TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THANH THẢN


 

Người thầy trường quê



Truyện ngắn


      Tôi đã có ý định từ lâu là sẽ cố một lần kéo hắn về thăm thầy dù chỉ lấy một lần. Vậy mà mấy năm rồi. Cũng có mấy lần đụng hắn nhưng toàn gặp ở nhà hàng khách sạn khi hắn đang phừng phừng bia rượu nên không tiện nói. Mà hắn lúc nào cũng kêu không có thời gian. Tôi biết hắn cố tình lẩn tránh thầy. Một lần tôi gắng đợi hắn xong tiệc mới gặp và nói được ý định ấy. Nghe xong hắn nhăn mặt bĩu môi

- Thầy bà gì... thầy của các cậu chứ thầy đếch gì của tớ... Tớ còn hận ông ấy suốt đời là đằng khác...

Hắn nói rồi quay đi. Nhưng mới được vài bước hắn đã quay lại ghé sát vào tai tôi nói:

- Nhiều lần về quê gặp ông ta tớ còn lánh mặt đi ấy... chứ nói gì...

Tôi giận sôi ruột gan nhưng không thèm nói gì nữa.

Từ ngày có chút chức sắc trông hắn béo tốt phì nhiêu hẳn ra miệng lúc nào cũng phì phèo điếu "ba số" đi đứng thì khệnh khạng ra dáng một "sếp" rồi. Các em trẻ măng hơn hớn thì luôn quấn quýt xung quanh...

Trước hắn làm kỹ sư ở một công ty xây dựng nhỏ. Giờ hắn đã là giám đốc thay cho ông giám đốc già năng lực có hạn về hưu. Gặp thời mở cửa nhà nước tư nhân xây dựng nhiều công ty hắn mới phất lên trúng nhiều "quả đậm". Giờ hắn rất oai sang trọng. Một bước xe hai bước xe. Xe con đời mới bóng loáng. Trụ sở cũng nguy nga đường bệ chẳng kém gì một công sở lớn của tỉnh. Tiền của thì đến là rung rinh...

Tôi với hắn học với nhau suốt thời cấp 1 cấp 2 trường xã. Đến lớp sáu lớp bẩy thì được thầy Nghĩa chủ nhiệm. Nhưng hắn lười học thích quậy phá học rất kém. Mẹ hắn thì sức yếu bệnh tật luôn. Cảnh nhà một mẹ một con hoàn cảnh nhất nhì trong làng. Bố hắn hy sinh trong trận chiến đấu đầu năm 1953 khi hắn còn bế ngửa.

Thầy Nghĩa là một người rất mực thương yêu học sinh. Thầy chăm lo cho học sinh rất tận tình chu đáo. Nhiều lần thầy bỏ tiền lương của mình ra mua sách vở hoặc khăn áo chống rét cho những trò khó khăn. Thầy luôn dành những ngày nghỉ để "bồi dưỡng" cho học sinh kém mà không hề nhận của trò dù một lạng đường cân quả. Thầy rất hiền luôn thân tình hòa nhã với học sinh. Vậy mà đối với Tự (tên hắn) thầy lại rất nghiêm khắc chặt chẽ. Thầy luôn bắt Tự ngồi hàng đầu để theo dõi giám sát. Cu cậu đến nghịch ngầm cũng không được nên hậm hực lắm. Có bài chính tả thầy bắt hắn chép đi chép lại đến hàng chục lần vừa là để luyện chữ vừa là để nhớ lỗi chính tả. Thầy còn cho hắn nhiều bài tập về nhà làm hơn các bạn trong lớp. Giờ của thầy hắn luôn bị gọi lên bảng phát biểu hoặc trả lời câu hỏi. Chủ nhật thầy còn bắt hắn cắp sách vở đến nhà thầy học. Thầy vừa ngồi soạn bài chấm bài vừa trông chừng hắn học. Sau này có lần gặp tôi nhắc đến những ngày ấy hắn bảo "ông ấy ghét tớ thù tớ mới hành tớ như vậy". Tôi bảo "thầy với cậu có gì mà bảo thù?... hơn nữa thầy là người lớn cậu trẻ con ai chấp gì...". "Tại tớ lười học hay gây gổ đánh nhau làm mất thành tích của lớp mất sự tiến bộ của ông ấy chứ sao...". "Hừ làm gì có chuyện ấy...". Tôi nói vậy mà hắn vẫn cứ cho là thầy ghét mình...

Một lần hắn cãi nhau đánh bạn sưng mặt mày trong giờ ra chơi. Thầy Nghĩa bắt phạt khoanh tay đứng trước lớp suốt tiết học về nhà lại bị mẹ và chú mắng cho một trận té tát thế là hôm sau hắn bỏ nhà đi biệt. Mẹ Tự đến nhà thầy khóc lóc. Thầy bảo "Chị cứ yên tâm... nó chẳng có gan bỏ đi xa đâu...".

Đúng như lời thầy Nghĩa hắn chỉ lên thị xã cách nhà mươi cây số. Ngày thì ngoài đầu phố cuối chợ xin ăn từng chút bánh thừa và uống nước sông. Tối chui rúc quán xá lều chợ. Một chiều hắn đang ngồi trước một cửa hàng ăn nhỏ thì có một ông cán bộ chừng tuổi thầy Nghĩa đi đến. Ông cán bộ ghé ngồi xuống bên hắn bắt chuyện. Hắn cúi mặt im lặng. Ông cán bộ xích lại gần đặt tay lên vai hắn thân tình bảo:

- Tuổi cháu mà bỏ nhà đi thì biết sống làm sao. Thôi về nhà bác... Bác là cán bộ ở Ty Giáo dục nhà rộng rãi lại có hai chị lớn... các chị ấy cũng thích có em trai lắm...

Hắn rơm rớm nước mắt. Khi ngước nhìn trời thấy như sắp có mưa giông hắn mới nhìn ông như nhìn một vị cứu tinh. Thế là ông cán bộ nọ kéo tuột nó về nhà.

Ông cán bộ ấy tên là Hạnh. Ông bà Hạnh nuôi nó cho ăn cho mặc tử tế còn cho học tiếp lớp bẩy một trường gần đấy. Ông bà còn nhận hắn làm con nuôi. Mấy năm sau mẹ hắn ốm rồi mất vì bệnh trọng hắn ở luôn nhà bố mẹ nuôi chứ không chịu về với chú bác ở quê nữa.

Sau này lần nào gặp tôi hắn hết lời khen ông bà mẹ nuôi bao nhiêu thì lại giằn giọng trách thầy Nghĩa bấy nhiêu:

- Cũng là thầy giáo mà sao có người tốt thế... còn như ông giáo kia... thì nói cậu bỏ quá... tớ còn hận suốt đời ấy... cứ như ông ấy thì đời tớ chẳng ngẩng mặt lên được...

Tôi bảo:

- Chẳng có thầy giáo cô giáo nào lại thù ghét học sinh đâu...

- Thì đấy... cậu cũng là nhà giáo nên chỉ hay bênh cho giáo giới các cậu thôi...

*

Tôi vẫn cố thuyết phục hắn. Chờ mãi mới lại được một lần gặp hắn trong khách sạn tôi liền nắm tay bảo:

- Cậu cứ về thăm thầy lấy một lần xem sao... Thầy bây giờ tuổi đã cao sức đã yếu hai mắt lại mờ hẳn rồi chẳng nhìn thầy gì chẳng biết ai đâu. Cậu cứ im lặng làm như một người bạn đi cùng tớ tiện ghé vào thôi kẻo khi thầy ra đi... lại không kịp ân hận đâu... Tớ tin là thầy vẫn nhớ vẫn thương cậu lắm...

Nghe tôi nói đến thế hắn mới ậm ừ gật đầu một cách miễn cưỡng nhưng lại còn dặn "nhưng... đừng để lộ cái mặt tớ ra trước ông ấy đấy...". Tôi đồng ý và hẹn với hắn là về thăm thầy chỉ đi xe máy thôi... đừng đi ô tô. Thầy không muốn lấy oai với dân làng là có nhiều học sinh giờ làm to... Hắn đồng ý.

Thế rồi một sáng chủ nhật hắn đến nhà tôi trên thị xã cùng phóng xe máy về quê thăm thầy. Nhà thầy ở cuối làng. Một ngôi nhà ngói năm gian mới dựng. Các con thầy đều đã thành đạt có nhà trên Hà Nội trên thị xã cả. Hai vợ chồng thầy ở nhà thỉnh thoảng con cháu về thăm.

Đến nơi chúng tôi tắt máy từ ngoài cổng dắt xe vào. Vào tới sân tôi thấy thầy ngồi bên bàn trước mặt là một cái đài nhỏ. Thầy ngồi đó mái tóc chòm râu bạc phơ phơ trông cứ như một ông tiên. Da dẻ thầy vẫn hồng hào đẹp lão nhưng thầy đã già quá gầy quá rồi. Đôi mắt hõm lại mờ đục. Hai lưỡng quyền nhô cao. Trông thầy thương quá. Tôi những muốn nhào đến với thầy như nhào đến với một người cha. Thầy đang chăm chú nghe đài. Đôi mắt thầy thì vẫn hướng ra sân mà như chẳng thầy gì. Đến khi tôi lên tiếng "chào thầy ạ!". Thầy mới vui hẳn lên và khẽ hỏi:

- Ai đấy?...

- Dạ chúng em... học trò cũ về thăm thầy đây ạ!

- Tuấn phải không... với ai nữa?

- Dạ vâng ạ... Thưa thầy có anh bạn em về làng chơi đi cùng với em tiện vào thăm thầy đấy ạ...

- ừ... ừ... quý hóa quý hóa... mời hai anh em vào uống nước.

- Dạ vâng ạ... Thế cô đi đâu ạ?...

- ờ... bà ấy nhà thầy sang làng bên ăn giỗ... anh em vào đi.

Tôi bỗng đưa mắt nhìn Tự như muốn nói "thầy tinh lắm" chỉ nghe tiếng thôi mà thầy đã nhận ra trò cũ ngay đấy... Chứng tỏ thầy còn rất nhớ trò...". Tự gật đầu thừa nhận rồi vui vẻ bước theo tôi vào nhà. Thấy tôi loạt soạt đặt gói quà lên bàn thầy lại nói luôn "Lần sau về đừng có quà cáp gì cho thầy nữa nhé... Thầy giờ có ăn uống được gì đâu...". "Dạ có chút hoa quả thăm thầy có gì đâu ạ!". Tôi nói rồi nhanh nhẹn đi tráng ấm pha trà...

Sáng ấy thầy trò chúng tôi nói chuyện rất lâu rất vui. Thầy hỏi tôi chuyện làm ăn chuyện con cái học hành tiến bộ ra sao và thầy cũng hỏi thăm hết học trò cũ ngày ấy cách nay đã hơn ba chục năm rồi. Bất thình lình thầy hỏi đến Tự làm Tự giật thót mình. Hắn như muốn toát mồ hôi hột vì sợ thầy nhận ra. Tôi thì vui mỉm cười lại như muốn nói "Đấy tớ bảo mà thầy có quên trò nào đâu...". Vẻ khó chịu nhưng Tự vẫn phải ngồi im nghe thầy nói và thỉnh thoảng chỉ vâng dạ đế theo tôi.

- Thầy rất mừng các anh chị giờ đã tiến bộ thành đạt cả... Nhiều anh chị bận thế mà vẫn về thăm thầy luôn... Chỉ có Tự chưa thấy về lần nào. Thầy cũng còn có chuyện muốn nói với cậu ấy. Sợ rằng đến lúc thầy ra đi mà vẫn chưa nói được... thì cũng tiếc...

Sau đấy thầy kể với chúng tôi khá tỷ mỉ. Qua câu chuyện của thầy chúng tôi mới biết. Ngày xưa thầy và bố Tự là một đôi bạn đồng đội chí cốt ở lính Đại đoàn Đồng Bằng (tức là sư đoàn 320). Trước hôm đánh trận đầu năm 1953 mấy ngày không biết anh ấy linh cảm thế nào mà lại nắm chặt tay thầy ngậm ngùi nói: "Vợ tớ mới đẻ thằng cu rất bụ bẫm... thương con nhớ vợ quá... Lần này ra trận nói dại nếu tớ có thế nào sau này nếu cậu còn... cậu hãy quan tâm đến vợ con tớ nhé. Xin cậu hãy coi nó như con mình mà dạy dỗ chăm nom nên người giúp tớ... Tớ gửi cậu đấy...". Trận ấy anh hy sinh. Đến dạo thầy chủ nhiệm lớp sáu lớp bẩy chúng tôi ấy không ngờ thầy ráo riết kèm cặp nghiêm khắc dạy dỗ mong cho hắn ngoan ngoãn học hành tiến bộ thì lại đâm ghét thầy. Đến lần hắn bỏ nhà đi ấy thầy phải mất mấy ngày cứ sáng lên lớp chiều lại phải cuốc bộ lên thị xã tìm (ngày ấy thầy chưa có xe đạp). Ngày thứ ba thì thấy hắn ngồi trước quán hàng nhỏ ấy... thầy mới liền tìm đến nhà thầy Hạnh một bạn rất thân của thầy hồi học sư phạm. Thầy kể về hắn và nhờ ông bà ấy đưa nó về chăm nuôi hắn ít bữa. Không ngờ ông bà ấy lại quý mến hắn giữ luôn ở lại làm con nuôi lo cho cơm ăn áo mặc cho học hành đầy đủ như con đẻ vậy. Sau khi mẹ mất thì nó ở luôn trên ông bà bố mẹ nuôi chứ không thì thầy cũng đưa nó về nuôi. Hắn còn được ông bà Hạnh lo cho đi học đại học. Khi ra công tác hắn còn được ông bà ấy lo cưới vợ cho nữa. Số hắn còn là may lắm...

Khi thầy dừng nghỉ hơi hấp ngụm nước sấp giọng thì tôi thấy Tự cúi gằm mặt xuống. Thỉnh thoảng anh mới khẽ giơ tay lên lau nước mắt rồi nhìn thầy nửa như muốn nghe tiếp nửa như muốn chạy tuột ra sân mà đứng khóc khóc phải nén từng cơn tấm tức. Tôi biết anh đang vật vã ân hận lắm.

Một lúc sau thầy lại nói thêm với tôi:

- Còn điều này thầy chỉ muốn nói riêng với anh... Chứ nếu có gặp lại cậu ấy thì thầy chả nói đâu. Nói lại sợ như mình kể công...

Chuyện thầy kể tiếp là suốt thời gian Tự học ở nhà thầy vẫn luôn dành dụm bớt chút tiền lương đóng học phí và các khoản đóng góp với nhà trường cho Tự. Nhiều lần thầy còn đưa tiền cho mẹ cậu ấy mua sắm sách vở quần áo cho con. Dạo Tự ở trên nhà bố mẹ nuôi thì vài ba tháng thầy lại bớt chút tiền lương mang lên cho ông bà Hạnh nuôi hắn mà thầy lại bảo là tiền của mẹ Tự gửi cho con. Thế mà thầy chẳng hề nói với ai cả mẹ Tự cũng không hề hay biết vì sợ mọi người hiểu lầm. Ngày ấy mẹ Tự còn trẻ lại khá xinh nữa. Vợ của bạn chí cốt đấy nhưng thầy vẫn e. Nhà giáo vốn thận trọng và suy nghĩ sâu sa. Đến những lần đưa tiền cho mẹ Tự thầy cũng phải nhờ cô em gái đưa đến và nói mãi mẹ Tự mới chịu nhận.

Những chuyện này lúc nhỏ ở nhà tôi cũng loáng thoáng được nghe nhưng chẳng rõ thực hư thế nào. Khi lớn lại đi học đi hành xa chẳng còn nhớ đến nữa. Mặt khác nếu có thế thì tôi lại cũng muốn để cho hắn được nghe chính thầy kể hắn mới tin.

Cuối cùng thầy đứng lên lần bước đến mở chiếc tủ lấy đưa ra cho tôi một cuốn sổ tay nhỏ bìa đã phai mầu giấy đã úa vàng bảo "Trong cuốn sổ này thầy còn ghi ngày giờ anh ấy (tức bố Tự) nói với thầy và những việc thầy nói với cậu ấy. Anh cầm về đọc... khi nào thầy không còn nữa thì hãy đưa cho cậu ấy xem... đừng đưa bây giờ...". Thế đấy thầy còn cao thượng vậy. Thầy không muốn bất kỳ một sự ơn huệ nào... Chắc thầy biết Tự bây giờ rất khá giả rồi...

Đến đấy thì tôi thấy Tự lặng lẽ đứng dậy bước ra sân. Có lẽ anh sợ không cầm lòng được lại khóc thành tiếng trước thầy mất.

Bữa ấy thầy giữ chúng tôi ở lại ăn cơm. Chúng tôi phải xin phép thầy mãi và hẹn lần sau thầy mới chịu để chúng tôi về.

Rồi chúng tôi chào từ biệt thầy.

Dắt xe đi một đoạn đã rất xa mà Tự vẫn chưa muốn lên xe nổ máy. Có lẽ lòng anh còn trĩu buồn và ân hận nữa. Bỗng anh dừng quay lại gạt nước mắt sụt sùi nói với tôi:

- Thật là... bất ngờ quá... bất ngờ quá... ba mươi mấy năm rồi... Rất cám ơn ông... không có ngày hôm nay về thăm thầy thì mình còn có lỗi với thầy đến bao giờ... thì chẳng bao giờ hiểu được thầy nữa... Tiếc rằng thầy đã già yếu quá rồi... Mình biết trả ơn thầy thế nào đây?... Bây giờ thầy có còn cần gì nữa đâu...

Tự giơ tay quệt ngang dòng nước mắt và nói nhanh một câu dứt khoát:

- Thôi ngay chủ nhật này... xin ông bớt chút thời gian lại đi với tôi về thăm thầy...

Tôi gật đầu và vui ra mặt vì thấy mình không uổng công đưa anh ta về thăm lại một người thầy dưới mái trường quê vô cùng kính mến ấy của chúng tôi.

                                                        T.T

ĐÀM QUỲNH NGỌC


 

Cửa trước cửa sau


 

Truyện ngắn



      Đây là lớp học tại chức tập trung cũng không biết tên gọi lớp này là gì cho phải... đạo có nhiều môn học về kinh tế xã hội học dồn dập nên có vẻ tạp pí lù. Học viên hầu như cao tuổi không cao tuổi sao được vì đã đánh đổi bao nhiêu năm tháng mới có được vị trí chức tước trong xã hội com lê cà vạt treo lủng lẳng cả ngày trên những cơ thể đang thời kỳ sung sức mặt mũi ngay đơ ít nhìn ngang ngửa khuôn mặt đã được uốn nắn nhiều nên bắt buộc chỉ nhìn về một hướng chăng? Bây giờ muốn thăng quan tiến chức nữa thì phải học tiếp học tiếp ở đây như là tăng... nhận thức cấp phối cho có vốn. Vốn là kiến thức bổ sung chồng chéo lên nhau là những gì mình chưa biết thiếu gì học nấy hay nói đúng hơn xã hội theo cơ chế thị trường cần gì thì thuê thầy dạy nấy để đối phó với thương trường thời kỳ hội nhập. Có lẽ vậy nên dần dà nhiều trường đại học dân lập ra đời ngày một nhiều hơn ở các trường đại học này hình thành các lớp tại chức là điều tất yếu để tồn tại với nhiều thành phần. Ngày đầu tiên tới lớp các khuôn mặt nghiêm trang như quan nghị chuẩn bị vào hội đồng bàn về nhân sự cho một đại hội. Trên bục giảng ngày mới khai trường thấy thầy cô tươi trẻ hào hứng đón học viên trong lòng phấn khởi nhưng vài tháng sau đội ngũ giảng viên chỉ dành cho người cao tuổi chuẩn bị về hưu tính nết thầy cô nghiêm trang như chào cờ khi bước vào giảng đường. Ban giáo vụ nhà trường cố tình sắp xếp lịch giảng như thế chăng? ở môn kinh tế ông thầy có mái tóc hoa râm hơi thâm thấp xâu xấu một tý thuyết giảng say sưa về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa học viên ngồi nghiêm túc... ngáp dài lấy tay che mặt hoặc che điện thoại để nhắn tin mặc dù thầy đã cảnh báo sẽ có thi vấn đáp. Ngồi ở bàn đầu sát bảng đen có gã học viên tuổi ngũ tuần học hàm tiến sỹ phó giáo sư cũng theo học lớp tại chức này (không biết học hàm của gã về vấn đề gì nhỉ?) được chỉ định làm lớp trưởng từ ngày đầu gã kêu oai oái như bò xít cắn rồi nhẹ nhàng dời chỗ ngồi xuống bàn dưới cùng của lớp hành động nhanh kín đáo như đánh du kích vậy. Thầy chủ nhiệm đành tìm người khác cuối cùng cũng có người đứng vào vị trí lớp trưởng đấy là gã phó giám đốc công ty sửa chữa ô tô ở tỉnh X mặt mũi còn non choẹt nom gã vui vẻ phấn khởi khi có chức danh này mãi sau mới biết tìm người làm lớp trưởng đã được thầy chủ nhiệm ấn định ngay từ ngày đầu mới tới trường khi đã rà soát kỹ danh sách của lớp. Nghe nói gã phó giám đốc đã đưa thầy chủ nhiệm đi chơi một đêm dẫn đến quyết định giới thiệu lớp trưởng. Đó là mối quan hệ đầu tiên của gã phó giám đốc khi tới trường. Động tác của thầy chủ nhiệm giới thiệu gã tiến sỹ làm lớp trưởng chỉ là động tác giả đã định trước của thầy. Quyền lực bây giờ nằm trong tay kẻ mạnh vì gạo bạo vì tiền ông cha mình nói có bao giờ sai giới tri thức nhiều chữ thật đấy nhưng yếu về kinh tế nói ai nghe! Trong một lần hóng chuyện mới ngộ ra quan điểm chính kiến của thầy trong việc chọn người lãnh đạo quản lý lớp.

Hạnh ngồi cùng bàn cuối lớp với gã tiến sỹ gã luôn đi sớm về muộn ngồi đúng vị trí của mình không bao giờ sai không cần hỏi han người cùng bàn. Đã thế Hạnh cũng không thèm ngó mắt qua phân cách bàn học ghế ngồi nơi giảng đường với gã. Trong giờ học gã ngồi ngay ngắn không nhúc nhích mắt đeo kính cận hai tay chống cằm xòe cả bàn tay che mặt. Hạnh nghĩ gã là kẻ nghiêm túc học hành nhưng có vẻ hơi kiêu. Gã không nghiêng ngó ít nhắn tin điện thoại trong giờ học. Nhưng dần dà Hạnh chợt nhận ra không phải như vậy trong tiết học môn văn hóa phát triển thầy giáo tuổi cao tác phong nhanh nhẹn nom như Tôn Ngộ Không đã đi về cuối lớp và hỏi gã tiến sỹ về bản chất của văn hóa là gì? Gã lúng túng xin lỗi thầy vì hơi lảng không tập trung nghe giảng bởi đang mải nghĩ tới việc gia đình. Sau đó gã thanh minh với Hạnh tại vì buồn ngủ quá. Hôm nào cũng ngồi im lặng như thế là đều ngủ cả à Hạnh hỏi. ừ tại vì sáng nào sư tử hà đông cũng gọi dậy sớm tập thể dục nên mệt quá. Hạnh ngạc nhiên tập thể dục cho khỏe chứ thể dục mệt hơn thì tập làm gì thà rằng ngủ thêm cho có ích. Gã cười tập thể dục có nhiều cách nhiều ý nghĩa chứ có phải chỉ có một ý nghĩa thông thường như nhà trường đã dạy đâu. Hạnh nghĩ ra và hơi đỏ mặt gã tiến sỹ cũng hóm hỉnh ra phết hai người thân nhau từ ngày đó thường xuyên buôn chuyện trong giờ học nhằm mục đích chống tệ nạn buồn ngủ mặc dù tệ nạn ngủ càng ngày càng phát triển ban giám hiệu đã tổ chức hội thảo về vấn này mà vẫn chưa tìm ra thuốc đặc hiệu.

Đấy là chuyện ngày mới vào học chưa có thi cử chưa có quyền lợi riêng theo kết quả từng môn thi nên còn vui vô tư. Những tháng sau gần với việc ôn từng môn học bắt đầu không khí lớp nóng dần lên vì điểm chác. Những bộ mặt ngay đơ thường ngày bỗng nhiên nhìn nhau một cách láo liêng đến khó hiểu bởi kết quả môn thi được chia theo mô hình cơ cấu. Buổi tối trong khu nội trú bỗng nhiên vắng vẻ các học viên biến khỏi phòng ở một cách bí mật hỏi đi đâu trả lời ậm ờ khoảng nửa đêm mới có tiếng bước chân rộn rịch tỏa về các phòng mặc dù đã cố tình gượng nhẹ chân đi. Hạnh thường ở phòng nội trú vào các buổi tối mải miết đọc giáo trình và tự hỏi tại sao càng gần ngày thi nội trú càng vắng ngược lại với qui luật học thi? Gã tiến sỹ phó giáo sư đã từng trải qua nhiều cung bậc thi cử cũng mất hẳn chứng ngủ trong giờ học giảm bớt buôn chuyện. Trong giờ học gã thì thầm vào tai Hạnh có ba điều kiện để đạt được điều mình mong muốn: phải có kiến thức thông tin và... quan hệ nữa. Hạnh ngơ ngác cần có kiến thức và thông tin là đương nhiên rồi còn quan hệ ở trường là quan hệ gì? Gã tiến sỹ ngạc nhiên và nhiệt tình giảng giải em thông minh nhưng ngây thơ dại khờ lắm chưa biết đến quan hệ cửa sau thật à? Cửa sau là cửa gì anh hay nói đùa em chỉ nghĩ đi học để bổ sung kiến thức chưa nghĩ được rộng và sâu như anh đã nói. Cửa sau là cửa có những hành động ngược lại với...cửa trước. Gã tiến sỹ tủm tỉm các môn thi của em thế nào điểm cũng thấp nếu như em chưa biết đến cửa sau một môn học trung bình chỉ có mười ngày với bốn trăm trang giáo trình dạy cấp tốc như thế làm sao học nổi làm sao điểm cao nếu như em không quan hệ. Em đã đến nhà thầy chủ nhiệm vào các ngày lễ hội chưa? Đến nhà thầy cô trưởng khoa chủ nhiệm bộ môn mình sắp thi nữa? Bây giờ làm việc gì mà chả có cửa sau con đường đi không có gì bôi trơn thì làm sao tới đích dễ dàng? Gã tiến sỹ khẳng định. Hạnh nhíu mày suy nghĩ quy trình quan hệ cửa sau phải như thế ư em có nghe nói nhưng thực hiện cũng không dễ đâu bởi vì phải có mặt dày mới thực hiện được? Gã tiến sỹ nói chen vào em cứ hỏi bạn ở cùng phòng thì sẽ rõ mặt phải như thế nào để quan hệ...?

Hạnh không hỏi cái Sen ở cùng phòng với mình về kinh nghiệm quan hệ cửa sau. Sen được mệnh danh hoa hậu của lớp chân dài da trắng mông tròn vốn trời cho như thế bán cũng đủ ăn rồi cần gì học đám đàn ông trong lớp bình... loạn về Sen như thế. Mà quả vậy nó đi suốt các buổi tối buổi trưa ngày nghỉ... ngay từ ngày mới vào học chứ không phải bây giờ mới đi ít khi có mặt ở phòng nội trú. Ban đêm lúc Hạnh đã ngủ nó mới về ban ngày trên lớp thì... bận ngủ bù. Được cái khi có người gọi nó tỉnh như sáo và cười toe toét ngay như chưa bao giờ thể hiện tác phong của người ngủ nướng. Sắp đến ngày thi Sen càng hay cười hơn. Hạnh phát cáu và lo lắng nhắc nhở thi vấn đáp khó lắm cơ đấy. Sen trả lời tỉnh bơ thi kiểu gì cũng là thi hình thức thôi cũng từng con người ấy hằng ngày lên bục giảng học không vào mất công lắm đầu tư quan hệ có hiệu quả hơn. Hạnh không nói chuyện nữa ngày đêm vất vả đánh vật với ba mươi lăm câu hỏi ôn tập môn kinh tế chính trị đầu óc như ù đi ăn cơm cũng không vào. Sen không học đi hợp đồng (nó bảo thế). Mày đi suốt cũng chỉ từng ấy hợp đồng thôi à? Đương nhiên rồi tao đã nói là cái gì muốn có kết quả cũng phải đầu tư mà có ai cho không mình cái gì đâu? Sen nói rồi cười hơ hơ như không. Trước ngày thi môn kinh tế Sen đi tới một giờ sáng mới về mọi việc đã xong nó nói thế rồi vật ra ngủ. Buổi sáng ngày thi Hạnh lên giảng đường thấy mọi người trong lớp học với nét mặt căng thẳng xếp hàng trước phòng thi chờ gọi đến tên vào thi vấn đáp. Sen có vẻ mệt mỏi nhưng không lo lắng thầy giám thị gọi vào phòng một chốc rồi ngoay ngoảy đôi mông ra ngay thông báo kết quả chín điểm. Nhiều người lần lượt vào thi sau Sen có gã tiến sỹ lớp trưởng... cũng vào phòng và ra nhanh với điểm cao. Buổi thi vãn dần chỉ còn Hạnh và vài người nữa phải trả lời nhiều câu hỏi hơn kết quả thi bảy điểm tức là Hạnh đã nằm vào diện cơ cấu điểm thấp do lớp đã sắp xếp? Điện thoại di động rung nhẹ Hạnh mở máy thấy dòng chữ của tiến sỹ: đừng buồn nhé vì điểm anh đã biết trước điều này anh quý em hơn vì lẽ ấy? Tự nhiên Hạnh bật cười quý mình hơn vì điểm không cao? Vớ vẩn thật chuyện đời nhiều điều mình không biết được thế người cao điểm thì không quý chăng? Mình đi học cái gì đây? Học kiến thức hay học chuyện đời có lẽ cả hai? Không vui không buồn Hạnh lặng lẽ về phòng nội trú thấy Sen đã nằm trùm chăn. Tưởng Sen ngủ nhưng nó thò đầu ra nhăn nhó kêu đau bụng choáng đầu nhờ Hạnh chiều nay nghỉ học đưa đi khám bệnh. Hạnh bảo lâu rồi lo ôn thi chỉ có chiều nay được nghỉ thôi tao chưa có dịp dạo vào các siêu thị mua mấy thứ đồ cho con nhỏ mày có đau lắm không? Sen bảo tao đi khám tối qua rồi đã uống thuốc nhưng không hiểu sao bây giờ có vẻ đau hơn. Hạnh lưỡng lự thôi được rồi chiều nay tao đưa mày đi bệnh viện nhưng tối qua mày khám bệnh viện nào vậy? Sen ấp úng tao chỉ khám ở phòng tư thôi. Bệnh gì? Tao phải đi tẩy. Hả? Mình vào học chưa được ba tháng chưa về nhà lần nào của thằng nào dính vào mày nhanh thế? Nho nhỏ thôi thằng cha kinh tế thị trường. Cái thằng thâm thấp xâu xấu ấy à? ừ Sen oằn người khó chịu nhưng do tao thỏa thuận học không vào nên chấp nhận con đường tiến thân phải như thế thôi trách gì ai gã xâu xấu ấy quyết định điểm môn kinh tế kinh tế bao giờ chả là xương sống của con người với tao là cuộc sống khi bổ nhiệm phụ thuộc vào điểm thi kết thúc khóa học ở trường này ra mày đã hiểu chưa?

Sen nói nhăn nhó có vẻ khó chịu lắm có lẽ do đau trong người chứ không tỏ ra ân hận với những gì đang xảy ra cho mình Hạnh nhìn vào đáy quần của nó loang màu đỏ ướt đẫm bốc mùi tanh. Có lẽ mày bị băng huyết rồi Hạnh nói rồi hốt hoảng gọi taxi chạy vào tận phòng ở bốc Sen lên xe nói địa chỉ phòng khám tư nhân. Xe chạy Hạnh hỏi sao mày chọn đúng vào đêm chuẩn bị thi cử lại đi tẩy để hôm khác cũng được chứ sao không sợ tai biến xẩy ra à? Sen cười như rên tao xin lỗi đã nói dối mày thực ra tao đi tẩy được ba ngày rồi nhưng lúc đêm gã kinh tế thị trường gọi nên quá đành phải chiều không kiêng khem gì được vẫn biết sáng mai thi nhưng là đêm thu hoạch chữ tê (tình và tiền) của gã sợ mình tráo trở nên gã đòi ký hợp đồng lần cuối cho chắc tuần sau môn học của gã xong rồi còn ai biết đến ai nữa cả tao cũng lo gã dở chứng nên thôi thì tiền trao cháo múc không lo vụ thi cử này thì tao chỉ có điểm không có học gì đâu. Hạnh nghe mà tự lòng mình ớn lạnh cái gì cũng được tính bằng giá cả sát sao đến từng xu thế cơ à?

Taxi dừng trước phòng khám mặt Sen nhợt nhạt Hạnh dìu Sen bước ra may tay lái không nhìn thấy máu tươi từ quần Sen dính cả vào ghế. Bà bác sỹ già trực ở phòng khám đưa Sen vào phòng Hạnh chờ bên ngoài chốc sau bà bác sỹ bước ra lắc đầu nói mới tẩy hôm kia đã quan hệ rồi không kiêng cữ gì thuốc men uống không đủ liều bị băng huyết chậm tý nữa đành bó tay chấm com. Hạnh bước vào phòng bệnh nhân nhăn mặt ngửi phải mùi tanh khó chịu Sen nằm trên giường mặt xanh mét đầu không gối chân gác cao trên tấm chăn gấp đôi cô y tá còn trẻ tiêm thuốc cầm máu ba mũi liên tục vào đùi. Bà bác sỹ vào phòng bệnh nhân gắt gỏng nói đi nói lại lo giữ thân mình là chính bọn đàn ông lo gì có cơ hội là húc bừa. Bà bác sỹ quay sang Hạnh pha cho nó cốc sữa có biểu hiện tụt huyết áp rồi đấy phải nằm ở đây ít ra năm ngày cho có sức khỏe về nhà không kiêng được chỉ khổ đàn bà. Hạnh không nói gì đi ra cổng phòng khám mua hộp sữa ông thọ mua luôn phích nước sôi vào phòng hí húi pha sữa cho Sen. Hạnh nâng đầu Sen lên uống sữa Sen thều thào nói mai tao phải nghỉ học rồi mày báo với lớp trưởng tao có việc gấp phải về quê đừng cho ai biết tao đang nằm ở đây nhé. Hạnh không nói gì cứ nhìn mãi vào khoảng trời nơi cổng phòng khám cứ tím mãi tím mãi đậm đặc màu hoàng hôn màu hoàng hôn loang dần mãi vào không trung. Màn đêm đang đến Hạnh tần ngần thêm giây lát rồi nói với Sen mày nghỉ nhé đang còn sữa cố uống thêm lúc đói tao phải về trường thôi. Sáng mai tan học tao sẽ đến. Đừng buồn rồi mọi chuyện sẽ qua có phải cuộc sống là phải như thế này chăng?

Sen im lặng quay mặt vào tường Hạnh bước ra khỏi phòng ra cổng chờ xe ôm. Người trên đường thành phố rầm rập rầm rập nối đuôi nhau vùn vụt lướt qua nhoáng nhoàng trong ánh điện vàng như nghệ từ các đám bụi đang cuồn cuộn bốc lên. Một chiếc xe máy dừng đột ngột trước mặt Hạnh gương mặt gã tiến sỹ hiện ra sau mũ bảo hiểm gã cười hiền từ em về trường ư anh đưa về. Hạnh cũng cười sao biết em ở đây trong thành phố này con người chỉ như là hạt bụi bay và tan biến nhanh vào cõi hư vô thôi anh à. Tiến sĩ nói em đi đến đâu anh cũng biết đừng hỏi vì sao anh biết cả Sen đang ở trong phòng khám. Anh đã trải qua nhiều cuộc thi em biết thực tiễn của những kỳ thi chưa? Hạnh chần chừ rồi hỏi những người vào bằng cửa trước nhưng không ra bằng cửa sau thì kết quả ra sao? Tiến sỹ nhìn thẳng vào Hạnh em à những người không ra bằng cửa sau mà ra bằng con đường họ đã từng đến thì họ là trung tâm cho nhiều người chạy quay mình như anh suốt chiều nay chờ em với lòng kính trọng.

Hạnh mỉm cười ngồi lên xe của gã tiến sỹ hòa lẫn vào dòng người vùn vụt cuộn trôi đêm này qua đêm khác ngày này qua ngày khác tháng này qua tháng khác... Nhưng có ai biết được rằng trong dòng chảy tự nhiên của con người của thiên nhiên đã có sự chọn lựa đến là tinh tế từ vũ trụ miệt mài xoay tròn quanh nhân loại suốt ngày đêm không mệt mỏi.

                                                             12-2009

                                                               Q.N

More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TRỌNG NGHĨA



Dặm bái trời


Truyện ngắn




        Đứng trên bờ sông Bưởi nhìn cánh đồng đang thời kỳ trổ bông bốn bề phẳng lặng không một gợn gió tôi lại nhớ cái Dặm Bái Trời ngày xưa. Nơi đây là nôi sinh của hàng trăm loài chim thú sống nhờ cỏ cây mọc tự nhiên. Vào tiết tháng tám nước sông Bưởi từ thượng nguồn đổ xuống đêm khuya nghe tiếng ào ào ai cũng lo trận lụt sẽ đến chỉ cầu mong không gặp bão tố mưa sa dồn dập. Đã có bão sẽ có mưa lớn kéo dài hàng ngàn hécta dặm Bái Trời nước nổi mênh mông trắng xóa.

Năm 1951 tiếng bom giặc Pháp chẳng ngày nào không có. Cứ mỗi khi nghe tiếng ù ù như xay lúa từ xa nhà nào cũng vội vã kéo nhau chạy xuống hầm. Trưa hôm ấy thầy tôi đi làm về nói: "Đêm qua Pháp ném bom chợ Kiểu Dọi mọi người chuyện trò to quá không nghe được tiếng máy bay nên không kịp tắt đèn liền bị thằng Pháp lái chiếc Đacôta nhìn thấy... Cứ thế là hắn nhả bom giữa chợ. Có lẽ chiều nay thầy phải sang xem nhà ông Canh thế nào nhà ông ấy ở ngay đầu cổng chợ bạn bè thân tình mình ngó lơ sao được". Thầy đi tối mới về mặt mũi sạm lại hốc hác đôi mắt thì đỏ hoe. Theo sau thầy là một đứa bé chừng năm tuổi từ mặt đến chân nó lọ lem quần áo rách bươm. Thấy mọi người ngơ ngác nhìn nó thầy tôi giải thích: "Ông Canh chết rồi đây là con trai ông ấy từ nay nó sẽ ở với nhà mình".

Giáp hơn tôi hai tuổi bằng tuổi anh Hùng anh trai tôi nên tôi gọi Giáp bằng anh. Mấy ngày đầu anh không hé răng nói lấy nửa lời cũng chẳng khóc nhưng mỗi khi trời nhá nhem tối tôi lại thường bắt gặp anh ngoài vườn núp ở gốc chuối khóc thút thít. Sau một tháng Giáp đã quên bớt nỗi đau và biết giúp gia đình tôi những việc lặt vặt... Lên tám tuổi anh Giáp và anh Hùng anh trai tôi đều vào lớp một. Từ đó bao giờ bài kiểm tra của Giáp cũng được nhiều điểm hơn anh Hùng. Năm học lớp bảy thi tốt nghiệp anh Hùng chỉ đậu ở mức trung bình còn Giáp thuộc loại khá trở lên.

Tháng 8 năm 1964 giặc Mỹ bắt đầu gây chiến ở vịnh Bắc Bộ tháng 11 năm ấy anh Giáp lên đường nhập ngũ. Cuối năm 1965 anh Hùng cưới vợ được ba tháng cũng lên đường nhập ngũ. Bấy giờ thầy mẹ tôi đã già đi nhiều còn mỗi tôi và chị dâu gánh vác mọi việc trong nhà. Học hết lớp sáu thấy hoàn cảnh gia đình khó khăn tôi cũng bỏ học nốt. Ngày ấy toàn miền Bắc đâu đâu cũng bị bom Mỹ tàn phá các ngả đường những công trường nhà máy kể cả các cánh đồng muối cũng bị oanh tạc dữ dội. Mọi thứ sinh hoạt hàng ngày như gạo muối dầu xà phòng đều thiếu nhà nào cũng chạy từng bữa. Tôi phải học cái nghề đẩy diu cho chị Hảo đi chợ bán hoặc đổi gạo chống đói. Đêm đến hai chị em lần mò học bằng được nghề đan lát. Thiếu muối nhiều người đã xanh xao vàng vọt thiếu gạo chúng tôi phải lên rừng đào củ từ bô củ ngán hoặc gốc rau má ngoài đồng từ sáng tinh mơ...

*

Từ ngày nhập ngũ anh Hùng chỉ gửi thư về thăm gia đình một lần. Anh Giáp lại khác hẳn cứ hai hoặc ba tháng lại thấy thư anh.

Trưa hôm ấy trời nắng chang chang nhưng thi thoảng có gió nồm nam thổi về đến chiều mát hơn. Tổ gặt lúa vừa xong thửa ruộng hai sào tôi và chị Hảo (vợ anh Hùng) xóc lúa vào cái đòn càn mỗi đầu một bó. Thường ngày tôi chỉ gánh được mỗi đầu mười đon chị Hảo gánh được mười lăm đon. Thấy còn thừa sáu đon chị bó nốt vào hai đầu gánh của chị tổng cộng số đon hôm ấy chị gánh ba mươi sáu đon. Kể cũng lạ chị hơn tôi hai tuổi đáng là bao nhìn gánh lúa của chị tôi hoảng sợ chị vẫn phăm phăm đi trước vai lưng nhún nhẩy nhịp nhàng hai ống quần xắn quá gối để lộ bắp đùi trắng muốt tròn lẵn dẻo dai làm tôi phát nể thầm nhủ: kiểu cách thế này dễ gây cảm xúc cho một số đàn ông sinh lòng tà vạy cũng nên và cười. Không ngờ chị nghe được tiếng cười của tôi bỗng quay lại mặt đỏ ửng nổi rõ cái mũi dài hai cánh nở phập phồng càng tô thắm vẻ đẹp trên khuôn mặt chị nhiều hơn.

Về đến cổng tôi bỗng giật mình khi thấy một anh bộ đội mặc bộ đồ gabađin màu xanh lá cây đang chống nạng từ nhà ra sân tay vẫy vẫy. Tôi nhận ra anh Giáp anh về thật rồi ư? Còn chị Hảo mặt tái mét hình như chị đã rơi nước mắt có lẽ chị nhầm tưởng anh Hùng về. Chị dựng cái đòn càn vào bờ vách vội vã đưa tay áo nâu đã sạm màu gạt nước mắt qua loa rồi mới nở nụ cười chào anh.

Anh Giáp về bà con trong xóm đến thăm hỏi chật kín nhà. Người ta muốn biết chiến trường miền Nam khốc liệt đến mức nào anh có gặp người xã mình trong ấy không?... Riêng tôi hay nảy tính tò mò chờ bà con về hết mới hỏi anh bị thương trong trường hợp nào nặng hay nhẹ đã gặp anh Hùng lần nào chưa? Anh nở nụ cười dè dặt đến mức tôi phải sốt ruột hầu như chỉ trả lời qua loa rằng nghe một người cùng tỉnh nói anh Hùng hiện đang chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên.

Mãi đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng tôi được nghe một người thuộc đơn vị đặc công trở về kể: Anh Giáp chiến đấu mưu trí dũng cảm nhất tham gia nhiều trận thành tích cao nhất. Một khi anh đã nắm chắc khẩu K54 hoặc con dao găm trong tay thì dẫu đến thằng chục giặc Mỹ cũng phải sợ. Anh bị vỡ xương đùi bên trái là do viên đạn lạc chứ không phải lúc quần nhau giữa ta với địch. Vết thương này buộc anh phải nằm viện Quân y Sư đoàn hơn hai tháng. Anh chưa muốn về nhưng vì sức khỏe giảm quá nhiều lại thêm chứng sốt rét liên miên nên cấp trên vẫn quyết định cho anh được giải ngũ.

Anh Giáp về thầy tôi mượn người đến làm căn nhà khoảng một gian cách chái nhà lớn khoảng hai trăm mét. ý thầy muốn anh ở riêng có điều kiện xây dựng gia đình. Từ khi anh dọn đồ sang ở riêng thì anh trở nên ít nói lầm lì đến khó hiểu. Thời còn trong quân ngũ cũng vậy kể cả những đêm ngủ rừng phải mắc võng nhưng bao giờ anh cũng đặt võng của mình gần với đồng đội đề phòng những bất trắc xảy ra. Biết sức khỏe mình hơn mọi người vì thế nên anh hay lo cho họ. Đêm khuya anh thường đi kiểm tra dùng ngón trỏ dí gần sát mũi từng người xem hơi thở của họ còn ấm không. Sợ nhất mấy cậu bị sốt rét đắp ba cái chăn lên người mà họ vẫn còn run bần bật anh lại lần mò từng ba lô tìm thuốc quinin chữa trị ngay. Anh Quân cùng đơn vị kể rằng có lần bị rắn cạp nia cắn cũng vào cảnh đi thăm một chiến sỹ bị ốm giữa đêm khuya. Vì suốt ngày hành quân mưa ướt hết áo quần và giày anh cởi đôi giày ra giặt phơi lên cành cây chưa khô buộc phải đi dép cao su nên con rắn mới có điều kiện cắn ngay vào ngón chân cái. Anh nhanh chóng rút dây giày buộc chặt cổ chân rồi gọi Quân cầm đèn đi hái lá. May mà Quân còn một điếu thuốc rubi anh giật vội nhai ngấu nghiến một phần ba điếu thuốc và nuốt. Năm phút sau nhai nửa số thuốc còn lại năm phút tiếp anh nhai nốt cũng là lúc anh Quân hái xong một mũ lá gai soọng. Bài thuốc này anh được đồng bào K tu dạy cho từ năm 1967 nên đi đến đâu cũng chú ý dọc đường nếu gặp cây gai soọng là phải đánh dấu và luôn luôn trữ vài điếu thuốc trong mình. Phải nhai thuốc nuốt để chống nọc độc chạy vào tim trước hái lá gai soọng bỏ cối giã nhỏ số lá rồi cho ít nước nhào kỹ vắt lấy một bát uống còn bã thì đắp vào vết thương. Đặc điểm thuốc này không đắng chỉ hơi cay anh nhai hết lá thì chuyển sang trạng thái buồn ngủ. Chỗ rắn cắn đang làm anh đau nhói tim tê dại cả chân rồi bắt đầu ngủ con bệnh lùi dần.

Về quê anh ở riêng được một tháng anh bắt đầu đi làm. Trước mắt đội trưởng không cho làm những việc nặng chỉ cày bừa hoặc nhổ cỏ lúa các việc như gánh lúa gánh phân thì giao cho những người như tôi và chị Hảo. Thấy tôi và số vợ bộ đội phải làm việc nặng nhọc anh không yên lòng xông ra giúp họ. Buổi đầu cái chân bị thương còn hơi nhói nhưng lâu lâu cũng quen dần. Nhìn cảnh bà con làng xóm thiếu ăn thiếu mặc lại thêm hạn lụt diễn ra liên miên có năm mất trắng; củ rừng bị nhiều người đào quá thì hết rau má ở các bờ ruộng rồi cũng sạch cả gốc... anh quyết định vào Dặm Bái Trời vỡ hoang! Biết được mẹ tôi ngăn:

- Xã và hợp tác đang cấm đấy ai tự động vỡ hoang là mang tính tự tư tự lợi cá nhân...

- Cứ để cho Giáp làm - thầy suy nghĩ một lát mới nói - Biết đâu người ta thấy nó là bộ đội phục viên nhiều thành tích đánh Mỹ có thể sẽ lờ đi. Nhưng nếu muốn làm nên tranh thủ vào những ngày nghỉ của hợp tác mới ổn.

- Từ hôm đi vỡ đất đến nay cháu chưa hôm nào vi phạm ngày công của hợp tác. Phải nói đất ở Dặm Bái Trời tốt thật đen như bùn ao vậy! Hai bác cứ yên tâm nếu xảy ra điều gì cháu xin chịu.

Anh vẫn vỡ thêm đất tôi cũng theo. Chị Hảo rất muốn tham gia nhưng mẹ không đồng ý. Sợ anh sẽ nảy sinh tình ý với chị phòng xa vẫn hơn. Tôi định cự lại song nghĩ vậy cũng hay đỡ vất vả thêm cho chị.

Đêm lại lặng như tờ. Anh Giáp đẩy cây đàn vào gầm rồi lên giường nằm. Tôi giả vờ như không hay biết gì nhưng lòng vẫn xao xuyến tiếng đàn bầu đang còn văng vẳng bên tai. Lúc thì nó vụt cao lên mãi tận rừng xanh lúc bay lượn trong không trung ai oán khi nhắc nhở tới miền Nam ruột thịt đang bị ách cai trị của Mỹ ngụy nghĩ tới những đêm như đêm nay hàng ngàn chiến sỹ không ngủ đang băng qua đèo cao suối sâu nhằm vào những cứ điểm của giặc mà đánh. Có lẽ anh Giáp cũng thổn thức như tôi. Chắc anh nhớ lại những chiến trường đã qua hoặc mủi lòng so sánh cái giường anh được nằm yên ấm này với những cái võng mắc giữa rừng sâu lạnh giá mưa gió ầm ầm cả đêm với những cơn sốt rét rừng quái quỷ!...

Sáng chiều cả ba chúng tôi đều làm đồng hợp tác chiều tối ăn cơm xong lại kéo nhau đi tát nước chống hạn cho mấy sào lúa ở Dặm Bái Trời. Tát nước đêm trăng mình anh Giáp đóng cọc và tát cái gầu soòng còn tôi và chị Hảo kéo gầu giai. ánh trăng như rắc từng hạt ngọc xuống mỗi gầu nước hàng triệu hạt ngọc đó lại chảy rì rào đến từng gốc lúa và hàng vạn lá lúa vẫy chào vui mừng với chúng tôi.

*

Một chiều gió tây thổi về nóng hầm hập tất cả mọi vật như ủ rũ hết. Những lá ngô ngoài đồng héo quắt con trâu đủng đỉnh từ cánh đồng về nhe hàm răng trắng dã ai nấy mặt đỏ như gà chọi hoặc tím tái đến sợ đâu đâu cũng vang lên tiếng thở dài buồn bã. Càng quạt càng nóng chỉ còn cách dùng gầu múc nước giếng lên xối từ đầu tới chân từ chiều đến nửa đêm tôi phải tắm đến mươi lần. Chị Hảo gánh lúa thuế ra kho huyện vừa về đến cổng thấy con mực chạy đến mừng như mọi khi nó cứ vòng quanh chân cắn vào ống quần khiến chút nữa chị ngã chị đá cho nó một cái. Con chó tội nghiệp hết cả vui mừng chạy ra vườn ngô mắt vẫn ngoái lại nhìn chủ trách móc cái lưỡi đỏ có đốm đen ở đầu lè ra lia đi lia lại vừa đi vừa khục khặc.

Mãi sau này tôi mới biết chuyện hôm ấy chị Hảo đi nhập thuế chị nghe trực tiếp từ miệng một người vừa được giải ngũ đã từng sống với anh Hùng từ ngày đầu đến đơn vị. Người ấy kể trong đợt tấn công của địch đơn vị của anh Hùng bị đánh bất ngờ nhiều người đã ngã xuống trung đội anh gần như bị xóa sổ số sống xót bị thương hoặc chạy vào rừng ẩn náu. Anh Hùng bị thương ở chân trái lết mãi vào giữa rừng thì thiếp đi may gặp được người K tu đi săn nhìn thấy cõng anh về nhà chữa trị. Khỏi vết thương lẽ ra phải tìm đường về đơn vị nhưng anh lại ở với chủ nhà K tu này và trước tiên nhận làm con nuôi sau đó là con rể...

Đất nước đã thống nhất anh Hùng vẫn không chịu về. Mãi đến năm 1980 anh mới gửi về một lá thư không nêu chi tiết hoàn cảnh của mình cứ nói đơn vị anh đang còn ở lại giải quyết những tồn tại sau chiến tranh. Nhưng tôi biết tỏng lối bao biện của anh giai đoạn này tiếng đồn về anh đã có vợ ở Tây Nguyên nổi loang khắp làng. Rất may thầy tôi nay điếc cả hai tai mẹ thì già yếu không lúc nào ra khỏi nhà... Chị Hảo phát ốm một thời gian rồi trấn tĩnh lại chị bắt đầu cười thỉnh thoảng chị lại hỏi: "Mẹ có thương anh Hùng không?". Mẹ đáp: "Người ta thì mỗi năm còn gửi về được bảy tám lá thư... Cái thằng vô tư chi mà chẳng hề nghĩ đến mẹ và vợ đang đỏ hoe mắt trông chờ từng ngày !". "Hay anh ấy đã lấy vợ trong ấy hả mẹ?". "Vợ con chi hắn không có ông nội và ông ngoại giao kết với nhau... suốt đời hắn chả có ma nào nhìn. Sao con cứ hỏi chuyện lung tung ấy làm chi! Mẹ đã điên cả người rồi đây!" Bỗng chị chuyển sang hỏi anh Giáp:

- Anh ơi mai ngày hợp tác xã nghỉ việc cho em vào Bái Trời làm nhé? Chú Mạnh có đi không? Hai anh em một cày một bừa còn tôi cầm cái cuốc phá bờ sửa góc.

- Không được - Anh Giáp trả lời - Chị cứ ở nhà nấu bếp dọn vườn giúp thầy mẹ.

- Em cứ đi làm thêm được nhiều lúa gạo giảm bớt khó khăn đâu phải tội lỗi chẳng ai ngăn cản đâu.

Lần này mẹ tôi không ngăn bởi bà biết những lời nói vừa rồi của chị khác trước.

Một hôm chị hỏi anh Giáp:

- Sao anh không lấy vợ?

- Chị bảo tìm được ai yêu tôi bây giờ... Không cha mẹ anh em ruột cũng không cộng thêm một cái chân khập khểnh...

- ối ra thời buổi chiến tranh này nhan nhản. Nếu cần em giới thiệu cho một chị thanh niên xung phong vừa trở về?

Anh đáp lại bằng ánh mắt trách móc. Thấy vậy chị Hảo gượng cười và tỏ vẻ nhận lỗi: "Em chỉ đùa thôi anh đừng giận nhé!". Đứng bên kia bờ rào chè mạn tôi nghe rõ trăm phần trăm cuộc hội thoại của hai người. Lần đầu tiên anh Giáp ấp úng trong miệng gọi chị Hảo bằng em còn chị thì chẳng cười nữa hai mắt ngấn nước bàn tay phải cứ mân mê khuy áo. Tôi vẫn cố lắng nghe họ tâm sự với nhau những gì chỉ cần hé ra một lời hò hẹn tình ý là sẽ chết với tôi nhưng rất may chẳng ai nói thêm câu nào.

Sáng chiều họ gặp nhau đều khác trước anh Giáp ngang nhiên dùng ngôn ngữ: "Em đi làm về đấy à có mệt không? Ra rửa mặt đi nước anh đã múc sẵn một chậu". Chị Hảo không trả lời nếu nói cũng chỉ đủ cho anh nghe mắt vẫn liếc xéo xem có ai nhìn thấy. Khi quay lại đối diện anh Giáp đôi mắt chị tươi như hoa có những hạt sương đọng long lanh ở hai đầu mắt. Rõ ràng chị đã có tình ý với anh Giáp.

Chẳng biết thầy mẹ tôi đã nhận thấy điều gì như tôi đang nghĩ mà cứ lầm lũi ngày hai buổi ra vườn vơ củi vào bếp và quét dọn nhà cửa.

*

Chiều hè ánh mặt trời vàng vọt thê lương rải lên các mái nhà làng quê từng tàu chuối lá dâu và những khóm chè mạn hai bên đường đang quăn lá vì sức nóng của từng đợt gió tây đâu đó người ta đang xì xào chuyện đội bảo vệ phá lúa của số nhà khai hoang Dặm Bái Trời. Cũng may cho họ chưa đặt cây mạ xuống ruộng mới cày bừa xong đang còn để ngâm đất vài hôm nữa mới bừa lại và cấy nhưng đã tốn rất nhiều công. Nghĩ mà thương họ thấy chúng tôi làm được nhiều lúa mà bắt chước cứ thế nô nức kéo nhau vào làm nay xảy ra nông nỗi này! Hỏi mấy người xung quanh mới biết ruộng của nhà tôi chưa ai phá có lẽ họ còn nhân nhượng cho anh Giáp là thương binh. Nhưng sáng hôm sau ông Bính chủ tịch xã cùng ông Huỳnh chủ nhiệm đạp xe đến đả thông với anh Giáp. Anh cười:

- Nếu các ông không để cho làm thì đành vậy.

Sau câu nói đó suốt ngày anh không mở miệng nói năng gì. Lòng tôi ấm ức quên luôn chuyện chống đối quan hệ của hai người.

Một sáng đầu thu làng tôi nô nức đến sân đình dự đại hội hợp tác xã. Cái sân đình mọi ngày rộng thênh thang bỗng nay như sắp bị nổ tung vì sức chứa. Tôi cố đứng lên nhìn anh Giáp và chị Hảo xem ngồi chỗ nào nhưng không thấy chắc họ đang ở đầu hoặc cuối sân. Tan họp tôi nhanh chân đứng đón một bên cổng chờ họ. Khi cả sân đình sạch bóng người anh Giáp và chị Hảo vẫn không thấy đâu lòng tôi bề bộn những câu hỏi linh tính mách bảo điều chẳng lành. Tôi một mạch chạy sang nhà anh Giáp. Tất cả trống không nơi anh vẫn hay ngoắc ba lô vào chỉ còn trơ một cái đinh. Tôi lại chạy về nhà xông thẳng vào phòng chị Hảo ngoài chiếc giường với đống chăn gối xếp gọn gàng tôi thấy một phong thư kèm theo một cục tiền được gói trong chiếc khăn trùm đầu. Những dòng thư anh Giáp và chị Hảo để lại như nhảy múa trước mắt tôi.

"Mạnh yêu quý. Xin em và thầy mẹ tha tội cho anh chị vì đã bỏ đi mà không một lời từ biệt nhưng anh chị không còn cách nào khác nữa. Vào miền Nam lần này chủ yếu thăm lại chiến trường xưa và anh sẽ làm kinh tế trong ấy. Đất Tây Nguyên còn màu mỡ hơn ngoài mình nhiều. Còn chuyện anh Hùng vì sao anh không nói hết cho em... Cũng không hy vọng gì anh ấy mà em hãy phát huy hết khả năng của mình nuôi dưỡng thầy mẹ thật tốt và xây dựng tương lai cho chính mình..."

Nửa trang dưới viết rất ẩu chữ của chị Hảo có lẽ do chị viết vội:

Khoản tiền này là của anh Giáp em nhận lấy để chăm sóc thầy mẹ. Mong em hãy hiểu và thông cảm cho anh chị. Tạm biệt em và hẹn ngày gặp lại".

*

Thời gian trôi qua. Sau khi nhà nước khuyến khích người dân khai hoang tôi đã hăm hở hòa mình vào công cuộc đổi mới ấy. Dặm Bái Trời hôm nào còn hoang dại là thế giờ đây đã là một cánh đồng rộng mênh mông gần nghìn hécta mỗi hécta cũng đem lại vài tấn lương thực. Đời sống không chỉ của tôi mà của dân làng đã khác trước rất nhiều. Tôi cũng nguôi dần vết thương lòng nhưng nỗi canh cánh day dứt về cuộc sống của anh Giáp và chị Hảo vẫn len lỏi vào suy nghĩ của tôi. Tôi cất công nghe ngóng tìm kiếm họ nhưng càng tìm càng bặt tin. Rồi một ngày kia tôi nhận cái tin khủng khiếp anh Giáp đã qua đời vì chất độc màu da cam. Còn chị Hảo vẫn âm thầm lặng lẽ nuôi đứa con trai non dại với di chứng cha nó đã để lại trong khốn khó và vất vả vô cùng.

Nhìn những căn nhà ngói đỏ hôm nay nhiều nhà dư ăn thừa mặc tôi lại càng thấy đắng lòng hơn mỗi khi nghĩ đến mẹ con chị Hảo vẫn lưu lạc đâu đó trên đất Tây Nguyên. Tôi quyết tâm vào Tây Nguyên một chuyến để đưa mẹ con chị trở về. Đến nơi người cần tìm chẳng thấy nhà anh Giáp và chị Hảo ở cây cối mọc um tùm. Nghe bà con nói chị đã trở về quê khá lâu. Tôi lại trở về với tâm trạng khắc khoải mong chờ...

                                            Tháng 9 - 2010

                                                    T.N






LÊ GIANG


Những nói dối trong ngày


Truyện ngắn



      Đêm se lạnh. Ngoài trời mưa cuối thu lãng đãng bay. Hồng ngồi soạn bài lặng lẽ đôi mắt đẫm lệ cay xè. Những con chữ trên trang giáo án chập chờn nhảy múa lúc tỏ lúc mờ. Buông bút xuống Hồng nhẹ nhàng đứng dậy đi lại giường nhìn hai đứa con thơ dại vừa thương vừa giận. Thằng Lâm chín tuổi trong giấc ngủ thỉnh thoảng nấc lên không thành tiếng. Hẳn nó còn ám ảnh trận đòn buổi trưa mẹ đánh. Bé My ba tuổi mơ màng quờ tay tìm mẹ mắt vẫn còn ngấn lệ. Hồng cúi xuống hôn nhẹ vào má bọn trẻ. Tội nghiệp đã bao giờ chúng nó nói dối ai điều gì đâu mà hôm nay lại đổ đốn ra thế.

Sáng nay khi chồng đưa thằng Lâm ra khỏi nhà thu xếp xong chị đưa bé My đến lớp nhưng nó nhất quyết không đi. Càng dỗ nó càng khóc to nằm trệt ra đất ăn vạ. Nó cứ một mực con không đi đâu. Chị hỏi vì sao hôm nay con không đi học gượng mãi nó bảo:

- Hôm nay cô giáo ốm.

Nghe con nói vậy chị nửa tin nửa ngờ bấm máy điện thoại hỏi cô. Chị lặng lẽ nuốt từng tiếng cô giáo:

- Chiều qua cháu My nhà mình giành đồ chơi với bạn thế rồi cấu bạn chảy cả máu tay. Các bạn ồ lêu ồ lêu My xấu hổ khóc toáng lên. Em bảo My phải xin lỗi bạn mãi My mới khoanh tay xin lỗi và hứa sẽ không đánh bạn nữa.

Nghe cô nói Hồng hiểu vì sao My không đi học. Rồi chị đưa điện thoại cho My để nghe cô nói:

- Bé My ngoan nào hôm nay là ngày cuối tuần cháu đến học để nhận phiếu bé ngoan nhé các bạn đang chờ cháu đấy các bạn không ồ lêu nữa đâu.

Nó vẫn ì ạch ngồi day trên nền nhà:

- Con ứ đi đâu xấu hổ lắm.

- Mẹ đưa con đến lớp để xin lỗi cô giáo xin lỗi các bạn hôm nay con được nhận phiếu bé ngoan mà nào nhanh lên kẻo muộn giờ của mẹ.

Đã đến giờ lên lớp nhưng nó vẫn không chịu đứng dậy Hồng bực quá tét vào mông nó mấy cái bé My càng toáng lên bắt đền mẹ mãi rồi nó mới chịu đi.

Buổi trưa về Hồng đã thấy thằng Lâm đang đứng trước cửa chị hỏi:

- Hôm nay sao con về sớm thế?

Nó lấm lét nhìn mẹ rồi quay mặt đi nói lý nhí:

- Hôm nay... cô giáo cho lớp con nghỉ sớm.

- ừ tốt rồi mẹ con mình vào nấu cơm nhé.

Lâm theo mẹ vào nhà. Vừa lúc đó cô Na bấm chuông gọi vọng vào:

- Có ai ở nhà không?

Nghe tiếng cô Lâm co cẳng chạy một mạch lên tầng. Hồng thấy có điều gì đó không ổn. Mời cô Na vào nhà vừa đi cô vừa hỏi:

- Em Lâm bị bệnh hay sao hả chị?

Hồng chết lặng nhìn cô giáo không biết nói sao. Hai chị em cùng lên tầng. Lâm đang úp mặt xuống giường nằm khóc nức nở mặt tái xanh. Thấy cô đến Lâm vẫn không ngồi dậy chào. Cô Na đến bên tay sờ nhẹ vào trán Lâm rồi hỏi:

- Để cô xem ốm thế nào mà hôm nay không đi học?

Lâm vẫn khóc nức nở một lúc lâu ngồi dậy quay mặt vào tường nói ấp úng:

- Thưa cô... con đi xem các bạn chơi điện tử.

Hồng khóc to lên thành tiếng:

- Hu hu... con tôi hư rồi thế con đi chơi điện tử ở đâu tiền lấy ở đâu lâu nay con chơi bao nhiêu lần rồi?

- Con không chơi con chỉ đi xem các bạn chơi thôi.

Thấy Hồng bức xúc cô Na cầm tay chị ôn tồn nói:

- Chị bình tĩnh. Cháu Lâm là học sinh ngoan chưa bao giờ bỏ học không có lý do. Vì thế hôm nay thấy cháu không đi học em phải đến thăm ngay.

Cô Na ngồi xuống ôm Lâm vào lòng:

- Nào bây giờ em xin lỗi mẹ xin lỗi cô từ nay không bao giờ bỏ học chơi điện tử nữa nhé.

Lâm cúi gằm mặt xuống vòng tay lại:

- Em thưa cô vâng ạ. Con xin mẹ từ nay con chừa không bỏ học đi chơi điện tử và không nói dối mẹ nữa.

Lời nói của Lâm xoa dịu bớt nỗi đau trong lòng Hồng nhưng những gì xảy ra từ sáng sớm đến giờ đối với chị thực sự trở thành cơn ác mộng ám ảnh làm chị đứng không vững. Lau nước mắt chị nghẹn ngào nói:

- Cảm ơn cô nhiều may có cô nên mới biết nếu không thì nguy hiểm quá con cái thật là hư.

Cô Na về rồi Hồng như trút hết những bực dọc lên người Lâm vừa đánh con vừa khóc nức nở:

- Trời ơi! sao tôi khổ thế này. Con ơi mẹ sống làm sao ược. Con có biết lòng mẹ lúc này đau khổ thế nào không!

Một ngày ì ạch trôi qua nặng nề. Trời về khuya không gian tĩnh mịch thỉnh thoảng có tiếng xe chở hàng nặng chạy qua phố gầm rít xé toạc màn đêm. Nhìn chồng ngủ hình như Nam theo đuổi một giấc mơ đẹp lưỡi liếm vào môi miệng nhếch cười khoái chí. Hồng nhẹ nhàng nằm xuống bên chồng khẽ hỏi:

- Anh ngủ rồi à?

Nam cựa mình trả lời ú ớ:

- ừ có việc gì không?

- Trưa nay sao anh không về ăn cơm?

Bực bội vì vợ làm tan biến giấc mơ đẹp của mình Nam gắt gỏng:

- Có thế mà cũng hỏi trưa nay anh đi công tác cơ sở nên không về được.

- Anh đi công tác ở đâu?

- Lạ nhỉ đã bảo rồi đi cơ sở chứ còn đi đâu mà sao em cứ chất vấn anh nhiều thế?

Hồng cắn chặt môi đau tứa máu. Đôi mắt ướt đẫm những giọt lệ từ từ lăn thẫm hai gò má. Chị hoảng sợ không biết cái gì sẽ xảy ra nếu tiếp tục nói với chồng về những điều mà trưa nay chị tận mắt nhìn thấy. Anh có còn thương yêu chị và các con như những gì mà bấy nay anh giành cho mẹ con chị không? Cơ ngơi tài sản vợ chồng chị có danh vọng uy tín của anh là niềm kiêu hãnh đối với mẹ con chị. Các con một ngày vắng bố chúng nó nhớ lúc nào cũng hỏi cũng mong anh về. Chẳng lẽ bây giờ anh đổi trắng thay đen nhanh thế sao. Những gì mình nghe và thấy sáng nay thực hay hư. Không! Chính mắt chị nhìn thấy tai chị nghe thấy làm sao nhầm lẫn được. Ước gì những gì mình thấy hôm nay không phải là sự thật. Lần giở những động thái của chồng thời gian gần đây chị càng tin đó là sự thật. Nhiều lúc Nam bối rối nhìn chị tay luống cuống khi có điện thoại gọi đến ăn uống thất thường đôi lúc gắt con vô cớ. Mấy lần chị định hỏi nhưng không dám chỉ im lặng chịu đựng. Chị sợ hình ảnh anh trong các con mờ đi uy tín của anh giảm sút kẻ xấu lợi dụng vào tình cảm vợ chồng để ngăn cản con đường công danh của anh. Chị im lặng càng vui vẻ với anh với con để níu giữ lấy bảo vệ lấy hạnh phúc gia đình. Tất cả những cái chị đang có chẳng còn ý nghĩa gì nếu anh tuột khỏi vòng tay mẹ con chị. Hôm nay nói cho anh biết hay vẫn lặng lẽ chôn chặt trong lòng những day dứt đớn đau. Không! chị phải nói phải biết thái độ của anh. Hồng ôm nhẹ chồng thủ thỉ:

- Anh nói dối em! Trưa nay anh đưa Lan vào nhà nghỉ Tam Thanh.

Nghe vợ nói có tật giật mình Nam vằng ra khỏi vòng tay chị.

- Ai nói thế em đừng có mà nghe lung tung.

- Em thấy mà.

- Thấy là thấy làm sao đừng ghen quá hóa điên.

- Anh bình tĩnh nào. Sáng nay dạy xong em và Hà tranh thủ đi bệnh viện thăm bạn ốm trên đường đi Hà gặp anh đèo Lan rồi ghé vào nhà nghỉ Tam Thanh. Hà nói với em rồi theo anh vào nhà nghỉ. Bọn em vào hỏi lễ tân họ nói anh và Lan đã vào phòng hai lẻ ba rồi. Hà định xô cửa vào để bắt quả tang nhưng em không cho làm thế.

Nam bật dậy rít lên thành tiếng:

- Cô đừng nói không đừng nhìn gà hóa cuốc đừng thấy người ta kích động mà lú lẫn mất khôn.

- Em thấy mà. Lan mặc váy nâu xách chiếc bót màu trắng. Lúc đó Hà vờ chạy ra đường điện cho anh em đứng ngoài cửa phòng nghe rõ tiếng anh mồn một. Anh nói đang trên đường về nhà đúng không?

ầm... ầm... ầm Nam đạp mạnh hai chân xuống giường hét lên:

- Thấy này thấy này... ghen này ghen này...

- Em nói thế còn tùy anh nghĩ sao làm sao là do lương tâm anh tự hiểu.

- Cao thượng quá nhỉ nghe bạn kích động về đay nghiến chồng. Ông nói cho mà biết ông đi với bồ đấy làm gì nào.

Hồng khóc to thành tiếng bầu trời quay cuồng tai ù lên đầu như muốn vỡ tan. Nghe tiếng động thằng Lâm bé My giật mình chồm dậy chạy tót lên giường vợ chồng chị. Lâm nắm hai tay bố vừa khóc vừa nói:

- Bố ơi con xin lỗi con không bỏ học đi chơi điện tử nữa.

Lâm quay sang ôm lấy mẹ khẩn khoản cầu xin:

- Mẹ ơi đừng khóc nữa con không nói dối mẹ nữa đâu.

Bé My khóc nỉ non khoanh tay trước ngực nói với mẹ:

- Con xin lỗi mẹ con ngoan mà con không đánh bạn nữa đâu. Mẹ nín đi... mẹ nín đi con yêu mẹ.

Hồng ôm chặt hai con. Ba mái đầu chụm vào nhau. Những giọt nước mắt của mẹ của con đầm đìa lăn trên má tan vào nhau mặn chát.

                                           Thanh Hóa tháng 10 - 2010

                                                          L.G

More...

BÚT KÝ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

PHẠM PHÚ THANG

Biết bao ân tình


Trích hồi ký Nhặt lại đời mình


      Năm học 1955-1956 sau khi bàn giao chức Hiệu trưởng trường cấp I Yên Tâm cho đồng nghiệp tôi được về dạy học tại trường cấp II huyện Yên Định đóng tại làng Sét. Trong số giáo viên lớn tuổi lúc bấy giờ anh Lưu Thế Tự dạy cấp I Chủ tịch công đoàn ngành Giáo dục huyện chơi thân với tôi coi tôi như người em. Chủ nhật ngày lễ thường rủ tôi đi chơi nhà bạn nhà các giáo viên trong trường. Những chuyến đi mang theo bao kỷ niệm được giao lưu với đủ các tầng lớp tuổi tác.

Một lần anh Tự đưa tôi đến nhà người bạn ở làng Trịnh Điện là người đã mở cổng huyện cho quân cách mạng tiến vào huyện đường dành lại độc lập tự do cho dân cày huyện Yên Định chính là ông Trương Văn Huy.

Sau ngày dành độc lập ông Huy được Việt Minh giao trọng trách làm chủ tịch ủy ban kháng chiến xã Hưng Hải. Suốt bốn năm làm việc ông đã chỉ đạo nhân dân tiêu thổ kháng chiến chống lại sự oanh tạc của máy bay giặc Pháp đào hầm trú ẩn sơ tán dân mỗi khi bị máy bay giặc thả bom bắn phá quê hương. Xã Hưng Hải lúc ấy gồm có bảy làng dân cư đông đúc. Trong đó làng Duyên Lộc nằm ở cuối xã cạnh sông Mã được tỉnh chọn làm địa điểm sơ tán cho các nhà lãnh đạo cách mạng Campuchia.

Trong lúc hàn huyên anh Tự giới thiệu tôi với bạn ông Huy nhìn tôi trong ánh mắt thiện cảm. Tuy mới tiếp xúc lần đầu tôi đã tìm thấy ông là con người mẫu mực. Mẫu mực trong lời ăn tiếng nói mẫu mực trong cư xử với bạn bè với gia đình. Ông sinh hạ hai con gái. Con đầu là Trương Thị Mỹ con thứ là Trương Thị Hương. Con gái đầu đang học cấp II trường tư thục Phan Thanh tôi dạy toán 5 tiết ở đấy. Con thứ học cấp I trường làng. Vợ chồng ông không có con trai một vài lần bà Mão vợ ông đã tỏ lời làm mối cho ông một dì hai người cùng làng may ra được cậu ấm để nối dõi tông đường ông từ chối. Con gì cũng là con mình con gái gặp chàng rể tốt chẳng khác gì con trai.

Quan điểm của ông mới mẻ nên hai ông bà sống với nhau thuận hòa không chút phân vân về đường con cái. Tôi nghe ông tâm sự với bạn càng mến phục cử chỉ cao đẹp của ông với gia đình với con cái. Tôi là người thiếu vắng người cha nên càng khát khao có một người cha như ông mà nương tựa. Trong lúc hai ông trò chuyện tôi chỉ biết lắng nghe không dám tham gia câu chuyện của hai người bạn đồng môn cho đến khi ông chủ nhà thân mật hỏi tôi về gia đình chuyện quê hương tôi mới dám thổ lộ.

- Thưa bác cháu quê ở tỉnh Quảng Bình. Từ nhỏ cháu không biết mặt cha sống với mẹ và năm anh chị em. Cha sang Lào sang Thái làm ăn mà lâu lắm không thấy về. Cháu được Đảng và Nhà nước cho ăn học từ tấm bé đến nay thành người giáo viên cấp II. Nay được về dạy học ở huyện nhà cháu mừng lắm quyết tâm dạy tốt để xứng đáng với công lao của Đảng và Nhà nước đào tạo. Ông chăm chú lắng nghe từng câu nói của tôi rồi ông Tự tiếp lời: Chú Thang ra đây thiếu vắng sự chăm sóc của gia đình tôi mong anh chị tạo điều kiện giúp đỡ để chú yên tâm dạy học.

Ông Huy nói ngay: Ngày mai thầy dọn về đây mà ở chúng tôi nhường cho thầy cả ba gian nhà trên để sinh hoạt ăn uống gia đình ăn thế nào thầy ăn vậy. Có được không?

- Thưa bác quý hóa lắm cháu đang cần có tấm lòng yêu thương của người cha như bác.

Ngày mồng 7 tháng tư năm 1955 cũng là ngày sinh nhật lần thứ 23 của tôi tôi đèo chiếc ba lô con cóc trên xe đạp cùng với đến nhà ông Huy chào ông bà và gia đình xin được ở nhờ lúc trường chưa có ký túc xá. Khi vào nhà tôi ngạc nhiên quá. Nhà cửa đã quét dọn sạch sẽ ngăn nắp. Phía cửa sổ nhìn ra vườn cây kê một chiếc bàn và một chiếc ghế dựa ngay ngắn một bông hoa hồng nho nhỏ cắm trong chiếc lọ mực tươi rói. Cả nhà đón tôi như đón đứa con đi xa về. Hai chị em thập thò trong nhà bếp len lén nhìn thầy giáo trong dáng sợ sệt kính nể. ấn tượng đẹp đẽ đó khắc sâu vào trí óc của tôi buổi đầu về đây. Cho đến giờ đã 53 năm đi qua ông bà Huy không đã về với tiên tổ nhưng hình ảnh buổi sum họp đầu tiên mãi mãi là điểm tựa nuôi nấng cả cuộc đời của tôi trên đất khách mến quý người .

Từ đây tôi được sống trong mái ấm gia đình. Sáng chiều đi dạy học. Tối soạn bài chấm bài. Cơm ngày ba bữa có bàn tay chăm sóc của gia đình. Cơm trắng cá kho canh rau hái trong vườn nhà. Gia đình có bà ngoại cùng ở chung với con gái. Thêm tôi nữa là 6 người tròn mâm bữa ăn càng vui vầy. Mâm cơm dọn trên tấm phản rộng. Ngồi xếp bằng. Bà ngoại ngồi đầu nồi nhanh nhẹn đơm cơm cho cả nhà vui vẻ. Bữa cơm đầu tiên như tiệc liên hoan có lòng heo luộc cá ngạnh nấu dọc mùng dưa lê muối và cút rượu. Ông Huy vui vẻ mở đầu bữa ăn bằng giọng nói thân tình: từ rày nhà ta thêm thầy giáo thêm bát thêm đũa nhà mình càng vui vẻ. Bà ngoại ngồi đầu nồi đơm cơm cho mọi người. Ông Huy cầm cút rót rượu mời tôi. Tôi nâng ly lên lễ phép thưa bác: Cháu không uống rượu được. Ông tỏ lời khen ngợi. Bữa cơm diễn ra thân tình cả nhà ăn uống vui vẻ. Trên hai mươi năm rồi tôi mới có được bữa ăn đầm ấm như thế.

Suốt đêm hôm ấy tôi nằm thao thức vừa nhớ mẹ nhớ gia đình nghĩ tới vận may gặp được gia đình bác Huy cưu mang cho tôi về ăn ở trong nhà. Thật là diễm phúc. Từ hôm nay tôi có gia đình mới có bà ngoại bố mẹ và hai em gái. Em Trương Thị Mỹ sau khi tốt nghiệp cấp II theo nguyện vọng đã được trường Sư phạm trung cấp Trung ương tuyển vào học niên khóa 1956 -1958. Nhận được giấy báo nhập học cả nhà vui rộn lên. Làng Trịnh Điện bỗng chốc đã loang tin con gái ông Mỹ sắp trở thành cô giáo. Lúc bấy giờ việc cho con gái thoát ly đi học là một sự tiến bộ trong tầm nhìn của người dân. Các vùng quê cho con gái xa nhà đi học là việc làm hiếm hoi không phải ai ai cũng nắm bắt được như thời nay. Chuẩn bị cho em Mỹ đi học tận Hà Nội ngoài gia đình bạn học tôi loáng thoáng thấy có chàng trai Hà Nội đang sơ tán ở cùng gia đình tại nhà bác Long bác ruột của em. Anh bảnh trai người nhỏ nhắn trông rất thư sinh hình như giữa em Mỹ và chàng trai kia có chút duyên nợ trông e lệ khi tiếp xúc trò chuyện. Gia đình sắm sanh cho em đủ thứ từ chiếc kim sợi chỉ đến quần áo tư trang giấy bút... Với trách nhiệm người con trong gia đình là thầy giáo tôi đã kinh nghiệm qua trường sư phạm nên có thêm kinh nghiệm để bảo ban em khi học ở trong trường. Tôi học toán em học khoa văn dù hai khoa khác nhau nhưng cũng mục đích chung học xong đều làm thầy giáo cô giáo. Em chịu khó ngồi nghe lời khuyên giải của tôi trước hôm lên đường. Giữa tôi và em có một khoảng cách khá rộng. Tôi là thầy giáo lại được gia đình phong là anh cả nên trong đối xử em Mỹ kính trọng tôi nghe lời tôi dặn. Tôi mua tặng em chiếc va ly da tận thị xã Thanh Hóa. Tính em cẩn thận sắp xếp mọi vật dụng gọn gàng trong chiếc va ly. Chiếc khóa đồng có hai chìa sáng lấp lánh lúc nào em cũng cho vào kim băng cài chặt trong túi áo. Gia đình phân công tôi đưa em đến trường Sư phạm đóng tại Cầu Giấy. Cả đời tôi chưa một lần đặt chân tới Hà Nội nhưng khi được tín nhiệm tôi hăng hái xin phép nhà trường nghỉ dạy học ba ngày để đưa em đến nhập học. Chiếc xe đạp kiểu nữ mảnh mai chiếc va ly buộc chặt sau póc ba ga xe không có ống túp ngang nên không cách nào đèo em được. Bác Huy phải mượn thêm chiếc xe đạp của thầy Nhuần đèo con cùng tôi về thị xã để lên tàu đi Hà Nội. Cuộc tiễn đưa diễn ra thân tình chỉ có tiếng cười và những lời dặn dò của bà ngoại của mẹ. Cả nhà theo chân ra đến tận đình làng dừng chân bên cạnh cây phượng vĩ đang còn lưa thưa mấy cụm hoa đỏ như muốn níu chân kẻ ở người đi. Bác Huy vẫy tay ra hiệu cho mọi người trở về nhà bác đèo em Mỹ lên xe rồi thủng thỉnh đạp về hướng núi Chè. Tôi chào mọi người rồi đạp nhanh theo hai người lòng lâng lâng chứng kiến cuộc tiễn đưa như ngày nào tôi đi học. Chỉ khác nhau là tôi không có được người cha đèo con âu yếm như bác đèo em bây giờ.

Xế trưa chúng tôi kịp đến ga tàu bác Huy em Mỹ trông hành lý tôi vội vàng vào phòng mua vé. Chiếc vé bằng bìa các tông cứng in giá vé ngày giờ đi chuyến tàu Thanh Hóa - Hà Nội 20 đồng. Tôi mua 2 vé chính và một vé xe mất 45 đồng. Tiếng còi tàu vang lên như xé không gian trưa ở sân ga náo nức. Bác Huy cầm tay con chỉ nói đủ cho con gái nghe: Con cố gắng học tập giữ gìn sức khỏe. Ông chào tôi chào con gái rồi xuống tàu đứng trên sân ga cho đến khi tàu nổi còi dài báo hiệu chuyển bánh tiếng máy xình xịch khói tàu phả trắng vào sân ga như bàn tay vẫy chào các nhân tình đưa tiễn rồi lao về hướng bắc theo lộ trình không vương vấn một ai. Tôi ló đầu ra cửa sổ nhìn bác cho đến khi hút tầm mắt mới vào ghế ngồi. Em Mỹ nãy đến giờ ngồi lặng thinh không nhìn theo bố như cố giấu đi nỗi nhớ nhung trong đôi mắt ngấn lệ. Tàu ra khỏi ga Thanh Hóa tôi mới yên vị ngồi cạnh em. Rồi tôi hỏi em một câu hỏi vô cớ lẽ ra không nên. Em có nhớ nhà không? Em không trả lời chỉ lấy tay lau nhẹ giọt nước mắt lăn qua gò má. Ngồi lặng một lúc lâu em mới bắt chuyện thầy có mệt không? Tôi cười vui được tiễn em đến trường theo lệnh của bố còn gì mà mệt. Trong cuộc hành trình này tôi có dịp nói chuyện với em về gia đình về quê hương về quãng đường đi học thiếu sinh quân xa nhà từ lúc 12 tuổi em nhìn tôi rồi nói ngay: Thế lúc ấy thầy có nhớ nhà không? Tôi trả lời lâu dần quên đi không nhớ nữa. Hai chúng tôi cùng cười. Giữa tôi và em lúc nào cũng giữ khoảng cách thầy và trò giữa người anh và đứa em gái. Chúng tôi quý nhau tôn trọng nhau. Lúc ấy em mới 16 tuổi chỉ biết mến nhau chưa hiểu tình yêu là gì đang phụng thờ lý tưởng cao đẹp như trong tiểu thuyết. Tôi cũng vậy. Gia đình quý mến coi tôi như con cho nên mọi sự tốt lành tôi đều dành cho em tất cả. Tàu qua Nam Định rồi đến Phủ Lý chạy hối hả về ga Giáp Bát trả khách. Tôi lại đưa em lên tàu điện dặn dò em chờ ở cuối ga tôi đạp xe theo sau gặp nhau tại đấy.

Nắng tháng 8 nung nóng mặt đường nhựa thủ đô Hà Nội. Tôi đạp xe vã mồ hôi trán sao không thấy mệt nhọc gì cả. Chiếc xe đạp Supeglobe màu xanh ngọc ngoan ngoãn lướt nhanh qua 36 phố phường Hà Nội rồi dừng lại đầu ngã năm Cầu Giấy để chờ em gái. Xe điện đến. Tôi và em nhấc chiếc va ly đặt lên pocbaga em đưa tay giữ thăng bằng tôi cầm ghi đông dắt bộ từ Cầu Giấy đến trường Sư phạm ngót hai cây số. Đôi lúc sơ ý trọng lượng chiếc va ly đã nhấc bổng đầu xe suýt nữa làm va ly văng xuống mặt đường .

Đây rồi cổng trường Sư phạm mở rộng hai cánh cổng xòe ra hai bên ép vào mặt tường như hai bàn tay dang rộng đón giáo sinh. Bước qua cổng thấy phòng đón tiếp nhộn nhịp. Hôm nay là ngày đầu tiên đón giáo sinh nên phòng đón tiếp lúc nào cũng đông đúc. Em Mỹ đưa giấy triệu tập cho người trực. Một thanh niên khá điển trai chăm chú đọc giấy triệu tập rồi gọi em Trương Thị Mỹ quê Yên Định Thanh Hóa vào nhận phòng ở và làm thủ tục nhập trường. Trong lúc anh ghi ghi chép chép tôi nghe anh thổ lộ: Em ở Định Hải à? Anh cùng quê đấy anh ở Yên Phong cách em vài cây số. Sau này tôi mới biết rõ lai lịch anh tên là Nguyễn Ngọc Sinh cán bộ tổ chức nhà trường. Em được phân vào ở ký túc xá khoa Văn nhà A10 phòng 101. Cầm trong tay phiếu phân nhà phân khoa tôi đưa em về đúng địa điểm quy định. Các bạn ở Hà Nội đến sớm đã dành những vị trị thuận lợi em Mỹ vui vẻ chọn giường nằm tầng 2 vừa cao ráo sạch sẽ hợp với sở thích leo trèo của em. Nhà có nhiều cây khế cây mận mỗi lần đi học về thoáng thấy quả chín cây nhanh như cắt em đã bíu cành leo cao hái quả. Tôi nâng chiếc va ly lên tầng cho em trong sự chứng kiến của những người cùng nhà. Họ nhìn người anh chu đáo thương em hết mực. Người tinh ý có chiều ngờ vực sao anh em lại nói tiếng kẻ miền ngoài người miền trong? Sau khi sắp xếp gọn gàng nơi ăn ở tôi chào em chào mọi người định lên xe về Thanh Hóa. Lúc này đã 15 giờ rồi. Em tiễn tôi ra cổng trông ái ngại. Liệu anh về có kịp không hay phải nghỉ dọc đường. Chiều mai phải lên lớp tôi định bụng đi đến Phủ Lý nghỉ lại qua đêm sáng mai dậy sớm đạp một mạch đến Đò Lèn đi đường tắt lên đền Hàn qua đò Hoành đến nhà mất 5 tiếng kịp dạy học buổi chiều. Em nghe tôi lên kế hoạch như thế nên yên tâm chào tạm biệt tôi rồi quay về phòng kịp dọn dẹp nơi ăn ở.

Với sức vóc của tuổi xuân lại được thử thách qua mấy lần về quê đã vượt quãng đường Thanh Hóa - Quảng Bình dài gần 500 cây số giờ đây Hà Nội - Thanh Hóa 150 cây số có thấm gì đâu. Tôi phóng xe một lèo từ Cầu Giấy chọc thẳng đường La Thành hướng về ga Giáp Bát theo quốc lộ 1A đạp thẳng về Phủ Lý một mạch không dừng chân uống nước ở bất cứ nơi nào. Trời nhá nhem tối. Thị xã Phủ Lý đã lên đèn. Đèn điện lờ mờ trong các phố đủ sáng những mặt hàng chào bán lưa thưa khách ra vào. Tôi nghỉ chân bên một quán nhỏ xin một cốc nước chanh uống cho đỡ mệt. Bụng đói có cốc nước ngọt bổ sung cơ thể thấy khỏe lại. Mồ hôi vã ra như tắm lúc này mới thấm mệt. Tôi hỏi nhà trọ. Bà chủ quán chỉ dẫn chu đáo. Tôi dắt xe đạp đến trước cửa bác chủ nhà vui vẻ đón tôi. Nhà trọ ở một thị xã nhỏ đơn sơ. Một gian phòng chừng 12 mét vuông đủ kê một chiếc giường đôi và một chiếc bàn nhỏ đặt cạnh cửa sổ. Chiếc màn bằng sợi bông vắt lên trên khung giường trông luộm thuộm. Bác chủ nhà giao cho tôi một chiếc khóa nhỏ bảo khi ra ngoài nhớ khóa cửa phòng kẻo kẻ gian lấy cắp xe đạp. Bác hỏi tôi giấy tờ tùy thân tôi đưa cho bác giấy nghỉ phép. Ngoài ra tôi chẳng có giấy tờ gì khác. Ăn cơm qua quýt cho xong bữa rồi nằm ngủ một lèo cho đến sáng. Mỏi nhừ chân tay không biết giờ này em gái tôi dậy chưa? Chắc nhớ nhà lắm.

Lần đầu tiên trong đời em thoát ly khỏi gia đình. Bao lo toan bỡ ngỡ. Người tứ xứ về đây đủ các thành phần tuổi tác liệu em có hòa nhập được môi trường mới không. Tôi vừa đạp xe vừa nghĩ ngợi mông lung.

Ga Đò Lèn hiện ra trước mặt. Gọi là ga nhưng chẳng khác với nhà dân. Khác chăng chỉ thấy anh trực ban cầm lá cờ hình tam giác đứng oai nghiêm tay giơ thẳng. Lá cờ vuông góc với bàn tay tỏ vẻ sự chỉ dẫn an toàn cho tàu đi. Tôi vượt qua đường sắt theo tỉnh lộ ngược về phía tây theo lộ trình đã tính toán. Đến bến đò Hoành chiếc thuyền vừa cập bến. Trong số hành khách qua sông có người ngả nón chào tôi. Thì ra là em Hồng quê ở làng Hoành qua sông tranh thủ giờ nghỉ đi hái củi giúp gia đình. Học sinh lúc bấy giờ theo phong trào tiếng trống Bắc Lý đã vang bóng một thời. Qua đò ngang tôi phóng nhanh để về nhà kịp lên lớp buổi chiều. Cả nhà chờ tôi như trông mong một tin thời sự. Chị Mỹ vào trường rồi chứ? Em Hương hỏi ngay. Hai bác nhìn tôi như muốn biết mọi việc diễn ra tại nơi học hành của em Mỹ. Tôi kể mọi việc từ lúc lên tàu cho đến khi về Hà Nội việc nhập trường gặp người quen bao thuận lợi việc nơi ăn chốn ở chu đáo sạch sẽ. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.

Tôi xin phép đi lau mặt làm vệ sinh để chuẩn bị lên lớp. Nắng chiều xiên khoai chiếu vào lớp học tung tẩy trên tấm bảng đen. Tôi cầm phấn viết lên bảng: góc nội tiếp trong hình tròn. Giáo án đã được chuẩn bị kỹ càng nên bài giảng lưu loát. Tiếng trống báo hết giờ đúng lúc tiết học kết thúc. Lớp học gồm 56 học sinh ngồi chen chúc 4 đến năm người một bàn. Học sinh tuổi tác khác nhau chênh lệch từ 4 đến 6 tuổi. Em Trịnh Đình Khâm người làng Hoành đã có vợ và một con trai vẫn xin học để lấy bằng tốt nghiệp phòng thân. Anh Nguyễn Minh Giang người Yên Phong cao lớn người lạ đến trường đôi lúc chào nhầm học trò là thầy giáo. Thời buổi bấy giờ Ty Giáo dục khuyến khích mọi người đi học. Vì vậy việc quy định tuổi tác số học sinh cho các lớp không hạn chế. Trường cấp II Yên Định đóng tại làng Sét được một năm thấy địa lợi không thuận tiện nhà dân chật chội lại gần bờ sông Mã nhiều học sinh hay bơi lội có em suýt chết đuối nên ban giám hiệu xin huyện chuyển đến xã Định Liên một vùng chiêm trũng gần đường tỉnh lộ có điều kiện đi lại trọ học cho học sinh. Câu ca xưa: trai Hổ Bái gái Đa Nê lợn xề làng Dền không biết ra đời từ bao giờ nay tôi mới thấy chàng trai Hổ Bái chính là thầy giáo Lưu Thế Tự tốt bụng chăm sóc tôi như đứa em trong gia đình. Còn lợn xề làng Dền quả là khủng khiếp. Nhìn những con lợn nái cái bụng nặng xà xuống sát mặt đất kéo lê bầu vú căng tròn bầy lợn con cuống quýt xung quanh trông đáng ngại. Nghe anh Tự nói về gái Đan Nê và trai Hổ Bái mà kính nể. Chuyện rằng làng Đan Nê thuộc xã Yên Thọ nằm dọc bờ đê sông Mã một làng trù phú phía ngoài chân đê mùa lũ về mang bao phù sa bồi đắp cho đất đai nên dân làng hưởng lợi. Trồng khoai khoai tốt trồng cà cà sây. Gái Đan Nê ngoài việc chăm lo đồng áng còn chạy chợ buôn bán nổi tiếng là gái đẹp nhất vùng. Buổi sáng nhìn các cô gái đòn gánh nhún nhẩy trên đôi vai thon thả hòa nhịp với chân bước uyển chuyển ngực căng đầy mơ ước làm bao chàng trai hút hồn tìm cách trêu ghẹo. Một hôm giữa ngày chợ phiên mấy chàng trai Hổ Bái rắp tâm trêu chọc liền rủ 5 chàng trai trạc mười bảy mười tám trong đó chân anh Lưu Thế Tự chặn ngay quãng đường đi chợ của gái làng. Mấy chàng trai cởi hết quần áo nằm ngửa chờ gái Đan Nê gánh hàng sang chợ. Cùng lúc mười cô gái Đan Nê vừa tới quãng đường phục kích nhìn thấy họ không hốt hoảng e thẹn ngang nhiên bước qua cầu chân lướt nhẹ trên bộ ngực nở nang của các chàng trai không nói không rằng. Mấy chàng trai thua cuộc phục lăn gái Đan Nê ghê gớm thật. Từ đó trai gái hai làng chơi thân với nhau có người nên chồng nên vợ.

Năm học 1956-1957 trường chuyển về Yên Phong cho gần huyện lỵ. Đến đây thực sự là một địa điểm lý tưởng. Khuôn viên trường đóng tại trung tâm của xã có diện tích hơn 3 ha. Một phòng thí nghiệm được xây cất theo chuẩn quốc gia thời đó đầy đủ tiện nghi phục vụ cho học sinh cấp II. Các thí nghiệm: phản ứng cờ rây các hệ thống đo lường kiểm tra định luật Ac xi mét có cả. Tôi đã viết những câu thơ: Phòng thí nghiệm quy mô mây viền mái bạc/ Em bé lên mười ngồi điều chế Hydrô/ Bát ngát trời xanh đỏ rực lá cờ/ Phất phới trên nóc nhà giám hiệu...

Về địa điểm mới tôi được phân công làm trưởng bộ môn toán kiêm thư ký hội đồng nhà trường. Bộ môn toán gồm các thầy giáo danh tiếng như Hà Dục quê Yên Thọ Trịnh Xuân Lai quê Cầu Vàng Trịnh Xuân Phấn quê xã Yên Phong. Tổ toán bốn anh em tuổi tác xấp xỉ nhau. Có chăng thì Hà Dục nhích hơn anh em một vài tuổi. Anh Phấn to cao trông già trước tuổi hỏi ra cũng sinh năm gà quý cả. Trong bốn anh em thì ba người đã lấy vợ đã có con. Riêng Trịnh Xuân Lai lấy vợ sớm nhưng sinh con lại muộn hơn cả . Còn tôi thì chưa ra môn ra khoai gì. Xa quê thân cô thế cô nói đến chuyện vợ con nghe vãi linh hồn. Khi chia tay mẹ và gia đình tôi cũng chỉ ao ước được về quê dạy học để sớm khuya được gần gia đình có điều kiện chăm sóc mẹ và em gái.

Trường chuyển địa điểm cự ly về Định Hải xa hơn vài cây số. Tôi vẫn đạp xe đi về ăn cơm với gia đình. Em Hương đã học lớp 5 tôi vẫn dạy thêm cho em học đủ các bộ môn. Em tiếp thu chậm nhút nhát nên học hành không đạt chất lượng cao. Từ ngày em Mỹ đi học xa nhà trống vắng. Bữa cơm nào bà ngoại cũng nhắc cháu. Còn bố mẹ của em Mỹ thường nhìn về phía Hà Nội ngong ngóng chờ thư của em.

Một hôm vào giữa trưa con chó nhà nhảy chồm lên sủa gay gắt bỗng nghe tiếng anh bưu tá gọi: ông Mỹ ơi nhà có thư. Ông ra đón lá thư như đón đứa con xa vừa về tới nhà. Ông vui mừng gọi to: Bà ơi có thư con Mỹ. Tôi đang nằm nghỉ trưa thoảng nghe tiếng gọi có thư em Mỹ bỗng bật dậy đi ra nhà ngoài. Ông đưa thư và bảo tôi đọc cho mọi người cùng nghe. Lá thư được viết trên loại giấy pơluya trắng mỏng. Các con chữ xếp hàng ngay ngắn lộ rõ ngày 10 tháng 8 năm 1995. Bức thư viết:

Hà Nội ngày... tháng... năm...

Bố mẹ kính quý em Hương mến yêu

Thấm thoát ngày tháng thoi đưa con xa nhà đã một tháng. Nay viết thư về gửi lời thăm sức khỏe bà ngoại các Bác các chú bố mẹ đặc biệt là Hương em gái của chị vui vẻ hạnh phúc. Từ ngày con xa nhà đến nay con vẫn khỏe học hành tốt thường xuyên đạt điểm cao. Nhất là môn văn bài tập làm văn nào của con cũng được đọc làm mẫu nghe chung cả lớp.

Con khỏe vui vẻ. Kính chúc bà ngoại bố mẹ gia đình ta và em yêu quý của chị dồi dào sức khỏe an khang thịnh vượng. Con của bố mẹ chị của em Hương

Kim Mỹ

Tái bút: Cho con gửi lời cám ơn thầy giao Thang cám ơn anh trai quý mến đã tận tình giúp đỡ con đưa con đến trường gặp bao may mắn.

Bức thư tuy viết rất ngắn tình thì dài. Ông bà cầm thư sang nhà họ hàng đọc cho nhau nghe dạt dào xúc động chan chứa niềm vui.

                                                              P.P.T

                                                           (Còn nữa)

LÊ LAN


Vui buồn xe buýt


Ghi chép



      Gió mùa đông bắc tràn về. Gió rít từng cơn. Gió đập dập cả những tàu lá chuối hôm qua còn e ấp chưa kịp xòe hết. Đã gió lại còn mưa. Những hạt mưa nhỏ nhưng cũng đủ sức làm cho người ta phải rát mặt nếu như ra đường mà quên mang theo khẩu trang. Cái gió cái rét cái lạnh làm cho mọi người ít ai muốn ra khỏi căn nhà ấm áp của mình. Chợt nhớ hôm nay phải có việc lên thành phố. Nhìn thấy "con ngựa" sắt quen thuộc của mình tôi thở dài ngao ngán. Làm sao bây giờ. Mẹ tôi bảo: "Nay đi xe buýt cho ấm con ạ".

Tôi hớn hở xách chiếc túi và đi bộ ra điểm dừng xe buýt. Ngồi ở nhà chờ bên cạnh tôi mấy người khác cũng đang nói chuyện xôm lắm:

- Từ ngày có xe buýt tôi không còn phải thuê nhà trọ mưa lại không đến mặt nắng lại không phải đến đầu làm cả ngày tối lại được gần vợ gần con.

- Có xe buýt đỡ bao nhiêu cái khổ cho dân. Như cháu đây từ lúc lấy chồng ở thành phố ngày chưa có xe buýt cả tháng mới về thăm mẹ một lần nhưng giờ thì yên tâm rồi lúc nào cũng có thể về được.

Xe chuyển bánh. Bên ngoài gió vẫn rít lên từng hồi. Đó là lần đầu tiên tôi được ngồi xe buýt tại quê hương. Trong tôi rộn lên một niềm vui khó nói nên lời.

Năm 2007 Sở Giao thông vận tải Thanh Hóa đã triển khai thực hiện vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt gồm 9 tuyến hoạt động với số lượng 114 xe tham gia hoạt động bình quân 800 chuyến/ngày phục vụ từ 20 - 22 nghìn lượt khách đi lại mỗi ngày.

Trong xe người đứng người ngồi tiếng cười tiếng nói nhốn nháo như họp chợ. Một cụ chừng tuổi bảy mươi lưng đã còng dáng nhìn khắc khổ đang bị đứng ép bên cạnh ghế của một anh thanh niên với gương mặt bình thản lạ lùng. Thấy vậy tôi đứng dậy nhường ghế cho cụ mà trong lòng bất bình vì thái độ dửng dưng của anh thanh niên ấy. Khách đông quá anh phụ xe loay hoay đếm đi đếm lại vẫn thấy thiếu một vé. Hỏi thì không ai nhận. Anh thật sự lo lắng bởi một chiếc vé thì không đáng là bao nhưng nếu không tìm ra thì anh bị phạt tới 200.000 đồng thậm chí còn bị đuổi việc nữa. Mãi một lúc sau anh mới biết một cụ già ngồi hàng ghế giữa là chưa có. Khổ nỗi là cụ lại bị nặng tai nên không nghe anh hỏi gì.

Xe vẫn dừng và trả khách. Có hai vợ chồng huyện Đông Sơn. Người vợ gầy yếu tay vừa xách túi vừa loay hoay đưa anh chồng bị cụt cả hai chân lên xe. Nhưng hì hục mãi chị vẫn không đưa chồng lên được. Thấy vậy anh phụ xe nhanh nhẹn giúp chị vợ đưa chồng lên xe. Tôi chợt nhớ đến ngày mình đi xe buýt ở đất Hà thành. Thái độ của họ cứng nhắc hơn nhiều. Có lẽ hôm ấy số tôi may mắn nên đã được ngồi chiếc xe như vậy. Chứ nghe các anh chị trên xe kể về những tuyến xe buýt khác trong tỉnh mà tôi ớn ngại. Chị Lành ngồi cùng ghế với tôi từ đầu đã kể lại cho tôi nghe tường tận sự việc chị chứng kiến khi chị đi xe buýt tuyến từ thành phố Thanh Hóa xuống Sầm Sơn.

Hôm ấy trời nắng rất gắt chị đứng từ 12 giờ 30 phút đến mãi 13 giờ 10 mới bắt được tuyến xe số 1 đi Sầm Sơn. Tuyến đó người được ngồi thì ít còn người đứng thì nhiều. Đã thế xe lại thường xuyên bắt khách dọc đường. Chị tưởng như đó không phải là xe buýt mà là xe khách bình dân. Xe không chỉ chở người mà còn có cả hàng hóa. Mùi tôm cá hải sản cộng với mùi xăng xe làm cho hành khách ai ai cũng thấm mệt. Chị đang kể thì một chú đứng bên cạnh chúng tôi cũng lên tiếng: Gì chứ nhiều tuyến xe buýt còn không phát vé khi khách đưa tiền rồi bán chui vé thấy khách ở điểm dừng nhưng lại không dừng xe chỉ vì nhìn người đó không bắt mắt; lái xe thì phóng nhanh vượt ẩu không an toàn; thái độ phục vụ thì cứng nhắc... Nghe các anh chị kể tôi mới vỡ lẽ. Thì ra xe buýt ở tỉnh ta cũng còn nhiều điều đáng phải quan tâm đáng phải lo ngại.

Tôi thoáng buồn. Thiết nghĩ để hệ thống xe buýt nội tỉnh hoạt động thực sự có hiệu quả và đem lại niềm tin cho nhân dân thì cần có sự giám sát nhiều hơn nữa của cảnh sát giao thông cũng như sự phản ánh trung thực của người dân. Đồng thời cần nâng cấp các tuyến đường giao thông; hệ thống hóa các điểm dừng nhà chờ xe buýt có biển báo chỉ dẫn rõ ràng để người dân thấy thuận tiện hài lòng nhất khi đi xe; nâng cấp hơn nữa các phương tiện giao thông; các lái xe phụ xe cần phải nâng cao tinh thần trách nhiệm phải có thái độ phục vụ cởi mở hòa nhã thân thiện hơn với hành khách trên xe... Có vậy xe buýt tỉnh ta mới giữ vững thương hiệu ban đầu.

Nhịp sống vẫn ngày càng hối hả Thanh Hóa hôm nay không còn trong thời kỳ cựa mình quằn quại để trổi dậy nữa mà đang tấp nập hăng hái vươn xa vươn mạnh trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá. Từng tuyến xe buýt vẫn chạy và dòng người vẫn lên xuống đều đặn mỗi ngày. Tin chắc rằng với những gì mà giao thông Thanh Hóa nói chung và hệ thống xe buýt nói riêng đã và đang làm được hôm nay trong tương lai không xa Thanh Hóa sẽ được đón nhận một hệ thống giao thông hiện đại.

                                                                       L.L

More...

THƠ THÁNG 11

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TỪ NGUYÊN TĨNH

 

 


Hà Nội trong tôi

 

Hà Nội trong tôi từ lúc mẹ hoài thai

Đường Hồ Gươm sục sạo gót giày

Xích sắt xe tăng quân thù nghiến nát

Tháp Rùa xào xạc gió heo may

 

Hà Nội ẩn mình trong từng ngách phố

Đào hào đục tường cửa nhà xiêu đổ

Máu loang trong tiếng đạn bom gầm

Hà Nội những cột khói mù trời

"Tổ quốc hay là chết"

Những đoàn quân cảm tử sẵn sàng

 

Tôi sinh ra Hà Nội đã lên đường

Từng đoàn quân luồn rừng lên Việt Bắc

Không kịp ngoái đầu nhìn lại Hồ Gươm

Hà Nội

Tôi chưa một lần gặp lại

Nghe trong tiếng hát vọng đêm buồn

 

Ngày Hà Nội

Chào đoàn quân về trùng trùng điệp điệp

Năm cửa ô mở cờ đón đàn con

Tôi lại về khúc ruột đón miền Nam

Là tiền phương cho Ba Đình rung rinh ánh nắng

 

Tôi theo đoàn quân đi Nam lên đường

Chiến trận Tây Nguyên chiến dịch Sài Gòn

Đồng đội tôi trước khi ngã xuống

Mơ một lần ghé về Hà Nội

Thăm ba sáu phố phường thăm năm cửa ô

Thăm Ba Đình

Tuyên ngôn độc lập

ấm áp thay giọng nói Bác Hồ

Tôi đã gặp người con gái Thủ đô

Rời quê hương đi giải phóng miền Nam

Tôi yêu Hà Nội

Tôi yêu Hà Nội

Hà Nội nhớ thương em

Qua giọng nói qua hơi thở ấm

Cầm tay run run mong ngày Thống nhất trở về

Em ngã xuống chưa kịp về Hà Nội

Dặn tôi - Ngày thắng lợi em chờ...

 

Tôi yêu Hà Nội qua tim em

Máu Tổ quốc chảy tới đâu Hà Nội tới đó

Năm cửa ô là năm cánh sao vàng.

                           2-10-2010

                               T.N.T

 

 

 

 

VŨ THỊ KHƯƠNG

 

 


Bàn tay vẫy

 

Một bàn tay thò trên mái ngói *

Vẫy vẫy

Một bàn tay đủ cả năm ngón tay

Của đàn ông hay đàn bà?

Của người già hay người trẻ?

 

Bàn tay vẫy vẫy

Không thấy đầu

Không thấy mặt người

Chỉ một bàn tay vẫy vẫy...

 

Giữa mênh mông sóng cuộn đục ngầu

Mái ngói cũng trở thành lượn sóng

Chỉ có bàn tay ngoi lên chới với

Như gọi không thành lời: Cầu cứu!

 

Đại hồng thủy

Lồng lộn tác oai tác quái

 

Bàn tay vẫy anh vẫy tôi

Bàn tay vẫy gọi những tấm lòng sẻ chia nhân ái.

                            23-10-2010

                                V.T.K

 

 

  • Hình ảnh lũ lụt miền Trung

 

 

 

TÔ NHUẦN

 


 

Họa thơ Nguyễn Duy

 

"Có gì lạ quá đi thôi

ở gần thì mất xa xôi lại còn"

Tưởng mòn mà chẳng thể mòn

Quê hương vẫn thế vẫn tròn quê hương!...

                               2008

                                T.N

 

 

 

NGUYỄN ĐĂNG VIỆT


 

Trường cũ

 


 

Thẫn thờ giữa bãi đất quê

Lớp bè bạn cũ ùa về trong tôi.

 

Nắng vàng ủ tím vườn đồi

Lá lay lắt lá thả lời heo may.

 

Bây giờ tay chẳng cầm tay

Kéo co đánh đáo nát khoai ruộng màu.

 

Bây giờ chẳng được mi tau

Cánh diều bóng bưởi với âu cá cờ.

 

Sông giờ vắng tiếng hò đò

Mải xanh trôi cả đôi bờ líu lô.

 

Lơ mơ lời thầy lời cô

Trống trơ mây trắng ngẩn ngơ nhớ người.

 

Mong manh dằm lớp chỗ ngồi

Mà tin chiếc bóng với thời xa xôi.

 

Chiều se

chậm bước bồi hồi

Một con cò trắng vỗ trôi tháng ngày.

                             N.Đ.V

 

 

 

 

NGUYỄN BÌNH AN

 


 

Nói với cây đàn

 


 

Đã từ lâu

Cây ghi ta lịm tắt

Chẳng còn sức rung ngân

Những dòng kẻ trống không

Trượt âm thanh vào quên lãng

ẩm mốc

Khô khan

 

Một thời tâm giao

Giai điệu bùng lên

át tiếng gào của quỷ

Rót chung niềm vui bạn bè

Sớt chia nỗi buồn riêng lẻ

Tận cùng dịu êm

Ngợi ca tình yêu bất diệt

 

Không biết tự bao giờ

Và vì sao...

Bỗng chốc tôi thành vô cảm

Mọi cung bậc đều như tiếng sấm

Bất lực!

Cây đàn ghi ta đã chết.

                  N.B.A






TRỊNH NGỌC DỰ


Miền Trung



Gánh nặng đè lên vai miền Trung

bỏng rát bao năm bom cầy đạn xới

bão lụt liên miên những lứa cây chưa kịp xanh chồi

nếp nhà dựng bốn hướng thông thốc bốn mùa gió

em chưa kịp về lại vườn xưa

chân trần ngược dốc

Miền Trung

những gioi cát nắng rang gió bay ràn rạt

bát cơm lẫn bụi cát

giờ nằm trong nước cát không giữ nổi để cây bật tung

theo nước

hố bom vừa lành nước xoáy cồn lên

miền Trung

cơn đau thắt!

Đâu căn hầm xưa nửa chìm nửa nổi

nước treo người nhấp nhô trên những mái nhà

nước cuốn tất cả chỉ để lại hai bàn tay trắng

bàn tay bợt nắng lẩy bẩy bám trên ngọn cây

đói và rét

Vẫn biết đất này

Bão lũ liên miên

Mọi người đều biết chuyện Sơn tinh Thủy tinh...

Giờ Sơn Tinh đang mang những lá lành đùm lá rách

đem nước mắt thấm nước mắt

Bao giờ

về miền Trung

ta chung vai nâng dải đất này lên

Hắt ra biển

những mùa bão lũ

những cơn bão lòng

                  Đợt bão lũ tháng 10-2010

                             T.N.D


 

NGUYỄN XUÂN NHA


Đoản khúc mùa đông



Từ những tổn thương và khát vọng cháy

Lửa đôi lúc bùng lên

Minh chứng xa xôi một niềm tin.

Sao em không còn ngày xưa

Cho ta chìm vào đôi mắt chứa chan tình yêu?

Cho ta những ngày hy vọng...

Lạc lối em vĩnh hằng

Và bình minh ngày cũ

Trước ta mở ra con đường mùa đông hun hút

Tiềm ẩn nỗi niềm cô đơn

Sâu thẳm

                         12-2009

                           N.X.N



 

NGUYỄN MINH KHIÊM


 

Vấp


 

Giật mình vấp phải cánh đồng gió bấc

Vấp phải cỏ dại và thóc lép.

Vấp vào mê cung quảng cáo

Vấp vào câu thơ nhiều trích dẫn

Một phần tiếng Việt một phần tiếng Anh một phần

ngôn ngữ mạng

Bảy sắc cầu vồng hư ảo

Lơ lớ hiền triết lơ lớ đông tây ngọng ngịu

Mẹo hóa trang để tạo nên sự nhập nhoạng thiên tài

Thu hút sự hiếu kỳ cách tân thâm u trên những dấu chân sụp đổ

Tạo nên câu chữ lập thể nhiều hang động mơ hồ và bí hiểm

Vấp phải vô vàn cái cũ nhặt nhạnh đắp thành đồi núi

Vấp phải những dòng sông đã chết để lại nhiều cái hố

trở thành cạm bẫy

Vấp phải những cái bả vinh hoa không có vị mồ hôi

in dấu nhiều đầu lưỡi

Vấp vào những cái thang công kênh nhau trở thành

thần tượng

Thế mới biết Mai-a-cốp-xki vẫn là người may mắn

Luyện muôn nghìn cân quặng chữ vẫn có được một

chữ thu về

Ta mơ nhặt được một chút miệng người bỏ quên

Trí tuệ nhân loại bỏ quên

Chưa có dấu vân tay chưa tượng hình hài

Thời gian thành kẻ chế nhạo sức lực ta trên màu tóc.

                                     23-10-2010

                                         N.M.K



GIA BẢO


 

Nỗi heo may


Xanh xanh một mảng mây trời

Ru yêu thương thắm bao lời nồng say

Đầu nguồn hứng gió đầy tay

Giá cầm suốt được đời này mát trong

Đi qua bao nỗi nhớ mong

Một mình chắn nẻo bão giông một mình

Ngẩn ngơ là cái phong tình

Trời xanh chi mãi thêm xanh đến giờ

Ngước trông mộng hóa thành mơ

Đôi chân chới với quá bờ yêu thương

Chỉ còn cọng gió vương vương

Thổi gầy thêm nỗi chán chường heo may.

                               G.B


 

ĐINH NGỌC DIỆP


 

Bạn

       Tặng N.V.C



Ta gặp nhau ở lưng chừng con phố

Sông người.

Chia tay nơi cuối nguồn

Cửa bể.

Chiếc bánh đa vừng chỉ là cái cớ

Nước lọc say như rượu say

Dường như vật chất xa lánh phút giây này!

Dằn chén không ngỡ rượu đầy lại nâng ngang mày

Nào cạn chén!

Không phải tráng sỹ lấy da ngựa làm chăn

Ta đã cùng nhau lấy phố hè làm chiếu

Đãi nhau cả khách sạn ngàn sao

Vỉa hè thông thống ra bờ bể

Nhìn trời xa không vướng mái nhà

Dải Ngân Hà gieo xuống từ ta!

Cũng từng lấy máu đổ bình xăng

Đường trường gói mì tôm lót dạ

Bài báo in ra không dính bụi đường.

Ngày mai tái ngộ khung trời khác

Nhìn cao xanh lại nhớ ra:

Sao hạt vừng gieo thơm nức

Nhá từng mảnh trời

tan giòn như miếng bánh đa!

                       Đ.N.D



NGUYỄN ĐÌNH ẤT


Đêm trăng



Đêm hôm ấy ra khỏi nhà Tự Lãng

Chỉ chờ nghe tiếng Chí la làng

Quê xơ xác lại oằn rên náo loạn

Để rồi chìm vào tiếng chó sủa khan!

Nhưng trăng lên!

"Trăng rằm vành vạnh" (1)

(Một cái "Nhưng" đổi cả hướng đất trời)

Con thú rượu không về hang tối lạnh

Phải vì trăng sáng quá Chí Phèo ơi?

Cảm ơn trăng đưa anh sang vườn chuối

Dưới trăng quằn quại kiếp người

Bát cháo hành cay mắt rơi!..

Tôi viếng Ông viếng cả tên "Vũ Đại"

Cúi lạy Người đêm trăng nghĩa trăng tình

Nơi lò gạch - nhặt tiếng "Nhưng" sót vãi

Ông chau mày:

- Thị Nở lại sắp sinh!

                    Đại Hoàng chớm thu 2010

                                 N.Đ.A

(1) Chữ của Nam Cao trong chuyện Chí Phèo

More...

DỰ THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

HOÀNG NGHĨA

Cha

Cha lật đất bằng chiếc cuốc chim bầm tím

Gieo mùa

Con giun quằn quại đau

Xiên xiết cánh đồng

Rãnh cày loang sữa

Mồ hôi vàng hơn hạt lúa

Nước mắt trắng hơn bát cơm

Nỗi lòng trơ vơ như cánh đồng cuối mùa gặt

ánh mắt nhìn sâu xuống từng lớp đá ong

Tấm lưng trần cõng nắng

Mặt đất dưới mặt cha

Mặt trời trên lưng cha

Con vạc đêm lầm lũi

Nhặt sương nhặt tàn ngày xây nên hình hài đàn con

Cha xoa đầu con bằng bàn tay người mẹ

Và hơi thở ruộng đồng.

Con ngủ vùi trong hơi ấm của đêm

Trên chiếc giường mang bóng dáng cha

Khoác tấm chăn màu nắng

Nghe trong đêm tiếng đất trở mình...

                                H.N

THANH PHƯƠNG

Về Vĩ Dạ ngỡ mình là thi sỹ


                                 Tưởng nhớ Hàn Mặc Tử


 

Tìm em ngày tháng bơ phờ

Ngẩn ngơ giọt nắng phút chờ hôm sau

áo xưa giờ đã phai màu

Vầng trăng rụng sắc hoa cau câu thề!

Vớt tìm trong đáy cơn mê

Câu thơ tài tử tỉ tê với lòng

Niềm riêng còn đượm bến sông

Thuyền trăng sao mãi vẫn không thấy về?

Ngỡ ngàng lối cũ hồn quê

Người xa biết có dãi dề nhớ nhung!

Giật mình một phím tơ trùng

Lòng ai nào đã có lòng với ai?

                     T.P

TRỊNH HẢI YẾN

Lỡ

Ai gom một câu ca vỡ

Gởi tháng giêng run rẩy lỡ hình hài

Bung lời cổ tích tháng hai

Trầu cau thách đố thiên thai gót hài

Vụn mùa trăng lẩn tóc mai

Câu ca zic zic đời ai Thị Mầu

Chiếu chầu nước mắt hoa cau

Oan khiên ai kết lối sau mắt ngà

Lần tràng hạt tội oan gia

Câu ca rụng xuống đa đa vườn trầu

Muộn mùa trăng lẩn về đâu

Mõ đời ai kết nên câu chiếu chầu...

                                 T.H.Y

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Người sắp "cưới
một bông hoa trong xóm"


 

                                                   VĂN ĐẮC


       Vừa rồi ở thành phố Thanh Hóa tôi gặp ông Lương Hữu Thông từ thành phố Hồ Chí Minh về. Bắt tay cười to lục túi ông tặng tôi 4 tập thơ: Hoa một nẻo đường Hương bay Tơ giăng chiều chiều Bốn mùa yêu thương. Nhìn tôi ông nói: Sắp tới tôi sẽ in tập thơ "Miền trái chín" gửi tặng anh sau.

Tôi về đọc ngay đọc một hơi với tất cả lòng trân trọng đối với một tráng lão thiết tha với thơ như vậy. Tôi thấy hứng khởi và tập trung viết bài cảm nhận này. Hình như hồn xưa của nhà thơ Đỗ Xuân Thanh về gợi ý tôi đặt tên cho bài viết: Người sắp cưới một bông hoa trong xóm.

Nhà thơ Đỗ Xuân Thanh viết lời giới thiệu cho tập thơ "Hoa một nẻo đường" (Thời Đỗ Xuân Thanh sống và làm việc tại nhà xuất bản Thanh Hóa năm 1996) có đoạn: "Trong một lá thư ông khoe với bạn thân (chắc là ý tưởng ngày xưa). Tôi sắp cưới một bông hoa trong xóm. Tôi đọc câu này không giấu nổi một nụ cười. Cả đời yêu của mình chả khi nào thốt được một câu đẹp đến như vậy)".

Câu nói thường đó chính là một câu thơ hay. Câu thơ gợi mơ hồ thấp thoáng bóng hoa bóng người thật mà như không thật hé mở ra bao nhiêu cảnh tình về người quê cảnh quê hòa nhập vào thơ ông Lương Hữu Thông một vẻ đẹp tâm hồn trẻ trung và mơ mộng:

Ta mở trang sách vàng ra đọc

Chữ ngời lên như chuỗi ngọc từng hàng

Không mấy người đến với sách đọc và học trong sách lại mơ vọng như vậy.

Ông Lương Hữu Thông có hiệu là Trường Thi có thơ từ thời còn là giáo viên văn phổ thông. Quê ông ở Tào Sơn Tĩnh Gia có "Núi Nga uy nghiêm trầm mặc" có "Sông Yên chở nặng phù sa" nơi "Một ngõ trúc vàng một mái tranh lụa" và "Tình em thả gió lên cây đa vàng". Đi đâu ở đâu ông cũng nhớ về miền quê ấy nghe một tiếng gọi tên mình giữa phố ông cũng bàng hoàng.

Đường phố người xe như nước chảy

Tiếng ai mà như tiếng cố hương.

"Tiếng cố hương" không thể nói rõ ra tiếng gió trong khóm tre tiếng nắng ngoài bãi vắng tiếng chuông chùa lúc hoàng hôn tiếng ru của mẹ tiếng gọi của người thân tiếng hát đồng dao của trẻ nhỏ... Tất cả tiếng thiên nhiên tiếng con người ở miền quê ấy thấm đẫm vào hồn ông thơ ông. Người đa cảm đa tình ấy đích thức là người của cõi thơ rồi. Ông bộc bạch:

Khi gặp một câu thơ hay

Bỗng lòng ta trong sáng lại

Thấy chân trời xa rộng mãi

Rồi ta thành tình nhân của một câu thơ

Đòi cưới một bông hoa thấy mình thành tình nhân của một câu thơ đi trong phố thì thấy phố cũng thành tình nhân.

Thôi nhé!

Xin em đừng hờn giận

Xuân đến rồi

Ta dạo phố tình nhân

Năm 2004 tập thơ "Bốn mùa yêu thương" mở ra lúc ông đã quá tuổi "Xưa nay hiếm" rất nhiều thơ tình những là tiếc nuối ước ao mơ màng tha thiết thấy như ông trẻ lại với tình với thơ. "Trăng thềm" là bài thơ tình trẻ trẻ lắm. Câu thơ thả hai chữ lạ mới rất đẹp tình tứ đến thế thì cái tình trai gái đâu còn khoảng cách tuổi tác nữa.

Mượn vài chén rượu cho vui

Dăm câu thơ

lả lơi cười

cho em

Lung linh

Vàng giải

Trăng thềm

Mắt đưa

Tóc chảy

Vai mềm

Sang anh

Sau những phút tình tứ thơ mộng là những nỗi niềm tâm trạng của người nhiều trải nghiệm và thật sự làm chủ cái tình của mình.

Kiếp sau thì chẳng có đâu

Hãy yêu cho hết nỗi đau trên đời

Cho hồn trăng gió thảnh thơi

Cho tình trẻ lại như thời xuân xưa

Những câu thơ tình buồn nhớ diết da làm lòng ta trong trẻo lại

Anh đi trăng gió sông hồ

Em về nhặt lá bên bờ tình xưa

Những câu thơ tình đồng quê hồn hậu yên tĩnh có thể làm ta ngoảnh mặt với những nhốn nháo của phố phường hoa lệ.

Thơm hoa thơm quả trên cành

Bụi hồng chen chúc kinh thành mặc ai

Người tình nhân của thơ ấy đã "đi trăng gió sông hồ" giăng mắc biết mấy cuộc tình những cuộc tình lỡ hẹn.

Hẹn về Đà Lạt đổ mưa

Hẹn em gặp lại một mùa xuân sau

Và ngổn ngang những tâm sự:

Gió trăng mấy chén bên thềm

Thương bao tình cũ trong miền nhớ nhung

Tôi mở ngoặc kẻo có người lại bữu môi già thế mà còn yêu với đương. Xin thưa: Trong bài "Lời vĩnh biệt của một thiên tài" Gabriel Gacxia Marquez (nhà văn Clombia) có đoạn: "Người ta nhiều khi nghĩ rất sai lầm rằng người ta thôi yêu nhau khi đến tuổi già mà không biết rằng người ta sẽ già đi khi không còn yêu nhau nữa".

Nhưng bôn ba dãi dầu ngang dọc mấy rồi cũng đến lúc dừng chân. Ông khao khát tìm về với quê "Nuôi mấy con chim hót/ Trồng thêm mấy bồn hoa/ Bình minh mọc/ Trăng lên trước nhà... ngân nga câu thơ cổ" ung dung ngẫm ngợi:

Đời thêm một cõi nhân gian

Là thêm biển bạc trăng vàng cho ta

Thơ Lương Hữu Thông hàm chứa một triết lý: Tiền và tình thiên nhiên và con người thành phố và miền quê hẹn hò đi ở chia ly gặp gỡ... cuối cùng trở về với câu thơ: "Tôi sắp cưới một bông hoa trong xóm". Ông đã cưới thật cưới cả thiên nhiên vào ngôi nhà thơ của mình. Có lần ông thầm ước: "Ước đến ngày xuống mộ/ Ta nằm cùng với hoa..." nhập vào cõi hoa mà đi cùng trời đất.

Tôi chợt nhớ R. TaGore - Thánh thơ của đất nước ấn Độ nói: "... Nếu như chúng ta phải đi qua sa mạc mà cát đều là bằng vàng cả thì cái ánh sáng tàn nhẫn của những mảnh chết kia sẽ trở thành nỗi sợ hãi cho chúng ta còn nhìn thấy một bông hoa hồng sẽ đem lại cho chúng nét nhạc của thiên đường.

                                                                 V.Đ

Thưa thầy của Hữu Thỉnh


                                                              NGUYỄN NGỌC PHÚ


 

Thưa thầy

Trước ngọn thước là con đường xa tắp

Bông hoa nào cũng vẻ bình yên

Và em tin qua cay đắng vẫn tin

Những ngọn suối không làm tan bóng thỏ

Đã vấp ngã

Thưa thầy

Nhiều vấp ngã!

Chẳng ở đâu xa ở ngay giữa con người

Em bước đi lặng lẽ nghĩ về thầy

Đời mau quá vui buồn chưa kịp cũ

Đời mau quá tóc thầy khói phủ

Giáo án mong manh bão giật đời thường

Cây trước cửa gió ở ngoài trang vở

Thầy một mình vật vã với văn chương

Đang mưa bão đường về sông nước ngập

Giở trang Kiều thầy giảng chạnh lòng đau.

Hữu Thỉnh

Bài thơ Thưa thầy của nhà thơ Hữu Thỉnh viết năm 1981 lúc đó anh vừa bốn mươi; độ tuổi đã có sự từng trải cuộc sống. Thưa thầy cũng chính là những chiêm nghiệm cuộc sống của anh trên đường đời - Con đường bắt đầu từ những dòng kẻ đầu tiên. "Trước ngọn thước là con đường xa tắp". Ngọn thước của thầy giáo đã chỉ ra một đường thẳng nhưng cuộc đời vốn không đơn giản thế. Giọng thơ điềm tĩnh có chút ngậm ngùi: "Và em tin qua cay đắng vẫn tin/ Những ngọn suối không làm tan bóng thỏ". Bóng thỏ hay là bóng trăng; sức gợi mở sẽ lan tỏa bắt đầu từ những tung tẩy đằm thắm này. Hữu Thỉnh thành công khi viết về những thân phận cơ nhỡ những hẫng hụt bằng lối thơ mang hồn vía dân gian trong ví von trong giao cảm.

Thưa thầy là một lời thưa cũng chính là lời tự thú. Anh đã nhận ra: "Đã vấp ngã. Thưa thầy nhiều vấp ngã!/ Chẳng ở đâu xa ở ngay giữa con người". Câu thơ tự nhiên uốn khúc bậc thang như những chỗ ngoặt của cuộc đời khi mà: "Đời mau quá vui buồn chưa kịp cũ". Chỉ với mau và cũ đã tạo cho ta một trạng thái chênh vênh tốc độ và đậm nhạt thời gian. Vấp ngã ngay giữa con người là cách nhìn thẩm thấu và sâu sắc nhiều trực cảm. Hữu Thỉnh là thế anh luôn thổn thức với đời bằng lắng lặng lắng sâu bằng cách nói dung dị nhưng chạm được lõi hạt nhân tình người nhân hậu. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ đã hai lần thảng thốt nhắc lại: "Đời mau quá". Mới biết Thương lượng với thời gian (1) là một bản ký kết hết sức ngặt nghèo và tự nguyện. Nhà thơ đưa ra một vài hình ảnh tương phản. "Tóc thầy khói phủ" chứ không phải là tóc bạc và "Giáo án mong manh" đối với "Bão giật đời thường". Chỉ vài nét chấm phá chan chứa cảm thông đã vẽ nên chân dung người thầy giáo trong gian khó đời thường. Hai câu thơ ám ảnh nhất trong bài: "Cây trước cửa gió ở ngoài trang vở/ Thầy một mình vật vã với văn chương" lối nói bỏ ngỏ rất gợi của Hữu Thỉnh đã có hiệu quả tối đa chạm tới cõi trắc ẩn của lòng người. Cây trước cửa chứ không phải ngoài cửa vẫn chịu "Gió ngoài trang vở" có thể là cây đời cây người là cây thầy giáo gieo trồng với tay ra là có thể chạm được rưng rưng màu xanh sự sống với bao hy vọng. Bài học không chỉ khuôn trong trang vở; rõ ràng văn chương đích thực bao giờ cũng hướng tới cuộc đời. Người sáng tạo vật vã đã đành người chuyển tải qua từng trang giáo án cũng vật vã không kém: "Thầy một mình vật vã với văn chương". Tôi nghĩ khó có thể thay thế được hai từ nào hay hơn vật vã trong văn cảnh này.

Với bài thơ Thưa thầy nhà thơ chỉ gợi mà không tả chỉ tâm tình mà không đối thoại. Mở đầu bài thơ là con đường xa tắp bắt đầu từ ngọn thước của thầy thì kết thúc là con đường mưa bão trong bài giảng của thầy. Hành trình của Thưa thầy khép lại bằng tiếng giảng Kiều một áng văn bất hủ bi thương. "Giở trang Kiều thầy giảng chạnh lòng đau" đau trong day dứt trong nhận thức để mình sống tốt hơn với niềm tin yêu của thầy giáo. Đúng như Thơ chính là kinh nghiệm sống như nhà thơ Hữu Thỉnh đã từng đúc kết.

                                                                       N.N.P

(1) Thương lượng với thời gian là tên tập thơ của Hữu Thỉnh được giải thưởng Hội Nhà văn năm 2006.

HOA DẠI - MỘT CHÚT HƯƠNG BÊN ĐƯỜNG...


(Đọc tập thơ "Hoa dại" của Lê Ngọc Sáng
NXB Văn học 2007)

                                                          Nguyễn Ngọc Quế


        Tôi có người bạn thân nhà thơ Trịnh Thanh Sơn quá cố sinh thời anh thường viết lý luận phê bình giới thiệu các tác giả thơ cả nước trên các báo chí trung ương. Anh đã in ba tập "Dọc cánh đồng thơ" đầy đặn phong phú. Anh tâm sự: "Ai viết được một câu thơ một bài thơ mình đều quý trên cánh đồng thơ Việt Nam có nhiều có nhiều loại hoa nhiều hương sắc cần chăm dưỡng nó để có những bông hoa Mẫu đơn-chúa hoa cho đời".

Vậy với "Hoa Dại" của tác giả Lê Ngọc Sáng cũng đáng quý nên tôi cầm bút viết mấy lời cho tập thơ với điều tâm đắc của nhà thơ Trịnh Thanh Sơn đã dạy. Tôi muốn lấy câu thơ này của Lê Ngọc Sáng để nói với độc giả bè bạn yêu thơ và làm thơ:

Ai nào chẳng lúc thăng hoa

Cái say ngẫu hứng dẫn ta lên đường

Lời bộc bạch đó cho chúng ta hình dung thế giới của thơ ca mờ ảo đầy mộng mị mê hoặc nhiều người. Làm được một câu thơ một bài thơ đã khó nhưng để có một tập thơ càng khó hơn. Tôi không rõ thầy giáo dạy giỏi Lê Ngọc Sáng bận bịu vào nghề nghiệp thì sự "thăng hoa" lúc nào? lúc nào nàng thơ dẫn Lê Ngọc Sáng lên đường thi ca đây.

Để có một tập thơ đầy đặn trên tay bè bạn chắc tác giả phải "say" và có vốn liếng "nghề". Đâu phải ngày một ngày hai có bài có tập phải dồn tâm huyết của mình vào từng hình tượng câu chữ mới có một câu thơ đọc được.

"Hoa Dại" là cảm xúc của tác giả đối với đất nước quê hương là tình yêu của người lính là sự trăn trở giữa cái thiện cái mỹ trong dòng chảy cuộc đời hôm nay. Cũng như bao người khác Lê Ngọc Sáng có một tuổi thơ vất vả ở một làng nghèo bên dòng sông Mã lớn lên đi học phổ thông vào đại học đi bộ đội vào Nam đánh giặc hòa bình về làm một thầy giáo. Dòng chảy cuộc đời đó trước hết cho tác giả gắn bó da diết với quê hương đất nước. Đó là mảng đề tài tôi cho là thành công của anh. Cái được của "Hoa Dại" là vậy.

Anh đằm thắm khi nói về quê hương:

Quê hương hỡi ấm vành nôi muôn thủa

Cọng rơm vàng ngày ấy mãi thơm hơi

(Quê hương)

Hay quê hương là:

Nơi có mẹ hiền ta ở đó

Thức với ngọn dừa vò võ mong con

(Dòng sông quê hương)

Thơ bao giờ cũng đi từ cảm xúc cụ thể được ngôn ngữ hình tượng chắp cánh bay bổng. Cụ thể viết về một người bà:

Da nheo lại như vỏ cây tháng giá

Dáng hao gầy mỗi bước cũng chậm hơn

(Bà tôi)

Và mẹ nữa những bà mẹ Việt Nam tần tảo và chịu đựng:

Những năm bom đạn thiếu từng hạt muối

Bát gạo củ khoai tháng tám ngày ba

Tấm áo pha sương bạc màu mưa nắng

Tránh giặc chạy ăn cầu phật khấn trời

(Mẹ tôi)

ở "Hoa Dại" tôi trân trọng những bài thơ viết về thời kỳ anh đi đánh giặc. Tình đồng đội tình đồng bào ơn nghĩa với những vùng đất anh qua. Đó là những tình cảm thật trong sáng tự hình tượng tự sự việc anh gặp anh sống và thành thơ.

Đây là cảnh chiến tranh ác liệt của vùng Khu bốn cũ:

Vườn mẹ hai hố bom sâu

Nhà cháy mấy lần

Chiếc này mới dựng

(Mẹ già xóm nhỏ)

Viết về cảnh các bà mẹ ở vùng đất chiến tranh yêu thương đùm bọc người lính:

Dẫu đi đánh giặc mười phương

Không quên bát nước bên đường hôm nay

Dẫu trong bom đạn ngày nay

Lòng còn vẫn nhớ tình này mẹ ơi!

(Bát nước bên đường)

Tứ thơ không mới chủ đề có nhiều nhà thơ viết còn hay hơn nhưng các câu thơ trên vẫn đọng lại do cái tình của tác giả.

Người đi đánh giặc bom đạn đầy trời nhưng vẫn canh cánh bên lòng nỗi nhớ hậu phương nhớ mẹ nhớ người thân thương bà ở nhà:

Chiến trường xa vời vợi nhớ thương về

Hình ảnh mẹ trang thư nhòa viết vội

(Mẹ tôi)

Hoặc:

Chiến tranh cháu chắt lại lên đường

Không sợ đạn bom chỉ thương bà bóng xế

(Bà tôi)

Những câu thơ mộc mạc giản dị gây xúc động lòng người. Cảm ơn Lê Ngọc Sáng đã viết được thành thơ nói hộ tình cảm của người lính đi đánh giặc hôm qua. "Hoa Dại" thành công và đến được với bạn đọc có lẽ bởi mảng đề tài này.

Tuy vậy những cái cảm cái nghĩ cách diễn đạt về đề tài chiến tranh ở những năm đầu của thế kỷ 21 của Lê Ngọc Sáng không có gì mới với những bài thơ của người lính khác in cách đây 30 năm. Để đổi mới giọng điệu cách tân một cấu trúc thơ đâu có dễ nó phụ thuộc vào tài năng của người viết. Thơ khó là vậy: Lý sự quá thì khô kể nhiều thì rườm lời cảm xúc chưa chín viết vội thì gượng ép. Đó là cái mà tác giả Lê Ngọc Sáng phải quan tâm và phấn đấu nhiều nếu muốn trở thành một nhà thơ của một vùng đất một vùng quê.

Mong anh kiệm lời hơn chọn đề tài chắt lọc cố gắng có ngôn ngữ hình tượng. Nhà thơ Anh Chi từng khuyên các tác giả mới viết "Từ ngữ phải nổi cộm trên trang giấy" đó sao. Tôi ước được đọc những câu thơ đẹp như thế này của Sáng:

Tháng năm nắng cháy ngọn cau

Trời như mang gió gửi màu mây xanh

Hay:

Đời ông bà chân trần áo vá

Giọt mồ hôi thấm bở luống cày

(Nói với con)

Chữ "bở" dùng thật đắc đại gợi cảm.

Xin bạn hãy đọc "Hoa Dại". Nó vẫn là một loại hoa thoảng hương bên đường theo bạn đi trong năm tháng sôi động này.

                                                                  Hà Nội 2009

                                                                         N.N.Q

More...

VĂN HÓA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

              HƯƠNG SẮC PHỤ NỮ QUÊ THANH



                                                                            ĐĂNG VĂN

      Tháng 9 năm 2010 nhà báo nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Đàm (Hội viên Hội NSNA Việt Nam hội viên Hội VHNT Thanh Hóa) cho ra mắt quyển sách ảnh thứ 8 "Hương sắc phụ nữ quê Thanh" một lần nữa khẳng định tinh thần lao động nghiêm túc giàu tâm huyết của một nghệ sỹ tên tuổi. Sách dày 127 trang khổ 25x25 do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành. đây là một trong những cuốn hoàn thành với thời gian nhanh nhất.

Trải rộng dài qua 21 huyện thị trong tỉnh sách ảnh đã khái quát được phong trào phụ nữ Thanh Hóa thời kỳ đổi mới. Những đức hạnh quý báu nét đẹp dịu dàng bình dị những hình ảnh lao động cần cù sáng tạo gương mặt dễ gần dễ thương của các bà mẹ các chị. Sắc màu từ tận miền sơn cước đến chân dung những con người phụ nữ một nắng hai sương tảo tần nơi mặn mòi biển cả. Phái đẹp vừa mềm mại lại rắn rỏi trong bộ quân phục của người lính. Mỗi dân tộc mỗi vùng miền như nói lên tất cả những doanh nhân tiêu biểu trong thời đất nước đổi mới cho đến lớp thế hệ trẻ chủ nhân khoa học kỹ thuật những người đang kế tục giữ lửa truyền thống để người phụ nữ hôm nay có quyền tự hào rằng: Công việc ấy thành quả ấy xứng danh con cháu anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh.

Thông qua tập sách ảnh nghệ sỹ nhiếp ảnh nhà báo Trần Đàm cho ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp đất nước và người miền tây Thanh Hóa những ruộng bậc thang những nhà sàn những cầu treo nơi không dễ dàng để ta có cơ may được đặt chân tới. Xem ảnh rồi đắm nhìn cùng tác phẩm như đâu đây có âm vang của tiếng khèn tiếng bập bùng bếp lửa nhà sàn tiếng kẽo kẹt từ nơi khung cửi. ảnh đưa ta về miền đồng bằng trung du miền duyên hải được nhìn thấy những thành quả trong lao động những con người phụ nữ trong thời kỳ đổi mới đang tạo ra sản phẩm mang lại nguồn lợi cho gia đình cho xã hội. Thông qua người phụ nữ quê Thanh tác giả còn đan xen hiệu quả phát triển kinh tế thành tựu khoa học kỹ thuật hình ảnh hết sức phong phú đa dạng đa ngành nghề (công nông lâm ngư) phát huy thế mạnh về đặc sản của ẩm thực phát triển du lịch với một số địa danh nổi tiếng Thành nhà Hồ suối cá thần Cẩm Lương Hàm Rồng hay Bến En thơ mộng.

Sách ảnh hoàn hảo về bố cục đan xen một vài tác phẩm độc chiêu về sử dụng ánh sáng ngược cắt cúp hợp lý điểm nhấn của nội dung sách ảnh được trình bày tràn trang với các tác phẩm chưa từng được công bố Bến cá Lạch Bạng Ngày mùa ở Yên Định Lễ hội Mai An Tiêm đã đem lại giá trị cho sách ảnh vừa mang tính báo chí vừa có tính thời sự nghệ thuật cao chất lượng in ấn hình ảnh rõ nét mịn đẹp như được nhìn từ ảnh gốc. Tuy nhiên điều ta có thể nhìn thấy một vài tấm ảnh về tính chuyên nghiệp trong sử dụng phần mềm photoshop chưa cao (nét cắt hình ảnh mây trời sắp xếp họa tiết còn hạn chế về kỹ thuật...)

Hương sắc phụ nữ quê Thanh món quà "đặc sản" của văn học nghệ thuật trong ngành nhiếp ảnh sau nhiều tháng lao động miệt mài nghiêm túc của nhà báo nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Đàm ông cho ra mắt sách ảnh đúng vào dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (20-10-1930/ 20 -10-2010) và đón nhận Huân chương độc lập hạng Nhất phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng phụ nữ Thanh Hóa. Đây cũng là tri ân của tác giả với phụ nữ quê Thanh.

Đúng như lời đồng chí Hồ Mẫu Ngoạt Phó Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa nhận xét "Cuốn sách là một rừng hoa đầy hương sắc..."

Đ.V

                  ĐẶC SẮC VĂN HÓA CỦA


CÁC KHÔNG GIAN ĐỊA LINH KINH ĐÔ THANH HÓA

                                                                             HOÀNG KHÔI


 

     Thanh Hóa là một vùng không gian địa linh đặc biệt. Có lẽ vì thế mà nhiều triều đại phong kiến đã mượn xứ Thanh làm nơi dựng đế đô. Có thể nói trong cả nước không đâu nhiều kinh đô như Thanh Hóa. Triều Hồ-kinh đô nước Đại Ngu đặt tại An Tôn tức thành Tây Đô); thời Lê Trung hưng kinh đô nhà Lê dời về Vạn Lại (hành cung Vạn Lại). Trước đó nhiều thế kỷ khi nhà nước phong kiến chưa được xác lập thủ phủ của tiết độ sứ Dương Đình Nghệ cũng đặt ở Tư Phố (Dương Xá - Làng Giàng) ngày nay. Thanh Hóa còn một kinh đô nữa là Lam Kinh - thực chất là khu Thái miếu lăng tẩm của nhà Lê.

Tất nhiên những kinh đô này so với Thăng Long hay Huế thì không hoành tráng bằng song so với Hoa Lư (nhà Đinh và Tiền Lê) và Cao Bằng (nhà Mạc) thì cũng không kém phần bề thế.

Đã là nơi đế đô thì nơi ấy sẽ hội tụ nhiều giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của cả nước. Không gian văn hóa xứ Thanh trải qua nhiều triều đại nên vừa tiếp nhận bảo lưu lại vừa chuyển hóa phát triển nhiều tầng nhiều giá trị văn hóa. Bởi vậy để tìm hiểu những đặc sắc văn hóa của không gian kinh đô này phải kết hợp cả phương pháp đồng đại lẫn linh đại để có thể đưa ra một vài nhận xét khái quát. Trước hết xin được nói rõ hơn về các kinh đô ở xứ Thanh.

1. Thành An Tôn - kinh đô nước Đại Ngu thời nhà Hồ

Theo truyền thuyết họ Hồ thuộc dòng dõi Ngu Thuấn nên Hồ Quý Ly đổi tên nước là Đại Ngu.

Thành An Tôn còn gọi là thành Tây Giai (thành đá phía Tây) hoặc thành nhà Hồ là kinh đô mới do Hồ Quý Ly cho xây nay thuộc xã Vĩnh Long Vĩnh Tiến thuộc huyện Vĩnh Lộc. Thời Trần động An Tôn là một vùng rộng lớn được sông Mã sông Bưởi và hàng loạt núi đồi hiểm trở bao quanh. Đây cũng là một vùng thắng địa với nhiều cảnh đẹp như chùa Du Anh núi Đốn Sơn núi Mông Cù và ông Tiến sỹ động Hồ Công đền Đồng Cổ... Giao thông đường thủy từ sông Mã xuôi theo hệ thống sông đào thời tiền Lê vào Nam hoặc theo cửa Lạch Trường ngược Bắc. Lại có đường thượng đạo mở lên phía Bắc và phía Tây. Thế đất An Tôn hiểm trở nhưng không phải đường cùng ngõ cụt.

Thành An Tôn chu vi 3.200 mét hai mặt Nam Bắc dài hơn 900 mét Đông Tây hơn 700 mét cao 6 mét được ốp bốn mặt bằng đá khối theo kích thước phổ biến là 1 4 mét x 0 7 mét x 1 0 mét; nhưng cũng có khối đá dài đến 5 1 mét cao 1 mét dày 1 2 mét nặng ước 16 17 tấn. Tính ra có đến 20.000 mét khối đá và 80.000 mét khối đất được dùng đắp thành. Thành có 4 cửa Đông Tây Nam Bắc đều xây vòm cuốn; quy mô nhất là cửa Tiền (phía Nam) rộng 38 mét cao hơn 10 mét nhô ra ngoài tường thành 4 mét có cổng vòm rộng gần 6 mét cao 7 5 mét và 8 5 mét bên trên còn có lầu và nền lát đá. Cửa thành bằng gỗ nặng chắc chắn bên ngoài có hào (thành âm) và ngoài cùng còn được rào chông tre. Thành An Tôn vừa là kinh đô vừa là pháo đài có khả năng công thủ. Xét về kiến trúc nó được xem là "một trong những tác phẩm đẹp nhất của kiến trúc An Nam" (Theo L.Bđaxi e - dẫn theo tại Lịch sử Thanh Hóa tập III trang 163 - Nxb KHXH H1994). Kinh đô này được hoàn thiện năm 1399 có đầy đủ các kiến trúc cần thiết của một vương triều. Cùng thời kỳ này Hồ Quý Ly còn cho xây cung Bảo Thanh ở Đại Lại (còn gọi là Ly cung) để an trí vua Trần Thuận tông và đổi tên phủ Thanh Hóa thành trấn Thanh Đô (1397). Thanh Hóa trở thành trung tâm chính trị văn hóa của cả nước dưới thời Hồ với thủ đô ở động An Tôn thành An Tôn.

Ngay từ ngày đầu lên ngôi (1400) Hồ Quý Ly đã quan tâm mở mang xây dựng các cơ sở vật chất tinh thần cần thiết của một vùng đất kinh kỳ.

Về kinh tế: Năm 1401 nhà Hồ ban chiếu hạn nô quy định số nô tỳ mà mỗi phẩm tước được phép có. Tiến hành điều tra nắm lại dân đinh cả nước đánh thuế ruộng đất buôn bán định ra các đơn vị đo lường ban hành tiền giấy. Năm 1402 đắp đường từ Tây Đô đến Hóa Châu dọc đường đặt phố xá và trạm truyền thư gọi là đường thiên lý. Đó là con đường chính thức đầu tiên được nhà nước chăm lo mở mang đi vào phía Nam.

Về văn hóa giáo dục: Nhà nước rất coi trọng việc đào tạo nhân tài nên đã có những quy định mở trường học đặt lệ thi cử hàng năm học và thi toán (phép đo lường). Năm 1400 đã mở khoa thi đầu tiên tại quốc đô An Tôn chọn được 20 người đỗ Thái học sinh (tiến sỹ) trong đó có những người về sau rất nổi tiếng như Nguyễn Trãi Lý Tử Tấn Vũ Mông Nguyên... Năm 1405 thi chọn được 170 nhân tài và quy định việc đề bạt quan lại đứng đầu các phủ huyện định quan chế hình luật trong nước.

Về quân sự: Nhà Hồ tích cực xây dựng lực lượng trang bị vũ khí chấn chỉnh tổ chức quân đội lập các phòng tuyến sẵn sàng chống giặc. Những xưởng đóng chiến thuyền đúc vũ khí những kho quân nhu được tăng cường xây dựng. Con trai Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng sáng chế được súng thần cơ hiện đại hơn súng của nhà Minh và đóng được những chiến thuyền loại lớn.

Vương triều Hồ chưa có thời gian triển khai công cuộc xây dựng đất nước nhưng với những việc làm mang tinh thần cải cách tiến bộ của Hồ Quý Ly đã tạo cho Thanh Hóa có cơ hội tiếp xúc giao lưu đặc biệt mối quan hệ giữa tầng lớp trí thức hào trưởng phụ đạo... địa phương với những dòng họ lớn như họ Phí (Bùi) - Phí Mộc Đạc - Bùi Quốc Hưng; họ Lưu - Lưu Nhân Trung; họ Nguyễn - Nguyễn Phi Khanh Nguyễn Trãi... đó có thể là tiền đề để sau Lê Lợi phụ đạo sách Khả Lam tập hợp lực lượng cho khởi nghĩa Lam Sơn.

2. Hành cung Vạn Lại - Yên Trường kinh đô kháng chiến thời Lê Trung hưng

Từ năm 1546 đến 1619 vùng đất thuộc sách Vạn Lại (nay là xã Xuân Châu Thọ Lập tức Yên Trường Thọ Minh huyện Thọ Xuân) thực sự được xem là kinh đô của nhà Lê Trung hưng. Vạn Lại - Yên Trường là kinh đô kháng chiến. Ban đầu nó là căn cứ để chống Bắc triều (nhà Mạc) sau đó là nơi lánh nạn của các vua Lê mỗi khi ngai vàng bị uy hiếp (như những năm 1600 và 1619).

Tại đây những người có tâm huyết với nhà Lê đã tụ hội trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê như Phùng Khắc Khoan Nguyễn Duy Liêu Lương Hữu Khánh Hoàng Đình ái... Yên Trường được xây dựng như một căn cứ phòng thủ song vẫn thiết lập triều nghi. ở đây cũng có chợ búa trường thi đàn Nam Giao để vua tế cáo trời đất... Ngày nay các di vật không còn được bảo tồn vì những năm quân Tây Sơn ra Bắc đã đốt phá hết cả. Tuy nhiên sử sách vẫn ghi nhận lại Vạn Lại - Yên Trường là đất căn bản để nhà Lê khôi phục vương triều là kinh đô kháng chiến của nhà Lê.

Cuối thời Lê sơ triều đình phong kiến thoái hóa mục ruỗng nội chiến Nam Bắc triều kéo dài 70 năm cộng với thiên tai dịch bệnh đói kém tràn lan khiến đời sống nhân dân xứ Thanh vô cùng bi thảm. Năm 1581 dinh Yên Trường còn bị hỏa hoạn cháy cả phủ dinh phố xá đến vài nghìn nóc nhà tiếp đó lại bị lốc lớn trong vòng 5 dặm. Xã hội náo loạn như vậy khiến chính quyền vừa phải lo tổ chức chống giặc vừa tìm biện pháp cải thiện kinh tế ổn định xã hội.

Nếu có thể nói đến đóng góp văn hóa thì phải dành để nói về hai dòng họ lớn Trịnh và Nguyễn của xứ Thanh. Thanh Hóa là quê hương của các chúa Trịnh chúa Nguyễn. Nhiều ông chúa họ Trịnh đều thể hiện tài đức hơn người như Trịnh Kiểm Trịnh Tùng Trịnh Tráng Trịnh Tạc Trịnh Căn Trịnh Cương... Họ là những người có công đánh giặc phò Lê hoàn thành sự nghiệp trung hưng giữ gìn được kỷ cương phép nước cải tiến bộ máy hành chính các chế độ thi cử giáo dục ngoại giao. Đặc biệt các chúa Trịnh còn xây dựng được một chính quyền kép có thế vững vàng cung vua phủ chúa cùng tồn tại cạnh tranh nhau ở trung ương mà không thôn tính nhau về danh nghĩa. Còn với họ Nguyễn khởi đầu là Nguyễn Hoàng đất Thanh Hóa đã đóng góp cho dân tộc một dòng họ có công khai phá mở mang bờ cõi để đến nay đất nước ta kéo dài tận mũi Cà Mau. Cả những đảo như Phú Quốc Thổ Chu Hoàng Sa Trường Sa cũng đã được các chúa Nguyễn quản lý từ ngày đầu "mang gươm đi mở cõi" ấy để định hình vĩnh viễn cho Tổ quốc trên bản đồ thế giới hôm nay.

Dưới thời Lê Trung hưng và đặc biệt sau chiến tranh Nam Bắc triều Thanh Hóa có nhiều nho sỹ nổi tiếng như Lương Hữu Khánh Đào Duy Từ Lưu Đình Chất Nguyễn Quán Nho Lê Hy Nguyễn Quỳnh Hà Tông Huân... Những trước tác họ như Quán sử của Lương Hữu Khánh Quốc sử của Lê Hy và sau là phần tục biên của Nguyễn Hoãn Hổ trướng khu cơ Tư dung vãn của Đào Duy Từ thơ của các chúa Trịnh như Trịnh Căn Trịnh Sâm... đều là những tác phẩm có giá trị. Đây cũng là thời kỳ Thanh Hóa có nhiều dòng họ đỗ đạt cao như Lương Đắc Bằng Nguyễn Sư Lộ...

Về văn hóa dân gian thời này Thanh Hóa cũng phát triển rầm rộ nhiều đình chùa được xây cất trùng tu nhiều lễ hội trò diễn dân gian được phục dựng mở rộng như trò Xuân Phả trò chạy chữ trò Ngô các vũ khúc như Bình Ngô phá trận chư hầu lai triều các hình thức văn nghệ chèo chải múa đèn... Đặc biệt nghệ thuật hát tuồng đã trở thành một sinh hoạt phổ biến trong dân gian. Truyện Trạng Quỳnh là một tác phẩm văn học dân gian nổi tiếng cả nước.

3. Thành điện Lam Kinh (Tây Kinh)

Kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi năm Mậu Thân (1428) mùa xuân tháng giêng ngày 15 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế đóng đô ở Đông Kinh (Thăng Long) đồng thời chủ trương cho xây dựng ở quê hương đất tổ Lam Sơn một kinh thành thứ hai gọi là Lam Kinh - còn có tên gọi là Tây Kinh. Thành được xây dựng trên một khu gò đồi hình chữ Vương (chữ Hán) dài 314 mét rộng 254 mét phía bắc phình ra theo hình cánh cung bán kính 164 mét dày hơn 1 mét bao gồm Hoàng thành cung điện (ngọ môn sân rồng chính điện Thái miếu). Trong Hoàng thành còn có cư xá của quân quan và bếp núc khu hậu cần. Bên ngoài Hoàng thành có cổng tường và một con sông nhỏ bao quanh.

Kế bên là khu sơn lăng gồm 7 lăng và 6 bia đá từ Thái tổ đến Túc tông và Thái hậu Ngọc Dao.

Như đã nói Lam Kinh cũng là một thứ kinh đô song là kinh đô của người chết. Xét từ giác độ văn hóa kinh đô này là nơi bảo tồn khá nhiều giá trị. Đó là nơi các vua Lê hàng năm về thắp hương cho tiên tổ là nơi tổ chức những kỳ tế cúng những lễ hội những sinh hoạt văn hóa nhằm ghi nhớ đề cao những công tích của tiên tổ cũng là nơi thể hiện những khát vọng của người bình dân nơi lưu giữ những truyền thuyết cổ tích ngợi ca những con người và những việc làm đáng trân trọng. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định các điệu múa rí ren Bình Ngô phá trận Chư hầu lai triều đã được tổ chức nơi đây. Rồi những lăng tẩm bia tượng cả những phế tích đều có thể là những gợi ý để tìm hiểu về mỹ thuật về kiến trúc về quan niệm tâm linh của một giai đoạn lịch sử.

*

Quả thật kinh đô là không gian hội tụ nhiều nhất đầy đủ nhất những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của một triều đại một quốc gia một dân tộc. Các kinh đô lớn như Thăng Long Huế hay nhỏ hơn như Tây Đô Hoa Lư... đều là nơi lưu giữ và phát huy những giá trị này. Người ta sẽ phát hiện những dấu tích văn hóa vật chất như các kiến trúc đình chùa lăng tẩm miếu mạo thành trì những vật dụng từ nan tre gốm sứ đến đồng thiếc bạc vàng những đồ thờ tự tế khí kho sách cổ tranh tượng và các đồ mỹ nghệ... Các giá trị tinh thần như lễ tục tế cúng cách thức thờ tự các trò diễn xướng từ dân gian tới cung đình tìm hiểu về người đẹp người tài và nhiều giá trị tiềm ẩn khác... Tóm lại các vùng đất kinh kỳ vừa là những vùng không gian địa linh vừa là vùng đất lịch sử vừa là vùng văn hóa. Việc tìm hiểu về những không gian văn hóa linh thiêng này việc mở rộng những giao lưu văn hóa trong thời hiện đại này chính là một cách bảo tồn và phát huy tối đa những giá trị văn hóa của dân tộc. Nó góp phần nuôi dưỡng lòng yêu nước tự hào dân tộc biết ơn tổ tiên và quảng bá với bạn bè trong và ngoài nước từ đó góp phần phát triển kinh tế làm cho bộ mặt đất nước rạng rỡ hơn nhân văn hơn thân thiện hơn.

Tuy nhiên với mỗi một không gian địa linh mỗi một vùng kinh đô lại có những đặc sắc văn hóa của nó và đó là điều đáng để khám phá. Chẳng hạn ở vùng Thăng Long hay Huế rất nhiều giá trị văn hóa đặc sắc lưu giữ ở kiến trúc nhà cửa cung điện lăng tẩm hoặc các làng nghề. Không đâu như Thăng Long có 36 phố phường có Thăng Long tứ trấn có hát xẩm... Không đâu như Huế có cung điện nguy nga có lăng tẩm thâm nghiêm nhã nhạc cung đình... Nguồn khám phá và phát huy văn hóa quả là vô tận.

ở Thanh Hóa những kinh đô như Tây Đô Vạn Lại Lam Kinh những giá trị ấy có thể có phần khiêm tốn. Bù lại nó lại có những điểm nhấn rất đáng tự hào:

1. Thanh Hóa có ít nhất ba kinh đô mà mỗi kinh đô mang một đặc điểm riêng. Tây đô là kinh đô đúng nghĩa nhất của một quốc gia phong kiến là trung tâm chính trị văn hóa kinh tế của nhà Hồ. Vạn Lại - Yên Trường là kinh đô kháng chiến của nhà Lê thời trung hưng. Lam Kinh là kinh đô để tưởng niệm gồm một hệ thống có đầy đủ hoàng thành thái miếu điện thờ và các lăng tẩm bia mộ. Đó là kinh đô dành cho người chết kinh đô của các bậc tiền nhân nhà hậu Lê.

2. Từ kinh đô Vạn Lại - Yên Trường các chúa Trịnh đã giúp vua xây dựng và thực thi một thể chế điều hành đất nước rất độc đáo có hiệu quả và mang tính cách mạng. Cung vua phủ chúa là một hình thái chính quyền kép vẫn cạnh tranh nhau nhưng không triệt tiêu nhau cùng điều hành đất nước. Thể chế này rất gần với đất nước ngày nay vẫn bảo lưu ngôi vua và vẫn có chính phủ điều hành. Thể chế này có thể góp phần điều hòa tư tưởng điều hòa tâm thế của nhiều hạng người trong xã hội ổn định chính trị cao mang tầm văn hóa lớn mà ngày nay có thể nghiên cứu vận dụng.

3. Các kinh đô Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung trừ Thăng Long đều mang xu hướng phòng thủ dựa vào sông núi hiểm trở để bảo tồn. Như thế xu thế hướng ngoại xu thế mở cửa của thủ đô sẽ bị hạn chế đất nước khó phát triển. Nhưng con người xứ Thanh đã biết tìm cách khắc phục. Chính vào thời Lê Trung hưng Nguyễn Hoàng là người đầu tiên có công mở rộng cõi bờ. Nguyễn Hoàng đã đề xuất với anh rể là Trịnh Kiểm xin được từ Vạn Lại từ Gia Miêu vào trấn thủ Thuận Hóa. Và như ta biết đất nước Việt Nam đã mở rộng cõi bờ như hôm nay. Nếu phát huy cách tư duy như Nguyễn Hoàng Thanh Hóa một lần nữa học theo Mai An Tiêm mở rộng ra phía biển để phát triển kinh tế thời hiện đại. Trong thực tế Thanh Hóa cũng đang làm điều này.

4. Còn nhiều tiềm năng văn hóa khác từ những kinh đô Thanh Hóa để chúng ta học tập và phát huy trong cuộc sống hôm nay vẫn trong thế mở. Cảnh trí thiên nhiên phong tục tập quán các giá trị văn hóa làng những con người tài năng các công trình kiến trúc mỹ thuật ... Trống đồng Thanh Hóa là một sản phẩm độc đáo vừa được dân xứ Thanh dâng tặng Thủ đô nhân dịp nghìn năm tuổi thành đá Tây Giai đang được trình UNESCO công nhận di sản văn hóa nhân loại đá núi ấy không chỉ xây thành xưa nó còn góp phần vào công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều kiến trúc khác... Đó cũng là những giá trị văn hóa riêng tư đặc sắc của các vùng kinh đô linh tích xứ Thanh.

                                                           Tháng 9-2010

                                                                   H.K

More...

VĂN HỌC MUÔN PHƯƠNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Bức chân dung bị tống giam


Thuý Toàn (dịch)


       Vào năm một nghìn bẩy trăm... Không thấy trong sử sách Nga ghi rõ ngày giờ năm tháng. Nhưng căn cứ vào các tình tiết trong câu chuyện mà chúng tôi sẽ thuật lại dưới đây thì sự việc đã xảy ra vào khoảng giữa thế kỷ mười tám dưới thời nữ hoàng Elizaveta Pêtrôvna (1709 - 1761/62) con gái Sa hoàng Đại đế Piôtrơ Đệ nhất.

Vào một ngày đẹp trời (hẳn phải đẹp trời người ta mới hay đi dạo) ngài Ivkôv Stelin giáo sư "bùng biện học và biểu tượng" của viện hàn lâm khoa học phụ trách vụ Nghệ thuật đi dạo qua các quầy hàng cửa hiệu bên ngoài mấy cổng thành Kremli ở Maxcova. Trong một cửa hàng bán đồ mỹ nghệ Ngài Stelin đã bắt gặp một bức tranh chạm khắc làm ngài sửng sốt kinh ngạc. Theo lệnh của nữ hoàng từ lâu ở đế chế Nga đã thiết lập chế độ kiểm duyệt chặt chẽ các chân dung vẽ nữ hoàng. Nhiệm vụ kiểm duyệt giao phó cho Vụ Nghệ thuật Xanh - Peterburg không có phép của Vụ bất cứ một chân dung nào của nữ hoàng của bất cứ ai vẽ đều không được trưng bày không được bán. ở đây không phải chân dung vẽ mà chỉ là một bức tranh chân dung chạm khắc không nằm trong trách nhiệm của Vụ do ngài Stelin phụ trách. Nhưng dù sao rồi cũng chỉ riêng ngài Stelin sẽ bị khiển trách vì tội sơ xuất không để mắt hết mọi chuyện. Để tránh bị kẻ nào khác tố giác ngài Stelin bỏ ngay tiền ra mua hết các bức tranh chân dung chạm khắc bầy bán cho chất lên xe ngựa phóng một mạch trong hai ngày đêm về kinh đô Xanh - Peterburg dâng lên nữ hoàng.

Có một điều còn làm ngài Stelin lúng túng không biết nên ra sao: Kèm theo những bức chân dung phải có lời trình giải. Biết ăn nói sao đây? Các bức chân dung chạm khắc này khá chững chạc chân thực. Đó là bút pháp của một người có tên là Kônôn Timôfeev mà lâu nay ít nhiều đã được công chúng thừa nhận tuy chỉ là một họa sỹ nghiệp dư.

Thực ra Kônôn Timôfeev vốn là một viên chức thừa hành khiêm nhường ở Sở Hải quan Trung ương. Công việc của ông là không cho phép bất cứ một kiện hàng nào đi qua mà không đóng thuế. ở vị trí này ông Kônôn Timôfeev là một người chi ly và kiên định. Ông đã mang không ít của cải về làm giàu cho công quỹ nhà nước. Song bấy nay ông không hề được khen ngợi công trạng của ông không được đánh giá. Trong cuộc đời ông chỉ thực sự có được niềm vui niềm hứng khởi là ở công việc đêm đêm ông hì hụi làm thêm. Ông thực sự tìm ra ý nghĩa cuộc đời ở chỗ này. Làm xong phận sự người viên chức nhà nước về nhà ông tự giam mình trong căn buồng chật hẹp lấy những tấm lá đồng ra và gần như thức trắng cùng những đêm trắng. Peterburg ông đưa mũi bút kim chạm khắc những bức tranh. Sau khi hoàn thành tác phẩm ông đặt giấy in lên mặt tranh đưa lên bàn ép thế là sau một lát trong tay ông đã run rẩy một bức tranh chạm khắc thơm mùi mực.

Việc chạm khắc trở thành niềm say mê thu hút tâm trí của người viên chức Hải quan. Và ông đã thu hái được thành công - tác phẩm ông làm ra được cả các họa sỹ chuyên nghiệp khen ngợi. Kônôn Timôfeev mượn tác phẩm của các họa sỹ chuyên nghiệp làm mẫu. Và các bản chạm khắc của ông so với nguyên mẫu hết sức chuẩn xác đôi khi trông còn đẹp hơn. Năng khiếu quan sát nhận biết cần thiết đối với công việc Hải quan đã thực sự có ích cho công việc tay trái của Kônôn Timôfeev. Trong khi sang tranh trên bản chạm khắc Timôfeev thường phát hiện ra những chỗ tác giả - họa sỹ đã thiếu sót hoặc diễn đạt không thật đúng với thực tế: Khi thì cái dây móc gắn không đúng chỗ túi đựng đồ khi lại là tấm huân chương Sa hoàng thiếu mất vạch... Và ở ông có một điểm yếu: Ông thích thêm thắt bổ sung các chi tiết vào tranh nhưng thật sự cần cho đúng với thực tế. Các họa sỹ - tác giả tranh mẫu ở chỗ này cũng bỏ qua cho ông không lấy thế là điều vì xem đó là những tiểu tiết.

K. Timôfeev chạm khắc rất nhiều tranh. Cả những cảnh chiến trận thời Piôtrơ Đại đế cả những biểu tượng Flaman về đề tài cổ đại nhưng nhiều hơn cả là các kiểu chân dung trong số đó có chân dung Nữ hoàng Elizaveta Pêtrôvna mà ông vô cùng xủng tính. Ông chạm khắc lại chân dung Nữ hoàng trong trang phục đại lễ ở đó Nữ hoàng được miêu tả toàn thân cả những bức chân dung thường nhật ở đó váy áo đầu tóc Nữ hoàng chỉ trang điểm giản dị bằng những bông hoa khiêm tốn. Các tác phẩm của mình Timôfeev hào phóng tặng cho bạn bè còn số ít đưa đến gửi các cửa hàng nhờ bán hộ kiếm thêm chút thu nhập phụ.

Đặc biệt K.Timôfeev thành công ở bức chân dung cuối cùng vẽ Nữ hoàng: bức chân dung Nữ hoàng trong giờ phút đăng quang. Ông đã dồn bao nhiêu tâm sức tình cảm cho công việc chạm khắc chân dung này.

ở đây có thể nhà họa sỹ nghiệp dư đã có được cảm hứng sau lần được tận mắt chiêm ngưỡng Nữ Hoàng Elizaveta thích lui tới Sở Hải quan. Nữ hoàng thường đến bất chợt mang theo rất ít tùy tùng. Bà đi qua các kho hàng và bất chợt chỉ vào một hòm hàng nào đó bắt mở ra: xem xem các quan ngài nghị viện đặt mua những đồ vật quý giá gì từ nước ngoài gửi về? Một trong những lần vi hành như thế của Nữ hoàng có thể anh viên chức khiêm nhường của Sở đã may mắn trộm thấy dung nhan Nữ hoàng.

Chạm khắc lại bức chân dung Nữ hoàng trong buổi đăng quang do họa sỹ A.Melnikôv vẽ (1745) được trời phú cho biệt tài quan sát tinh tường và bản tính tôn sùng sự thật K.Timôfeev bất giác đã đính chính sửa chữa nguyên bản.

Nhìn thấy bức chân dung của mình do Stelin đem từ cửa hàng Maxcơva về Nữ hoàng Elizaveta thực sự nổi "cơn tam bành thịnh nộ". Để hả giận Nữ hoàng cho giải tán nhà hát cung đình bãi bỏ các tối vũ hội ra lệnh lục soát các cửa hàng bán tranh truy tìm những ai đã mua những bức tranh chạm khắc chân dung bà. Và vậy là số phận của Kônôn Timôfeev đã được định đoạt. Nhà họa sỹ nghiệp dư bị bắt ngay tại nhiệm sở - Sở Hải quan Trung ương bị tra tấn cực hình bắt phải thú nhận có âm mưu gì đó. Không lấy được lời cung khai nào cả cho rằng đây là tên âm mưu cực kỳ ngoan cố cực kỳ nguy hiểm vì thế ông bị đánh đập đến chết.

Thật oan uổng Kônôn Timôfeev cho đến khi tắt thở vẫn không hiểu mình bị kết tội gì. Ông có làm việc gì ám muội đâu. Ngược lại ông đã cúc cung phụng sự đế chế phụng sự Nữ hoàng. Với Nữ hoàng ông một lòng sủng kính. Ông đã chạm khắc bao nhiêu chân dung của Nữ hoàng. Và bức chân dung cuối cùng của "đức mẹ" ông đã bỏ bao nhiêu tâm lực mang tất cả niềm hứng khởi hân hoan trìu mến để thể hiện...

Theo nhiều ghi chép còn lưu giữ được cho tới nay thì con gái của Đại đế Piôtrơ Elizaveta Pêtrôvna là một người xinh đẹp hiếm có sứ thần Pháp khi đó là Campredon đã viết: "Một hoa khôi hoàn mỹ từ eo lưng diện mạo đến đôi mắt đôi tay duyên dáng". Một quan đại thần nước ngoài khác Quận công Tây Ban Nha dơ Liria cũng phụ họa: "Một nhan sắc siêu phàm". Bá tước Nga Suvalôv còn cho rằng khó có thể nêu ra được một người phụ nữ khác có được dung nhan hoàn thiện hơn dung nhan Nữ hoàng Elizaveta. Và thậm chí đến cả Ekaterina Đệ nhị (1729 - 1796) còn hơn người tiền nhiệm của mình không bao giờ chịu chia sẻ với ai cả về vinh quang nữ hoàng lẫn vinh quang nữ giới cũng ghi nhận: "Bà... cực kỳ kiều diễm có đôi chân tuyệt đẹp".

Nhiều bức chân dung Elizaveta cũng khẳng định điều đó: một thân hình cân đối thanh thoát mặc dù hơi đẫy đà (theo kiểu các bậc bảo trợ lỗng lẫy thời đại Rôma) với đôi vai tròn lẳn vòng tóc kết quanh đầu mầu hạt dẻ cặp lông mày tối thẫm đôi mắt to thăm thẳm mầu hồ thủy với cái nhìn tỏa sáng sinh động. Chân dung của Nữ hoàng Elizaveta đủ kiểu chiếm cả một gian trưng bày trong cung điện Mùa Đông. Các họa sỹ đương thời ganh đua nhau giành quyền được vẽ Nữ hoàng - "đức mẹ" của nước Nga. Tưởng như chẳng có gì đáng ngạc nhiên trong chuyện này: người đàn bà đẹp thích được người ta vẽ mình. Nhưng có một điều khác lạ: hình ảnh được miêu tả quá giống nhau. Trang phục thì khác nhau điệu bộ tư thế đầu ngoảnh cử chỉ... khác nhau nhưng nét mặt thì dường như không thay đổi các họa sỹ có lẽ người nọ đã sao chép y nguyên của người kia. Và thêm vào đó trong hàng hà vô số chân dung của Nữ hoàng tuyệt nhiên không tìm đâu ra một bức vẽ hình nhìn nghiêng. Thì ra đã có một mệnh lệnh tối cao quy định lấy bức chân dung khắc họa của họa sỹ hàn lâm Ivan Xôkôlôv (1717 - 1757) bức vẽ năm 1746 làm mẫu chuẩn. Lại đã có lệnh kiểm duyệt tranh trước khi cho bầy cho bán như đã nói ngay từ đầu... Tất cả mọi chuyện ấy là bởi vì thật ra Nữ hoàng Elizaveta trông rất xấu xí. Người đương thời đã từng lưu truyền những câu đồn đại châm biếm hài hước (tất nhiên chỉ trong giới người Nga ở nước ngoài còn ở trong nước thì cực kỳ nguy hiểm) về cái mũi to bè như củ khoai tây cái cằm xệ đôi má xì xị cùng đôi tay ngắn ngủn núng nính của Nữ hoàng...

Những lời ca ngợi của các nhà ngoại giao Pháp Tây Ban Nha chẳng qua cũng chỉ là những lời ca ngợi ngoại giao. Những nhận xét "khách quan" của họ lập tức sẽ đến tai Nữ hoàng mà bị Bá tước Suvalôv một bậc đại quan trong triều thì từ lâu đã tìm kiếm cơ hội được Nữ hoàng sủng ái. Còn lời nhận xét của Ekaterina II? Chẳng qua là một biểu hiện lòng biết ơn và đại lượng của Ekaterina II đối với người đã tác thành đám cưới cô công chúa Phô đáng thương với Hoàng Thái tử nước Nga mở đường cho cô ta leo lên ngai vàng nữ hoàng Nga.

Sau vụ việc bức chân dung chạm khắc của Kônôn Timôfeev Nữ hoàng Elizaveta hạ thêm một chiếu chỉ nữa: Từ nay các tranh chân dung chạm khắc cũng chịu sự kiểm duyệt nghiêm ngặt thêm vào đấy không chỉ Vụ Nghệ thuật Viện Hàn lâm khoa học mà còn lập thêm một vụ đặc trách khác cùng chịu trách nhiệm công việc kiểm duyệt.

Với hành động kiên quyết và bền bỉ của mình Nữ hoàng Elizaveta đã đạt được mục đích của mình: Bà đã để lại cho các thế hệ sau muôn vàn bức chân dung mà hình ảnh bà ở bức nào cũng giống bức nào thật tuyệt đẹp. Tuy nhiên không hiểu phép thần diệu nào một bức chạm khắc của Kônôn Timôfeev vẫn được lưu giữ lại trong dân gian. Ngày nay bức chân dung chạm khắc này được trưng bày trong một tủ kính riêng biệt tại thư viện công cộng Hoàng gia Xanh-Peteburg. Dưới tấm kính là hình miêu tả một người đàn bà béo núc với cái mũi to hơi bẹt cái cằm xệ thịt và đôi mí mắt nặng nề như ngái ngủ. Đây mới là hình ảnh thực của vị Nữ hoàng Nga Elizaveta một trong những Sa hoàng Nga lạ lùng nhất kết hợp một cái đầu thực sự có tầm cỡ quốc gia với sự hiếu danh của nữ giới sự cao cả kiêu hãnh và thói trả thù ty tiện tấm lòng nhân hậu hào phóng và sự tàn bạo lạnh lùng.

                                      Trích trong tập "kể chuyện về Văn hóa Nga"

More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TIN VĂN NGHỆ



LỚP HỌC NÂNG CAO KỸ NĂNG CHỤP ẢNH CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT


Trong các ngày từ 22 - 10 đến 2 tháng 11 - 2010 được sự bảo trợ của tổ chức DAD Cộng hòa Liên bang Đức Câu lạc bộ người khuyết tật Hương Dừa huyện Hoằng Hóa kết và Hội Người tàn tật và Trẻ em mồ côi tỉnh đã tổ chức lớp học Nâng cao kỹ năng chụp ảnh cho người khuyết tật. Hơn 20 thành viên Câu lạc bộ đã tham dự lớp.

Nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Đàm Chi hội trưởng Chi hội nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam tại Thanh Hóa trực tiếp phụ trách lớp và hướng dẫn kỹ năng nhiếp ảnh cho hội viên.

Sau hơn mười ngày thâm nhập thực tế và tác nghiệp trong điều kiện vận động và di chuyển hết sức khó khăn hầu hết các hội viên đều phải di chuyển bằng xe lăn chống nạng gỗ hoặc phải có người khác hỗ trợ nhưng bằng niềm đam mê nghệ thuật nhiếp ảnh và khát vọng tìm tòi khám phá các thành viên lớp học đã chụp được hơn 200 bức ảnh. Ban tổ chức lớp học đã chọn được 80 bức ảnh để trưng bày. Ngày 2-11-2010 phòng ảnh "Vượt dốc" gồm 80 bức ảnh chọn lọc của lớp học đã được trưng bày để báo cáo kết quả và tổng kết lớp học. Hầu hết các tác phẩm đã phản ánh được những sắc màu của cuộc sống. Không bị bó hẹp bởi khuôn khổ ánh sáng góc độ hay cái nhìn chuẩn xác như những nghệ sỹ nhiếp ảnh chuyên nghiệp các học viên đã đem đến cho người xem sự tự nhiên mộc mạc đôi khi còn thô ráp nhưng chứa đầy khát vọng và sức sống trong từng góc chụp của mình.

                                                         Lưu Nga - Nguyễn Thị Vân


TIN BAN THƠ


Ngày 26 tháng 10 năm 2010 ban Thơ của Hội Văn nghệ đã họp hội nghị toàn thể hội viên để sơ kết hoạt động 9 tháng đầu năm và bàn kế hoạch hoạt động những tháng cuối năm. Đông đủ các hội viên thơ đã tham dự họp. Báo cáo sơ kết đã khẳng định trong những tháng đầu năm 2010 Ban thơ đã làm được nhiều việc đã tổ chức Ngày Thơ Việt Nam lần thứ VIII dịp Rằm tháng Giêng Canh Dần được công chúng yêu thơ đánh giá cao; đã tổ chức cho anh chị em hội viên thơ đi thực tế sáng tác và giao lưu tại các tỉnh Ninh Bình Hà Nam Nam Định... Nhiều hội viên đã xuất bản tập thơ tập trường ca và giới thiệu thơ trên các báo chí trung ương Đài Tiếng nói Việt Nam.v.v... góp phần đưa thơ đến với bạn đọc yêu thơ.

Các hội viên dự hội nghị đã đóng góp nhiều ý kiến cho báo cáo của Ban đồng thời cũng tham gia nhiều ý kiến góp ý cho Ban Biên tập tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh nhằm nâng cao hơn nữa chất chuyên nghiệp và tính văn chương-học thuật của một tạp chí văn học.

                                                               P.V

More...