KỶ NIỆM 80 NĂM THÀNH LẬP ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA - KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀNH TUYÊN GIÁO

By Văn Nghệ Xứ Thanh

BÙI LÂM BẰNG


Nơi thành lập chi bộ Đảng cộng sản đầu

 tiên
với cuộc vận động theo gương Bác




          Ấy là một đêm cuối tháng Năm ta trời oi nồng vắt cũng không được một giọt mưa. Màn đêm thì đen kịt phủ kín cánh đồng làng Hàm Hạ tổng Kim Khê phủ Đông Sơn như càng làm tăng thêm vẻ im ắng tĩnh mịch của làng quê thuần nông vốn ngàn đời chỉn chu đồng áng. Mới đầu giờ Tuất mà đường làng đã im ắng lắm. Thi thoảng phía cuối làng vọng lên tiếng chó sủa khan và tiếng bước chân thậm thịch của tuần đinh. ở ngoài vườn đình tiếng côn trùng kêu rỉ rả khiến bầu trời đêm như loãng ra.

Theo lệ làng quá giờ Tuất nếu ai có việc cần đi ra ngoài đường đều phải mang theo đèn. Người nào không chấp hành tuần phu bắt được phạt. Cái luật lệ bảo an làng xóm ấy cấm có ai dám vi phạm. Nhưng cũng đúng vào cái đêm không trăng oi nồng ấy tại căn nhà ngói năm gian của ông Lê Oanh Kiều làng Hàm Hạ dưới sự chủ tọa của ông Nguyễn Doãn Chấp đại diện Xứ ủy Bắc Kỳ Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam làng Hàm Hạ được thành lập với các đảng viên đầu tiên là các ông Lê Oanh Kiều Lê Thế Long Lê Bá Tùng Phạm Văn Huống Nguyễn Xuân Nghinh Doãn Hữu Vịnh; ông Lê Thế Long được cử làm Bí thư Chi bộ.

Xứ ủy Bắc Kỳ đã chọn đúng nơi để gieo hạt giống đỏ Hàm Hạ là địa phương có phong trào cách mạng khá sớm. Trước đó từ tháng Ba năm 1927 một tổ của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đã được thành lập ở Đông Sơn ông Lê Oanh Kiều giáo viên trường Sơ học Pháp-Việt tổng Thọ Hạc đã là thành viên của tổ chức này. Ông Lê Oanh Kiều đã vận động các ông Lê Bá Tùng Lê Thế Long cùng tham gia... Do vậy khi đến Hàm Hạ để tuyên truyền vận động cách mạng và thành lập tổ chức Cộng sản ở Thanh Hóa các ông Lê Công Thanh Nguyễn Doãn Chấp đã tìm đến các ông Lê Oanh Kiều Lê Bá Tùng... đầu tiên.

Ngày 18 tháng 6 năm 1930 ông Nguyễn Doãn Chấp đã bí mật về Hàm Hạ nơi có những thanh niên ưu tú của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội để tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Lần ấy về đến đầu làng để không bị theo dõi ông đã hỏi thăm đến nhà lý trưởng Lê Bá Tùng (Ông Lê Bá Tùng lúc này đang làm lý trưởng) sau đó ông đã đến nhà ông Lê Oanh Kiều.

Mặc dù tiến hành trong hoàn cảnh tuyệt đối bí mật nhưng buổi lễ thành lập chi bộ được tổ chức nghiêm trang và thiêng liêng. Trên vách gian buồng nhà ông Lê Oanh Kiều lá cờ đỏ có biểu tượng búa và liềm chỉ nhỉnh hơn cuốn vở học trò được treo trang trọng. Mọi người nghiêm trang giơ nắm tay chào cờ. Sau đó ông Nguyễn Doãn Chấp đọc các bản Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được hội nghị thành lập Đảng hồi tháng Hai thông qua. Những câu những chữ trong các văn kiện như quen như lạ: Giải phóng giai cấp giải phóng dân tộc đánh đuổi thực dân người cày có ruộng... khiến mọi người bừng tỉnh khối óc như được khai mở sáng mắt sáng lòng bầu nhiệt huyết được hun đúc. Mọi người dự hội nghị đều nhất trí tán thành và nguyện một lòng đấu tranh giải phóng nhân dân giải phóng dân tộc theo đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cùng lúc ngoài đường từ cổng đình vào đến ngõ nhà ông Lê Oanh Kiều một số quần chúng tốt được bố trí canh gác. Người thì đứng trong ngõ người ngồi ở rệ đường như đang hóng mát tay luôn phe phẩy quạt mo đuổi muỗi. ám hiệu báo động là tiếng quạt mo đập mạnh. Trời đêm về khuya có bớt oi nồng nhưng màn đêm vẫn căng như mặt trống.

Trong nhà dưới ánh đèn ba giây khêu nhỏ ánh sáng chỉ đủ soi gian phòng và những gương mặt rạng rỡ ông Nguyễn Doãn Chấp truyền đạt chủ trương của Xứ ủy Bắc Kỳ về việc xây dựng Đảng bộ Thanh Hóa và tuyên bố thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Hàm Hạ. Giọng ông dõng dạc mà trang nghiêm. Hội nghị bàn một số công việc cụ thể trước mắt như tăng cường giác ngộ quần chúng phát triển đảng viên và xây dựng các tổ chức quần chúng.v.v... Trong màn đêm đặc quánh cuối tháng như mầu đen đêm trường nô lệ bỗng lóe lên ánh sáng như vầng hào quang của Đảng để từ đây dẫn dắt phong trào cách mạng đi tới những bình minh. Hôm ấy nhằm ngày 25 tháng 6 năm 1930 tức ngày 29 tháng Năm ta năm Canh Ngọ. Và chỉ hơn một tháng sau đó ngày 29 tháng 7 năm 1930 đại diện Xứ ủy Bắc Kỳ đã triệu tập hội nghị tuyên bố thành lập Tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa trong đó có chi bộ Hàm Hạ; đồng chí Lê Thế Long được bầu làm Bí thư đầu tiên của Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa. Từ đây phong trào cách mạng ở Thanh Hóa bước vào thời kỳ mới thời kỳ có Đảng Cộng sản lãnh đạo như con thuyền có người chèo lái vững vàng.

Tự hào thay mảnh đất làng Hàm Hạ tự hào thay mảnh đất Đông Tiến Đông Sơn lịch sử đã chọn cái tên Hàm Hạ để khuyên dấu son: Chi bộ Đảng làng Hàm Hạ là tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Thanh Hóa. Các đảng viên ưu tú Lê Oanh Kiều Lê Thế Long Lê Bá Tùng Phạm Văn Huống Nguyễn Xuân Nghinh Doãn Hữu Vịnh và căn nhà ông Lê Oanh Kiều mãi mãi đi vào lịch sử của Đảng bộ Thanh Hóa trong quá trình vận động và thành lập tổ chức Đảng trên quê hương xứ Thanh. Mảnh đất làng Hàm Hạ vinh dự là nơi chứng kiến sự kiện lịch sử hết sức quan trọng của Đảng bộ tỉnh Thanh.

*

Chúng tôi về Hàm Hạ vào đúng dịp kỷ niệm 80 ngày thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Thanh Hóa chiều 25 tháng Sáu năm 2010. Đình làng Hàm Hạ đầy hoa và nghi ngút khói hương. Buổi sáng trước khi tổ chức lễ kỷ niệm trọng thể ở huyện các đại biểu dự lễ đã về Hàm Hạ dâng hương tại đình Hàm Hạ nơi từng được chọn làm địa điểm liên lạc; nhà ông Lê Oanh Kiều nơi thành lập chi bộ và nhà ông Phạm Văn Huống từng là cơ sở in báo Tiến Lên của Tỉnh ủy Thanh Hóa (tháng 10 năm 1930). Các địa chỉ này đã được công nhận di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia.

Vẫn mái đình làng vẫn căn nhà ngói năm gian năm nao những đảng viên đầu tiên những người con ưu tú của quê hương từng đi về hội họp nhen nhóm ngọn lửa cách mạng nhưng làng xóm hôm nay đổi khác khá nhiều. Chắc chắn là tám mươi năm trước làng xóm Hàm Hạ nói riêng và cả xã Đông Tiến nói chung không thể có được cảnh quan như thế này có khi lúc bấy giờ cả làng Hàm Hạ chỉ độ dăm bảy mái nhà ngói là cùng nhưng giờ đây Hàm Hạ và cả xã Đông Tiến đã có một diện mạo của một vùng nông thôn trù phú nhà hai ba tầng mái nhọn mái bằng... san sát chẳng kém gì phố xá. Đường làng ngõ xóm được bê tông hóa hết cửa hàng cửa hiệu quán in tơ nét... mọc lên nhan nhản. Rồi trường học cao tầng trường mầm non trạm y tế... đều đã đạt chuẩn quốc gia.

Anh Phạm Tá Dũng Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã cho chúng tôi biết: Đông Tiến là xã đất rộng người đông có số dân gần mười nghìn người một vùng quê thuần nông đất đai phì nhiêu giao thông thuận tiện xã cách trung tâm huyện lỵ và thành phố tỉnh lỵ không xa nên kinh tế và đời sống xã hội phát triển cao. Tăng trưởng kinh tế những năm gần đây đạt 13%; thu nhập bình quân 9 triệu đồng một người; sản lượng lương thực năm 2009 là 6270 tấn; 96% số hộ có phương tiện nghe nhìn; bình quân 3 4 người dân có 1 máy điện thoại; tỷ lệ phổ cập giáo dục đạt 98%; năm học 2009-2010 có 78% học sinh đạt khá và giỏi; năm 2009 có 51 em trúng tuyển đại học v.v... Những con số vâng những con số cũng chỉ là những con số. Nhưng chắc chắn một điều để có được những con số đó không thể khác là động lực bắt nguồn từ truyền thống cách mạng và yêu nước là lòng tự hào quê hương của Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh tự hào về làng quê mình đã trở thành một địa chỉ đỏ để các thế hệ tìm về... Và hơn hết đó là có một Đảng bộ với 398 đảng viên sinh hoạt trong 18 chi bộ thôn xóm trường học luôn luôn đoàn kết tạo nên sức mạnh để lãnh đạo nhân dân xã nhà phát triển kinh tế xây dựng quê hương.

Tìm hiểu về cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở Đông Tiến anh Phạm Tá Dũng cho biết: Ngay từ khi có chỉ thị 06 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về cuộc vận động và kế hoạch thực hiện của Thường vụ Huyện ủy Đảng ủy đã thành lập Ban Chỉ đạo gồm 9 đồng chí để tổ chức thực hiện đồng thời mở hội nghị để triển khai quán triệt các nội dung của cuộc vận động. Ban Chỉ đạo đã xây dựng các chương trình hành động giao cho các chi bộ và tổ chức chính trị xã hội và các ban ngành tổ chức thực hiện. Đảng ủy xã đã tổ chức hội nghị toàn đảng bộ quán triệt nội dung 3 chuyên đề: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay; tác phẩm "Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân" của Hồ Chủ tịch và Di chúc Bác Hồ. Trong quá trình triển khai cuộc vận động Ban Chỉ đạo duy trì nghiêm túc nề nếp nội dung tiến độ và những mục đích yêu cầu đã đặt ra. Đồng thời định kỳ giao ban nắm tình hình sơ kết rút kinh nghiệm kịp thời uốn nắn những sai lệch để cuộc vận động có hiệu quả và chất lượng cao. Do đặc điểm là tổ chức đảng ở nông thôn nhiều đảng viên thường xuyên đi làm ăn xa đi học có đảng viên làm nông nghiệp lại có đảng viên là giáo viên công chức nên Ban Chỉ đạo tổ chức thành 2 lớp học chuyên đề. Nhờ làm tốt công tác tổ chức triển khai nên cuộc vận động đã được hầu hết cán bộ công chức đảng viên đoàn viên hội viên tham gia học tập nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao. Sau học tập tổ chức viết bài thu hoạch tự liên hệ đánh giá xây dựng hướng phấn đấu tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của bản thân theo tấm gương Bác Hồ. Đồng thời từng đảng viên đều tham gia ý kiến góp ý cho đồng chí mình giúp nhau cùng tiến bộ cũng như lắng nghe tiếp thu nghiêm túc ý kiến góp ý của quần chúng nhân dân. Đa số quần chúng nhân dân tham gia đóng góp xây dựng tổ chức Đảng và đảng viên với tinh thần trách nhiệm cao thẳng thắn chân thành khách quan và xây dựng... Đảng bộ cũng đã tổ chức hội thi kể chuyện "Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" 100% báo cáo viên các chi bộ tham gia; trong đó 1 báo cáo viên đạt giải nhất 2 báo cáo viên đạt giải nhì 1 báo cáo viên tham gia hội thi huyện đạt giải khuyến khích. Đảng bộ cũng đề nghị Huyện ủy biểu dương khen thưởng cho 1 tập thể và 2 cá nhân thực hiện tốt nội dung cuộc vận động.

Tôi đã nhiều lần tìm hiểu về việc triển khai và kết quả cuộc vận động ở các địa phương khác nhưng những gì anh Dũng đã trao đổi có thể khẳng định rằng sau ba năm thực hiện cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở xã Đông Tiến trình độ nhận thức của cán bộ đảng viên công chức đoàn viên thanh niên hội viên các đoàn thể và nhân dân ở đây được nâng lên rõ rệt. Mọi người đều thấy được giá trị đạo đức cách mạng và tấm gương của Bác là di sản tinh thần to lớn của dân tộc và cách mạng Việt Nam. Cũng như đã nhận thức đúng vai trò vị trí tầm quan trọng về tư tưởng tấm gương đạo đức của Bác trong sinh hoạt học tập và công tác. Từ đó xác định được trách nhiệm của bản thân trong rèn luyện đạo đức lối sống như Bác Hồ kính yêu đã dày công xây dựng và rèn luyện; từng bước hoàn thiện bản thân xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng nâng cao được năng lực công tác ý thức đấu tranh được phát huy góp phần ngăn chặn sự suy thoái đạo đức và lối sống hiệu quả công tác tốt hơn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; niềm tin vào Đảng vĩ đại Bác Hồ kính yêu ngày càng được củng cố và tăng cường. Từ cuộc vận động đa số cán bộ đảng viên công chức đoàn viên thanh niên hội viên các đoàn thể chính trị đoàn thể quần chúng... nâng cao ý thức trách nhiệm và làm việc có hiệu quả hơn chấp hành tốt các quy định của nhà nước về thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Quan tâm chăm lo tới đời sống của mỗi gia đình và cộng đồng; góp phần tích cực vào công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Nâng cao đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính chí công vô tư; đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực tham ô lãng phí lối sống xa hoa... Đảng bộ được tăng cường thêm một bước sự đoàn kết nhất trí thống nhất ý chí tạo nên sức mạnh tổng hợp để lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội Đảng bộ xã góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội Huyện đảng bộ và Tỉnh đảng bộ.

Chiều tháng sáu Đông Tiến mất điện. Dạo này cả tỉnh mà hình như là cả miền Bắc đang bị cắt điện luân phiên cứ "Một mất một còn" lại vào đúng cữ nắng nóng nhất thường là nắng lên tới ba tám bốn mươi độ hễ có tý gió thì lại là gió lào rát ràn rạt. Ti vi nói đây là đợt nắng nóng nhất trong vòng năm mươi năm trở lại đây. Là ngày lễ trọng nhưng kỷ niệm buổi sáng buổi chiều cả văn phòng ủy ban xã ra ngoài hè cuộn báo quạt phành phạch. Chúng tôi ngồi với anh Phạm Tá Dũng trong phòng trực Đảng ở tầng hai phía trước là cánh đồng lúa thoáng đãng mênh mông mà mồ hôi vẫn chảy ròng ròng. Phạm Tá Dũng lục tủ một hồi rồi đưa cho tôi cuốn "Lịch sử Đảng bộ xã Đông Tiến". Cuốn sách in năm 2005 đẹp và trang nhã. Tôi lật giở đây rồi danh sách và chân dung các đảng viên chi bộ Hàm Hạ năm 1930 những tiền bối của Đảng bộ Thanh Hóa được in rất trang trọng. Sự kiện quan trọng của buổi đầu cách mạng đã được chính sử văn tự hóa; đã được đời sống chính trị thường nhật phát huy bằng những hành động cụ thể những kết quả cụ thể trong cuộc chấn hưng sinh kế Hàm Hạ đã trở thành một địa chỉ đỏ để nơi nơi tìm về...

Tám thập kỷ đã trôi qua làng Hàm Hạ xã Đông Tiến quê hương của chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh đang từng ngày khởi sắc. Đang cùng với cả huyện cả tỉnh tạo nên diện mạo mới trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa quê hương. Chắc chắn rằng với niềm tự hào là vùng quê cách mạng là địa chỉ đỏ... Hàm Hạ nói riêng và Đông Tiến nói chung sẽ mạnh sẽ giàu và sẽ đẹp xứng đáng là nơi đã khai sinh tổ chức Cộng sản đầu tiên của xứ Thanh thân yêu...

                                                  Làng Hàm Hạ tháng 6-2010

                                                                B.L.B

LÊ XUÂN GIANG


 

Truy tìm diện mạo kẻ thù

của công tác tư tưởng






       Giữa năm 1989 tốt nghiệp khóa III trường Đại học viết văn Nguyễn Du lúc ấy đang là thiếu tá quân đội tôi xin chuyển ngành về Thanh Hóa làm chuyên viên theo dõi công tác văn hóa văn nghệ ở Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

Đang từ môi trường quân đội chuyển ra dân sự phải mất một thời gian khá dài tôi mới làm quen được với môi trường mới. Ngay một thói quen đời lính cứ mỗi lần đi qua cổng gác lại xuống xe giơ tay chào rồi mới dắt xe vào cơ quan cũng mất gần nửa năm tôi mới bỏ đi được; mặc dù mấy anh công an gác cổng nhắc tôi: "Bác cứ đi thẳng vào khỏi phải xuống xe cho mệt".

Tôi về Thanh Hóa vào những năm tình hình xã hội ở đây đang có những biến động hết sức dữ dội. Vào những năm 1986 1987 nội bộ lãnh đạo ở Thanh Hóa mất đoàn kết nghiêm trọng Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Thông báo số 74 và điều anh Lê Huy Ngọ - ủy viên Trung ương Đảng Bí thư tỉnh Vĩnh Phú một người gốc xứ Thanh về làm Bí thư Thanh Hóa để ổn định tình hình.

Khi tôi về công tác ở Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy anh Lê Huy Ngọ đã về Thanh Hóa được hơn một năm rồi. Nội bộ lãnh đạo tỉnh đã được kiện toàn lại tạm coi là ổn định. Nhưng cũng đúng vào lúc ấy ở Thanh Hóa lại liên tiếp nổi lên những điểm nóng nơi thì bắt giữ cán bộ của Đảng nơi thì bắt giam lực lượng công an của nhà nước và có nơi đòi bãi miễn chính quyền do dân bầu ra toàn những chuyện động trời cả. Có lẽ từ ngày có chính quyền cách mạng đến nay nông dân Thanh Hóa vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng chưa bao giờ bà con nổi giận lên với chính quyền đến như thế.

Giữa những ngày tình hình cơ sở nóng bỏng ấy một hôm anh Lê Huy Ngọ gọi tôi lên phòng làm việc của Bí thư anh hỏi: "Cậu có nghĩ gì về các điểm nóng nổi lên trong tỉnh ta thời gian gần đây không?". Tôi trả lời: "Có lẽ do họ quá khích làm liều theo kiểu điếc không sợ súng thôi chứ một làng một xã chống sao được cả huyện cả tỉnh có đầy đủ lực lượng quân đội trong tay". Anh Ngọ nói: "Chưa hẳn thế đâu. Họ biết bắt cán bộ công an là phạm tội nhưng họ vẫn làm. Có nơi như ở Nam Giang - Thọ Xuân họ còn hô hào chống Cường hào mới ở nông thôn nữa kia". Rồi anh Ngọ cho biết khi được Trung ương cử về anh nghiên cứu rất kỹ Thông báo số 74 trong đó điều anh quan tâm nhất là Trung ương kết luận: "Nguyên nhân sâu xa dẫn đến mất đoàn kết nội bộ ở Thanh Hóa là do tư tưởng phong kiến mang màu sắc tiểu tư sản".

Anh Ngọ nhấn mạnh: "Tư tưởng phong kiến mang màu sắc tiểu tư sản là gì nó biểu hiện ra sao trong đạo đức lối sống trong cách ứng xử của cán bộ với nhân dân? Nó là nguyên nhân của mất đoàn kết là kẻ thù của công tác tư tưởng mà diện mạo của nó không rõ thì chống nó thế nào được!"

Thấy anh Ngọ tâm huyết về vấn đề này tôi đề nghị anh cho mở cuộc hội thảo để các nhà lý luận phân tích làm rõ. Nhưng anh Ngọ cho tôi biết trước khi tôi về Tỉnh ủy anh đã tổ chức mấy cuộc hội thảo rồi lớn có bé có có cuộc do Ban Tuyên giáo chủ trì có cuộc do Thường trực Tỉnh ủy chủ trì nhưng các nhà lý luận mới đưa ra những khái niệm chung về tư tưởng phong kiến và tiểu tư sản còn diện mạo nó như thế nào thì chưa rõ.

Ngẫm nghĩ một lát anh Ngọ nói tiếp: "Có lẽ chỉ có cánh nhà văn mới làm được việc này. Cậu thử mời lấy một hoặc hai nhà văn am hiểu về nông thôn sắc sảo một chút về Thanh Hóa đi thực tế sáng tác. Thanh Hóa là nơi cô đặc những mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ đổi mới các nhà văn có tâm huyết về đây tha hồ mà viết."

Thế là Bí thư Tỉnh ủy Lê Huy Ngọ đã khởi xướng cuộc mà tôi gọi là "Truy tìm diện mạo kẻ thù của công tác tư tưởng" ở Thanh Hóa mà tôi có may mắn được tham gia.

Thoạt đầu tôi đề xuất để Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy mời hai nhà văn Lê Lựu và Thao Trường về Thanh Hóa. Nhà văn Lê Lựu đã nhiều lần về Hàm Rồng trong những năm đánh Mỹ khi anh còn làm phóng viên Báo Quân khu Ba. Những năm gần đây anh nổi tiếng với tác phẩm "Thời xa vắng" viết về anh nông dân Giang Văn Sài từ nông thôn ra thành phố một tác phẩm được đánh giá là có cách nhìn mới về người nông dân vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới. Còn nhà văn Thao Trường (sau này anh trở lại với tên khai sinh là Nguyễn Khắc Trường) là người trước kia cùng sống với tôi mấy năm liền ở Quân chủng Phòng không - Không quân. Ngay từ dạo ấy anh đã tâm huyết với đề tài "Nông dân". Có lúc anh tâm sự: Bây giờ anh nhìn vào ai cũng thấy rất rõ chất nông dân trong người họ. Từ các vị tướng tá đến mấy ông trí thức cứ nhìn kỹ mà xem chất nông dân rất rõ. Nói rồi anh cười khà khà tự sung sướng với sự phát hiện của mình.

Hai nhà văn Lê Lựu và Thao Trường về đến Thanh Hóa liền được đưa ngay xuống điểm nóng Thọ Ngọc nơi bà con bắt giữ một cán bộ huyện để buộc cấp tỉnh và cấp huyện phải về tận nơi giải quyết việc tham nhũng ở địa phương; rồi sau đó đưa các anh về Quảng Lộc nơi đang đòi bãi miễn chính quyền xã đương nhiệm để bầu bộ máy lãnh đạo mới. Mỗi lần đưa hai nhà văn đi cơ sở anh Lê Huy Ngọ chỉ cho tôi đưa xuống đến huyện thôi còn xuống cơ sở do huyện lo kẻo người ta lại bảo nhà văn đi đâu tỉnh cũng cử cán bộ tuyên giáo đi cùng.

Sau hơn nửa tháng hai nhà văn mới trở về Văn phòng Tỉnh ủy. Trong bữa cơm chia tay nhà văn Lê Lựu nói rằng anh chưa có thể viết ngay một cái gì về Thanh Hóa cả vì thực tiễn sôi động quá mà anh lại không phải là nhà báo đi thực tế là có ngay bài được. Còn nhà văn Thao Trường chỉ ngồi cười khà khà không hề hé lộ ra là có viết cái gì hay không. Một năm sau Thao Trường trở lại Thanh Hóa mang theo cuốn tiểu thuyết "Mảnh đất lắm người nhiều ma" tặng Bí thư Lê Huy Ngọ. Nhà văn Thao Trường cho biết từ nay bút danh của anh là Nguyễn Khắc Trường để đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác của mình. Tôi thầm hiểu nhà văn Nguyễn Khắc Trường muốn khẳng định với Bí thư Lê Huy Ngọ thành công của anh về đề tài nông thôn trong tiểu thuyết mới này.

Mấy hôm sau đọc xong tiểu thuyết mới của Nguyễn Khắc Trường anh Lê Huy Ngọ nhận xét: "Hay thì hay thật đấy nhưng chẳng thấy bóng dáng con người Thanh Hóa ở đâu cả". Tôi mang nhận xét này của Bí thư Lê Huy Ngọ nói với Nguyễn Khắc Trường trong một lần gặp anh ở Hà Nội. Theo Nguyễn Khắc Trường tình tiết sự kiện trong tiểu thuyết đều lấy trong chuyến đi thực tế ở Thanh Hóa cả. Nhưng vì anh không am tường con người Thanh Hóa nên anh đành bê nó ra vùng đất Thái Nguyên quê anh miền đất trung du đầy nắng và gió làm bối cảnh để dựng tiểu thuyết nên anh Lê Huy Ngọ không tìm thấy con người Thanh Hóa trong đó cũng phải thôi.

Văn chương nó lạ thế. Có thể mang tình tiết sự kiện từ Thanh Hóa ra tận Thái Nguyên để dựng chuyện còn con người thì không thể.

*

Cuộc truy tìm... thứ nhất coi như không thành công. Anh Lê Huy Ngọ lại mở tiếp cuộc truy tìm lần thứ hai. Lần này anh quyết định mời nhà văn Nguyễn Khải về Thanh Hóa. Nhà văn Nguyễn Khải đang là đại biểu Quốc hội mỗi năm từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội họp hai lần. Lần nào họp Quốc hội xong nhà văn Nguyễn Khải cũng lưu lại đi thực tế ở một vùng quê nào đó ở miền Bắc một thời gian rồi mới về Nam. Anh Ngọ biết rõ điều đó nên chỉ thị cho Ban Tuyên giáo đứng ra làm giấy mời gửi qua đoàn đại biểu Quốc hội Thanh Hóa để khi đoàn về đưa nhà văn Nguyễn Khải về luôn.

Sau này tôi mới biết Bí thư Lê Huy Ngọ và nhà văn Nguyễn Khải thân thiết với nhau từ những ngày nhà văn Nguyễn Khải đi thực tế ở Vĩnh Phú. Cả hai người đều thân quen với một người nông dân ở Vĩnh Phú mà sau này là nguyên mẫu nhân vật Tuy Kiền trong tác phẩm nổi tiếng "Tầm nhìn xa" của Nguyễn Khải.

Chính vì có sự quen thân ấy nên khi đoàn đại biểu Quốc hội đưa nhà văn Nguyễn Khải về Thanh Hóa Bí thư Lê Huy Ngọ bố trí cho nhà văn ở phòng khách trong Tỉnh ủy và hàng ngày ăn cơm chung với Bí thư cho tiện việc trao đổi tâm sự. Duy có việc đi thực tế Bí thư Lê Huy Ngọ vẫn giữ quan điểm không cho người của Tuyên giáo đi theo để cho nhà văn hoàn toàn tự do.

Từ những ngày còn ở Quân chủng Phòng không - Không quân tôi đã nghe nhà văn Nguyễn Khắc Trường nói về việc đi thực tế của nhà văn Nguyễn Khải với giọng rất thán phục. Nguyễn Khắc Trường nói rằng đi thực tế nhà văn Nguyễn Khải rất chăm chỉ ghi chép và đã có lần Nguyễn Khắc Trường đọc trộm sổ ghi chép của ông sau này thấy nhiều đoạn văn trong sổ ghi chép được ông bê nguyên vào tác phẩm chẳng cần phải thêm bớt gì.

Lần này nhà văn Nguyễn Khải về Thanh Hóa tôi không được đi theo để học mót cách đi thực tế của ông quả là một thiệt thòi lớn đối với tôi một người đang tập tễnh bước vào nghề. Bù lại những dịp được tháp tùng nhà văn đi thăm thú quanh thị xã Thanh Hóa tôi đã được ông kể về chuyến đi của ông xuống xã Nga Thạch nơi đã từng là điểm nóng trước đây và về làng Bồng Vĩnh Lộc mà ông là hậu duệ đời thứ 34 của họ Nguyễn ở làng quê này.

Nhà văn Nguyễn Khải về Thanh Hóa cuối năm 1990 đến tháng 6 năm 1991 bài ký "Hào kiệt tỉnh Thanh" của ông được công bố trên Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.

Tôi đọc ngấu nghiến bài ký "Hào kiệt tỉnh Thanh" với tất cả sự tò mò của một người trong cuộc. Đọc xong tôi liền cầm tờ báo Văn nghệ chạy lên gặp Bí thư Lê Huy Ngọ để khoe. Mới mở cửa ra thấy tôi cầm tờ báo Văn nghệ trên tay anh Lê Huy Ngọ liền hỏi: "Cậu đọc chưa?". Tôi báo cáo: "Đọc rồi ạ". Anh hỏi đốp luôn: "Cậu thấy thế nào? ". Tôi trả lời: "Hay thì hay rồi nhưng không biết đã trúng ý của anh chưa ?". Khi cả tôi và anh đã ngồi vào bàn làm việc anh mới nói: "Cái thằng phong kiến thì tương đối rõ nhưng màu sắc tiểu tư sản thì còn lơ mơ lắm".

Tôi trở về phòng làm việc của mình đóng cửa lại đọc kỹ bài ký một lần nữa. Càng đọc tôi càng thấy nhận xét của Bí thư Lê Huy Ngọ không phải là không có cơ sở.

Ngay khổ đầu của bài ký nhà văn Nguyễn Khải kể về ông Phó Ngự sử Nguyễn Huy Tế người làng Bồng. Cụ Tế được vua yêu sai ra Thanh Hóa thanh tra vụ động mồ mả dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu huyện Hà Trung. Cụ Tế về hẳn làng Bồng. Các quan ở tỉnh về theo quỳ một hàng ngay ở sân nhà cụ suốt một buổi sáng để chịu tội rồi cụ mới cho vào xử tha tội. Nhưng khi đi cáng về mỗi vị quan phải để một cái cùm trên bụng để tỏ rõ hình phạt vì tội đã không chăm sóc đất đai mồ mả quê nhà vua cho chu đáo.

Người kể chuyện này cho Nguyễn Khải nghe là cụ giáo Đào. Theo nhà văn Nguyễn Khải cụ giáo Đào là người của thời dân chủ là trí thức xã hội chủ nghĩa mà "Khi kể về chính tích một ông quan thời phong kiến mặt cứ đỏ lên vì hãnh diện. Hãnh diện vì là người trong họ cùng làng với một ông quan to được vua yêu"... Thế mới biết trong sâu thẳm đời sống tinh thần của người làng Bồng vẫn ẩn chứa "mộng được làm quan được là họ hàng nhà quan là đầy tớ hoặc người làng của quan".

Có lẽ cái thằng phong kiến mà anh Lê Huy Ngọ cho rằng đã khá rõ là ở chỗ này đây. Nhưng niềm kiêu hãnh ấy đâu chỉ có ở cụ giáo Đào và người làng Bồng. Ngay Bí thư Tỉnh ủy Lê Huy Ngọ ngày trở về quê hương anh cũng "Trước làm cơm cúng bố mẹ nhân thể trình báo với gia tộc người làng". Trong buổi trình báo ấy Bí thư Đảng ủy xã tự hào nói: "Anh Ngọ sau ba mươi năm đi làm cách mạng ở tỉnh khác nay được Trung ương điều về lãnh đạo tỉnh nhà. Đó là vinh dự của quê hương".

Đọc đến đây tôi tự hỏi cái vinh dự của ông Bí thư Đảng ủy xã và sự kiêu hãnh của cụ giáo Đào làng Bồng có gì khác nhau chăng?

Còn chuyện ở xã Nga Thạch nữa. Chỉ vì tranh nhau một cái chợ mà thanh niên hai xã Nga Thạch và Nga Nhân suýt choảng nhau. Công an huyện cử đoàn công tác xuống để hòa giải dân làng Nga Thạch lầm tưởng công an xuống bắt Chủ tịch xã của mình nên giam đội công tác của công an huyện vào hội trường. Nhà văn Nguyễn Khải mô tả cái đêm đầu tiên bắt công an huyện ở xã Nga Thạch như sau: "Các ngả đường vào xã đều có barie treo đèn đỏ và kẻng. Bí thư và Chủ tịch đi dạo một vòng quanh xã bộ dạng trang nghiêm bí mật như tư lệnh và chính ủy đi thị sát mặt trận. Cũng là một thèm muốn thầm kín của họ khi một đời phải làm lính một đời bị người khác sai khiến...

Nửa đêm họp chấp hành bàn về chủ trương đối sách với tỉnh với huyện với những người đang bị giam giữ... "mường tượng như cuộc họp của một chính phủ lời nói cũng khác thường mặt người cũng khác thường giống hệt những kẻ cùng một lúc được giải phóng bao nhiêu là trói buộc bao nhiêu là ẩn ức".

Một thời gian sau trở lại Nga Thạch Nguyễn Khải mới hay "Cái chợ và ông chủ tịch xã Nga Thạch chẳng liên quan bao nhiêu đến sự giận dữ bất thường của người nông dân nơi đây; chẳng có chợ này thì có chợ khác chẳng có ông chủ tịch này thì có ông chủ tịch khác có mất mát gì mà phải làm rầm lên. Họ giận họ bực vì chuyện khác kia từ nhiều chục năm rồi cái no đói cái sướng khổ cái buồn vui của người dân chẳng được quan tâm đầy đủ. Nói nhỏ mãi không chịu nghe thì phải nói to lên cho cả nước cùng nghe".

Điều họ phải nói to lên ở đây không là gì khác ngoài khát vọng được tự do được giải phóng khỏi những trói buộc vô lý bất công. Có điều cách nói to của người xứ Thanh mảnh đất đã sinh ra những anh hùng hào kiệt không giống ở những vùng quê khác ngang tàng lắm dữ rằn lắm.

Thật khó có thể bóc tách cho rành rẽ trong con người Thanh Hóa hôm nay từ trong cốt cách đến hành vi ứng xử đâu là phong kiến đâu là tiểu tư sản đâu là vô sản. Chừng như tất cả những khái niệm ấy đều hiện hữu trong đời sống tinh thần của người xứ Thanh hiện đại. Vào lúc công cuộc đổi mới mới được Đảng ta khởi xướng một số giá trị cũ lạc hậu đang bị loại trừ nhiều giá trị mới chưa được xác lập; trong buổi tranh tối tranh sáng ấy đám cơ hội ranh ma lợi dụng vào dân chủ để mưu lợi cá nhân dòng họ địa phương.

Có lẽ đó là những nét phác thảo diện mạo của cái gọi là tư tưởng phong kiến mang màu sắc tiểu tư sản đã gây ra bao nhiêu phiền toái trên mảnh đất này.

*

Viết đến đây tôi chợt nhớ thói quen đời lính mỗi lần qua cổng gác lại xuống xe giơ tay chào dẫu là một thói quen văn minh nhưng vì không hợp với đời sống ngoài quân ngũ muốn bỏ đi còn lâu đến thế nói gì đến từ bỏ một hệ tư tưởng một phong tục tập quán đã ngự trị trên mảnh đất này hàng ngàn năm.

Nhìn ra tính phức tạp đa dạng trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng ở mảnh đất này nên trong bài ký "Hào kiệt tỉnh Thanh" của mình nhà văn Nguyễn Khải viết rằng: "Anh Ngọ ơi... nếu anh và các đồng sự của anh tổ chức được một Đảng bộ một chính quyền một xã hội thật sự dân chủ lấy phép nước và lợi ích quốc gia làm trọng thì sẽ thay đổi được bộ mặt của Thanh Hóa".

Tôi nghĩ rằng: Khó nhưng không phải là không làm được.

                                       Thanh Hóa tháng 6 năm 2010

                                                    L.X.G

More...

TIẾN TỚI ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVII

By Văn Nghệ Xứ Thanh

         PHÁT HUY NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC
 
      TIẾP TỤC THỰC HIỆN THẮNG LỢI CÁC MỤC TIÊU
 
       KINH TẾ-XÃ HỘI DO ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN

                           LẦN THỨ XXI ĐỀ RA


                                                                    LÊ HUY HOÀNG

                                                     Bí thư Huyện ủy (Nhiệm kỳ 2005-2010)


 

            Bá Thước là huyện miền núi phía tây của tỉnh Thanh Hóa tiếp giáp với các huyện Quan Hóa Quan Sơn Lang Chánh Ngọc Lặc Cẩm Thủy Thạch Thành và tỉnh Hòa Bình. Đồng thời cũng là huyện có huyết mạch giao thông nối liền các huyện và tỉnh bạn đặc biệt có quốc lộ 15A và quốc lộ 217 giao nhau tại Đồng Tâm và nối với nước bạn Lào; có 40 ki lô mét sông Mã chảy qua có đỉnh Pù Luông cao hơn 1.700 mét với hệ sinh thái đa dạng phong phú. Từ lâu đời vùng đất Bá Thước có ba dân tộc anh em Kinh Thái Mường chung sống hòa thuận đoàn kết.

Trải qua chặng đường 65 năm xây dựng quê hương và 61 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Cán bộ và nhân dân huyện Bá Thước đã phát huy truyền thống cần cù anh dũng trong lao động sản xuất chống chọi thiên tai cũng như trong đấu tranh chống ngoại xâm góp phần cùng nhân dân cả tỉnh và cả nước hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng và bảo vệ tổ quốc; vững tin bước vào thời kỳ đổi mới quê hương thực hiện Công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Nhiệm kỳ XX (2005-2010) của Đảng bộ huyện Bá Thước là thời điểm cả tỉnh và cả nước phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI là thời kỳ Đảng đẩy mạnh sự nghiệp Công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả; cũng là thời điểm Đảng phát động và đẩy mạnh cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được nhân dân cả nước đồng tình hưởng ứng.

Năm năm của nhiệm kỳ 2005-2010 Đảng bộ và nhân dân huyện Bá Thước triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội đảng bộ lần thứ XX trong điều kiện tình hình chính trị xã hội ổn định sự đoàn kết thống nhất trong Đảng ở mức độ cao nhiều chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế-xã hội được triển khai có hiệu quả.

Nhìn lại chặng đường 5 năm nhiệm kỳ 2005-2010 của Đảng bộ huyện Bá Thước có thể khẳng định rằng:

Về chính trị tư tưởng: Đảng bộ luôn luôn kiên định vững vàng đoàn kết thống nhất; thường xuyên bồi dưỡng giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê nin Tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ đảng viên; chăm lo xây dựng và củng cố mạng lưới tổ chức Đảng; Triển khai sâu rộng các Nghị quyết đại hội X Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI; lãnh đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế-xã hội mà đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX đề ra.

Về lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội: Tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế không ngừng nâng cao mức sống của người dân. Tạo điều kiện để mọi người dân đều được hưởng thụ các thành quả của công cuộc đổi mới CNH-HĐH và hội nhập quốc tế; Nền kinh tế tăng trưởng khá cơ cấu chuyển dịch đúng hướng; kết cấu hạ tầng kinh tế được tăng cường; tốc độ tăng GDP đến năm 2010 đạt 14 9% tăng bình quân hàng năm 11 7% thu nhập bình quân 6 3 triệuVNĐ/người. Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm tăng 20 6%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp-xây dựng giảm tỷ trọng nông nghiệp; các tiềm năng thế mạnh được khai thác thị trường được mở rộng. Các nguồn lực đầu tư phát triển được tăng cường; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được chú trọng; các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển tạo động lực mới cho nền kinh tế. Văn hóa-xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ đời sống tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện nâng lên. Giáo dục y tế-chăm sóc sức khỏe nhân dân được tăng cường; hoạt động khoa học-công nghệ có bước phát triển ứng dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Đời sống nhân dân được chăm lo cải thiện công tác xóa đói giảm nghèo được thực hiện có hiệu quả; đặc biệt đã triển khai quyết liệt Nghị quyết 30A của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện đặc biệt khó khăn. Lĩnh vực an ninh-quốc phòng được tăng cường; an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; các cơ quan nội chính được củng cố hoạt động ngày càng có hiệu quả. Củng cố quốc phòng-an ninh luôn được gắn liền với phát triển kinh tế-xã hội. Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và trật tự an toàn giao thông được tăng cường. Đấu tranh phòng chống tham nhũng lãng phí luôn luôn được quan tâm chỉ đạo.

Trong nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng hệ thống chính quyền: Công tác quản lý Nhà nước hiệu lực hiệu quả điều hành của chính quyền các cấp có nhiều tiến bộ; cải cách hành chính đạt kết quả tốt. Hội đồng nhân dân các cấp được kiện toàn phát huy tốt hơn vai trò cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng các kỳ họp. Tăng cường giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND và các chính sách pháp luật của nhà nước. Hoạt động của UBND các cấp từng bước đổi mới; kỷ cương kỷ luật hành chính được tăng cường. Cải tiến lề lối làm việc quan tâm bồi dưỡng đào tạo sử dụng và bố trí cán bộ hợp lý phát huy được nguồn lực cán bộ. Thực hiện cơ chế "Một cửa" bước đầu có tiến bộ.

Công tác dân vận hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động. Khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường quyền dân chủ của nhân dân được phát huy. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng Chính quyền; thực hiện được chức năng giám sát góp phần giữ vững sự ổn định chính trị ở cơ sở. Công tác xây dựng Đảng luôn luôn được coi trọng; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng được nâng lên. Các cấp ủy Đảng duy trì và thực hiện nghiêm túc quy định về chế độ học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh; triển khai nghiêm túc cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trên 98% đảng viên được học tập và đăng ký thực hiện theo các chuyên đề. Hệ thống tổ chức Đảng luôn luôn được quan tâm củng cố trọng tâm là xây dựng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh. Chất lượng sinh hoạt chi bộ sinh hoạt cấp ủy được nâng lên phát huy vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện các chủ trương nghị quyết của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước. Công tác phát triển Đảng được đặc biệt chú trọng trong nhiệm kỳ toàn Đảng bộ đã kết nạp được 1003 đảng viên mới. Thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát.

Phát huy những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ 2005-2010 nhiệm kỳ tới 2010-2015 Đảng bộ huyện đoàn kết lãnh đạo và là trung tâm đoàn kết các dân tộc anh em thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội do đại hội Đảng bộ lần thứ XXI đề ra. Phấn đấu tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng đảng viên hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền các cấp. Huy động nội lực tranh thủ ngoại lực; đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo. Phát triển nguồn lực con người; đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội. Phát triển kinh tế kết hợp với tăng cường củng cố quốc phòng an ninh; giữ vững ổn định chính trị đảm bảo trật tự an toàn xã hội; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh... Góp phần cùng nhân dân cả tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội do đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đề ra.

                                                                          L.H.H

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THANH THẢN

Người xin báo tử

Truyện ngắn


       Giải phóng hoàn toàn miền Nam đã được đến ba bốn tháng... vui là thế mà San cứ ủ rũ bần thần suốt ngày nhất là những lúc nhìn anh em người thì vác cái khung xe đạp người thì con búp bê nhựa mắt nhắm mắt mở to tổ bố buộc ngang trên nắp ba lô... nườm nượp ríu rít về phép ra quân chuyển ngành. Còn San thì vẫn chẳng thấy xin về phép xin xuất ngũ gì. Ai hỏi anh cũng chỉ thở hắt ra ngồi thừ... Anh sợ về... Cuối cùng anh quyết định một việc mà xưa nay chưa từng có rồi mạnh dạn lên xin với thủ trưởng.

San mang bộ mặt buồn rượi vào thẳng phòng ông đại úy Lâm chính trị viên trưởng tiểu đoàn. Ông Lâm thân tình bảo anh ngồi uống nước. Đỡ chén nước từ thủ trưởng đưa anh không uống mà đặt xuống bàn rồi nói luôn:

- Báo cáo thủ trưởng... em lên xin đơn vị cho em... một cái giấy báo tử về quê...

Ông Lâm sững người. Ông nhìn San chằm chặp như dò xét một điều gì đó hoặc giả tai mình còn nghe nhầm:

- Hử? Cái gì?... cậu bảo sao?

- Dạ... là em muốn xin các thủ trưởng cho em một giấy báo tử về quê ạ!...

Ông Lâm lại nhìn San như nhìn một người xa lạ:

- Này... cậu... cậu có bị làm sao không đấy?... Lạ người thì vẫn béo tốt lành lặn lại đang sống chờ chờ ra đấy... Hử?

- Dạ... dạ...

Bấy giờ San mới uống một ngụm nước rồi kể. Anh kể trông đến là khổ sở.

San kể khá tỷ mỉ chuyện riêng của mình với thủ trưởng. Rằng...

Hồi ở nhà San có hẹn hò với một cô bạn học cùng làng. Cô ấy tên là Nhài Nhài xinh gái nhất nhì trong làng lại cũng thật nết na đảm đang nữa. Gia đình khá giả. Hôm chia tay Nhài đi B. San đã nắm chặt tay em bảo "Anh ra đi không biết thế nào... Chiến trường thì ác liệt lắm. Nhỡ anh không về thì sao? Nếu còn về được trên mình lại đầy thương tật thì cũng khổ cho cả một đời em... Thôi tuổi xuân có thì nếu vài năm anh không có tin tức gì về thì ở nhà em cứ việc tự lo hạnh phúc cho mình... Anh không trách giận đâu...". "Không... em cứ đợi... dù năm năm mười năm... dù về anh có bị đui què mẻ sứt... em cũng không bao giờ thay lòng đổi dạ...".

Nghe cô ấy nói như thế San đã thấy là hạnh phúc lắm rồi. ở đời còn có gì hạnh phúc hơn là có được người hẹn hò thương yêu quyết thủy quyết chung với mình đến thế. Chính đó cũng là một sức mạnh thôi thúc anh vững bước ra đi. Anh đã vượt Trường Sơn vạn dặm vượt đạn bom mưa nắng hai mùa bám cùng đồng đội vào đến đích. ở chiến trường gần bảy năm trời anh đã chiến đấu dũng cảm không sợ gian khó hy sinh cũng chính một phần nhờ ở sức mạnh ấy. Đêm anh chỉ lo mong sao lập được nhiều chiến công để xứng đáng với tấm lòng son sắt thủy chung của người yêu đang ngóng đợi phía quê nhà. Và thực sự anh đã đạt được nhiều chiến công lớn. Hai lần dũng sỹ diệt Mỹ ngụy. Một lần dũng sỹ diệt xe tăng địch... nhưng rồi nhiều lần bị thương nặng anh phải nằm lại tuyến sau...

Hồi năm 1972 1973... ở rừng Tây Ninh anh bị mấy lần máy bay địch rải hóa học và cũng có mấy lần anh lại uống phải nước suối mà địch vừa mới rải chất độc chưa tan. Hồi ấy chả ai biết hậu quả của nó ra sao. Đến khi mụn nhọt từng vầng nổi lên ngứa ngáy nhiều chỗ anh mới nhờ một bác sỹ trên Phòng quân y Sư đoàn xem. Bác sỹ ái ngại cho San và nói thật "Bị thế này là khổ lâu dài đấy... Nó còn di chứng đến đời con đời cháu... Con cái đẻ ra chỉ toàn dị hình dị hài... nào là lồi mắt dô trán mặt mày méo mó chân tay co quắp... nào là thiểu năng trí tuệ... có khi còn thiếu hẳn bộ phận này bộ phận khác trên cơ thể... Khổ lắm suốt đời chỉ nằm ềnh ệnh trên giường thôi. Bỏ không được mà nuôi thì khổ nó một khổ mình mười... Nên tốt nhất tôi nói với cậu... một là đừng lấy vợ... hai là lấy vợ thì cố mà đừng có con. Tìm nuôi con nuôi thôi...". San giật thót mình lo sợ. Phần mình đã vậy San chỉ thương cho Nhài thôi. Hạnh phúc lớn nhất của người đàn bà là được làm vợ làm mẹ... Thế mà nếu cô ấy lấy mình... thì khổ cho cô ấy quá. Lần trước có mấy anh em cùng quê về phép San đã nhờ họ đến thăm gia đình và bắn tin cho cô ấy hay là anh đã hy sinh mất tích đơn vị còn đang tìm chưa ra... mà cô ấy vẫn không tin. San cũng được biết bố mẹ anh cũng nhiều lần khuyên Nhài đi lấy chồng mà cô ấy vẫn không chịu... Nghĩ mãi lần này San mới quyết định xin đơn vị như thế. Có giấy báo tử về thì ai mà không tin.

Nghe chuyện của San ông Lâm cũng muốn phát khóc. Ôi bao nhiêu lớp lớp đồng đội chiến sỹ của ông... Lúc ra đi người nào cũng mới mười tám đôi mươi trẻ trung khôi ngô tuấn tú phơi phới tuổi xuân... là thế. Hầu hết họ ra đi từ những mái trường phổ thông chuyên nghiệp đại học... Nếu không có chiến tranh thì chắc chắn họ đã là những lớp trí thức đầy tài năng của đất nước rồi. Vậy mà phải gối đất nằm sương đầu đội nắng mưa bom đạn nhịn đói nhịn khát... để rồi giờ người nào cũng mặt bủng da chì lại vết thương bệnh tật dày vò đến sống khổ sống sở. Đấy là chưa kể còn bao nhiêu người đã hy sinh giữa tuổi đời đẹp nhất. Có người hy sinh mất tích bom đạn lấp vùi chẳng sao tìm thấy một nắm xương tàn... Biết bao người ra đi mà cuộc đời chưa hề mảy may biết đến hương vị ngọt ngào của tình yêu hạnh phúc lứa đôi... Cứ nghĩ về đồng đội cứ nghĩ về lớp lớp chiến sỹ thân yêu của mình mà nhiều đêm ông thao thức không sao ngủ được. Có chợp mắt được chút nào thì bao nhiêu những hình ảnh ấy lại hiện lên... Ôi đến bao giờ nó mới thôi bám riết lấy cuộc đời những người lính? Chính vì thế ông Lâm đã quyết định giúp San ngay:

- Cậu nghĩ vậy là đúng... cao cả nữa một mình mình gánh chịu thôi chứ để cô ấy vì mình mà khổ suốt đời... cũng tội!... Thôi được tớ sẽ viết cho cậu. Nhưng phải bí mật đấy. Chứ chuyện này Ban Chỉ huy biết các ổng dần cho hết đường mà chạy...

San mừng rơn rối rít cảm ơn thủ tưởng. Giấy gửi đi rồi San vui lắm vui đến hàng tuần. Chuyến này thì nhất định cô ấy phải tin. Giấy tờ rõ ràng thế ai dám bảo sao. Rồi anh định hễ khi nào được biết cô ấy đi lấy chồng là anh sẽ xin ra quân về luôn. Anh cũng đang muốn về lắm chứ. Nhiều lúc nhớ nhà nhớ quê... đến không chịu được... Mọi việc về sẽ tùy cơ ứng đối với cô ấy sau.

Tháng ấy đơn vị lại có đợt giải quyết cho chiến sỹ đi phép ra quân chuyển ngành. San lại phải nhờ một chiến sỹ đồng hương ra phép đến thăm nhà anh và xem tình hình Nhài thế nào. Hết phép vừa vào đến đơn vị người ấy đã lại chạy ngay đến nhăn nhó với San:

- Vẫn không ổn đâu San ạ! Cô ấy bảo "ối người cũng có giấy báo tử rồi... mà vẫn lù lù khoác ba lô về kia... Thiếu gì những trường hợp báo tử nhầm... Mà giấy này cũng nghi lắm... giấy báo tử gì mà lại không ghi ngày giờ hy sinh của người ta thì ở nhà biết thế nào để mà cúng giỗ... Mặt khác em vẫn cứ linh cảm thấy... hình như anh ấy vẫn còn sống... Chắc thế nào nên anh ấy mới chần chừ chưa về đấy thôi... Hòa bình đã ba bốn tháng rồi... Người ta thì đã về đông về tây... còn anh ấy... Em chỉ sợ hay là anh ấy đã có côi gái áo bà ba... tóc dài bay theo gió... nào đó giữ chân rồi... Thôi nhất định lần này em phải vào một chuyến xem sao... địa điểm của đơn vị các anh em đã hỏi được đây rồi. Tiện thể làm một chuyến vào thăm thành phố Hồ Chí Minh luôn. Đất nước dài rộng và đẹp là thế mà chúng em đã biết đâu với đâu đâu... Còn nếu như anh ấy hy sinh thật rồi thì cũng là một chuyến vào chuyển hài cốt anh ấy về... được chứ anh?"

San lại thở "xì" một tiếng dài lòng buồn nẫu. Cô ấy lạ thế đấy đến vậy rồi mà vẫn cứ khăng khăng một mực không chịu tin cho. San lại vò đầu vò tai. Biết làm gì nữa đây! Chiều ấy anh lại lên thủ trưởng Lâm luôn. Biết chuyện ông Lâm lại xúc động xúc động trước cả hai tấm lòng. Ông bóp trán cúi đầu suy nghĩ. Lâu lắm ông mới ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt vẫn ngân ngấn của San khẽ mỉm cười đầu gật gật trông đã có phần vui lên một chút như ông đã nghĩ ra được một biện pháp gì đó:

- Chưa thấy ai sắt son và có ý chí như cô ấy... Mừng cho em có được một người yêu như thế... hiếm đấy San ạ... thôi bây giờ theo anh - ông bỗng thay đổi cách xưng hô làm cho San càng cảm động gần gũi và kính yêu ông hơn - em phải về thôi... Về em cứ nói thẳng với cô ấy sự thật những di chứng của cái loại chất độc chết người kia là thế... là thế... Nếu cô ấy vẫn một lòng với em thì em hãy nhớ lời anh bác sỹ đã dặn... nhé!...

San khẽ gật đầu "vâng ạ" cứ như một người em ngoan ngoãn trước lời anh.

San gượng vui. Đành phải như vậy thôi... Thực ra điều ấy anh cũng đã có nghĩ đến nhưng vẫn sợ Nhài không nghe vì bấy giờ đã ai biết gì về những di chứng khủng khiếp kia đâu. Đây là một cách cuối cùng không biết đã thuyết phục nổi cô ấy chưa? Rồi San đứng dậy xin phép thủ trưởng ra về.

San bước ra khỏi của. Ông Lâm thẫn thờ nhìn theo. Dù bước chân người chiến sỹ của mình đã có phần vui lên mà lòng ông vẫn quặn đau the thắt... lặng đi. Mãi một lúc lâu ông mới như sực tỉnh. Và ông khẽ giơ tay lau những giọt nước mắt ấm nóng đã bò dài trên cả hai gò má ông tự lúc nào không hay...

                                                                         4 - 2010

                                                                             T.T

NGUYỄN CẨM HƯƠNG


 

Người đồng đội của bố tôi

Truyện ngắn


       Nhận được thư mẹ vào cuối buổi học rất mừng nhưng tôi chưa vội bóc ra ngay vì tôi thừa biết trong thư mẹ nói gì. Vẫn chỉ là những lời dặn muôn thuở về sức khỏe và cuối cùng là một lời đề nghị hấp dẫn: "Con có cần gì để mẹ gửi". Tất nhiên là tôi cần ít nhất là một thứ gì đó hoặc đơn giản chỉ là một ít tiền. Thời đó mọi phương tiện vận chuyển đều chậm kể cả bưu chính. Tôi nhét cái phong bì mỏng dính do mẹ hay viết bằng giấy pôluya vào quyển giáo trình rồi lo đi ăn trưa vì buổi chiều còn hai tiết tiếng Anh nữa.

Khi đã tối khuya nằm trên chiếc giường tầng thả bộ não cho nó thư giãn tôi mới nhớ tới bức thư của mẹ cũng không muộn vì thường thì chẳng có gì mới. Phong thư của mẹ đã mỏng lại còn ít chữ chỉ độc một dòng: "Chú Hiệp đã mất con có về được không". Tôi hơi bàng hoàng một chút nhưng lại trút một hơi thở dài gần như là thở phào. Một cái gì đó như sự nhẹ nhõm của người vừa đánh rơi cái vật nặng trên người nhưng cũng thấy hụt hẫng vì đó là một vật quý. Tôi thả bức thư ra giường ngả người nhắm mắt để tận hưởng một giấc ngủ ngon nhưng tôi đã nhầm tôi không tài nào ngủ được. Gương mặt chú Hiệp cứ hiển hiện trước mắt như một sự ám ảnh. Mặc dù sự ra đi của chú không có gì là bất ngờ. Tôi biết chú đã bị bệnh từ lâu nghe nói là bệnh nan y nhưng là bệnh gì thì tôi không rõ. Da chú đã trắng lại cứ xanh xao dần nom càng yếu ớt. Thỉnh thoảng chú vẫn ra thăm tôi ở trường đại học và đem theo những món quà mẹ gửi. Bao giờ chú cũng bảo chú có việc đi Hà Nội nhân tiện đến thăm tôi chứ chưa bao giờ chịu nhận chỉ đến thăm tôi. Tôi tiếp chú theo kiểu cho phải phép chứ không mặn mà cho lắm. Nhưng dường như chú không để ý đến điều đó. Lúc nào cũng thấy chú tươi cười lúc nào cũng ân cần nhỏ nhẹ nhưng tôi vẫn không yêu chú được có lẽ vì tôi là một đứa con gái ích kỷ chăng? hay vì tôi quá yêu bố tôi hay vì tôi sợ mất tình yêu của mẹ tôi? Có lẽ vì tất cả.

Đêm ở khu ký túc xá sinh viên thật chẳng yên tĩnh tý nào. Những âm thanh đủ loại cứ liên tục len vào từng căn phòng. Hết tiếng nước chảy xì xọp lại đến tiếng chân guốc lách cách nơi cầu thang đôi khi còn cả tiếng đàn ghi ta từ một ban công nào đó vọng đến thả vào không trung những âm thanh sâu lắng. Song tôi không ngủ được không phải vì điều đó. Gương mặt chú Hiệp cứ hiện ra trước mắt tôi như một sự ám ảnh một gương mặt thanh tú xanh xao nhưng khóe mắt lúc nào cũng như cười. Phải nói là chú Hiệp đẹp trai không phải chỉ đến bây giờ tôi mới nhận ra điều đó mà từ khi tôi mới chỉ là cô bé chín tuổi tôi vẫn lén ngắm chú. Chú có một sống mũi thẳng và cao như Tây hàm răng trắng đều đặn và không đen xỉn như nhiều đàn ông khác. Và điều lạ nữa là tại sao chú cũng đã từng đi lính dạn dày bom đạn mà chú vẫn sở hữu một làn da trắng trẻo thư sinh như một chàng sinh viên. Rất khác với những người lính mà tôi thường gặp. Mẹ bảo chú Hiệp vốn là sinh viên năm cuối trường Đại học Kiến trúc chả trách chú làm việc gì cũng khéo và bàn tay chú có những ngón dài như một nghệ sĩ viôlông. Song tôi vẫn không yêu chú được. Ngày chú xuất hiện đầu tiên ở nhà tôi là một ngày buồn vì mẹ con tôi lúc đó mới cảm nhận được sự không trở về mãi mãi của bố tôi. Mẹ đã khóc rất nhiều mặc dù trước đó mẹ đã khóc nhiều rồi. Tôi đã hiểu được tôi hoàn toàn không còn bố nữa khi nhìn thấy những đồ vật của bố mà chú Hiệp trao lại cho mẹ tôi. Tôi nghe loáng thoáng chú kể rằng chú đã ở bên bố giây phút cuối bố nắm tay chú và gửi gắm chú nhiều điều. Chú đã gói ghém những đồ vật cá nhân của bố giữ gìn cẩn thận trong điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh để hy vọng một ngày đó có dịp trao lại cho mẹ con tôi. Mẹ nhìn những kỷ vật của bố nước mắt lã chã. Tôi sờ vào từng thứ như cảm nhận được hơi ấm của bố tôi cái bát ăn cơm màu xanh rêu cái lược nhôm bé xíu cái ví da còn nguyên tấm ảnh tôi lúc ba tháng tuổi cả cái khăn mặt đã ố vàng khô cứng mà tôi vẫn thích áp lên mặt tưởng như bố đang áp bộ râu quai nón cù lên má tôi. Mặc cho chú Hiệp và mẹ tôi còn ngồi nói chuyện tôi ôm những kỷ vật của bố vào giường nằm đắp kín chăn rồi thì thào nói chuyện với bố. Tôi khoe tôi đã đi học và được mấy con mười rồi nhưng mẹ vẫn bảo còn phải cố gắng nữa giá bố ở nhà thể nào bố cũng bế bổng tôi lên cười thích thú và khen tôi thật nhiều. Lúc nhỏ tôi yêu bố hơn cả mẹ vì bố thường bênh tôi mẹ thì nghiêm khắc đe nẹt. Bố toàn bảo "Con còn nhỏ biết gì" mẹ lại bảo "Bé không vin lớn gãy cành". Đôi khi chỉ vì tôi mà mẹ giận bố không thèm nấu cơm để bố con tôi có dịp đi ăn quà. Bố tôi là người ăn to nói lớn bản thân ông cũng cao to thô tháp trái ngược hẳn với chú Hiệp. Nhưng tôi vẫn rất yêu bố. Hôm bố tôi lên đường nhập ngũ mẹ phải gửi tôi ở nhà bà ngoại để tôi khỏi làm bận chân người ra trận khi tôi trở về hỏi bố đâu chỉ thấy mắt mẹ đỏ hoe mẹ bảo bố đi ít bữa rồi về tôi tin thế khóc tấm tức vài hôm rồi cũng nguôi. Cho đến bây giờ tôi vẫn căm ghét cái ngày người đàn ông lạ mặt ấy đến nhà tôi cứ như chính ông là nguyên nhân khiến bố tôi không trở về nữa. Tại sao ông vẫn trở về lành lặn đẹp đẽ thế còn bố tôi thì không?

Hồi đó trong các bữa cơm tẻ nhạt triền miên của mẹ con tôi thỉnh thoảng đã có những bữa cơm thịnh soạn bởi có thêm một người đàn ông. Mẹ tôi lúc đó là thợ may của một hợp tác xã nên mỗi khi chú Hiệp đến chơi mẹ thường bỏ việc về sớm để lo cơm nước mời chú. Hôm nào như vậy hình như mẹ rất vui sẵn sàng chi không dè xẻn những thực phẩm ngon và say sưa chế biến những món ăn mà hình như chú Hiệp thích. Y hệt ngày xưa đối với bố tôi. Điều đó khiến tôi tức tối như một cơn ghen. Dần dà tôi đã biến những bữa cơm như vậy thành một không khí nặng nề đến khó thở. Biết chú Hiệp thích ăn tỏi nên các món sào mẹ thường cho tỏi và thế là tôi kiên quyết không đụng đũa mặc cho mẹ và chú dỗ dành. Có lần tôi nghe chú Hiệp dặn mẹ ở dưới bếp "Em đừng cho tỏi vào nữa nhé con nó không ăn được" nhưng mẹ thì chiều chú lắm mẹ vẫn làm riêng một đĩa cho chú.

Chú Hiệp ở khác tỉnh với mẹ con tôi nên thỉnh thoảng chú mới đến chơi những lần như vậy bao giờ chú cũng ở lại cả ngày tối mới khoác ba lô ra đi mẹ bảo chú đi tìm chỗ ngủ mai mới có xe về sớm. Tôi cũng áy náy nhưng không muốn chú ngủ lại nhà tôi mặc dù nhà tôi cũng đủ chỗ ngủ. Một hôm sau bữa cơm chiều chú đang giúp mẹ tôi giằng cửa che chắn lại một số chỗ trong nhà thì cơn bão ập đến. Hôm đó lần đầu tiên thật tình tôi muốn chú ở lại. Căn nhà lợp giấy dầu như một cánh buồm giữa biển khơi trong cơn bão tố. Chú Hiệp trông mảnh khảnh thế mà dám vác cả tấm phản trong nhà ốp lên mái giấy dầu để khỏi bị gió lật. Sau một hồi gió rít căn nhà cũng được yên ổn nhưng mưa mỗi lúc một nặng hạt. Mẹ săng sái kê chỗ cho chú ngủ. Tôi cũng lặng lẽ lên giường nằm không tỏ thái độ gì. Nhưng nghe chú nói với mẹ: "Mẹ con em cứ ngủ đi anh ngồi đây canh chừng anh thức quen rồi". Rồi chú tự pha một ấm trà đặc vừa uống vừa ngồi đọc báo. Mẹ lên giường với tôi tôi yên tâm ôm lấy mẹ nhắm mắt ngủ. Gió bên ngoài đã lặng chỉ còn có mưa mưa tầm tã. Tôi vững dạ vì dù sao trong nhà tôi cũng có một người đàn ông. Có lẽ tôi đã ngủ được một giấc say cho đến sáng bảnh nếu không bị một tiếng sấm rền vang đến rung rinh cả nhà cửa. Tôi giật mình tỉnh dậy định quờ tay ôm lấy mẹ ngủ tiếp thì chỉ thấy có mỗi cái gối. Hai bên tôi trống không lạnh lẽo. Tôi định gọi mẹ nhưng bỗng tôi nghe có tiếng thì thào hình như cả tiếng thút thít của mẹ. Tôi bỗng tỉnh như một con mèo và nảy ra ý định nghe trộm. Tôi rón rén ra khỏi giường hé tấm cửa buồng nhìn ra bên ngoài. Chiếc đèn bão vặn nhỏ leo lét một thứ ánh sáng mờ ảo nhưng cũng đủ cho tôi thấy rõ hai người. Mẹ đang úp mặt vào ngực chú Hiệp vai rung lên chắc là đang khóc. Chú ôm mẹ áp khuôn mặt đẹp đẽ lên mái đầu mẹ. Bàn tay gầy trắng xanh vừa vuốt ve vừa như xiết chặt tấm lưng mảnh mai của mẹ. Trời vẫn mưa ầm ào tôi không nghe rõ họ đang nói gì nhưng hình như cả hai đều đang đau khổ lắm chứ chẳng sung sướng gì. Song trong tôi vẫn trào lên nỗi ghen tuông như chính bố tôi đã chứng kiến tất cả. Tuy nhiên tôi vẫn bình tĩnh lên giường giả vờ ngủ cố kìm ý nghĩ mở toang cửa hét lên. Sáng mai mẹ vẫn đi làm tôi cố giữ thái độ bình thường nhưng không ăn bữa sáng mà mẹ tôi đã chuẩn bị chú Hiệp nhìn theo ái ngại.

Hôm đó chú ở lại nhà tôi cả ngày dọn dẹp chẻ một đống củi to sửa lại cái ghế đóng lại chạn bát đã gãy vài thanh v.v... nghĩa là chú làm tất cả những việc mà trước kia bố tôi vẫn làm. Song điều đó khiến tôi thực sự điên tiết vì đáng lẽ đó phải là bố tôi chứ không phải là một người đàn ông khác. Khi mẹ con tôi trở về thì căn nhà hình như khác hẳn cái gì cũng gọn gàng khít khao như vừa được mua mới. Một bữa cơm cũng tươm tất do chính chú đạo diễn với những món ăn hơi lạ so với những món của mẹ con tôi. Chú bảo món này chỉ vùng quê chú mới có. Mẹ con tôi cứ ngây ra nhất là mẹ đôi mắt mẹ cứ rực lên đầy hạnh phúc. Mẹ trở nên lúng túng một cách lạ thường. Tôi rất khó chịu nhưng cũng thương mẹ đành im lặng nín nhịn để hạ nhiệt cơn tức giận. Bữa cơm hôm ấy tôi ăn không thấy ngon nhưng mẹ tôi thì cứ như một thiếu nữ lần đầu tiên đến nhà bạn trai. Mẹ ăn nhỏn nhẻn chậm chạp suýt xoa khen ngon và ánh mắt thì không giấu nổi vẻ đằm thắm. Tôi biết mẹ đã thích chú rồi không cản được nữa nên lặng lẽ thở dài và lên giường nằm. Tôi nghe tiếng họ đùa nhau nơi bể nước lúc rửa bát dọn dẹp gì đó và sau đó là ngồi trò chuyện ở bàn nước. Nén không nổi nỗi ghen tuông tôi giục mẹ đi làm nhưng mẹ bảo chiều nay mẹ xin nghỉ để đưa chú Hiệp ra ga. Tôi bỗng thấy tủi thân nhớ và thương bố tôi da diết. Tôi úp mặt vào gối khóc lặng lẽ và giả vờ ngủ khi chú Hiệp định vào chào tạm biệt tôi. Tôi nghe mẹ nói: "Thôi đừng nó ngủ rồi lát về em sẽ nói lại với nó. Ta ra ga kẻo trễ tàu". Một thoáng im lặng như tờ tôi tưởng mẹ và chú đi rồi nên mở mắt nhỏm dậy thì thấy ngay giữa nhà trước bàn thờ của bố tôi mẹ và chú Hiệp đang ôm xiết nhau đôi môi họ dính chặt quằn quại mẹ hình như không muốn rời chú những ngón tay thợ may với những móng nhọn hoắt cứ bấu chặt vào vai chú Hiệp. Tôi đờ người ra chứng kiến và trong tôi một cảm giác kỳ lạ xảy ra. Tôi bỗng thấy ghét mẹ. Tôi trở thành đứa con gái lỳ lợm bướng bỉnh và khó hiểu từ đó

Có lẽ thái độ khác thường của tôi mẹ đã hiểu ra đôi khi mẹ cũng định nói điều gì đó với tôi song lại buồn bã quay đi. Tôi luôn luôn bị ám ảnh một ngày nào đó chú Hiệp sẽ cưới mẹ tôi tôi phải gọi người đàn ông ấy bằng cha và mẹ tôi không còn là của riêng tôi nữa. Không như những đứa trẻ khác buồn chuyện gia đình thì bê trễ học hành tôi lại khác. Tôi lao vào học như để cố chôn vùi ý nghĩ khủng khiếp kia. Kết quả học tập của tôi ngày một khá khiến mẹ có vẻ yên tâm không cần quan tâm đến thái độ của tôi nữa.

Một hôm tôi đi học về sớm nên phải đến chỗ mẹ làm việc để lấy chìa khóa. Tôi định đi thẳng vào chỗ bàn máy của mẹ đang làm việc thì chợt nghe trong nhà có tiếng mọi người đang trêu đùa mẹ. Tôi dừng lại ngoài cửa nghe ngóng. "Đẹp trai thế mà còn cứ dùng dằng cái gì nữa cưới đi thôi để lâu kẻ khác nó cuỗm mất đấy" "Lão ấy yêu cậu thực sự đấy chứ không thiếu gì gái tân bám gót "Tớ mà được người như lão ấy ấy mà tớ xích từ lâu rồi người đâu mà... này cậu hỏi thử lão ấy xem lão đi bộ đội thì làm gì có biết bắn súng không hí hí...". Tiếng cười ồn ĩ lẫn với tiếng đạp máy khâu xành xạch kéo dài mãi khiến tôi điên cả đầu. Tôi bỏ ra ngoài đi lang thang trên đường một lúc rồi ghé vào nhà đứa bạn rủ nó cùng học nhóm mãi tối tôi mới mò về nhà và tôi thật sự ân hận khi thấy mẹ tôi bơ phờ hai mắt đỏ hoe. Thấy tôi mẹ không gắt mà chỉ lo lắng hỏi: "Con đi đâu giờ mới về làm mẹ lo quá". Giá ngày đó có điện thoại di động như bây giờ thì đâu đến nỗi mẹ phải bỏ cả buổi chiều đạp xe khắp thành phố đi tìm tôi. Từ đó tôi không dám làm điều gì khiến mẹ phải lo lắng nữa. Thực lòng tôi vẫn yêu mẹ lắm. Thấy mẹ buồn tôi cũng vô cùng đau đớn. Nhưng cái hình ảnh mấy ngón tay mẹ bấu chặt vào vai chú Hiệp cứ ám ảnh tôi. Tôi không thể nào chập hình ảnh mẹ với người đàn bà cuồng si hôm ấy được. Thế là tôi dồn hết nỗi bực tức cho chú Hiệp mỗi khi chú lại đeo ba lô đến thăm mẹ con tôi và mang đến cho mẹ con tôi những bữa ăn ngon. Có lần mẹ bảo: "Chú Hiệp đã xin được việc ở tỉnh mình rồi chú sẽ có dịp đến chơi với mẹ con mình luôn luôn nhưng không ở lại lâu vì chú có nhà tập thể của cơ quan". Tôi yên tâm vì chú sẽ không còn cớ ở lại nhà tôi qua đêm nữa nhưng cũng thật bất an vì như vậy chú đang xích lại rất gần mẹ con tôi. Cứ đều đặn chủ nhật chú lại đến nhà tôi và ăn một bữa cơm mẹ bảo: "Chú Hiệp ở một mình nên cơm nước cũng qua loa. Cuối tuần chú lại nhà mình mới có được một bữa ăn ngon. Tôi cũng nhận ra điều đó vì bao giờ có chú Hiệp bữa ăn cũng thịnh soạn hơn thường ngày. Có điều tôi cứ phấp phỏng lo âu nhưng mãi vẫn không thấy mẹ tôi nói gì về việc lấy chú Hiệp. Nhiều khi tôi có cảm giác hay chính tôi là nguyên nhân cản trở việc này. Tôi đã nhận ra những vết chân chim nơi đuôi mắt mẹ mẹ tôi cũng là một người đàn bà đẹp nhưng với thời gian thì không thắng nổi. Còn chú Hiệp thì vẫn thế mà tại sao chú không yêu ai khác nhỉ?

Tôi vào đại học tất cả đều do một tay chú Hiệp lo lắng từ khâu giấy tờ đưa đi nhập trường đến chỗ ăn chỗ ở chu đáo. Có mấy đứa bạn mới bảo tôi: "Đằng ấy có ông bố đẹp trai hết sảy lại yêu con gái đến thế. Sướng thật". Khi tiễn chú ra về ở lại một mình tôi vẫn trào lên ý nghĩ cay đắng: Vậy là từ nay hai người tha hồ mà tự do nhé".

Tôi nhìn dấu bưu điện bức thư đã đi được ba bốn ngày rồi như vậy thì chú Hiệp cũng đã mồ yên mả đẹp tôi về cũng chả để làm gì dầu sao người ấy cũng không phải là cha tôi.

Trong ngôi nhà ba tầng khang trang nhưng vẫn lạnh lẽo vì chỉ có một người đàn bà sinh sống. Người thiếu phụ xinh đẹp ngày nào bây giờ đã là một bà già cằn cỗi hàng ngày chăm chỉ quét dọn thắp hương lên chiếc bàn thờ rộng nơi đó đặt hai tấm ảnh thờ hai người đàn ông. Trong ảnh họ đều còn rất trẻ một phương phi một thanh tú nhưng họ đều giống nhau ở nụ cười rất tươi rất mãn nguyện chỉ có người đàn bà hàng ngày ngồi lần tràng hạt tụng kinh trước họ là u buồn một nỗi buồn như từ cõi xa xăm.

Khi đã là một người đàn bà trung niên tôi mới có đủ can đảm để hỏi mẹ: "Vì sao mẹ và chú Hiệp không lấy nhau có phải vì con không?". Mẹ kể cho tôi "Chú Hiệp không dám lấy mẹ mặc dù chú rất yêu mẹ và mẹ cũng vậy. Không phải vì ai cả. Kể cả cái phút cuối cùng bố con đã nắm tay chú nhờ chú chăm sóc hai mẹ con mình. Chú Hiệp đã hứa và mọi việc đáng lẽ sẽ đúng như ý nguyện của bố con. Nếu không có một lần chú đến thăm một người đồng đội cũ và được chứng kiến những đứa trẻ tật nguyền. Chú tìm thêm một vài đồng đội nữa và được biết những đứa con họ cũng như vậy. Té ra cả đơn vị chú và cũng của bố con nữa đã lọt vào khu rừng có nhiễm chất độc diôxin của Mỹ rải trước đó vài hôm. Họ đã bị bao vây và phải ăn lá rừng uống nước suối thẫm đẫm thứ chất độc tàn hại đó. Chú đã nói rằng chú không muốn những đứa con mà mẹ sinh ra sẽ gây thêm nỗi đau cho mẹ. Chú đã coi con như con gái và chấp nhận cuộc sống hờ hững vậy để chăm sóc mẹ và con".

Tôi nghe và đã khóc rất nhiều lần đầu tiên tôi biết thương chú nhưng tất cả đều đã muộn.

                                                                     N.C.H

More...

THƠ THÁNG 7

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TỪ NGUYÊN TĨNH


Trên bãi bom B52


Sau trận bom không gian yên tĩnh quá

Hố bom đỏ lòm như trăm ngàn con mắt mở

Trái tim bây giờ đập rộn ràng hơn

Điều anh yêu lại càng yêu hơn

Thấy mình có niềm hạnh phúc

Mắt em qua mắt anh nhìn sự thật

Máu em trong tim anh cồn cào bồi hồi

Và thơ anh viết gửi em như dòng trôi

Bom nổ nhiều không diễn tả thành lời

Anh để lại tất cả

Niềm vui

Anh có trọn vẹn một niềm vui

Ai băng cho anh?

Bàn tay mềm mại quá

Bàn tay xoa dịu những nỗi đau

Nhớ em hơn lúc nào

Lời em nhắn gửi trong tim anh có mất?

Em đừng buồn

Từ nơi đất

Cây mọc lên

Em có ghét những hố bom mở tráo trơ

Khói cuốn phật phờ

Anh muốn cùng đồng đội lao lên

Đừng bắt anh lúc này nằm yên

Được bàn tay mềm mại chiều chuộng

Không phải rồi... không phải bàn tay của em

Nhưng anh lại tưởng bàn tay em

Dù tay ai thì cũng đừng bắt anh nằm yên

Được bàn tay chiều chuộng

Kia... người lao lên lấp loáng

Anh nghe được cả tiếng lắp đạn vào súng

Em đừng bắt tay anh không còn là bàn tay

Làm được công việc mà không có việc làm

Bắt óc phải nghĩ ngợi về chốn hồng hoang

Mà đáng lý phải nói một điều gì đấy

Và em... em bé nhỏ

Khẩu súng cần cho em cầm lấy trong lúc này

Đừng bắt tôi nằm yên và được bàn tay chiều chuộng

Tôi sẽ thành kẻ mềm yếu

Mũi sẽ ngửi và nhận ra mùi khét của đạn bom

Tiếng nổ dài liên hồi tưởng vô tận qua đi và còn lại

lặng câm

Hố bom cũ và mới nhìn nhau ra chiều đắc ý

Khói phật phờ như chiếc lưỡi quái dị

Liếm vào người và hút cạn máu anh

Bàn tay ai mà ngón thon nhỏ

Quấn lấy quấn lấy kéo tê buốt dài ra và rộng ra

Có phải từng ngón tay ấy gọi về thêm làn gió

Chạm vào người nên thành câu hát

Tức tưởi hát lên lời chia ly

Từ khoang ngực nói lên điều gì

Cho một mình anh nghe

Dù biết rằng không phải lời em nói

Anh lại tin

Em sẽ có mặt

Trong lúc nguy cấp

Sau những loạt bom B52

Không gian ai đem rang lên biến thành màu tai tái

Hố bom trơ tráo nhìn ta điên dại

Có phải mắt bị khói làm nhòe

Ta lau vội vàng cho sáng lại

Vẫn còn một vài ngọn cỏ xanh

Anh cố dướn người lên

Hố bom mở rộng miệng ra nuốt lấy anh và tình yêu

của anh

Anh nhận ra mặt trời như chiếc xe đang chạy

Tung bình minh nơi chân trời

Hãy để cho anh tự vào hố bom ngồi

Cầm súng cũng cần có tư thế

Và em nữa giờ này em có biết anh đang vào trận

đấy không?

Sau những loạt tiếng nổ của đạn bom

Mặt trời kéo thời gian về cho êm ả

Máu em dâng lên cho anh điều khác lạ

Vài ba giọt rơi thấm vào đất

Thấm vào đất rồi

Ai đã vẽ mặt trời trong lòng đất

Tiếng hát hay cây cỏ mọc lên

Bàn tay ai đang trói anh

Biết không phải là tay em nhưng anh muốn hôn

một cái

Cho anh niềm tin

Cho anh gần em

Mà anh tưởng không bao giờ còn ý nghĩ ấy

Dù rất mong manh...

                                 Hàm Rồng

                      10 giờ đêm 16-10-1972

                                     T.N.T


VƯƠNG ANH


Cái móng trâu


Móng trâu bạc nói gì?

Móng trâu đen nói gì?

Những móng trâu in nửa vành trời

ở đâu rồi:

Luống cày vua Lê đại Hành thao thức!

Có còn vẹn nguyên

Hình móng trâu làng ta?

Miệt mài cày ải tránh Ngâu

Bừa ngấu đơm rét lộc...

Cái móng trâu nói gì?

Khuôn khuôn hình vành thúng

Hay dáng nửa vành trời huyền thoại

Hỡi lưỡi cày Hùng Vương

Và cái móng chân trâu dân dã

Bắc thang cho thời gian

Mãi trẩy hội bốn mùa!

                          V.A



NGUYỄN ĐĂNG VIỆT


Nhớ lán chiều Trường Sơn


Lán giăng rừng trải lá vàng

Hành quân đêm núi mơ màng trăng sao.

Anh nằm võng bạt chiến hào

Em nằm bên cuốc thuổng đào chia phôi.

Bàn tay lần chạm bờ môi

Súng cà lưng rát bồi hồi vai anh.

Biết là nước biếc non xanh

Biết là tím mắt hao hanh nhịp mùa.

ừ! Xuân thu sớm gió lùa

ừ! Sông thương mến mưa vừa chợt phai.

Thời gian xóa dấu chân ai

Nửa đời lính trận dẻo dai đã nhiều.

Giờ ngồi giữa phố mà yêu

Lán trăng đêm gió những chiều Trường Sơn.

                                      N.Đ.V




LÊ ĐĂNG SƠN


Trước triền đê sông

                      Kính viếng hương hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh

                         tại công trường đê sông Mã ngày 14-6-1972



Dâng các chị những bông hoa huệ trắng

Hương trầm thơm trong chiều đầy nắng

Sông Mã êm trôi

Sóng nước xôn xao

Nỗi đau cồn cào người còn sống.

Triền đê gió lộng

Ai hát câu huầy dô

Gió xô gió vẫy

Những con bướm trắng bay run rẩy dưới nắng chiều.

Các chị thành nỗi nhớ thương yêu

Để lại nỗi đau của những người còn sống

Sao nơi đây không có bia bái vọng

Để các chị hóa thành bướm trời

Bướm bay dập dờn triền đê vắng.

Ôi những thiên thần trinh trắng

Tôi về đây xin cúi lạy

Nỗi đau này

Bướm vẫy bay dập dờn triền đê vắng

Im lặng dòng sông chở nặng nỗi buồn.

                          Tháng 6-2010

                               L.Đ.S



THANH TRẮC NGUYỄN VĂN


Ba con mắt một cánh tay

                Viết tặng vợ chồng thương binh anh Phạm Văn Thuần

                  và chị Trần Thị Sãi ở huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre



Hai vợ chồng

Ba con mắt

Một cánh tay

Chuyện cổ tích giữa đời thường

Hay giữa đời thường có cổ tích?

Anh chồng mỉm cười

Chị vợ bật cười khúc khích

Chỉ một mình tôi nước mắt cứ rưng rưng...

Bất hạnh đôi lần chỉ chạm nhẹ vào lưng

Xoa nhẹ bờ vai

Hà hơi vào mắt

Tôi đã vội kêu ca

Thét gào

Thắc mắc

Quăng ném xuống đời thường hàng vạn tiếng bất công.

Có con thuyền chỉ nghiêng ngả ở sông

Lại cứ nghĩ đang bị bão nhồi ngoài biển cả!

ích kỷ

Tự ti

Đôi lúc biến ta thành người xa lạ

Khi trên cành

Mầm lá cũng tự vươn lên...

Hai vợ chồng

Ba con mắt

Một cánh tay

Cũng làm đất ra hoa

Cũng làm vườn ra trái

Cũng giúp nâng lên những mảnh đời khổ ải

Tình xóm

Nghĩa làng

Trong bão lũ thiên tai...

Có nụ cười

Từ giọt nước mắt vỡ hai

Có ước mơ

Từ những nỗi đau ghép lại

Có bước đi

Từ một bàn chân vững trãi

Và có những con người

Mạnh mẽ

Dù góp lại

Chỉ một bàn tay!

                   T.T.N.V




NGUYỄN ANH NÔNG



Nhát chổi trong chiều

                                 Kính tặng  o Bàng                    



Mười hai năm dượng ấy đi xa

Con gái đầu o lên mười một tuổi

Được nửa tháng bên nhau sau ngày cưới

Chồng o đi biền biệt tới giờ.

Ngày miền Nam rực rỡ bóng cờ

Chồng con họ ai cũng về đoàn tụ

Riêng o đứng ngồi không yên nữa

"Biết bây giờ chồng sống chết ra sao?"

Biết bây giờ chồng o ở nơi nao?

Khi bố chồng o mồ yên mả đẹp

Huyện xã báo về cho xóm biết

Tin chồng o mất đã lâu rồi.

Đã bao năm dượng ấy "đi xa"

Chiều chiều

o quét lá vàng trước ngõ

Từng nhát chổi lia ngang

tơi tấp gió

Những nhát chổi

trong chiều

nào có bớt cô liêu?

              Thanh Hóa 1980

                Cao Bằng 1990

                      N.A.N





LÊ HUY HOÀNG




 Ở vùng lốc



Ở vùng lốc con người luôn bất chợt

Những đợt cuồng phong ập đến gầm gào

Lốc ào đến tan hoang nhà cửa

Ngả nghiêng bầu trời mặt đất chênh chao.

Ở vùng lốc con người luôn tỉnh táo

Trong chiêm bao cơn lốc cũng xoáy vào

Hằn trong nếp nghĩ suy trăn trở

Đời phải đâu chỉ hoa trái ngọt ngào...

Ở vùng lốc biết bao điều bất chợt

Vẫn miệt mài năm tháng âu lo

Cuộc đời vẫn cứ luôn tấp nập

Vẫn tiếng cười tràn ngập vẫn hoa thơm.

Ở vùng lốc dẫu còn bao bất cập

Ở mãi rồi trở thành điều thường nhật

Với thiên nhiên quy luật muôn đời

Gió bão qua rồi trời đất lại bình yên.

                                          L.H.H



TỐNG MINH LUNG




Tìm mộ anh

               Kính tặng linh hồn anh trai cả

                  Liệt sỹ Tống Văn Đường




Anh hiến dâng mình cho Tổ quốc

Khi Bắc - Nam còn chia cắt hai miền

Chiến tranh cách trở không tin tức

Hòa bình rồi tìm chưa thấy mộ anh

Hương em thắp biết bao mộ vô danh

Nghĩa trang Trường Sơn Triệu Phong Đường 9

Cửa Việt Đông Hà Gio Linh Quảng Trị...

Em tìm anh trong tiếng nấc mong manh

Anh hóa thành làn gió mát trong lành

Thành tia nắng ban mai trên cánh đồng bát ngát

Thành những con đường nối dài Nam - Bắc

Thành những dòng song mải miết nặng phù sa

Trong những vần thơ... cho bản tình ca

Thành cây xanh góp cho rừng xanh thắm

Nỗi nhớ anh trong lòng em sâu thẳm

Trời phương Nam xanh đến vô cùng.

                                       T.M.L



HÀ HỒNG KỲ


Đôi bờ sông nắng đỏ

                   Kính tặng các anh Đoàn Thạch Hãn





Nắng đỏ tươi mênh mông thành cổ

Thời gian gom trắng xóa tóc buông

Sông nhuộm nắng căng buồm xuôi Thạch Hãn

Ngàn vạn năm nắng chẳng phai mòn

Nắng gọi hoa hãy đỏ tươi hơn nữa

Cỏ non xanh trên máu đỏ bao người

đã rực rỡ một thời hoa lửa

Tháng bảy ơi! xanh gió yêu đời

Nắng đỏ soi sông xanh vời vợi

Sóng thì thầm bạn nhập lòng tôi

Vốc nước úp mặt tôi gọi bạn

Nước trong xanh mằn mặn mắt môi

Đồng đội ở đâu về nơi chờ đợi

Đêm vượt sông lửa đạn địch đỏ dòng

Bom đạn nổ cột nước dựng dòng sông

Hoa nước trắng đỏ thành sông lửa

Không ngăn được sức trẻ vượt qua

Nước sông Mã hòa nhập cùng Thạch Hãn

Vòng hoa trôi gửi lời tới bạn

Bạn là hoa thơm ngát non sông.

                            Tháng 6 - 2010

                                  H.H.K



TRƯƠNG THỊ MẦU



Bài ca nghĩa tình

                            Kính tặng Lương Ngoại quê tôi



Hò ơ... hò... Ai về Lương Ngoại xin theo

Cùng xuôi đò dọc cùng chèo đò ngang.

Ta về đây ơi Dần Long

Nghe điệu Xường dạt dào như dòng thác

Vọng ngàn xưa như nhạc như thơ.

Chèo lên dốc Mọ ngẩn ngơ

Vào thung hái vải mà chưa gặp người.

Đồi Công Cáo Đạo đây rồi

Cây vàng cây bạc ngút trời mía dâu

Chiều nghiêng đủng đỉnh đàn trâu

Có về nơi ấy làm dâu hỡi người.

Ta gặp nhau - như người thân

Say điệu ru hát Mường da diết

Nhớ ngày xưa mẹ hát ru em.

Dùng dằng giã biệt người quen

Có về đường cũ dốc En thì về

Mới nghe Dầu Cả đã mê

Khéo tay dệt vải giỏi nghề đánh chiêng

Ngọc Sinh rừng đã xanh luồng

Nghe mo Mường kể nàng ờm nàng Nga.

Làng Măng đất Mẹ quê Cha

Con xin dâng trọn bài ca nghĩa tình.

                            13 - 4 - 2010

                                  T.T.M




VŨ THỊ HƯƠNG


Chọn


Nếu thượng đế cho thời gian quay lại

Trả em về với thanh thản vô tư

Và cho em xuất phát điểm ban đầu

Thì em vẫn đi con đường đã chọn

Dù em biết đường đi không dễ

Lắm gập ghềnh và nhiều nỗi gian truân

Những tiếng thị phi đàm tiếu vô tâm

Đã nhiều lúc tưởng vượt qua không nổi

Nhưng tình yêu có phép nhiệm mầu

đã giúp em vượt qua hết thẩy

để yêu anh yêu hết cuộc đời

Vì với em anh là tất cả.

                                 V.T.H

More...

KÝ - GHI CHÉP

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NGUYỄN TRỌNG LIÊN

Dòng máu trắng

Truyện ký


    Một chiều mùa khô oi bức. Tôi và chính trị viên Tuyển đã lội rừng hai ngày trời. Lúc thì đầm người qua suối để tránh chốt giặc lúc thì băng qua trảng trống lúc thì chen chân trong cánh rừng le đầy gai góc... áo quần sơ mướp. Chiếc mũ tai bèo trên đầu bị gai cào rách mép. Chúng tôi có nhiệm vụ lên Quân giới để nhận hàng cho chiến dịch sắp tới. Tuyển có dáng người mảnh khảnh nhưng dẻo dai. Anh quê Thái Bình vào chiến đấu từ năm 1967.

Sau bữa ăn trưa nấu giữa rừng hai chúng tôi đã đi liền không nghỉ bốn tiếng đồng hồ. Chân tay rã rời. Chiều đỏ ối với ánh hoàng hôn. Chúng tôi nghỉ chân dưới một triền dốc bên mép lộ 13. Con lộ chiến lược này đã thuộc quyền kiểm soát của Quân giải phóng sau Hiệp định 1973 chạy suốt hơn hai chục cây số. Ngước lên trên đồi tôi bắt gặp một khoảng trống xác xơ lô nhô những chiếc mũ sắt rải rác bên những gốc cây bị chém cụt. Tôi và chính trị viên Tuyển đi ngược lên phía đồi. Dấu tích của một trận đánh. Chắc có lẽ từ trước năm 1970. Chỉ còn những xương cẳng tay cẳng chân xám sịt dài lêu nghêu vương vãi. Những chiếc bi đông Mỹ méo mó màu trắng lạnh những chiếc giầy cao cổ đế đóng đinh còn dính những đốt xương bàn chân những dây đeo số lính đã rỉ ghét lẫn trong những mô đất màu nâu. Những hố pháo khoan sâu xuống đồi những thân cây cháy đen đầy dấu đạn. Tôi và Tuyển mỗi người cầm trên tay một dây đeo số lính. Nó sẽ làm dây đèn tự tạo mà anh em chúng tôi chế ra từ những vỏ đạn. Chiếc đèn làm từ dạo ấy tôi vẫn còn giữ đến bây giờ. Ngồi giữa đồi khô với cái nắng khó chịu cuối ngày tôi và Tuyển nhìn về phía khe suối xa xa để tìm nơi nghỉ qua đêm. Hai chúng tôi cùng reo khẽ. Khói từ những lùm cây bay lên trong chiều tà. Không ai nói với ai nhưng cùng hiểu ra một điều: ở đây là cứ tăng gia của bộ đội nhà mình.

Rẽ trái từ lộ 13 men rừng le mọc theo con suối nhỏ hai chúng tôi đi khoảng mươi phút và dừng lại trước căn nhà lợp lá Trung quân. Mấy chàng lính đang tưới rau. Bầy gà tục tặc về chuồng. Chính trị viên Tuyển làm công tác ngoại giao. Mọi người vui vẻ hỏi nhau về công việc và đơn vị chiến đấu. Tôi thấy trước mắt là một khuôn mặt quen quen. ở đâu? Có phải gặp nhau trong chiến trường? Không phải! Thế thì ở đâu? Tôi chưa có câu trả lời cho chính mình thì người lính cao tuổi trong số năm đồng đội ấy hỏi tôi về quê quán. Tôi trả lời:

- Tôi quê Thanh Hóa

- Thế anh ở huyện nào?

- Thiệu Hóa

- Có phải anh là Liên người xã Thiệu Quang không?...

Rồi chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Rất tự nhiên cả hai cùng để cho những giọt nước mắt lăn trên má mình.

Người đồng hương của tôi tên là Chếnh. Tôi đã không gặp Chếnh hơn hai mươi năm rồi còn gì. Nhớ hồi tuổi thơ chúng tôi cũng thường chơi với nhau. Sau 1965 dời ghế nhà trường tôi tham gia Đoàn xe thồ Quốc phòng tôi cũng không biết Chếnh nhập ngũ năm nào. Anh em cùng làng gặp nhau giữa rừng trong chiến đấu đâu có phải dễ. Thật là sung sướng. Sung sướng đến chảy nước mắt. Thế rồi các đồng đội của Chếnh hối hả chuẩn bị bữa cơm chiều để tiếp tôi và Tuyển. Tuyển cũng vui lây cùng tôi. Người thì hái rau người thì gọt bầu lào (trong Nam gọi là bí đỏ) người thì nhóm bếp người thì chạy xuống suối xách nước. Còn Chếnh tự tay mình bắt trói con gà trống to nhất đàn làm thịt. Tôi và Tuyển cũng xúm vào nhặt rau nhổ lông gà. Cứ như ngày tết đã đến giữa rừng. Bữa cơm thịnh soạn được dọn ra. Chiếc mâm là bàn đế của một khẩu pháo mà các anh khiêng từ rừng về. Cũng khối món thơm ngon. Nào là rau cải xào lòng gà rau muống luộc thịt gà luộc thịt gà rang đặc biệt là món bí đỏ hầm với xương gà mới ngon làm sao! Chúng tôi vừa ăn vừa chuyện trò thật rôm rả. Những người lính gặp nhau Bắc có Thanh - Nghệ có Quảng Bình và có một cậu còn rất trẻ người Tây Ninh. Chỉ tội là không có rượu nhưng cũng đủ làm say lòng người.

Trà BLao chẳng hiểu các anh chàng ở cứ tăng gia này kiếm được ở đâu chắc là mua dưới khẩu bốc hơi thơm đến mê hoặc. Lâu lắm tôi mới có dịp được uống lại thứ trà đặc hiệu này. Chếnh rút trong túi ra gói thuốc lá Ruby Queen đã bóc dở. Không để kịp chủ mời tôi vồ lấy châm lửa. Khói thuốc mang hương phiện thơm lừng trong gian nhà không thưng. Gió từ bên kia suối đem theo hơi lạnh về đêm...

Giấc ngủ đến nhanh với Tuyển. Còn tôi và Chếnh thức gần như thấu đêm. Sự mệt nhọc bay biến nơi tôi. Đủ thứ chuyện giữa hai chúng tôi. Chiếc chõng tre tôi và Chếnh nằm lúc lúc cứ kẽo kẹt do tôi trở mình. Tôi kể Chếnh nghe lần gặp đồng đội người làng cách đây năm tháng trên đường đi viện K51 điều trị vết thương; đó là lần cũng tương tự như lần này tôi gặp Thảo trong cứ của một đơn vị bộ đội vận tải. Chếnh thì chưa gặp ai người làng từ khi vào Nam. Chuyện đánh nhau chuyện nhớ nhà chuyện sống chết trong chiến trường... Những kỷ niệm của mỗi người cứ dài ra mãi trong khuya. Gà đã gáy sang canh. Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay sau câu chuyện Chếnh kể về Trần Quang Đắp còn gọi là Đáp. Đắp đã hy sinh dũng cảm năm 1967...

Tôi choàng tỉnh dậy thì mặt trời đã mọc. Mấy cậu lính trẻ đã nấu bữa cơm sáng để tiễn chúng tôi lên đường. Ngồi uống nước tôi nảy ra ý định và nói với Tuyển lưu lại cứ này thêm một buổi sáng để tôi vào thăm mộ Đắp. Tuyển đồng ý vì đường từ đây về Cục quân giới cũng không còn xa nữa. Chỉ ở phía trên thị xã Lộc Ninh. Trung ương Cục nằm trên đất xã Lộc Tấn (tất nhiên là hoàn toàn bí mật). Tôi rất mừng và trong bụng thầm cảm ơn Tuyển.

Ăn vội bát cơm sáng tôi và Chếnh mang theo khẩu AK rồi lên đường.

Sau khoảng chừng một tiếng rưỡi đồng hồ vượt hai con dốc qua đồi trảng đi dọc theo con suối đầy vắt bên cạnh cánh rừng le rồi chúng tôi cuốc thẳng vào khu rừng cao su bạt ngàn. Vài ngôi nhà tạm trỏng trơ những thùng đựng mủ đã khô. Đây là Sở Tư thuộc đất Hớn Quản của tỉnh Bình Long (nay là Bình Phước). Một vùng cao su đã có từ thời Pháp thuộc. Rừng cao su như đã thay giống. Lác đác những công nhân cạo mủ vẫn lầm lũi tì tay trên lưỡi cạo mở những đường mủ mới trên thân cây cao su căng nhựa màu trắng. Chếnh dẫn tôi chạy xuôi sườn đồi và rẽ trái. Một gò đất như một ổ mối hiện lên phía trước. Chếnh nói với tôi:

- Đây là mộ anh Đắp đấy Liên!

Trên nấm mộ cỏ mọc dầy nhưng khô cằn một tấm xi măng cắm trên nóc mộ ghi nguệch ngoạc dòng chữ Trần Quang Đáp Thanh Hóa (1967). Dòng chữ viết chắc khi xi măng còn chưa khô hằn sâu khắc khổ.

Thấy hai anh bộ đội giải phóng cứ quẩn quanh bên nấm mộ một công nhân cạo mủ bước lại gần chào chúng tôi. Chúng tôi chào lại và cùng ngồi xuống bên nấm mộ. Người công nhân trạc tuổi ngoài năm mươi. Râu lâu ngày không cạo đâm thẳng trên chiếc cằm nhọn hoắt của ông. Thành ra ông biết rất rành về cái chết của Đắp. Ông từ từ kể lại câu chuyện về người chiến sĩ dũng cảm đang nằm dưới nấm mộ này. Vừa kể ông vừa lấy tay cắm lại những chân nhang mà ai đó đã thắp nơi đây. Câu chuyện y hệt như Chếnh đã được nghe và đã kể lại cho tôi trong đêm

"... Đó là vào ngày 21 tháng 11 năm 1967 bà con trong ấp ở phía bên kia đồi nghe tiếng súng nổ biết là lại có càn. Dân trong ấp phần lớn là dân cạo mủ từ nhiều đời nhưng rất chí cốt một lòng theo cách mạng Cụ Hồ. Tui và một số người trong ấp men theo suối và nấp mình trong chiếc hầm bí mật đào giữa rừng cao su đã được ngụy trang kỹ mà tụi thám báo không hề phát hiện được. Chúng tôi lật mảng cỏ trên nắp hầm và nhìn thấy một tốp lính ngụy mặc quần áo rằn ri đang tra tấn một bộ đội giải phóng. Hàng ngoài bọn lính núp dưới những gốc cao su chờ lệnh. Thằng sỹ quan ngụy tay lăm lăm khẩu súng côn sáu. Trên mặt hắn những vệt máu đỏ còn tươi. Sau những trận đòn dã man anh bộ đội trẻ không một câu trả lời. Im lặng. Một tên trong bọn chúng thọc lưỡi lê vào sườn anh. Máu nhuộm đỏ người anh. Tụi tui nghiến răng đau đớn. Vẫn im lặng. Chung quanh tốp lính rải rác những xác chết cả bộ đội đằng mình lẫn bọn ngụy. Cảnh tượng thật khiếp đảm. Thằng sỹ quan ra lệnh cho đám đàn em rút sợi dây võng của một bộ đội đã bị bắn nằm sấp bên cạnh suối. Chúng buộc sợi dây dù vào cổ anh kéo anh đến một gốc cao su gần đó. Hai thằng trèo lên cây rút anh lên từ mặt đất. Anh rãy rãy trong không trung những giọt máu hồng vẫn rớt xuống đất từ trên cao. Một đám mây bay ngang che lấp ánh mặt trời vừa khuất đi vùng sáng trong khu rừng cao su. Chúng tôi ngồi trong hầm máu căng trên các thớ thịt yên lặng để cho những giọt nước mắt tràn xuống. Bọn lính ngụy chia nhau thu gom các xác chết mang những bộ quân phục rằn ri. Khoảng nửa tiếng sau một xe nhà binh dừng bên mép lộ. Bọn lính khiêng những xác chết lên xe. Thằng chỉ huy ra lệnh hạ xác người trên cây cao su xuống và dã man dùng lê cứa cổ cho đến khi cái đầu rời khỏi thân người. Chúng ném cái đầu lên chiếc xe Reo và cả tụi mất hút cùng chiếc xe sơn mầu ghi nhạt. Bà con chúng tui biết rõ bọn thám báo vẫn chưa đi khỏi nơi này nên yên lặng rút về ấp. Cả ấp đều biết chuyện về một tấm gương hy sinh dũng cảm của một anh bộ đội Giải phóng. Ba ngày sau đó bà con trong ấp trở lại cánh rừng để làm công tác liệt sỹ. Chỉ còn cái xác cụt đầu đã bốc mùi. Chúng tôi cũng chẳng hiểu những thi thể của những chiến sỹ khác biến đâu mất! Thân người anh đã căng cứng trương phồng. Trên ve áo nổi hẳn lên một đoạn ngắn vội xé đường chỉ lấy ra một miếng giấy nhỏ ghi dòng chữ Trần Quang Đáp Thanh Hóa. Nét chữ lờ mờ trong màu thâm của máu đã khô. Cũng từ đây chúng tôi mới biết tên người liệt sỹ dũng cảm. Bà con liệm Đáp và chôn anh ở nơi này. Năm ngày sau đó chúng tui mới chôn tấm bia tự tạo lên mộ anh. Chúng tui viết giấy đề nghị cấp trên phong tặng hành động anh hùng cho liệt sỹ nhờ liên hệ qua một chiến sỹ giải phóng quân và nóng lòng chờ đợi. Năm tháng cứ qua đi. Thế rồi hiệp định 1973 ký kết vẫn không có tin tức phản hồi. Bây giờ đã là cuối mùa khô..."

Cổ họng tôi tắc lại khô khốc. Chếnh lấy bi đông nước cho cả ba người. Đã đến lúc hai chúng tôi phải chia tay người công nhân cạo mủ mà lòng nặng trĩu không kịp hỏi tên ông.

Trở về cứ tăng gia của Chếnh lúc đó mặt trời đã đứng bóng. Tôi và Tuyển chia tay Chếnh và các đồng đội. Chếnh ôm chầm lấy tôi một lần cuối. Cậu lính người quê Tây Ninh dúi vào chiếc bồng của tôi một bọc củ chụp đã luộc và một gói muối vừng. Tôi không còn gặp lại Chếnh vì sau này tôi biết Chếnh đã hy sinh trong trận tuyến Biên giới Tây Nam vào năm 1978!

Tôi bước đi rất nhanh cùng với chính trị viên Tuyển và không nói một lời. Tôi hồi tưởng lại dạo mới vào chiến trường khi tôi còn ở Cục Chính trị Miền được xem vở kịch do đoàn văn công sư đoàn 7 biểu diễn. Vở kịch mang tên Trần Quang Đáp. Hồi ấy tôi nào có biết Đáp là ai. Tôi như bừng tỉnh ra Đáp trong vở kịch cũng chính là Đáp được ghi trên bia mộ kia! Vở kịch có thể được hư cấu đôi chút để nói lên một tấm gương hy sinh anh dũng của liệt sỹ Trần Quang Đắp ở quê tôi.

Sau ngày giải phóng tôi về phép vào cuối năm 1975. Tôi đã câu chuyện mà mình biết được về Đắp kể cho làng nước nghe cho người nhà của Đắp nghe.

Tôi ấp ủ ý tưởng viết lại câu chuyện có thực này để nhớ đến một người bạn cùng trang lứa có nhiều kỷ niệm với mình hồi tuổi thơ nhớ đến một tấm gương mà sự quên lãng không để lại những tấm huy chương! Nhưng chắc rằng những đồng đội của anh luôn tưởng nhớ đến anh mãi mãi. Anh mãi mãi ở trong lòng mọi người... Khi tôi và Chếnh rời cánh rừng Hớn Quản cả hai cùng quay lại nhìn một mảng rừng cao su đã bị đạn bom phạt ngọn nhưng lá vẫn xanh. nhựa vẫn chảy trên những thân cây cụt đầu. Những dòng máu trắng vẫn tuôn trào cho sự sống không bao giờ mất được trên trái đất này.

                                                T.p Thanh Hóa

                                        Một chiều tháng 11 - 2009

                                                    N.T.L

HUYỀN THOẠI HANG TÁM CÔ
TRÊN ĐƯỜNG HAI MƯƠI - QUYẾT THẮNG

                                                                      VĂN NHƯ TƯỚC


      Đã thành thông lệ hàng năm cứ vào dịp kỷ niệm mở đường Trường Sơn chúng tôi lại hành hương thăm lại chiến trường xưa - từ các địa danh Đò Lèn Hàm Rồng Phà Ghép Bò Lăn Kênh Than vào Nghệ An Hà Tĩnh cho đến đất lửa Quảng Bình... Dù không có kinh phí không được trợ cấp nhưng anh chị em cựu thanh niên xung phong cứ tự tổ chức đi và đã đi thì không thể không vào Quảng Bình. Vì nơi đây trên 3 vạn thanh niên xung phong Thanh Hóa đã cống hiến tuổi xuân để xây dựng bảo vệ các tuyến đường Trường Sơn. Cũng tại đây biết bao chàng trai cô gái đã ngã xuống đã bị thương tật đã có biết bao sự tích anh hùng bao chiến công hiển hách được ghi danh và trường tồn cùng non sông đất nước. Đặc biệt là tại con đường Hai mươi - Quyết Thắng.

Đường Hai mươi - Quyết Thắng là con đường cực kỳ quan trọng nhằm phá thế độc đạo xuất phát từ Xuân Sơn đi qua các trọng điểm cua chữ A ngầm Ta Lê đèo Pu La Nhíc Ki lô mét 12 Ki lô mét 16 5... đến ngã ba Lùm Bùm có chiều dài 125 cây số để nối thông giữa Đông Trường Sơn với Tây Trường Sơn. Chính tại Ki lô mét 16 5 của đường 20 này là nơi chốt giữ của đại đội 217 trực thuộc đoàn 559 (binh đoàn Trường Sơn) và Ban Xây dựng 67 (Bộ Giao thông - Vận tải). Nhiệm vụ của họ là san lấp hố bom sửa chữa bảo vệ mặt đường đảm bảo thông tuyến cho các đoàn xe ra trận. Toàn bộ cán bộ chiến sỹ trong đơn vị này đều là những người hăng hái tích cực không sợ gian khổ hy sinh giữ vững kỷ luật chiến trường để hoàn thành nhiệm vụ được giao ở mọi thời điểm trong mọi tình huống. Nhưng rồi cái thời khắc nghiệt ngã đã xảy ra ngày 14 - 11 - 1972 trong khi đang làm nhiệm vụ san lấp hố bom thì có lệnh báo động tiếp. Tám chiến sỹ đều quê ở huyện Hoằng Hóa gồm Đỗ Thị Loan Trần Thị Tơ Lê Thị Lương Lê Thị Mai Nguyễn Văn Huệ Nguyễn Văn Phương Hoàng Văn Vụ Nguyễn Mậu Kỷ đã dời hiện trường chạy vào trú ẩn trong một hang đá cạnh đường nơi các em vẫn thường vào để tránh bom hoặc nghỉ giải lao mà đồng bào địa phương vẫn gọi là Hang Tám cô. Trận đánh của địch quá dữ dội những loạt bom rải thảm của máy bay B52 ầm ầm rung chuyển đã làm sập một tảng đá khổng lồ đổ xuống bịt lấp cửa hang. Sau lệnh báo yên đồng đội chạy đến sững sờ hoảng hốt. Mọi người tìm cách để cứu đồng đội nhưng khối đá quá to to như một căn nhà nặng hàng trăm tấn. Nhiều phương án được đề ra. Có ý kiến dùng mìn phá tảng đá. Nhưng như vậy thì nguy hiểm cho người ở trong hang không khéo khi phá được tảng đá thì hang cũng sập mất. Đơn vị đã liên hệ với đơn vị bộ đội cho xe thiết giáp đến dùng dây xích kéo tảng đá ra khỏi cửa hang nhưng hai ba chiếc xe nối nhau cũng không làm tảng đá nhúc nhích. Mọi người nhìn nhau vô vọng. Một ngày rồi hai ngày. Mọi người áp sát tai vào đất mong nhận được tín hiệu từ bên trong nhưng lòng đất im lặng. Tìm được khe hở nhỏ nhoi trên sườn hang có người gào to: Loan ơi Lương ơi Mai ơi... nhưng không mảy may âm thanh phản hồi. Mọi người tìm khe hở rồi đổ sữa đổ nước xuống hang hy vọng những người bên trong nhận được. Suốt cả tuần mọi người đều chầu trực bên cửa hang có người ngồi ủ rũ trên một khe hở nhỏ nước mắt cũng không còn để chảy... Nhưng tất cả đành phải ngậm ngùi bất lực. Chỉ còn khóc lóc xót thương và căm thù để rồi quyết tâm xông lên ra sức phấn đấu giải phóng mặt đường cho xe thông tuyến.

Hai mươi tư năm sau ngày 22 tháng 3 năm 1996 bộ đội công binh và cơ quan tỉnh Quảng Bình đã cho nổ mìn phá đá mở được cửa hang. Nhưng cũng phải mất 59 ngày vất vả kiên trì đào bới khoan tìm sâu dưới lòng đất trong hang mới có thể tìm kiếm được hài cốt các liệt sỹ để đưa về yên nghỉ tại quê nhà. Các cựu Thanh niên xung phong cán bộ nhân dân của hai tỉnh Quảng Bình - Thanh Hóa lại bồi hồi xúc động bàn giao và đón nhận những người con thân yêu đã vì Tổ quốc mà hy sinh.

Tuy các anh các chị đã được về với quê cha đất mẹ ở Hoằng Hóa Thanh Hóa nhưng tại hang Tám cô vẫn còn bàn thờ thường xuyên có đồng đội và khách thập phương viếng thăm tưởng niệm. Bên cạnh hang là một ngôi đền khang trang thành kính để thờ cúng ghi công các liệt sỹ đã anh dũng hy sinh để xây dựng nên con đường Hai mươi - Quyết Thắng. Trong bài phú đặt ở giữa đền giáo sư Anh hùng lao động Vũ Khiêu đã viết:

"Vươn cao muôn trượng bóng anh hùng/ Tỏa sáng muôn phương gương dũng kiệt /... Tuổi chẳng thọ nhưng huân công mãi trường tồn. Thân dù tàn mà khí phách đời đời bất diệt..."

Sự hy sinh ngoan cường anh dũng của các anh các chị đã đi vào lịch sử đã gắn liền với vô vàn chiến công sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đó là một bản hùng ca bi tráng một huyền thoại quý giá để nhân dân ta tự hào ngưỡng mộ để cho thế hệ trẻ Việt Nam học tập noi theo.

Cũng chính vì có những thành tích những chiến công lớn lao này mà Đảng và Nhà nước đã phong tặng cho lực lượng thanh niên xung phong Thanh Hóa và cho tập thể 8 liệt sỹ ở Hang Tám cô danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

                                                                                   V.N.T

NGÂN HẰNG

Người thầy thuốc có trái tim đa cảm


     Công tác ở một bệnh viện huyện miền núi 27 năm có 22 năm làm công tác quản lý 7 năm làm Phó Giám đốc 15 năm giữ chức Giám đốc và là hội viên Ban thơ Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa mới đây nhất lại được nhận danh hiệu thầy thuốc ưu tú đó là tất cả những gì mà ông Lê Huy Hoàng Bí thư Huyện ủy huyện Bá Thước cho tôi biết về Trương Thị Mầu một tấm gương tiêu biểu trong cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".

Tôi tìm đến bệnh viện đa khoa huyện Bá Thước vào một trưa hè tháng 6 nắng rồi gió nóng cứ hầm hập phả vào mặt khiến tôi như nghẹt thở thèm cảm giác được yên tĩnh trong căn phòng làm việc ở Tạp chí với điều hòa mát lạnh. Đây không phải là lần đầu tiên tôi biết chị Mầu nhưng trước đây cái biết trong tôi cũng chỉ là biết mặt biết những lần đọc thơ chị rồi một hai lần gặp gỡ ở Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa. Cho mãi tới đợt mùng 8 - 3 vừa rồi trong chuyến đi dã ngoại cùng với đoàn nữ văn nghệ sỹ xứ Thanh đến Bến En và được chị tiếp đón tôi mới có dịp nói với chị dăm ba bảy câu chứ cũng chẳng nhiều nhặn gì lắm. Dù đã căn vào giờ nghỉ trưa để có dịp chuyện trò riêng với chị vậy mà khi đến nơi dường như thời gian không còn tồn tại nữa. Thấy chúng tôi chị dứt mình khỏi đống giấy tờ đang bề bộn trên bàn làm việc. Tôi hỏi:

- Chị không nghỉ trưa sao?

Rót cho tôi chén trà chị cười nụ cười dường như vướng bận nhiều điều trong đó rồi nói vui:

- Không riêng gì tôi mà toàn thể cán bộ nhân viên ở viện này đã lâu lắm khái niệm giờ nghỉ và ngày nghỉ đã là một thứ quá xa xỉ. Nếu không tin các đồng chí có thể theo tôi xác thực xem thế nào nhé.

Chúng tôi đi thật và thấy thật mắt những điều chị vừa nói.

Bệnh viện đa khoa huyện Bá Thước nằm khép mình ở thị trấn Cành Nàng. Một cơ ngơi khiêm tốn nếu không muốn nói đã có phần cũ kỹ bao trùm lên một màu xanh mát mắt của cây cối và núi rừng. Bên này tiếng bước chân rầm rập bên kia tiếng gọi xen lẫn tiếng khóc hời của trẻ con người thì xếp hàng người thì cố chen lên. Bàn đăng ký khám bệnh những gương mặt còn khá trẻ mặc áo bluose nhễ nhại mồ hôi không kịp lau đi vì những tiếng giục của người bệnh. Trước đây tôi có dịp đến một số bệnh viện tuyến huyện nhưng hầu như bệnh nhân thưa thớt thậm chí cán bộ nhân viên trong bệnh viện cũng tranh thủ ở nhà làm thêm kinh tế cho gia đình. Nhưng với Bá Thước một huyện miền núi cách thành phố Thanh Hóa 120 cây số sinh sống trên địa bàn chủ yếu là người dân tộc (Thái và Mường) nên hầu như cường độ làm việc của các y bác sỹ ở đây rất cao.

Quay trở lại phòng làm việc của chị lúc này tôi mới nhìn kỹ người thầy thuốc trước mặt mình. Trong bộ quần áo bluose tóc búi cao dù thâm niên ở bệnh viện chị đã được xếp vào "tốp đứng đầu về hưu" nhưng trông chị vẫn tràn đầy sự năng nổ và nhiệt huyết hình như thời gian đi qua càng làm chị trở nên mặn mà hơn.

Sinh ra và lớn lên ở xã Lương Ngoại (Bá Thước) 18 tuổi cô gái người dân tộc Mường Trương Thị Mầu trở thành sinh viên trường Đại học y Thái Bình. Sáu năm xa nhà xa quê hương Trương Thị Mầu hằng đêm vẫn nghe đâu đó bên tai tiếng róc rách của suối tiếng chim đầu sớm tiếng nghèo đói và bệnh tật của những người dân quê và những gương mặt gầy gò yếu đuối của trẻ em trong bản vẫn cứ ám ảnh không nguôi. Năm 1982 với tấm bằng tốt nghiệp thay vì chọn cho mình một công việc như ý ở nơi phố thị Trương Thị Mầu lại hăm hở trở về với núi rừng với những người dân Bá Thước.

Những ngày đầu về với bệnh viện huyện nhà dù đã xác định tư tưởng cho mình nhưng những khó khăn và thiếu thốn về vật chất nhất là trang thiết bị tối thiểu đã không ít lần khiến chị nản lòng và rơi nước mắt những đêm thức trắng cứ nhiều lên. Nhớ lại quãng thời gian ấy giờ đây chị lại thấy biết ơn cái khó cái nghèo đã làm cho chị vững vàng cho chị những bài học cũng như những kinh nghiệm xương máu để có thể đi tiếp với những người dân mộc mạc.

-Vậy với cơ sở hiện nay trên phương diện là giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Bá Thước chị thấy sự chuyển biến trong công tác khám và chữa bệnh cho người dân trong huyện thế nào?

Tôi hỏi vậy bởi vẫn còn nghi ngại một điều rất nhiều lần tôi đọc trên báo nói về sự chuyển tuyến từ huyện xuống tỉnh. Do quãng đường quá xa trong khi đó người bệnh lại mất máu không được xử lý kịp thời nên đã dẫn đến tử vong. Dường như đoán biết được hoài nghi của tôi chị quả quyết:

- ở đâu tôi không biết chứ ngay như bệnh viện huyện chúng tôi công tác cấp cứu tại chỗ vô cùng quan trọng có thể nói được đưa lên hàng đầu. Từ năm 1997 đến nay bệnh viện huyện Bá Thước không còn tình trạng tử vong do băng huyết và mất máu cấp tính xảy ra bình quân mỗi năm truyền từ 15.000 đến 20.000 mililít máu tươi cứu sống bệnh nhân kịp thời.

Tôi ngạc nhiên trước con số mà chị vừa nêu ra

- Máu ở đâu mà viện chị huy động được nhiều đến vậy?

- ở ngay trong chúng tôi những người làm thầy thuốc và người nhà bệnh nhân.

Rồi chị kể cho tôi nghe một số câu chuyện như để chứng minh. Có lần đi công tác xa chị nhận được điện thoại từ bệnh viện báo. Một bệnh nhân thuộc nhóm máu hiếm cần được tiếp máu đã huy động người nhà nhưng không có ai phù hợp. Không thể chuyển xuống viện tỉnh cũng không có phương pháp nào để sơ cứu sức khỏe của người bệnh càng ngày càng yếu đi. Chị đã phải gọi điện yêu cầu lục lại tất cả hồ sơ của cán bộ y bác sỹ bệnh viện. Phải giải thích thêm rằng ngay từ khâu nhận cán bộ ngoài một "hồ sơ" đảm bảo về tay nghề của cá nhân chị cũng đã yêu cầu phải làm xét nghiệm nhóm máu để có thể cung cấp vào "ngân hàng máu dự trữ" của bệnh viện. Cũng may trong số cán bộ nhân viên lúc đó có người có thể tiếp máu cho người bệnh. Lần khác chị vừa mổ cứu bệnh nhân vừa phải để cán bộ nhân viên trong viện trực tiếp truyền máu thậm chí ngay cả khi người bệnh phải chuyển xuống tuyến tỉnh thì người cho máu cũng phải đi theo tiếp máu trên đường mà không có bất kỳ đòi hỏi nào. Chị tiết lộ cho chúng tôi thêm rằng có cá nhân đã đến 7 lần cho máu đó là Trương Trung Tuyến một kỹ thuật viên xét nghiệm còn khá trẻ. Tôi không có dịp gặp anh vì chắc rằng sau cánh cửa phòng của chị Mầu vẫn là một hàng dài người đang đứng chờ khám bệnh. Tôi không muốn vì một chút tò mò của mình mà lỡ nhiều việc của người khác.

- Chị là một tấm gương điển hình trong cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của huyện. Thế bệnh viện mình thì sao?

- Sôi nổi chứ. Chúng tôi hưởng ứng cuộc vận động bằng những hành động thiết thực như cụ thể hóa bằng y đức bằng quy tắc ứng xử bằng tình cảm yêu thương bệnh nhân bằng thực hành tiết kiệm chống tham ô lãng phí xây dựng quy chế thưởng hàng tháng thưởng tại chỗ cho những cá nhân có thành tích cao. Tôi chỉ là một cá thể được ưu tiên thôi.

Tôi còn nghe chị báo cáo thêm về những thành tích đã đạt được của bệnh viện. Chị nói không giấu được niềm phấn khởi và tự hào như: "Bệnh viện đa khoa Bá Thước thuộc bệnh viện hạng ba với quy mô 100 giường bệnh trong thời gian qua đã làm tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho bà con dân tộc trong huyện. Từ năm 2004 đến 2008 mỗi năm khám cho từ 30.000 đến 40.000 lượt người. Điều trị cho từ 6000 đến 8000 lượt bệnh nhân năm 2009 điều trị trên 10.000 lượt người v.v..."

Chuyện đến đây tôi mới bao quát căn phòng làm việc của chị. Một căn phòng nhỏ nhắn một chiếc bàn vừa vặn với đống giấy tờ và chiếc máy tính những tấm bằng khen cá nhân lẫn tập thể được chị treo trân trọng. Và nữa cái làm tôi thích thú nhất đó là hương hoa nhài dịu nhẹ cứ thoang thoảng nơi đầu mũi thay cho mùi thuốc mùi sát trùng hay kim tiêm đã trở thành đặc trưng của bệnh viện. Nhưng điều khiến tôi quan tâm hơn cả đó là chiếc tủ sách đã được chị nêm chật cứng chiếm một diện tích không nhỏ nơi góc phòng. Tôi tiến lại gần "xem xét" bên cạnh những sách chuyên ngành của chị vẫn là những sách văn học.

- Dạo này chị có hay làm thơ nữa không?

- Có chứ.

- Bận thế thời gian đâu cho chị ngẫm nghĩ mà sáng tác được

Nghe tôi hỏi chị thở dài cái thở dài không phải mệt mỏi mà như tìm được người trút bầu tâm sự.

- Công việc của tôi hàng ngày gặp rất nhiều trường hợp đầy tâm trạng vui có buồn có đau lòng thương cảm cũng có nó cứ ăn sâu và ám ảnh lấy mình. Mình như người để họ trút hết mệt mỏi đau đớn trong cuộc sống để rồi mình lại ưu tư day dứt hộ họ chính đó là nguồn cảm hứng để viết và sáng tác đấy.

Quả thật đúng như lời chị nói. Hình như giữa nghề Y và văn chương đã từ rất lâu rồi có một sợi dây móc xích với nhau vô hình nhưng bền bỉ và khăng khít. Phải chăng một bên là cứu con người về thể xác một bên lại cứu con người về tâm hồn nên có thể hòa làm một.

- Thế bài "Gọi" này có phải là ngoại lệ không?

Chị lắc đầu cái lắc đầu thật buồn.

- Đây là một trường hợp khá đặc biệt. Đó là một phụ nữ còn trẻ người làng Son (một làng miền núi cao thuộc xã Lũng Cao - Bá Thước). Cô gái đến bệnh viện nhờ can thiệp do lỡ kế hoạch. Nhưng khi khám xong thai nhi đã khá lớn. Tôi không đồng ý cố phân tích cho cô gái hiểu những nguy hiểm và hậu quả có thể dẫn đến khi phá thai nhất là đứa trẻ cũng đã thành người có tay có chân đó là một sinh linh vô tội cô nên giữ lại.

Kể đến đây mắt chị ngân ngấn lệ bao trùm lên chúng tôi lúc này chỉ là sự yên lặng. Dường như chị đang cố chế ngự cảm xúc của mình. Chuyện chị kể không phải lần đầu tiên tôi được nghe xong trái tim đa cảm của chị cộng với những cái nhíu mày hằn lên nơi đuôi mắt người nữ bác sỹ ấy khiến cho tôi thấy rung động thật sự:

Tôi nhìn chị chị nhìn ra bên ngoài cửa. Một mầu xanh của cây cối núi rừng thăm thẳm ập lại nắng hè dường như dịu hơn đôi chút. Tôi xin trích ra đây một số câu trong bài thơ ấy:

Vỡ kế hoạch - mẹ xin - từ chối con

Vẫn là em gái làng Son

Làm sao em nỡ bỏ con giữa chừng

Làm sao nói có hay đừng

Làm sao em lại chuyển mừng thành đau

Làm sao em hiểu cơ cầu

Alô em ngả nỗi sầu vào tôi

Làm sao mở miệng hỡi trời

Cứu một người hủy một người được không

Làm sao em nỡ lạnh lùng

Người dưng khốn khổ vô chừng là tôi.

Phải nói rằng thơ của Trương Thị Mầu là một sự trải nghiệm cuộc sống đầy tầng lớp và mầu sắc. Đọc thơ hiểu người điều đó càng đúng với chị. Có lẽ rằng hình ảnh bản làng rừng núi sông suối và cả những vật dụng đời thường của người dân bản đã ăn sâu vào tiềm thức của chị để rồi chị lại viết ra những câu thơ dung dị và thật thà đến thế:

Qua bao chớp bể mưa nguồn

Rừng thưa trải bấy mùa tuôn lá vàng

Bất chợt gặp buổi thu sang

Giữa rừng một chút mơ màng bóng thu.

(Rừng chiều)

Tôi có đọc hai tập thơ chị tặng đó là "Bóng Núi" (NXB Văn học - 1997) và "Mùa dậy sớm" (NXB Văn hóa dân tộc - 2009). Cũng như những người làm thơ khác chị cũng chủ yếu ghi lại những sự việc xảy ra trong ngày theo dạng nhật ký bằng thơ. Nhưng cái khác chăng chị là người phụ nữ thích chắt góp những thứ vụn vặt để nâng niu và lưu giữ cẩn thận và rồi lại phô bày ra trang viết của mình. Tôi biết rằng điều đó chỉ có thể xảy ra đối với một người có trái tim đa cảm làm thầy thuốc như chị mà thôi.

                                                   Hè tháng 6 năm 2010

                                                                N.H

More...

DỰ THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

DỰ THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ

NGÔ BÁ HÒA

Thiên thần

Thiên thần ơi!

Anh sẽ ôm chặt em trong tay

và... đặt lên môi em nụ hôn vĩnh cửu

Thiên thần ơi!

Một ước mơ lớn

đo bằng tình em

Khát khao bùng cháy

từ ngọn lửa em

Đam mê trỗi dậy

từ làn hương em...

Thiên thần ơi!

Em thả đôi cánh xuống trần

sao không thả vào nơi anh

để có ngày còn mang trả lại

đằng này em thả nơi ai

khiến đôi cánh gẫy.

Thiên thần ơi!

đêm nay là lần cuối cùng anh gặp em trong mơ

ngàn ngàn sau chỉ còn trong nỗi nhớ

đừng khóc nữa

nước mắt chẳng mua được lòng người

cũng không làm mặn biển đời

vốn nhiều chua và chát

nhiều đắng và cay

Ước gì đừng có cuộc chia tay

anh sẽ mơ một giấc vĩnh cửu

ở nơi khác thế giới loài người

hoang tưởng

Anh thấy thiên thần

bay!

          Hà Nội rằm tháng giêng 2009

                             N.T.H


 

TRỊNH HẢI YẾN

Trầm

Trầm

nét thu

ai người góa bụa ru mùa lên môi

Trầm

nét cười

nghiêng nghiêng mái tóc trăng rơi mấy mùa

Trầm

em tôi

gánh hoa xuống chợ mua vui nụ cười

oái ăm cái miệng chữ người

oái ăm cái miệng chữ tình cắn đôi

Đợi

Trầm

nét mặt ngủ gờ

treo trăng đáy nước lụy đò mấy sông

đàn bà xây tổ tò vò

đêm khuya kéo kén tẽn tò bóng mê.

                                   T.H.Y



 

LỮ THỊ MAI

Ngón

Trên những khoảng muốt mềm

móng nhoi nhói sơn màu tím bạc

về ngủ say

mười ngón tay

ngón vu vơ miết cổ áo anh dò vết dị thường

ngón khơi mở lần tìm

ngón thành tâm chiếm đoạt

như một phần không thể thiếu!

những gì thuộc về anh

cũng đã đôi lần len lén

bắt chước con mèo vuốt vụng bóng đêm

ngón ngón mỡ màng

em đã yêu và khát

này rất nõn nà

này thì ắng lặng ngón tìm ngón

này lại ngủ ngoan trên mặt bàn

này xòe thắp một nén nhang

đúng là một phần không thể thiếu!

trên những khoảng muốt mềm

em muốn anh đeo lên chiếc nhẫn đính hôn

và dự định rơi vào ngày im gió...

                                 L.T.M

HOÀNG CHIẾN THẮNG

Ký tự sóng

...Mặn mòi từ đâu khi suối đổ về thành sông sông đổ

dồn ra biển

Nơi đất mẹ phù sa vốn ngọt lành bờ bãi?

Tôi cố đọc

Tôi cố nghe

Những điều biển nói...

Sóng

Sóng

Sóng...!

Những con sóng nhọc nhoài nối đuôi chạy về từ triệu

triệu năm trước

Chở cả can qua binh lửa oai hùng

Tự thuở Lạc Long đưa con mình ra biển

Đến những con tàu cắt rốn bão ngoài khơi

Mặn mòi từ đâu khi suối đổ về thành sông sông đổ

dồn ra biển

Nơi đất mẹ phù sa vốn ngọt lành bờ bãi?

Tôi cố đọc

Tôi cố nghe

Những điều biển nói

Phiên âm ngàn xưa ký tự sóng chưa khi nào đọc nổi

Đành giải mã theo cách riêng của những con tàu

Sóng

Sóng

Sóng...!

Những con sóng hỗn mang thấm dòng máu Lạc Hồng

Thấm mồ hôi cha ông thành mặn

Lịch sử thăng trầm dựng nên bờ cõi

Sóng lại trở mình viết ký tự tâm linh

Biển như cánh đồng bội thu lòng tin

từ những người lính cưỡi sóng ngày đêm trong suốt

hành trình dài gìn giữ

khi mặt trời đi ngủ

ru vầng trăng mọc lên

đợi những giấc mơ lính biển vỗ về

Sóng

Sóng

Sóng...!

Tôi nghe được từ sâu thẳm sau ồn ào giai điệu sóng

Tiếng cha ông nhắc nhở cháu con mình giữ đất trời

biển đảo

Hay những phác thảo ký âm bản nhạc biển trầm

hùng...

Linh hồn những người lính hy sinh đang thầm thì mỗi

khi sóng cập bờ bằng những lá thư nhấp nhô ký tự.

Sóng

Sóng

Sóng...!

Tôi đọc được những ký tự sóng

theo cách riêng của những con tàu đang chuyển

mình ra biển lớn.

                                         H.C.T



PHƯƠNG TÂM

Gọi anh

Ba mươi tháng tư

Bắc - Nam liền một dải

Vắng anh mẹ ra vào lầm lũi

Con Sáo buồn cất cánh bay xa

Ba lăm năm - Đất nước nở hoa

Anh vẫn rừng xanh ngày đêm yên nghỉ

Tấm bia mộ khắc dòng địa chỉ

Điểm tên anh trong khúc khải hoàn

Mẹ vất vả mẹ lo toan...

Anh chẳng thể sẻ chia gánh vác

Con chim khách đầu hồi thảng thốt

Nó thương anh lạnh lẽo đêm trường

Sông vắt phù sa sông trôi

Cứ âm thầm dệt nên bồi bãi

Dô tả dô tà hò khoan vọng mãi

Ba lăm năm ròng tổ quốc gọi tên Anh!

                                      P.T

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Bút ký của một nhà thơ

(Đọc "Bút ký Mai Ngọc Thanh" - Nhà xuất bản

Văn học - 2009)

                                                                      MAI THANH


 

      Nhiều năm gần đây nhiều nhà thơ viết thêm truyện và ký. Nhà thơ Mai Ngọc Thanh - nguyên Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Thanh Hóa - thuộc số này. Nhà thơ vừa cho ấn hành tập bút ký với độ dài gần 300 trang khổ sách 14 5 x 20 5cm. Sách gồm ba phần: Một số nhà thơ - nhà văn xứ Thanh; một số miền đất xứ Thanh và một số nước mà nhà thơ đã đến thăm. Đọc xong tập bút ký tôi nhận thấy ở mỗi phần nổi lên những nét đặc trưng thú vị ít thấy ở những tập sách cùng loại.

Dưới đây là đôi điều về những nét đặc trưng đó ở mỗi phần của tập bút ký.

1. Về một số nhà thơ nhà văn xứ Thanh tác giả Mai Ngọc Thanh thể hiện những nét tiêu biểu của mỗi người - những điều đó khá lạ lẫm đối với độc giả. Chẳng hạn nhà văn Đái Đức Tuấn (bút danh TchyA) "đã bỏ chức tham tá một chức được xem là cao cấp thời Pháp thuộc để trở về quê khoét núi mở động rồi chiêu tập đến ba chục trai đinh luyện tập côn quyền ngày đêm mà người hướng dẫn lại chính là ông. Ai hỏi thì ông trả lời: Chuẩn bị lực lượng để đánh đuổi ngoại xâm" (tr.10). Còn cái bút danh TchyA là: Tôi chỉ yêu Angèle (Angèle là tên tiếng Pháp mà nhà văn đã dùng đặt cho cô vũ nữ - người yêu duy nhất của mình - tr.16).

Chuyện về nhà thơ Cầm Giang (quê Thanh Hóa nhưng sống và hoạt động ở Tây Bắc) "tự dấu mình" cũng rất lý thú. Đó là chuyện về hai bài thơ "Nhớ vợ" được ghi tên tác giả là Cầm Vĩnh Ui và "Em tắm" được ghi là Bạc Văn ùi. Các cơ quan có trách nhiệm đã đi tìm hai tác giả này qua hơn nửa thế kỷ nay mà không tìm ra. Với nhiều căn cứ xác đáng người ta xác định tác giả của hai bài thơ đó chính là Cầm Giang nhưng ông không nhận là của mình. Chưa hết còn các bài thơ vẫn được coi là dịch từ các tiếng dân tộc thiểu số như "Người con gái châu Yên" "Nấm mộ bên đường" "Giải phóng quê em" "Thương anh du kích bản Mo" "Dặn con" đều có đề tài hiện đại. Người ta cho rằng đó cũng là của Cầm Giang nhưng cũng giống hai bài thơ trên Cầm Giang không bao giờ nhận là của mình (tr.67 - 68).

Với các nhà thơ nhà văn khác cũng có những nét đặc trưng rất đáng quan tâm: Hồ Dzếnh có bố là người Quảng Đông - Trung Quốc mẹ là người huyện Quảng Xương - Thanh Hóa; hoàn cảnh bi đát của Hồng Nguyên (tác giả bài thơ "Nhớ" nổi tiếng) trong những ngày cuối đời; Nguyễn Thế Phương tài năng và hết lòng vì các cây bút trẻ; Hà Khang nghiêm nghị nhưng giàu tình cảm; Võ Quyết - người lãnh đạo văn hóa của tỉnh nhân hậu và biết sửa sai v.v...

2. Về một số miền đất xứ Thanh trước hết Mai Ngọc Thanh có một loạt bài rất đặc trưng cho vùng biển tỉnh mình điển hình là vùng chiếu cói. Cây cói níu giữ ngòi bút tác giả để ông có đến hai bài viết về cói: "Đất cói" và "Cây cói Quảng Xương". "Đất cói" là nói về cói Nga Sơn "có ai đến đất cói này mà không lưu luyến với màu áo cói đang phủ lên một cuộc sống nhộn nhịp với khung cảnh hoạt động tưng bừng của một xí nghiệp cói" (tr.105) để giữ mãi vai trò của nó như trong câu thơ Tố Hữu: "Chiếu Nga Sơn gạch Bát Tràng...". Còn "Cây cói Quảng Xương" tuy mới được phát triển nhưng có nhiều hứa hẹn tốt đẹp. Những người làm cói ở Quảng Xương có quyền mơ ước đến lúc nào đó "vùng chuyên canh cói của Quảng Xương quê mình đẻ ra một câu ca dao mới như là câu thơ "Chiếu Nga Sơn gạch Bát Tràng" vậy (tr.126).

Là nhà thơ và là nhà hoạt động văn hóa tác giả viết về vùng đất cổ Phú Khê - một vùng đất "đẹp về đình chùa nhà cửa cảnh quan... nay lại đẹp hơn nhiều khi đã có thêm không ít cái mới nhưng vẫn giữ gìn được cái ngày xưa mà mãi mãi chẳng bao giờ cũ cả" (tr.158). Và ông cảm thấy bất ổn khi thấy những nét văn hóa của chính làng quê ông bị mất mát. Ông thốt lên lời ước mong lay động lòng người: "Là đứa con của làng dẫu đã đi xa lòng tôi vẫn cháy bỏng một mong ước làng sẽ hồi sinh nét đẹp truyền đời. Có như vầy thì cái mới cái giàu ngày nay mới trở thành mảng màu duyên dáng hòa hợp được vào bức tranh làng sâu đậm và thấm đẫm hồn quê" (tr.166).

"Quê tôi tháng ba năm ất Dậu (1945)" là bài bút ký cũng rất đặc trưng của mảng bài viết này. Đặc trưng bởi trên văn đàn ngày nay dường như không mấy ai viết về đề tài này vì viết dễ bị chê là văn chương "ôn nghèo kể khổ". Mai Ngọc Thanh nghĩ khác! Và ông viết bài bút ký này với cả tâm huyết của mình. Dưới ngòi bút của ông nạn đói như con ma lang thang khắp vùng đi tới đâu nó mang cái chết tới đó. Cái cảnh chôn người chết mới bi thảm và khủng khiếp làm sao: "Mỗi buổi sáng ông hương kiểm dẫn các tuần đinh ra kéo các xác chết dồn lại một chỗ rồi cho lên xe ba gác chở ra cứ thế dốc xe đổ ào xuống huyệt...". Rồi tác giả kết luận: "Phải chăng nỗi đau thương và sỉ nhục do nạn đói này đã cồn lên thành luồng sóng mạnh góp vào cao trào của cuộc khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 để quét sạch kẻ thù xâm lược chấm dứt cho dân tộc ta sự tủi hổ suốt tám mươi năm nô lệ" (tr.119).

3. Về một số nước mà tác giả đã đến thăm đó là các nước châu á như Singapore Malasia Trung Quốc và các nước châu Âu như Italia Tây Ban Nha Pháp. Đọc các bài viết ở mảng này người đọc như đồng hành cùng tác giả đến với các kỳ quan công trình nổi tiếng ở các nước nói trên: Từ vườn chim - vườn bướm Singapore Tháp Đôi Malasia Công viên - nghĩa trang Hoàng Hoa Cương Thâm Quyến Trung Quốc... đến Tháp nghiêng Pisa Italia Cung điện Hoàng gia Tây Ban Nha Tháp Eiffel Pháp... Song đặc trưng của các bài viết ở mảng này không chỉ nêu những gì nhìn thấy được mà tác giả đi sâu hơn nói về những gì không nhìn thấy được của những kỳ quan công trình ấy có nghĩa tác giả đưa ra những nội dung với những tình tiết về lịch sử những tư liệu - số liệu... của những cảnh quan công trình ấy. Chẳng hạn những trang viết về Thâm Quyến là nói cả quá trình hình thành và phát triển đặc khu kinh tế này: Bắt đầu từ ý tưởng của Đặng Tiểu Bình về "đặc khu kinh tế mở" rồi vốn liếng lao động đầu tư thời gian xây dựng... đến thành tựu đạt được như ngày nay của đặc khu: "Xuất phát từ ý tưởng táo bạo và lớn lao của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình... chỉ 15 năm sau dựng dậy cả một Thâm Quyến vô cùng hiện đại diện tích 2020km2 và dân số 3 triệu mà đa số là người trẻ đang độ đầy sức sáng tạo" (tr.245) chứ không chỉ nói về hình hài dễ nhìn thấy nó bằng mắt. Nói về Tháp Eiffel tác giả không chỉ nói về hình hài cao - nặng của nó mà nói khá kỹ về lịch sử và quá trình xây dựng Tháp thậm chí cả về chuyện bảo dưỡng Tháp: "Cứ bảy năm là phải sơn lại sơn trong một năm mới xong và hết 50.000kg sơn. Còn các thợ sơn thì kể từ lần sơn đầu tiên vào năm 1896 công việc này vẫn chỉ giao cho những người thuộc các thế hệ kế tiếp nhau của một dòng họ ấy" (tr.273).

"Bút ký Mai Ngọc Thanh" là một tác phẩm văn học chứa đựng nội dung đặc trưng như đã trình bày cùng với cách thể hiện giàu chất thi ca - bởi tác giả là nhà thơ xen lẫn với chất chính luận - bởi tác giả là một nhà nghiên cứu văn hóa và là nhà dịch thuật.

Chân thành cảm ơn nhà thơ Mai Ngọc Thanh về tác phẩm này; chúc ông luôn luôn mạnh khỏe và giàu sức sáng tạo văn chương để tiếp tục đưa đến bạn đọc nhiều tác phẩm hay hơn nữa.

Rất hân hạnh giới thiệu tác phẩm "Bút ký Mai Ngọc Thanh" cùng bạn đọc!

                                                              Hà Nội tháng 5 - 2010

                                                                             M.T

Nhớ Lã Hoan

                                                                 TRỊNH NGỌC DỰ

          Như thế là điều không mong đợi đã phải đến: chỉ một ngày sau lễ trao giải cuộc thi Thơ của Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh (2007- 2009) lúc các bạn thơ xa nhất là miền núi như Bá Thước Cẩm Thủy... cũng đã về tới quê nhà thì nhà thơ Lã Hoan lặng lẽ ra đi. Dẫu bệnh tật đã được "báo trước" nhưng mọi người đều thấy bàng hoàng đau xót!

Chiều ấy mấy bạn thâm giao quanh thành phố: Đào Phụng Văn Đắc Huy Trụ Phạm Khang Trịnh Ngọc Dự Lê Dậu Xuân Luật... thay mặt cho bạn bè nhà thơ đã tiễn ông về nơi an nghỉ ở nghĩa trang Chợ Nhàng. "Chút nắng vàng thu se nhẹ/ Chiều nay cũng bỏ ta rồi" (thơ Thảo Phương)! Nhưng đây đang là những ngày đầu đông cái nắng nhạt nhòa vô cảm trong tâm trạng của những người đi tiễn ông sao thấy đời người thật vô vị chẳng ra làm sao! Một đoàn xe tacxi - đâu như của đơn vị nơi con rể ông công tác cùng đoàn xe máy theo sau quan tài nhà thơ khập khễnh tiễn Hoan xuống "GA ĐờI" - như cách nói của nhà thơ Lê Đại Thanh.

Tôi biết Lã Hoan từ hơn ba chục năm trước khi nhà thơ Anh Chi dẫn tôi tới trạm gác cơ quan Tỉnh ủy xin vào chơi với Lã Hoan lúc ấy đang làm nhiệm vụ trong tổ sửa chữa xe máy. Trong thâm tâm tôi có phần "kiêng nể" bởi một người làm thơ như Hoan được "chọn" làm ở đấy phải là tin cậy lắm. Nhưng còn điều quan trọng hơn dẫu là người viết từng "thâm canh" về đề tài cầu đường ở Trường Sơn tôi vẫn chưa viết nổi một bài thơ về cầu Hàm Rồng - một cây cầu nổi tiếng trên thế giới bởi lịch sử của nó gắn liền với cuộc chống Mỹ của dân tộc ta. Khi đọc Lã Hoan: "Tôi từng có một cây cầu/ Đêm đợi giặc ghé tai đồng đội? Hôm nay Hàm Rồng mấy lần giặc tới?/ Trái tim như viên đạn nén trong băng" và "rồi sẽ phải mang đi cho lòng sông rộng/ Cùng quê hương tôi cây cầu ấy mãi còn" đã thấy tầm vóc của Hàm Rồng những tình cảm thiêng liêng trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam. Bài thơ với cái tứ rất nhẹ nhàng mà nói được điều vĩ đại sâu xa cả quá khứ hiện tại tương lai...

Là lứa thanh niên rời ghế nhà trường lên đường nhập ngũ từ rất sớm (17 tuổi - tháng 2 năm 1966) qua những Đường Chín - Nam Lào ngã ba Đông Dương... "Cái tuổi ngàn ngày ăn lá tàu bay/ Ăn củ chụp măng rừng không chán" có thể nói những vùng đất anh qua những khó khăn gian khổ của người lính đã cho Hoan vốn sống cộng với tâm hồn nhạy cảm của một thanh niên sinh ra từ làng Bạch Câu đất Nga Sơn với lạch Sung bãi mặn đất cói có "Nắng vàng rót mật xuống phù sa/ Có làng dệt chiếu tươi màu ngói/ Có tiếng go đưa ấm mọi nhà" với câu chuyện Mai An Tiêm chàng Từ Thức cửa Thần Phù... là hành trang không dễ có trong cuộc đời thơ của ông. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn - người bạn học bạn thơ của Lã Hoan từng nhận xét: thơ anh trọng sự chân thực sâu đậm tràn ngập những nỗi niềm riêng và chung. Hoan là người nặng nợ với mẹ với anh em với làng xóm. Có lẽ thế mà nhiều bài thơ Hoan mang tính tự sự tự vấn tự trách mình về những gì mình chưa làm được cho mẹ cho quê hương. Hoan tự bạch: "Nhà tôi nghèo như mọi nhà thôi/ Mẹ chân đất váy nhuộm bùn áo vá/ Cha ngật ngưỡng cây đàn bầu ống nứa/ Tiếng buồn gieo như tiếng mưa dầm/ Hạt gạo cõng mười hạt khoai qua bữa" và đã qua cái tuổi học trò trong cảnh "áo vá quần nâu chân đất đến trường/ Nghe thầy giảng giữa lào thào cơn đói". Một thế hệ đã lớn lên và cầm súng ra đi trong điều kiện như thế đã không tiếc tuổi xuân mình cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Thơ Hoan chân thực ấm áp nhưng không kém phần tài hoa: "Ta đã đến nhiều bờ bến lạ/ Nghĩ rằng em chẳng đợi được lâu/ Nên lỡ tiêu những đồng tiền giấu mẹ/ Nay lặng đứng trong lời gió kể/ Cô bé năm xưa vẫn đợi thuyền rồng". Tôi yêu những câu thơ Hoan trách chàng Từ Thức quý tộc đa tình: "Dám cởi áo cứu nàng tiên khỏi tội/ Sao làm ngơ trước đau khổ nhân gian?". Có lẽ bài thơ để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong lòng bạn đọc là bài "Năm Đinh Mão bảy mươi ba tuổi mẹ". Hoan viết về cái phút cuối cùng của mẹ giữa bao khó khăn chồng chất cảnh đất cảnh trời và lòng người... tưởng như không thể qua được: "Năm Đinh Mão bảy mươi ba tuổi mẹ/ Trời đất như không có mùa thu/ Giữa tháng tám mà gió nồm xông xổng/ Nhìn lúa chín ngoài đồng bụng phấp phỏng lo". Tiếng gió như có tiếng người "tiếng ma" đến tương lai đã cầm trong tay mà vẫn còn nơm nớp lo sợ. Nhà thơ Hoàng Quý cho rằng bài thơ này "Lã Hoan viết rất cắn rứt rất thật và hay viết thế mới thật người" và đến 4 câu: "Năm Đinh Mão bảy mươi ba tuổi mẹ/ Đất nước như chị Tấm leo cau/ Đứng dưới gốc lắm dì ghẻ quá/ Mấy ai vì mẹ ta đâu!" thì Hoàng Quý đã "kính cẩn gọi ông đích thực là nhà thơ vì chỉ những nhà thơ đúng nghĩa nhất mới không ném câu thơ vào gió"

Thơ Hoan ảnh hưởng sâu sắc thơ của lớp thanh niên vừa rời ghế nhà trường hăm hở bước vào cuộc chiến tranh và trở về thời kỳ xây dựng hòa bình với niềm lạc quan tin tưởng. Những bài thơ "tròn chặn" mượt mà và cái kết thường là có hậu dễ đọc dễ cảm được hình thành trên một cái tứ hoàn chỉnh. Nhưng về sau tốc độ viết có chậm đi và đâu đó những câu thơ cảm thán trước những diễn biến của xã hội những lo lắng bởi cuộc sống khó khăn bắt đầu xuất hiện trong thơ anh: "Bây giờ cơm áo mong manh/ Thơ buồn gọi một chút tình trao nhau". "Một chút đời thường" Hoan đã bộc lộ: " Mỗi ngày qua thêm thưa vắng tiếng cười/ Phố xá thay tên như thay mốt/ Bao câu thơ dần nhập nhòa trên sách/ Lòng tốt ơi nhợt nhạt mảnh trăng ngày!" và Hoan cũng không giấu diếm: "Rượu chảy tràn cũng không đủ làm say/ Ta vờ vĩnh như vai hề sân khấu/ Vờ vĩnh buồn vui nói cười ăn nhậu/ Có lúc vờ say khóc với đá vọng phu". Nói thơ là thái độ sống thì những ẩn ức như thế cũng là điều dễ hiểu người làm thơ chân chính không thể "quay lưng" với thời cuộc.

Giữa lúc cuộc sống khó khăn con người thường vẫn bám víu vào những vị trí chỗ đứng để có điều kiện canh cửi... Có người phải tới hai ba năm mới được một tuổi khi tính thời hạn về hưu thì Lã Hoan khi đang là Trưởng phòng Hành chính của một cơ quan lại đùng đùng xin về trước tuổi tới hai ba năm. Tưởng Hoan đang dự định cho một công việc gì lớn lao nhưng không vẫn những việc nhì nhằng ở gia đình phố xóm...

Rồi mọi người thấy mừng cho anh khi Hoan nhận làm đại diện cho báo điện tử Tổ Quốc công việc sẽ cho anh thêm một khoản thu nhập lại có điều kiện đi đây đi đó là điều rất cần đối với người viết. Hoan khoe với tôi cơ quan báo này vừa mới trang bị cho anh máy ảnh số máy vi tính máy phắc... Lại có dịp cho Hoan phát huy những khả năng như khi còn ở cơ quan cũ. Và quả thực Hoan đã tổ chức một cuộc họp cộng tác viên ra mắt báo này rất "hoành tráng" được bạn bè nhiệt tình ủng hộ hứa hẹn công việc thuận lợi...

Một lần gặp Hoan tôi hỏi về công việc tiến hành ra sao? Có sự kiện lớn của tỉnh vừa tổ chức khởi công Dự án Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn đã viết tin bài cho báo chưa thì Hoan kể với giọng còn bực bội: Em phải đạp xe máy vào chờ đợi nài nỉ mãi mà họ không cho vào với lý do là "không có danh sách" đành phải quay về... Thì ra tờ báo của Hoan chưa "đăng ký" đại diện ở đây hơn nữa đây là buổi lễ rất long trọng có khách từ trung ương về việc bảo vệ không thể lơ là được!

Công việc đang trôi chảy thì hay tin Hoan mắc bệnh hiểm nghèo Thúy- vợ Hoan và gia đình lật đật đưa Hoan ra Hà Nội với các đợt điều trị dài ngày trong Bệnh viện kể cả việc tìm đến các giáo sư bác sĩ giỏi hay theo mách bảo của bạn bè thân tình cả tây y lẫn đông y... Nhưng bệnh đã ở giai đoạn cuối. Bạn bè người thân đến thăm động viên anh lặng lẽ giấu đi tiếng thở dài...

Một lần đến thăm Hoan trong tình trạng nói chuyện rất khó khăn có lúc Hoan phải lấy bút viết trên mảnh giấy để đàm thoại tôi có hỏi là nằm điều trị dài như thế có viết được gì không Hoan lắc đầu nói là khó lắm rồi như sực nhớ Hoan vui hẳn lên lấy cho tôi xem hai tờ giấy là hai bài thơ của hai nhà thơ Đinh Ngọc Diệp và Lê Đình Bằng viết tặng Hoan trong những ngày Hoan nằm điều trị. Tôi biết nó thiêng liêng như thế nào với Hoan. Bạn bè văn chương tới thăm nhau chẳng có túi lớn túi bé phong bao phong bì dày dặn gì chỉ là những câu thơ. Thì Hoan chẳng đã nói đó thôi: "Của tiền chẳng có cho nhau/ Thôi đành tặng bạn vài câu thơ buồn". Bài thơ Đinh Ngọc Diệp viết về Hoan thật ám ảnh: "Thơ vẫn viết nhưng không nói được/ Cổ xạm đen tia xạ cắt ngang lời". Tôi ngồi đọc mà không cầm được nước mắt. Khi đứng dậy để ra về thì Hoan nắm lấy tay cười ngượng nghịu nói cho tôi đủ nghe: "Nếu anh có viết gì thì đừng nói là em đang thế này nhé!". Tôi thấy lạnh dọc sống lưng mình chỉ ừ ừ để cho Hoan yên tâm.

Bây giờ thì Hoan chẳng phải lo gì nữa cả Thông báo trên trang web của Hội Nhà văn Việt Nam về "Nhà thơ Lã Hoan đang cô đơn chống chọi với bệnh tật" kèm theo chùm thơ đặc sắc của Hoan. Trên đường đưa Hoan tới nghĩa trang chúng tôi nhận được điện thoại của nhà văn Đặng ái đang công tác ở Quảng Ninh gọi về. Nhà thơ Trịnh Anh Đạt từ Hải Phòng nói với tôi qua điện thoại: Thanh Hóa mình đáng lẽ Lã Hoan và một số anh em khác như Minh Khiêm Đào Phụng... phải là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ lâu rồi!

Còn bây giờ với Lã Hoan thì cả hai người giới thiệu là nhà thơ Phạm Tiến Duật nhà thơ Trịnh Thanh Sơn và người được giới thiệu là Lã Hoan cũng đã ở cõi khác.

Tập thơ "Nhật ký một tình yêu" của Lã Hoan xuất bản cuối năm 2005 như một tuyển tập thơ vô tình trở thành tác phẩm cuối cùng của Hoan. Tôi lần giở từng trang thấm đẫm mồ hôi nước mắt từ trái tim nhà thơ - người lính những lời Hoan ký thác: "Sắc màu đã gửi thời gian/ Chỉ còn một chút hương tàn này thôi".

Hoan đi nhé! Những bài thơ của bạn mãi mãi dư vang trong lòng bè bạn.

                                                                            T.N.D

"Lời muộn"

Thơ Trịnh Ngọc Dự

                                                                   VĂN ĐẮC

        Bố Trạch Quảng Bình năm 1972 Trịnh Ngọc Dự đã viết bài thơ "Trong khói bom B52". Bài thơ để nguyên trong tập bản thảo. Mãi đến năm 2009 anh mới cho in tập thơ "Lời muộn" (thời ấy cách đây khoảng gần 40 năm) anh đã viết:

Mặt trời lặn

Con Ngọc trai lên ăn nơi đường chân trời

Mây trắng theo nhau lắng xuống

Trên đỉnh đầu mùa thu xanh trong

Miêu tả một buổi chiều chỉ bằng bốn câu mà màu sắc đường nét không gian thời gian gây ấn tượng không quên trước lúc diễn tả cảnh khói lửa đạn bom chết chóc. Tôi cho miêu tả như thế là tạo ra kịch tính bằng màu sắc đường nét mà trong thơ rất ít người sử dụng. Tiếp đó bài thơ đặc tả không chỉ bằng vẽ mà bằng tất cả nỗi ám ảnh ớn lạnh trước thảm họa B52.

"... Trời xanh không thể tan

Những vệt khói từ thân con trẻ

Những vệt khói từ tóc mẹ già

Những vệt khói từ đám cháy da người khét lẹt

Có phải máu người màu trắng bệch

Mà những vệt khói trắng kia

Giết người xong rồi lừng lững quay đi...".

Quả thật tôi đã đọc nhiều bài thơ viết về chiến tranh rất ít thấy những câu thơ miêu tả day dứt gai người như vậy.

Những câu thơ như thế mà đến nay mới cho ra đời thì quả thật là "Muộn". "Lời muộn" là đúng rồi.

Bao nhiêu cô gái thanh niên xung phong những người mẹ người chị những bạn bè đồng đội gặp nhau chốc lát rồi đi sống với nhau ít ngày rồi xa cách. Những bến sông chiếc cầu làng quê những tên đất tên làng... Những đèo Đá Đẽo đường Rào Reng những đêm Quảng Bình buổi sáng Khương Hạ làng Hiền Lương dòng Bến Hải... Bây giờ đã đổi khác nhiều làm sao mà gặp lại. "Muộn" là đúng rồi.

Những câu thơ tôi viết thời bom đạn

Vẫn nằm im trong tập bản thảo

Giờ điện thoại cầm tay người ngồi trong phòng lạnh

Những câu thơ tôi không kịp nữa rồi

Và anh trần tình thật thà đến cảm động:

Tôi bao giờ cũng muộn!

Em đến bên tôi ngập ngừng hơi thở

Tôi mải bôn ba để lời dang dở

Tôi gặp lại người tóc đã hoa râm

Khi tôi gặp người người đã sang sông

(Lời muộn)

"Lời muộn" ấy là lời thấm thía nỗi đời tiếc nuối lời thanh minh tạ lỗi với bạn bè cha mẹ với những ai đã một lần gặp gỡ.

Những người bạn

Ta đã chia tay dọc hành trình

Dẫu ơn nặng chưa bao giờ trả được

(Bạn)

Giờ con không thể nào để các con của mình hình dung

ra cha được

Bước đi khuôn mặt dáng người

Nâng chén rượu nuốt tràn ly đắng

Khi con làm ra được đồng tiền thì Người đã đi xa...

(Khoảng trống)

Khép lại tập thơ là bài "Tạ lỗi với sông Cầu Chày". Bài thơ dài vừa lách vào những cảm xúc tâm tình vừa gợi mở liên tưởng đến thực trạng đời sống hôm nay buồn thấy mình bất lực.

... Ta nợ dòng sông ta nợ bạn bè

Muôn lần tạ lỗi

Tạ lỗi với mọi người về sự muộn màng của mình. "Lời muộn" còn thắp lên ngọn lửa tình khao khát thầm lặng mà cháy bỏng. Những cuộc tình đi qua "Để lại những lá vàng xao xác" những cuộc hẹn hò dở dang "Vương trong chiều cuối năm" phấp phỏng.

Em nỡ bỏ ta ngày đông về buốt giá

Rét căm căm mang tấm áo mưa phùn

(Sao nỡ bỏ ta đi)

Em không đến hết thảy đều nhòa nhạt

Trước mênh mông biển cả một mình anh

(Một mình ở Biển)

Em như thể em xưa ta lỗi hẹn

Kỷ niệm vùi trong má lúm đồng tiền

(Một thoáng hồi xuân)

Cuộc tình này đi cuộc tình khác lại đến thi sĩ nuôi sống thơ bằng những cuộc tình như thế. Nên chi vào tuổi 50 nhà thơ đã phải thốt lên "Lạy trời cho dẻo đôi vai/ Tóc sương ta nhuộm bỏ ngoài già nua" và phải tự thú.

Bây giờ đã tuổi năm mươi

Nhìn cây thì nhớ nhìn trời lại mong

Cái khổ của loài thi sĩ chính là ở chỗ cố cưỡng lại cái già mà cái già cứ áp đến. Tự mình cười cợt với mình "Cho ta vay một tuổi xuân/ ta xin trả lại ba năm tuổi già". "Lời muộn - Tình muộn" cứ "háo hức như sông về với bể" và ông ôm một nỗi "Nhớ cháy lòng là nỗi nhớ thầm thôi". Vậy là "Lời muộn" chính là ngọn lửa cháy sáng cuối cùng thi sĩ thắp lên những bài thơ đầu tiên của những tình ca mới.

Một hồn thơ đang tự tinh lọc và mới lên không ngừng phía sau "Lời muộn" tôi thấy rất rõ niềm vui nỗi buồn hạnh phúc và bi kịch. Còn đủ cả nguồn xúc cảm như thế tôi tin Trịnh Ngọc Dự sẽ đi tiếp chặng cuối của mình - con đường thi ca.

                                                                   Thanh Hóa 4 - 2010

                                                                                V.Đ

More...

VĂN HÓA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                        Chèo Chải

             Một nghệ thuật diễn xướng
                  dân gian độc đáo

                                                      
                                                                    NGUYỄN LIÊN


      Chèo chải là một diễn xướng dân gian của xứ Thanh có xuất xứ từ tín ngưỡng thờ thần - những người có công bảo vệ quê hương đất nước phù hộ cho dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Chèo chải không những có ở một số Trung tâm trò diễn diễn xướng dọc theo hai bờ sông Chu sông Mã như: Đông Sơn Thọ Xuân Hoằng Hóa Yên Định Vĩnh Lộc Thiệu Hóa Nông Cống... mà rải rác nhiều nơi khác trong tỉnh cũng có.

"Chèo" trong chèo chải là nói đến hình thức diễn chèo thuyền không phải là thể loại hát chèo còn chữ "chải" (một từ cổ) nghĩa là bơi. Tuy nhiên tên gọi diễn xướng này cũng còn nhiều người chưa thống nhất. Theo nhóm Lam Sơn chèo chải còn có các tên gọi khác: có người cho là chèo trải bởi chữ "trải" (dăng) là trải thuyền cờ quạt sắp thành hàng để diễn xướng. Lại có người dựa vào ý nghĩa chèo đua lấy giải nên gọi là chèo giải. Song tên gọi chèo chải được nhiều người nhiều nơi nhắc đến hơn nên nó phổ biến và lưu truyền cho tới ngày nay.

Chèo chải thuộc thể loại dân ca lễ nghi tín ngưỡng có hình thức hát múa chèo thuyền trên cạn. Tuy nhiều nơi cũng có hình thức diễn xướng này nhưng theo nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ở Thanh Hóa chèo chải ở xã Hoằng Quỳ huyện Hoằng Hóa được tổ chức khá quy mô điển hình cho nghệ thuật hát chèo chải ở xứ Thanh. Vì vậy chúng tôi xin đưa ra quy trình một cuộc hát chèo chải ở đây để chúng ta cùng tham khảo.

Chèo chải xã Hoằng Quỳ được diễn xướng trong lễ hội đền Thánh Tến của xã. Để phục vụ cho đại lễ (tổ chức vào ngày mồng tám tháng hai âm lịch) bốn làng: ích Hạ Trọng Hậu Phúc Tiên (xã Hoằng Quỳ) và Đức Giáo (xã Hoằng Hợp) cùng đưa chèo chải đến thi hát tại lễ hội đền Thánh Tến để xưng tụng Lê Phụng Hiểu - một nhân vật lịch sử đã có công bảo vệ và xây dựng triều Lý mở đầu cho một thời đại hưng thịnh của đất nước.

Đội chèo chải gồm mười hai thanh nữ (có nơi 24 16 hoặc 8 người...) gọi là "nữ nhạc" (có nơi gọi là "nữ quan" hoặc "con chải") được tuyển lựa rất chặt chẽ: xinh đẹp có giọng hát hay tuổi từ mười ba đến mười lăm chưa chồng khỏe mạnh gia đình trong năm không có tang cớ. Ngoài ra còn có một quản giáp (chỉ huy) hai nam nhạc cầm sênh trống (có nơi là nữ). Dàn nhạc gồm trống sênh (sau này còn có thêm nhị sáo và một số nhạc cụ gẩy khác).

Trang phục: Nữ nhạc áo lụa không đồng màu quần trắng thắt lưng xanh đỏ bỏ múi ra đằng sau. Trên đầu đội mũ "hột bột" (giống mũ công chúa trong tuồng) có cài trâm thoa. Chân đi giày hạt cườm có thêu chim phụng. Nam nhạc quần áo đen thắt lưng đỏ bỏ múi bên hông.

Đạo cụ biểu diễn: Một con "thuyền rồng" sơn son thiếp vàng trên thuyền có mui hồng thân thuyền có vẽ (hoặc dán bằng giấy ngũ sắc giấy trang kim) hình long ly quy phượng rực rỡ. Thuyền làm bằng gỗ không đáy có bánh xe để di chuyển thuận tiện hai bên mạn thuyền có 12 mái chèo sơn đỏ (tuỳ thuộc vào số lượng người diễn mà số mái chèo có thể hơn hoặc kém) và quạt giấy màu có dán hoa ngũ sắc.

Phương thức diễn xướng: Người quản giáp đứng ở đầu thuyền điều hành diễn xướng. Một nhạc công cầm trống đứng ở đầu hàng và một người cầm sênh đứng ở cuối hàng để "cầm chịch" cho hát (nếu có nhạc công khác thì ngồi ở bên ngoài "đệm tòng" phụ họa theo).

Chèo chải được hát tập thể là chủ yếu và theo thể thức ba phần: Hát vào cuộc hát chính cuộc và hát kết cuộc. Trước khi chuyển các phần thường có câu vỉa (do một người trong nữ nhạc hát sau đó tất cả cùng hát vào bài).

*Phần hát vào cuộc có hai bài: Hát giáo đầu (theo điệu sử bằng và nói vần) và hát vào cuộc (theo điệu sử bằng sa mạc hoặc các điệu riêng).

Hát giáo đầu: Toàn bộ nữ quan đứng thành ba hàng ngang trước thuyền hướng về hương án (trong khi hát có chuyển đội hình thành hai hàng dọc cho sinh động) tay cầm quạt múa hát theo điệu sử bằng và nói vần. Sau khi hát xong câu giáo đầu tất cả nữ quan chân xuyến quạt để ngang trước ngực chuyển đội hình thành hai hàng dọc di chuyển vào thuyền theo hiệu lệnh của người chỉ huy và tiếng trống sênh rộn rã. Vào đúng vị trí tất cả nữ quan tay cầm quạt vừa múa vừa hát vào cuộc.

Hát vào cuộc: Nữ nhạc đứng thành hai hàng dọc trong thuyền tay cầm quạt để ngang trước ngực tiếp tục hát theo điệu nói lửng và nói vần. Sau đấy vừa múa quạt vừa hát theo điệu giáo đầu (một làn điệu riêng).

*Hát chính cuộc: Có hát vào chầu hát múa quạt hát chèo thuyền (được hát theo điệu riêng) và hát lễ (theo một làn điệu ca trù).

Các nữ nhạc theo hiệu lệnh dắt quạt vào thắt lưng tay cầm mái chèo vừa làm động tác chèo thuyền vừa hát theo tiếng nhạc tiếng trống dìu dặt khoan thai. Trong khi hát múa các nữ nhạc có thể đẩy thuyền tiến lên lùi xuống cho sinh động đội hình có lúc ngồi lúc đứng khi múa thường dùng động tác chân đầu tay là chủ yếu.

Tuy nhiên chèo chải mỗi nơi lại có sự khác nhau về phục trang đạo cụ nội dung lời ca thể thức trình diễn làn điệu hát... tùy theo phong tục và điều kiện của từng địa phương. Ngay trong lễ hội đền Thánh Tến đã nói ở trên chúng ta thấy chèo chải trong mỗi làng đã có sự khác nhau:

Việc chuẩn bị về con người đạo cụ phục trang cho chèo chải ở đây đều theo quy định chung tuy nhiên thể thức và các làn điệu hát chèo chải của từng làng có sự khác nhau. Chèo chải làng ích Hạ có các làn điệu: Hát giáo đầu hát vào cuộc hát hà thanh hát múa quạt hát chèo thuyền múa nhạc hương hát mừng công đức Thánh Tến và hát chúc dân làng. Chèo chải ở làng Phúc Tiên có các làn điệu: hát giáo đầu hát thánh ca hát chúc mừng hái mái Đồng đăng hát chèo đò và hát cạy đò. Đặc biệt các làn điệu hát ở làng Phúc Tiên có nét riêng không lấy giai điệu chèo hoặc ca trù để hát.

Một số trò diễn diễn xướng ở địa phương khác trong tỉnh cũng có phương thức diễn xướng trang phục đạo cụ và nội dung lời ca rất gần với chèo chải như: huyện Đông Sơn có Thủy phường (hoặc trò thủy); Làng Xuân Phả huyện Thọ Xuân có trò chèo thuyền múa mạn và các điệu hát múa chèo bát chèo cạn trong trò Ngô Quốc; Trong lễ hội đền Mưng huyện Nông Cống có chèo cạn... Theo chúng tôi đây chính là chèo chải nhưng được gọi khác đi do nó nằm trong hệ thống trò diễn diễn xướng của địa phương. Ta có thể ví dụ:

- Thủy phường là một diễn xướng dân gian nằm trong hệ thống trò diễn ở Trung tâm trò Rủn thuộc huyện Đông Sơn.

Thủy phường cứ ba năm một lần (vào các năm Thìn Tuất Sửu Mùi) được đưa đến thi diễn ở lễ hội Nghè Sâm nhằm ca ngợi công đức của Cao Hoàng xưa kia đã có công làm một số công trình thủy lợi giúp nhân dân trong vùng sản xuất nghề nông. Đôi khi thủy phường cũng được diễn ở giữa cánh đồng có đông người tham gia để diễn tả sự vui mừng của dân làng khi mùa màng tươi tốt vì do dòng nước mát mang đến.

Thủy phường gồm có 16 người diễn. Mười sáu người này đầu chít khăn đỏ mặc quần trắng (tượng trưng cho nước) áo đỏ thắt lưng xanh bỏ múi bên hông mỗi người cầm một mái chèo đứng thành hai hàng dọc vừa hát vừa múa các động tác chèo thuyền. Ngoài ra còn có một người cầm trống đứng một bên một người cầm chiêng (còn gọi là mèn) đứng ở một bên một người cầm sênh đứng ở sau hàng 3 người này có nhiệm vụ đệm nhạc và giữ nhịp bắt cái cho hát.

Thủy phường được trình diễn bởi nhiều người cùng hát những đoạn bài ca có tên như: Chèo thuyền ru con vịnh quạt vịnh thơ đến bến người nghỉ tôi về chèo thuyền hát dô khoan... Tuy thủy phường không có đạo cụ bằng thuyền nhưng phương thức diễn xướng trang phục nội dung lời ca và trong một số làn điệu hát có nhiều nét giai điệu tương đồng với chèo chải ở Hoằng Hóa như: điệu "chèo thuyền" trong thủy phường gần giống với điệu "hát giáo đầu" trong chèo chải của làng Phúc Tiên hay điệu "chèo thuyền hát dô khoan" trong thủy phường gần giống bài "chèo thuyền" trong chèo chải làng ích Hạ...

- Trò Chèo thuyền múa mạn trong hệ thống trò Xuân Phả khá đặc sắc. Đây là trò diễn trong phần hội của lễ hội làng Xuân Phả xã Xuân Trường huyện Thọ Xuân mở vào ngày 10 tháng 2 hàng năm để thờ thành hoàng làng có công giúp nhà Đinh đánh đuổi giặc ngoại xâm. Theo các cụ cao niên làng Xuân Phả thì đầu tiên lễ hội chỉ có ba trò là "trò kéo hội trò Chạy giải và trò Chèo thuyền múa mạn. Sau này (khoảng nửa thế kỷ XV) mới có thêm năm trò nữa là Hoa Lang Ai Lao Chiêm Thành Tú Huần và Ngô Quốc.

Trò Chèo thuyền múa mạn có 24 cô gái thanh tân tuổi từ mười ba đến mười lăm khoẻ mạnh trong năm nhà không có tang cớ. Phục trang áo tứ thân mớ ba nhiều màu sắc mặc váy lĩnh dài đầu chít khăn đỏ đội nón quai thao có tua bạc.

Đạo cụ: Gồm hai con thuyền lớn bằng gỗ không đáy được sơn nhiều màu sắc sặc sỡ toàn bộ con thuyền được trang trí thành hình một con rồng. Mỗi thuyền có 12 mái chèo đặt ở hai bên mạn thuyền.

Hai thuyền được đặt cạnh và song song với nhau giữa sân đầu thuyền hướng về hương án trong nghè. Mỗi thuyền có 12 cô gái đứng ở hai bên mạn thuyền tay cầm mái chèo vừa làm động tác chèo thuyền vừa hát theo nhịp trống. Lời ca dài nhưng làn điệu ít tuy nhiên do sự sinh động trong nội dung lời ca và tay chèo múa mạn của các cô gái cộng với lòng thành kính của người xem nên trò diễn vẫn đông người và tán thưởng.

Ngoài ra trò Ngô Quốc trong lễ hội này có điệu hát múa chèo bát và chèo cạn cũng có phương thức diễn xướng gần với chèo chải.

- Chèo cạn nằm trong hệ thống chèo thờ của phần hội thuộc lễ hội đền Mưng ở làng Mưng xã Trung Thành huyện Nông Cống cũng là một hình thức hát múa chèo chải.

Đền Mưng thờ vị thành hoàng làng (Thánh Lưỡng) đã có công bảo vệ quận Cửu Chân thời nhà Tùy chống lại nhà Đường và phù hộ độ trì cho dân làng có cuộc sống bình yên. Lễ hội đền Mưng được tổ chức hai kỳ vào các ngày từ mồng hai đến mồng năm tết và mồng một đến mồng tám tháng ba âm lịch hàng năm (chính kỵ là ngày mồng năm tháng ba).

Hệ thống chèo thờ làng Mưng gồm bốn hình thức trình diễn: Chèo cạn chèo đua (đua thuyền giật giải trên sông Lãng) chèo rước (rước thánh trên sông) và chèo thờ (gồm bốn vở: Thục Vân Lưu Quân Bình Tuấn Khanh và Tống Trân Cúc Hoa).

Chèo cạn là một diễn xướng có hát múa chèo thuyền tượng trưng trên con thuyền đặt tại sân đền và có hình thức diễn xướng giống như với chèo chải.

Về đạo cụ: Một con "thuyền rồng" không đáy được trang trí màu sắc lộng lẫy (tuy nhiên tục lệ của lễ hội này kiêng không dùng màu đỏ) 8 mái chèo 16 quạt giấy.

Trang phục: nữ quan áo quần mớ ba mớ bảy khăn dây xà tích của nữ chèo được là lượt cẩn thận.

Người hát múa chèo cạn gồm có 16 nữ (gọi là nữ quan) còn thanh tân tuổi từ mười ba đến mười lăm gia đình khá giả khỏe mạnh gia đình trong năm không có tang cớ.

Phương thức diễn xướng: Trong khoang thuyền có 16 nữ quan đứng thành hai hàng bên mạn thuyền cứ hai người cầm một mái chèo đứng đối mặt nhau chân nhún nhảy nhè nhẹ bước lên lùi xuống nhịp nhàng khoan thai. Tay đưa mái chèo như người dệt vải chuốt sợi nhịp nhàng theo nhịp hát. Nét mặt các nữ quan tươi tắn với "nụ cười cắn chỉ" ánh mắt sáng long lanh toát lên vẻ thanh thoát nhẹ nhàng.

Các làn điệu hát trong chèo cạn tuy không nhiều nhưng mỗi làn điệu đều có giai điệu riêng. Âm điệu của chèo cạn không luyến láy bay bổng nhưng cấu trúc hình thức của bài mang tính hoàn chỉnh như một ca khúc và tất cả đều mang âm hưởng của dân ca xứ Thanh nên rất dễ đi vào lòng người.

Hình thức hát múa chèo thuyền trên cạn như chèo chải ở xứ Thanh một số tỉnh khác trong cả nước cũng có.

ở vùng biển Nam Trung Bộ có tục hát bả trạo một hình thức hát múa tín ngưỡng gắn với tục thờ cá Ông (hoặc gắn với lễ Nghinh cô ở Long Hải) của cư dân vùng biển rất gần với chèo chải xứ Thanh. Hát bả trạo không có đạo cụ là cái thuyền song cũng có 8 hay 12 hoặc 16 con trạo (tức bạn chèo) xếp thành hai hàng dọc để hát. Thể thức hát chia thành 4 chặng như: Chặng 1 là hò xuất bến chặng 2 là hò kéo lưới chặng 3 là đua thuyền vượt sóng to gió lớn và chặng 4 là thuyền bình an về bến. Hát bả trạo là loại hình văn hóa nghệ thuật chung của hầu hết các ngư dân ven biển xứ Quảng tuy nhiên mỗi vùng có một cách thể hiện độc đáo sắc thái riêng.

ở Lũng Giang Tiên Du Bắc Ninh có chèo Chải hê bắt nguồn từ tục kết chạ của hai làng quan họ Lũng Giang và Tam Sơn. Cũng gọi là chèo chải nhưng đây là một vở chèo dân gian nên khác chèo chải ở Thanh Hóa về thể loại nội dung đạo cụ và phương thức diễn xướng. Kết cấu chèo chải hê thành vở chèo chia làm hai phần rõ rệt: Phần một kể chuyện về sáu người con hiếu thảo rút từ tích truyện "Nhị thập tứ hiếu" của Trung Quốc kể về 24 người con hiếu thảo: Bắt cá hái rau đánh hổ cứu cha đi rừng đẵn gỗ về tạc tượng mẹ... Phần hai nói tới câu chuyện xung quanh con thuyền. Khi hát bốn người nhà cái ngồi phía trên cùng vài người khác chơi trống mõ. Sáu người nhà con phía dưới cởi trần đóng khố mỗi người cầm một roi (gậy) giữa sơn son hai đầu sơn vàng buộc chỉ ngũ sắc. Khi diễn xướng điệu múa quyện với lời ca tiếng trống mõ tạo nên không gian văn hóa tươi tắn sinh động.

Tuy hình thức hát múa chèo chải cũng có trên cả nước nhưng chúng ta thấy nó chỉ lác đác có ở một vài tỉnh và mỗi tỉnh cũng chỉ có ở một điểm. Chèo chải ở Thanh Hóa khá phong phú đa dạng và gần như hầu hết các huyện miền xuôi trong tỉnh đều có. Tuy mỗi nơi mỗi địa phương có nội dung đạo cụ phương thức diễn xướng... đôi chỗ khác nhau nhưng đều có một điểm chung là hình thức vừa hát múa vừa chèo thuyền trên cạn (trên sân rộng) với nội dung ca ngợi công đức của những người có công với dân làng đất nước. Đặc biệt kết cấu làn điệu hát trong các chặng hát của chèo chải ở mọi nơi đều có bài "chèo thuyền" và một số làn điệu trong chèo chải có giai điệu gần giống nhau điều này biểu hiện sự giao lưu văn hóa tương đồng về thể loại. Về phương diện nghệ thuật chèo chải đã kết tinh được những điệu hát trữ tình đậm đà mang sắc thái dân ca xứ Thanh hoà quyện trong tiết tấu rộn rã của nhạc cụ gõ và những động tác lao động chèo thuyền nhịp nhàng duyên dáng.

Chính vì những điều đã nêu ở trên chúng ta có thể khẳng định Chèo chải là một thể loại hát lễ nghi tín ngưỡng độc đáo của xứ Thanh! Nó không những có giá trị về nội dung nghệ thuật hát múa dân gian mà còn có giá trị giáo dục sâu sắc đối với mọi thế hệ chúng ta về truyền thống đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" "ăn quả nhớ người trồng cây" của nhân dân ta. Thiết nghĩ sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như tất cả chúng ta - những người yêu quý vốn nghệ thuật truyền thống của cha ông để lại hãy có biện pháp tích cực chung tay bảo tồn và phát huy những giá trị của nó góp phần phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thanh trong thời đại ngày nay.

                                                                      N.L

Tài liệu tham khảo:

1-Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh tập 1 (Lê Huy Trâm - Hoàng Anh Nhân). Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội (2001).

2-Dân ca Thanh Hóa (Nhóm Lam Sơn).Nxb Văn học Hà Nội (1965).

3-Một số bài viết trên báo điện tử TT&VH Cuối tuần.

LỄ KHAI ẤN ĐỀN TRẦN

NÉT VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO Ở XỨ THANH

                                         Thạc sỹ sử học VŨ THỊ HƯỜNG

                                       Ban Quản lý di tích-Danh thắng Thanh Hóa

Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn

Thời Trần - một trong những thời đại tiêu biểu cho tinh thần hòa hợp đoàn kết dân tộc tinh thần quyết chiến chống ngoại xâm giành thắng lợi vĩ đại. Những quốc sách tiến bộ về dựng nước và giữ nước đã giúp cho nhà Trần đạt đến đỉnh cao cả về văn trị và võ trị tạo nên hào khí "Đông A" của nước Đại Việt trong gần hai thế kỷ.

Trong sự nghiệp hiển hách của nhà Trần Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn) có vai trò đặc biệt quan trọng. Ông là bậc danh nhân tài đức trọn vẹn một vị chủ tướng luôn nêu tấm gương sáng ngời về lòng trung nghĩa tinh thần đoàn kết và biết dựa vào sức mạnh của dân biết gạt bỏ hiềm khích riêng tư và lấy đại nghĩa làm trọng nêu cao tinh thần "quyết chiến" không sợ kẻ thù hung bạo. Đó là cội nguồn của thắng lợi.

Cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn gắn liền với cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông với những chiến công vĩ đại của dân tộc ta thế kỷ XIII. Khi quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta lần thứ nhất (1258) ông được cử chỉ huy các tướng giữ biên cương phía Bắc. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288) ông được cử làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân đánh giặc. ở cương vị này ông vừa là nhà chiến lược hoạch định đường lối tiến hành chiến tranh giữ nước vừa là người trực tiếp tổ chức thực hiện cuộc kháng chiến chống xâm lược giành thắng lợi lẫy lừng. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai khi ở vào thế nguy cấp Trần Hưng Đạo đã mưu trí quyền biến tổ chức cuộc rút lui tài tình từ Thiên Trường vào Thanh Hóa. Trong cuộc rút lui đầy nguy hiểm này (vì quân Nguyên truy đuổi) chính Trần Quốc Tuấn là người được triều đình tin cậy giao trọng trách bảo vệ và đưa 2 vua đi lánh nạn. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được ủy thác đưa các vua Trần vào Thanh Hóa và chọn Thổ Khối làm địa điểm lui binh chiến lược ngày đêm luyện tập binh sỹ củng cố quân lương... chờ thời. Hưng Đạo Đại vương xuất thần tiến quân ra Bắc và làm nên chiến thắng Tây Kết Hàm Tử - Chương Dương đưa cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ 2 đến thắng lợi hoàn toàn.

Mùa thu năm Canh Tý (ngày 20-8 âm lịch) Thượng Quốc công Bắc Bình Đại nguyên soái Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn qua đời. Sau khi ông mất vua đã phong cho ông tước Hưng Đạo Đại vương. Triều đình và nhân dân trong cả nước lập đền thờ. Làng Thổ Khối xã Hà Dương huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa cũng lập đền thờ ông ngay bên dòng sông Tống. Cho đến nay trong tâm thức của nhân dân ta Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn không chỉ là vị anh hùng văn võ song toàn có công lớn trong kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông mà ông còn được nâng lên hàng Thánh - Đức Thánh Trần - Đức Thánh Cha - với nguồn gốc từ người nhà Trời "Thanh Tiên Đồng Tử" giáng sinh vào nhà An Sinh vương Trần Liễu. Đức Thánh Trần sống oai hùng cứu dân cứu nước chết linh thiêng phù hộ cho nước cho dân. ấn chỉ của ngài được xem như là bùa hộ mệnh giúp mọi người mọi nhà bình an làm ăn phát đạt thịnh vượng may mắn trong cuộc sống. Theo truyền thuyết và kể lại của các cụ cao niên trong làng từ xa xưa vào đêm 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm làng thường tổ chức Lễ Khai ấn tại ngôi đền thờ ông với ý nghĩa ban tài ban lộc cho dân làng. Nhưng với nhiều lý do khác nhau lễ Khai ấn Đền Trần bị gián đoạn không được duy trì một cách thường xuyên.


Lễ khai ấn Đền Trần

Hàng năm theo thông lệ Lễ hội chính Đền Trần được tổ chức vào các ngày 19 20 21 tháng 8 âm lịch. Lễ hội Đền Trần nhằm bảo tồn phát huy những giá trị di sản văn hóa giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của ông cha ta ở thời Trần. Mặt khác phát huy truyền thống đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" động viên các tầng lớp nhân dân địa phương phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống xây dựng quê hương giàu đẹp văn minh.

Lễ Khai ấn Đền Trần tại làng Thổ Khối được xem là "bảo tàng sống" về văn hóa dân gian một nét văn hóa độc đáo ở xứ Thanh đang được bảo lưu gìn giữ. Trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày nay lễ hội này đã và đang được khôi phục và phát huy giá trị. Lễ hội Đền Trần theo tục lệ của địa phương nói chung lễ Khai ấn nói riêng được tổ chức tại Đền Trần không chỉ có giá trị nghiên cứu trên nhiều phương diện mà còn làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong và ngoài huyện sẽ là điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách gần xa.

Cũng như nhiều lễ hội khác của xứ Thanh lễ Khai ấn Đền Trần ở Hà Trung được tổ chức vào đêm 14 tháng Giêng theo nghi lễ truyền thống và cũng được gắn với phần Hội. Trước khi vào lễ chính ngay buổi chiều hôm đó nhiều hoạt động văn hóa thể thao múa rồng múa lân diễn ra thu hút đông đảo thanh thiếu niên trong vùng làm cho không khí vào hội trở nên tưng bừng nhộn nhịp... Chập tối từ tám giờ các chương trình biểu diễn văn nghệ đặc sắc được lựa chọn từ các câu lạc bộ của các làng văn hóa đến "thi thố" với nhau trước đông đảo khán giả càng làm cho không khí đêm hội thêm náo nhiệt để rồi vào khoảng 10 giờ đêm kết thúc trong cảm giác háo hức bâng khuâng...

Giờ Khai ấn được thực hiện vào đúng 12 giờ đêm. Trước đó 15 phút tại cung cấm (nơi đặt tượng Đức Thánh Trần) ban tổ chức chuẩn bị các điều kiện để tiến hành nghi lễ Khai ấn. Ngay sau đó là lễ dâng sớ được thực hiện. Những người tham gia nghi lễ trong trang phục lễ hội chỉnh tề. Lễ dâng sớ gồm một mâm cỗ chín (có xôi thủ lợn hoặc gà) mâm lễ chay gồm: hương hoa đăng trà quả thực... Sau khi ổn định tổ chức chủ lễ là vị đại diện cho chính quyền xã trang trọng đọc lời khai mạc giới thiệu đại biểu nội dung buổi lễ và chúc phúc cảm ơn quý khách gần xa đã tới dự lễ. Đội hành lễ từ từ đi vào tiền đường qua trung đường và dừng lại với lòng thành kính trang nghiêm để dâng sớ lên Đức Thánh Trần ngự ở hậu cung. Vị đại diện chính quyền địa phương mời đại diện lãnh đạo các đoàn đại biểu của tỉnh (nếu có) của huyện của xã và một cụ cao niên của làng tham gia khai ấn tại cung cấm. Ông trưởng ban thường trực đền vào cung cấm khai ấn. Mỗi vị đại diện chỉ đúng một lá ấn. Các lá ấn được đóng xong và bỏ vào hòm đựng ấn. Ban thường trực đền tiến hành rước ấn ra cung tiền đường đóng ấn và khấn tấu. Ra khỏi cung cấm hai ông trong trang phục áo the khăn xếp trên tay nâng một bát hương đi trước một ông nâng hòm đựng ấn đi sau tiếp theo là đại diện các đoàn đại biểu dự lễ các thành viên khác (lễ khai ấn tại cung cấm được diễn ra trong điệu nhạc lưu thủy hành văn nhạc dâng hương... nổi lên rộn rã cho đến khi ấn được rước ra đặt tại cung tiền đường). Địa phương cử ra một người có giọng đọc tốt để đọc chúc văn. ấn được đặt tại vị trí trang trọng tại cung tiền đường nhà đền bắt đầu nghi lễ dâng sớ khai ấn trong giọng đọc chúc văn vang lên trầm ấm... Sau bài phát biểu của vị đại diện chính quyền địa phương ban tổ chức mời đại biểu lên dâng hương. Sau lễ dâng hương ban tổ chức tiến hành phát ấn cho đại biểu. Tiếp đó nhân dân và du khách có mặt tại buổi lễ lần lượt dâng hương và được ban tổ chức phát lá ấn. Lễ phát ấn được tiến hành trong đêm 14 và đến hết ngày Rằm tháng Giêng. Những người đến dự lễ đều vui vẻ rạng rỡ vì có được một lá ấn để cầu tài cầu lộc cầu may đầu xuân và cả năm mọi việc đều tốt đẹp.

Sau lễ phát ấn các đội tế (vũ công nhạc công) trong trang phục sắc tộc tiến hành nghi lễ: tế dâng hương dâng hoa dâng rượu... Đêm lung linh ánh điện rực rỡ sắc mầu những điệu múa uyển chuyển hòa quyện với âm thanh rộn rã tưng bừng du khách như được đắm mình vào thế giới huyền ảo vẳng bên tai tiếng ngựa hý tiếng hô đồng thanh "Sát Thát" (giết giặc Nguyên - Mông) hào khí "Đông A"- nhà Trần cách đây tám thế kỷ vọng về đêm hội.

Tiếp đó là phần lễ do các nam thanh nữ tú được dân làng Cao Lũng Đoài thôn Đông thôn Thổ Khối cử ra thực hiện. Mỗi làng dâng lên hai mâm cỗ (gọi là lễ chín lễ chay). Những người được cử vào đội dâng lễ ai nấy đều vui mừng trang trọng tỏ lòng thành kính dâng lên Đức Thánh Trần những món "sơn hào hải vị" để tri ân công đức của ngài trong ngày hội lớn đầy ắp niềm vui tiếng cười.

Những ngày sau đó người trong làng ngoài xã đến với Lễ hội khai ấn Đền Trần đông nườm nượp. Các hoạt động văn hóa văn nghệ thể thao diễn xướng rước nước đua thuyền trên sông Tống... tiếp tục diễn ra ở nhiều điểm khác nhau trong xã làm cho đời sống văn hóa ở địa phương thêm phong phú thi vị đầy ý nghĩa...

Đền thờ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo ở làng Thổ Khối xã Hà Dương đó được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia hiện nay đang được quy hoạch và lập kế hoạch trùng tu tôn tạo để phát huy giá trị. Lễ hội Khai ấn Đền Trần gắn liền với di tích đó và đang được khôi phục lại là một di sản văn hóa quý giá không chỉ của huyện Hà Trung mà còn là nét văn hóa độc đáo "có một không hai" của xứ Thanh sẽ là điểm đến hấp dẫn của du khách thập phương.

                                                                                V.T.H

More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TIN VĂN NGHỆ


 

TRAO GIẢI CUỘC THI "SÁNG TÁC CA KHÚC VỀ THANH HÓA"

        Tối ngày 19 - 6 - 2010 tại Đài Phát thanh - Truyền hình Thanh Hóa Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa phối hợp với Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tổ chức trao giải cuộc thi "Sáng tác ca khúc về đất và người Thanh Hóa 2008 - 2009".

Đến dự trao giải có các đồng chí Vương Văn Việt Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Thắng ủy viên Ban Thường vụ Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Hà Văn Thương Chủ tịch MTTQ tỉnh; Phạm Văn Phượng Tỉnh ủy viên Trưởng ban Dân tộc tỉnh cùng các đồng chí lãnh đạo đại diện cho một số Sở cơ quan ban ngành trong tỉnh...

Qua hai năm phát động với hơn 100 tác phẩm của 87 tác giả trong và ngoài tỉnh gửi về dự thi BTC đã chọn ra được 11 tác phẩm trao giải trong đó có hai giải nhì hai giải ba và 7 giải khuyến khích. Đây đều là những sáng tác mới có chất lượng cao về nội dung và nghệ thuật ca ngợi quê hương tôn vinh những giá trị cao đẹp của cuộc sống đất nước cà con người Thanh Hóa.

                                                                                     Lưu Nga




 

THANH HÓA TỔ CHỨC LỚP "BỒI DƯỠNG NĂNG KHIẾU VIẾT VĂN TRẺ"

       Trong các ngày từ mùng 5 đến 11 tháng 7 năm 2010 tại thành phố Thanh Hóa Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa phối hợp với Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam Sở Giáo dục - Đào tạo và Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa tổ chức lớp "Bồi dưỡng năng khiếu viết văn trẻ" cho thiếu nhi các dân tộc thiểu số Thanh Hóa. 18 em tuổi từ 13 đến 15 thuộc 4 dân tộc anh em: Mường Thái Thổ H mông trong tỉnh đã dự lớp. Lớp học đã được: nhà văn Cao Duy Sơn Phó Chủ tịch Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam Tổng Biên tập tạp chí Văn hóa các dân tộc; Y Phương Trưởng ban miền núi Hội Nhà Văn Việt Nam nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa; nhà văn Hoàng Trọng Cường Phó Chủ tịch Hội VHNT Thanh Hóa Tổng Biên tập tạp chí Xứ Thanh; nhà văn Nguyễn Văn Đệ Trưởng ban Văn xuôi; nhà văn Hà Thị Cẩm Anh Trưởng ban Văn nghệ miền núi; nhà thơ Đào Phụng Trưởng ban Thơ Hội VHNT Thanh Hóa; nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân... tham gia giảng bài và giới thiệu những nội dung cơ bản của Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về Phát triển Văn học nghệ thuật trong tình hình mới; tình hình văn học Thanh Hóa hiện nay.v.v...

Kết thúc lớp học các em đã sáng tác được 8 truyện ngắn 36 bài thơ... Đây là những tín hiệu khả quan cho một sự phát triển văn học miền núi và dân tộc tỉnh Thanh trong tương lai.

                                                                               Lâm Bằng

More...