KỶ NIỆM 60 NĂM NGÀY THUONG BINH LIỆT SỸ (27/7/1947-27/7/2007)

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 


Công tác thương binh liệt sĩ người có công với
 
Cách mạng tỉnh Thanh Hóa
 

                                                                             Lê Hồng Sơn
                                                                               Tỉnh ủy viên
                                                                       Giám đốc Sở Lao động
                                                          Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa
 
 
 
     Thanh Hóa là tỉnh có bề dày thành tích công tác chăm sóc thương binh gia đình liệt sĩ người có công với cách mạng. Giai đoạn từ năm 1946 đến 1954 nhiệm vụ công tác thương binh liệt sĩ của Thanh Hóa chủ yếu là tiếp nhận thương binh bệnh binh từ các chiến trường về để chữa trị vết thương và bố trí sắp xếp việc làm chăm lo đời sống nhân dân tản cư từ vùng địch tạm chiến. Cao điểm trong những năm từ 1950 đến 1954 Thanh Hóa đã tiếp nhận 11.587 thương binh bệnh binh ở các chiến trường chuyển về thu xếp nơi ăn nghỉ điều dưỡng chữa bệnh chữa vết thương và thực hiện phong trào đón thương binh về làng.
     Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết Thanh Hóa đã đón thương binh bệnh binh đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc tại Sầm Sơn gồm: 1896 thương binh bệnh binh 47346 cán bộ 5.922 học sinh 1.443 gia đình cán bộ tập kết. Cùng với việc đón tiếp thương binh bệnh binh và đồng bào miền Nam ra Bắc tập kết Thanh Hóa đã tổ chức học tập văn hóa tạo việc làm và vận động đưa được 11.441 thương bệnh binh về gia đình làng xóm nhận đỡ đầu nuôi dưỡng thành lập các đoàn sản xuất cho thương binh miền Nam. Xem xét và đề nghị truy tặng 3.400 huân chương huy chương các loại cho các liệt sĩ trợ cấp tiền tuất cho 6.000 gia đình liệt sĩ quy tập 3.561 mộ liệt sĩ vào nghĩa trang. Vận động các cơ quan trong tỉnh nhận nuôi dưỡng 197 con liệt sĩ mồ côi miễn giảm học phí cho 4.253 con liệt sĩ đang học phổ thông. Trong thời gian này đã có 495 xã phường (chiếm 91% số xã) có phương án hỗ trợ giúp đỡ thương binh gia đình liệt sĩ gia đình quân nhân tại ngũ.
      Từ năm 1965 trở đi chiến tranh ở chiến trường miền Nam và chiến tranh phá hoại bằng không quân Mỹ ở miền Bắc ngày càng khốc liệt. Trong thời gian này hàng năm Thanh Hóa cung cấp khoảng 20 nghìn thanh niên vào quân đội; tổ chức hơn 40 nghìn thanh niên xung phong phục vụ hỏa tuyến và lực lượng dân công hỏa tuyến phục vụ chiến đấu ở các chiến trường. Thanh Hóa vừa thực hiện chế độ chính sách cho các đối tượng ưu đãi người có công vừa tiếp nhận thương binh ở chiến trường ra. Toàn tỉnh đã phát động phong trào đỡ đầu chăm sóc thương binh gia đình liệt sĩ gia đình quân nhân tại ngũ; giao chỉ tiêu cho các cơ quan nhận thương binh vào làm việc; thành lập 15 cơ sở nuôi dưỡng cơ sở sản xuất cho thương binh; tiếp nhận 11.960 cháu học sinh ở vùng chiến sự ác liệt như Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên - Huế ra học tập.
     Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975 Thanh Hóa tập trung giải quyết chính sách chế độ cho 30.658 liệt sĩ 45.136 thân nhân liệt sĩ 13.308 thương binh 1.994 trẻ mồ côi 3.592 người già cô đơn 1.167 hộ gia đình đồng bào miền Nam ở lại tỉnh; tiếp tục đẩy mạnh công tác thực hiện chính sách cho các đối tượng ưu đãi người có công và tập trung giải quyết các chính sách tồn đọng sau chiến tranh. Đến nay toàn tỉnh đang quản lý và thực hiện chế độ ưu đãi cho 58 nghìn liệt sĩ; 38 nghìn thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; 15 nghìn bệnh binh (trong đó có trên 1.400 thương bệnh binh có vết thương bệnh tật mất sức lao động từ 81% trở lên); 1.200 cán bộ lão thành cách mạng gần 500 đối tượng tiền khởi nghĩa 1.465 Mẹ Việt Nam Anh hùng (trong đó 324 Mẹ còn sống đang được cơ quan đơn vị nhận đỡ đầu nuôi dưỡng trọn đời); hơn 300 người có công giúp đỡ cách mạng trên 1.500 người hoạt động cách mạng bị địch bắt tù đày 380 ngàn người hoạt động kháng chiến được Nhà nước khen thưởng huân chương huy chương.
     Theo số liệu điều tra thực trạng nhà ở của đối tượng chính sách Thanh Hóa có 6.117 hộ đang ở nhà tranh tre tạm bợ. Để ổn định nhà ở cho đối tượng chính sách căn cứ vào điều kiện cụ thể Thanh Hóa đã tập trung chỉ đạo huy động nguồn lực động viên nhân dân gia đình dòng họ giúp đỡ vật chất công sức ưu tiên xây nhà ở cho đối tượng chính sách chưa có nhà ở là thương binh bệnh binh nặng Mẹ Việt Nam Anh hùng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Anh hùng Lao động gia đình liệt sĩ cô đơn và gia đình 2 liệt sĩ; hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với cán bộ họat động cách mạng trước tháng 8/1945. Bằng kinh phí Nhà nước nguồn ngân sách của tỉnh và nguồn lực từ Quỹ đền ơn đáp nghĩa Thanh Hóa đã làm mới 1.785 nhà với kinh phí trên 17 tỷ đồng; sửa chữa 3.603 nhà với số tiền 6.200 triệu đồng.
     Toàn tỉnh đã cấp hơn 70.000 thẻ bảo hiểm y tế miễn phí khám chữa bệnh cho các đối tượng người có công. Hàng năm điều dưỡng điều trị cho hơn 2 nghìn lượt người tại nhà nghỉ người có công hoặc tại gia đình. Tổ chức sản xuất và cấp hơn 10 nghìn dụng cụ chỉnh hình  phục hồi chức năng cho thương binh bệnh binh và hàng trăm xe lăn xe lắc phục vụ sinh hoạt và đời sống cho các đối tượng chính sách. Thực hiện chế độ ưu đãi về giáo dục cho hơn 50 nghìn lượt học sinh sinh viên là con thương binh bệnh binh gia đình liệt sĩ.
     Hầu hết các hộ nghèo thuộc diện chính sách được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất kinh doanh tạo việc làm nâng cao mức sống mỗi hộ được vay từ 2 triệu đồng trở lên. Từ những hoạt động tích cực đó đã tạo điều kiện cho hơn 7 nghìn hộ gia đình chính sách vươn lên thoát nghèo nhiều thương binh bệnh binh thân nhân liệt sĩ vượt qua khó khăn có thu nhập từ 15 triệu đồng đến 50 triệu đồng/ năm. Đến nay toàn tỉnh không còn hộ đói thuộc diện chính sách; hộ nghèo theo chuẩn mới còn 8.948 hộ (3 23%). Số hộ nghèo thuộc diện chính sách chủ yếu tập trung ở vùng sâu vùng xa vùng đặc biệt khó khăn. Toàn tỉnh đã công nhận 586 xã phường đạt chuẩn nâng cao mức sống cho gia đình chính sách bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
      Từ năm 1994 đến nay toàn tỉnh đã đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho 1.465 Mẹ. Với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" "Đền ơn đáp nghĩa" toàn tỉnh đã dấy lên phong trào nhận chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng. Thông qua cuộc vận động có 43 cơ quan đơn vị nhận chăm sóc phụng dưỡng trọn đời 324 Mẹ Việt Nam Anh hùng trên 400 thân nhân liệt sĩ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; cấp thêm tiền sinh hoạt để đảm bảo cho các Mẹ có mức sống cao hơn mức sống của nhân dân địa phương mức phụng  dưỡng từ 50 nghìn đồng đến 100 nghìn đồng từ năm 2000 đến nay mức phụng dưỡng từ 100 nghìn đồng đến 200 nghìn đồng/Mẹ.
     Những năm qua phong trào xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa đã được các cấp các ngành các đoàn thể chính trị xã hội và nhân dân trong tỉnh tích cực tham gia hưởng ứng. Từ năm 2005-2006 toàn tỉnh đã vận động đóng góp được 36 5 tỷ đồng quỹ đền ơn đáp nghĩa. Số tiền quỹ này được sử dụng vào việc hỗ trợ xây dựng sữa chữa nhà ở tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các đối tượng chính sách. Từ năm 2002 đến nay toàn tỉnh đã tặng trên 15.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa với số tiền hơn 2 tỷ đồng. Các đơn vị nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng và thân nhân liệt sĩ ngoài số tiền trợ cấp hàng tháng còn phối hợp tổ chức đưa các Mẹ Việt Nam Anh hùng thân nhân liệt sĩ đi tham quan các địa danh lịch sử trong nước.
    Thanh Hóa tiếp tục đẩy mạnh phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" chăm sóc thương binh liệt sĩ người có công với cách mạng và thân nhân của họ phấn đấu năm 2007 toàn tỉnh hoàn thành chương trình xóa nhà tranh tre cho đối tượng chính sách có mức sống bằng và cao hơn đời sống của nhân dân nơi cơ trú; 100% xã phường làm tốt công tác thương binh liệt sĩ và người có công với cách mạng. Thanh Hóa sẽ tiến hành tổng kết đánh giá học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện. Tiếp tục vận động đẩy mạnh phong trào "Uống nước nhớ nguồn" "Đền ơn đáp nghĩa" để huy động sức mạnh xã hội vào việc chăm sóc tốt hơn đời sống vật chất tinh thần cho đối tượng chính sách. Biểu dương khen thưởng kịp thời  những cá nhân tập thể và địa phương đã có nhiều thành tích trong phong trào đền ơn đáp nghĩa tiếp tục phát huy truyền thống của tỉnh có bề dày thành tích công tác thương binh liệt sĩ người có công với cách mạng.

                                                                                 L.H.S

More...

Bút ký

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 


LÂM BẰNG
 


Nơi xoa dịu những vết đau
 


Bút ký

 
 
       ấy là tôi đang muốn nói tới Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng Thanh Hóa thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa. Được thành lập từ năm 1982 Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng Thanh Hóa có nhiệm vụ Quản lý chăm sóc nuôi dưỡng điều trị nhằm phục hồi chức năng và sức khỏe cho các đối tượng thương binh bệnh binh và người có công. Một nhiệm vụ có thể coi vừa là đạo lý vừa là bổn phận và trách nhiệm của đất nước của xã hội đối với những người đã hy sinh một phần thân thể cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Và giờ đây các anh đang chịu những thiệt thòi không gì bù đắp được. Những thiệt thòi mà trong chính các anh rất nhiều người đã không còn nhận thức được.
      Theo chỉ dẫn của anh Phạm Hải Châu Phó Giám đốc Trung tâm tôi xuống thăm Khu điều dưỡng thương binh tâm thần. Một khuôn viên rộng rãi thoáng mát. Những vuông ao xinh xắn những hàng cây nhãn cây vải rợp bóng mát ríu rít tiếng chim… đã tạo nên không gian yên bình đến thi vị. Có lẽ sự ví von đó của tôi không đã không ăn nhập gì với những chủ nhân của nơi đây. Quả có vậy. Khi tôi đến thì cũng là lúc đến giờ các anh (thương binh tâm thần) đi ăn cơm trưa. Chị Nguyễn Thị Lan Trưởng khoa tâm thần mời tôi vào phòng:
      - Anh chờ một chút. Giờ là lúc các anh ấy ăn cơm. Lát nữa các anh ấy ăn xong anh có thể xuống thăm. Nhưng chỉ ít phút thôi đấy vì ăn cơm xong là đến giờ nghỉ trưa.
       Tôi nhìn đồng hồ mười giờ trưa. Nắng cuối tháng sáu như đổ lửa. Hôm nay ở đây bị cắt điện luân phiên. Tất cả các phòng từ phòng giám đốc đến phòng anh em thương binh đều không một giọt điện. May mà ở đây không gian thoáng đãng lại có nhiều cây cối và rộng mặt nước nên cái nóng không bức bối oi nồng như ở thành phố.
      Từ phòng trưởng khoa nhìn ra từng tốp từng tốp anh em thương binh tâm thần lần lượt xuống nhà ăn. Mỗi người một dáng đi mỗi người một vẻ mặt. Những gương mặt thiếu thần khí. Những gương mặt bần thần lại có cả nét ngơ ngác ngồ ngộ lại vừa ngây ngây ngô ngô…
       Tôi buột miệng:
      - Thương quá chị nhỉ.
     - Vâng nhiều lúc nhìn các anh ấy thương lắm anh ạ - Chị Lan đồng cảm nén một chút thở dài - Toàn những người có tuổi cả rồi…
Tôi xin cam đoan kể cả những người thờ ơ nhất khi đến đây cũng không thể không chạnh lòng. Khoa tâm thần hiện nay đang chăm sóc điều trị 86 thương bệnh binh bị chấn thương sọ não. Người cao tuổi nhất đã ở tuổi 80 người ít tuổi nhất cũng đã 54 tuổi. Hầu hết là thương binh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ có số ít là thương bệnh binh chống Pháp và thời kỳ Bảo vệ tổ quốc.
      Tốp anh em thương binh tâm thần đi xuống nhà ăn loáng cái đã trở lên mỗi người cầm một miếng dưa hấu vừa đi vừa ngoạm. Tôi áng chừng mới chỉ độ năm sáu phút là cùng. Tôi nghĩ có lẽ do nóng quá các anh bỏ bữa chỉ ăn miếng dưa cho mát. Tôi bộc lộ suy nghĩ với chị Lan và góp ý có lẽ nhà ăn nên thay đổi thực đơn cho phù hợp với mùa nắng cũng chẳng nên cầu kỳ làm gì. Nóng như thế này người khỏe cũng ngại ăn nữa là…
      - Không phải thế đâu anh ạ - Chị Lan nói - Các anh ấy ăn hết khẩu phần đấy. Chỉ có điều họ ăn theo kiểu của họ nhanh lắm.
      Tôi tò mò:
     - Kiểu gì vậy?
     - Khi xuống tới nhà ăn nhận phần ăn xong lập tức các anh ấy đổ dồn tất cả cơm canh thức ăn lại rồi húp xoàm xoạp vài cái là xong. Chị em chúng tôi nhắc nhở nhiều nhưng chẳng ăn thua gì. Thế nên ở dưới nhà bếp chúng tôi chế biến thức ăn phải thật nhừ thịt cá phải rút xương thật kỹ thái thật nhỏ…
       Đúng vậy các anh đâu còn cảm nhận được cái thú vị khi ăn uống nhấm nháp cái thú vị của ẩm thực nhẩn nha. ép các anh ăn chậm không khéo lại tạo ra những ức chế làm phát sinh những trạng thái thần kinh khó kiểm soát.
      Cái ấn tượng rõ nhất mà tôi nhận được ở các anh là những gương mặt rất hiền và rất lành lành lắm. Hiền và lành nhưng thiếu hẳn khí chất linh lợi và sắc sảo vắng hẳn sắc thái của trí tuệ của mẫn cảm… Đâu rồi cái hùng dũng cái nhanh nhẹn sắc sảo của những chiến sỹ quả cảm năm xưa những chiến sỹ một thời băng qua lửa đạn vào sống ra chết coi cái chết nhẹ nhưng lông hồng vì sự nghiệp giải phóng miền Nam bảo vệ Tổ quốc.
       Là thương binh bệnh binh bị chấn thương sọ não các anh không khỏi có những lúc bị ức chế thần kinh không khỏi có những lúc rơi vào tình trạng tâm thần bất ổn thậm chí hoảng loạn nhất là những khi thời tiết thay đổi mưa nắng thất thường. Anh Trương Thế Giới quê ở Hoằng Đồng (Hoằng Hóa) từng là bộ đội đặc công nước chiến đấu ở Quảng Trị và bị địch bắt tra tấn dã man. Sau khi trao trả trở về quê hương anh không còn đủ tri giác và cảm giác để nhận ra người thân. Một dạo các nhân viên Trung tâm đã buộc phải xích chân anh lại vì mỗi khi lên cơn cái tiềm thức đặc công nước trỗi dậy anh lại chạy nhảy và nhảy vào cả bể nước nhảy xuống ao… Hành động bột phát ấy không những nguy hiểm đến tính mạng của anh mà vô tình đã khơi dậy tiềm thức chiến trường của nhiều người gây nên hiệu ứng dây chuyền bất lợi đối với những anh em khác. Nhiều anh đã không còn chủ động được việc vệ sinh cá nhân. Có anh khi nhân viên của Trung tâm vừa lau phòng xong lát sau quay lại đã thấy anh đi chất thải nhoe nhoét ra nền nhà đành phải xách nước lau rửa lại phòng.
       Anh Mai Xuân Sinh Phó Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội kể: Khi anh còn làm lãnh đạo ở Trung tâm một bữa đang đêm khuya thanh vắng anh bỗng nghe văng vẳng có tiếng “ngâm” thơ. Anh nhẹ nhàng đi tới đến bên cửa sổ. Tiếng thơ vọng ra giọng thô ráp vụng về pha chút hồn nhiên con trẻ:
       …Chú đi tuần đêm nay / Hải Phòng yên giấc ngủ say / Cây rung theo gió lá bay xuống đường / Chú đi qua cổng trường / Các cháu miền Nam yêu quý / Các cháu ơi giấc ngủ có ngon không / Cửa đóng che kín gió / ấm áp dưới mền bông / Mai các cháu học hành tiến bộ / Đời đẹp tươi khăn đỏ tung bay / Cháu ơi ngủ nhé cho say…
      Bài thơ trong sách Tập đọc lớp Ba cũ. Những người ở độ tuổi bốn lăm đến dưới sáu mươi hầu như ai cũng thuộc. Ký ức đẹp ký ức của một thời học trò chợt trỗi dậy trong tiềm thức của người thương binh giây phút hiếm hoi mà thường khi anh chẳng còn nhớ được một cái gì cũng như không còn nhận ra được người thân ruột thịt. Ký ức trỗi dậy nhưng lại là cảm thức của tuổi thơ của con trẻ. Anh đâu có cảm thức được thân phận hiện tại của mình.
      Mỗi mảnh đời mỗi con người đang được chăm sóc ở đây là những vết đau của xã hội trong khi các anh lại không còn đủ sức cảm thức được nỗi đau của chính mình chính điều đó đã nhân nỗi đau lên gấp bội. Anh Hoàng Văn Mạnh sinh năm 1944 quê ở thôn Bắc Thọ xã Ngư Lộc huyện Hậu Lộc. Nhập ngũ tháng 4 năm 1967 thuộc đơn vị đặc công. Năm 1972 khi đang chiến đấu ở Quảng Nam anh bị địch bắt. Anh bị chúng đày ra nhà tù Phú Quốc. Tại đây chúng đã tra tấn hành hạ anh rất dã man. Không khai thác được gì ở anh chúng đã hèn hạ thiến đi hai hòn “cà” tước đi cái quyền làm đàn ông ở anh. Gần đây ngực anh bỗng nhiên phát triển to ra bụng sệ xuống mông có phần nở dáng đi như đàn bà. Nét mặt và nhất là giọng nói… cũng đều rất đàn bà.
      Trong các anh có người thi thoảng có những giây phút trí nhớ được phục hồi chỉ lóe lên giây lát. Những lúc ấy trông các anh bâng khuâng vẻ mặt ngây ngô thường ngày có thêm nét trầm ngâm tường như các anh nhớ quê nhớ nhà nhớ người thân chăng. Nhưng những giây phút hiếm hoi ấy cũng trôi qua nhanh và các anh lại lùi vào triền miên vô thức.
       Chiến tranh đã lùi xa một phần ba thế kỷ nhưng những vết đau còn đó. Thậm chí di chứng quái ác đã truyền đến thế hệ thứ hai thứ ba. Nhiều em bé được sinh ra khi đất nước đã thống nhất được sinh ra và lớn lên trong bầu không khí hòa bình tuyệt nhiên không có thuốc súng và khói bom nhưng trong cơ thể các em lại mang nặng hậu họa của chiến trường. ở Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng Thanh Hóa có một số em là con thương binh bị di chứng nặng nề mà đế quốc Mỹ đã gây ra đối với cha mẹ các em trước kia. Cha mẹ các em đã từng chịu bây giờ đến lượt các em.

                                                   *

     Được thành lập từ năm 1982 tính đến nay Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng Thanh Hóa đã có tuổi đời một phần tư thế kỷ. Một phần tư thế kỷ những mảnh đời những vết đau xã hội được xoa dịu bớt nỗi đau. Cũng từ Trung tâm này đã có rất nhiều thương binh bệnh binh nặng được điều trị ổn định và được gia đình đón về xum họp. Nhưng hiện nay tại đây cũng còn có những người đã gắn bó với Trung tâm từ những ngày đầu thành lập và có lẽ còn gắn bó cho đến cuối đời.
      Những người được chăm sóc điều trị ở đây được chia làm hai khoa: Khoa thương bệnh binh tâm thần như vừa nói ở trên và Khoa thương bệnh binh tổng hợp thân nhân liệt sỹ và những người có công với cách mạng. Đầu năm 2007 tổng số đối tượng được chăm sóc là 159 người nhưng thời gian qua đã có 28 gia đình đón thân nhân về chăm sóc tại nhà nên hiện nay cả hai khoa còn 131 người. Ngoài số thương bệnh binh tâm thần số còn lại hầu hết không còn người thân thích trong đó có một cụ là lão thành cách mạng (tiền khởi nghĩa) 7 thân nhân liệt sỹ 3 con liệt sỹ mắc bệnh tâm thần. Nhiều người chiến tranh khốc liệt đã cướp đi phần lớn thể xác các anh thật thương tâm: Anh Mỗ (ở Hà Trung) bị mất một mảng xương trên đỉnh đầu các thầy thuốc phải tạo cho anh một mảng xương nhân tạo bằng mika. Chỉ cần một va chạm nhẹ cũng nguy hiểm đến tính mạng như chơi. Anh Đức bị cụt cả hai tay hai chân mù hai mắt lại còn bị di chứng chất độc điôxin. Anh Bình bị địch bắt chúng tra tấn anh rất dã man đã rút hết xương sườn của anh... Và còn rất nhiều anh em khác nữa rất thương tâm. Thương tật trên thân thể các anh nhưng là vết đau của xã hội của tất cả mọi người.
Trong việc điều trị Trung tâm đã thực hiện phương châm kết hợp giữa điều trị bằng thuốc và ứng dụng các phương pháp phục hồi chức năng nhằm ổn định thương tật bệnh tật từng bước phục hồi khả năng sinh hoạt lao động cho thương binh bệnh binh.
       Tôi chợt ngẫm nghĩ đó là phương cách hợp lý và cần thiết. Nhưng có lẽ phương pháp tốt nhất mà các bác sỹ y sỹ nhân viên y tế và điều dưỡng viên ở đây đã thực hiện đó là ngoài thuốc men ngoài vật lý trị liệu anh chị em còn chăm sóc chữa trị thương binh bệnh binh bằng cả tấm lòng những tấm lòng vàng và bằng sự cảm thông và chia sẻ không bờ bến. Không có tình nhân ái thương người như thể thương thân không có sự cảm thông sâu sắc cộng với sự nhiệt tình kiên trì và tận tụy thì không có toa thuốc Tây Tầu nào có thể xoa dịu được nỗi đau của các anh nỗi đau của xã hội.
        Sự tận tụy và kiên trì sự nhiệt tình của anh chị em điều dưỡng viên ở đây có lẽ khó có thể tả hết. Nhiều y tá điều dưỡng viên tuổi chỉ đáng là con cái của thương bệnh binh nhưng khi bón từng thìa cháo cho uống viên thuốc hay tắm rửa thay quần áo cho bệnh nhân cũng phải vỗ về dỗ dành như với các em nhỏ. Rồi những trường hợp đi vệ sinh ra khắp nền nhà rồi những người không chịu tắm giặt thay quần áo không chịu mặc quần áo hàng ngày.v.v… tất cả đều cần tới những tấm lòng và bàn tay của những "cô Tấm thảo hiền". Một công việc vất vả gian nan thầm lặng mà ý nghĩa lại cao quý biết bao nhiêu. Tôi có thể gọi những thầy thuốc và điều dưỡng viên ở Trung tâm này là những Từ mẫu hơn cả từ mẫu. Bệnh nhân ở các bệnh viện ngoài việc được các thầy thuốc cứu chữa bằng chuyên môn hầu hết còn có người thân đến chăm sóc. Nhưng những thương bệnh binh nặng ở đây thì không. Thậm chí nhiều người cũng chẳng còn có ai là thân thích ở quê nữa. Tất cả đều nhờ cậy ở bàn tay từ tâm của anh chị em trong Trung tâm.
        Tôi xin được mượn lời anh Phạm Hải Châu Phó Giám đốc Trung tâm để kết thúc bài viết này: Liệt sỹ thương bệnh binh là những người đã không tiếc tuổi xuân hiến dâng cả cuộc đời cho đất nước. Sự mất mát của các anh không có gì bù đắp nổi. Anh chị em thương binh bệnh binh đặc biệt là thương bệnh binh tâm thần thương binh hạng đặc biệt là những vết đau của xã hội. Toàn xã hội dành cho các anh những quan tâm và chăm sóc đặc biệt. Sự quan tâm chăm sóc ấy không chỉ bằng y học đơn thuần nuôi dưỡng đơn thuần mà còn bằng cả tấm lòng bằng sự cảm thông và chia sẻ bằng tình nhân ái không những chỉ của anh chị em trong Trung tâm mà còn của cả xã hội.
     Quả đúng vậy tấm lòng tình nhân ái và sự cảm thông chia sẻ là những yếu tố vô cùng quan trọng đối với công việc hết sức đặc biệt này. Tôi đã nhận thấy rất rõ điều đó ở Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng tỉnh Thanh Hóa - Nơi góp phần xoa dịu những vết đau của xã hội.

                                                           Quảng Thọ tháng 7/2007
                                                                         L.B


More...

Truyện ngắn dự thi

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 
 


Nguyễn văn Đệ


Chị em sinh đôi


Truyện ngắn dự thi

 
      Hai chị em tôi được sinh ra cùng lúc vào đúng cái đêm rằm tháng bảy. Mẹ tôi kể: Lúc lọt lòng mẹ mày khóc to hơn chị mày mẹ chỉ lo sau này mày khổ. Tôi cũng nghĩ như thế. Cha tôi đặt tên cho chị tôi là: Hoa còn tôi là Hương. Cha bảo: Hoa là một bông hoa tươi đẹp của cha Hương là hương thơm như hoa tươi. Nghe cha nói vậy tôi biết cha quá yêu quý cả hai chị em nên rũ ra cười. Năm mười lăm tuổi hai chị em tôi đuợc mọi người trong làng bắt đầu chú ý vì nhan sắc. Chị Hoa đẹp lắm người chị cao mảnh dẻ da chị trắng khuôn mặt chị trái xoan lúc nào cũng hồng hào đôi mắt thì trong veo long lanh và hơi ướt nữa. Nhất là cặp lông mày đen như một nét vẽ với đôi môi đỏ chót. Người ta nói chị em tôi giống nhau như hai giọt nước. ừ những cặp sinh đôi ở làng tôi thường giống nhau. Cha tôi hình như cũng hãnh diện khi thấy người ta khen con mình đẹp. Mẹ tôi thì dè dặt hơn. Mẹ bảo: ở đời những người nhan sắc duyên phận thường long đong. Nhưng cả hai chị em tôi không chú ý điều đó. Năm hai chị em tôi học lên cấp ba trường huyện bọn con trai trong trường thường tìm cách làm quen với hai chị em tôi có nhiều đứa thích trở thành bạn thân rồi có đứa viết thư tán tỉnh thậm chí làm thơ tình gửi chị Hoa và tôi. Ngay ở trong làng mấy đứa con trai tối nào cũng rủ nhau đến nhà tôi chơi. Thực ra thì chị Hoa không mặn mà với những chuyện như vậy. Còn tôi thì thích trêu đùa với lũ trai tơ mặt non choẹt mà sớm si tình ấy. Cho đến một hôm đám trai làng tôi đánh nhau với mấy đứa trai làng bên vì bọn nó chạm mặt nhau ở ngõ nhà tôi làm cha tôi tức giận từ hôm đó cha không cho bất cứ đứa con trai nào đến nhà nữa. Cha tôi là một nhà giáo ông biết chữ nho rất thích đọc sách Khổng Tử. Cha tôi dạy hai chị em tôi: Con gái phải tu dưỡng phẩm giá cho đủ: Công-dung-ngôn-hạnh. Cha thường dõng dạc nói con gái là: Tại gia phải tòng phụ xuất giá tòng phu phu tử tòng tử. Đại khái cha tôi luôn hướng cho hai chị em tôi chăm chỉ học hành lớn lên lấy một tấm chồng tử tế sống sao cho hòa thuận và trọn đạo là một người vợ hiền dâu thảo ở một gia đình có danh giá trong làng ngoài xã. Mẹ tôi cũng mong thế mẹ bán hàng trầu cau ở chợ hôm. Mỗi lần mẹ con ngồi với nhau mẹ bảo: Tao không có con trai nhưng có hai đứa mày cũng làm mẹ vui rồi. Các con học hành trưởng thành rồi về làng về xã mình mà công tác mẹ cũng không muốn các con rồi đi lấy chồng xa mẹ buồn. Năm chị em tôi đã bước sang tuổi mười tám. Cái tuổi mà mỗi một ngày tôi thấy trong người cứ rạo rực thế nào ấy. Hồi bấy giờ trong đám bạn trai ở trường Thức học lớp 10 B cũng là người cùng làng đã làm trái tim tôi xao động. Thức người thanh thanh khá đẹp trai tính nết hiền từ. Chao ôi những ngày đến trường nếu hôm đó Thức không đi học tôi không thể làm được bài. Rồi khi về nhà tôi lấy cớ ra chợ đón mẹ để được đi qua ngõ nhà Thức cố nhìn thấy Thức một lần rồi chạy vù đi. Chuyện ấy cha tôi không biết. Hình như Thức cũng không biết.
Cái làng Hải Ngư của tôi là một làng cá nằm dọc bờ biển Thanh Hóa. Các cụ kể rằng ngày xưa một đoàn thuyền chài từ một cửa lạch phía bắc đuổi theo một tía cá nổi vào đến vùng biển này mới vây được cá. Thấy bờ biển có vị thế cho các bãi cá trú ngụ nên đoàn thuyền liền tấp lên bờ lập làng. Những người đàn ông làng tôi da ai cũng rám nắng bàn tay bàn chân thô tháp và sần sùi như vỏ cây vì suốt ngày họ kéo lưới trên biển. Những người đàn bà thường phải gánh cá qua các cồn cát vào những trưa hè. Bàn chân của họ luôn luôn phải nhón lên tránh bỏng rát nên những ngón chân chúm chím như chân chim. Ngư dân làng tôi tính tình bộc trực nói năng thẳng tuột như mái chèo chém sóng. Nhưng Thức thì mềm dẻo thư sinh.
 Năm ấy cả hai chị em tôi sắp tốt nghiệp cấp ba thì bọn Mỹ bắn phá miền Bắc. Cuộc chiến tranh mỗi ngày một ác liệt. Con trai trong làng tôi lần lượt lên đường ra trận cả những thằng bạn trai vừa tốt nghiệp xong thậm chí nhiều đứa bỏ dở chương trình phổ thông để lên đường đánh Mỹ. Hôm chuẩn bị có đợt tuyển tân binh tôi nhận ra chị Hoa đã yêu Thục bạn học cùng lớp và cũng là người xóm trên. Thục là con trai cả của ông Điều cán bộ tuyên huấn huyện ủy. Mấy hôm sắp vào bộ đội tôi thấy Thục và chị Hoa cứ len lén tìm nhau. Rồi trong một buổi tối sáng trăng tôi rình bắt được hai người ngồi tâm sự trên cồn cát đầu rừng phi lao ngoài bãi biển. Té ra từ lâu Thục không đến nhà tôi là vì sợ cha tôi hơn nữa tính nết hai người cũng có vẻ kín đáo nên họ yêu nhau trong thầm lặng. Không hiểu sao tôi liền mách với cha tôi. Cha đánh cho chị Hoa một trận. Cha bảo: Nhà ta phải giữ nền nếp không được nói chuyện riêng với con trai ngoài đường. Nhưng rồi hôm sau ông Điều đi xe đạp từ huyện về đến thẳng nhà tôi. Cha tôi là người rất nể trọng những cán bộ cấp trên. Khi nghe ông Điều nói ông đến để đặt vấn đề xin cưới chị Hoa cho Thục trước khi Thục đi bộ đội cha tôi cũng phấn chấn. Sau này cha tôi bảo lúc đó cha phấn chấn vì gia đình ông Điều  rất có uy tín trong vùng: “ông ấy là cán bộ huyện ủy cơ đấy" - cha tôi nói. “Hơn nữa Thục sắp tình nguyện ra chiến trường lại muốn hỏi chị Hoa về làm con dâu thì cha tự hào lắm". Nhưng cha cũng thận trọng nói rằng cha mẹ định cho chị Hoa vào đại học chứ chưa muốn gả chồng. Ông Điều nói với cha tôi là ông sẽ xếp việc cho chị Hoa ngay sau khi tốt nghiệp cấp Ba. “Cháu nó vừa công tác vừa làm vợ chiến sĩ là quá vinh quang rồi". Ngay vài hôm sau lễ cưới được tổ chức. Đám cưới cũng rất giản dị chỉ có bánh kẹo nước chè xanh và trầu cau. Nhiều bà con đi biển đi chợ về tạt qua kéo vào dự cưới rất vui. Anh Thục cưới chị Hoa được vài hôm thì lên đường nhập ngũ đơn vị anh huấn luyện hơn một tháng ở miền núi rồi vào Nam chiến đấu ngay. Chị Hoa và tôi ba tháng sau tốt nghiệp. Chị được ông Điều xin huyện cho chị làm cán bộ phụ nữ xã. Còn tôi vào học lớp giáo viên mầm non. Hơn một năm sau anh Thức cũng cưới tôi. Khi ấy Thức đã là dân quân bám biển.
Thế rồi cuối năm ấy không hiểu số phận thế nào mà hai tin sét đánh đến cùng một lúc với hai chị em tôi. Một buổi tối tôi sắp lên giường đi ngủ thì được biết bom Mỹ dội vào thuyền anh Thức lúc trưa chiếc thuyền vỡ tan ngoài khơi cả ba người đi trên thuyền đều chết chìm. Một tiếng sau có tin từ huyện đội về báo anh Thục cũng đã hi sinh ngoài chiến trường.
Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái đêm đau đớn ấy. Cả nhà chồng tôi khóc vang. Hàng xóm chạy đến đầy nhà. Tôi gào lên ôm mặt gục xuống gối một lúc rồi tôi len qua đám đông trên sân nhà lững thững bước ra rừng phi lao. Tôi chạy dọc biển xé toạc những con sóng như chiếc khăn tang đang quấn lấy bờ cát. Lúc tôi bước vào nhà cha mẹ đẻ chị Hoa đang gục vào lòng mẹ khóc tức tưởi. Còn cha tôi ngồi lặng đi bên chiếc bàn có ngọn đèn dầu leo lét.
Hồi đó chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lên cao. Làng bị máy bay ném bom liên tục nhất là trên biển không ngày nào không có thuyền đánh cá bị trúng bom Mỹ ngư dân bị thương vong khá nhiều làng tôi đưa các cụ già và trẻ em đi sơ tán khắp nơi nhưng rồi chỉ một thời gian sau dạn dày bom đạn mọi người lại trở về. Chị Hoa vẫn làm công tác phụ nữ xã tôi thì dạy học trong căn hầm mái nhà ngoài rừng phi lao. Thỉnh thoảng chị em tôi gặp nhau lại ôm nhau khóc thút thít. Tôi thương chị Hoa hơn thương cả bản thân mình. Nhưng chị Hoa lại lo cho tôi. Một lần ngồi với nhau hơi lâu chị bảo:
- Mày phải giữ lấy nhan sắc để rồi còn gây dựng lại với ai đó.
Tôi nhìn chị Hoa chằm chằm dường như chị biết tôi cũng muốn hỏi chị điều gì nhưng chị chỉ gạt nước mắt rồi khẽ lắc đầu thở dài:
- Mày đừng lo cho chị chị còn nặng gánh nghĩa vụ hơn mày.
Thỉnh thoảng cha tôi gọi hai chị em tôi đến nhà cha nói đi nói lại nhiều lần mấy lời:
 - Bố mẹ nào mà không thương con. Nhưng nhà ta tiếng là gia giáo các con phải coi trọng danh giá. Đàn bà con gái chết chồng sống phải có khuôn phép.
Tôi hiểu cha tôi muốn nhắc tôi điều gì. ở làng tôi con gái có số phận như chị Hoa và tôi hầu hết thờ chồng ba năm phải sống trong âm thầm lặng lẽ đi ra đường không được ngẩng mặt lên nhìn ai đoạn tang xong có muốn đi bước nữa mới được phép. Nhiều người sau đó hết duyên không có cơ hội phải ở vậy cho đến già. Nhưng tôi phải thú thật là sau khi anh Thức mất chỉ một thời gian đau buồn lắng dần trong người tôi có một tình cảm rất lạ trỗi dậy. Hầu như có điều gì đó luôn khêu gợi những tình cảm sinh lý của tôi. Ban ngày hễ gặp một người đàn ông dễ hấp dẫn là đêm đến tôi lại nằm mơ. Có hôm giấc mơ xao xuyến đến lạ. Một lần đang ngủ tôi bất chợt kêu tên một đứa trai làng thành tiếng làm mẹ chồng tôi đang nằm ở giường ngoài hốt hoảng chạy vào buồng lay gọi tôi. Có một buổi trưa tan buổi dạy học tôi đưa một đứa bé về nhà nó. Mẹ nó đi vắng bố đứa bé mặc quần đùi cởi trần đang bưng rổ cá khô xếp vào chiếc vại ở góc nhà. Tôi bảo anh ta xếp cá không đúng quy cách liền đến bên hướng dẫn cách xếp. Luống cuống thế nào bộ ngực của tôi chạm vào vai anh làm anh ta giật mình đánh đổ rổ cá trên tay. Tôi bối rối đứng đấy. Đột nhiên mẹ đứa bé về. Chị ta hằm hằm nhìn tôi. Hôm sau đám đàn ông cứ thấy tôi ra đường là sán lại trêu ghẹo. Tôi cũng không vừa. Không hiểu sao những lúc như bị chạm nọc tôi cứ thích tuôn ra những lời bỗ bã. Sau đó nghĩ lại tôi thấy mình quả không được chín chắn. Có điều tính nết của tôi từ khi lớn lên đã vậy. Nhưng hình như những lúc được nói năng tợn tạo thỏa sức người tôi như được giải tỏa đôi khi còn thấy như thế nó đã vơi đi nỗi nặng nề u uất đang dồn nén trong lòng. Thế rồi thành thói quen lúc nào tôi cũng không biết nữa chả bao giờ tôi còn giữ mồm giữ miệng. Dần dần tôi trở thành một người đàn bà đỏng đảnh lẳng lơ có tiếng trong làng. Có lẽ do những cử chỉ lời nói cách đi lại của tôi mà người ta bỗng nhiên gọi tôi là “Thị Mầu" trong làng. Nghe người ta gọi thế tôi chột dạ cảm thấy mình như có lỗi đôi lúc tôi cũng muốn tự uốn nắn lại mình nhưng muộn mất rồi tôi thấy mình đã quá đà nhưng biết làm thế nào? Có hôm cha quát tôi:
- Tao nghe nói con Hương tính nết lăng nhăng nói năng không biết giữ ý tứ liệu đấy.
Nhưng hồi ấy người tôi cứ hừng hực như lò lửa tôi không dấu được nỗi khát khao trỗi dậy trong lòng. Nhiều đêm tôi giật mình thức giấc vùng chạy qua rừng phi lao chạy dọc bờ biển dẫm đạp lên những con sóng cứ lần lượt ngã sóng soài dưới chân tôi. Thế rồi một hôm tôi ra biển tắm không hiểu sao tôi lặn tọt qua háng một thằng con trai nó kẹp tôi lại giữa hai chân làm tôi sặc sụa. Chuyện động trời ấy lọt đến tai mẹ chồng tôi bà kéo sềnh sệch tôi về nhà mẹ đẻ. Bà tức giận nói với cha tôi:
- Chị Hương làm dâu nhà tôi nhưng là con ông. Ông làm nghề dạy học nhà có tiếng là nền nếp. Nhưng tôi sợ lắm ông ơi. Chị Hương đây nhỡ bụng to trong nhà tôi vợ chồng tôi đeo mo vào mặt à? Vì thế chúng tôi phá lệ trả chị Hương về cho ông bà dạy dỗ…
Lúc đó cha tôi tím mặt đi. Bà thông gia bước thình thịch ra ngõ rồi mà cha tôi vẫn đứng trân trân giữa nhà. Tối hôm đó cha gầm lên với mẹ:
- Con gái bà là đứa con gái bất trị… Bây giờ bà tính sao ?
Mẹ tôi gạt nước mắt khẽ lắc đầu:
- Cha mẹ sinh người trời sinh tính mà ông.
Thế rồi cha tôi kiếm cái dây sắt buộc chân tôi nhốt tôi trong buồng. Được ba ngày nghĩ thế nào cha gọi chị Hoa lại bảo chị cởi xiềng cho tôi rồi cha nói:
- Cha giao con Hương cho mày. Nhất thiết mày không được dời nó nửa bước. Mày có trách nhiệm rèn rũa sửa chữa tính nết của nó…
Từ hôm đó cha xin hợp tác xã cho người thay tôi dạy lớp mẫu giáo. Sáng sáng chị Hoa từ nhà chồng đi xuống các thôn lúc đi chị đến bắt  tôi ngồi sau chiếc xe đạp cà tàng của chị như một con chó con chị buộc chặt vào đấy. Chị Hoa vừa nghiêm khắc vừa cẩn thận chăm sóc tôi. Chị bảo: Tại mày có biểu hiện hư tính hư nết. Tao cũng chỉ lo rồi mày làm khổ bố mẹ làm xấu cả tao… Nghe chị Hoa nói tôi chỉ tủm tỉm cười. Một hôm tôi bất ngờ hỏi chị:
- Chị Hoa không thích đàn ông à?
 Bị hỏi đột ngột chị Hoa đỏ mặt lên rồi gõ vào trán tôi:
- Con nỡm…
Thế nhưng nhiều tối chị Hoa xin phép bố mẹ chồng sang ngủ với tôi. Có đêm tôi cũng thấy chị cũng trằn trọc tới khuya đôi khi bất chợt chị thở dài…
Tôi đi với chị Hoa một thời gian mới thấy công việc của chị sao mà cuốn hút vừa tu dưỡng thêm cho tính cách của chị. Hàng ngày chị xuống gặp các gia đình có người thân ngoài mặt trận để giúp đỡ họ. Chủ yếu là vợ bộ đội. Chị thăm hỏi sức khỏe họ trò chuyện và nắm bắt tình hình hỏi họ có gì khúc mắc trong đời sống? Đối với những người đàn bà có chồng đã là liệt sĩ chị thường ở với họ lâu hơn. Đôi lúc chị cùng họ làm việc. Chị đem đến những tấm lưới cũ của hợp tác xã cho họ ngồi vá để lấy công điểm Cùng họ phơi cá. Lúc ra về bao giờ chị cũng nói một câu quen thuộc: Nhớ đảm đang thủy chung nhé.
Tóm lại chị Hoa của tôi là một người làm công tác xã hội rất khéo. Chị là người nghiêm túc đứng đắn. Đối với nam giới chị tỏ ra kính trọng và lạnh lùng. Không bao giờ đứng quá gần và ngồi lâu với họ. Nhất là các cán bộ trong liên hệ công tác bao giờ chị cũng: báo cáo đồng chí A đồng chí B xưng tôi mà không bao giờ gọi một tiếng anh và xưng em. Chị Hoa không thích nói đùa nhất là những lời nói đùa quá trớn. Hàng ngày thường vào những buổi cơm tối cha tôi lại nhắc:
- Chị Hoa mày là một cán bộ có tín nhiệm tính nết nó thì bố mẹ thật yên tâm rồi. Mày phải học bằng đựợc chị mày.
Nhưng rồi tôi cũng chả học được chị mấy. Trong căn phòng làm việc ở xã của chị Hoa thỉnh thoảng có cuộc họp của các chị phụ nữ là tổ trưởng. Có hôm họ nói chuyện ồn ào rồi cười phá lên. Chị Hoa viết dòng chữ trên tờ giấy bìa: ở đây không được nói tục. Tôi thấy buồn cười liền cầm phấn viết thêm: Chẳng hạn không được nói chuyện c… chuyện l… Chị Hoa liền xé tờ giấy đi chị tát cho tôi một cái…
Bấy giờ cũng đã vào những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc. Chị Hoa của tôi được mọi người trong xã coi như một tấm gương. ở các cuộc họp người ta thường đưa chị Hoa ra biểu giương. Họ nêu tên chị nhiều lần trên loa phát thanh của xã. Bên nhà chồng chị được ông bà Điều khen nức nở. Cha mẹ tôi thì còn phải nói hai cụ tự hào về chị Hoa. Năm ấy hai chị em tôi đã ở tuổi ba mươi. Một hôm tôi giật mình nhận ra chị Hoa không còn vẻ đẹp như xưa. Chị gầy đi da hơi rám nắng đôi bên má đã có nhiều ngoặc đơn ngoặc kép mắt cũng đã rạn chân chim. Thấy chị có vẻ tiều tụy tôi vội lấy gương ra soi. Biết mình cũng bắt đầu vào cuối mùa xuân sắc tôi thấy lo lắng thế nào. Một hôm có một anh chàng ở làng bên cho người sang nhà tôi nói chuyện với cha:
- Bác Kha này. Nhà bác có hai cô con gái đều dở dang chuyện chồng con đã lâu. Chẳng lẽ để cả hai ở vậy. Nhưng cô Hương thì tính nết hình như không chín chắn không ai chấp nhận được. Anh Toành con ông Tương muốn hỏi cô Hoa làm vợ nếu bác và cô Hoa đồng ý nhà ông Tương sẽ tổ chức cưới ngay.
Cha tôi phân vân chưa nói gì nhưng mẹ tôi thì có vẻ mừng mẹ cho gọi chị Hoa sang nhà. Chị Hoa bảo:
    - Cái nhà anh Toành con không lạ gì. Anh ấy là con một nên được miễn nghĩa vụ quân sự. Người thì cũng được đấy nhưng anh ta sợ máy bay ném bom. Hàng ngày nghe tiếng máy bay là anh ta run như cầy sấy cứ chui lủi dưới hầm con lấy làm chồng thì còn mặt mũi nào nhìn ai.
Tôi gọi chị Hoa ra một chỗ nói:
- Đây là cơ hội hiếm hoi sao chị không đồng ý phứa đi. Hồi này máy bay oanh tạc nhiều cưới thì rước dâu vào buổi tối để em làm dâu thế chị có được không?
Chị Hoa quát lên:
- Ai xui mày bày ra cái trò vớ vẩn ấy?
Rồi vào một đêm mùa hè giữa lúc thủy triều lên mạnh tôi giật mình thức giấc. Biển ngoài kia sóng vỗ ào ạt cha mẹ tôi vẫn đang ngủ yên trên chiếc giường cũ kỹ kê ở góc nhà. Có điều gì đấy làm lòng tôi bỗng nhiên trở nên xao động đến lạ. Tôi nghĩ về tuổi già của cha mẹ tôi rồi thời gian sẽ đưa các cụ đi xa mãi mãi. ừ bấy giờ căn nhà sẽ chỉ còn lại mình tôi. Cho dù chị Hoa rồi cũng sẽ trở về đây với tôi khi ông bà Điều qua đời. Hai tấm thân đơn côi của hai chị em tôi sẽ tựa vào nhau cho đến cuối đời? Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi đứng dậy đi qua rừng phi lao ra biển. Trăng sáng vằng vặc ánh trăng rải khắp mặt biển mờ ảo. Bờ biển làng Hải Ngư chạy dài theo rừng phi lao. Có một người đàn ông đang đẩy te ven bờ. Bóng anh ta cao lêu nghêu bởi đôi chân kheo bám dọc đáy biển. Không cầm lòng được tôi cởi áo ngoài lao ra với anh.
Anh ta bị đuổi ra khỏi làng bởi đã tằng tịu với mấy người đàn bà chưa chồng. Mãi sau này tôi mới biết có chuyện ấy khi tôi đã mang thai cùng anh cũng vào một đêm ánh trăng rải đầy trên biển.
Cái làng Hải Ngư của tôi với những người đàn ông quanh năm chém sóng trải gió trên biển và những người đàn bà chân trần gánh cá chạy chợ qua cồn cát bỗng xôn xao về chuyện bụng tôi mỗi ngày mỗi to. Cha tôi nghe chuyện lặng người đi. Người mua rượu về uống lần đầu tiên cha tôi uống rượu. Cha gọi chị Hoa về:
 - Mày kèm cặp con Hương như thế phải không?
Mẹ tôi lo sợ quỳ xuống bên tôi xin cha:
- Ông à con nó trót dại biết làm sao bây giờ…
Cha tôi đập tan chai rượu quát lên:
 - Bà bao che cho nó thì tôi tự tử truớc mặt bà.
Rồi cha chỉ vào mặt tôi:
- Cút ra khỏi nhà.
Tôi ôm gói nhỏ quần áo đứng lên. Mẹ tôi cố níu tôi lại nhưng không thể. Tối hôm ấy tôi ra đầu rừng phi lao lấy vạt cát trắng mịn dưới chân tôi làm chiếu tôi nằm ngửa ngước mắt nhìn bầu trời đầy sao qua những kẽ lá phi lao. Ngoài kia tiếng sóng như tiếng hát ru hời. Tôi ngủ thiếp đi. Cho đến một đêm sáng ra tôi thức dậy có ai đó đã dựng cho tôi chiếc lều tạm lợp bằng những cành phi lao nhỏ. Rồi mấy tháng sau một mình tôi sinh con. Thằng con trai của tôi đẹp như chúa hài đồng. Cha tôi cấm mẹ tôi không được nhìn mặt tôi. Nhưng rồi một hôm chị Hoa lẻn ra rừng phi lao với mẹ con tôi. Chị ôm thằng bé reo lên:
- Cục vàng của bác…
Tôi nhìn chị Hoa mà ứa nước mắt. Chị gầy rộc đi. Khuôn mặt đầy tàn nhang. Thời gian sao phũ phàng quá vậy. Nhan sắc một thời của chị tôi đã biến đâu mất rồi. Chị Hoa nói:
- Dạo này thỉnh thoảng chị lại bị ốm… Người tôi xốn sang hẳn. Tôi bế thằng con lên. Ngoài kia tiếng sóng biển đang cất lên những lời ru êm ái ngọt ngào.
                                                                                   N.V.Đ   


More...

Truyện ngắn dự thi

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 
 
 


Phạm Văn Liệu



Mùa dừa bánh tẻ


Truyện ngắn dự thi

 
       - Con có cái này làm quà cho mẹ đây!
Nguyệt hạ cái túi xách xuống bàn cô vạch khóa lấy ra tập sách! Chị Thắm mắng yêu con:
- Cái con này phụ nữ nhà quê như mẹ lúc nào mà đọc sách! - Chị tò mò - Mà sách gì vậy con.
- Đây là tập bút ký có tựa đề “Nghi Sơn ngày nay Bãi Ngọc ngày xưa”. Sách viết về đơn vị thanh niên xung phong 117. Tác giả mô tả cô cán bộ thống kê của đơn vị với một tình cảm đặc biệt. Thế nào mẹ đã thích chưa?
Mặt Thắm nóng bừng:
- Ai biết chuyện của mẹ ngày ấy mà viết thế?
Nguyệt lật bìa hai tập sách:
- Đây là mấy dòng tóm tắt lí lịch tác giả con đọc cho mẹ nghe: Lê Vũ - tên thật Lê Nguyệt Minh sinh năm 1944 tại Hà Nội đã từng là sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã tu nghiệp tại nước ngoài hiện nay là thạc sĩ văn chương cán bộ giảng dạy trường đại học. Có cả ảnh tác giả đấy mẹ!
Nguyệt chỉ vào chỗ tấm ảnh chân dung của tác giả.
Chị Thắm như bị tấm ảnh thôi miên. Chị không tin vào mắt mình “chả lẽ là người này” Mặt chị biến sắc người rã ra. Thấy vậy. Nguyệt lo lắng đặt tay lên trán mẹ:
- Mẹ! Mẹ làm sao thế này?
Chị cố gượng:
- Mẹ có làm sao đâu
- Không phải mẹ ốm rồi để con...
Chị gắt con:
- Đã bảo mẹ không sao mà!
Mười bảy tuổi Thắm đi thanh niên xung phong sau đó chuyển về cơ quan huyện làm văn phòng. Thắm kết hôn với Đàm một bộ đội phục viên người cùng làng.
Mẹ Đàm mất sớm anh phải ở với gì ghẻ. Bố Đàm bất lực trong công việc điều hành gia đình. Cô em gái cùng cha khác mẹ ốm o nhõng nhẽo đành hanh. Công việc lớn nhỏ trong nhà dồn vào vai Đàm mà tình yêu thương anh nhận được lại quá ít ỏi. Chính vì vậy nên Đàm sớm có tình cảm sâu sắc với những người nghèo khó cô đơn. Chỉ vì lực học mới qua lớp bốn nên bị gạch tên khỏi danh sách đi học sĩ quan anh phục viên với cấp bậc thượng sĩ.
Về hôm trước hôm sau anh đã chạy thăm hỏi khắp các gia đình trong nhà. Nhà ai đứt bữa nhà ai mái dột cột xiêu lui tới giúp đỡ. Không phải vì cương vị bí thư chi bộ mà ở con người anh tinh thần trách nhiệm với cộng đồng rất cao cũng một phần được rèn luyện trong ba năm quân ngũ.
Mẹ Thắm ở một mình mà nhà lại nghèo nên Đàm thường xuyên qua lại thăm hỏi. Có lần bà bị sốt rất cao Đàm chạy đi lấy lá hương nhu lá sả vào bếp nấu nồi trước cho bà xông đuổi cảm. Thấy bà ho nhiều anh lên tận hiệu thuốc Đông Y huyện cân cho bà mấy thang thuốc. Đêm hôm mưa gió anh chạy đến đắp lại chỗ mái nhà bị dột cài lại cái rèm che gió...
Đàm thì vô tư. Đối với thắm Đàm cũng chả quen biết gì nhiều. Tiếng là cùng làng nhưng Thắm hơn Đàm đến ba tuổi. Ngày Thắm đi thanh niên xung phong thì Đàm chưa biết gì anh đi bộ đội về thì Thắm lại đi “thoát ly”.
Hôm Đàm vác cuốc đi đắp mương trông thấy một cô gái đang cố nhảy lên ý chừng để vít cành bưởi xuống hái lá. Cành bưởi thì cao cô gái nhảy nhiều lần vẫn không với được. Tóc cô xõa ra che kín cả mặt đến nỗi Đàm đến bên cô vẫn không biết.
- Để tôi hái giúp!
Đàm thoăn thoắt trèo lên cây bưởi hái lá tung xuống cho cô gái làm cho cả những chùm hoa bưởi mỏng tang trắng muốt rắc xuống đậu đầy mái tóc đen nhánh của cô.
- Cám ơn anh!
Cô vén mái tóc ngẩng nhìn anh cái miệng rộng khi cười khuôn mặt người con trai tươi tắn lạ! Anh cao to vai rộng ngực nở bắp thịt nổi cuồn cuộn trông như một vận động viên thể hình.
- Kìa tay anh chảy máu rồi!
Cô gái hốt hoảng. Đàm dấu tay mình ra sau lưng thản nhiên:
- Sớt tí da thôi mà!
-    Không ! Anh phải vào nhà tôi xoa thuốc kẻo bị nhiễm trùng!
Cô gái thu vén nắm lá bưởi đi trước. Đàm lưỡng lự đi theo cô.
Cô gái nhẹ nhàng xoa thuốc đỏ tươi rồi quấn những vòng vải băng trắng tinh quanh tay anh. Nhìn thấy bàn tay nhỏ nhắn nuột nà của cô gái Đàm ngượng ngùng rút vội bàn tay thô nhám của mình về.
Bà cụ trong bếp đi ra:
- Kìa anh Đàm anh đau tay à?
- Dạ vâng thế đây là...?
- ừ đây là Thắm con gái tôi hôm nay nó về nghỉ...
- Thế ạ... à cháu... cháu bỏ quên cái cuốc ngoài kia... cháu...
Từ đó chủ nhật Thắm về Đàm lại đem nắm lá bưởi sang cho cô nấu nước gội đầu. Có hôm Đàm đem vài cái đinh con đóng lại cái quai guốc bị bong cho Thắm (Dạo ấy nữ công chức thường đi guốc cao gót). Có hôm Đàm ôm cả đống sổ sách sang nhà Thắm hai người cộng cộng trừ trừ đến khuya... Thắm biết Đàm yêu mình.
- Ai chứ cái nhà anh Đàm mẹ cho là tốt nhất! Mà cái số long đong vậy cũng phải tìm người thật thà yêu thương mình mà nhờ con ạ - Mẹ Thắm nhẹ nhàng khuyên nhủ con.
Vì hoàn cảnh nhà Thắm neo người nên Đàm tự nguyện đến ở rể.
Cứ chiều thứ bảy là Đàm bất kể thời tiết đạp xe lên tận cổng huyện đón đợi đưa Thắm về. Cá dưới ao đã vào nơm bắt lên thấy to quá Đàm vuốt đuôi thả xuống đợi chủ nhật Thắm về mới bắt.
Cứ mỗi lần cơ quan có hàng phân phối Thắm lại nói khó với chị thư ký công đoàn nhường cho mình cái áo lót nam Trung Quốc hay mảnh vải ka ki đem về tặng chồng
Họ hiểu nhau tôn trọng nhau chiều nhau từ miếng ăn đến giấc ngủ. Trong tình cảm Đàm toàn tâm toàn ý còn Thắm không giả dối nhưng từ đáy sâu tâm hồn có cái gì đó cứ u hoài khắc khoải. Cả hai đều biết điều đó. Đàm vốn là người đàn ông độ lượng biết thông cảm nên cũng chiều vợ điều đó. Họ sống với nhau cũng hạnh phúc.
Chưa được một năm thì Đàm được lệnh tái ngũ.
Một năm sau nữa thì có giấy báo tử Trần Đình Đàm.
Thắm nuốt đau thương vào trong nuôi con. Chị đem mẹ lên cơ quan để chăm nom đứa cháu trứng nước. Suất lương hành chính ba chục đồng nuôi ba bà cháu mẹ con.
Hết giờ hành chính chị chạy về bê mẹt hàng lagim ra ngồi hè phố huyện bán bán mua mua. Miệng chị đon đả chào người khách qua đường tai dỏng lên nghe tiếng kẻng báo giờ làm của cơ quan lại chạy về ôm sổ sách lên văn phòng. Có hôm chị đứng ngoài cửa nghe bà nựng cháu: Cún con của bà nhẻ... ở đây bức bách lắm. Ăn miếng trầu cũng không có bạn nhạt thếch cái mồm. Không có bạn ngồi khảo lại cái tích Tống Trân thi đỗ trạng nguyên... Bà có bài ru Kiều càng sắc sảo mặn mà dài lắm hay lắm mà ở đây ru cháu chẳng dám ru to sợ làm nhà bên mất giấc ngủ cháu bà nhẻ... ở quê cái gì chẳng nói chứ con cua con ốc rau khoai rau má quanh vườn vơ vào hàng rổ tha hồ ăn hỗn. Bà muốn về quê bỏ “anh” lợn choai vào chuồng nhen vài “ả” gà mái ri kiếm ổ trứng quấy bột cho cháu cùn của bà nhẻ... Là sợ mẹ cháu buồn nên bà không dám nói ra chứ ... cún con của bà nhẻ...
Chị nghĩ mà thương mẹ quá!.
Chị xin nghỉ việc cơ quan bà cháu mẹ con bồng trống nhau về quê nuôi nhau. Người ta bảo: Gái có chồng như rồng thêm vây. Đằng này mẹ con đàn bà góa ai thèm ngó ngàng. Được cái chị bấm bụng chịu thiếu thốn không vay công lĩnh nợ của ai.
Mấy năm sau đó mẹ chị qua đời.
Trong thôn chuyển sang phương thức khoán ruộng đất đến người lao động. Ưu tiên vợ liệt sĩ chị được nhận gần mẫu ruộng. Chị hùn vốn tậu chung với hàng xóm được hai cẳng con trâu. Ngoài đồng khoai lúa tốt như chiêm bao. Trong vườn mùa nào thức ấy. Đủ ăn trong nhà còn thừa đem bán lấy tiền dầu đèn sách vở cho con. Trời đã nhìn lại. Cái Nguyệt càng lớn càng xinh chăm ngoan học giỏi. Mười bảy tuổi Nguyệt đã đậu vào đại học.
Khó khăn rồi cũng lui dần về dĩ vãng của mỗi cuộc đời. Cũng như cái cày cái cuốc càng làm càng sáng chói ra. ở cái tuổi bốn bảy thân thể chị như dãn nở viên mãn đằm sâu. Mái tóc dài gần chấm gót trước đây chị chỉ thấy vướng bận bức bối phiền toái chị phải đưa tay cào cào bới bới rồi búi tó lại phía sau cho gọn bây giờ khẽ đặt cái lược nhẹ nhàng lướt đi lướt lại cho nó mượt mà óng ả rồi quấn tràn mấy vòng quanh đầu để lộ cái gáy cổ trắng ngần. Chị soi gương thấy mắt mình đen láy lúng liếng như có nước bên trong bất giác chị cười. Đôi môi hơi dày đỏ sậm hé lộ hàm răng trắng ngà. Lòng chị thấy rưng rưng. Chị chỉ muốn những kỷ niệm trôi tuột khỏi cuộc đời mình để mặc chị âm thầm mà sống.
Vậy mà bỗng dưng con bé lại đem tập sách ấy về...
Hè năm sau. Nguyệt mời thầy Vũ về thăm nhà mình.
Làng của Nguyệt như một rừng dừa. Những cây dừa lâu năm da mốc thếch lá rũ xuống đứng nghiêng hiền lành che chở cho lớp dừa tơ thân mập mạp căng hằn những vòng bẹ mới bóc. Lớp dừa mới trồng cao hơn đầu người tầu lá còn dóc lên mỗi khi có ngọn gió thổi nó khua khoắng lên không trung như những lưỡi kiếm ngộ nghĩnh. Lá dừa tầng thấp tầng cao đan xen lọc ánh mặt trời vẽ mặt đất thành tấm khăn thêu muôn ngàn đóa hoa kỳ thú. Tháng tư âm lịch dừa đang mùa bánh tẻ. Cây nào cây ấy ôm trên ngọn vô số những quả no tròn lùng lục.
                   *
Thắm đứng ở sân tung nắm thóc cho đàn gà đông đúc vây quanh. Ngoảnh nhìn chị suýt đánh rơi cái rá đựng thóc.
Hai người ngồi đối diện nhau cách một cái bàn con.
Thầy Vũ nhìn ra sân nơi đám gà đang quây quần nhặt thóc. Chị Thắm ngồi đầu cúi xuống mím chặt như cố giữ một cái gì đong bị kiếm thúc cứ chực bung ra.
Hè năm sau nữa. Mưa rào ào ào kéo đến.
Thắm nhìn ra sân nơi những bong bóng nước phập phồng. Chị nói một mình
- Mưa to thế này chắc cái Nguyệt phải ở lại nhà bạn nó thôi!
Chị quay lại nói với anh:
- Mà sao hôm nay con bé lại đốc chứng ra thế. Chị nhại lại tiếng con: “...Con xin phép bố mẹ đến chơi nhà bạn!...” - Cái mồm nó leo lẻo đáng ghét làm sao.
Anh cười nhẹ nhàng:
- Em... thật là... nó nhớ bạn thì xin đến thăm mà...
-    Anh lại bênh con rồi!.
Đột nhiên cả hai cùng ngượng. Họ vừa xưng hô với nhau bằng “anh - em” thật ngọt ngào êm ái làm sao! Kể từ cái ngày năm ngoái về đây anh vẫn gọi chị là chị Thắm” còn chị vẫn xưng một thầy giáo hai thầy giáo mà! Chị lại thẽ thọt:
- Anh này... Anh có thấy cái Nguyệt có gì lạ lắm không? Mấy hôm nay nó hay sang nhà ông chú chuyện trò gì đấy. Ông cháu có vẻ ăn ý lắm!
Anh hỏi lại như người ngẩn ngơ:
- Có chuyện đó thật sao?
Chị nhìn vào mặt anh thăm dò:
- Anh... anh không vui vì chuyện đó phải không ạ?
Anh lạnh lùng vô cảm. Chị quay mặt đi hờn dỗi:
- Vậy là em biết rồi. Chả trách vào Nam được một năm thì anh cắt đứt quan hệ thư từ với em. Ngày thống nhất người ta tìm về với nhau đôi lứa dập dìu. Còn anh? Anh không hề nhắm cho em lấy một lời. Em chạy đôn chạy đáo tìm anh. Gặp đoàn quân nào đi ra em cũng tìm gặp anh bộ đội nào em cũng hỏi. Em ra tận Hà Nội quê anh thì biết khi sơ tán về gia đình anh đã chuyển đi nơi khác... Vậy mà em vẫn đợi chờ vẫn hy vọng! Em cứ ước sao có phép lạ xảy ra. Chị thổn thức:
- Mới đây cái Nguyệt nói rằng anh vẫn chưa lập ra đình em lại cứ tưởng... Em lại hy vọng... cứ nghĩ đến chuyện anh đi vào Nam rồi đi luôn ra khỏi cuộc đời em em lại hận anh vô cùng nhưng không hiểu vì sao em lại không thoát ra khỏi anh được!
Anh vẫn im lặng não nề.
Chị chạy vào buồng đổ ập xuống giường. Tay chị cào cấu chân đạp tứ tung làm chăn chiếu trên giường lộn tùng phèo.
Không ngờ tình huống lại nghiêm trọng đến vậy. Anh hoảng hốt chạy vào theo ngồi xuống cạnh chị dỗ dành:
- Là...  
Chị ngồi bật dậy cay nghiệt:
 - Tôi biết bây giờ anh là giáo sư là nhà văn. Xung quanh anh thiếu gì người trẻ đẹp giàu có học cao tha hồ anh kén chọn. Còn tôi tôi là gái góa nhà quê nghèo hèn nhiều tuổi xấu xí - Giọng chị trở nên đắng đót - Mà nghĩ lại tôi với anh đã có hôn thú gì đâu. Tôi đã đi lấy chồng có con thì bây giờ tôi có quyền đòi hỏi ở anh điều gì kia chứa. Chị khóc nức nở.
Anh vẫn u sầu chịu trận. Nhưng chính sự im lặng của anh làm bốc thêm sự phẫn nộ ở chị:
- Vậy tại sao anh còn về đây? Tại sao anh lại chu cấp cho cái Nguyệt ăn học? Tại sao anh lại mua sắm bao nhiêu đồ dùng đem về cái nhà này? Tại sao anh lại quan tâm lo lắng cho tôi? Có phải anh đang đùa giỡn tôi? Hay anh thương hại tôi? Hay anh định trả cái giá mười năm tuổi xuân tôi chờ đợi anh?
Anh lựa lời giãi bày:
 - Là... anh chỉ sợ em phải chịu thiệt thòi...
- Anh lại còn biện bạch? Thiệt thòi gì cơ chứ? Mà thiệt thòi gì tôi cũng chấp nhận kia mà?
Tay anh run run kéo đầu chị vào ngực mình anh áp mặt vào mái tóc thơm mùi hoa bưởi. Nước mắt anh thấm đẫm tóc chị. Anh đã khóc. Trong đời anh đã trải qua bao cay đắng ngay cả khi vào mưa bom lửa đạn ôm thi thể đồng đội về phía sau anh vẫn giữ được “bản lĩnh đàn ông”. Vậy mà bây giờ anh đã khóc! Chị không biết rằng anh yêu chị vô hạn. Nhưng anh chỉ có thể đứng ngồi giữ một khoảng cách để chăm lo bảo vệ cho mẹ con chị.
Bất thần đôi cánh tay trần của chị khóa chặt lấy cổ anh kéo ghì anh lại. Chị hôn như mưa lên mặt môi anh - những nụ hôn đầy nhục cảm. Chị hổn hển:
- Anh Minh anh đã quên chuyện ngày ấy rồi sao?
- Anh quên sao được!
Ngày ấy...
Đảo Nghi Sơn trong những thập niên của thế kỷ hai mươi khi cuộc chiến giữa ta và đế quốc Mỹ bước vào gian đoạn khốc liệt nhân dân trên đảo phải đi sơ tán chỉ còn lại dân quân phối hợp với đơn vị pháo phòng không trực chiến. Cũng thời gian này nhà nước quyết định đắp con đê quai nối đất liền với mỏm phía bắc của đảo tạo ra phía trong nó một cánh đồng muối rộng lớn và phục vụ đắc lực cho công tác quốc phòng. Công trường đắp đê này lấy tên là công trường Bãi Ngọc.
Trong một cuộc chiến đấu chiếc máy bay Mỹ bốc cháy tên phi công rơi xuống biển. Chúng huy động các loại máy bay đến định cứu tên chỉ huy quan trọng này. Vừa trút bom đạn thành vòng tròn ngăn không cho ta tiếp cận tên giặc đang ngoi ngóp dưới nước chúng vừa thả thang dây xuống định vớt đồng bọn. Trong bờ xé nước lao ra quyết không để cho nó thoát. Hàng chục chiếc máy bay bâu vào gầm rú lộn nhào điên cuồng. Đạn pháo của ta từ các trận địa trong đất liền vươn ra quấn chặt lấy chúng. Cả vùng biển sôi lên. Mấy chiếc máy bay tóe lửa phụt khói đen cắm đầu xuống biển. Nhiều chiếc thuyền bè của ta bật tung lên văng ra nhiều mảnh. Chiếc thủy phi cơ khổng lồ mang cờ hiệu Mỹ vè vè đáp xuống mặt nước gần tiếp cận được tên giặc liền bị quả đạn pháo từ vị trí cầu Đồi cắt đứt đôi. Nó thành một đụn lửa khói chìm nghỉm xuống đáy biển.
Thua cuộc cay cú chúng quay lại tập trung hỏa lực trả thù các trận địa pháo của ta. ác liệt nhất là trận địa pháo trên đảo Nghi Sơn. Cả hòn đảo rung chuyển chìm trong khói lửa. Người ta không còn phân biệt tiếng nổ từ phía nào nữa. Mỏm núi phía Bắc bị biến dạng vì bom đạn cày xới. Lửa trùm lên các hầm chứa đạn pháo. Một vài khẩu đội pháo bị trúng bom. Các nòng pháo cong lên im lặng. Đơn vị thanh niên xung phong 117 lao lên tiếp sức chiến đấu. Thắm dẫn đầu vượt tốp đang chuyển các đạn đến nơi an toàn. Một quả bom nổ gần cũng may họ kịp nép vào các hòn đá lớn nên không ai việc gì. Nhìn thấy khẩu đội pháo 135 ly bị trúng bom Thắm chạy ào tới. Một chiến sĩ bị thương nặng nằm sấp bất động trong vũng máu. Thắm xốc anh lên cõng về trạm phẫu. Mọi người lo lắng vì anh bộ đội mất nhiều máu sắp có nguy cơ đến tính mạng mà máu dự trữ đã hết phải chờ tuyến sau tiếp viện. Thắm gặp bác sĩ biết mình có cùng nhóm máu với người bị thương cô xung phong tiếp máu trực tiếp cho anh.
Hôm có anh bộ đội đến tìm Thắm ngờ ngợ đã gặp anh ở đâu? Tuy mầu da sạm nắng gió nhưng khuôn mặt anh vẫn trẻ măng. Nhất là khi anh cười nụ cười hiền dịu và đôi mắt trong sáng lạ thường. Anh tự giới thiệu:
- Tôi là lính phòng không trên đảo...
Nhìn thấy đầu dải băng trắng tòi ra ngoài áo Thắm đã đoán được đôi phần.
- Có phải anh là...?
- Vâng! Cô là Vũ Thị Thắm phải không?
- Sao anh biết?
- Tôi được bác sĩ cho biết chính cô đã cứu sống tôi.
Miệng tếu táo nhưng mặt anh đã đỏ nhừ:
- Dòng máu của cô đang chảy trong tim tôi!
- Anh anh nói quá đi...
Anh nhìn sâu vào mắt Thắm. Đôi mắt có ma lực quyến rũ đến kỳ lạ. Trong rừng phi lao im ắng - cái im ắng hiếm hoi giữa hai cuộc oanh tạc của giặc Mỹ - họ đã nói nhiều với nhau. Họ yêu nhau từ cái phút đầu tiên ấy và sau đó cứ hễ có dịp là họ hẹn hò...
Chuẩn bị chuyển vào Nam đơn vị cho Minh nghỉ một ngày cùng Thắm về quê thăm mẹ cô.
Nhà Thắm nằm ở cuối vùng chiêm trũng phía tây của huyện. Ngôi nhà nhỏ lợp lá kè khiêm tốn nép mình giữa vườn dừa. Chỉ những cây dừa bị bom Mỹ phạt đứt ngang trong trận oanh tạc hồi đầu tháng mẹ Thắm than thở:
- Anh xem những cây dừa sai quả đang mùa bánh tẻ... Đau xót quá!
Minh hỏi riêng Thắm:
- Sao lại gọi là dừa bánh tẻ?
- Là mùa quả dừa không còn non nhưng cũng chưa gì. Trong cuộc đời ngắn ngủi của quả dừa thì thời kỳ bánh tẻ là ngọt nước nhất... ngốc ạ!
Mẹ Thắm cười rất hiền lộ hàm răng nhuộm đen nhức tô đậm thêm vẻ thật thà chăm chỉ. Bà kể chuyện con gái:
- Bố nó mất lúc 14 tuổi. Học hết lớp 7 nhà nghèo lại đơn người không có điều kiện theo học tiếp. Thắng anh nó đi bộ đội đến hôm nay đã được hai năm bốn tháng tám ngày... Năm ngoái người về xã tuyển thanh niên xung phong. Thấy bạn bè ghi tên nó khóc thầm vì thương mẹ không dám nói ra... Tôi dắt nó ra giao cho anh cán bộ tuyển quân. Cả hai mẹ con đều khóc. Nghĩ mà thương nó lớn măng lớn sữa không biết có làm được việc gì hay chỉ tổ làm bận chân các anh các chị...
Minh cười:
- Không phải đâu mẹ ạ cô Thắm tiến bộ lắm. Cô ấy vừa được đề bạt cán bộ thống kê của đơn vị đấy ạ!
- Thế kia đấy !- Mẹ cười rạng rỡ. Thế mà thư về nó tịnh không nói! Cái con...
Giờ lâu mẹ hỏi:
- Hỏi khí không phải thế anh quê ở đâu ta?
- Dạ quê cháu ở Hà Nội ạ.
- Thế ông bà làm nghề gì có trường mạnh không?
- Bố cháu là bộ đội chống Pháp đã nghỉ hưu mẹ cháu đang dạy học.
- Anh được mấy anh chị em?
- Chỉ có chị cháu đang là cán bộ nhà nước. Còn cháu đi bộ đội hai năm rồi ạ!
Tiễn Minh và Thắm ra ngõ mẹ còn dặn với theo:
- Các con đi chân cứng đá mềm nhớ gửi thư về cho mẹ!
11 giờ đêm họ đến bến đò Du Độ.
Bến đò này cũng là điểm đánh phá thường xuyên của máy bay địch. Chúng nhằm cắt đứt huyết mạch giao thông giữa miền đất  xôi đậu phía Tây với miền cá muối mặn mòi phía Đông của huyện. Những khi cầu Vằng cầu Hổ trên quốc lộ 1A bị chúng cắt đứt chưa kịp nối được thì bến đò này là cái vạch duy nhất nối con đường từ quốc lộ rẽ ngang với con đường 4C vắt qua truông Đông Hồi chạy vào Nam. Khi triều xuống con sông chỉ rộng khoảng 300 mét nhưng khi chiều cường như thế này nó rộng gấp ba bốn lần.
Con đò chở quá tải trường ra sông rộng. Chưa được hai phần hành trình bỗng máy bay Mỹ kéo đến. Chúng thả vô số những dây pháo sáng xanh lét như lưỡi ma trơi. Chúng đã phát hiện ra con đò như một vết mực đậm đang di chuyển giữa trang giấy trắng. Chúng vãi đạn “đum đum” xuống quanh con đò như vãi trấu. Bom nổ đằng trước đằng sau bên trái bên phải làm mặt sóng như nghiêng đi dựng lên những cột sóng cao hàng chục mét. Con đò đầy thương tích bị nhấn chìm. Máu người loang lổ mặt nước. Hành lý trôi bập bềnh. Minh và Thắm nắm tay nhau chới với giữa dòng nước xiết. Tóc Thắm xõa qua quấn quanh cổ Minh. Cả hai đều  không biết bơi bị dòng nước ngụm lấy quăng quật. May sao họ dạt vào bãi xú vẹt. Minh dắt tay Thắm chạy vào bờ rồi cùng chạy vào hầm trú ẩn.
Máy bay Mỹ dính đạn pháo của ta kéo theo ngọn đuốc dài cắm xuống đất nổ tung.
Trận oanh tạc chấm dứt.
Bây giờ họ mới nhận ra hai người đang đứng nép vào nhau vì hầm trú ẩm quá hẹp. Trong bóng tối mắt Thắm như hai đốm lửa rực lên. Bộ ngực cô nõn nà căng tròn đang phập phồng. Da thịt họ cọ sát nào nhau không vướng một lần vải mỏng. Cơ thể Thắm căng lên chờ đợi. Tay Thắm run rẩy đụng vào chỗ nhạy cảm nhất của người đàn ông Minh bỗng né ra nói nhỏ vào tai cô:
-    Em ạ ta để dành đến ngày...!
Minh nhảy lên khỏi hầm rồi nghiêng người bế Thắm lên theo đi tiếp.
Thắm róng riết:
- Anh Minh anh đừng tự dối mình nữa! Em biết rõ anh vẫn còn yêu em đúng không anh?
Anh im lặng nhìn chị. Chị biết đó là lời thú nhận của anh sự thú nhận thật cảm động.
Tê mê và bồng bềnh
Tay chị mải miết trên da thịt anh. Bỗng chị hốt hoảng kêu lên:
- Sao thế này anh?
- Khi vào Nam được một năm trong một trận chiến đấu một mảnh bom kẻ thù đã...
Im lặng đến tận cùng của im lặng.
Rồi chị chính chị tỉnh táo hơn bao giờ hết chị lau nước mắt cho cả hai. Chị nói với anh: Anh vẫn là chồng em... suốt đời!...

                                                                               P.V.L


More...

Truyện ngắn dự thi

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 


Trịnh Ngọc Dự


ở cuối con đường

Truyện ngắn

 
 
      Xe xuất bến Kiên ngồi ở hàng ghế đầu có thể nhìn bao quát khung cảnh con đường mà xe đi tới trong tâm trạng lâng lâng khó tả. Nếu như không gặp lại Rượng - một người bạn cũ của anh ở Hà Nội chưa hẳn Kiên đã quyết định chuyến đi này
- Sau năm bảy lăm mình có gặp Tâm Miền ở Đông Hà - Rượng nói - nàng chuẩn bị hành lý để chuyển ra Bắc nàng nói nếu mình gặp được cậu thì cho nàng gửi lời hỏi thăm. Theo mình cậu nên gặp Miền mình thấy Miền rất muốn gặp lại cậu.
Những con người những vùng đất lại hiện ra mồn một. Miền Trung nắng gió đói rét và bom đạn... Nhiều lúc trong dòng suy nghĩ miên man Kiên không hiểu sao mình đã từng trải qua và đã qua được. Phải chăng là số phận của con người. Một thời sinh viên sôi nổi ngày ấy Kiên thi vào ngành xây dựng Hải Cảng với những khao khát lãng mạn sức quyến rũ của những bài hát ca ngợi những anh chàng thủy thủ những hải cảng sóng xanh và đàn hải âu... Nhưng rồi hai năm sau khi bước vào trường đại học máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc dữ dội lớp của anh phải chuyển sang học tiếp ngành Cầu đường theo yêu cầu của trên. Sau khi bảo vệ luận án cả lớp còn chưa kịp nhận bằng tốt nghiệp đã lên đường vào tuyến lửa.
Kiên đến nhận công tác ở đội cầu - đơn vị duy nhất thi công các loại cầu trên các tuyến đường ra mặt trận. Nhiệm vụ của anh là thiết kế các cây cầu kiểm tra giám sát thi công chính các công trình ấy. Cũng vì thế mà anh thường xuyên lên báo cáo trình duyệt đồ án thiết kế ở Ban Tiền phương. Tuy là chiến tranh nhưng địa điểm khu vực cơ quan vẫn được bố trí tập trung thành các đơn vị hành chính dọc theo tuyến đường và hơn thế nữa - con người vẫn sinh hoạt vui chơi cuộc sống vẫn diễn ra theo quy luật những gì nó cần có nó đòi hỏi… ở cơ quan bộ không ai không biết đến bài vè điểm từ người cao nhất đến những nhân vật then chốt trong Ban Chỉ huy các phòng nghiệp vụ các công trường trực thuộc… Kiên nghe và được mọi người ở phòng kỹ thuật của anh giải thích: “…Loa ông Thiệu điệu Tâm Miền ...”. ông Thiệu làm Trưởng Ban điều độ suốt ngày ngồi bên chiếc điện thoại nhận tin tức từ các tuyến đường có máy bay địch đánh phá các cây cầu bị sập phải khẩn trương sửa chữa rồi truyền lệnh của Ban Chỉ huy tới các đơn vị. Ông được biết nhiều biết trước mọi người vì thế có phần ba hoa. Chuyện vào ông sớm muộn mọi người cũng biết thành ra ông như cái loa vậy. Còn điệu Tâm Miền ấy à đó là một cô gái đẹp nổi tiếng công trường bộ nhưng điệu thì cũng nổi tiếng bao giờ gặp thì ông khắc biết. Kiên cười thầm ở cái tuổi sinh viên mới ra trường hễ nói đến cô này cô kia... không thể không tò mò tìm hiểu nhưng nếu ở đây nơi tiếp giáp với mặt trận một cô gái như thế cũng hay hay!
Rồi Kiên cũng gặp được cô gái ấy trong lần công tác đến đơn vị của cô hơn nữa lại ngồi ăn cơm với cô và mấy người bạn mà sau này anh cho rằng chưa bao giờ mình ăn một bữa cơm căng thẳng đến thế! Căng thẳng vì một nhẽ những chàng trai cô gái chưa vợ chưa chồng lần đầu gặp nhau giống như người đi xem mặt vậy. Kiên được cô “ưu tiên” chăm sóc vì là khách lạ nhưng cũng là do một cái gì đấy bắt gặp giữa hai người. Với anh một kỹ sư đẹp trai mới từ Hà Nội vào nhận công tác còn cô anh cũng biết là có cả một danh sách dài các chàng trai có máu mặt học vị chức tước ở công trường bộ ngỏ lời nhưng cô chưa nhận lời một ai. Sau tiếng mời chào hầu như không ai nói được câu nào để pha trò. Kiên để ý đúng là cô điệu thật: Cái bàn tay cầm đũa mà những ngón tay cong như ngón tay vũ nữ cô nhẹ nhàng cầm bát để xới cơm cho anh. Phàm có những cô gái đẹp mà trước họ mình không giám nhìn thẳng vào đôi mắt mạch máu cứ rần rật trong người mặt đỏ rừ lên. Kiên không biết là Miền có cái cảm giác ấy không khi gặp anh nhưng chưa đầy một tuần sau một người đi tuyến về chuyển cho anh lá thư của Miền thư không dán kín. Trong thư cô ý tứ những lời xã giao ra vẻ vô tư chỉ có người trong cuộc mới thấy được tình cảm của cô cô hỏi thăm sức khỏe anh và hẹn lúc nào công tác lên Ban thì rẽ qua đơn vị cô chơi.
Những ngày sau đó Kiên luôn sống trong tâm trạng xốn xang. Lẫn trong nét vẽ trên trang trang đồ án là khuôn mặt nửa tỏ nửa mờ của Miền. Anh ngồi làm việc tỏ ra chăm chú nhưng không bỏ sót một thông tin nào lúc mọi người bàn tán về Miền về giai thoại những anh chàng vô duyên đã bị cô cho ngã ngựa thế nào trong đó có cả anh chàng phó tiến sĩ vừa ở Nga về. Cho đến giây phút ấy Kiên vẫn chưa biết gì hơn ngoài vài dòng “trích ngang”: Nguyễn Thị Tâm Miền con gái thứ mười trong một gia đình ở quê nhãn Hưng Yên. Tốt nghiệp trung cấp giao thông vận tải xung phong vào tuyến lửa đã được hai năm cùng với các bạn trong lớp của cô. Đó là một cô gái xinh đẹp giàu nghị lực dáng người tầm thước khuôn mặt thanh tú có làn tóc mai đen nhánh dễ thương. Lạ lùng thay trong điều kiện của bom đạn gian khổ khí hậu rừng núi làn da cô như thách thức cứ trắng hồng lên. Mái tóc dài mỗi lần cô xõa ra gội nước suối càng đen dầy hơn. Công việc của cô là thiết kế can vẽ hồ sơ phục vụ các công trường thi công đồng thời gánh vác mọi việc như nam giới: vác gạo lấy củi lên rừng đốn gỗ tre nứa làm lán trại làm hầm trú ẩn... Ra trường ở tuổi hai mươi là tiếp cận với gian khổ bom đạn... Nếu cũng con người ấy ở môi trường các cơ quan cục vụ viện ngoài kia thì sao chắc mọi chuyện đã khác...
Kiên vừa làm vừa nghĩ những lời mọi người dị nghị là “điệu” kia có phải là sự chê trách về thói tiểu tư sản không phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh sự làm cao của cô khi được nhiều người ngưỡng mộ hay đơn giản chỉ là sự vươn lên trước thực tại để giữ gìn vẻ đẹp của mình.
Rồi thư đi thư lại có cả cuốn sổ tay mà cô ép hoa rừng gửi cho anh. Kiên biết là hạnh phúc đang đến với mình giữa con mắt bè bạn một niềm kiêu hãnh lớn dần trong anh.
Qua thời gian im ắng địch lại cho từng đợt máy bay do thám đánh phá. Chúng nhằm vào những con đường và nhịp cầu mà đồng đội Kiên xây dựng. Một đợt công tác lên trình duyệt thiết kế cầu Khe Ve hồ sơ vừa được phê duyệt cũng là lúc Miền gọi điện cho anh. Lấy cớ chưa quen đường sợ bị lạc anh đã nói để Miền qua đón. Được cái thuận tiện là nơi cô ở nằm trên đường Kiên trở về đơn vị. Gặp Kiên Miền chỉ cười. Quãng đường đi bộ chưa đầy hai cây số vừa đủ để những giọt mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt rạng rỡ của cô. Khi đi qua khu vực công trường bộ Miền ý tứ lùi lại sau anh. Cô hỏi anh nên đi theo đường chính hay đường tắt? Kiên đã nói rằng bây giờ thì anh hoàn toàn phụ thuộc vào cô và rằng anh sẽ phục tùng mọi mệnh lệnh của Miền anh né lại sau và nhường cho cô dẫn đường.
Hai người men theo một lối mòn rẽ vào con suối cạn cả rừng cây che kín bên trên phía dưới là bãi rộng mênh mông thoáng đãng chỉ có sỏi đá lạo xạo dưới chân. Một không gian yên ắng thanh bình như dành cho hai người. Họ chọn một tảng đá bằng phẳng dưới gốc cây. Miền nói là nơi này cô và mấy người bạn phát hiện ra khi đi lấy củi. Từ đây qua một con suối nữa là đến khu lán trại cơ quan cô.  
Một đôi trai gái ở cái tuổi chín muồi có thể quên đi bao nỗi nhọc nhằn những đưa đẩy của số phận của hai vùng quê khác lạ đến với nhau. Với Miền cô đã khước từ những người đàn ông từng hâm mộ xăng xái xung quanh cô và dễ dàng đến với Kiên không một lời kiêu kỳ khách sáo. Trước mắt Kiên một Tâm Miền hiện hữu rực rỡ như bông hoa rừng. Bây giờ anh không phải nhắm mắt lại hay cúi xuống như cái cảm giác đứng trước một người con gái đẹp anh có thể nhìn thẳng vào cô nhìn vào nét mày mịn màng hàng mi cong đôi mắt đen mát dịu của người con gái quê nhãn. Cái im lặng đến tuyệt đối giữa hai người chỉ còn nghe từng nhịp thở bên trong khuôn ngực đang phập phồng của cô làn môi hé mở chờ đợi...
Không hiểu sao trong giây lát Kiên lại để cái thời khắc ấy trôi đi. Anh đã kéo người con gái lại bình tĩnh như hai người bạn thường tình. Anh kể cho Miền nghe chuyện “con cáo và chùm nho” thao thao bất tuyệt dù nàng có nghe hay không. Sau này nghĩ lại chuyện cũ Kiên luôn dằn vặt ân hận về cử chỉ ngu xuẩn của mình có thể anh đã hiểu nhầm xúc phạm đến cô. Không biết vì anh cảm thấy đã khuất phục được người con gái xinh đẹp kiêu kỳ ấy hay vì hãnh diện trước những người đàn ông bị nàng từ chối mà không biết mình đã để mất một tình yêu đích thực điều đáng tiếc đã xảy ra với cả hai người.
Họ thống nhất chia tay ở đấy không qua cơ quan của Miền nữa dắt tay đưa nhau một đoạn đường đến ngã ba để Kiên rẽ theo lối về đơn vị.
Dọc đường trở về Kiên phải tránh bom hai ba lần mãi đến chiều tối anh mới qua được sông Son tới ngã ba Khương Hà. Mấy ngày sau trong lá thư tay anh nhận được Miền nói vắn tắt: Anh Kiên không giống ai cả không giống cả những điều em nghĩ về anh. Miền muốn nói với anh bao điều nhưng buổi chiều ấy cứ nghĩ mấy lần máy bay đánh bom phía đường anh đi Miền lại thương anh!
Không đầy tháng sau Kiên nhận được quyết định đến tăng cường cho công trường 21 bên kia cổng trời đi sâu vào nơi anh ở hơn ba trăm cây số nữa. Chuyến đi gấp có xe công trường đến đón. Anh không làm cách nào để chia tay Miền được. Chiến tranh anh theo con đường đi sâu vào mặt trận từ đấy không còn mối liên lạc nào với Miền. Nghe đâu đơn vị cô cũng bị máy bay địch bắn phá sau đó chuyển đi đâu không biết nữa.
Sau ngày giải phóng Kiên trở về làm cầu Hiền Lương biết tin Miền đã yêu Luận không ai khác - chính là người đội trưởng đội cầu - thủ trưởng cũ của anh người đã trao quyết định cho anh vào công trường 21. Kiên rụng rời nằm lỳ mất mấy ngày nhưng rồi nghĩ không ai trách ai được. Chiến tranh thời gian và khoảng cách đã đồng hành đẩy họ ra xa. Thôi thế cũng mừng cho Miền. Với ai chứ với Luận - đó là một người năng nổ và dũng cảm. Luận hơn anh mấy tuổi là một chỉ huy mà thành tích gắn liền với đội cầu anh hùng. Người từng được ca ngợi về những hành động dũng cảm: đã cởi áo mình dập lửa cứu nhịp cầu dưới làn bom đạn của máy bay giặc. Người đã ngậm nước mắm ngâm mình dưới dòng Ca Tang lặn xuống đáy móng kiểm tra khi đổ bê tông trụ cầu dưới cái lạnh như cắt thịt. Người đã chỉ huy tổ kích kéo hiên ngang nổ búa đóng cọc mặc cho máy bay Mỹ quần đảo trên đầu... Luận được đề nghị và đang làm thủ tục tuyên dương anh hùng...
Còn Kiên thi công xong cầu Hiền Lương được chuyển về cầu Thăng Long ở ngay Hà Nội. Sau đó anh lấy vợ và trở về làm Giám đốc một Đoạn quản lý đường bộ nơi vợ anh dạy học - cũng là một tỉnh ở miền núi phía Bắc.
Chiếc xe khách ngoằn nghoèo trên con đường tới Mường Lá. Khách trên xe đi quen cho biết con đường này đã được rải nhựa nâng cấp nếu không thì khách vẫn phải ngủ lại dọc đường. Theo cung đoạn xe dừng cho khách ăn cơm tại Hiền Kiệt rồi lại nổ máy đi tiếp. Với Kiên những con đường gập ghềnh những khúc cua lên xuống lắc lư không còn lạ gì nữa thành điệu nhạc ru ngủ. Nhưng lần này anh vẫn tỉnh như sáo. Hai bên đường là những vạt rừng xanh ngắt vực sâu hun hút. Xe tới đoạn núi cao bằng phẳng Kiên biết đã bắt đầu vào thị trấn một thị trấn nhỏ nằm giữa thung lũng hiện lên trong sương chiều. Mấy khu nhà trên sườn đồi kiến trúc lộng lẫy quay mặt vào nhau. Bến xe nằm trên một bãi rộng giữa trung tâm thị trấn.
Cái hạt giao thông nơi Miền công tác không khó để nhận ra nó có vị trí khá đẹp phía sau là triền đồi dọc con đường ra bến sông. Các đơn vị duy tu bảo dưỡng đường đã có mặt trước khi thị trấn ra đời. Công nhân của hạt quây quần thành làng giao thông. Ngoài giờ làm việc trên đường họ tăng gia sản xuất “tự cung tự cấp” nên đời sống rất thoải mái. Ngôi nhà của thủ trưởng Miền chỉ cách trụ sở của hạt không đầy một trăm  mét phía sau là vạt rừng chạy dài tới mép sông.
Khi nhìn thấy Kiên Miền sững người ra nét mặt cô đỏ lên: Anh Kiên lên sao không báo trước cho em! Rồi vội đỡ chiếc va ly từ tay anh. Kiên theo cô vào nhà. Gần ba mươi năm rồi Miền không thay đổi là mấy. Người đàn bà trước mặt Kiên vẫn là người con gái bước cùng anh trên lối mòn Trường Sơn năm xưa tóc búi cao kiểu con gái Thái để lộ cái cổ cao ba ngấn như ngày anh từng ngắm cô. Căn phòng thật ngăn nắp: Một bộ bàn ghế bên chiếc tủ tài liệu một chiếc giường gỗ lát hình như không có người nằm. Căn nhà gỗ xinh xắn một bên được che lại bằng tấm rèm hoa màu cà phê. Miền pha nước cho anh và nói anh nghỉ ngơi đã trước khi đi tắm khăn bông chậu tắm cô đã chuẩn bị cả rồi.
Kiên tắm xong thấy Miền đã dọn mâm cơm trên bàn không hiểu cô làm lúc nào mà nhanh thế. Mâm cơm có một đĩa cá sông kho nhạt còn thơm mùi nghệ đĩa măng đắng chấm muối vừng một đặc sản miền núi mà anh rất thích còn đĩa thịt gà luộc bát canh rau ngót cũng là thực phẩm tự cung tự cấp của cô. Miền bê từ trong tủ ra bình rượu cô nói đấy là rượu ngâm con chít từ cây chổi đót mà công nhân của cô lấy trên rừng về rất lợi cho sức khỏe đàn ông. Cô nói rượu của dân duy tu thì đến nhà làng còn phải vác chai đến mua. Cuộc sống nơi vùng sâu vùng xa nếu không tự giải quyết thì không lấy đâu ra được.
Khi ăn Kiên liếc nhìn ngón tay Miền cầm đũa anh mỉm cười. Bữa cơm thật ngon nhưng hai người đều ăn rất ít. Có lẽ họ đều biết câu chuyện sau bao năm với những vui buồn trách móc đang chờ họ.
Họ ngồi đối diện nhau bên bàn nước không đợi Kiên lên tiếng Miền đã hỏi anh:
- Sao anh Kiên nhẫn tâm thế! Miền có lỗi gì mà anh nỡ xử sự như vậy đến ra đi cũng không nói với em một lời?
- Ai nhẫn tâm thì Miền biết chứ! Chẳng lẽ Miền không biết chính anh Luận là người trao quyết định cho anh chuyển tới công trường 21 sao?
- Anh Luận nói anh là người giỏi chuyên môn anh ấy đang rất cần nhưng vì công trường 21 họ xin đích danh anh lại có nguyện vọng như thế.
Trong giây lát Kiên như vỡ ra mọi điều mà trước nay anh vẫn lơ mơ phỏng đoán các tình tiết sự việc anh định hỏi thêm nhưng Miền đã chậm rãi kể tiếp:
- Em đợi mấy tháng vẫn bặt tin anh em đã nhận lời yêu anh Luận không phải em tham lam gì đâu! Anh biết có nhiều người còn hơn anh ấy. Nhưng vì em  mệt mỏi quá rồi đời con gái có thì lại hay bị xoi mói...
Anh nhìn Miền những giọt nước mắt lăn dài trên má cô. Miền vẫn nhìn đăm đăm vào khoảng không nói với anh mà như nói với mình. Kiên nhớ cái thời khắc Luận trao quyết định cho anh đến công trường 21 chỉ vẻn vẹn có hơn tiếng đồng hồ để anh vừa chuẩn bị hành lý vừa tạm biệt mọi người trong cơ quan. Hành lý của anh nhét chặt trong chiếc ba lô mấy bộ quần áo vài cuốn sổ tay kỹ thuật mấy bao lương khô ăn đường... Anh ngồi tựa lên các bao gạo thực phẩm trên một chiếc xe tải kết hợp lấy hàng về công trường. Kệ cho chiếc xe lắc lư lao giữa đêm tối chỉ thấy càng đi xe càng xóc càng lên dốc cao hơn. Hình bóng Miền cái dáng thon thả ngày nào khi cô dẫn anh đi cứ chập chờn trước mắt anh chắc cô không thể biết tâm trạng của anh lúc ấy. Vừa đi vừa tránh máy bay khi qua các trọng điểm mãi hai ngày sau Kiên mới đến được đơn vị mới. Anh lao vào công việc không còn lúc nào rảnh rỗi. Khi miền Nam giải phóng anh đang ở cầu Rào Quán trên Đường 9.
- Anh Luận được chuyển ra Bộ anh ấy nói với em là về bàn với gia đình chuẩn bị tổ chức đám cưới và liên hệ xin em ra một thể. Em viết thư mấy lần nhưng không thấy anh ấy trả lời ở trong này em càng ngày càng yếu... chỉ nghe mang máng là anh ấy không được tuyên dương vì lý lịch có vấn đề. Em linh tính đến chuyện chẳng lành. Nhưng ở lại đơn vị cũ cũng không tiện nữa mà chuyển ra thì chuyển về đâu. May lúc bác Hào vào miền Nam công tác ghé thăm đơn vị em đã nói thật mọi việc nhờ bác giúp đỡ. Bác Hào là thủ trưởng cũ rất thương mấy đứa bọn em Bác bảo chiến tranh khổ nhất là mấy đứa con gái nên cứ nhắc các anh ấy phân công các việc nhẹ thôi. Bác Hào đã trực tiếp  trao đổi với các anh trong đơn vị làm thủ tục cho em mới nhanh được như thế. Bác Hào là Giám đốc Sở Giao thông của tỉnh này. Ban đầu định bố trí em ở văn phòng Sở nhưng em nói thực là cho em đi càng xa càng tốt bác đồng ý và còn kết hợp công tác cho xe đưa em lên trên này. Bác còn dặn với mọi người: Chồng nó là bộ đội trước kia cùng đơn vị đã có giấy bảo tử các cậu ở đây quan tâm giúp đỡ đừng hỏi nhiều về nó để nó mẹ tròn con vuông... Từ đấy em không gặp người nào ở đơn vị cũ. Anh là người quen đầu tiên mà em tiếp ở đây. Cô mỉm cười sau tiếng thở dài như trút được niềm ẩn ức bấy lâu chôn chặt trong lòng. Không hiểu cái gì đã cho Miền sức mạnh cô không biết như thế là nên hay không nên có điều nhiều người tìm đến với cô kể cả các quan chức trong ngành và trong huyện. Miền là một cán bộ gương mẫu thay mặt cho đơn vị cho ngành không thể thiếu trong các hoạt động ở thị trấn miền núi này. Kiên nghe Miền kể anh càng thương cô người con gái một thời mang tiếng là điệu đà ở tuyến lửa.
  Kiên hỏi Miền bây giờ tính sao chẳng lẽ ở trong này mãi à còn Luận có bao giờ vào đây thăm cô?
- Anh Luận biết em ở đây có lần định vào nhưng em không cho. Anh ấy xin lỗi và thanh minh với em nhiều điều nhưng em bảo chẳng cần phải thế. Anh Luận là Cục phó một Cục vận tải do ông Cục trưởng xin về sau này được chính ông ấy gả con gái cưng cho. Đến khi ông ấy về hưu lại dành cho anh ấy chức Cục trưởng. Anh Lụân nói có hai con gái đang học đại học.
Miền đưa Kiên ra bến xe theo con đường tới trung tâm thị trấn. Trời đã hửng nhưng sương còn phủ trắng trên đỉnh núi quanh thung lũng. Miền xách va ly và túi đựng thức ăn cho anh buồn vui lẫn lộn.
Kiên đưa vòng tay ôm nhẹ bờ vai của Miền bắt gặp đôi mắt nàng đã ướt đỏ. Anh an ủi: Rồi anh sẽ trở lại mà! Anh thấy Miền khẽ cười đôi mắt ngước lên hi vọng. Xe chuyển bánh bóng Miền khuất nơi vùng cao xa xôi.

                                                                              T.N.D


More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

   


Vũ Long Giang


Tiếng kèn đám ma
 


Truyện ngắn

 
      - "Lại có người chết nữa rồi. Sao dạo này lắm người chết thế". Sau tiếng thảng thốt của vợ tôi là tiếng kèn đám ma vọng lại nhưng sao tiếng kèn nghe cứ trơ trớ nhiều lúc bị hụt hơi như thằng ngọng tập nói.
- Không phải có người chết - Tôi nói với vợ - Lại có thằng nào đang tập tọng vào nghề kèn đám đấy mà. Sáu bảy tối nay tiếng kèn chỉ vọng lại từ một phía nghe biết ngay.
- Ra thế - Vợ tôi kêu lên - Tôi cứ tưởng.
Ngày xưa người sống đã khổ người chết còn khổ hơn. Nhà nghèo chết không kèn trống chẳng nói làm gì. Đến như nhà có ăn không may trong làng xảy ra hai đám cùng tang nhà nào nhanh chân mời được thợ kèn thì đi trước nhà nào chậm chân thì cứ việc ngồi ôm quan tài mà khóc đợi thợ kèn. Làng tôi có lệ người chết phải để qua đêm có khi phải hai ba đêm nếu con cái ở xa không về kịp. Đã chôn phải chôn buổi sáng. Hôm nào trong làng có hai ba người chết thì thợ kèn cứ gọi là rã rời mồm mũi tay chân để thổi mà công xá có đáng gì đâu: Cân gạo nắm xôi cái tỏi gà. Nghề thổi kèn đám ma là nghề làm phúc.
Cơ chế giờ người sống đã sướng người chết cũng được sướng lây. Nếu trong làng không may có ba bốn đám chết cùng ngày vẫn đủ thợ kèn đưa ma một lúc. Không những kèn trống còn có bát âm có cả khóc mướn cái mớ tạp nham này họ kéo nhau đến đám mặt mày hớn hở như đi hội. Ngồi vào chiếu là thuốc lá nước đường bia. Kèn thổi mỏi mồm bát âm thế vào bát âm mỏi tay đã có khóc mướn khóc mướn đã nhạt kèn trống gióng lên. Càng nhiều tiền thướng cái điệp khúc ấy càng kéo dài. Họ cốt làm đẹp lòng tang chủ. Tang chủ lại thích nhiều thích đông. Trước hết giải quyết khâu oai sau là cỗ bàn phải nhiều bát đĩa chai nọ chai kia sau nữa là tiền thăm viếng. Lấy thu bù chi miễn là có lãi. Kèn trống bát âm khóc mướn miễn là có còn hơn không. Cánh bát âm thì mong sao cho trời chóng sáng cho mau đến trưa xin tang chủ năm bảy trăm hoặc triệu hơn triệu kém kéo nhau ra chỗ vắng chia chác rồi tùy nghi di tản. Tranh thủ ngủ bù phòng có đám đến mời để có sức mà toe toét mà cò ký cưa mà rặn nước mắt. Nếu không có đám thì rủ nhau làm một chầu phỏm hoặc ra quán ngồi tán gẫu.
Bây giờ mỗi khi có đám ma vạn bất đắc dĩ tôi phải đến. Nghe cái đám tạp nham quấy trò tôi lại ngẩn ngơ nhớ tiếng kèn đám ma của ông Đạo. Một nghệ nhân thổi kèn có tiếng. Tiếng kèn của ông Đạo không những có hồn mà còn có tình có nghĩa. Tiếng kèn của ông đan chen cùng tiếng bát âm hòa vào tiếng khóc bi thương thảm thiết của thân chủ quyện vào giọng ai rầu rĩ của lời điếu xoáy vào tận tâm can tận cùng cái đau chia lìa mất mát. Đến người cứng rắn kẻ ngỗ ngược còn rơi nước mắt. Đã có một thời tôi bị tiếng kèn của ông mê hoặc đến nỗi hễ có đám ma dù xa xôi mưa gió thế nào tôi cũng tìm đến. Tôi ngồi bên ông im lặng lắng nghe nhiều đêm quên cả trời sáng. Đã mấy lần tôi định ngỏ lời cho tôi được làm đồ đệ nghề kèn đám. Nhưng sự đời đâu phải cái gì đam mê cũng được mãn nguyện đâu. Tôi phải từ bỏ ước mơ thổi kèn đám ma vì cái nghiệp khác nặng ký hơn. Nhưng lòng ngưỡng mộ tiếng kèn ông Đạo của tôi đến bây giờ vẫn còn nguyên vẹn. Thế mà mấy năm nay tiếng kèn ấy im bặt người dân quê tôi ai cũng khắc khoải luyến tiếc.
Chú tôi ngã bệnh đã gần một năm mấy tháng nay ông sinh hoạt tại chỗ tôi đã bị mấy cú điện thọai thót tim của các em. Nhưng lần này chắc ông ra đi thật. Ông bảo tôi cắt tóc tắm rửa thay áo quần cho ông để trước khi nhắm mắt xuôi tay phải sạch sẽ thanh thản. Sau khi dặn vợ con những điều cần thiết ông cho gọi tôi đến rằng đám ma ông phải có tiếng kèn ông Đạo. Tôi toát mồ hôi với lời di huấn ấy. Giá như người sống với nhau còn đưa ra lý này lẽ nọ để từ chối đằng này là yêu cầu của người sắp chết. Tôi đành lên xe vù xuống nhà ông Đạo.
Nhà ông Đạo nằm trên một doi cát. Cái thứ cát mịn tơi không dính kết này mùa hè đặt chân xuống như đặt chân vào nồi rang. Mỗi cơn gió nhẹ bụi mù lên cát quất vào người như mưa rào. Gặp nước nhão ra dẫm mạnh lên nước bắn đến tận tóc. Lác đác quanh nhà dăm bảy cây mít còm nhom. Cạnh ngôi nhà gỗ ba gian là cái nhà xây mái bằng kiến trúc theo kiểu nghĩ ra của cánh thợ vườn vững chãi nhưng thô. Tôi đang phân vân chưa biết vào nhà nào thì con vàng vọt ra theo sau là ông Đạo. Nhận ra tôi ông mời vào nhà. Tôi đảo mắt nhìn quanh đồ đạc trong nhà vẫn như xưa. Ngoài bộ ngựa bóng xỉn mồ hôi ngày xưa ông phủ Ngọc Sơn tặng cố nhà ông lúc sinh thời đã thổi kèn rất hay trong đám tang nhà ông phủ gian bên là cái giường một. Vừa mời tôi uống nước ông vừa hỏi:
- Có dễ lâu rồi ông con mình mới gặp nhau đấy nhỉ?
- Dạ cũng sáu bảy năm rồi đấy ạ. Tôi trả lời ông.
- Đến thế kia à? Thế cậu đi đâu ghé thăm tôi.
- Dạ nhớ tiếng kèn ông quá con xuống…
- Cậu lại không thực lòng rồi. Ông cắt ngang lời tôi - Có gì thì nói với nhau mắc gì cứ rào đón thế. Tôi đành thú thực với ông về cái yêu cầu của tôi. Nghe xong ông thở dài - Buồn quá nhỉ nhưng tôi giải nghệ lâu rồi.
- Sao thế ạ! Cái nghề này thời buổi giờ cũng kiếm được ăn đấy chứ.
- Nghề nào chả kiếm được ăn cứ gì nghề này. Ông chiêu một ngụm nước giọng chùng xuống: Cái nghề thổi kèn đám ma xem thế mà nó bạc cậu ạ. Ngày bà nhà tôi mất thằng Tòng còn ẵm ngửa. Đám ma ấy không có tiếng kèn. Thằng Tam chết cũng không có tiếng kèn chiến tranh mà. Là một người thổi kèn có tiếng khắp làng trên xóm dưới thế mà mình lại phụ bạc vợ con buồn quá.
- Dao sắc không gọt được chuôi mà ông.
- Đành thế nhưng mà đau chứ cậu.
Rồi chẳng đợi tôi hỏi thêm giọng ông trầm xuống nói tiếp:
- Thằng Tòng hai mươi tuổi vẫn lông bông không nghề nghiệp tôi khuyên nó vào nghề kèn đám nó bảo lại tôi: Tốt nhất thày nên bỏ quách cái nghề thổi kèn ấy đi nước mẹ gì chẳng đủ nuôi thân. Tôi nghe mà rầu cả ruột. Con không hiểu cha. Đến khi vào nam ra bắc chán hai lăm tuổi nó quay lại cái nghề của tôi. Tôi lấy làm mừng. Hai cha con hôm nào cũng mò mẫm ra bãi tha ma tập kèn cho nó. Mưa gió rét mướt rồi ruồi muỗi kiến thôi thì đủ cả. Cuối cùng nó cũng thổi ra tiếng kèn. Từ khi nó biết thổi kèn cha con thay nhau tôi có phần đỡ mệt. Nhưng xem ra kiếm được miếng cơm của thiên hạ thì còn phải nhọc công lắm đâu chỉ xề sang cống líu làn dọc làn ngang nam ai nam bằng nhốt tất vào dăm kèn rồi lại thả nó ra mấy cái lỗ kèn là thành tiếng kèn đám ma đâu. Mà cái đầu tiên là phải đam mê như cậu ngày xưa ấy. Có khiếu chưa đủ mà phải có hồn trong tiếng kèn. Có lòng trắc ẩn xẻ chia nỗi đau cùng thân chủ. Mỗi nhà mỗi cảnh nhưng khi thổi kèn trước quan tài thì nỗi đau nó từa tựa như nhau. Có những đám người nhà không xót xa thương cảm người chết bằng người ngoài thế mới trớ trêu. Tóm lại phải có tâm. Có tâm với người sống chứ chết rồi còn biết gì đâu. Nghề thổi kèn là nghề làm phúc mà cậu. Tôi lan man quá cậu thông cảm. Tôi nói đến đâu rồi nhỉ? à được dăm bảy đám gì đấy. Một lần có đám xã khác mời trên đường đi nó bảo tôi: Cái đám này thày để tôi lấy tiền công. Lấy như thày chỉ đủ tiền mua thuốc lào. Tôi bảo nó: Nhưng không được mặc áo quá đầu. Sau đám ma gia đình đặt bốn mươi ngàn lên đĩa. Nó bảo: Công thợ kèn bây giờ không phải ngần này. Cơ chế mở rồi xin gia đình ngần này nữa. Tôi lừ mắt nó lờ đi. Được đằng chân nó lân đằng đầu cứ mỗi đám nó tăng lên vài chục. Một lần có đám mãi Vạn Hòa đánh xe máy xuống rước cha con tôi. Trên ấy thiếu gì thợ kèn chắc họ kén nên mới xuống tận đây. Nắm được chỗ ấy nên xong đám nó đòi năm trăm ngàn còn bắt người ta chở xuống tận nhà. Vừa đặt chân xuống sân nó đã hềnh hệch: Ông con mình hơi hớ giá đòi một triệu chúng cũng phải xì ra nhà ấy giầu đến thế kia mà.
- Mày im đi. Giầu với sang cứ thấy người ta bở thì đào. Sao khi ấy mày không đòi hai triệu bây giờ lại hớ với chả hớ. Rõ cái đồ tham lam.
- Nào tôi đâu có tham cho tôi đâu mà ông chửi tôi.
- Thế mày không tham cho mày thì tham cho hàng xóm chắc. Bấy nay núp dưới cái bóng của tao mày vơ vét được bao nhiêu tiền đút túi cái ấy gọi là gì?
- Thì ra ông chửi tôi vì không đưa tiền công cho ông chứ có phải vì tôi lấy tiền công cao dâu. Thôi được thế thì từ nay tôi với ông sòng phẳng.
Có cái gì ứ lên tận cổ tôi gục xuống bàn không sao nói thêm được nữa. Chưa nghỉ lại sức thì bà Nhàn qua đời tôi đeo trống cầm kèn ới ông em cùng đi. Đi được một quãng thấy nó đạp xe theo sau. Thôi thì nỡ nào đánh người chạy lại. Tôi bảo nó: Bà Nhàn là người bên vợ mày nhà lại nghèo tao nói thế chắc mày hiểu.
- Sao tôi không biết. Ông cứ làm như tôi từ đâu đến không bằng.
Đến khi mãn đám gia đình đem ra một trăm bốn mươi ngàn tôi đang định nói thì nó nhanh tay vơ lấy đống tiền. Nói: Đáng ra công của ông con tôi phải hơn thế này. Nhưng thôi xin biếu lại gia đình hai mươi ngàn để làm hương khói. Tôi định túm vạt áo nó kéo lại thì nó đã đứng bật dậy vội vàng lên xe đạp thẳng. Tôi loạng choạng như người đi trên mây. Vừa về tới sân nó đã sấn sở bảo: Một trăm tư chia đôi nhưng ông biếu người ta hai chục còn phần ông năm chục rất sòng phẳng. ức quá tôi quất vào mặt nó: Mày lấy thế có khác nào ăn cướp.
- Ơ sao ông bảo tôi ăn cướp.
- Không ăn cướp sao mày vội vã thế. Mày nhìn xem trong nhà ấy có gì đáng giá năm chục ngàn chưa?
- Nếu ông đã nói thế vậy tôi hỏi ông hơn năm mươi năm đi làm phúc cho thiên hạ ông nhìn lại nhà mình xem cũng chẳng có gì đáng giá năm chục ngàn. Mai mốt ông không cầm nổi kèn liệu thiên hạ có mang cơm gạo đến nuôi ông không? Khi ông ốm đau nằm một chỗ liệu người ta có mang thuốc đến cho ông không. Còn không may phải đi viện liệu các ông bác sỹ có chữa trị làm phúc cho ông không hay họ đè bụng bóp hầu ông phải nôn tiền ra mới mong đã bệnh mà biết đâu trong đó cũng có người ông đã từng thổi kèn làm phúc cho bố mẹ họ. Khi ấy ông có giơ cái làm phúc của mình ra để cứu mạng không hay tất cả sẽ đổ lên đầu cái thằng này. Nói để ông biết tôi lấy thế là lấy cho ông đâu phải lấy cho tôi. Thời buổi này mưa lúc nào mát mặt lúc ấy người đời nhổ toẹt vào cái làm phúc kiểu như ông lâu rồi. Đấy ông nhìn xem cái làng này đâu phải một mình ông thổi kèn đám ma bao nhiêu thằng làm cái nghề như ông nó giầu lên trông thấy chắc nó cũng đi ăn cướp đấy phỏng.
Không kìm được nữa tôi quát lên:
- Mày im đi. Sáu đời nhà này làm nghề thổi kèn đám ma chưa có ai ốm đau đến giường cứt chiếu đái. Cũng chưa có ai ngửa tay xin thiên hạ một hạt gạo một liễn khoai. Rồi sẽ có ngày mày ôm đống của mà khóc đấy. Mạt vận cái nghề nhà này đến lúc mạt vận rồi. Tốt nhất là bỏ nghề. May ra còn giữ được cái nghĩa cái tình với láng giềng cái đạo lý ở đời. Cái ý ấy tôi đã quyết nhưng chưa kịp thực hiện thì vợ ông giáo Minh đột ngột qua đời. Tôi bấm bụng gọi thằng Tòng sang nhà bảo nó: Ông giáo Minh là thầy học của mày vợ chồng ông giáo giúp mày giấy bút sách vở coi mày như con hôm nay mày phải đến đám để trả nghĩa cho ông bà giáo.
- Vâng con cũng định sang nói với ông về việc này.
Nghe nó nói thế tôi cứ đinh ninh nó đã hối hận đã hiểu ra một chút cái nghĩa ở đời. Xong đám ông giáo Minh lịch sự để hai trăm ngàn lên đĩa tôi đang định nói với ông giáo nào ngờ nó cầm một trăm ngàn rồi nói với ông giáo Minh:
- Ông với bố tôi là chỗ thân tình xin biếu lại gia đình một trăm để đền ơn trả nghĩa ông con tôi xin ông giáo một trăm gọi là…
Mắt tôi bỗng tối sầm cổ nghẹn lại nước mắt trào ra. Ông giáo Minh là người thông hiểu ông lại gần tôi nói nhỏ:
- Thôi cụ đừng buồn làm gì. Bọn trẻ bây giờ có một số chúng ham làm giầu cạn nghĩ chúng không nếm trải đói khát rách rưới như tụi mình nên ít hiểu cái nghĩa ở đời. Cụ đừng nghĩ nhiều. Giờ nó thế này nhưng sau nó sẽ khác.
Tôi nghẹn ngào nói với ông giáo:
- Được ông giáo nghĩ cho như thế tôi cũng bớt một phần tủi hổ. Không có cái khổ nào bằng cái khổ nào.
Tôi thập thững cầm kèn ra về. Vừa bước vào sân thằng súc sinh đã bô bô:
- Đám ấy hai trăm nhưng ông đã biếu người ta một trăm còn một trăm này là của tôi. Nói để ông biết kẻo lại bảo tôi tham.
Giận quá tôi giơ cây kèn định đập vào mặt nó nhưng lại nghĩ cái mặt nó đau rồi sẽ khỏi mà vẫn chứng nào tật ấy nếu vỡ cây kèn thì mình có tội với tổ tiên. Tôi bước lại bàn thờ thắp hương khấn  gia tiên cho tôi treo kèn giải nghệ nếu không tôi mang tội với đời. Mất đến mấy tháng tôi cứ thẫn thờ ngơ ngẩn làm việc nọ xọ việc kia ăn chẳng biết mình no hay đói. Đêm ngủ cứ chập chờn tai mình lại nghe chính tiếng kèn của mình oán giận trách móc không sao xua đi được. Nhiều hôm đi làm về thấy có người đang ngồi đợi mình để mời đi đám tôi phải cố bịa ra lý do tự dối mình để từ chối. Khách đi rồi tôi nhìn cây kèn mà ứa nước mắt giá như bà nhà tôi không mất sớm giá như thằng Tam không chết bom giá như thằng Tòng… Chả lẽ tôi là người phản bội lời nguyền của tổ tiên hay sao. Nỗi khổ tâm cứ ám ảnh tôi từng ấy năm không sao nguôi quên được. Ông giáo Minh thỉnh thoảng ghé thăm tôi có lần thấy ông bần thần ngồi nhìn cây kèn ông bảo:
- Cái nghĩa cái tình bố không bỏ được con con lại càng không bỏ được bố cái ấy là chuyện nhà cụ tôi không dám bàn. Tôi chỉ xin mạn phép góp cùng cụ về cái nghiệp thổi kèn. Nếu mai mốt cụ về với đất cụ mang tiếng kèn theo. Mất tiền của còn tìm lại được nhưng mất tiếng kèn thì lấy cái gì mà mua. Tiếng kèn ấy bây giờ nó không phải của gia đình cụ mà nó là tinh hoa văn hóa của làng. Nếu để nó thất truyền thì tiếc lắm. Nó là nỗi ân hận không những thế hệ chúng ta mà cả bao thế hệ sau này nữa. Thế nên cụ nghĩ kỹ một chút. Tìm một người nào có năng khiếu đam mê có lòng từ tâm truyền lại cho họ. Không gì nó cũng là cái nghiệp. Mà đã là cái nghiệp rồi thì nó có vui có buồn có đau khổ có khen chê… Cụ đã từng đọc Kiều rồi đấy thôi: Đã mang lấy nghiệp vào thân...
Nghe ông giáo giảng giải tôi mới thấm thía thấy mình cạn nghĩ. Tôi không hiểu cái tinh hoa văn hóa là gì nhưng tôi lại nghĩ khi mình về với tổ tiên biết ăn nói ra sao với ông bà cha mẹ. Tôi mắc hai tội lớn làm mất nghề gia truyền làm bố không dạy được con. Đành rằng trời sinh tính. Thế là tôi nghe theo lời ông giáo đi tìm người. Có dễ phải hơn một năm tôi mới tìm được người như ý ông giáo Minh.
Lần ấy có giỗ ông cụ thân sinh  bà nhà tôi. Đang đi trên đê tôi chợt nghe tiếng kèn tuy còn bập bõm nhưng nghe lọt tai. Tôi tìm đến. Hóa ra thằng Nhân. Cái thằng mồ côi mẹ từ trong bụng. Người ta phải mổ mẹ để cứu lấy con. Nó siêng năng nết na chỉ tội nhà nghèo quá nên thất học. Thấy tôi thằng Nhân ngượng ngùng giấu cây kèn ra sau lưng. Một cây kèn nặn bằng đất sét. Không biết nó kiếm đâu ra cái dăm kèn mà chỉ những người thổi kèn mới tìm được. Tôi bảo: Cháu thổi cho ông nghe đoạn nào cháu thích nhất ấy. Nếu nghe được ông sẽ tập cho cháu.
- Thật thế hả ông?
- Thật chứ.
Được bố thằng Nhân đồng ý tôi mang nó về đêm đêm ông cháu lại đưa nhau ra bãi tha ma. Thằng ấy đam mê tiếng kèn nhiều lúc quên ăn. Những đêm tôi mệt nó vẫn một mình ra bờ đê để tập. Nỗi đau trong lòng tôi cũng dần nguôi ngoai rồi cuối cùng cũng được mãn nguyện.
- Nghĩa là cậu Nhân đã biết thổi kèn?
- Không những biết mà sau này nó sẽ vượt xa tôi. Mừng rơi nước mắt cậu ơi.
- Vâng còn nỗi đau nào hơn cha truyền mà con không nối được. Nhưng sự đời nó thế nhân vô thập toàn mà ông.
- Thì thế ở đời ai chẳng cầu toàn nhưng cầu mà chẳng toàn đành vậy. Nhân hôm nay có cậu xuống chơi tôi muốn cậu nghe xem tiếng kèn của thằng Nhân đã ăn được cơm của thiên hạ chưa.
Trong lúc đợi thằng Nhân ông lấy trên bàn thờ cây kèn gia bảo. Cây kèn nâu bóng. Bao mồ hôi bao đau thương lặn vào thớ gỗ. Sáu lỗ trên thân kèn mòn vẹm như sáu phận đời đã đi qua cây kèn qua bao thăng trầm biến cố của thời gian đọng lại trong khoảng tối lòng kèn. Còn vẹn nguyên buổi sơ khai cái tiếng kèn đầu tiên được phát ra là tiếng nấc là tiếng khóc đau thương ly biệt của bao phận người trong vòng luân hồi từ biệt của cõi dương gian. Ông lấy hộp dăm kèn lựa từng cái một. Sau mấy tiếng thử giọng tiếng kèn cất lên não nùng thao thiết kể lể. Tiếng kèn ấy đã tiễn đưa hàng ngàn sinh linh từ giã cõi đời. Tiếng kèn cứ tan ra từng giọt từng giọt cứ rơi cứ rơi chảy về một miền xa xăm.
Ông tổ sáu đời nhà ông là người ngoài Bắc. Vì đói khổ phải ly hương trôi dạt vào triền sông này ngụ trên một doi cát chỉ có nắng gió và bụi. Không một tấc đất cắm dùi quanh năm đi làm thuê kiếm miếng cơm đỡ bữa. Vợ chết không có tiền mời thợ kèn. Hận cho cái phận nghèo hèn. Ông bỏ nhà ra đi. Một năm sau ông trở về. Vốn liếng là cây kèn bầu. Việc đầu tiên ông ra mả vợ thổi kèn suốt một ngày đêm. Sau rồi sắm thêm cái trống rủ thêm người láng giềng cùng cảnh hành nghề thổi kèn đám ma. Từ đó khắp làng khắp tổng người chết cho dù bó chiếu cũng có tiếng kèn của ông. Gặp nhà nào có ăn ông lấy công hai ba cân gạo nắm xôi cái tỏi gà. Gặp nhà neo túng ông ăn bữa cơm đạm bạc còn giúp thêm tang chủ chút ít gọi là nhang khói. Khi sắp qua đời ông dối lại cho đời sau một lời nguyền: "Nghề thổi kèn đám ma là nghề làm phúc. Người thổi kèn phải có cái tâm. Kẻ nào dùng tiếng kèn bắt chẹt bắt ép người lấy tiền vô lương tâm trước khổ đau của người khác kẻ đó sẽ mang họa". Lời nguyền ấy cứ bám riết quấn chặt lấy cây kèn truyền từ đời này sang đời khác. Chấp nhận cuộc sống đạm bạc chấp nhận mọi biến đổi của thời cuộc để làm phúc cho đời. Lời nguyền vẫn còn đó. Tiếng kèn tưởng phải ra đi trong ấm ức ân hận nhưng kìa nó đang trở lại. Trở lại với cõi thâm u trở lại trong tiếng réo rắt trở lại trong ánh lân tinh phụt lên từ các nấm mồ mới trong tiếng khóc thương quanh tiếng kèn của ông. Những giọt nước mắt trên mi mắt của ông tuôn ra vo tròn lại đậu trên hai hõm má của ông. Tôi đưa khăn định lau. Ông ngăn lại…

                                                                   V.L.G     
 





More...

Thơ

By Văn Nghệ Xứ Thanh






VŨ THỊ KHƯƠNG


Gặp ở Thành cổ


                Kính viếng linh hồn các anh các chị
                  đã hy sinh ở thành cổ Quảng Trị



Có bàn tay ai nắm lấy tay tôi
Mừng cuống quýt như người thân gặp lại
Nghe trong gió rõ từng câu hỏi:
- ở quê nhà bây giờ ra sao?

Có bàn tay ai nhẹ vuốt tóc tôi
Thân ái quá như đã từng thân ái
Và đôi mắt đăm đăm vời vợi:
- Mẹ cha ta có khỏe mạnh không?

Và còn ai ở mãi xa kia
Đang chạy đến như quen như lạ
Những gương mặt nhập nhòa nắng lóa
Trong vòm xanh trong ngọn cỏ biếc xanh.

Một vùng trời Quảng Trị mông mênh
Nắng vàng như chỉ nơi này mới có
Những bàn chân xôn xao nắng gió
Đang như ùa đến với tôi…

Kèn gọi quân bỗng lảnh lót khắp nơi
Các anh vội trở về đội ngũ
Tôi bàng hoàng giữa mơ giữa thực
Ngước trời xanh… một giải trắng mây bay…

Đài liệt sĩ sừng sững giữa trời
In hình trên dòng sông Thạch Hãn
Thuyền lướt nhẹ dường như không khỏa nước
"Dưới đáy sông còn có các anh nằm"

Thành cổ một lần tôi đến thăm
Còn thắt ruột nỗi đau máu ứa
Từng bước bàn chân tôi bỏng lửa
Tám mươi mốt ngày đêm bom đạn nơi này.

Thịt xương các anh đã là cỏ cây
Xanh vĩnh cửu với màu xanh Đất Nước
Hồn thiêng các anh là anh linh Tổ quốc
Mãi mãi vững bền đất mẹ Việt Nam.

                Quảng Trị 18/9/2006
                Thanh Hóa 25/1/2007
                      V.T.K


Chuyện này ở Đồng Hới


Đêm Đồng Hới mênh mang
Gió lộng từ đại dương
Lân tinh từ ngọn sóng
Chồm lên thắp sáng dải cát vàng
Đêm Đồng Hới lung linh
Điện sao trời lẫn vào nhau huyền ảo…

Sau phút lặng yên tưởng niệm
Anh kể tôi nghe:
Những năm chiến tranh
Bom đạn Mỹ chà đi sát lại
Đồng Hới bị san phẳng

Ngọn cỏ cành cây cũng không còn nguyên vẹn.
ở chính nơi đây
Trên bờ Nhật Lệ
Hai mươi ba cô gái thanh niên xung phong
Quê Gia Viễn Ninh Bình
Tuổi từ mười tám đến hai lăm
Sau một lần đưa hàng đi tập kết
Về ngủ trong căn nhà đã bị bom hất tung tầng gác
Hai mươi ba cô gái
Hai mươi ba giấc ngủ vô tư
Hai mươi ba tấm thân trong trắng
Hai mươi ba tâm hồn ngây thơ
Không hề nghĩ đến sự hiểm nguy
Giấc ngủ ngon khi công việc đã hoàn thành
Hàng cho miền Nam đã đi tiếp vào chặng đường
 phía trước
Một bất ngờ không ai lường hết được
Cơn gió biển ào vào
Nào có phải cuồng phong ?
Thế mà cũng đủ làm cho sắt thép xi măng khối
nặng bê tông
Đổ ập xuống hai mươi ba giấc ngủ
Anh nghẹn lời
Tôi hiểu tiếp phần sau…
Nỗi đau kinh hoàng
Hai - mươi - ba người con gái!
Gần bốn mươi năm sau chiến tranh
Đất nước hồi sinh
Thời gian lành dần những vết thương
Ngôi nhà bên bờ sóng
Ngôi mộ chung của hai mươi ba cô gái
Vẫn còn đây
Những sắt thép quăn queo hoen gỉ
Những tường vôi sứt mẻ rêu phong

Giữa một Đồng Hới vươn cao
Giữa một Đồng Hới tự hào
Giữa một Đồng Hới nguy nga tráng lệ
Giữa một Đồng Hới thành phố trẻ
Phơi phới sức xuân bên bờ biển Đông

Hai mươi ba cô thanh niên xung phong
Các em đã về quê xanh cùng mùa màng cây trái
Gần gũi mẹ cha gần gũi xóm làng
Nơi các em mơ giấc mơ cuối cùng
Đồng Hới giữ lại làm chứng tích
Thời đạn - lửa - chiến tranh

Buổi chia tay
Sóng Nhật Lệ như cũng lặng đi
Gió Nhật Lệ thì thầm nhắn gửi
Tôi dùng dằng chân bước…
Cặp uyên ương váy áo thời trang
Chú rể cô dâu chụp ảnh cưới ở khu di tích
Cỏ non tơ rời rợi
Biển xanh xôn xao
Có Hai - Mươi - Ba linh hồn về chia vui…
                Đồng Hới 18/9/2006
                Thanh Hóa 19/2/2007
                      V.T.K




TỪ NGUYÊN TĨNH



Chú tôi


Cả đời chú tôi say trận mạc
Lúc về quê mặt mày ngơ ngác
Thím cười
Còn may
              Dẫn được xác về đây!
Lúc lên cơn thần kinh sa sẩm mặt mày
Nhưng không xé áo quần
Không đánh đập một ai
Chỉ khóc cười...
Hô: Bắn! Bắn!
May mà còn được thím
ẵm bồng rửa ráy chẳng nề hà
Lúc tỉnh chú tôi buồn lắm
Bảo với thím
- Chỉ tại anh thôi!...
Sao không chết đi
mà về đây cho khổ mọi người!...

Chú nói thế làm thím rơi nước mắt
- Ông không chết ông về đây với tôi
Nhờ đêm ngày tôi khấn vái lạy ông trời
Què quặt
đui mù
chi cũng được
Sống hay chết ông là chồng của tôi!

Chắc trời động lòng nên thương chú thím
Đất đai ngày xưa rẻ như bèo
Bây giờ đất là vàng
Vàng không mua được đất
Chú thím
Bán
Cho
Người ta đòi mua
Như là cướp giật
Xây lên khách sạn ba sao rồi năm sao
Ôi! Ai bảo chú thím tôi không có ngày giàu.

Nhưng thím tìm gặp tôi
Mặt buồn lắm
Chú mày lên cơn
Toàn tìm bọn Tây-ba-lô mà đánh
Thím không biết làm sao
Hay bán quách đây
Lên rừng mà sống
Con gái thím nó bảo thím hâm
Thời mở cửa bọn Tây ba lô
nơi nào chả đặt chân
Việc gì phải bỏ trốn?
Nó bảo cắt một ít đất
Thuê
Một thằng
BA LÔ cho chú mày đấm
Biết đâu khỏi thì sao?

Tôi không dám nói
Lỡ ra
Liên hiệp quốc
Buộc tội vi phạm nhân quyền

Lỡ
Bọn BA LÔ toàn là trí thức
Hay cứ nhận quách chú tôi điên?
Cũng có thể nhưng đừng tin là thật
Nhờ Hội Cựu chiến binh Mỹ
Làm cho chú một manơcanh
Giống hệt như lính Mỹ
Để lên cơn chú tôi tưởng thật

Thím khóc
Thương chú mày cả đời trận mạc
Mở cửa
không một tấm bằng
Con gái thím nó bảo: Mẹ thật hâm!
                   T.N.T
     (Rút trong tập thơ Bản thảo sắp xuất bản)



TỪ NGUYÊN TĨNH


Cha


          Tưởng nhớ cha tôi - ông Lê Văn Kỷ
                          (1907- 1950)



Người làng bảo
Tôi giống cha mình
Dáng đi mặt mũi thật y hệt
Ngồi uống rượu
Một cút tàn cả đêm không hết
Say
Rót nước lã cũng bảo là rượu ngọt
Tôi kể cho bạn rượu nghe
Ai cũng bảo
- Hay!
Tôi hỏi chị gái
- Em có giống thày ?
Chị gật đầu rồi lắc
- Ông hơn cậu tính thảo ăn
Nên cầm cố cả ruộng vườn
Nhưng kém cậu tính lang thang...
Tôi kể cho bạn làm thơ nghe
Ai cũng bảo
- Xuất thần!
Tôi đi lang thang tìm bóng dáng cha mình
Cha không đem cái khổ đến cho tôi
Dù đời tôi rất khổ
Cha đem cái nghèo đến cho tôi
Mặc dù cả đời tôi không nghèo

Tôi nhìn trước nhìn sau
Cha tôi có phúc
Sinh ra tôi thay ông nói nỗi đau
Tôi không có phước
Sau tôi không còn ai bắt chước
Tính phong trần đi vào mê lộ
Vắt kiệt sức ăn mày con chữ
Xác xơ
Không vơi nỗi buồn đời
Cha tôi một cút rượu
Ngồi làm bạn đêm thâu
Đời tố ông
Tội chửi vợ mắng con
Làm cả làng mất ngủ
Cá bạc hết cả gia tài
Ra đi
Để lại vợ con trắng tay
Thiên hạ bảo
- May!
Con bạc bảo
- Sướng!
Còn sống phải buộc cọc hay đi đầy...
Chị gái bảo
Ông chết trẻ tóc râu
đầu không trọc như cậu
Tôi biết chị tôi dấu nỗi đau không nói ra
Phận phúc của tôi không được như cha.

                                         38 Cửa Hữu TP.Thanh Hóa
                                                          T.N.T
                                 (Rút trong tập thơ Bản thảo sắp xuất bản)




NGUYỄN XUÂN NHA



Tiếng của muôn đời



Hội tụ về đây từ năm mươi dân tộc anh em
Phần lớn họ còn rất trẻ
Trai và gái
Nghĩa trang bạt ngàn nấm mộ…

Về đây từ năm mươi tư dân tộc anh em
Người Kinh người Mường người Dao người Thái
Người Hoa người Chăm người Khơ me…
Cả một rừng những ngôi sao bia mộ
Tổ quốc thiêng liêng thành quê hương ru giấc ngủ
 ngàn năm

Non nước thanh bình
Bốn mùa nay im tiếng súng
Bên những người ngã xuống
Chỉ còn tiếng chim ca cùng tiếng lá reo
Và tiếng rì rầm âm vang lòng đất
Tiếng của muôn đời.
                   12/2006
                    N.X.N



NGUYỄN THỊ LAM THANH



Tìm em trên nghĩa trang


Trường Sơn



Ước ao đến được chốn này
Bao đêm thao thức bao ngày đợi trông
Tìm em - em có biết không?
Mộ bia hàng lối như trong đội hình
ở đâu - nấm mộ em mình?
Mà thông cứ đứng vô tình vậy thôi!
Vượt đèo trèo dốc xa xôi
Linh thiêng chỉ chị biết nơi em nằm!
Xa rồi - đã bấy nhiêu năm
Cứ trăn trở mãi… em nằm ở đâu?
Trường Sơn - một dải rừng sâu
Em nằm bên suối hay đầu rừng xanh?
Em - Người chiến sĩ vô danh
Sống trong lòng chị lòng anh xóm làng…
Thôi đành lỡ chuyến đò sang
Chị xin nắm đất nghĩa trang cầm về
Ban thờ chị lập nơi quê
Khói hương em hãy tìm về… nhé em!

Em nằm đất đỏ đất đen?
Đất nào cũng một hồn thiêng quê nhà!

            N.T.L.T



LÊ XUÂN BÍNH


Thuở ấy Bác ra đi…



Vệt sóng con tàu Bác ra đi thuở ấy
Đã khép lại lâu rồi trên các đại dương
Con vẫn thấy ngời lên sức sáng lạ thường
Như tia chớp trên nền trời đen tối.

Vệt sóng con tàu Bác ra đi mở lối
Tìm con đường cứu nước cứu dân
Ngõ Kông-poanh Bác đã dừng chân
Đến với những "Người cùng khổ"
Cùng chung tiếng nói yêu thương
Dù khác màu da xứ sở quê hương…

Từ thuở ấy trên khắp các nẻo đường
Của châu Âu châu á châu Mỹ châu Phi
Đã từng in dấu chân Người theo mỗi bước đi
Với niềm tin sức mạnh thần kỳ
"Đường Kách mệnh" ngời ngời chân lý .

Về Đất Mẹ với tuyên ngôn thế kỷ
Người với nhân dân gắn bó trong mỗi bước đi
Của cuộc hồi sinh kháng chiến trường kỳ
Cho Độc lập Tự do Tổ quốc
Từ Bến Nhà Rồng Bác ra đi cứu nước
Chưa một lần trở lại thành đô
Nhưng mãi mãi bóng Người hiện giữa sắc cờ
Cùng cả nước với Sài Gòn trọn miền vui toàn thắng…

                    L.X.B




ĐÀO PHỤNG



Yên Tử



Theo vua nghìn bậc lên trời
Một lần chay tịnh với người chân tu
Nỗi gì trong tiếng mõ khua
Mà mơ thỉnh thực mà thơ thỉnh đời ?!
               23/3/2007
                    Đ.P




Yêu thời “Chấm COM”


Vầng trăng mọc lặn ai tìm
“Chấm COM” đưa đón. Tên “miền” đợi nhau
Bước qua thế kỷ trầu cau
Đón dâu lên mạng phong bao gởi mừng

Theo nhau về nhận họ hàng
Thảng như ngọn gió qua làng ra đê!

                4/2007
                    Đ.P


CAO HẠNH


Vẽ



Vẽ trăng một nét gương soi
Có hình chú cuội ngồi cười trên mây
Vẽ non nghe tiếng sương bay
Cánh chim hồng nhạn trông mây mơ màng
Vẽ em một đóa hoa hồng
Gửi vào ở chốn hư không cho đời
Bây giờ tôi vẽ chính tôi
Rượu say lạc bút
            thôi rồi…
                mặt ai?…
                 C.H


NGUYỄN NGỌC QUẾ



Bây giờ xin tựa vào em


                                              Cho H


Bây giờ xin tựa vào em
Bờ vai ấy mái tóc mềm thanh tao.
Xin em một thoáng khát khao
Mùa xuân có muộn hoa đào chưa bay.

Xin em ấp nhẹ bàn tay.
Ngoài kia sương gió còn đầy đường xa.
Mưa buồn dăng tận quê nhà.
Mắt em thăm thẳm xin đưa nắng về.

Người mơ lại gặp người mê
Dịu dàng nhé giữa bốn bề trong ngân
Cho tươi non xích lại gần
Cho người thơ bớt phong trần… xin em!.
                   Cuối xuân 2007
                     N.N.Q



VĨNH NGUYÊN



Còn




Còn chiếc hài nàng tiên lẳng lơ núi Phủ
Còn nền nhà xưa cho thi nhân về nằm
Con ngựa bôn ba không phải ngựa chiến mà là ngựa
                       thơ ưa cỏ non những sườn đồi non (*)
Còn kẹp những cuộc tình gái quê thị thần đâu đó?
Con ngựa đã về tàu cỏ vườn xưa và nằm luôn trên
 nền nhà xưa đầu gối núi
Đôi chân rửa ao nhà trước khi ra đồng đạp sang núi Phủ
Và mùa xuân hoa chanh nở trên đầu thi nhân hương   
             nồng nhưng nhức tóc gái quê thành thị thuở
              nao còn đến bây giờ những gái quê quê ông
                        chân quấn xà cạp trên đồng gieo cấy
Còn một làng Thiện Vịnh
Còn một thi sĩ tài hoa Nguyễn Bính.
                                                                                              V.N


(*) Nguyễn Bính sinh ngày mồng ba tháng Giêng năm Mậu Ngọ


NGUYỄN ĐÌNH ẤT


Lửa



Một con chim Phượng Hoàng
To gần bằng trái núi
Lúc về già chim lao vào củi
Dàn lửa bùng lên
Lửa đan nhau xây một tổ mềm
Phượng Hoàng con sinh ra từ đó
Đôi mắt trẻ trung bộ lông sặc sỡ
Ngước trời xanh rồi vút lên cao.

Lửa sinh thành từ những cuộc chuyển giao!

Thần Prô - mê - tê yêu con người nơi trái đất
Lấy cắp lửa thiên đàng
Quên quyền uy thần Dớt
Đỉnh núi cao chịu móc ruột treo mình

Lửa bắt đầu từ sự hy sinh!

Rồng biển Đông bay lên phun lửa ngọc
Khí thiêng tụ ngàn năm trong lòng đất
Là nơi cho lửa sinh ra!
Khi Thánh Gióng vung gươm lưng ngựa sắt
Khí phách anh hùng truyền lửa cho ta!

Còn một nơi lửa sinh ra lửa
Là trái tim khi tình yêu bốc cháy
Cầu vồng đấy!
Đài Hoàn vũ đấy!
Có thể cho than tro bụi hay vàng…
Nung một đời chung thủy đa mang
Và em ạ!
Có luân hồi. Vẫn thế:
- Anh muốn thành Diêm giữ lửa kiếp sau
                  5/2007
                   N.Đ.A



BÙI ĐỨC VINH


Cất vó đêm



Tôi mang thương nhớ cắm sào dưới bến khuya
Mưa quật ngã tâm hồn cỏ may tôi nồng hăng
chát ngái
Gió bao năm gào khan vụng dại
Giá lạnh bủa vây quanh chiếc vó bè
Tôi cất lên cánh bèo phận người chìm nổi
Lửa cháy sao rơi bên cạnh vỏ sò
Con cua nghịch dại bao mùa gắp dấu chân đọng lại
 trong bùn quánh
Bóng mẹ cha rụng đầy trên cát ướt
Dải châu thổ nồng nàn có hạt muối đời tôi lấp lánh.
Cái giỏ đựng tuổi thơ đánh giậm dọc sông nghèo
Bước trên gieo neo bao người đội dòng sông qua
mùa nước lũ
Ai câm lặng về phơi lưới trắng giấc mơ
Con cá cắn câu mắt đỏ sương mờ
Chàng Trương Chi nhặt chén ngọc Mỵ Nương đánh vỡ
Đêm trăng ngậm nửa câu hò

Sau mùa phồn sinh tôi bơi ngược mênh mông tìm con
 nước xiết
Chuyến đò giờ cũng biệt tăm
Có ai ngốc nghếch như tôi? Rong rêu trĩu tay còn
thản nhiên cười lớn
Sung sướng quá bởi vớt được bao linh hồn đắm
Tưởng tượng những khúc sông cặm cụi những thân cò
                                                                                              

                                                  B.Đ.V


TRƯƠNG PHÚ THẮNG



Mẹ!




Con lại về với mẹ yêu thương
Bờ tre nghiêng soi mát những con đường
Mùa lúa chín ngát hương thơm đồng nội
Trái khế vàng gió thổi khẽ đung đưa
Cánh cò bay trong khúc hát ru xưa
Câu ca dao đưa con vào giấc ngủ
Lòng mẹ hiền mang bao điều ấp ủ
ánh mắt mẹ cười những lúc con cười
Đời mẹ nghèo bao gian nan là thế
Vẫn còn đây những buổi chiều nắng xế
Tấm thân gầy lầm lũi giữa dòng sông
Nửa cuộc đời bên sóng nước mênh mông
Mẹ quên đi tuổi xuân thì con gái
Chiếc máy khâu bao năm mòn phấn vải
Vẫn miệt mài những mũi chỉ đường kim
Ơi! Thân lúa đồng chiêm
Con lớn khôn từ rạ rơm đời mẹ
Để chiều nay trước buổi chiều nắng xế
Tóc sương bồnh bềnh giữa lúa chín rưng rưng…

              Thanh Hóa đêm 27/5/2007
                        T.P.T



NGUYỄN HƯNG HẢI



Vào lúc thủy triều



Học cách đi của ngọn suối
ta đến được dòng sông
học cách của dòng sông ta tìm về biển

Trên bãi cát nằm trơ bao vỏ hến
ta học được gì vào lúc thủy triều lên

Nếu không học được gì
suối đã chẳng tìm sông
sông không tìm ra biển
biển chẳng tìm trời rộng để mênh mông
để quay về sông suối?

Bao nhiêu sự đi tìm không sao mà học nổi
biển bạc đầu còn chịu cách đi
của suối của sông
của những sự tìm về
để được lớn hơn và thoát ra khỏi biển

Trên bãi cát nằm trơ bao vỏ hến
ta học được điều gì vào lúc thủy triều lui?

                  Việt Trì ngày 9/2/2007
                               N.H.H


More...

Phê bình

By Văn Nghệ Xứ Thanh




Tâm sự Mây ơi! Mây trắng…

của Nguyễn Đồng


                                                                    Trần Văn Trọng

Ông Nguyễn Đồng sinh năm 1926 quê ở làng Tào Sơn xã Thanh Sơn huyện Tĩnh Gia Thanh Hóa. Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa. Ông mất ngày 11 tháng 12 năm Bính Tuất tại quê nhà. Ông ra đi để lại các tác phẩm Mài đục rửa cưa (Sưu tầm biên soạn) Chuyện ngày xưa (Sưu tầm biên soạn) và tập thơ Mây ơi! Mây trắng…
Tạp chí Xứ Thanh xin giới thiệu bài viết về tập thơ Mây ơi! Mây trắng… và bài thơ Di chúc lời cuối cùng của ông tới bạn đọc.

                                                                      Ban biên tập


      Nguyễn Đồng là bút danh và cũng là tên thật của tác giả tập thơ Mây ơi! Mây trắng…(*) Ông sinh năm 1926 tại làng Tào Sơn xã Thanh Sơn huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa. Tác phẩm đã xuất bản gồm 2 cuốn truyện dân gian sưu tầm và biên soạn là: Mài đục rửa cưa (NXB Thanh Hóa 1996) Chuyện ngày xưa (NXB Thanh Hóa 1999) và một tập thơ Mây ơi! Mây trắng… (NXB Hội Nhà văn 2007). Tập thơ Mây ơi! Mây trắng… in sau khi ông đã qua đời.
"Thơ là sự rung động của trái tim con người con người đã nghe trái tim mình xúc động cả tỷ lần nhưng không lần nào giống lần nào cả". Con đường đến với thơ ca của mỗi con người cũng không giống nhau. Có nhiều người viết như sự giãi bày bộc bạch nỗi lòng và khi tìm được sự đồng điệu của những tâm hồn độc giả những vần thơ ấy bắt đầu một đời sống thứ hai lan tỏa và đọng lại những dư âm vang vọng…
Với số trang khiêm tốn 38 bài thơ của Mây ơi! Mây trắng… là 38 đoạn tâm tình những mảng màu xúc cảm tiếp nối đan xen. ở đó có niềm vui sự thanh thản bình yên nhưng cũng có cả những nỗi buồn trăn trở suy tư thổn thức… và thậm chí có những lúc tưởng như rơi vào niềm tuyệt vọng thấy mình "Buồn khôn cùng/ Khi không còn gì để mất" (Lất ngất)…
Thơ của Mây ơi! Mây trắng… dung dị cái hồn vía làm nên sức sống của những trang viết ấy không phải là sự dụng công của ý tình câu chữ; người làm văn chương ở đây gạt bỏ những cái đẽo gọt trau chuốt cầu kỳ để tìm về cái mộc mạc giản dị thanh tao nói bằng giọng chân thành không chút lên gân: "Cái gọi là xấu là đẹp / Phải đâu như cái áo khoác ngoài / Càng ấn tượng càng dễ thấy / Nên tình yêu thường đơn côi" (Đơn côi)…
Mỗi bài thơ như một sự tái hiện và khắc ghi. Đọc cả tập thơ bạn đọc hẳn hình dung ra hình ảnh một con người trầm tư cứ nhởn nha bình thản lặng lẽ đong đếm thời gian hạnh phúc góp nhặt những niềm vui nho nhỏ để tìm những triết lý sống cho riêng mình; để yêu thương để gửi gắm chứ không khi nào thấy chán ghét cuộc đời này.
Trong tập thơ hình ảnh làng quê bạn bè gia đình công việc… trở đi trở lại như một niềm trân trọng biết ơn. Đó là những địa danh tươi đẹp nên thơ gắn bó đầy kỷ niệm: bến Đục chùa Hương núi Tam Đảo xứ Thanh chùa Mẹ Sỹ sông Trạp… là những trăn trở về các giá trị văn hóa của vùng đất đã cưu mang ông suốt đời. Trong bài Di tích làng tôi ông đã thể hiện cái nhìn xót xa khi những hòn đá Ông Voi Ông Bếp núi Cóc Bàn cờ tiên chùa Tào Sơn chùa Cô Hợi… của quê hương đã bị tàn phá dần bị rơi vào quên lãng nên "Nỗi đau tâm linh vẫn còn hằn trơ dấu vết/ Biết đến bao giờ quên!" là hình ảnh của người mẹ người cha người vợ (Bóng mẹ Hình cha Vợ tôi). Đôi khi là thú vui nơi thôn dã thả hồn theo thiên nhiên mây nước; là bức tranh tự họa nỗi lòng về ước mong tâm sự… Đặc biệt Nguyễn Đồng hay sử dụng những hình ảnh có tính biểu trưng rất rõ; đó là tiếng chuông chim cuốc ngọn lửa…
Đêm tối
Sự hiu quạnh
Luẩn quẩn và lười biếng …
Mãi mãi sẽ là cái bóng
Khi lửa lòng
Dẫu chất chứa cay đắng
Được thắp sáng dần lên!
Và khi trải lòng với những hình ảnh xung quanh đối diện với lòng mình nhà thơ lại tự bạch tự họa tự ngẫm ngợi và suy tư: Một chút lang thang góp nhặt / Vui buồn bao chuyện nhớ - quên / Tháng năm biếng ngủ trong đời chật / Củi than cời rạng vẻ phong trần (Thơ tôi)… là những ngẫm suy về thân phận con người xót xa cho một kiếp sinh linh ở đời: Thương cho tầm gửi cây dâu! / Tiếc cho tầm gửi cây dâu/ Sinh hóa đã không phân biệt / Rốt ráo làm củi đun (Tầm gửi cây dâu)
Nhưng rồi ở đâu ta cũng thấy ánh lên âm hưởng lạc quan tin yêu cuộc sống:
Bụi trần ai rũ sạch
Duy giữ niềm yêu thương!
(Tâm sự)
Một điểm khá ấn tượng của tập thơ đan xen hòa điệu trong những dòng thơ tâm tình tự bạch ấy là những triết lý những trải nghiệm của một con người đã chịu nhiều va vấp mất mát; nhưng lại không chút bi quan chán nản ngược lại vẫn cảm thấy cõi đời và vô cùng đáng quý: "Anh thiên giữa đời trần tục/ Hơn giấc mơ hoa cuối trời"…
Khi đã ở chặng cuối của cuộc hành trình quay đầu ngoái nhìn lại những năm tháng đã qua những lam lũ những vất vả những xô đẩy của cuộc đời tác giả suy tư nhưng không phải để buồn để hờn oán hay than thở mà để tin yêu để cảm ơn cuộc đời để khẳng định cái nhiệt thành cái ham sống - sống một cách có ý nghĩa. Mây ơi! Mây trắng… là tiếng lòng tri âm muốn được sẻ chia tìm sự đồng điệu với những tâm hồn dung dị. Người làm thơ tự ý thức sâu sắc về cuộc đời này cái hữu hạn và cái vô hạn cái có và cái không cái được và cái mất. Để từ đó vừa bằng lòng với chính mình vừa tự nhắc nhủ cũng như một lời tự bạch: Riêng tôi sợ nhất / Là bản thân mình / Nếu một khi / Si mê / Lầm lỗi (Sợ)… Dù đôi lúc ông tự trào về nghề thợ mộc mà mình gắn bó gần như cả đời: Làm nhà ngủ lán xưa nay / Hoài công cho muỗi mưa quây / gió cào / Đến khi cửa rộng nhà cao / Người ta sum họp lại chào bước ra (Lai rai nghề thợ mộc)…
Từ khởi đầu cho đến cuối tập thơ của tác giả Nguyễn Đồng có những điểm gặp gỡ tương đồng ấy là cái lý lẽ đầy lạc quan yêu đời và yêu người. Con người dù đối diện với cái chết vẫn không chút sợ hãi lo lắng bình thản trước cái lẽ sinh - diệt của cuộc đời. Tìm về cái hư không bồng bềnh của ảo giác để tự an ủi. Dùng triết lý Thiền học như để tự vỗ về sự bình yên sống thế là đủ là ý nghĩa thật nhiều bởi ý thức được rằng: "Nhân sinh tự cổ thùy vô tử". Trong bài Tâm sự dường như người viết đã tìm đến nơi mà xưa kia Nguyễn Du cũng từng tìm tới: "Mùi Thiền đã bén muối dưa / Màu thiền ăn mặc đã ưu nâu sồng". Có lẽ đó điều là kết quả của sự chiêm nghiệm về lẽ được - mất ở đời và về số phận con người:
Chẳng bận bịu tranh hơn
Không nhọc nhằn khoe giỏi
Gắng kiệm cần nhân ái
Muối dưa đượm mùi Thiền.
(Tâm sự)
Phạm Tiến Duật có lần đã nói: "Văn chương không cần hơn nhau mà cần sự khác nhau". Điều đó có lẽ đúng. Đọc Mây ơi! Mây trắng… ta như hình dung được một hành trình ra đi và trở về hình trình sống và chiêm nghiệm lẽ đời. Cuối chặng đường ấy những câu thơ "phiêu" hơn hư hư ảo ảo hơn. Cái thực còn lại là ý thức về cõi trần thế nhưng cái ảo lan khắp lại là cảm giác từ tạ chốn ấy để về "phía bên kia" xứ trắng đen không màu. Không hiểu sao đọc đến những bài như Chốn về sông Trạp Cầu hoàng hôn… hồ như ta bị ám ảnh bởi tiếng thơ của Bùi Giáng trong Bồng bềnh cho tới mai sau…
Cuộc đời hư giả nhân duyên
Chẳng phân trong đục màu thiền chơi vơi…
Giữa những câu thơ những bài thơ ta thấy những khoảng im lặng như là sự suy tư sự trải nghiệm của con người khi bước đến "hoàng hôn" của cuộc đời ngoái nhìn lại cuộc hành trình đã qua để trân trọng để yêu thương và để tìm sự tri âm.
Câu chữ số trang khiêm tốn của Mây ơi! Mây trắng… đã nói được nhiều điều tưởng chừng giản dị mà lại mang ý nghĩa sâu sắc. Điểm tìm về của tác giả và cũng là điểm hướng người đọc tới đó là những cái thân thương đời thường là sự dịu dàng sự bình yên và thanh thản dù đôi lúc ta bắt gặp đâu đó màu sắc bi quan nhưng ở đó ta vẫn thấy những lời tâm huyết với đời chúng như hồi chuông cảnh tỉnh lương tri con người:
Người ta thường đến kỳ mới chết
Nên đến khi được chết là may
Tuổi trời hồ dễ ai vay
Nếu không đã chật đất này kẻ tham.
(Di chúc)

Có người đã nói: Thơ chính là cái bóng của cuộc đời con người soi xuống dòng sông thời gian. "Thơ chống lại sự vô cảm" kéo con người lại gần nhau hơn. Đọc tập thơ của Nguyễn Đồng thoạt tiên chúng ta đi tìm văn chương nhưng rồi ta lại bắt gặp được một con người một số phận và hơn hết là một tâm hồn.
T.V.T



(*) Tập thơ của Nguyễn Đồng NXB Hội nhà văn 2007



Nguyễn Đồng


Di chúc


Miếng dương gian bằng ngàn âm phủ
Sống nhiều no ít đủ đã vui
Chết không báo biến lôi thôi
Cũng không xôi thịt cho ruồi nó bâu

Đồ trướng đối điếu văn cũng miễn
Cháu con đừng khóc lóc kêu than
Có chăng réo rắt trống kèn
Để cho rôm rả nỗi buồn tránh xa!

Người ta thường đến kỳ mới chết
Nên đến khi được chết là may
Tuổi trời hồ dễ ai vay
Nếu không đã chật đất này kẻ tham!

Khi hư tịch ít nhiều luyến tiếc
Chưa xong điều công đức nên làm
Âu là trông cậy cháu con
Góp vun quả phúc vuông tròn mai sau…

                                      N.Đ



More...

nghiên cứu

By Văn Nghệ Xứ Thanh

   


Sử thi "Đẻ đất đẻ nước"

và hội nhập

                            
                                           Vương Anh
 
    
     Tận bây giờ tôi vẫn nhớ câu nói của giáo sư tiến sĩ Đông phương học Niculin (Liên bang Nga) khi ông trao đổi với tôi về cái gốc của cây "Chu đá lá chu đồng bông thau quả thiếc" trong Sử thi Mo Mường "Đẻ đất đẻ Nước"; Ông nói: "Núi không bao giờ câm lặng" núi có cuộc đời núi có hơi thở núi có kho tàng trên nghĩa báu vật núi có mặt trên thế gian này như một nhân chứng vĩ đại. Cái núi Lai Li Lai Láng ở tận Mường ống Việt Nam xứng đáng là núi Thần núi Mẹ. Núi đồi biết hóa thân đẻ ra cái gốc của một sử thi Mường Việt…
Ông say sưa với bài giảng trên lớp học của Học viện Văn học Gorki bao nhiêu thì sự say mê ấy lại tăng hơn khi ông đang tìm hiểu về dịch sử thi Đẻ đất đẻ Nước. Tôi cảm kích giọng đọc thơ của ông thật vòng vọng dư vang. Vốn tiếng Việt của ông thật đáng nể. Đoạn kể đoàn người đi săn lùng cây gỗ thần vô cùng gian nan vất vả ông đọc ngân nga rằng: "Ba anh em nhà lang cùng Chu chương mường nước lại cất bước ra đi - ầm ầm i ì qua rừng lội suối - đi mãi đi  cùng tới đồi La Lai - ngủ ở đồi Lai Láng mười hai ngày - Ngó chẳng thấy cây Chu chương Mường nước trở lại - Lụi tháng tàn năm lại kéo binh Mường đi lùng cây Chu đá…
Tôi sực nhớ đến ông nghệ nhân mo Mường Trương Nức quê ở bản Chiềng mường ống - Giọng mo ca của ông Nức cũng trầm vọng thâm cung rằng: "Vào Cửa Khổ Rằng Khò - Một bận qua núi Làn Ai - Hai tháng qua nơi Van Chiếng - một hôm đến núi Khao Da - Ba hôm qua đồi Vận Chiếng - Chín đêm mười ngày đến đồi nhà ông Cai Da - Đến núi sau nhà Đạo Ký ống - Trông đi ngó lại - Thấy sáng cả trời… Có đàn gấu đứng chầu - đàn trút đàn hoẵng đứng đón - chớp đỏ rồng vàng leo lên leo xuống - Hoa vàng bảy trái vàng ba - Lá và hoa kêu ra nhạc ngựa - Rõ là cây bằng đá - lá bằng đồng - bông bằng thau - quả thì bằng thiếc…
"Núi không bao giờ câm lặng…". Hai vị thẩm thấu sử thi Mường ở hai phương trời đều si mê cốt truyện. Tôi cầm bản dịch trong tay như còn hơi ấm của núi ngàn nơi sinh ra Đẻ đất đẻ Nước. Tiếng lòng của đồng bào dân tộc ở Mường ống Mường Ai Mường Khô Mường Rặc Mường Phấm Mường Dồ Mường Khang Mường Khến Mường Vó Mường Vang Mường Thàng Mường Khọi… hòa cùng bài ca rước tang lễ vào không gian thời gian vô bờ bến. Trường ca từ bi ai đến nhộn nhịp từ khóc than đến trường thiên lịch sử nhân loại và cuộc sinh nở của vũ trụ là một chuỗi dài hoành tráng của sân khấu đời Người đời Vũ trụ bao la vĩnh hằng.
Lần giở từng trang đọc lên từng câu từng chữ của Sử thi Đẻ đất đẻ Nước… Giáo sư tiến sĩ Niculin nhận xét như một sự tâm phục khẩu phục rằng: Giờ đây thì những cơ sở sinh ra nó đã biến mất từ lâu nên sử thi cổ điển bản thân nó không còn lý do tồn tại. Phương Tây dù sau đó Ênêit của Viếcghin Asilêcit của Xtát vẫn không sao lấy lại trọn vẹn cái hào quang sảng khoái của Hôme. Với Đông Phương ILiát vẫn là trường ca vĩ đại nhất thế giới. Việt Nam đã có sử thi Đẻ đất đẻ Nước vén màn rừng núi về góp mặt trong kho tàng Văn nghệ dân gian. Không phải trường ca về chiến tranh ILiát cũng không hoàn toàn là trường ca về cuộc sống thanh bình như Ô đixê mà Đẻ đất đẻ Nước là một Sử thi đồ sộ là một sự kết hợp khéo léo các nguồn thần thoại với những biến cố chính trị biến cố xã hội để sáng tạo nên tác phẩm; là một niềm say mê vô tận để quan sát và tái hiện cuộc sống là một chuỗi diễn trình tỉ mỉ mọi sự kiện thời đại để qua đó; nhìn thấu cái chân lý sống vẫn in hằn trong những thế kỷ xa xưa…
Quả nhiên từ những mạch nguồn suy tư đó tận khi sang Việt Nam năm 1994 giáo sư đến quê Bác Hồ ở Kim Liên (Nam Đàn Nghệ An) và lại vẫn đi tìm những nghệ nhân dân gian Mường xứ Thanh. Lần này có nghệ nhân Phạm Văn Dy 80 tuổi quê ở Mường Rặc đang cùng với nhà nghiên cứu Suginô (Nhật Bản) và nhóm cán bộ nghiên cứu văn hóa tỉnh tổ chức diễn xướng về Đẻ đất đẻ Nước. Thế là giáo sư Niculin hồ hởi nắm tay cụ Phạm Văn Dy thật chặt. Cụ Dy thì ngỡ ngàng sung sướng khi được lĩnh xướng những câu sử thi Mo Mường trước những vị khách lạ. Khách thì như vớ được vàng. Bây giờ ông được nghe Mo Đẻ đất đẻ Nước bằng tiếng đẻ nó ra - tức là tiếng Mường. Tiếng Mường là là một trong năm mươi tư tiếng nói trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Người Nga nghe tiếng Kinh đã khó nghe đến tiếng Mường lại càng khó khăn hơn. Tôi là người phiên dịch. Thay vào phải viết ra giấy thì đã có cuốn Đẻ đất đẻ Nước do Ty Văn hóa Thanh Hóa ấn hành năm 1976 từng trang mở ra so sánh với từng câu ngân nga của cụ mo Dy thật là lý thú. Việc đơn giản của ngày ấy làm công tác dịch thuật chỉ là chuyển tải ngôn ngữ cho phù hợp nào ngờ bây giờ nhìn lại thì công việc bình thường ấy đã là một phần hội nhập tinh hoa văn hóa dân tộc mình với nhân loại và thế giới.
Đẻ đất đẻ Nước mang một vũ trụ quan duy vật thô sơ chứng tỏ cũng như nhiều dân tộc: Những người lao động cổ đại ở xứ này mặc nhiên biết được vạn vật hình thành từ vật chất. Trong quá khứ xa xôi cuộc sống thời hỗn mang hiện lên lung linh mờ ảo nửa thực nửa hư. Những hình tượng của Đẻ đất đẻ Nước xa lạ với các xu hướng bi quan yếm thế. Bởi ngay từ dòng đầu cuộc sống đã có  sự hòa hợp nhất thể: Đất đẻ cây si cây đẻ ra quê Mường làng xóm một bọc trứng thiên [Trứng tiếng] sinh ra cả gia đình ruột thịt; lại có cả uyên ương trống mái chim Trùng chim Tót; báo trước rằng sự sống giống nòi sẽ nảy nở sinh sôi trong khung cảnh hồn nhiên không có những vui buồn ước lệ. Những chất liệu không có gì bỡ ngỡ với huyền thoại gốc Việt Nam: Đó là những quả Bầu Mẹ những chiếc trứng thần. Trong sử thi Đẻ đất đẻ Nước cái đặc sắc của hình tượng là nó không ngừng lại đó mà phát triển mãi ra; tiếp nối nhau như cuộc sống vẫn luôn tiếp nối; có đất có nước - tức là có Đất nước - có con người thì phải có sinh hoạt và cải thiện sinh hoạt bằng cuộc sống xây dựng và bằng chiến tranh. Họ đã kéo thiên nhiên lại gần mình và thiên nhiên như cũng chịu phép và khuất phục trước lòng ham muốn ham sống để xây dựng cuộc sống với con người! Thần thánh trong Đẻ đất đẻ Nước khác với thần thành nhiều nơi trên trái đất: ví như thần Dớt có tài nghệ cao cường uy quyền rất lớn nhưng vẫn phải chịu phép tuân theo số mệnh không cứu nổi con mình là Xácpêđông. Pơrômêtê ăn cắp lửa một việc làm vì nghĩa vẫn cứ bị trừng phạt thảm thê đau đớn. Thần ngự trị hoành hành… Còn với Đẻ đất đẻ Nước các thần thánh lùi lại sau "hậu cung" kín đáo để cho con người và muôn vật tự do đi tìm cái sống tự quyết định lấy vận mệnh của mình: Đó là Tài Cắm Cọt cố ý làm cho tắt ngọn lửa vừa ban và Viếng Ku Linh không hoàn thành nhiệm vụ thì đã có Tun Mun gánh vác đi thay hỏng keo này bày keo khác phải học cách chế tạo ra lửa: Cái bí quyết thần tiên cố dấu đến đâu vẫn bị bộ óc thông minh của trần gian khám phá và sau đó không hề có sự trừng phạt ma giáo nào đuổi theo. Những Mụ Húng Mụ La ông Pồng Pêu… đã mờ đi sau những bước lăn lộn nghiệt ngã chịu thương chịu khó của những nhân chứng sống đi tìm ra: lửa nước rượu trâu bò gà lợn giống lúa. Không biết nên tôn vinh những Chì Bù Dút Tun Mun Bà Rấp Bà Rủ Dạ Dần Nàng Dặt Cái Dành … là những danh nhân lao động sáng tạo hay chính đây là Bản thân lao động hóa thân? Hình tượng trung tâm của suốt các chương khúc là hình tượng con người tỏa sáng với những hành trạng không có ly kỳ biến hóa như những chuyện huyễn hoặc hoang đường. Cuộc sống trong Đẻ đất đẻ Nước là cụ thể gần gũi rất quen thuộc nhưng vẫn chất chứa bao nhiêu cái mới tinh khôi của những sự vật rất bình dị. Thật là hiện thực hơn nữa của ảo mà như thực mới là cốt cách dẫn chuyện của Đẻ đất đẻ Nước mà hiện thực lại âm vang gõ cửa cuộc sống như truyền thuyết vậy. Hình tượng đốn chặt cây Chu kéo cây Chu minh họa cho nghệ thuật tái hiện lại cuộc sống đồng trinh. Cây chu đá lá chu đồng bông thau quả thiếc là tượng trưng cho sự giàu có sung túc hạnh phúc cho cả lao động phát minh cả đấu tranh xây để trường tồn. Kéo cây Chu khổng lồ vĩ đại từ đồi Lai Li Lai Láng ở Mường Ca Da đi dọc dài tận Cầu Nóc Cầu Rồng nơi đồng chì tam quan kẻ chợ quả đó là một cuộc viễn chinh. Đó chính là sức mạnh tổng hợp đoàn kết một lòng mà con người lao động tỏa sáng con người anh hùng lao động cũng đồng thời xuất hiện từ buổi bình minh của nền văn hóa - văn minh. Đừng nghi vấn hoặc nghi ngờ rồi tìm hiểu có thật hay không có thật đoạn chuyện kể phải giết chết Tặm Tạch và lấy máu Tặm Tạch bôi vào rìu xương cốt Tặm Tạch làm đòn bẩy kê làm đà trượt để kéo cây Chu… Lịch sử nhân loại chưa ghi được tên ai đã gục ngã dưới chân các Kim tự tháp huyền bí hoặc Vạn Lý Trường thành. Đẻ đất đẻ Nước độc nhất vô nhị có Tặm Tạch một con người lao động bình thường trong cộng đồng người để đánh dấu sự hy sinh bất tử vĩ đại ấy là điều hoàn toàn chính đáng. Tặm Tạch vẫn như một Xpactaquixơ một Tạ Ngọc Lân… với vẻ đẹp hùng tráng của một anh hùng nhân dân thực sự. Tặm Tạch có lòng nhân đạo tình bạn bè và cả sự thực thà nhẹ dạ. Sức mạnh của anh là sức mạnh vạn năng. Có anh mới có nổi cây Chu thần và cái chết của anh cũng có khả năng duy nhất mở cánh cửa cho đời tiến đến khung cảnh mới hơn. Thế lực quan lang to lớn sẽ chẳng làm được điều gì nếu không có sự can thiệp của sức sáng tạo trong bàn tay lao động để rồi dựng được nhà Chu rồi lại đốt nhà Chu - bởi đó là nhà của thế lực "Vua Lang" hà khắc. Nhà Chu hôm qua là thành quả của cuộc sống là ngưỡng vọng của dân thường nay nó là trở lực ngáng đường không cho sức sống thăng hoa bởi một khi đấu tranh giai cấp bùng nổ quần chúng thức tỉnh. Một bà già vô danh đã bày cho con Tặm thằng Tạch (con của tặm Tạch hãy buộc nùn lửa vào đuôi mèo đuôi khỉ lùa chúng lên nóc nhà Chu và cho bùng cháy thành tro - Đó là biểu tượng sáng chói tượng trưng cho nhận thức giành quyền làm người.
Hồi kết Đẻ đất đẻ Nước còn có những chương đánh quạ điên đánh cá điên lo xống áo cho vua đưa vua về Đồng Chì tam quan kẻ chợ. Hãy phân tích rõ quan niệm vua chúa? Vua đây của sử thi không phải là ông vua mũ áo cân đai triện vàng hoặc ai thích duy danh định nghĩa - Vua của cộng đồng Mường bản. Vua của Đồng Chì tam quan kẻ chợ vẫn là một tượng trưng của ý thức dân tộc - Đó là người "Cầm binh cho sang cầm mường cho giàu có". Vua xuất hiện đúng vào lúc tinh thần làm chủ đất nước sơ khai phải được sáng ngời. Các nhân vật Dịt Dàng Tà Cái Cun Cần Cun Khương.v.v… vẫn chỉ là ông Lang. Bây giờ mới đến lúc phải nhấn thêm sự tập trung ý chí vào cuộc sống mới cuộc sống của một cộng đồng thấp nhất nay bước lên giai đoạn văn minh. Họ đã mượn từ "Vua" để làm biểu tượng linh thiêng tượng trưng cho ước vọng và cuộc sống mới.
Giáo sư tiến sĩ Niculin phần nào lĩnh hội được cốt lõi và tính cách độc đáo của cốt truyện Đẻ đất đẻ Nước ông dịch ra tiếng Nga và sẽ làm tài liệu bổ sung cho bộ sưu tập văn học dân gian phương Đông của ông. Cũng như nhà nghiên cứu dân tộc học Suginô ở Tôkiô Nhật Bản có dịp được tiếp cận với vùng văn hóa dân gian Mường Chẹ   Mường Rặc cũng các vỉa quặng lộ thiên của sử thi Đẻ Đất đẻ Nước ông tách ra phần dựng cây bông trong chương "Mừng nhà Chu" để nghiên cứu cấu trúc của cây gỗ Chạng Bạng tạo tác từ bàn tay nghệ nhân Mường tài hoa dựng nên cây bông từ chín đến mười lăm tầng.
Mỗi nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đều có một tâm trạng hồ hởi say mê khi đã lạc vào "mê cung" với các vị mo sư Mường để nghe diễn xướng Đẻ đất đẻ nước.
Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay việc chọn lọc giới thiệu các tinh hoa văn hóa của các dân tộc anh em của đất nước Việt Nam ra thế giới đã và đang là mục tiêu rộng mở. Sử thi Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường sẽ cùng hàng trăm sử thi Tây Nguyên với Xóng chụ xon xao của dân tộc Thái Khảm  hải của dân tộc Tày… có dịp mở mang trong hội nhập: đàng hoàng tự tin và phát huy phát triển. Với xứ Thanh và Hòa Bình tầm nhìn cho Đẻ đất đẻ Nước còn ở phía trước nên chăng việc tạo tác vùng văn hóa du lịch Đẻ Đất đẻ Nước từ đồi Lai Li Lai Láng… đặng sớm được lên ngôi.
                                     V.A

More...

Bình luận văn nghệ

By Văn Nghệ Xứ Thanh

 

 

Trong hai ngày 3 - 4 tháng 7/2007 tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức tập huấn và hội thảo "Phấn đấu để có nhiều tác phẩm tốt hơn nữa" (Cụm các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên). Nhiều tham luận đã đề cập đến nội dung phong phú của hội thảo. Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh giới thiệu tham luận của nhà thơ Mạnh Lê tại hội thảo.

                                                                            Ban biên tập


Góp phần nâng cao chất lượng


sáng tác tác phẩm văn học


ở địa phương


                                         Mạnh Lê

 

      Nói đến tác phẩm văn học ở địa phương tức là những tác phẩm do các tác giả đang sinh sống và làm việc ở địa phương sáng tác. Họ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc ở địa phương là các hội viên thuộc các ban chuyên ngành văn học của Hội văn nghệ địa phương và các tác giả không chuyên khác. ở đây không có sự phân biệt giữa  tác phẩm văn học địa phương và tác phẩm văn học trung ương tác giả trung ương và tác giả địa phương.
Giá trị của một tác phẩm văn học thể hiện ở thời gian và số lượng độc giả tiếp nhận tác phẩm văn học ấy. Trong lịch sử phát triển văn học Việt Nam những tác phẩm văn học được khẳng định có giá trị là những tác phẩm có sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc cho dù tác phẩm ấy được xuất bản ở các nhà xuất bản trung ương hay địa phương. ở các Hội văn nghệ địa phương hiện nay có 3 loại tác phẩm của 3 thể loại tiêu biểu bao gồm: Thơ Văn và Lý luận phê bình. Trong hai mươi năm qua kể từ khi đất nước ta bắt đầu sự nghiệp đổi mới (1986-2007) đời sống văn học đất nước có nhiều thay đổi và ở bình diện chất lượng tác phẩm văn học cũng có những thay đổi lớn. Về mặt số lượng tác phẩm và tác giả văn học tăng lên rất nhiều so với trước đây. Đặc biệt là số lượng các tác giả thơ và số lượng xuất bản các tập thơ trong cả nước. Song cũng ở giai đoạn này số lượng các tác phẩm có số đông độc giả tiếp nhận như thời kỳ chống Mỹ thì hình như có ít đi. Còn tác giả và tác phẩm lý luận phê bình văn học xuất hiện rất hạn chế và có thể nói lý luận phê bình văn học chưa theo kịp với sáng tác văn học. Chúng ta chưa có nhiều tác phẩm văn học đỉnh cao nhiều tác phẩm văn học có chất lượng cao mà chủ yếu xuất hiện nhiều tác phẩm văn học ở mức trung bình và trung bình khá. Cho nên nói đến việc nâng cao chất lượng sáng tác tác phẩm văn học ở địa phương tức là muốn nói đến việc hỗ trợ để nâng cao các tác phẩm mới đạt ở chất lượng trung bình trung bình khá thành nhiều tác phẩm chất lượng cao và tác phẩm đỉnh cao chứ không phải hỗ trợ để có nhiều tác giả và tác phẩm.
Hiện nay việc tài trợ của các Hội Văn nghệ địa phương cho sáng tác văn học có nhiều hình thức: Mở trại sáng tác đi thực tế giao lưu hội thảo hoặc tài trợ kinh phí trực tiếp cho các tác phẩm. Song điều cần phải quan tâm ở đây là hiệu quả của tài trợ đầu tư. Theo chúng tôi việc tài trợ hiện nay mới dừng lại ở mức là tài trợ để có tác phẩm chứ chưa phải là tài trợ để có tác phẩm chất lượng cao. Có thể chúng ta có ưu tiên mức tài trợ cho đề tài cho thể loại ví như với thơ thì ưu tiên cho trường ca với truyện thì ưu tiên cho tiểu thuyết với lý luận phê bình thì ưu tiên cho những công trình nghiên cứu về tác giả tác phẩm... Song trên thực tế đó mới là những yếu tố hình thức. Điều quan trọng là sự kiểm nghiệm chất lượng nội dung của tác phẩm. Chúng tôi đề nghị các Hội Văn nghệ địa phương nên lấy tiêu chí tác phẩm chất lượng cao để tài trợ đầu tư. Tức là chúng ta lấy phương châm “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” nên đầu tư cho số ít tác phẩm có chất lượng cao còn hơn tài trợ để có nhiều tác phẩm trung bình.
Yếu tố quan trọng nhất để làm nên chất lượng tác phẩm chính là tài năng là năng lực sáng tạo của các tác giả. Cho nên các nhà tài trợ ngoài việc đánh giá chất lượng tác phẩm mà mình đầu tư còn phải đánh giá được năng lực sáng tạo của nhà văn trong quá trình sáng tạo tác phẩm. Chúng ta không đầu tư để có tác giả mà chúng ta đầu tư cho tác phẩm có chất lượng cao để có tác giả lớn. Hiện nay các tác giả sáng tác văn học ở địa phương gặp hai khó khăn lớn. Thứ nhất là kinh phí tài chính để xuất bản tác phẩm. Thứ hai là phát hành tác phẩm sau khi tác phẩm được xuất bản. Có nhiều tác giả sau khi được tài trợ chỉ hoàn thành tác phẩm ở dạng bản thảo. Nhiều tác giả chỉ có thể công bố một phần tác phẩm của mình trên báo hoặc tạp chí văn nghệ địa phương.
Với cơ chế xuất bản hiện nay tác giả tự lo kinh phí để xuất bản tác phẩm của mình nhiều nhà xuất bản đã cho ra mắt quá nhiều tác phẩm yếu hoặc trung bình về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật. Chỉ tính riêng tác phẩm thơ mỗi nhà xuất bản hàng năm trung bình phải ra tới hàng trăm đầu sách. Song trong số hàng trăm đầu sách ấy chỉ có khoảng mươi đầu sách thực sự có chất lượng cao.
Hiện nay có nhiều tác giả không có điều kiện để xuất bản tác phẩm. Nhiều chùm thơ nhiều truyện ngắn trích đoạn tiểu thuyết các bài nghiên cứu lý luận phê bình đều mong được đăng tải trên báo hoặc tạp chí văn nghệ địa phương. Có những tác giả cả đời viết mà chưa một lần được giới thiệu tác phẩm của mình trên báo tạp chí của Hội Nhà văn Việt Nam. Chúng tôi không đánh giá yêu cầu chất lượng của tạp chí địa phương thấp hơn yêu cầu chất lượng của báo tạp chí ở Hội Nhà văn Việt Nam. Điều chúng tôi quan tâm ở đây là ngoài việc hỗ trợ kinh phí giúp tác giả xuất bản được tác phẩm chúng ta phải có được một cách thức nào đó giúp tác giả đưa được tác phẩm của mình đến được với công chúng bạn đọc rộng rãi trên phạm vi cả nước.
Bản thân mỗi một nền văn học một giai đoạn văn học tự nó tạo ra độc giả của chính nó. Chúng ta đã có một lượng độc giả rất say mê đón đọc tác phẩm văn học thời chống Mỹ. Hiện nay số độc giả say mê đón đọc tác phẩm văn học thời kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hóa có ít đi. Có rất nhiều lý do dẫn đến hạn chế này trong đó lý do chủ yếu là văn học thời kỳ đổi mới còn thiếu nhiều tác phẩm đỉnh cao phản ánh chân thực và sâu sắc chân dung con người và xã hội chúng ta trong thời kỳ đổi mới.
Hội Văn nghệ Thanh Hóa trong những năm gần đây đã chú ý tài trợ cho các tác phẩm có chất lượng cao. Nhiều tác phẩm tiểu thuyết trường ca được tài trợ đã đoạt được giải thưởng của Hội Văn nghệ Thanh Hóa và của Hội Nhà văn Việt Nam đã gây được ấn tượng với độc giả. Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh diễn đàn văn học nghệ thuật của Hội Văn nghệ Thanh Hóa đã kịp thời giới thiệu các tác phẩm có chất lượng cao ấy trên tạp chí của mình.
Các nhà văn hoạt động ở cơ sở có lợi thế là luôn luôn được tiếp cận với đời sống xã hội và có điều kiện tạo ra cho mình một lượng độc giả yêu thích tác phẩm văn học của mình ngay trên quê hương mình. Với những thuận lợi ấy cùng với sự đam mê sáng tạo hết mình của tác giả cùng với sự hỗ trợ giúp đỡ của Hội Văn nghệ các báo và tạp chí văn nghệ địa phương của ủy Ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam Hội Nhà văn Việt Nam chắc chắn chúng ta sẽ có được tác phẩm văn học đỉnh cao nhiều tác phẩm văn học chất lượng cao trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
                                                                             Tháng 7-2007
                                                                                     M.L

    


More...