BÀI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                      VĂN HỌC NGHỆ THUẬT


TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC



 

                                                      TS. CHU THÁI THÀNH

                               Vụ trưởng Vụ Văn hóa - Xã hội Tạp chí Cộng sản

       Hiện thực vĩ đại của đất nước đã tạo nên những tiền đề vững chắc cho sự phát triển của văn học nghệ thuật.

Trong thời gian qua nhất là từ khi Đảng ta chủ trương đổi mới hội nhập kinh tế văn hóa quốc tế văn học nghệ thuật nước nhà đã có những bước phát triển mới không gian sáng tạo của văn nghệ sĩ được mở rộng các văn nghệ sĩ có thể đề cập đến nhiều đề tài khác nhau nêu lên nhiều vấn đề mà trước đây ta vẫn thường e ngại. Nhiều nhà văn được bạn đọc chú ý như Nguyễn Minh Châu Ma Văn Kháng Lê Lựu Nguyễn Khắc Trường Nguyễn Huy Thiệp... Sáng tác của các nhà văn này đã đề cập đến một số khía cạnh nhạy cảm của đời sống cách thức miêu tả hiện thực sinh động hơn và cách lý giải các vấn đề đặt ra trong tác phẩm cũng uyển chuyển hơn. Trong lĩnh vực thơ ca cũng có nhiều nỗ lực cách tân đáng ghi nhận. Các cuộc tranh luận về thơ hiện đại về tính dân tộc trong thơ... tuy chưa đạt được hiệu quả như mong muốn nhưng cũng đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuật nước nhà.

Đội ngũ những người góp phần quyết định chất lượng lý luận phê bình văn học nghệ thuật hôm nay cũng không ngừng trưởng thành. Hiện nay đội ngũ này gồm nhiều thế hệ nối tiếp và gắn bó với nhau. Từ thế hệ những người đi trước như: Nguyễn Đăng Mạnh Hà Minh Đức Phương Lựu Trần Đình Sử Mai Quốc Liên Lê Ngọc Trà Hồ Sỹ Vịnh Lại Nguyên Ân Đinh Xuân Dũng... đến thế hệ tiếp theo như: Ngô Vĩnh Bình Trương Đăng Dung Phan Trọng Thưởng Trịnh Bá Đĩnh Phạm Xuân Nguyên Nguyễn Đăng Điệp ... và thế hệ trẻ hôm nay: Phạm Duy Nghĩa Phùng Gia Thế Cao Kim Lan Phạm Xuân Thạch Trần Văn Toàn Trần Ngọc Hiếu Đỗ Hải Ninh Lê Hương Thủy Đoàn ánh Dương Hoài Nam... đã tạo nên những thành tựu lý luận phê bình văn học nghệ thuật không nhỏ mà biểu hiện trước hết là làm tốt nhiệm vụ định hướng văn học nghệ thuật đi theo quỹ đạo của một nền văn nghệ chân chính vì nhân dân vì lý tưởng tốt đẹp: dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.

Chúng ta có thể khẳng định rằng phê bình văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới có tác dụng tích cực đối với sáng tác phát hiện cái tốt ủng hộ cái mới tiến bộ trong hoạt động sáng tạo. Đội ngũ văn nghệ sỹ được hình thành phát triển và rèn luyện trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa là lực lượng tin cậy trung thành của đất nước của Đảng và nhân dân có lòng yêu nước nồng nàn tự hào dân tộc tâm huyết với nghề nghiệp xứng đáng với danh hiệu cao quý nghệ sỹ - chiến sỹ là lực lượng nòng cốt trực tiếp tạo nên văn học nghệ thuật cách mạng của dân tộc trong thời kỳ mới.

Còn không ít những trăn trở

Nhìn trên toàn cục đặt trong bối cảnh hôm nay có thể nhận thấy lý luận phê bình văn học của ta còn lạc hậu chưa tương xứng với vị trí vai trò chức năng của chính nó. Nghị quyết số 23-NQ/T.Ư của Bộ Chính trị cũng đã chỉ rõ: Hoạt động lý luận văn học nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống còn xa rời thực tiễn sáng tác có biểu hiện xơ cứng kém năng động giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.

Hoạt động phê bình văn học nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu thực hiện chưa tốt chức năng hướng dẫn điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm; văn hóa phê bình bị hạ thấp...

Một số sản phẩm văn học nghệ thuật tầm thường chất lượng kém được phát hành truyền bá gây tác hại ảnh hưởng xấu tới công chúng nhất là thế hệ trẻ.

Thời gian gần đây trong xu thế giao lưu và hội nhập nhiều lý thuyết trào lưu văn học nước ngoài đã được giới thiệu một cách rộng rãi. Tính đa dạng sự phong phú về cách thức thể hiện và sáng tạo của văn nghệ sỹ được khuyến khích. Nhưng dù lạc quan đến đâu chúng ta vẫn phải đứng trước một thực tế: Từ khi Đảng ta chủ trương đổi mới hội nhập kinh tế quốc tế nhiều lĩnh vực khác đã thu được những thành tựu đáng kể thì lĩnh vực sáng tạo văn học nghệ thuật chúng ta đều thừa nhận những tác phẩm đỉnh cao còn đang ở phía trước. Mặt bằng sáng tạo hiện nay cao hơn trước là điều dễ thấy nhưng rõ ràng nền văn học nghệ thuật của chúng ta đang thiếu những đỉnh cao nghệ thuật thực sự. Trong khi đó Đảng ta nhân dân ta luôn kỳ vọng vào tài năng và tâm huyết của các văn nghệ sỹ. Một khi còn chưa tạo nên những tác phẩm xứng tầm thời đại thì cũng có nghĩa là các văn nghệ sỹ còn mắc nợ nhân dân chưa đáp ứng được mong mỏi chính đáng của nhân dân.

Cũng phải thừa nhận rằng còn ít sản phẩm văn học nghệ thuật đến được các vùng sâu vùng xa miền núi hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Số tác phẩm có giá trị của ta được giới thiệu ra nước ngoài còn hạn chế; trong khi đó một số sản phẩm không phù hợp với truyền thống đạo đức văn hóa của dân tộc thậm chí độc hại phản động của nước ngoài lại xâm nhập vào nước ta gây nhiều tác động tiêu cực.

Điều dễ nhận thấy là trong những năm qua văn học nghệ thuật chưa đề cập và thể hiện được những vấn đề trọng đại của đất nước một cách sâu sắc. Có quá nhiều tác phẩm quá chú ý đến cái tôi mà quên đi cái ta. Khi cuộc chiến tranh đi qua việc trở về với cái tôi là một cuộc vận động đúng hướng của văn học nghệ thuật. Nhưng nếu chỉ chú ý đến cái tôi một cách cực đoan coi cái tôi mới là cái có ý nghĩa tối thượng thì lại là một quan niệm sai lầm. Quan niệm này rất dễ dẫn đến tình trạng văn nghệ sỹ chỉ quanh quẩn với những cảm xúc vụn vặt những nỗi buồn không đâu mà không nhận thấy những chuyển động thực sự của lịch sử; nhiều câu chuyện mô tả cảnh đâm thuê chém mướn những cuộc tình tay ba những chuyện ăn chơi hưởng lạc... mang đậm yếu tố câu khách. Sáng tác dễ dãi kéo theo sự xuống cấp của thị hiếu là vấn đề thực sự đáng lo ngại.

Sự mở rộng không gian sáng tạo không đồng nghĩa với việc tạo nên một nền văn học nghệ thuật hỗn loạn mạnh ai nấy viết viết gì cũng được miễn là đáp ứng được giá trị thương mại mà không cần đến giá trị tư tưởng và nghệ thuật đích thực. Nhiều tác phẩm đã miêu tả một cách khá sắc nét sự băng hoại của đạo đức xã hội sự xuống cấp nghiêm trọng của các giá trị sự tha hóa của nhân cách nhưng lại quá ít tác phẩm nói lên một cách sâu sắc chân dung của con người thời đại. Đây là một vấn đề rất lớn vì nền văn học nghệ thuật của chúng ta không chỉ có nhiệm vụ vạch ra cái xấu mà còn phải xây dựng được những hình tượng cao đẹp khiến người đọc biết tin yêu và kỳ vọng vào cuộc sống.

Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt nhiều văn nghệ sĩ chưa có điều kiện chăm chút đầy đủ về mặt nghệ thuật quan niệm về văn học của chúng ta có lúc có nơi còn hạn hẹp thậm chí ấu trĩ chỉ nhấn mạnh đến chức năng giáo dục mà chưa chú ý đúng mức đến chức năng nghệ thuật của tác phẩm. Thậm chí chức năng giáo dục cũng bị tính đặc thù của văn học là giáo dục bằng tình cảm tâm hồn giáo dục bằng cái đẹp và thông qua cái đẹp. Vả lại nhìn vào lịch sử văn học thế giới có nền văn học nào từ lúc mới sinh ra đã có được những thành quả rực rỡ mà nó phải phát triển tuần tự từ sơ lược đến thành thục nền văn học cách mạng không nằm ngoài quy luật đó. Việc tạo nên những tác phẩm văn học nghệ thuật thể hiện được chiều sâu của cuộc sống đòi hỏi văn nghệ sỹ không chỉ biết sống đúng mà còn phải có cái nhìn đúng phải thấy được dự báo được sự phát triển của cuộc sống vì xét cho cùng văn cũng chính là đời. Chúng ta thấm thía khi bàn về mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm nhà chí sỹ Phan Bội Châu từng viết: Nói cho đúng văn chương sở dĩ có giá trị không chỉ ở nơi văn chương; mà hơn nữa ở phần nơi người làm văn chương; người làm văn chương có giá trị thì văn chương đó thành ra văn chương của Khổng Mạnh; người làm văn chương mà không có giá trị thì văn chương đó thành ra văn chương của Dương Hùng Thái Mao. Giá trị vẫn ở nơi văn chương hay mà văn chương sở dĩ hay tất nhiên ở nơi người làm văn chương đó là người có giá trị. Chúng ta xin đem cặp mắt văn chương mà đặt luôn cả cặp mắt xem nhân cách thì câu nói: Văn chương thiên cổ sự đắc thất thốn tâm tri chẳng đậm đà thắm thiết lắm sao?

Đôi điều gợi mở

Nhìn lại những thành công và hạn chế của văn học nghệ thuật thời gian qua là để rút ra những kinh nghiệm nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của nghệ sĩ phấn đấu xây dựng một nền văn học nghệ thuật có nhiều tác phẩm xứng đáng với sự nghiệp đổi mới đất nước.

Để thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của văn học nghệ thuật trong thời gian tới đội ngũ văn nghệ sỹ phải bám sát vào cuộc sống đi sâu vào công cuộc đổi mới sôi động của nhân dân. Sự hạn chế về tri thức văn hóa vốn sống thực tế bản lĩnh nghề nghiệp sẽ gây trở ngại lớn cho văn nghệ sĩ trong quá trình nắm bắt và sáng tạo những tác phẩm văn nghệ có giá trị. Văn nghệ sỹ phải không ngừng tích lũy vốn sống rèn luyện sức đọc sức nghĩ rèn luyện tư duy và sức viết công phu. Văn hào Goóc-ki từng nói: Công cụ chính nó được mài sắc trong quá trình lao động.

Điều quan trọng là phải đề cao sự thống nhất giữa lý tưởng xã hội và lý tưởng thẩm mỹ phản ánh chân thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ nêu được bản chất của các loại quan hệ xã hội thể hiện được xu thế phát triển của lịch sử và yêu cầu tiên tiến của thời đại; nỗ lực dùng văn nghệ để giáo dục tư tưởng nhân dân tạo nên một đời sống tinh thần lành mạnh và khơi thức tinh thần sáng tạo của toàn dân. Theo đó văn học nghệ thuật nước ta phải thường xuyên giải quyết tốt hai nhiệm vụ chống và xây. Các văn nghệ sỹ phải chống lại những tư tưởng sai trái những âm mưu diễn biến hòa bình phá hoại thành quả cách mạng của dân tộc không ngần ngại vạch ra những biểu hiện tiêu cực sự băng hoại đạo đức xã hội; đồng thời phải xây dựng được những tác phẩm văn học nghệ thuật vừa có tầm cao tư tưởng vừa có giá trị nghệ thuật xuất sắc.

Muốn thế phải thường xuyên tổ chức cho văn nghệ sỹ tiếp cận với thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa với các thông tin về mọi mặt của đời sống xã hội trong toàn quốc và trên thế giới là thiết thực tạo điều kiện cho sự sáng tạo. Phải có chính sách quản lý văn học nghệ thuật phù hợp. Nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động văn học nghệ thuật ban hành kịp thời các chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuât.

Nhà nước cần có chính sách đầu tư thỏa đáng cho các sáng tạo văn học nghệ thuật và nghiên cứu lý luận văn học nghệ thuật theo một kế hoạch nhất định. Tạo điều kiện để mời các chuyên gia đầu ngành lý luận văn học nghệ thuật ở nước ngoài vào Việt Nam giảng chuyên đề tạo diễn đàn trao đổi lý luận văn học nghệ thuật rộng rãi để khích lệ những tìm tòi mới. Khuyến khích mọi sáng tạo về lý luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Tạo không khí tranh luận học thuật lành mạnh trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau chống tệ bè phái và tệ quy chụp tùy tiện thiếu trung thực về mặt chính trị cản trở lý luận văn nghệ phát triển. Lý luận phê bình hướng dẫn điều chỉnh và đồng hành với sáng tác góp phần xây đắp một nền văn học nghệ thuật ngày càng lớn mạnh với những tác giả tác phẩm có tầm vóc xứng đáng với dân tộc.

Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị chỉ rõ nhiệm vụ xây dựng và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ đáp ứng yêu cầu tiếp tục phát triển mạnh mẽ nền văn học nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ mới. Xây dựng và thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài ưu đãi văn nghệ sỹ có quá trình cống hiến có nhiều tác phẩm tốt. Củng cố đổi mới hoạt động của các hội văn học nghệ thuật ở trung ương và các địa phương nhằm nâng cao khả năng tập hợp động viên phát huy tiềm năng sáng tạo và phát triển đội ngũ văn nghệ sỹ của hội. Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của các đảng đoàn hội hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong các đơn vị hoạt động văn nghệ. Tăng cường các biện pháp xây dựng phát triển văn nghệ quần chúng; phát huy các giá trị văn hóa văn nghệ truyền thống của dân tộc.

?iều quan trọng là phải quán triệt quan điểm chỉ đạo văn học nghệ thuật của Đảng: xây dựng một nền văn học nghệ thuật tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế văn học nghệ thuật Việt Nam phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn dân chủ. Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật vừa có tác dụng định hướng vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân dân.

Văn nghệ sỹ có thể sáng tác theo nhiều phương pháp khác nhau tìm đến những phong cách đa dạng nhưng tác phẩm của họ phải lấy lợi ích của dân tộc đất nước làm lợi ích tối cao. Muốn thế một mặt các văn nghệ sỹ phải tiếp thu được tinh hoa văn hóa của nhân loại mặt khác không ngừng học tập tiếp thu tinh hoa văn hóa của dân tộc để tạo nên những tác phẩm vừa mới mẻ vừa thích hợp với tâm lý thị hiếu của công chúng hiện nay. Tính tư tưởng sắc bén tính nghệ thuật cao và bản sắc dân tộc đậm đà trong văn học nghệ thuật là định hướng để xây dựng những tác phẩm văn học nghệ thuật xứng đáng với sự nghiệp đổi mới của đất nước.

                                                                               C.T.T

More...

TRUYỆN NGẮN VÀ BÚT KÝ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TỪ NGUYÊN TĨNH


Cầu có còn không

Truyện ngắn    


     Sau lần chiến đấu ở đỉnh núi Rồng tiểu đội của Nghì được lệnh rời về một mỏm đồi khác xa cầu Hàm Rồng để đảm bảo an toàn. Những pháo thủ kỳ cựu phần lớn được điều đi đơn vị mới hoặc đi học sỹ quan vì lúc này lực lượng phòng không đang phát triển mạnh có đủ sức để đánh trả lại sự "leo thang" ra miền Bắc của giặc Mỹ.

Tiểu đội pháo 14 5 ly của Nghì thường chỉ có bốn năm người phục kích bắn máy bay bay thấp ở thượng nguồn sông Mã. Cánh lính "tầm xa" như pháo 37 ly 57 ly nhất là "đại cao" 100 ly những lần đi tắm ở bến Phân Lân vẫn hay gây sự. Họ bảo lau dầu mỡ và cất vào kho cho mới có hơn không... Tụi bay chỉ gãi cho ngứa đít máy bay chứ làm được trò trống gì?

- Chắc mèo nào cắn được mỉu nào! Thằng Dơn tức lắm đốp lại sau những tràng cười của mấy cha đơn vị bạn.

Sự việc như có thần linh mách bảo. Khi cả trận địa Hàm Rồng im thin thít ngủ trưa Danh thét vào tai Nghì.

- Kia kìa! Máy bay...

- Gì vậy? Nghì hỏi lại.

Theo tay Danh chỉ một chiếc máy bay lù lù như chiếc thuyền nghiêng ngó luồn lách các dãy núi men theo dòng sông Mã bay thẳng vào cầu Hàm Rồng. Không thể tin vào mắt mình Nghì thét lên: Nạp đạn! Ngọ và Danh nhảy phắt lên pháo đặt cả kính ngắm chờm vào con quỷ mà vãi đạn. Nó cắm đầu xà thấp và bay ra tận ngoài biển xa kéo theo cả một cột khói đen kịt. Một anh chàng pháo 37 ly mét nào đó bắn đoảng đuổi theo ba viên đạn lạc lõng. Hàm Rồng trở lại yên tĩnh tưởng chừng chưa có việc gì xảy ra. Bây giờ mới có tiếng kẻng giật giọng nhưng chỉ còn lại tiếng động cơ phản lực vọng vào núi đá và dòng sông phản hồi nghe hư thực mà xa vời.

Ngọ và Danh nói với tiểu đội trưởng Nghì:

- Không còn ai tranh công với tụi mình nữa nhé!

- Hết coi thường pháo tép chưa nào! Danh cười khì tỏ ra hả hê.

Chỉ thương cho thằng Dơn đi tắm từ sông Mã chạy về quần đứt cả dải rút nằm lăn ra đất vì mệt. Hắn la lên như người bắt đền:

- Các anh cướp công em mất rồi!

- Biết làm sao được chúng tao có gọi nó vào đâu kia chứ!

- Bọn "đại cao" còn trật khấc chả là cậu! Danh nói đôi mắt hiêng hiếng nhìn cái rổ ra đa trên đồi cao đang quay như xúc tép trông thật đến vô duyên.

Danh hơn Dơn hai tuổi hơn một tuổi quân Ngọ kém Danh một tuổi nhưng lại hơn hai tuổi quân. Ngọ đen chũi nom già hơn thành ra Danh vẫn quen gọi là anh một thái độ kính trọng với người nhập ngũ trước mình. Danh bao giờ cũng sòng phẳng hắn nói:

- Này ông Quắn (Nghì đấy-tóc quăn mà lại) mà tịch (chết) Ngọ sẽ lên thay Ngọ mà bách (chết) Trần Duy Danh này kế vị tớ mà tịt cậu Bai Rơn (Dơn) sẽ nắm quyền... Chả là Dơn không biết lấy đâu ra một tập thơ của nhà thơ Anh hắn nói người ta là Bai Rơn (*) mình là Lê Dơn chứ kém chi?

Lại chuyện thay cái chức "khẩu đội trưởng" Dơn trợn mắt cãi lại.

- Chưa chắc!

- Cậu bảo sao? Danh hỏi lại.

- Chả lẽ sống lâu lên lão làng à! ý cu cậu nói hắn học hết lớp chín còn Duy Danh mới tốt nghiệp bảy phảy năm (mới được học kỳ lớp tám) nên Danh đành chịu.

Lúc bàn xem ai có công lớn trong việc bắn rơi máy bay Danh phán như thể là quan tòa. Ngọ đạp cò nhưng tôi thấy trước tôi công đầu. Ngọ có công sau tôi. Tiểu đội trưởng Nghì phất cờ ra lệnh bắn công sau Ngọ. Trong tình huống có máy bay vào bắn phá không có người ra lệnh thì ai phát hiện cũng phải bắn thôi. Chấm hết.

- Không ổn! Biết là Danh phát hiện ra mục tiêu nhưng không có người đạp cò thì làm sao mà bắn rơi được máy bay. Xí xóa hết. Ngọ xếp hạng ba. Tiểu trưởng và Danh hạng tư... Dơn hạng nhất vì sao anh Danh biết không nó có thể phán đoán rằng mình đi tắm mới dám mò vào... Và các vị quên một điều đạn của tôi vẫn nằm trong ổ súng trước khi đi tắm mà lại.

- Điêu. Tiểu đội trưởng Nghì quát nạp đạn cậu ạ. Tuy vậy Danh mà bằng tiểu đội trưởng thôi thì thiệt quá...

- Tiểu đội trưởng phất cờ thì sao? Dơn hỏi lại.

- Vẫn bắn! Ngọ cười. Tớ thì thế nào cũng được nhưng không thể để cho Dơn thiệt. Dơn mà thiệt thì A ta cũng thiệt mất cái uy của "nhà thơ" đi... Ngọ nhìn thấy cái mũi của Dơn rung động nói tiếp. Dơn nó chạy mệt đứt cả rút quần...

- Tôi không lấy đâu... Ông Ngọ ra điều lắm... Dơn nói khi.

- Thôi các cậu ơi! Điều ta làm được là mấy tay pháo lớn không coi thường được loại pháo tép này... Thật ra thì tiểu đội của Nghì trong lúc thông nòng chờ cơm kháo nhau cho vui đấy thôi. Không ai nghĩ đến mình sẽ được tặng một danh hiệu gì. Thằng Dơn đến phiên trực nhật đặt cơm lên bãi cỏ và gọi giật giọng làm cả tiểu đội giật mình.

- Nhìn kìa! Một con đò ẩn hiện nơi ngã ba sông và một vành trăng hiện ra như khóe miệng của người con gái...

Những đêm trăng thanh bình cả tiểu đội nằm tán dóc với bao dự định và ước mơ sau này khi hết chiến tranh trở về. Một người vợ một vài gian nhà bên sông với nghề chài lưới vui hết sẩy. Tiểu đội súng máy ấy tưởng chừng không bao giờ có thể xa nhau xa ngọn đồi trên lưng dãy núi Rồng này.

Nhưng ngày xa nhau ấy đã đến. Vì không ai biết trước nó sẽ đến vào lúc nào nên lòng dạ thanh thản đến lạ lùng. Trên sợ trận địa bị lộ nên lệnh cho rời sang bờ bắc của Hàm Rồng. Tiểu đội lại tháo rời từng bộ phận và vác lên thuyền chở pháo sang sông. Gặp mấy cha "đại ca" Dơn vẫn nheo cặp mắt nói bửa:

- Chào "đại ca" chúng em đi bảo vệ "cái sườn" cho các anh đây!

- Vâng! Tụi mình biết tài mấy ông "pháo tép" rồi.

- Ta xí xóa với nhau nghe mỗi thằng có cái tài riêng vì thế mà chúng mình mới hợp đồng chiến đấu. Cậu nào nói ra vẻ dàn hòa. Nhưng Dơn thì không chịu thua:

- Quái gì! Khi cả làng bắn thì biết thằng đếch nào trúng biết đâu lại cốc mò cò xơi ấy chứ?

Nghì định nói với bạn chuyện ấy vẫn xảy ra trong chiến tranh. Công thần đổ lỗi rồi cũng sẽ qua đi. Nghì không dám ước ao tiểu đội của mình sẽ sống bên nhau mãi mãi nhưng một điều phải thừa nhận họ là những tay súng rất cừ.

*

Trận địa nằm ngay trên bờ đê. Các cậu ấy bảo nên đặt ở ngã ba sông để được ngắm trăng được nghe tiếng gà gáy cho ba bốn huyện cùng thức nhưng Nghì không đồng ý. Anh nói với đồng đội:

- ở gần bến đò là không lợi lắm người qua lại nhiều dễ bị lộ. Máy bay nó mất vía sẽ không bay thấp cho mình xơi đâu. Nằm ở đây để nhìn cầu có thằng nào muốn lẻn vào khi các cậu ấy ngủ còn ta thức mà bắn chứ?

Dơn nói kháy:

- Hay tiểu đội trưởng sợ lính được bồi dưỡng mắt... Cu cậu nói cũng có lý gần bến người đi chợ qua cũng đỡ phần vất vả cho việc nấu nướng. Thằng Danh mấy lần bắt được cu cậu dùng ống nhòm lia xuống bến nói đùa: Có bắt được cái vỉ ruồi nào không? Dù có đùa vui tán dóc nhưng không ai muốn cho trận địa bị lộ. Danh bảo ở quãng đê này "đơm đó" thằng địch là hay nhất nó mà bay thấp rồi ngoặt vào hất bom vào cầu Hàm Rồng bắn mà không trúng thì cũng làm cho nó sợ mà rúc vào núi cũng chết. Ngọ cái cách lầm lì xưa nay buông ra một tiếng "còn tùy" nặng chịch. Tiểu đội biết hắn buồn. Em gái gửi thư cho Ngọ nói vợ hắn đi họp hành trên huyện đã tằng tịu với một gã bụng chửa lù lù. Bỏ cơm. Danh mới phải nói khéo:

- Cóc cần! Mình lại được lấy vợ trẻ chứ lo chi!

Dơn cau mặt tuyên bố:

- Những thằng ấy cho một phát cho xong đời đi. Cái lũ đục nước béo cò.

Nghì phải làm bộ mặt nghiêm khẽ quát Dơn:

- Đừng có nói càn! Chúng mình đi chiến đấu để giải phóng dân tộc chứ...

- Tiểu đội trưởng có vợ đâu mà đau mà giận! Ngọ lủng bủng không chịu.

Công việc chuẩn bị cho chiến đấu cuốn hút mọi người bất kể là buồn hay vui. ở đoạn đê này hàng ngày vẫn có thuyền bè qua lại buông ra những câu hò mặc dù đã ngụy trang nhưng họ vẫn nhận ra nòng súng lấp ló nơi bờ đê.

Trăng lên đỉnh núi trăng tà

Anh yêu em thật hay là yêu chơi

Danh nhìn Dơn giục:

- Bây giờ là việc của "nhà thơ" Bai Rơn đấy hay lại tịt ngòi rồi. Dơn như thể nháp trong bụng buông ra lời đáp.

Yêu em anh chẳng muốn rời

Nhưng "giặc nhà trời" chẳng để anh yên.

Nghì khẽ nhắc Dơn: Có lẽ sinh viên nghỉ hè về quê hay sao... Cũng đừng hò buông tuồng không hay đâu.

- Sau này tôi sẽ vào đại học! Danh nãy giờ mặt tư lự tay cầm ống nhòm. Chắc cu cậu đã nhìn thấy cô gái nào trên con đò ngang.

- Tạng ông chỉ nên làm thợ nề là vừa... Đại học gì mà tối tăm mặt mũi vậy? Mắt lé. Lùn... Được cái hay miệng rộng vậy làm công nhân thổi bễ. Em sẽ nói với ông anh làm giám đốc thợ rèn nhận cho.

- Đ... qua chiến tranh làm đếch gì chẳng được... Mấy thằng mày còn ít tuổi hơn tao. Ngọ đang buồn nẫu ruột cũng góp lời.

Nghì biết Dơn chỉ hay trêu chọc thế cho vui trong lúc trực chiến căng thẳng. Nó có ước mơ cháy bỏng là hết chiến tranh sẽ tiếp tục được học hành. Không phải ôm ấp những cuốn truyện hay thơ là tạo dáng làm duyên. Cũng vì những cuốn sách đó mà có khi còn bị hiểu lầm. Chiến tranh người ta cần người cầm súng. Chiến tranh nhưng có những đêm thanh bình đầy huyền bí. Ngồi trực ban người ta không thôi nghĩ ngợi. Dơn bảo cực nhất là lúc này đây. Nhìn lên bầu trời cao chi chít những vì sao kia ngoài nó còn cái gì nữa vậy. Ngoài xa xôi ngàn vạn dặm kia còn có điều gì mà con người ta bất lực không bao giờ vươn tới. ở ngoài dải thiên hà xa xôi kia có ngôi sao đến hàng tỉ năm ánh sáng đến đời cố hoánh nào loài người mới bò tới đó để cho người ta một tín hiệu một niền vui? Phải đi học về thiên văn vũ trụ thôi... Danh như bị lây cái mơ mộng của bạn nên khẽ khàng nhắc. Cậu định bỏ cái danh hiệu "nhà thơ" cho ai mà đi học đấy?

- Không sao! Nhà khoa học không hề mâu thuẫn gì với sự rung động của chất thi sỹ trong anh ta.

- Nhưng còn thời gian đâu để thơ văn phú lục?

- Ông không thấy có bao người cầm súng mà thơ viết ra rất hay đó thôi?

- Chuyện với trò. Sự bức bách giữa cái sống và chết mà lại.

- Không thể ích kỷ rằng chúng tôi cần người cầm súng chống lại cái ác mà không để cho tâm hồn người ta sao nhãng với sự bao dung che chở của tự nhiên được... Những đêm như thế đôi khi là những cuộc tranh luận dai dẳng. Chỉ có bốn người thôi mà cũng khó xử. Nhưng kết cục là giấc ngủ và những lần báo động và nổ súng là sự càu nhàu về máy bay. Bay cao như thế có mà bố nó cũng không bắn tới chứ "súng tép".

Những ngày im lặng trôi đi. Chiến tranh người ta không thể tính được sẽ có bao ngày bình yên như thế cả. Thì mới nói tiểu đội trưởng lo cơm nước cho anh em nhưng trên không đã réo lên tiếng rít của đạn và từ chỉ huy sở đã thông báo về "chiến dịch rồng biển" của địch. Thế là đào hầm. Ngọ nói bửa.

- Không chết đâu mà phải lo cuống lên như vậy. Các ông ấy thật rách chuyện không bơi ra mà hỏi bọn nó xem bắn lúc nào để còn xuống hầm. Thật không may lúc đó có ông trợ lý tác chiến đến từ đời nào. Nẹt cho một trận.

- Để bảo vệ cái đầu cho các cậu đấy!

Danh nói với Dơn nhưng thật ra là chống chế vì câu nói của Ngọ: Ngồi trong hầm chống pháo kích nó mát. Làm một giấc cũng tiện. Ông trợ lý dường như cũng muốn góp vui cùng khẩu đội.

- Không sợ người ta trừ điểm thi đua vì câu nói bửa vừa rồi sao?

- Thủ trưởng ạ! Nếu trừ bớt đi thì bọn em vẫn là chiến sỹ kia mà! Nghì tự dưng cũng lây cái kiểu ăn nói văn hoa của chúng nó từ lúc nào.

Những ngày sau trời mưa lâm thâm. Gió heo may từ bụng của dòng sông cuộn lên. Lúc mát mẻ lúc se lạnh kèm theo những giọt nước rơi lã chã trên bãi ngô bắp trổ cờ. Bầu trời không trong xanh. Dòng sông không còn thăm thẳm như tấm gương thu lấy bầu trời lộng lộng. Chỉ là một khẩu đội nhưng cũng mang cái buồn của một trận địa. Danh giục Dơn.

- Mày không "rặn" được chút văn thơ nào nữa sao?

- Để làm gì ông nội? (Có vài lần Danh nhờ Dơn viết thư cho một cô thanh niên xung phong đổi lại hắn phải gác thay một giờ liền)

- Còn làm gì nữa gọi mấy cô gái chèo thuyền dạy chứ để cho họ ngủ vậy bế sao nổi.

Được cái may cậu nào cậu nấy đặt lưng xuống là ngáy.

Ngày thứ bao nhiêu nữa không ai nhớ. Trời nắng. Nghì chợt nghĩ có thể hôm nay địch sẽ mò vào nên dậy sớm mà lo cơm nước kẻo đánh nhau lại đói. Bộ mặt nhăn nhó của Dơn thật không "nhà thơ" một chút nào. Nghì nhớ lại có lần đói quá không chịu được Dơn bỏ vào miệng một nhúm gạo nhai hắn như phát hiện ra được điều gì lúc rút kinh nghiệm mới bộc lộ: Thú thật nhai gạo sống cũng ngọt chứ không sai. Lúc xếp loại Danh trêu: Kể ra xếp loại A cũng được nhưng mà gặp máy bay cường kích làm sao hô cho rõ được.

- Tôi cũng bắt chước ông thôi. Nhai gạo còn dễ hơn nhai cháy có phải không nào?

Nghì bê cơm ra công sự mà các cậu ấy vẫn còn trùm chăn. Chỉ có Ngọ là dậy sớm chải tóc. Bao giờ Ngọ cũng muốn vào trận cho nó đàng hoàng. Để cái thằng giặc nó có chụp được hình mình cũng phải nể chứ. Hắn nói thế ý chừng tự phụ về cái vẻ đẹp trai của mình. Nghì kéo chân Dơn Dơn tưởng là Danh nên cáu:

- Ông có để cho tôi yên không tôi đạp đấy!

- Dạy ngay! Nghì quát. Nhà thơ gì mà ăn nói chẳng vần vèo gì cả hơi một tí là đạp và thụi thế còn ai nghe được.

- ồ khẩu đội trưởng xin lỗi! Cũng có lúc chúng ta cũng phải dùng vũ lực chứ? Dơn cười khì.

Bữa ăn chính được đặt lên cái mâm làm bằng hòm đạn. Có thịt hộp và rau muống sào. Rau muống chả hiểu tay Danh lôi ở đâu về một bè thả vào trong cái hố bom chưa hả hết mùi khét. Hắn nói với mọi người. Phải bơi xuống cái khuỵnh của làng Yên Vực mới tìm ra cái giống rau muống chịu được bom đấy. Cũng kỳ không phân tro gì cả mà gặp tiết mưa cứ bò ra xanh um. Danh tra đũa vào thịt hộp nói có vẻ tiếc rẻ:

- Nếu anh Nghì mà đánh thức tôi dậy sớm chi chả có mấy con ếch. Đêm qua tôi nghe nó gọi nhau.

- Có mà ông nghe mấy cô ở bãi ngô gọi thì có! Dơn phà trò.

- Còn Bai Rơn thì ngoan chưa được cô nào gọi là anh sất.

Cái thua thiệt của Dơn là trẻ lâu nên có cô gái nào tạt qua trận địa cũng cứ gọi là chú. Danh thấy vậy khoái. Tự hào nói với tiểu đội. Cấm có cô nào hỏi mình sau này anh có đi học về "thiên văn vũ trụ" không. Mình nói anh đi học "làm thơ" đây. Cô nàng nói em ứ chờ "học nàm nhà thơ" thì nâu lắm! Ôi chả hiểu ra làm sao trời ạ! Xấu trai đen nhẻm mà các nàng cứ lăn xả vào! Hắn nói như người đọc thơ.

Họ đang xới cơm cho nhau đùa tếu ở một khẩu đội súng máy 14 5 ly nằm phục kích ở cái đoạn phình ra ở thượng nguồn sông Mã chờ lũ máy bay bay thấp mò vào cắn trộm những trận địa trên đồi cao và cầu Hàm Rồng. Tất cả dừng nhai nghe tiếng lụp bụp nổ ở trên không. Tiếng kẻng của người gác cầu của trận địa Đồng Đá Yên Vực trên đồi "ba cây thồng" tất cả những tiếng kẻng to nhỏ xa gần đều tấu lên thúc giục người lính vào vị trí chiến đấu.

- Tiên sư chúng nó chứ không để cho người ta nuốt trôi miếng cơm.

- Chắc không lâu đầu! Tiếng ai đó động viên bạn.

Không ai còn nghĩ đến cơm nước được nữa khi tiếng nổ ầm ở các trận địa dội lên. Đó là pháo "đại ca" bắn để phá tốp cho bọn 57 tóm các tốp chủ yếu rồi đến pháo 37 tiêu diệt. Nghì nhắc nhở:

- Không được bắn một cách tùy tiện vì sốt ruột phải chờ lâu. Ai cũng biết rõ hiệu quả của pháo mình rồi đấy. Không phải nổ để góp vui.

Ngọ ngồi im lìm nhìn trân trân vào dãy núi mờ xa. Khẽ nói cho Dơn: Này! Hình như ở rìa núi "Quyết Thắng" có một con ruồi đang nép vào sườn phải không mày?

- Đâu? Dơn hỏi lại nhưng cũng nhếch nòng súng lên theo thói quen.

- Đúng rồi! Ngọ tự tin buông thêm - Chết với chúng tao rồi.

- Đón đầu ở cao điểm 45! Nghì phất cờ ra lệnh. Phải đánh chắc ăn nghe chưa.

Người ta nghe được cả tiếng đập thình thịch của con tim. Lúc tiếng động cơ áp xuống lòng sông tưởng chừng như nước của dòng sông cũng bị réo sôi lên ùng ục những viên đạn ở bờ sông bất thần lao lên vun vút. Chiếc máy bay ưỡn phơi ra cái bụng trắng toát hòng lẩn tránh đường đạn căng như kẻ chỉ. Tiếng ầm! ầm... ầm... kéo dài vô tận.

Cháy! Cháy rồi! Tiếng reo hò vỡ ra tưởng như bất tận.

Từ xa không hiểu từ đâu của chiếc máy bay nào không ai rõ cả. Một phát tên lửa kéo theo đuôi nó là tia lửa bất mãn và man dại. Nhằm vào đoạn bờ sông mà lao tới. Không ai tin được quả tên lửa lại bắn vào quãng đê không có người. Đó là vị trí mà khẩu đội 14 5 ly đặt pháo. Nơi đó vẫn buông ra những câu hò cùng những con thuyền thoát ẩn thoát hiện.

*

Nghì chỉ kịp hô cho khẩu đội ngắm vào chiếc máy bay đang điều khiển quả tên lửa. Anh quát đến vỡ lông ngực: - Bắn thằng phóng tên lửa! Không hiểu mệnh lệnh của anh có kịp cho Ngọ đạp cò hay không. Anh cảm được cả khẩu pháo đang bay lên không trung. Thằng Dơn nó bảo lên tận dải Thiên Hà xa xôi. Anh cảm được điều này rất rõ. Dù sao ở chốn vô biên ấy không ai có thể ngăn được khẩu đội của Nghì bàn luận về ước mơ. Dơn có thể vừa làm nhà khoa học và thả sức làm thơ. Nó nói đúng trong chiến tranh cận kề với cái chết không ai ngăn cản trái tim của người nghệ sỹ. Nhưng mà nó nói điều gì anh không nghe rõ cả. Lời nói đó cái lần bị thương không chịu rời trận địa trên dãy núi Con Rồng. Không hề học ngôn ngữ của người khiếm thính mà Nghì vẫn nhận ra: Cầu có còn không? Nó hỏi anh đấy. Anh hét mà anh đang gào lên để át đi tiếng nổ:

- Cầu Hàm Rồng... vẫn đứng vững... hai bờ... sông Mã!

Những người bạn hò của Dơn vào công sự không hề nhận ra hình dạng của ai cả. Họ băng bó và cấp cứu cho Nghì. Một cuộc tranh luận. Phải đưa anh ấy đi viện thôi cánh tay cụt thế này sợ lâu sẽ bị hoại tử nguy hiểm lắm.

- Ai phân biệt được từng đồng đội của anh ấy?

Nghì tỉnh lại và nghe được điều ấy. Anh nói với mọi người đang có mặt.

- Đằng nào tôi cũng phải ở lại... Chúng nó không còn được là bao... Nhưng cũng phải có bia mộ. Tôi thật chẳng ra gì... Bọn hắn đi để lại mỗi mình tôi. Nghì lại ngất đi trong mơ màng anh vẫn nghe thấy tiếng của Ngọ Danh và Dơn hỏi lại:

- Cầu có còn không? Đó cũng là nói của bao đồng đội khi rời trận địa lúc bị thương hay hy sinh hỏi người ở lại trận địa tiếp tục cuộc chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng.

Người chèo thuyền hằng đêm vẫn nghe được câu hò vẳng lên nơi cái khuỵnh của sông Mã đồ rằng đó là câu hò của Bai Rơn một nghệ sỹ không tên tuổi của Hàm rồng.

                                           Viết 21 -9 - 1986

                                           sửa lại 2 -9 - 2010

                                                    T.N.T

* Bai Rơn (1788 - 1824) nhà thơ Anh.

KIỀU VƯỢNG


 

Những người lính không quân hàm


Bút ký


     Tháng 7 năm 2010 này Hội Cựu thanh niên xung phong sẽ tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2010-2015. Đây là đại hội được hội viên cựu thanh niên xung phong chờ đợi và đặt hy vọng vào ban chấp hành mới. Nhớ ngày 12-7-2009 Thanh Hóa tổ chức trọng thể lễ đón nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang Nhà nước vừa phong tặng cho lực lượng thanh niên xung phong.

Là người từng được tham gia ba nhiệm kỳ thanh niên xung phong vào những năm tháng khốc liệt nhất trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ sự kiện này làm tôi thật sự xúc động và mọi tâm trí cứ dồn về bao kỷ niệm vui buồn của những năm tháng hào hùng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Ngày18-7-1950 đội thanh niên xung phong Việt Nam được thành lập đầu tiên gồm 225 đội viên ở núi Hồng huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. Thanh Hóa là địa phương sớm nhất cả nước thành lập lực lượng thanh niên xung phong chống Pháp với số lượng cũng đông nhất. Con số 19.800 thanh niên xung phong Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã nói lên tất cả. Điển hình là 2 đại đội 293 và 294 làm nhiệm vụ bảo vệ 28 cây số trên đèo Pha Đin có chiều cao 1.600 mét. Hai đơn vị này suốt ngày đêm với công việc chống lầy đẩy tất cả các loại xe chở hàng vượt dốc vào chiến tuyến.

Một kỳ tích chống Pháp còn lưu giữ tại thôn Sại xã Phú Lệ huyện Quan Hóa là hang Co Phương. Hang có hai cửa tiếng Thái gọi là hang Cây Khế đã lưu giữ tiếp chuyển vũ khí và lương thực. Từ hang này hàng hóa được đưa xuống thuyền vượt sông Mã lên Hòa Bình để xe thồ và người gánh bộ bằng đôi bồ tiếp chuyển cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

15 giờ ngày 5 tháng 6 năm 1954 khi phát hiện ra mục tiêu kho vũ khí và lương thực máy bay Pháp đã ném bom liên tục 4 giờ đồng hồ liền làm hàng trăm thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến đã hy sinh tại đây. Tiếc rằng đã 55 năm trôi qua Thanh Hóa chỉ có 12 trường hợp làm được bằng liệt sỹ cho các chiến sỹ ở huyện Thiệu Hóa. Các trường hợp khác do thân nhân không còn và hồ sơ gốc thất lạc nên không thể làm chế độ được. Chúng tôi đã nhiều lần đến hang Co Phương này tìm hiểu và được anh Hà Văn Quyết Bí thư Đảng ủy xã Phú Lệ cho biết:

- Hang sâu lắm rộng lắm nhưng xã cũng chịu vì không có kinh phí để phục hồi tôn tạo và xây dựng được. Chúng tôi chỉ đặt một bát hương ở cửa hang để khách thập phương đến viếng và khắc tấm bia này cùng xây nhà bia sân bãi rộng để tưởng nhớ đến những người trẻ tuổi hy sinh tại đây trong chống Pháp cho công cuộc giải phóng Điện Biên.

Chúng tôi đã tìm gặp người thủ kho ở đây thời bấy giờ còn sống sót trong trận bom tàn khốc của thực dân Pháp. Người thủ kho ấy là ông Nguyễn Văn Thắng quê ở xã Vĩnh Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

Ông Thắng năm nay 86 tuổi còn khỏe mạnh nhưng trí nhớ đã lẫn lộn nhiều. Khi nhắc lại ngày Pháp ném bom cụ kể rằng chết nhiều người quá và cụ khóc.

Hội Cựu thanh niên xung phong Thanh Hóa được thành lập sớm nhất nước. Hiện nay hội có 41 ngàn hội viên ở 2.230 chi hội trên địa bàn 590 xã trong cả tỉnh. Những con người hôm nay còn sinh hoạt cùng với mấy ngàn đồng đội đã ngã xuống trên mọi nẻo đường cam go của đất nước trong hai cuộc chiến tranh đã làm nên danh hiệu anh hùng hôm nay cho thanh niên xung phong Thanh Hóa.

Trong công cuộc chống Mỹ cứu nước Thanh Hóa là tỉnh có lực lượng thanh niên xung phong đông nhất chiếm 2/3 trong cả nước.

Với 55 ngàn thanh niên xung phong và 24 ngàn thanh niên tình nguyện đã nói lên sự hào hùng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của tỉnh Thanh. Trong số lượng trên thanh niên xung phong trực tiếp làm nhiệm vụ mở đường và đảm bảo giao thông trên đất lửa Bình-Trị-Thiên đã lên tới 33 ngàn người. Khẩu lệnh trên mũ trên xe và trong lán ngủ của họ là "Sống bám cầu bám đường chết kiên cường dũng cảm" năm tháng khốc liệt ấy họ đã sống và làm theo khẩu hiệu ấy. Đó là khẩu hiệu trên đường còn khẩu hiệu dưới sông dưới biển của họ là "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không để chiến trường thiếu đạn và gạo" hàng vạn phương tiện vận tải trên sông trên biển vào những năm tháng gian nan nhất của lịch sử đã ngàn lần anh hùng mới vượt qua để đưa hàng tới tiền phương đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thanh niên xung phong Thanh Hóa gắn chặt với ngành giao thông vận tải mở và giữ 58 tuyến đường với chiều dài 2.525 cây số trong tỉnh suốt cuộc chiến tranh.

Năm 1968 khi đường bộ thường xuyên bị tắc đường sắt nhiều đoạn tê liệt tầu lớn trên biển bị kiểm soát liên tục suốt ngày đêm của máy bay Mỹ Trung ương đã chỉ đạo cho Thanh Hóa bằng mọi giá phải đưa được 5 trăm chiếc thuyền nan vào sông Nhật Lệ tỉnh Quảng Bình. Chúng tôi đã tìm mọi cách nhưng đều thất bại vì miền Trung không có sông dọc đất liền. Còn đưa thuyền nan vượt biển thì lịch sử chiến tranh thế giới chưa một quốc gia nào dám làm. Chính vì lẽ ấy nên không ai dám ký lệnh cho thuyền nan vượt biển. Nhận điện của ông Hoàng Văn Hiều ngày 18-6-1968 tôi và ông Đào Đức Hinh trưởng đoàn vận tải Lam Sơn Thanh Hóa đi vào Quảng Bình gặp ông Hoàng Anh lúc ấy là Bí thư Trung ương Đảng - Chỉ huy trưởng chiến dịch VT5 đóng tại xã Vĩnh Ninh huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình. Khi chúng tôi báo cáo xong về khó khăn đưa thuyền nan vượt biển vào tiếp viện ông Hoàng Anh nói:

- Mệnh lệnh của chiến trường là phải khẩn cấp có lương thực và súng đạn. Các đồng chí phải sáng tạo và quả cảm mà làm. Đây là mệnh lệnh của chiến trường nhưng cũng là mệnh lệnh của lương tâm con người.

Còn anh Hoàng Văn Hiều Phó Chủ tịch tỉnh Thanh Hóa trực tiếp làm trưởng ban đảm bảo giao thông vận tải ở tiền phương thì quả quyết:

- Thanh niên xung phong đi đánh Mỹ thì họ sẽ tự xung phong đưa thuyền vượt biển vào đánh giặc. Các anh còn chần chừ cái gì?...

Chúng tôi lập tức quay về tổ chức phát động đưa thuyền vượt biển. Ai xung phong đi thì tự ký lệnh cho mình và đã có 2 ngàn thanh niên xung phong trong đoàn viết đơn tình nguyện vượt biển. Mặc dù việc làm vừa anh hùng vừa mạo hiểm đã có tổn thất hy sinh không nhỏ nhưng số lượng thuyền nan vượt biển vào cập bến Nhật Lệ đúng thời gian và chỉ tiêu giao đảm bảo đưa được lương thực vào tuyến chính đúng như kế hoạch Trung ương giao.

Những mái tóc dài tha thướt của ngàn vạn cô gái xứ Thanh lại tung bay trên tọa độ lửa ngày đêm bốc hàng từ các kho từ tầu không số sang thuyền nan để vượt sông Kiến Giang lên tận vùng Thác Tre Xuân Bồ cho mấy ngày chiếc xe thồ của thanh niên xung phong Thanh Hóa nhận hàng chở tiếp vào đường mòn Trường Sơn đến với chiến trường.

Cũng chính những năm tháng ấy cái binh đoàn thuyền nan Thanh Hóa có một không hai trong lịch sử đã vận chuyển được gần hai triệu tấn hàng vào tiền tuyến. Và năm tháng cam go ấy bao nhiêu bạn bè đồng đội thanh niên xung phong của tôi đã nằm lại ở bờ sông vách núi và thân xác họ hòa vào đại dương bao la ở tuổi hai mươi. Nhưng buồn thay mấy ngàn lính thuyền nan sống sót trở về sau chiến tranh vẫn không được hưởng bất cứ một thứ chế độ gì thậm chí không được xem như thanh niên xung phong vì họ trót mang cái tên Cảm tử tình nguyện. Họ sống trở về và mang cái tiếng là gái thuyền nan. Hàng ngàn người cô đơn cho đến lúc yên nghỉ dưới mồ.

Tôi đã nhiều lần được trở lại nơi mất còn tính từng giây của đoàn quân không có quân hàm ngày đêm vật lộn với đạn bom sóng to gió lớn chỉ để đưa thật nhiều lương thực đạn dược ra chiến trường. Nơi ấy là cảng Đồng Hới suốt ngày đêm có hai đại đội thanh niên xung phong Thanh Hóa bốc hàng từ tầu không số sang thuyền nan để dọc sông Kiến Giang mà vào. Nơi ấy là đường 20 Quyết Thắng có hang Tám cô mà hòn đá oan nghiệt bị bom Mỹ đánh sập xuống lấp cửa hang để 13 chàng trai cô gái trẻ trong đó có 8 thanh niên xung phong huyện Hoằng Hóa ở bên nhau suốt 28 năm trời từ cái ngày khủng khiếp là 14-11-1972. Mãi đến năm 2000 cửa hang mới được mở để gia đình và bạn bè bốc những nắm đất đen xương trắng đưa về quê cũ.

Năm tháng ấy hơn 33 ngàn thanh niên xung phong Thanh Hóa có mặt trên tuyến lửa Quảng Bình để hôm nay mọc lên hàng chục nghĩa trang dành riêng cho hàng vạn thanh niên xung phong yên nghỉ. Chúng tôi Hội Cựu thanh niên xung phong Thanh Hóa đã đến nghĩa trang Long Đại huyện Quảng Ninh nơi đây có 124 liệt sỹ là thanh niên xung phong Thanh Hóa. Rồi nghĩa trang Vạn Ninh Quảng Ninh 175 ngôi mộ nghĩa trang Tân ấp huyện Tuyên Hóa 93 ngôi mộ nghĩa trang Thọ Lộc Bố Trạch có tới 250 liệt sỹ là thanh niên xung phong Thanh Hóa và còn bao nghĩa trang khác. Chỉ hai ngày đêm chúng tôi đã thắp hương được 642 ngôi mộ của thanh niên xung phong Thanh Hóa trên đất Quảng Bình. Ra về cứ day dứt vì nợ bao nhiêu linh hồn chưa đến thắp hương cầu khấn được.

Chao ôi! Chiến tranh và kỷ niệm. Tôi tin rằng kỷ niệm trong cuộc đời làm người lính không quân hàm nhiều hơn số bom đạn của kẻ thù dội xuống.

Chỉ riêng một cây cầu ở Thanh Hóa Mỹ đã huy động 2.924 máy bay trút 71 ngàn tấn bom và hơn 5 ngàn quả tên lửa suốt 241 trận nhưng lúc nào cũng có thanh niên xung phong lấp hố bom vác đạn dưới dòng sông Mã ngay ở chân cầu. Và cây cầu ấy vẫn nối được đôi bờ sông Mã cho hàng ra tiền tuyến.

Rồi để có sân bay Sao Vàng hôm nay có lúc phải huy động tới 10 ngàn thanh niên xung phong làm nhiệm vụ. Riêng chuyện tình nghĩa hữu nghị chúng ta đã đưa hơn 4 ngàn thanh niên xung phong Thanh Hóa sang đất bạn Lào mở bao tuyến đường huyết mạch giúp cách mạng Lào đánh thắng phỉ Vàng Pao và bao thế lực phản động khác. Huân chương ít-xa-la mà nhà nước Lào trao tặng cho đội N43 đội 261 đội 259 của Tổng đội 572 đã chứng minh công lao đó. Tổng đội này sau chiến tranh đổi thành Xí nghiệp 572 đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng. Rồi bao nhiêu người vĩnh viễn không được trở về quê hương tổ quốc. Họ mãi yên nghỉ ở cánh rừng Lào cho đến ngày đưa hài cốt về.

Bao nhiêu đồng đội đã ra đi ở tuổi hai mươi và hơn 41 ngàn đội viên hôm nay cũng đang lần lượt ra đi theo tuổi tác. Gặp lại họ tôi thấy mình như một kẻ phải khất nợ suốt đời. Tượng đài thanh niên xung phong Thanh Hóa đã được xây dựng trên đất Hàm Rồng để tưởng nhớ những người đã khuất. Còn một tượng đài lớn hơn sâu nặng hơn đã dựng sẵn trong lòng người dân Thanh Hóa đó là hình ảnh kiên cường dũng cảm của mấy vạn thanh niên xung phong suốt hai cuộc chiến tranh.

Trong vinh quang hôm nay họ đang phải đối mặt với bao khó khăn đời thường để lo miếng cơm manh áo. Họ thăm hỏi động viên sẻ chia cho nhau bằng tất cả nghĩa cử của tấm lòng đồng đội. Họ đối mặt với cô đơn sau cuộc chiến. Họ âm thầm chịu đựng để vượt qua.

Vinh quang là thế nhưng nỗi đau còn canh cánh ở ba phía bốn chiều. Hai mươi sáu ngàn thanh niên năm 1973 khi vừa chấm dứt chiến tranh lại lên đường để hàn gắn những nỗi đau mất mát để làm dịu đi khối da thịt lở loét do bom đạn Mỹ gây nên trên đất nước quê hương. Lúc bấy giờ Tỉnh ủy thấy nên đổi từ thanh niên xung phong sang cái tên tình nguyện. Chỉ có hai chữ xung phong và tình nguyện thay nhau mà cả 26 ngàn người hôm nay vẫn không được hưởng bất cứ một chế độ gì. Họ bỏ cả tuổi thanh xuân cho cách mạng. Họ không còn nguyên vẹn mà đang dắt tay nhau về với các nghĩa địa làng. Nhiều chuyện trớ trêu lắm. Điển hình là một công chức nọ đi xe máy va quệt vào chiếc xe công nông đang đậu thế là họ chạy chọt để có sổ bảo hiểm phụ cấp tai nạn suốt đời và bây giờ nghỉ hưu mỗi tháng được hưởng 1 triệu đồng. Có hàng trăm trường hợp chạy chọt để ăn không như vậy. Còn 26 ngàn người cống hiến đến tàn tạ kia chỉ cần có 1 triệu 5 trăm ngàn đồng tự an ủi mình vẫn không được. Tôi nghĩ chúng ta nói rất nhiều nhưng người làm cụ thể lại không có.

Trong kịch bản 45 năm Hàm Rồng chiến thắng tôi viết rất đậm về nhân vật anh hùng Nguyễn Bá Ngọc ở phà Ghép Quảng Xương. Mười ba tuổi đầu em đã lao trong bom đạn để cứu sống hai cháu nhỏ. Cả nước học tập tấm gương ngời sáng của Nguyễn Bá Ngọc. Đài báo và tất cả các đời lãnh đạo đều nhắc đến anh hùng Nguyễn Bá Ngọc. Nhưng cho đến hôm nay giấy trắng mực đen có ai công nhận em là anh hùng liệt sỹ đâu. Bố mẹ gia đình em có được hưởng chế độ gì đâu. Có họ có được hưởng trên mây trên gió cái tên con trai mình là anh hùng. Đau không chỉ gia đình em mà cho tất cả lương tâm của mỗi chúng ta bởi vì không có cơ quan đơn vị nào được giao nhiệm vụ cụ thể dẫn đến nói cho vui. Hồn em đang lang thang đâu đó chắc cũng buồn.

Tôi đau đáu cái việc 26 ngàn thanh niên đang

More...

KỶ NIỆM 1000 NĂM THĂNG LONG - HÀ NỘI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

                         NGHÌN NĂM THĂNG LONG


                                      Đại cáo



                                                              GS. Vũ Ngọc Khánh

Thăng Long Hà Nội

Trọn tuổi nghìn năm

Xin với quốc dân

Có lời đại cáo:

Non sông ta thuở ấy

Đất Việt trời Nam

Phùng Nguyên Đông Sơn rực rỡ vẫn xa vời một cõi Giao Châu

Đại La Long Biên mơ màng còn eo hẹp một miền Giao Chỉ

Mê Linh kia danh tiếng Hai Bà Trưng

Ô Diên nọ công lao Tiền Lý Đế.

Qua Cổ Lao về đất Hoa Lư

Vượt Hoành Sơn đến vùng Phật thệ

ấy vậy mà:

Sự mở mang đã hứa hẹn rồi

Chốn thủ phủ còn chưa định vị

Lý Thái tổ lên ngôi

Hướng tầm nhìn thế kỷ:

Phải có người đất mới linh thiêng

Chọn đúng đất người nên tôn quý

Trời Bách Việt chim Âu vỗ cánh cắm cơ đồ theo ngựa trắng trâu vàng(1) Đất Nam phương ruộng Lạc khoe màu ở vị trí theo rồng bay phượng múa Bắc có hổ ngồi Nam có rắn cuộn khắp cõi Việt đây là nơi hội tụ bốn phương Đông mặt trời mọc Tây sao ẩn hình nhìn cả nước đây là chốn đế đô thắng địa (2)

Vững vàng trong sóng gió bão bùng

óng ánh lúc trời chiều bóng xế

Điện Diên Hồng dồn dập tiếng tung hô

Đền Đồng Cổ thiêng liêng lời tuyên thệ (3)

Lời thề này tồn tại cả xưa nay

Mới biết Linh khí Thăng Long là như thế.

*

Suốt mười thế kỷ dân ta chỉ một hùng tâm

Suốt cả nghìn năm nước ta cùng chung tráng chí

Núi Sóc Sơn ngựa tung vó sắt thiên vương Phù Đổng đời đời lẫm liệt

Nam nhân.

Sông Như Nguyệt thuyền rộn lời thơ "Nam quốc sơn hà" khẳng định

cho ngôi Nam Đế (4)

Khắp bốn trấn tung bay cờ dấy nghĩa một lời Trần Quốc Toản:

Phá cường địch báo hoàng ân (5)

Năm cửa ô trao đổi mảnh di ngôn sáu chữ Lương Văn Can:

Báo quốc thù tuyết quốc sĩ (6)

Ta nhớ mãi: Công thành nước vững bản hùng ca Nguyễn Trãi ức Trai

Ta giữ tròn dài tóc đen răng lời xuất trận Quang Trung Nguyễn Huệ (7)

Sống cho Hà Nội chết cũng vì Hà Nội Nguyễn Tri Phương Hoàng

Diệu bình tĩnh nêu gương.

Sáng danh Thăng Long đẹp cả nghĩa Thăng Long Cao Bá Quát

Nguyễn Du dạt dào thi ý.

Sông Bạch Đằng đã có: ba lần giặc đến ba lần giặc tan (8)

Điện Biên Phủ trên không: Chục thần sấm rơi chục con ma quỵ (9)

Thế mới là: Hà Nội anh hùng

Thế mới rõ: Thăng Long hùng khí

*

Một ngàn năm một cõi giang sơn

Mười thế kỷ chung niềm chính khí

Này Thất trảm sớ này Vạn ngôn thư

Đây Cáo Bình ngô đây Hịch tướng sỹ (10)

Lời Thân Nhân Trung nhắc nhở: Hiền tài chính là nguyên khí quốc gia

Lời Trần Thủ Độ hiên ngang: Đầu tôi chưa rơi vua đừng lo nghĩ.

Hội Tao Đàn thi nhân xướng họa Lê Thánh tông luật Hồng Đức ban hành.

Đài Quảng Văn dân chúng họp bàn Bùi Xương Trạch được giao làm

bài ký (11)

Bút Tả thanh thiên đậm nét thi hào ngõ Phú thị gác Khuê Văn

trầm cả hương bay hoa thấp thoáng (12)

Sách Cổ ngọc phả ghi danh thuở ấy nhạc Linh Lang chuông Trấn Võ

đàn dâng phách giục tiếng mau thưa.

Ba Giai Tú Xuất thỏa sức cười vang

Trạng Lợn Trạng Quỳnh vạch trò chân ngụy.

Đặng Văn Hòa vẽ lại bản đồ

Dương Hữu Quan trị quân bất trị

Nùng Lĩnh phù vân kim cổ sắc trường Thông ngôn Chùa Một Cột mỗi

vẻ mỗi riêng

Nhị Hà lưu thủy khấp ca thanh vụ đầu độc vụ phá thành nửa cười nửa

lệ (14)

Bài học Đông Kinh nghĩa thục còn đó câu duy tân lời cáo hủ nghiêm minh

Lời Văn minh tân học sách là đây buổi diễn thuyết kỳ bình văn hoan

hỷ (15)

Cư trần lạc đạo học thuyết Trần Nhân Tông truyện đạo sâu xa

Liêm chính kiệm cần minh triết Hồ Chí Minh chuyện đời ý vị (16)

Lấy trí nhân thay cường bạo tư tưởng Việt Nam sáng tỏ lập trường.

Đem đại nghĩa thắng hung tàn tư tưởng Việt Nam đẹp màu triết lý.

*

Bởi vậy mà:

Chốn phồn hoa nhất cõi Long thành

Băm sáu phố tràn đầy vượng khí

Bài Đế đô hình thắng Bùi Vịnh riêng thấy tự hào

Phú Xuân sắc phụng thành Trạng Me giành ngôi nhất vị

Không phân thành bại Cửu trùng đài luống nhớ Vũ Như Tô

Chẳng nệ gái trai gốm Chu Đậu càng mơ Bùi Thị Hỷ

Trung hiếu lưỡng toàn huân hách dịch đây họ Lê họ Vũ kia họ

Đặng họ Phan.

Nhất môn phụ tử bảng liên đồng Quế Dương nhà Nguyễn Tài Diễn

Châu nhà Ngô Trí (17)

Chà Và Mường Lễ cả Đông Nam quy hướng kinh đô

Phố Hiến Sơn Nam Vạn Lai Triều doanh thương quốc tế (18)

Sấm Trạng Trình mách bảo điều hay

Thuốc Hải Thượng giảm nhiều hệ lụy

Các thế hệ thuộc lòng Đoạn trường tân thanh

Một thời gian học tập Ngục trung nhật ký

Lịch sử đã khẳng định: Súng Ngàn sâu bom Sa diện gươm Hoàn Kiếm

gậy Trường Sơn.

Thế giới chỉ riêng ta: thơ lục bát hát ca trù điệu khặp xường lời dặm ví.

Ngẫm chuyện xưa đã thấy bồi hồi

Nhìn trước mắt càng thêm phấn khởi

Trong đường Trường Sơn xuyên rừng ngoài đường Trường Sơn vượt

biển ai làm nên thành quả vô song.

Chủ tịch Axêan chủ tịch Hội đồng Bảo an sao có thể được giao vị trí? (19)

Hoàng thành điểm xưa Kẻ Bàng hang cũ thế giới quan tâm.

Dân ca quan họ văn hóa cồng chiêng lên ngôi nhạc khí.

Bàn tay Tôn Thất Tùng liều thuốc Đặng Văn Ngữ hiệu lực vô bờ.

Giải thưởng Olympíc bài toán Ngô Bảo Châu thanh danh cổ xúy.

độ cao tám ngàn mét của nóc nhà thế giới lần đầu tiên lá cờ Việt tung bay (20)

Mở địa giới với băm ba triệu héc ta ngầm ước hẹn Thủ đô này hoàn mỹ (21)

Một nghìn năm Thăng Long đất Việt thân yêu

Chào Hà Nội thành phố Hòa bình cao quý

*

Nghe lời đại cáo

Ta hẳn tin rằng

Xã hội công bằng

Quê hương tráng lệ

Rất tự do cho nhân dân nắm vững dân quyền

Rất dân chủ cho độc lập thực tròn ý nghĩa

Cho Việt Nam tô đậm: đẹp vui hùng

Cho Hồng Lạc sáng ngời: chân thiện mỹ

Nhớ Hà Nội của những ngày sáng nghiệp trăm nghìn tim đúc lại một con tim.

Nhớ Thăng Long của những cuộc hưng vong muôn vạn sức tạo nên nền thịnh trị

Mở cỗ máy giữa năm châu rộng lớn tưng bừng cùng Hà Nội thăng hoa

Viết bài thơ vần thắng vút lên cao hào hứng với Thăng Long tứ khí.

Nay bố cáo.

                                                                V.N.K

* LINH KHí THĂNG LONG

1. Ngựa trắng trâu vàng: Huyền thoại Bạch Mã Kim Ngưu

2. ý trong Chiếu dời đô (1010)

3. Vua quan nhà Lý làm lễ thề ở đền Đồng Cổ (Hà Nội).

- Vua Trần triệu bô lão ở điện Diên Hồng. Tất cả đều thề quyết đánh giặc Nguyên.

* HùNG KHí THĂNG LONG

4. Bài thơ Nam quốc sơn hà được xem là của Lý Thường Kiệt đọc trên sông Cầu.

5. Trần Quốc Toản lập đội binh ra trận (đời Trần).

6. Lương Văn Can hiệu trưởng Đông Kinh Nghĩa Thục tước khi mất để lại sáu chữ in trên ngàn mẫu giấy phát cho người đến viếng.

7. Vua Quang Trung ra đánh quân Thanh kêu gọi: Phải đánh giặc để giữ phong tục (dài tóc đen răng); Để cho thấy Nam quốc anh hùng duy hữu chủ

8. Ca dao: Sâu nhất là sông Bạch Đằng/ Ba lần giặc đến ba lần giặc tan

9. Từ 18 đến 29 tháng 12 năm 1972 trận Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội diệt 25 máy bay Mỹ. Những máy bay này có tên là những "Thần Sấm" "Con Ma".

Bài Khải hoàn bố cáo năm 1975 của Vũ Ngọc Khánh cũng có câu: "Con ma Thần Sấm bị nhừ xương".

* CHíNH KHí THĂNG LONG

10. Văn học sử ghi rõ: Việt Nam có bốn tác phẩm lớn phản ánh được chính khí Việt Nam của Chu An Lê Cảnh Tuân Nguyễn Trãi Trần Hưng Đạo.

11. Hà Nội trước có đỉnh Quảng Văn để dân chúng đến nghe các chủ trương đường lối của triều đình. Bùi Xương Trạch vâng lệnh Lê Thánh tông làm bài ký. (Niên giám Văn hiến)

12. Mấy chữ của Nguyễn Văn Siêu ở đền Ngọc Sơn hồ Hoàn Kiếm là Tả thanh thiên (viết trên trời xanh).

13. Tổng đốc đầu tiên của Hà Nội là Đặng Văn Hòa cho vẽ bản đồ Hà Nội. Dương Hữu Quang đánh đòn mục đầm Be.

* VƯợNG KHí THĂNG LONG

14. Năm 1888 có sắc lệnh lập thành phố Hà Nội sau đó nhiều sự kiện diễn ra: Mở trường thông ngôn; Hà thành đầu độc; Phá thành cổ xây phố mới

15. Năm 1907 Đông Kinh nghĩa thục ra đời. Nhưng bản Văn minh tân học sách đã có từ 1904.

16. Hai khuynh hướng triết học của Việt Nam:

- Đời Trần: Trần Nhân Tông và phái Trúc Lâm

- Hiện tại: Hồ Chí Minh và đạo đức học.

17. Trung hiếu lưỡng toàn...: mấy dòng họ này đều có những người có tiếng là trung hiếu.

Nhất môn phụ tử bảng liên đồng: hiện tượng độc đáo; hai cha con cùng đỗ tiến sỹ một khoa

- ở Nghệ An là Ngô Trí Hòa Ngô Trí Tri (đỗ 1592). ở Bắc Ninh là Nguyễn Tài Bình Nguyễn Tài Toàn (đỗ 1628).

18. Các nước chung quanh đoàn kết quy phụ

- Thứ nhất kinh kỳ thứ nhì Phố Hiến. Phố Hiến được gọi là Vạn Lai triều do Lê Đình Kiên làm Tổng trấn Sơn Nam phụ trách.

19. Việt Nam được bầu làm chủ tịch ASEAN chủ tịch Hội đồng bảo an Liên Hiệp quốc (không thường trực).

20. Năm 2007 các anh Bùi Văn Thời Nguyễn Mậu Linh Phan Thanh Nhiên đặt chân tới đỉnh Evơrest thuộc dãy Himalaya cắm lá cờ Việt Nam lên đỉnh.

21. Từ 1-8-2008 Hà Nội mở rộng địa giới hành chính với diện tích 33.447.002 hecta.

More...

THƠ THÁNG 9+10

By Văn Nghệ Xứ Thanh

BẰNG VIỆT

Trò chuyện với thành phố của đời mình

1.

Tôi có những ước mơ trong thành phố cũ

Như những ngôi sao tự tuổi chín mười...

Sau hai mươi năm

Chúng vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt xanh ngăn ngắt!

Lá bàng non ngày ấy đỏ lạ lùng

Ước mơ chín ngỡ chừng ăn thấy ngọt

Bàng vàng ươm rụng đầy lối đi

Người bạn gái nói với tôi một điều gì thật lạ...

Thuở màu phượng dễ làm say cánh bướm

dễ làm duyên!

Thành phố tuổi hoa niên. Thành phố ấy là em.

Em - với màu áo hoa mơ chân trần trên cỏ ướt

Đứng thảng thốt reo lên bên bờ sen ngập nước:

"Trời ơi! Sen sớm quá chừng thơm!"

Không bao giờ tôi quên

Em đã khắc hương sen ngày ấy vào vĩnh cửu!

Tôi chưa hề biết yêu em

Chỉ biết yêu thành phố

Trong ánh xanh lạ lùng buổi ấy dâng lên...

2.

Người anh họ thâm trầm dìu dắt tôi đi

Đã kể tôi nghe về nhiều tên ngõ cũ

Anh yêu Hà Nội bằng tình yêu rất cổ

Sau nộp đơn thi vào Đại học Nhân dân.

...Tôi nhớ hết những chuyện về ngõ Gia Ngư

Cấm Chỉ Sầm Công

Nhưng vô tình quên anh - sau không hề gặp lại!

Anh về dạy ở một huyện nghèo quê ngoại

Và mất năm 36 tuổi đầu

Vì cơn bệnh bất ngờ...

Mãi giờ tôi mới biết!

Duy tấm lòng anh nồng nàn da diết

Tự bao giờ vẫn đọng mãi trong tôi...

3.

Tuổi trẻ bao nhiêu là buồn vui...

Khi cha mẹ tôi trở về Hà Nội

Cả gia đình ở trong căn phòng mười sáu mét

Một cửa sổ bị cầu thang chắn hết

Không sao đọc được sách trong nhà!

Những bạn bè họp nhau

Rộn rã tuổi quàng khăn đỏ

Ngồi xổm dưới bóng cây cơm nguội

Học bài ngoài sân đất đến khuya

Rồi chuyện trò say mê

Tưởng tượng đến mươi mười lăm năm sau

Mình sẽ sống giữa cuộc đời lớn lắm!

Đứa nào cũng xoa tay háo hức

Rất nhiều đêm thao thức giữa lo mừng...

4.

Hà Nội ơi! Không biết bao lần

Tôi đi vắng rất lâu trở về gặp lại

Hà Nội vẫn làm tôi ngơ ngác mãi

Giữa nhịp phố thở dịu dàng mặt phố quá bình tâm!

Tôi đi quanh Hồ Gươm

Nhớ một con rùa cổ ngày xưa đã chết

(Được ướp nguyên trong hòm kính bảo tàng)

Lòng hồ còn bao nhiêu rùa

Vật chứng của nghìn năm thần thoại

Không ai đoán hết

Chỉ nổi lên trong những lúc động trời!...

5.

Thành phố vui buồn của một đời

ở đây chúng ta yêu nhau và có thể đã xa nhau!

Nhưng thành phố vẫn đằm gương mặt ấy...

ở đây tôi đã đọc đã quên đã buồn khổ rồi hy vọng

Đã lo lắng rồi yêu tin

Đã khinh bạc bản thân mình rồi rộng mở với anh em

Để lại tìm ra mình trong bước đi chan hòa tập thể.

Cây cầu bắc cheo leo qua hai bờ tuổi trẻ

Tôi với bạn bè đều vượt qua ở chính nơi đây!

Thành phố nuôi lớn bao lớp người bao ước vọng

mê say

Nhưng thành phố vẫn đằm gương mặt ấy!.

Bao nhiêu năm qua

Đột nhiên nhớ một góc đường Yên Phụ

Vị bánh tôm thơm nóng tuổi thơ đầu

Đột nhiên nhớ một cơn mưa đêm Trung thu

Chiếc đèn giấy thắp nến ướt rồi

không bao giờ còn tuổi đi rước nữa!

Đột nhiên nhớ vết bùn khô trên ngực áo

Vết bùn đẩy xe đắp đất san nền

Chỗ mình dựng công viên hoa đã nở bạt ngàn

Mười lăm năm... chỉ còn mùi hương của những

giờ tình tự

Cho lớp con em ta mới lớn

Mắt sáng hơn và môi đỏ hơn!...

6.

Một thế hệ người làm thơ lại đã đi qua...

Thầm thì hoa sấu rơi quả sấu rụng bàng hoàng

trên mái cũ

Năm lại chồng năm với những ngọn đèn mãi cần cù

không ngủ

Những gác xép nhỏ teo mà ao ước mở không cùng!

Có thể cái mặc cái ăn trong đời... vẫn vất vả thế thôi

Nhưng xốc dậy cả tầm nhìn thật chín!

7.

Bây giờ lại vào mùa sen

Cô bé ngày xưa với chiếc răng còn sún

Nay đã thành bà mẹ có hai con

Tôi lại gặp rất nhiều lứa đôi

Đi trên đường cỏ mới

Có thể một cô bé nào lại sẽ kêu lên sung sướng

Như chúng tôi mười mấy năm xưa :

"Trời ơi ! Sen sớm quá chừng thơm!"...

Một thế hệ lại sẽ bắt đầu như thế đấy!

                                     B.V

              (Rút từ tập thơ Khoảng cách giữa lời)


 

HUY TRỤ

Viết trên cầu Long Biên

Hơn trăm năm cầu đứng như Người

Lúc khóc lúc cười trơ gan cùng tuế nguyệt

Chứng tích của nghìn năm Thăng Long oanh liệt

ơi sông Hồng cuộn sóng nói điều chi...

                 Cầu Long Biên tháng 10 - 2009

                                     H.T

NGUYỄN NGỌC SÍNH

Long Biên khúc hát qua sông

Nhớ cây cầu chở năm tháng trên vai

May còn vẳng tiếng đòn tre kĩu kịt

Mặt trời mọc ngang qua dòng nước xiết

Lao xao đồng bằng gió hát sang sông

Cởi dải yếm đào vắt qua trăm năm

Còn tươi sắc phù sa từ đá vỡ

Đất nước xe duyên đôi bờ thương nhớ

Em qua rồi sông chảy sắc nâu non

Se chỉ luồn kim mấy độ chiến tranh

Từng xoáy nước cũng soi vào đáy mắt

Nối bao bến bờ cho ngày gặp mặt

Mỗi giọt máu trào thắm mãi muôn sau

Đêm qua cầu đối thoại với trăng sao

Ta lý giải dòng trôi và vô tận

Gió sang sông đã bao lần xung trận

Giặc tan rồi cầu hóa khúc dân ca

                       2 - 5 - 2010

                           N.N.S

HẰNG THANH

Chiều Hồ Tây


                          Tặng H





Say thêm ly nữa

Rót vào thiếu vắng

Rót tràn tái tê.

Say để quên đau tim càng buốt

Tỉnh để quên đi nhớ càng đầy.

Không ai mang gió

Không ai mang mưa

Cớ gì cứ nhớ

Cớ gì vấn vương

Để lòng giông tố!

                       H.T

NGUYỄN TRỌNG TUẤT


 

Thăng Long nghìn năm sau




 

Nghìn năm sau nữa người ơi

Thăng Long vẫn một đất trời uy nghi

Nghìn năm sau nữa... nói gì

Cổ Loa vẫn dấu xanh rì cỏ cây

Hồ Tây vẫn một Hồ Tây

Gươm thần loang bóng rồng mây dập dờn

Hồ Gươm vẫn một Hồ Gươm

Tháp Rùa ẩn hiện Ngọc Sơn khói tràn

Sông Hồng cuộn đỏ nước ngàn

Chương Dương vạn kiếp nắng vàng phù sa

Nghìn năm sau nữa... Nghìn xa

Ta thành thiên cổ với ta một thời

Hoàng Thành đá dựng thành phơi

Tiếng chuông Quán Thánh vọng lời nước non

Đất vuông ôm bóng trời tròn

Thăng Long nghìn dặm dấu son Lạc Hồng.

                                5-2010

                                  N.T.T

LÊ ĐÌNH BẰNG

Một thoáng Tràng An

Ngàn năm rồi!

Còn lại dấu Tràng An

Móng thành cổ Hoa Lư chìm sâu trong im lặng

Những viên gạch đầu tiên của một vương triều

Có Kinh đô hoành tráng

Những triều vua xưng đế tự cường!

Nước Đại Cồ Việt anh hùng không phụ thuộc Bắc phương

Dám chấp nhận cuộc đương đầu phá Tống

Hào khí Đinh - Lê cuộn sôi như trăm ngàn ngọn sóng

Trấn Bắc kiên cường truy kích lũ cuồng Chiêm

Ai dám chắc nơi nào trên núi Mã Yên

Là linh địa yểm sâu trong thớ đá?

Hơn bốn mươi năm giữ vương triều nơi đại ngàn

hoang dã

Khi vận nước lâm nguy trao lại tấm long bào...

Kinh đô chuyển đi rồi còn lại với muôn sau

Hai tiếng "Hoa Lư" trong lòng hậu thế

Còn lại bóng vua Đinh và Lê Đại Hành hoàng đế

Giữa Ninh Bình vời vợi núi mây giăng

                      Tràng An 8-2010

                              L.Đ.B

LÊ HUY HOÀNG


 

Thăng Long huyền thoại

Thuở Âu Cơ mẹ lên rừng cha xuống biển

Cuộc hẹn hò gặp gỡ ở Thăng Long

Hồ Tây ngát bốn mùa sen nở

Và đời sau Hồng Hà bỗng hóa rồng...

Thuở ấy Sơn Tinh chân đạp sóng

Đứng trên cao núi Tản vẫy sông Đà

Dẫu Thủy Tinh có cuồng phong bão lũ

Rồng vẫn về vùng vẫy ở Đại La.

Thuở âý có chàng trai làng Gióng

Đuổi xâm lăng bằng những bụi tre ngà

Giặc tan rồi chẳng màng vương miện

Ôi! đất nước diệu kỳ như một bản hùng ca!

Thuở ấy những con Hồng cháu Lạc

Đã cùng nhau quần tụ đến nơi này

Xây thành cổ tìm nỏ thần giữ nước

Sáng quắc tên đồng bao lũ giặc phơi thây...

Rồi một ngày Chiếu dời đô Người thảo

Chọn nơi đây thế rồng cuộn hổ ngồi

Dẫu bao phen giặc dã chia phôi

Hùng khí ngàn đời mãi mãi sáng soi

Đất thánh linh thiêng hồn dân tộc

Vọng về một thuở nhớ Người xưa

Mở cõi trời Nam ôm kỷ niệm

Thăng Long Ngàn tuổi chẳng phai mờ!...

                                  L.H.H

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NGUYỄN BÁ DOANH


 

Mưa sa

Truyện ngắn



       Tôi ngồi trước mâm cơm đậy lồng bàn chờ chồng. Tối hôm qua anh đã đồng ý trưa nay sẽ về đúng giờ cơm nước xong vợ chồng sẽ đi siêu thị mua vài thứ làm quà và tìm mua cho mẹ mảnh vải để mẹ may áo dài đi lễ chùa.

Đồng hồ trên tường chỉ 11 giờ 21 phút. Chắc anh sắp về đến nhà. Tôi chờ tiếng chuông gọi cổng.

12 giờ. Có tiếng chuông nhưng không phải tiếng chuông tôi chờ đợi. Tôi lập cập cầm ống nghe. Tiếng anh trơn tuột: "Anh bận tiếp khách rồi không về được đâu. Em chủ động nhé". Tôi hơi bực nhưng vẫn cố dịu dàng: "Thế còn sáng mai?". "Sáng mai anh phải tháp tùng giám đốc Sở ra Hà Nội... Em nói sao để các cụ thông cảm cho anh. Anh bận lắm." Không kìm được nữa tôi gắt lên lần đầu tiên tôi gắt với chồng: "Bận! Anh thì lúc nào cũng bận! Bận đến nỗi ngày giỗ của bố vợ cũng không về thắp cho cụ nén hương." Tôi cúp máy. Nỗi bực tức nghẹn đắng ở cổ. Các cụ xưa nói cấm có sai "Chưa được thì hứng bằng rá. Được rồi thì đá bằng chân". Hồi đang yêu có chủ nhật nào mà Đức không về. Có hôm mưa gió Đức về đến nhà tôi đã 8 9 giờ tối người ướt như chuột lột rét run lập cập nói chẳng ra lời. Nhìn Đức tôi thương lắm nhưng vẫn cứ trách "Mưa gió rét mướt anh về làm gì". Đức cười héo hắt: "Nhưng nhớ em không chịu được" Tôi ngúng nguẩy nhưng trong lòng lại thấy vui vui. Vậy mà bây giờ... Một không khí ngột ngạt bức bối bao trùm cả căn nhà. Không thể chịu được nữa tôi đùng đùng đứng dậy xách túi đồ ra cổng vẫy xe ôm ra bến.

Xe khách xuất bến đúng giờ nhưng cứ chạy lòng vòng trong thành phố bắt khách nên mãi đến 4 giờ chiều tôi mới về được đến nhà. Sáng mai mới làm giỗ nhưng các anh các chị tôi đã có mặt đủ cả đang sửa soạn ban thờ và các công việc chuẩn bị khác. Chẳng có ai hỏi đến chồng tôi có lẽ họ đã quen với sự vắng mặt của Đức trong ngày giỗ bố rồi.

Năm năm theo chồng là 5 lần giỗ bố Đức mới về có một lần. Lần đó sau ngày cưới nửa năm. Còn lần nào Đức cũng "bận". Tôi phân vân hờn giận. Đức dịu dàng: "Hiếu ở tâm chứ em. Anh bận không về được nhưng trách nhiệm nghĩa vụ làm con anh có thiếu đồng nào đâu thậm chí còn gấp hai gấp ba lần ấy chứ". Tôi cũng vin vào đó để bào chữa cho Đức và an ủi mình. Nhưng đến lần giỗ năm ngoái đây chẳng biết bằng cách nào toàn bộ bánh trái hoa quả và cái phong bì 500 ngàn đồng tôi mang về giỗ bố lại nằm gọn trong túi xách của tôi. Khi về đến nhà mở ra tôi mới ngã ngửa người. Tôi khóc. Đức cũng nhận thấy sự bất nhã của mình. Đành rằng đồng tiền rất cần cho cuộc sống nhưng con người ta sống đâu phải chỉ có tiền. Đức an ủi tôi mà cũng là hứa với chính mình: "Anh biết mình sai rồi! sai thật rồi. Thôi nào đừng khóc nữa. Sang năm dứt khoát anh sẽ về. Về để giỗ bố. Về để tạ tội với mẹ với gia đình". Vậy mà... sang năm... có lẽ rồi lại... sang năm... mà cũng chẳng biết đến năm nào thì Đức về giỗ bố vợ? Cũng không chỉ giỗ bố vợ những công việc khác buộc vợ chồng phải về thì Đức thường "giao phó" toàn quyền cho vợ còn Đức bao giờ cũng có lý do để lảng tránh. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao nữa. Tôi gặng hỏi thì Đức gắt "Em không thấy anh bận tối ngày hay sao?" Tôi lại thôi. Im lặng để giữ hòa khí trong nhà.

Tôi vội vàng ra giếng rửa ráy qua loa rồi xắn tay áo giúp mẹ một vài việc còn dang dở nhưng lòng tôi lại ngổn ngang. Không có Đức tôi sượng mặt với mọi người trong nhà chẳng dám nhìn thẳng vào ai. Xong việc tôi lững thững đi ra ngoài. Tôi đến nhà Tùng. Không hiểu sao về giỗ bố lần này bước lên xe tôi đã nhớ đến Tùng. "Tình cũ không rủ cũng đến" hay tôi cần có người để sẻ chia nỗi ấm ức đang chất chứa trong lòng? Tôi cũng không biết nữa. Tôi cứ lững thững bước.

Kể từ ngày đi lấy chồng đây là lần thứ hai tôi đến nhà anh. Lần thứ nhất cách đây đã ba năm. Thúy (vợ Tùng cũng là bạn thân của tôi) ốm đến mức phải đi bệnh viện Trung ương tôi đến thăm. Lý do rất chính đáng như vậy mà Đức có ý không vui. Từ đó tôi không dám nghĩ đến chuyện đi lại thăm nom gì nữa. Cũng là lẽ thường tình gái đã có chồng gia đình hòa thuận hạnh phúc phải đặt lên hàng đầu chứ biết làm sao! Nhưng lần này thì khác chẳng cần phải lý do lý trấu gì hết bạn bè người yêu cũ (cứ cho là như vậy đi) lâu ngày đến thăm nhau không được sao? Nếu Đức biết chất vấn tôi sẽ vặn lại như vậy rồi muốn ra sao thì ra!

Tôi cứ lững thững bước cây vối cổ thụ đột ngột hiện ra. Nhà Tùng đây rồi! Tôi khẽ reo lên và trống ngực đập dồn dập. Mặc dù đã mấy năm rồi chúng tôi không còn liên lạc với nhau nhưng tôi vẫn đinh ninh rằng gặp tôi Tùng sẽ vui lắm sẽ luống cuống ngượng ngập như ngày xưa. Ngày xưa... nhưng chưa xa hồi ấy cứ mỗi lần tôi đến có hẹn trước hay không thì tiếp tôi Tùng vẫn cứ luống cuống ngượng ngùng. Rót nước mời chỉ có mình tôi Tùng rót ra cả 6 cái chén trên khay. Tôi bụm miệng cười trêu: "Anh rót nước ra cho nguội đấy à?" Tùng càng ngượng mặt đỏ lên xấu hổ như con gái. Tôi yêu cái ngượng ngập ấy của anh và hay trêu chọc anh khi có cơ hội. "Quá mù ra mưa" nhiều khi Tùng tự ái "Tôi thì chỉ có vậy thôi!" Im lặng. Giận. Tôi lại phải chủ động làm lành. Tôi biết Tùng yêu tôi nhưng lại không dám ngỏ lời. Tôi mạnh bạo còn Tùng thì lại rụt rè. Đã bao lần hai đứa đứng ở gốc vối này bịn rịn quyến luyến. Tôi chờ câu nói của Tùng. Chờ và chờ. Nhưng Tùng thì hoặc im lặng hoặc nói toàn chuyện không đâu. Và cuối cùng thì "Khuya rồi để anh đưa em về" và chúng tôi lại sánh vai nhau trên con đường làng đã ướt sương đêm. Đến ngõ nhà tôi Tùng đứng chờ tôi vào hẳn nhà đóng cửa tắt điện xong xuôi đâu đấy Tùng mới quay lại nhà mình.

Cũng có hôm Tùng đến nhà tôi chơi hoặc hai đứa cùng đi chơi ở đâu đó dù gần hay xa dù đi bộ hay đi xe đạp. Đầu ngõ nhà tôi vẫn là "điểm hẹn" để lại diễn ra cái cảnh dùng dằng quyến luyến ấy nhưng cái điều tôi chờ đợi thì vẫn chẳng có điểm hẹn nào cho đến khi Đức xuất hiện.

Cây vối như một vật chuẩn xác định đó là đầu ngõ nhà Tùng. Nhưng nhìn vào quang cảnh nhà Tùng đã khác quá. Trong trí nhớ của tôi nhà Tùng là ngôi nhà ngói 4 gian lợp ngói mũi. Lòng nhà hẹp và thấp người ra vào qua cửa phải hơi cúi đầu. Sát với chái nhà lớn là nhà ngang quay hướng Nam vừa là bếp nấu còn phải lợp bằng bổi. Nền đất ướt lép nhép mỗi khi trời mưa to. Nhà Tùng nghèo có lẽ đấy cũng là lý do để Tùng không đủ tự tin ngỏ lời với tôi chăng? Tôi đoán vậy bởi khi nói đến tình yêu người đời thường gán cho nó toàn những danh từ cao quý mỹ miều nhưng nói là một chuyện còn làm lại là một chuyện khác. Sự khác nhau về đẳng cấp giàu nghèo mấy ai đã có đủ nghị lực để vượt qua sự tính toán cá nhân và cả dư luận xã hội nữa! Vậy mà mới có mấy năm vợ chồng Tùng đã làm mới lại hết. Ngôi nhà ngói 4 gian giờ là ngôi nhà mái bằng lợp tôn chống nóng hẳn hoi. Nhà ngang nhà bếp mái ngói đỏ tươi mảnh sân trước nhà được mở rộng thoáng đãng. Vườn tược được quy hoạch lại vuông vức cây cối tốt tươi nhìn thích mắt. Tôi nhớ cách đây vài năm cũng vào dịp giỗ bố như thế này nhân khi tôi hỏi thăm bạn bè ở làng (nhưng không đả động gì đến Tùng) mẹ tôi vẫn cho hay: "Vợ chồng thằng Tùng làm ăn cũng được đã mua được xe công nông để chở thuê. Chịu khó thật thà nên không lúc nào hết việc. Còn con Thúy làm ruộng chăn nuôi giỏi nhất làng vừa được xã chọn đi dự hội nghị gia đình sản xuất giỏi cơ đấy". Mừng. Tất nhiên là mừng rồi nhưng lòng dạ vẫn gợn chút ghen tuông. Tôi ghen với Thúy. Số nó vậy mà đào hoa.

Cửa ngõ khép hờ tôi đẩy cửa rồi mạnh bạo bước vào sân. Con Vện vàng từ đâu lao ra sủa inh ỏi. Cửa nhà mở toang nhưng không thấy ai lên tiếng. Tôi đành phải lên tiếng trước:

- Có ai ở nhà không?

Im lặng.

- Vợ chồng anh Tùng đâu rồi? Thấy bạn bè cũ đến thăm định trốn hay sao?

Vẫn im lặng.

Tôi chỉ còn đứng xắm lắm ngoài sân chờ chủ vậy. Phải đến dăm phút sau mới thấy Thúy từ vườn sau đi vào. Thấy tôi Thúy sững sờ giây lát rồi không kìm được lòng mình Thúy chạy lại định ôm lấy tôi nhưng chợt nhớ đến bộ quần áo lao động đang mặc trên người Thúy lại thôi. Nắm lấy tay tôi Thúy lắc mạnh:

- Con khỉ! Về giỗ ông già hả? Anh Đức có về không?

Tôi tảng lờ đưa mắt nhìn xung quanh:

- Làm nhà mà không tin cho tao biết. Lại cũng không mời tân gia nữa.

- Ngôi nhà ông bà để lại dột nát quá rồi nên buộc phải làm chứ bọn mình đã có được bao nhiêu đâu. Phải vay mượn lung tung cả. Cũng định lên chỗ mày nhưng anh Tùng bảo mày chưa đi làm nên chưa có tích lũy đâu đừng làm khó cho cô ấy. Tao thấy cũng phải nên chẳng nói gì với mày là vì vậy.

Tôi thấy sống mũi cay cay. Đức yêu tôi lo cho tôi nhiều hơn tôi tưởng. Tôi chưa kịp nói gì thì có tiếng xe máy ở đầu ngõ Thúy nhìn tôi dặn:

- Anh Tùng đón cu Bi về đấy mày cứ đứng im xem anh ấy có nhận ra mày không.

Nhưng tôi làm sao mà "đứng im" được. Tôi cũng quay mặt nhìn ra ngõ. Dưới ánh chiều chạng vạng Tùng gầy và đen đi nhiều. Ngồi trong lòng Tùng là một thằng bé trắng trẻo bụ bẫm đội cái mũ lưỡi trai lệch sang một bên trông thật ngộ nghĩnh. Xe dừng Thúy như vồ lấy con thơm lấy thơm để lên đôi má bụ sữa của thằng bé. Còn Tùng chăm chắm nhìn tôi. Vẫn ánh nhìn đằm thắm như xưa nhưng không còn cái vẻ ngượng ngùng như trước.

- Huyền phải không? - Phải mấy giây ngỡ ngàng Tùng mới nhận được ra tôi. Cũng phải thôi trong tâm trí Tùng tôi đâu phải là tôi bây giờ! Năm năm ở thị thành không khác mới là chuyện lạ. Nhưng Tùng vẫn bảo - Em chẳng khác xưa là mấy về lúc nào vậy? Vào nhà đi.

- Anh thì em lại thấy khác - Tôi cố lấy bình tĩnh nhưng giọng vẫn run run - Khỏe khoắn cứng cỏi mạnh bạo lắm không còn là Tùng "sản" (như đàn bà sản) ngày xưa nữa.

Tùng cười:

- Thì... U30 rồi còn gì!

Chúng tôi ngồi với nhau quanh bàn nước kê ở giữa nhà. Trừ Thúy nói năng tự nhiên còn tôi với Tùng cứ thế nào ấy chân tình nhưng vẫn gượng gạo xã giao. Thúy bảo:

- Ngày mai mới làm giỗ tối nay ở đây ăn cơm với vợ chồng tao. Tao còn nhớ mày rất thích món thịt lợn thái nem cuốn lá sung chấm tương ớt đấy. ở thành phố chắc không có lá sung đâu nhỉ?

Lời mời của Thúy đã giải thoát cho chúng tôi. Tùng sốt sắng:

- Phải đấy! Huyền ở lại ăn cơm với bọn mình. Ăn để "nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương". - Nói rồi Tùng đứng dậy đi xuống bếp tôi ngăn lại:

- Anh bế cu Bi đi để em và Thúy làm bếp. Lâu lắm rồi hai đứa chưa xì xụp nấu nướng với nhau cái gì.

Thúy phân trần:

- Cu Bi quấy lắm buổi tối không chịu rời mẹ đâu nên cơm nước anh Tùng phải đảm nhận hết.

Tùng nhìn con mắt long lanh:

- "Hoặc là rửa bát hoặc cho con bú anh chọn việc nào?" Vì tương lai con chúng ta tất nhiên bố phải chọn việc rửa bát rồi con nhỉ?

Tùng cười Thúy cười tôi cũng cười. Đầm ấm hạnh phúc quá. Tôi mừng cho hai bạn nhưng lại thấy lòng mình tái tê. Giá như Đức chồng tôi có được một phần một phần nhỏ thôi cũng được sự chăm sóc chia sẻ với vợ như Tùng? Tủi phận. Nước mắt tôi cứ muốn trào ra.

Đức một cán bộ trẻ ở trên thành phố không đẹp không xấu nhưng nhanh nhẹn sắc sảo. Còn tôi chỉ là một cô giáo mầm non trường làng. Nhưng bù lại tôi có được chút nhan sắc trời cho. Đức bảo "Một trăm thằng con trai nhìn thấy em thì chín mươi chín thằng phải khen em là đẹp quyến rũ trong đó có anh".

Tôi tin Đức nói thật lòng bằng chứng là tôi đã trúng tuyển diễn viên điện ảnh trước khi đi học sư phạm Mầm Non. Vì có chút nhan sắc trời cho ấy nên đám cưới ở làng tôi luôn được chọn làm phù dâu và đám cưới bữa ấy Đức làm phù rể. Lúc hai họ làm thủ tục trao nhận lễ vật dẫn cưới thì tôi và Đức cũng trao ánh mắt cho nhau. Định mệnh.

Đức "tấn công" tôi dồn dập lại chiếm được cảm tình của mọi người trong nhà. Chỉ có tôi là còn chút lưỡng lự. Thấy vậy anh trai tôi bảo: "Yêu là một chuyện còn lấy làm chồng lại là chuyện khác. Câu ca: "Một mái lều tranh hai trái tim vàng..." cũ lắm rồi phải thực tế đi cô ạ". Còn mẹ tôi lại nhỏ nhẹ: "Cứ nhìn chị Hằng con nhà bác Nùng đấy thì biết giá mà lấy thằng Công giờ chẳng sướng hơn vua à? Cứ khăng khăng "Con yêu anh Thắng con chỉ lấy anh Thắng thôi" giờ thì toại nguyện thấy chưa?"

Nghĩ đến cảnh lấy chồng mà như chị Hằng tôi rùng mình. Chẳng biết tình yêu có đủ bù đắp cho nỗi vất vả của chị không chứ cảnh quần quật suốt ngày đầu tắt mặt tối mà bữa ăn cũng không đủ con cái thì lem luốc đến cái quần cái áo hẳn hoi cũng không có mà mặc khi ra đường thì... thà chịu tiếng ế chồng có lẽ còn hơn!

Không chỉ lấy "người thật việc thật" ra thuyết phục. Anh tôi mẹ tôi và cả Đức nữa còn vẽ ra cả một tương lai tốt đẹp đang chờ tôi ở phía trước ưu thế hơn rất nhiều so với Tùng. Còn Tùng từ ngày có Đức đi lại anh cứ thưa dần rồi chẳng thấy đến nhà tôi chơi nữa. Sau này Thúy cho hay "Anh Tùng thấy mình không "nặng ký" bằng anh Đức nên tự nguyện "rút lui". Tôi nghe mà tức muốn trào nước mắt người đâu mà...!

Lấy Đức người làng bảo tôi "chuột sa chĩnh gạo". Tôi không phản đối. Đúng là "chĩnh gạo" thật mà là gạo Tám Thơm hẳn hoi. Bởi trước khi "hạ cánh an toàn" bố chồng tôi cũng đã kịp đưa anh ngồi vào một vị trí khá thuận lợi cho con đường thăng tiến của anh sau này và sang tên cho anh một ngôi nhà hai tầng lầu ở ngoại vi thành phố đầy đủ mọi tiện nghi nhỏ nhất như cái bát ăn cơm chúng tôi cũng không phải sắm.

Làm vợ Đức tôi chỉ có bổn phận giặt giũ quần áo cho chồng và nấu 3 bữa ăn bữa sáng là chính còn hai bữa chính bữa Đức ăn bữa không. Nhà hai tầng lầu nhưng cửa đóng im ỉm suốt ngày đêm nên cũng chẳng có bụi có bẩn để mà quét tước dọn dẹp nên tôi cứ thừa ra trong ngôi nhà của mình. Tôi chỉ còn biết làm bạn với chiếc ti vi với đủ các kênh trong nước và quốc tế để giết thời gian.

Đức chỉ là một cán bộ của một phòng trong Sở nhưng Đức đi suốt ngày thậm chí đi cả đêm. Tôi nhắc khéo Đức bảo: "Việc của anh em biết gì mà tham gia em cứ làm tốt bổn phận của mình đi thế là được."

Bữa ấy trời mưa đã gần 12 giờ đêm rồi mà không thấy chồng về. Sốt ruột. Tôi gọi điện thoại cho anh di động của Đức đổ một hồi chuông rồi bật tắt. Một lúc sau tôi gọi lại thì: "Số máy quý khách vừa gọi tạm thời không liên lạc được..." Tôi hơi bực một thoáng nghi ngờ chồng lóe lên tôi gọi điện thoại đến bác bảo vệ cơ quan định dò la tin tức nhưng tôi chưa kịp nói hết câu bác đã bảo: "Chú ấy ra về từ chiều cơ mà. Đêm hôm mưa gió thế này hay là có chuyện gì rồi ?" Cúp máy.

Lỗi là từ phía Đức. Người vợ lo lắng cho chồng không có lỗi. Vậy mà khuya lắm Đức mới về không một lời thanh minh lại sa sầm nét mặt gắt gỏng:

- Cô theo dõi tôi đấy phải không? Nên nhớ ở cái nhà này tôi là chồng chứ không phải là cô nhé!

Tôi há hốc mồm ngạc nhiên:

- Ơ... kìa anh! Em sốt ruột vì không thấy anh về...

Đức cướp lời:

- Đến bữa thì cứ ăn đợi chờ làm gì mà sốt ruột!

Tôi chết lặng người trước sự xúc phạm thô bạo của Đức rồi bật khóc. Tôi cố kìm thì tiếng khóc nghe càng tức tưởi. Đức gườm gườm nhìn tôi rồi bước vào phòng đóng sầm cửa lại.

Sau này tôi mới biết mặc dù tôi không nhờ nhưng bác bảo vệ vẫn điện đến một vài người thân cận với chồng tôi để dò hỏi trong đó có cả Giám đốc sở. Giám đốc sở điện đến cho anh đúng lúc anh vừa mở máy trở lại. Tôi chẳng trách bác bảo vệ. Bác hành động như vậy cũng xuất phát từ thiện chí chứ không có ác ý gì. Bác đâu biết rằng Đức không thích và không muốn ai biết hoặc tham gia vào những công việc riêng của mình. Và cũng nhờ cái buổi tối hôm ấy tôi mới hiểu thêm về con người Đức để tự điều chỉnh mình theo ý muốn của chồng. "Xuất giá tòng phu" giờ tôi mới thấm thía cái chữ "tòng" mới nghiệt ngã làm sao!

Không biết những người khác thì sao chứ cái bổn phận làm vợ như tôi thì nhàn nhã quá. Buồn tẻ. Đơn côi. Nhàm chán. Tôi đâm ra nhớ bọn trẻ. Nhớ quay nhớ quắt. Đêm đêm nằm trong vòng tay chồng mà đầu óc cứ lởn vởn với những gương mặt ngây thơ những tiếng nói bi bô ngọng nghịu. Hồi đang yêu Đức hứa cưới xong sẽ xin cho tôi dạy ở một trường Mầm Non nào đấy gần nhà. Nhưng cưới rồi chẳng thấy Đức đả động gì đến nữa. Nhân một tối thấy anh vui vẻ tôi nhắc lại Đức thẳng thừng:

- Bỏ đi! Ba cái đồng lương dạy trẻ không bõ. Em cứ ở nhà nội trợ còn kinh tế để anh lo.

- Nhưng cứ cảnh này em đến buồn mà chết mất.

Đức cười khùng khục trong cổ:

- Chết! Khối cô muốn "chết" được như em mà mơ cũng không thấy đấy! - Rồi Đức thủng thẳng - Em thử tính kỹ mà xem em đi dạy thì phải thuê Ôsin để giúp việc nhà đúng không nào? Mà đã thuê thì phải trả tiền. Tiền lương dạy trẻ liệu có đủ không? Hơn nữa Ôsin nào cho được bằng em không khéo "Tiền mất tật mang" ấy chứ. Khối nhà đã gặp phải cảnh ấy rồi.

Tôi vùng ra khỏi tay Đức:

- Thì ra anh muốn biến tôi thành Ôsin cho anh cho cái nhà này.

Đức cũng ngồi dậy vòng tay ôm lấy tôi bỡn cợt:

- Ôsin cho chồng cho con cũng là hạnh phúc của người vợ đấy cô ạ.

Đức nói không sai nhưng chưa đủ. Vợ trước hết họ cũng là con người mà đã là con người thì chồng hay vợ cũng đều có nhu cầu được hòa nhập với cộng đồng được giao lưu với xã hội được... Nhưng tôi không thốt thành lời. Tôi cứ ngồi im cho Đức vuốt ve mơn trớn. Con chim đã nhốt vào lòng son có vùng vẫy cũng vô ích. Hãy nhớ lấy điều ấy chớ làm điều gì dại dột. Có tiếng thì thầm như vậy từ trong sâu thẳm cõi lòng vọng lên hay là tiếng của Đức tôi cũng không biết nữa.

Tôi phàn nàn với mẹ (và chỉ với mẹ thôi) về "nỗi khổ" của mình. Mẹ tôi chẳng an ủi động viên lại còn đai giọng: "Gớm...! Cô thì được voi đòi tiên. Đừng có mà đứng núi này trông núi nọ. Liệu liệu đấy".

Có tiếng chuông điện thoại tôi biết Đức gọi nhưng đang bận tay giúp Tùng nấu nướng dưới bếp nên tôi không muốn lên nhà Thúy phải cầm xuống. Dí sát cái di động vào mặt tôi Thúy cười cười: "Phu quân gọi... nè". Trên màn hình "Anh Đức... đang gọi" nổi rõ. Tôi bấm nốt nghe. Tiếng Đức ngọt ngào:

- ở nhà mọi người vẫn bình thường cả đấy chứ? ừ vậy là tốt rồi. Còn em em đi đường xa có mệt không? Nghe anh dặn này ở quê không có nóng lạnh em nhớ đun nước mà tắm kẻo cảm lạnh đấy nhớ chưa?"

Tôi hờ hững buông máy đưa trở lại cho Thúy. Thúy tủm tỉm:

- Vợ chồng cậu cứ như đôi Sam ấy mới xa nhau một tý mà điện với đóm. Chả bù cho anh Tùng...

Tôi hơi xẵng:

- Tao đổi cho mày đấy đồng ý không?

- Tao ký liền cả hai tay. Gớm! Lại còn ra bộ ra dạng. Lấy chồng được như mày thử hỏi ở làng này có mấy người?

Có một vật gì chẹn ngang cổ tôi cố nuốt xuống đắng chát. Nhưng miệng cứ phải cười tươi dịu dàng:

- ừ thì... Các cụ xưa đã dạy rồi "con gái như hạt mưa sa..." "sa" vào đâu thì phải chịu đấy. Ai mà biết trước được.

Tôi tự an ủi mình hay phân bua với Thúy tôi cũng không biết nữa?

                               Trại viết Hà Tĩnh tháng 3-2010

                                   Thanh Hóa tháng 5 -2010

                                                  N.B.D

HOÀNG THÁI SƠN


 

Đá trắng


Truyện ngắn



      Tên làng tôi thật đẹp - Xuân Mai không rõ ai đặt hồi nào. Đó là một làng tính đến nay đã trên bảy trăm năm tuổi với đình chùa cổng làng cây đa bến nước... nghĩa là cũng đầy đủ lệ bộ của một làng ra làng có điều lại không phải đất văn hiến. Các làng bên thời nào cũng có người học hành đỗ đạt ra làm quan hoặc có mỹ nhân mắt phụng mày ngài tiến cúng mang về bao nhiêu phúc lộc cho làng. Riêng Xuân Mai trống trơn giỏi lắm cũng chỉ lác đác mấy vị tú tài gõ đầu trẻ kiếm cơm với cuốn Tam tự kinh; thành hoàng làng cũng phải thỉnh một vị tướng tài thủa Nam chinh từng có lần cho quân lính hạ trại qua đêm ngoài bãi đầu làng về để thờ chứ người làng chẳng ai xứng đáng.

Sở dĩ vậy là vì làng nằm trên một mảnh đất hình mai rùa đã thế còn bị nước con sông Đại Giang rất hung hiểm từ Trường Sơn đổ về đến đầu làng thì bỗng nhiên bẻ gập thước thợ xói ngay vào nên làng lúc nào cũng y như con rùa già lóp ngóp giữa sình lầy khó nhấc nổi mình để đi tới. Người làng Xuân Mai truyền nhau cảm giác đêm nằm cứ nghe chông chênh chao đảo; ai ở xa đến dĩ nhiên không nhận ra điều này còn lũ chúng tôi thì đã được rỉ tai từ tấm bé lẽ nào lại không thấy bất an khi đặt lưng xuống giường vắt tay lên trán!

Nhưng làng tôi vẫn còn nguyên đó một tia hi vọng xanh rờn. Tương truyền rằng ngoài bờ sông hướng ngay trước cửa đình có một hòn bạch thạch lục diện ẩn náu đâu đó; ai nhặt được thì chẳng những bản thân hiển đạt mà cả một thế hệ đồng thời cũng sẽ thành danh từ đó mọi hy vọng mở mày mở mặt với thiên hạ mới thành sự thật.

Thế là bao thế hệ dân làng đã cất công lặn tìm; người ta chia nhau từng mét vuông đáy nước mò kỹ cả mấy trăm năm lớp cha trước lớp con sau chưa hề nản chí. Rất nhiều hòn đá đẹp được nhặt lên nhưng đều không phải viên đá thần chứng cứ là con dân của làng vẫn lẹt đẹt đường công danh u ám nơi cửa Khổng sân Trình; trong khi hòn bạch thạch vẫn trốn đâu đó với trò ú tim ma mị của nó. Thật đau thương là nhiều thanh niên trai tráng của làng vì mò tìm bạch thạch mà bị thủy thần bắt cống mạng. Riêng dòng họ nội tôi chỉ từ năm Tự Đức nguyên niên đến ngày Bảo Đại rời ngai vàng các cụ tính là đã có bốn người ra đi!

Xung quanh việc tìm viên đá thần người ta đã tô vẽ ra bao nhiêu là chuyện cúng bái tốn rất nhiều xôi chè hương oản. Người làng truyền nhau rằng phải có "cơ trời" hoặc phải gặp thời mới mong thành đạt chứ làm gì có chuyện bỗng dưng. Vậy tức là suốt trường kỳ năm tháng cái then máy của con tạo xoay vần không một lần mở ra cơ hội cho dân Xuân Mai và thời vận cũng theo đó bỏ qua? Song dân làng vốn kiên trì nên không hề nhụt chí. Có anh đăng lính bị triều đình nhốt vì tội phản nghịch chỉ chờ chết; lúc vợ dắt đứa con trai lên bảy tới thăm nhìn vào đôi mắt sáng tựa sao của thằng con mà rằng "Đến thời rồi nhìn mắt con cha biết". Nói xong cười rung xiềng xích nhưng đó cũng chỉ là liều thuốc an thần tự dối mình và người thân mà thôi!

Chúng tôi lớn lên không hề nguội lạnh ước mơ bao đời tiếp tục lặn ngụp đến bợt người giữa sóng gió của dòng sông chảy xiết. Quả thực đứa nào cũng có lúc trông thấy trong bóng tối vực thẳm một tia sáng lạ; nhưng khi tiến lại gần thì nó lại biến đâu mất. Thế nên càng ngày tôi càng cho rằng đây chỉ là cái bẫy của thiên nhiên không nên theo đuổi; có đứa lại nói đó là câu chuyện bịa của một gã cà chớn nào đó như làng nọ truyền nhau chuyện hũ vàng trong núi vậy rồi bao đời hì hục đào thủng núi và chỉ có vàng mắt!

Vậy nhưng vào phút cuối lúc đã quá mỏi mệt thất vọng niềm mơ ước bao đời của làng bỗng mỉm cười với chúng tôi. Không phải một ai mà cả tốp năm đứa đều đồng thì trông thấy báu vật lúc chúng tôi lần đầu tiên cùng nắm tay nhau lặn xuống vực sâu. Hòn đá nằm trên một mặt cát vàng mịn màng đúng trước hướng cửa đình.

Đó là một khối đá trắng vuông vức sáu mặt to bằng khối vuông rubic ngày nay cũng là thứ để thử tài năng trí tuệ con người.

Cả làng xôn xao mất ăn mất ngủ trong phấp phỏng niềm tin mặt trời sẽ rọi tới nơi tăm tối cả nghìn năm. Thế rồi người ta cho quét dọn sân đình rửa hương án ban thờ mổ lợn thắp nhang rước khối đá thần vào hậu cung đình làng. Các bậc cao niên các vị trưởng họ khăn áo tề chỉnh khấu đầu vái tạ kể lể công lao khó nhọc của dân làng và ân ưu của trời đất; còn dân làng thì vòng trong vòng ngoài chen chúc ai cũng mong được tận mắt trông thấy báu vật các làng bên nghe tin kéo tới thế là ầm ĩ cả lên cuối cùng dân quân phải vác súng trường ra bắn mấy phát chỉ thiên mới dẹp yên được.

Làng bàn nhau cúng tế ba ngày rồi đóng tủ gụ hương khảm trai để đặt ngài vào mà thờ. Đến cuối ngày thứ ba thì từ trong hậu cung đình làng nghe vọng ra tiếng nói trầm đục rằng thời đã đến trời cũng đã ngó tới con em trong làng gắng công học hành đi. Mọi người rập đầu dạ ran. Thần lại phán tiếp rằng một lần xuất hiện đá thần đã trao hết linh khí cho một thế hệ rồi đó; hãy trả đá thần về chốn cũ cho hồn thiêng sông núi khắc khảm vào để vận may lại còn cơ hội trao tiếp cho các thế hệ mai sau... Nghe vậy dân làng bèn chọn ngày hoàng đạo làm lễ hạ giang tiễn ngài về với đáy sông. Bến đình hôm đó cờ xí tưng bừng trong nắng mai lại cho đua thuyền có mời nam thanh nữ tú các làng bên tham gia trông quá vui.

*

Y như ngày nay các đội tuyển bóng đá quốc gia mang trọng trách trước mùa World Cup; lũ chúng tôi hiểu rõ gánh nặng trên vai là phải học thật giỏi cả bọn rồi phải lẫy lừng trong vị trí ông to bà lớn chứ không thể lơ mơ được. Niềm sung sướng biến thành nỗi lo. Cha mẹ chúng tôi gầy mòn phen này phải bán ruộng bán nhà là cái chắc! Làng xóm họ mạc động viên lại góp gạo góp tiền cho bọn tôi lên huyện học. Chúng tôi biết không còn đường lui nữa nhảy vô lửa phen này cũng phải nhảy chuyện đèn sách chỉ phải coi nhỏ như con thỏ!

Quả nhiên chúng tôi học tập rất tiến bộ năm thằng thi đậu cấp ba cả năm rồi đều học khá và giỏi. Thằng Nhị và thằng Hà cọt đến năm cuối cấp còn được chọn đi thi học sinh giỏi quốc gia; vinh dự nhất và cũng xứng đáng nhất là Nhị đã đoạt giải cao môn Toán được vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục trao bằng khen bắt tay.

- Làng chuẩn bị võng lọng mà rước quan nhá - Dân làng bàn luận thâu đêm bên ấm chè xanh dưới vầng trăng sáng - Phen này có đứa làm quan to là cái chắc.

- Thời đại mới sao còn nói chuyện quan quyền làm chi có. Ông phong kiến quá. Phải nói là rồi làng ta sẽ có lớp người thành đạt sẽ làm rạng danh quê cha đất tổ.

Ông cãi có quan đứng phắt dậy chìa hàm răng vẩu ra:

- Có quan chứ.

- Ai gọi ai quan đâu nào?

- Có. Quan cách mạng ấy mà lị.

- Nên gọi là nhà lãnh đạo cho nó đúng.

- Không! Gọi quan mới sang. Làng chưa thời nào có ai làm quan đừng làm mọi người mất vui. Tôi là cứ bảo làm quan; tôi từng mơ làm quan. Ngay mụ vợ hay nhăn nhó của tôi nếu bảo làm quan con ta rồi làm quan mới cười ra được.

Nhưng rồi chúng tôi không đứa nào làm quan cả. Vì học hành dang dở. Chiến tranh nổ ra được vài năm tất cả đều ra trận lúc đang ngồi trên ghế các trường đại học. Năm chàng trai da trắng môi đỏ ria mép non xanh đều vào chiến trường. Chúng tôi dai dẳng hành quân dọc Trường Sơn rồi tỏa về đồng bằng lăn vào đánh giáp lá cà với giặc có ngữ cao gấp rưỡi trang bị tận răng... Mộng đẹp một thời cháy thành ngọn lửa trên đầu nòng B.40 trên tháp pháo xe tăng trên từng đường lê lấp lánh... Đánh giặc mười năm vỗ bàn tay vào báng súng thấm máu đồng đội và cả máu của mình hát vang bài ca hi vọng!

Thế rồi hòa bình về ngoảnh lại bỗng giật mình. Thằng Nhị nằm lại đâu đó trên Trường Sơn không tăm tích thằng Hà cọt có mộ chí ở Tây Ninh thật may một thằng bị chất độc da cam đi đứng ngất ngơ một thằng là thương binh nặng!

Người đời tung hô chúng tôi đứa chết và cả đứa sống đều là những anh hùng; lại nói anh hùng hay quan viên đều vinh hiển như nhau. Vậy có nghĩa là linh khí của hòn đá trắng ông xanh đã trao không nhầm địa chỉ?!

Tôi về lại trường đại học tiếp tục lên giảng đường trong lòng ngấm một nỗi buồn thương không rõ căn nguyên rồi ra trường với tấm bằng kỹ sư loại thường. Tôi thấy mình như có lỗi với làng với người ngã xuống là vì tôi trời để sống mà không làm nên danh phận gì!

Sau chiến tranh làng xóm tiêu điều đói kém. Dân làng quên chuyện hòn đá trắng. Không ai bảo ai dân làng lầm lì bước qua mặc cảm thua thiệt trước bàn dân thiên hạ. Trẻ con vẫn học hành lớn lên vào lính cày ruộng cũng có đứa làm này làm nọ làng nhàng; mưa nắng bốn mùa dần rửa trôi hình ảnh viên bạch thạch từng được trịnh trọng đặt vào hậu cung đình làng.

*

Nhưng rồi khoảng vài chục năm lại đây việc khuyến học khuyến tài chưa bao giờ được coi trọng như thế. Nhiều địa phương công bố chương trình rải thảm đón nhân tài rất hấp dẫn tỉ như một vị tiến sỹ về quê làm việc sẽ được nhận năm mươi triệu đồng lại cho đất làm nhà...Theo đó khắp nơi lại đua nhau cho con học quên cả ăn ngủ vui chơi.

Hình ảnh hòn đá trắng lại hiện về trong đáy mắt người làng tôi. Lũ trẻ lại đua học và đua nhau lặn tìm đá thần. Dòng sông vẫn như xưa lúc hiền hòa lúc nổi phong ba và sâu thẳm với nhiều hấp lực cùng thách đố.

Tôi ra sông nhìn đám trẻ hăng hái nhào lộn. Chúng nó reo hò vùng vẫy gọi nhau í ới như các ông cố ông kị của chúng thủa nào. Đến bao giờ đá thần lại về với dân làng? Dòng sông trả lời tôi bằng sóng gió ầm ào. Tuy thế tôi vẫn tin tưởng bởi chính tôi đã từng khi nâng báu vật trên đôi tay này dưới ánh sáng mặt trời!

                                                  Đồng Hới tháng 7-2010

                                                             H.T.S

More...

THƠ THÁNG 9+10

By Văn Nghệ Xứ Thanh

NGUYỄN HOA


 

Trên tàu vượt biển xa

Trên tàu vượt biển xa

Anh Ba (*) luôn dậy sớm

Bao nhiêu công việc đến

Anh Ba làm trong ngày

Khi dọn bàn gọt khoai

Khi xúc than nhóm lửa

Mạn tàu ì oạp gió

Nguôi ngoai đầu chân trời

Ngỡ Anh ngủ ngon rồi

Ngày qua đêm như thế!

Hóa Anh thức sóng khơi

Luôn cùng mình dậy sớm

Để thấy vầng mặt trời

Phút vượt mình khỏi biển!

                      N.H

(*) Ngày 5-6-1911 Bác Hồ rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước với tên là Anh Ba


 

VƯƠNG TRỌNG



 

Trước nụ hôn vĩnh cửu



Khỏa thân khỏa thân

Đứng

Hai cơ thể áp sát

Cái lạnh Bắc Âu

Chẳng thể len vào được.

Nhập vào chàng trai bởi vòng tay ma lực

Cô gái kiễng chân ngửa mặt

Nâng lên cao

Nụ hôn như điện chập.

Khỏa thân khỏa thân

Quỳ

Bàn chân tỏa về hai phía

Như cây nổi rễ

Cho hai thân thể

Dính liền

Nở nụ hôn thiêng liêng.

Hơn bốn trăm năm (*)

Mặt trời gọi nắng ghé thăm

Vĩnh cửu nụ hôn hóa đá

Giữa vườn hôn nóng hổi vừa sinh.

Thương đất nước mình

Lắm Tô Thị Vọng Phu

Hóa đá nỗi chờ nhau

Để nụ hôn lặn vào bóng tối.

             Công viên "Đồi Hôn Nhau" 7-7-2010

                                    V.T

(*) Tuổi của công viên Đồi Hôn Nhau (Kissing Hill) ở thủ đô Tallinn của nước Estonia.

PHAN QUẾ


 

Hương Thanh

Có bông hoa sữa

Quê ở đằng ngoài

Lá đang mùa nụ

Vườn cho đậu bầy...

Hoa Lan thơm dài

Lộc Vừng thơm rủ

Tứ quý nhành Mai

Cau chồng Cau vợ

Khóm Quỳnh thơm lụa

Bóng Đa thơm chùm...

Anh về Sầm Sơn

Đúng ngày bão lũ

Hương Thanh che gió

Hương Thanh cho nhà

Màu cây bên đỗ

Đêm nằm năm ở

ấm lòng người xa!

            Sầm Sơn 14-10-2009

                       P.Q


 

BÙI VĂN BỒNG



 

Còn vương gió đồng




Mồ hôi đẫm áo nâu tươi

Mẹ tôi gánh cả bầu trời nắng trưa

Tháng Chạp vai gánh cày bừa

Tháng Giêng nặng gánh rau dưa chợ chiều

Bão giông lũ lụt quê nghèo

Dáng hình đòn gánh cong theo dáng người.

Tàu cau còn nặng sương rơi

Mẹ đã ven trời gieo cấy đồng sâu

Nỗi lo nhạt nát miếng trầu

Nôn nao con nước đục ngầu lũ trôi

Sinh ra đã nặng gánh đời

Lại sinh con để gánh lời thương con

Ngón chân bấm vẹt lối mòn

Mồ hôi trộn giữa bùn non gọi mùa

Một đời dãi nắng dầm mưa

Trở trăn giấc ngủ gió lùa đêm vơi

Tuổi cao tóc bạc da mồi

Lời ru ấm mãi khoảng trời quê hương

Hoa lau phơ phất bên đường

Trên vai áo mẹ còn vương gió đồng

Con cò mang nắng sang sông

Nơi xa sông vắng chiều không bóng cò

Trời xanh mây trắng ngẩn ngơ

Gió bay tóc mẹ bạc phơ trước thềm.

                            B.V.B

NGUYỄN VƯỢNG

Năm đoản khúc thơ


                      Thương nhớ cụ Trần Dần



1.

Đường mê

Cổng tỉnh

Chiều vô lễ

Mùa sạch người đi chẳng trở về

2.

Ghê gớm làm sao ba con chữ

Một đàn con nghĩa chạy theo sau

Ô kìa

Cách mạng

Từng bừng thế

Giọt giọt cần lao

Trên đồng thơ

3.

Nhuốm bạc thời gian

biên sổ bụi

con trắng đòng đưa

khách bộ hành

gió thổi quá tay

sương bay lèn nhèn đại lộ

công viên đồng du!

Lạc hành tinh

4.

Vòm lá xanh chim

đầy cành chi chít hót

không thấy sương bay thành vệt

họ cứ vu om mặt trời ngù

5.

Đố ai chọc mắt các vì sao

Trời quá cao xa

Lá đưa cành

Người thơ

cứ ngỡ

là thi sỹ

Kỷ hà lưng lá lúa

Trường sinh

           Xứ Thanh 23-8-2006

                 23-8-2010

                      N.V

More...

BÚT KÝ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

VI CẨM HIẾU


 

Những đứa con của người Mông

Bút ký

      Từ khi mẹ đẻ tôi ra chưa bao giờ gặp phải một năm nắng hạn như cái năm Canh Dần khốn khổ này. Nắng ong ong. Nắng như đổ lửa. Càng về trưa nhiệt độ càng tăng cao. Bốn mươi mốt độ rồi bốn mươi hai độ! Chiếc u oát có lẽ cũng đã xấp xỉ tuổi tôi bị nắng và bụi đường nung đỏ lừ phì phò thở ì ạch lên dốc. Phải nói thật nhiều lúc tôi cảm thấy ân hận vì đã nhận lời đi chuyến công tác này. Tôi chán ngấy cả quãng đường còn lại! Xa thế không biết? Cứ đà này thì bốn giờ chiều chắc gì đã đến được chỗ dừng chân! Nghe nói vùng cao lại đang rất khan hiếm nước! Hạn hán kéo dài đã mấy tháng nay. Khe suối cạn khô. Điện bị cúp. Đầu thế kỷ thứ Hai mươi mốt. Gặp trục trặc do thiên tai hắt xuống. Điện bị cúp rụp! Thật chẳng khác nào đang sống giữa thập niên Sáu mươi của thế kỷ trước! Tôi bảo thế. Thượng tá Trịnh Văn Bẩy phó phòng PA38 công an tỉnh Thanh Hóa một người mà không có một "Cái nắng cái gió" nào của vùng cao biên giới cản được bước chân vạn dặm của anh nhìn tôi như nhìn một kẻ mới rơi từ Sao Hỏa xuống rồi cười hai hàm răng trắng lóa trên khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi. Anh nói một câu vần như thơ:

- Không đi thì không biết vùng cao. Có đi thì mới biết thế nào là khó khăn!

Tôi cười. Cười vì giọng nói nhồn nhộn của anh Bẩy. Cười vì niềm vui sự háo hức cứ hiện dần lên trên nét mắt của anh. Buổi sáng lúc mới bắt đầu cuộc hành trình anh đã nói với tôi:

- Bận quá nên đã vài tuần nay chưa về trên ấy!

Lạ thật! Mới vài tuần chưa lên biên giới mà anh cứ làm như đã vài ba năm chưa được trở về nhà! Đường xá có gần gũi gì đâu? Những ba trăm cây số! Trời nắng. Gió Lào ràn rạt? Người ta ai ai cũng muốn nhào về thành phố để hàng ngày ngồi làm việc trong phòng máy lạnh hay ít nhất cũng có chút điện cho quạt máy nó quay đủ hai mươi bốn giờ trong ngày đằng này anh Bẩy lại muốn rời phố lên rừng chỉ vì nhớ bà con trên ấy. Nhớ biên giới. Nhớ vùng cao. Nhớ địa bàn công tác của phòng PA38. Chuyện thật khó tin nhưng cũng đã có lần đại úy Lò Đức Minh nói với tôi như thế. Tôi bảo: Chuyện lạ! Mọi người cùng cười. Cười vì sự ngơ ngác của tôi. Nhưng dù sao thì tiếng cười của những người đang mệt lả cũng khiến cái nắng dịu đi đôi chút. Cuộc hành trình cũng trở nên nhẹ nhõm hơn một chút. Chúng tôi vẫn tiếp tục lên đường. Vùng cao đã hiện dần ở phía trước. Những bản của người Mông đã hiện ra trước mặt chúng tôi. Những người bạn đồng hành càng trở nên háo hức hơn.

Ba giờ chiều. Chúng tôi phải dừng lại dưới chân dốc San con dốc dài nhất cao nhất trên tuyến đường Hồi Xuân - Pù Nhi. Con dốc mà mới nhắc đến tên tôi đã không khỏi rùng mình bởi vì tôi đã nghe khá nhiều người lên vùng cao trở về kể lại những chuyến vượt dốc ngoạn mục như trong phim kiếm hiệp Hồng Kông. Còn tôi thì cũng đã trải qua một lần nhịn đói ngủ rừng vì bị xa lầy ở con dốc này. Nhưng đấy là chuyện của hồi còn đang sung sức trẻ trung. Hồi ấy còn chưa tách huyện Quan Hóa thành ba huyện Quan Sơn Mường Lát và Quan Hóa như bây giờ. Phía trước chúng tôi con dốc vẫn cao lừng lững nhưng không còn giữ được cái vẻ trầm mặc thờ ơ đến lạnh lùng trước sự biến dạng của núi của rừng của thiên nhiên khí hậu chung quanh nó nữa. Con dốc đang phải oằn mình lên để chịu những cú húc những cú ngoạm và đang bị hạ thấp dần độ cao xuống trước những chiếc máy xúc máy đào vào loại hiện đại nhất của ngành giao thông phá đá mở đường hiện nay. Thật đáng đời cái lão dốc San già ngạo mạn! Và cũng thật tội nghiệp cho chúng tôi! Phải dừng lại cả tiếng đồng hồ dưới trời nắng hơn bốn mươi độ để đợi công nhân dọn cho một lối đi giữa bề bộn công trường thật chẳng dễ chịu chút nào! Thế mà anh Trịnh Văn Bẩy vẫn cứ hồ hởi nói:

- Hiện nay Nhà nước đang ưu tiên đầu tư cho các xã có đồng bào Mông sinh sống. Tổng ngân sách gần ba trăm tỷ đồng. Chủ yếu là đầu tư vào y tế giáo dục giao thông và điện lưới quốc gia. Tuyến đường vành đai biên giới Mường Lát - Quan Sơn cũng đang hoàn thành những công đoạn cuối cùng để đưa vào sử dụng đúng tiến độ! Khoảng một năm nữa là vùng này sẽ thay đổi hẳn!

Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Mọi người hình như cũng vui lây niềm vui của thượng tá Nguyễn Văn Bẩy mà quên đi cái nắng chiều xuyên hông và những cơn gió Lào nóng như hắt lửa vào mặt. Những ngôi làng của người Mông đã bắt đầu hiện ra trong những khoảng xanh của núi. Vùng cao đã ở ngay phía trước mặt chúng tôi.

Thật tình mà nói mấy năm trước mỗi lần lên vùng cao trở về tôi lại cảm thấy buồn bởi vì từ những năm 1988-1990 của thế kỷ trước những năm mà hơn tám ngàn người Mông từ các tỉnh phía Bắc ồ ạt di dân tự do vào Pù Nhi Trung Lý của huyện Quan Hóa cũ thì những cánh rừng nguyên sinh rừng đầu nguồn ở Pù Hu Trung Lý Mường Lát đã cơ bản được phá xong cho nên qua Cổng Trời là thấy một vùng sáng mênh mông bát ngát hiện ra với toàn bộ núi non và những khu rừng bị cạo trọc lốc. Những dẫy núi trập trùng nhấp nhô cao thấp phơi trần trong gió Lào và nắng nóng. Lần này lên Biên giới tôi không còn cái cảm giác ớn lạnh vì sự chết chóc của mênh mông đất trống đồi núi trọc nữa. Vùng cao đang hồi sinh trở lại. Trên những dãy núi đã bắt gặp mầu xanh của sự sống. Giữa những đám rẫy đám nương rộng lớn của đồng bào đã có những cánh rừng đang được tái sinh. Mầu xanh non của cây của lá đang hàn gắn dần những vết thương sâu hóm loang lổ của những khu rừng chết. Phía trước những cánh rừng đang tái sinh là những ngôi làng nhỏ của người Mông. Mỗi ngôi làng cũng chỉ có vài ba chục nóc nhà nhưng đa phần là nhà gỗ lợp ngói bờ lô vững chãi kiên cố. Đó là những ngôi làng đã được quy hoạch lại từ những hộ gia đình của hơn tám ngàn người Mông di dân tự do từ các tỉnh phía Bắc vào từ những ngôi nhà bằng cọc gỗ nhỏ mái lợp lá kè lá dong vo hay lá chuối rừng của bà con dựng rải rác tạm bợ trong các khu rẫy sâu hun hút ở những hẻm núi âm u và những góc rừng tối tăm mới khai thác bất hợp pháp bằng cách triệt phá một cách thảm khốc các khu rừng nguyên sinh rừng đầu nguồn của vùng cao biên giới.

Hơn hai mươi năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng đời sống của bà con người Mông ở các xã vùng cao biên giới xứ Thanh tuy cũng còn đang gặp rất nhiều khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức sáu mươi tám phần trăm tính theo tiêu chí mới. Nhưng hộ đói không còn. Hơn tám nghìn bà con người Mông di dân tự do đã có một cuộc sống ổn định trên quê hương mới. Mỗi người đều đã có một mái nhà trên đầu có đất đai để canh tác có gia đình còn có cả ruộng để cấy lúa nước có rừng để khoanh nuôi và có cộng đồng chòm bản con cái được học hành có đường giao thông để đi lại giao lưu giữa các vùng miền. Gần bẩy mươi phần trăm gia đình đã có xe máy và phương tiện nghe nhìn trẻ con các hộ khá giả còn có cả điện thoại di động để liên hệ với cha mẹ khi họ đi rẫy đi nương vắng nhà.

Khoảng bốn giờ chiều thì chúng tôi đến bản Khằm Ba của xã Trung Lý. Vừa nhìn thấy xe của chúng tôi đến đầu bản từ trong các ngôi nhà gỗ rất nhiều những cái đầu trẻ con nhô ra đây cũng là một điều mới mẻ khiến tôi ngỡ ngàng bởi vì từ những năm cuối cùng của thế kỷ trước mỗi lần lên biên giới tôi đều thấy các ngôi làng vắng heo vắng hút. Có khi tìm khắp bản cũng không gặp được một người kể cả trẻ con. Vào mùa rẫy bà con người Mông thường lấy nương lấy rẫy làm nhà những cái chòi dựng tạm trên rẫy làm nơi ngủ nghỉ. Trẻ con rất ít cháu đi học. Bốn năm tuổi đã phải cõng em sáu bẩy tuổi đã phải cầm con dao cái liềm đi nương đi rẫy cùng bố mẹ. Nhưng bây giờ chín mươi phần trăm trẻ nhỏ đã được đến trường. Đang giữa mùa hè. Nhiều đứa đang học các trường nội trú dưới thành phố trên thị trấn huyện cũng đã trở về nhà nên hầu hết bọn trẻ con trong bản đều có mặt. Xe vừa dừng lại các cháu đã nhận ra người quen nên chạy ùa cả ra. Vừa bước chân xuống người còn đang nhễ nhại mồ hôi đại úy Lò Đức Minh và thượng tá Trịnh Văn Bẩy đã bị các cháu vây chặt. Chúng líu rứu chào hỏi hai người bằng tiếng Mông. Chúng chen nhau để được đứng gần để được túm áo của bác Bẩy và chú Minh tưởng như lâu lắm rồi chúng mới được gặp lại hai người thân của mình. Thượng tá Trịnh Văn Bẩy nhìn bọn trẻ như muốn điểm danh từng đứa rồi cao giọng hỏi bằng tiếng Mông tên những đứa mà anh còn chưa nhìn thấy mặt. Anh Bẩy và Lò Đức Minh còn đang bị vây bọc giữa đám trẻ nhỏ thì bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng reo khá bồng bột của một người đàn ông đã đứng tuổi mới từ trong một ngôi nhà gỗ bên đường chạy ra. Đó là tiếng reo vui vẻ của trưởng bản Giàng A Vư đại biểu Đại hội Dân tộc lần thứ Nhất toàn quốc mới từ Hà Nội trở về. Ông Vư mù chữ nhưng là một người đàn ông Mông khá giảo hoạt. Gia đình ông sản xuất giỏi chăn nuôi giỏi. Ông có gần một mẫu ruộng nước và đang tiếp tục khơi thông một con suối nhỏ để lấy nước ra khai hoang thêm một số diện tích nữa. Ông bảo: một sào lúa nước năng xuất gấp mười lần một sào rẫy. Công sức bỏ ra cũng ít hơn nên ông ham làm thủy lợi ham cấy lúa dưới ruộng hơn làm nương làm rẫy trên núi. Tôi hỏi: Trước đây gia đình sống thế nào? Ông vui vẻ trả lời:

- Khó khăn lắm! Đói lắm! Cơm không có mà ăn. Nay ở núi này mai sang núi khác. Chỉ sợ công an của xếp Bẩy và dân quân của địa phương nó bắt đem trả về Lào Cai thôi. Mình sợ chuyện di dân lắm rồi. Con cái chả được học hành. Mình thì giống như một cái cây không có gốc. Họ hàng anh em đi kiếm đất làm ăn mỗi người một nơi. Tết nhất muốn về quê cũng chẳng có quê mà về. Bây giờ thì có bản có quê rồi. Tốt rồi! ổn cư rồi!

Nói xong ông quay sang phía thượng tá Trịnh Văn Bẩy hỏi:

- Lâu rồi không thấy lên! Đêm nay ngủ bản chứ?

Anh Bẩy cười nhưng không trả lời Trưởng bản Giàng A Vư mà hỏi lại ông bằng tiếng Mông:

- Dạo này thế nào? ổn chứ?

- Tốt cả thôi!

Tôi hiểu đấy là những lời trao đổi công việc của hai người. Anh Bẩy hỏi về công tác an ninh ở địa phương. Trưởng bản báo cáo tình hình. Tôi chưa bao giờ được chứng kiến một cuộc kiểm tra và báo cáo công tác một cách ngắn gọn và thân ái đến như vậy. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên. Lò Đức Minh nói:

- Một khi trưởng bản đã tin mình đã coi mình như anh em ruột thịt trong nhà trong họ rồi mới có cách nói như thế. Trưởng bản nói rất thật. Ông bảo tốt là rất tốt. Trên địa bàn không xảy ra việc gì gây bất lợi cho an ninh biên giới và cộng đồng dân cư.

Chiều muộn. Trời biên giới cũng trở mặt rất nhanh vẫn khô hanh nhưng đã bắt đầu se lạnh. Chúng tôi cáo lỗi với trưởng bản Giàng A Vư vì không thể ngủ lại bản một đêm như ông đã mời rồi lại tiếp tục lên đường để đến đích cuối cùng của cuộc hành trình. Chúng tôi bỏ lại phía sau những đèo và dốc. Tôi mang theo trong lòng niềm vui và nỗi xúc động hiếm hoi của tuổi tác vì cuộc gặp gỡ giữa những đứa trẻ và trưởng Bản người Mông ở Khăm Ba với hai cán bộ an ninh của phòng PA38. Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao mà thượng tá Trịnh Văn Bẩy và đại úy Lò Đức Minh lại vui đến thế khi được trở lại biên giới giữa lúc thời tiết đang rất bất thường? Tôi cũng đã thấm thía điều mà đại úy Lò Đức Minh đã nói với tôi: Để có được tình cảm thật sự chân thành với bà con người Mông ở vùng cao biên giới người công an nhân dân đã phải trải qua rất nhiều khó khăn vất vả. Buổi đầu do ngôn ngữ bất đồng tiếp cận được với bà con chẳng dể dàng gì? Mười bốn ngàn người Mông cư trú ở năm xã của ba huyện biên giới Quan Hóa Quan Sơn Mường Lát bây giờ thì tám ngàn người di cư từ các tỉnh phía Bắc vào vì di dân tự do nên bà con rất sợ bị bắt quay về quê cũ nên họ tìm núi này bà con đã bồng bế nhau chạy đến núi kia. Hơn nữa lợi dụng chính sách mở cửa của Đảng ta các tổ chức phản động lưu vong với danh nghĩa thăm thân nghiên cứu văn hóa đã tìm đến bà con để lôi kéo mua chuộc một số phần tử phản động cũ trà trộn trong số những người di dân tự do trốn đi nước ngoài để truyền đạo trái phép buôn bán ma túy và kích động bà con chống lại chủ trương đưa bà con di dân tự do sống rải rác trong địa bàn về quy hoạch thành các khu dân cư để bảo vệ rừng bảo vệ an ninh biên giới quốc gia vì thế mà cán bộ chiến sĩ phòng PA38 đã trải qua rất nhiều khó khăn vất vả để bám dân bám địa bàn thực hiện cùng ăn cùng ở cùng làm việc để học tiếng Mông để tuyên truyền chính sách của Đảng.

Trừ thượng tá Trịnh văn Bẩy một người đã từng giáp mặt với Pulrô. Đã từng bám dân bám địa bàn ở mảnh đất Tây Nguyên nóng bỏng gần mười lăm năm trời còn đa phần những người làm công tác bảo vệ an ninh biên giới ở phòng PA38 Công an tỉnh Thanh Hóa tuổi đời còn rất trẻ. Làm việc trong môi trường trong hoàn cảnh mà sách vở không đề cập tới đối với một người chưa từng trải nghiệm thực tế thật chẳng dễ dàng gì! Kinh nghiệm công tác ở vùng cao biên giới nơi bà con dân tộc Mông sinh sống rất mỏng manh. Ngôn ngữ bất đồng. Phong tục tập quán xa lạ. Chỉ có mỗi cái tâm của người công an nhân dân và tình yêu đối với biên giới với Tổ quốc và sự thông cảm sâu sắc trước cuộc sống khó khăn vất vả do tập quán lâu đời của người Mông. Mỗi cuộc di dân là một lần bà con tự làm cho cuộc sống của mình của gia đình con cái rơi vào cảnh bần cùng hóa. Tài nguyên của quốc gia bị tàn phá đến kiệt quệ! Phải làm sao để giải thích cho bà con hiểu tường tận được điều đó? Cho nên mỗi người đều sẵn sàng chịu hy sinh sẵn sàng chịu vất vả để làm việc bằng cái tâm trong sáng và tình yêu chân thành ấy của mình. Không ngại khó ngại khổ không ngại vượt núi cao rừng sâu để đi tìm dân đến với dân. Vận động bà con hãy yên tâm trở về những ngôi làng và những vùng đất mới mà Đảng và chính quyền địa phương đã quy hoạch lại. Có được dân rồi tiếp theo là phải kết hợp với bộ đội Biên phòng và công an khu vực của huyện từng bước vận động bà con sống theo kỷ cương pháp luật. Vận động bà con bỏ hẳn tập quán du canh du cư để ổn định cuộc sống lâu dài ở quê hương mới Thanh Hóa. Để xây dựng đời sống Văn hóa khu dân cư. Để bảo vệ rừng bảo vệ an ninh biên giới. Muốn làm được những việc đó từng cán bộ từng chiến sĩ của phòng đều phải nỗ lực phải cố gắng hết mình phải vừa làm vừa học: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh! Học sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân. Học hỏi lẫn nhau. Học ngoài đời. Học chính từ nhân dân các dân tộc trong địa bàn công tác. Học tập và thấm nhuần sâu sắc các chỉ thị nghị quyết của Đảng về chính sách dân tộc. Đồng thời kết hợp với các đoàn thể và chính quyền địa phương kiểm tra giám sát các chế độ các dự án mà Đảng và Nhà nước ưu tiên dành cho bà con ở vùng sâu vùng xa vùng cao biên giới. Mưa dần thấm lâu. Người công an nhân dân đã làm được những điều cho dân và vì dân. Thế trận lòng dân trăm ngả đã được quy về một mối! Còn gì hạnh phúc hơn đối với người công an nhân dân là được dân tin dân yêu? Hơn hai mươi năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng cán bộ và chiến sĩ phòng PA38 Công an tỉnh Thanh Hóa cũng đã lặng lẽ đóng góp một phần công sức của mình vào sự phát triển chung của đời sống kinh tế văn hóa xã hội ở vùng cao biên giới đã hoàn thành tốt công tác bảo vệ an ninh chính trị an toàn xã hội vùng biên giới quốc gia. Đồng bào Mông đã bỏ được tập quán du canh du cư cha truyền con nối hàng ngàn đời nay để an cư lạc nghiệp trên quê hương mới Thanh Hóa. Không tái trồng cây anh túc. Nhất là không nghe theo bọn phỉ Vàng Pao từ nước ngoài phao tin đồn nhảm rằng: Vua Mông Vàng Chứ sắp trở về rồi mua chuộc lôi kéo kích động người Mông đòi lập quốc gia riêng. Cũng không thể nói rằng: Đã hoàn toàn hết những kẻ lạc loài hay ăn lại lười lao động trong cộng đồng người Mông. Đó là trường hợp Mùa A Sử Giàng A Xầnh ở bản Xì Lồ Thào Sao Pề bản Muống Hai của xã Mường Lý nghe lời bọn xấu đã bỏ trốn sang Lào theo vua Vàng Chứ để làm quan. Ruốt cuộc vua đâu chẳng thấy chức quan gì cũng chẳng được làm mà chỉ toàn thấy cái đói cái rét hành hạ hàng ngày phải sống chui sống lủi như con cầy con cáo và bị những tên phỉ Vàng Pao đánh đập. May mắn làm sao lại được lực lượng an ninh của ta kết hợp với cảnh sát của bạn tóm cổ điệu về nước. Bị bắt nhưng bọn chúng lại hết sức vui mừng. Mừng vì được trở về tổ quốc. Mừng vì thoát khỏi cảnh sống lang thang chui lủi thoát khỏi cảnh đói khát roi vọt. Mừng hơn nữa là được cán bộ chiến sỹ phòng PA38 bảo lãnh khỏi bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội danh bỏ trốn đi nước ngoài để chúng có thể nói cho những ai còn đang dao động trước những lời đường mật về sự thật một vương quốc Mông hão huyền nào đó ở xứ người.

Để làm được những điều đó người công an nhân dân đã biết dựa vào chính nhân dân kết hợp với các đồng chí ở các đồn biên phòng với các đồng chí công an khu vực xuống dân thực hiện bốn cùng để vận động nhân dân phát huy tinh thần làm chủ của từng người từng hộ gia đình từng cụm dân cư. Cũng chính nhờ vào tai vào mắt của nhân dân mà lực lương an ninh biên giới đã phát hiện bốn trăm người Lào định nhập cư trái phép vào vùng cao biên giới. Nếu số người này mà đặt được chân vào đất của ta một cách trót lọt thì có biết bao nhiêu điều không hay có thể xảy ra? Nạn phá rừng. Nạn buôn bán tiền giả. Nạn ma túy thuốc nổ. Nạn buôn bán phụ nữ trẻ em rồi những tài liệu có nội dung xấu cũng được mang vào để tuyên truyền kích động làm dao động lòng dân hòng phá hoại những thành quả cách mạng mà Đảng ta đã dày công xây dựng. Nhưng kế hoạch đó đã bị chặn đứng đã bị dập tắt ngay từ khi nó còn chưa kịp thực hiện. Thành công đó của lực lượng an ninh công an Thanh Hóa là kết quả của những năm tháng lặn lội đi đến từng thôn bản từng hộ gia đình để vận động nhân dân vận động những người có uy tín trong dòng họ trong thôn bản trong cộng đồng tham gia phong trào Bảo vệ an ninh chính trị bảo vệ trật tự an toàn xã hội vùng biên giới tổ quốc. Bởi vì hơn ai hết người công an nhân dân thấm nhuần sâu sắc và luôn luôn thực hiện đúng theo lời dạy của Bác Hồ là lấy dân làm gốc với phương châm "Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó muôn lần dân liệu cũng xong".

Buổi tối hôm ấy chúng tôi dừng lại bản Lốc Há của xã Nhi Sơn một xã vừa mới được tách ra từ xã Pù Nhi. Vừa nghe tin có xếp Bẩy lên bà con trong bản kéo nhau đến thăm rất đông. Có cả trưởng bản và Bí thư chi bộ Trưởng ban an ninh của Bản. Anh Bẩy Lò Đức Minh và bà con toàn nói chuyện với nhau toàn bằng tiếng Mông. Có lẽ họ lại nói với nhau về vấn đề an ninh biên giới và hỏi han về đời sống của bà con trong bản. Tôi nghe mà chẳng hiểu được gì nhưng tôi thấy thượng tá Trịnh Văn Bẩy và đại úy Lò Đức Minh cười rất tươi. Thành ra tôi cũng vui lây cái vui của hai người. Tôi vui vì nghe anh Bẩy và Minh nói tiếng Mông như người Mông. Tôi vui vì biết đấy là kết quả của nhiều năm tháng các anh đã bám dân bám địa bàn bám cơ sở để thực hiện "bốn cùng" để hòa nhập vào từng hộ gia đình để trở thành con cái anh em của từng nhà của từng dòng họ trong đại gia đình người Mông ở vùng cao biên giới tỉnh Thanh để xây dựng thành công thế trận lòng dân để muôn nhà cùng chung sức chung lòng bảo vệ vững chắc vùng biên giới của tổ quốc thân yêu

                                                       Tháng 6 năm 2010

                                                                V.C.H

BÙI LÂM BẰNG



 

Nghi Sơn năm Hai nghìn mười...


Bút ký



 

"Khó vạn lần dân liệu cũng xong"

Dạo tháng ba trong dịp gặp gỡ báo chí nhân đầu xuân và để thông báo chiến dịch bốn mươi ngày đêm giải phóng mặt bằng di dân tái định cư Khu kinh tế Nghi Sơn ông Lê Đình Thọ Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn (nay ông Thọ là Phó Chủ tịch UBND tỉnh) nói (đại ý): "Chính phủ và tỉnh ưu tiên và tập trung xây dựng và phát triển khu kinh tế Nghi Sơn với mục tiêu là biến Nghi Sơn thành một khu kinh tế tổng hợp đa ngành đa lĩnh vực với trọng tâm là công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản như: Công nghiệp lọc hóa dầu công nghiệp luyện cán thép cao cấp cơ khí chế tạo sửa chữa và đóng mới tàu biển công nghiệp điện công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng sản xuất hàng tiêu dùng chế biến xuất khẩu... gắn với việc xây dựng và khai thác có hiệu quả cảng biển Nghi Sơn hình thành các sản phẩm mũi nhọn có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao các loại hình dịch vụ cao cấp đẩy mạnh xuất khẩu; mở rộng ra thị trường khu vực và thế giới".

Những thông tin như quen như lạ. Quen vì cái tên Nghi Sơn với một mô hình công nghiệp hiện đại và tương lai xán lạn... đã xuất hiện trên báo chí trên ti vi cả chục năm nay. Nhưng cũng rất mới và rất lạ. Một Nghi Sơn đang chuyển động ầm ầm một Nghi Sơn đang đổi thay từng ngày mỗi một bình minh lên là ta lại có một Nghi Sơn mới mẻ...

Trước kỳ nghỉ lễ quốc khánh dài tới bốn ngày vừa rồi tôi được anh Hoàng Bá Bộ Phó Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn cho đi lang thang trên đại công trường Nghi Sơn. Một vệt dài từ Trúc Lâm đến Trường Lâm từ Hải Yến Hải Hà Tĩnh Hải đến Hải Thượng và xã đảo Nghi Sơn... đâu đâu cũng rầm rập rầm rập công trường. Một làng xóm trù phú hôm nao nay đã là khoảnh đất rộng mênh mông bể sở ầm ào tiếng máy... Nhìn thềm đất đỏ au ánh rực lên dưới nắng tháng tám chang chang khiến tôi ngẫm ngợi. Có lẽ đây lại là một dịp một nơi thể hiện bản lĩnh và tấm lòng người xứ Thanh chăng. Trong một bài viết trước tôi đã từng đề cập "Nếu những năm chiến tranh chống Mỹ người dân Tĩnh Gia đã từng dỡ nhà để lát đường bắc cầu cho xe ra tiền tuyến thì trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay người dân Tĩnh Gia lại cũng sẵn sàng nhường đất để Nhà nước kiến thiết cũng vì quê hương giàu đẹp cả thôi". Và tôi cũng nhớ tới lời của Bác Hồ "Khó vạn lần dân liệu cũng xong".

Để có được một công trường rộn rịp ầm ào tiếng máy để có được một công trường xây dựng nhà máy nhiệt điện khởi công đúng thời hạn... không thể không nói tới tấm lòng của người dân Tĩnh Gia.

Người ngoài cuộc đôi khi không thấu hết lẽ đời. Việc di dân dời làng chuyển đất là việc lớn việc trọng đại nào đâu phải đơn giản chỉ là chuyện đền bù giải tỏa đâu chỉ là chuyện giá cả hơn thiệt mà nó còn là tình cảm là thói quen tập quán... với ngồn ngộn những ký ức kỷ niệm. Rồi mồ mả cha ông rồi đền nghè đình chùa miếu mạo... Làng xóm bao đời ăn ở gắn bó từng gốc tre bờ mạ từng giếng nước giàn trầu... nay bỗng dỡ bỏ nhường đất cho công trình... biết bao đắn đo trăn trở nhưng vì cái chung cái lớn hơn của cả cộng đồng của đất nước... Để có được hơn hai nghìn héc ta đất mặt bằng cho các công trình hơn chín nghìn hộ dân bị ảnh hưởng trong đó có tới gần hai nghìn hộ dân và gần sáu nghìn ngôi mộ phải di dời. Chín nghìn hộ dân có nghĩa ít nhất cũng có khoảng ba bốn chục nghìn con người bị ảnh hưởng thậm chí xáo động cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đâu phải chuyện đơn giản. Một ngõ xóm chỉ độ mươi nóc nhà họp bàn làm đường bê tông ấy thế mà cũng có tới ba bốn nhóm đưa ra ba bốn phương án khác nhau cãi nhau om xòm nữa là... Thế mới biết tạo được sự tâm đồng ngôn thuận của hàng vạn con người quả không dễ. Trước hết cái đáng phải ghi nhận đó chính là Tấm lòng của người dân. Tận mắt nhìn hàng nghìn héc ta đất rộng mênh mông vốn là những làng mạc trù phú tôi càng thấm thía lời dạy của Bác Hồ "Khó vạn lần dân liệu cũng xong".

Ngày mùng 3 tháng 7 vừa rồi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đến Nghi Sơn nhấn nút khởi công xây dựng nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1 và dự kiến vào cuối năm nay (2010) sẽ khởi công xây dựng Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Đây là những chuyển động hết sức quan trọng của tiến trình xây dựng khu kinh tế Nghi Sơn. Nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn có công suất lắp đặt 600 MW tổng mức đầu tư trên 22 2 tỷ đồng dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào vận hành thương mại tổ máy 1 vào quý III-2013 và tổ máy 2 vào quý II - 2014 góp phần đảm bảo lưới điện cho vùng Bắc Trung bộ. Còn Liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn có công suất 10 triệu tấn/năm là một trong những dự án có vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất Việt Nam (hơn 6 tỷ USD). Các công trình trọng điểm Nhiệt điện 1 Liên hợp lọc hóa dầu cùng với Xi măng Nghi Sơn Xi măng Công Thanh Khu công nghiệp luyện kim Cảng nước sâu Nghi Sơn... sẽ là những hạt nhân quan trọng của cả Khu kinh tế Nghi Sơn sẽ tạo nên diện mạo một Nghi Sơn bề thế hoành tráng và hiện đại. Dự kiến sau khi hoàn thành và đi vào vận hành các dự án Liên hợp lọc hóa dầu và Nhiệt điện Nghi Sơn sẽ góp phần đưa tỷ trọng công nghiệp của Thanh Hóa tăng từ 40% hiện nay lên 51%; chiếm 50% sản lượng công nghiệp địa phương và 30% thu ngân sách toàn tỉnh tạo ra bước đột phá về phát triển công nghiệp nói riêng và cho sự phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Thanh nói chung.

Để có được những điểm xuyết tươi tắn này cho bức tranh công nghiệp Nghi Sơn và cả cho bức tranh công nghiệp và kinh tế tỉnh Thanh trong tương lai trước hết đó là phải là một phép cộng phép cộng của Tấm lòng người dân Tĩnh Gia với Bản lĩnh và Nhiệt tâm của những người có trách nhiệm những người đứng mũi chịu sào. Trong buổi gặp gỡ báo chí đầu xuân Trưởng ban Lê Đình Thọ bộc bạch với anh em báo chí: Bằng mọi giá phải đảm bảo bàn giao mặt bằng cho các dự án đúng tiến độ đảm bảo một môi trường lành mạnh an toàn thuận lợi cho đầu tư. Có như thế mới thu hút được đầu tư mới tạo được sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Muốn vậy phải có sự đồng tâm hợp tác của người dân trong vùng. Kỹ sư Lê Đình Thọ cũng nói: Trong quá trình di dời tái định cư hẳn người dân sẽ gặp nhiều khó khăn đó là điều không thể tránh khỏi. Nhưng mọi vướng mắc sẽ được bàn thảo giải quyết thỏa đáng đúng quy định. Hộ dân nào quá khó khăn về nhân lực trong lúc di chuyển Ban sẽ tạo điều kiện hết sức sẽ giúp đỡ về phương tiện về nhân lực.v.v...

Có một tấm lòng hay nói cách khác là sự đồng tâm đồng thuận của người dân có một bản lĩnh một lòng nhiệt huyết của những người chèo lái của những người đứng mũi chịu sào thì có lẽ sẽ có cả một sức mạnh dời non lấp bể chứ nói gì đến việc dời làng chuyển ấp. Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để dậy men và tạo nên một phép cộng giữa các yếu tố nói trên. Hẳn chưa ai quên một cái giá quá đắt đã phải trả cho thói quan liêu hách dịch nghịch ngôn của những người thừa hành và một bộ phận chính quyền cơ sở hồi tháng năm vừa qua.

Biết khơi dậy biết tập hợp nhân tâm cũng là một tài năng. Đọc những trở trăn và tâm sự của kỹ sư Lê Đình Thọ tôi đã thấy thấp thoáng những tín hiệu đó.

Nghi Sơn Động lực

Trao đổi với chúng tôi anh Hoàng Bá Bộ cho biết: Khu kinh tế Nghi Sơn có ranh giới và quy chế hoạt động riêng. Dự tính đến năm 2015 quy mô dân số của Khu kinh tế Nghi Sơn khoảng 140 nghìn người đến năm 2025 là 200 nghìn người. Tháng 7 vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt quy hoạch xây dựng phát triển Nghi Sơn đến năm 2015 trở thành đô thị loại III.

Anh cũng cho biết với kỳ vọng là khu kinh tế động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Thanh Hóa và của cả vùng Bắc Trung bộ Khu kinh tế Nghi Sơn được Chính phủ và tỉnh Thanh Hóa ưu tiên đặc biệt. Khu kinh tế Nghi Sơn được chia làm 3 phân khu chức năng gồm khu phi thuế quan tức khu thương mại tự do khoảng 500 héc ta; khu thuế quan khoảng 18 nghìn héc ta gồm các khu dân dụng đô thị nhà ở khu công nghiệp khu du lịch cây xanh sinh thái vui chơi giải trí trung tâm tài chính trung tâm dịch vụ trung tâm điều hành và các khu chức năng khác; và các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đầu mối. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật được thiết kế và xây dựng hiện đại đáp ứng những mục tiêu và quan điểm phát triển của Khu kinh tế đáp ứng nhu cầu sử dụng đảm bảo mỹ quan an toàn và vệ sinh môi trường.v.v...

Hiện nay Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn đang triển khai 48 dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong đó 13 dự án đã hoàn thành 17 dự án chuyển tiếp 8 dự án khởi công mới và 10 dự án đang chuẩn bị đầu tư. Tổng giá trị vốn đã cấp đến hết tháng 8 - 2010 là 1.271 tỷ đồng trong đó năm 2010 cấp 258 tỷ đồng (Có 43 tỷ đồng vốn của Tập đoàn Dầu khí). Tổng giá trị thực hiện đến tháng 8-2010 đạt 1.892 tỷ đồng bằng 126 7% kế hoạch vốn; giải ngân 1.200 tỷ đồng bằng 73% kế hoạch giao.

Dự án Liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn là dự án có quy mô lớn nhất Việt Nam dự kiến năm 2013 sẽ đi vào hoạt động. Nhà máy có công suất lọc dầu 200 nghìn thùng/ngày tương đương 10 triệu tấn/năm. Sau khi đi vào hoạt động sẽ cùng với Nhà máy lọc dầu Dung Quất đáp ứng 50% nhu cầu sử dụng xăng dầu của Việt Nam.

Có mặt từ năm 1995 hiện nay Nhà máy xi măng Nghi Sơn là đơn vị có thâm niên lâu nhất ở vùng đất này. Vừa rồi nhà máy đã vận hành dây chuyền sản xuất số 2 đưa công suất lên 4 3 triệu tấn mỗi năm và đang là nhà máy có công suất lớn nhất miền Bắc và miền Trung. Hiện nay giá trị sản xuất của xi măng Nghi Sơn đang chiếm 20% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh Thanh Hóa. Xi măng Nghi Sơn đang phấn đấu là nhà sản xuất và phân phối xi măng lớn nhất Việt Nam.

*

Những ngày cuối tháng tám đầu tháng chín này vùng nam Tĩnh Gia có hai kiểu thời tiết rất thất thường và cũng rất khắc nghiệt. Nắng thì nắng cháy cỏ. Mưa thì mưa thối đất thối đá. Chúng tôi đến Nghi Sơn vào đúng ngày nắng to như giữa hạ nhưng trước đó vài ngày ở đây đã phải hứng những trận mưa lở đất lở đá. Bởi vậy mà nước đọng và bùn nhão là những món "đặc sản" mà bất cứ ai đến đây cũng được ban tặng kể cả khi trời đang nắng chang chang. Chỉ nhìn những chiếc xe bê bết bùn đất là biết ngay vừa ở công trường Nghi Sơn ra.

Sau khi cho chúng tôi đi một vòng vùng đất Nghi Sơn anh Hoàng Bá Bộ dẫn chúng tôi ra cảng để hóng chút gió biển.

Giám đốc cảng kỹ sư Vũ Quang Trạch đi vắng. Anh Trạch là đồng hương của tôi lại là bạn học cùng khoa rồi sau lại cùng cơ quan với anh trai tôi cũng là kỹ sư của cảng đã nghỉ hưu. Chỉ tiếc tôi đến đúng bữa anh đi vắng. Nếu không chuyến đi hôm nay hẳn sẽ thêm phần thú vị vì tôi biết anh cũng đã từng làm thơ "Anh biết trời sẽ mưa/ Khi gió mùa nín lặng/ Mưa mùa xuân mưa xanh/ Nhớ buổi ấy... Mưa làm em ngượng ngập/ Lẩn vào mưa em thổn thức/ Lẩn vào mưa anh bắt được mưa xanh..." đó là những câu thơ đậm chất thi sỹ của kỹ sư Vũ Quang Trạch được viết từ năm 1982 khi anh đang ở cảng Lễ Môn.

Cảng Nghi Sơn là cảng biển nước sâu được quy hoạch với hơn 10 cầu cảng cho tàu 50 nghìn tấn ra vào thuận tiện với lượng hàng hóa thông qua cảng đạt hơn 10 triệu tấn/năm. Hiện cảng đang được nạo vét nâng cấp luồng vào rộng 120 mét sâu 11 mét để tiếp nhận tàu 30 nghìn tấn nâng năng lực bốc dỡ của cảng lên 1 6 đến 2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Riêng năm 2010 này công suất ước đạt 1 65 triệu tấn. Chủ quản của Cảng nay không phải là Sở Giao thông vận tải Thanh Hóa nữa mà là Tổng Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật dầu khí thuộc PetroVietnam.

Đôi điều tản mạn

Nghệ sỹ nhiếp ảnh Lê Thám bạn tôi vác máy săn ảnh đẹp vùng Nghi Sơn tình cờ gặp tôi khi tôi vừa dự khởi công xây dựng trường cao đẳng nghề Licôgi ở Trúc Lâm. Thám trầm trồ:

- Nghi Sơn rồi sẽ trở thành thành phố hiện đại hoành tráng chứ chả chơi.

- Là khu công nghiệp hiện đại thì hẳn - Tôi nói - Nhưng để là đô thị hiện đại hoành tráng thì... chưa chắc.

- Sao vậy?

- Này nhá...

Và sau đó là một cuộc tranh luận tóe khói. Những cuộn gân ở thanh quản gồng lên những nhát tay chém xuống những hớp nước mát nhắp vội vào thanh quản. Nhà văn Hoàng Trọng Cường thì chỉ còn mắt tròn mắt dẹt ngồi chứng kiến hai người bạn thân của nhau trổ tài hùng biện.

Đúng vậy bên cạnh các cơ sở công nghiệp lớn đã và đang vận hành bên cạnh các khu du lịch cây xanh sinh thái vui chơi giải trí trung tâm tài chính dịch vụ điều hành và các khu chức năng khác (đang còn trong đồ án quy hoạch)... đều rất hoành tráng đều đúng tiêu chí của một đô thị hiện đại thì có một nguy cơ khác đang tiềm ẩn đó là sự hình thành các "phố làng". Các phố làng tựa như những "làng trong phố" ở Hà Nội với những con phố hay đúng hơn là những đường làng hun hút ngoằn nghoèo rộng chỉ chừng hơn mét tây hai xe đạp gặp nhau phải xe đứng xe đi. Trong làng nào biệt thự nào nhà cao tầng lô nhô đủ kiểu quay đủ mọi hướng nhưng những hiên nhà chỉ rộng độ vài ba chục xăng ti mét. Bốn năm căn nhà với hàng chục hộ gia đình chỉ chung nhau một khoảnh sân rộng vài mét vuông... Ai cũng thấy ai cũng biết nhưng cũng chỉ biết vậy. Ngay ở cái thành phố cấp hai của chúng ta đây thôi hãy cứ vào khu Đông Lân làng Hạc Mật Sơn Quảng Xá... mà xem. Nghi Sơn của chúng ta cũng đang tiềm ẩn nguy cơ đó. Nào ai có thể dỡ cả một làng với hàng trăm nóc nhà hàng trăm mảnh vườn ra để quy hoạch lại thành những phố ngang đường dọc rồi lát vỉa hè dựng đèn cao áp.v.v... Khu công nghiệp Nghi Sơn lọt thỏm trong khu dân cư xen giữa các cơ sở công nghiệp là làng xóm làng xóm bao bọc chung quanh tứ bề... Liệu các làng xóm này có biến Nghi Sơn thành đô thị hiện đại? Ngay cả những khu tái định cư được quy hoạch phố ngang phố dọc hẳn hoi có đèn đường có vỉa hè... Nhưng là kiểu phố xá của vài chục năm trước và nhà cửa cũng là nhà cửa của một thị tứ cấp... xã cho dù có quét ve xanh đỏ đủ màu... Bởi trong lòng nó là một cái làng một cái làng một trăm phần trăm.

Chúng ta từng có một khu công nghiệp Bỉm Sơn xây dựng trên một vùng đồi bát ngát. ấy thế mà sau gần bốn mươi năm chúng ta đang có một Bỉm Sơn chả giống ai. Tuy đổ bộ lên một vùng đồi mênh mông bể sở tha hồ tung hoành vẽ vời quy hoạch nhưng lúc bấy giờ (1974) người ta chỉ lo xây dựng nhà máy rồi sau đó "tự nhiên nhi nhiên" nhà cửa trường học bệnh viện... dần mọc lên theo. Cái ăn cái mặc... không thể đừng thì chợ búa cửa hàng cửa hiệu cũng sinh ra. Và thế là "trăm hoa đua nở" mạnh ai nấy chạy. Kết quả là chúng ta có một Bỉm Sơn đô thị loại bốn lem nhem manh mún bụi bặm phố không ra phố thị không ra thị sau hơn một phần ba thế kỷ xây dựng.

*

Một ngày mới lại đang về trên vùng đất Nghi Sơn. Và những chuyển động cả âm thầm lẫn náo nhiệt cũng đang khiến Nghi Sơn mỗi ngày thêm một mới mẻ mới mẻ từ trong dự cảm tốt lành đến những hiện hữu sống động. Và chúng ta có quyền hy vọng một Nghi Sơn...

                                                    Trúc Lâm tháng 9-2010

                             &nb

More...

THƠ THÁNG 9+10

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Trong những ngày đầu tháng 8 - 2010 Thường trực Hội tổ chức cho anh chị em hội viên Ban Thơ đi thực tế sáng tác tại các vùng miền trong tỉnh và giao lưu tại các tỉnh Ninh Bình Nam Định Hà Nam. Đoàn đã thăm quê hương và nhà lưu niệm nhà thơ Nguyễn Bính nhà thơ Nguyễn Khuyến và nhà văn Nam Cao thăm các danh lam thắng cảnh của Nam Định và Ninh Bình. Văn nghệ Xứ Thanh giới thiệu một số sáng tác mới trong đợt đi thực tế này.


 

ĐÀO PHỤNG


 

Thăm lán Nà Lừa

Khiêm nhường dưới bóng trúc tre

Lán như tay vẫy nguồn khe mạch rừng

Làm bao la cả điệp trùng

Vai người đỡ núi nhấc từng niềm vui

Đêm về gió lạnh Bác ngồi

Viết lời non nước dặn người đánh Tây

Ngước nhìn liếp ấm hơi tay

Dường như Bác mới vừa đây xuống Mường.

                         Đ.P

HẢI MINH

Chợ quê

Chợ Chùa

Chợ Đón

Chợ Hôm

Chợ Phiên chợ Bến chợ Cồn chợ Trâu.

Chợ quê tên chợ có màu

Nắng xiên tứ phía hàng nhàu nét quê

Tên hàng: Củ sắn dúm chè

Mớ rau mớ cá bộn bề nắng trưa.

Vội vàng bán vội vàng mua

Lấm lem bùn đất lời thưa tiếng chào.

Chợ quê: ồn ã xôn xao

Trộn vui với sợ lối vào nhân sinh.

Khát khao ánh mắt dò tìm

Tép riêu dúm hến phận mình nắng mưa.

Chợ quê: nghèo cả lối đi

Gánh gồng chen chúc ven đê mép làng.

Vạ đò dọc chéo đò ngang

Đều thành chợ của các làng ven sông.

Còn quê còn chợ còn mong

Về quê đi chợ nẫu lòng lâng châng.

                           H.M

SƠN HẢI


 

Gặp Hồng Cầu ở nhà thờ Nguyễn Bính


 

Một buổi trưa

Đến bên góc "Vườn hoang" đầy cỏ

Tôi run run thắp hương trên nấm mộ

Dưới lùm hoa đỏ Ti Gôn...

Bỗng nhiên gặp Hồng Cầu(1)

Một giọt ngọc hồng

Thi sỹ gửi lại đời sau

Chợt nhớ câu tục ngữ

Dẫu chẳng còn trông thấy cây

Vẫn vui khi thấy còn đây mầm chồi...

Gặp em tôi lại nhớ Người

"Mười hai bến nước" phương trời lênh đênh...

Rất đa cảm rất nhân tình

Người thương đã lắm mình yêu cũng nhiều

Rất "Chân quê" và cũng rất lãng phiêu

Câu chữ như bỡn mà nhiều chất thơ

"Dậu mùng tơi" mà chắn đôi bờ?!

"Khăn nhung quần lĩnh" mà giờ khổ nhau?!

"Một cười héo cả Trăm hoa" rầu

Đường xa "Lỡ bước" nhịp cầu "sang ngang"

Nhưng "Vàng son vẫn vẹn giá vàng son"

"Bài thơ quê hương" đó vẫn còn lung linh(2)

Tâm hồn vẫn trắng trinh như ngọc

"Trời còn có bữa sao quên mọc"

Đời chẳng bao giờ lại quên Ông.

                 Tháng 8 - 2010

                         S.H

(1) Hồng Cầu: Con gái Nguyễn Bính sinh năm1952 ở Sài Gòn

(2) "Bài thơ quê hương" của Nguyễn Bính sáng tác năm 1966 trước khi ông mất ít lâu.


 

LÊ ĐĂNG SƠN

Thu thăm quê Nguyễn Khuyến

Mùa thu tôi về Yên Đổ (*)

Nắng thu lỗ chỗ lá vàng

Ngõ trúc vẫn còn thao thức

Ao thu trời xanh mênh mang

Tưởng như người xưa còn đó

Mùa thu câu cá thương đời

Làm cánh chim trời lẻ bóng

Hương trầm thơm trong chơi vơi

Mùa thu tôi về Yên Đổ

Thăm quê Nguyễn Khuyến thi hào

ăn trái nhãn vườn nhà cụ

Hương vườn thơm đến nôn nao.

                    Bình Lục - Hà Nam 8-2010

                                    L.Đ.S

(*) Làng Yên Đổ xã Trung Lương huyện Bình Lục là quê hương của thi hào Nguyễn Khuyến.



 

TRỊNH MINH CHÂU


Lời ru

Con sinh ra giữa ồn ào

Lời ru của mẹ lạc vào xửa xưa

Không nghe kẽo kẹt võng đưa

Lắc lư nôi điện nắng trưa thị thành

Không gần gió mát đồng xanh

Cánh cò bay lả bình minh quê nhà.

Cũng từ dung dị câu ca

Bà ru mẹ bà ru cha nồng nàn

Biết trời đất rộng mênh mang

Biết mình có một ngôi làng bình yên

Biết ông bụt biết cô tiên

Biết yêu biết ghét lớn lên thành người.

à ơi... đi giữa cuộc đời

Buồn vui da diết một thời đã qua

Bây giờ con được sinh ra

Giữa đô hội giữa phồn hoa ồn ào

ánh đèn khuất ánh trăng sao

Nhà liền nhau chẳng có rào cây xanh

Trông qua cửa sắt lạnh tanh

Bước ra đường trạnh nhớ tình cố hương...

Rồi... thương con những đoạn trường

Trở trăn tìm lại nẻo đường ngày xa

Giữa lòng đô hội phồn hoa

Lời ru ai giữ cho ta với mình.

                   2010

                   T.M.C


 

NGUYỄN TRỌNG LIÊN


 

Thăm nhà Nguyễn Bính

Tìm về xóm Trạm chớm thu

Lối mòn xưa vẫn như chờ người qua

Ao sen lặng phía chái nhà

Vài cành dâm bụt đỏ hoa cuối chiều

Mộ tam cấp đã in rêu

Bàn tay nhẹ gỡ cánh diều vương mây

Nửa đời thơ một kiếp này!

Run run nâng chén rượu cay lệ nhòa

Giang hồ viết cả trong mơ

Mà ngàn năm để thẫn thờ nhân gian

Người đi "lỡ bước sang ngang"

Bến sông nào có đò đang đợi người?

                          7-8-2010

                             N.T.L

PHẠM KHANG


 

Định mệnh nơi đền vua Đinh


 

Nếu thời gian là thước đo định mệnh

Thì ngôi báu xưa máu chảy xối ngang đầu

Đinh Bộ Lĩnh cờ lau dẹp sứ quân loạn nước

Hoàng đế làm bạn với trâu cày ruộng nương năn lác

Xưng đế trời Nam run rẩy Tống triều

Làm vua buổi tóc còn xanh

Xưng đế vì khí phách hiên ngang khác người

Bạn chăn trâu dạt về xóm thôn ngưỡng vọng

Đâu biết trăm họ muôn dân có kẻ nuôi lòng tà độc

Long sàng một đêm cha con cùng chết thảm

Ngôi báu xa lánh bóng người quân tử

Đến nỗi ấu chúa phải theo trung thần vào hang sâu

Hoa Lư mà ẩn

Thái hậu Dương Vân Nga nàng có động lòng?

Vẫn biết lịch sử mon men vết chân quyền thế

Người đàn bà Dương Vân Nga biết nắm tóc anh hùng

Thôi thì long bào trao cho dũng tướng

Thôi thì nước non đổi lấy thanh bình

Chỉ tội cho cha con vua Đinh ngồi đây

Hương khói vắng người nhan sắc

Đã qua sông sao có thể quay về

Thương hậu thế khóc hết nước mắt

Nơi long sàng vua Đinh

Nơi đền đài vua Đinh

Mưa dội chiều Hoa Lư của nghìn năm sau...!

                   Hoa Lư 9-8-2010

                           P.K



 

NGUYỄN DUY CHINH



 

Tiếng chân người qua vạt cỏ may

Bắt đầu từ cánh đồng

Cánh chuồn chuồn chở ngọn heo may vào phố

Đêm lãng du qua ô cửa nhỏ

Sương giăng đẫm vạt cỏ may

Thương quê con sông nước đầy

Cá tôm đi đâu cả

Một đời cha lam lũ

Vắt kiệt giọt mồ hôi

Thượng tuần trăng leo lắt ngang trời

Soi bước chân người ngái ngủ

Những đồng Bầu Tây Phương đồng Đỗ...

Lúa màu chờ gọi mùa say

Nhàn nông trĩu gánh chổi đầy

Chợ xa tiếng gà gọi sáng

Biết thương cha ngày đã muộn

Gần mười năm rồi cha về cõi Thiên thu

Cò tránh đông rồi sắp cái lạnh tím gan

Hun hút thổi về qua ô cửa nhỏ

Phố phường say giấc ngủ

Chợt tiếng chân Người về

bước qua vạt cỏ may.

                 Đêm 11-11-2008

                         N.D.C



 

NGÔ XUÂN TIẾU


 

Chiều Yên Đổ

Mây bỗng trôi lãng đãng trong chiều

Bờ tre xanh tiếng chim liếu điếu

Mặt ao thu nước trong leo lẻo

Ai buông câu cho cá động chân bèo

Mảnh trời thu trong đáy ao thu

Thơ là nơi hồn ta lưu trú

Nguyễn Khuyến - tam nguyên Yên Đổ

Phải chăng những kiệt tác mùa thu!

Tôi dâng hương trong chiều hoài cổ

Trời thu chưa đẹp thế bao giờ

Hoàng hôn rắc nắng vàng trên cỏ

Chim én bay chắp cánh cho thơ

Chuồn chuồn ớt ôm đài hoa nhỏ

Mặc con rô nhảy đớp bóng mình

Hoa súng nở tím chiều Yên Đổ

Hương trầm thơm một cõi tâm linh.

                        Yên Đổ thu 2010

                                N.X.T

More...

DỰ THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

LÊ THỊ LAN

Chiều cuối đông


Truyện ngắn



 

        Chiều dần buông chút ánh sáng của một ngày cuối đông như vội vã lẫn trốn vào bầu trời đen xám xịt làn sương mỏng manh như trải đều khắp đất trời. Những chiếc lá nhỏ nhoi còn sót lại sau mùa đông giá lạnh cũng rơi xuống bay bay mơ màng trong những hạt sương bụi mong manh. Phía cuối con đường vắng tanh bỗng xuất hiện một cái chấm nhỏ. Chấm nhỏ di chuyển lại gần hơn to hơn rõ ràng hơn. Trong màn sương tôi nhận ra đó chính là em - cô hàng xóm của tôi.

Cứ vào giờ này tầm lúc mà tôi đang mải mê ngắm chiều giăng lưới tận hưởng những làn gió mơn man lành lạnh của buổi chiều đông thì cô bé xuất hiện như chấm nhỏ thường lệ. Vào khoảnh khắc cô bé lướt qua tôi tôi nhận được nụ cười rạng rỡ và ánh mắt ngời sáng long lanh. Tôi đã cảm nhận biết bao là hạnh phúc biết rằng em đối với tôi không phải bằng lòng thương hại... Quả thật tôi rất sợ hai chữ thương hại! Tại sao ư? Giá như bạn nhìn thấy tôi lúc này chắc bạn sẽ hiểu. Đôi tay tôi không thể cử động được nữa và bây giờ sự tồn tại của nó chẳng khác gì một vật trang trí trên cơ thể tôi. Vậy là ước mơ được trở thành một nhà văn nổi tiếng được cầm trên tay giải Noben văn học danh giá của tôi đành gác lại. Rồi không chừng sẽ có một ngày tôi trở nên khốn khổ vì đói vì khát vì rét... lo cho việc sinh hoạt hàng ngày còn không nổi huống chi là tự mưu sinh giữa cuộc sống hối hả xô bồ. Sẽ có một ngày tôi không tìm ra lí do để mình tiếp tục tồn tại trên cõi đời này nữa.

Vào một chiều cuối đông cũng như buổi chiều hôm nay... bà ngoại đi chợ chỉ có một mình ở nhà tôi khát cháy cổ loay hoay tìm cách lấy chiếc ly nhưng... tôi không thể. Bất lực! Chiếc ly rơi xuống sàn nhà vỡ toang... Tôi nép vào góc nhà khóc vì tủi thân - tôi là một phế nhân một vật trang trí vô tác dụng cho cuộc đời? Lần này là lần đầu tiên tôi khóc kể từ ngày tôi học cấp II đến giờ. Tôi đã thiếp đi vì mệt mỏi. Tôi cũng không hiểu vì sao tôi lại yếu đuối đến thế! Có lẽ tôi không đủ cứng rắn để trải qua bi kịch khủng khiếp ấy. Một vụ tai nạn kinh hoàng đã cướp đi người mẹ mà tôi yêu quý nhất trên đời và cướp mất đôi tay của tôi. Trong cơn mê man tôi cảm nhận bước chân nhẹ nhàng quen thuộc ấy. Tôi thấy lại trong bước chân đó là bóng dáng của mẹ. Tôi rối rít gọi trong cơn mơ chập chờn: "Mẹ ơi... Mẹ ơi... Con nhớ mẹ lắm!".

Đáp lại lời tôi không phải là tiếng mẹ hiền ấm áp mà là giọng nói khe khẽ của một cô bé: "Anh ơi...!". Tôi choàng tỉnh khỏi cơn mê man trước mắt tôi là ánh mắt thân thiện nụ cười rạng rỡ của cô bé hàng xóm. Thân với cô bé từ nhỏ mà tận ngày hôm nay tôi mới có giây phút bình lặng đón nhận ánh mắt ấy nụ cười ấy. Tim tôi như rung lên tôi nhận thấy một thứ cảm giác rất lạ trong ánh mắt và nụ cười của cô bé và ngay trong cả từng nhịp đập của trái tim mình.

- Anh có muốn ngắm hoàng hôn không? Cô bé hỏi.

Như có một động lực nào đó thôi thúc tôi gật đầu. Bước đi bên cô bé thấp hơn tôi đến cả cái đầu mà tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ yếu mềm. Tôi khẽ tựa vào vai cô bé và cảm thấy một sự hạnh phúc yên bình đến lạ. Đó cũng chính là thứ cảm giác ngọt ngào đầu tiên mà tôi có được sau tai nạn.

...Như thấu hiểu được nổi buồn tủi lạc lõng bơ vơ của tôi giữa cuộc đời cô bé đã cho tôi mượn bờ vai bé nhỏ. Cô bé khẽ thì thầm: "Em biết anh rất buồn nhưng anh hãy gắng lên giông tố sẽ qua mau thôi sau cơn mưa trời lại sáng. Ông trời sẽ bù đắp tất cả những gì mà anh mất. Chúng ta không được phép bỏ cuộc và không thể bỏ cuộc anh nhé!".

Lời an ủi quý giá như thổi ùa vào trái tim đang vỡ vụn của tôi một luồng sinh khí mới. ánh mắt long lanh buổi chiều đông như ngọn lửa hồng đang sưởi ấm trái tim tôi và truyền cho tôi sức mạnh niềm tin lớn lao vào cuộc sống. Và rồi bàn tay nhỏ bé ấm áp của em khẽ vuốt lên mái đầu của tôi nhẹ nhàng lau đi những giọt nước mắt đọng trên sống mũi tôi. Cô bé vuốt ve đôi bàn tay tôi khẽ nói:

- Bàn tay anh thật đẹp. Nhưng chắc là nó mỏi mệt quá nên tạm thời nghỉ ngơi nhường lại công việc viết lách cho đôi bàn chân đấy thôi. Anh hãy cho đôi bàn chân thử sức nhé! Những lúc mệt mỏi hãy gọi em nhé. Em sẽ luôn ở bên cạnh anh.

Lời nói của cô bé đã giúp tôi tìm ra lối thoát cho chính mình. Tôi tin và thấm thía hơn lời mà trước kia có một người thầy đã nói với tôi: "Đừng tuyệt vọng ngay cả khi bạn mất đi một thứ quý giá nhất của cuộc đời bạn mà hãy luôn tin yêu cuộc sống nhất định cuộc sống sẽ bù đắp lại cho bạn những thứ còn quý giá hơn rất nhiều". Cái tôi đã nhận lại được sau khi mất đi đôi bàn tay đó là sự quan tâm săn sóc ân tình của em. Và cũng từ giây phút đó tôi biết được giá trị của tình yêu thương con người giá trị của một nụ cười một ánh mắt trìu mến thân thương.

Tin tưởng vào những gì cô bé nói ngày ngày tôi tập cho bàn chân biết viết những nét đầu tiên. Vào lúc rảnh rỗi cô bé vẫn giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc ghi chép hệt như người mẹ của tôi khi xưa vẫn cầm tay tôi nắn từng nét chữ. Khi tôi mệt cô bé lại giúp tôi xoa bóp bàn chân tê cứng vì vất vả với công việc cầm bút.

Từ ngày mẹ mất bố vào Nam làm ăn ở nhà chỉ còn mình tôi và bà ngoại. Bố hứa khi nào kiếm đủ tiền sẽ đưa tôi đi phẫu thuật tay và giúp tôi thực hiện ước mơ trở thành một nhà văn nổi tiếng. Trong suốt thời gian bố vắng nhà tôi và em như hình với bóng. Sau những buổi học cô bé lại chạy sang ngôi nhà vắng của tôi xua tan cái quạnh quẽ lạnh lẽo bằng những tiếng cười rộn rã. Và không biết tự lúc nào tiếng cười ấy đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi.

Thời gian dần trôi sau một thời gian khá dài tôi đã có thể viết bằng đôi chân của mình. Việc làm đầu tiên của tôi là chép tặng cô bé một bài thơ nhỏ. Cô bé cảm động vô cùng hạnh phúc ngập đầy trong đáy mắt của em. Em nắm lấy đôi bàn tay của tôi tuy nó không thể cử động được nữa nhưng tôi vẫn cảm nhận được hơi ấm từ bàn tay nhỏ nhắn của cô bé lan truyền trong cơ thể tôi. Cô bé thầm thì:

- Gắng lên anh nhé! Cuộc đời còn dài và đẹp lắm. Đừng bao giờ quên rằng em luôn ở bên anh. Khi anh mệt mỏi lo lắng buồn rầu vui sướng hạnh phúc hay khổ đau em vẫn sẵn sàng làm điểm tựa cho anh. Nhưng anh nhớ nè... khi nào trở thành một nhà văn nổi tiếng thì phải ưu tiên cho em xin chữ ký đầu tiên đấy nhé!... Vừa nói dứt lời cô bé lại cười tinh nghịch như thói quen và cũng như tia nắng vàng xua đi cái không khí lãnh đạm của buổi chiều cuối đông đem đến cho trái tim sự ấm áp diệu kỳ.

Tôi mỉm cười và thấy hạnh phúc ngập tràn. Cô bé giống như một thiên thần mang vẻ đẹp sáng trong và thánh thiện đến bên cuộc đời tôi. Với tôi cuộc sống yên bình thanh thản được nghe tiếng em nói cười thế là quá đủ. Có lẽ một thứ tình cảm lạ đã nảy nở giữa hai chúng tôi. Có lẽ đó không phải là tình yêu mà cũng chẳng là thứ tình cảm gọi tên bằng một khái niệm rõ ràng. Chỉ biết một điều chắc chắn rằng đó là thứ tình cảm chân thành trong sáng mà tôi có và dành riêng cho em.

Ngày ngày tôi cùng em tới trường trên con đường ghập ghềnh đá sỏi. Nhìn khuôn mặt em lấm tấm những mồ hôi khi phải chở tôi suốt chặng đường dài mà tôi thoáng chút chạnh lòng. Giá như đôi tay này có thể lau những giọt mồ hôi trên khuôn mặt em. Giá như đôi tay tôi lành lặn để có thể là "tài xế" cho em nhỉ? Lòng tôi nặng trĩu những suy nghĩ miên man. Điều duy nhất mà tôi có thể dành tặng em là những trang viết những tác phẩm hay nhất. Bóng hình của em là nguồn cảm hứng lớn cho tác phẩm của tôi. Có bao giờ em nhận ra rằng em chính là linh hồn trong những sáng tác của tôi em là độc giả là một nhà phê bình văn học và cũng là một trợ thủ đắc lực của văn chương tôi. Không biết em có hiểu rằng những sáng tác của tôi là dành riêng cho em - cho người mà tôi tin yêu nhất thế gian này.

Câu nói làm tôi giật mình thoát khỏi dòng suy nghĩ. Tôi ngước lên nhìn đó là cô bé. Mải mê suy nghĩ về những kỷ niệm mà tôi không biết em đã đến bên tôi tự bao giờ.

Chiều nay lại một chiều cuối đông như những chiều hôm trước em nhẹ nhàng đến bên tôi. Sau những đắn đo suy nghĩ lý trí buộc tôi không thể nói dối em.

- "Bé ạ! Ngày mai anh sẽ theo bố vào Nam phẫu thuật đôi tay và có lẽ sẽ rất rất lâu anh mới trở về".

Cô bé tròn xoe mắt - ngạc nhiên: "Sao bây giờ anh mới nói tin ấy cho em? Gấp thế sao anh? Anh đi rồi em biết làm gì đây? Vắng anh em sẽ buồn lắm!... Khi nhớ anh em biết tìm anh ở đâu?". Những câu hỏi dồn dập cứ xoáy chặt lấy trái tim tôi. Thoáng buồn khi nghĩ rằng tôi sắp phải xa em xa mặt hồ những chiều cuối đông xa ánh hoàng hôn mà ngày nào tôi cũng tựa vai em ngắm xa tiếng cười giọng nói của em... xa tất cả...

Cô bé cúi mặt và từ trong khóe mắt em tôi nhận ra bóng dáng của những giọt nước mắt lăn dài. Em không nhìn tôi mà quay mặt về phía con đường heo hút. Tôi thấy xót xa khi không thể ôm lấy em mà an ủi vỗ về lau đi những giọt nước mắt chảy dài trên gò má.

- Đừng buồn nữa cô bé của anh. Nhất định anh sẽ về thăm em mà.

Cô bé tựa vào vai tôi và lấy tay gạt đi những giọt nước mắt:

- Anh không nói dối em chứ?

Tôi khẽ gật đầu:

- Anh hứa! Cơn gió cuối đông thúc đẩy tôi trả lời.

Tôi muốn được nhanh chóng làm phẫu thuật và một ngày nào đó tôi sẽ trở về làm "tài xế" của riêng em lau đi những giọt mồ hôi khi em mệt mỏi lau đi những giọt nước mắt khi em buồn ôm ấp vỗ về những khi em khóc... và khẽ vuốt ve mái tóc huyền khi hạnh phúc đến bên em...

                                                            L.T.L

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

KỶ NIỆM 245 NĂM SINH NGUYỄN DU VÀ 1000 NĂM THĂNG LONG-HÀ NỘI


 

TỪ THĂNG LONG TIẾC THĂNG LONG

                                                      VƯƠNG TRỌNG



 

        Chính kinh đô Thăng Long đã tạo nên mối lương duyên giữa Tả thị lang bộ Hình (sau này là quan Tư đồ rồi Tể tướng) Nguyễn Nghiễm quê Nghi Xuân Hà Tĩnh với cô gái Trần Thị Tần quê Từ Sơn Bắc Ninh. Chúng ta biết rằng Nguyễn Nghiễm lúc đó tuổi đã xấp xỉ năm mươi còn Trần Thị Tần xuân xanh chưa đầy hai chục chính xác là kém Nguyễn Nghiễm 32 tuổi và kém 6 tuổi so với Nguyễn Khản con đầu của ông. Nếu năm 1757 Nguyễn Nghiễm không được triều đình gọi về Thăng Long thì làm gì có được mối lương duyên này và tám năm sau năm 1765 không thể sinh ra một con người mà sau này trở thành Đại thi hào của dân tộc.

Chúng ta cũng từng biết Nguyễn Du sinh ra ở phường Bích Câu tuổi thơ và tuổi học trò sống ở Thăng Long tình yêu đầu tiên và câu thơ lục bát đầu tiên cũng dành cho người Thăng Long. Chuyện này chính Nguyễn Du đã thuật lại trong bài "Một mối tình hận của tôi" mà nhà giáo Nguyễn Đức Bính đã giới thiệu cách đây hơn nửa thế kỷ. Trong bài viết ấy Nguyễn Du kể lại mối tình của mình ngày còn đi học đã quen rồi yêu một cô gái chống đò trên sông Nhị Hà tên là Đỗ Thị Nhật. Tình yêu không thành nhưng chuyện tình còn để lại với những dòng lục bát tỏ tình đầu tiên với ba chấm lửng (...) kết thúc khổ thơ đầy ngụ ý:

Ai ơi chèo chống tôi sang

Kẻo trời trưa trật lỡ làng tôi ra

Còn nhiều qua lại lại qua

Giúp cho nhau nữa để mà...

Khi Nguyễn Du ra đời thì kinh đô Thăng Long đã 755 tuổi Văn Miếu Quốc Tử Giám đã có ngót 700 năm rùa Văn Miếu đã xếp hàng đội bia Tiến sĩ từ những thời nào. Mặc dù không thấy tài liệu nào nói chuyện Nguyễn Du ra vào khu Văn Miếu chỉ thấy nhắc tới hồ Giám nhưng với bản tính ngưỡng mộ hiền tài trân trọng lịch sử hơn nữa bốn chữ "Cổ kim nhật nguyệt" sơn son thếp vàng hiện còn treo ở nơi trang trọng nhất của Văn Miếu là chính do Nguyễn Nghiễm thân sinh ông viết thì ta tin rằng Văn Miếu là địa chỉ quen thuộc của Nguyễn Du thời trai trẻ. Là con trai một vị Tể tướng những năm sống ở Thăng Long Nguyễn Du có điều kiện ra vào cung vua phủ chúa chứng kiến được cuộc sống sang trọng có khi xa hoa trụy lạc của tầng lớp trên của xã hội bấy giờ điều này tạo điều kiện cho ông có những câu thơ tả cảnh tả người hết sức sinh động trong Truyện Kiều. Theo kết quả nghiên cứu của các học giả có uy tín cũng như qua sự suy xét của bản thân tôi Nguyễn Du viết Truyện Kiều vào thời gian sống ở Tiên Điền từ năm 1796 đến năm 1802 và cụ thể hơn truyện Kiều được ra đời vào năm 1801. Như vậy khi viết Truyện Kiều Nguyễn Du chưa ra làm quan cho Gia Long chưa biết được cảnh sinh hoạt chốn vua quan triều đình Huế thế thì những câu tả cảnh tả người những gia đình quyền quý trong Truyện Kiều chính nhờ kinh đô Thăng Long cung cấp vốn sống. Ví như những câu tả cảnh nhà và cách sinh hoạt của bà mẹ Hoạn Thư bà vợ của ông Thượng thư bộ Lại:

Ban ngày sáp thắp hai bên

Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà

Một người dù tài thơ đến mấy nhưng nếu chưa từng tiếp xúc với tầng lớp trên của xã hội thời bấy giờ thì khó mà nghĩ ra được những cảnh tượng ấy vốn không có trong Kim Vân Kiều truyện. Hay như hình dáng mụ chủ chứa Tú bà:

Thoắt trông nhờn nhợt màu da

Ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao

Rồi: "Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm..." là những gì Nguyễn Du sáng tạo ra từ sự chứng kiến ở kinh thành Thăng Long một thời.

Từ khi sinh ra đến năm 1786 trước khi về quê vợ ở Thái Bình sống "mười năm gió bụi" chỉ trừ về quê Nghi Xuân vài lần ngắn ngủi hầu hết thời gian Nguyễn Du sống ở Thăng Long để học hành cũng như giao du với những người sống ở Thăng Long như Đoàn Nguyên Thục Đoàn Nguyên Tuấn Thực Đình... Chúng ta nhớ rằng Thăng Long là Kinh đô nên không chỉ có những người quê Thăng Long mà nhân tài tứ xứ đặc biệt là văn sĩ Bắc hà sinh sống và làm việc ở đó. Xuất thân từ một gia đình khoa bảng có truyền thống thi ca thơ lại được giao du tiếp xúc với những người tài sống ở Thăng Long tài thơ bẩm sinh của Nguyễn Du như hạt giống tốt gặp đất tốt mưa thuận gió hòa. Nhà thơ lớn của một dân tộc phải là người hiểu được văn hóa của cả dân tộc mình chứ không phải chỉ của một vùng đất một nhóm người. Khi không có điều kiện lăn lộn khắp các vùng của đất nước nếu muốn hiểu văn hóa của dân tộc mình thì không sống đâu bằng ở thủ đô nơi hội tụ tinh hoa của các vùng văn hóa. Ngoài việc khác nhau về năng khiếu bẩm sinh Nguyễn Du thuận lợi hơn một số nhà thơ khác ví dụ như Nguyễn Đình Chiểu là cả một thời trai trẻ được sống ở kinh đô nên tác phẩm ông là tiếng nói chung của cả dân tộc thoát ly văn hóa vùng miền nên bạn đọc cả nước dễ tiếp nhận và đồng cảm. Như vậy Thăng Long không những tạo cơ hội cho con người Nguyễn Du ra đời mà còn tạo điều kiện hun đúc ông trở thành Đại thi hào.

Ngoài những vần lục bát tặng Đỗ Thị Nhật trong thơ chữ Nôm chúng ta không thấy bài nào dòng nào ông viết về người và cảnh Thăng Long nhưng trong thơ chữ Hán ông để lại năm bài. Đầu tiên là bài Đại nhân hý bút (thay người khác viết đùa) có những câu tả cảnh Thăng Long hết sức cụ thể:

Thác lạc nhân gia Nhị Thủy tân

Cư nhiên biệt chiếm nhất thành xuân

Đông tây kiều các kiêm thiên khởi...

Tạm dịch:

Nhà bên sông Nhị chen chân

Nghiễm nhiên chiếm hết cảnh xuân thành này

Chạm trời cầu gác đông tây...

Đây là những câu thơ tả cảnh Thăng Long duy nhất của Nguyễn Du thời ông còn trai trẻ. Tuy nhiên cảnh đó có đúng sự thật hay không thì ta thật khó biết vì đầu đề bài thơ là Đại nhân hý bút tức thay người khác viết đùa. Thay lời người khác đã không phải ý của tác giả rồi lại còn viết đùa nữa thì người đọc khó biết được thực hư thế nào!

Bốn bài còn lại đều nằm trong tâm trạng hoài vãng đau xót trước cuộc bể dâu thương tiếc Thăng Long một thời vàng son. Chúng ta biết rằng năm Nguyễn Du rời Thăng Long về quê vợ ở Thái Bình cũng là năm Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long lần thứ nhất. Từ đó Nguyễn Du rất ít có dịp trở lại Thăng Long. Nếu như bài ghi chép "Một mối tình hận của tôi" nói về mối tình đầu và những câu lục bát đầu tiên của Nguyễn Du thời đi học ở Thăng Long thì bài "Long Thành cầm giả ca" chứa đựng nhiều lượng thông tin nhất về mối liên hệ của Nguyễn Du với Thăng Long sau năm 1786. Theo lời Tiểu dẫn cũng như nội dung bài thơ ta biết được rằng khoảng năm 1793 từ quê vợ Thái Bình Nguyễn Du lên Thăng Long thăm anh trai là Nguyễn Nễ trước làm quan trong triều Lê nay giúp Tây Sơn. Nguyễn Du trọ gần hồ Giám có chứng kiến cuộc "chơi sang" của quan lính Tây Sơn xem tiền bạc như bùn đất trong một đêm xem đàn hát. Trong lời tiểu dẫn có một câu: "Lúc đó tôi nấp trong bóng tối không thấy rõ lắm". Là em một ông quan triều Tây Sơn đi xem hát do quân Tây Sơn tổ chức tại sao Nguyễn Du lại phải nấp trong bóng tổi? Là vì Nguyễn Du không muốn ai nhận ra mình một người không chấp nhận sự đổi thay của Thăng Long do quân Tây Sơn mang lại. Nguyễn Du dùng hình tượng người gảy đàn ở Long Thành không chỉ nói về số phận của một người ca kỹ mà muốn nói sự đổi thay của thời thế đổi thay của Thăng Long qua các thời kỳ nhà Lê Tây Sơn rồi nhà Nguyễn với nỗi tiếc nuối giống như nội dung hai câu Kiều ông từng viết: "Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Trong lời Tiểu dẫn Nguyễn Du còn viết: "Sau đó vài năm tôi dời vào Nam và từ đó không trở lại Thăng Long nữa". Ta biết rằng năm 1796 một năm sau khi vợ mất Nguyễn Du đã đưa con trai tên là Nguyễn Tứ khi đó mới vài tuổi về Nghi Xuân. Hai chữ "vào Nam" Nguyễn Du dùng là kể cả thời gian ông sống dưới chân núi Hồng Lĩnh cũng như thời gian làm quan dưới triều Gia Long mà ông ở Phú Xuân hoặc Quảng Bình. Như vậy là đến 20 năm Nguyễn Du không trở lại Thăng Long kể từ năm 1793 đến năm 1813.

Khi ở ẩn dưới thời Tây Sơn hay khi làm quan dưới triều Gia Long Nguyễn Du có lúc coi Thăng Long như nơi xuất phát của mình dùng Thăng Long để xác định vị trí các nơi ở khác. Ví như sau khi rời Thái Bình về Nghi Xuân trong bài "Sơn cư mạn hứng" ông mở đầu:

Nam khứ Tràng An thiên lý dư

Quần phong thâm xứ dã nhân cư

là ông nói mình trở thành gã nhà quê sống trong núi sâu cách Thăng Long hơn ngàn dặm. Ông chọn Thăng Long làm vật chuẩn là vì ông ra đi từ đó lòng ông hướng về nơi ấy. Nhưng nhiều khi ông nghĩ về Thăng Long như một sự thất thế một nỗi cảm thương. Sáu năm sống ở Tiên Điền có khi ông ngồi lặng bên bến Giang Đình nhớ quá khứ vàng son nhắc lại chuyện khi ông mới sáu tuổi theo cha từ Thăng Long về quê nghỉ hưu cập bến này:

Về hưu ngày ấy cha ta

Xe bồ ngựa tứ đã qua bến này

Thuyền kích nước tựa rồng quây

Lọng như hạc báo điềm hay giữa trời...

Nhưng đó là quá khư gần ba mươi năm trước còn hiện tại thật đáng buồn ông buồn cho mình và buồn cho đổi thay của Thăng Long:

Từ khi xiêm áo hết thời

Khói trên ngọn cỏ ngậm ngùi bờ sông

Trăm năm bao chuyện đau lòng

Tràng An ngày trước nay không còn gì.

(Giang Đình hữu cảm)

Đó là ông nói về Thăng Long dưới thời Tây Sơn còn khi Gia Long lên ngôi kinh đô chuyển vào Phú Xuân Thăng Long đâu còn như xưa nữa ngay ý nghĩa hai chữ Thăng Long cũng đã đổi khác: thịnh vượng chứ không phải rồng bay. Trong thời gian làm quan cho nhà Nguyễn ở Phú Xuân ở bài "Ngẫu hứng" Nguyễn Du viết:

Hữu nhất nhân yên lương khả ai

Phá y tàn lạp sắc như hôi

Tỵ nhân đản mịch đạo bàng tẩu

Tri thị Thăng Long thành lý lai.

Dịch thơ:

Ai kia trông đáng thương thay

Nón cời áo rách mặt mày tái xanh

Tránh người vệ cỏ bước dành

Chắc là mới đến từ thành Thăng Long.

ở Huế thấy một người thất thế rách rưới đáng thương đi đường thì dạt vào vệ cỏ tránh người Nguyễn Du đoán người ấy từ Thăng Long mới vào chứng tỏ trong ý nghĩ của đại thi hào thời ông làm quan cho nhà Nguyễn thì Thăng Long biểu tượng cho sự thất thế đáng thương.

Và đúng thế thật khi Gia Long lên ngôi chuyển kinh đô vào Phú Xuân ông cho xây dựng thay đổi diện mạo Thăng Long mà năm 1813 trên đường đi sứ Trung Quốc Nguyễn Du đã ghé thăm và ghi nhận:

Thành quách suy di nhân sự cải

Kỷ xứ tang điền biến thương hải

(Thành quách đổi dời việc người cũng khác bao nhiêu nương dâu đã thành bãi biển)

Và cũng trong dịp này Nguyễn Du sáng tác bài thơ Thăng Long một tác phẩm thể hiện rõ tình yêu và sự nuối tiếc của nhà thơ đối với kinh đô cũ. Bài thơ mở đầu:

Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long

Núi Tản sông Lô bao nhiêu năm vẫn thế. Đầu bạc rồi mà còn được thấy Thăng Long. ở đây không phải tác giả than vãn vì gặp lại Thăng Long quá muộn khi mái đầu đã bạc mà ngược lại tác giả tỏ rõ nỗi mừng một sự may mắn được thấy lại Thăng Long vì bao nhiêu năm nghĩ rằng cơ hội đó không còn nữa. Như trên đã nói Nguyễn Du dời Thăng Long năm 1786 để về quê vợ Thái Bình khoảng năm 1793 nhà thơ có lên thăm người anh ở bên hồ Giám. Như vậy là đã hai mươi năm ông không có dịp thăm Thăng Long kể cả năm 1802 ra làm quan cho Gia Long được nhậm chức tri huyện Phù Dung (Khoái Châu) và tri phủ Thường Tín và mùa đông năm 1803 được cử đi tiếp sứ nhà Thanh ở Lạng Sơn. Thế thì thời gian làm quan ở Phú Xuân và Quảng Bình làm sao ông còn hy vọng gặp lại Thăng Long nữa nếu như năm 1813 không có dịp được triều đình cử đi sứ Trung Quốc và được Tuyên phủ Thăng Long mở tiệc tiễn. Đối với Nguyễn Du bữa tiệc tiễn đó càng thêm buồn vì gặp lại người đánh đàn ngày xưa làm ông "bồi hồi không yên ngửng lên cúi xuống ngậm ngùi cho cảnh xưa nay...". Bên cạnh nỗi buồn cho sự đổi thay thời thế buồn cho kiếp người ông còn buồn vì sự thay đổi của bản thân Thăng Long:

Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến tân thành một cố cung

(Những ngôi nhà đồ sộ nghìn xưa thành đường cái. Dải thành mới làm mất dấu vết cung điện xưa). "Tân thành" tức thành mới mà Nguyễn Du nhắc tới chính cái thành mà Gia Long cho xây vào năm 1805 nhỏ hơn thành cũ và nằm ngay chỗ cung điện thời nhà Lê. Đó là đổi thay của vật thể còn văn hoá phi vật thể thì: "Quản huyền nhất biến tạp tân thanh" nghĩa là tiếng sáo tiếng đàn cũng khác có nhiều âm thanh mới pha tạp". Với các từ "một cố cung" và "tạp tân thanh" thể hiện thái độ của Nguyễn Du luyến tiếc những cái Thăng Long vốn có từ xưa những thứ ông đã lưu giữ trong ký ức từ thời trai trẻ và không muốn chấp nhận cái mới do thời Gia Long mang lại.

Nguyễn Du sinh ra lớn lên ở Thăng Long tiếp nhận nền văn hóa Thăng Long đồng thời ngôn ngữ kinh đô ngôn ngữ phổ thông thấm đẫm trong tiềm thức của ông chứ không phải là văn hóa ngôn ngữ của riêng một vùng miền nào. Theo tôi nhận định này hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu các tác phẩm của đại thi hào đồng thời góp phần cho phép chúng ta loại bỏ những tác phẩm vốn không phải của Nguyễn Du mà một thời đã ngộ nhận. Cách đây ba năm tôi có công bố bài nghiên cứu nhan đề "Nguyễn Du không như thế" để chứng minh rằng "Văn tế sống hai o gái Trường Lưu" là không phải của Nguyễn Du. Lập luận của tôi tóm tắt như sau:

- Văn tế sống hai o gái Trường Lưu xa lạ với lòng nhân ái và văn phong của Nguyễn Du.

- Cách dùng từ địa phương xa lạ với Nguyễn Du.

- Không có thời điểm nào để Nguyễn Du viết bài văn tế đó...

Trong bài viết về mối quan hệ của kinh đô Thăng Long với Nguyễn Du này tôi muốn nhắc lại một số ý trong luận điểm thứ hai tức là cách dùng tiếng địa phương trong Văn tế sống hai o gái Trường Lưu xa lạ với Nguyễn Du một người tuy quê ở Hà Tĩnh nhưng sinh ra lớn lên đi học ở Thăng Long. Nguyễn Du tuy có biết tiếng địa phương Nghệ Tĩnh nhưng sử dụng theo cách của người hàng ngày dùng tiếng phổ thông chỉ điểm xuyết vào tác phẩm của mình một đôi tiếng địa phương khi thật cần thiết. Điều này đã thể hiện khá rõ trong những tác phẩm của ông. Truyện Kiều dài 3254 câu nhưng tiếng địa phương chỉ sử dụng dăm lần . "Văn tế thập loại chúng sinh" dài 184 câu mà hầu như không có tiếng địa phương nào. "Thác lới trai phường nón" là Nguyễn Du mượn lời các chàng trai phường nón Tiên Điền để tỏ tình với các cô gái Trường Lưu thế mà tiếng địa phương cũng chỉ vài ba từ. Còn "Văn tế sống hai o gái Trường Lưu" thì tiếng địa phương nhan nhản thiếu chọn lọc làm cho ngay những người quê Nghệ Tĩnh đọc cũng khó chịu nói chi người các địa phương khác. Những câu như: "Thương chắc nỏ lấy được chắc làng nước hục hặc nỏ lấy được chắc chúng bạn ta như nghé sổ ràn..." thừa tiếng Nghệ mà thiếu chất văn xuất hiện khắp nơi trong bài văn tế này. Với tài năng bẩm sinh của mình lại được sinh ra và lớn lên ở Thăng Long Nguyễn Du ý thức được mình là nhà thơ của cả nước thậm chí của nhân loại nên không bao giờ dùng từ ngữ như thế để kéo mình là một trong năm nhà thơ lớn nhất lúc bấy giờ (An Nam ngũ tuyệt) về trình độ câu lạc bộ thơ phường xã! Đây không thể là văn của đại thi hào một người bậc thầy về nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Ngôn ngữ của bài văn tế này chứng tỏ tác giả của nó khi viết bài văn này là người chưa có dịp bước ra khỏi vùng quê Nghệ Tĩnh chứ nhất thiết không phải của Nguyễn Du một người sinh ra và lớn lên ở Thăng Long.

Với lòng ngưỡng mộ Đại thi hào Nguyễn Du tôi muốn được các nhà Nguyễn Du học đặc biệt là các giáo sư từng nghiên cứu phong cách và thi pháp của Nguyễn Du lưu tâm vấn đề này để sớm có kết luận chính thức giải thoát cho Nguyễn Du khỏi phải đứng tên một tác phẩm thiếu chất nhân văn nghệ thuật xoàng xĩnh xa lạ với với văn phong của Đại thi hào.

                                                      Tháng 9 - 2010

                                                             V.T



 

ĐỘC ĐÁO "LỤC BÁT MÓN QUÊ"


                                    NGUYỄN HỮU NGÔN



         Những năm về trước Thanh Hóa có một Nguyễn Duy giỏi thơ hay chữ thực hiện một phát kiến kỳ lạ triển lãm thơ trên gương mặt quê là những nong nia thúng mủng dần sàng đã đem lại sự tò mò gây xôn xao trong giới văn nghệ sỹ cả nước. Giờ có thêm một Mai Linh quyết định trộn lục bát với món quê xem chừng độc đáo đến nghi ngờ. Anh là nhà thơ yêu hội họa và kiến trúc có nhạc có họa trong thơ là một nhẽ đằng này lại là trộn lục bát với thơ.

Gác lại chuyện của ý tưởng của sự táo bạo để mở lòng nghe anh tâm sự:

Lục nồi bưng bát cơm thơm

câu thơ lục bát khói rơm bơ phờ

mẹ đi từ ấy đến giờ

con sông vẫn chở con đò ấy thôi

Buồn thiu xó bếp mồ côi

cau vườn vỗ cánh bên trời bơ vơ

vẫn là nắng sớm chiều mưa

món ăn muôn thuở canh dưa với cà

Ngậm ngùi lục bát quê ta

cháo rau má vẫn gọi là món quê.

(Lục bát và món quê)

Mở màn của anh thật hóm và thật duyên hút ta vào chiều sâu của những liên tưởng nghĩ suy. Tiếp cái đà văn chương "độc chiêu" ấy anh đem đến cho người đọc tự cảm về vẻ đẹp rất riêng của xứ Thanh và cái ân tình sâu thẳm về quê hương về mẹ qua bài Rau má về quê:

Ngày mai rau má về quê

đêm mai một khúc sông quê ơ hờ

Hai bờ cúc đắng thẩn thơ

trăng nhoi nhói trôi lững lờ đáy sâu

mẹ ta giờ đã ở đâu

tóc còn xanh lại như màu cỏ xanh

Vẫn là mái lá nhà tranh

run run bước mẹ mảnh sành cũng đau

con dâng một lễ trầu cau

mẹ đi thanh thản qua cầu khói sương

Trong veo ngồi khóc nỗi buồn

trắng đêm tóc trắng đang vương sang ngày.

Người đọc bắt đầu thấy yêu và mê cái giọng chân chất tự nhiên dung dị ấm áp tình quê của anh. Nét chủ đạo trong bút pháp thể hiện là lục bát với những biến tấu sinh động và tài hoa trong dùng chữ đặt câu. Một đám cưới quê đời mới ăn uống linh đình nhạc ồn ã xập xình được anh tải bằng lục bát vui tươi mà sâu sắc:

Vẫn là mâm sáu bưng ra

nhạc tóa lóa cứ như là... nhạc tây

Rượu quê uống mãi không say

vui túy lúy thơ lung lay cả vần

...

Thuốc lào súc miệng chè tươi

cắm tăm không đổ để người nhớ nhau.

(Cưới quê)

Bữa cơm thời thiên tai lũ lụt được anh khắc họa thật rõ nét làm nhói đau lòng người:

Tôi đi chống lụt bằng thơ

quê tôi giờ đã bơ thờ trống không

cánh đồng chan với mênh mông

bát cơm chan với dòng sông không bờ.

(Thơ lụt)

Anh giữ sự nhất nguyên bằng mười tám bài thơ lục bát và găm lại trong trí nhớ người đọc ở sự chọn lựa đề tài cách cấu tứ và sự kết bài có sức nặng của tư duy: Bài Không đề 4 anh kết:

Giao thừa có phải là đêm

Mà sao trắng muốt cả miền chiêm bao.

(Không đề 4)

Bài Rau má về quê câu kết không chỉ là kết mà còn mở ra về phía liên tưởng không cùng:

Trong veo ngồi khóc nỗi buồn

Trắng đêm tóc trắng đang vương sang ngày.

(Rau má về quê)

Chất quê hồn quê không chỉ trong bút pháp mà lồ lộ trong đề tài câu chữ trong hình ảnh. Một loạt bài đều được anh đề tựa: Lục bát và món quê Rau má về quê Cưới quê Tranh quê. Không như ai ngoảnh mặt và chối bỏ quê hương. Anh nặng lòng yêu và cứ trăn trở hoài về quê ngong ngóng mỏi mong trở về dù chỉ là một tiếng hay nửa ngày. Cứ xa xót cho quê nghèo cứ ôm mãi hoài niệm về quê xưa buồn lo về sự đổi thay cực đoan: quê lên phố về việc bê tông hóa nhà tứ trụ nhà gỗ về nhạc xập xình thay cho đàn bầu sáo nhị ca trù...

Độc đáo nhất của Lục bát và món quê là chùm thơ anh viết về mưa về lũ lụt ở đất thần kinh: Mưa lục bát Trú Phù sa phố Thơ lụt Tắc đường. Mỗi bài là một góc nhìn một bức tranh nhiều gam màu lắm đường nét về lũ lụt về hành xử của con người với thiên nhiên và với chính mình.

Mưa lục bát mở màn cho các bài viết về lũ lụt nghe đã mùi mẫn đến lạ:

Thương cho câu sáu trời mù

tủi cho câu tám âm u cõi lòng

(Mưa lục bát)

Thương và tủi phải chăng vì:

Bây giờ ngồi với trời ơi

Em xa cách cả một thời tóc xanh...

Hay vì nỗi buồn thời xa vắng ở chốn quê xưa:

Thu lu lục bát giọt gianh

Sáu cộng tám lại gieo thành... cơn mưa.

(Mưa lục bát)

Mưa ở phố lớn Hà Nội thủ đô ngập trong lụt anh phải bươn bả đi chống lụt và chạy lụt "nhằm ngày ba mốt lúc vừa hết thu" (31-10-2008) mà tâm tưởng lại giành cho quê thế mới hay quê hương đã ở trong huyết quản trong máu của anh. Bài Trú là bài thơ dễ yêu mượt mà hơn cả. Mưa lớn bất chợt không phòng bị thì đành phải trú thôi cái thật cái vô tình được thể hiện rất đáng yêu dễ cảm thông:

Đùng đùng bão táp mưa sa

mặt ta lại giống mặt nhà Khâm Thiên

chạy về như dại như điên

lao như cầu cứu... hóa quên đường về.

(Trú)

Người xưa nói: "Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách" (Mưa không then khóa khéo giữ khách) thi sỹ bị dính mưa và bị dính luôn "người dưng" bởi vẻ đẹp khó bỏ qua:

bỗng nhiên hắt khẽ lên rằm

bàn tay mưa với búp măng dịu dàng

để rồi một cơn mưa lòng cứ dội mãi những tơ vương không cùng cho đáng đời kẻ hữu duyên đa tình:

người bên cạnh... đã xa rồi

lòng ướt sũng một tiếng còi sân ga.

...

Mưa từ mưa ấy mưa sang

ngớt cơn vuốt mặt hoang mang đường về.

ở ga Hàng Cỏ nơi của tiễn biệt chia ly của sự đi về hoang mang là đúng thôi chưa nói đến bóng hồng sét đánh với vóc dáng ngón tay búp măng nõn nà dường kia đã trút trận "mưa ấy" vào "đời mình". Thi sỹ đã nói được tâm trạng của kẻ đang yêu tập yêu. Cơn mưa ngâu trong truyền thuyết cũng tìm được lối về điệu đà trong thơ anh:

Giật mình sắp đến tháng ngâu

hạt mưa chợt ngã trên tàu lá sen.

(Không đề 1)

Nỗi niềm sau tai ương lụt lội cứ nhoi nhói rưng rưng. Thi sỹ đi chống lụt bằng thơ anh muốn nói về nỗi lo nhân thế niềm canh cánh về số phận yếu mềm của những sinh linh những kẻ khốn khó ở quê ở những vùng rốn lũ bao nhiêu của nả và cả những cơ sự mưu sinh giờ trắng tay:

Trâu bò trôi sạch còn đâu

Lúa lang cùng với hoa màu trắng phơ

Thân cò trắng xóa giấc mơ

mẹ tôi trắng xóa những chờ những mong.

Nghe có gì cay cay nơi sống mũi có gì ngân ngấn mằn mặn nơi khóe mắt:

Thế rồi sầm sập mùa đông

Gió hun hút lại lùa trong bụng người

thế rồi lạnh lẽo sao trời

lại rơm rớm nước mắt người đói ăn

"Gió hun hút lại lùa trong bụng người" anh lo cho cái đói réo rắt với kẻ quê và hoảng sợ khi mường tượng ra cái chợ nhân công trước chợ Đồng Xuân rặt những kẻ quê trực chờ bán sức kiếm cơm áo gạo tiền nuôi con ăn học vượt đói thoát nghèo:

Thế rồi trước chợ Đồng Xuân

Quê đem bán cái bần thần chết trôi.

Thật chân trọng cho tấm chân tình của kẻ sỹ nỗi lo sự cảnh báo thấm đẫm tình người.

Thật "khí không phải" khi nói thơ anh trăm câu hay cả trăm anh quá say khát yêu và cả lo đôi khi đến vụng về thô kệnh khó tránh:

Nhà trai khí thế dần dần

họ nhà gái lại phân vân nỗi gì.

(Cưới quê)

Viết về Lục bát và món quê không thể không nói tới một thành công của anh khi viết về món quê. Lục bát êm ái mượt mà dồi dào cảm xúc với những khoảng trời bình yên thơ mộng với không gian gần gũi thiêng liêng ngập tràn nắng và gió. Anh đem món quê đặt bên tạo nên bức tranh hài hòa trong một tổng phổ dậy âm thanh màu sắc và cả đường nét quyến rũ đắm say cho độc giả "bữa tiệc" ngôn từ và mùi vị giàu chất Việt hồn Việt anh không lên gân sống sượng khi nói là quốc hồn quốc túy. Cái giỏi là không để chênh để vấp. Lục bát và món quê cùng một phong cách. Thơ kết tinh của văn xuôi và văn xuôi giàu chất thơ. Viết về bánh cuốn thứ ẩm thực bình dân đã găm "dai dẳng trí nhớ đến tận bây giờ" bằng hình ảnh đến sờ nắm được:

Một thứ mỏng như áo lụa con gái xuân thì khêu gợi cái bên trong hồng hồng màu của tôm pha lẫn với thịt băm mục nhĩ hành hoa hành khô và bánh cuốn dịu dàng ấy ai nhìn mà "chịu được" (Bánh cuốn còn ngon đến tận bây giờ). Khi ăn món quê khoái khẩu anh viết: Ăn cháo lươn một mình chẳng khác nào uống rượu một mình. Khói cay hít hà xuýt xoa chúi mặt chúi mũi mồ hôi vã ra nhơm nhớp mới là xứng với cháo. Ăn cháo lươn là chạy đua với tốc độ chứ đừng e dè kiêng nể gì (Kỳ vị của cháo lươn). Anh ăn và muốn nói rằng "Học ăn học nói học gói học mở" là vậy. Bài Chả tôm ngon thế là gì anh viết mà như vẽ như ghi hình bằng công nghệ 3D: Lạ kỳ trong cái mớ hỗn hợp của rau của xanh cái miếng chả tôm vẫn không khuất lấp. Nó là nhân là trung tâm nghiễm nhiên được tôn vinh như ông hoàng bà chúa. Nó sực nức trong xiêm áo "mớ dăm mớ bảy" của rau diếp hành tươi mùi tàu húng dổi tỏi cọng và bình tĩnh dầm mình trong chua cay mặn ngọt của thứ nước mắm pha chế kỳ công. Rõ là người có tài nấu nướng kẻ có tài ngợi khen không "nhập gia" không lành nghề không sắc sảo đố mà biết được. Rắn bọc đất sét không hiểu ngon và bổ đến như thế nào nhưng nghe anh tả nếu có điều kiện cũng chấp nhận tốn kém cho thỏa cho "đã đời". "Rắn bọc đất sét là chặt ra nhiều khúc ngâm tẩm gia vị ớt tiêu hành tỏi nước mắm ngon chừng 30 phút. Dùng đất sét dẻo gói từng khúc rắn lại "hỏa thiêu" trên than hoa đến độ đất sét thâm bầm lại như củ khoai lang nướng là rắn trong ruột đã chín tới. Bóc lớp đất sét ra lồ lộ những khúc thịt rắn trắng đùng đục như màu củ sắn mà lại nục nạc như thịt gà đồng.

Nước mắm chanh ớt cay xè tiễn rắn lên tiên. Nó múa trong lục phủ ngũ tạng và múa đến đâu ngọt thơm tỏa ra đến đấy. (Nhu lực ẩm thực).

Nhà thơ Mai Linh đã làm được cái việc thẩm bình về văn hóa ẩm thực Việt và đã làm trọn được cái việc độc đáo trong văn chương khi quyết định trộn thơ lục bát vào món quê mà anh thưa với độc giả trong bài tựa Giải thích: Thơ lục bát và món quê đều là món. Một món tinh thần một món vật chất. Cộng lại là quê hương. Trừ kẻ vô đạo không ai xa quê cả. Không có người lìa quê vì dù có đi xa về địa lý nhưng thực ra con người vẫn chôn chân trên bản địa văn hóa của quê mình bằng thẩm thấu thi ca và thưởng thức các món ăn. Thơ và văn xuôi "làm anh em" cũng có lý khi đều hướng về quê mẹ.

                                                               N.H.N

More...