TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Nhà văn Trung Nguyên tên thật là Nguyễn Chí Trung trung tướng - thư ký của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu ông đãviết tác phẩm "Bản hùng ca năm xưa" thể hiện một cách trung thực và xúc động tinh thần chiến đấu anh dũng ngoan cường của bộ đội ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đặc biệt "Bản hùng ca năm xưa" đã tạc bức chân dung của anh hùng liệt sỹ Lê Công Khai người con ưu tú của quê hương Thanh Hóa.

Văn nghệ Xứ Thanh xin trân trọng giới thiệu tác phẩm cùng bạn đọc.


 

TRUNG NGUYÊN

Bản anh hùng ca năm xưa

Truyện ký



 

    Trời nắng gắt nắng trên rừng nam Gia Lai chang chang dội lửa vào mặt người.

- Ráng lên một chút nữa anh em sắp lên đến đỉnh dốc rồi!

Có tiếng người gọi phía trước. Chúng tôi xóc lại ba lô trên vai dấn bước tới. Gắng thêm một bước nữa một bước nữa. Đỉnh dốc đây rồi. Một luồng gió nhẹ từ phía nam thổi tới mát lịm đến từng mạch máu trong người.

- Nghỉ chứ?

- Nghỉ mười phút!

Tôi trật quai ba lô định bỏ xuống hòn đá bằng trên đường. Bỗng tôi dừng tay. Phía trước nghe có tiếng hát và tiếng đàn. Tôi ngẩng lên: Từ dưới chân dốc đi ngược lên phía chúng tôi một người con gái không đến bốn chị. Bốn chị giao liên Ba Na. Cả bốn chị đều mang những gùi hàng nặng trên ba mươi cân là ít! Và cả bốn đều cầm mỗi người một chiếc đàn Gon mấy ngón ở bàn tay trái thoăn thoắt nắn phím tay phải gẩy đàn. Chị đi đầu cất tiếng hát:

- Chiến thắng thắm tô cờ... hai ba!

Cả bốn cùng hòa theo:

- Chiến thắng thắm tô cờ bay phất phơ lưng trời...

Tiếng đàn đệm theo thành nhiều bè rộn rịp. Lời hát tuy có lơ lớ giọng Ba Na nhưng vẫn nghe rõ từng câu từng chữ. Còn điệu nhạc của bài hát thì rất lạ không biết từ bao giờ và bằng cách nào điệu nhạc mới ấy đã biến dạng thành một điệu dân ca đầy phong vị âm nhạc dân tộc Ba Na.

Hình như các chị chưa thấy chúng tôi. Chị đi đầu khoảng mười tám đôi mươi hai mắt lim dim theo tiếng hát. Các chị đi sau cũng suýt soát chừng ấy tuổi đều khỏe mạnh nở nang hồng hào. Trước ngực các chị che một tấm vải đen. Trên tấm vải đen ấy trái bầu của chiếc đàn Gon áp vào giữa ngực tiếng đàn ấm hơi người nghe trong và tròn lạ!

Nghe có tiếng người chị đi đầu ngẩng lên thấy chúng tôi. Cả bốn chị đều ngừng hát cười e thẹn nhưng tay vẫn không ngừng đánh đàn. Tới đỉnh dốc chỗ chúng tôi một chị nói:

- Chào các anh lực lượng! Các anh nghỉ ở đây cho các em nghỉ với.

- Được chớ mời các chị!

Các chị đặt gùi hàng xuống cạnh đường kéo tấm vải trước ngực lau mồ hôi đầm đìa trên trán trên mặt.

- Mang chi đó các chị?

- Mang cái hàng cách mạng mà!

Chẳng mấy chốc chuyện nổi lên râm ran thật vui. Tôi hỏi một chị chị đi đầu:

- Chị tên chi?

- Chị cười: Mình không có tên đâu!

Rồi chị bẽn lẽn bỏ chạy ra một chỗ khác. Nhưng một lát sau chị trở lại ném trước mặt tôi một thanh nứa chẻ đôi rồi lủi ra sau lưng ba chị kia. Tôi cầm lên thấy trong lòng thanh nứa trên lớp lụa nứa mỏng và trắng muốt có một chữ viết bằng than không đẹp nhưng rõ và đủ nét: "XANH"

- Xờ - a - nhờ - anh là Xanh tên em là Xanh đó.

- à giỏi quá còn ba chị các chị có biết chữ hết không?

Các chị lắc đầu không trả lời nhưng hết người này đến người khác lần lượt cầm thanh nứa dùng một hòn than nhỏ cẩn thận viết vào lòng nứa tên mình:

- HREO THI LIÊU.

Một đồng chí trong chúng tôi bảo:

- Các chị hát lại bài hát lúc nãy cho anh em nghe với đi hay lắm!

- Không hay chi! Miệng mắc cỡ không biết hát nữa đâu!

- Thế thì đánh đàn đi!

Các chị không từ chối. Tiếng đàn Gon lại vang lên rộn rã. Vẫn điệu nhạc lúc nãy điệu nhạc của bài hát "Chiến thắng thắm tô cờ..."

Âm hưởng của những bản anh hùng ca Ba Na đã len vào giữa những nốt nhạc mới làm cho bài hát chiến thắng ấy gợi cảm một cách lạ lùng. Nghe như có tiếng chiêng của những ngày hội đâm trâu rung rinh những lá cờ chiến thắng đỏ phần phật bay trong gió nghe như có tiếng thác đổ và gió núi reo lên những mũi mác dài mài sáng...

- Các chị các chị biết bài hát này đã lâu chưa? Ai bày đó?

- ồ lâu rồi không phải mới biết ngày ni đâu biết hồi kháng chiến đánh thằng Pháp chớ. Bộ đội cụ Hồ dạy người lớn làng mình người lớn làng mình dạy người nhỏ. Mấy năm trước nhớ quá nửa đêm mình đốt lửa hát nhỏ trong nhà. Từ khi Đảng cho đánh Mỹ mình hát to trong nhà Rông trên rẫy. Đường mình đi làm cách mạng đâu mình cũng hát mà!

- Các chị học bài hát này mấy năm rồi?

- Không biết đếm năm đâu. Lâu hung rồi. Cái mùa rẫy bộ đội cụ Hồ đánh cái đồn Đắc Đoa đó mà!

Chị Hreo người bẽn lẽn hơn cả trong bốn chị em tự nhiên nói chen vào:

- Khi đó chị y tá tới làng mình bày làng mình đó. Mình còn nhỏ lắm chưa biết mặc cái áo mà mình không biết nhớ tên chị y tá...

Chúng tôi hỏi thêm nhiều nhưng các chị không nói gì nữa. Đừng hỏi anh chị em Ba Na khi họ đã hát và đánh đàn. Lúc ấy họ đắm mình trong tiếng nhạc và không còn nghe thấy gì chung quanh nữa.

Các chị lại vừa hát: "Chiến thắng thắm tô cờ...". Tiếng hát năm xưa... "Cái mùa rẫy đánh Đắc Đoa" năm 1954. Mùa xuân năm ấy chính đơn vị chúng tôi đã tiêu diệt đồn Đắc Đoa trên đất Gia Lai này. Và bài hát chiến thắng đó đã phất phới bay trong những ngày quân ta ào ạt tiến xuống phía nam Tây Nguyên... Hơn mười năm đã qua. Bài hát năm xưa vẫn còn càng phát triển và thấm sâu thêm mãi... Sự tình cờ mười năm sau hôm nay đã cho tôi biết được đoạn sau của câu chuyện về bài hát của đơn vị tôi ngày xưa.

*

Đây là đoạn đầu. Hơn mười năm về trước...

Người đầu tiên mang bài hát ấy về đơn vị chúng tôi là trung đội trưởng Khương Thế Xương. Cho đến ngày nay cứ nhắm mắt lại tôi còn có thể thấy trõ mồn một hình ảnh Khương Thế Xương. Anh đứng đấy giữa đại đội chúng tôi tập họp đông đủ anh hơi nhỏ người nước da trắng tóc cắt ngắn gọn như một cậu bé; hai tay anh đưa ra phía trước mặt hơi ngẩng lên:

Chiến thắng... hai ba!... Chiến thắng thắm tô cờ...

Toàn đơn vị dán mắt vào hai cánh tay Xương. Tiếng hát bật lên đôi cánh rộng lớn của một con chim đại bàng vạm vỡ đột ngột dang rộng ra vươn tới rồi bay vụt lên giữa bầu trời chan hòa gió nắng. Có thể lúc ấy chúng tôi hát không hay lắm không đúng lắm. Nhưng chúng tôi hát theo lối riêng của chúng tôi và đối với chúng tôi thật không cách nào hát hay hơn. Chúng tôi hát thành nhiều giọng. Giọng hát của đại đội phó Lê Công Khai người anh của Đại đội của tiểu đội trưởng giá thiết Lại Xang người nông dân cao lớn chắc chắn như cây lim của đơn vị đi thành một bè trầm bao giờ cũng hơi chậm một chút nằng nặng đậm đà như âm vang rền rền của mặt đất quê hương đẫm máu và nước mắt như kỷ niệm về những đồng chí đã ngã xuống trên con đường đi tới của Đại đội. Giọng hát của đại đội trưởng Trình của Chính trị viên phó Toàn thanh thoát trong sáng cứ vươn tới bay lên trước như một lá cờ... Chúng tôi hát say sưa và trước mắt chúng tôi hiện lên rõ mồn một hình ảnh một con người cao lớn đứng dậy từ bùn lầy tay cầm mã tấu và đi tới trong khói lửa một con người nhiều đau khổ nhưng kiên cường và tự hào ngẩng đầu lên mắt giận dữ cơn giận dữ thiêng liêng của một người hiền lành mà bị người ta cướp mất cái gì quý nhất trong đời sống. Mỗi chúng tôi là một tế bào nhỏ một dòng máu nhỏ một bộ phận khăng khít trong con người lớn đó. Con người ấy chính là Đại đội chúng tôi. Những người lính cũ đều hiểu rằng mỗi đơn vị quân đội ta không phải chỉ là sự tập hợp những người lính riêng lẻ. Không mỗi đơn vị là sự chan hòa của rất nhiều con người lại làm một. Những đồng chí đã mất đi lại vẫn còn sống trong con người tập thể rộng lớn đó những người đến sau lại nối tiếp đời sống bất tận của đơn vị. Và số phận lai lịch cuộc đời của mỗi người lính trong đơn vị là một bộ phận một chi tiết trong đời sống chung của đơn vị làm cho con người tập thể rộng lớn đó cứ phong phú thêm lên mãi không những về hiện tại về tương lai mà cả về quá khứ nữa. Đại đội chúng tôi có một phong tục: Chúng tôi thường tổ chức những đêm sinh hoạt nhỏ và thân mật trong những đêm đó từng người kể về cuộc đời của mình về con đường cầm súng của mình... Đại đội chúng tôi là một con người như vậy đấy giàu có quá khứ giàu có tương lai... Chúng tôi hát và trước mắt chúng tôi hiện rõ lên mồn một hình ảnh những con người đã đến và góp thêm phần mình vào lịch sử vào đời sống chung của đơn vị. Hình ảnh đại đội phó Lê Công Khai người anh của chúng tôi từ những ngày anh là cậu bé mồ côi cha gầy còm xanh xao ở một làng nhỏ bên bến Đò Lèn Thanh Hóa ngày ngày gánh những đôi bồ béo gấp bốn năm lần người anh do chính tay anh đan chạy lon ton trên những con đường Đò Lèn Hàm Rồng nắng chang chang vào bán ở thị xã Thanh Hóa kiếm mấy đồng xu bạc bẽo và nhạt thếch về nuôi mẹ; hình ảnh những ngày sôi nổi năm 1945 khắp phố phường nông thôn giăng đầy những khẩu hiệu: "Nam Bộ là máu của máu Việt Nam là thịt của thịt Việt Nam!"... Khai vứt đôi bồ đan dở từ giã mẹ lên đường đi Nam tiến anh mặc chiếc áo capốt dạ cướp được của lính Nhật áo đã sờn hết hai vai bảy hột nút đồng trước ngực chỉ còn ba bốn hột kia được thay bằng bốn cây kim băng quà duy nhất của mẹ. Lưng anh đeo chiếc nồi bảy to hơn bề ngang của người anh anh làm cấp dưỡng của tiểu đoàn Nam tiến hồi bấy giờ đóng ở sông Cầu Phú Yên. Rồi những ngày anh đi trinh sát Lê Công Khai hoạt động ở chiến trường Khánh Hòa cơ sở tan nát đường dây bị cắt vụn từng đoạn Khai dẫn một đoàn cán bộ quan trọng vào cực Nam. Lạc đường anh sa vào vòng vây của giặc. Một mã tấu hai lựu đạn Khai đánh suốt một buổi mở đường máu cho cán bộ chạy thoát hết còn anh bị thương ở ngực bị giặc bắt sống trói cứng tay chân khiêng về Nha Trang. Ba tháng sau vết thương chưa lành Lê Công Khai vượt biển trên một chiếc thuyền câu của một cụ già yêu nước trở về Hòn Khói rồi dẫn đầu một tổ ba người trong trận đánh chìm chiến hạm Đô đốc Véc -đong... Hình ảnh Khai những ngày thất bại trong chiến dịch Nam Khánh 1949 giặc chặn trước đuổi sau đơn vị đói nặng. Khai một mình một tiểu liên sục sạo trong lòng địch suốt mấy tháng trời cứ chiều chiều mang về cho đơn vị mấy nhúm gạo xin được của đồng bào gạo ít quá nên bữa cháo nào cũng thừa vì cả đơn vị ai cũng nhường nhau... Rồi hình ảnh này nữa: Đêm khuya trong một làng nhỏ ở Quảng Nam Xương đốt đèn dậy cho Khai tập viết tập đọc. Ngày Nam tiến mẹ dặn Khai: "Vào tới trong đó nhớ đánh giấy về cho mẹ mừng". Anh học để viết thư cho mẹ.

Chúng tôi hát và lại hiện lên trước mắt chúng tôi rõ mồn một hình ảnh chắc chắn của Lại Xang. Xang đứng đấy trầm lặng và vững chãi như tiếng hát của anh. Cứ trước mỗi trận đánh Xang lại nói giọng Bình Định chậm và nặng:

- Phần giá thiết nhất định không để cho xung kích ùn...

Hình ảnh đại đội trưởng Trình tám năm lăn lộn trên chiến trường Khánh Hòa gian khổ anh vẫn đẹp trai như một cậu học sinh. Trình mới cưới vợ. Anh hay khoe:

- Mình sắp có con rồi một công chúa nhé!

Mùa hè năm 1952 chúng tôi mất đại đội trưởng Trình. Anh hy sinh trong trận hạ đồn Túy Loan. Đứa con gái của anh ra đời sau khi anh mất năm tháng. Chúng tôi đề nghị mẹ em đặt tên em là Túy Loan. Túy Loan bây giờ đã lớn chắc em đang học ở một trường nào đó ngoài miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Mỗi lần Đại đội chúng tôi hát bài "Chiến thắng thắm tô cờ..." giọng hát thanh thoát bay bổng của Trình hồi ấy được thay bằng giọng hát của Xương và Hoàng. Hoàng một chiến sỹ trẻ một học sinh mới ra trường vừa mới nhập ngũ. Đã thành lệ Hoàng vào đơn vị liền được Chính trị viên Xang của chúng tôi kể cho nghe về lịch sử của Đại đội của những người đã mất hay còn sống đã làm nên cái tập thể gắn bó máu thịt này. Xương lại dạy Hoàng bài hát của chúng tôi. Hoàng có giọng hát cao và rất gợi cảm. Lúc hát đôi mắt sáng của anh hơi mờ đi và ươn ướt có lẽ anh nghĩ đến bé Túy Loan.

Đầu năm 1953 chúng tôi bắt đầu lên Tây Nguyên. Đơn vị chúng tôi được làm nhiệm vụ chủ công tiêu diệt đồn Tú Thủy. Đêm đó chúng tôi đã đánh một trận ác liệt. Moóc chi ê địch bắn chặn dữ dội. Trung đội trưởng Trương Thế Xương thoăn thoắt chạy lên chạy xuống băng qua lửa đạn rào rào bình tĩnh tổ chức đội hình chỉ huy hỏa lực bắn kìm chế địch gọi và chỉ huy bộc phá liên tục đánh tan mấy lớp rào. Rồi anh dõng dạc gọi lớn: "Có giao thông hào! Giá thiết lên ngay!" Các chiến sỹ giá thiết lập tức lao lên trong mưa đạn. Đã gặt được giá thiết Moóc - chi - ê địch vẫn dội rát. Một tổ xung kích vừa lao lên chưa chiếm được đầu cầu thì giá thiết bị một quả cối bẻ làm đôi gãy gục đổ xuống một hào rộng đầy chông. Khương Thế Xương dẫn một tổ khác lao lên bị chặn đứng lại ở bờ hào. Một mảnh đạn cối khoét vào giữa trán anh một lỗ nhỏ và không có máu. Anh nằm ngửa ngẩng mặt lên bầu trời Tú Thủy đầy sao đôi mắt mở to trong sáng và đầy suy nghĩ như những lúc anh bắt nhịp cho đơn vị hát.

Có tiếng gọi của Lê Công Khai:

- Giá thiết!

Một bóng người cao lớn chạy lên: Lại Xang. Lại Xang chạy lên hai tay không. Giá thiết dự bị cuối cùng đã bị gãy. Xang đến trước bờ hào. Anh đứng ở đó một giây. Rồi im lặng anh nhảy xuống hào. Một cây chông dài đâm phập vào giữa bụng. Xang bẻ gãy cây chông rút ra. Máu phọt ra. Anh bước tới hai bước nữa cúi xuống nâng giá thiết gãy lên đội lên đầu. Rồi anh đứng vững ở đấy sừng sững như một cây lim lớn những chông nứa chông sắt đâm tua tủa khắp hai bàn chân hai trái chân hai bắp vế đâm vào ngực vào bụng. Xung kích ào ào vượt qua giá thiết đạp bằng Tú Thủy.

Hôm sau trong lễ truy điệu chúng tôi lại hát bài hát của Khương Thế Xương mang về đơn vị năm xưa. Không có bè trầm nằng nặng của Lại Xang. Nhưng trong lòng chúng tôi rền vang mãi một bè trầm nặng hơn sâu hơn của căm thù và thương tiếc khôn nguôi...

- Chiến thắng... hai ba!... Chiến thắng...

Tiếng hát quện mãi lá cờ chiến thắng của chúng tôi bay trên Tây Nguyên rộng lớn. Mùa xuân lại đến trên núi rừng Gia Lai tuyệt vời. Mùa xuân năm 1954 từ Kon Tum giải phóng dòng thác lũ của quân ta ào ào tràn xuống phía nam. Đơn vị chúng tôi lại được nhận nhiệm vụ chủ công nhổ đồn Đắc Đoa án ngữ đường tiến của quân ta. Chúng tôi đánh Đắc Đoa lần thứ nhất không thành công rút về đóng trong một khu rừng gần đồn. Những ngày đó chúng tôi không hát. Đại đội trưởng Lê Công Khai dẫn trinh sát đi mò đồn đêm này qua đêm khác sáng về mắt ráo hoảnh và hõm sâu. Chúng tôi chuẩn bị ráo riết. Trăng thượng tuần cứ mỗi đêm một sáng. Chờ cho trăng tối mới đánh ư? Không được phải giải quyết sớm. Tiếng súng Điện Biên Phủ ngoài kia đã nổ thúc giục phải phối hợp gấp. Chúng tôi xin đánh lại ngay đúng giữa đêm rằm.

Tôi nhớ rõ lúc ấy đơn vị không ai còn thuốc hút. Trước những cặp mắt mở tròn của chúng tôi anh tháo ba lô lấy ra một gói lớn bọc lá chuối khô: một bó cộng thuốc lá! Chúng tôi vồ lấy chia nhau ngay. Thì ra những ngày chuẩn bị đi chiến dịch Khai tẩn mẩn đi lượm hết những cộng thuốc lá anh em chúng tôi tước và vứt đi. Anh gói kỹ lại mang trên lưng suốt chiến dịch cho đến hôm nay. Chúng tôi hút thuốc cộng phì phèo ngon lạ! Khai ngồi nhìn chúng tôi hút mỉm cười sung sướng. Rồi anh nói:

- Này lúc nãy họp Đảng ủy tôi đã thay mặt Đại đội hứa: đêm nay đơn vị chúng ta quyết tâm làm tròn nhiệm vụ một trăm phần trăm. Các cậu đồng ý hết không?

Một đồng chí trong chúng tôi nói: Chúng tôi xin hứa với đồng chí như vậy.

Đêm đó pháo địch bắn nhiều. Chúng đặt cả một trận địa pháo riêng mười hai khẩu sẵn sàng chi viện cho Đắc Đoa. Trăng sáng quá vằng vặc như ban ngày. Chúng tôi bị lộ ngay từ đầu. Chưa tiếp cận đã thấy những cáng thương binh và liệt sỹ khiêng ngược trở ra. Chúng tôi dừng lại ở một đồi chè nhỏ chờ tin cuối của trinh sát. Mọi người đều im lặng. Bỗng nhiên Hoàng cất tiếng hát rất nhỏ. Bài hát của chúng tôi. Giọng của Hoàng gợi cảm lạ lùng. Qua gần một năm lăn lộn khói lửa tiếng hát của anh vẫn giữ được cái thanh thoát trẻ trung nhưng lại đậm đà hơn chín chắn và có sức nặng hơn. Chúng tôi không ai hát thành tiếng nhưng từ trong lòng ai cũng hát theo Hoàng.

Mười giờ chúng tôi tiếp cận. Trời càng trong vắt trăng càng sáng. Thấy cả thằng địch nhô đầu ra nhòm ở bờ tường. Chúng nó cũng thấy chúng tôi rồi. Pháo địch ngừng một lúc rồi đột ngột bắn dồn dập. Phía sau có báo cáo:

- Pháo bắn vào đội hình!

Lệnh tản ra. Rồi lệnh dồn lên.

Pháo giã mỗi lúc một dữ dội. Đến lúc một phát pháo hiệu xanh vụt lên ta bắt đầu đánh bộc phá thì chúng bắn loạn xạ vào giữa đội hình bộc phá. Hàng chục hàng trăm con chim sắt dữ tợn rít lên bổ nhào vào giữa hàng ngũ chúng tôi. Chúng tôi thấy Lê Công Khai phía sau chạy vụt lên trước. Một dòng máu từ trên thái dương phải anh chảy xuống thấm vạt áo trước ngực.

- Anh Khai bị thương rồi à?

Khai không trả lời.

Anh dẫn Tiểu đội trưởng Nhường lên hàng rào thứ nhất:

- Đây bộc phá vào đây!

Một bầy đại bác sàn sạt bay tới.

- Nằm xuống!

- Nhường Nhường đâu?

Không có tiếng trả lời. Chỗ Nhường vừa đứng chỉ còn một hục đất sâu nóng hổi. Cả Tiểu đội Nhường cũng đều hy sinh.

Khai xắn tay áo lên. Anh quay lại phía sau dẫn Tiểu đội bộc phá thứ hai rồi thứ ba. Bây giờ pháo càng bắn dữ hơn xối ngay vào hàng rào.

Tiểu đội bộc phá thứ hai đội mưa đại bác ào lên phá tung được hàng rào thứ nhất. Cũng vừa lúc đó pháo bắn trúng vào giữa tiểu đội. Trong tất cả những chiến sỹ của Tiểu đội ấy sau này chỉ có một người bị thương trở về. Khai cũng ngã xuống một mảnh đại bác cắt nghiến chân phải của anh.

Có một bóng người bò tới:

- Anh Khai anh Khai! Mai đây!

Khai nói:

- Băng giùm mình.

Mai băng vết thương cho Khai rồi bò về phía sau. Một lát khiêng thương luồn qua mưa đại bác chạy tới. Khai quát:

- Lùi lại phía sau! Tiểu đội ba đâu?

Với một chiếc chân còn lại anh bò tới.

- Báo cáo Tiểu đội ba có mặt!

Khai nắm tay Tiểu đội phó Lại:

- Nằm đây! Hễ dứt đại liên là chạy lên ngay. Đánh vào chỗ kia vào chỗ cây chè kia thấy rõ chưa?

Lại như một con sóc. Chờ đại liên vừa tắt anh phóng lên. Bộc phá của anh nổ cùng một lúc với một loạt đại bác. Hàng rào thứ hai bị xé tung.

Bây giờ bọn giặc trong đồn liều mạng dựng đứng khẩu cối 120 ly lên mà bắn ra đạn rơi ngay sát chân tường. Chúng tôi quét được hàng rào thứ ba sau bốn lượt bộc phá nhưng đến đây thì bị khẩu đại liên địch chặn đứng lại. Khai gọi chúng tôi hỏi nhỏ:

- Tiểu đội đồng chí còn mấy người?

- Báo cáo còn hai người.

Im lặng một lát rồi Khai nói:

- Còn một người cũng đánh! 20 cân chuẩn bị... theo tôi!

Khai nhổm dậy. Bỗng anh ngã quỵ xuống. Một viên đại liên bắn nát chân thứ hai của anh. Rồi tiếng bay của một quả cối sè sè một tiếng sét đánh. Khói đen sặc sụa. ánh trăng phụt tắt. Có ai đó thổi tắt ngọn đèn trong một căn phòng kín mít. Bốn bề im lặng như tờ...

Lúc Khai tỉnh dậy chung quanh anh không còn bóng người động đậy. Lại nằm đấy bên cạnh anh thản nhiên như trong một giấc ngủ yên lặng. Rồi có một bóng người cúi xuống cạnh Khai. Một tiếng gọi:

- Khai! Khai!

Khai nhận ra tiếng Chính trị viên Xang. Anh hỏi Xang:

- Đã sử dụng dự bị chưa?

- Đang động viên. Cho lên bây giờ.

Khai cố mở mắt ra. Anh hỏi:

- Xang cậu bị thương rồi à?

Xang không trả lời: đầu anh quấn băng trắng toát. Một quả đại bác rít trên đầu. Khai kéo Xang đẩy xuống cái hố anh đang nằm rồi chống cùi tay kéo đôi chân gãy nát anh bò lên phía trước.

Có bóng người lom khom chạy tới.

- Ai đó?

- Báo cáo đội dự bị.

Một bầy đại bác ập tới vào giữa đội hình dự bị. Một cơn sét dữ dội rồi tất cả lại im lặng. Trong khói đen có bóng người ngồi dậy bóng Khai. Một cánh tay anh đưa lên và dõng dạc lạ thường như một tiếng gọi tiếng gọi át cả tiếng súng:

- Những người đảng viên Cộng sản đâu?

Tiểu đội đầu tiên của đội dự bị chỉ còn có một người. Người đó là Hoàng. Hoàng chùi vết máu trên mặt trả lời:

- Có!

Khai đưa quả 20 cân cho Hoàng và chỉ nói có một chữ:

- Đây!

Hoàng chạy lên. Tiếng 20 cân át tất cả tiếng súng lớn nhỏ. Khai thấy rõ chiếc lô cốt lớn quỵ xuống. Rồi xung kích xung kích lướt lên bay vụt qua cửa mở.

Một người nào đó đến bên Khai băng vết thương mới ở ngực cho anh. Anh nói:

- Bắn pháo hiệu đỏ! Báo cáo về Đảng ủy trận nội đã bắt đầu!

Anh nhắm mắt lại. Anh thấy một phát pháo hiệu đỏ bay vụt lên trên nền trời đầy trăng nhưng có lẽ chỉ là thấy trong mơ. Anh chỉ còn kịp nghĩ:

- Hoàng... bắt bài hát rất hay... Hoàng chưa phải là đảng viên...

*

Buổi sáng trong rừng im lặng lạ lùng. Có tiếng chim nhưng tiếng chim nhỏ và thanh quá tiếng chim gõ vào sự im lặng đó làm cho sự im lặng càng trong sáng và mênh mông hơn. Những lá xanh trên cao lọc nắng xuống xanh một màu xanh không thể tả được. Khai nhắm mắt để tránh cái màu xanh chói chang ấy.

Đồng chí bác sỹ đưa mắt nhìn đồng chí Chính ủy. Im lặng rất lâu... rồi anh nói:

- Đánh thuốc mê nặng sợ anh ấy không chịu nổi!

Đồng chí Chính ủy không trả lời. Cuộc phẫu thuật bắt đầu.

Trạm phẫu thuật tiền tuyến đóng trong rừng. Toàn trạm thương binh nhân viên cán bộ đều nín thở im lặng chờ đợi.

Người ta đang cắt chân cho Lê Công Khai. Một người hộ lý đi về phía các thương binh nhẹ nằm ở góc trái khu mổ. Tất cả các cặp mắt đều hỏi:

- Sao?

- Đã cắt xong chân phải rồi... yếu lắm.

Người hộ lý đi xa phía bìa rừng đầy ánh nắng. Lại im lặng mênh mông. Thỉnh thoảng có tiếng "Keng"- Một cái kéo ném xuống chiếc thau của người hộ lý.

Bỗng tất cả đều nhổm dậy. Một đồng chí thương bị gãy cả hai tay nhờ người thương binh bên cạnh đỡ anh dậy.

Từ phía phòng mổ từ trong cái im lặng trong vắt của buổi sáng mùa xuân trong rừng Gia Lai bỗng có tiếng ngân nga khe khẽ thoạt tiên như tiếng gió nhẹ thổi qua cây lá rồi to dần đậm dần rõ dần một tiếng hát. Tiếng hát của Lê Công Khai trên bàn mổ: "Chiến thắng thắm tô cờ bay phất phơ lưng trời. Tiếng reo ngàn triệu dân đang lay chuyển núi..."

Tiếng hát cao lên mãi cao lên mãi... tưởng như sắp đứt mất rồi lại trầm xuống quấn quýt nhẹ nhàng phấp phới:

Cờ đỏ lửng lơ không trung đưa toàn nhân dân trên quãng đường chung...

...

Người hộ lý lúc nãy trở lại. Anh nói:

- Đã cắt xong cả hai chân... Nhưng anh ấy không còn nữa!...

*

Mười năm đã qua kể từ cái buổi sáng mùa xuân đó. Nhưng tôi còn nhớ rõ trong trạm phẫu thuật hôm ấy không có một người nữ y tá nào. Vậy đồng chí nữ y tá bộ đội nào đã mang bài hát của đơn vị chúng tôi năm xưa đã ngấm vào cuộc sống của đất nước của dân tộc ngày càng thấm thêm mãi những phong vị của những sự tích anh hùng mới và vô tận đến nay đang chảy thành những con sông lớn...

Các chị giao liên Ba Na chào chúng tôi cõng hàng lên vai và đi. Các chị lại áp trái bầu tròn của chiếc đàn Gon lên giữa tấm vải che ngực. Và bài hát năm xưa lại vang lên trên những nẻo đường mới chúng ta đi.

                                                                       T.N

TỪ NGUYÊN TĨNH

Mền


 

Truyện ngắn


 

    Mền nhảy ra khỏi hang Cá xốc lại chiếc quần cộc quát thằng Thư:

- Thư! Mi còn ngồi trong đó làm chi rứa. Máy bay nó đánh vào các chú Xê 4 rồi. Khói ùn lên tề tề !..

Thư chạy vội ra ngoài cửa hang nói như khóc:

- Ôi trời ơi! Nó ném vào khẩu đội chú Trung "gà trọi" rồi!

Nước mắt nó tự nhiên cứ ứa ra. Thấy vậy Mền gắt:

- Lính tráng chi mà lại khóc. Có gọi thằng Tuynh ra mau không!

Thư quệt vột nước mắt vào ống tay áo cáu bẩn. Ngó vào miệng hang réo:

- ớ Tuynh mi có ra mau ra không thì biểu tau!

Tuynh ra đến cửa hang lại vội thụt vào trong. Thấy vậy Thư ức lắm túm ngay cổ kéo ra ngoài giọng hống hách:

- Đồ hèn! ở trận địa các chú ấy cũng như mi thì lấy ai bảo vệ cầu Hàm Rồng!

Tuynh đứng ở cửa hang mà vẫn run. Mền hầu như chẳng thèm để ý đến hai thằng bạn lấy tay làm ống nhòm dáng điệu như mấy chú trinh sát trên trận địa:

- Chú ý tốp F4H hướng 32 bổ nhào!

- Bắn!

Cũng lúc đó đạn từ trận địa bắn lên vây lấy máy bay.

Mền khoái chí nói cùng hai thằng bạn:

- Thằng Mỹ cũng ngu cứ nhè vào đạn mà lao xuống bay ạ!

Ba đứa đứng chụm vào nhau nhìn lên trận địa. Một cột khói bom như chiếc nấm cuộn lên che lấy góc phía nam quả đồi. Thằng Tuynh khẽ thì thào cùng Thư. "Đúng khẩu đội chú Điện trố rồi mày ạ !" Mền nghe mà nẫu cả ruột. Mền nhớ như in vị trí các khẩu đội. Chú Thái "sẹo" rồi đến "khẩu" chú Điện trố chú Trung gà trọi chú Đức gáo chú Kíp chói... Các chú ấy đối với Mền Thư và Tuynh như là người nhà ý mà. Mền nhớ cái đêm các chú cơ động về đây cả làng Đông Sơn lên trận địa Mền cũng lên được các chú cho ngồi pháo quay rõ sướng. Chú Huynh đại đội trưởng nói đùa:

- Ô kìa! Đơn vị mình sao lại có mấy cậu lính trẻ vậy nhỉ!

Thấy Mền và các bạn còn bẽn lẽn chú Đức gáo nói đỡ lời:

- Báo cáo đại trưởng đây là lính mới của chúng tôi!

Mền và các bạn khoái quá làm già đến rờ từng bánh pháo. Chà khẩu pháo mới to chứ. Mền đứng mà chỉ nhỉnh hơn bánh xe một cái đầu. Mền làm bộ như người lớn cũng đến kéo pháo vào công sự. Chú Trung mặt đỏ như mặt trời hỏi Mền.

- Cháu bao nhiêu tuổi rồi!

- Cháu mười hai!

- Tốt ! Chỉ năm sáu năm nữa là vào đơn vị chú có thích không nào?

- Cháu thích được bắn máy bay ngay bây giờ cơ!

- Gớm chưa!...

Chú Trung nói chưa dứt câu thì tiếng kẻng báo động vang lên khắp Hàm Rồng.

- Mời bà con và các cháu vào ngay công sự ! - Tiếng chú Huynh từ giữa trận địa ra lệnh.

Tiếng máy bay ào đến. Đạn bắn đỏ ngợp cả bầu trời. Tai Mền như bị nổ bùm bụp. Mắt Mền nhắm nghiền lại. Nhưng tức nhất là thằng Tuynh khóc thút thít.

Chú Trung ôm thằng Tuynh vào lòng dỗ dành:

- Chà! Mấy cậu lính mới không biết sợ à! Giỏi quá!

Hôm ấy về đến hang Cá Mền giơ nắm đấm dọa thằng Tuynh:

- Đồ hèn! Tau không cho mi đi theo nữa mô!

Nhưng thật không may cho bọn Mền tí nào. Từ hôm đó lệnh của Khu Đội cấm không cho các cháu thiếu nhi lên trận địa trừ hôm diễn văn nghệ.

Mền đứng thừ ra hai tay thôi làm ống nhòm. Mặt mày đen đúa ướt nhẽm mồ hôi. Tóc húi ngắn nhìn cu cậu như tạc bằng đá núi. Thằng Thư thấy Mền trang nghiêm quá cũng làm bộ mặt y hệt. Cu Tuynh thấy Thư đóng kịch không nín được cười. Thư cáu quá túm ngay lấy tai Tuynh thét lác:

- Này! không phải lúc.

Mền khoát tay lia lịa:

- Nó đang bổ nhào vào Xê 4 - các chú kết nghĩa với làng mình rồi!

- Biết làm sao được! - Thư hổn hển nói.

- Ta lên trận địa các cậu ạ!

- Khu đội cấm tụi mình rồi! - Tuynh thật thà nói.

Lặng đi hồi lâu Mền reo lên:

- Có cách rồi theo tôi! Mền bắt chước giọng của trung đội cảm tử phá bom.

Ba đứa nhỏ chạy vụt vào làng Đông Sơn đổ nát.

*

Tiếng súng nổ trên trận địa đồi cao. Tiếng bom nổ dựng lên thành những chiếc nấm khổng lồ.

Ba đứa chạy cách nhau chừng hai mét theo lệnh của Mền. Khi nào thấy máy bay bổ nhào Mền nằm xuống là các bạn cũng nằm xuống. Tiếng súng các chú nổ theo lệnh của Mền hai bạn lồm cồm vùng dậy lao đi. Mồ hôi thấm ướt áo quần dính đầy bụi đất.

Cả ba đều im lặng nghe ngóng.

Thằng Thư khẽ thì thào:

- Im tiếng súng rồi bay ạ!

- Láo! Nó có bổ nhào các chú mới bắn chứ! Mền quát Thư.

Tuynh im thin thít bám sát đội hình.

Cả ba bò lên dốc. ồ cái dốc đồi Ba cây thông này mới ác chứ. Hàng ngày cả ba thường lùa dê qua lèo lèo vậy mà hôm nay sao dài thế.

Mền thở hồng hộc nhưng không ngừng quan sát.

- Nằm xuống! Mền quát hai bạn.

Cả ba đứa cùng lăn xuống hố bom. Một cột khói chùm lấy.

Thằng Mền sờ hai bạn thấy còn nguyên cả. Nó thấy thương thương:

- Hai "đồng chí" gắng lên!

Không hiểu sao Mền lại bạo miệng gọi "đồng chí" làm Thư và Tuynh quên cả đau lồm cồm bò dậy.

Chúng nó lách lại sườn đồi phía khẩu đội chú Điện Trố cho dễ lên.

- Ai đấy! - Chú Điện quát.

Thằng Tuynh nghe tiếng quát mà hết cả hồn. Mền bình tĩnh trả lời thay cho các bạn.

- Cháu Mền đây ạ!

- Sao ? Ai cho các cháu lên đây? - Chú cán bộ Khu Đội ra hiệp đồng cùng bộ đội quát.

- Chà! Mấy tướng này quá thật!

Thằng Tuynh chực khóc nói lý nhí:

- Bạn Mền - "Đại tướng" rủ ạ!

Mền lấy hết can đảm nói rành rẽ:

- Báo cáo! Các cháu đưa nước ra cho các chú đấy ạ!

Thằng Tuynh và Thư sáp lại gần Mền dáng ngay đơ.

Những người lính nhìn ba chú bé như được nhuộm bằng đất. Họ truyền nhau ba chiếc ấm nhôm. Điều này không ai nói ra cho ba chú bé làm gì. Hai chiếc

More...

BÚT KÝ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

PHẠM PHÚ THANG



 

Biết bao ân tình

Trích hồi ký Nhặt lại đời mình (phần tiếp theo)


 

      Nghỉ hè em Mỹ về nhà hai tháng. Một số giáo sinh đi du lịch tham quan riêng em thì về quê thăm gia đình bà con nội ngoại. Ông bà xếp Khoa thân sinh anh học sinh người Hà Nội gốc xứ Nghệ đã rút về Hà Thành sau cơn binh đao chống giặc Pháp. Bạn trai của em giờ đã lên đường theo đoàn Thanh niên xung phong chống giặc trong phong trào Đâu cần thanh niên có/ Đâu khó có thanh niên. Tôi nghe bà ngoại cho biết tên là anh Đinh Xuân Bá. Anh đánh đàn ghi ta giỏi hát sôlô hay lắm. Thường tụ tập trai gái làng Trịnh đêm đêm tập hát diễn kịch rôm rả. Anh Bá đi công tác xa để lại nhiều kỷ niệm cho lớp trẻ trong đó có em gái tôi. Hình như giữa em và anh Bá tuy chưa có điều gì mang nợ nhưng xem ra mối thiện cảm của tuổi xuân không ai giải thích nổi. Tôi nghe chuyện đó thực lòng muốn gặp anh Bá để chung tay vun đắp cho lứa đôi. Nhưng anh đi lâu quá không gặp. Em Mỹ lại đi học xa. Sự xa cách với tình yêu như gió đối với lửa. Tôi không tham gia vào chuyện riêng của người khác.

Nghe tin em Mỹ về nghỉ hè anh Tự xuống nhà thăm em thăm một đoàn viên công đoàn tương lai của ngành giáo dục huyện nhà tôi loáng thoáng nghe anh Tự gạn với bác Huy để dành con gái đang học Sư phạm cho tôi. Tôi và em Mỹ cùng nghe lỏm cả hai đều đỏ tai không dám ngồi cạnh nhau lúc này nữa. Thì ra hai ông đang soạn thảo cuộc đời cho hai chúng tôi mà lâu nay tôi không hề biết đến. Tôi quý gia đình thương hai em như em ruột. Giá mà được mãi mãi làm anh làm con rể nữa thì càng tăng bội số cho hạnh phúc lên bao nhiêu lần. Tôi đã không có tình cha con chỉ có nghĩa mẹ. Nay được xum vầy sống trong một gia đình gồm ba thế hệ còn gì mà mong nữa. Từ đó tôi nhìn em có điều khang khác hy vọng hơn. Đã quý mến lại càng gần gũi yêu thương hơn. Dù chưa nói ra thành lời nhưng trong lòng trống vắng mỗi khi xa em. Tình yêu có tự lúc nào không ai lưu trữ đặt máy phân giải. Tôi cứ ngờ ngợ vào ngày 12 tháng 6 năm 1956. Ngày ấy sau khi ăn cơm tối xong. Tôi đang trong phòng chấm toán vừa kiểm tra ban sáng thấy học sinh làm đạt kết quả như ý lòng tràn ngập niềm vui. Tôi phấn chấn trước kết quả học tập của học sinh lại nghe văng vẳng bên tai câu chuyện hai ông bạn tỷ tê trong bữa cơm chiều nay lại đúng vào lúc tôi và em cùng nghe lỏm cả hai cùng đỏ mặt tự dưng tôi muốn trò chuyện với em.

Tôi xuống nhà dưới thấy cả nhà đang quây quần ngồi nghe đài tiếng nói Việt Nam phát tin khởi công công trình thủy lợi Nam sông Mã. Khi hoàn thành công trình dòng nước tự nhiên sẽ cung cấp đủ nước cho các huyện Yên Định Thiệu Hóa sản xuất hai vụ lúa không bị hạn hán như lâu nay. Niềm vui nào lúc này đến với tôi đều đầy ý nghĩa. Anh Tự đã về nhà sau bữa cơm. Bác Huy hỏi:

- Thầy chưa đi nghỉ à?

- Thưa bác con vừa chấm xong toán cho học sinh. Mừng quá không có em nào thiếu điểm.

Tôi muốn gọi em lên nhà trên để tâm sự nhưng sao khó nói thế. Nỗi ám ảnh trong bữa cơm chiều cứ thôi thúc trong lòng. Hóa ra tôi đã thầm yêu trộm nhớ đơn phương chẳng hay em Mỹ có biết không? Sao lúc này tôi hèn yếu đến vậy? Khoảng cách giữa tình anh em và tình yêu chỉ xê dịch nhau tý chút. Tôi ngồi xuống bên cạnh em cùng nghe chung bản tin thời sự. Trong khi đó bản tin anh Tự phát lúc ban chiều chẳng hiểu có lắng đọng trong em không? Riêng tôi cứ thổn thức mãi ngẫm nghĩ mãi. Tôi đắn đo không dám thổ lộ với em. Sợ nhận lời từ chối mất hay xấu hổ ảnh hưởng đến mối quan hệ được xây đắp bấy nay. Tôi nán lại chờ xem diễn biến của em sau lần hai người cùng đỏ mặt tía tai ấy. Mỹ đã vào tuổi mười tám tuổi trăng thề rồi. Lại được sống môi trường thủ đô biết đâu lại cảm tình với một giáo sinh nào ngoài đó. Nói ra em nguây nguẩy thì tôi biết chạy đường nào? Đang sống yên ấm trong gia đình được cưu mang lại mở miệng phá đám ư? Nghĩ vậy tôi thấy non gan không dám liều lĩnh hỏi em về định mối ban chiều giữa hai vị đứng đầu gia đình và tổ chức. Tôi rút lui không dám bảo em lên nhà trên trò chuyện như các lần trước. Đêm ấy tôi không ngủ được. Nhớ mẹ tôi ở trong quê nhớ em gái anh trai. Các chị đã lấy chồng yên ổn gia thất. Thương nhất là chị Sâm đương tình duyên gặp éo le. Chị lỡ lứa đành làm vợ kế cho một người ở trên nguồn đã có một người con trai mười tuổi. Bà làm mối người cùng xóm thường đi bán hàng ở trên vùng cao gọi là trên nguồn hay lui tới bán hàng cho gia đình thấy cảnh gà trống nuôi con nên mối manh cho chị Sâm. Mẹ tôi lưỡng lự. Nhưng rồi cũng quyết ngay. Có hơn không lấy chồng còn hơn ở góa. Gia đình họ lại có của ăn của để con có nơi nương tựa.

Sau một tháng các lễ nghi tiến hành chu đáo. Người làng Tiên lại được dịp chứng kiến một đám cưới linh đình không khác gì đám cưới ngày trước của con trai nhà lý trưởng. Từ nhà cô dâu đến nhà chàng rể cách 30 cây số thuận đường thủy nên đã có sáng kiến rước dâu bằng thuyền. Thật là hiếm hoi sinh động. Chị tôi chít khăn mỏ quạ mặc áo tứ thân chân đất e lệ đi bên anh nhìn thấy tôi và các em cả nhà òa lên khóc. Giọt nước mắt ấy đến giờ khi viết bài này tôi vẫn chưa nguôi. Chị làm vợ kế được anh chồng hiền từ biết thương cảm số phận nên anh chiều chuộng chị. Cuộc sống hạnh phúc. Chị nương thân bên người chồng hiếu nghĩa âu cũng là số trời sắp đặt.

Chị Nhung lấy chồng cùng làng gần giếng Tiên. Anh tên là Khoái con trưởng của một mục điền. Sinh đứa gái đầu anh chị đặt tên là Lạc cốt mong sao cuộc đời thoát khỏi nghèo khổ khoái lạc như mong ước. Đùng một cái giặc Pháp khởi hấn ở Nam bộ đánh chiếm miền Bắc. Ca nô tàu chiến của địch ngược sông Gianh vây làng Tiên dựng đồn lập ấp. Trai làng chúng bắt làm bia đỡ đạn. Xây đồn cạnh Lèn Bút chúng đặt đại liên trên đỉnh Lèn Bút khống chế cả một vùng rộng lớn. Các xã Trung Hạ Thượng và bên kia sông xã Tiên Lang Tiên Lương đều nằm trong tầm đạn đại liên trên đỉnh Lèn Bút. Bọn hương lý lâu nay ẩn nấp giờ lộ mặt chỉ điểm cho địch khủng bố cán bộ cốt cán. Anh Khoái bị quân giặc bắt đi lính đã chết ngay trong trận phục kích của dân quân ở cuối làng. Cháu Lạc đang chăn trâu nghe tin bố mất đã ngã xuống đất chết dưới chân trâu. Tưởng là khoái lạc như niềm mong muốn. Nào ngờ ngày vui ngắn chẳng đầy gang. Chị góa chồng mất con. Một tai họa ập xuống gia đình chị đến xót thương.

Nhà còn ba anh chị em. Chị Liên em gái Tuyết Hoa và tôi cuốn quýt bên vai mẹ. Anh Dương lúc này làm chính trị viên huyện đội Quảng Trạch. Bọn giặc ngày đêm truy lùng Việt cộng. Chúng biết rõ gia đình tôi có người làm cán bộ có hai người con gái xinh nhất làng bọn cường hào dụ dỗ mẹ tôi cho con vào đồn làm việc để cung phụng các quan Tây. Nắm được mưu đồ của chúng anh tôi đưa cả gia đình tản cư lên nguồn nơi chị gái lấy chồng cách đồn địch hơn 30 cây số. Anh rể chị gái tôi mừng quá thuê thuyền đến tận nơi đón cả nhà về cùng ở trong nhà giữa một đêm mùa đông giá lạnh. Anh tôi tìm cách nghi binh hướng cho địch tập trung vào phía khác để lòi một khoảng trống không có bóng giặc gia đình tôi vượt vòng vây an toàn. Trong những ngày sống giữa lòng địch chị Liên và em Hoa phải xuống hầm trú ẩn. Mẹ tôi luôn luôn bị chúng đi sục sạo dò hỏi đối phó mọi cách để bảo vệ an toàn cho các con mình. Tôi biết tiếng Tây bỏm bẻm hồi học bên trường Đạo đã sử dụng có hiệu quả mỗi khi giao tiếp với bọn thực dân Pháp. Đồn tây đóng chỉ có hai cái giếng khơi thiếu nước sinh hoạt bọn lý trưởng bày mưu bắt trẻ con đi gánh nước giếng Tiên về cho các quan lớn tắm giặt. Chúng huy động hai chục đứa cùng tuổi tôi đi gánh nước giao cho tôi cai quản. Mấy ngày đầu ai cũng nghiêm chỉnh gánh nước giếng Tiên đầy vò về đổ vào các thùng phuy đặt trước phòng các quan tây. Nhiều hôm mỏi mệt lòng căm thù giặc nổi lên chúng tôi bảo nhau ra mấy cái ao đầu làng gánh nước cho Tây dùng. Một số bạn căm giận đã tè vào thùng nước cho chúng ăn uống tắm giặt. Chúng tôi ra vào đồn giặc ngày đầu lính gác còn để ý. Lâu rồi chúng mất cảnh giác du kích của ta đã bày mưu trà trộn thâm nhập vào đồn giặc điều tra tình hình địch nơi nào đặt các loại súng đường hầm bản đồ lực lượng v.v... Nhờ thế trận đột kích vào đồn địch ở làng Tiên diễn trong đêm 13 tháng 12 năm 1948 thắng lợi. Bọn giặc bị đánh bất ngờ không trở tay kịp quân ta đã giết chết 14 tên và bắt sống 20 tên bộ đội ta thu được nhiều súng đạn. Biết bại lộ do đội quân gánh nước từ đó chúng không cho bất cứ một ai lạ mặt vào đồn nữa. Đội gánh nước bị tra khảo. Nhưng chúng chẳng lấy được căn cứ nào để kết tội. Tôi được anh Dương cho đi tản cư trước cùng với gia đình nên thoát nạn. Sau đó tôi cùng một số con em cán bộ của tỉnh được cử đi học trường Thiếu sinh quân Liên khu 4. Gia đình tôi lúc bấy giờ chia ba xẻ bảy anh tôi ở lính tôi đi học hai chị về nhà chồng còn lại mẹ và chị Liên em gái Tuyết Hoa chạy giặc tản cư cùng an toàn. Tại nơi sơ tán Trung đoàn 18 chủ lực của tỉnh Quảng Bình đóng quân luyện tập sẵn sàng chiên đấu em gái tôi được phân công phục vụ tiếp tế lương thực nuôi quân đã lọt vào tầm ngắm của một sỹ quan trẻ Trung úy Viết Linh quê Hà Tĩnh. Nào ngờ cùng một lúc người bạn đồng môn của anh Dương Lại Văn Ly Bí thư thị ủy thị xã Đồng Hới cũng đưa lời hẹn ước thề non với em gái tôi. Thật khó xử. Viết Linh quê ở Cầu Phủ huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh. Tốt nghiệp sỹ quan Quân chính đóng tại Cổ Định cạnh trường Thiếu sinh quân. Tôi gặp Viết Linh trong các lần giao lưu giữa hai trường Linh thường lên ngâm thơ gây ấn tượng đẹp về anh bộ đội Cụ Hồ trong lòng chúng tôi. Sau một thời gian liên tục tìm hiểu Hoa đã xiêu lòng nghiêng về phía người sỹ quan trẻ. Được tin ấy Lại Văn Ly xin cơ quan nghỉ vài ngày ra Tiên Lễ gặp mẹ tôi gặp Hoa và chị Liên trình bày đầu đuôi cơ sự . Mẹ tôi thương Lại Văn Ly lắm. Mồ côi cha mẹ lớn lên trong cuộc cách mạng kháng chiến của đân tộc. Tính nết hiền lành chất phác. Tuy không đẹp trai như Viết Linh nhưng bề sâu nhân cách cũng không có phần thua kém. Biết là Hoa đã cắn câu anh bộ đội Ly không biết nói gì hơn là viết ngay một bài thơ với lời lẽ yêu thương trách móc giận hờn. Bài thơ dài kết thúc ngắn gọn đanh thép: Con xin bắt tay chào mẹ/ có dịp ra con sẽ ghé thăm/ chúc mừng các chị các anh/ bà con cô bác mười phần vẹn vui/ riêng Hoa xin nhắn một lời/ lấy chồng tiến bộ trọn đời vinh quang.

Lá thư viết trên giấy bình dân bằng bút Parker nét chữ đanh sắc không thẳng hàng biểu lộ tâm trạng của tác giả lúc lỡ vận. Tôi được em Hoa cho đọc để cả nhà cùng nghe biết rõ một lời xám hối. Nghĩ mà thương mà nhớ không chút giận hờn mặc cảm.

Đến chị Liên duyên số như trời định. Giữa anh Đồng và anh Dương đã ngoặc tay với nhau từ lúc nào chẳng ai biết chỉ thấy một hôm hai chàng trai đến chơi nhà một người đã quen biết từ lâu còn chàng trai kia to cao như anh Đồng trông giống như hai anh em sinh đôi. Mẹ tôi ngỡ ngàng anh Đồng nhanh ý giới thiệu đây anh ảnh em trai út của tôi hiện làm y tá trưởng bệnh viện Tuyên Hóa. Cả nhà vui mừng. Anh Đồng không để lộ ý định đưa em trai đến xem mặt chị Liên không nên không phải lại ngượng ngùng. Chị Liên pha nước chè xanh tay vò chè nghe êm ái thau nước sôi vài lần cắt thêm vài lát gừng nhỏ trôn vào bốc mùi thơm lựng anh Đồng khen nức nở. Thoáng thấy anh ảnh liếc nhìn chị Liên rồi nhanh chóng quay về phía anh Dương sợ bị lộ. Từ trong nhà tôi nhận dạng rất rõ. Trưa hôm ấy mẹ tôi mời mọi người ăn cơm không ai chối từ. Bữa cơm gia đình đạm bạc. Cơm trộn khoai lang có cá trích kho nồi canh hến. Anh Đồng anh Dương ăn cơm khen lấy khen để. Lâu lắm mới ăn bữa chắt chắt ngọt thật. Chiều xuống ba anh em chia tay.

Gia đình sơ tán gần bệnh viện nên thỉnh thoảng anh ảnh đến chơi với gia đình. Lân la trò chuyện với chị Liên. Hình như hai ông làm mối có duyên nên anh chị tâm đồng ý hợp chẳng mấy lâu đã nên vợ nên chồng. Đám cưới trong chiến tranh cũng vội vàng như chuyện binh đao. Chỉ lấy chứng nhận kết hôn của huyện hai gia đình tổ chưc tiệc mặn liên hoan vui vẻ. Không phải linh đình như xưa. Cái hủ tục cưới xin theo kiểu thách thức đời sống mới đã xóa mất. Sau lần cưới vợ cho em trai anh Nguyễn Văn Đồng chị Lan và cháu Nguyễn Sỹ Hưng cũng lên đường đến Việt Bắc thủ đô gió ngàn nhận công tác mới.

Ba chị tôi và em gái đã yên bề gia thất tôi đang học Sư phạm anh Dương say sưa công tác chưa thấy anh nói đến chuyện gia đình hay vì lỡ lứa khó tìm người nên duyên nên phận. Tỉnh đội đóng quân ngay ở xã Phù Sơn nằm sát bờ sông Gianh cách ga Tân ấp ba cây số. Xung quanh là núi non bao bọc rừng che bộ đội rừng vây quân thù. Ban chính trị do anh Dương phụ trách được phân ở trong nhà anh Hoàng Chủ tịch xã. Anh có người em gái Nguyễn Thị Long ngày ngày chăm chỉ dệt lụa. Khung cửi đặt cạnh cửa sổ có đủ ánh sáng để phát hiện những đường tơ hỏng hóc càng tôn thêm vẻ lịch lảm của người thợ dệt. Nhất là tiếng thoi đưa tiếng con ác cọ vào thanh gỗ ăn nhịp với sự điều khiển nhịp nhàng của hai bàn chân phát lên âm thanh lách cách lách cách đều đều thu hút sự ngưỡng mộ của người qua lại. Bàn làm việc của anh Dương đặt cheo góc ngước mắt lên là thấy cô gái ngồi dệt lụa vẻ đẹp tự nhiên ngày qua ngày đập vào mắt anh bộ đội. Nhiều hôm đi công tác xa anh lại nhớ tiếng thoi đưa nhớ nụ cười duyên mỗi khi bưng bát nước chè mời anh bộ đội.

Là người anh cả trong gia đình lại thiếu vắng người cha anh trở thành người trụ cột. Cùng với mẹ bảo ban lo cho các em. Bao công việc nặng nhọc trong nhà anh gánh vác hết. Đến ngày cách mạng thành công ngoài việc nhà anh còn lo việc xã hội cho đến lúc 30 tuổi vẫn chưa nghĩ đến chuyện riêng tư. Lần này thấy anh khang khác vui vẻ hơn.

Mùa hè năm 1949 hoa phượng đỏ đầy mái trường. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp đã kết thúc từ chiến dịch Điên Biên Phủ anh Dương mới bày tỏ nỗi niềm riêng tư với gia đình. Hôm cưới nàng dệt lụa tôi không có mặt vì đang mùa thi anh Dương bảo đừng về ảnh hưởng đến học hành. Tôi vâng lời. Về sau nghe mẹ tôi kể lại đám cưới tổ chức giản đơn toàn đơn vị chăm lo nên rất hoành tráng ghi dấu ấn cho những cuộc hôn nhân kế tiếp.

Vậy là sáu anh chị em còn lại mình tôi. Gánh nặng trên đôi vai mẹ vơi dần. Niềm vui lớn làm cho mẹ tôi khỏe ra. Bao nhiêu năm chăm con đến lượt đi nuôi cháu. Các mẹ Việt Nam là thế. Những câu hát ru con ngày nào vẫn phảng phất trong tôi. "Thấy người ta chờm chợ/ Mẹ thủ tiết lòng son/ mẹ ngồi lại nuôi con/ cực trăm điều nên nỗi/ khổ trăm điều nên nỗi.

Tốt nghiệm sư phạm tôi được phân về Quảng Bình dạy học ở trường cấp II Cảnh Dương. Chưa được ấm chỗ tôi lại được điều động ra Thanh Hóa vì Quảng Bình không còn biên chế. Tôi lại có dịp về Thanh Hóa lần thứ hai rồi bén rễ ở xứ Thanh sinh cơ lập nghiệp gây dựng hạnh phúc gia đình với Mỹ lại may mắn có nhà ở tại phố Việt Kiều Thái Lan. Từ đó tìm được mồ mả tông tích ông bà nội bố tôi trên đất Thái.

Cho đến giờ tôi không hiểu nổi cơ may nào trời đất xui khiến ra sao tôi có hạnh phúc vẹn cả đôi đường như thế. Âu cũng là số phận một con người mà thôi.

                                                                                   P.P.T

More...

THƠ THÁNG 12

By Văn Nghệ Xứ Thanh

THƠ VĂN ĐẮC

Văn Đắc đã đi với Thơ một chặng đường dài nhưng thơ anh lúc nào cũng trẻ lúc nào cũng tươi tắn bởi vì lúc nào anh cũng yêu.

Bẵng đi một dạo thấy vắng cứ tưởng...

Bỗng anh gửi cho Xứ Thanh và khoe "Sắp in một tập thơ tình".

Xin trân trọng giới thiệu chùm thơ trong tập sắp in của anh.

Ban Biên tập


 

VĂN ĐẮC

Bài thơ viết đêm Noel




 

Bao nhiêu bài thơ ta viết cho em

Bỗng ngơ ngác mắt buồn trong nét chữ

Hình như thơ nghe lời em nói nhỏ

Trước đêm lòng lành đợi chúa giáng sinh.

Em đi qua chiều gió có lạnh không?

Mà trước cửa mơ hồ nghe lá rụng

Ta vội với bàn tay lên cõi mộng

Chót hái nhầm quả cấm xứ thiên thai.

Nếu giết thì giết một ta thôi

Xin phóng thích những bài thơ vô tội

Những bài thơ xanh màu cỏ dại

Mọc non tơ từ thuở chúa hài đồng.

                               V.Đ

Xin đừng chém vào đêm

Như thể mùa xuân trong đêm động đậy

Hoa đưa hương chỉ đủ nhận ra mình

Đêm che phủ sắc màu ta không thấy

Đêm như người mặc áo nữ đồng trinh.

Và mùa xuân đi rất nhẹ trong cành

Có ai đó vụng thầm trong đêm tối

Xin đừng chém vào đêm đang bổi hổi

Không chết đêm mà chết những người tình.

                                   V.Đ

Chưa đề...



 

Em không có quyền buồn nhé

Em là bài thơ

Ta đánh cược với trời rồi đấy.

Ta đang chờ một buổi nắng hoa cau

Để thề giữa vườn trầu em chưa hái

Ta biết em buồn khi nghe ta gọi

Em đang mùa hoa mật để ong say

Ta xin sắm đôi hài cho em chảy hội

Bắc cầu vồng cho em qua cơn mưa

Em ngả trắng vườn ta một nét trăng ngà

Rồi choàng áo em đi vào buổi sớm.

                              V.Đ



 

Tình Câm


 

Người ta bảo phải dấu đi im lặng

Thành ra tôi chỉ ríu rít một mình

Như con chim bị nhốt trong lồng

Không hót được với cành non lá mỏng.

Người ta bảo phải dấu đi im lặng

Không là chết là tan vỡ hết

Thương nàng quá tôi đành tâm dấu biệt

Khi được nàng yêu tình bỗng hóa tình câm.

                                     V.Đ


 

LÂM BẰNG

Vu lan 2010

I. Mẹ

Mẹ tôi

Quả cau ba bảy

Vỏ xanh hạt chát

Lá trầu bánh tẻ cha hái vườn trưa

Cuống trầu xanh

Ngọn lá vàng héo úa

Cha thẫn thờ hốc má hõm sâu...

Mẹ ra đi đêm mưa

Bước lầy thụt người đưa

Đóm lửa nhạt nhòa đêm tối.

Anh tôi chín tuổi trẻ con

Đi thụt lùi nùn rơm...

Cha cõng tôi trên lưng gọng vó

Mưa sụt sùi

Đường trơn hun hút gió

Mưa mưa tức tưởi...

Đoàn người đi về phía cuối làng...

Cau xanh trầu úa... chiều vàng

Mẹ tôi đứt gánh giữa lang bang hời

Trời chi nghiệt ngã bấy trời...

Thân cha gà trống nghẹn lời võng đưa.

II. Cha

Tôi đầy tuổi

Lẫm chẫm chái hè

Bập bẹ bi bô

Gian nhà trống lời cha ru khàn đục

À ơi...

Gió đưa cây cải... sang mùa

Rau răm đi mãi...

Gió lùa vách thưng

Một cọng khoai lang...

Hai cọng khoai lang...

Chắt chia bà ngoại dắt sang bếp chiều

Bóng gầy cha đổ liêu xiêu

Canh cơi bếp nguội lọc điều muối dưa

Trời còn khét nắng giá mưa

Đời cha xiêu vẹo cánh cò... cuối đông

Chát lòng vả đỏ lòng sung

Đắm lòng cá chuối dửng dưng bến người...

Lẻ buồm cha ngược dốc đời

Cau xanh một bóng nồng vôi thay trầu.

Một đời đi muộn về mau

Cõi còm cha chắt mỡ màu giành con.

             Vu lan 14 tháng Bảy Canh Dần

                            L.B

PHẠM KHANG

Tản mạn làng

Dọc triền sông

Ta bắt gặp đồng làng ngan ngát lúa

Một nắng hai sương mẹ gieo lòng mình

Cha lưng trần vạt áo vá mưu sinh

Em nhặt mùa để sót tuổi thơ nơi gốc lúa

Con ốc con cua nhiều khi nên duyên nên phận

Gió mưa nghiêng lũ lụt đổ vạt đồng.

Phận nghèo

người quê bạc mặt

gom góp lửa lòng cho nhau

miếng đói miếng no tháng ba ngày tám

râm ran tiếng gà cơm mới hẹn mời nhau.

Dọc triền sông

Làng tôi như cái bát sứt môi

Lật sấp đường cày lúa ngô thay vụ

Mẹ bảo thời kinh tế thị trường

Làng đổi thay chóng mặt

Cái nghèo tiễn nhau ra ngõ

Thay da đổi thịt hệt như mơ

Nhà mái bằng

Nhiều nhà tầng

Mọc lên như nấm

Nâu sồng ngồi bên tivi nghe thuyết trình về thời hội nhập

Cô bé nhà bên chân đất hôm nào đi thi hoa hậu

Cái đẹp lưu giữ hồn quê...

Dọc triền sông

Sông chảy ngang tàng

Sông căng phù xa

Giọt nước nuôi làng tắm gội đục trong

Em hát câu ca ngày làng vào hội

Mẹ ru câu nghĩa nặng tình sông

Trai gái đếm bậc sông đo lòng nặng nhẹ

Đêm trăng đầy lên bến Thần Nông.

Dọc triền sông

Đường về với quê cha đất tổ

Mảnh đất máu xương của tiền nhân bao thời đánh giặc

Gây dựng nên làng đi mở cõi phương Nam

Nơi mẹ đã cho ta cái quyền được khóc chào đời

Rau má rau sam

Hoa trong vườn

Cơm thơm đồng bãi

Ta lớn lên như thế tự bao giờ

Dọc triền sông

Ta thấy lòng thanh thản

Gió từ biển Đông

Gió từ sông Mã

Thổi tung tóc bay hoàng hôn dáng đỏ

Một chiều quê tha thiết nỗi niềm.

                          P.K

VIÊN LAN ANH

Giấc ngủ rừng trưa


 

Rừng trưa

Người đàn bà tựa lưng vào cội ngủ say

Mộng đẹp theo mây bay về tuổi trẻ

Con suối đầu nguồn reo khẽ

Róc rách lao xao

Ký ức bay vèo

Tình đầu một thuở...

Người đàn bà mơ thấy ân nhân

ân nhân bỗng hóa chim trời vỗ cánh

Người đàn bà mơ thấy kẻ đố kỵ

kẻ đố kỵ cười nửa miệng bước đi

Người đàn bà mơ thấy kẻ hồ nghi

kẻ hồ nghi bắt tay lắc mạnh

Người mơ thấy kẻ ghét mình

họ bước phiêu du qua cầu Nại Hà

ái ố hỉ nộ.

Người đàn bà trở mình

Mặt trời treo trên đỉnh núi

Bóng người địu củi về thung

Bước chân ung dung

Giấc ngủ rừng trưa rười rượi

Say mê.

                 V.L.A

NGUYỄN THIÊN SƠN

Trưa ở nghĩa trang


 

Người thăm muôn nẻo tới đây

Câu thơ cháy giữa rừng cây bồi hồi

Tuổi trai nằm lại trên đồi

Cho trăm năm một bầu trời xanh trong.

Lá thông reo gió như lòng

Tạc nên bia đá muôn trùng công ơn

Ngút tầm mắt đỉnh Trường Sơn

Tiếng chim vỗ cánh hoàng hôn gọi bầy

Lệ nhòa thổn thức hàng cây

Các anh khuất để đất này tự do

Nấm mồ như núi nhấp nhô

Ngàn thông xanh giữa câu hò ai ơi!

Đơn sơ đất cát-ngàn đời

Như vầng trăng giữa vòm trời nước non

Vững bền hơn dãy Trường Sơn

Những người lính hóa vuông tròn mai sau...

                                       N.T.S

CÔNG NAM


 

Nỗi ám ảnh

Trải cuộc tình lên bờ hai thế kỷ

chót vót một bên và sình vũng một bên

giữa bờ chung ấy mặt trời Chim Lạc vẫn tỏa

nong nia xoay vòng không mỏi mệt

Thế kỷ nợ nần gán sang thế kỷ nào chưa ai rõ

những cơn mưa đêm cứ bất ngờ phát tia chớp xé rách hình lõa thể làm thiên thần trốn chạy theo câu kinh

vô danh vào nghĩa địa thập ác.

Bất giác sáng mai sang thiên niên kỷ mới

lại thấy nhan nhản dự án khai quật nỗi buồn khắp

trong lòng đất trên cả những hành tinh khác.

Ta cần mẫn khám phá cái cũ hướng tìm con đường mới

còn bản năng loài chuột vẫn kiên trì gặm nhấm đức tin trong bóng tối.

Chú Cuội có thể vá lành giấc mơ trẻ thơ trên hành

tinh khác?

Và lẽ nào em lần nữa không hiện về trong chiếc gương

nhiệm mầu!

                                                      C.N

NGUYỄN NGỌC PHÚ



 

Trong viện điều dưỡng thương binh



 

Trong viện điều dưỡng thương binh

Nhiều người thừa cánh tay giả

Nhiều người thừa chiếc chân giả

Có người thiếu một con mắt

Có người thiếu một khúc ruột...

Nhưng bạn ơi!

Trái tim không thiếu một phần

Trái tim không thể giả

Người lính đứng trước gương

Không thiếu

Không thừa

Không thật

Không giả

Chợt rùng mình

Cơn sốt rét

Nhòe gương...

                                N.N.P

BÌNH NGUYÊN

Bài ca về màu tóc

Ngày tóc ta mọc lên

Tóc Mẹ đã rụng xuống.

Rồi đi xa

Sau mỗi lần gặp bão

Ta muốn trở về nhà

Đi trên con đường chiều chiều từ ngõ Mẹ đi ra.

Chiều chiều

Mẹ dõi về nơi xa lắm

Nơi ta gặp dòng sông

Ngỡ ngàng trước mênh mông của nước

Đập mặt vào bão giông

Mới hiểu những con sóng cũng hằn lên vết xước.

Bao nhiêu năm

Mẹ gom lại những dặn dò kiếp trước

Làm hành trang cho ta đến bạc đầu.

Không biết Mẹ đi qua bao nỗi đau

Để điềm tĩnh chiều chiều ngồi phơi tóc

Tóc Mẹ bây giờ không trắng nổi nữa đâu...

                                    B.N

ĐÌNH THU


 

Sau giấc mơ


 

Sau giấc mơ

Là tiếng của thời gian đang lay động cánh đồng

Loài côn trùng lạ chỉ kêu về đêm

Bản giao hưởng lạc loài không có người nhạc trưởng

Âm vang rì rầm

Giữa miền hoang tưởng

Sau giấc mơ

Con đường thành vô tận

Chằng chịt những lối mòn

Bàn chân chẳng bao giờ chạm đất

Khoảnh khắc riêng chợt tan biến giữa vô cùng

Cõi nào ngây ngô mà thầm lặng...

Rơi trên bàn tay đêm

Sau giấc mơ

Bầu trời trong veo chợt vỡ oà

Mùi khuya nằm lặng

Đợi sáng

Thèm quay quắt ...

Nỗi nhớ cong như bàn tay em vẫy gọi

Ban mai!

Phô trương nét dậy thì

Sau giấc mơ

Lại khát thèm những cơn mưa lạ

Để gội rửa hình hài

Và từng người từng người thức dậy

Nhìn cuộc đời bằng đôi mắt bình minh.

                                       Đ.T

More...

DỰ THI SÁNG TÁC VĂN HỌC TRẺ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

VĂN THÀNH LÊ


 

Tự họa


 

Truyện ngắn



 

1. Hãy tưởng tượng ngày mới của bạn bắt đầu bằng hồi chuông nhà thờ hay tiếng kêu của những chú lợn xấu số ở lò mổ ngay bên nhà khi bị gã đồ tể chuyên nghiệp gại gại con dao sáng loáng và bất thần chọc sâu vào cổ. Xét về hiện tượng thì hai thứ tiếng ấy có thể khác nhau một tiếng mang trong mình sự thanh bình yên ả; một thứ tiếng chết chóc rợn người. Nhưng bản chất với riêng bản thân bạn có gì khác cũng chỉ là những thanh âm hắt vào sương mai nó chẳng can hệ gì tới cuộc đời bạn không thể nhiều hơn một hồi chuông hiện thực thức tỉnh bạn mỗi ngày.

Sau cái ngáp dài khuyến mại thêm vài cái ngáp ngắn vặn trái vặn phải đá ngang đá dọc để kiểm tra bộ khung xương sau hai tư giờ hôm trước tịnh tiến đến giờ đã lão hóa mất bao nhiêu phần nghìn bạn vội vàng làm vệ sinh cá nhân. Nếu còn thời gian bạn sẽ đi một vài đường quyền còn sót lại trong trí nhớ từ thuở sinh viên hăm hở học theo phương châm "giáo dục phát triển con người toàn diện". Đấy là cái thời sôi nổi với khẩu hiệu 3 vờ: văn hóa văn nghệ và võ nghệ. Để bây giờ trong bạn cái gì cũng còn rớt lại một chút như loài giun chiều nào cũng xoay được.

Rất nhanh. Kế tiếp màn vận động bạn sẽ lao vào nhà tắm làm một cuộc tẩy trần. Đâu vào đấy liếc chiếc đồng hồ bạn hồ nghi sao nó chạy nhanh như ngựa trên thảo nguyên miền tây nước Mỹ. Và bạn buộc phải chạy theo. Tay lau tóc. Tay cài khuy áo. Tay kéo khóa quần. Tay cầm một thứ gì đó còn sót lại trong tủ lạnh tống đại vào miệng giải quyết khâu năng lượng. Rồi xách cặp. A lô xô tới trường. Kế hoạch giảng dạy trong ngày đã có thời khóa biểu. Thời khóa biểu đã save vào đầu. Giáo án cũng thuộc nằm lòng muốn mở rộng thêm cập nhật thêm sau mỗi ngày mỗi năm như lý thuyết giáo dục cũng không được hay đúng hơn là không nên không cần thiết. Vì học sinh vốn dĩ ở cấp dưới lên đứng trên một cái nền ruỗng mục nên chỉ sách giáo khoa đã kêu trời than đất.

Cứ thế. Một buổi sáng quay đều quay đều quay đều. Không cần biết tới... thời tiết có như thế nào.

2. Bạn đến trường. Sáng nay theo thời khóa biểu bạn sẽ phải cày năm tiết. Qua rồi cái sự hồ hởi của ngày mới ra trường. Cái thời "tim đang dào dạt máu" đáng lẽ bạn sẽ khoa chân múa tay thăng hoa theo từng lời giảng. Ai cũng nghĩ thế. Bạn cũng đồng ý thế. Có mỗi thực tế không phải thế. Bạn thấy mình đang chết đuối cùng lũ học trò cố quẫy đạp trong lớp học mà nghẹt thở muốn chết. Bạn sớm nhận ra điều ấy từ lần đầu tiên về trường giờ ngoại khóa do bạn phụ trách một em học sinh tóc hai lai vàng đỏ phát biểu: Hát y vê là một loại chất rắn không màu không mùi không vị; một em nữ khác mang trên mình chiếc áo pull màu đen phun ảnh người mẫu ngành điện lực (hình đầu lâu kí hiệu nguy hiểm chết người trên các cây cột điện) xung phong sửa câu trả lời giúp bạn và nói: Hát y vê là chất gây nghiện hình thành khi các đôi tình nhân quan hệ tình dục với nhau không an toàn. Bạn chết lặng. Chết đứ đừ. Chết như không kịp ngáp. Chết mà miệng há hốc mắt dựng ngược.

Người ta ví von: Lớp học cũng là một sân khấu và người thầy giáo cũng là một nghệ sỹ. Có phải bạn dạy tồi nên không hút được học sinh? Thế là thành cái chợ. Bạn có một đầu hai tay. Nhưng lớp có bốn mươi cái đầu và tám mươi cánh tay. Bạn có một cái miệng và hai cái tai. Nhưng lớp có bốn mươi cái miệng và tám mươi cái tai. Bạn đấu không lại. Từ tiết học bạn chuyển qua thành tiết ngoại khóa. Bạn vận hết công lực đọc lỏm được trong những cuốn sách loại Hạt giống tâm hồn hồi nảo hồi nào rưới lên đầu học sinh mong nhận được một sự chuyển biến gì đấy. Nhưng đầu đuôi vừa xong chưa cảm nhận được dấu hiệu thẩm thấu hay nói như quảng cáo là "luôn luôn lắng nghe luôn luôn thấu hiểu" từ phía học sinh thì một em gái tóc vàng xù như mì tôm trương phình vì để quá nước hồi sáng mới đánh võng chiếc xe phân khối lớn trước mặt bạn ở đoạn rẽ vào trường đứng lên: "Thầy dạy tự nhiên mà nói hay quá hay hơn cả cô dạy văn. Thầy muôn năm! Thầy vạn tuế!". Cả lớp đế vào "Muôn năm! Muôn năm! Vạn tuế! Vạn tuế!" Bạn thấy mình như bị rơi vào hố đen của vũ trụ. Đúng hơn là hố đen của vũ trụ là cái phòng học năm mươi mét vuông mà bạn đứng trên bục như đứng trên mép hố chới với chơi vơi và quay cuồng. Thiếu tỉnh táo một chút là rơi tuột vào hun hút hun hút không trọng lượng.

Hồi đầu bạn nghi ngờ năng lực sư phạm của mình. Bạn tìm cách lý giải. Chúng ta hay có thói quen đổ lỗi cho yếu tố khách quan mà ít khi nhận mọi thứ về mình. Bạn bắt đầu hoang mang về chính mình. Thời sinh viên là một tay hùng biện có tiếng của trường. Vậy mà thua. Bạn xin dự giờ các đồng nghiệp khác. Té ra không phải. Chẳng phải khi bạn lên lớp học sinh mới vậy. Hỏi ai ai cũng lắc. Học sinh vậy là mẫu số chung là đại trà thế. Và thế là bạn nản.

Như con thuyền lớn muốn ra biển mà mắc kẹt ở một con suối cạn. ý nghĩ buông xuôi rẽ ngang le lói trong bạn. Nhưng ngoại bạn khuyên "Cố lên cháu. Đừng bỏ cái truyền thống gia đình". Mẹ bạn thêm "Giáo dục giờ nó thế. Đã đâm lao cố mà theo lao". Ôi! To be or not to be! Trời bạn là một tên rất dở Anh văn mà đã phải lục lại não thốt lên như thế.

Nhưng bạn vẫn phải sống. Sống nhăn răng ra đấy. Thế là buổi chiều phải lao theo mấy ca phụ đạo hay dạy thêm. Tối mịt vội nhét mẩu bánh mì vừa đủ tráng qua thành ruột và chạy ù vào trung tâm Anh ngữ. Ngồi thẫn thờ thêm giờ rưỡi. Tới gần mười giờ đêm mới lê được cái xác về nhà thì hồn đã rơi tận ngoài hẻm. Chân tay rã rời. Đầu óc tơi bời. Dĩ nhiên bạn sẽ tắm nước nóng để dựng dậy cái cơ thể luôn trong tình trạng muốn trùng tu cho máu lưu thông lại. Rồi ngồi nạp năng lượng. Vừa nạp vừa xem qua bản tin cuối ngày. Ngày nào cũng thế. Ngày nào cũng vậy. Chiến tranh lạnh chỗ này chiến tranh nóng chỗ kia. Thử hạt nhân ở nước này khủng bố ở nước kia. Đàm phán ở phía này tuyên án ở phía kia. Rồi trong nước thì cướp của giết người tai nạn giao thông rút ruột công trình... Xăng và vàng thi nhau nhảy điệu lăm-ba-đa cho dân ta chóng mặt chạy theo không kịp. Tất cả như một mớ hổ lốn. Và bạn ngủ vì quá mệt lúc nào không biết! Ngủ trong tiếng bom khủng bố ì ùng phát ra từ tivi.

Cứ thế. Một ngày kết thúc như vậy. Quay đều quay đều quay đều!

3. Thế rồi một ngày chủ nhật hiếm hoi nào đó bạn tỉnh dậy sau cơn ngủ nướng tự nhiên thấy mất phương hướng. Giờ làm gì đây? Bạn tự hỏi. Bạn bước ra lan can nhìn xuống. Bạn nhận ra trời bữa nay đẹp. Hình như có rất nhiều những gia đình cặp đôi hay nhóm bạn bè gì đó tụ tập đùa vui ở công viên phía xa xa kia. Lâu quá rồi bạn không thấy cảnh ấy. Nắng nữa. Lâu rồi bạn không thấy nắng đẹp thế. Thế là bạn khẽ thở dài một cái thẫn thờ. Bạn cầm điện thoại lên. Bạn háo hức được nghe những tiếng ai đó nói với bạn trong một sớm mai như thế này. Ưu tiên những người bạn thời đại học. Số thứ nhất giọng chị tổng đài phả ngang tai ngọt lịm "Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được". Số thứ hai vẫn những câu ấy không thêm không bớt giọng không lên không xuống so với lúc trước chút nào. Bạn bắt đầu thấy nóng. Có lẽ quá lâu rồi không liên lạc bạn bè đã thay số hay máy hết pin ngoài vùng phủ sóng. Bạn vừa suy đoán vừa ấn số thứ ba. Có giọng nói phía bên kia:

- Ôi sao nay máy rồng lại tới máy nhà tôm thế này?

...

- Dạo này khá chứ?

...

- Tao vẫn hô hấp và tuần hoàn đều.

...

Thế thôi. Thế là hết. Những cụm từ chung chung không định tính định lượng được gì. Những cụm từ nói ở đâu với ai cũng được. Rồi đầu bên kia cáo lỗi vì đang bận. Sẽ gọi lại khi có thể. Có thể là khi nào? Khi mà cả năm trời không liên lạc gì với nhau.

Tự nhiên bạn cảm giác hoang mang lên đến tận cổ. Nhưng người bạn đã bỏ ta đi. Hay ta đã bỏ họ vô tình mà ta không biết. Bạn rê bàn phím điện thoại tới danh sách những đồng nghiệp. Có ai để bạn gọi không? Bạn nhíu mày một chút rồi buông. Không đâu. Có ai mà gọi. Đồng nghiệp chỉ là "bè" chứ có ai là "bạn" đâu. Cùng lắm là ồn ào náo nhiệt hô hoán nâng cốc rồi thôi. Chẳng ai để bạn phơi bày ruột gan ra được.

4. Bần thần một hồi bạn chợt thấy tập allbum ảnh quăng ở một góc giá sách phủ lên đầy một lớp bụi dày. Bạn không thuộc típ người thích gặm nhấm quá khứ. Nhưng lúc này đây bạn đã quờ tay kéo xuống. Không dưng thấy mọi thứ nặng trĩu. Này đây bạn của hai lăm năm về trước cởi truồng ngồi phơi chim cu cười sặc sụa; rồi hai ba mười chín mười bảy mười lăm bảy năm rồi bạn cách đây năm năm trong bộ đồ cử nhân tốt nghiệp đại học.

Hai bảy năm. Đôi mắt vẫn đôi mắt ấy. Sống mũi vẫn sống mũi ấy. Đôi chân vòng kiềng vẫn đôi chân vòng kiềng ấy. Nhưng những người đứng cạnh bên bạn không phải là một. Những ánh mắt nụ cười bên cạnh bạn cũng không giống nhau. Thêm những người trưởng thành hơn. Những người chín chắn hơn. Những người tỉnh táo hơn.

Bạn nhớ lắm cái thuở là trẻ chăn trâu chơi trận giả đánh khăng đánh đáo tắm sông bắt cá. Rồi cấp một cấp hai cấp ba đại học. Có phải con người cứ lớn lên một chút lại chất thêm vào lòng mình những bí mật cho riêng mình phạm vi chia sẻ càng ngày càng thu hẹp lại. Chúng ta đã lớn dần lên. Đi từ quê ra phố. Ta học thêm được nhiều thứ từ sách vở từ cuộc sống. Nhưng đồng nghĩa trong hành trình ấy ta mất dần sự vô tư hồn nhiên. Ta thấy càng ngày càng ít người hiểu mình. Càng ngày ta càng cô độc hơn. Dẫu ta đang đi về phía phố có mật độ dân cư lớn nhất nước này. Bạn đấy. Từ ngôi trường làng dưới chân đê bên dòng sông quê nhà ra ngôi trường phố huyện rồi ngôi trường đại học và ra làm việc. Bạn bè ngày càng tăng lên mà lòng bạn ngày càng hẹp lại. Chẳng phải để tự vệ gì. Chẳng phải ngụy trang gì. Chẳng phải ngại mở lòng. Mà mở lòng ra với ai? Ai ai cũng thấy bận rộn chạy theo toan tính của riêng mình để trụ lại với phố phường. Dường như với những người trẻ vẫn biết đời là dài lắm cần phải giữ sức cho cuộc chạy đường trường nhưng sao ai nấy đều muốn lao vào với vận tốc của một vận động viên điền kinh trên đường piste 100 mét tự nhiên nó cứ thế.

Bạn giật mình. Có phải mỗi người là một tiểu vũ trụ càng tiến lên thì càng bỏ xa cái vũ trụ lớn kia. Như những nghệ sỹ đấy họ khóc họ cười trên sân khấu đấy. Nhưng sau khi ánh điện sàn diễn tắt sau những tràng pháo tay những bó hoa những bài báo trên trời thì lúc họ về nhà nghỉ phòng trọ liệu họ có phải đối mặt với sự cô độc? Họ không còn thời gian giành cho bạn bè gia đình. Hay một nhà khoa học bên phòng thí nghiệm thư viện với hàng trăm hàng nghìn phép thử tính toán để cho ra một phát minh nào đó. Hỏi bao nhiêu người hiểu? Một định lý hay bộ đề toán học hiện đại mới được chứng minh khoảng một nhúm người biết mà hiểu còn lại cả xã hội ngơ ngác dù có thán phục. Thán phục trong ngơ ngác. Thử hỏi cả mặt đất này bao nhiêu người hiểu cặn kẽ Học thuyết tương đối của Anhxtanh dù ai cũng nhìn ông thần tượng và từ tương đối được sử dụng như câu cửa miệng thành từ - cuộc - sống - thông - dụng. Sao lại vậy? Làm sao để dung hòa được. Bạn không phải là một người nổi tiếng mà bạn cũng thấy mình dần bị ăn mòn cô độc đi. Bạn đang bị xoáy vào khoảng từ trường bi kịch ấy. Bạn chới với. Cái gì có thể kéo bạn lại với sự bình yên cho mình?!

5. Cái gì đủ sức kéo bạn lại với sự bình yên cho riêng mình? ấy là gia đình. Là vợ là con. Mẹ bạn bảo vậy. "Đã có mối nào chưa? Vợ con nó như cái bến đàn ông có là cái thuyền đi đông đi tây rồi cũng quay về bến mà đậu nhất là lúc bão tố mưa sa". Mẹ bạn nhắc hoài nhắc mãi điệp khúc ấy.

Hồi mới ra trường. Lâu lâu gặp người lớn ai cũng hỏi "Công việc ổn định rồi. Tính bao giờ cưới". Bạn cười toét. Nụ cười bắt nắng: "Năm năm nữa". Rồi năm năm trôi qua. Nhanh như con tàu thời gian không số. Giờ ai nhắc lại câu nói cũ của bạn hồi trước bạn lại cười "Năm năm nữa". Đã hết rồi nói như lịch sử là kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Phòng vẫn không. Lòng vẫn trống. Không lẽ phải cần đến một đơn vị thời gian nữa là năm năm lần thứ hai.

Kế hoạch năm năm lần thứ hai hay phải kế hoạch năm năm lần thứ ba nữa bạn chưa biết. Chưa biết không phải bởi bạn không muốn không thích không nghĩ tới. Nhưng tới cái tuổi này rồi tự nhiên thấy người nổi lên một sức ỳ. Và hệ quả của nó là bệnh lười. Lười yêu. Không biết y học có bệnh này không?!

Đã qua rồi cái thời hồn nhiên mây trắng nắng ấm sân trường. Cái thời yêu nhau mấy núi cũng trèo mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua. Cái thời xe đạp ơi nàng ngồi trên khung xe phía trước áp sát tấm lưng tròn ấm nóng vào ngực bạn mà rong ruổi từ nội thành ra ngoại ô hay ngồi nhặt lá đếm sao. Tất cả đã xa. Xa lắm lắm.

Bạn luôn nghĩ bạn sẽ chỉ yêu duy nhất một người và cưới làm vợ. Lần đầu tiên gặp bạn nghĩ đấy là nàng. Sau ba tháng làm quen bạn đinh ninh đấy là nàng. Sau một năm yêu nhau bạn chắc chắn đấy là nàng. Nhưng đúng lúc bạn nghĩ chắc chắn nhất thì mọi chuyện lại xoay theo chiều khác. Tình yêu ấy mà. Đừng bao giờ nên mổ xẻ. Mổ xẻ được thì lại là thứ khác mất rồi. Bảy năm. Mọi thứ đã ngủ quên ở một miền xa ngái nào đó. Tình yêu thành ký ức. Ký ức là những thứ đã trải qua đã diễn ra hay chính là lịch sử. Chí ít là lịch sử của riêng bạn. Mà bản thân lịch sử thì không bao giờ có lỗi. Không ai đổ lỗi cho lịch sử cả.

Còn giờ đây sao bạn ngại quá thể. Có phải bạn ngại tiếp sự đổ vỡ. Không chứ. Nhưng sao bạn thấy khó quá. Bạn thấy mình quay tối ngày. Ra đường cũng chẳng rảnh rổi để liếc ngang ngó dọc. Có nhìn cũng chịu. Thiên hạ giờ như tắc kè hoa cả với áo khoác khẩu trang mắt kính chẳng nhận ra ai với ai. Tới trường thì đồng nghiệp do xơ hóa khi tiếp xúc quá nhiều với thế hệ học sinh thời đại mới nên phản xạ cứng như ngói tháng năm. Cảm xúc lặn không buồn sủi tăm. Năm thì mười họa đi dự tiệc đám cưới bạn bè mới gặp những "nhân tố mới mô hình mới" nhưng bạn bị dị ứng gai người. Nó xanh đỏ tím vàng cả. Nó ngụy trang cả. Ông tổ trường phái nhân tướng học sống lại chưa hẳn nhận ra đâu là người tốt người xấu mà trước nhất là nhận đâu là trai thật gái thật đâu là xăng pha nhớt cũng đủ toát mồ hôi hột. Bởi vậy tối tối những ngày nghỉ hiếm hoi bạn đành khóa cửa đọc vài cuốn sách. Thời gian với bạn rơi tự do.

Và bạn bạn cũng rơi tự do không định vị nổi chính mình. Rồi lặn sâu vào giấc ngủ. Trong giấc ngủ bạn mơ bạn chế tạo ra một cục nam châm cực lớn cực mạnh. Ra đường gặp cô gái nào bạn chỉ việc giơ nam châm ra. Khi nó đẩy thì nó không phải người bạn cần tìm. Nó hút thì đấy chính là mẹ của con bạn trong tương lai. Bạn dùng nam châm hút cô gái ấy về nhà. Thế là có vợ. Khoa học muôn năm! Bạn cười khoái chí với phát minh trong mơ của mình.

6. Rất tiếc đấy chỉ là giấc mơ. Còn bây giờ đã là sáng mai. Sáng thứ hai. Một tuần mới. Lại sáng trưa chiều tối. Bạn đến trường. Dạy phụ đạo. Dạy thêm. Học ngoại ngữ. Tối về mệt lăn ra ngủ.

Nhưng tự dưng hôm nay bạn thấy vui vui. Vừa đánh răng bạn vừa huýt sáo. Vừa tắm bạn vừa lẩm bẩm một khúc tình ca.

Lát nữa lên lớp bạn sẽ có tiết dạy về cấu trúc và chức năng của tim. Chức năng của tim không đơn giản chỉ là co bóp và đẩy máu như sách giáo khoa trình bày. Phải. Tim không chỉ co bóp và đẩy máu mà còn... Ôi tự nhiên bạn thấy mình rộn ràng. Không lẽ do nàng mới chuyển về trường mà sáng qua bạn mới "ghé mắt trông ngang" thấy ở phòng hội đồng nhà trường mà bạn nghĩ thế cũng nên! Lâu lắm rồi bạn mới cảm giác một buổi sáng không quay đều quay đều như vốn dĩ những ngày thường!

                                                                       29-5-2010

                                                                           V.T.L

NGUYỄN QUỐC PHƯƠNG


 

Tác phẩm đầu tay

Truyện ngắn



 

       Ngày thứ năm trong tuần cứ đến bữa ăn là cái âu lại chứa đầy những sợi mỳ xoăn tít phía trên nắp là cái thìa và đôi đũa. Đã năm ngày rồi nó chưa được một hạt cơm nào vào bụng suốt ngày chỉ mỳ tôm loại ba khổ nỗi cái giống mỳ tôm lúc đói ăn ngon thế nhưng sao bụng cứ nóng ran lên được. Mỗi buổi lên giảng đường nó thường chọn cho mình cái bàn cuối cùng trong sát góc lớp để ngồi vì cái dạ dày lúc nào cũng réo lên những "bản nhạc" kinh hoàng. Những bản nhạc không theo một âm điệu nào có lẽ đến những nhạc sỹ thiên tài như Sôpanh hay Bethoven cũng phải đầu hàng.

Buổi sáng chủ nhật ký túc xá tĩnh lặng hơn mọi ngày. Trời hôm nay se lạnh mọi người rủ nhau đi vườn táo chơi nó từ chối không đi với lý do hơi mệt. Trời mới se lạnh vậy mà mấy đứa đã tung ra các loại mốt mùa đông đầy ấn tượng giầy dép bóng nhoáng chỉ riêng nó vẫn chiếc áo sơ mi cũ kỹ đã sờn vai. Mọi người đi căn phòng mười người bỗng trở nên yên tĩnh lạ thường. Cả khu ký túc xá dường như cũng chìm xuống mọi người rủ nhau đi chợ mua sắm hoặc đi picníc sau những ngày học căng thẳng. Ngồi trong phòng nhìn qua cửa sổ lòng nó bỗng se lại khi nhìn thấy những chiếc lá bàng đang dần chuyển sang màu đỏ. Trời trong xanh thỉnh thoảng những cơn gió thổi qua làn áo mỏng nó đang mặc nó ước sao có được một đôi cánh để bay khắp thế giới này được đặt chân tới những nơi mà chưa ai tới. Ngồi buồn nó lấy vở ra ôn bài cũ nhưng chẳng thấy hứng thú gì các con chữ như đang nhảy múa trêu ngươi. Gấp vở lại nó nhìn toàn bộ căn phòng mà lâu nay nó vẫn ở cảm giác trống trải bỗng dâng trào. Tự nhiên nó thấy nhớ quê nhớ mẹ nhớ em Hoa quá. Ước sao bây giờ đang có mặt ở nhà để được cùng mẹ ra đồng nhổ cỏ rau cùng em Hoa nô đùa trước ngõ.

Nó nhớ lại hôm đến trường con lợn trỗn đang lớn phải bán rẻ cho hàng thịt bốn con chó con mập lũn cũn mà hàng ngày em Hoa hay vuốt ve được mẹ cho vào chiếc mủng dâu đem ra chợ bán. Hôm đó em Hoa chạy theo mẹ ra đến tận đầu ngõ khóc kéo cái mủng dâu lại không cho đi nó phải dỗ mãi mẹ nó mới đem đi được. Nhà nó nghèo nhưng trong nhà lúc nào cũng đầm ấm vui vẻ ai cũng có một tình thương bao la. Em Hoa rất yêu động vật nhất là những con vật nuôi trong nhà. Còn nó một lần làm giỗ ông nội có con gà trống mẹ bảo nó cắt tiết làm thịt để cúng gia tiên cầm con dao trong tay nhưng không tài nó cắt được mỗi khi nó định đưa con dao vào cổ thì con gà lại kêu lên quang quác mẹ bảo "Con trai mười lăm tuổi đầu mà không cắt tiết nổi con gà vậy thì làm được trò gì". Mặc dù nói vậy nhưng mẹ nó cũng chẳng trách gì vì biết nó rất quý các con vật như em Hoa cuối cùng phải nhờ bác Tâm bên hàng xóm sang cắt hộ.

Cầm số tiền từ đôi bàn tay chai sạn của mẹ nó hiểu mẹ phải vất vả như thế nào mới có được mặc dù số tiền ấy so với xã hội bây giờ thì chẳng đi vào đâu có khi chưa đủ cho một ông sếp bình thường đi nhậu một tối. Nó còn nhớ như in lời mẹ dặn "Nhà mình nghèo còn nhiều khó khăn con cố gắng tiêu pha hợp lý rồi mẹ sẽ gửi cho con sau". Nó thấy nghèn nghẹn không nói nổi câu nào ngoài từ "vâng" mẹ như hiểu được nên động viên nó: "Đừng lo cho mẹ con học tập tốt là mẹ vui rồi". Nhét cẩn thận số tiền vào chiếc ba lô đã cũ từ thời chiến trường của bố đó là kỷ niệm nó quý nhất chiếc ba lô theo bố suốt những năm tháng bom đạn ở Trường Sơn. Sau khi hòa bình trở về với mẹ con nó được năm năm thì bố lâm bệnh qua đời khi đó nó còn rất nhỏ. Trong thâm tâm nó hứa sẽ quý và giữ gìn chiếc ba lô như một người ruột thịt nó đem chiếc ba lô đi học vì nó nghĩ đó chính là hình tượng của bố lúc nào bố cũng bên cạnh và động viên nó.

Quê nó nằm cạnh một con sông rộng với cái tên đầy thơ mộng Cỏ May chả là hai bên bờ sông rất nhiều cỏ may đứng từ xa chỉ thấy một màu trắng hoa cỏ may. Cuộc sống của người dân nơi đây còn nhiều cực khổ nhưng cũng chính nơi đây đã sản sinh ra biết bao nhân tài họ đã lớn lên và trưởng thành từ hạt ngô củ khoai mớ rau... Từ ngày còn rất nhỏ theo mẹ ra đồng tưới rau thấy mọi người lao động vất vả nó đã mơ ước sau này phải thi đỗ vào một trường đại học nó nghe thấy các cụ nói chỉ có tri thức và sự cần cù mới giúp con người ta thoát khỏi đói nghèo mặc dù lúc đó nó cũng chưa hiểu nhiều lắm nhưng nó biết cần phải học thật giỏi. Năm lớp mười hai nó quyết định thi vào trường đại học Tổng hợp và bây giờ đây nó đã là chàng sinh viên khoa văn năm thứ hai.

Số tiền hôm mẹ cho lên trường nó không dám mua gì cái chiếu từ học kỳ trước cũng không dám thay đôi dép đứt quai nó lấy kim khâu lại nó không dám đi đá bóng vì chiếc quần đùi đã sờn. Trong túi chẳng còn là bao sau khi đã đóng tiền học phí tiền nhà ở tiền điện tiền quỹ lớp và một số các khoản lặt vặt khác. Từ lâu nó đã quên khái niệm "ăn sáng" mặc cho cái dạ dày cứ réo nhạc. Những ngày đầu nó ăn trưa và ăn tối ở quán cơm bình dân nhưng cũng chỉ được gần một tháng. Bây giờ nó đã mua một bịch mỳ tôm loại ba thay thế cơm trưa và tối nó đã thực hiện liên tiếp được năm ngày như vậy mấy đứa con nhà giàu trong phòng thấy thế đặt cho nó cái tên Phúc mỳ tôm chỉ riêng có thằng Hùng là không gọi nó bằng cái tên đó những lúc có chuyện buồn chỉ có thằng Hùng là người để nó tin tưởng và tâm sự nó học khá nên thường xuyên giảng giải chỗ bài khó giúp Hùng. Hai đứa đã trở thành bạn thân đến mức mà mấy đứa trong lớp bảo: "Chúng mày cứ như đôi tình nhân ấy".

Đang ngồi nghĩ miên man nó bỗng nảy ra một ý định "phải kiếm tiền" không thể để cuộc sống như thế này mãi được phải làm một cái gì đó chứ? Nhưng bằng cách nào? Câu trả lời cứ rối tung lên trong đầu. Phải rồi đánh đề nó thốt lên với vẻ mặt rạng rỡ nhưng bỗng lại xịu xuống ngay. Không được năm ngoái bố mẹ thằng Tuấn đã phải đến trường trả nợ biết bao nhiêu tiền vì nó đánh đề suýt nữa còn bị đuổi học. Hay là bán máu nó nghĩ vậy nhưng với thân hình còm nhom thế này có khi nó còn phải mua thêm máu chứ nói gì đến bán. Nó đã đặt ra rất nhiều phương án như làm thuê trong nhà hàng gia sư thậm chí cả đạp xích lô nữa nhưng tất cả đều nằm ngoài khả năng và ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập. Nó nằm vật xuống giường hai mắt lim dim nhưng trong đầu vẫn chứa đầy suy nghĩ. Bỗng nó ngồi phắt dậy chạy đến chồng báo cũ lục tìm và đọc ngấu nghiến những bài thơ những truyện ngắn do các bạn sinh viên sáng tác. "Phải rồi mình sẽ làm thơ viết truyện ngắn gửi báo" nó reo lên sung sướng.

Nó học văn rất khá có lẽ một phần được hưởng gen từ mẹ. Mặc dù mới học hết cấp hai nhưng mẹ nó làm thơ lục bát rất tuyệt vời đã nhiều lần được hội phụ nữ tỉnh khen thưởng. Ngay từ nhỏ nó rất thích đọc truyện cổ tích. Những đêm hè sáng trăng nằm ngoài sân hóng mát nó bắt bà ngoại kể cho bao nhiêu là chuyện mãi tới khuya mới chịu đi ngủ. Trong ba năm học cấp ba nó luôn nằm trong đội tuyển thi học sinh giỏi văn của tỉnh và đã nhiều lần đạt giải khiến bạn bè nể phục.

Những bài thơ những tác phẩm truyện ngắn mặc dù đã đọc rồi vậy mà bây giờ đọc lại vẫn hay tuyệt vời. Những câu thơ giọng văn như đang ngấm vào từng mạch máu cảm hứng trong người nó bỗng dâng trào. Nó lấy giấy bút ra và bắt đầu viết tất cả những gì xảy ra đều được nó ghi lại thành thơ thành truyện.

Những ngày tiếp theo ngoài giờ học ra là nó viết. Trong đầu nó luôn thai nghén những ý tưởng mới lạ dường như chỉ có lúc ăn và lúc ngủ là nó mới rời cây bút khỏi tay. Nó mong ước một ngày không xa nó sẽ nhận được một số tiền nhuận bút để nó không phải ăn mỳ tôm nữa hoặc chí ít cũng được ăn loại mỳ tôm ngon hơn. Hầu như ngày nào nó cũng có thơ hoặc truyện ngắn gửi báo nó gửi nhiều đến mức mà chị bưu điện đã nhẵn mặt nó. Một khoản tiền kha khá dành cho tem thư. Trong khi đó phong bì thì tự nó làm lấy vậy mà chỉ duy nhất một lần nó nhận được lá thư động viên từ tòa soạn. Đã hơn một tháng nay ngày nào cũng mong chờ nhưng chẳng có gì nó cảm thấy thất vọng và chán nản. Hùng như hiểu được đến động viên: "Đừng buồn có lẽ mày thiếu một cái gì đó trong cách viết tao cũng sẽ viết cùng mày chúng mình cùng nhau trao đổi và hãy viết bằng cả tấm lòng và cả trái tim mình đừng nghĩ đến lợi nhuận gì Phúc nhé!". Câu nói của Hùng làm nó bừng tỉnh nó tự hỏi phải chăng từ trước đến nay nó viết chỉ với mục đích lấy tiền nhuận bút. Nó cảm thấy thấm thía và trưởng thành lên rất nhiều nó đã rút ra được một bài học lớn.

Những ngày tiếp theo Hùng và nó lại bắt đầu với những trang viết mới lại với gói mỳ tôm cây bút mực cũ kỹ và chiếc bàn cá nhân.

Chiều nay sau buổi học căng thẳng trên đường từ giảng đường về ký túc xá nó đang suy nghĩ về ý tưởng cho truyện ngắn mà nó dự định sẽ viết thì có tiếng gọi nó ngoảnh lại thấy Hùng đang hớt hải trên tay cầm chiếc phong bì và một tờ báo mới: "Có chuyện gì thế Hùng?". Hùng nói không thành tiếng: "Phúc... ơi...i... mày thành công rồ...i... Truyện ngắn Tác phẩm đầu tay của mày được đăng trên báo đây này". Nó vội giật lấy tờ báo trên tay Hùng mở ra nó không thể tin được khi thấy truyện ngắn của mình đã được in trang trọng và gọn gẽ. Chẳng nói gì nó ôm chặt lấy Hùng quay một vòng hai đứa nắm tay nhau chạy ra bưu điện. Trên đường nó dự định sẽ mua cho mẹ một chiếc khăn bịt đầu bằng nhung đen mua cho em Hoa đôi dép mới để đi học còn nó sẽ mua một cây bút thật đẹp để tiếp tục viết. Cây bút cũ sẽ cất đi làm kỷ niệm. Nhưng trước tiên nó phải khao thằng bạn thân nhất của nó một chầu kem đã.

                                                                                      N.Q.P

NGUYỄN HẢI

Không đề 1

Tưởng tượng vỗ về

Không làm im lặng độc thoại của đêm.

Đôi chân buồn không nhấc

Nơi cửa sổ nặng nề câm lặng.

Không khoái cảm và ham muốn

Sự sống trên những giác quan

Trôi tuột vào vô định.

Bao ánh mắt xa lạ soi mói dè bỉu

Trống rỗng

Nghẹt thở

ác mộng

Bát cơm màu máu

Đặc quánh đêm đen

Lém cái nhìn bỏng rát.

Khe khẽ cựa mình

Tìm mình giữa vẩn vơ

Còn sống.

Ai đó giật mình......

                        N.H


 

NGUYỄN HẢI

Không đề 2

Khuôn mặt khắc khổ

Đối thoại trước gương

Cái nhìn cay đắng

Lời lẽ sâng sỉa

Mặn mòi vô cảm nhân sinh.

Khuôn mặt

Và nghìn cái mặt khác

Cuộc đối thoại trở thành cãi cọ

Vô nghĩa

Vỡ vụn

Những lời quen thuộc

Ta... Tôi... Tao...

Cay đắng tìm hồi kết

Một mình giữa nhiều mình

Dờ dại......

Giật mình... giấc mơ gương vỡ

Đôi mắt chơ chơ

Trở mình

Cay xè cái nhìn hun hút đêm.

                            N.H

VŨ THỊ HUYỀN TRANG



 

Time



 

Mùa đông và em là hai thế giới khác xa nhau

Em sắm cho mình niềm vui vừa đủ ấm

Những chiếc áo cũ mùa làm em thêm lạnh

Hồi ức

Đông

Lại trở mùa

Buồn...

Anh đi về nơi ấy có xa không?

Chúng ta

Những kẻ dư thừa lòng tự trọng đã không giữ được nhau

Như mùa đông và em

Không muốn chạm mặt nhau

Nhưng nỗi buồn hẹn gặp

Khi em ủ ấm bàn tay mình vừa lau nước mắt

Mới nhận ra rằng mùa đông chính là em.

Anh đi về nơi ấy có xa không?!

                                             V.T.H.T

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

   Tiếng địa phương và tiếng địa phương

               trong sáng tác văn học



                                                                          NGUYỄN MẠNH HÙNG



 

I. Tiếng địa phương

Đất nước ta có 54 dân tộc sống trong cương vực lãnh thổ Việt Nam độc lập. 54 dân tộc anh em đều có ngôn ngữ tiếng nói riêng làm nên một bản sắc văn hóa đa sắc màu thẩm mỹ. Nhà nước Việt Nam quy định: Tiếng dân tộc Kinh (Việt) là tiếng phổ thông dùng cho toàn dân tộc trên các lĩnh vực chính trị văn hóa giao tiếp sinh hoạt...

Đến nay Nhà nước phân chia đất nước thành 63 đơn vị hành chính hàng tỉnh - thành phố trực thuộc Trung ương. Như vậy chúng ta có 63 địa phương (hành chính) sử dụng tiếng Kinh. Nhưng trong 63 tỉnh thành đó nhân dân ở mỗi tỉnh thành đều có cách phát âm tiếng phổ thông khác nhau. Và nói theo phong cách ngôn ngữ tiếng địa phương đều có những thổ âm thổ ngữ khác nhau.

Thanh Hóa là một trong những địa phương hàng tỉnh nói tiếng phổ thông theo thổ âm thổ ngữ của địa phương mình. Giao tiếp với thiên hạ chỉ dăm ba câu người ta dễ dàng nhận ra là người Thanh Hóa. Xin nêu một vài cứ liệu. Người Thanh Hóa phát âm dấu hỏi (?) và dấu ngã (~) lẫn lộn. Người Thanh Hóa cũng phát âm lẫn lộn giữa nguyên âm đôi "iê" với nguyên âm đơn "ê". Cứ liệu này sẽ được chứng minh ở phần tiếng địa phương trong sáng tác văn học.

Nhưng nếu xét địa phương ở khái niệm rộng (không phải địa phương hành chính hàng tỉnh - thành phố) của khoa học khí tượng thủy văn và khí hậu nước Việt có 7 vùng miền khí hậu. Thanh Hóa là vùng đệm (giữa) của hai vùng: Bắc bộ và Thanh Hóa; Thanh Hóa và Bắc miền Trung (ta thường nghe trong chương trình dự báo thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng). Xét trên phương diện khoa học ngôn ngữ tiếng địa phương thì Thanh Hóa có ngôn ngữ và tiếng địa phương gần như hòa đồng với các địa phương hàng tỉnh Bắc miền Trung: Nghệ An Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên Huế. Dấu ấn ngôn ngữ tiếng địa phương Thanh Hóa ở Bắc bộ rất ít nếu không muốn nói là không có. Điều này cũng sẽ được chứng minh tiếng địa phương Thanh Hóa trong các sáng tác văn học.


II. Tiếng địa phương trong các sáng tác văn học

Phần trên là khái lược một số cơ sở phương pháp luận về tiếng phổ thông tiếng địa phương và khái niệm địa phương được hiểu một cách rộng hẹp khác nhau để làm nền cho việc lý giải cắt nghĩa tiếng địa phương trong sáng tác văn học.

Hai vấn đề cần lý giải: Một tiếng địa phương sử dụng trong sáng tác văn học về mặt liều lượng. Hai những loại từ từ loại nào thường xuất hiện trong sáng tác văn học.

Việc dẫn chứng và phân tích sẽ thu hẹp ở thể loại trữ tình của văn học dân gian và thơ trữ tình hiện đại cùng một vài sáng tác ở các loại hình nghệ thuật khác.

Câu ca dao phổ biến mang tính toàn dân vì nó đã vào sách giáo khoa ở nhiều bậc học:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Nong xanh nước biếc như tranh họa đồ

"Vô" tiếng địa phương Nghệ An và cũng là tiếng địa phương Bắc miền Trung. Tiếng phổ thông "vô" là "vào". Tiếng Nam bộ "vô" "vào" là "dô" ta có đẳng thức về tiếng địa phương và tiếng phổ thông: vô = dô = vào.

Ta hãy nghe lời của bài hát vốn nổi tiếng về xứ Thanh thời chống Mỹ:

"Ai vô Thanh Hóa coi mát lòng trẻ già vui khắp nơi" (Hát mừng các cụ dân quân - Đỗ Nhuận). Trong lời bài hát này có hai ca từ địa phương. "Vô" đã nói ở trên và "coi" tiếng địa phương Thanh Hóa và Bắc miền Trung: "coi phim" "coi đá bóng". Tiếng Bắc bộ "xem phim" "xem đá bóng". "Coi" tiếng phổ thông chỉ dùng trong ngành giáo dục - đào tạo "cán bộ coi thi không giải thích gì thêm".

Và ca dao lịch sử Thanh Hóa:

Muốn coi lên núi mà coi

Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

Từ "vô" xuất hiện nhiều trong các sáng tác dân gian và thơ hiện đại.

Để em đến

Gục đầu vô lòng mẹ

(Những làng đi qua - Hữu Loan)

Và trong thơ Tố Hữu:

Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu

Dấn thân vô là phải chịu tù đày

(Trăng trối)

Tiếng địa phương "vô" là động từ gần với tiếng phổ thông về mặt ngữ âm "vào" nên trong quá trình giao tiếp các nhà thơ đưa vào các sáng tác văn nghệ người ở các địa phương khác đều có thể hiểu được. Thí dụ: "biển" tiếng phổ thông; tiếng địa phương "bể".

Biển vẫn cậy mình dài rộng thế

Vắng cánh buồn một chút đã cô đơn

(Thơ viết ở biển - Hữu Thỉnh)

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

(ánh trăng - Nguyễn Duy)

Cũng cần nói rõ tiếng địa phương chỉ được sử dụng một liều lượng hạn chế phải được đặt trong những văn cảnh ngữ cảnh cụ thể người địa phương khác mới có thể hiểu được. Còn nếu sử dụng tiếng địa phương dày đặc liên tiếp trong quá trình giao tiếp trong các câu ca thì người địa phương khác không thể hiểu được. Ví dụ như câu ca của người xứ Nghệ:

Mô rú mô ri mô nọ chộ

Mô rào mô bể chộ mô mồ

và phải dịch thành tiếng phổ thông:

Đâu rừng đâu núi đâu chẳng thấy

Đâu sông đâu biển thấy đâu nào

người ở địa phương khác mới hiểu được.

Dẫn chứng tản mạn thì nhiều. Khảo sát nhanh các nhà thơ sử dụng tiếng địa phương trong sáng tác thi ca ta nhận thấy có hai nhà thơ sử dụng tiếng địa phương nhiều và thành công hơn cả là nhà thơ Tố Hữu và Hồng Nguyên. Trước là nhà thơ Tố Hữu. Chỉ với hai câu thơ mỗi câu tám từ mà có tới ba từ địa phương đậm dấu ấn Huế miền Trung:

Rứa là hết chiều ni em đi mãi

Còn mong chi ngày trở lại Phước ơi

(Đi đi em)

"Rứa" "ni" "chi" đều là tiếng địa phương Bắc Trung bộ.

ở một bài thơ khác cũng chỉ với hai câu lục bát:

Chém cha ba đứa đánh phu

Choa đói choa rét bay thù chi choa

(Tiếng hát trên đê)

lại in đậm dấu ấn Thanh Hóa - miền Trung.

Tiếp là nhà thơ Hồng Nguyên. Ông nổi tiếng trên thi đàn chống Pháp chỉ từ một bài thơ "Nhớ". Nổi tiếng là bài thơ hay thấm đẫm chất trữ tình và tự sự từ đề tài chiến tranh. Nổi tiếng là bài thơ hay vì tác giả (quê Thanh) sử dụng tới 16 tiếng địa phương trong bài thơ đó. Cụ thể: "đằng nớ" (hai lần) "bắp" "o" "nứ" (hai lần) "mô" "ví" "nớ" "chừ" "ri" "ni" (hai lần) "viền" "ví chắc". Công chúng yêu thơ đều thuộc ba câu cuối:

Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni

Dân chúng cầm tay lắc lắc

Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc

Đến đây có thể rút ra một vài kết luận:

1. Chỉ có tiếng địa phương miền Trung là được sử dụng nhiều hơn cả trong sáng tác văn học. Phát âm thế nào ghi vào lời thơ thế ấy: "mô" "vô" "răng" "rứa"...

2. Các đại từ nhân xưng xuất hiện nhiều: "choa" "o" "đằng nớ"...

3. Riêng tiếng địa phương Thanh Hóa dấu hỏi (?) và dấu ngã (~) phát âm lẫn lộn trong khẩu ngữ. Lời thơ và văn tự thì đúng với tiếng phổ thông.

4. Phát âm lẫn lộn giữa nguyên âm đôi "iê" và nguyên âm đơn "ê" đều được ghi lại trong lời thơ. Văn tự viết đúng:

"Biển" lời thơ là "bể". "Về" lời thơ là "viền". Những kết luận này đã được chứng minh bằng các sáng tác thơ ca của các nhà thơ Bắc miền Trung và Thanh Hóa.

Thêm một kết luận nữa: tiếng địa phương sử dụng trong sáng tác thơ ca đã làm nên một sắc thái riêng biệt một phong cách riêng biệt và một phong bị riêng biệt cho thơ khu vực Bắc miền Trung nói chung và thơ Thanh Hóa nói riêng.

                                                                                  N.M.H



 

Đôi điều về tiếp nhận văn học
theo hướng ngôn ngữ học


 

                                                                     PHẠM THỌ XUÂN



 

      Giáo sư tiến sỹ khoa học Nguyễn Lai từng nói "Cơ chế chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng" tức là nói đến lý luận tiếp nhận văn học theo hướng ngôn ngữ học.

Tiếp nhận văn học được hình thành từ mỹ học tiếp nhận một trong những thành tựu của ngành xã hội học nghệ thuật. Từ đầu thế kỷ XX người ta bắt đầu quan niệm văn chương là một quá trình đi từ khâu sáng tác của tác giả đến khâu tiếp nhận của người đọc. Dần dần mỹ học tiếp nhận ra đời mà người đầu tiên đưa ra được một mô hình hoàn thiện cho nó là Hans Rô-be Iao-xơ (H.R.Jaus) giáo sư giảng dạy văn chương ở trường đại học Kôn-xtanz Cộng hòa Liên bang Đức. Theo ông đã đến lúc chúng ta phải có một nền văn học sử của độc giả; cũng theo ông khái niệm tác phẩm văn chương theo quan điểm mỹ học tiếp nhận phải là: tác phẩm văn chương = văn bản văn chương + sự tiếp nhận của người đọc. ở Việt Nam từ khoảng năm 1970 đến nay lần lượt các tác giả sau đây đã bàn đến lý luận tiếp nhận: Nguyễn Văn Hạnh Nguyễn Lai Nguyễn Văn Dân Trần Đình Sử Phương Lựu Nguyễn Thanh Hùng v.v...

Lý luận tiếp nhận không xem một tác phẩm văn học là cố định kiểu vật thể bất biến mà coi nó là một chỉnh thể hệ thống một quá trình. Lý luận tiếp nhận làm lộ rõ đặc trưng ký hiệu của hình tượng. Lý luận tiếp nhận rọi ánh sáng vào chủ thể tiếp nhận để cho thấy rằng trên hiện thực tính năng động của chủ thể tiếp nhận là có thật và tính năng động này đóng vai trò tích cực trong việc khách quan hóa cái chủ quan và chủ quan hóa cái khách quan trong quá trình thụ cảm nghệ thuật thông qua hình tượng.

Trở lại vấn đề cơ chế chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng thuộc phạm vi của tiếp nhận văn học theo hướng ngôn ngữ học chúng ta thấy nổi lên những vấn đề sau đây:

1. Tác phẩm nghệ thuật ngôn từ chứa những lớp nghĩa như: Lớp nghĩa của từ lớp nghĩa của hình ảnh lớp nghĩa của hình tượng và lớp nghĩa của tư tưởng. Vấn đề nội dung - hình thức luôn luôn phải được nhìn từ sự vận động gắn với quá trình tạo nghĩa (tạo nghĩa thuộc cả phía sáng tạo và phía tiếp nhận). Vấn đề tạo nghĩa không tách khỏi vai trò chủ quan của hình tượng thẩm mỹ một phạm trù vừa mang tính nội dung lại vừa mang tính hình thức. Sau rốt cái biểu đạt không đơn giản là công cụ tu từ mang tính kỹ xảo mà là một chất liệu một phương tiện để đồng hóa nhận thức thẩm mỹ làm nên một chỉnh thể nghệ thuật đó là cái được biểu đạt.

Cùng với ngôn ngữ học đang hướng về phía ngữ nghĩa khoa học văn học hướng nhiều về tín hiệu học dùng cơ chế nội dung - hình thức không tách rời của tín hiệu học làm cơ sở xuất phát để khắc phục thiên hướng tư biện về nội dung trong khi lý giải quan hệ giữa nội dung và hình thức. Ngôn ngữ tự thân không có suy nghĩ và xúc cảm. Nhưng khi sử dụng nó như một công cụ người ta sử dụng một cách có ý thức và trong chiều sâu các lớp nghĩa do ngôn ngữ hiển thị người đọc nhận ra những điều mà họ đồng cảm những điều đó không phải là bản thân ngôn ngữ như một vật thể vật lý mà là do ngôn ngữ như một hiện tượng vật lý - tâm lý xã hội.

Vì vậy nói đến chuyển mã là phải có quan niệm động để nhìn từ góc độ tín hiệu học mà xét quá trình hoạt động chuyển hóa giữa nội dung và hình thức trong mối quan hệ của những phạm trù chủ quan khách quan vật thể phi vật thể.

2. Như đã nêu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ có các lớp nghĩa: lớp nghĩa từ vựng lớp nghĩa hình ảnh lớp nghĩa hình tượng và cuối cùng là lớp nghĩa tư tưởng. Hoạt động sáng tạo là hoạt động tạo nghĩa hoạt động tiếp nhận là hoạt động giải mã. Vì vậy xét cơ chế chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng không thể không đề cập đến vấn đề tạo nghĩa.

Lớp nghĩa cuối cùng trừu tượng (tư tưởng) không phải là tổng số nghĩa từng từ trong tác phẩm được cộng lại.

Yếu tố tâm lý là hạt nhân tạo ra tiềm năng cơ động cho tín hiệu có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình sáng tạo văn chương. Tín hiệu là một tổng thể bao gồm hai mặt thống nhất: hình ảnh âm thanh và khái niệm. Tín hiệu luôn luôn hướng tới đối tượng tiếp nhận luôn luôn bị quy định bởi góc độ xã hội - lịch sử cụ thể của người được tiếp nhận. Hạt nhân tâm lý tạo ra tiềm năng cơ động cho tín hiệu có vai trò quan trọng đối với quá trình tạo nghĩa. Khảo sát văn học chính là tiếp cận tính vừa nội dung vừa hình thức của các quy mô liên kết từ nhỏ đến lớn đang chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình tạo nghĩa. Ngôn ngữ - qua dấu hiệu vật lý và tâm lý của nó - đã tự mở ra khả năng chuyển hóa nhiều mặt nhiều chiều giữa nội dung và hình thức cũng như giữa cái chung và cái riêng cho quá trình tạo nghĩa.

3. Lâu nay người ta có thói quen nhìn nhận tác phẩm văn học trong thế ổn định tĩnh tại theo hướng ý đồ sáng tác tức là cô lập hóa tác phẩm không xét tác phẩm trong một quá trình một chỉnh thể từ sáng tác đến tiếp nhận. Đó là một nhận thức lệch lạc. Cách nhìn đúng phải là nhìn thấy sự chuyển hóa tác phẩm của nhà văn vào ý thức độc giả. Như vậy khi ngôn ngữ hóa thân thành hình tượng khi ngôn ngữ trở thành cấu trúc phi ngôn ngữ ta phải thấy quá trình tạo nghĩa từ góc độ người sáng tạo chuyển sang quá trình chuyển nghĩa từ góc độ người tiếp nhận. Chính từ cơ sở ấy chúng ta mới có điều kiện nhận rõ thế nào là phẩm chất năng động của chủ thể tiếp nhận trong quá trình chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng đồng thời phẩm chất này không thể tách rời với thao tác vừa tạo nghĩa vừa chuyển hóa nghĩa.

4. Quá trình vừa tạo nghĩa vừa chuyển hóa nghĩa diễn biến như nhau: từ tiếp nhận trở thành bộc lộ từ thông tin lô-gíc khúc xạ thành thông tin thẩm mỹ theo đó lý trí và tình cảm đan kết vào nhau làm nên một chỉnh thể để rồi tác phẩm gặp nhau cộng hưởng và đồng sáng tạo. Tác phẩm văn học đi đến tận cùng con đường đi của nó và nó tồn tại trong trạng thái hoạt động chuyển hóa vào người đọc khi người đọc có một năng động tiếp nhận tương ứng.

5. Khi đề cập vấn đề cấu trúc phi ngôn ngữ thì phải chú ý đến hoạt động tiếp nhận và khi đề cập tiếp nhận phải giải quyết vấn đề chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng. Chúng ta phải phát hiện xem điều gì đã xảy ra đối với cái mà ta gọi là hoạt động năng động của chủ thể tiếp nhận vốn có liên quan đến cấu trúc phi ngôn ngữ.

Mã hình tượng là một loạt tín hiệu lấy ngôn ngữ làm tiền đề nhưng nó không đồng nhất với mã ngôn ngữ về mặt cấp độ. Phẩm chất cuối cùng của nó không còn là phẩm chất vật thể như mã ngôn ngữ. Mã ngôn ngữ trong quá trình chuyển mã không tồn tại đơn thuần tự thân mà nó chỉ là một phương tiện gợi dẫn có định hướng để làm hình thành những mã khác trừu tượng hơn và giàu ý nghĩa xã hội hơn ở người đọc đó là mã hình tượng.

6. Trạng thái chập mạch giữa nội dung và hình thức xảy ra không phải ít đối với nhiều chủ thể tiếp nhận văn học. Về hình thức có hình thức bên trong và hình thức bên ngoài. Hình thức nào cũng bắt đầu từ ngôn ngữ lấy ngôn ngữ làm điểm tựa. Hình thức không thể tự đứng tách rời một cách siêu hình.

                                                                             P.T.X


 

"KHÔN KHÔN DẠI DẠI ĐI VỀ HƯ KHÔNG"...


(Đọc Nghiệm 3 của Nguyễn Khoa Linh NXB Hội Nhà văn 2010)


 

                                                                     TRỌNG BẢO



        Trong Nghiệm 3 từ những câu thơ đầu tiên đến những câu thơ cuối cùng người đọc cảm giác như có hai thế giới đối lập cứ đan cài vào nhau một là của quá khứ thoáng buồn và một là của thực tại đầy chiêm nghiệm. Và ở thế giới nào cũng vậy Nguyễn Khoa Linh đã thành công khi để lại nhiều dư ba ám ảnh.

Tập thơ thứ ba của Nguyễn Khoa Linh đã không làm người đọc thất vọng về một hành trình bền bỉ nhẫn nại mà anh như người vừa nâng niu vừa gọt giũa cái tứ thơ cũng chính là cái xúc cảm đầy mê đắm của tâm hồn mình:

Ngựa xe xào xạc bến mê

Khôn khôn dại dại đi về hư không

(Xào)

Lẽ thường người ta viết về tình yêu say đắm thì mới có được cái rạo rực khôi nguyên. Nhưng Nguyễn Khoa Linh viết về tuổi thơ về tình bạn về cuộc đời nhiều truân chuyên nhiều thác ghềnh mà vẫn giữ cho mình cái rạo rực của sự mộc mạc:

- Lam chiều khói tỏa nhà ai

Thân thương như thể đền đài tuổi thơ

(Tỏa)

- Một gánh vô ưu một gánh nhàn

Một trời gió lộng nắng chang chang

(Ưu)

Tuy thế âm hưởng những vần thơ vui không nhiều. Có lẽ tên Nghiệm đã phần nào ứng/ vận vào - và chi phối cảm xúc của độc giả. Dường như mẫu số chung của mọi hành trình chiêm nghiệm bao giờ cũng là nỗi buồn? Mà thơ buồn có lẽ luôn nhận được nhiều hơn những sự đồng cảm.

Trăng côi chếch bóng giữa trời

Cô đơn người đứng với người... song song

(Đứng)

Cô đơn là như một quyền năng tối thượng của những cảm xúc cảm giác cô đơn bủa vây thường sẽ mang đến những giây phút thăng hoa cho thi nhân.

Những vần thơ mang dáng dấp của những bài Hai-ku trong Nghiệm 3 vẫn thể hiện liền mạch và rõ nét phong cách của Nguyễn Khoa Linh. Không ồn ào mà trầm lắng suy tư giàu sức biểu hiện anh đi từ thế giới tình cảm của riêng mình những vấn đề của chính bản thân mình để mở rộng dần tới những vấn đề rộng chung của cuộc sống đầy bon chen biến đổi:

Hư vinh chạy miết tơi bời

Vần xoay dở khóc dở cười vẫn cam

(Vần)

Có lần Chế Lan Viên khẳng định: Chúng ta ở trên đời không phải để ra lộc ra hoa mà còn để mang thương tích. Trong tập này nhiều bài thơ nói về sự cách trở sự dở dang sự nổi chìm của kiếp người ngắn ngủi: Sang sông em mấy nhịp cầu/ Nổi chìm mấy bận bể dâu đắm đò (Bận) và nhiều khi hạnh phúc tưởng có đấy mà lại hóa hư không nó nổi chìm như bóng chim tăm cá: Tưởng có hơn vợ chồng hờ/ Bóng chim tăm cá còn ngờ riêng tây (Hờ)...

Dường như mỗi lần ngoái nhìn là một lần tiếc nuối. Không ai đủ giàu có để chuộc lại quá khứ của mình (Ô-oai-tơ) và cũng vì lẽ đó Nguyễn Khoa Linh miệt mài làm thơ như một trang trải những nợ nần với cuộc sống. Sau mỗi chặng đường sau tất cả những gì đã qua giật mình nhìn lại thì biết rằng: Nổi chìm âu cũng kiếp người/ Bản lai diện mục về nơi sinh thành (Nổi). Và cố gắng giữ cho mình một tâm thế thoáng chút gì ung dung ngạo nghễ trước bão tố thời gian:

Biết đủ khéo giữ hóa dư

Để tâm chi những thói hư thường tình

(Dư)

Dù "thơ chưa bao giờ là nghệ thuật của đại chúng" như Maiacốpxki nhấn mạnh nhưng đọc những vần thơ của Nguyễn Khoa Linh chắc hẳn sẽ nhiều người tìm thấy sự sẻ chia đồng điệu. Thơ của anh vừa quen mà cũng vừa lạ với thơ hôm nay ở chỗ nó vẫn hướng nội vẫn đặt ra nhiều vấn đề nhức nhối của cuộc sống nhưng lại tìm được cái lối riêng cho mình. Không màu mè kiểu cách mà nhỏ gọn giản dị không giả tạo đưa đẩy cảm xúc một cách khiên cưỡng. Nhưng đâu đó ta vẫn thấy có những ngôn từ còn chưa thật dụng công vẫn là sự vội vàng khi chưa tiết chế được cảm xúc.

Thơ hay đến như niềm ngẫu hứng như sự tình cờ không phải cứ đẽo câu gọt chữ là sẽ có được thơ hay. Nhìn những gì mà Nguyễn Khoa Linh đã làm đang làm có lẽ không quá lời khi nói rằng qua thơ anh người đọc thấy được một niềm đam mê hiếm có mà nói như giáo sư Hà Minh Đức: "Nếu thơ là một tôn giáo thì tôi là người mộ đạo nếu thơ là một lẽ sống cao cả thì tôi mong được làm một chiến binh". Chặng đường của Nguyễn Khoa Linh còn dài còn nhiều "đất" cho anh khẳng định còn nhiều điều kiện để đi tiếp vào làng thơ - cái địa hạt của nghệ thuật kỳ diệu không dành cho số đông. Chúng ta chờ đợi và hy vọng sẽ ngày càng có nhiều hơn nữa những câu thơ hay của Nguyễn Khoa Linh neo đậu lại thời gian.

                                                                                    T.B

Bài thơ Cuối ngày của Huy Trụ


                                                           PHẠM ĐÌNH ÂN




Cuối ngày nắng tắt bên sông

Em ngồi như thể đếm đong sự đời...

Bấn thần chi giọt nước trôi

Phù sa đọng lại lở bồi bước chân...

Tóc em này sợi mưa dầm

Sợi khô khét nắng sợi cầm như sương

Nuôi anh đi nát con đường

Câu thơ chắt giữa đêm suông một mình.

Đa mang nào phải đa tình

Trót yêu đào huyệt chôn mình mà yêu...

                              Huy Trụ

             (Thơ lục bát NXB Văn học 2007)



 

       những bài thơ nói về chiều tà hoàng hôn giờ phút chót của ban ngày là nói đến tâm trạng của chủ thể trữ tình về chính những khoảnh khắc ấy. Bài Cuối ngày của Huy Trụ lại thuộc những bài mang ý nghĩa ẩn dụ. Cuối ngày ở đây còn có thể hiểu là cuối mùa năm cùng tháng tận và cuối đời. Được ví như thành ngữ là mãn chiều xế bóng hoặc nắng tắt bên sông của Huy Trụ.

Bốn dòng mở đầu bài thơ lục bát ngắn có đủ không gian thời gian (cô đặc ở bốn âm tiết nắng tắt bên sông) có hình ảnh một người phụ nữ ngồi bần thần đếm đong sự đời đếm đong bước chân đếm đong lở bồi dâu bể... Và mau lẹ tác giả đưa người đọc đến ngay với hình ảnh thân phận: Tóc em này sợi mưa dầm/ Sợi khô khét nắng sợi cầm như sương. Em có đếm đong hết được những sợi tóc trên đầu mình hay không những sợi mưa sợi nắng sợi sương... Câu thơ đang lãng đãng bồi hồi thương thương buồn buồn thoắt chợt ý thơ được đẩy lên cao trào với những hình ảnh dữ dằn:

Nuôi anh đi nát con đường

Câu thơ chắt giữa đêm suông một mình.

Có thêm những từ nát chắt suông âm hưởng thơ không còn dừng ở bần thần như thế nữa mà đã chát đắng nghiệt ngã khốc liệt. Đến đây thấy hiện ra hình ảnh một người là em một đời gian khó tận tụy vì một người là anh. Em hay anh đã đi nát con đường? Có thể chỉ là anh có thể là cả hai. Câu thơ chắt giữa đêm suông một mình do anh viết dành cho em người đang chịu đựng nỗi lẻ loi xa vắng hay là một cách nói tượng trưng riêng về em? Có thể là cả hai. Cái hay của ý thơ câu thơ chính là ở chỗ nói lẻ mà lại như đôi nói đôi mà như lẻ tùy người đọc hiểu thế nào thì hiểu.

Để kết thúc bài thơ cách đoạn và tác giả "giáng" một cặp lục bát nữa:

Đa mang nào phải đa tình

Trót yêu đào huyệt chôn mình mà yêu...

Thật là táo bạo cuồng nhiệt! Xuân Diệu thời thơ mới đã viết: Chết rồi tôi sẽ yêu ma. Huy Trụ ngày nay thì thẳng băng tự nguyện chôn mình mà yêu! ở bài thơ Mai rồi... xứ Huế (tập thơ Miền riêng tôi NXB Hội Nhà văn 1998) Huy Trụ đã viết: Tôi uống cả trời và cả gió/ Rút ruột mà yêu đến trắng tay. Hủy thân xác đi để được yêu đến trắng trụi cả đời mình yêu đến cạn kiệt tinh thần yêu đến cạn kiệt linh hồn. Chỉ một cặp câu thơ lục bát giản dị Huy Trụ đã nói được sức mạnh linh diệu của tình yêu.

Trong các loại kết thúc bài thơ có ba loại kết thúc đột ngột đáng chú ý: đột ngột hụt hẫng đột ngột nâng cao và đột ngột nâng cao kèm chuyển hướng. Bài Cuối ngày có kết thúc thuộc loại thứ ba. Kết thúc đột ngột kèm chuyển hướng sẽ găm chốt sâu sắc cảm xúc thơ vào lòng người đọc khi người đọc đã rời khỏi văn bản tác phẩm và nó tạo ra khả năng hé lộ một tứ thơ mới của một bài thơ thứ hai.

Quả đúng như trên đã nói đây không phải là cái cuối của một ngày bình thường mà là cái cuối đời của một người đã đi nát con đường dám đào huyệt chôn mình cũng đồng thời là cái cuối đời của một người khác - đối tượng gắn bó yêu thương. Như vậy khi kết thúc bài thơ lộ ra hoàn toàn là thơ tình thuộc hôn nhân - một bài thơ về tình nghĩa vợ chồng nói riêng và hạnh phúc nói chung - mà hình ảnh người vợ hiện ra kín đáo và tinh tế bằng hai câu lục bát nói đến mái tóc có sợi nắng sợi mưa sợi sương đặc biệt là chi tiết nuôi anh dẫu rằng đi nát con đường là việc của riêng anh đi nữa thì người được gọi là em vẫn là người vợ.

                                                                            P.Đ.A

Cỏ xanh - hồn các anh xanh

                                                   LÊ XUÂN


 

Lời ru ngọn cỏ

Cỏ xanh bên mộ khẽ ru

Nắng rừng biên giới chiều thu ánh vàng

Người ơi! Dù có muộn màng

Chưa đưa về với nghĩa trang quê nhà

Nơi đây nhiều cỏ ít hoa

Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh

Mặc ai xây mộng viễn hành

Mặc ai ngắt lá bẻ cành vin hoa

Dẫu nằm lại với miền xa

Trưa rừng hoang vắng tiếng gà lẻ loi

Đã qua mấy chục năm rồi

Cỏ xanh vẫn thủy chung nơi mộ người.

Mùa thu đầy lá vàng rơi

Mùa đông trắng xóa chân trời sương giăng

Hồn thiêng gọi lá thắm rừng

Giọt sương mai cũng đọng ngưng nỗi niềm

Dấu chân đã trải bao miền

Về đây với đất vùng biên nghĩa tình

Người hy sinh đất hồi sinh

Máu người hóa ngọc lung linh giữa đời.

Lời ru ấm nắng người ơi

Dù là ngọn cỏ tận nơi cuối trời

Thương mà ru đến muôn đời

Và xanh xanh mãi để lời ru êm

Cho dù ai đó lãng quên

Thì đây cỏ biếc vẫn bên mộ người.

                        Bùi Văn Bồng


 

        lẽ sau Nguyễn Duy Lê Đình Cánh Huy Trụ Trịnh Anh Đạt... thì Bùi Văn Bồng là một trong những nhà thơ của xứ Thanh viết về lục bát nhuần nhụy và tự nhiên như hương đồng gió nội. Là một người lính đã từng gắn bó với rừng với cỏ nên hình tượng "cỏ" cứ ám ảnh cứ trăn trở ở nhiều bài thơ của anh. Nào là "Cỏ tràn xanh thương nhớ với đời" "Cỏ níu lại ấm nồng giọt nắng" "Cỏ xanh da diết chiều mây trắng" "Hoa cỏ ánh lên bảy sắc cầu vồng" (Bảy sắc cầu vồng). Nào là "Lòng nhớ quê rối bời rau cỏ" (Hoa muống làng quê) "Khói hương trong gió cỏ rưng rưng" (Thiếu phụ ngõ vắng) hay "Bâng khuâng đồi cỏ héo hon" (Cánh rừng năm ấy đâu rồi). Nhưng hồn cỏ lung linh nhất máu thịt nhất vẫy gọi và hát ca nồng thắm nhất kết tinh lại ở Lời ru ngọn cỏ - một bài thơ có tứ độc đáo. Cỏ được nhân cách hóa làm lời ca vỗ yên giấc ngủ ngàn năm của người lính dưới mộ:

Cỏ xanh bên mộ khẽ ru

Rừng xa biên giới chiều thu nắng vàng

Dấu chân quy tập muộn màng

Mộ còn nằm với cỏ hoang rừng già.

Hai câu lục bát mở đầu được ngắt thành bốn dòng theo nhịp leo thang 4/2 4/4 như lời thầm thì khe khẽ của cỏ theo bước chân nhẹ nhàng của những đồng đội đi tìm mộ các anh. Không gian mở ra ở cánh rừng già biên giới thời gian khép lại theo ánh chiều thu gợi buồn. "Cỏ hoang" và "rừng già" đã bao năm chở che anh trong lòng đất Mẹ. Cỏ đã hát lời ru:

Nơi đây nhiều cỏ ít hoa

Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh

Bao năm vững bước quân hành

Lá rừng vẫy gió rung cành ngụy trang

Giờ đây giữa cánh rừng hoang

Hồn thiêng khao khát khói nhang trong chiều.

Lời ru làm hiện lên hình ảnh người chiến sỹ năm nào xuyên rừng lội suối với mỗi bước quân hành. ở nơi nhiều cỏ ít hoa này hồn thiêng tử sỹ vẫn khát khao hơi ấm đồng đội khao khát khói nhang giữa rừng già hoang vắng. Ta như thấy đâu đây các anh vẫn đang đi "rung lá ngụy trang" với gió đèo. Các anh vẫn nằm ngủ giữa bạt ngàn rừng xanh Tây Bắc Việt Bắc Tây Nguyên hay bên kia biên giới nước bạn Lào Campuchia? Tác giả đã tạo được mối giao cảm giữa những người đang sống và hồn các anh đã khuất trong cảnh chiều thu:

Nắng xiên xiên gió xiêu xiêu

Để cho lá cỏ xanh theo hồn người.

Các từ láy "xiên xiên" "xiêu xiêu" làm cho câu thơ nên họa nên nhạc và mang được điểm sáng thẩm mỹ của cả bài làm thấp thoáng trước mắt ta hồn thiêng các chiến sỹ đang phiêu diêu nơi trần thế. Cái &a

More...

VĂN HÓA

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Những tấm bia cổ ở xã Đông Hòa


 

                                                                       TRỊNH HOÀNH




 

       Xã Đông Hòa huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa ngày nay vốn là xã Đồng Pho huyện Đông Sơn trấn Thanh Hoa thời Lê tỉnh Thanh Hóa thời Nguyễn. Nơi đây được nhiều người biết đến với tên Đông Phố trị sở quận Cửu Chân từ thời Tiền Tống qua Tùy Đường đến nhà Ngô nhà Đinh nhà Tiền Lê với 589 năm (420 - 1009) còn để lại nhiều dấu tích của một trấn lỵ và một kinh đô nhà Tùy do Lê Ngọc Thái thú quận Cửu Chân xây dựng. Đây là miền đất cổ còn có thể là tối cổ của Thanh Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung nơi mà cư dân nguyên thủy đã tạo nên những tiền đề vật chất văn hóa Đông Sơn rực rỡ bước phát triển cuối cùng của thời đại đồng thau của xứ Thanh với di khảo cổ học Bãi Vác.

Từ lâu theo sự mách bảo của nhiều người và với lòng ngưỡng mộ đam mê tôi đã đi vào nhiều ngõ xóm vãn du và may mắn đã phát hiện được 8 bia ký cổ dựng từ nửa đầu thế kỷ 17 đến nửa đầu thế kỷ 20 nằm rải rác trên mảnh đất này. Đó là các bia Tu tập Uy Linh miếu bi ký; Vạn Phúc tự bi ký; Tu tập Chiêu Khánh miếu bi; bia ghi việc mở chợ và sửa cầu Đồng Pho; Đông Thượng bi ký; Từ đường bi ký (Đồng Pho xã Lê Trực từ đường); Đồng Pho xã Lê Sỹ tộc từ đường; Hoàng Nguyễn phúc thần bi ký. Trong phạm vi huyện Đông Sơn có lẽ không có ở đâu còn tồn tại nhiều bia cổ như vậy.

Trong phạm vi bài viết này xin nêu sơ lược cấu trúc vị trí dựng bia và nội dung chính các văn bia đã nêu.

1. Bia miếu Uy Linh

Đây là một tấm bia rất lớn với kích thước 2 2 mét x 1 3 mét x 0 3 mét với trán bia vòng cung khắc hình mặt trời và rồng mây riềm bia khắc hoa dây cách điệu hoa điểu đặt trên bệ khối hộp chữ nhật. Bia được khắc chữ cả 2 mặt mặt chính hướng tây khắc bài "Tu tập Uy Linh miếu bi ký" do Hoàng Giáp khoa ất Mùi (1595) đời vua Lê Thế tông (1573 - 1599) là Nguyễn Thực soạn tháng 10 năm Giáp Tuất niên hiệu Đức Long 6 (1634) đời vua Lê Thần tông đệ nhất (1619 - 1643). Mặt lưng bia khắc "Nhất tiến cúng huệ điền thổ trì". Hai sườn bia khắc câu đối "Từ nghiêm miếu mạo xuân thu hưởng/ Phúc hộ dân sinh thiên địa trường" (tạm dịch: Miếu thiêng thành kính xuân thu tế/ Dân lành hưởng phúc đất trời ban).

"Tu tập Uy Linh miếu bi ký" (Bài ký trùng tu miếu Uy Linh) khác ở mặt chính nêu rõ lòng hiếu thiện của một vị võ quan thời Lê Thuần tông người trong xã Đồng Pho là Nguyễn Đăng Khoa chức Trấn thủ xứ Thanh Hoa đôn hậu dực vận tán trị công thần đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu tư lễ giám Tổng Thái giám sự Thọ Quận công cùng phu nhân tự nguyện cúng tiền của để trùng tu ngôi miếu cổ thờ Cao tổ Lê Ngọc Hoàng đế đã bị gió dập mưa vùi gần đổ nát và cúng thêm nhiều ruộng đất ao làm hương hỏa cúng tế xuân thu cho thần Uy Linh. Văn bia ghi "Trộm thấy miếu thờ thần Cao tổ Lê Ngọc Hoàng đế trên đất Thượng Thọ bản xã (đã được sắc phong) Hiển tá Hộ quốc Trạch dân Dực vận Tá thánh Cương nghị Hùng đoán Phổ hóa phù tộ Hiển đức Phong Công Đại vương cùng với phu nhân (đã được sắc phong).

Nhu gia ý mỹ Trinh thục Phương dung Trang mục Tuyên từ Huệ hòa Nhân thuận Trung túc Phu nhân. Kính nghĩ rằng thần là khí thiêng đất trời hun đúc nên mà nay hương khói lạnh lùng không có nơi cho người đến cung kính cầu đảo. Ông Nguyễn Đăng Khoa bèn tự tâm đem ruộng đất ao hồ của nhà gồm 14 mẫu 4 sào ruộng 2 mẫu 3 sào đất 2 mẫu 4 sào ao hồ cúng cho đền Thần để giao cho các thôn trong xã cày cấy lưu truyền đời đời dùng làm hương hỏa cúng tế đền thần hai mùa xuân thu" (dịch từ nguyên văn chữ Hán trên bia).

Tiếp đó bài ký ghi rõ "Ông lại mang tiền bạc của nhà cùng với nhân dân các thôn trong xã quyên góp mua sắm gỗ lạt và mọi vật liệu tạo dựng lại Uy Linh miếu từ cho xã. Đền miếu gồm thượng điện kiểu chữ công tiền đường nguy nga đại tiền môn có gác thượng thường xây bao bọc bốn phía". Thật là một ngôi từ vũ bề thế uy nghiêm và tráng lệ.

2. Bia chùa Vạn Phúc

Cũng là một tấm bia cỡ lớn: 1 95 mét x 1 25 mét x 0 32 mét trang trí rất đẹp hoa văn được khắc ở cả hai riềm cả hai mặt chính và lưng riềm là hình rồng cuốn hoa lá suốt từ đáy bia lên đến trán bia đặt trên bệ đá chạm bông sen to. Vị trí bia ngày nay ở góc sân đình Thượng Thọ hướng đông tây theo truyền ngôn đây là trước cổng tam quan của ngôi chùa cổ có từ thời kinh đô Đông Phố đã được trùng tu và mở rộng nhiều lần. Ngày nay ngôi chùa không còn nữa khuôn viên cổ tự chính là khu ủy ban hành chính xã Đông Hòa ngày nay.

Bài văn được khắc trên bia là "Trùng tu Vạn Phúc tự cúng huệ điền thổ trì bi minh tính tự" (Bài trần thuật kèm bài minh bia cúng tiến trùng tu chùa Vạn Phúc). Mặt chính phía tây ghi Văn và Minh mặt lưng phía đông ghi việc tiến cúng và lạc khoản. Bài văn trần thuật gồm 35 hàng chữ với gần 2.400 chữ ở mặt lưng cũng có đến 35 hàng chữ khoảng 2.000 chữ.

Bài ký bia chùa Vạn Phúc cũng do Hàng Giáp Nguyễn Thực soạn vào tháng Giêng năm Giáp Tuất hiệu Đức Long 6 (1634). Bài ký biểu dương công đức của Thọ Quận công Nguyễn Đăng Khoa cùng phu nhân là Đỗ Thị Ngọc Thái khởi xướng và chi phí chính để tu sửa ngôi chùa cổ. Đoạn đầu bài ký ghi rõ: "Chùa Vạn Phúc thực sự là một danh thắng của đất Đồng Pho huyện Đông Sơn. Đất quý Tịnh độ này đã tạo nên một tòa Tam bảo là nơi đệ nhất quốc đảo dân cầu linh ứng nơi đệ nhất cõi Thiền thực sự là một cõi phúc vậy".

3. Bia Tu tập Chiêu Khánh miếu bi

Bia này đặt trước miếu thờ tổ tiên Thọ Quận công Nguyễn Đăng Khoa gọi là miếu Chiêu Khánh. Theo những người trong dòng họ này sau lần trùng tu dựng bia này miếu Chiêu Khánh có kiến trúc chữ T với tiền đường ba gian và hậu cung hai gian rất huy hoàng nhưng nay chỉ còn phần hậu cung. Bia trùng tu miếu Chiêu Khánh có kích thước 1 25 mét x 0 76 mét x 0 28 mét là một bia đẹp chạm trổ công phu đặt trên bệ đá chạm hoa sen cách miếu khoảng 50 mét. Mặt chính bia hướng Nam khắc bài văn "Chiêu Khánh miếu bi minh chính tự" (trần thuật và bài minh miếu Chiêu Khánh) do Hoàng Giáp Nguyễn Thực soạn tháng Giêng năm Giáp Tuất niên hiệu Đức Long 6 (1634) cùng thời kỳ với văn bia chùa Vạn Phúc. Mặt lưng khắc bài "Tiến cúng huệ điền thổ trì" (Những người cúng tiến ao đất ruộng). Hai mặt bên khắc câu đối: "Nhật nguyệt chiếu ánh/ Thiên địa cửu trường" (Nhật nguyệt sáng soi/ Trời đất trường tồn).

Bài minh gồm 12 câu: "Đông Sơn đại huyện/ Đồng Pho danh hương/ Từ linh trạc trạc/ Đức thịnh dương dương/ Thổ điền trì tiến/ Thiêm tắc mạch hương/ Phù trì bảo hữu/ Thọ phú ninh khang/ Tử tôn hưng thịnh/ Tước lộc vinh quang/ Huân danh bưu bính/ Thiên địa cửu trường" (Tạm dịch: Đông Sơn đất rộng/ Đồng Pho nổi danh/ Miếu thiêng rạng rỡ/ Đức lớn mông mênh/ Đất ao ruộng cúng/ Thêm hương gạo lành/ Độ trì phù hộ/ Phúc thọ khang ninh/ Cháu con hưng thịnh/ Tước lộc quang vinh/ Công danh rạng rỡ/ Trời đất trường sinh).

4. Bia ghi việc mở chợ và sửa cầu Đồng Pho

Đây là tấm bia hộp đặt giữa sân đình Thượng Thọ kích thước 1 2 mét x 0 74 mét x 0 62 mét trên đầu có mũ khum khum nên dân thường gọi là "Bia đội nón".

Bài ký trên bia do tú tài Nguyễn Văn Trình người xã Vạn Lộc (nay thuộc xã Đông Ninh) huyện Đông Sơn soạn và tiến sỹ khoa Mậu Thìn (1868) đời Nguyễn - Tự Đức (1847 - 1883) án sát sứ đề hình tỉnh Nam Định người xã Hương Khê (nay thuộc xã Nông Trường huyện Triệu Sơn) là Nguyễn Tái hiệu chỉnh năm Tự Đức 34 (1881). Bài ký ghi rằng: "Truyền rằng bên phía cổ miếu có một chợ đêm ngăn cách bởi sông Hoàng Giang mà chỉ có một chiếc cầu tre sang được việc đi lại thực là khó khăn bất tiện. Bấy giờ có người trong tổng là ông Lê Sỹ Khản hằng suy nghĩ làm sao giúp cho dân đi lại được thuận tiện. Nhân hội nghị dân cùng các lão binh trong xã ông đã nêu ý kiến nghĩa cử của mình. Bản xã đã hỏi ý kiến mọi người về ý định của ông mọi người đều tán thành. Thế là ông được giao công việc mưu lợi cho dân xã. Mùa đông năm Kỷ Mão (1879) mở lại chợ Đồng Pho làm đủ hai dãy quán hàng xưa chợ hẹp nay thoáng rộng. Mùa xuân năm Tân Tỵ (1881) dựng lại cầu Đồng Pho gồm hai nhịp cầu cũ bằng tre nay cầu mới hoàn toàn bằng gỗ" (dịch từ nguyên văn chữ Hán tại bia).

5. Bia Đông Thượng

Đông Thượng bi ký là một tấm bia đặt ở đình làng Đông Thượng xưa nay là thôn Thượng xã Đông Hòa có kích thước 1 mét x 0 6 mét x 0 25 mét. Nay đình cũ không còn nhưng bia vẫn còn nguyên chỗ cũ phía tây nam nhà văn hóa thôn Thượng. Bia khắc bài văn "Đông Sơn phủ Thạch Khê tổng Đồng Pho xã Thượng Thọ thôn Đông Thượng ấp bi ký tự" ghi rõ sự hình thành của thôn này. Bài văn không ghi tên người soạn phần cuối ghi tên những người đóng góp xây đình và làm giếng vào tháng 2 năm Bảo Đại thứ 5 (1930).

6. Từ đường bi ký

Là tấm bia đặt trước nhà thờ họ Lê Trực khắc ghi bài văn "Đồng Pho xã Lê Trực tộc từ đường bi ký tính tự" (bài trần thuật trên bia nhà thờ họ Lê Trực xã Đồng Pho) năm Duy Tân thứ 8 (1914) là năm dòng họ làm nhà thờ này. Phần lạc khoản không ghi tên người soạn văn mà chỉ ghi những người đóng góp tiền của để xây nhà thờ.

7. Bia Đồng Pho xã Lê Sỹ tộc từ đường

Bia này đặt ở tại nhà thờ họ Lê Sỹ nhưng mặt chính nay bị che khuất nên chỉ đọc được mặt lưng ghi tên những người đóng góp tiền của cho việc xây dựng nhà thờ họ đó là bài "Bản tộc chư viên nhân cúng tiến dĩ hạ" (những người trong họ cúng tiến).

8. Bia Hoàng Nguyễn phúc thần bi ký

Bia đặt tại khu lăng mộ tổ họ Nguyễn Đăng. Bia có kích thước lớn: 1 95 mét x 1 25 mét x 0 28 mét được trang trí trán riềm bia đẹp đặt trên bệ khối hộp chữ nhật có hoa sen trang trí. Bia chỉ khắc chữ mặt phía đông với bài ký "Đồng Pho xã Nguyễn tộc cung kỷ tiền Lê Thọ Quận công bi" do cử nhân Lê Ngọc Toãn người xã Cổ Định huyện Nông Cống (nay là xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn Thanh Hóa) lúc ấy giữ chức Tri phủ Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ soạn năm Mậu Thìn hiệu Tự Đức 22 (1868). Bài ký trên bia này ca ngợi công đức của Thọ Quận công Nguyễn Đăng Khoa (tự Huyền Thông) đối với quê hương đất nước và hai sắc phong Phúc Thần vào năm Khải Định 1 (1916) và năm Khải Định 2 (1917).

Bốn trong tám tấm bia đã nêu có liên quan đến Thọ Quận công Nguyễn Đăng Khoa một võ quan cao cấp thời Lê Trung hưng trong đó có ba tấm bia dựng đời Lê Thần tông đệ nhất mà văn bia đều do Hoàng Giáp Nguyễn Thực soạn. Nguyễn Thực là một văn quan cao cấp dễ dàng tìm thấy hành trạng công tích trong bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư. Nhưng Nguyễn Đăng Khoa thì tôi chưa tìm thấy ở một thư tịch nào trừ những bài ký vừa nêu trên phải chăng Nguyễn Đăng Khoa là người làm quan đồng triều với Nguyễn Thực và hai người có thể có một quan hệ thân thiết hay do triều đình phân công mà viết các bài văn bia trên. Rất mong các nhà sử học và khoa học làm rõ điều này.

Những chứng tích về khảo cổ lịch sử những tấm bia cổ còn lại đến nay trên đất Đồng Pho xưa đủ nói lên đó là mảnh đất cổ của người Việt. Thiết nghĩ nhà nước và các cơ quan hữu trách cần đầu từ bảo tồn cả di sản trong lòng đất cũng như trên mặt đất nếu không chúng sẽ bị lấy đi hoặc hủy hoại.

                                                             Ngày 20-11-2010

                                                                       T.H

More...

VĂN HỌC MUÔN PHƯƠNG

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TOMASZ JASTRUN

       (Ba lan)

Bờ bên kia


Truyện ngắn


 

     Tomasz Jastrun là nhà văn nhà thơ nhà phê bình văn học Ba Lan sinh ngày 15 tháng 9 năm 1950 tại Warszawa. Từng là tùy viên văn hóa Đại sứ quán Ba Lan giám đốc Viện Nghiên cứu Ba Lan tại Thụy Điển. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn chương như giải thưởng Văn bút giải thưởng Robert Graves giải thưởng văn học của tạp chí "Văn hóa" Paris giải thưởng Quỹ Nhà thờ... Hiện làm việc tại tạp chí "Tấm gương" cộng tác với tuần báo "Newsweek" và nhiều tờ báo và tạp chí khác. Là Hội viên Hội Nhà văn Ba Lan.

Tomasz Jastrun là một trong những nhà văn đương đại Ba Lan viết khá nhiều về đề tài tình dục và tình yêu. Truyện ngắn của ông đi sâu vào mọi hang cùng ngõ hẻm của cuộc sống thường nhật nơi tình dục và tình yêu diễn ra muôn màu muôn vẻ mang lại cho con người không chỉ khoái cảm và hạnh phúc mà lắm khi cả ưu tư trăn trở thất vọng và khổ đau. Đọc những truyện ngắn văn phong mượt mà giàu tính trữ tình và đậm chất sex của ông người đọc có cảm giác như đọc những áng thơ văn xuôi giàu cảm xúc. Nhưng quan trọng hơn cả mỗi truyện ngắn của ông là một bức thông điệp nhiều ý nghĩa sâu sa về cuộc đời về tình yêu về gia đình và đạo làm người. Truyện ngắn "Bờ bên kia"được rút ra từ tập truyện ngắn "Tảng băng nóng" của ông.

           Nàng vẫn nhớ nơi này vì hồi còn nhỏ nàng thường tới đây cùng bố mẹ. Làng biển biến thành khu nghỉ mát theo mùa. Nàng chọn nơi này có lẽ vì nàng vẫn nhớ cái thời nàng nghĩ ngay cả khí trời ở đây cũng sẽ trẻ mãi không già hay sao?

Nàng đến đây như người đi an dưỡng nhưng nàng trẻ và khỏe sờ sờ thế kia... trừ phi gọi tình yêu là một căn bệnh đẹp còn cuộc chia tay phũ phàng là vụ tai nạn.

Người ta đã mách nàng chọn một phòng nhỏ trên tầng áp mái nhìn ra vịnh. Đã gần hết tháng chín khách nghỉ hè chẳng có là bao. Không ai xuống tắm biển vì nước lạnh chỉ thấy những người mến mộ môn lướt ván đang băng mình trên sóng nom tựa hồ những con côn trùng sặc sỡ sắc màu.

Nàng đi dạo. Nàng có cảm giác nhà thờ gạch kiến trúc gô tích bây giờ nhỏ hơn hồi trước. Tường nứt nẻ loang lổ gần hết. Mặt chính diện lỗ chỗ những vết đạn từ hồi tháng chín năm 1939 nom y như da người bị bệnh đậu mùa. Trên tấm biển đá màu đen bố mẹ nàng từng đọc cho nàng nghe họ và tên vị cha xứ đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Hel; thế nhưng lúc này nàng có cảm giác cả sự kiện này lẫn sự kiện kia đã diễn ra cùng một lúc và xa xăm đến nỗi như chưa bao giờ chúng diễn ra.

Rồi sau đó nàng thưởng thức món kem chanh qua ngần ấy năm mà cái vị kem này vẫn không thay đổi. Lúc đó lưỡi nàng cảm nhận những miếng vỏ tẩm đường tan chảy thành thứ nước nhẹ như bọt xà phòng. Không còn nữa ông già đeo kính gọng sừng mỉm cười với nàng gọi nàng là cô khách hàng bé bỏng của ông. Người đàn bà đứng sau quầy hàng đích mụ sở thị nụ cười của ông lão nụ cười kín đáo của thế hệ này truyền cho thế hệ khác giống như bí mật của vị kem vậy.

Nàng cuốc bộ ra bãi tắm không một bóng người. Nàng thích ngắm mặt nước để xem đó là mặt hồ phẳng lặng hay biển nổi sóng cồn. Trên đường về nhà nàng ghé vào một cửa hàng. Qua cửa kính nàng nhìn thấy một một dáng người quen quen. Một người giống Piotr. Đích thị anh ta! - nàng chẳng đơn độc một mình cho dù xa nhà tới ngần ấy cây số. Gần đây ít khi họ gặp mặt nhau... Họ thích trò chuyện về sách... khi chuyện trò như vậy họ cảm thấy như họ đang ở trên một hòn đảo nhỏ nơi chỉ có hai người.

Sự hiện diện của Piotr ở vùng biển này khiến nàng thấy lạ sinh nghi. Anh ta thích núi cao cơ mà nhất hạng leo núi tìm cảm giác mạnh trên không trung có lần anh ta đã thổ lộ với nàng như vậy... Và tại sao không thấy Agnieszka eo đẹp đi cùng?

Anh chàng ngạc nhiên còn hơn cả nàng nàng còn có được chút xíu thời gian để hoàn hồn sau cú bất ngờ. Họ rủ nhau tới quán cà phê nhưng quán đóng cửa như đa phần các cửa hàng ở đây chỉ mở cửa khi đại vụ cho nên họ đành đến ngồi tại quán cá rán.

Như mọi khi Piotr không giấu nàng bất cứ chuyện gì. Anh ta đã quyết định chia tay với Agnieszka hai người đã nhất trí với nhau: anh đi đàng anh tôi đi đàng tôi. Anh ta đến đây chính là để giải phiền sau vụ này. Nàng có cảm giác nàng đang mỉm cười trong bụng - đôi tình nhân của nàng cũng không thành. Nàng tự xấu hổ với ý nghĩ này cố bóp nghẹt nó mạnh đến nỗi nàng thấy đau.

Có lẽ cả hai đều nghĩ như nhau - họ đến đây trong cùng một thời gian để kiếm tìm sự cô đơn và họ đã gặp nhau. Cho nên sẽ không hay nếu tối nay ai biết phận nấy. Piotr có xe ô tô anh ta mời nàng đến ăn tối tại một nhà hàng ở thị trấn gần đó. Nàng nhận lời ngay thậm chí quá ư vồ vập tại vì nàng sợ nỗi cô đơn ở nơi xa lạ này.

Tuy nhiên họ chẳng đi đâu cả - họ ở lại quán cá rán gọi bia. Trong mùi bia có cái gì đó vô cùng tinh tế của bãi tắm đang lạnh dần và của mặt biển liền kề lúc hoàng hôn.

Piotr có gương mặt đẹp pha chút khổ hạnh. Người cao mảnh khảnh tóc và mắt đen làm nổi bật vẻ ưu phiền cái mở đường cho những nếp nhăn mai này. Anh ta thuộc hạng người lo cho mình lo cho người thân và lo cho cả thiên hạ. Ra bộ là người chăm sóc người khác nhưng bản thân anh ta lại cần sự chăm sóc. Họ giống nhau ở điểm này. Tình yêu của anh ta rực cháy như một đống lửa rơm. Ngọn lửa bùng cao chẳng được mấy nỗi. Cuộc chia tay của hai người xem ra có vẻ sạch sẽ và chẳng đớn đau...

Piotr biết chuyện của nàng có lần nàng đã kể tỉ mỉ cho anh ta nghe. Anh bạn ngạc nhiên và xúc động vì nàng đã bị ruồng bỏ một cách phũ phàng và bây giờ nàng vẫn đau khổ khi nàng chẳng có ai. Nàng không thích anh chàng kia nàng lo ngại khi gắn bó với hắn ta và nàng thấy nhẹ hẳn người khi hắn bỏ nàng.

Họ đi ra bãi tắm. Sóng biển nghe rõ hơn ban ngày tựa hồ ban đêm sóng đập vào tường. Mặt trăng đổ ánh vàng xuống biển. Chỉ có hai người... Nàng biết Piotr hiểu nàng và cả biển nữa cũng hiểu nàng. Đã lâu lắm rồi nàng không cảm thấy mình được an toàn như vậy.

- Bố mẹ anh từng bảo rằng ngày xưa con người có thời gian còn bây giờ thời gian có chúng ta - Piotr giọng buồn nói.

- Thế nhưng bây giờ chúng mình đang có thời gian đấy thây...! Một khi không có thời gian thì cũng chẳng có tình cảm... - nàng đáp.

Xem câu nói này là một lời mời Piotr ôm lấy nàng.

Họ nằm bên nhau trên bãi cát dùng tay gối đầu và ngắm sao trời. Trên vòm trời trong xanh sao trời trông rõ mồn một như thể một lát nữa thôi là chúng sẽ rơi hết xuống đây. Khi có trận mưa sao như vậy thì làm gì còn có chuyện cô đơn...

Họ đi tay nắm chặt tay. Nàng không bật đèn... họ nằm trên giường để nguyên xi quần áo. Những ý nghĩ trong đầu nàng va đập vào nhau như những con chim hốt hoảng trong lồng. Môi họ đã xán lại gần nhau đến nỗi không thể quay ngược lại được nữa rồi. Bây giờ chúng mình phải làm gì đây hả anh? - nàng thỏ thẻ... lời nàng như một lời khẩn cầu không còn sức mạnh và ý nghĩa. Piotr không đáp lại hai bàn tay anh ta đang nhẹ nhàng lần bên trong áo nàng nói hộ tất cả. Hai vú nàng nằm gọn trong tay anh chàng như hai trái cây. Nàng nghĩ ra chiều ái ngại - sao lại có chuyện mình không bị cắn rứt lương tâm đối với Agnieszka... cô ta không hiện diện ở đây trong anh ta trong mình... thậm chí mình không phải lôi cô ta ra khỏi giường... họ gắn bó với nhau tới ngần ấy năm cơ mà như thể sẽ chẳng bao giờ có chuyện họ bỏ nhau... có nhất thiết cái ta tưởng là mãi mãi chỉ tồn tại trong chốc lát... có điều mình có yêu anh ta đâu... ngày mai rồi sẽ sao đây?

Khi anh chàng cởi khuy quần của nàng thì nàng co rúm người định thoái thác nhưng đã quá muộn mất rồi...

- Em đẹp... sao lại có chuyện trên cơ thể em không hề có lấy một đường thẳng nào?

Không còn cảm xúc cô nàng xấu hổ quay đầu đi. Nàng cười phá lên khi anh chàng cắn nhẹ vào đầu lưỡi mình. Nỗi lo biến mất tựa hồ đã bị cái vui đùa của họ xua đi.

Nàng lấy làm ngạc nhiên cảm thấy hình dáng anh ta khác so với hình dáng nàng còn nhớ. Mình không nên quá dễ dãi - nàng nghĩ - rồi anh ta sẽ nghĩ về mình ra sao đây? Nhưng đó là điều hổ thẹn cuối cùng...

Nàng mở mắt... mùi của hai người lảng vảng bên trên giường. Nàng đụng vào tay anh chàng như muốn bảo rằng nàng đang nằm kề bên. Anh bạn mỉm cười nhưng không mở mắt ra. Anh ta ôm chặt lấy nàng. Nàng không biết gọi trạng thái nàng vừa nếm trải là trạng thái gì nàng nhớ câu: "cái sướng thường biến mất khi ta định tóm lấy nó".

Nàng thức dậy lúc nửa đêm. Anh chàng nằm bên cạnh nàng nhìn thấy bóng của râu mọc trên mặt anh ta và cái hố giữa ngực như chỗ lõm xuống khi nàng ấn ngón tay. Anh chàng ngủ - nàng nghe thấy tiếng thở nàng muốn thở theo nhưng nàng thiếu dưỡng khí. Và đã không có tiếng cọt kẹt của yêu đương mà phụ nữ đôi khi vẫn nghe thấy khi kiếm tìm cái bênh vực cho nỗi khát khao của mình.

Sáng sớm anh chàng vẫn ngủ ngon lành. Vịnh vắng người trong sương sớm mặt biển lăn tăn gợn sóng. Nàng ngồi dậy từ từ rón rén đi vào nhà tắm. Nàng không có ý định rửa sạch mùi của anh ta trên người mình. Nàng chìa tay vào dưới vòi nước cho nước chảy qua các ngón tay - như cuộc đời như thời gian - nàng nghĩ đóng vòi lại. Chẳng còn lại gì giữa các ngón tay.

Nàng soi gương thấy mấy vết thâm trên cổ. Vết răng của anh chàng nom y như những con dơi bé tí xíu. Nàng thấy mặt mình đổi khác. Nàng chẳng biết mình đã già đi hay trẻ thêm... mắt nàng đã thay đổi là cái chắc. Nàng cảm nhận có gì đó thức dậy trong nàng nó như một con mèo đang lôi kéo nàng - nàng nín thở như sợ đuổi nó đi. Lâu nay chỉ cần sức nặng của một giọt nước thôi là cán cân trong người nàng chao đảo thế mà bây giờ nó không nhúc nhích.

Khi nàng quay vào phòng anh chàng không còn ngủ nữa. Anh ta đang nói chuyện qua điện thoại di động. Anh ta nói nhỏ giọng khi nàng vào phòng cho nên ngay lập tức nàng quay trở lại nhà tắm ra bộ quên cái gì đó. Nàng áp tai vào cánh cửa... anh ta nói:

- Không... chỉ có mỗi mình anh thôi... đúng anh muốn quay lại với em... đơn giản là anh đã biết chắc rằng anh muốn ở bên em...

Con tim nàng co lại như nắm đấm mối lo ngại cũ vãn hồi. Nàng lao vào vòi hoa sen mở nước lạnh. Cái đó đau nhưng mang lại sự nhẹ nhõm. Nàng lấy khăn tắm lau người tiếc rằng khăn nhẵn thín.

- Mọi cái vẫn đâu vào đấy vẫn đâu vào đấy thì là tốt - nàng nói với chính mình.

Khi nàng vào phòng anh chàng bẻn lẽn hôn vào trán nàng đoạn đi vào nhà tắm. Anh ta giữ chặt điện thoại trong tay như sợ mất nếu đặt máy xuống.

Họ ăn sáng riêng biệt như là chuyện đương nhiên. Sau đó họ gặp nhau bên quầy báo. Anh chàng định thanh minh điều gì đó nhưng nàng mỉm cười.

- Anh đừng có nói gì nữa cả. Chẳng có vấn đề gì ổn thỏa cả thôi.

Piotr ngạc nhiên thậm chí hơi ái ngại thế nhưng khi cảm nhận bức tường kiên định của nàng thì anh ta không nói gì nữa.

Sau đó từ phía đàng xa nàng nhìn thấy Piotr đi xe về hướng Warszawa.

Nàng sửa soạn hành lí quyết định ra về bằng chuyến tàu đêm nhưng nàng đã đổi ý. Nàng nán lại đến mai có thể lâu hơn. Như thế thì cũng chẳng nghĩa lí gì nữa rồi. Trong nắng trời vịnh biển làm cho những tháp nhà thờ đằng xa gần lại hơn những mái nhà ngói đỏ hiện rõ nơi bờ xa phía bờ vẫn còn chút màu xanh song hầu như đã chuyển sang màu vàng. Hôm qua nàng không nhìn thấy bờ bên kia này.

                                                                      Lê Bá Thự dịch

                                                             (Từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

More...

TIN VĂN NGHỆ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TIN VĂN NGHỆ


 

* Được sự giúp đỡ của Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch trong các ngày từ 14 đến 28 tháng 11 năm 2010 tại Nhà sáng tác Đà Lạt (Lâm Đồng) Hội Văn nghệ Thanh Hóa đã tổ chức trại sáng tác năm 2010. 15 hội viên gồm các nhà văn Cẩm Hương Bùi Hữu Thược Vũ Long Giang các nhà thơ Đào Phụng Trịnh Ngọc Dự Nguyễn Đình Ất các nhạc sỹ Xuân Liên Trung Liên Lê Xuân Chung các nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Liên Chương Trọng Thắng các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Vũ Ngọc Khôi Trần Thị Liên kịch tác gia Mạnh Đoài... đã dự trại. Nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm Chủ tịch Hội đã chủ trì lễ khai mạc trại sáng tác.

Trong thời gian dự trại các văn nghệ sỹ xứ Thanh đã làm việc nghiêm túc hăng say và thu được kết quả tốt đẹp. Nhiều tác phẩm mới được sáng tác ngay tại trại và nhiều tác phẩm được hoàn thành có chất lượng cao.

                                                                                 Cẩm Hương



 

* Chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI sáng 1 - 12 - 2010 tại Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam (số 2 Hoa Lư - Vân Hồ - Hà Nội) đã khai mạc Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2006 - 2010. Đây là triển lãm có quy mô lớn nhất của giới Mỹ thuật Việt Nam (được tổ chức 5 năm một lần) do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Hội Mỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức.

Ban Tổ chức đã nhận được 5000 tác phẩm hội họa đồ họa điêu khắc và sắp đặt của 61/63 tỉnh thành trong cả nước. Hội đồng nghệ thuật đã tuyển chọn 836 tác phẩm của 735 tác giả 53 tỉnh thành để triển lãm. Tỉnh Thanh Hóa đã được chọn 12 tác phẩm trong đó có 11 tác phẩm của 10 tác giả là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa được trưng bày.

                                                                                    Thanh Sơn



* Trong các ngày 25 26 tháng 11 năm 2010 Thường trực Hội đã tổ chức cho ban âm nhạc đi thâm nhập thực tế sáng tác tại các huyện thị vùng đông bắc của tỉnh. Gần 30 hội viên trong ban đã tham gia; nhạc sỹ Nguyễn Đồng Tâm Chủ tịch Hội Chi hội trưởng Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam tại Thanh Hóa làm trưởng đoàn. Tại Thị xã Bỉm Sơn đoàn đã được các đồng chí Thường trực Thị ủy Thường trực Hội đồng nhân dân ủy ban nhân dân thị xã tiếp và làm việc trong không khí thân tình cởi mở.

Chuyến đi thâm nhập thực tế sáng tác là hoạt động bổ ích là dịp để các nhạc sỹ nghệ sỹ giao lưu và tạo cảm hứng sáng tác về một vùng đất giàu tiềm năng và thấm đẫm văn hóa truyền thống dân gian.

                                                                                         P.V

More...