lần về Hoằng Thịnh tôi thường nghỉ lâu tại nhà mẹ Ngoạn. Chiều nắng hắt bóng khoảng sân. Tôi ngồi trên bậc thềm chờ mẹ về. Có một cơn gió thổi ào ạt qua các bụi cây lá trong vườn. Một phụ nữ trạc... tuổi đi nhanh vào sân:

- Lương! Tôi thảng thốt đứng bật dậy người bỗng ớn lạnh.

- Không phải Lương mô hắn là em giống con Lương như đúc vậy - Mẹ Ngoạn từ vườn rau bước tới.

Hoằng Hóa đất lạ bỗng thành quen. Tháng 5 - 2009 lễ kỷ niệm 50 năm đường Trường Sơn tổ chức tại di tích hang Tám Cô nơi các bạn chết thảm lễ dâng hương tại nghĩa trang Thọ Lộc nơi các bạn nằm vô danh Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến dự. Tiểu đội các bạn được truy phong danh hiệu Anh hùng. Gần hang Tám Cô còn một địa danh nữa mà người quê tôi gọi là hang Y tá. Cái hang nhỏ xíu nông choèn nằm ngay lưng chừng vách đá cách mặt đường hơn 20 mét. Trong một chuyến chuyển viện cho thương binh Nguyễn Thị Sặng quê thành phố Thanh Hóa một mình mặc lũ giữa rừng cô đơn với đói rét chị trèo lên nấp tạm vào cái hang nhỏ chờ qua đêm không ngờ lên cơn sốt rồi mất. Người Vân Kiều bèn biến cái hang đá nhỏ thành nấm mộ đặt tấm bia và gọi là hang Y Tá. Chị Sặng còn mẹ già 90 tuổi và hai chị em gái ở quê.

Ký ức xa...

Bốn mươi hai năm trước cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ trên vùng Cán Xoong - Quảng Bình - Vĩnh Linh dần dần đẩy đến độ hủy diệt. Có gần 5 vạn thiếu niên theo kế hoạch 8 - kế hoạch 10 (K8 - K10) vượt tuyết lửa ra Bắc. Chúng tôi đi ngày đi đêm dưới hỏa lực của không quân Mỹ. Hàng trăm bạn nhỏ rải rác nằm lại trên những nẻo đường chiến tranh. Đất xứ Thanh dang vòng tay rộng lớn đón chúng tôi. Vĩnh Lộc Thiệu Hóa Thọ Xuân... Sông Mã hùng vĩ những biền bãi bắp mía và khoai phố Záng phố Kiểu Quán Lào những cửa hàng nhà nước đổi tem gạo lấy cơm độn ngô. Thanh Hóa xác xơ vẫn trụ vững làm hậu phương trực tiếp cho tuyến lửa. Tốt nghiệp phổ thông tôi dời đất Vĩnh Lộc để lại một mối tình thơ dại. Mười bảy tuổi thời ấy chưa biết hẹn hò chưa nói được những lời có cánh những chiếc khăn musoa ủ hương bưởi giọt nước mắt nhạt nhòa lúc chia tay khiến trái tim tôi nức nở mãi không thôi. H - N! giờ này bạn ở đâu?

Sáu năm sau. Kết thúc chiến dịch Quảng Trị với những tổn thất không nhỏ trung đoàn chúng tôi lùi ra Bắc đóng quân củng cố ở xã Nguyên Bình (Tĩnh Gia). Huyện lỵ Còng Tĩnh Gia luồi đi trong những cơn giáp hạt gồng mình gánh đỡ cho quân đội. ở đây lần đầu tiên trong đời chúng tôi gieo lúa trong đất cát. Chúng tôi vừa huấn luyện chiến thuật hợp đồng binh chủng vừa chăm sóc hý hửng thấy lúa bắt đầu trổ bông nhưng đã không kịp gặt: Chiến dịch Xuân - Hè 75 rồi chiến dịch Hồ Chí Minh. Lữ đoàn tăng thiết giáp hối hả hành quân vào trận để lại sau lưng một Tĩnh Gia thân thương và những đám ruộng khô trên đất cát - Bài học nhập môn nông nghiệp của chúng tôi.

Tôi lại về đây Thanh Hóa ơi! Không chắc một tỉnh thứ hai có hệ thống ôtô bus hoàn hảo như ở đây. Từ phòng ngủ của nhà nghỉ Hương Thanh (số 5 đường Lê Lợi cách bãi tắm A 100 mét) bước ra cổng là có thể đi ngay các huyện trong tầm 40 ki lô mét. Bốn mươi ba năm trước trên đôi chân trẻ thơ từ thị xã tôi ngược dòng sông Mã gầm thét bởi con nước bởi bom đạn lên Vĩnh Lộc mất ba ngày. Giờ đây xe bus chỉ chạy hơn một giờ. Qua Vạn - Kiểu rồi mới đến Záng. Người Thanh Hóa ưa nói hình tượng cứ lấy các địa danh mà vận vào vẻ đẹp phụ nữ (phụ nữ Thanh Hóa đẹp không nhỉ?!) Mùa thu bãi bắp nương khoai ven sông Mã uốn mình mềm mại như chưa bao giờ gầm thét. Thị trấn Vạn thị trấn Kiểu hồi sinh nhộn nhịp thương trường nhưng Záng của tôi biến mất dưới lòng sông Mã chỉ còn lại những bờ đất dựng đứng hốt hoảng trước mỗi mùa nước nổi. Người ta dựng lại một Záng mới - Thị trấn Vĩnh Lộc ven tỉnh lộ 47 chạy thẳng qua cổng thành Nhà Hồ lên suối cá thần Bá Thước. Đất Thanh Hóa mênh mông người Thanh Hóa đông nhất trong các tỉnh cả nước. Năm 1973 có một tiểu đoàn bộ binh cơ giới xứ Thanh bổ sung vào lữ đoàn của tôi. Giờ đây có rất nhiều những người đàn ông đứng tuổi dựng xe đạp cuốc xẻng ở các ngã ba thị trấn chờ việc. Họ tập hợp thành những chợ lao động nhỏ. Thực tâm tôi rất ngại nhìn kỹ vào gương mặt đăm chiêu của họ vừa buồn vừa ngại lỡ nhận ra một đồng đội cũ. Không bao giờ tôi nghĩ những người lính từng đổi sinh mạng của mình giải phóng và gìn giữ đất đai lại thiếu đất canh tác phải lên thị trấn xin việc. Người đẻ đất không đẻ lại còn dự án treo sân golf!? Nghe vẳng câu hát: "Giờ này anh về đâu hỡi người bạn cũ cùng binh đoàn... nếu giờ này bạn hiền còn thiếu một gia đình..." Gia đình thì không thiếu chỉ thiếu đất thiếu việc. Bốn mươi năm trước tôi đã thấy những nhà ven phố cứ đều đều như những cửa hàng nhỏ. Nay vẫn thế tường xây mái luồng lợp ngói to hơn nhiều hàng hóa hơn. Người xứ Thanh khí khái hơi bảo thủ động một tý là "đùng đùng nổi giận lập quốc gia riêng" (lời đồng dao).

Động An Tôn! 600 năm Tây Đô vẫn nửa mê nửa tỉnh. Số vốn giành cho phục chế chỉ đủ ngăn bớt sự xuống cấp. Triều Hồ đã được nhìn nhận lại. Thanh Hóa 600 năm sau như sắp sẵn nội lực cho một cuộc vươn dậy: Thị xã Sầm Sơn khu công nghiệp Nghi Sơn Bỉm Sơn là những điểm nhấn. Những ngày còn lại ở xứ Thanh chắc tôi sẽ về thăm lại Tĩnh Gia của một thời trai trẻ trận mạc về Hoằng Hóa thăm mẹ Ngoạn anh Phước và gia đình những thanh niên xung phong trong hang Tám Cô. Còn lúc này tôi vẫn đang viết về những người "mãi mãi tuổi 20" - Trại viết của Chi hội nhà văn công an và báo Công an tổ chức. Nhà nghỉ dưỡng Hương Thanh của Công an Thanh Hóa làm được cái việc mà chưa có một Rề - soọc 5 sao nào nghĩ tới: Thư viện 1000 đầu sách cho khách trọ và người nghỉ dưỡng. Ban lãnh đạo đã thực hiện cái định đề của Lê Nin: "Cách nghỉ ngơi tốt nhất là đọc sách". Khi tôi viết tới những dòng cuối này thì bất ngờ nhận được cú phone của ông giám đốc sở văn hóa Quảng Bình nhờ liên lạc với gia đình liệt sỹ Nguyễn Thị Sặng tại thành phố Thanh Hóa. người ta quyết định dựng một đền thờ tại hang Y tá. Vậy là chị Sặng mất đi sau 40 năm gửi thân cheo leo trên vách núi nay sắp có một nơi hương khói dưới mặt đất.

Vĩ thanh

Đọc lịch sử thấy nhiều nhà nghiên cứu than rằng cơ chi năm 1885 sau vụ biến kinh thành Huế vua Hàm Nghi xuất bôn không dừng lại tổ chức kháng chiến ở miền Tây Quảng Bình mà ra thẳng Thanh Hóa nhân tài vật lực dồi dào lại là nơi phát tích của triều Nguyễn hẳn thế cuộc đã khác! Có thể thế chăng? Không ai lật ngược lịch sử để làm lại nhưng "mai sau dù có bao giờ" dòng chảy cuộc sống đưa anh về với xứ Thanh hẳn sẽ có nhiều điều để nói.

                    Nhà nghỉ dưỡng Hương Thanh (Sầm Sơn) tháng 11 năm 2009.

                                                      N.T.T

More...

THƠ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TRỊNH MINH CHÂU

Viết lúc đi bộ

Bước này vượt dãy Trường sơn

Rừng khuya dốc đứng đường trơn mưa rào

Bước này nắng hạ gió lào

Nén cơn khát nước nhìn vào mắt nhau

Bước này vượt quãng sông sâu

Sa Thày Vàm Cỏ... không câu gọi đò

Miền tây đêm ngắn gió to

Cắm vè đưng lác che cho kín người

Bước này cùng ngắm sao trời

Vượt kênh Vĩnh Tế có người chìm luôn

Bước này bão cuốn thác tuôn

Tiến về thành phố thỏa muôn tấm lòng

Bước này lắm nỗi long đong

Bo bo mạch nát cho xong một ngày

Bước này trăn trở vơi đầy

Bung ra... mình với mình đây qua cầu

Bước này bước thuở ban đầu

Thương nhau nên phải tìm nhau một đời.

                               12-2009

                                 T.M.C





ĐẶNG THỊNH TƯ

Dưới chân núi Ba Voi



Chuyện xưa

Đi vào truyền thuyết

Ai xuôi dòng sông Hoạt

"Lênh đênh qua cửa Thần Phù..."

Mong manh chìm nổi.

Chàng Từ Thức lạc miền thượng giới

Những nàng tiên xiêm áo vào ra

Không quên cây táo ngõ nhà

Mẹ cha đứng đợi

Ngày về đã mấy trăm năm...

Có phải vì câu ca con cua cái ốc

Em làm dâu Đa Nam

Sóng dềnh đồng trắng nước trong

Đồi bãi

Bao đời sâu nặng.

Dãy "Răng cưa" mòn theo làn khói trắng

Gió tràn phố mới Bỉm Sơn

Đàn bò theo người chân đất về thôn

Trưa tháng ba thưa vắng.

Qua làng Mới nhớ bến sông làng cũ

Hoang tưởng ngày nào

Chỉ còn ông lão nhom nhem

Rặng sa mộc vẫn ồn ào phiên chợ.

Cánh rừng xưa ủ thơm đồi dứa

Nắng trải vàng chân núi Ba Voi.

                        Đ.T.T




SƠN HẢI

Huyền thoại câu Xường

Truyện xưa có mụ Dạ Dần

Kĩu kịt trên đường quẩy gánh Xường Xuân

Bước lần ngang qua thiên hạ

Ai biết lòng dạ

Mụ gieo Xường đâu đây?

Một hôm qua đất Ký ống - Mường Ai

Bỗng gánh Xường nặng đứt quai

Xường bay vương khắp mường

Có cô con gái

Lên nương nhặt được

Những câu nhớ câu thương

Một chiều kia

Cô lén trao anh trai mường

Đến bây giờ

Vẫn hát lời thương thiết nhớ thương.

                                  S.H

TRƯƠNG MINH PHỐ



 

Những giá trị



 

1. Lâu ngày gặp lại

Bạn bè tay bắt mặt mừng

Đo tình thâm giao bằng những bữa tiệc tại nhà hàng

sang trọng

Từ chối món váy ngắn chân dài môi đỏ mắt xanh

Ta thành gã nhà quê

Bỗng thấy tim mình đau thắt trước ma lực đồng tiền.

2. Gặp lại sau một hành trình dằng dặc

Đối diện nhau qua chiếc bàn con

Lớp bụi dưới gót dày kể về những con đường

Bạn đã qua

Cùng im lặng

Nhắp chén trà

Và cùng hiểu điều gì ta đang nghĩ.

3. Miền ấy không người qua lại

Quanh năm đất khát trơ trơ

Nắng gió vô tư chơi trò đuổi bắt

Nếu không có đám cỏ dại trần mình trong nắng gắt

Lấy ai làm xanh đất cằn?

4. Vợ tôi ngắt mấy đóa hoa từ khóm hồng gai trồng ở góc vườn

Con gái tôi mang về mấy bông hồng được làm bằng lụa

Đem cắm chung một bình

Mỗi ngày lại thấy hoa giả lộng lẫy hơn hoa thật

Hoa thật chóng tàn - hoa giả tươi lâu

Sự tài tình của kỹ nghệ đánh lừa con mắt

Hỏi bình: Hồn hoa ở đâu?

5. ....

                                  T.M.P

ĐÀO PHỤNG

Hữu Loan

        Tưởng nhớ nhà thơ Hữu Loan

Người về thồ đá bán rong

Tri âm thức với ruộng đồng lúa khoai

Câu thơ xuống với mồ hôi

Bóng người đẩy bóng đá phơi cạn ngày

Khen chê rồi gió cũng bay

Trật người ngồi đọc thơ hay ở đời

Hoa sim tím Đèo Cả ơi! (*)

Phận thơ có khác phận người làm thơ?

Tận cùng: Tuổi tác trời cho

Chòm râu chai cả gió mưa gánh gồng

Đời thơ ở phía miền Trung

Đời người ở phía long đong nhọc nhằn!

Cắm nhà đứng với núi Vân (**)

Chọn đường lựa lối thăng trầm ông đi

                            4 - 2005

                               Đ.P

(*) Màu tím hoa Sim và Đèo Cả là hai bài thơ nổi tiếng của Hữu Loan

(**) Núi Vân Hoàn (làng Vân Hoàn) xã Nga Lĩnh Nga Sơn quê Hữu Loan



 

LÊ ĐÌNH BẰNG

Sắc tím thời gian

          Kính tặng tác giả "Màu tím hoa sim"

Tôi thuộc thơ ông từ ngày còn đi học

Yêu màu tím hoa sim - yêu đến nao lòng!

Hồi ở lính qua bao đồi sim tím

Lúc một mình khe khẽ đọc thơ ông...

Có một sắc màu không mấy ai thấy được

ấy là màu tím thời gian trong sâu thẳm khôn cùng!

                                     Mùa hạ 1989

                                          L.Đ.B

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

OAN CHO CỤ NGUYỄN DU QUÁ!

                                                               VƯƠNG TRỌNG


     Trong bài "Đôi lời thưa lại với ông Trọng Miễn" để bênh vực cho "kiêu ngạo thi ca" tác giả Nguyễn Minh Khiêm đã viết: "Ai bảo Nguyễn Du không kiêu ngạo khi ông viết: "Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm"? Ai bảo ông không kiêu ngạo khi viết "Hàng hàng châu ngọc lời lời gấm thêu"? Ai bảo Tố Hữu không kiêu ngạo khi viếng Nguyễn Du ông viết "Khúc vui xin lại so dây cùng người"?..."

Nghĩa là với Nguyễn Minh Khiêm thì Nguyễn Du và Tố Hữu đã kiêu ngạo khi viết những câu thơ trên. Chúng ta xem xét hư thực thế nào.

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: Kiêu ngạo là "tự cho mình hơn người sinh ra coi thường những người khác". Nếu như Nguyễn Du nhận mình là người làm thơ rất siêu "Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm" thì ai đó bảo Cụ kiêu ngạo còn ít nhiều có lý nhưng ở đây Cụ không nói tài thơ của mình và nói tài thơ của Thúy Kiều. Đó là khi Đạm Tiên đưa đề mười bài mới ra của Hội chủ bảo Thúy Kiều làm thơ thì: "Kiều vâng lĩnh ý đề bài / Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm". Thúy Kiều làm thơ nhanh như thế mà chất lượng thì: "Ví đem vào tập đoạn trường / Thì treo giải nhất chi nhường cho ai". Như vậy là Cụ khen nhân vật của mình tài thơ mà Nguyễn Minh Khiêm lại quy cho Cụ kiêu ngạo thì thật oan uổng cho Cụ quá!

Còn câu "Hàng hàng châu ngọc lời lời gấm thêu" nằm trong cặp lục bát:

Nàng rằng: "Vâng biết ý chàng

Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu"

Là lời Thúy Kiều khen bài thơ Đường luật của Thúc Sinh thế không biết tại sao Nguyễn Minh Khiêm lại quy cho cụ Nguyễn Du kiêu ngạo? Khi Cụ khen Thúy Kiều tài thơ mà cho Cụ kiêu ngạo đã vô lý lắm rồi khi Thúy Kiều khen thơ Thúc Sinh hay mà cũng quy cho đại thi hào kiêu ngạo thì vô lý ấy còn được nhân lên... vô hạn!

Với nhà thơ Tố Hữu Nguyễn Minh Khiêm có hai điều nhầm lẫn:

- Không phải Tố Hữu viết câu đó khi viếng Nguyễn Du mà viết trong hoàn cảnh "Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân / Bâng khuâng nhớ Cụ thương thân nàng Kiều" trong một chuyến đi công tác khu Tư vào tháng 11 năm 1965. Với bài thơ "Bên mộ cụ Nguyễn Du" của Vương Trọng thì đúng là viết sau khi viếng mộ Cụ đầu năm 1982.

- Một số bạn đọc cũng hiểu nhầm như Nguyễn Minh Khiêm khi đọc câu thơ "Khúc vui xin lại so dây cùng Người". Họ kết luận Tố Hữu không khiêm tốn thậm chí kiêu ngạo khi dám so mình với Nguyễn Du. Nguyên nhân là do hai chữ so dây đã bị hiểu nhầm sang so sánh so đọ. So dây vốn nghĩa đen là lên dây đàn trước khi đánh đàn dần dần nó mang cả nghĩa bóng là chơi đàn và rộng ra chỉ các hoạt động ca nhạc nhưng nó không hề có ý so sánh so đọ. Cho nên câu thơ trên của Tố Hữu nếu diễn nôm na ra là "Khúc vui xin được hòa tấu hoặc ca hát cùng Người" chúng ta chú ý đến chữ xin trong tập hợp từ xin lại so dây mà tác giả đã dùng với thái độ khiêm nhường lễ độ. Như vậy ở đây không thể tìm ra được bóng dáng của sự kiêu ngạo như Nguyễn Minh Khiêm đã tưởng.

Trong sáng tác văn chương có khi Nguyễn Du tỏ ra tự tin đánh giá cao mình nhưng tìm trong Truyện Kiều thì hơi khó. Ngay hai câu kết của Truyện Kiều "Lời quê chắp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh" mà theo Nguyễn Minh Khiêm thì "Xuân Diệu đã cho rằng Nguyễn Du là người kiêu ngạo nhất thiên hạ" cũng không thỏa đáng. Hai câu kết trên tác giả sử dụng cách nói khiêm nhường giống như người Quan họ mời khách ăn cơm: "đầu mâm đĩa muối cuối mâm đĩa dưa" trong khi trên mâm có bao món ăn ngon giống như các bác ở nông thôn mời khách "bác dùng bữa cơm dưa muối với nhà cháu"... Ta không thể cho rằng người quan họ và bác nông dân ấy kiêu ngạo hoặc khoe giàu được. Tương tự như vậy nếu dẫn hai câu kết Truyện Kiều mà cho Nguyễn Du kiêu ngạo nhất thiên hạ (dù là lời của Xuân Diệu đi nữa) thì thật oan cho Đại thi hào quá.

Nhưng trong Thơ chữ Hán thì tình hình lại khác ví như trong bài thơ "Đề Vi Lư tập hậu" viết trong chuyến đi sứ Trung Quốc Cụ từng nhận xét:

Tam đường thiên tải hậu

Tịch mịch cửu vô văn

Nghĩa là: "Sau đời Đường nghìn năm thi đàn vắng vẻ đã lâu không nghe ai nổi tiếng hay thơ nữa". Hoặc là trong một bài khác có câu:

Tráng niên ngã diệc vi tài giả

Bạch phát thu phong không tự ta

(Trẻ trung ta cũng tài ba/ Gió thu đầu bạc ngồi mà than suông)

Với hai trích dẫn này mà cho Cụ kiêu ngạo thì vẫn chưa chính xác nhưng dù sao cũng không sai xa tít như các trích dẫn của Nguyễn Minh Khiêm.

Có lẽ Nguyễn Minh Khiêm cũng là người yêu thích Truyện Kiều nhưng do một vài lý do nào đó có khi trích dẫn không chính xác làm ý câu thơ ngược hẳn lại. Ví như khi Thúy Kiều nhận xét về Mã Giám Sinh với Vương Bà:

Khi ăn khi nói lỡ làng

Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh

Khác màu kẻ quý người thanh

Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn

Chữ khác trong câu thứ ba Nguyễn Minh Khiêm viết thành chữ Ra làm trái hẳn nghĩa. Còn chữ Ngẫm trong câu thứ tư lại biến thành chữ Ngắm dù không ngược nghĩa nhưng cũng khác nghĩa làm câu thơ kém đi nhiều. Còn bốn chữ "như hình con buôn" thì được thay bằng (...) (chấm chấm) nhưng sự tế nhị đã muộn nội dung không thay đổi!

Nhân đây tôi muốn chuyển sang một ý khác. Tôi may mắn được Ban Biên tập Xứ Thanh gửi biếu tạp chí nên được đọc thường xuyên và tôi rất chú ý đến phần Lý luận phê bình nằm phần cuối trong đó có phần trao đổi. Đó là bài trao đổi giữa Anh Chi và Văn Đắc... và gần đây nhất là giữa Trọng Miễn và Nguyễn Minh Khiêm. Tôi không đủ khả năng để phán xét chân lý thuộc về ai nhưng xin nói thật sau khi đọc xong những bài tranh luận trao đổi như vậy tôi có cảm giác buồn vì cái gọi là "văn hóa tranh luận" có người ít để ý tới. Hình như có lúc họ cố nói cho hả cho đối thủ đau... hơn là để tìm ra chân lý. Khi các tác giả không tự kìm chế được thì Ban Biên tập cũng nên góp ý thậm chí cắt xén bớt những chỗ cần thiết để ngăn ngừa tình trạng "chê dốt hoặc hạ nhục đối phương" thì có lẽ các bài trao đổi sẽ "sạch" hơn và khỏi gây phản cảm cho người đọc.

                                                                         20-6-2010

                                                                              V.T


Mai Linh hồn hậu và

trong trẻo qua tập thơ "Cho"

                                                          NGUYỄN HỮU NGÔN

    Mai Linh là người con của xứ Thanh hiện anh đang sống và công tác ở Hà Nội là Giám đốc Trung tâm thông tin của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đồng thời là Tổng Biên tập báo điện tử Tổ quốc. Mai Linh đã lần lượt gửi đến công chúng các tập thơ như: "Hồi ức chuồn chuồn"(Nhà xuất bản Thanh niên - 1995) Lò thiêu người (1996) tập thơ "Thơ ký gửi" (Nhà xuất bản Văn học năm 2000) "Thu về" "Cho" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 2004) Lục bát Món quê (Nhà xuất bản Văn học - 2009). Chỉ bấm đốt ngón tay đủ biết Mai Linh sáng tác rất đều anh được độc giả đón đọc và anh đã không phụ lòng họ. Mỗi tập thơ là một cung bậc của tình cảm dâng trào là một nỗi niềm tâm sự day dứt trăn trở một tự cảm về thiên nhiên đất nước con người cha mẹ anh em và bầu bạn. Thơ Mai Linh giành nhiều trang viết về miền quê nghèo xã Quảng Chính huyện Quảng Xương về bà về mẹ người đọc có cảm nhận như anh muốn thổ lộ cái tình cái nghĩa của anh với quê mẹ nơi anh đã sinh thành đã sống những năm tháng tuổi thơ gian khó nhọc nhằn mà đầy ắp kỷ niệm. Dường như đã có sợi dây tình cảm kết dính những mối tình muôn thuở nghìn đời trong anh: tình mẹ - con tình cha - con bà cháu và luôn sáng đẹp cảm động đến rưng rưng.

Quê hương theo anh ở bên anh "ám ảnh" anh suốt đời - hoài niệm hằn sâu dứt chẳng ra giằng chẳng đứt đeo bám:

Mới hơn hồi ức của mẹ ta nhiều

bậc thềm lở rau sam giun đất

cối xay quay quay như người khóc

nơm treo gác bếp đó dựng sau vườn

nón mê nằm thui thủi đống rơm

(ám ảnh)

Làng biển nghèo mà nhân hậu con người "ăn sóng nuốt gió" cứ hiển hiện mồn một trong thơ anh:

Làng chài ơi người đẹp một đường cung

ngực dân chài gồ lên bão cát

làng chài ơi cánh buồm trôi

chiếc lá non thờ thững bên trời

Hãy nghe anh khóc bà mà hình dung ra nỗi đau ứa lệ và đồng cảm trân trọng chất nhân văn thẳm sâu hồn hậu của con người anh:

Thế là những mảnh vải bất chợt

Thành nhiều vành khăn trắng trên đầu

đinh ninh nước mắt

Rưng rưng khóc

trước bát cơm chiều

quả trứng trắng bà không ăn được nữa

đũa vót ngược pheo tre như khói

Kèn bát âm héo rũ cúc tần.

(Bà)

Trong nỗi buồn mất bà ta cảm nhận một Mai Linh trong trẻo nghĩ suy rất đời thường vẫn là "quả trứng đôi đũa" vành khăn trắng và kèn bát âm trong sự hiện có thông thường của mọi đám tang nhưng với Mai Linh đau và nghẹn ngào hơn khi anh viết "Quả trứng trắng bà không ăn được nữa" nỗi đau là thực sự anh đau buồn và lây sang cả dậu cúc tần thường ngày ngăn ngắt xanh nay bỗng "héo rũ" rằng như một sự tất nhiên "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Thơ anh không vì thế mà bi lụy con người anh không vì thế mà yếu mềm trong nỗi đau anh nhìn thấy quy luật thấy ý nghĩa sâu sa của cái chết với con người:

Tôi cách bà cái chết

bà lau mặt tuổi thơ

lớn

rạng rỡ nụ cười

Bà cách tôi tiếng khóc

bàn thơ cháy như chiều

hóa vàng một hoang dại

nâng tôi một sụp lạy

thẳng một con người

(Trước bàn thờ bà tôi)

Bài thơ "Cho" được anh chọn làm tên của tập thơ và lời tựa cho cả tập là bài thơ hay cô đọng và súc tích ý tứ dư ba:

Mẹ cho con tất cả nguyên vẹn mẹ

một mùa trăng nơm nớp cánh đồng

Con thức một câu thơ gáy sáng

vỡ tim buồn từ lúc hoàng hôn.

Chất triết lý thẳm sâu được ông viết dung dị bằng hành vi cao thượng bằng nghĩa vụ tình yêu bằng sự truyền kiếp tháng năm: "Mẹ cho con tất cả". Thơ anh là khúc hát về mẹ với thơ anh đã "Hát lên hành vi nhân tính đầu tiên của con người là cho". Và chính là "Biết hy sinh nên chẳng nói nhiều lời" mà con người đã được "nhận " nhận nhiều hơn thế để có sự tiếp nối nhân sinh một khát khao cao cả: "Con thức đợi một câu thơ gáy sáng". Ta bắt gặp suy nghĩ của anh đồng điệu với suy nghĩ của Tố Hữu nhà thơ lớn của dân tộc: "Gà gáy sáng thơ ơi mang cánh lửa" thi nhân muốn bằng lời thơ lay động; tình yêu thương và lòng quả cảm.

Gia đình với Mai Linh là cả một miền thơ miền thơ ấy cứ tự chảy mang theo cả ngầu ngầu bọt trắng cả sắc hồng phù sa cả ngọt ngào và muối mặn anh dành phần lớn tập "Cho" để viết về quê hương về bà về mẹ về vợ con và bạn bè với một thái độ nâng niu trân trọng một niềm tin vĩnh hằng về con người đó cũng là điều làm nên và đáng nói của tập thơ "Cho". Cái riêng ấy hiện hữu cả một thế giới thế giới nhân văn đằm sâu trong cấu tứ và từng con chữ. Ta yêu và đồng tình sâu sắc với cái tuyên ngôn giản dị của anh:

Con biết ngôi nhà gắn kỷ niệm suốt đời với mẹ

đôi khi rễ vẫn bén xuống từ trời cao

nên mẹ muốn quay về nơi chôn rau cắt rốn

rời bỏ phồn hoa và chốn đông người

trở về cánh đồng rau má

bưng lưng cơm gạo lúa nghẹn ngào

quê hương ơi nếu không có người thì mẹ ta chết mất

"Ta chết mất" - Tiếng kêu của mẹ hay của chính anh và của tất thảy mọi người "Quê hương nếu ai không nhớ sẽ không lớn nổi thành người".

Vẫn mạch nguồn sáng trong ấy anh viết về vợ con về tình yêu:

Tôi chầu rìa nỗi đau

cổng vào nhà hộ sinh

Vợ tôi đau thành mẹ

con tôi khóc thành con

tôi hoang mang thành bố

(Đợi)

Anh "định nghĩa" về vợ về con về bố thật dễ hiểu mà gần gũi ý vị sâu xa. Thơ Mai Linh không chỉ giàu cảm xúc mà còn giàu trí tuệ là thế. Tình yêu là muôn thuở nơi đi và neo đậu của cảm xúc thứ chứa đựng phép màu của tạo hóa nó có được tự trong mỗi người không vay mượn cầu xin nó có sức sống sức mạnh khai khẩn những miền hoang hóa nên cái "hoang mang" là cái lo lắng thật "người" thật đáng yêu. Cái thế giới đó được anh đón đợi trong hạnh phúc và cả những lo toan rất thật:

Tất cả cùng cười sao con lại khóc

người đàn ông tý hon

con vỡ ra một thế giới

huơ chân múa tay tã lót phấp phới

cờ của hân hoan cờ của định mệnh

ngọn cờ cha chưa từng thấy bao giờ

(Ra đời)

Người không trùng họ trong gia đình với con rể thành viên mới gia nhập Mai Linh vẫn một cách nhìn gần gũi thân thương coi con như rể như bạn thì thật đáng kính. Nỗi niềm của ông bố vợ được Mai Linh diễn đạt tài tình:

Con ạ

ngày con lấy chồng

bố tiễn hai lăm năm

không tay trắng

Bố có thêm người đàn ông khỏe mạnh

chất lên củi bố cùng nhóm lửa

hồng hào nếp nhăn.

(Con gái)

Thơ anh viết về bạn thật nồng hậu thân thương. Bạn thơ - những người luôn chật vật với áo cơm và sự nghèo khó:

Năm ấy nhà thơ đi kiếm cơm

miếng cơm nhai với trấu nỗi buồn

(Bạn thơ)

Cho ta cùng bạn cũ với hoàng hôn ngâm rượu

lắng thật lâu cặn thật sâu

...

Ngồi với bạn hoàng hôn ngâm rượu

Hoài niệm bóng râm

Chỗ ta ngồi xanh tốt thiêng liêng

(Thơ tặng Khanh)

Em đã yêu anh như yêu tháng Giêng

rỗi rãi hoài niệm

đồng bãi chân đê làng ta bịn rịn

khói bay sương dụi mắt quê nhà

(Tháng Giêng)

Chúng ta còn dễ dàng tìm thấy trong tập thơ "Cho" những cảm nhận của anh về thiên nhiên về tình yêu. Một cảm nhận mới lạ trong cách thể hiện nhưng vẫn không giấu nổi cảm xúc xao xuyến của con tim chất trí tuệ trong thơ của Mai Linh là thứ trí tuệ cộng hưởng của trái tim nhân ái:

Những cành cây nghiêng cổ xuống thành phố chẳng có ai hôn

thành phố nườm nượp người qua lại

kìn kịt đàn chim kiếm mồi cần mẫn di chuyển theo một chu kỳ định sẵn và sinh nở đầy đàn mặt đất

loang loáng vèo vèo cửa kính nhà hàng

chẳng còn ai để ý trên trời bay rợp những đám mây

đó là cờ tự do không có cán

chúng ta là chim đậu rợp thành phố

thành phố chật chội ồn ào không đủ một cái hôn

(Thiên nhiên)

Sự hồn hậu trong trẻo đậm chất nhân văn ấy còn được anh thể hiện trong nhiều bài thơ khác như: Sen Đồng Văn Khát vọng Viết ở biển Thợ cày Bên hồ...

Mai Linh làm thơ đến với thơ trên một mặt bằng học vấn khá chững chạc: Cao học được đào tạo bài bản. Anh tốt nghiệp Đại học báo chí nước ngoài có nhiều năm sống ở nước ngoài và nhiều năm làm công tác đối ngoại của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) thế mà hiềm trong thơ không có nét gì là cao siêu khó hiểu như không ít người được đào tạo ở Tây học làm thơ. Thơ anh giản dị mộc mạc trong trẻo hồn hậu như cánh đồng như rẻ lúa hạt thóc củ khoai từ đề tài tới con chữ trước sau anh vẫn giành cho quê hương cho ông bà cha mẹ con cái bầu bạn phần lắng đọng nhất sự lắng đọng qua sự sàng lọc nghiêm khắc của thời gian như cách ăn vận độc đáo một mầu đen chân chất và sự thuần khiết đáng yêu đậm chất quê hồn quê của con người anh.

Tập thơ "Cho" đã xuất sắc giành giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam Mai Linh đã trở thành hội viên sáng giá của Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam bên cạnh người cha yêu quý của mình - nhà thơ Mai Ngọc Thanh.

                                                                             N.H.N

 

Tiểu thuyết "Quà của Chúa"

cái đẹp kín đáo hay cái đẹp phơi bày

                                                                       HOÀNG LONG




             Adam và Ewa là cặp vợ chồng lí tưởng có cuộc sống lí tưởng với những kế hoạch lí tưởng cho tương lai. Công ty của họ làm ăn phát đạt họ đã xây nhà to nội thất sang trọng chỉ còn thiếu mỗi đứa con nữa thôi là hạnh phúc của họ viên mãn. Thế mà tất thảy mọi tuyệt hảo đó đã biến khỏi cuộc sống của họ khi đứa con ra chào đời. Bởi họ mong mỏi họ đợi chờ một đứa con khỏe mạnh xinh xắn và thông minh hơn người. Đứa con gái tật nguyền - Quà của Chúa là món quà không mong đợi trong cuộc sống đang lên như diều gặp gió của đôi vợ chồng này. Ngày con gái ra chào đời cũng là ngày toàn bộ kế hoạch đường đời của họ bị sụp đổ cuộc sống của họ hoàn toàn bị đảo lộn.

Ewa một người vợ một người mẹ khiến chúng ta tỏ lòng khâm phục bởi nghị lực lòng can đảm và sự hy sinh vô bờ bến của chị. Ewa nhẫn nhục và chịu đựng. Bị buộc phải chọn giữa chồng và con gái chị đã chọn con gái. Ewa hiểu rằng đứa con gái tật nguyền của mình rất cần tình yêu và chỉ có chị người mẹ mới làm nổi việc này mà thôi. Nuôi dưỡng đứa con tật nguyền Ewa luôn luôn đơn độc (chỉ duy nhất một lần gặp Anna) không một ai đỡ đần chẳng biết dựa vào ai. Nếu là người đàn bà khác thì chắc đã gục ngã. Và chính tình yêu đối với đứa con phận hèn đã cho chị nghị lực. Trong quá trình nuôi dưỡng dạy dỗ tìm hiểu con càng ngày chị càng thấy yêu con chấp nhận con sẵn sàng vì con mà hy sinh tất cả.

Adam là một người đàn ông tuy làm ăn giỏi lắm tham vọng song thiếu bản lĩnh trong cuộc sống. Adam chỉ nhìn thấy trong đứa con gái của mình sự đổ vỡ tất cả mọi toan tính mọi tham vọng và mọi ước mơ. Adam sợ nhất là những cái nhìn mà anh cảm thấy tuy nhìn con gái anh nhưng cũng là nhìn anh... Đến nỗi Adam đã dứt khoát ruồng bỏ Myszka. Và phải mất tám năm trời thì người cha này mới dám chấp nhận bé Myszka là con gái của mình. Thái độ của Adam là thái độ không nhất quán. Trong sâu thẳm con tim của người đàn ông này có dấu ấn của tình cha con. Việc Adam thường hay núp sau cánh cửa quan sát con gái bí mật theo dõi bệnh tình của con luôn luôn trăn trở về con đã chứng tỏ điều này.

Cuốn sách cho chúng ta thấy trong cái đầu tật nguyền của Myszka con gái của Adam và Ewa tiềm ẩn nhiều ma thuật. Cô gái đi tìm chỗ cho mình kiến tạo cho mình một thế giới riêng: đẹp an toàn không có cái ác và cái không hoàn thiện. Thậm chí bé còn giúp Đức Chúa Trời trong công việc sáng tạo. Myszka tựa hồ một con nhộng bên trong lớp vỏ bọc của con nhộng này đang náu mình một con bướm đẹp một tâm hồn đẹp nhiều khát vọng chẳng khác gì người bình thường. Có điều con bướm náu mình trong cơ thể Myszka sẽ không bao giờ bay đi được. Phòng áp mái là chốn riêng tư đầy bí ẩn của bé là nơi cho phép bé được vào vườn địa đàng được sống cuộc sống thứ hai của mình được gặp Adam và Ewa được trò chuyện với Rắn và Đức Chúa Trời. ở đây bé cảm thấy cho dù chốc lát mình có giá thậm chí là cô bé rất được việc. Tại phòng áp mái sau khi tắt đèn bé có thể rời bỏ vỏ bọc của mình bé trở nên nhẹ nhàng thanh thoát và nhanh nhẹn nhảy múa như một nghệ sỹ múa ba lê thực thụ không còn phải vất vả với thân thể nặng nề dị dạng của mình nữa. Chỉ có ở đây tức trên thiên đường Myszka mới có thể thỏa mãn mọi mơ ước của mình mới là mình thật sự. Tác giả đã cố công chứng tỏ rằng cuộc sống nội tâm của một đứa trẻ tật nguyền phong phú hơn rất nhiều so với những gì chúng ta nghĩ.

Tiểu thuyết Quà của Chúa (*) chứng tỏ khát vọng của con người muốn vươn lên làm chủ số phận và thế giới của mình. Tuy chưa thành hiện thực nhưng khát vọng này vẫn tồn tại vẫn cháy bỏng. Cuốn tiểu thuyết đầy tính nhân văn và gây xúc động lòng người này cho chúng ta thấy người ta phải tốn bao nhiêu thời gian để hiểu được rằng tình yêu thực sự không đặt điều kiện và rằng thực khó phá vỡ bức tường vô hình của sự xa lạ mọc lên ngay trong một con người bức tường ngăn cách con người này với thời thơ ấu của mình. Nhiều tình tiết của tiểu thuyết chứng tỏ chúng ta thấy còn quá ít hiểu còn quá ít nhận ra còn quá ít chúng ta thường hay hổ thẹn với những điều nhẽ ra chúng ta phải tự hào... và chính vì thế mà chúng ta đã để uổng phí đã bị mất rất nhiều có khi đánh mất chính mình. Thế giới nội tâm của Myszka vô cùng phong phú và đẹp tuyệt vời. Tác giả nhấn mạnh: "Cái đẹp kín đáo hay hơn cái đẹp phơi bày".

Quà của Chúa là tiểu thuyết hiện đại nhiều chương đoạn đậm mầu sắc thiên chúa giáo (Tiêu đề của các chương trong tiểu thuyết chứng tỏ điều này). Quà của Chúa đưa người đọc vào thế giới huyền ảo hư hư thực thực khi trần thế lúc thiên đường khi vườn nhà lúc vườn địa đàng nơi con người được trò chuyện với Đức Chúa Trời. Quà của Chúa giúp chúng ta khám phá chính mình biết được nhiều điều bí ẩn của chính mình. Dẫu đề tài của tiểu thuyết là loại đề tài khó viết song với tri thức uyên thâm lối quan sát và cảm nhận tinh tế khai thác rất hiệu quả "thẩm mĩ" từ "cái xấu" văn phong mượt mà gợi cảm bút pháp trữ tình hư thực đan xen kịch tính cao các nhân vật giàu nội tâm người đọc bị cuốn hút từ đầu đến cuối. Có lẽ lần đầu tiên trên thế giới có một cuốn tiểu thuyết viết về bệnh Đao hấp dẫn đến như vậy. Quà của Chúa mang lại cho người đọc những ấn tượng mạnh cảm xúc sâu lắng nhiều suy tư trăn trở. Câu chuyện của Adam Ewa và con gái của họ kết thúc có hậu lạc quan như một truyện cổ tích hay cho dù đây không phải là truyện cổ tích. Cuối truyện Adam yêu con Ewa yêu đời đứa con gái thứ hai ra chào đời. Nói cách khác Quà của Chúa lần này là món quà đổi đời cho họ.

Thông điệp mà cuốn sách muốn gửi tới chúng ta là phải quý trọng phải thương yêu phải cưu mang và đùm bọc những người khuyết tật. Quà của Chúa đã làm rơi nước mắt của rất nhiều bạn đọc Ba Lan những người như chính họ tự thổ lộ chưa bao giờ khóc trong đời. Người đọc không rơi nước mắt sao được khi đọc các chương đoạn trong đó Ewa chịu nhẫn nhục nuôi dạy con khi bé Myszka tật nguyền khát khao tột độ tình yêu của người bố và khi bé sắp từ giã cõi trần để về với Chúa. Nhiều bạn đọc Ba Lan cho đây là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất được họ thích nhất trong thập niên cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI một số người còn cho đây là một kiệt tác văn chương. Có một điều chắc chắn ngay sau khi ấn hành Quà của Chúa đã trở thành thiên tiểu thuyết best seller hàng đầu và từ năm 2001 đến nay cuốn sách đã liên tục được tái bản với số lượng bản in rất lớn được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.

Sau tiểu thuyết Hoang Thai (2006) lần này dịch giả Lê Bá Thự và Nhà Xuất bản Phụ nữ gửi tới bạn đọc tiểu thuyết Quà của Chúa một cuốn tiểu thuyết đương đại nữa của nữ nhà văn nổi tiếng Dorota Terakowska người được bạn đọc Ba Lan nhất là bạn đọc trẻ tôn vinh là Joanne Rowling của xứ sở "sương trắng nắng tràn".

                                                                     H.L

(*)Tác giả: Dorota Terakowska

Người dịch: Lê Bá Thự

Nhà Xuất bản Phụ nữ năm 2010.


 

THÁNG NĂM NHỚ BÁC

(Triển lãm Mỹ thuật Thanh Hóa)

                                                            HOÀNG HOA MAI



       Tối ngày 18-5-2010 tại Trung tâm triển lãm và xúc tiến du lịch Hội Văn nghệ Thanh Hóa và Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã khai mạc "Triển lãm mỹ thuật Thanh Hóa". Đây là một trong hàng loạt hoạt động văn hóa kỷ niệm 120 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2010) đồng thời hưởng ứng đợt sinh hoạt chính trị học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Triển lãm lần này có quy mô lớn về số lượng tác phẩm đa dạng về phong cách phong phú về chất liệu như sơn dầu lụa bột màu sơn mài khắc gỗ in độc bản v.v... cho nhiều thể loại như hội họa đồ họa điêu khắc.

Các tác phẩm đã phản ảnh một cách sinh động về con người đất nước của xứ Thanh đối với Bác Hồ và Bác đối với nhân dân Thanh Hóa ngay từ ngày đầu Bác chỉ đạo nhân dân kháng chiến kiến quốc năm 1947 cũng như những năm tháng hòa bình lập lại ở miền Bắc Bác vào thăm Thanh Hóa. Bên cạnh đó cũng có nhiều bức tranh phản ánh cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta tại các vùng miền của tỉnh.

Họa sĩ Duy Khải có tác phẩm "Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ" đây là bức tranh được bố cục nhiều lớp nhiều nội dung đan xen có ý gợi mở đặc biệt có hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ. Với một gam màu ấm đường nét dứt khoát cách biểu hiện tả thực với lối vẽ ấn tượng nên người xem dễ cảm thụ nội dung tác phẩm. Lê Cậy có bức tranh "Vòng hương nhớ Bác" tác giả lồng ghép kết hợp trường phái ấn tượng với trừu tượng gây cảm xúc mạnh đối với người xem. Với cách vẽ gây ấn tượng Lê Cậy dừng lại không chỉ ở việc miêu tả chân dung cụ thể mà đã trừu tượng hóa hiện thực để đem lại người xem một cách nhìn sâu lắng bên trong của tác phẩm. Bên cạnh lối vẽ trừu tượng Hoàng Chất với chất liệu sơn dầu (tác phẩm Sáng tháng Năm) qua đây người xem cảm nhận tranh của họa sỹ là một cảnh thực song ý tưởng của tác giả muốn tâm sự cùng người xem về những ngày tháng 5 lịch sử đối với cái nôi văn nghệ sỹ xứ Thanh. Minh Thịnh có tác phẩm "Tuổi thơ" một tác phẩm có cách miêu tả gợi nhớ đến tình cảm của Bác Hồ đối với thiếu niên và nhi đồng. Sự hồn nhiên của tuổi thơ giữa mùa hè thả diều vui chơi nhưng cũng khiến người xem nhớ đến ngày sinh của Bác ngày thiêng liêng nhất đối với nhi đồng Việt Nam Xuân Hương có "Chiều trên cảng" Sĩ Tốt có "Quân dân như cá vơi nước" đây là những tác phẩm có cách bố cục khôn khéo tạo được sức hấp dẫn cho người xem bởi những mảng màu chắc khỏe đơn giản song người xem vẫn thấy được ý tưởng của tác giả. Bức tranh "Chợ quê tối" (lụa) của Lê Thị Thanh một sự dung dị mềm mại rất gần gũi với cuộc sống đời thường. ở đó trong tranh vừa có tính lãng mạn vừa có tính hiện thực về cảnh sinh hoạt đầm ấm của những người họp chợ quê. Hồng Thanh với bức tranh "Chuẩn bị cho mùa trẩy hội ở vùng cao" tác phẩm vẽ theo cách tả thực nhưng nội dung mang phong cách gợi cảm để người xem tranh tự tìm ý tưởng của chủ đề. Với cách diễn đạt mảng màu đường nét khỏe khoắn tươi sáng nhưng toàn bộ tác phẩm vẫn thấy mềm mại dí dỏm tinh tế của người dân tộc miền núi. Cách miêu tả của tác giả có nhiều điểm nhấn nêu được không gian và thời gian của cái lạnh vùng cao cho mùa trẩy hội đang đến gần. Thanh Sơn có tác phẩm "Bác Hồ ở lán Nà Lừa" gợi lại những hình ảnh chiến khu ngày nào Bác Hồ đã sống và lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Pháp bảo vệ nền độc lập tự do cho Tổ quốc. Bức tranh sơn dầu có đường nét mạnh bạo nhưng tình cảm phản ánh được ý tưởng của tác giả về sự sôi động của chiến khu Việt Bắc mà Bác sống và làm việc ở lán Nà Lừa Việt Bắc năm xưa. Trương Thế Minh với bức tranh "Bộ đội về bản" là một trong những tác phẩm nổi bật của anh vẽ về đề tài anh bộ đội Cụ Hồ. Với lối vẽ cẩn trọng có điểm nhấn họa sĩ đã phản ảnh được mối quan hệ giữa dân và quân là một thể thống nhất thông qua cách bố cục và sử dụng màu sắc mà tác giả đã chọn.

Bên cạnh những tác phẩm ca ngợi cuộc sống ấm no hạnh phúc đời thường của đồng bào miền núi "Vui rượu cần" của Phạm Hải Hưng Phương Mai có bức tranh "Chú kể cháu nghe" một tác phẩm vẽ cũng rất thực nên người xem dễ cảm thụ dễ nhận biết nội dung tác giả nói gì trong ngày sinh hoạt mừng sinh nhật Bác. Nguyễn Văn Phúc với tác phẩm sơn mài "Hoa sen" qua lối vẽ dí dỏm với cấu trúc đơn giản và màu sắc trong sáng gợi cho người xem liên tưởng hình tượng Bác Hồ một điểm nhấn cho tình cảm tháng 5 nhớ Bác của dân tộc. Trong triển lãm tranh lần này ngoài có những tác phẩm vẽ chân thực dung dị cũng có nhiều tác phẩm của họa sĩ trẻ có cách vẽ mạnh mẽ trừu tượng siêu thực nhưng không gây phản cảm cho người xem như Nguyễn Hoàng Linh với tác phẩm "Mùa hạ" một bố cục kỹ càng tìm tòi sáng tạo. Bức tranh được nhiều người xem quan tâm suy ngẫm tìm tính đích thực của tác phẩm. Tuy nhiên trong triển lãm cũng bộc lộ một số học thuật mà các họa sĩ cần quan tâm.

Có không ít tác giả miêu tả chân dung Bác chưa nghiên cứu kỹ về cấu trúc tổng thể trong mối quan hệ tư tưởng tình cảm của Bác với sự kiện lịch sử lúc thời điểm diễn ra vì thế mà tính thuyết phục của tác phẩm bị hạn chế.

Tính chủ đạo của tác phẩm vẽ chân dung Bác là phải giống Bác dù tác giả có cách biểu hiện thế nào thì dung quang của Người vẫn phải miêu tả chuẩn xác kể cả phong cách giáng thế và tư tưởng tình cảm gắn với sự kiện thực được miêu tả trong tranh. Trong phòng triển lãm có những tác phẩm do cách miêu tả chân dung chưa thể hiện được ý tưởng đã định trước nên người xem có cảm giác tranh bị tách rời giữa chân dung với sự kiện mà tác giả muốn nói. Cố nhiên vẽ về Bác Hồ là rất khó không dễ họa sĩ nào vẽ cũng thành công song qua cuộc triển lãm lần này các họa sĩ cũng sẽ rút đúc được nhiều kinh nghiệm học tập lẫn nhau để có nhiều tác phẩm tốt hơn về đề tài Bác Hồ kính yêu.

Với tấm lòng thành kính đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại các họa sĩ xứ Thanh đã dành nhiệt huyết và tình cảm của mình sáng tác nhiều tác phẩm đẹp dâng lên Người trong những ngày trọng đại của dân tộc. Qua cuộc triển lãm lần này các họa sĩ Thanh Hóa sẽ tiếp tục nghiên cứu sáng tạo để xây dựng những tác phẩm có giá trị cao và thiết thực hơn nữa đáp ứng với lòng mong đợi của nhân dân.

                                                            H.H.M

More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Tin văn nghệ

* Thiết thực chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp chào mừng các ngày lễ lớn trong năm 2010. Đặc biệt là chào mừng kỷ niệm 120 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu tối 11 - 5 - 2010 tại Hội trường 25B thành phố Thanh Hóa Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa Đài Phát thanh - Truyền hình cùng với Chi hội nhạc sỹ Việt Nam tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức đêm nhạc của nhạc sỹ Mai Kiên với chủ đề "Tháng năm nhớ Bác" - Chương trình đêm diễn gồm 15 ca khúc chọn lọc của nhạc sỹ Mai Kiên chủ yếu tập trung ngợi ca Bác Hồ kính yêu Thanh Hóa khắc ghi và làm theo lời Bác dặn đồng thời cũng phản ánh công cuộc xây dựng quê hương trên con đường đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa.

                                                                     Xuân Mai

* Nhân dịp Festival Huế 2010 và chào đón 1000 năm Thăng Long - Hà Nội từ ngày 4 - 6 đến 14 - 6 năm 2010 tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liêu Quán Huế Ban tổ chức Festival Huế phối hợp với Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế và Chi Hội Mỹ thuật Nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế tổ chức triển lãm "Mỹ thuật và Nhiếp ảnh các vùng kinh đô Việt Nam xưa và nay" (khởi đầu Triển lãm diễn ra ở Phú Thọ tháng 4-2010).

Với 110 tác phẩm nhiếp ảnh của 74 tác giả cùng 73 tác phẩm mỹ thuật của 57 tác giả đại diện cho 5 tỉnh: Hà Nội Ninh Bình Phú Thọ Thanh Hóa Thừa Thiên Huế đã phản ánh được công cuộc bảo vệ và xây dựng quê hương của những vùng đất và con người kinh đô Việt Nam. Mặt khác triển lãm lần này không chỉ là một trong số hàng loạt hoạt động thu được kết quả lớn ở Festival Huế mà đây còn là dịp để các tác giả trong 5 vùng kinh đô có thể gặp gỡ giao lưu và chia xẻ và cảm thông những vui buồn trên con đường sáng tác của mình.

                                                                         Lưu Nga

*Triển lãm Mỹ thuật Thanh Hóa 2010

Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Bác Hồ (19-5-1890 - 19-5-2010) và hưởng ứng cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa phối hợp với sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tổ chức "Triển lãm mỹ thuật Thanh Hóa". Triển lãm được tổ chức tại Trung tâm Triển lãm và Xúc tiến du lịch Thanh Hóa từ ngày 18 đến 25-5-2010.

Đến dự khai mạc triển lãm có các đồng chí Trần Chiến Thắng Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Hồ Mẫu Ngoạt Phó Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Vương Văn Việt Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đại diện lãnh đạo thành phố Thanh Hóa một số Sở cơ quan ban ngành trong tỉnh...

Với 71 tác phẩm thuộc nhiều chất liệu như sơn dầu sơn mài lụa bột mầu khắc gỗ phù điêu... của 55 họa sỹ chuyên nghiệp và không chuyên trong tỉnh. "Triển lãm mỹ thuật Thanh Hóa" là bức tranh phản ánh sinh động vùng đất và con người xứ Thanh trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương Thanh Hóa cũng như đã làm sống dậy một tháng Năm đầy kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu.

                                                                   Lưu Nga

*Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa lần thứ IV

Trong hai ngày 14 và 15 tháng 5 năm 2010 tại hội trường lớn của tỉnh đại hội Hội Nhà báoViệt Nam tỉnh Thanh Hóa lần thứ IV nhiệm kỳ 2010-2015 đã khai mạc và thành công tốt đẹp. 126 hội viên đã dự đại hội. Các đồng chí Lê Ngọc Hân Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Chủ tịch HĐND tỉnh Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa Vương Văn Việt Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thiếu tướng Nguyễn Quang Thống ủy viên Thường vụ Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam đại diện lãnh đạo Hội Nhà báo hai tỉnh Ninh Bình và Nghệ An láng giềng cùng đại diện lãnh đạo một số ban ngành cấp tỉnh các huyện thị xã thành phố đơn vị lực lượng vũ trang... đã đến dự. Đại hội đã thông qua báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ III và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ IV (2010-2015). Báo cáo khẳng định "Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 37-CT/T.Ư của Ban Bí thư Trung ương về nâng cao vai trò chất lượng hoạt động của Hội; đổi mới phương thức hoạt động Hội theo hướng thiết thực hiệu quả xây dựng tổ chức Hội vững mạnh...". Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ IV (2010-2015) gồm 11 ủy viên; nhà văn - nhà báo Hoàng Trọng Cường Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh được bầu làm thành viên BCH; nhà báo Phạm Minh Thiệu Tỉnh ủy viên Tổng Biên tập báo Thanh Hóa ủy viên BCH Hội Nhà báo Việt Nam được bầu làm Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ IV (2010-2015).

                                                                                Lâm Bằng

More...

VĂN HÓA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

   Dòng họ Nguyễn gốc họ Lý Đình Bảng

          với truyền thống thượng võ


                                                                            TRỊNH HOÀNH



        Tại xóm Bái xã Đông Hòa huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa có một dòng họ Nguyễn đã lâu đời con cháu nay đã có hàng nghìn người sinh cư tại đây hoặc phát tán trên nhiều miền đất khác của đất nước Việt Nam. Người dân xã Đông Hòa đều nói rằng đây là dòng họ có nguồn gốc họ Lý ở Đình Bảng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh và là dòng họ có nhiều danh tướng nổi tiếng võ công thời xưa đến thời nay.

Dòng họ Nguyễn xóm Bái nay gồm hai chi họ lớn là chi Nguyễn Đình và Nguyễn Thìn (chữ Thìn vốn nguyên gốc là chữ Thì do phải viết và đọc tránh tên húy của vua Tự Đức nhà Nguyễn mà thành). Cả hai chi họ đều còn hai ngôi nhà thờ bề thế được trùng tu vào thời Nguyễn. Đến chiêm bái nhà thờ họ Nguyễn thấy có nhiều hoành phi câu đối sơn son thếp vàng uy nghi lộng lẫy. Chữ nghĩa của những bức hoành phi và câu đối đều cho ta thấy có sự liên hệ giữa nơi phát tích của nhà Lý là vùng Đình Bảng - Bắc Ninh và vùng Bái Địch - Đồng Pho xưa (tức xóm Bái - Đông Hòa nay). Trước hết đó là bức đại tự cổ kính được treo cao ở chính điện nhà thờ chi Nguyễn Thìn gồm bốn chữ lớn sơn son thếp vàng: "Cổ Pháp Triệu Cơ" (Khởi nghiệp từ Cổ Pháp). Theo những người trong họ cho biết đây là bức hoành phi do dòng họ Lý ở xã Đình Bảng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh tặng cho dòng họ Nguyễn khi nhà thờ này được trùng tu sửa chữa lớn để có diện mạo như ngày nay vào năm Giáp Thân thời vua Bảo Đại nhà Nguyễn tức năm 1944.

Trong nhà thờ chi Nguyễn Thìn có nhiều câu đối được chạm khắc công phu tinh xảo trên những tấm liễn bằng gỗ quý và sơn son thếp vàng còn sáng chói. Một câu đối ở chính điện nêu rõ quan hệ mật thiết giữa dòng họ Nguyễn - Bái Địch với dòng họ Lý - Đình Bảng thông qua các địa danh ở hai miền đất như sau:

Hệ xuất Tiêu Sơn Đình Bảng tiền trì tiêu cựu thủy;

Phái duyên Hà Sĩ Đồng Pho tích thụ phát kim hoa?

(Dịch nghĩa:

Nguồn vốn từ Tiêu Sơn Đình Bảng ao xưa tiêu nước cũ

Dòng vươn đến Hà Sĩ Đồng Pho cây trước nở hoa nay?)

Mối quan hệ gắn bó giữa họ Lý - Đình Bảng và họ Nguyễn - Đồng Pho được liên hệ bởi ngọn núi Tiêu Sơn nơi có ngôi chùa Thiên Tâm (Thiên Tâm tự) nơi Thánh Mẫu Phạm Thị Ngà lúc còn cơ hàn đi hái củi đã gặp thần nhân mà sinh ra Lý Công Uẩn vị vua sáng nghiệp nhà Lý (1009 - 1225). Và cũng chính nơi đây Lý Công Uẩn đã được sư Vạn Hạnh dạy dỗ thành người. Còn Hà Sĩ (đất ven sông) là chỉ đất xóm Bái ngày nay ở phía nam con sông Đồng Pho cổ (nay đã bị lấp cạn chỉ còn dấu vết là đầm sen và cánh đồng chiêm) là nơi lập nghiệp của họ Nguyễn. Một câu đối khác cũng được treo ở chính điện cho thấy rõ thêm mối quan hệ gắn bó gốc - cành giữa hai miền đất Đình Bảng - Đồng Pho; đó là câu:

Dân sơ sinh tùng bách cố hương Tiêu Lĩnh trình tường thiên khải thánh

Tốc tướng đại điệt qua ngô thổ Kim Sơn bốc trạch địa chung linh.

(Tạm dịch:

Quê cũ dân xưa sinh giống bách tùng nhờ Tiêu Lĩnh quê xưa điềm thánh hiển linh;

Đất nay họ mới nối đời tướng lĩnh bởi Kim Sơn đất này khí thiêng chung đúc)

Trong câu đối này Tiêu Lĩnh (Núi Tiêu) chỉ đất Đình Bảng và Kim Sơn (Núi Kim) là ngọn cao nhất thuộc Quần Thần Sơn là vùng xóm Bái - Đông Hòa ngày nay. Nhà thờ chi Nguyễn Đình nay được xây dựng trên chân Kim Sơn này bên cạnh ngôi chùa cổ Kim Sơn. Theo truyền lại chi Nguyễn Đình là chi trưởng và nhà thờ Nguyễn Đình là nhà thờ đại tông của họ Nguyễn Bái Địch này.

Theo lưu truyền trong họ cũng như vùng Đồng Pho thời xưa có hai anh em người họ Lý ở Đình Bảng lưu lạc vào phía nam sông Cổ Đồng Pho được ông tổ thứ hai của họ Nguyễn nuôi dưỡng và kế nghiệp vì ông không có con trai. Tìm trong gia phả dòng họ còn lưu giữ được đó là bản sách chữ Hán Nôm tiêu đề "Bái Địch Nguyễn Thị tông đồ lưu diễn" (Sơ đồ tổ tông họ Nguyễn ở Bái Địch) được biên soạn vào năm Thiên Hựu thứ nhất đời vua Lê Anh tông tức là năm 1557 thấy có dòng chữ:

"Tổ y sự (sinh) nam Đạo Sự nữ Bà Tam; Tổ Đạo Sự dưỡng nam huynh đệ nhị thân tính Lý mỗ mỗ huynh đệ huynh Phận Sự tại Đồng Pho xã đệ tại Nông Cống Bách Hoa sách vi quan lang. Tổ Phận Sự...". Dịch nghĩa:

Tổ (thứ nhất) là Y Sự sinh con trai hiệu Đạo Sự con gái hiệu Bà Tam. Tổ (thứ hai) hiệu Đạo Sự nuôi hai anh em trai họ Lý. Anh em chúng sau đó người anh hiệu Phận Sự ở lại xã Đồng Pho người em ở tại sách Bạch Hoa huyện Nông Cống làm quan lang. Tổ (thứ ba) hiệu Phận Sự...

Như vậy từ đời thứ ba về sau họ Nguyễn ở Bái Địch mang dòng máu họ Lý. Có lẽ trước đây họ Lý ở Đình Bảng đã tìm thấy dòng giống của mình đã bị lưu lạc ở đây nên đã vào nhận họ và tặng bức Hoành phi "Cổ Pháp Triệu Cơ". Nếu ai đã từng đến viếng thăm Đền Đô thờ Lý Bát Đế ở Đình Bảng Bắc Ninh đều có thể thấy rằng ở Đền Đô cũng có một bức hoành phi như vậy. Nhờ hai bức hoành phi này giống nhau mà họ Lý ở Đình Bảng lại đến Đông Hòa nhận họ Nguyễn thôn Bái Địch là họ hàng vào cuối thế kỷ trước. Và gần hai chục năm nay họ Nguyễn gốc Lý này hàng năm lại cử con cháu hành hương về Đền Đô để lễ bái tổ tiên vào dịp trung tuần tháng Ba âm lịch (Lễ hội Đền Đô hàng năm từ 15 đến 17 tháng Ba). Hai mảnh đất Đình Bảng và Bái Địch (xóm Bái) xích lại bên nhau như cội với cành.

Sự lưu lạc của hai người con họ Lý đến mảnh đất phương nam này cũng được phản ánh qua bài chữ lớn "Cổ Giang Nguyệt" trong bức đại tự ở nhà thờ chi Nguyễn Đình. Ba chữ đó gợi niềm hoài cổ "Trăng soi bến sông xưa" nhưng nếu theo lối chiết tự mà ghép ngược lại thì thành hai chữ "giang hồ" hình như để gợi nhớ lại tổ tiên họ Nguyễn ở Kim Sơn xã Đông Hòa ngày nay đã lưu lạc giang hồ qua bao miền sông nước mà đến đây?

Một câu đối trong nhà thờ chi Nguyễn Đình nhắc nhở con cháu nhớ gốc họ Lý của mình nhờ phúc ấm tiên tổ mà được trường tồn:

Mộc tử đương sơn thùy hậu ấm

Đồng ấp thiên thu địa vĩnh trường

(Nghĩa là: Họ Lý nền xưa dày phúc ấm

Đồng Pho đất quý mãi hương hoa)

Đồng Pho là một vùng đất cổ của huyện Đông Sơn. Nơi đây vốn là quận lỵ của quận Cửu Chân (hoặc ái Châu) tức Thanh Hóa ngày nay từ thời Tiền Tống (420 - 479) Trung Quốc đô hộ nước ta đên thời thuộc Tùy Đường (603 - 907) và các triều đại tự chủ của nước ta (Ngô - Đinh - Tiền Lê). Dấu vết thời tiền sử của người Việt còn lưu lại nơi đây với di chỉ đồng thau Bãi Vác (nay thuộc thôn Thượng xã Đông Hòa). Đặc biệt vùng đất này có truyền thống thượng võ mà thôn Bái Địch nơi họ Nguyễn gốc Lý phát tích vốn là lò vật lớn và là khu quân sự của quận Cửu Chân trong các giai đoạn kể trên.

Dòng học Nguyễn gốc Lý được khí thiêng núi Kim Sơn chung đúc và được thừa hưởng truyền thống thượng võ nơi đây nên đã sinh ra nhiều người giỏi võ trở thành nhiều tướng giỏi giúp các triều đại (từ nhà Lý) đánh dẹp thù trong giặc ngoài giữ yên bờ cõi và cuộc sống nhân dân yên bình (Như một câu đối đã nêu ở phần đầu ở nhà thờ chi Nguyễn Thìn). Bản phả của dòng họ biên tập lại vào năm Tự Đức thứ hai (1849) triều Nguyễn tuy có thể không được hoàn chỉnh vì như trong cuốn phả có nói do binh lửa chiến tranh đã thiêu hủy cả nhà thờ và những gia phả cũ nên chỉ ghi chép lại theo trí nhớ của những người trong họ và những di thư trong các gia đình nhưng cũng đã ghi chép được 7 nhân vật tướng có võ công hiển hách. Theo thứ tự các đời có:

- Đời thứ ba: Nguyễn Quý công hiệu Phận Sự phò tá Lý Thái tông từng dẫn quân dẹp loạn ở Tây Lộ (vùng Tây Bắc ngày nay) vào năm Đinh Sửu (1037). Được phong vinh hàm Tán trị công thần.

- Đời thứ tư: Nguyễn Quý công hiệu Vạn Sự họ tên thực là Lý Trọng Cao (sau nhà Lý suy vong đổi là Nguyễn Quản) làm tướng với hàm chức là Tiền đô đốc Tán trị công thần đặc tiến Kim Tử Vinh lộc đại phu tước Nhan Quốc công.

- Đời thứ bảy: Nguyễn Nhân Tài chức Quản lĩnh Ngọc Kiềm Vệ. Nguyễn Văn Tự chức quan Vũ An Vệ.

Nguyễn Thìn Ung (tên thực trước đời Tự Đức là Nguyễn Thời Ung) thời Mạc giữ chức trấn thủ Thái Nguyên kiêm tổng binh thiêm sự tước Tế Hải hầu; Thời Lê Trung hưng giữ chức Trung xa đô đốc phủ thiêm phủ sự tước Hiến Quận công.

Nguyễn Chích Bình Ngô khai quốc công thần thời Lê sơ (là tướng tâm phúc của Lê Lợi) chức Thiếu úy tước Dũng Liệt hầu sau được gia phong làm Thái bảo tước Hiến Quận công (thời vua Lê Thánh tông).

Đời thứ 15: Nguyễn Quý công tự Đình Hạ hiệu Đạt Huệ chức Chánh Đội trưởng.

Noi gương tiên tổ trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chống Pháp và chống Mỹ lớp lớp cháu con họ Nguyễn ở Bái Địch đã cùng với con em các họ khác ở xã Đông Hòa cũng như trên toàn cõi Việt Nam đã lên đường ra trận sẵn sàng hy sinh cho độc lập tự do của đất nước. Nhiều người đã hy sinh oanh liệt trên các chiến trường. Những người còn sống trở về quê hương ngực lấp lánh huân chương và quân hàm oai vệ. Những người như thượng tá Nguyễn ánh trung tá Nguyễn Tam thiếu tá Nguyễn Đình Hiền đại úy Nguyễn Đình Dật... thực sự đã kế tiếp được truyền thống võ công của dòng họ và là niềm tự hào mới của dòng họ Nguyễn gốc Lý ngày nay.

                                                                    5-1-2010

                                                                       T.H

More...