KỶ NIỆM CÁCH MẠNG THÁNG 8 VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Triều đình Huế trước và sau


bức tối hậu thư của Việt Minh



                                                                   NGUYỄN XUYẾN



         Vào những ngày đầu tháng Tám năm 1945 không khí ở kinh đô Huế nhộn nhịp khác thường... Những cuộc biểu tình hàng ba bốn chục người dương cao cờ đỏ sao vàng và hô to các khẩu hiệu: "Đả đảo phát xít" "ủng hộ Việt Minh"v.v... Chiều ngày 22 tháng 8 Việt Minh cho người leo lên Kỳ đài hạ cờ vàng của nhà vua và treo cờ đỏ sao vàng... Khí thế Cách mạng đang lên như trào dâng thác lũ đã làm cho nhà vua vô cùng hoảng sợ...

Trước bức tối hậu thư của Việt Minh gửi cho mình vua Bảo Đại không dám chần chừ mà triệu tập gấp một cuộc họp nội các dưới quyền chủ tọa của nhà vua. Cuộc họp gồm có: Trần Trọng Kim Trần Văn Chương Trần Đình Nam Trịnh Đình Thảo Vũ Văn Hiền và Nguyễn Hữu Thỉ. Về tối hậu thư của Việt Minh hội nghị đồng ý chấp nhận các điều kiện của Việt Minh. Về dự thảo Chiếu thoái vị của vua Bảo Đại chỉ có một ý kiến của Trần Đình Nam nên bỏ bớt bốn chữ "nồi da xáo thịt" nói "Nam Bắc phân tranh" là đủ rồi. ý kiến đó được hội nghị tán thành. Bản dự thảo Chiếu thoái vị của vua Bảo Đại được thông qua một cách nhanh chóng. Sau đó vua Bảo Đại chỉ định ông Phạm Khắc Hòe Đổng lý ngự tiền văn phòng của triều đình đến trực tiếp gặp đại diện Việt Minh trả lời sự chấp nhận 3 điểm của nhà vua mà Việt Minh đã nêu trong tối hậu thư:

1-Nhà vua phải giao lại cho chính quyền cách mạng đội lính khố vàng với tất cả trang bị vũ khí đạn dược.

2-Nhà vua phải báo cho Nhật biết là triều đình đã trao tất cả quyền bính cho chính quyền cách mạng.

3-Nhà vua phải điện ra lệnh cho tất cả các tỉnh trưởng phải giao chính quyền cho cách mạng tức Việt Minh và phải báo trước 13 giờ 30 ngày 22 tháng 8 năm 1945.

Đêm 22 tháng 8 năm 1945 vua Bảo Đại nhận được bức điện của ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ từ Hà Nội đánh vào: "Một chính phủ nhân dân cách mạng lâm thời đã thành lập. Chủ tịch là cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu đức vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập nước nhà". Những vị ký tên trong bức điện gồm có: Nguyễn Xiển Nguyễn Văn Huyên Ngụy Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tưởng.

Sáng ngày 29 tháng 8 nhân dân Huế tổ chức mít tinh trọng thể ở sân vận động để nghênh đón phái đoàn Chính phủ Cách mạng từ Hà Nội vào nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại phái đoàn gồm có ông Trần Huy Liệu trưởng đoàn và hai ông Nguyễn Lương Bằng Cù Huy Cận.

Đúng 4 giờ chiều ngày 30 tháng 8 xe phái đoàn Chính phủ Cách mạng tiến thẳng vào cửa chính giữa Ngọ Môn trước những tiếng hoan hô nhiệt liệt của hơn 5 vạn nhân dân nội ngoại thành Huế.

Trong buổi lễ thoái vị của mình Bảo Đại đọc tờ Chiếu thoái vị một cách xúc động có khi tắt cả tiếng:

"Hạnh phúc của dân Việt Nam độc lập nước của Việt Nam muốn đạt mục đích ấy Trẫm đã tuyên bố Trẫm sẵn sàng hy sinh hết tất cả mọi phương diện và cũng vì mục đích ấy nên Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải có ích cho Tổ quốc. Xét thấy điều bổ ích nhất cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân Trẫm đã tuyên bố ngày 22 - 8 vừa rồi rằng trong giờ nghiêm trọng này đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết.

Nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi Quốc hội thì không thể tránh khỏi nạn Nam Bắc phân tranh đã thống khổ cho quốc dân lại thuận lợi cho người ngoài lợi dụng cho nên mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ tới công lao liệt thánh vào sinh ra tử trong gần 400 năm để mở mang giang sơn đất nước từ Thuận Hóa tới Hà Tiên mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong hai mươi năm mới gần gụi được quốc dân được mấy tháng chưa làm được gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền quốc dân lại cho một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.

Trong khi trao quyền cho chính phủ mới Trẫm chỉ mong ước có ba điều sau đây:

- Đối với tôn miếu và lăng tẩm của Liệt Thánh chính phủ mới nên xử trí thế nào cho có sự thể.

- Đối với các đảng phái đã từng phấn đấu cho nền độc lập quốc gia nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng Trẫm mong chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng Chính phủ Dân chủ Cộng hòa nước ta đã xây đắp ở trên sự đoàn kết của toàn thể quốc dân.

- Đối với quốc dân Trẫm khuyên hết tất cả các giai cấp các đảng phái cho đến cả người Hoàng phái cũng vậy đều nên hợp nhất mà ủng hộ triệt để Chính phủ Dân chủ giữ vững nền độc lập của nước chứ đừng vì lòng quyến luyến Trẫm và Hoàng gia mà sinh ra chia rẽ.

Còn về phần riêng Trẫm sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc đã biết bao ngậm đắng nuốt cay từ nay Trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập chứ Trẫm nhất quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của Hoàng gia mà lung lạc quốc dân nữa.

Việt Nam độc lập muôn năm!

Dân chủ Cộng hòa muôn năm!"

Khi Bảo Đại vừa dứt lời thì trên kỳ đài cờ vàng của nhà vua từ từ hạ xuống và lá cờ đỏ sao vàng năm cánh được kéo lên giữa những tiếng hoan hô như sấm cắt ngang bởi 21 phát súng lệnh vang lên chào quốc kỳ mới của Tổ quốc hồi sinh. Tiếp đến Bảo Đại đưa hai tay lên trao cho Trưởng phái đoàn đại biểu Chính phủ chiếc quốc ấn bằng vàng nặng 11 2368kg và thanh quốc kiếm để trong vỏ bằng vàng nạm bạc.

Rồi ông Trần Huy Liệu đọc lời phát biểu tiếp nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại nhấn mạnh thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của biết bao chiến sỹ và dân chúng mấy chục năm nay và tuyên bố chấm dứt vĩnh viễn chế độ quân chủ kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước đoàn kết xung quanh chính phủ để giữ vững nền độc lập cho dân tộc quyền làm chủ của nhân dân.

Hàng vạn nhân dân tham dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại vỗ tay và hô khẩu hiệu vang lên cả một góc trời: "Việt Nam độc lập muôn năm!" "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!".

Cuối cùng theo đề nghị của Bảo Đại ông Cù Huy Cận thay mặt Đoàn đại biểu Chính phủ tặng Bảo Đại một chiếc huy hiệu cờ đỏ sao vàng và nói với đồng bào: "Chính phủ lâm thời gắn cho công dân Vĩnh Thụy huy hiệu cờ đỏ sao vàng xin đồng bào hoan nghênh công dân Vĩnh Thụy".

Chỉ một ngày sau đó ngày 31 - 8 Cựu hoàng Bảo Đại không những không bị chịu số phận bi đát như vua Louis XVI trong Cách mạng Pháp năm 1789 hoặc Sa hoàng Nga Nicolai II trong Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mà còn nhận được điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời mời ra làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 2 - 9 Cựu hoàng Bảo Đại lên đường ra Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới theo điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời.

                                                                                N.X

More...

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                 ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP


           TƯ TƯỞNG VÀ CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ


         TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ


 

                                      Thượng tướng Giáo sư HOÀNG MINH THẢO



         Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa những tinh hoa truyền thống của dân tộc. Lãnh đạo quân đội ta suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến Ông đã dẫn dắt quân đội vượt qua muôn vàn khó khăn đánh bại mọi chiến lược quân sự của các viên tướng xâm lược của hai đế quốc to là Pháp và Mỹ để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và đến ngày toàn thắng trọn vẹn. Tài thao lược của Ông được thể hiện qua những quyết sách với nhãn quan sâu rộng nhạy bén và sáng tạo quyết đoán và quả cảm Ông nắm vững quy luật đặc thù của chiến tranh nhân dân Việt Nam đề ra mưu kế chiến lược truyền cảm cho bộ đội những nguyên tắc về nghệ thuật nắm thời cơ yếu tố bất ngờ nghi binh lừa địch đồng thời vận dụng thích hợp quy luật phổ biến về chiến tranh và kết thúc chiến tranh bằng những đòn đánh tiêu diệt giành thắng lợi quyết định.

Trong kháng chiến chống Mỹ đi vào xây dựng lực lượng để giáo dục cho quân đội Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết lý luận về đường lối quân sự của Đảng nêu cao tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh: Chiến tranh nhân dân là chính nghĩa chống xâm lược. Đó là sức mạnh chính trị tinh thần của toàn dân (...).

Trong lúc cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam diễn ra gay go ác liệt miền Bắc đang bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa xây dựng cơ sở vật chất để tạo thực lực cho cả nước Ông đã sớm đề xuất với Bộ Chính trị cho mở con đường chiến lược Trường Sơn. Con đường chi viện Bắc - Nam mang tên Hồ Chí Minh được hình thành từ đó (tháng 5 năm 1959) và phát triển theo dòng cách mạng tiếp sức cho miền Nam đến ngày toàn thắng. Tư tưởng lớn về đánh tiêu diệt chiến lược ở Ông luôn gắn liền với việc mở đường cho các binh đoàn chủ lực. Không có đường cơ động không thể có tác chiến binh chủng hợp thành và do đó không thể đánh tiêu diệt chiến lược giành thắng lợi quyết định. Về sau này trong mọi chiến dịch quan trọng điều mà Ông rất quan tâm bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi đó là vấn đề làm đường.

Cùng với những đóng góp rất lớn của Ông về quyết sách chiến lược xây dựng và tổ chức các lực lượng vũ trang nhân dân Ông còn rất quan tâm chỉ đạo cách đánh chỉ đạo chiến thuật cho bộ đội.

Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam đẩy mạnh "chiến tranh cục bộ" chúng ỷ lại vào hỏa lực mạnh phương tiện cơ động cao. Để đánh bại được quân Mỹ từ thực tiễn chiến trường bộ đội Tây Nguyên đã đề ra chiến thuật "chốt kết hợp với vận động". Khi chúng tôi đem chiến thuật này ra Bắc báo cáo Ông và Bộ Tổng Tham mưu góp ý và sửa lại là "vận động tiến công kết hợp với chốt" thể hiện tinh thần tiến công mạnh mẽ hơn. Nhờ đó mùa đông năm 1967 trong chiến dịch Đắc Tô I bộ đội Tây Nguyên đã thành công và hoàn thiện chiến thuật "vận động tiến công kết hợp với chốt" mở ra khả năng mới đánh tiêu diệt những đơn vị quân Mỹ trên chiến trường. Bộ đội ta đã dùng mưu lừa hai lữ đoàn Mỹ và một lữ đoàn ngụy vào nơi ta định dử dùng chiến thuật "vận động tiến công kết hợp với chốt" đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 là lữ đoàn cơ động chiến lược của Mỹ làm cho quân Mỹ choáng váng từ đó đã chùn bước tiến sâu vào các căn cứ của ta.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 Ông khẳng định sự đúng đắn sáng suốt của Bộ thống soái về chủ trương nhưng Ông lại không đồng tình cách điều hành tổng khởi nghĩa - tổng tiến công kéo dài tiếp tục các đợt 2 đợt 3 khi không còn yếu tố bất ngờ nữa địch sẽ gượng dậy ta sẽ tổn thất.

Vào giữa năm 1972 sau khi các chiến dịch Quảng Trị Bắc Tây Nguyên miền Đông Nam Bộ đã mở ra Ông sớm dự liệu được khả năng "Sắp tới Mỹ có thể cho không quân kể cả không quân chiến lược B52 đánh phá trở lại miền Bắc". Từ đó Ông gấp rút cho hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến và tài liệu hướng dẫn cách đánh B52 để bộ đội luyện tập. Đồng thời Ông cũng yêu cầu Quân chủng Phòng không - Không quân xác định chỉ tiêu bắn rơi B52 để từ đó có những quyết sách chiến lược kịp thời.

Nhớ tới lời tiên tri của Hồ Chủ tịch: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua" trong một buổi họp quan trọng của Bộ Quốc phòng tháng 11 năm 1972 Đại tướng Tổng Tư lệnh khẳng định: "Âm mưu của Mỹ cho B52 đánh Thủ đô Hà Nội linh hồn của cuộc kháng chiến sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô". Sau đó một tháng tại đại bản doanh "Nhà Rồng" ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội Ông đã theo dõi chỉ đạo từ đầu đến cuối trận đánh lịch sử 12 ngày đêm của lực lượng phòng không - không quân đánh thắng cuộc tiến công chiến lược bằng B52 của đế quốc Mỹ làm nên "Điện Biên Phủ trên không" lịch sử mới buộc quân Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Sau khi hoàn thành được một nửa chiến lược mà Bác Hồ di huấn là: "Đánh cho Mỹ cút" ta tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chiến lược còn lại là: "Đánh cho ngụy nhào" Ông đã gấp rút đề nghị với Bộ Chính trị về việc xây dựng các "quả đấm thép" sau ngày ký kết Hiệp định Pari. Được Bộ Chính trị đồng ý khi hội đủ các điều kiện cần thiết ba quân đoàn chủ lực cơ động: Quân đoàn 1 thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1973 tại miền Bắc tiếp đó Quân đoàn 2 ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại chiến trường Tây Bắc Huế và Quân đoàn 4 ngày 20 tháng 7 năm 1974 cũng tại chiến trường miền Đông Nam Bộ lần lượt ra đời.

Nhờ đó khi chiến cục Đông - Xuân 1974-1975 bước vào giai đoạn quyết định thấm nhuần tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976 và nếu có thời cơ thì giải phóng miền Nam trong năm 1975 trước hết giải phóng Tây Nguyên Ông dùng mưu kế chiến lược thật tuyệt vời do việc thành lập các quân đoàn mà hình thành: giăng địch ra hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến (Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn) để hở quãng giữa (ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên) bằng cách cho áp sát Quân đoàn 1 ở bờ Bắc sông Bến Hải; Quân đoàn 2 ở Tây Huế; Quân đoàn 4 ở Đông Nam Bộ - Bắc Sài Gòn. Địch buộc phải phòng ngự chiến lược và bố trí hai sư đoàn dự bị chiến lược ở Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn để sẵn sàng đối phó với ta.

Với hình thái chiến trường như vậy địch bộc lộ sơ hở ở quãng giữa nhất là Tây Nguyên. Mặc dù biết rõ vị trí chiến lược của Tây Nguyên nhưng địch cho rằng ở đây ta chỉ có hai sư đoàn thì cũng chẳng làm được gì lớn với những tập đoàn cứ điểm vững chắc ở Kon Tum Pleiku.

Mưu kế chiến lược của Ông là để tạo ra thế chiến lược cho Tây Nguyên. Ghìm địch ở hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến nhằm tạo thế có lợi cho quãng giữa là Tây Nguyên. Đến đây Ông cùng với Bộ thống soái quyết định chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975. Trên hướng tiến công chủ yếu lại chọn Buôn Ma Thuật làm trận mở màn then chốt quyết định. Đánh vào chỗ yếu vào nơi hiểm yếu đây chính là đòn bất ngờ chí mạng đối với địch.

Khi đã giữ chặt được sư dù và sư thủy quân lục chiến là những lực lượng cơ động chiến lược của địch ở hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến thì đó là thời cơ để ta tiến công địch ở Tây Nguyên. Điều hay hơn nữa để phá vỡ Tây Nguyên một cách chắc chuyển hóa cả thế và lực Ông đã bất ngờ nhanh chóng tăng thêm cho Tây Nguyên hai sư đoàn nữa (Sư đoàn 968 và 316). Tây Nguyên từ chỗ có hai sư đoàn (Sư đoàn 10 và 320) trở thành có bốn sư đoàn và một số trung đoàn độc lập cộng thêm sự phối hợp của Sư đoàn 3 Sao Vàng - Quân khu đã trở thành một tập đoàn chiến lược - một "quả đấm thép" thực sự.

Chiến dịch Tây Nguyên được mở màn với trận then chốt - giải phóng Buôn Ma Thuật và đòn then chốt tiếp theo đánh bại phản kích tiêu diệt sư đoàn 23 của địch tạo thành trận then chốt quyết định đã làm tê liệt mọi hoạt động tác chiến của chúng trên chiến trường Tây Nguyên thậm chí gây hoảng hốt đến tận sào huyệt ngụy Sài Gòn. Từ đây đã dẫn đến một sự đột biến chẳng còn biện pháp gì hơn Nguyễn Văn Thiệu đành phải ra lệnh "tùy nghi di tản" cho quân rút bỏ Tây Nguyên hòng về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung. Kon Tum Pleiku không đánh mà thắng đến khi toàn bộ quân địch rút chạy từ Kon Tum Pleiku trên đường số 7 đến Cheo Reo Củng Sơn rồi đến tận Tuy Hòa thì bị tiêu diệt và bị bắt sống. Đúng như tiên đoán của Đại tướng khi tiễn tôi vào chiến trường ở Hà Nội cũng đã nói: "Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên chúng sẽ về co cụm ở các tỉnh ven biển miền Trung". Một dự đoán chiến lược mà nhờ đó Mặt trận đã được Bộ chỉ đạo truy kích tiêu diệt địch kịp thời.

Từ thắng lợi của thế chiến dịch đã nhanh chóng tạo thành thắng lợi của thế chiến lược tạo ra một cục diện chiến tranh mới đẩy địch vào thế hỗn loạn về chiến lược. Ngay giữa lúc đó Ông đã chỉ đạo mở chiến dịch kế tiếp Huế - Đà Nẵng. Chiến thắng nối tiếp chiến thắng địch bị tan vỡ từng mảng trong từng ngày một cách nhanh chóng đột ngột. Như một phản ứng dây chuyền lan ra làm suy sụp tinh thần quân địch và rối loạn chỉ huy từ trung ương đến cơ sở.

Thời cơ lịch sử đã đến cả nước ra quân bước vào trận quyết chiến chiến lược: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Từ Tổng hành dinh Ông đã chỉ huy các mũi tiến công của đại quân ta với phương châm "Thần tốc táo bạo bất ngờ chắc thắng". Mệnh lệnh của Ông đã trở thành tiếng kèn xung trận:

"Thần tốc thần tốc hơn nữa; táo bạo táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng".

Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ 17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975 năm cánh quân với sức mạnh của 15 sư đoàn tiến về Sài Gòn. Đến 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975 xe tăng của ta tiến thẳng vào Dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ Bộ thống soái địch. Lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Phủ Tổng thống ngụy báo hiệu ngày toàn thắng hoàn thành nhiệm vụ chiến lược của Bác Hồ trao cho là: đánh cho ngụy nhào kết thúc 30 năm kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

                                                      Hà Nội tháng 4 năm 2003

                                                                    H.M.T

(Trích trong cuốn Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam (NXB Quân đội nhân dân - Hà Nội 2010)

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

VŨ KIM LIÊN



 

Chuyện một người bạn



Truyện ngắn


         Tôi quen gọi anh là Minh theo đúng tên cúng cơm mà bố mẹ anh đã đặt. Nhưng anh lại muốn mọi người gọi mình là Lương Minh - cái tên nghe vừa là lạ lại vừa có vẻ như mang danh nghệ sĩ!

Lương Minh làm ở Phòng Văn hóa thể thao huyện thích làm thơ và viết báo. Thỉnh thoảng anh cũng viết được một vài truyện ngắn và được đăng báo. Nhờ thế cũng có khá nhiều người biết đến tên anh. Mỗi lần được đăng một truyện ngắn hay một cái tiểu phẩm gì gì đó Lương Minh lại pho to thành nhiều bản để tặng bạn bè và người thân của mình. Ai cũng mừng cho anh. Riêng tôi cũng có đôi chút hãnh diện vì được làm bạn với một người như Lương Minh. Chả gì thì tên tuổi của anh cũng đã được in trên báo nơi này nơi kia. Ai bảo cứ phải ở thành phố cứ phải được học hành đầy đủ các loại bằng cấp mới viết được? Như Lương Minh đấy anh ta mới chỉ học hết cấp ba thêm mười tám tháng dùi mài kinh sử ở trường Văn hóa nghệ thuật tỉnh thế là trở thành cán bộ văn hóa và rồi cũng lên được cái chức phó phòng. Song cũng phải công nhận rằng anh ta cũng có đôi chút năng khiếu thơ văn. Gặp Lương Minh ở đâu là người ta nghe thấy anh nói chuyện văn chương chữ nghĩa. Người dốt văn như tôi thì chẳng nói làm gì nhưng nhiều người nghe Lương Minh nói chuyện cứ tít mắt vào. Nào là: Hay! Cậu (anh chú...) thế mà giỏi thật đấy! Có người còn cao hứng: Lương Minh à cậu là niềm tự hào của chúng tớ đấy!

Những câu tán dương những lời khen ngợi đã đưa bạn tôi lên tận mây xanh.

Anh phấn chấn hẳn lên và càng ra sức viết. Anh đi khắp nơi trong tỉnh và ra cả ngoài tỉnh bạn để tìm cảm xúc. Người ta thấy anh lúc nào cũng tất bật: Tôi phải đi một chuyến dã ngoại mới được! Hoặc: Đợt này tôi xin nghỉ phép để đi thực tế viết bài v.v và v.v.

Sau mỗi câu nói đại loại như vậy anh lại giơ tay vuốt vuốt mấy sợi tóc vắt ngang cái trán hói như muốn làm cho nó hói thêm.

Một lần anh đến chỗ tôi làm việc. Vừa nhìn thấy tôi anh đã giở cặp lấy ra một tờ báo:

- Tặng lão tớ vừa viết xong đã được in luôn đấy!

Tôi đỡ tờ báo:

- Xem nào chuyến đi thực tế vừa rồi đã mang lại cho cậu những cảm xúc gì nào.

- Thực tế quái gì. Tay S. bên Ngân hàng bảo tớ viết về mẹ lão ấy đấy mà!

- Thế là thế nào tớ chẳng hiểu gì cả?

Lương Minh ghé tai tôi nói nhỏ:

- Lão ấy cho tớ mấy trăm bảo tớ viết. Chả là nhà lão ấy chuẩn bị làm lễ thượng thọ cho bà cụ mà lỵ!

- A thì ra "mà lỵ" nhà cậu cũng đắt giá đáo để!

Hắn cười và đưa tay vuốt tóc.

- Ông làm thế nào mà báo nó in cho ông?

- Khổ quá tớ có người bạn cũng làm nghề viết lách. Anh ta có người quen bên báo và giới thiệu mình với họ. Tớ sang chơi và làm quen nhờ tay đó xem hộ. Lúc đầu nghe chừng họ cũng ngại. Song nể bạn nên tay ấy bảo tớ cứ để đấy hắn sẽ giúp.

- Thế anh ta sửa có nhiều không?

- Cũng có nhưng chỉ là câu chữ thôi còn cốt truyện vẫn thế!

Tôi lại buột miệng;

- Cậu giỏi!

- Giỏi cái đếch gì tớ nói riêng cho cậu biết nhé còn mấy đơn vị nữa đang nhờ tớ viết cho đấy!

- Cứ cái đà này chẳng mấy chốc nữa mà cậu giàu to. Thế mà người ta cứ bảo văn nghệ sĩ nghèo lắm.

Lương Minh khoái chí vênh mặt cười khi nghe tôi dùng từ "văn nghệ sĩ". Hắn ồ lên:

- Cậu sai bét văn nghệ sĩ thời nay không thế lấy gì nuôi con? Nghèo hay giàu là ở chỗ ngòi bút của mình mềm hay cứng mà thôi!

Câu chuyện đang dở dang thì tôi có khách. Lương Minh vội ra về không quên dặn tôi thật dõng dạc:

- Lão đọc đi nhé truyện này tớ chỉ tặng mỗi lão thôi đấy!

Tiễn Lương Minh ra về tôi băn khoăn mãi về những điều anh ta nói. Thực lòng tôi không hiểu mấy về giới văn sĩ nhưng thấy bạn nói vậy tôi thấy ái ngại thay cho anh. Đành rằng trong thời buổi hiện nay cũng vẫn còn có những người uốn bút vì miếng cơm manh áo. Song đại đa số văn nghệ sĩ đều "tử vì đạo" cho dù hiện thực có nghiệt ngã đến đâu họ vẫn ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào sự thật tận tâm cống hiến sức lực của mình mong đem lại niềm vui và những điều tốt đẹp cho cuộc sống. Vậy mà bạn tôi cái anh chàng Lương Minh ấy chỉ sau một vài tác phẩm được đăng trên văn đàn đã tự vỗ ngực cho mình là "Vĩ nhân" và cũng tự cho phép đưa ngòi bút của mình đi theo xu hướng thương mại hóa.

Bẵng đi một thời gian không thấy Lương Minh lại chơi và cũng ít thấy có bài vở của cậu ấy đăng trên báo chí. Tôi tưởng anh chàng đã quá "mỏi giò" trong các chuyến đi "dã ngoại" để tĩnh tâm "thai nghén" tác phẩm. Và tôi cũng có ý chờ xem cậu ta viết những gì. Một hôm tôi đang ngồi viết báo cáo cho sếp thì Lương Minh xồng xộc đẩy cửa bước vào. Nét mặt cậu ta vẫn còn hằm hằm như tức giận ai đó. Tôi chưa kịp đứng dậy đón khách anh ta đã nói:

- Tức thật mình vừa bị một con oắt con mặt búng ra sữa "lên lớp" cho mấy bài!

Tôi không ngạc nhiên lắm:

- Đứa nào mà ghê thế dám "chọc" cả vĩ nhân cơ à?

- Vĩ vĩ cái con khỉ. Nó đến cơ quan tớ xin việc làm. Tớ hỏi nó học nghề gì? Nó bảo học văn. Vậy là tớ rút luôn mấy truyện ngắn đợt trước đưa cho nó đọc. Nó đọc liền một lúc và cậu biết nó nói cái gì không?

- Nói gì?

- Nó bảo câu chữ thì hay nhưng cốt truyện lại dở ẹc. Chả có gì mới. Tớ mới lộn ruột lên hỏi nó: Thế theo cô cốt truyện thế nào là hay? Nó nói thẳng: Muốn hay phải nhìn vào thực tế phải thấy được cái tốt và cả mặt chưa tốt của sự việc để nói và viết cho đúng. Phải làm sao cho người đọc soi mình vào tác phẩm để suy ngẫm và để hoàn thiện mình hơn. Và phải làm sao cho khi đọc xong tác phẩm người ta còn lưu luyến còn muốn giữ những cảm xúc hay những ấn tượng đẹp mà câu chuyện để lại. Đằng này cái ông hay bà Lương Minh nào đó chỉ giỏi tán dương sặc mùi thị trường mà chẳng đưa ra được cái tứ nào cho ra hồn cả...

Tôi vội chen ngang lời hắn:

- Này nó nói cũng có lý đấy chứ. Mấy lần trước tớ đã định bảo cậu nhưng thấy cậu đang "say" tớ lại thôi. Tớ nghĩ hôm nào rảnh rỗi sẽ sang thăm và đàm đạo với cậu về chuyện này. Thật may hôm nay cậu đã đến.

Lương Minh nhổ toẹt bãi nước bọt xuống nền nhà:

- Cậu thì biết cái cóc khô gì mà đàm với chả đạo. Tớ đang điên lên đây. Con bé ấy dám ngang nhiên xóc nách tớ trước mặt mấy đứa nhân viên trong phòng làm chúng nó cứ trố mắt ra nhìn mới nhục chứ!

- Thế nó không biết cậu là ai à?

- Cậu dở bỏ mẹ chả nhẽ lúc ấy lại nhận mình là tác giả?

- Lạ nhỉ! Khắp cái huyện này ai mà không biết cậu?

- Khổ lắm nó là người ở nơi khác đến. Sinh viên mới ra trường. Nếu biết tớ là tác giả lại chính là nơi nó đang cần việc làm có cho kẹo cũng không dám...

- Và cậu chịu thua nó?

- Thua là thua thế nào? Tớ bảo mời cô về khi nào cô viết được những tác phẩm vừa hay vừa tốt thì đem đến đây tôi nhận. Nó ngớ người ra nhìn tớ. Nét mặt hơi tái đi. Một phút sau nó trấn tĩnh lại và bảo: Cháu hiểu rồi Lương Minh chính là chú. Hôm nay cháu đã gặp "vĩ nhân" mà không biết. Nhưng cháu cũng rất cảm ơn chú vì đã nghe cháu nói. Nói xong nó đeo ba lô bước thẳng!

Tôi kéo ghế lại gần an ủi bạn:

- Lương Minh ạ các cụ vẫn dạy "nói thật mất lòng" nhưng tớ cũng phải công nhận rằng cái con bé ấy nó đã nói đúng. Xưa nay cậu chỉ quen nghe những lời khen ngợi nên khi gặp những lời nói thẳng nói thật cậu thấy khó chịu tưởng như người ta hạ nhục mình. Thực tế không phải vậy. Cậu bình tĩnh lại mà xét xem thời gian vừa rồi cậu chẳng đã viết những câu chuyện đáng bị phê phán lắm sao. Chẳng hạn như truyện bà cụ nhà lão S. ấy. Tớ nghĩ cậu có tài đừng nản. Hãy coi đây như một sự thử thách để vượt lên chính mình lấy lại phong độ như hồi đầu ấy...

Lương Minh thở dài:

- Vượt ư? à mà lão cho tôi cốc nước. Suốt từ chiều tới giờ chả có giọt nước nào khát khô cả cổ rồi đây này!

Tôi mang đến cho Minh ly nước lạnh. Anh chàng ngửa cổ tu một hơi hết sạch.

                                                                             V.K.L





 

Hà Thị Cẩm Anh

Con Tấc



 

Trích tiểu thuyết Râu Cọp



 

        Đứa trẻ mười hai tuổi lần tới con đường mòn dưới chân núi. Con đường nhập nhòa trong ánh sáng xanh le lạnh ngắt phát ra từ những thân cây mục và lũ sâu đất đang ngoi ngóp bò qua bò lại trên mặt đất ẩm ướt để kiếm ăn. Tiếng côn trùng rả rích. Tiếng gió rít trong hẻm núi. Tiếng kêu khắc khoải của lũ mèo con mất mẹ. Tiếng gầm của một con Cọp từ đâu đó rất xa vọng đến. Có lẽ con Tấc đang trở về. Tiếng gầm nghe nặng nề đau đớn và xót xa như tiếng khóc than của con Tấc làm cho bóng đêm như lõm sâu vào cõi chết chóc rùng rợn nơi âm tào địa phủ. Tiếng gầm của con Cọp đã đánh thức bầy khỉ lông vàng đông đúc đang ngủ rất say trên núi thức dậy. Những con khỉ cái vội vã ôm con nhỏ leo tít lên ngọn cây cao. Chúng la hét om xòm để đánh thức những con khỉ non thức dậy. Cả khu rừng rung chuyển. Cành cây gẫy răng rắc. Lá xanh đổ rào rào. Những con chim cú đang ấp trứng trên ngọn cây gạo què dưới chân núi giật mình cất tiếng kêu thảm thiết rồi vỗ cánh bay ra khỏi tổ. Tiếng xải cánh vun vút tiếng kêu thét của loài chim ác đột ngột vang lên giữa đêm hôm khuya khoắt nghe rùng rợn thê lương như tiếng của thần Lang Khay đang thét gọi những linh hồn về cõi chết. Bầu trời đêm đen khịt bị xé toang ra. Khoảng không gian đen ngòm run lên bần bật. Khu rừng già sâu thăm thẳm bị đánh thức. Những cây cổ thụ lầm lì trở nên giận dữ vặn mình răng rắc làm cho những cơn gió xoáy nổi lên. Giông bão từ đâu đó sầm sập đổ về.

Thằng Đa không hề để ý đến những gì đang xảy ra trên núi. Nó đang lắng nghe tiếng kêu khóc đau thương của con Cọp. Đúng là tiếng của con Tấc. Con thú hoang trung thành ấy đang trở về. Thằng Đa cảm thấy được an ủi một phần. Nó lại tiếp tục bước đi. Cái thân hình nhỏ nhoi của đứa trẻ mười hai tuổi không ngừng bị vặn xoắn xô đẩy tung ném vào giữa cơn lốc xoáy của rừng già lúc nửa đêm. Thằng Đa ngã dúi dụi. Lúc thì bị đẩy vào vách đá tai mèo lô nhô bên cạnh lối mòn. Lúc thì mắc vào giữa lùm cỏ giang giác. Lóp ngóp chui ra nó lại đi tiếp. Thằng Đa cứ lần theo trí nhớ mà đi. Đi còn chưa hết đường núi thì gặp một cái truông nhỏ rậm rạp cây sòng sọng gai um tùm. Không thể chui qua được đám cây gai ken dầy như một bức tường thằng Đa bỏ con đường mòn dưới chân núi đi vòng qua truông đến bên bờ một con suối nhỏ lòng suối tối đen như mực. Những cái rễ quạch xanh lè từ trên ngọn cây nuôn cao vút bên bờ suối buông thõng xuống treo lơ lửng như những con trăn khổng lồ đang treo mình để rình bắt con mồi. Những bụidiây ma vắt từ cây gạo gai cụt ngọn sang cây xộp bên kia suối cứ không ngưng đung đưa như đưa võng. Đã có lần thằng Đa nghe bố kể rằng: Lão ậu Eng ở làng Chiềng Va rất sợ những dây võng ma. Một lần đang giữa ban ngày lão ậu Eng có việc phải đi qua đường núi để về làng Chiềng Va. Đi đến quãng suối này bỗng nhiên lão nghe có tiếng xường ru đêm véo von ở đâu đó vọng lại. Rồi tiếng đưa võng kẽo kẹt và tiếng khóc oa oa của trẻ con vang lên. Lão ậu nhìn quanh quẩn. Rừng xanh thăm thẳm không một bóng người cũng không có một cái hang đá nào có dấu vết của con người trú ngụ. Lão ậu bèn trèo lên một cây cao đưa mắt nhìn quanh quất để tìm kiếm một nóc nhà một ánh lửa trong cái truông núi âm u và hoanh vắng này nhưng lão tìm mãi cũng không thấy gì ngoài những đụn mây trăng cứ vật vờ trong các vũng núi sâu hun hút. Lão ậu vẫn cứ tiếp tục tìm kiếm nhưng chỉ thấy rất nhiều sợi dây rừng to lớn có mầu xanh biếc vắt ngang qua lối mòn. Trời không có gió những sợi dây vẫn cứ đưa qua đưa lại. Hai bên đầu dây vắt trên hai cành cây cao phát ra tiếng kêu kẽo kẹt. Lão ậu Eng niệm mấy câu thần chú rồi vung dao chém đứt một sợi dây ngay trước mặt mình. Có tiếng kêu thất thanh của một người đàn bà vang lên ngay bên cạnh rồi im bặt. Sự im lặng căng cứng nhức nhối. Từ chỗ bị đứt của sợi giây rừng một thứ nhựa đỏ như máu cứ xối xả phun ra. Lão ậu còn chưa hết ngạc nhiên thì đã nhận ra cái lưỡi con lù vật gia bảo của năm đời ậu mo nhà họ Hà ở thung lũng Si Dồ đã bị long ra khỏi cái cán bằng bạc rồi văng mạnh vào một cây sòng sọng gai. Cây sòng sọng đổ gục xuống chụp gọn vào đầu lão ậu mo già. Con lù mẻ mất một miếng lớn. Lão ậu cầm cái cán con lù trong tay mắt hoa lên. Lão cảm thấy như có hàng trăm cây roi cái gậy quật tới tấp vào mặt vào đầu lão. Máu từ trong sợi dây rừng bị lão chặt đứt vẫn nhễu tong tong xuống đất. Bẩy ngày sau cái thứ máu kì lạ ấy mới ngừng chảy. Cũng mãi tới bẩy ngày sau lão ậu Eng mới lần về được đến nhà. Nhưng khi tìm về được đến nhà thì vợ và đứa con trai duy nhất của lão ậu đã chết được năm ngày. Người trong chòm đã chôn cất cho họ khi lão ậu vắng nhà. Lão ậu được báo mộng rằng: Lão đã chém chết hai mẹ con con ma trong lúc ma mẹ đang hát xường để ru cho ma con ngủ. Truông núi là nơi trú ngụ của những hồn ma lang thang. Con ma đang xường để ru con ngủ là một người đàn bà hoang thai bị gia đình chối bỏ đã chết vì đẻ khó. Ma mẹ đang chờ dịp cho con đi cớt để báo thù. Ban đêm của lũ ma lang thang là ban ngày của Mường trần. Thảo nào lão ậu nghe tiếng xường ru đêm rất rõ. Bố bảo: Lão ậu là một thầy mo cao tay nhất vùng thung lũng Si Dồ nên bọn ma vô chủ thờ cúng ấy không làm gì được. Chúng chỉ giận dữ mà đánh cho lão một trận tơi bời rồi bắt vợ và con trai lão phải chết thay khi lão còn chưa kịp trở về nhà. Vì thế lão ậu không còn vợ cũng chẳng còn con trai lão sống một mình cho đến bây giờ. Nghĩ tới câu chuyện của cha thằng Đa cũng cảm thấy chờn chợn nhưng rồi nó vẫn cứ xăm xăm bước. Những con sâu đất nghe tiếng động đã vội vã chui hết xuống đất. Tiếng gầm của con Tấc đã gần hơn. Con đường mòn hoàn toàn bị biến mất trong sự vô biên của bóng tối và sự bất tận của khoảng không gian chật hẹp giữa rừng già. Thằng Đa đành phải lội ngược theo một con suối nhỏ nước chảy róc rách để đến chỗ cây bươn cổ thụ ở một góc truông nhỏ tối tăm cách xa bãi tha ma của người làng Chiềng Va cả mươi bận quăng dao. Thằng bé dừng lại đứng tựa lưng vào gốc cây bươn đưa mắt tìm kiếm hai ngôi mộ của cha mẹ. Cây bươn già nua tàn tật đang rụng lá. Một vùng sáng hiếm hoi và lạnh lẽo hiện ra chơi vơi giữa đêm khuya trong khu rừng hoang vắng khiến cho đứa trẻ không khỏi rùng mình. Tuy rằng cuốc sống của một gia đình mang tiếng mắc bệnh hủi cùi phải sống cách biệt trong rừng nỗi đau quá lớn do hai cái tang của cha và mẹ liên tiếp xảy ra khiến cho thằng bé mười hai tuổi đã trở nên chai lì. Từ lâu lắm rồi nó không còn biết sợ là gì nữa. Nó không sợ đêm tối. Nó không sợ thú dữ nhưng bây giờ bỗng nhiên nó cảm thấy sợ hãi. Nửa đêm xăm xăm đi vào rừng. Để làm gì nhỉ? Thật ra nó cũng không biết! Cả cha cả mẹ đều đang nằm dưới kia. Họ đã chết cả rồi! Nó biết thế nhưng nó chỉ có một mình. Nó không có ai để hỏi xem nó phải làm gì? Khi cha nằm xuống thằng Đa một đứa bé mới hơn mười tuổi còn có mẹ. Hai mế con đặt cho cha nằm vào một khúc gỗ rỗng ruột rồi chằng néo thật kỹ bằng dây rừng cho chắc và cứ thế mế kéo con đẩy. Họ kéo lê khúc gỗ có cái xác của người đàn ông chỗ nương tựa duy nhất của một gia đình côi cút nơi rừng sâu núi thẳm mà đi. Họ đi đến một nơi không định trước. Hai con người khốn khổ gặp một cái hố đốt than của ai đó bỏ lại đã rất lâu họ dừng lại. Người đàn bà và đứa trẻ bèn lấy liềm phát quang những búi cỏ trùm kín miệng hố dùng thuổng đào rộng thêm cho giống một cái huyệt rồi đặt cho cha nằm xuống đấy. Nhưng dù sao cha vẫn có được một nấm mồ tử tế. Một kiếp người cơ cực đã đến hồi kết. Cha lại về với bụi đất nơi mà từ đấy cha đã được sinh ra. Thằng Đa còn sống tuy đau đớn nhưng nó vẫn cứ phải sống. Bên cạnh nó còn mế còn có đứa em gái nhỏ. Thằng Đa vẫn còn có nơi mà nương tựa. Đến khi mế chết thằng bé đã tống cả một nắm lá ngón vào miệng. Thằng bé mười hai tuổi muốn đi theo cha và mẹ. Nó không muốn sống tiếp nữa. Nó sợ. Nó sợ những ngọn núi cao vời vợi quanh năm lười biếng ngủ vùi trong những lớp mây đen mù mịt. Nó sợ những khu rừng tối tăm ướt át luôn luôn tra khảo nó hành hạ nó bằng những tiếng gào rú điên cuồng của những cơn giông và những trận mưa kéo dài vô tận nhưng khi nó định nhai ngấu nghiến nắm lá ngón thì bắt gặp đôi mắt tròn xoe của em gái. Thì ra trên đời này nó vẫn còn lại một người thân. Con bé còn nhỏ quá! Con Hĩm còn nhỏ đến nỗi chưa cảm nhận được hết nỗi đau cứ liên tiếp đổ ập xuống đầu hai anh em. Thằng Đa nhìn em gái rồi lại nhìn cái xác lạnh ngắt của mế. Bỗng nhiên nó rú lên như một con thú hoang bị mũi tên ghim vào lồng ngực. Nhưng tiếng rú của đứa trẻ khi tuyệt vọng chỉ như tiếng nấc cuối cùng của một con thú nhỏ đang hấp hối. Tiếng kêu vừa thoát ra khỏi cửa miệng của thằng bé đã làm cho khoảng không gian chật hẹp giữa rừng già như trùng xuống. Cây cối vật vã. Những ngọn núi cao u ám run lên. Hĩm em bật khóc! Tiếng khóc đơn độc của con bé kéo xuống một cơn giông bất chợt. Mưa rừng đổ xầm xập. Những con hoãng trên lưng chừng núi giật mình cất tiếng kêu thất thanh. Mấy con cú vọ đang ủ rủ trên ngọn cây sau sau già loạng choạng bay ra rồi mất hút trong khoảng không mưa gió đen ngòm:

- Trời ơi! Sao lại thế này? Tại sao mình vẫn phải sống chứ? Sống mà khổ sở thế này thà chết còn hơn!

Thằng Đa thở dốc. Con Hĩm vẫn khóc rấm dứt bên tai nó! Thì ra nó vẫn còn có Hĩm Em! Hĩm Em rất cần có người lớn bên cạnh để nuôi nấng chăm bẵm. Mình chết thì Hĩm Em sống với ai? Mình phải sống thôi! Cố lên mà sống!

Thằng Đa phun phì phì. Những mảnh lá ngón nát vụn từ miệng nó bay vọt ra rơi lả tả xuống sàn nhà. Hĩm Em lao đến ôm chặt lấy cổ anh trai. Con bé mới hơn năm tuổi. Một con bé năm tuổi ở một mình trong rừng sẽ bị chết rất nhanh. Chẳng nói gì đến chuyện chết đói chết ốm hay bị thú dữ ăn thịt mà lũ muỗi đói lũ vắt xanh và những con kiến mòn cũng có thể giết chết nó bất cứ lúc nào. Thôi thì cũng đành phải sống vậy! Cứ sống đã rồi sẽ tính sau. Nếu sống được lâu lâu một chút nhất định mình sẽ tìm đường đưa em gái thoát khỏi nơi này.

Hai anh em chặt một cành cây đặt mế nằm lên trên lớp lá cho êm lấy cái dây thắt lưng bằng lụa sồi của mế cuốn lại cho thật chắc rồi cứ thế hai anh em mỗi đứa kéo một bên đưa mế vào rừng chôn vào một cái hố đào củ mài ngay bên cạnh bố. Khi vùi mế xuống cái hố củ mài nông choèn choẹt bàn tay nhỏ xíu của đứa em gái cũng nhặt được vài hòn đất ném xuống. Như thế cũng là phúc đức lắm rồi! Có lẽ ở chốn Mường ma voong vài của mế cũng được an ủi một phần. Nhưng bây giờ thì thằng Đa chỉ còn trơ lại một mình.

*

Lần này đến phải khó khăn lắm Đa mới tìm thấy hai ngôi mộ của bố mế nằm cạnh nhau. Những vết chân Cọp vẫn còn hằn chi chít chung quanh hai ngôi mộ. Dấu chân của con Tấc đứa con nuôi của hai người. Thằng Đa cũng không biết vì sao khi bố mế qua đời nó không hề vào núi báo tin mà con Tấc vẫn biết được để trở về? Khi bố chết con Tấc đang nuôi con nhỏ nên nó không ở lại lâu. Suốt mấy ngày liền con Cọp cứ quanh quẩn bên ngôi mộ của cha nuôi. Con Tấc không chịu đi săn mồi mà cứ nằm phủ phục trước ngôi mộ nước mắt ứa ra. Hôm thằng Đa cùng với mế vào cúng ba ngày cho bố nhìn thấy hai người con Tấc cũng không đứng dậy. Nó cũng không mừng quýnh lên như những lần trở về thăm nhà. Con vật chỉ uể oải nhìn mế rồi lại nhìn thằng Đa bằng cái nhìn giận hờn và trách móc. Nó khóc! Nó khóc mãi cho đến khi mế đến bên cạnh lấy tay áo chùi nước mắt cho nó ôm chặt nó vào lòng rồi thổn thức nói:

- Con à! Nhà có chuyện buồn mế không nhắn tin cho con về. Con giận mế. Đúng không? Nhưng Tấc à! Biết làm sao được? Con đang nuôi con nhỏ mà! Để bọn trẻ ở nhà một mình không được đâu. Bọn thợ săn độc ác lắm! Ta sợ. Ta sợ nên không báo tin cho con biết đấy thôi. Con đừng trách ta. Con đừng giận thằng Đa thế nữa. Tội nghiệp lắm con à! Sữa con căng rồi đấy! Bọn trẻ cũng đói rồi! Chúng đang nhớ mẹ.

Con Tấc vẫn nằm trong lòng mế lặng lẽ khóc. Mế sờ bầu sữa căng cứng của đứa con gái nuôi rồi lại giục nó thêm lần nữa:

- Con à! Lũ trẻ đói rồi! Con hãy trở về đi! Lâu lâu con dẫn các cháu về thăm ta một lần. Bây giờ thì con hãy đi đi. Sữa con căng cứng rồi. Lũ Cọp con đang đợi đấy!

Con Tấc uể oải dời khỏi lòng mế. Trươc lúc bỏ đi con Cọp đã cào nát cả cỏ xung quanh ngôi mộ. Chắc con vật muốn đắp điếm cho cha thêm vài nắm đất. Đến khi mế chết con Tấc dẫn theo cả hai con của nó trở về. Suốt mấy đêm liền cả ba con Cọp không ngớt gầm gào bên cạnh hai ngôi mộ. Trong rừng chim muông xào xạc. Thú hoang hoảng hốt kinh hoàng. Mang tác nai kêu khỉ vàng la hét như có động rừng. Một đêm thằng Đa nghe âm vang của tiếng cồng săn từ dưới thung lũng theo gió bay lên. Thằng bé hốt hoảng choàng dậy tim đập thình thịch. Con Tấc đang gặp nguy hiểm! Đã có lần bố kể cho thằng Đa nghe về những Con Người làm nghề săn bắn ở làng Chiềng Va. Có lẽ Con Người đã đánh hơi được mùi Cọp. Gần sáng thằng Đa dựng con Hĩm dậy rồi cõng em vượt truông núi đi tìm con Tấc. Vừa đến gốc cây bươn già thằng Đa đã nhìn thấy ba mẹ con con Tấc đang ngồi vây quanh hai ngôi mộ trước mặt chúng là một con nai còn đang nhễu máu tươi. Thằng Đa trào nước mắt. Lúc còn nhỏ mỗi khi săn được con mồi lớn con Tấc thường đem về nhà. Nó đặt con mồi dưới chân thang ngồi đợi bố từ trong rẫy trở về. Bây giờ con Tấc cũng đang ngồi đợi. Nó đợi bố mế trở về. Bố sẽ xẻ con mồi và chia cho nó phần tươi ngon nhất. Hai con Cọp con háu đói thỉnh thoảng lại xấn đến định ngoạm một miếng nhưng liền bị mẹ chúng giơ tay tát cho một cái thật đau. Nhìn thấy thằng Đa và Hĩm Em hai con Cọp con nhẩy tót vào đám sa nhân cao lút đầu người rồi thu mình lại ngồi rình. Hai con Cọp còn nhỏ chúng chưa biết săn mồi nhưng một cú vồ của chúng cũng đủ làm cho cả hai anh em mất mạng. Lúc mới đến thằng Đa nhìn thấy một chút nước tiểu Cọp còn đọng lại trên chiếc lá bươn khô Đa đã lấy chỗ nước tiểu ấy xoa lên đầu lên tóc và lưng áo cho con Hĩm. Bây giờ trên người Hĩm Em đã sặc nồng mùi nước đái Cọp nhưng thằng Đa vẫn cảm thấy lo lắng. Cậu bé bế Hĩm Em định đặt nó ngồi lên chạc cây bươn cho an toàn nhưng cậu bé vừa mới xốc nách Em gái lên thì đã nghe một tiếng vút rất mạnh. Lớp không khí nặng nề của buổi sáng giữa rừng hoang bị xé toang ra. Hai anh em thằng Đa bị ngã chổng kềnh vào bụi cỏ. Một con Cọp nhỏ đã nằm úp gọn lên người Hĩm Em. Nhưng cũng chỉ nhanh bằng một cái chớp mắt thằng Đa đã nghe thấy một tiếng vút qua đầu tiếp theo là tiếng kêu tức giận của con cọp nhỏ khi nó bị ngã lăn ra đất ngay bên cạnh thằng Đa. Con Tấc đang liếm tóc cho Hĩm Em. Thì ra con Tấc đã kịp hất con nó ngã để cứu cô chủ nhỏ. Thằng Đa sung sướng ôm lấy cái đầu to tướng của con Tấc mà bảo:

- Tấc à! Cảm ơn mày lắm lắm! Nhưng con mày đói rồi mà! Hãy cho các đứa nhỏ ăn thịt đi thôi. Bố không về nữa đâu. Bố chết rồi! Mế cũng chết rồi! Mày biết thế mà!

Con cọp ngồi im lặng trong vòng tay của thằng Đa. Đôi mắt to sáng quắc của nó nhắm nghiền. Thằng Đa lại nói:

- Con Người thợ săn biết mày về rừng Chư Lẹ rồi! Mày thăm bố mế thế thôi! Mày đi đi Tấc à! Con Người thợ săn đó ác lắm! Phải đem các con Cọp nhỏ đi thôi! Phải đi thật xa. Đi xa tận nước Lào cũng được. Phải trốn Con Người thật lâu! ở đây Con Người ấy sẽ tìm đến. Họ sẽ giết mày giết chết các con mày đấy Tấc ơi!

Hình như con Tấc hiểu được những lời thằng Đa nói. Từ khi còn nhỏ hai đứa vẫn nói chuyện với nhau như thế! Cả nhà không ai nghĩ con Tấc là một con ác thú hoang giã mà nó chỉ là con vật nuôi trong nhà. Con vật được uống sữa của con người mà sống sót. Được nuôi dưỡng bằng thức ăn của con người. Được ở trong một ngôi nhà sàn có bếp lửa ấm áp. Nó được cả nhà yêu thương. Bố mế dành cho nó vị trí xứng đáng. Vị trí của một đứa con nên con vật đã mất đi cái phần thú dữ trong nó. Con Tấc tinh khôn và trung thành như một con chó. Ngoan ngoãn như một đứa trẻ. Hiền lành như một con mèo khoang. Điều con Tấc thích nhất là được chơi đùa nghịch ngợm với thằng Đa nghịch cho đến khi cả hai đứa mệt nhoài rồi cùng nhảy bùm xuống hón nước ngay trước cửa voóng nhà mà tắm táp bơi lội thật thỏa thích rồi mới lên sàn. Bữa cơm đã được dọn ra. Bố mế đang ngồi chờ. Bố chia cho con Tấc phần ăn ngon nhất. Một con gà rừng béo ngậy mới săn từ rừng về. Một tảng thịt nai tươi. Con Tấc đã no nê nhưng mế vẫn ép nó phải ăn hết cả nửa hông xôi nóng hôi hổi. Mế bảo: Con Tấc được ăn thức ăn của con người sẽ khôn hơn sẽ ngoan hiền hơn sẽ biết thân thiện biết gần gũi yêu thương con người hơn. Con Tấc biết nghe lời mế. Nó cố ăn. Khi đã ăn xong con Tấc lên gần cửa voóng chỗ mà nó ưa thích để nằm ngủ. Nó thả cái đuôi rất dài của mình qua bậu cửa cho rơi thỏng ra ngoài. Hầu như con Tấc hiểu được tất cả những gì bố mế và thằng Đa nói với nó. Con Hĩm ra đời bố mế bảo con Tấc hãy trở về ngôi nhà thật sự của nó là rừng xanh vì con Tấc chưa quen với thành viên mới của gia đình. Bố mế sợ có điều gì đó bất trắc xảy ra. Phần nữa con Tấc cũng đã trưởng thành. Nó cũng cần phải có một gia đình mới cho riêng mình. Bố cũng đã tập cho nó làm quen dần với cuộc sống nơi hoang dã. Con Tấc đã tự biết đi săn mồi mà không cần bố phải đi kèm.

Con Tấc ra đi nhưng thỉnh thoảng vẫn trở về nhà thăm bố mế nuôi. Khi con Tấc trở về bố mế có phần lo lắng cho Hĩm Em nhưng thằng Đa đã có cách riêng của mình. Cậu bé chỉ cần mặc cho hĩm Em cái áo có mùi Cọp và bảo với con vật: Đây là đứa em gái út trong nhà. Em còn nhỏ không được nghịch làm em gái bị đau. Thế là tất cả mọi sự lo lắng của bố mế đều tan biến cả. Hôm ấy Thằng Đa thật sự lo sợ từ lúc nó nghe được tiếng cồng săn từ dưới thung lũng theo gió vọng lên. Cậu bé biết con Tấc đã trở về. Con Tấc đang ở bên mộ của bố mế. Đa rất mừng vì được gặp lại con vật yêu quý nhưng cậu cũng sợ vì bây giờ con Tấc không còn được an toàn nữa. Thợ săn như một bầy quỷ giữ. Con Tấc chỉ là một cá thể yếu đuối của rừng xanh. Bọn thợ săn rất thích ngửi mùi máu tươi của những con thú vô tội. Bố bảo: Một vài kẻ muốn có được một cái râu cọp mà cả đời không ngừng săn lùng bắn giết. Cả đời đi tìm giết cho được một con Cọp để lấy râu. Bố không nói cho thằng Đa biết họ cần cái râu cọp làm gì. Nhưng bố bảo: Đó là những con người rất độc ác. Họ còn độc ác hơn cả con cọp con beo đã hóa thành tinh. Thằng Đa hiểu: Những kẻ độc ác mới làm nghề thợ săn. Họ làm thợ săn để được bắn giết! Các phường săn ở thung lũng Si Dồ cũng thế. Họ đã đánh hơi được mùi con Tấc thì không bao giờ thôi lùng sục nó.

Thằng Đa không buông vòng tay nhỏ bé của mình ra khỏi cái đầu to tướng của con Tấc. Nó vừa khóc vừa dỗ dành con vật:

- Ta biết mày thương bố mế lắm Tấc à! Bố mế cũng thương mày nhưng bố mế chết rồi không bảo vệ được mày nữa đâu. Mày phải đi thôi! Đi thật nhanh thôi! Mày đi lúc nào tao nhắn tin tìm mày thì mới trở về. Được không?

Con Tấc nhìn thằng Đa bằng đôi mắt to rất buồn. Nó hiểu những gì thằng bé nói. Bởi vì chưa bao giờ Đa nói với nó như thế cả. Cũng chưa bao giờ Đa khóc khi gặp lại nó. Con Tấc dụi mãi cái mõm lọ lem của nó vào lòng thằng Đa. Cậu bé đã quen động tác này của con Tấc. Con Cọp đang nói với thằng Đa những lời thân thiết nhất:

- Đa à! Tao biết rồi mà! Tao cũng biết lũ thợ săn đang lần theo dấu chân tao và lũ Cọp con trong rừng Chư Lẹ. Lũ Cọp con còn nhỏ. Chúng chưa biết cách tránh mũi tên viên đạn cái bẫy sập của con người. Để chúng nó ở lại rừng Chư Lẹ lâu lâu cũng nguy hiểm lắm! Bố mế chết tao thật đau lòng. Nhưng biết làm sao được! Nếu những đứa con tao bị thợ săn giết hại thì voong vài bố mế cũng chẳng được yên. Tao đã đem thịt về cúng cho hai người bây giờ tao phải đi thôi! Tao sẽ đem các con đi khỏi rừng Chư Lẹ nhưng tao đi rồi tao sẽ trở về thăm! Nhất định tao sẽ về thăm! Hãy chăm sóc cho em gái nhỏ.

Con Tấc dẫn con đi. Nó đi đâu thằng Đa không biết. Từ bấy đến nay cũng đã hai mùa cây bươn già thay lá mới. Bây giờ con Tấc lại trở về. Con Cọp trở về để tang cho em gái. Tiếng gầm của nó nghe đã rất gần...

                                                                     H.T.C.A

Tiêu Đình



 

Nơi dòng kênh nghẹn lại



Truyện ngắn



      Cánh đồng khát mưa mỏi mòn nằm chờ đợi nước như nàng Tô Thị vô vọng ôm con đợi chồng....

Ở đây từ thời nảo thời nao cây lúa vẫn chỉ được gieo cấy và thu hoạch mỗi năm hai lần. Vụ hè đất nứt trắng con cua con cá gom dần vào trong những đáy ao rặt bùn rồi cũng chết queo hay bị người ta khỏa bùn lượm về như lượm những củ khoai củ sắn. Gốc rạ ròn rụm dưới nắng chỉ cần cho một mồi lửa là biến thành tro đen trong chốc lát. Con trâu con bò gặm đến cây cỏ cuối cùng gặm đến đất cát vẫn không thấy cỏ mọc thêm ra được ngọn xanh nào. Lũ châu chấu không tìm được chỗ trú nóng đành phải đổ dồn vào các bụi dứa dại làm mồi cho lũ trẻ mình trần đen láy thường lùng sục vào những trưa vắng.

Chỉ có những trò vui như đá bóng thả diều đào hang bắt dế... là tồn tại được lâu trên cánh đồng phơi nắng suốt cả mấy tháng trời. Nhất là khi mặt trời chỉ còn cách đỉnh núi Chúa chừng một cái cán cuốc nắng yếu dần và cánh đồng bắt đầu thoảng gió núi. Chiều quê đúng nghĩa chiều quê là lúc này đây trên cánh đồng này đây. Trẻ già trai gái đổ ra đồng hóng mát như người dân phố thị tìm đến với biển. Chị dỗ em ăn cho được nhiều cơm cũng tay nách tay bưng dạo ra đồng....

Chờ mưa cha tôi di tản từ ngoài đồng về với những bóng râm trong vườn. Trưa nóng không nghỉ được ông đẫm mồ hôi ngồi vót những nan tre phận người để đan rổ vá lại chiếc gàu tát nước hay chẻ lạt để sửa cái chái củi....

Chỉ một cơn mưa giông không đủ thấm đường cày sâu cũng khiến ông khấp khởi mừng vui dậy từ mưng sáng vội vã vác cày dắt trâu ra đồng để tranh thủ thá ví cho xong dám ruộng cạn. Cha nói cày lên phơi nắng cũng phải lo cày cho rồi. Đến khi có mưa trở tay không kịp. Mà có phải một mình cha lo chạy đua với nắng đâu. Cả xóm đều hối hả cả cánh đồng rộn ràng tiếng thá ví tiếng người gọi người. Và cũng chỉ chưa đầy một ngày là nước bốc hơi rút vào lòng đất khô sạch. Nắng hạn đâu lại hoàn đó.

Không chờ không đợi được nữa rồi! Trễ mất vụ mùa sống chết. Cha huy động cả gia đình mang vồ ra đập cục. Đập lúc mơ sáng lúc chiều tối lúc có trăng đêm. Đập một lần hai lần nhiều lần... Tôi được giao xách cái ấm nhôm và cái ly nhựa mỗi buổi chạy đi về ba lần mà vẫn không đủ nước uống. Đất cày vội khô cứng thành từng mảng trắng vỡ đôi rồi vỡ tư vỡ tám... cho đến khi nhỏ rứt. Bụi bay mồ hôi chảy... Và những hạt giống gieo tỉa liều mạng được đổ ra nắng như đem cái rủi may đời người mà đánh bạc với đất trời. May chi đến đầu tháng có mưa. Cha nói mắt nhìn về hướng núi Chúa giống ánh mắt của nàng Tô Thị đợi chồng.

Có những canh bạc may lúa đón đầu được mưa bám rễ nhanh vào đất tơi xốp lớn nhanh xanh nhanh như con gái dậy thì. Nhưng cũng có khi người dân xóm tôi phải gieo tỉa đến lần thứ hai thứ ba. Con người đã phải vắt chân lên cổ chạy theo thời vụ mà cũng chỉ để cầu may. Đúng là cầu may. Trăm sự nhờ vào giọt nước trời.

Vụ nắng là vậy đã đành! Vụ mưa cũng không dễ ăn. Có những lúc tưởng như hạt lúa đã nằm gọn trong bồ trong ghè thì bỗng dưng lại trôi tụt ra sông biển. Chỉ trong chốc lát lũ về là nước trắng đồng. Đội mưa đứng nhìn ruộng lúa chín vàng chìm ngập trong nước không biết cha tôi đã nghĩ gì? Có người nhanh tay đưa vội được hạt lúa về nhà thì cũng chỉ để bó tay ngồi nhìn chúng nứt mộng trắng toát....

*

Đã quen sống chung với mưa dầm nắng quái nên người dân xóm tôi không dám mơ cái ngày mình làm chủ được nước tưới ruộng đồng. Niềm vui thăng hoa tột đỉnh khi cái không dám mơ tới lại trở thành hiện thực. Đó là từ ngày có con kênh sâu hoắm xẻ đỏ đồi ông Phi để dẫn nước về xóm. Gặp đá phá đá gặp cát chắn cát. Để nắng vẫn cứ nắng mà nước vẫn cứ xanh trong ướp mát từng gốc lúa. Cha tôi nghĩ gì lúc này khi gia tộc đã trải qua chín đời làm nông mà vẫn với tâm thế cầu may từng giọt nước trời? Cực mà sướng. Cha nói như người gàn dở nếu không được nghe ông giải thích. Từ hai vụ chuyển sang ba vụ thì suốt năm bận rộn với cây lúa. Nhưng mà vui. Vui vì không phải lo chạy thêm đồng tiền mua gạo. Làm nông mà mua gạo thử hỏi không buồn sao được. Lại vui vì nắm chắc được trong tay điều mình muốn; đêm đêm không còn thao thức vào ra để trông chờ từng đám mây từng ánh chớp. Lại vui vì mỗi sáng dạo ra đồng thấy lúa xanh mát mắt mát ruột; chỉ nhìn đã no tròn hạnh phúc.

Rồi một ngày cha tôi nói chuyện với người bạn láng giềng rằng xóm mình ngày còn sống nhờ vào nước trời thì đất thênh thang đất. Đến khi chủ động được thủy lợi đất lại teo nhanh. Ngó như một đường đi thẳng mà thực sự là vòng vo. Cuối cùng huề cả làng! Nghịch lý này cha tôi muốn ám chỉ việc khu dân cư mới của xóm lấn tràn xuống ruộng cạn cây lúa mất dần chỗ đứng co lại buồn thiu dưới trũng sâu. Vừa hết lo vì phải cá cược phận người vào rủi may nắng gió dân trong xóm lại tiếp tục buồn vì đất ruộng không tương xứng với sự phình nở dân cư. Nên lại sinh ra một nghịch lý mới: khi nhà máy nhà tầng mọc lên càng nhiều thì lao động chính trong xóm càng tỏa đi làm ăn tứ phương hết sạch. Trơ lại là người già trẻ con. "Kiểu ni chết không có người khiêng khổ thiệt!" Mấy cụ già trong xóm thường than với nhau như thế.

Thế rồi m

More...

THƠ THÁNG 8

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TRẦN DU TỬ

Thăm nhà sàn Bác ở

Người không thích sống trong Dinh Toàn quyền

Chỉ mái nhà sàn bên vườn rau ao cá

Giữa Hà Nội nhịp đời chen hối hả

Có một tâm hồn hiền triết phương Đông

Buồng nhỏ hai gian một chiếc giường con

Tủ áo treo bộ ka ki giản dị

Bàn làm việc đơn sơ chiếc đài cũ kỹ

Đạo đức Người tỏa sáng cả năm châu

Bác đi xa trong thương nhớ nghẹn trào

Hồn muôn hướng tụ về dâng hoa thắm

Đến nơi ở Bác Hồ lòng ai không xúc động

Nhắc dùm ta năm tháng mãi ơn Người

Giản dị vậy thôi

Ngôi nhà sàn giữa thủ đô Hà Nội

Ngày lại ngày từng dòng người tiếp nối

Nghe tim mình ấm áp lúc về thăm.

                              T.D.T

NGUYỄN NGỌC PHÚ


 

Tổ quốc


 

Tôi nhìn lên bản đồ Tổ quốc

Màu đỏ của đất lẫn vào xanh cây

Tổ quốc tôi thân thiết bàn tay

Khi xòe ra chảy thành những dòng sông

Khi nắm lại thành chiến hào căm giận

Tổ quốc - nơi địa đầu phía Bắc

Trùng điệp quân đi thế núi chập chùng

Mẹ bồng con hóa đá chờ chồng

Câu thơ khắc ngút ngàn ải bắc

(Vẫn màu hoa mận trắng đến nao lòng)

Tổ quốc ở Trường Sa

Người lính đứng hóa thành cột mốc

Quả bàng xanh dáng dấp quê nhà

Đảo nổi đảo chìm vẫn mang màu đất

(Nhớ làm sao xao xác tiếng gà)

Tổ quốc nơi tận cùng Đất nước

Mũi Cà Mau xòe rộng cánh chim

Câu vọng cổ theo người đi mở đất

ánh chớp xanh vụt sáng đầu lưỡi mác

(Tiếng ong rù rì mật ngọt rưng rưng)

Tổ quốc!

Mây trắng bay vẫn một sắc Ba Đình

Dòng người sáng nay vào lăng viếng Bác

Trăm giọng nói miền quê bỗng hóa thành Đất nước

Trong sắc đỏ sao vàng - Cờ Tổ quốc bay lên.

                                    Tháng 8-2009


 

THANH THẢO


 

Cảm xúc tháng Năm


Trời Quảng Bình những ngày này thật lạ

Cứ chợt nắng chợt mưa ướt áo khách đường xa

Đường Hai mươi mây mù vờn trong lá

Tiếng ve kêu văng vẳng giữ rừng già

Tháng Năm này thăm lại chiến trường xưa

"Hang tám cô" trên con đường huyền thoại

Hơn ba mươi năm vẫn còn như rất mới

Những sục sôi của đất lửa nơi này

Họ ra đi giữa lứa tuổi đôi mươi

Không có một tấm hình

Nhưng có lẽ họ hóa mình trong tất cả

Mỗi nhành cây mỗi phiến đá nơi này.

Bên những dòng địa chỉ còn kia

Như thấy cả bóng dừa quê ta Hoằng Hóa

Như vẳng tiếng giọng hò sông Mã

Ru các anh các chị ở chốn này

Những dòng người đến từ khắp mọi miền

Đứng lặng im chiêu hồn tử sĩ

Từ đôi mắt trong veo của các cô gái trẻ

Nét suy tư của người cựu chiến binh già

Trong những giọt mưa xối xả đầu hè

Chúng tôi thắp nén nhang trước cửa hang lặng lẽ

Những bông hoa mùi hương trầm lan tỏa

Gửi những người con bất tử của quê hương.

                        Quảng Bình tháng 5-2009





 

PHAN ANH TUẤN

Đêm Hà Nội

                 Tặng H.A



 

Đêm mềm mại

như tà áo nhung của mẹ

ấm trên vai em vai anh

Đường La Thành Láng Hạ Từ Liêm

Chúng con đi gặp lại tuổi thơ mình.

Những chùm sấu vàng ươm rung rinh

Tưởng giơ tay mình với được

Xóm nhỏ chân cầu thức với nhịp hò khoan

Mấy cháu theo bà đến chùa làng

Tiếng guốc mộc lon ton chen tiếng mõ

Bông đại trắng thơm cài bím tóc mềm

Quán nhỏ lâu rồi nâng cốc chè sen

Chút ngày xưa... phong vị quê mình

Cứ bồi hồi... những tiếng rao đêm

Em lại gánh hàng hoa xuống phố

Bông nhài bông huệ đua hương

Chợ ven đô rậm rịch thâu đêm

Những người chị đảm đang muôn thuở

Chầm chậm bước... Trăng ngoại thành như lụa

Tiếng hồ cầm hay một giọng thơ ngâm

                                     P.A.T


 

BẠCH HUỆ ANH

Mầm đất

Mắt em...

Tiễn anh thêm một thôi đường.

Hút nhìn

Cuối tầm chỉ còn nắng lụa.

Vo tròn

Kết dính mảng không gian chưa kịp tối.

Thở thật sâu

Tiễn mình thêm một đỗi đời

Ngóng đợi!

Những niềm muốn mãi rong chơi không tới

Đêm dắt ngày đi!

Anh dắt em qua miền đất nắng mưa cày ải

Nghe mùa màng gọi tiếng sinh sôi.

Cuốn vào...

Những điều đã xa quá tầm tay với

Đêm se sợi

Dệt lại những ngày đã quá thương nhau!

Tiễn đêm sâu

Vắt kiệt mình trút vào lòng đất

Căng tràn nhựa mật

Nghe mầm đất thúc chân!

                    B.H.A




 

TÔ NHUẦN


 

Bà ơi

Nào có sang giàu chi

Một quả ổi

Một cút rượu

Một nấm mộ

Và cánh đồng rỗng không gió thổi...

Bà đi

Không ở lại kiếm cho ông quả ổi

Mua cút rượu quê nút lá chuối

Nhẫn nhục nghe ông ca cẩm chuyện cháu con

Cái cút nhỏ ông nhốt cả cánh đồng

Nhốt cả cuộc đời ông trong ấy

Chỉ có tình bà nhân ái

Tuổi già sưởi ấm lòng nhau

Ngỗng trời lẻ bạn bay trên đầu

Kêu chi mà nẫu ruột

Một dáng người cúi gập

Tìm gì trong đất người ơi?...

Nấm mộ chưa cũ lát đất

Chân nhang chưa kịp lụi tàn

Tiếng khóc trần gian chưa kịp loãng tan

Vây quanh ông chiều tím ngắt!...

Một quả ổi

Một cút rượu

Một nấm mộ

Và cánh đồng rỗng không gió thổi...

Bà ơi...

                  Quảng Thái 2001

                           T.N




MA TRƯỜNG NGUYÊN

Sấp ngửa cùng yêu

Sấp ngửa đời lăn lóc đá

Một đời đang sống cùng yêu

Nắng đốt mưa chan gió xả

Một mình sống cả đìu hiu

Nghe sợi tóc ngả phiêu diêu

Cơn gió thời gian đến ở

Lòng bung bắn đi nhiều ngả

Theo chân buổi chợ vãn chiều

Sấp ngửa cả một đời yêu

Em cách đèo to núi cả

Mang đi tình anh nhốt giữ

Mình em chốt cửa ấp iu

Sấp ngửa đời sấp ngửa yêu

Dưới trời một mình một bóng

Mê mẩn lòng anh phiêu diêu

Một đời cùng yêu đang sống.

                    M.T.N

ĐINH NGỌC DIỆP

Với Sen

Ngát hương trời run rẩy đóa sen

Thơm hết mình không kể bùn đen

Khoảng tối dưới hoa thoảng màu nắng rụng

Xóa âm u tù đọng im lìm...

Anh rón rén sợ hương thơm bay mất

Muốn lọc mình như ánh sáng đầu tiên

Tia nắng lạ tự trời đậu xuống

E rớt dưới đầm không chạm tới đài sen!

                   Hà Đông 28-3-2010

                           Đ.N.D


NGUYỄN THÁNH NGÃ



Nguyễn Công Trứ


Xe bò danh tướng thi nhân

Đi qua thế thái... tần ngần khói sương

Đất trời còn cậy văn chương

Đâu nàng con gái ven đường bảy mươi?!

Túi thơ bầu rượu hoa người

Cây thông chịu rét không lời thở than

Con đường hoạn lộ gian nan

Thương dân chẳng nỡ từ quan ẩn mình.

Ông về thư thái bình minh

Kinh kỳ nét ngọc lặng thinh ca trù

Tình tang hứ hự ư hư

Hồn trong hát nói ngoài như mưa nguồn.

Hai dây đàn đáy lặng buồn

Tiếng chuông chưa dứt đẫm hồn ca nhi

Đem danh đọ với nhu mì

Đem thông đọ rét hàn vi vẫn trèo.

Mọc trên vách đá cheo leo

Có người lính thú hút heo cõi lòng

Công danh gì với núi sông

Hay là mang lấy trần hồng cho nhau.

Mảnh trăng trước cửa vàng thau

Bút gươm sáng tới mai sau cõi người

Cây thông còn đứng giữa trời

Mạch thơ còn vọng ngàn đời thi ca!

                             N.T.N



HOÀNG ANH TUẤN

Gọi hồn nàng Xúy Vân



 

Xúy Vân* ơi hỡi Xúy Vân!

Sông quê gột rửa trắng ngần hồn trinh

Giả điên đánh đổi chút tình

Tự giăng tơ nhện buộc mình đa đoan.

Chẳng ham nhung lụa giàu sang

Mơ anh đi gặt để nàng mang cơm

Kim Nham* đèn sách sớm hôm

Ong bay mỏi cánh huê thơm lại nồng.

Thà rằng duyên hẩm không chồng

Thì đâu lỡ trách đêm đông lạnh lùng

Sông trôi phía biển muôn trùng

Mây trôi phía gió thổi bùng lời thương.

Trái tim trót gửi Trần Phương*

Cỏ khô cháy khát ven đường nắng trưa

Quá mù nên mới ra mưa

Cung đàn ân ái đứt vừa ngang dây.

Xúy Vân-Trăng khuyết hao gầy

Đọa đày làm kiếp ăn mày nhân gian

Đốt thơ thành nắm tro tàn

Khỏa vào tiếng sóng hồn nàng có nghe?

                              H.A.T


*Tên các nhân vật trong vở chèo cổ Kim Nham


Lời Ban Biên tập: Hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội báo Văn nghệ cùng với các báo Gia đình và Xã hội Giáo dục-Thời đại Đài Tiếng nói Việt Nam Người cao tuổi và Website lucbat.com tổ chức cuộc thi thơ lục bát Ngàn năm thương nhớ. Tại cuộc thi này nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm đã được trao giải Ba cho bài thơ Chiếc điếu cày. Văn nghệ Xứ Thanh xin giới thiệu chùm thơ lục bát của anh cùng bài thơ được giải.

NGUYỄN MINH KHIÊM

Chiếc điếu cày


 

Đời cha một chiếc điếu cày

Đi qua trăm tuổi chẳng hay mình già!

Vũ vần gió táp mưa sa

Sông sâu vực thẳm quỷ ma tàng hình

Trước sau thú dữ rập rình

Rít xong điếu thuốc lại lành như không!

Bao phen lũ quét trắng đồng

Mồ hôi ngập cả một vùng ca dao

Tóc làng phờ phạc lo âu

Cha ngồi với điếu thuốc lào trắng đêm!

Lửa rít vào khói phà lên

Thác ghềnh sấm sét lại êm như thường!

Đạn bom rung mấy chiến trường

Xe tăng đại bác trăm đường bủa vây!

Bên hông vẫn chiếc điếu cày

Vào dinh Độc Lập ngồi say thuốc lào!

Huân chương hạng thấp hạng cao

Cha quên trên vách qua bao tháng ngày...

Khi đi xa thế gian này

Tri âm... một chiếc điếu cày theo cha!

                           4-7-2009

Ngắm khói

Đốt rơm đốt rạ sau mùa

Vãi tro trả ruộng... đã từ xa xăm.

Tôi như con nhộng con tằm

Bờ vùng bờ thửa quấn làm thịt da!

Dũi trong nước mắt ông cha

Lưỡi cày lóc xuống câu ca nghìn đời

Sao không nghe thóc lúa cười

Trong câu hát vẫn ám mùi phân tro!

Hái liềm gặt những âu lo

Bao nhiêu gồng gánh giữa mùa nằm suông!

Dâng mình cho nắng cho sương

Quanh năm làng vẫn chum tương vại cà!

Đòn gánh truyền thuở ông bà

Qua bao gia phả bước ra vẫn còng!

Vẫn câu tục ngữ lót lòng

Có đường đi tắt nào không hỡi làng?

Ru nhau tấc đất tấc vàng

Càng ôm câu hát lại càng trắng tay!

Tôi ngồi ngắm sợi khói bay

Nhận ra làng ở trên mây phần nhiều.

                      8-2-2010

                        N.M.K


 

Toòng teng

Toòng teng một gánh trần gian

Xắn quần lội bể vượt ngàn liêu xiêu!

Bên chén rượu bên câu Kiều

Bên lắm quả đắng bên nhiều trái thơm...

Bao lần hóa rạ hóa rơm

Bao lần hóa Cuội hóa Bờm mà say!

Cả cười cái lúc trắng tay

Hu hu bật khóc khi đầy gấm hoa!

Vai mình oằn nỗi người ta

Bớt sông thêm núi bấm xa trượt gần!

Mảnh sành gai nhọn dưới chân

Khư khư cất giữ phòng thân làm bùa!

Trở vai rát cả bốn mùa

Qua hai màu tóc mà chưa điểm dừng!

Mấy câu tục ngữ giắt lưng

Đem ra chườm bóp nỗi mừng nỗi lo.

Khi còn lại một nắm tro

Toòng teng quảy nốt qua đò trần gian.

                            21-7-2010

                              N.M.K

More...

DỰ THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

DỰ THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ


 

CHU THỊ PHƯƠNG LAN


 


Ước vọng



 

Truyện ngắn



      Nắng! Nắng chang chói cho người ta lóa mắt. Nắng đổ hoa cà hoa cải xuống cánh đồng bát ngát mênh mông. Cánh đồng ư? Chao ơi! Mới ngày nào nơi ấy còn có một màu xanh dịu mát được làn gió rì rào ve vuốt. Chỉ mấy tháng sau màu vàng mơ đã thay thế màu xanh với những chiếc cần câu nặng trĩu ngàn hạt ngọc. Cuộc sống của dân làng trông đợi cả nơi đây-đồng lúa. Còn hôm nay hai tiếng "cánh đồng" đã đi vào quá vãng. Làn gió bước hụt chân ngã sấp xuống khoảng không trống hoác. Gió vội vã bay đi để lại cái nắng bơ vơ trút lửa giận bừng bừng.

Ngày ấy cũng trên khoảng đất này cứ mỗi buổi sớm mai khi ông mặt trời bừng tỉnh giấc nắng nhanh chóng ùa xuống nơi hò hẹn. Muôn ngàn tay lá vẫy gọi hân hoan. Chỉ xa nhau một đêm mà tưởng như lâu lắm. Lá ôm ghì nắng vào lòng âu yếm. Hàng ngàn vạn hạt diệp lục hối hả thi nhau uống ánh nắng vào lòng chuyển hóa chất hữu cơ tạo thành nguồn sống. Cây và nắng một mối tình nồng thắm ngàn năm đâu dễ lãng quên. Vậy mà giờ đây cây chạy trốn đi đâu chỉ còn lại khoảng trống mênh mông được lấp đầy đá cát. Những vật vô hồn luôn phản lại ánh nắng mặt trời nhức nhối.

- Hỡi những người chủ của ruộng đồng! Các người đã đem cây cối đi đâu? Bờ xôi ruộng mật một năm ba bốn vụ biết bao loại cây trồng đã khoác tấm áo hoa cho đất mát mẻ trong mùa hè ấm áp giữa mùa đông. Vậy mà giờ đây giờ đây...

Nghe tiếng gọi thiết tha mà giận dữ tiếng gọi như lay động cả không gian vọng xuống dưới đáy sâu của mấy tầng đá cát. Có một cái xác không hồn đang nằm nơi "giếng cạn". Nơi ấy vốn chính là mặt đất một khoảnh đã dồn vùng đổi thửa được qui hoạch gọn gàng. "Cái xác" nằm áp ngực mình xuống đất mặt để nghiêng áp tai nghe đất thở nặng nề tiếng thở đứt quãng như chỉ còn thoi thóp. Hai tay người dang rộng cố ôm ghì lấy đất như không muốn rời ra.

"Hỡi những người chủ của ruộng đồng"! Tiếng gọi âm âm từ đâu đó lay cái xác nằm bất động nơi đây tỉnh lại.

- Làm chủ ruộng đồng ư? Thì ta đang làm chủ đây thôi. Cố giữ đất nhưng đâu trồng được gì nơi giếng cạn? Mảnh đất này đang có dự án treo đã gần chục năm nay. Đô thị hóa và công nghiệp hóa. Những người chủ ruộng đồng tứ tán ly hương ra thành phố làm thuê kiếm miếng cơm manh áo. ấy là những người khỏe chân mạnh tay còn có thể đi. Những người sáu bảy mươi còn có thể đi đâu ?

- Kìa! Tiếng ai như tiếng lão nông? Có lẽ nào lão nông chịu bó tay nằm chờ nơi đáy giếng?

- Chào Thần Đất! Cảm ơn Thần Đất đã gọi tôi tỉnh dậy. Tôi vốn chưa bao giờ cam chịu bó tay mà chỉ là: Tôi đang thiêm thiếp giấc nồng/ ấp iu ôm trọn cánh đồng trong tay. Mảnh đất này đã bao đời ân nghĩa. Cái thuở Nhật vào bắt dân mình phá lúa trồng đay gây nạn đói tang thương! Cách mạng về chia ruộng đất cho dân mình cấy trồng trở lại cuộc sống ấm no dân ơn đảng đời đời. Giờ đây cả nước cùng quan tâm đến nông nghiệp nông thôn và nông dân nữa. Vậy mà... cả cánh đồng này đã san lấp đất mỡ màu thành khu dự án treo!!!

- Lão nông ơi! Nhìn vào bộ mặt nông thôn hôm nay ai cũng thấy nông thôn đang từng ngày đổi mới. Tiền đền bù đất đai đã được bê tông hóa những ngôi nhà điện lưới sáng trưng đô thị hóa nông thôn. Trên đường làng xe máy đã nhiều như xe đạp. Đó đây cũng tiếng nhạc xập xình cũng quán phở quán bia chẳng kém gì phố thị. Có những vùng người nông dân không phải ra đồng.

- Vâng! Có những vùng người nông dân không còn ruộng đất để ra đồng bởi ruộng đất đã hóa nhà máy mới. Người nông dân đi vào trong núi mong nuôi thả đàn dê con đặc sản bán cho nhà hàng sớm chiều đãi khách. Rồi người nông dân khai thác đá thủ công gom bán cho xe tải lớn chở đi làm đường xá khắp nơi. Nhưng rồi núi đá đã có người quản lý. Nhà máy xi măng san sát mọc lên. Máy ủi máy khoan tiếng mìn phá đá khói bụi mù trời hợp sức với những người chủ mới. Người nông dân chỉ biết nhìn nhau lững thững ra về.

- Nhưng lão nông ơi! Người nông dân trẻ khỏe sẽ đi vào nhà máy. Người nông dân có tuổi rồi cũng có thể nuôi ong nuôi con chim bồ câu bay lượn dập dờn đi kiếm sống. Người nông dân cũng có thể đi xa tìm kiếm việc làm. Chỉ có đất là ở đâu nằm đấy. Nếu chỗ nào may phúc được dựng xây nhà máy công sở hay siêu thị đông vui đất hãnh diện bởi chính mình đã làm nền chắc chắn và bền vững. Còn có những chỗ đất như miếng gan miếng tiết bị những kẻ cơ hội chiếm dụng đất thật nhiều giả danh dự án để giải phóng mặt bằng ồ ạt rồi thái nhỏ ra bán đắt hơn vàng. Chao ơi! Đất đau thắt tim gan trước những nhát dao nơi đầu lưỡi.

- Thần Đất ơi! Từ ngày làng quê lão thành khu "công nghiệp hóa" lão đã lên đường đi khắp đó đây để học cách làm ăn. Hạnh phúc thay khi có xã ven đô được qui hoạch thành vùng sinh thái hay còn gọi là khu du lịch sinh thái ruộng đất không bị thái nhỏ ra bỏ túi những cây vàng. Nơi ấy quỹ đất được giữ nguyên cho nông dân canh tác. Trên đồng ruộng vẫn có những cánh cò bay ra từ miền cổ tích chao nghiêng trong câu hát dân ca dập dờn trên sóng lúa rồi đậu xuống thửa ruộng mới cày bừa bắt con tép con tôm. Ăn no đứng một chân ngủ gật giữa đồng. Êm đềm quá và cũng thơ mộng quá. Nhiều xã ở vùng xa chưa có làn sóng dự án và những cơn bão đất làng quê yên ả thanh bình. Đêm trăng sáng chiếu chèo nơi sân đình vẫn ngọt ngào những làn điệu dân ca. Trai gái yêu nhau vẫn trao duyên qua câu quan họ cho "Duyên phận phải chiều". Văn nghệ dân gian chính là chất men cho cuộc sống người nông dân thanh thản yêu đời dẫu lao động nhọc nhằn vẫn quên hết mệt. Ruộng đất được quay vòng ba bốn vụ một năm. Vụ đông trồng cây hàng hóa có khi còn thu nhập cao hơn trồng lúa. Người nông dân dệt gấm thêu hoa trên mảnh đất của mình. Chính những đóa hoa còn ngưng đọng sương mai lung linh trong nắng sớm như hạt ngọc của trời đã biến hóa thành vàng ròng lấp lánh. "Tấc đất tấc vàng" cho sản phẩm sinh sôi. Người ta nâng niu từng nắm đất trên tay phân tích thành phần dinh dưỡng đất. Từng loại cây trồng thích ứng với thành phần dinh dưỡng đất khác nhau. Người nông dân bây giờ đã có trình độ khoa học mới đi ra đồng đem theo xấp giấy chỉ thị màu so màu lá với bảng giấy màu để bón chăm đúng cách. Đất không đói cây không bị dư thừa hóa chất tránh độc hại cho cây và độc hại cho người. An toàn thực phẩm ngay từ cây và đất.

- Thật hạnh phúc cho cây và hạnh phúc người. ở nơi ấy không hề có những cơn "sốt đất" không có những kẻ bỗng dưng thành tỷ phú bởi kiếm lời từ đất và những người hụt hẫng bâng khuâng. Thần Đất cứ cảm giác như chính mình có lỗi bởi không thể giữ được đất cho nông dân cày cấy.

- Thưa Thần Đất còn có nơi này nữa ấy là nơi được người ta xây dựng khu du lịch tâm linh bởi nơi ấy năm xưa có những người con hy sinh anh dũng. Vậy là cả một vùng đất ngủ vùi dưới lớp lớp bèo sen bồng bềnh mùa nước nổi bỗng "cái lưng rùa" nổi lên biến thành khu đất rộng mênh mông. Nơi ấy rồi đây sẽ mọc lên nhà bia tưởng niệm những vườn cây ăn trái ngọt ngào người dân không còn phải bơi thuyền mỗi khi mùa mưa lớn. Mảnh đất nơi này bỗng nhiên hóa Đất Thiêng làng quê sôi động hẳn người trong làng cảm thấy tự hào vinh dự lắm.

- Lão nông ơi! Có phải chăng Thần Đất nơi ấy thật linh thiêng nên đã phù hộ cho vùng quê đổi đời từ đất. Còn ta ta đã hết thiêng rồi nên chịu bó tay chăng?

- Không phải thế hoàn toàn không phải thế. Thần Đất ở đâu cũng rất thương dân chỉ có những ai bạc tình với đất mới sử dụng đất sai mục đích buồn lòng dân và đau lòng đất lắm thay. Lão nông tôi hiểu hết.

- Vậy- không còn đất cấy trồng lão nông sẽ tính sao?

- Thưa Thần Đất ở nông thôn không còn đất cấy trồng dẫu có nổi lên nhà tầng và xe máy nhờ món tiền giải phóng mặt bằng mà "giàu sổi" nhất thời lão vẫn thấy chênh chao như người say sóng ngồi trên con tàu ở giữa đại dương. Từng người năng động tự kiếm việc làm thì dễ còn tạo việc làm ổn định lâu dài cho cả làng cả xã thì không dễ chút nào.

- Vậy lão nông đã tìm ra việc gì phù hợp với mình chưa?

- Thưa hình như lão đã tìm thấy việc làm từ chính những gì người ta đã bỏ đi

*

- ở những cánh đồng đang gặt rộ người ta thấy một chiếc xe tải chở ông lão quần nâu áo vải cùng một nhóm người đích thị nông dân vừa từ đâu tới. Chỗ máy phụt đặt ở đầu bờ mấy người lạ nói gì với chủ nhân đống lúa rồi xắn tay bốc những bó lúa vàng ươm vứt lên cho máy phụt ăn liền hối hả nhanh tay hết bó này bó khác giống như người ta xúc thìa bột cho đứa trẻ háu đói ăn nhanh. Thoáng cái chiếc máy phụt đã "xơi" hết đống lúa mới gặt chất đầu bờ. Phía trước ống phụt là một đống rơm màu vàng óng. Những bao thóc căng tròn được chất lên xe chở thẳng về sân. Từng đống rơm của nhà này nhà khác được những người lạ nhanh tay bó gọn chất lên xe "của họ" chở đi. Một việc làm chóng vánh kiểu đổi công lao động lấy rơm. Đang giữa mùa gặt rộ không phải thuê cũng có người làm tận lực tận tâm. Việc làm đã giải quyết được mấy khâu cơ bản. Nơi có ruộng không phải phụt rơm xuống làm tắc nghẽn lòng mương dẫn nước. Cuối vụ gặt không có những đống lửa rơm rừng rực với những đụn khói mù trời làm cho người trên đường chẳng nhìn rõ lối đi ảnh hưởng môi trường và ảnh hưởng giao thông. Nơi không còn ruộng cấy mà đường làng vẫn thơm mùi rơm mới sợi rơm vàng vẫn quấn quít bước chân. Rơm được nắng phơi khô chất đống để trồng nấm rơm dần giải quyết việc làm và có thêm thu nhập.

Lão nông lên kế hoạch thu gom được càng nhiều rơm càng tốt. Đội quân của ông gồm những người ly nông mà không muốn ly hương thành lập tổ trồng nấm rơm lấy sản phẩm bán cho các nhà hàng và những người sành ăn nơi phố thị. Ông tính một vài năm làm quen có hiệu quả cao hơn ông sẽ đăng ký làm nấm rơm xuất khẩu. Sản phẩm đầu vào không phải mất tiền mua rơm mà lại được những nơi mời lấy rơm ưu ái. Phụ phẩm thải ra sau khi hái nấm xong ông cho trộn bã rơm đã mục với phân vi sinh thành sản phẩm "phân sạch" hữu cơ đóng thành túi nhỏ để ươm hoa cây cảnh. Dự kiến của ông lớn lắm ông hy vọng nếu thành công hiệu quả lớn hơn nhiều. Chỉ cần có những người nhiệt tâm ủng hộ.

Nắng! Xuất phát cho ý tưởng này cũng chính từ cái nắng. Nắng gay gắt giữa mùa hè chang chói. Tất cả những người dân nơi có điện đều sử dụng quạt điện trong nhà hết công suất trong suốt những tháng hè. Người khá hơn thì dùng máy điều hòa không khí. Còn ông lại nghĩ đến nơi xa. Ai đã từng đi tàu xe xuyên suốt Bắc Nam đã từng nhìn thấy những nghĩa trang rộng lớn với hàng ngàn mộ chí. Những nấm mộ trắng trời dưới cái nắng miền Trung chỉ có gió Lào và cát trắng. Hàng ngàn đồng đội của ông nằm dưới nghĩa trang không có một bóng râm. Nắng rang nóng nắm xương nằm trong những "ngôi nhà bê tông" nhỏ xíu ở trên triền cát trắng. Nắng lửa mưa dầu trơ trọi lắm người ơi!

Lão nông ở tuổi bảy mươi người chiến sĩ tuổi hai mươi của những năm kháng chiến người cựu chiến binh già thương đồng đội yên nghỉ trong những nghĩa trang ở xa quê buồn vắng.

Có lẽ ông phải làm dự án trình lên các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Ông muốn dùng chút sức lực còn lại dâng hiến cho bạn bè ở dưới nghĩa trang. Nếu toàn bộ các nghĩa trang đều được trồng hoa trong các hàng bia mộ thì diện tích không phải là ít giải quyết việc làm cho khá nhiều dân. Các túi trồng hoa để ở hàng ngang hàng dọc vẫn giữ nguyên để lối đi chăm sóc. Hạt hoa cây giống được ươm vào các túi. Dưới mặt đất để được một hàng gọi là tầng trệt. Nếu làm dàn treo sẽ được nhiều tầng nữa. Đầu cột của dàn treo cao chừng ba mét được căng tấm sợi dứa màu đen chống nắng cho hoa. Sau vài tháng cây hoa xanh tốt ngày tiếp ngày cây sẽ nở hoa. Có hoa là có chim có bướm có người trồng hoa chăm sóc sớm hôm. Nước tưới hoa dùng ống khoan tưới phun như mưa nhẹ. Nếu trồng đủ các giống hoa của khắp mọi miền hội tụ về đây mỗi nghĩa trang sẽ là một vườn hoa muôn màu khoe sắc chính là khu du lịch sinh thái tâm linh là bóng mát che nắng cho đồng đội của ông nằm dưới. Người trồng hoa là những người nông dân không còn đất cấy trồng. Họ trở về đây để được tiếp tục trồng cây chăm bón. Bên cạnh họ còn có kỹ sư nông nghiệp chỉ đạo kỹ thuật đúng yêu cầu phát triển của cây. Nếu làm tốt chỉ vài năm sẽ có hoa xuất khẩu. Một điều lưu ý tất cả những người nông dân trồng hoa ở đây đều mặc áo màu xanh hòa bình vừa mát mắt vừa coi là biểu tượng. Những người yên nghỉ nơi đây đã hy sinh cho độc lập tự do.

ở những nghĩa trang lớn sau khi đã trồng thành vườn hoa đẹp mắt người trồng hoa còn có thể nuôi ong nuôi chim bồ câu và các loài chim hay hót khác. Cạnh nghĩa trang có thể xây dựng cung văn hóa mi ni nơi lưu giữ những kỷ vật của các chiến sĩ và trưng bày các đồ lưu niệm để trao đổi với khách viếng thăm. Rồi đây ở nghĩa trang không còn hiu quanh nữa mà sẽ là nơi hội tụ những tấm lòng hướng đến tâm linh. Khách yêu chuộng Hòa Bình trên thế giới đến Việt Nam nhất định đến đây thắp nén tâm nhang chia sẻ sự hy sinh với những người đã khuất.

Hãy cố làm thật tốt vườn hoa nơi nghĩa trang sẽ là những vườn treo đẹp mắt ngát hương.

Hỡi những người nông dân thiếu đất cấy trồng! Hãy cùng lão nông này bắt tay vào làm nhé.

Ông lão vừa lên kế hoạch vừa hình dung việc làm sẽ phát triển đến đâu. Còn phần kinh phí chắc chắn sẽ có những đại gia sẵn sàng chung sức cùng ông. Cũng có thể sẽ thành lập hệ thống công ty công viên ở nghĩa trang công viên dành cho những người mãi mãi tuổi hai mươi bất tử!

Lão nông rất mong tất cả mọi người hãy ủng hộ ý tưởng này sớm trở thành hiện thực. Việc làm đấy mà tâm linh cũng đấy. Lão mong sao có nhiều người nhiệt tình cùng ông thực hiện ước vọng này.

                                                                Phủ Lý tháng 9-2009

                                                                          C.T.P.L




 

VŨ THỊ HUYỀN TRANG

Những ngón tay

Khi tôi ngồi đặt tên cho những ngón tay của mình

Chúng thủ thỉ với tôi quy luật về đời người

Như những nấc thang sáng nay trên giảng đường

Tôi bước cần mẫn mãi mới lên được cao

Nhưng nếu muốn thả rơi mình

Chắc là dễ lắm?

Năm ngón tay

út thơ dại

Ngón đeo nhẫn lớn lên ngỡ ngàng hạnh phúc

Ngón giữa dướn mình chống đỡ

Những nỗi đau ngón trỏ thấp dần

Ngón cái về gần hơn với đất

Bao trầm tư lặng lẽ thu mình .

Khi tôi ngồi đặt tên cho những ngón tay của mình

Quỹ thời gian đời người đã trôi dần về phía đáy

Rất nhiều đứa trẻ sinh ra

Người già về với đất

Tạo hóa mong manh như một tiếng thở dài...

                                       19-12-2009

                                         V.T.H.T





 

TRỊNH HẢI YẾN


 

Bùa yêu

Đi tìm dấu vết ngày qua

Vết son môi in hình trên áo

Gió giong khúc mặt trời

Em chân trần cát bụi.

Đi tìm nguời đàn bà trong câu hát đưa môi

Chiếc áo trẻ con hình chú mèo bắt chuột

Ngây ngô nụ cười

à ơi...

Tháng bảy mưa ngâu chuồn chuồn ướt áo

Em mang gót thị thành trẩy hội ca dao

Lá trầu xanh gói lòng cau nhỏ

Mang cả trời cổ tích những hanh hao.

Về đi thôi nhật ký ngày chân đất

Gốc đa già bà kể lá bùa yêu

Em ôm giấc thị thành nửa mùa cổ tích

Hỏi gió trời sao giấu lá bùa yêu.

                            Hà Nội 17-6-2010

                                    T.H.Y

PHẠM THANH PHƯƠNG

Tình yêu!

Một bông hoa

Trắng nhỏ

Vươn mình trên đá

Lạc loài thời gian

Như em!

                P.T.P

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

       Những nhà thơ - chiến sỹ cộng sản 

                          xứ Thanh




                                                                         MAI THỊ NGỌC CHÚC



 

        Từ xưa các nhà nho Việt Nam đã có ý thức rất cao về vai trò và trách nhiệm của người cầm bút là chuyên chở đạo lý và chống kẻ gian tà. Đúng như câu thơ của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Những chiến sỹ cộng sản Việt Nam nói chung Thanh Hóa nói riêng thuở đầu thế kỷ XX cũng tiếp nối truyền thống ấy trong nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng. Họ đều ý thức được rằng"Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận. Anh chị em (nghệ sỹ) là chiến sỹ trên mặt trận ấy" (Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu năm 1951). Tại Thanh Hóa những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện những nhà thơ cộng sản thành danh rất đáng ghi nhớ và trân trọng.

1-Đinh Chương Dương (1885-1972)

Ông người xã Lộc Tiến (nay là Hải Lộc) huyện Hậu Lộc sớm giác ngộ cách mạng và đã nhiều năm hoạt động tại Trung Quốc bị bắt và bị giam nhiều lần ở các nhà tù khác nhau.

Ông sáng tác nhiều thơ ca yêu nước và cách mạng. Ông có vinh dự được nhà cách mạng Hồ Chí Minh làm thơ tặng khi ở Trung Quốc (1943) nói lên tình đồng chí và ý thức nhất trí cách mạng giữa hai người. Ông là đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Dưới đây là một bài thơ của ông:

Tự thuật

Tang bồng nghìn dặm chí nam nhi

Tai mắt cùng nhau chẳng khác chi

Sương tuyết chạy qua cầu tệ thủy

Gió mưa ngồi rũ điểm tà huy

Ô hay! Tạo cũng cay chua lắm

Không lẽ mình xưa tội vạ gì

Nước có ta thì ta có nước

Nước non ước hẹn cứ đi đi

2-Lê Mạnh Trinh (1896-1983)

Là người xã Hoằng Đức huyện Hoằng Hóa đỗ tú tài (1916) đi làm công kiếm sống tại Sài Gòn giác ngộ cách mạng và hoạt động ở Xiêm (Thái Lan) đảng viên cộng sản (1930). Ông là chủ nhiệm các báo Đồng Thanh Thân ái làm công tác vận động Việt Kiều phụ trách Việt Minh ở Liên khu IV rồi làm Phó Giám đốc trường Đảng Nguyễn ái Quốc Phó Trưởng ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương.

Ông tiêu biểu cho lớp nhà nho tân tiến đi từ chủ nghĩa yêu nước và tư tưởng Khổng giáo đến với chủ nghĩa xã hội. Ông còn để lại một số bài thơ trong đó bài "Lời kèn thân ái" được phổ biến hơn cả. Xin trích một số câu:

Đồng bào hỡi! Tỉnh chưa? Chưa tỉnh?

Thù non sông ta tính sao đây

Đoàn là bạn báo là thầy

Được thua hơn thiệt tính bày dạy nhau.

3-Lê Tất Đắc (1906-2000)

Ông quê xã Hoằng Phúc huyện Hoằng Hóa thuộc gia đình nhà nho. Trước khi vào Đảng Cộng sản Đông Dương ông tham gia Tân Việt. Ông đã nhiều lần bị đối phương bắt giam nhiều lần vượt ngục. Đã từng làm Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa chủ bút báo Sao Vàng của Vệ Quốc quân ủy viên Ban Tổ chức Trung ương Đảng Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Ông làm thơ không nhiều thơ ông chân thật bộc lộ sự trung thành và tích cực của mình. Tuy nhiên khi làm ca dao ông lại gây được ấn tượng dồi dào cho người tiếp nhận.

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Thăm quân du kích thăm thành Bắc Sơn

Suối trong in mặt trăng tròn

Hai cô gái Thổ trèo non đi tuần.

4- Trần Mai Ninh (1917-1947)

Trần Mai Ninh tên thật là Nguyễn Thường Khanh xuất thân trong một gia đình công chức ở thị xã Thanh Hóa. Được giác ngộ cách mạng ông tham gia phong trào Thanh niên dân chủ Đông Dương. Trần Mai Ninh là một thanh niên trí thức có năng khiếu văn chương có sức viết khỏe và có ý thức cao về trách nhiệm của người cầm bút. Ông viết cho nhiều báo như Bạn Dân Thời Thế (1937) Tin Tức Thế Giới Người Mới (1938) và Bạn Đường (1939) bằng nhiều thể loại. Hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Nhớ máu và Tình sông núi đã được in trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960. Thơ Trần Mai Ninh có giọng điệu riêng khỏe khoắn mạnh mẽ giàu hình ảnh giàu nhịp điệu và rất phóng khoáng. Ông hy sinh trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (1947). Bài thơ dưới đây được viết năm 1938.

Tôi buồn

Tôi buồn buồn lắm buồn khôn tả

Và thấy lòng tôi nát rụng rời!

Đầu cúi xuốngaoau hồn đổ sụp

Lạnh lùng óc đứng một mình thôi

Tôi đã nghiến răng và xé mạnh

Mảnh tàn tự ái hãy còn vương

Sụp xuống đất bùn sâu xuống nữa

Quỳ tròn gối gãy bởi đau thương

- Thôi đi phải phá vỡ lòng ta

Phá vỡ bình bông tự ái và

Phá vỡ gương tàn soi trí thức

Quyết làm vang dậy sóng đầu ta.

5- Thôi Hữu (1919-1950)

Thôi Hữu và Tân Sắc là bút danh. Tên thật của ông là Nguyễn Đắc Giới. Ông còn có tên hoạt động là Trần Văn Tấn nữa. Thôi Hữu được kết nạp Đảng năm 1943. Trước đó ông đã tham gia Đoàn Thanh niên cộng sản hoạt động nhiều ở Hà Nội. Ông đã từng được cử vào Ban Chấp hành Đảng bộ phụ trách phong trào ngoại thành Hà Nội rồi phụ trách in ấn báo Hồn Nước làm báo Sự Thật sáng lập báo Thủ Đô tham gia xây dựng báo Vệ Quốc quân tiền thân của báo Quân đội Nhân dân. Ông cũng tham gia nhiều mặt trận: Việt Bắc Thu Đông 1947 Đông Bắc cuối 1948 Tây Bắc hè 1949.

Tại chiến dịch Đông Bắc Thu Đông 1949 Thôi Hữu và Trần Đăng sa vào tay bọn Tưởng Giới Thạch nhưng đã trốn thoát lại trở về báo Sự thật. Thôi Hữu viết nhiều thể loại. Thơ của ông không tìm mơ mộng không nhiều hoa lá bay bướm mà giàu lòng thương mến cảm thông. Thơ ông viết nhiều về những con người thật những cô lái đò những người dân công... với những nét thực thà và cảm động. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông là Lên Cấm Sơn. Ông hy sinh ngày 16-12-1950. Bài thơ dưới đây được viết năm 1940. Thời điểm này thực dân Pháp đàn áp cách mạng Việt Nam khá mạnh tay khiến làng quê hưu hắt. Tuy nhiên tác giả vẫn nhận ra phong trào cách mạng của nhân dân vẫn mang sức sống mãnh liệt.

Chiều thu

ào ào trúc đổ gió heo

Đứng bên sông lạnh mang theo bụi đường

Ráng chiều lạc nẻo trong sương

Đìu hiu trăm nỗi xót thương về lòng

Mây che u uất cánh đồng

Hồn thu gọn mối sầu trong tiếng diều

Bâng khuâng buồn mái tranh nghèo

Mõ đâu đã giục sao chiều lặng không.

                                           M.T.N.C

                  Chất trữ tình trong
 

              truyện ngắn Viên Lan Anh



                                                                  HỎA DIỆU THÚY



        Đêm triều cường xuất bản năm 2002 là tập truyện ngắn đầu tay của cây bút trẻ Viên Lan Anh. Tập truyện gắn liền với thành công bước đầu của tác giả - đoạt giả ba cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn nghệ năm 1996-1997 (không có giải nhất). Lần này là tập truyện ngắn thứ hai - Tiếng cuốc gọi bầy thêm một sản phẩm để khẳng định sự hiện diện của một cây bút nữ trong làng truyện ngắn.

1. Trữ tình trong "tứ truyện"

Khái niệm "tứ truyện" nghe có vẻ lạ bởi thông thường chỉ thấy nhắc đến khái niệm "tứ thơ" chỉ thơ mới có "tứ". Truyện ngắn gần với thơ bởi tính hàm súc mỗi truyện ngắn thường chỉ xây dựng trên cở sở một tình huống truyện và khi tình huống này thiên về thể hiện cảm xúc tâm trạng thì nó rất gần với một tứ thơ. Tình huống truyện trong truyện ngắn Viên Lan Anh phần lớn là những "tứ truyện" chính là ở đặc điểm ấy. Có thể coi đây là nét cá tính và cũng là ưu thế của cây bút nữ này.

Mới đọc qua cứ ngỡ truyện của Viên Lan Anh thiên về loại truyện lấy xung đột mâu thuẫn làm điểm tựa cho tình huống truyện. Cũng chẳng oan hàng loạt các truyện như: Mầm sống Bước đầu đời Đêm triều cường ấm Trương Mẫu quyền Cha tôi lại làm thầy Đò muộn Thư gửi mẹ Người đàn bà mù Chuyện tình bên bờ sóng v.v... có cốt truyện với các tình tiết khá ly kì hấp dẫn. Chưa nói đến sở thích ý thức đi tìm điểm tựa cho cốt truyện là các mâu thuẫn kịch tính để "dựng" truyện vẫn là thói quen của các cây bút trẻ. Với Viên Lan Anh có lẽ cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Tuy vậy nếu đọc kỹ sẽ thấy xu hướng truyện của Viên Lan Anh thuộc mô típ khác mô típ truyện trữ tình nghĩa là truyện thiên về thể hiện những xúc cảm tâm trạng những rung động nội tâm vì vậy mà truyện rất giàu chất thơ.

Nhìn chung Viên Lan Anh có xu hướng dựng truyện trên cơ sở xúc cảm trước một thực tế nào đấy một sự việc sự kiện nào đấy (dĩ nhiên là rất giàu kịch tính) mà tác giả được chứng kiến hoặc nghe kể. Dễ chừng tác giả đến với truyện bằng sự rung cảm của trái tim trước khi cái đầu lạnh lên tiếng. Hãy thử phân tích một truyện truyện Mầm sống mở đầu tập Đêm triều cường chẳng hạn. Truyện khá giàu kịch tính: Lan- đứa con gái được cưng chiều vì nó là "đích tôn"của dòng họ và còn bởi cha cô bé là liệt sĩ. Bà nó vẫn phải thường xuyên thắp hương cầu khấn vì cái tính khí thất thường của nó. Cùng với lũ trẻ trong xóm nó thường đến chơi với chú Việt thương binh từ mặt trận trở về sống đơn độc trong cái lều trông vó và căn bệnh mỗi khi trái gió trở trời lại chạy khắp làng và hô "đả đảo". Lần ấy nhờ nó phát hiện kịp mà chú Việt được cứu sống (do vết thương tái phát). Tình thương chú đã khiến trái tim non trẻ kia nghĩ ra một sáng kiến bất ngờ. Nó nói với ông nó hãy cưới chú Việt cho mẹ. Sự việc quá bất ngờ bà nó khóc lu loa ông nó triệu tập họp họ ai cũng nghĩ rằng đầu óc nó có vấn đề về thần kinh. Chứ sao nữa chả gì mẹ nó - vợ liệt sĩ đường đường là một cán bộ xã được mọi người vì nể còn anh ta thương binh thật đấy nhưng điên điên khùng khùng lại chỉ làm nghề kéo vó bè ở trong cái lều rách nát. Trong cuộc họp họ ai nấy mặt cúi gằm hàng xóm hóng chuyện "đứng chật như lá tre". Bị mọi người hiểu lầm cô bé tức giận đâm bổ ra đường tai nạn xảy ra... Đúng là truyện có những tình tiết "ồn ã" thật nhưng đọc lại sẽ thấy truyện được viết ra không chỉ bằng sự lôi cuốn của những tình tiết giàu kịch tính. Nó được viết ra trước hết bởi xúc cảm của tình thương yêu thương người phụ nữ trẻ phải gồng mình lên trước khát vọng hạnh phúc (chi tiết "Đêm đó bà bảo gạo đang đầy thùng nhưng mẹ vẫn xúc lúa ra xay lúa xay xong mẹ đem vào giã tôi nghe tiếng gà đã gáy sang canh") thương người thương binh nặng từ chiến trường trở về phải sống cô đơn vì không ai đủ can đảm để sẻ chia với những mất mát thiệt thòi của anh. Vì vậy đằng sau những tình tiết cố làm cho nổi đình đám lên kia mạch chính của truyện là những dòng tâm trạng dòng cảm xúc của nhân vật đã được tác giả dày công miêu tả. Đây là tâm trạng của cô bé khi chú Việt bị ngất vì vết thương tái phát và nhờ nó phát hiện kịp thời mà chú được cứu chữa: "Tôi chạy ra bờ sông chú Việt nằm còng queo trong túp lều trông vó (...) Nhìn gương mặt phương phi với những đường nét cân đối đang chìm vào giấc ngủ của chú một niềm hân hoan vô thức tràn ngập trong lòng tôi. Tôi hôn lên má chú rồi hít hà mùi hương cỏ mật xen lẫn mùi bùn đất mà gió phương nam đem đến. (...) đó là hơi thở của đất làng chùa quê tôi đồng chua nước mặn nhưng nồng nàn tinh khiết và cần thiết cho tôi biết bao..." . Hoặc cảm xúc sung sướng của nó tỉnh lại sau cú đụng xe thấy đằng sau mẹ nó là chú Việt: "...nhận ra ánh mắt tôi chú lại gần bên giường úp mặt vào hai bàn tay tôi. Những giọt nước mắt nóng ran từ từ thấm vào từng mạch máu li ti lan trên cánh tay tôi rồi háo hức chạy ngược lên vai chạy tràn khắp cơ thể. Tôi như lớn vụt bứt mình bay lên chín tầng mây bồng bềnh trôi vào cõi thiện bình yên và hạnh phúc". Có thể bắt gặp nhiều đoạn trữ tình như vậy trong truyện ngắn Viên Lan Anh. Càng về sau nhất là ở tập truyện sau xu hướng này càng bộc lộ rõ. Viên Lan Anh không mạnh trong xử lý và khái quát vấn đề. Điểm mạnh của tác giả nữ này là phân thân hóa thân vào các tình huống tâm trạng để diễn tả những xúc cảm những suy nghĩ nội tâm. Đây là lý do khiến cho truyện của Viên Lan có thiên hướng trữ tình hóa ngay ở cảm hứng truyện.

Không mấy khó khăn để gọi ra "tứ" trong các truyện ngắn của Viên Lan Anh. Với cái nhìn tổng quát có thể tạm phân ra một số nhóm "tứ truyện" sau: tứ truyện là những xúc cảm trăn trở về lối sống nhân cách của con người trước cơ chế thị trường. Con người đang bị đánh mất mình bị tha hóa trước sự lôi kéo của dục vọng và sức cám dỗ của đời sống vật chất như các truyện: Bước đầu đời Chuyện nhà Điều ước Cha và con Ngày chủ nhật nhiều mây Cha tôi lại là thầy Tiếng cuốc gọi bầy Mùa hoa dủ dẻ v.v... ở nhóm truyện này mặc dù tác giả đã tìm tới giọng "tưng tửng" cho có vẻ khách quan song nhiều đoạn đặc biệt về cuối truyện tác giả thường không dấu nổi cảm xúc và khi ấy hoặc là trực tiếp hoặc mạch trữ tình ngoại đề sẽ nói hộ tác giả cảm xúc ấy: "Làng tôi cái thuở xa xưa sao đẹp đến nghẹn lòng. Cũng mùa này vụ năm thuở ấy nắng sủi bong bóng chết cả cá cờ. Bà cô tôi áo nâu quần vấn đội cả trời nắng đội lúa về nhà không quên đi qua nhà bên xin cho tôi một chùm hoa dủ dẻ chùm hoa làm hồng môi con gái chỉ một chùm hoa trên đầu tôi trở thành nàng công chúa xinh tươi ..."(Mùa hoa dủ dẻ); Hoặc "ồ cuộc đời này đáng yêu chứ không hề buồn chán tí nào đó là điều tôi tin!" (Đi qua góc tối). Nhóm truyện như: Xuân muộn Mợ Cu kèn đi tây Anh én Mâm cỗ chiều ba mươi tết Thức trọn đêm mưa Nếp và tẻ Phơi phới mưa xuân Đêm triều cường v.v.. có "tứ truyện" tươi sáng hơn khi cảm xúc hướng tới những biểu hiện tốt đẹp của con người và cuộc sống. Nhóm truyện Mùa nhót chín Đò muộn Người đàn bà mù Chuyện tình bên bờ sóng v.v... tập trung vào chủ đề tình yêu mỗi truyện như là bản tình ca mơ mộng về tình yêu và sự chung thủy nên sắc thái lãng mạn rất rõ nét. Ngòi bút của tác giả vì vậy cũng bay bổng hơn linh hoạt hơn.

Qua hai tập truyện ngắn Viên Lan Anh bộc lộ đặc điểm của một cây bút vừa khá tỉnh táo trong nhận thức thực tiễn lại cũng khá mơ mộng trong niềm tin vào những giá trị bất diệt của con người. Với chị hiện thực cuộc sống đầy những thô nhám gồ ghề những bất trắc nghiệt ngã song cũng không thiếu ngọt ngào ấm áp và đó chính là cuộc sống.

2. Trữ tình trong cách trần thuật và ngôn ngữ truyện

Một dấu hiệu khác cũng góp phần bộc lộ sắc thái trữ tình của truyện ngắn Viên Lan Anh đó là vị trí của người trần thuật. Người trần thuật trong phần lớn truyện ngắn của Viên Lan Anh là nhân vật "tôi"- ngôi thứ nhất số ít người tham gia trực tiếp đồng thời là nhân vật chính trong tổ chức mạch truyện.

Cái cách mà người kể chuyện đồng thời là người trong cuộc này sẽ dẫn đến lợi thế là nhân vật tha hồ bày tỏ quan điểm thoải mái bộc lộ suy nghĩ cảm xúc của mình trước mọi vấn đề. Điều này đồng nghĩa với việc người đọc sẽ được thưởng thức một hiện thực chủ quan chí ít cũng là thiên kiến của tác giả trong một quan điểm nào đấy trước hiện thực và đây chính là hình thức diễn đạt của thể loại trữ tình. ở trên ta đã từng bắt gặp cảm xúc tâm trạng của nhân vật "tôi"- cô bé Lan trước tình cảnh của chú Việt mẹ nó mọi người... như hế nào. ở các truyện ngắn khác người đọc sẽ còn được chứng kiến những trang truyện kéo dài thể hiện suy nghĩ nội tâm hoặc xúc cảm của nhân vật. Hầu như các tình tiết không được kể bằng sự hiện diện của chính nó mà thường thông qua hồi tưởng qua dòng hồi ức đầy xúc cảm của nhân vật. Truyện Tiếng cuốc gọi bầy toàn bộ phần một "Ra đi từ cánh đồng" (5 trang) là những suy nghĩ cảm xúc bề bộn của nhân vật "tôi" về cảnh nhà trong cái đêm trước khi ngày mai sẽ ra thành phố làm thuê để giúp mẹ giúp gia đình thoát khỏi túng quẫn đói nghèo. Truyện Hoa dủ dẻ giống như một bài thơ văn xuôi man mác buồn trong những hoài niệm về quá khứ. Truyện là "bầu trời quá khứ" đầy thương nhớ trong xúc cảm của nhân vật "tôi" đã xa nhà nay nhân ngày giỗ bà trở về làng quê và kỷ niềm về một thời "hoa dủ dẻ" thức dậy trong trái tim thổn thức: "Tôi úp mặt xuống cái giếng sâu mà nấc thầm gọi mấy từ tiếc nuối: "ơi dủ dẻ ơi"...

Cùng với cách trần thuật lộ rõ dấu ấn chủ quan tất yếu sẽ đi cùng với một thứ ngôn ngữ nhiều cảm tính. Hầu như trước các nhân vật trước các tình huống người đọc bắt gặp kiểu ngôn ngữ bộc lộ tình cảm yêu ghét khá rạch ròi - thứ ngôn ngữ chủ quan của người viết. Điều này khiến ngôn ngữ miêu tả ngôn ngữ trần thuật thậm chí ngôn ngữ bình luận luôn có cấu trúc hoặc đi kèm với những tính từ hoặc sử dụng các thủ pháp so sánh cường điệu nhằm nhấn mạnh tô đậm sắc thái trần thuật. Có lẽ vì vậy mà giọng văn khá giàu nhạc tính. Nhạc tính từ nhịp đập của một trái tim biết hướng về những rung động khắc khoải đời thường.

*

Có thể nhận ra định hướng ban đầu của một lối viết nếu mạnh dạn gọi đó là cá tính thì e rằng ngay chính tác giả cũng chưa chắc đã nghĩ tới. Bởi sự hình thành còn chưa rõ nét chưa có dấu ấn nổi bật ấy là chưa kể tới còn khá nhiều những chỗ non tay vụng về. Song tác giả còn rất trẻ hãy cứ xem đây là "tiếng cuốc gọi bầy" tha thiết và khắc khoải lắm.

                                                                      H.D.T

More...

VĂN HÓA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NGUYỄN TRÃI CÓ MẶT


TRONG HỘI THỀ LŨNG NHAI KHÔNG?

                                                                     LÊ VĂN VIỆN



 

         Đến nay đa số các ý kiến cũng như các bộ sử lớn khi đề nói đến danh sách 18 người cùng Lê Lợi cắt máu ăn thề tại hội thề Lũng Nhai năm 1416 thề quyết đánh đuổi giặc Minh giành lại độc lập cho đất nước đều nhắc tới cái tên Nguyễn Trãi.

Theo sách Khởi nghĩa Lam Sơn của tác giả Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn Nhà xuất bản Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội 1998 và bản dịch Lam Sơn thực lục của Mạc Bảo Thần Nhà xuất bản Tân Việt 1943 thì danh sách 18 người có mặt trong hội thề Lũng Nhai cùng Lê Lợi cắt máu ăn thề nguyện cùng sống chết đánh giặc cứu nước cũng có tên Nguyễn Trãi.

Tuy nhiên theo danh sách ở cuốn Lam Sơn thực lục của Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội 2006 thì danh sách này không có cái tên Nguyễn Trãi quen thuộc ta vẫn thường biết đến từ trước đến nay mà thay vào đó là cái tên Nguyễn Tiến "rất xa lạ" với chúng ta bây giờ.

Vậy thực ra Nguyễn Trãi có tên trong danh sách hội thề Lũng Nhai năm 1416 hay không? Nguyễn Tiến là ai?

Trước hết tôi xin được đưa ra một vài lời dẫn và một số ý kiến nhỏ của cá nhân tôi như sau:

Sách Truyền thuyết và cổ tích Lam Sơn của Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản năm 1973 và sách Những mẩu chuyện lý thú về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của tác giả Trịnh Mạnh Nhà xuất bản giáo dục năm 2007 có ghi việc Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đi tìm minh chủ và gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Trong hai cuốn sách này đều ghi khi Nguyễn Trãi đi tìm minh chủ và gia nhập nghĩa quân Lam Sơn thì ông đi cùng Trần Nguyên Hãn.

Cũng theo hai cuốn sách này thì khi Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn vào đến đất Lam Sơn Trần Nguyên Hãn đã phải cải trang thành một người bán dầu và Nguyễn Trãi cải trang thành một chàng thư sinh để che mắt giặc Minh.

Như chúng ta đã biết Trần Nguyên Hãn là người ở xã Sơn Đông nay thuộc huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc thuộc dòng tộc con cháu nhà hậu Trần. Vì nhà Trần mất ông bất mãn với việc giặc Minh xâm lược đã đàn áp và bóc lột nhân dân ta tàn bạo nên đã nuôi chí quyết chống giặc cứu nước. Biết Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở đất Lam Sơn chống lại giặc Minh nên ông đã cùng Nguyễn Trãi từ Đông Quan vào Lam Sơn tìm minh chủ và gia nhập nghĩa quân.

Vậy Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đã gia nhập nghĩa quân Lam Sơn trong thời gian nào?

Có tài liệu cho rằng Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn gia nhập nghĩa quân Lam Sơn vào năm 1420 cũng có tài liệu lại nói là năm 1423.

Sách Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn án chép rằng Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đến gặp Lê Lợi hai lần. Lần thứ nhất hai ông đến rồi bỏ về khi thấy Lê Lợi ngồi trong góc cửa quần vén lên tận đùi một chân duỗi dọc tay xách chiếc đùi lợn tay kia cầm dao xẻo ăn một cách thô lậu. Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi thấy vậy đều thở dài và chê Lê Lợi là phường tầm thường ham ăn ham uống nên sáng hôm sau cả hai đến cáo từ Lê Lợi nói dối là xin phép về thăm quê rồi bỏ đi (Cũng có tài liệu cho rằng khi thấy Lê Lợi cầm cả cái đùi lợn xẻo ăn trong ngày giỗ nên hai ông định bỏ về nhưng sau đó lại ở lại). Trên đường đi hai người ghé nghỉ quán trọ vì trời đã tối và nghe được lời bàn của hai tên lính Minh xem thiên văn đoán vận nước Nam thì nghe được một người nói: Vua nước Nam là một viên hổ tướng đa sát mà việc ăn uống thì có phần sỗ sàng thô lậu. Nghe vậy Trần Nguyên Hãn giật mình sáng mai bàn với Nguyễn Trãi và hai người trở lại đất Lam Sơn. Trên đường đi hai người thấy ở đâu người ta cũng ca ngợi đức tính và lòng hào hiệp của Lê Lợi. Lần này sau khi ở lại xem xét kỹ và để ý thấy Lê Lợi thường đêm khuya nghiền ngẫm binh thư lương thực nhập xuất bất thường binh khí thì thường xuyên rèn rũa bổ sung lại thấy thường lúc nửa đêm về sáng là lúc Lê Lợi vắng nhà nên Nguyễn Trãi rắp tâm theo dõi thì bắt gặp Lê Lợi đang bàn việc quân ở Du Sơn (núi Dầu). Khi Nguyễn Trãi nghe Lê Lợi dự tính là sẽ khởi binh vào năm Hợi (1419) thì từ bên ngoài Nguyễn Trãi mới cất lời: Chúa công tính nhầm rồi! Nguyễn Trãi bước vào trình bày rõ lai lịch của mình và tính lại cho mọi người nghe rồi tất cả tôn Lê Lợi làm chủ tướng. Như vậy thì ta có thể tạm khẳng định là Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn gia nhập nghĩa quân Lam Sơn trước khi khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra chứ không phải đến năm 1420 hoặc 1423 như một số tài liệu đã nói. Đương nhiên nói như vậy không có nghĩa là Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn gia nhập nghĩa quân Lam Sơn trước sự kiện "Hội thề Lũng Nhai".

Chi tiết khi Nguyễn Trãi có ý gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và tìm minh chủ Lê Lợi nhưng chưa thực sự tin tưởng vào con người Lê Lợi như đã nói ở trên. Đặc biệt khi Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô sách thì ông mới được Lê Lợi trọng dụng vì lúc này Lê Lợi mới biết đến tài năng của ông chứng tỏ việc Lê Lợi biết đến Nguyễn Trãi và để ông tham dự việc quân cơ đã là lúc Lê Lợi sắp khởi binh chứ không phải Nguyễn Trãi được Lê Lợi biết đến và trọng dụng ông trước hoặc trong hội thề Lũng Nhai.

Theo gia phả họ Đinh Liệt thì vào mùa Xuân năm 1423 trong khi Lê Lợi sai Phạm Văn Xảo đi tìm Nguyễn Trãi ở Đông Quan thì lúc này Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đã đi tìm đến với Lê Lợi rồi. Nguyễn Trãi lấy tên là Trần Văn và Trần Nguyên Hãn lấy tên là Trần Võ. Tuy nhiên ban đầu vì chưa rõ lai lịch nên Nguyễn Trãi chỉ được giao làm Ký lục quân lương Trần Nguyên Hãn thì chở thuyền do phía Lam Sơn. Sau này khi Nguyễn Trãi dâng "Bình Ngô sách" thì Lê Lợi mới nhận ra tài năng và học vấn của hai ông và hai ông mới được trọng dụng.

Như vậy thì có lẽ Nguyễn Trãi phải gia nhập nghĩa quân Lam Sơn trước năm 1418 nhưng điều đó không có nghĩa là Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn trước khi hội thề Lũng Nhai diễn ra và Nguyễn Trãi cũng có mặt trong hội thề Lũng Nhai.

Một vấn đề nữa là: vì Nguyễn Trãi khi vào Lam Sơn gia nhập nghĩa quân đi cùng Trần Nguyên Hãn thì lẽ nào Nguyễn Trãi có mặt trong hội thề Lũng Nhai mà Trần Nguyên Hãn lại không có mặt trong hội thề?

Như chúng ta đã biết thì đa số các tướng sĩ ban đầu của nghĩa quân Lam Sơn là những người họ hàng thân thích cũng như bạn bè thân hữu xa gần của Lê Lợi nên ta có thể khẳng định cái tên Nguyễn Tiến phải là một trong số những người bà con thân thích hoặc bạn bè quanh vùng của Lê Lợi chứ không thể là một người xa lạ được.

Theo sách Lam Sơn thực lục (Nhà xuất bản Khoa học xã hội 2006) thì đã có sự nhầm lẫn giữa chữ Trãi và chữ Tiến của dịch giả trong khi dịch Lam Sơn thực lục.

Cũng theo sách này thì Nguyễn Tiến người lộ Khả Lam (nơi đây có lẽ thuộc vùng đất thượng du của tỉnh Thanh Hóa ngày nay). Tuy nhiên về thân thế sự nghiệp cụ thể hơn về Nguyễn Tiến thì cho đến nay vẫn chưa tìm thấy được tài liệu nào.

Điều này tôi cho là phù hợp bởi lý do: Lực lượng ban đầu của nghĩa quân Lam Sơn là rất ít và lực lượng này chủ yếu là bạn bè thân hữu và người trong gia tộc hoặc những người Lê Lợi đã quen biết từ trước. Vì ban đầu để chuẩn bị cho việc khởi nghĩa chống giặc Lê Lợi chưa thể phát động hưởng ứng rộng rãi trong toàn dân mà vẫn còn trong bí mật xây dựng lực lượng. Chỉ đến khi nghĩa quân đủ đáp ứng được cho việc khởi binh thì mới có thể công bố rộng rãi được.

Như vậy ở đây có thể trong khi dịch Lam Sơn thực lục đã xảy ra sự nhầm lẫn. Bởi trong chữ Hán thì chữ Trãi và chữ Tiến có thể nói là gần giống nhau.

Trên đây là một số lời dẫn và ý kiến của cá nhân tôi về việc Nguyễn Trãi có mặt trong hội thề Lũng Nhai hay không. Rất mong được sự quan tâm bàn luận góp ý và đánh giá của độc giả các nhà chuyên môn nhà nghiên cứu... về vấn đề này.

                                                                                L.V.V

Thoát chết nhờ cái "maniven"

                                                                      TRỊNH ANH ĐẠT



 

       Chiến dịch giải phóng tỉnh Quảng Trị (1972) vào giai đoạn gay go ác liệt nhất không hẹn rằng thu vẫn đến. Trời miền tây xứ Quảng cao xanh vời vợi vầng trăng trong vằng vặc sáng soi... Đấy cũng là mùa lập công của lính vận tải cơ giới chúng tôi bởi lợi dụng ánh trăng soi đường chẳng cần bật đèn gầm toàn đơn vị quay vòng tăng chuyến...

Ngắm vầng trăng viên mãn trong tôi bỗng trào dâng nỗi nhớ thương các em nhỏ nơi hậu phương... ở một góc chùa Sét của thủ đô Hà Nội ấy liệu tết Trung thu này các em thân yêu của tôi có được rước đèn ông sao ngắm trăng đánh trống ếch rinh tùng rinh rộn rã phố phường hay là "bế bé bằng bông/ theo đi sơ tán phòng không nơi nào?" Một tứ thơ vụt đến tôi vội chép lại dòng cảm xúc này mong được gửi về chùa Sét làm quà cho các em.

Bài thơ hoàn thành chóng vánh đường quân bưu vẫn thông nhưng không gửi đi đúng rằm thu được bởi kẹt cái "vần". Bốn câu kết được viết:

Để mâm cỗ các em đầy

Nên chưa hẹn trọn một ngày họp vui

Các em phá cỗ trung thu

Các anh cũng phá đồn thù đêm nay!

Vần ui (vui) gieo vần hu (thu) nghe nó tức tai như xe vào kẹt số phía đầu dây bên kia nhà thơ Phạm Tiến Duật giục gửi bài gấp cho tờ tin mặt trận phát cáu: "Làm sao Đạt rặn mãi không ra cái vần thế?"...

Biết làm sao được! Năng lực văn chương của tôi có hạn mà tính thì cầu toàn. Không bao giờ chịu công bố thơ mình trước độc giả khi các vần sậm sật... Bài thơ "Gửi về chùa Sét" vẫn lặng lẽ nằm trong cuốn sổ tay dưới đáy ba lô con cóc... Mấy ngày sau hậu cứ của chúng tôi rung lên vì pháo kích dữ dội. ấy là khi tướng Ngô Quang Trưởng tuyên bố: "Tái chiếm thành cổ Quảng Trị bằng pháo kích" từ các chiến hạm trên biển đông...

Vầng trăng thu trên đầu hao khuyết đôi phần vẫn vằng vặc sáng soi vậy mà sau từng đợt pháo kích mùi thuốc súng khét lẹt khói lửa mịt mù trùm lên một vùng rộng lớn ánh trăng như tắt lịm. Trong đầu tôi lóe lên một tia sáng: Sự tan hoang tàn khốc này đã gợi ý cho tôi giải thoát cái vần còn mắc kẹt trong bài thơ. Không thể nào khác được mà phải là:

Để mâm cỗ các em đầy

Nên không chấp nhận phía này trăng lu!

Các em phá cỗ Trung thu

Các anh cũng phá đồn thù đêm nay!

Chữ nghĩa như thế câu thơ lục bát mới chỉn chu được. Tôi vừa nhẹ người đi vì nỗi dằn vặt của vần vè trong thơ định khoe với thi nhân họ Phạm thì nhận được lệnh lên đường áp tải cho một đoàn xe chi viện vừa chở đạn pháo ngoài tuyến vào. Xe mới toanh toàn loại "một quang hai gánh" (Mật khẩu gọi các loại xe vận tải hai cầu) đạn dược nhiều lính trẻ măng niềm vui cộng hưởng tôi xách túi đồ nghề leo lên ngồi ghế phụ chiếc xe Zil cuối đoàn.

Lái xe là một chú lính "mặt búng ra sữa" chỉ nhỉnh hơn các em nhỏ trong thơ tôi một vài tuổi quê Nghệ An. Có tôi ngồi bên cậu ta thêm vững dạ tự tin nổ máy lên đường. Xe chạy qua một khúc "cua tay áo" và một cái ngầm tôi phát hiện ra tay lái cậu ta rất non thậm chí không biết xử lý chân ga tay số nữa. Mỗi lần thằng OV10 bắn pháo sáng vu vơ là cậu ta lóng ngóng mất định hướng đâu là ta luy đâu là vực thẳm. Đến con ngầm thứ 2 xe chúng tôi gặp tai họa không thể tin nổi: bánh xe bị pantinê (sa lầy) cậu ta cố rú ga vào số buồng nổ bị sặc xăng máy tắt lịm tôi vội mở cửa nhảy xuống xe tìm cách khắc phục... Chiếc xe hai cầu chở ngót chục tấn hàng bỗng chồm lên như con ngựa vía hung hãn. Tôi chỉ kịp hét lên "Không được làm thế" Nhưng không kịp nữa rồi. Cậu ta đã gài số rồi ấn nút khởi động (Đemarơ) với hy vọng chiếc xe sẽ vượt được dốc ngầm... Với kinh nghiệm trận mạc dày dạn và khả năng chuyên môn của mình cũng phải ngót tiếng sau tôi mới làm cho xe nổ máy lại được. Nhưng khốn nỗi mỗi lần khởi động máy phải dùng cái "maniven" quay mấy vòng động cơ mới nổ. Cậu ta mặt tái xanh lo lắng nhìn tôi nói như thú tội "Em đang học dở phổ thông tình nguyện nhập ngũ mới được một tháng hai tuần học điều lệnh nửa tháng học lái rứa là nhận xe chở đạn vô trong ni luôn..."

Nếu để cậu ta lái không biết đến bao giờ mới đuổi kịp đoàn mà không khéo chẳng chết vì bom đạn mà chết vì cậu ta cho xe lăn xuống vực cũng nên. Tôi lại là loại "lính cậu" lẻo khẻo quay mấy vòng maniven đã thở ra bằng cả lỗ tai rồi. Tôi nói như ra mệnh lệnh: "Đồng chí ngồi sang ghế phụ để tôi lái" Cậu ta nhìn tôi lưỡng lự rồi im thít chấp hành.

Thực tình tôi chỉ là một anh cán bộ kỹ thuật xe máy nhưng khi công tác ở hậu phương tại Nhà máy đại tu ôtô Tháng Mười của sở công nghiệp thành phố Hà Nội (Sau tết Mậu Thân 1968 thì bàn giao sang Bộ Quốc phòng mang bí số Q177 thuộc Cục Quản lý xe). Mà đã là cán bộ công nhân của nhà máy đại tu ôtô thì từ anh tiếp phẩm đến chị nuôi quân trong túi quần ai mà chẳng có "đầu con chó" (roto chia điện). Mỗi lần giải phóng xe ra xưởng máy thì ai nhảy lên buồng lái cũng lái được. Tôi trở thành "tay lái lụa" từ phong trào "người người lái xe" ấy.

Chẳng mấy chốc xe tôi đuổi kịp đoàn nhưng chiếc xe đi đầu đã bị trúng đạn 12ly7 của thằng C130... Để ngăn chặn con đường vận chuyển huyết mạch của ta bằng cơ giới thời kỳ này loại tàu bay C130 được trang bị thiết bị phát hiện nhiệt bằng tia hồng ngoại khả năng tiêu diệt mục tiêu dưới mặt đất là khá cao. Chiến thuật của địch là hạ chiếc đi đầu sau đó điều các loại tàu bay Thần Sấm Con Ma và loại F105 F111... đến thả bom bắn rốc két. Tàu bay OV1O thì thả pháo sáng ngỡ như cái kim rơi xuống đất cũng nhìn thấy được. Nghe tiếng tàu bay gầm rú pháo sáng đầy bầu trời cậu lái xe của tôi hoảng quá mở của xe phóng một mạch xuống hầm chữ A bên đường do anh em công binh mặt trận đào từ trước. Tôi dừng xe với tay lấy túi đồ nghề bông băng cá nhân không quên vác theo cái maniven. Tôi vừa thập thò ở của hầm các cậu lính trẻ ngồi co ro trong hầm đồng thanh phản đối "Lão này hâm bỏ mẹ! Cả cái xe to lù lù còn để đó lại đi chạy cái "maniven". Tôi cúi xuống giải thích: "Lát nữa thông đường không có maniven các đồng chí lên đẩy xe cho máy nổ nhé"

Nhưng không còn tranh luận được nữa rồi. Toàn thân tôi lạnh toát một cảm giác mơ hồ như mình đang bay vào khoảng không vũ trụ với vận tốc siêu âm. Tất cả chìm trong im lặng.

*

Một làn gió thoảng qua rất nhẹ có một thứ mùi gì đó rất lạ tôi chưa ngửi thấy bao giờ đầu rất nặng hé mắt nhận ra vóc dáng một thiếu nữ mặc áo blu trắng đang ngồi cạnh tôi phe phẩy chiếc quạt nan đầy nhẫn nại. Linh tính mách bảo tôi đã bị thương khá nặng. Nhưng tôi không xác định được là mình có mất một phần xương thịt nào không toàn thân tôi bất động tay chân như bị đá đè ngực tức rất khó thở tai điếc nặng trong đầu như có chiếc đài bán dẫn bắt lạc sóng cứ o o ro ro...

Sau hơn tháng trời điều trị tại bệnh viện tiền phương tôi được anh em cứu thương kể lại:

Tôi là người ở gần vị trí trái bom nổ nhất vì chưa vào hầm nên sức ép bom đã nâng bổng tôi lên hắt qua nắp hầm chữ A quẳng tôi vào một bụi cỏ gianh lớn phía bìa rừng cách đó hàng chục mét. Nằm trong hầm còn bốn đồng chí nữa hai đồng chí ngồi sát vách hầm trong cùng hy sinh tại chỗ (đó là cậu lái xe "mặt búng ra sữa" của tôi) hai đồng chí ngồi ngoài được đưa về tuyến sau không rõ sống chết thế nào. Mãi chiều hôm sau khi đơn vị điểm danh thấy thiếu tôi mọi người mới tá hỏa đi tìm tôi nằm "trần như nhộng" trong cái kén cỏ gianh trong bụi cỏ gianh. Các chỗ hở trên cơ thể: Miệng mũi tai mắt đều chảy máu nhiều vệt máu đã khô đen toàn thân tím bầm tóc tai khét lẹt kiến đen bu đầy người.

Khi cầm tờ giấy xuất viện trở lại mặt trận tôi đã kể câu chuyện sống sót hy hữu của mình cho ông bác sĩ giám đốc bệnh viện nghe. Ông bác sĩ vỗ vai tôi cười khơ khơ nửa đùa nửa thật ghé vào tai tôi nói to như để mọi người xung quanh cùng nghe: "Đồng chí thoát chết nhờ cái maniven" đấy!

Còn tôi sau lần chết hụt càng thán phục cái phát hiện tài tình của Phạm Tiến Duật trong bài thơ "Tiếng bom ở Seng Phan". Dẫu điếc đặc tôi vẫn hét toáng lên:

"... Thế đấy! ở chiến trường

Nghe tiếng bom rất nhỏ!"

                                               T.A.Đ

GÓP MỘT GƯƠNG MẶT VĂN HÓA XỨ THANH


CHO NGÀN NĂM VĂN HIẾN THĂNG LONG


                                                                                 CHÚC VŨ


    Năm Mậu Thìn (1028) vua Lý Thái tổ mất. Theo đúng di chiếu thì Đông cung Thái tử Lý Phật Mã được nối ngôi. Nhưng anh em của Phật Mã khá đông và người nào cũng có tài vũ dũng từng lập nhiều chiến công. Bởi vậy Lý Thái tổ chưa kịp được làm lễ táng các hoàng tử Võ Đức vương Dực Thánh vương và Đông Chính vương đã mang quân bản bộ đến vây thành để tranh ngôi. Họ quyết phải tiêu diệt Phật Mã để chia quyền cho nhau.

Biết được âm mưu phản loạn này Phật Mã đã tổ chức phòng ngự cung cấm. Kiên quyết đối phó nhưng ông không muốn chứng kiến cảnh anh em chém giết nhau khiến thiên hạ chê cười. Ông cho người khuyên các em hạ khí giới nhưng ba vương không nghe vẫn xua quân tràn ngập cung điện. Các tướng của Phật Mã chịu không được đã đòi ông phải đích thân ra tay trừng trị bọn phản nghịch nhưng Phật Mã vẫn dùng dằng. Quân của ba vương càng được thể lấn lướt đánh vào. Trước tình thế đó Phật Mã đành chấp nhận để cho quân tướng của mình tự định liệu. Lập tức một võ tướng rút gươm chạy như bay xông thẳng vào Võ Đức vương lúc ấy đang quát tháo thúc quân. Tướng ấy quát lên dõng dạc:

- Các hoàng tử muốn giành ngôi báu mà không vâng theo di chiếu. Vua chết chưa chôn đã làm loạn trước cửa cung. Tội phản nghịch đã rõ ràng. Vậy tôi xin dâng ngài thanh kiếm!

Lưỡi kiếm vung sáng lòa đầu Võ Đức vương đã rơi xuống. Bọn phản nghịch hoảng sợ bỏ chạy tán loạn bị giết vô số. Hai vương Đông Chính và Dực Thánh cũng khiếp hãi bỏ trốn. Phật Mã lên ngôi. Đó là vua Lý Thái tôn (1028-1054)

Người có công lớn trấn áp loạn ba vương góp phần củng cố ngôi vị vững vàng cho Lý Thái tôn là Lê Phụng Hiểu quê ở Băng Sơn (tức thôn Bưng) huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa.

Lê Phụng Hiểu là một võ tướng có tinh thần quả cảm có chiến tích lẫy lừng. Ông không chỉ có công bảo vệ ngôi vua cho Lý Thái tôn dẹp yên được những hoàng tử gây loạn ông còn góp nhiều chiến tích trong những trận đương đầu với quân Chiêm gây hấn. Ông cũng là người được nhà vua giành cho quyền ưu đãi. Lịch sử ghi chép có một mình Lê Phụng Hiểu được hưởng chế độ thác đao điền (ném con dao đi xa đến đâu thì được làm ruộng đến đó). Nhưng đẹp hơn cả xét từ giác độ văn hóa Lê Phụng Hiểu lại là một nhân vật một hình tượng đã đi vào huyền thoại.

Lê Phụng Hiểu là người của thế kỷ XI lúc ấy thần thoại đã lùi vào dĩ vãng. Thế mà dân gian đã tô điểm cho ông thành một hình tượng thần thoại mới một nhân vật khổng lồ như ở thời kỳ tiền sử cổ sử xa xôi. Truyền thuyết kể Lê Phụng Hiểu có thể ăn khỏe như Thánh Gióng ngày xưa. Cơm cà giành cho hàng trăm người mà một mình ông ăn hết. Cọp dữ phá hoại làng xóm ông nhổ cây đánh cọp như các chàng dũng sỹ thần lực ngày xưa. Ông đã từng gánh núi đưa về làng mình. Tại quê ông có hai quả núi tròn đối diện nhau rất cân xứng chính do ông gánh về vì vậy mà có tên là Bưng (tên chữ là Băng Sơn). Ông cũng khẳng định thần lực của mình qua những lần thử sức với những nhân vật khổng lồ khác. Ông chiến thắng một thần núi có tên là Thánh Cưu Sơn từ Trung Quốc sang. Ông này thua phải gọi ông bằng anh. Một khổng lồ khác tên là Vồm cũng bị ông đánh bại chết hóa thành núi Vồm ở huyện Thiệu Hóa bây giờ. Lê Phụng Hiểu còn đánh nhau với thần Hà Rò vì một bình nước phép làm mưa. Phương ngôn Thanh Hóa có câu: "Cơn Hà Rò đuổi bò mà chạy" là chỉ vào thần thoại này.

Lê Phụng Hiểu là nhân vật lịch sử trung đại nhưng lại đi sâu vào truyền thuyết dân gian và tạo thành một hình tượng khổng lồ mang hào quang của thời cổ đại. Đó là một hình tượng khổng lồ đặc sắc và hiếm hoi nó như là một thứ hồi quang của thần thoại xa xưa phụt lên như ngọn đèn cạn dầu trước khi tắt hẳn.

Chính vì vậy Lê Phụng Hiểu đã trở thành một vị thánh. Tại Hoằng Sơn quê ông người ta gọi là Thánh Bưng. ở Hoằng Quỳ người ta gọi là Thánh Tến. Hàng năm đền Thánh Tến đều mở hội Chèo Chải múa hát mừng công đức của ông.

Từ dân gian đi vào lịch sử từ lịch sử chuyển hóa thành truyền thuyết với những hào quang thần thoại lung linh từ thần thoại lại trở về với đời sống nhân dân tồn tại trong những sinh hoạt tâm linh nhân vật Lê Phụng Hiểu - Thánh Bưng đã trở thành một gương mặt văn hóa không chỉ của xứ Thanh đó là gương mặt văn hóa Thăng Long gương mặt văn hóa Việt Nam.

                                                                       Tháng 7-2010

                                                                              C.V

Núi Đọ từ góc nhìn


lịch sử - văn hóa

                                                            TRẦN THỊ LIÊN



          Núi Đọ ở bờ nam sông Chu cạnh Ngã ba Đầu thuộc địa phận hai xã Thiệu Khánh và Thiệu Tân huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa. Đây là một ngọn núi nổi tiếng ở xứ Thanh được nhắc đến nhiều trong lịch sử và trong tâm thức dân gian.

Theo tầm nhìn địa chất núi Đọ thuộc loại núi sót ở giữa đồng bằng có độ cao 168 mét là một trong những ngọn núi cao ở khu vực đồng bằng hạ lưu châu thổ sông Mã. Núi Đọ được cấu tạo chủ yếu bằng đá bazan có tuổi Trung sinh đại cách ngày nay khoảng 120-125 triệu năm. Hiện nay trên sườn núi vẫn còn những tảng đá gốc bazan bên cạnh những tuýp dăm kết của loại đá diabase nguồn gốc phún xuất xen lẫn các mạch thạch anh vùng chân núi có lớp phế tích dầy phủ trên lớp đá gốc bị xâm thực. Xung quanh núi Đọ là miền đồng bằng bồi tích được kiến tạo từ nguồn phù sa của sông Chu và sông Mã. Cùng với núi Go núi Vồm núi Bằng Trình núi Đọ góp mình trở thành con đê tự nhiên ở bờ nam sông Chu và bức trường thành chắn gió bắc cho các làng quê phía nam sông Chu.

Núi Đọ nằm trong khu vực trung tâm của vùng văn hóa dân gian đồng bằng hạ lưu sông Mã nơi hội tụ của nhiều di tích lịch sử - văn hóa và các loại hình văn hóa dân gian truyền thống.

Núi Đọ có hình con rùa cùng với núi Voi đang hướng về sông Chu. Trong tâm thức các cụ đồ nho xứ Thanh núi Đọ - "Linh quy hý thủy" (nghĩa là Rùa núi vờn nước) một trong những cổ tích đã góp phần tạo nên thắng tích "Bàn A sơn thập cảnh" (10 cảnh đẹp ở núi Bàn A) ở vùng đất Ngã ba Đầu. Mười cảnh đẹp đó là: Khánh Bằng liệt chướng (Núi Bằng Trình dăng hàng) Lương Mã song phàm (Hai cột buồm trên sông Lương sông Mã) Thạch tượng dục hà (Voi đá tắm sông) Linh quy hý thủy (Rùa núi vờn nước) Cổ độ kỳ đình (Nhà treo cờ ở Cổ Độ) Viễn sầm yên thụ (Cây mờ ở non xa) Cô thôn mao xá (Nhà tranh nơi thôn vắng) Cách ngạn thiền lâm (Rừng thiền cách sông) Sơn hạ ngư ky (Ghềnh chài nơi chân núi) Giang trung mục phố (Bãi tắm trâu trên sông).

Xung quanh núi Đọ là nơi hội tụ nhiều di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng.

Cận kề dưới chân núi Đọ là núi Vồm như một hòn non bộ nổi lên giữa bao la đồng ruộng. Dựa vào vách núi là chùa Vồm được tạo dựng từ thời Lê. Đây là một ngôi chùa cổ còn giữ được nhiều nét của kiến trúc chùa cổ Việt Nam. Chùa tọa lạc ở vị trí đắc địa nổi tiếng với pho tượng Phật đồ sộ được tạc vào vách núi là pho tượng Phật lớn nhất ở nước ta. Chùa Vồm với những khối tượng và hoa văn đẹp tọa lạc ở vị trí sơn thủy hữu tình đã làm cho cảnh trí thêm phần thơ mộng.

Phía đông cách núi Đọ không xa là núi Bàn A. Đây là một trong những núi đẹp nhất của xứ Thanh được lưu danh trong sử sách. Trên sườn núi có động trong động có chùa Đại Hùng. Dáng núi đẹp trên núi có nhiều chỗ bằng phẳng du khách có thể nghỉ chân ngắm nhìn sông Chu dưới chân núi sông Mã phía xa và cảnh ruộng đồng bao la của vùng đất ngã ba sông. Nơi đây được người xưa xem là chỗ "Cư sỹ quan lan sào"(chỗ người ẩn dật xem sóng). Vua Lê Hiến tông đã từng du ngoạn nơi này và gọi đây là "Lâm tuyền ổn thê"(Chỗ ở yên của khách lâm tuyền). Thời Lê quan Hiến sát sứ Thanh Hoa Ngô Thì Sỹ cảm nhận vẻ đẹp của núi đã cho khắc trên vách núi ba chữ "Bàn A Sơn" làm tiêu chí. Nhiều tao nhân mặc khách đã thưởng ngoạn và để lại thơ trên ngọn núi danh tiếng này.

Cận kề với núi Đọ là núi Ngũ Hoa Liên và núi Voi. Núi Ngũ Hoa Liên như năm bông sen nở trên cạn. Núi Voi có hình dáng gần giống với con voi quay đầu về phía núi Đọ hướng tới dòng sông Chu làm cho diện mạo vùng đất ngã ba sông thêm đặc sắc. Trong dân gian còn truyền tụng sự kiện vua Gia Long đã lấy quần thể núi này làm "Hậu chẩm" cho thành Thọ Hạc thời Nguyễn. Cùng với sông Chu sông Mã núi Đọ núi Voi núi Ngũ Hoa Liên núi Vồm núi Bằng Trình núi Chành đã làm nên một vùng linh địa một vùng văn hóa dân gian đặc sắc.

Phía bắc chảy quanh chân núi Đọ là khúc cuối của dòng sông Chu. Địa danh Ngã ba Đầu ở phía đông của núi Đọ là nơi sông Chu hòa nước cùng sông Mã. Sông Chu ở phần hạ lưu này dòng chảy mở rộng hiền hòa đã trở thành lễ đường cho các lễ hội văn hóa và tín ngưỡng dân gian. Tiêu biểu là các lễ hội có liên quan đến tín ngưỡng nông nghiệp cổ truyền và các trò chơi diễn xướng dân gian có liên quan đến sông nước con thuyền và mái chèo trong các làng nông nghiệp ven sông. Bờ bãi sông Chu với những bãi dâu xanh tốt là cơ sở cho nghề chăn tằm dệt vải. Làng cổ ven sông cùng với chợ quê những bến đò dọc đò ngang đã tạo nên những cảnh trên bến dưới thuyền tấp nập đông vui.

Bao quanh chân núi Đọ là các làng quê trù phú có truyền thống văn hiến lâu đời. Với những tên gọi: Kẻ Tràn kẻ Chành kẻ Chiểu kẻ Go... và những lớp văn hóa xa xưa ẩn dấu trong phong tục tập quán lễ hội mái đình ngôi chùa đền miếu cây đa bến nước con đò... cho thấy đây là những làng quê có lịch sử lâu đời mang đậm nét văn hóa truyền thống điển hình cho làng nông nghiệp vùng châu thổ sông Mã.

Đại Khánh có bức họa đồ

Có sông tắm mát có hồ Ngọc Châu

Trước làng xanh ngắt bãi dâu

Sau làng voi ngựa đứng chầu về nam.

(ca dao)

Những làng quê văn hiến này là nơi nuôi dưỡng những nhân cách lớn đã góp phần vào trang sử oai hùng của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử hình thành và phát triển của các làng cổ trên vùng đất ngã ba sông đã tạo điều kiện để vùng đất này sớm trở thành trung tâm của khu vực sông Mã.

Phủ lên trên núi Đọ là những cổ tích và huyền thoại có liên quan đến lịch sử khai phá vùng đất Cửu Chân. Từ chuyện kể về người khổng lồ đánh quỷ dữ sự tích về các ngọn núi đến truyền thuyết về Bàn chân tiên trên núi Đọ... đều có liên quan đến cuộc đấu tranh giữa con người với "kẻ thù hai chân và bốn chân" từ thuở khai thiên lập địa đến khi tạo dựng làng xã sau này.

Núi Đọ được biết đến và nổi tiếng với những di tích lịch sử văn hóa có liên quan đến lịch sử xuất hiện con người và sự phát triển văn hóa trong dòng chảy của lịch sử.

Năm 1960 các nhà khoa học đã phát hiện trên sườn núi Đọ những di vật có liên quan đến sự xuất hiện và phát triển của người nguyên thủy thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ có niên đại cách ngày nay hơn 30 vạn năm. Đó là những công cụ bằng đá được người nguyên thủy chế tạo bằng kỹ thuật ghè đẽo thô sơ bao gồm: Rìu tay công cụ gần rìu tay công cụ chặt thô hạch đá các loại mảnh tước được tách ra từ quá trình ghè đẽo chế tác công cụ. Các di vật này đều được chế tác từ loại đá gốc bazan có sẵn ở núi Đọ.

Gần nửa thế kỷ qua di tích Núi Đọ đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước điều tra khai quật nghiên cứu. Hơn 2500 di vật đã được phát hiện và sưu tầm từ di tích khảo cổ này. Các sưu tập di vật về núi Đọ đã được trưng bầy trong phần mở đầu lịch sử tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa nhà truyền thống của địa phương.

Tuy vẫn còn có những ý kiến khác nhau nhưng đặc tính nguyên thủy của bộ công cụ đá ở núi Đọ đã được nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu đầu tiên về di tích quan trọng này. Với di tích núi Đọ và những di vật có liên quan đến hoạt động của người nguyên thủy đã được phát hiện trên những trang đầu của các bộ quốc sử các bộ giáo trình giảng dạy lịch sử ở các trường đại học chúng ta đã có thể nói đến những trang xưa nhất của con người trên đất Việt Nam đưa đất nước ta vào khu vực rộng lớn của quê hương loài người. Với di tích núi Đọ chúng ta có thêm những tư liệu để đi sâu tìm hiểu về ngọn nguồn con người trên đất Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về di tích núi Đọ và các di tích đồng đại cùng với các nguồn tư liệu về cổ nhân học cổ sinh học hiện nay vẫn đang được tiếp tục nhằm góp phần nghiên cứu lịch sử con người trên đất nước ta trong dòng chảy của lịch sử nhân loại.

Núi Đọ không chỉ là nơi phát hiện dấu tích hoạt động của con người thời kỳ nguyên thủy mà còn là nơi phát hiện di tích văn hóa quan trọng của các thời đại sau này.

Thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước tại chân núi phía nam của núi Đọ trên một địa danh có tên gọi là Cồn Chân Tiên các nhà khảo cổ đã phát hiện một di tích khảo cổ thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau có niên đại khoảng 4.000 năm.

Kết quả khai quật nghiên cứu những chứng tích văn hóa vật chất văn hóa tinh thần tại di tích Cồn Chân Tiên cho biết: Di tích này có niên đại tương đương với các di tích Đông Khối Bái Man Đông Tiến (lớp dưới) phân bố trong một không gian văn hóa rộng cận kề với di tích Cồn Chân Tiên tạo thành một nhóm di tích tiêu biểu cho giai đoạn sơ kỳ thời đại đồng thau ở vùng đất Ngã ba Đầu. Những chứng tích văn hóa vật chất văn hóa tinh thần được phát hiện trong các cuộc khai quật khảo cổ đã cho thấy vị thế của vùng đất hợp lưu giữa sông Mã và sông Chu trong buổi đầu thời đại đồng thau ở khu vực sông Mã.

Nhóm di tích khảo cổ Cồn Chân Tiên đánh dấu một giai đoạn lịch sử quan trọng của người xưa trong công cuộc chinh phục và khai phá châu thổ sông Mã. Chính chủ nhân nhóm di tích Cồn Chân Tiên (hay "văn hóa Cồn Chân Tiên") là người đầu tiên chinh phục khai phá và làm chủ vùng đồng bằng hạ lưu sông Mã sông Chu; biến vùng đất mầu mỡ phì nhiêu mới được kiến tạo này thành một vùng phát triển có ý nghĩa trung tâm làm tiền đề cho văn minh Đông Sơn tạo dựng và phát triển để bước vào ngưỡng cửa của văn minh góp phần vào bản anh hùng ca mở đầu thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc.

Phía đông nam của núi Đọ là nơi đã phát hiện được khu mộ táng cổ thuộc giai đoạn Hán Đường - Lục Triều. Những tư liệu về các loại hình mộ táng cổ thời kỳ Bắc thuộc này đã góp thêm nhiều tư liệu cho việc nghiên cứu thời kỳ giao thoa văn hóa Hán -Việt cuộc đấu tranh chống xâm lược và đồng hóa văn hóa ở khu vực châu thổ sông Mã.

Núi Đọ trong quần thể di tích lịch sử - văn hóa "Bàn A Sơn thập cảnh"và vùng đất ngã ba sông hiện nay đã trở thành điểm đến hấp dẫn trong tua du lịch lịch sử - văn hóa xứ Thanh.

                                                                                T.T.L

More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TIN VĂN NGHỆ



 

Hội nghị Ban Chấp hành Hội VHNT Thanh Hóa

Ngày 29-7-2010 Ban Chấp hành Hội VHNT Thanh Hóa đã họp phiên thường kỳ để đánh giá công các 7 tháng đầu năm 2010 và bàn kế hoạch công tác những tháng cuối năm 2010. Đông đủ các thành viên Ban Chấp hành Ban Kiểm tra đã dự họp; đại diện Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã tham dự phiên họp. Nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm Chủ tịch Hội đã chủ trì hội nghị.

Hội nghị đánh giá: Năm 2010 là năm thứ 2 triển khai thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục xây dựng và phát triển VHNT trong tình hình mới" năm bản lề thực hiện Nghị quyết đại hội 7 Hội VHNT Thanh Hóa cũng là năm tiến hành đại hội các hội VHNT chuyên ngành trung ương Hội VHNT Thanh Hóa đã triển khai chương trình công tác năm 2010 dấy lên phong trào thi đua lao động sáng tạo được các thế hệ văn nghệ sỹ tỉnh nhà phấn khởi tham gia; nổi bật là các hoạt động: Trưng bày ảnh mừng Đảng mừng Xuân; tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ 8; tham gia triển lãm Mỹ thuật-ảnh các vùng kinh đô xưa và nay tại Phú Thọ và Huế; phối hợp với báo Thanh Hóa và thành phố Thanh Hóa tổng kết cuộc thi sáng tác về kỷ niệm 45 năm Hàm Rồng chiến thắng; triển lãm mỹ thuật "Bác Hồ với Thanh Hóa Thanh Hóa làm theo lời Bác"; tổng kết và trao giải cuộc thi ca khúc viết về quê hương Thanh Hóa; phối hợp với Sở Giáo dục - Đào tạo Ban Dân tộc và Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam tổ chức lớp bồi dưỡng năng khiếu viết văn trẻ lần thứ 2 cho các cháu thiếu nhi dân tộc thiểu số trong tỉnh... Trong kế hoạch những tháng cuối năm 2010 Thường trực Hội tập trung cho các hoạt động chuyên môn như: Tổ chức đi thực tế cho Ban Thơ; tham gia triển lãm mỹ thuật Bắc miền Trung tại Quảng Trị; Tổ chức triển lãm ảnh Bắc miền Trung tại Thanh Hóa; ngày âm nhạc Việt Nam (3-9-2010); cử hội viên tham dự trại sáng tác tại Đà Lạt; tổ chức các hoạt động chào mừng đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII.v.v... Hội nghị cũng đã xét giải thưởng Lê Thánh Tông năm 2009 gồm 4 giải A 18 giải B và 10 giải C.


 

Hội viên Ban Thơ đi thực tế sáng tác và giao lưu với tỉnh bạn.


Trong các ngày từ 7 đến 9 tháng 8 - 2010 Thường trực Hội đã tổ chức cho anh chị em hội viên Ban Thơ đi thực tế sáng tác tại các vùng miền trong tỉnh và tham quan giao lưu tại các tỉnh Ninh Bình Nam Định Hà Nam. Đoàn đã thăm quê hương và nhà lưu niệm nhà thơ Nguyễn Bính nhà thơ Nguyễn Khuyến và nhà văn Nam Cao thăm các danh lam thắng cảnh của Nam Định và Ninh Bình như Chùa Cổ Lễ quần thể Phủ Giày bãi biển Quất Lâm cố đô Hoa Lư thắng cảnh Trường Yên chùa Bái Đính.v.v... Tại các tỉnh bạn các nhà thơ Trần Đắc Trung Chủ tịch Hội nhà thơ Phạm Trường Thi Phó Chủ tịch Hội Tổng Biên tập tạp chí Văn Nhân (Hội VHNT Nam Định); nhà thơ Nguyễn Thế Vinh Phó Tổng biên tập tạp chí Sông Châu (Hội VHNT Hà Nam) tiếp và làm việc. Tối mùng 7 tháng 8 - 2010 tại thị trấn Quất Lâm (Nam Định) anh chị em hội viên thơ Thanh Hóa đã có cuộc giao lưu thơ với Hội VHNT Nam Định.

                                                                           P.V

More...

HƯỞNG ỨNG CHIẾN DỊCH PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TOÀN CẦU 2009-2010

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NỖI "ĐAU" KHÔNG CỦA RIÊNG AI...


 

                                                                                               LƯU NGA



 

      "Tại Việt Nam hiện nay đã có trên 106.000 người bị nhiễm HIV trong đó gần 18.000 bệnh nhân AIDS và 10.378 bệnh nhân tử vong do AIDS. Đáng lưu ý hơn trong hơn 10 năm qua tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai đã tăng gần 20 lần. Ước tính ở Việt Nam mỗi năm có khoảng 5000 - 7000 phụ nữ mang thai nhiễm HIV sinh con. Hiện toàn quốc có khoảng 8.500 trẻ trong độ tuổi 0 - 15 đang sống với HIV và 22.000 trẻ mồ côi do mất cha mẹ vì AIDS".

Đọc qua những con số đó chắc bạn cũng như tôi đều cảm thấy lạnh người và chua xót với hiện trạng HIV/AIDS đang có chiều hướng tăng nhanh. Cách đây chừng 2 hay 3 năm tôi có được xem một phóng sự ngắn của truyền hình Việt Nam nói về một em bé ở Bắc Giang bị nhiễm HIV phóng sự đó đã làm cho tôi thực sự xúc động. Hình ảnh một cô bé chỉ chừng 5 hay 6 tuổi với bàn tay nhỏ bé trong cái rét buốt của mùa đông em bê chậu ra sông tự giặt quần áo của mình rồi vét những hạt gạo ít ỏi trong cái nồi đen xập lại. Nhà em ở chỉ là những hàng gạch xiêu vẹo với vài tấm lá lợp sơ sài. Bố mẹ đều đã chết vì căn bệnh thế kỷ bản thân em cũng là nạn nhân không may mắn của HIV. Người đời xa lánh ghẻ lạnh em lớn lên không học hành vui chơi chỉ thui thủi trong căn nhà chật hẹp bên rìa sông lạnh ngắt. Khi đó tôi đã khóc đã xót xa thấy tim mình cứ nghẹn lại tưng tức. Và rồi cho đến tận bây giờ tôi vẫn bị ám ảnh bởi em.

Tôi một phụ nữ bước sang cái tuổi 30 tròn trịa hạnh phúc bên mái ấm gia đình của mình. Con tôi một chú nhóc kháu khỉnh và hiếu động. Giờ đây khi đã được làm mẹ mỗi lần nhìn con chơi nhìn con ngủ ngoan ngoãn tôi vẫn không sao yên lòng lo sợ một nốt muỗi cắn sẽ khiến con khó chịu lo sợ từng cơn sốt từng vết trầy khi con ngã con đau. Và tôi nhận ra rằng chính con tôi đã làm cho trái tim tôi mềm ra đa cảm hơn yếu đuối hơn. Đã rất nhiều lần tôi tự hỏi liệu những đứa trẻ bị bỏ rơi sẽ ra sao khi không có người thân bên cạnh nhất là đối với những đứa trẻ mang trong mình căn bệnh HIV mà chưa một lần hiểu rằng tại sao mình lại bị xa lánh và cô độc đến như thế.

Và tôi quyết định đi tìm cho mình phần nào câu trả lời đó bằng những trải nghiệm đã thấy và đã gặp.

Tôi tìm đến Bệnh viện Nhi Thanh Hóa gặp trường hợp cháu bé ở phố Tân Bình thành phố Thanh Hóa bị nhiễm HIV giai đoạn cuối. Cháu bé mới được 3 tuổi nằm thiêm thiếp trong phòng cách ly nhìn qua ô cửa kính bằng lòng bàn tay trong không gian mờ đục em như ngọn cỏ non cứ dần héo. Đôi mắt to tròn thi thoảng cố mở ra để nhìn những người thân xung quanh mình rồi mệt mỏi khép lại. Em bị suy giảm miễn dịch dẫn đến đi ngoài mất nước. Hồng cầu của em hầu như đã bị phá hủy hoàn toàn nên cho dù được truyền máu liên tục từ người thân nhưng em cũng không thể cứu được. Không bao lâu sau ngày em mất tôi nhận được tin bố em cũng đã ra đi vì AIDS. Còn mẹ em một người phụ nữ cũng đang gần kề với lưỡi hái tử thần phủ phục bên hai bức di ảnh chồng con sự sống cũng đang dần bị rút cạn.

Có lần nghe mọi người ở ngay gần kề nhà mình kể về một trường hợp em T nhà ở Đông Tác em bị nhiễm HIV từ lúc mới hình thành trong bụng mẹ. Bố mẹ bỏ đi bụi em sống cùng bà nội làng xóm thì xa lánh những người ruột thịt cũng e dè khi tiếp xúc với em. Không được đi học hàng ngày em lang thang trên một cánh đồng xanh tìm bắt châu chấu cào cào sâu bướm. Nhìn em chạy nhảy nô đùa chụp bắt giữa đồng ruộng dưới cái nắng như thiêu như nuốt chửng lấy cái dáng nhỏ cút côi đó. Mỗi khi thấy bóng người ngang qua em sựng lại đôi mắt cụp xuống. Ai cũng chép miệng "tội nghiệp thằng nhỏ" nhưng chưa ai dám nắm lấy đôi bàn tay gầy gò của em dù chỉ một lần. Người đời thương xót chứ không thể xóa đi sự kỳ thị với những người bị nhiễm HIV/AIDS. Đâu rồi câu nói của cha ông "Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" hay "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng". Tại sao những em bé tội nghiệp ấy sinh ra làm Con Người mà lại mất quyền làm Người. Các em cũng là da là thịt là xương là máu biết vui buồn vậy mà lại chịu những ánh mắt dò xét nghi ngại từ đồng loại. Nếu một lần tôi hay các bạn đã đặt ra giả thiết rằng mình hay chính con cái hoặc người thân mình bị nhiễm căn bệnh thế kỷ ấy thì sẽ ra sao? Đau khổ tuyệt vọng trước sự ghẻ lạnh của mọi người hay đấu tranh để có một cuộc sống tốt hơn chung với số phận. Bạn quên rằng HIV chỉ lây truyền qua máu tình dục và từ mẹ sang con chứ nào đâu lây qua bằng tay chạm tay ăn cùng mâm ngủ cùng giường với những em bé vô tội đó. Cần lắm với các em những ánh mắt trìu mến những tiếng chia xẻ thương yêu những bờ vai tin cậy của tôi bạn cũng như cộng đồng này để trả lại tuổi thơ cho những em bé không may mắn ấy.

Hãy xóa đi những đôi mắt thẳm buồn của em bé bị nhiễm HIV khi đứng trước cổng trường khép kín nhìn vào. Hãy vui khi biết tin một em bé HIV người Nam Phi đã phấn đấu và bằng nỗ lực của mình giành giải thưởng Nhi đồng quốc tế. Hãy mở rộng lòng mình đón nhận và cảm thông với những người bị nhiễm HIV/AIDS và quan trọng hơn nữa tất cả chúng tay hãy cùng góp sức để mang lại tiếng cười trong trẻo sự hồn nhiên ngây thơ cho những đứa trẻ vô tội để chính các em viết tiếp cho mình những trang sách đầy hoa hồng đầy lòng thương yêu vị tha của cuộc sống này.

                                                                                    L.N

More...

VĂN HỌC MUÔN PHƯƠNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

MIR JALAL

(Azerbaijan)

Làm cho hắn hiểu đi

Truyện ngắn


 

Vài nét về tác giả

Mir Jalal Ali oghlu Pashayev sinh tại Ardabil (Nam Azerbaijan Iran) vào ngày 26 tháng tư năm 1908 và mất ở Baku vào ngày 28 tháng chín năm 1978. Ông vừa là nhà văn vừa là nhà phê bình văn học. Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn ở Học viện Azerbaijan Pedagogical năm 1935 và nhận học vị Tiến sĩ Ngữ văn năm 1947. Ông là giáo sư môn Văn chương tại đại học Baku. Ông có các tặng thưởng: Honored Art Worker (1969) và Laureate of Azerbaijan Komsomol Award (1968).

Ông là đồng tác giả bộ sách ba tập "Lịch sử Văn chương Azerbaijan" (1957 - 1960) và đã viết hơn 50 tác phẩm. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông gồm có: "Resurrection Man" (Dirilan Adam 1936) "Manifest of a Young Man" (Bir Ganjin Manifesti 1938) "Where are we going?" (Yolumuz Hayanadir 1957) "People of the Same Age" (Yashidlar 1984).

Mir Jalal Pashayev được người đọc yêu thích nhất với những truyện ngắn mang tính châm biếm đả kích tệ quan liêu bàn giấy hình thành trên quê hương của ông từ hồi ông chỉ mới là một cậu bé 12 tuổi. Cuộc sống thường ngày qua cái nhìn của ông thật thú vị có nhiều thông tin và đôi khi được cường điệu (Iclas Qurusu).

Đọc Mir Jalal có thể liên tưởng đến những truyện ngắn của Azit Nexin (Thổ Nhĩ Kỳ) trong "Những người thích đùa" đã in ở Việt Nam nhiều năm trước đây.

Truyện ngắn Hey Ismayil make him understand trích trong tập truyện ngắn Dried Up in Meetings do Hasan Javadi dịch sang tiếng Anh nhà xuất bản Azerbaijain International USA 1998. - Bản dịch dưới đây theo Hasan Javadi.



 

       Họ nói rằng chiến dịch chống lại tệ hối lộ đang diễn ra. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng điều tôi muốn biết người ta định nghĩa hối lộ như thế nào? Hối lộ là nhận một yêu cầu không hợp pháp từ một viên chức nhà nước. Tôi đưa cho ông ta một số tiền ông ta lơ đi luật lệ và làm những gì tôi muốn. Đó là hối lộ.

Một ví dụ khác là tôi có mối quan hệ mật thiết với một bộ trưởng hay một thủ trưởng mật thiết đến mức bất kỳ khi nào chúng tôi tổ chức bữa cơm thập cẩm đặc biệt tôi không thể ăn mà không mời ông ta. Tôi mời ông ta chung vui với chúng tôi và khi ấy tôi bày một bữa tiệc. Một số học giả cho rằng đây là một lọai bất hợp pháp khác. Nhưng trường hợp này không dính đến tiền mặt thay vì vậy hàng hóa được trao đổi như là những khoản hối lộ.

Có những tình huống khác những tình huống không thể cho là nhận hối lộ hay sự thể hiện lòng kính trọng. Tôi không biết nên gọi chúng là gì. Khi người ta hỏi họ nói "Không chuyện này khác". Nhưng điều tôi muốn biết như thế nào là khác?

Khoảng 15 năm trước tôi là một giáo viên ở thành phố Khachmaz (ở miền bắc Azerbaijan gần biển Caspian và không xa biên giới Nga). Tôi dạy toán ở trung tâm thành phố ở trường trung cấp đối diện với quảng trường trung tâm.

Bây giờ tôi nói về một bà ở thành phố đó hay đúng hơn là về một mệnh phụ tóc ngắn thường đi ủng cưỡi ngựa. Bất kỳ cái gì bà này muốn không ai được từ chối. Tên của bà là Rutubat Khanim (Bà Rutubat). Người ta có thể thấy bà chỉ ngón tay vào tảng thịt bà đã chọn và nói với người hàng thịt " Này bạn tảng thịt kia là gì?". "Đó là tảng thịt cừu ngon nhất ạ!" anh hàng thịt đáp. "Cho nó lên cân!". "Dạ xong ngay ạ". "Giúp tôi một tay nào!".

Khi người hàng thịt muốn cân nửa tảng thịt mệnh phụ sẽ nói "Không cần phải cân thế. Chỉ cần gói lại và tôi sẽ lấy cả".

"Dạ thưa bà!" người hàng thịt đáp. Sau đó anh ta lấy tảng thịt gói thật tinh tươm và giao cho bà. Rutubat Khanim lấy tảng thịt và đi.

Tôi bàng hoàng. Tại sao bà ta không trả tiền? Tôi thầm nghĩ "Có lẽ họ quen nhau và bà ta sẽ trả tiền sau". Nhưng tôi cũng gặp bà này ở một nhà hàng sau khi ăn và lau miệng xong bà rời khỏi nhà hàng mà không trả tiền. Hay tôi thấy bà vào hàng bách hóa và sau khi chất đầy giỏ những đường trà gạo và bơ bà bỏ đi không trả tiền để mặc cho người bán hàng hoang mang.

Thật là lạ lùng! Có lẽ chúng ta đã bước vào thời kỳ tiền không còn cần thiết. Nhưng nếu quả đúng vậy thì tôi là người duy nhất chẳng được ích lợi gì.

Tôi cần nói thêm là mệnh phụ tóc ngắn ấy Rutubat Khanim không bao giờ đi một mình trong những cuộc thăm viếng cửa hàng này. Luôn luôn bà được tháp tùng bởi một quân nhân cao ráo là người xách giỏ hay xách cặp cho bà. Khi bà lòng vòng trong gian bách hóa cái giỏ sẽ nặng hơn nhưng không bao giờ bà trả một xu nào. Đây là điều lạ lùng nhất. Thậm chí ông cửa hàng trưởng cũng không thể làm vậy. Thậm chí viên chức sở thuế cũng phải đưa một biên nhận. Thậm chí viên thanh tra thực phẩm cũng không cư xử như thế!

Có một lần tôi gặp Rutubat Khanim trong một cửa hàng vải mới khai trương. Bà đã chỉ nhiều cuộn vải và cứ mỗi cuộn vải bà lấy số vải đủ để may một cái váy. Nhưng lần này khi bà định rời khỏi cửa hàng người quản lý cửa hàng kêu "Xin chờ chút!".

"Gì vậy?" bà ta hỏi.

"Thưa chị chị quên trả tiền" người quản lý cửa hàng đáp.

"Tiền gì?".

"Tiền mua vải ạ".

Người đàn bà quay sang anh cận vệ cao ráo nói "Đồng chí Ismayil hãy cho hắn hiểu đi".

Ismayil lại gần người quản lý cửa hàng và nói "Quên chuyện này đi!".

"Cái gì? Nếu vậy tôi ở đây làm gì chứ?"

"Bà ấy là chị của "ông lớn". Hãy ghi khoản tiền vào một tài khỏan đặc biệt!".

"Vào cái gì?"

"Vào một tài khỏan đặc biệt!".

Người quản lý cửa hàng vải hoang mang. Mệnh phụ chỉ ngón tay về phía ông ta. "Thằng ngu này từ đâu ra? Không biết ta là ai hả?".

"Không thưa chị. Tôi không biết".

"Rồi sẽ biết. Về chỗ đi".

"Nhưng sao ạ?".

Một lần nữa bà ta quay sang người cận vệ và nói "Này Ismayil làm cho hắn hiểu đi! Người ta đã đem tay này lại đây từ chỗ nào chứ? Chắc họ không tìm được ai khác ở Guba nên mới đưa tay này về đây đúng không?".

Ismayil gọi người cửa hàng trưởng ông này quay sang người bán vải và quát "Quên chuyện này đi! Cho nó vào một tài khoản đặc biệt!".

Tôi chứng kiến toàn bộ vụ này. Tôi không hiểu được. Đây không phải là một vụ hối lộ hay thể hiện lòng tôn kính với ông bộ trưởng nào đó. Chuyện này nói thẳng ra là vì sợ hãi. Vì sợ hãi người ta giao hàng hóa và tiền bạc cho một tên cướp một tên trộm hay một kẻ đứng đường nhưng loại chuyện như vậy xảy ra ở miền núi hay ở những nơi khác chứ không phải ở trung tâm thành phố giữa ban ngày trước mặt mọi người!

Tôi thầm nghĩ "Chắc chắn đây là một loại sợ hãi khác. Chắc chắn Rutabat Khanim là một loại mệnh phụ khác". Hóa ra bà ta là chị của nhân vật số một. Không ai dám cãi bà. Ngay khi bà xuất hiện trong chợ mọi người cố giấu giếm sao cho hàng hóa không lọt vào mắt bà ta. Nhưng bà ta rất lanh và kiên quyết đối với những người này. Như một con diều hâu bà ta bổ nhào xuống họ mở những cái bao của họ ra và cắp bay đi bất kỳ món gì bà muốn. Trong nhiều năm vị mệnh phụ này lộng hành ở đó.

Nhưng đến mùa hè năm 1953 Rutubat Khanim thôi không xuất hiện nữa. Không ai biết những gì đã xảy ra với bà. Người ta nói bà đã chết nhưng mà ông quân nhân cận vệ của bà ta thì vẫn còn thấy ở chợ bách hóa. Trong tư thế như người vừa về hưu Ismayil chắp hai tay sau lưng đứng nhìn những vụ mua bán hàng ngày của chợ bách hóa.

"Nè Ismayil bà Rutabat Khanim đâu?"

Ismayil đổi thế đứng nhìn quanh nhưng không nói lời nào. Ismayil người đã từng làm cho mọi người "hiểu" bây giờ im lặng. Ông ta không muốn nói.

"Ismayil chuyện gì xảy ra với bà ấy hả?"

"Bà nào?"

"Rutubat Khanim".

Ismayil im lặng. Ông gãi cổ.

"Bà Rutubat Khanim đâu?"

"Mình nói chuyện khác đi" ông ta đáp.

Rutubat Khanim đã biến mất không một dấu vết. Có thời người ta có thể thấy bà dạo gót khắp thành phố trong đôi ủng cưỡi ngựa theo sau như một cái bóng là Ismayil người xách giỏ cho bà và trả lời "Dạ thưa bà" theo những lệnh của bà. Người ta đã có thể nghĩ bà là vị nữ thần của thành phố. Khó mà tưởng tượng người có gốc gác sâu như Rutubat Khanim có thể biến mất khỏi thành phố này dễ dàng như vậy. Nhưng năm 1953 là một năm khủng khiếp đối với bà. Những chuyện đã xảy ra trong mùa hè năm đó có kết quả là sự lạm quyền của Rutubat Khanim kết thúc. Vậy thì bà đơn giản biến mất. Không ai thấy bà không ai nghe bà ra lệnh cho Ismayil nữa. Người duy nhất vẫn còn liên hệ với Rutubat Khanim là Ismayil. Như một chiếc lá mùa thu ông ta trở nên vàng úa. Ông ta khô héo thu người lại. Ông không còn ai để làm cho "hiểu". Ông không có kiên nhẫn. Bất kỳ khi nào có người hỏi về Rutubat Khanim ông ta lúng túng. Mặt ông đỏ lựng và ông sẽ nói "Mình nói chuyện khác đi".

"Ismayil có thể những ngày ấy đã hết rồi và không bao giờ trở lại!" Và ông ta sẽ nói "Mình nói chuyện khác đi".

                                                         Võ Hoàng Minh dịch

                                                     Hey Ismayil make him un

More...