TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh




Vương Trọng


Thầy và trò

Truyện ngắn
      

        Hàng năm cứ vào dịp cuối tháng hai dương lịch trường Văn hóa Quân đội lại vào mùa luyện thi mới. Ngót ngàn học viên là những người lính từng tốt nghiệp phổ thông phần lớn có thành tích chiến đấu ở chiến trường nhiều năm được quân đội chọn về tham gia khóa luyện thi để chuẩn bị cho kỳ thi đại học vào thượng tuần tháng bảy. Chỉ có một ít tân binh còn trẻ măng thường là con ông này ông nọ tốt nghiệp phổ thông liền nhập ngũ sau khi học xong một khóa huấn luyện tân binh thay cho việc mang ba lô vào chiến trường như những tân binh khác thì được điều về trường Văn hóa luyện thi giống như những người đã vào sinh ra tử mang màu da sốt rét hoặc còn mảnh đạn trong người. Do vậy mà tuổi tác học viên khá chênh nhau người đã ngoài ba mươi lớn tuổi hơn một số giáo viên kẻ thì hai mươi chưa đến nhưng họ giống nhau ở màu quân phục và mang chung hai tiếng học viên.
Tôi lên lớp được chừng ba tuần thì một chuyện thật hy hữu xẩy ra. Theo lẽ thường trước khi vào bài mới giáo viên dành mươi lăm phút để kiểm tra bài cũ và chữa bài tập. Tôi mở sổ ra và gọi ngẫu nhiên một người lên bảng chữa bài tập. Tôi không thích đưa ngọn bút lần theo sổ điểm vì thời đi học tôi biết động tác đó làm nhiều học sinh hồi hộp không cần thiết. Hơn nữa với những lớp học cụ thể này học viên nào đối với tôi cũng như nhau cả vì chưa quen mặt và chưa rõ trình độ một ai. Khi tôi vừa dứt tiếng gọi thì một  học viên lớn tuổi mang quân hàm chuẩn úy đi từ cuối lớp lên.  Vừa nhận dạng người học viên theo phản xạ tự nhiên chỉ suýt nữa tôi thốt lên bốn tiếng "Em chào thầy ạ" nhưng lý trí mách tôi im lặng. Không thể để chuyện nghiêm túc thành trò khôi hài được. Điều bất ngờ đến với tôi quá lớn khi người học viên tôi gọi lên chữa bài tập lại là giáo viên từng dạy tôi trong suốt ba năm cấp hai. Thầy Minh đúng rồi thầy Minh giáo viên dạy toán của tôi người đã có lần cho tôi một lúc ba điểm năm môn hình học bởi tôi nghĩ ra cách chứng minh một định lý về góc nội tiếp ngắn và dễ hiểu hơn trong sách giáo khoa. Trong học bạ của tôi năm học lớp bảy thầy phê mấy chữ rất ấn tượng là "Có năng khiếu đặc biệt về môn hình học". Năm tốt nghiệp xong cấp hai cả làng lâm vào cảnh đói chưa từng có do vụ mùa mất trắng bởi vỡ đê vụ chiêm hạn nặng không cày cấy được. Người trong làng chia nhau đi cuốc rau má khắp vùng cồn gò xa gần trơ dấu cuốc. Mẹ tôi giao cho tôi nhiệm vụ cất tép (kéo vó tôm) ở đìa quanh khu ruộng trũng còn thằng em tôi thì chuyên trách cuốc rau má hoặc kiếm rau lang. Tép rang với muối cho vàng đều đổ nước sôi thật nhiều sau đó cho rau má hoặc rau lang thái nhỏ chỉ sôi một lúc là được nồi canh nói chính xác hơn là nồi thực phẩm vì cả nhà chỉ ăn thứ đó trừ bữa chứ có cơm đâu mà gọi nó là canh! Gần trưa hôm đó tôi đang húi húi cất tép dọc bờ đìa đầu đội nón cời chân trần lội trong bùn nhão hí hửng vì trông rổ tép có vẻ nhiều hơn mọi hôm. Chợt nghe người hỏi:
 - Có được nhiều không em?
Tôi ngước nhìn lên không ngờ thầy Minh đã đến bên cạnh. Thầy tháo đôi dép cao su ra để cẩn thận cạnh gốc cau xắn cao quần chân trần lội bùn và bê lên xem rổ tép đang nhảy rào rào sau cành lá đậy khen tép nhiều và tươi rồi thầy không đặt xuống mà bê hộ cho tôi đi từ te này đến te khác. Động tác hắt tép trong te vào rổ là một nghệ thuật chúng tôi quen tay đứa nào cũng có thể hắt gọn gàng khi mép te và mép rổ khá xa nhau mà không một con tép nào rơi ra ngoài. Cứ mỗi lần thầy đặt rổ xuống tôi dùng sào nhỏ cất te lên đám tép  nhảy tua tủa khi lên khỏi mặt nước. Thế là "roạt" một cái tất cả đã sang nhảy rào rào trong rổ tay trái ném thính vào giữa te đặt xuống chỗ cũ. Chỉ đi vài vòng đìa chân thầy cũng toàn bùn như chân trò. Khi thấy rổ tép đã đủ bữa tôi mời thầy Minh về nhà. Đến cầu ao trước cổng thầy rửa chân tay sạch sẽ rồi mới vào nhà chào mẹ tôi. Bữa trưa hôm đó thầy Minh đã ăn món rau lang nấu tép trừ bữa với gia đình tôi thầy bảo con tép chứa nhiều đạm còn rau lang nhiều vitamin. Sau đó tôi mới hiểu mục đích của thầy khi cất công đi bộ hơn năm cây số đến thăm gia đình tôi. Số là sau khi tốt nghiệp lớp bảy vì hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn tôi đã nộp đơn xin thi vào trung cấp để bớt gánh nặng cho gia đình thầy Minh biết chuyện. Thầy đã nói với mẹ tôi rằng nếu như gia đình cố được cho tôi thi vào lớp tám sau này chắc chắn sẽ vào đại học thầy tin tương lai của tôi rất sáng sủa… Cũng từ lời khuyên đó của thầy mẹ tôi không cho tôi tạt ngang nửa chừng đi học nghề dù phải ăn rau ăn cháo cũng học đến nơi đến chốn. Khi tôi tốt nghiệp khoa toán trường đại học Tổng hợp Hà Nội chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lan ra miền Bắc cùng với nhiều sinh viên vừa tốt nghiệp khác tôi vào phục vụ trong quân đội. Sau một khóa huấn luyện tân binh ngắn ngày tôi được phong quân hàm thiếu úy mang ba lô về trường Văn hóa Quân đội làm giáo viên và đã giảng dạy được mấy khóa. Trong thời gian học đại học ở Hà Nội tôi có nghe tin thầy Minh cũng nhập ngũ lúc thì bảo là dạy trong trường Văn hóa Quân khu lúc lại bảo dạy bổ túc cho một đơn vị thanh niên xung phong ở Quảng Bình. Thực hư chưa hiểu ra sao trớ trêu thay sau trên chục năm xa cách thầy trò gặp lại nhau trong hoàn cảnh oái oăm thế này!
Có lẽ thầy Minh không nhận ra tôi bởi các động tác của thầy vẫn hết sức tự nhiên hai tay nâng vở bài tập đặt lên bàn trước mặt tôi:
- Đồng chí giáo viên yêu cầu tôi chữa bài nào ạ?
Đồng chí và tôi là cách xưng hô phổ biến ở trong quân đội mà trường Văn hóa không ngoại lệ. Thầy và trò đều có thể gọi nhau bằng đồng chí và xưng tôi điều đó có ghi trong nội quy của nhà trường. Sự bình tĩnh của thầy đã giúp tôi nhớ lại cương vị của mình:
- Đồng chí chữa bài tập số ba...
Thầy Minh dùng viên phấn không cần thước kẻ thật thẳng hai đường thẳng đứng chia tấm bảng ra ba phần bằng nhau trước khi bắt đầu giải bài toán. Đó cũng là thói quen của thầy trước mỗi giờ dạy toán có từ bao năm trước. Học viên rì rào bàn tán vì ngạc nhiên trước hai đường kẻ thẳng tắp. Khi thầy vẽ đường pa-ra-bôn cả lớp lại xì xào bởi hình vẽ chuẩn như sách giáo khoa. Thầy Minh chữa xong bài tập tôi lặng lẽ cho vào sổ điểm con số 5 số điểm cao nhất vì lời giải thật hoàn chỉnh. Tiết học đó tôi dạy phần tiếp theo dạy theo quán tính như một cái máy ánh mắt tôi thỉnh thoảng lại liếc xuống dãy bàn cuối và lần nào cũng thấy thầy ghi chép rất chăm chú…
Đợi mãi mới đến ngày chủ nhật tôi mặc thường phục đến tìm thầy Minh đang tự học cùng các học viên khác ở lớp để rủ thầy đi thăm chợ Kỳ Lừa. Thì ra không đợi đến hôm tôi gọi lên chữa bài tập thầy Minh đã nhận ra tôi  ngay sau khi mang ba lô về trường bởi thầy biết tin tôi đang dạy ở đây. Sở dĩ thầy không tìm đến gặp tôi trước là vì thầy muốn thử tôi có nhận ra thầy không; hơn nữa thầy không muốn có sự ưu tiên nào đặc biệt so với các học viên khác. Thầy bảo thầy theo dõi từng bước trưởng thành của tôi và rất mừng khi nghe tin tôi được trường đại học Tổng hợp giữ lại làm cán bộ giảng dạy. Lúc này tôi mới ân hận về sự vô tâm của mình. Từ ngày xa thầy tôi chưa từng viết cho thầy một bức thư nào. Ngay cả khi nghe tin thầy nhập ngũ vào dạy học trong quân đội tôi bán tin bán nghi mà cũng không hỏi đến nơi đến chốn mà viết thư thăm thầy.
Là giáo viên cấp hai nhiều năm khi quân đội điều vào dạy học ở trường Văn hóa Quân khu thầy được phong quân hàm thượng sĩ chuyên nghiệp. Điều ấy cũng chẳng làm thầy phân vân thậm chí còn cảm thấy may mắn vì còn được tiếp nghề dạy học còn được hưởng lương trong khi nhiều đồng nghiệp nhập ngũ làm lính nghĩa vụ mang ba lô ra chiến trường. Trước ngày nhập ngũ thầy chưa có khái niệm về quân hàm và chức tước trong quân đội nên khi được đeo cái quân hàm ba sao nằm trên gạch vải mặc chiếc áo thu đông "thêm một cái đai bớt hai cái túi" thầy không hề buồn mà cảm thấy hay hay. Nhưng khó khăn đến với thầy là đối tượng học viên. Cứ tưởng vào quân đội thì học viên sẽ là những người lính không ngờ lớp thầy phụ trách lại là một lớp đặc biệt gồm hơn bốn chục học sinh lứa tuổi mười bốn mười lăm là con cháu của các vị "cấp côi" trong và ngoài quân đội không chỉ trên địa bàn quân khu. Thầy Minh được phân công làm chủ nhiệm lớp đó. Hôm tập trung đầu tiên thầy đã chột dạ bởi có cảm giác rằng đây là một lớp toàn học sinh cá biệt. Những bộ mặt nghịch ngợm tay chân luôn động đậy và miệng không mấy khi ngừng nói chuyện riêng. Khi thầy nói to buộc học sinh phải nhìn lên bảng thì có đứa cố tìm điều gì khôi hài để nói cho cả lớp cười có khi đề tài của sự khôi hài đó là cách ăn mặc động tác hoặc nói năng của thầy giáo. Là giáo viên nhiều năm dạy học quen "thầy ra thầy trò ra trò" thầy Minh có lúc cảm thấy bất lực trước đám học sinh này. Có một lần sau khi tan học một học sinh nói to với bạn như cốt để cho thầy nghe:
-  Quân hàm chú lái xe của bố tớ còn cao hơn quân hàm thầy Minh mấy bậc.
Thầy Minh cố làm như không nghe nhưng cảm thấy chua chát dù học sinh đó nói hoàn toàn sự thật. Chả là chiều thứ bảy nào chẳng có dăm bảy chiếc xe con nào là Vônga đen bóng nào là com-măng-ca đít tròn vải bạt còn mới đậu xịch trước cổng trường cho các bậc cha mẹ thăm đưa quà hoặc đón con mình đi chiêu đãi. Non một nửa lái xe mặc quân phục quân hàm phần lớn là chuẩn úy hoặc thiếu úy rõ ràng cao hơn quân hàm thượng sĩ của thầy giáo. Thôi thì trẻ con thấy sao nói vậy chấp chúng làm gì. Cái chính là mình cố dạy cho chúng không học giỏi thì cũng phải nắm chắc chương trình làm tròn trách nhiệm người giáo viên. Phải thú nhận trong bọn trẻ nghịch ngợm đó có nhiều đứa giải toán rất nhanh có cách giải làm thầy giáo bất ngờ. Là một thầy giáo rất quý những học sinh thông minh có khi thầy Minh thể tất cho những chuyện nghịch ngợm của chúng điều này nhiều lần bị nhà trường nhắc nhở. Rồi đến kỳ liên hoan văn nghệ kết thúc năm học các đại đội đóng góp tiết mục riêng lớp của thầy Minh không một em nào chịu tham gia. Điều đó có thể làm mất điểm thi đua của đại đội nhưng điều sau đây làm ông hiệu trưởng tức tối còn các giáo viên nghe tin thì không nhịn được cười. Số là khi cuộc biểu diễn văn nghệ đang diễn ra nhà trường phân công hậu cần thịt năm con gà nấu nồi cháo để cho "diễn viên" bồi dưỡng sau buổi diễn. Đồng chí nuôi quân vừa trông nom nồi cháo vừa tranh thủ xem văn nghệ để đến khi văn nghệ kết thúc mở vung nồi quân dụng ngạc nhiên đầu tiên là thấy nồi cháo vơi đi một phần sau càng hoảng hốt khi biết nguyên nhân của sự vơi đó là cả năm con gà trong nồi cháo đã biến mất! "Chỉ mấy thằng nhóc!" Anh chàng nuôi quân bực tức lẩm bẩm một mình đi báo cáo với trưởng phòng hậu cần. Rồi chuyện "tày đình" này đến tai thầy hiệu trưởng tức thì ông yêu cầu thầy Minh cho tập trung khẩn cấp toàn lớp học. Chỉ dăm phút sau hơn bốn chục học sinh đã có mặt đông đủ em nào cũng cố tỏ ra ngơ ngác trước cái tin mất gà trong nồi cháo! Dù không biết đích xác những em nào đã tham gia cuộc "đạo chích" này nhưng thầy Minh biết thừa rằng ngoài học sinh của thầy ra không một ai khác nhúng tay vào chuyện này vì những lớp khác học viên toàn những quân nhân từng được giáo dục nhiều năm trong quân ngũ. Buổi sáng hôm sau thầy Minh bước vào lớp tiếng ồn ào im bặt chỉ còn lại những tiếng cười cố nén chốc chốc lại bật ra. Nhìn lên bảng thấy đủ loại chữ chép rất nhiều bài thơ làm cho cái bảng giống như một tờ báo tường thầy lướt qua vài bài viết rõ ràng nhất: Gà ới gà ơi / Trong nồi cháo sôi / Sao mày lại dám/ Trốn mà đi chơi?  
Và Liên hoan văn nghệ tối qua / Diễn viên ăn cháo không gà khổ ghê / Mấy thằng không hát không nghe / Ăn toàn gà luộc chán chê đã đời. Thầy đứng lặng một lúc rồi bảo trực nhật xóa bảng giảng tiếp bài mới coi như không có việc gì xẩy ra làm cho bọn trẻ chưng hửng.
Năm đó chiến tranh phá hoại giặc Mỹ trở nên ác liệt rất đông thanh niên địa phương đặc biệt là thanh nữ gia nhập thanh niên xung phong. Theo yêu cầu của Tổng đội thanh niên xung phong trường Văn hóa Quân khu cần chi viện một số giáo viên thầy Minh là người đầu tiên xung phong nhận công tác mới này. Gian khổ ác liệt và nguy hiểm hơn ở trường văn hóa điều đó  thừa biết nhưng thầy nghĩ rằng có lẽ những nơi đó hợp với thầy hơn việc chăn dắt các "cậu ấm" ở đây.
Quân tư trang gỏn gọn trong chiếc ba lô thầy Minh đã đi bộ hơn hai ngày để đến nơi nhận nhiệm vụ mới. Vốn là giáo viên dạy toán cấp hai nhưng ở đây có khi thầy phải dạy tất cả các môn kể  cả môn tập viết đối với các cô gái mới lần đầu được đi học. Trình độ học viên rải rác đủ các lớp mỗi lớp có khi chỉ một vài người ngồi học trong căn hầm chữ A. Những học viên này ban đêm bám đường san lấp hố bom có khi tận sáng mới trở về lán tắm rửa ăn sáng ngủ bù đến bữa trưa buổi chiều mới được học vài tiếng rồi phải chuẩn bị mọi thứ cho công việc buổi đêm tiếp theo. Nhìn những bàn tay chai sạn rám nắng nắn nót viết từng dòng chữ xiêu vẹo trên trang giấy thầy cảm thấy thương cho những cô gái quen khiêng vác đất đá nặng để san đường lại phải vật lộn vất vả với chiếc bút bé nhỏ và trang giấy mỏng manh. Điều làm giáo viên vui nhất là các cô gái học hành thật chăm chỉ không chỉ ở trong lớp mà ngay khi tăng gia giặt giũ cũng trao đổi với nhau dường như cô nào cũng mang một ý nghĩ khi cuộc chiến tranh kết thúc trở về làng thì trình độ văn hóa của mình hơn hẳn ngày ra đi. Dù phải vất vả có khi một lúc phải dạy hai ba lớp có trình độ khác nhau nhiều buổi học bị gián đoạn vì máy bay bắn phá nhưng thầy Minh vẫn thấy vui vì trong ba năm thầy đã nâng trình độ cho bao học viên có cô khi ra đi chưa học hết lớp năm thì giờ đây đã đỗ kỳ thi tốt nghiệp lớp bảy bổ túc. Không phải là nhiệm vụ của mình nhưng có nhiều đêm thầy theo lên mặt đường cùng san lấp hố bom với học viên vừa trò chuyện và giúp họ ôn bài. Thầy đã được Tổng đội phong danh hiệu Chiến sĩ quyết thắng thăng cấp chuẩn úy và được cử về dự đợt ôn thi đại học.
Kết quả kỳ thi năm đó thầy là một trong ba học viên của quân đội đạt điểm cao nhất vào trường đại học Kỹ thuật Quân sự. Trước hôm chia tay thầy tìm đến phòng giáo viên thăm tôi. Tôi nghĩ là thầy đến chia tay tôi để lên đường nhập học vì số thí sinh trúng tuyển đã có giấy báo nhập trường. Thầy ngồi lặng yên một lúc lâu rồi nói:
- Anh Trung ạ - thầy gọi tên tôi - đã nghĩ kỹ lắm rồi tôi không theo học trường đại học Kỹ thuật Quân sự đâu!
Trước cái nhìn ngạc nhiên của tôi thầy nói:
- Hôm đơn vị cử tôi đi học ôn thi tôi đã từ chối nhưng rồi đồng chí cán bộ động viên mãi. Giả sử như vừa rồi được thi vào trường đại học Sư phạm thì một nhẽ đằng này trong quân đội ta chỉ tổ chức thi vào đại học Quân y và đại học Kỹ thuật Quân sự… Tôi không muốn từ bỏ nghề dạy học của mình.
 - Thế thì thầy định trở lại đơn vị thanh niên xung phong? Tôi hỏi.
- Đúng thế anh ạ. Tôi mang giấy trúng tuyển đại học Kỹ thuật Quân sự về nạp cho họ như để báo cáo kết qủa học tập và xin ở lại dạy học ở đơn vị cũ. Tôi tin là Tổng đội sẽ nhận lại tôi vì ở đấy đang thiếu giáo viên…
Tôi lặng lẽ nhìn nước da sạm nắng và khuôn mặt có nhiều nét khắc khổ của thầy. Thời gian và hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trên khuôn mặt đó. Hồi dạy chúng tôi trong những năm cấp hai thầy không chỉ là người dạy giỏi được các giáo viên khác kính nể mà còn là một người hát hay và biết chơi nhiều môn thể thao như bóng bàn bóng chuyền cờ tướng. Thế mà giờ đây những nét hào hoa ấy không tìm thấy đâu nữa chỉ còn vẻ nghị lực và từng trải. Mắt tôi gặp lại đôi quân hàm chuẩn úy trên ve áo của thầy và cảm thấy mình thiếu ý tứ vì sự hiện diện của quân hàm thiếu úy trên ve áo tôi. Giá như biết thầy đến thăm thì tôi đã mặc thường phục để tiếp thầy rồi.
  - Ngày mai anh Trung có rỗi không tôi muốn nhờ một việc. Tôi giật mình:
  - Thưa thầy ngày mai là chủ nhật em được nghỉ cả ngày thầy cần gì ạ.
  - Tôi muốn nhờ anh lai lên bến xe sơ tán. Nếu như bến xe cũ ở thị xã thì tôi tự đi bộ được bến xe sơ tán xa quá…
Tôi biết tính thầy không bao giờ muốn làm phiền người khác nhờ tôi là một việc bất đắc dĩ tôi vui vẻ nhận lời:
- Mấy giờ thầy đi em cũng sẵn sàng. Em vừa được nhà trường phân cho một chiếc Phượng Hoàng mới tinh mà. Thầy về nhà thăm gia đình trước đã chứ?
- Không tôi phải về Tổng đội thanh niên xung phong nạp lại giấy tờ chuyện thăm nhà tính sau.
Chiếc xe ô tô khách thời chiến lầm lụi bụi đất đã chuyển bánh tôi chạy theo một đoạn như cố níu giữ khoảng cách. Thầy Minh nhô đầu ra khỏi cửa xe quay lại tạm biệt tôi nước mắt rân rấn. Phía dưới khuôn mặt dầu dãi là đôi quân hàm chuẩn úy còn mới mà không khi nào mặc quân phục thầy không mang theo. Chiếc xe này chỉ về đến Hà Nội còn bao chặng đường lở lói bom đạn cầu phà đứt nối nữa mới về tới được đơn vị thanh niên xung phong trên những tuyến lửa Quảng Bình?
Tôi đứng lặng một mình trên khoảng đất trống lòng buồn thương chen niềm ân hận. Ân hận về điều gì bản thân tôi cũng không biết được rõ ràng…
                                                                             Bình Dương 10-2005
                                                                                           V.T

More...

TRUYỆN NGẮN DỰ THI

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Nguyễn Cẩm Hương
 
Gió heo may đã về


Truyện ngắn dự thi
 

    Cô ta đẹp thật chị thầm thừa nhận. Nhưng điều chị đang cay đắng không phải là sắc đẹp của cô ta mà lại là vẻ trẻ trung chín thắm của người đàn bà đã qua một lần sinh nở. Đẹp ư? Chị cũng đã từng là một người đàn bà đẹp đến bây giờ vẫn đẹp chỉ vẻ trẻ trung thì không.
Tùng đang mải đón khách tay bắt mặt mừng miệng cười không ngớt. Sinh nhật lần nào anh cũng tổ chức ở nhà hàng nhưng chỉ có vài người bạn thân của Thảo và của anh mà anh vẫn bảo “toàn bên ta cả”. Nhưng năm nay anh tổ chức hoành tráng hơn có mời thêm một số quan khách và vài đối tác làm ăn. “Để nhân cơ hội mở rộng mối quan hệ”. Anh bảo vậy Thảo chỉ thở dài nhớ đến những sinh nhật trước ấm cúng biết bao. Anh nhận chức Tổng giám đốc mới được có mấy tháng sau hàng chục năm ở chân Phó tổng ấm ức vì ông Tổng chỉ nhỉnh hơn anh vài tuổi do khai lậu lý lịch. Đến lượt anh không khéo cái tuổi nó đuổi cái chức đi mất. Từ hôm ngồi vào ghế Tổng anh bận liên miên nhưng chủ yếu là các cuộc nhậu để “rửa ghế”. Anh bảo: “Tốn chút đỉnh nhưng bao cái móng cho chắc”. Chẳng biết cái móng chắc thì Thảo có được hưởng gì không? Nhưng tự nhiên Thảo thấy buồn. Trước kia Thảo cũng mong ngày mong đêm để anh được toại nguyện Thảo nghĩ: Nếu anh công thành danh toại anh sẽ được thanh thản bên Thảo mỗi khi gặp nhau. Song hình như mọi tưởng tượng của Thảo đều không như mong muốn. Bằng chứng là hôm nay có thêm bà vợ “bê tông” của Tùng. Và điều đáng sợ hơn đó là vị khách mời chưa rõ “tung tích” tươi mát như một bông hoa trên bàn tiệc. Chỉ có người đàn bà đang yêu mới nhận ra được chính xác kẻ tình địch của mình. Còn vợ Tùng thì vô tư Thảo chưa bao giờ coi vợ Tùng là tình địch. Nhìn chị ta lúng túng trong chiếc váy bó chẳng hợp chút nào với thân hình to thô. Thảo đâm thương hại. Không biết người đàn bà này nghĩ thế nào về hạnh phúc khi chấp nhận người chồng luôn về nhà trong trạng thái uể oải ăn qua loa bát cơm rồi lăn ra giường ngủ như chết. Có lẽ điểm đích mơ ước của cô công nhân trộn bê tông đã đạt được đó là trở thành bà giám đốc và bây giờ là phu nhân của một Tổng giám đốc. Thỉnh thoảng Thảo vẫn đay Tùng “chắc ngày xưa cũng chết mê chết mệt cô công nhân xinh đẹp chứ gì? Cũng may là anh có mác đi Tây về mới cưa đổ được bê tông chứ kỹ sư xây dựng nhiều như lá mùa thu?”. Tùng bảo: “Có mà chính anh bị cưa đổ bởi lưỡi cưa của đàn bà do lần ấy anh bị cảm phải nằm lại công trường”. Thảo chưa bao giờ sợ vợ Tùng ghen với gia đình nhà Tùng Thảo được coi như một ân nhân. Một lần ông anh rể Tùng nói nhỏ với Thảo “Chỉ có mợ ấy không biết chứ cả nhà tôi ai cũng biết cô với cậu Tùng có tình cảm. Cũng tội cho cậu ấy lấy phải bà vợ không yêu”. Thảo cũng không cần quan tâm xem vợ Tùng tại sao không ghen nhưng nếu lâu lâu Tùng không hẹn gặp Thảo cũng bứt rứt nhất là những lúc Tùng kém “phong độ”. Thảo lại cằn nhằn: “Sao không để dành cả cho em”. Tùng chỉ còn biết đổ một trận mưa hôn lên người Thảo để lấp liếm cái  kém “phong độ” của mình: “Em tham quá em đã được anh hơi nhiều rồi đấy!”. Cái Minh bạn Thảo có ông bồ khỏe như trâu đằm thế mà mỗi lần tâm sự nó lại ghen tỵ: “Mày thật sướng Tùng của mày có tất cả những gì đàn ông cần có”. Đúng thế thật nhiều khi Thảo cũng thấy mình thật quá may mắn. Tùng đẹp trai có kiến thức có chức có quyền. Đúng tiêu chuẩn chọn đàn ông của phụ nữ bây giờ. Nhưng thực ra Thảo đâu cần những thứ ấy. Thảo chỉ cần tình yêu của Tùng thôi. Thảo biết Tùng cũng có khá nhiều cô gái mơ ước. Trong cơ quan Tùng khối cô ra sức trưng diện làm duyên làm đỏm trước mắt Tùng làm Thảo cũng thấy ngứa mắt nhưng Tùng bảo: “Chấp tất cả chúng nó cũng không đổi được em đâu”. Thảo lại thấy mình tràn trề ưu thế. Mà Thảo có quyền hãnh diện lắm chứ liệu mấy cô gái chân dài kia có hình dung ra nổi Tùng cách đây ba mươi năm. Một chàng kỹ sư xây dựng đi học ở Nga về nhưng nghèo kiết xác vì đã bán sạch đến cái bàn là cuối cùng để lo chạy ăn cho một đàn em và bà mẹ về mất sức. Nghe nói hồi đó Tùng đi đâu cũng chỉ diện mỗi bộ bò nên được mệnh danh là “bò bốn mùa”. Tùng làm đội trưởng của một công ty xây dựng cấp tỉnh đang làm ăn thua lỗ thế mà Tùng chả nới tay chút nào cho đám công nhân. Anh kiên quyết bắt lật tung cái móng không đảm bảo kỹ thuật mặc cho các lãnh đạo họp lên họp xuống. Cả công ty như bị đảo lộn khỏi nếp yên bình bởi cách làm ăn rất “tây” của Tùng. Thế nhưng chả mấy chốc công ty bỗng ùn ùn nhận được các hợp đồng xây dựng. Trúng mấy gói thầu lớn.
Lần đầu tiên Thảo gặp Tùng anh cũng đang trên công trường. Đen đúa bụi bặm. Chỉ có ánh mắt là lấp lánh. Bài ký đầu tiên trong đời làm báo của Thảo cũng là lần đầu tiên Thảo viết bằng hơi thở của con tim. Những bông hoa bất tử mà Tùng tặng khi chia tay cho đến bây giờ Thảo vẫn giữ. Chồng Thảo khi dọn phòng định vứt đi Thảo đã hốt hoảng vồ lấy nhốt kín nó vào chiếc hộp sắt như nhốt chặt một kỷ niệm. Chồng Thảo cằn nhằn: “Hoa gì như hoa giả vô sắc vô hương”. “Vì nó là hoa bất tử nên hương sắc của nó ẩn kín bên trong”. “Toàn tưởng tượng hão”. Thế mà mãi mười năm từ sau buổi chia tay trên cái sân ga ảm đạm của miền Trung ấy Thảo mới gặp lại Tùng. Thảo đã đứng lặng khi trên bục hội thảo của ngành xây dựng năm ấy người đàn ông với chức danh giám đốc một công ty xây dựng đang làm ăn phát đạt lại chính là Tùng.
“Anh không ngờ em có mặt trong đoàn nhà báo này. Anh đang định đi tìm em”. “Thế mà em lại không ngạc nhiên khi gặp anh trong một hội nghị như thế này đâu đấy”. “ Cũng có một phần công của em!”. “Chả lẽ lại chỉ là bài báo?”. “Chứ sao bài báo của em đã đánh thức những cái đầu đang mê ngủ”. “Anh còn công tác ở Hà Nội bao lâu?”. ánh mắt Tùng như  thiêu  đốt mắt Thảo. “Anh còn ở lại vài ngày em đến chứ?”. Thảo gật cảm giác như  đang bị thôi miên. ừ mà có lẽ Thảo đã bị thôi miên thật. Nếu không sao Thảo lại có thể ngả vào vòng tay anh chỉ sau một buổi đi chơi. Đêm mùa thu Hà Nội như một kẻ đồng lõa bởi hương hoa sữa nồng nàn. Họ đã khe khẽ hát về cái miền quê đầy nắng gió miền Trung và nước Nga ngập tràn tuyết trắng. Những bản tình ca Nga như một thông điệp gửi cho nhau đằm thắm mà vẫn xa xôi. “Em có biết hồi đó chỉ có mấy ngày em đến viết bài thôi mà đã làm thay đổi cả đời anh”. “Em cũng vậy anh đã thổi vào tim em một ngọn lửa rực cháy đam mê cả tình yêu và sự nghiệp”. Nhưng "...Than ôi ngọn lửa ấy người cháy lại là tôi” “Vâng em biết em có lỗi chính vì vậy mà em không muốn liên lạc với anh nữa em sợ”. “Thôi đừng ngại anh không trách em đâu làm sao em có thể yêu một chàng kỹ sư bụi bặm như anh ở cái miền quê đầy nắng gió ấy trong khi em đang là cô sinh viên Hà Nội ngập đầy những hứa hẹn chốn phồn hoa”. “Đừng cay đắng thế anh chỉ vì hồi đó em vẫn còn nông nổi quá”. “Vậy thì bây giờ em phải đền anh đi”.
Chẳng khó khăn gì Thảo có được những tấm giấy mời đi dự lễ khánh thành công trình dự lễ khởi công xây dựng của công ty Tùng. Thảo như một kẻ đồng hành theo từng bước chân của những người xây dựng đến khắp mọi nơi lúc tận một vùng cao biên giới lúc tận một hải đảo xa xôi. Những buổi chiều thu ngập nắng mật ong trải dài trên những triền đồi trung du xanh ngắt đến những hoàng hôn tím sẫm trên bờ biển Hà Tiên. Những cái hôn của Tùng từ ngọt ngào đến cháy bỏng làm Thảo say như toàn thân ngấm hơi men. Cô nhà báo năng động luôn hăm hở theo sát cuộc hành trình của công ty hiểu thấu từng tâm tư tình cảm đến bát cơm giấc ngủ của những người công nhân xây dựng để đưa lên mặt báo những lời tâm huyết nhất những đòi hỏi chính đáng của người công nhân khiến toàn công ty vô cùng biết ơn và cảm động. Những bài báo và cả những hình ảnh của họ đã được bay đi khắp mọi miền đất nước vượt ra cả ngoài biên giới.
Thảo nghiễm nhiên được người của công ty anh coi như người nhà và lại càng nhà hơn khi họ nhận ra ánh mắt của giám đốc nhìn cô nhà báo. Thế là bỗng dưng một hàng rào bảo vệ vô hình được dựng lên khi hai người đang ở bên nhau. Có khách ư? Giám đốc không có nhà hoặc giám đốc vừa chợp mắt chưa thể gặp được. Giám đốc và cô nhà báo danh nghĩa vẫn ở hai phòng nhưng chẳng bao giờ có ai đến phòng riêng của họ mà không báo trước.
Lúc đầu Thảo còn ngại nhưng sau thì Thảo buồn cười vì sự lo xa của mình. Chiếc xe ô tô con người lái xe giám đốc và cô nhà báo luôn khăng khít bên nhau như trong một mái nhà. Anh lái xe còn trung thành hơn cả một ông em ruột sẵn sàng đưa cô nhà báo đi thăm thú khắp nơi và sẵn sàng nằm khoèo ở đâu đó chờ hai người “khảo sát thực địa”. Họ có đầy chặt kỷ niệm mà khối cặp tình nhân mơ ước. Nào những đêm thức ngủ cùng công nhân trong lán trại tuyềnh toàng nơi miền sơn cước uống ruợu cần say đến ngả nghiêng hát đến lạc giọng rồi đến những căn chòi lá của người dân địa phương thao thức bởi tiếng côn trùng rỉ rả bởi mùi hăng hắc nồng nàn của rơm rạ cỏ cây. Tất cả là những nốt nhạc tuyệt vời cho một bản tình ca.
Tùng liên tục có tên trên mặt báo hết báo ngành đến báo đầu tư kinh tế mà tác giả của những bài báo đó dù là những cái tên khác nhau nhưng vẫn chỉ là một. Tiếng tăm Tùng nổi như cồn. Có người còn bảo khéo sắp được phong anh hùng. Rồi Tùng được điều về làm Phó Tổng giám đốc một công ty xây dựng ở trung ương. Thảo ít có cơ hội được theo chân những người xây dựng đi khắp mọi miền tổ quốc nhưng lại có những đêm vương giả trong các nhà hàng khách sạn. Những bữa ăn trong ánh đèn màu mùi hương hoa ngào ngạt mà giá của nó phải tính đến bạc triệu. Bây giờ họ gần như công khai. Những buổi ăn nhậu mừng nọ mừng kia lúc nào cũng có thêm dăm người bạn thân của cả hai người như một bè đệm tạo một không khí vừa vui vẻ vừa ấm cúng. Ai cũng biết chỉ có một người không biết mà người đó thì đã ở bên lề cuộc sống của Tùng.
Thảo càng ngày càng trẻ đẹp. Trong ánh mắt của mấy cô bạn thân Thảo là một ước mơ xa vời đối với họ.
“Cái lọ nước hoa đích thị hãng Colônhơ này Tùng tặng tao hôm sinh nhật. Ngoài Sop nó bán triệu rưỡi đấy”. “Cái vòng đá cẩm thạch này Tùng đi ấn Độ về tặng. Cả Hà Nội có bói cũng chẳng tìm thấy cái thứ hai đâu”. “Này mày xem tao đeo cái kính này có đẹp không. Kính thời trang Italia. Tùng tặng hôm mùng tám tháng ba” vân vân và vân vân. Mấy cô bạn gái cứ mắt tròn mắt dẹt xuýt xoa: “Thảo ơi sao mày hạnh phúc thế!”. Nhưng nói vậy thôi từ ngày Tùng đóng đô ở Hà Nội. Thảo ít có dịp được ở bên Tùng theo kiểu trên trời dưới đất chỉ có hai ta. Thỉnh thoảng Tùng cũng gọi điện cho Thảo một cách hối thúc chắc là có gì bức xúc giục Thảo đến ngay. Bao giờ Thảo cũng gác hết mọi chuyện để đến với Tùng một cách háo hức. Họ chỉ có một khoảng thời gian ngắn ngủi vội vàng khoảng vài tiếng trong một căn phòng khách sạn kín đáo nơi phố nhỏ. Rồi Tùng lại vội vã ra xe. Thảo ở lại một mình để “hạ hỏa” và để nhấm nháp phút giây hạnh phúc cùng nỗi cô đơn. Lắm hôm gặp Tùng Thảo làm mặt dỗi “Bây giờ em như một món ăn của anh khi nào thèm thì anh mới nhớ đến”. “Bậy nào anh luôn tôn trọng em và chỉ yêu mình em thôi nhưng anh bận quá. Vả lại bây giờ cứ kè kè đi bên nhau như hồi trước sao được. Dù gì thì anh cũng đang giữ một cương vị không nhỏ phải giữ gìn một chút mới bền được”. Có lẽ thế thật. Thảo thấy Tùng làm sếp cũng khổ. Chẳng có một thời gian nào cho riêng mình. Tùng đang dần biến thành một con người khác. Nhiều khi Thảo luôn mơ về một chàng kỹ sư đầy bụi bặm với nụ cười rộng hết cỡ và ánh mắt lấp lánh đầy nhiệt huyết. Phàn nàn với cái Minh nó luôn bốp chát nhưng làm Thảo nhẹ lòng. “Mày phải thông cảm cho ông ấy chứ làm bồ sếp đâu phải sướng đi đâu cũng có người kèm làm gì cũng phải lên lịch làm sao còn thời gian tý tởn với mày. “Vả lại” “ Sao? Nói đi”. Nhưng Minh không hé thêm một lời nào tính nó thế Thảo không giận cứ tưng tửng vậy mà nói câu nào trúng tim câu ấy cứ như thánh phán. Thực ra không nói thì Thảo cũng hiểu được cái “vả lại” là gì rồi có điều Thảo không dám tự nhận vì Thảo sợ nó hiện hữu. Phải rồi thời gian “Thời gian là con bạc tham lam thắng mọi ván mà chẳng thèm gian giảo”. Cũng đã ngót hai mươi năm rồi hai mươi năm Thảo đồng hành cùng với những người xây dựng hai mươi năm những bài báo của Thảo chỉ để ca ngợi Tùng. Vậy mà bây giờ Thảo đành phải dừng lại Thảo không theo kịp Tùng nữa rồi. Những chiếc quần bò phải tăng số những chiếc váy từng làm ngây ngất mắt Tùng bây giờ cũng đành phải xếp xó vì không thể chịu nổi cái eo quá cỡ. Thảo còn trách gì Tùng? Thôi miễn là thỉnh thoảng Tùng còn nhớ đến Thảo là được. Nhưng dẫu sao Thảo vẫn là đàn bà đàn bà thì thường nhỏ nhen ích kỷ. Linh tính đã cho Thảo nhận ra một nguy cơ đang hiện ra trước mắt.
Mặt Tùng đã ngầu bia. Tùng đi hết bàn nọ bàn kia chạm cốc ánh mắt đảo nhoay nhoáy. Thảo nhăn mặt thấy ghét thậm tệ cái bộ mặt ấy. Rõ ràng hôm nay Tùng không phải là của Thảo. “Nào các bạn xin nâng cốc. Chúc các người đẹp cứ trẻ đẹp mãi”. Tùng nhìn Thảo nhưng ánh mắt liếc xéo nhanh như chớp về phía người đàn bà vẫn mỉm cười đầy vẻ thỏa mãn kia. Cái Minh quay lại gầm gừ bên tai thảo: “Thôi đi đừng để cái mặt ghen tuông hạ đẳng ấy”.
“Mọi người làm quen với nhau nhé. Đây là Miên phóng viên bên đài truyền hình. Còn đây là...”. Thảo chỉ còn thấy tai ù lên: Hừ cái tên mới đĩ thõa làm sao. Miên lúc nào cũng là ngủ. Cái bộ ngực trắng ngần căng đầy dưới cái cổ khoét rộng kia sao mà tức mắt quá. Ngày xưa Tùng rất hay ngắm bộ ngực của Thảo và ước suốt đời được gối lên đó mà ngủ. Vậy mà bây giờ cái bộ ngực kia lại giống Thảo đến kỳ lạ.
Thảo kéo cái Minh cố tình ở lại muộn hơn để khẳng định vị trí của mình. Nhưng Tùng đến bên nói nhỏ với vẻ mặt đau khổ: “Thông cảm cho anh đi tất cả cũng chỉ vì công việc. Hôm sau anh bù”. Có thế chứ Thảo lại được vuốt ve lòng tự ái tung tẩy kéo cái Minh ra về. Nhưng không hiểu sao mặt cái Minh lại lạnh băng nó thở dài buông một câu chẳng ăn nhập vào đâu cả. “Công nhận mày thuộc dạng dễ nuôi”.
Thảo luôn trong tâm trạng chờ để được Tùng bù nhưng có lẽ Tùng bận quá nên quên hay sao. Thảo đành gọi điện nhưng toàn gặp lúc máy bận hoặc “Số thuê bao quý khách hiện thời không liên lạc được”. Đã ngót một tháng rồi không gặp được Tùng Thảo như muốn phát điên lên. Cực chẳng đã Thảo đành liều đến công ty Tùng mặc dù cả hai đã giao hẹn không gặp nhau ở công ty để giữ uy tín cho Tùng. Nhưng Thảo không thể chịu đựng được lâu hơn. Cô bé văn thư vốn vẫn rất thân với Thảo qua đường giây điện thoại mỗi khi Thảo có việc cần hỏi thăm về Tùng. “Ơ anh Tùng đi Tây Nguyên rồi chị không biết sao” “Đi lâu chưa em?” “Được hơn một tuần rồi mà”. “ừ chị cũng đi công tác miền núi nên máy di động không liên lạc được à em có biết anh Tùng đi bao lâu không anh ấy đi công tác một mình à?” “Hình như đi với đoàn truyền hình ấy chị ạ. Nghe đâu đang làm một phóng sự về Tổng công ty mà”. Thảo thấy bàn chân mình run rẩy cổ họng khô đắng. Sợ cô bé láu lỉnh kia nhận ra một sự khác thường nơi sắc mặt Thảo Thảo vội vã ra về. Năm nay gió heo may về sớm thế. Thảo phóng xe máy ngược chiều gió chiếc áo lụa mỏng đẹp mê hồn mà Thảo vẫn thích mặc bay phần phật theo làn gió làm Thảo rùng mình ớn lạnh. Con đường Hà Nội vẫn nườm nượp xe cộ mà Thảo cứ tưởng như mình đang đi giữa một sa mạc hoang vu.
Đã tám giờ tối chồng Thảo vẫn chưa đi làm về. Lâu nay anh ấy vẫn thế nhưng Thảo đâu có để ý vì Thảo cũng thường về muộn. Thức ăn Thảo đã chuẩn bị từ sáng chỉ việc lôi trong tủ lạnh ra chế biến lại. Có hôm Thảo chuẩn bị cơm cho xong nghĩa vụ chứ nào có muốn ăn. Đậy mâm cơm lại anh ấy về lúc nào thì tự ăn lúc ấy. Bây giờ trong căn nhà bốn tầng sao nó rộng rênh và trống vắng đến thế. Thảo thấy buồn và cô đơn khủng khiếp. Thảo lên mạng mở hộp thư để tâm sự với thằng con trai đang học ở nước ngoài. Gõ được vài dòng nhưng hình ảnh Tùng đang cùng với người đàn bà ấy tung tăng trên những miền đồi thơ mộng của cao nguyên cứ lởn vởn trước mắt Thảo. Thảo xóa những dòng đang than thở với con gõ liên hồi những tiếng nức nở của con tim đang rớm máu. Rồi Tùng sẽ phải đau lòng rồi Tùng sẽ phải ân hận vì đã phụ bạc người đã cùng đồng hành với Tùng qua bao chặng đường gian khó của sự nghiệp rồi Tùng sẽ phải nuối tiếc người đàn bà đã chung thủy hết lòng với Tùng suốt một thời xuân sắc... Choang tiếng rơi vỡ của một chiếc cốc. Thảo giật mình quay lại. Chồng Thảo đang ngồi bất động trên chiếc ghế xa lông phía sau Thảo đôi mắt khô khốc nhìn đăm đăm về phía chiếc máy vi tính. Chiếc cốc rơi xuống sàn không biết do vô ý hay cố ý. Thảo chỉ còn biết đờ đẫn đứng dậy bất giác nhìn ra ngoài cửa sổ gió đang ào ạt thổi   có lẽ gió mùa đông bắc đã tới thật rồi.
                                                                                                N.C.H

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Hơn bốn mươi năm đọc tác phẩm

Một thầy giáo dạy văn vẫn mong

được gặp tác giả…


                                                                                 Phạm Văn Sĩ


    Chuyện từ mối quan hệ thân tình của tôi với một nhà văn tôi xin nêu tên sau. Nhà văn ấy tặng tôi một cuốn sách mới được xuất bản. Tôi lại đem cuốn sách đến cho thầy giáo dạy văn giỏi là Nguyễn Sĩ Lục cùng đọc. Anh Lục với tôi cũng thân nhau. Anh là chú ruột nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại. Hai chúng tôi thường hay trao đổi với nhau về chuyện thời sự nhất là văn học…
Hôm đó trời đẹp lắm hương hoa nhãn trước nhà anh Lục ngào ngạt thơm gọi bầy ong mật đến đông vui tấp nập như một ngày hội mùa xuân. ở trong nhà hình như anh Lục đang nói chuyện hay giảng bài cho một cậu thanh niên khuôn mặt trông lễ phép.
- Thầy Lục ơi! Có quà đây.
Tôi gọi anh Lục tay cầm cuốn sách vào nhà. Anh Lục bước ra tươi cười:
- Xin chào!
Tôi muốn dành cho anh Lục sự bất ngờ bằng một câu hỏi trước khi tôi trao sách.
- Đây là cuốn "Trong mắt tôi" (*). Anh Lục thử đoán xem tác giả là ai?
- Tôi chưa nghe nói tên cuốn sách mới này nên cũng chẳng biết vị nào là tác giả?
- Biết rồi anh phải khao đấy nhá! "Bá Nha"… anh hay nhắc chứ còn ai nữa!
- A ha! Ông Hoàng… Tuấn… Phổ từng đã viết bài "Ơ-giơ-ni Giơ-răng-đê tình và tiền" tôi đọc hơn 40 năm rồi mà cứ thầm mong được gặp ông ấy.
Anh nhận cuốn sách tôi trao tay giở từng trang. Anh mời tôi ngồi rồi vào trong phòng lấy kính. Tôi liền hỏi cậu thanh niên đang rót nước mời tôi:
- Cháu quan hệ thế nào với thầy Lục?
- Dạ thưa bác! Cháu là học trò cũ của thầy Lục. Nay cháu đang là sinh viên Văn của trường Đại học… Thầy Lục giảng văn hay lắm. Cháu mê nhất những tiết thầy ấy giảng về Ban Zắc. Chúng cháu có nghe và được thầy giới thiệu: Ông Phổ vừa là nhà nghiên cứu phê bình lý luận vừa là nhà nghiên cứu văn học dân gian lại vừa là nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử. Thưa bác! Cháu ngập ngừng hỏi tôi:
- Phải chăng giờ này ông Phổ đã là giáo sư tiến sĩ ở một viện nghiên cứu nào đấy ở Hà Nội?
Tôi có cảm nhận: Cậu sinh viên đã biết khá rành rẽ về ông Phổ nhưng cậu ấy vẫn hỏi để diễu cợt sự phi lý đắng đót đã có ở lớp người cha chú "Sao nỡ vô tình để con cò con vạc đáng thương cứ gặp phải cành cong cành mềm…" Tôi buộc phải trả lời cho cái nhìn dò xét sợ thẳng thắn trong tôi hơn là phải trả lời câu hỏi của cậu đặt ra.
- Cháu ạ! Mặt cơ bản nào đó ông Hoàng Tuấn Phổ quả xứng đáng vị thế như những người công bằng tôn tưởng. Nhưng… Tôi còn ngập ngừng chưa lựa đúng ý để nói với cậu sau chữ nhưng… thì anh Lục bước ra. Tay phải anh vỗ nhẹ vào tập sách.
- Khà khà! Hay quá dường như trong tập sách này ông Phổ đã tập hợp nhiều bài tiêu biểu nổi tiếng… Anh Lục liền giở đến phần mục lục ở cuối sách cố ý đọc to chậm cho tôi và cậu sinh viên nghe… Đây này nhá! Ông Phổ đã có các bài phê bình các nhà văn như: với Trần Văn Giàu qua "ý thức hệ phong kiến thế kỷ XIX"; Với giáo sư Thần Thanh Mại qua "Giảng văn của Trường Đại học sư phạm"; Với giáo sư Vũ Đức Phúc qua "Vũ Đức Phúc trên mặt trận văn học";  Với giáo sư Huỳnh Lý qua "Ơ-giơ-ni Gơ-răng-đê tình và tiền"; Với giáo sư Đào Duy Anh qua "Khảo luận truyện Kiều của Đào Duy Anh"…
Rồi bằng một giọng nói bổng chìm truyền cảm và biết kết hợp ánh mắt với đôi tay có những độc tác thích hợp đúng lúc anh Lục đã diễn giải cho tôi với cậu sinh viên trẻ vì sao hơn bốn thập kỷ rồi anh vẫn ngưỡng mộ vẫn mong được gặp tác giả Hoàng Tuấn Phổ. Anh kể: Dạo đó… Tôi đang là sinh viên loại suất sắc khoa Văn năm thứ 3 của trường Đại học Vinh. Tôi được phân công thuyết trình chuyên đề Ơ-giơ-ni Gơ-răng-đê do thầy Phùng Văn Tửu phụ trách. Dù rất tự tin tôi vẫn nói với thầy Tửu: Thưa thầy em muốn được tham khảo thêm một số tài liệu… Xin thầy chỉ bảo. Thầy Tửu khích lệ: Rất tốt. Em nên tranh thủ đến gặp thầy Huỳnh Lý. Thầy Huỳnh Lý được coi là chuyên gia hàng đầu trong nhóm Lê Quý Đôn gồm các vị có uy tín như Lê Thước Vũ Đình Liên Trương Chính Đỗ Đức Hiểu. Nhóm nghiên cứu này rất chuyên sâu về văn học phương Tây nhất là văn học Pháp.
Dịp đó thật thú vị. Thầy Tửu đã "lộ" cho tôi biết rất thật thầy Tửu đã kính phục thầy Huỳnh Lý tới mức nào mặc dù thầy Tửu cũng có tiếng là dạy giỏi ở Đại học Vinh. Thầy kể: Có rất nhiều dịch giả đến nhà xuất bản xin dịch sách trong đó có tôi. Thông lệ nhà xuất bản yêu cầu mỗi người phải dịch thử vài trang trước khi ký hợp đồng… Riêng thầy Huỳnh Lý nhà xuất bản đến tận nhà trân trọng mời thầy dịch. Rất phấn khích đúng dịp hè tôi đến ngay nhà thầy Huỳnh Lý ở số nhà 40 phố Thi Sách - Hà Nội. Trên bàn làm việc của thầy Huỳnh Lý tôi liếc thấy có hai bản dịch thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Một bản của nhà thơ Tú Mỡ. Còn bản kia của Nguyễn Văn Vĩnh. Bên lề các trang dịch đó có chữ góp ý của thầy Lý viết bằng bút chì mờ mờ.
Tôi thưa thầy!… Thầy dịch tác phẩm Ơ-giơ-ni Gơ-răng-đê chắc mất nhiều thời gian lắm ạ! Thầy Huỳnh Lý gật đầu trả lời chậm rãi.
- Cũng nhiều đấy. Nhưng không nhiều và công phu bằng phần viết lời giới thiệu. Phần này số trang ít thôi nhưng nhà xuất bản đã trả tiền nhuận bút cho tôi ngang với tiền phần dịch cả cuốn sách.
Thầy còn kể nhiều chuyện cho tôi ghi chép nhiều tư liệu. Với cái vốn có được về nhà tôi viết liền hai tuần để hoàn thành bản thuyết trình và đem nộp cho thầy Tửu.
Sau mấy ngày tôi lại đến xin thầy Tửu rút bản thảo về để bổ sung tài liệu. Thực chất không phải là bổ sung mà tôi phải viết lại phần cơ bản sau khi tôi được đọc bài viết của ông Hoàng Tuấn Phổ trên tập san Nghiên cứu Văn học số 6 - 1961. Bài viết của ông Phổ với tựa đề: "Ơ-giơ-ni Gơ-răng-đê Tình và Tiền" khiến tôi bước đầu hơi hoang mang và tự hoài nghi mình…
Tôi tưởng các luận điểm của thầy Huỳnh Lý về tình yêu và tiền quyền của Ơ-giơ-ni đã được thầy Huỳnh Lý luận giải thỏa đáng sâu sắc không còn phải bàn thêm gì nữa chứ!? Thầy đã viết những đoạn văn hay và đẹp như thế này kia mà: "Ơ-giơ-ni kéo dài cuộc đời tuyệt vọng tẻ ngắt nhưng Ơ-giơ-ni không hẳn là kẻ chiến bại. Tình yêu của nàng là một thành trì không ai xâm phạm được rút về cõi lòng mình để cố thủ không nhân nhượng không thỏa hiệp không đầu hàng giữ mình nguyên hình đó là chiến thắng đấy chứ."
Nào ngờ ông Hoàng Tuấn Phổ đã đưa ra các luận điểm bác lại ý kiến trên của thầy Huỳnh Lý một cách bất ngờ và rất… thuyết phục. Ông Phổ viết: "Riêng tôi tôi không hoàn toàn đồng ý với ông Huỳnh Lý về điều đó.
Tuy thần tiền không làm nhơ bẩn tâm hồn băng tuyết của Ơ-giơ-ni hay như chính ông Huỳnh Lý đã nói: "Tiền đã giết chết tình". Trong cuộc đấu trong với thần tiền để giành tình yêu hạnh phúc Ơ-giơ-ni rõ ràng là kẻ chiến bại. Thần tiền đã cắt đứt mối tình đầu vừa chớm nở của Ơ-giơ-ni  với Sác lơ. Rồi thần tiền lại xóa mờ hình ảnh Ơ-giơ-ni trong trái tim Sác lơ vì Sác lơ lầm tưởng nàng nghèo. Tấm thân Ơ-giơ-ni còn được giữ trong trắng chủ yếu là nhờ thần tiền. Thật vậy Ơ-giơ-ni không có 17 triệu thì chả đời nào quan chánh án Đơ phơ roa phong lấy làm vợ với điều kiện là không đòi hỏi quyền lợi người chồng trên người nàng. Lòng chung thủy và tâm hồn băng tuyết của Ơ-giơ-ni là những điểm cao quý khiến chúng ta phải kính mến và cảm động. Nhưng sự tuyệt vọng và chán đời của Ơ-giơ-ni là gì nếu không phải là biểu hiện sự chiến bại thảm thương? Tất cả những điều đó chứng thực rõ ràng "thành trì" tình yêu của Ơ-giơ-ni đã bị thần tiền "xâm phạm" và tàn phá tan tành"…
Vẫn theo ông Phổ "chiến thắng" mà thầy Huỳnh Lý gán cho Ơ-giơ-ni  chỉ là "phép thắng lợi tinh thần" là chất "độc tố" thật sự nguy hiểm đã được Ban Zắc nhuốm màu tôn giáo trong tác phẩm. Lối thoát không tưởng của Ơ-giơ-ni là nép mình vào đấng cứu thế chính là phương pháp lãng mạn phi hiện thực của tác giả thay cho thực tiễn một cuộc cách mạng vô cùng vĩ đại đang thai nghén cựa đạp sắp bùng nổ do giai cấp các tầng lớp bị hoàng đế thần tiền đè nén bóc lột tàn khốc. Họ sẽ bùng lên với bao hờn căm phẫn nộ… Nhưng tiếc thay thế giới quan tôn giáo của Ban Zắc đã không lý giải không hòa cảm được. Đây là một hạn chế đáng tiếc đối với các nhà thiên tài không chỉ của riêng nước Pháp.
Nhiều đoạn văn trong bài phê bình của ông Hoàng Tuấn Phổ thật là hay cứ bám níu hồn ta mà đọc lên lúc nào cũng thấy ở tác phẩm sự thật được viết như đang diễn ra đúng ở ngoài đời đang chạm trán với chúng ta hầu như ở khắp mọi nơi:
"Tất cả những kiểu người trên chỉ có một mục đích chạy đua đến cung điện của thần tiền để thỏa chí ngụp lặn trong biển dục vọng mênh mông sâu thẳm. Trên đường chạy đua họ chen lấn nhau đấm đá nhau cấu xé nhau rút ruột nhau ai cũng muốn dẫm lên người khác mà tiến. Đó là một cảnh bi hài…"
Tôi đã nhập tâm nhiều đoạn văn hay như thế của ông Phổ qua hàng chục năm lúc nào tôi cũng có thể "lôi ra" ứng dụng vào những bài giảng văn khác nói đến tiền tệ… đến sự tha hóa biến dạng của con người xã hội. Như khi giảng kịch Sếch-spia giảng Truyện Kiều giảng thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm hay liên hệ với cơ chế thị trường hôm nay. Đồng tiền đang là sự nhức nhối vì mặt trái tệ hại tiêu cực của nó nhưng chưa có phương thuốc nào cứu chữa. Khi nó tung hoành ngoi lên quyền đế vương. Sức mạnh của nó như những viên đạn trọng pháo xuyên thủng mọi giá trị mọi thành trì kiên cố mà những lá cờ đỏ máu chiến công với bao huân chương lấp lánh ánh vinh quang không thể làm lá chắn… Nó làm gục ngã bao lớp người bần dân u muội đã đành… Những quan chức những đấng quân vương hoàng đế hầu hết cũng đã bị nó xâu mũi kéo đi như chim chuột giun dế thật thảm hại mà họ không hay biết thân phận mình đê hèn nhục nhã…
Anh Lục nhìn thẳng vào tôi và cậu sinh viên đang há hốc mồm nghe quên mất cây bút trên tay chẳng ghi được gì.
- Xin phép anh Phạm Văn Sĩ cũng là người viết văn. Cho tôi được kết luận nôm na có thể còn phải bổ sung rằng: Một tác phẩm văn học có giá trị là phải biến vào máu thịt người đọc người ta có thể vận dụng linh hồn sống của nó vào cuộc đời thường nhật mỗi khi cần đến nó như một thứ công cụ hữu ích…
Hai thính giả chúng tôi ngồi nghe vỗ tay tán thưởng! Tôi nói khích lệ:
- Thầy Lục của chúng ta cũng có máu văn hùng biện đấy chứ!
- Ông Phổ và các nhà văn đích thực đã truyền thêm cho tôi chất liệu và thứ men say ấy trong nghề dạy văn…
Sau cuộc trò chuyện không lâu tôi đích thân đưa anh Nguyễn Sĩ Lục từ phường Ba Đình thị xã Bỉm Sơn về thành phố Thanh Hóa gặp ông Hoàng Tuấn Phổ. Hai người xiết chặt tay nhau chuyện trò vui lắm. Mãi dịp đó anh Phổ mới tỉ tê cho chúng tôi nghe chuyện tình cờ mà như trời sắp đặt mọi việc để anh viết bài phê bình "Ơ-giơ-ni Giơ-răng-đê Tình và Tiền" khiến giới học thuật xôn xao đến bây giờ vẫn thấy bức xúc bởi đồng tiền hai mặt của thời cuộc mới.
Chuyện thế này: Một hôm có lẽ đầu năm 1961 anh Phổ quẩy đôi quang thúng chân đất đi hơn mười cây số lên cầu Quan (Nông Cống) để mua phân hóa học về bón ruộng. Thứ phân này thời đó hiếm như mì chính. Vào đến cầu Quan hỏi chẳng thấy chỗ nào bán. Có người mách phải đến chợ Thượng cách đó một cây số nữa mới mua được. Anh Phổ vui vẻ khiêng giúp con lợn thịt cho ông Quý người thôn Cầu Nhân phía trên chợ Thượng. Buồn thay! ở đây có phân nhưng người ta "chỉ bán cho ai có giấy chứng nhận là xã viên hợp tác"… Khốn thay nhà anh Phổ lại là "đối tượng" phải theo dõi nên nhà anh không được vào hợp tác xã. Anh Phổ đành quẩy quang thúng về cầu Quan. Đến hiệu sách anh thử rẽ vào xem may ra có cuốn sách nào đọc cho vơi đi sự buồn lo…
Lướt qua lời giới thiệu cuốn Ơ-giơ-ni Giờ-răng-đê thấy hấp dẫn quá… Anh Phổ "tặc lưỡi" bớt tiền mua phân sang mua sách. Và anh mải mê đọc liền một mạch từ cầu Quan về đến nhà. Không dứt ra được anh quên chuyện phân tro. Ngày hôm sau anh lại ngồi lì đọc tiếp… Mấy ngày đi cuốc ruộng anh cứ thấy ý nghĩ phải viết gì đó về cuốn sách của nhà văn Ban Zắc. Nhiều đêm liền một ngọn đèn dầu chung cùng vợ xe đay dệt chiếu anh cắm cúi viết. Mỗi bữa cơm độn ăn không no lại thức khuya càng chóng đói… Anh Phổ kể "Vợ tôi biết ý để dành mấy củ dong hấp riêng trên nồi cơm "bồi dưỡng" cho chồng. Chất xám viết nên Ơ-giơ-ni Gơ -răng-đê Tình và Tiền có thêm phần dong hấp như thế"… Nói đến đó anh Phổ cười khằng khặc. Anh Lục cũng cười!. Còn tôi thấy nghẹn trong cổ và cay cay khóe mắt. Không kìm được tôi đứng lên và bật ra lời nhận xét: Một con người am tường nghiên cứu kỹ triết học duy vật biện chứng có phương pháp luận mác xít phê phán những hạn chế của nhiều học giả có tiếng kể cả tác giả lớn như nhà văn Ban Zăc lại bị quy là "thành phần duy tâm phản động"… Thật mà cứ như đùa đến ứa trào nước mắt…
Anh Lục ngắt lời tôi:
- Giá không có cái "họa" trong cái "phúc" lớn lao của dân tộc cải cách thành phần giai cấp người cày có ruộng anh Phổ có thể cống hiến được nhiều hơn nữa! Anh Phổ cười hiền hòa.
- Cái sự thái quá một thời chẳng phải là "cái may" trong cái rủi để cho tôi có được nhiều bài viết đáng kể như bạn đọc đã được biết. Thật là phải cảm ơn "cái sự không được vào hợp tác xã nông nghiệp" và cảm ơn cụ Huỳnh Lý đã có bản dịch văn của Ban Zac tuyệt hay với lời giới thiệu công phu đáng nể tuy có đôi chỗ khiếm khuyết như tôi đã biết. Chắc cụ Huỳnh Lý cũng thông cảm cho cái anh chân đất nhà quê này. Rồi nữa phải cảm ơn bạn đọc cảm ơn những thầy giáo dạy văn giỏi như anh Nguyễn Sĩ Lục.
Đó là câu chuyện văn đạo tôi ít gặp. Không phải nhà văn nào thầy giáo dạy văn nào cũng có được cái "huyết văn" nên hạnh phúc ấy… Còn tôi cũng có chút duyên may bởi tình thân với các anh mà "chớp được cái tứ đáng là thơ" nhưng vụng đành viết những trang này để sẻ chia với bạn đọc cùng suy ngẫm.
                                                                             Tháng 6/2007
                                                                                   P.V.S


(*) Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc năm 2000



Về làm dâu sông Mã

một ca khúc được nhiều người yêu thích


                                                                   THẠC SỸ NGUYỄN LIÊN



    Tình cờ tôi được nghe một bài hát khá hay do anh ca sĩ không chuyên hát trong hội hôn ở nhà người bạn. Bài hát gây cho tôi một ấn tượng khá bất ngờ bởi đây là một ca khúc mới viết về Thanh Hóa tôi chưa được nghe bao giờ nhưng đã gây được cảm tình đặc biệt của tôi và những người cùng nghe. Tôi có hỏi anh ca sĩ tên tác giả bài hát nhưng anh này không biết tôi mường tượng đoán có lẽ của nhạc sĩ Đồng Tâm bởi chất nhạc và ca từ của bài hát. Sau này khi được nghe trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam phát bài hát này tôi được biết đó là ca khúc Về làm dâu sông Mã của nhạc sĩ Đồng Tâm (Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa) bài hát đã được giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam.
“Em có về làm dâu quê anh nơi hàng dừa xanh xanh mầu trời quê...” mở đầu bài hát là một nét nhạc trữ tình với lời “tỏ tình” thật mộc mạc dễ thương như người dân quê Thanh vậy. Tác giả thật tài tình khi khéo lấy “cái cớ” tỏ tình này để giới thiệu về quê hương mình - quê hương Thanh Hóa - một miền quê hiền hòa nhiều phong cảnh đẹp nhiều tiềm năng kinh tế văn hóa du lịch con người chịu thương chịu khó nhưng cũng đầy gian nan vất vả đến câu hò cũng ướt đẫm mồ hôi.  
Thực ra mô típ này nhiều người đã sử dụng ta có thể kể đến nhạc sĩ Trần Tiến trong bài Tùy hứng lý qua cầu “Bằng lòng đi em về với quê anh một cù lao xanh một dòng sông xanh...”; nhạc sĩ Phó Đức Phương trong bài Về quê “Đưa nhau ta thì về nơi mẹ đưa nôi nơi sáo diều chơi vơi với dòng sông bên lở bên bồi...” hay nhạc sĩ Nhất Sinh trong bài Tơ hồng “... Em yêu ơi về quê anh nhé mùa gió lên con nước vơi đầy một con sông ngày đục đêm trong...”... Không biết có phải vì cùng là người Thanh Hóa nên dễ đồng cảm với tác giả hay không mà khi nghe Về làm dâu sông Mã của nhạc sĩ Đồng Tâm tôi thấy ý tứ lời ca thật tha thiết mộc mạc và chân tình.
Bài hát được cấu trúc gồm hai đoạn nhạc có thêm phần kết bổ sung (a-b-coda) giai điệu xây dựng trên giọng xon thứ (gmoll) nhịp 2/4.
Đoạn một (a) là một đoạn nhạc có cấu trúc tương đối phức tạp gồm 30 ô nhịp chia cho ba câu nhạc không cân phương. Giai điệu và lời ca câu một như lời thủ thỉ nhẹ nhàng của người con trai với người con gái “Em có về làm dâu quê anh nơi hàng dừa xanh xanh mầu trời quê. Em có về làm dâu quê anh nơi đồng xanh xanh ngô lúa”.
Câu hai giai điệu được đẩy lên âm vực cao hơn cùng với những bước nhẩy liên tục như muốn nói về con sông Mã tuy đẹp nhưng cũng lắm thác ghềnh gian truân mà nếu về làm dâu sông Mã em phải biết về nó“nơi sông Mã xanh trong câu hò sông Mã qua bao tháng năm bao thác ghềnh với bao bến bờ neo đậu những tâm hồn”.  
Câu ba giai điệu lại được đưa xuống âm vực trầm. Đầu câu được đổi bằng phách mạnh thay cho phách yếu và lời ca có sự đảo từ “Về làm dâu quê anh em ơi có về làm dâu quê anh...”. Với thủ pháp này tác giả đã tạo cho giai điệu tương phản nhẹ nhàng với câu một làm cho ta nghe có sự da diết mạnh mẽ và thẳng thắn hơn.
Đoạn một của bài hát không kết trọn về âm bậc I (âm son) như đa số những ca khúc khác mà kết ở âm bậc III (âm si) trong hợp âm chủ của giọng xon thứ (gmoll) nhưng chúng ta vẫn cảm giác một sự bình ổn. Sự bình ổn này có lẽ do tác giả cố tình dùng thiếu âm bậc VI (âm mi) của điệu thức và không dùng các quãng nửa cung để tạo âm hưởng gần với điệu thức năm âm nên đã cho ta cảm giác ổn định như trong âm nhạc dân gian. Mặt khác việc kết tạm ở bậc III tác giả cũng có ý ngầm báo cho người nghe biết ở đó có dấu ba chấm (...) vì không thể kể hết cảnh đẹp của quê Thanh.  
Đoạn hai (b) của bài hát có 19 ô nhịp.
Câu một của đoạn hai gồm 9 ô nhịp được bắt đầu bằng sự chuyển tạm sang giọng đô thứ (cmoll) với âm mi giáng (Eb) ngân dài ở âm vực cao - một nốt mới xuất hiện đã tạo nên cao trào bộ phận cho ta một giai điệu khác tương phản với đoạn một (a). Ngoài ra với việc có thêm âm mi giáng nhưng lại bỏ âm si giáng giai điệu mạnh mẽ hơn do sự nhấn ở đầu các tiết nhạc đã làm nên tiêu điểm của sự kết hợp hài hòa giữa nhạc và lời. Kết câu ở âm Son nhưng chúng ta cảm giác nghe không ổn định bởi âm son này là bậc V của giọng đô thứ không phải bậc I của giọng sol thứ sự chuyển tạm của điệu thức đã ảnh hưởng đến sự ổn định của âm này.
Câu hai của đoạn hai nhắc lại gần nguyên dạng câu một nhưng có sự thay đổi cách tiến hành giai điệu ở cuối câu bỏ âm mi giáng và sử dụng lại âm si giáng để tạo sự dẫn dắt hòa âm trở về điệu tính chính (gmoll) vì vậy cũng kết ở âm son nhưng âm son này ở bậc I nên cho ta cảm giác ổn định.
12 ô nhịp tiếp theo giai điệu nhắc lại chủ đề của đoạn một đây là một câu kết bổ sung (coda) nhằm nhấn mạnh lại chủ đề tạo sự liên kết chặt chẽ cho toàn bài.
Về chất liệu âm nhạc hai phần chính của bài hát tác giả không dùng rõ nét một điệu thức dân ca nào của xứ Thanh hay một vùng miền nào của người Việt nhưng ta nghe vẫn có âm hưởng của dân ca Thanh Hóa. Chỉ trong câu kết bổ sung tác giả mới dùng đậm nét âm hưởng của hò sông Mã bằng thủ pháp dùng quãng đặc trưng chùm bốn nốt móc kép có luyến nhảy xuống quảng bảy thứ rê2- đô2- rê2- phá2 --> son1) ở ô nhịp thứ 4 của câu và kết bài bằng một giai điệu mênh mang của hò sông Mã. Phải chăng tác giả đã tắm mình trong nguồn dân ca phong phú của quê hương đã ngấm rất sâu đậm chất dân ca đó nên những ca khúc của anh đã nói được tiếng nói và hơi thở của người dân xứ Thanh!
Ca từ trong Về làm dâu sông Mã của nhạc sĩ Đồng Tâm chau chuốt giàu chất thơ tuy kể lể nhưng có chắt lọc những nét tiêu biểu. Nếu đoạn một là lời giới thiệu về những cảnh đẹp thiên nhiên những tiềm năng kinh tế văn hóa du lịch... của ba vùng miền tỉnh Thanh “nơi hàng dừa xanh xanh mầu trời quê” “nơi đồng xanh xanh ngô lúa” “nơi sông Mã xanh trong câu hò sông Mã” “nơi biển đợi nắng lên nơi rừng gọi gió về”... thì ở đoạn hai là lời giới thiệu về những trang sử hào hùng vẻ vang của người dân quê Thanh trong truyền thống chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương đất nước“...núi sông từ thuở bừng nở đã qua một thời đạn lửa vẫn hiên ngang như tình người quê Thanh mãi kiên trung” hay “tiếng ca ngàn đời vang vọng trong tiếng cồng ngàn Nưa tiếng trống Đông Sơn”. Hiếm có ai tỏ tình với người yêu lại bằng những lời giới thiệu về quê hương mà không một lời âu yếm riêng tư như thế!
Thật dễ hiểu bởi Về làm dâu sông Mã là một ca khúc thể hiện tình cảm yêu thương của người con trai đối với người con gái song nó không bó hẹp ở tình yêu đôi lứa mà tác giả đã đặt tình yêu đó trong tình yêu quê hương đất nước. Bởi không chỉ có yêu người mình yêu mà phải yêu quê hương hiểu được “cảnh tình” của nơi mình sẽ trao gửi cả cuộc đời thì tình yêu mới bền chặt. Chúng ta không thấy những lời lẽ sáo rỗng của những cuộc tình như một số ca khúc “nhạc trẻ” ngày nay mà cái “tôi” của ca khúc này đã hòa trong cái “ta” và cái “ta” đó lại chứa đựng tinh thần của cái “tôi”. Chính tư tưởng bài hát cùng với sự sáng tạo trong âm nhạc đã làm nên sự thành công của Đồng Tâm trong ca khúc này.
                                    
                                                                                  Tháng 6/2007
                                                                                           N.L
                                                                                            



CHUYỆN CŨ

BÀN THẠCH HÁT Ả ĐÀO


                                                                                           LÊ VĂN VIỆN


    lẽ không nghề nào có nhiều tên như nghề này: ả đào; nhà trò; câu đầu lại có một cái tên thường gọi được sách báo gọi hoa mỹ là ca trù hay cũng được gọi theo tiếng lóng như: Tom chát; đi tom chát (là cách gọi bắt chước tiếng trống chầu).
Dường như cũng không nghề gì biến thiên thay đổi nhiều bằng nghề hát ả đào. Theo sử sách chép lại thì hát ả đào ra đời từ thời nhà Lý (thế kỷ XI) nhưng không rõ xuất xứ từ đâu. Tương truyền ả đào là tên một danh ca thời ấy.
Từ đầu thế kỷ XI đã có đào nương và kép đánh đàn nhưng ban đầu chưa có đàn đáy mà chỉ có đàn nguyệt. Theo truyền thuyết thế kỷ XV mới xuất hiện cây đàn đáy. Các làng hát ca trù đều thờ Mãn Đường Hoa công chúa con gái Bạch Đinh Xà vương làm thánh sư. Có thuyết cho rằng tổ ca trù Mãn Đào công và cả chồng là Thanh Xà Đại vương gốc từ Thanh Hóa...
Hát ả đào ban đầu là hát trong cung cấm như: hát thẻ (hát cho vua và quần thần nghe xem).
Hát ả đào thường là: Nhà trò hát cửa đình (hát thờ vừa múa bỏ bộ vừa hát trong tế lễ); hát nhà tơ (hát nhà quan tỉnh quan phủ và các cuộc Chánh lý khao vọng mừng thọ); hát cô đầu (hát cho khách chơi thưởng thức)...
Cũng không nghề nào nổi đình đám danh giá ngất trời đến sa xuống bùn đen qua thời gian như nghề này. Ngày nay nghề hát ả đào chỉ còn thoi thóp trong nhân dân. Dẫu cho hát ca trù đã được tặng giải thưởng âm nhạc châu á (đào Phúc đào Hồ hát thu băng rồi gửi đi dự thi ở Nhật).
Đến Bàn Thạch (Xuân Quang Thọ Xuân) có dòng họ Ca công với nghề hát ả đào được truyền qua nhiều đời nay.
Theo lời các cụ cao niên kể lại thì: Dòng họ hát ca công ở Bàn Thạch xưa vốn có nguồn gốc từ họ Nguyễn ở làng Bình Ngô huyện Thiệu Hóa chuyển lên Bàn Thạch. Đến thế kỷ thứ XV vì có công giúp vua Lê Thái tổ đánh đuổi giặc Minh nên được ban quốc tính (họ Lê).
Dòng họ Lê xưa kia chiếm một giáp (làng) trong 7 giáp của Bàn Thạch vì có truyền thống hát ả đào nên được gọi là làng Ca công.
Dòng tộc Ca công gồm có 3 chi và nhà thờ của tộc ở đội 2 xã Xuân Quang ngày nay. Sau này dòng họ Ca công vẫn còn hai ngôi mộ tổ thuộc làng Quần Kênh xã Xuân Giang (xưa kia nơi này cũng thuộc Bàn Thạch). Được biết đây là hai ngôi mộ của ông tổ và bà tổ hát ả đào của dòng tộc.
Một ngày đầu xuân năm 2007 tôi tìm đến nhà cụ Lê Văn Mạnh - một trong những người nổi tiếng trong làng hát ả đào ở Bàn Thạch xưa. Căn nhà của cụ khiêm tốn nằm ngay giữa làng. Năm nay mặc dù cụ đã ngoài 80 tuổi chân đã chậm mắt đã mờ nhưng cụ vẫn còn khá minh mẫn. Vừa uống nước tôi vừa được cụ kể cho nghe chuyện xưa cụ đi hát ả đào.
Theo cụ Mạnh thì: hát Ca công Bàn Thạch xưa rất nổi tiếng được mời đi hát khá nhiều nơi trong và ngoài huyện cũng như dưới tỉnh. Cứ ba năm một lần lại được mời đi hát ở tỉnh có khi đi cả kinh đô Huế để hát cho các quan lớn và nhân dân ở các làng ở đấy nghe.
Cũng như hát ả đào ở nhiều nơi trên đất nước lúc bấy giờ hát ả đào ở Bàn Thạch xưa khi nông nhàn đều được chạ mời thế là họp phường rồi gồng gánh đi hội các hàng.
Hát ả đào có tính nhà nghề cao nó đã thành nghề trong nữ giới của cả xóm hay cả họ. Lại thường đi hát cửa đình cửa chùa hát thanh quan Vậy nên hát ả đào ở Bàn Thạch xưa cũng được coi như một nghề của dòng tộc Ca công.
Mùa xuân vào khoảng tháng 2 tháng 3 âm lịch thường được các làng trong tỉnh mời đi hát lễ hội thành hoàng làng. Tùy nơi mời cũng như tùy vào làng nhỏ làng lớn hát một đêm hay nhiều đêm và Giáp cắt cử con em đi hát. Thủ tục chỉ là làng đến mời hát có cơi trầu chai rượu gặp giáp trưởng sau đó có mâm xôi con gà yết tổ là được. Sau đó các bậc đàn anh trong giáp cắt cử người đi hát theo sự thỏa thuận với làng hoặc có gia đình trong giáp tự nguyện xin đi vì có quan hệ với làng mời hát. Thường thì tốp đi hát có 1 kép đào tốp đông thì từ 8-10 người hay ít thì từ 3-6 người.
Hát ả đào ở Bàn Thạch xưa chủ yếu là điệu hát nói sử (sử xuân sử lầu) trong hát chèo.
Hát lót cửa đình thường hát vào các ngày hội làng ở trước bàn thờ (hoặc cũng có thể đi theo kiệu hầu) và trước cửa nơi thờ thần.
Hát thanh quan như: "Làm tài giai đứng trên trần thế bắc thang mây bẻ quế thần cung sóng vũ môn ba lớp vẫy vùng ấy mới gọi nam nhi là chí khí".
Hay hát đám xá như: "Bức huê thảo tình thư một bức tâm sự này vằng vặc bóng trăng soi sự nhân duyên đưa đến bởi tại giời duyên kỳ ngộ ư lời nguyền non với nước. Lòng dặn dò đinh ninh sau trước giục lòng người bao quản khách quan san. Một trâu phiên với một ngân hà lấy dấu để phượng loan làm bạn".
 Tuy nhiên những làn hát hay nhất trong hát ả đào vẫn là là các làn hát như: hát tỳ bà; hát cung bắc; hát mưỡu…
Hát trước bàn thờ thần được gọi là hát lễ hầu thần trước bàn thờ trang nghiêm với những lời ca ngợi công đức của thần hoàng làng như:
                Thần thượng đẳng anh linh duệ trí
                Thần đã nên tam quốc tôn thần
                Thần năng tá quốc hộ dân
                Tặng thượng đẳng gia phong tối linh vạn đại
                Nhà thần tối hộ trai hộ gái
                Đức đại vương về giáng phúc trừ tai…

Hát trước cửa nơi thờ thần còn được gọi là hát cửa đình hay thềm đình là hát cho dân làng nghe chủ yếu vào ban đêm với các làn điệu hát đượm nỗi niềm thân phận như: "Tiểu Kính Tâm"; "Ông lang Nhẫn lên tu trên núi"… hoặc các điệu hát như những bài giảng về đạo làm con như: Phú vương lăng; Nhị thập tứ hiếu…
Hát ả đào ở Bàn Thạch có những cái tên nổi danh một thời như: cô đào Hường; cô đào Tuyết; cô đào Ngần; cô đào Quý; cô đào Nhung.
Hát ả đào với tính chất đàng hoàng thẳng thắn được coi là thú vui tao nhã thanh tao của người xưa với bao tâm tư gửi vào đấy. Với gánh hát của làng thì tiền công chỉ là hương hoa một phần tiền công được đem về cúng tổ và góp vào giáp (làng). Tiền thưởng thì chia nhau kẻ ít người nhiều để xong mùa hát lại may tấm áo manh quần sắm sửa cây đàn để luyện tập thêm cho mùa sau lại hát.
Theo cụ Mạnh thì đó cũng là cái nghiệp theo đuổi cung đàn nhịp phách trong những ngày nông nhàn. Khi các nhà hàng cô đầu mở ra ở cửa Hậu quán Giò cầu Sâng cầu Chanh… ở làng cũng có đào kép hát sinh nhai. Song nếp làng vẫn giữ hát ca công trong thuần phong mỹ tục của làng chứ không như nhiều nơi ngoài gánh hát như: đào hát kép đàn… còn có đào rượu để tiếp khách như ở các nhà hát.
                                                                                               L.V.V



More...

TRUYỆN NGẮN

By Văn Nghệ Xứ Thanh



Cao Hạnh


Người đàn bà lội sương


Truyện ngắn


    Đêm khuya. Gió bấc thổi u u. Phía chân trời đẫm một vầng trăng lạnh. ánh trăng cuối tuần như không vội xuống núi còn nán lại để chứng kiến hình ảnh một người đàn bà trong đêm giá lạnh. Chị đi từ bờ tre xăm xăm vượt lên ngọn đồi trước làng luồn lủi trong màn sương tiến thẳng về phía thị xã.
Bãi Lình là nơi chị cần tìm đến - Nơi đây cách bến xe và chợ huyện chưa đầy hai cây số - Là khu vực nằm giáp gianh giữa thị trấn và xã phụ cận.
Bãi Lình có một cái hồ lớn nước đục ngầu. Trên bờ hồ lác đác có vài chiếc ghế đá đặt dưới những gốc cây đại thụ tỏa bóng buồn thiu. Đây là công viên thiếu nhi đang làm dang dở. Cách đây hai năm trước kỳ bầu cử Hội đồng nhân dân huyện ông Chủ tịch cho tiến hành xây dựng công trình để lấy phiếu tín nhiệm. Vì phải thi công vội vàng bùn đất ở lòng hồ chưa nạo vét hết đã xây kè lát đá trồng vườn hoa cây cảnh để kịp thời đưa vào sử dụng. Than ôi! Sau một trận mưa dài ngày bờ hồ bị sụt lở theo những ghế đá cây cảnh đổ sụp xuống lòng hồ. Tất cả đi theo số phận của ông Chủ tịch - Cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân huyện nhiệm kỳ ấy ông ta chỉ được mỗi một phiếu không thể đứng chân trong hội đồng. Từ ngày ông Chủ tịch mới lên thay đã cố gắng tu sửa nhưng cũng chưa xoay sở đủ nguồn kinh phí nên công trình bị bỏ dở. Thành ra cái công viên thiếu nhi bây giờ đã trở thành nơi cho bến xe bãi chợ vứt rác đồng thời cho các cặp tình nhân hoan lạc và cuối cùng là chỗ tiện lợi nhất để vứt bỏ những "sản phẩm" của những cơn ái dục.
Đêm nay Bãi Lình chìm trong sương lạnh khói sương mờ đục tụ thành những đám bùng nhùng rải đầy công viên. Chị đến đứng lặng trước gốc cây mù u. Mệt đến rã người tưởng như không còn sức để đứng vững được nữa nhưng chị không thể tựa vào gốc cây mù u mà thở để lấy lại sức lực. Có điều gì đó cuốn hút tâm trí chị buộc chị phải hành động ngay. Chị cúi xuống căng mắt dõi theo nhìn xuyên vào lớp sương mù dày đặc.
ở đằng kia dưới gốc si già có một cặp tình nhân đang quấn lấy nhau. Họ phô ra ngồn ngộn giữa đêm mờ đôi thân thể lõa lồ tràn đầy sinh lực. Tay chân động cự tiếng thở hào hển đầy nhục cảm và những tiếng rên ư ử trong cơn cuồng hứng… Khi cặp tình nhân đã ra về chị vẫn ngồi thừ người ra ở đó để ngắm nhìn những dư ảnh lắng nghe những dư âm đọng lại trong óc mình và chị lục lại trong ký ức phút run rẩy đầu đời.
Năm mười bảy tuổi chị học lớp mười có một người bạn trai trong lớp để ý đến chị. Nhiều lần chị bắt gặp ánh mắt của anh chàng nhìn chị rất bén. Lúc ấy chị đỏ mặt cúi xuống tủm tỉm cười bàn tay cầm bút viết ngoạch ngoạc lên trang giấy viết những gì đâu biết chỉ để lắng nghe những niềm giao cảm đang rạo rực bên trong. Có lần đang ngồi học tổ bàn tay cậu ấy bất giác chạm vào tay chị chị vội rụt tay lại nhưng đến lúc về nhà chị không sao ngủ được cảm giác hơi ấm bàn tay người bạn trai còn thức hoài trên da thịt làm chị thao thức. Nếu không có chiến tranh thì người bạn trai ấy sẽ trở thành người yêu của chị và có thể họ sẽ lên xe hoa để rồi sau đó sống hạnh phúc bên nhau suốt đời. Nhưng chiến tranh bùng nổ chàng trai ấy đã tình nguyện lên đường cầm súng giết giặc. Mãi đến hai năm sau chị mới nhận được bức thư của anh ấy. Bức thư anh ấy viết từ ngày đầu mới nhập ngũ nhưng qua hai mùa đông giá rét mới đến với tay chị. Bì thư xẫm màu trang thư vàng ố đẫm màu khói đạn. Chị chưa kịp tận hưởng niềm vui thì nhận được tin anh đã hy sinh chị đã khóc không còn nước mắt. Mặc dù chị biết anh chưa phải là người yêu chưa phải là chồng chị nhưng chị cảm thấy mình đã mất mát một hạnh phúc quá lớn trong đời.
Cuộc chiến tranh tiếp tục kéo dài càng ngày càng ác liệt hơn đến lượt chị cũng phải tình nguyện vào thanh niên xung phong làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn. Chị đã sống những ngày với Trường Sơn xanh với những ngọn suối biếc với những cơn mưa rừng dầm dề. Đêm đêm nghe tiếng hổ gầm động núi tiếng quạ kêu lạnh rừng tiếng vắt búng lách tách trên vòm lá rơi lả tả xuống trần màn. Chúng chui cả vào chăn vào chiếu vào cổ áo vào ống quần cứ nhè những chỗ hiểm hóc nhất trong người mà đốt.
Tiểu đội chị có sáu người. Thời gian đầu mới vào đơn vị cô nào cô ấy trông óng ả tươi nhuần sau một thời gian ở rừng bị vài trận sốt rét mặt mày trở lên tái xám mắt thâm quầng   xuân sắc con gái biến đi đâu mất. Cuộc sống chiến trường với hàng núi công việc phải làm: đào đất san lấp hố bom chặt cây kè đá vác đá khuân vỏ đạn lát đường gầm cho xe khỏi bị mắc lầy. Tay chân mặt mày đầu tóc người nào người nấy bê bết bùn đất vẫn không hề có tiếng kêu ca phàn nàn. Đoạn đường này làm xong chuyển sang đoạn đường khác hố bom này lấp xong tiếp tục lấp hố bom khác. Tuổi xuân của các chị ở Trường Sơn được xếp những chuỗi ngày gian lao ác liệt chẳng mấy khi được yên ổn rảnh rỗi để chăm lo cho mình còn nói chi đến chuyện yêu đương. Những cuộc trai gái gặp nhau thường xảy ra chóng vánh chưa kịp hỏi tên hỏi quê quán đã phải rời xa. Ai duyên may thì chớp được tín hiệu để sau này kiếm tìm nhau; còn ai rủi số thì chỉ đứng hững hờ. Chị là phận mỏng những lúc gặp nhau như thế chị không buông nổi câu níu kéo mà chỉ đứng lặng im bên vệ đường thoáng nhìn đoàn quân lướt qua trước mắt. Hơi ấm và mùi mồ hôi hầm hập tỏa ra từ những cơ thể tràn trề sinh lực của các chàng trai làm chị bổi hổi bồi hồi. Cái mùi mồ hôi ấy cứ ám ảnh chị mãi đến sau này. Mỗi lần nhớ đến họ chị lại trách mình tại sao lúc ấy không bạo dạn lên một chút chớp giật thời cơ dạm lời ngỏ ý kết bạn xe duyên sau này?
Tất cả cũng vì những điều dị nghị sợ mất uy tín danh dự của một người chỉ huy đơn vị luôn thường trực trong chị. Cái chức tiểu đội trưởng làm chị bỏ lỡ liên tục mấy cuộc tình.
Chị còn nhớ cũng vào một đêm mùa đông sương lạnh như đêm nay có điều đêm ấy trăng đẹp lắm. ánh trăng mùa đông như soi sáng cả núi rừng. Những làn sương mỏng quấn trăng trôi nhẹ tênh trên sườn núi. Mặt suối trăng soi lung linh diệu vợi mải miết xuôi về ào ạt đổ trăng xuống các vực ghềnh làm tung lên những bọt nước trắng xóa lấp lánh như những hạt trân châu. Lúc ấy chị từ dưới suối bước lên. Có lạnh một chút nhưng chưa vội mặc áo quần đứng khuất vào bờ đá chị ngắm nghía mình. Da thịt chị hòa lẫn cùng màu trăng óng ả. Chị đưa hai tay xoa xoa lên hai bắp đùi núng nính kéo dần lên lườn bụng săn cón khẽ mân mê hai bầu vú căng mẩy. Những khao khát trong chị bắt đầu cựa quậy. Chị nghe thấy tiếng máu chảy rần rần trong cơ thể mình. Mỗi nỗi khát thèm làm chị bủn rủn cả tay chân… Có tiếng động làm chị giật mình ngước nhìn lên bờ thấy một người đàn ông đang ở trần trùng trục phô bày hai tảng ngực đỏ au tay chân săn quắn đang cúi xuống nhìn chị. Chị hốt hoảng giật vội chiếc quần che chưa kịp lên tiếng thì người đang ông cất giọng thì thào:
- Nguyệt… đừng sợ… Tôi đây mà.
Thì ra là Tám - một chiến sĩ lái xe ở đoàn 559 anh đã có vài lần ghé qua doanh trại chị. Chị quắc mắt nhìn lên.
Nguyệt chết điếng Nguyệt chưa biết thế nào thì thấy Tám dần dà bước xuống đứng trước mặt Nguyệt. Nguyệt lùi lại đứng nép vào bờ đá mắt long lên như mắt mèo.
- Anh định giở trò gì?
- Không! Tôi không phải là loại đàn ông cuồng bạo ức hiếp phụ nữ đâu hở Nguyệt.
- Anh mà lớ xớ tôi la lên ngay.
- Nguyệt bình tĩnh hãy để cho tôi nói đã. Nguyệt ạ!
Tiếng Nguyệt đanh lại:
- Anh có biết ở chiến trường những lời nói hành động cử chỉ làm lung lay đến tư tưởng đồng đội sẽ bị ghép tội gì không?
- Tôi biết. Nhưng đây là tôi…?
- Giữa anh và tôi nào đã có một tình yêu?
- Tình yêu ư? Có mỗi lần gặp là mỗi lần thoáng qua anh làm sao để bày tỏ cùng em được. Nhưng thực tình anh đã yêu em từ dạo ấy… Cái đêm mà em đứng đóng cọc rào quanh hố bom để cho xe anh qua mái tóc em đầm đìa trong mưa dội. Anh đã mang theo hình ảnh ấy suốt dọc mọi nẻo đường. Tình yêu em như mạch nguồn âm ỉ để rồi tuôn chảy thành suối thành sông và bây giờ ào ạt dâng tràn sóng lũ làm anh không thể nào ngăn giữ được em ơi…
Anh ru vào lòng Nguyệt bao cảm xúc làm Nguyệt chạnh lòng. Nhìn thấy hai giọt trăng trên mắt Nguyệt lung linh. Tám biết lòng Nguyệt đang xao động. Anh quỳ xuống thềm đá. Hai tay đưa về phía Nguyệt ngực ưỡn ra các bắp thịt cuồn cuộn được chiếu ngời ánh trăng. Vẫn lời nói trầm trầm tha thiết nghe như không phải từ mồm Tám phát ra mà từ ngọn núi cao ngất trên kia vọng xuống.
- Nguyệt ơi… Ngày mai anh vào trận đêm nay anh chỉ ở bên em được tiếng đồng hồ nữa thôi. Anh vào trận anh không sợ chết điều mà anh sợ là trước lúc hy sinh anh chưa nói được lời yêu với em. ừ! Anh sẽ chiến đấu và hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Ngày đó em đừng khóc em chỉ gửi vào trong đất trời cho anh một lời yêu để linh hồn anh được thanh thản Nguyệt ơi…
Nguyệt òa khóc. Tám bật dậy như một cơn lốc ào đến ôm chầm lấy Nguyệt. Hai tay Nguyệt giữ chặt lấy chiếc quần che đầu gục vào vai Tám. Hơi thở gấp gáp. Đôi môi lần tìm. Và bộ ngực nóng hổi của Tám đốt lửa lên hai bầu vú căng nhức của Nguyệt làm Nguyệt như tan ra. Chiếc quần trên tay buông lỏng rũ xuống rơi… Một nụ hôn gắn chặt vào môi và một cú xiết eo làm Nguyệt oằn mình lả ra trên đôi tay của Tám. Tám bế xốc Nguyệt lên Nguyệt cảm thấy bồng bềnh như bơi trong mây. Tám dùng chân hất vội tấm ni lông trải ra đặt Nguyệt xuống. Khi bộ ngực anh ập xuống dằn lên người Nguyệt thì Nguyệt bừng tỉnh. Hực! Một cú đẩy tay rất mạnh của Nguyệt vào ngực Tám làm anh văng ra một bên. Nguyệt bật dậy vơ vội chiếc quần ù té chạy. Tám đứng châng lâng nhìn theo…
Chị không ngờ cái đêm hôm ấy Tám vào chiến trường phía trong hai ngày sau chị nhận được tin anh đã anh dũng hy sinh trong một trận phá vây của địch. Chị vừa xót thương vừa cảm thấy mình có lỗi với anh. Chao ôi! Nếu như đêm ấy chị chiều anh cho anh thì bây giờ lòng chị đâu đến nỗi xót xa đến thế này. Nhưng chị đã không làm thế được vì cương vị vì thanh danh buộc chị phải từ chối để bây giờ chị chỉ biết đứng giữa đất trời mà gào lên trong tiếng nấc: Anh Tám ơi!…
            *
Cuộc chiến tranh tàn khốc kết thúc. Chị về làng. Chị sung sướng đến tột bậc khi nhìn thấy quê hương được giải phóng. Bầu không khí mới thôi thúc cuốn hút chị vào công việc. Ngày đêm chị cùng bà con hì hục san lấp hố bom khai hoang phục hóa xây dựng nhà cửa nương vườn trên mảnh đất khét lẹt mùi đạn bom…
Đại hội xã đoàn chị được tín nhiệm bầu làm bí thư. Với kinh nghiệm bao năm phụ trách tổ đội thanh niên xung phong giờ đây giúp chị làm việc có uy tín lắm. Anh em thanh niên trong xã coi chị như người chị cả. Mọi ý kiến chị đưa ra người ta đều coi là mực thước tất cả đều làm theo răm rắp. Họ rất kính trọng thương yêu chị có điều trong các cuộc đi chơi chẳng mấy ai rủ chị đi. Những đêm trăng sáng nhìn những cặp tình nhân nắm tay nhau đi trên đường chị thấy mình cô đơn trống trải lạc lõng trong cuộc sống lớp trẻ. Những lúc ấy chị chỉ biết hướng về Trường Sơn mà khóc. Nhưng rồi khả năng tự kìm chế khiến chị chôn chặt tất cả những kỷ niệm trong lòng để tiếp tục dấn thân vào cuộc sống hiện tại. ý chí phấn đấu đã đưa chị tiến nhanh trên con đường danh vọng. Hết làm bí thư Đoàn thanh niên lên làm Phó chủ tịch xã được cử đi học cao cấp chính trị ra trường về huyện công tác với cương vị là trưởng phòng tổ chức lao động thương binh xã hội. Thực ra lúc đầu chị không có ý thức phấn đấu để leo cao. Nhưng chức vụ dần dần cuốn hút chị và trở thành một thứ bùa mê làm cho chị quên mất mình là người đàn bà. Đã có những lúc chị chững lại để ngẫm ngợi tính toán cho việc riêng tư của mình. Chị mơ ước có được một tấm chồng và một đứa con. Hàng ngày đi làm về được sống hạnh phúc trong mái ấm gia đình. Ước mơ giản dị đến thế mà đâu có được. Những người đàn ông cùng lứa với chị đa số đã có vợ kẻ chưa lập gia đình thì thường bị chứng tật này nọ chị làm sao yêu được. Còn lũ trai lơ chúng chỉ nhìn xuống mê đắm những "búp sen" "búp gạo" chứ đâu màng đến chốn héo tàn như chị. Chẳng lẽ chị lại đi ngoại tình. Một người tử tế như chị không thể đi cướp giật hạnh phúc của người khác.
Năm tháng qua đi người đàn bà lỡ thì ôm trọn tuổi ngọc ngồi bên bến tình chờ đợi nhưng chẳng có một cơ hội nào đến xuống thuyền rời bến sang sông. Nhan sắc chị dần lụi tàn chỉ có nỗi buồn đau ngày càng trỗi dậy. Nhất là đêm ấy cái đêm mà vào thời khắc cuối cùng của người đàn bà đi qua tuổi năm mươi chị hồi hộp chờ đợi những biến động của cơ thể chị không còn có được cảm giác đau tưng tức ở bụng và một dòng nóng ấm lặng lẽ chảy xuống nơi bắp đùi… chị sờ tay xuống… Tất cả đều ráo hoảnh.
Ngoài bờ ao lũ cá trắm đến mùa vật đẻ tiếng quẫy đuôi ùm ùm trong cơn mưa. Trời đất cũng thỏa thuê một cuộc giao hòa để cho những chồi non lộc biếc chi chít mọc lên trên mặt đất. Tất cả đang chuyển mình sinh sôi. Còn chị thế là hết rồi… Một hơi thở dài đến não ruột. Chị òa khóc. Tiếng khóc rung lên trong lồng ngực với nỗi đau tuyệt vọng…
Chị về hưu cuộc sống càng trở nên buồn tẻ. Nỗi khao khát làm mẹ cứ thôi thúc trong lòng. Bởi vậy chị đã tìm đến đây ở cái công viên nhỏ bé này.
            *
Nó đâu rồi? Rõ ràng thấy nó chạy về hướng này cơ mà.
Bây giờ chị chỉ có hình ảnh của thị. Thị là một ả đàn bà giàu có ở cùng xóm với chị. Cuộc sống ăn chơi trác táng đã khiến thị bao lần nạo thai. Trước đây thị cũng đã có chồng. Chồng thị làm nghề kế toán. Khi chồng mất việc thị làm đơn ra tòa ly dị ngay. Từ đó đến nay thị làm kẻ "cụt đọt" không muốn lấy chồng chẳng thiết sinh con. Thị chỉ quan hệ bồ bịch để kéo dài thời gian ăn chơi xả láng của mình. Bồ thị toàn là những kẻ giàu có để cho bàn tay của thị nhoay nhoáy rút tiền ngày một thêm điệu nghệ. Với bản tính "quân tử" trong các các cuộc giao hoan thị chẳng cần dùng đến các biện pháp tránh thai nhỡ ra có bầu thị sẽ nạo ngay.
Lần này vì phải giữ hợp đồng với lão Việt kiều nên thị phải nuôi dưỡng thai nhi ai ngờ hợp đồng bị lão ta bãi bỏ. Thai nhi lớn quá không nạo được thị đành đợi đến ngày sinh. Sinh xong tìm cát dụt.
Đêm đêm chị rình nấp ở hè nhà thị để theo dõi nắm hết mọi ý đồ. Tối qua thị trở dạ chị đã nằm dưới gốc chuối vườn nhà thị mưa gió dầm dề rét buốt đến tận xương nhưng chị chẳng nản cố chờ đợi tiếng khóc oa oa của đứa trẻ chào đời. Đến nửa đêm vẫn không nghe động tĩnh gì chị bò vào sát nhà rón rén đi dọc theo bức tường dán mắt nhìn vào khe hở của các cửa sổ nhưng cửa nhà đóng kín quá không nghe thấy gì. Thỉnh thoảng có vài tiếng chói lên lọt ra ngoài chị chưa kịp cảm nhận tiếng kêu đã bị gió cuốn mất hút trong không gian. Chị đoán đó là tiếng kêu la đau đớn trong cơn trở dạ của thị. Lòng chị trào dậy tình thương. Ôi! Ước chi thay được thì chị sẽ thay cho em. Dù sao thì chị cũng từng quen chịu đựng trước nhọc nhằn đau đớn. Thôi! Gắng lên em. Cầu mong cho em mẹ tròn con vuông.
Một tiếng rú lên đột ngột tiếp theo là tiếng khóc oa oa lòng chị trở nên rộn ràng. Đứa trẻ đã ra đời con gái hay con trai? Con gì cũng được tất miễn là chị có được con. Và dù nó có trở thành con chị hay không chị vẫn thấy vui mừng khôn xiết. Nhưng tất cả trở nên im lặng. Sự im lặng kéo dài đến kinh sợ. Chị cảm thấy bàng hoàng và bắt đầu hoài nghi. Đứa bé liệu có sao không? Thị đang làm gì với con? Âu yếm nó để rồi lát nữa giã từ? Hay là bóp mũi nó rồi? Chị nghe lòng mình thắt lại gan ruột nhói đau.
Cánh cửa mở. Một bóng đen mặt mày trùm kín tay ẵm một cái bọc nhoi mình quan sát bên ngoài quay lại khóa vội cửa và ào ra đường chạy như ma đuổi về phía thị trấn. Chị bật dậy đuổi theo nhưng bàn chân bị thương của chị nhói đau không sao theo kịp.
             *
Lạ thật chẳng nhẽ nó không đến đây? Vậy nó vứt đứa bé ở chỗ nào?
Chị bươn bả chui rúc khắp nơi nhòm ngó ở các gốc cây ghế đá bới tìm trong những đống rác đều không thấy. Nỗi thất vọng đè nặng lên tâm trí chị đứng bơ vơ như người mất hồn. Khi chuẩn bị cất bước ra về bỗng chị nghe thấy tiếng khóc oa oa vang lên ở đầu góc công viên. Chị vội vàng chạy đến. Trước mắt chị một đám sương mờ đục như một tấm tơ lưới bao bọc lấy đứa bé. Đám sương mang hình con quái vật tỏa ra những chiếc vòi quấn lấy chân tay đứa bé. Chị thốt lên - Nó đây  rồi! Con tôi đây rồi! Và chị sà xuống bế nó lên. Mặt mày nó tím ngắt chân tay xuôi lơ. Con ơi ! một tiếng gọi được nuôi dưỡng từ lâu trong máu huyết cõi lòng nay bật ra thành lời chị run lẩy bẩy. Chưa bao giờ chị run như thế. ở chiến trường có biết bao lần nguy hiểm xảy ra bom đạn giặc dội xuống cái chết kề bên chị vẫn vững vàng nhưng bây giờ chị không bình tĩnh được nữa. Miệng lưỡi cứng lại. Tay chân luống cuống. Chị áp con vào lòng. Hơn ấm người mẹ đã truyền cho đứa con da thịt nó dần dần trở lại hồng hào chân tay bắt đầu cựa quậy cái đầu cũng ngúc ngắc. Làn môi như ánh hoa hồng bừng nở để phát ra tiếng khóc oa oa. Biết con còn sống chị mừng khôn xiết. Chị vỗ vỗ vào mông nó: ừ mẹ thương… mẹ thương… Lần đầu tiên được gọi lên tiếng con và xưng mình là mẹ có điều gì đó vừa cay đắng vừa ngọt ngào dâng lên tràn ngập cả cõi lòng chị.
Đứa bé thật khôi ngô. Nó lại là con trai chị càng mừng. Tương lai mọc cánh trong tâm hồn chị giây phút thăng hoa bay bổng giữa đất trời.
Thằng bé lại khóc to. Biết nó đang khát sữa chị vạch vú cho nó bú. Làn môi nó xoắn riết vào hai bầu vú. Cũng là lần đầu tiên được chạm vào cõi làm mẹ cảm giác nóng ấm nhồn nhột vừa có chút rụt rè hổ thẹn pha lẫn niềm sung sướng hạnh phúc dâng trào. Nhưng than ôi!… chẳng có được một giọt sữa nào chỉ có dòng nước mắt của người mẹ tỏng tỏng rơi.

                                                                                              C.H

More...

TRUYỆN NGẮN DỰ THI

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Nguyễn Anh Đào

Phưởng - Phạo - Phèng


Truyện ngắn dự thi


    Gian nhà cổ năm gian lợp ngói mũi của ông Phí Văn Phưởng nằm quay lưng ra đường cái lớn giữa làng. Vào giờ này chủ nhân nằm nghiêng trên một cái giường gấp đã cũ cáu bẩn mồ hôi đầu gối cao mặt quay vào tường mắt nhìn qua cửa sổ. Cái thân hình ngũ đoản ấy một chân co một chân ruỗi vẽ một đường ngoằn ngoèo gãy khúc. Việc nằm nghiêng nằm thẳng thế nào là tùy ở mỗi người có gì đáng nói. Nhưng cái không thể không nói là chiếc giường ông Phưởng nằm được đặt trên bộ ván sập đã cũ. Nhìn từ ngoài vào cứ tưởng là nhà ông ngập nước. Nhưng không phải. Ông nằm thế là cho có độ cao vừa tầm mắt để còn quan sát vợ con ở ngoài sân hoặc kẻ qua người lại phía đường cái. Cũng là lúc để ông ngẫm nghĩ sự đời mọi điều thuận nghịch tương sinh tương khắc trong mối quan hệ âm dương ngũ hành. Vì ông biết xem chân gà lập tử vi so tuổi đoán mệnh biết được ngày tốt ngày xấu dựa vào một cuốn sách chữ nho. Ông không phải cày cuốc nắng mưa ngoài đồng nhưng vẫn có tiền tiêu có rượu uống là nhờ vào nó. Trước mặt mọi người ông vẫn nói: Trời cho ông ăn lộc.
 "Mời bố dậy ăn cơm. Trưa rồi!". Tiếng người con dâu. Ông Phưởng xoay mình: "Trưa rồi à? Mà từ lần sau có gọi thì gọi ông. Cứ bố bố con con mãi. Tao có cháu nội cháu ngoại rồi. Phải thay con mà gọi chứ". Sau lời giảng giải của bố chồng chị con dâu đáp lý nhí: "Con cứ quen mồm". "Quen thì phải sửa".
Bước hai ba bậc từ giường trên xuống giường dưới ông Phưởng sỏ hai chân vào đôi guốc mộc đặt dưới đất gõ lạch cạch xuống nền nhà. Cái phản kê ở gian bên đặt sẵn mâm cơm. Vừa đi ông vừa làu bàu: "Mẹ con nhà mày làm những gì mà giờ này mới cho ông ăn. Hay là để đến bữa chiều ăn cả thể thì bảo?". Người con dâu thưa: "Mới chưa đầy mười một giờ. Con còn phải lẫn cho xong đám mạ để bà quãi. Ruộng nhà mình ở cuối mương nước đến chậm". "Thế bà ấy đâu chưa thấy vác mặt về để đàn lợn nó phá chuồng kêu réo tao nằm cũng không yên?". Bà Phưởng hai ống quần xắn cao đang dội nước ào ào hai tay vuốt hai bắp chân đầy bùn ở ngoài giếng thấy chồng nhắc đến vội bước vào: "Tôi đây. Tôi còn phải quãi mạ cho mẹ nó về trước. Mà sao ông ca cẩm nhiều thế? Mẹ con tôi đầu tắt mặt tối ngoài đồng ở nhà ông chỉ việc nằm rồi đến bữa dậy ăn. Vậy mà ông vẫn không để cho mẹ con tôi yên".
Bỗng dưng bị vợ ngang nhiên phê phán ông Phưởng nổi đóa: "Thế bà nghĩ bà đi làm là để nuôi tôi đấy à? Tôi có lộc giời nhé! Tôi không phải ăn nhờ đứa nào nhé! Đừng có mà nỏ mồm".
Bà Phưởng đi vào bếp không đáp lời chồng chỉ một mình lẩm bẩm: “Lúc nào cũng giơ bổng lộc ra. Có mà chả đủ giúi cho con mẹ hàng rượu”. Bà này nghĩ thế là có ý nghi chồng bồ bịch với nhà chị Mùi ở bên cạnh. Chị ta buôn rượu phát tài. Từ khi chồng chết ông Phưởng thường lui tới bày cho cách lập bàn thờ xin âm dương cúng giải hạn... Công sá thế nào chả biết nhưng mỗi lần ông Phưởng ở bên ấy về thế nào cũng được chị Mùi trả công cho chai rượu và lời cảm ơn ngọt xớt. 
 Thấy không khí có phần căng thẳng chị con dâu liền nhỏ nhẹ: "Ông nghe con bớt giận đừng to tiếng mà hàng xóm người ta cười cho. Từ hôm sau con sẽ về sớm để lo cơm nước lợn gà". "Cả mày nữa. Đừng có thấy tao lành mà bắt nạt. Chả gì tao cũng đứng đầu cái họ Phí ở làng này. Cả gia tộc lớn bé tao nói gì ai cũng phải nghe. Chỉ có mẹ con nhà mày là gân cổ lên cãi giả. Đồ lăng loàn một lũ!".
Quát xong ông Phưởng với tay lấy chai rượu để ở góc bàn thờ rót ra chén rồi một mình uống một mình ăn. Trong khi đó bà vợ vẫn chổng mông ngoài chuồng lợn. Đàn lợn đói được cám châu đầu vỗ phướng oàm oạp…
Nói “Ông chỉ việc nằm rồi đến bữa dậy ăn” là vợ ông nói oan cho chồng. Thực ra ông Phưởng vừa ở bên nhà “con mẹ hàng rượu” về. Qua cửa sổ ông thấy chị Mùi thồ ba cái can nặng trĩu trên xe đạp. Thế là ông vùng dậy tay cầm cái vỏ chai. Lúc đi cũng như lúc về cái chai dù có hay không có rượu nó luôn đứng song song với cánh tay có khi nó chui hẳn vào trong ống tay áo của ông Phưởng ép vào ngang sườn lấp ló cặp kè nửa kín nửa hở.
ăn một mình uống một mình là thói quen của ông trưởng họ Phí. Ông ăn đúng giờ nằm đúng giờ. Những lúc ấy đừng có ai vô ý mà quấy rầy ông. Nghiêm khắc và lại có tính hay chấp vặt nên con cái của ông khi đã lập gia đình đều muốn ra ở riêng. Con gái lấy chồng thì đã đành. Ba thằng con giai thì thằng thứ hai đi công tác lấy vợ ngoài thành phố. Thằng Phạo là cả làm việc xã nhà ở cạnh gần như sát vách. Chỉ còn thằng Phủm là út đi bộ đội vợ ở nhà vẫn sống chung với bố mẹ. Chính vì thế mà vợ Phủm đành giơ đầu chịu báng gần lửa rát mặt sớm tối phải nghe bố chồng gầm ghè quát tháo. Có người nói con mẹ ấy thế mà khôn. Nó nhẫn nhục là hòng để sau này được hưởng toàn bộ gia tài của bố mẹ chồng. Nói thế thôi chứ gia tài nhà ông Phưởng cũng chỉ có ngôi nhà cổ do các cụ để lại từ đầu thế kỷ trước đã dột nát với mấy sào đất thổ cư cây cối thì tạp nham cằn cỗi...
Thực ra ông Phưởng cũng không ghét bỏ gì đứa con dâu chăm chỉ chịu khó ấy. Chẳng qua chỉ là giận cá chém thớt. Ông ghét là ghét cái thằng cả. Từ khi nó làm cán bộ địa chính xã thì chẳng mấy ngày nhà nó không có khách mà có khách là có thết đãi cơm rượu. Cánh cán bộ xã có chức có quyền chẳng mấy ngày là không tụ tập ở nhà trưởng ban địa chính để đánh chén. Cái hội ấy có những hôm say khướt hò hét ầm ỹ. Bét nhè chán rồi lăn ra ngủ có thằng nửa đêm mới nổ xe máy vèo qua trước cửa nhà ông xua cho đàn chó sủa ầm ỹ làm ông mất ngủ. Tức chết được! ừ thì nó có nó ăn nó có nó mời chẳng hơi đâu mà ghen tức. Nhưng chí ít nó cũng phải nghĩ đến cái thằng đẻ ra nó bảo bố nó lấy một câu: "Mời ông sang dự với chúng con cho vui". Chắc gì ông đã sang. Đằng này tịnh không. Thậm chí bảo con bưng cho ông vài miếng cũng không nốt. Con cái thế đấy! Không chịu được có lần bên ấy bắt đầu ngồi vào mâm cốc chén va nhau lách cách ông Phưởng liền quặt hay tay sau đít gõ guốc liên hồi qua trước cửa nhà nó rồi cố ý lên giọng “e hèm” dặng hắng khịt mũi khạc nhổ... rõ to mà nó không thèm nói gì. Không nhẽ lúc ấy ông lại xông vào nhà túm lấy cổ áo thằng con địa chính mà bảo: "Mày là thằng bất hiếu! Ai đẻ ra mày?". Nhưng ông Phưởng cố ghìm lại. Khi khách khứa về hết ông mới chống cái gậy hèo sang. Đàn chó không phân biệt lạ quen cứ vờn lên tận ngực ông mà... mừng. Ông nghĩ: Giống chó nó còn có tình chứ giống người như thằng Phạo thật không bằng chó!
Đặt đít lên bộ kỷ gỗ mít mới sịn óng ánh màu sơn Nhật ông Phưởng gõ đầu gậy xuống mặt bàn côm cốp: "Nhà này trở thành quán cơm từ bao giờ thế?". Anh cả Phí Văn Phạo lạnh lùng nhìn vẻ mặt bố biết là ông ấy đang giận đến để gây sự. ồi tránh voi chẳng xấu mặt nào huống hồ ông ấy là bố. Phạo liền lấy giọng niềm nở: "Mấy anh lãnh đạo đến bàn việc cho đấu thầu đất ngoài bãi Lô nhân tiện con bảo mẹ nó làm cơm mời các đồng chí ấy. Có đáng gì đâu mà ông trách mắng. Mà ông gõ thế thì còn gì là kỷ của con nữa. Hơn chục triệu đấy chứ chẳng như cái giường xếp của ông đâu".  Rồi anh ta gọi vợ: "Mẹ thằng Phèng đâu! Đi rang bốc lạc mời ông xơi rượu!".
 Mẹ thằng Phèng “Dạ!” một tiếng rõ to rồi lăng xăng đi nhóm bếp. Ngọn lửa nhom nhem chỉ chực tắt. Người dâu cả tay cầm cái hũ ngang mặt lắc lắc phải tinh lắm mới nghe thấy tiếng lạo xạo có ý như để cho bố con Phạo biết là trong đó chỉ còn vài ba hạt có đem rang cũng chả bõ. Đối với những người có họ hàng với thần Lưu Linh như ông Phưởng thì tửu lạc quả là một cái thú. Nhưng lúc này... Đúng là nó chơi xỏ mình rồi. Thằng chó đểu! Ông Phưởng nghĩ. Chẳng là bộ răng giả ông bỏ ở nhà. Thấy ông trơ lợi ra nó lại bảo vợ nó đi rang lạc để ông uống rượu. Vô phúc đẻ ra thằng mất dạy! Xỏ cả bố. Không có răng thì ông mút lạc à? Hay nuốt chửng? Ông Phưởng lại giơ cái gậy hèo. Lần này ông gõ xuống nền gạch hoa cạch cạch: "Lạc rang thì để bố lớn bố bé mày ở ngoài xã vào mà xơi nhé. Tao không thèm!". Nói xong ông xịt mũi mấy cái liên tục rồi vùng vằng bước ra sân. Đàn chó tiễn ông ra tận cổng. Anh con địa chính cũng chạy theo nắm lấy tay bố:  "Kìa ông! Ông làm gì mà vội nổi nóng thế? Ông không ăn được lạc thì để con đi hớt vài con rô phi dưới ao đem rán ròn để ông uống rượu. Mà ai biết hôm nay ông lại không đem theo dụng cụ". "Thì cũng phải có lúc quên chứ. Ai mà nhớ mãi".
Giọng ông Phưởng đã dịu lại. Chị vợ trong bếp chạy ra: "Kìa bố nó. Ông đã không ăn được lạc còn đi đánh cá rô phi những xương là xương. Mà ao nhà mình cạn sạch nước. Đàn vịt hàng xóm chổng mông mò suốt mấy ngày hôm nay. Hay là để tôi chạy ù ra ngoài chợ ngã ba mua cái chân giò về ninh. Chẳng mấy khi ông sang". Anh chồng xéo mắt về phía vợ không nói gì. Ông Phưởng biết là chúng nó vào hùa với nhau diễn kịch qua quýt để đuổi bố về cho khuất mắt. Thì ông về. Thử xem lần sau chúng mày có ăn dẫu mổ trâu mổ bò mời gãy đũa liệu ông có thèm sang không.
Bóng ông bố khuất sau rặng chuối thằng con trai mới đay vợ: "Cô thì lúc nào cũng sĩ. Để cho lão biết. Sắp tò te ra nằm ngoài Đồng Chổ rồi mà vẫn cứ khư khư ôm lấy cái nhà năm gian với bốn sào đất thổ cư không chịu giao lại cho con cả. Nay mai đường xuyên á đi qua chỗ ấy thành trung tâm thị trấn đất lên giá bạc tỷ lúc đó béo vợ chồng thằng Phủm". Cô vợ dẩu môi: "Còn gì nữa. Con ranh ấy khéo nịnh nọt ông để rồi nẫng tay trên cả cơ nghiệp nhà này cho mà xem. Bố nó liệu mà tính đi kẻo rồi lại tiếc". Phạo hùng hồn: "Nẫng thế nào được của tao. Đố đấy. Cứ để rồi xem!".
                    *
Ông Phưởng đang một mình ăn uống thì thằng cháu mười tuổi đi học về. Lần nào cũng thế quẳng vội sách vở vào góc giường là nó chạy ù sang ông. Vừa trông thấy thằng bé ông Phưởng đã vẫy tay gọi: "Ê! Cu Phèng lại đây chén với ông. Ông vừa lập tử vi cho mày tuổi Bính Tý của mày ứng với sao Bạch Đế lại cung Tốn thuộc Đông tứ trạch cung Khôn thuộc Tây tứ trạch hẳn sau này làm to. Cái gì chứ chức chủ nhiệm giám đốc là chắc. Công danh có khi hơn cả thằng bố mày đấy". Thằng Phèng chẳng hiểu gì những câu ông nói nó chạy lại ngồi cạnh mâm cơm. Con chó vện leo tót lên lòng nó. Ông Phưởng bẻ cho thằng Phèng một miếng đậu sống: "Ăn đi! Chỉ có mày là đích tôn mới được ngồi với ông thôi nhé". Thằng Phèng vỗ vỗ vào đầu con chó: "Cả con Vện nữa chứ ông".Ông Phưởng quắc mắt quát: "Láo! Thế thì ông ăn với chó à?". Thằng Phèng cười khì khì. Rồi nó đặt giả miếng đậu vào bát ông lắc đầu: "Cháu chả ăn đâu". "Sao? Chê à?". "Bố Phạo cháu đang làm thịt gà. Tý nữa cháu về ăn thịt gà ngon hơn". "Chắc nhà mày lại có khách chứ gì?". Thằng Phèng gật đầu. ông lại hỏi: "Thế sao không ở nhà mà ăn thịt gà sang đây làm gì?". Thằng Phèng giơ một ngón tay ra trước mặt khoe: "Lớp cháu tổng kết thi đua rồi nhé! Chúng cháu khối đứa được giấy khen đẹp ơi là đẹp!". Ông Phưởng vui mừng: "Mày có được không?". "Có chứ!". "Đấy ông đã bảo mà. Số mày rồi sẽ khá. Về lấy ông xem? Rồi ông thưởng cho". Thằng Phèng ráo hoảnh: "Đến lượt cháu thì hết giấy. Cô giáo bảo để đến sang năm". Ông Phưởng đặt cạch chén rượu xuống mâm lắc đầu: "Mày lại lừa ông giống thằng bố mày rồi".
 ở phía nhà thằng con cả tiếng cười nói đã bắt đầu râm ran. Ông Phưởng kéo sụp hai cái quai mũ cho bịt kín tai để khỏi nghe thấy. Thằng Phèng nghiêng đầu hếch mặt nhìn ông nội một tay bưng chén rượu một tay giữ hàm răng giả miệng nhai trệu trạo giống như mọi khi nó xem phim hoạt hình. Bỗng nó hỏi: "Sao ông phải giữ thế?". "Không giữ thì rơi bố nó ra ăn thế đếch nào được". "Sao ông không nuốt chửng". "Nuốt chửng thì nghẹn chết. Hay là mày muốn ông chết?". "Ông chết thì cho cháu bộ răng của ông nhé". "Cho mày để mày làm gì?". "Để cháu...".
Vừa lúc ấy thì tiếng bố thằng Phèng gọi nó về ăn cơm. Chạy ra đến cửa rồi nó còn quay lại : "Cho cháu để cháu... Để cháu…".
Ăn uống xong ông Phưởng nhìn trước nhìn sau không thấy vợ hoặc con dâu lên dọn. Ông lẩm bẩm: "Hừ láo thật! Vợ với chả con. Vô trách nhiệm. Chậu nước lau miệng cũng không có". Ông đành lê guốc ra bể lấy gáo múc nước vừa cọ bộ răng giả vừa lấy tay nhoa lên cái miệng lún phún râu. Bóng cau đã ngả xuống bờ ao chênh chếch. Chắc là mẹ con nó đã lại ra đồng bắt nước mạ rồi. Vào nhà ông Phưởng nhẹ nhàng đặt bộ răng giả vào cái đĩa sành để ở góc bàn thờ cạnh chai rượu uống dở. Đối với ông đó là thứ đồ vật đắc dụng nhất. Không có nó thì ông khó khăn vất vả mỗi khi ngồi vào mâm. Đám cưới đám giỗ người ta mời quên phong bì còn được chứ quên cái bộ máy nghiền lưu động ấy thì không ổn. Có hôm ông phải ba chân bốn cẳng chạy về lấy. Mà nào nó có chặt chợm gì cho cam. Vốn nó là của cụ Cai Dình bố vợ ông. Cụ Cai đi lính bên Tây về mất năm 48 tuổi để lại một cái áo ca bốt bằng dạ và một đôi giày ghệt da lộn không có bít tất. Còn bộ răng thì chả biết thế nào. Có người nói khi nhắc cụ vào quan tài thì con cháu bỏ lại. Nhưng có người bảo khi cải táng cụ Cai người ta mới mang về kỵ cọ rồi cất đi để trong nhà ai cần thì lại dùng. Nó quý ở chỗ được chế bằng xương Tây nên rất bền. Chỉ có cái là lâu ngày nên bộ răng ngả màu xỉn da bò thôi. Giày và áo thì những người con ruột của cụ Cai chia nhau. Còn anh con rể Phí Văn Phưởng có công trong những ngày làm ma bố vợ thì nhận bộ răng và cuốn sách chữ nho có tên là Thái cực đồ dùng để đoán quẻ xem tướng số không biết từ đời cụ mọ nào nhét ở xó giường thờ đầy bụi bặm. Người anh vợ vỗ vào vai Phưởng nói: “Chú đọc được cất đi mà dùng. Cả cái này nữa (tức là bộ răng) coi như của hồi môn của cô ấy”. Mà đúng thế. Con gái cụ Cai về làm dâu họ Phí không có của nả gì đem theo ngoài đôi mấm hai chỉ đeo ở tai. Cô chê anh Phưởng vừa lười nhác vừa xấu lại hay rượu chè. Nhưng cụ cai bà dỗ con gái: "Không phải kén nữa. Lấy nó rồi chị sẽ làm dâu trưởng nhà họ Phí môn đăng hộ đối chán. Nó lười nhưng có chữ. Cơ nghiệp cũng không kém cạnh ai. Nhà ngói năm gian gần đường. Có câu "Tậu ruộng giữa đồng lấy chồng giữa làng". Liệu có đám nào hơn?". Cô nghe mẹ.
Cũng là một cơ duyên như có sự sắp đặt từ trước ngoài bốn mươi tuổi Phưởng đã rụng răng. Mấy cái còn lại thì lủng la lủng liểng. Phưởng liền nhờ người lấy kìm vặn bỏ cho thật nhẵn nhụi rồi đem cái của hồi môn của nhà vợ gắn vào. Nó cậm cà cậm cạch trong miệng. Nhưng mà méo mó có hơn không. Để cho vận với Phí là họ bố mẹ ông đặt tên ông là Phưởng. Sau này Phưởng lại đặt tên cho những đứa con là Phạo là Phủm... Rồi đến cháu nội ông gọi nó là Phèng. Đối với những người móm đó là cái tiện cho sự phát âm. Người ta tướng mạo là ở cái răng cái mắt. Ông Phưởng xấu máu nên cái răng đã hỏng cái mắt cũng lại kèm nhèm phải đeo kính mới đọc viết được. Mà cặp kính của ông thì gãy rời một bên gọng. Mỗi lần có người đến nhờ xem tử vi hoặc xin ngày lành tháng tốt để dựng nhà cải mả hay cưới hỏi mở quán ông Phưởng cứ phải một tay giữ kính một tay giữ răng để giảng giải cho người ta.
Cơm nước xong ông Phưởng lại giở cuốn sách quý ra. Cuốn sách ngả màu vàng úa góc gáy xộc xệch quăn queo nhiều trang đã đứt chỉ lành phành. Tuy thế nó lại là niềm vui là cần câu cơm đối với ông. Ông chìa bàn tay: Tý Sửu Dần Mão... à hôm nay ngày Dần tháng Hợi da cọp cốt heo ứng với sao Xích Đế tối kỵ việc đi ra ngoài. Mà có việc gì để phải đi đâu cho mòn guốc. Rượu uống vẫn còn... Ông Phưởng định ngả mình xuống cái giường xếp đặt trên bộ ván sập thì tiếng con bé cháu khóc oe oe trong buồng. Không thấy mẹ nó ru nựng. Nó càng khóc mỗi lúc một to. Hừ con mẹ này đi đâu mà để con khóc một mình thế không biết nữa? à phải rồi hôm nay chủ nhật nên nhà trẻ không có người trông. Ông Phưởng lê guốc lại trước cửa buồng con dâu. Gian buồng xây gạch kín đáo cánh cửa bức bàn ra đóng vào mở. Từ khi lấy con dâu về vợ ông ra nằm nhà ngoài thì căn buồng ấy chưa lần nào ông bước vào. Cửa buồng lúc này khép hờ. Ông Phưởng đắn đo một lúc rồi mới rón rén đi lại ghé đít xuống giường. Con bé dở thức dở ngủ thỉnh thoảng lại oe oe khóc. Ông liền ngả người nằm xuống cạnh đứa cháu tay vỗ nhẹ vào đít nó miệng “à ơ... Cái ngủ mày ngủ cho ngoan...”. Được ông ru đứa bé ngủ thin thít. Hai mắt ông nó cũng díp lại. Cơn buồn ngủ đùng đùng kéo đến như uống phải thuốc mê một thứ định mệnh không cưỡng lại được. Ông Phưởng ôm cháu ngủ.
Đoán chừng giờ này đứa con đã thức dậy vợ Phủm vội vã chạy về. Nhìn trước nhìn sau không thấy bố chồng. Chắc là ông lại sang nhà cô Mùi rồi còn con bé thì vẫn ngủ. Chị sẽ đẩy cửa vào buồng. Trong buồng tối om. Quờ tay vào giường đón con vợ Phủm giật thót mình khi chạm vào phía dưới bụng người đàn ông nằm quay mặt vào tường chân co chân ruỗi... Tuy hốt hoảng nhưng chị ta không dám kêu liền bế con lên rồi chạy vội ra ngoài sân. Vừa lúc ấy bà mẹ chồng cũng đã về thấy con dâu hớt hải liền hỏi: "Mày làm sao mà như giặc đuổi thế?". Ghé sát tai mẹ chồng vợ Phủm thì thào: "Có ai nằm trong buồng con ấy. Sợ quá mẹ ạ!". Bà Phưởng trợn mắt: "Đàn ông hay đàn bà?". "Hình như… đàn… đàn ông". Không còn giữ được bình tĩnh nữa bà Phưởng giậm chân: "Đứa nào mà to gan thế? Mày khóa cửa lại để tao đi gọi thằng cả".
Nói rồi bà ta lao đi. Một lúc sau Phạo chạy đến với cái chày giã cua trên tay giọng hùng hổ xặc mùi bia rượu: "Để xem thằng nào trong ấy? Mẹ nó chứ chỗ buồng the đàn bà con gái chồng người ta đi vắng mà dám rúc vào để hủ hóa hả! Để xem thằng nào!".
Trong buồng ông Phưởng đã tỉnh dậy. Nghe tiếng ồn ào ở bên ngoài không rõ chuyện gì ông xỏ chân vào guốc định ra nhưng cửa buồng đã khóa trái. Ông đập tay vào cánh cửa: "Tao đây. Mở cửa ra. Tao… Tao…". Nghe tiếng bố thằng con trai cười khẩy: "à thì ra là ông à? Sao ông lại đổ đốn ra thế? Ông tằng tựu chán với con mẹ bán rượu góa chồng vẫn không đủ sao? Ông có biết ông làm như vậy là bôi tro trát trấu vào mặt tôi không? Chẳng gì tôi cũng là cán bộ lãnh đạo địa phương. Rồi nay mai thằng Phủm nó về liệu ông có còn dám nhìn mặt nó nữa hay thôi? Gia tộc Phí Văn sẽ coi ông là loại người gì?"
Lúc này thì ông bố đã rõ đầu đuôi sự tình.
Điện thoại trong túi quần Phạo rung lên điệu nhạc vui. Mẹ thằng Phèng gọi. "A lô!... Các đồng chí ngoài xã đến à?... ừ tao về ngay... Mà chạy luôn ra ngoài ngã ba lấy két bia nhé!". Trước khi về Phạo bảo người em dâu đưa chìa khóa buồng cho hắn giữ và dậm dọa: "Cấm không ai được mở. Cứ kệ ông ở trong ấy cho đến sáng mai để ông tự mà suy nghĩ" .
Ông Phưởng nhục quá. Bỗng nhiên ông bị mang tiếng xấu. Cái chái nhà này chính ông là chủ lại trở thành nơi giam giữ ông. Phá ra thì sức ông không thể. Kêu to lên thì ông không dám. Mà rõ ràng ngày hôm nay ông mở sách chỉ thấy nói không được ra khỏi nhà chứ có chỗ nào nói bị giam hãm như thế này đâu. Hay ông xem nhầm? Vợ và con dâu ông ở bên ngoài cũng im thít không biết phải xử lý thế nào chỉ sợ xung quanh hàng xóm người ta biết. Duy có thằng Phèng thỉnh thoảng lại chạy sang ghé mắt qua khe ván. Nó nhìn thấy ông nội ôm đầu ngồi ủ rũ trên một cái ghế đẩu. Nó gọi: "Ông ơi sao ông không ra ngoài này ở trong ấy làm gì?". Ông Phưởng phều phào: "Cháu phề phi phừng phỏi nữa. Bộ răng của ông ở góc phường phờ ấy. Mai cháu sang mà lấy. Ông cho. Nó là của hồi môn của bà mày. Phất phi rồi sau này phần phến phì phùng". Thằng Phèng vỗ tay reo như được của quý:  “Thế thì thích quá!”. Rồi nó chạy về khoe với bố.
Đêm hôm ấy ở nhà Phạo diễn ra cảnh ăn nhậu tới số. Họ vừa bán được mấy lô đất ngoài ngã ba nằm trong quy hoạch xây dựng thị trấn sau khi tách huyện. Anh nào anh ấy say khướt. Nửa đêm họ còn lôi nhau đi hát karaokê đèn mờ ở ngoài ngã ba cho đến sáng. Bà Phưởng thương chồng mong thằng Phạo về để mở khóa cho ông ra. Khổ ông ấy quá. Từ trưa hôm qua đến nay không có hột gì vào bụng! Rượu cũng không được giọt nào.
Bảy giờ sáng thằng Phạo ngất ngưởng về. Khi cánh cửa buồng phanh ra bà Phưởng nhìn vào thì thấy hai bàn chân ông buông thõng đung đưa cách mặt đất chừng hai gang tay. Lưỡi ông lè ra xuyên qua cặp lợi tím ngắt. Hai mắt mở thao láo vô hồn. Cái ghế đẩu nằm chổng bốn chân bên cạnh đè lên đôi guốc mộc. Bà Phưởng kêu thé lên rồi ngã vật ra đất. Khi tỉnh lại nhìn thấy thằng con cả đứng hai tay chống nạnh nhìn xác bố bà mới rên rỉ: “Phạo ơi! Mày giết bố mày rồi!”. Thằng Phạo vội bịt tay vào mồm mẹ trừng mắt: “Im! Sự đã rồi cấm bà không được để cho ai biết chuyện này. Cả thím Phủm nữa! Mọi việc để tôi lo. Ông chọn dịp này để ra đi là may lắm.”.
Ngay ngày hôm sau chương trình lễ tang cụ Phí Văn Phưởng được thông báo rộng rãi chữ vẽ lên bảng đặt trước cửa trụ sở xã. Cụ là trưởng tộc lại có con là cán bộ lãnh đạo nên đám ma được xếp vào loại trọng tang. Bà con họ hàng thôn xóm rồi cơ quan đoàn thể dân chính đảng đều có vòng hoa hoặc trướng đỏ kèm theo phong bì. Lễ vật phúng viếng không biết bao nhiêu mà kể. Kèn trống nỉ non suốt hai ngày hai đêm liền. Vợ chồng trưởng nam mặc áo xô túc trực bên linh cữu. Vợ khăn mấu che mặt chồng khăn bẹ chuối chống gậy tre khom người đáp lễ mắt theo dõi từng người xem họ có thật lòng thương tiếc cụ vong không phong bì có nặng không... Ai cũng khen là vợ chồng nhà ấy có hiếu.
Gian buồng người con dâu từ hôm đó bỏ không. Chiếc sập gỗ được giải phóng bởi ở trên không còn cái giường xếp của cụ vong thượng ngự. Con cháu cụ đã hạ xuống đem đốt bỏ. Nó cháy âm ỉ suốt đêm khét lẹt mùi mồ hôi chủ cũ. Hôm cúng bốn chín ngày bố trước đông đủ anh em họ hàng Phí Văn Phạo đưa ra tờ bìa đỏ có dấu son ghi tên mình là chủ sở hữu 1500 mét vuông đất thổ cư vốn trước đó là của ông Phí Văn Phưởng. Ngôi nhà trên diện tích ấy là nhà từ đường do trưởng nam quản lý tạm cho vợ chồng Phí Văn Phủm ở nhờ rồi địa chính xã sẽ cắm cho chỗ khác.

                                                                                        N.A.Đ

More...

TRĂM NĂM DU LỊCH SẦM SƠN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

TRĂM NĂM DU LỊCH SẦM SƠN

                                                                              HÀ MINH ĐỨC


    Một trăm năm đã đi qua trên bãi biển miền Trung nổi tiếng này. Những con sóng không bạc đầu mà vẫn xanh thắm như bầu trời chớm vào hạ. Lễ hội kỷ niệm một trăm năm Sầm Sơn hoành tráng vẫn còn dư âm. Nghĩ đến những nơi nghỉ mát như Sầm Sơn Cửa Lò Đồ Sơn Tam Đảo Sa Pa... càng thấy thực dân Pháp sang xâm chiếm đất này vừa bóc lột vừa tìm ngay chốn mát mẻ để vui chơi hưởng lạc. Ngày nay có nơi còn lại vài di tích lâu đài biệt thự có nơi chỉ là chốn bình địa của một phế tích... Kết thúc hai cuộc kháng chiến chống Pháp chống Mỹ dân Việt mới nghĩ đến chuyện du lịch nghỉ mát. Tôi nhớ một lần đi nghỉ Sầm Sơn khoảng đầu năm 1960 theo công đoàn tổ chức. Trông thấy biển đã bị hút hồn. Từ lâu chỉ biết biển trong văn chương tranh ảnh. Biển hiển hiện choáng ngợp vô biên lạ lùng. Trước biển mọi người đều bình đẳng nhưng về đến chỗ ở nơi ăn đã phân ra nhiều ngăn cách do có cơ quan giàu nghèo khác nhau. Một số cán bộ đi nghỉ mát nhưng không quên nhặt nhạnh chăm lo mua con tôm con tép phơi trên gạch dọc lối đi. Sau một hai nắng đã có quà biển về cho gia đình.
Sầm Sơn nằm giữa vùng dân cư vất vả kiếm sống nên không tránh khỏi cảnh người nghỉ mát bị đeo bám với các em nhỏ bán lạc bánh đa người lớn chào mời đủ loại trứng vịt lộn xôi lạc rồi cả các mẻ tôm cá tươi để luộc ăn ngay tại chỗ. Có một Sầm Sơn vất vả kiếm sống. Cảnh kéo lưới rùng của từng tốp người nhích dần lên từng bước cho đến lúc quét được mẻ cá vào bờ. Ngoài khơi người đi cà kheo đánh lưới moi rồi người cào ngao cò nghêu... Dân Sầm Sơn vẫn trụ vững ở chốn đất lành nhờ vào tay nghề vào sức vóc. Nhiều người tin ở thánh thần phù hộ thần Độc Cước Thánh Mẫu.
Có một Sầm Sơn lãng mạn trong văn chương Tự lực văn đoàn. Hòn Trống Mái không to mấy người lấy tay đẩy mạnh thấy hòn Trống rung rinh nhưng bão táp cơn này qua cơn khác vẫn không lay chuyển. Anh Vọi chàng trai biển có vẻ đẹp cơ bắp và Hiền cô gái Hà Nội có chút gì vương tơ trong tiểu thuyết lãng mạn của Khái Hưng? Rồi các biệt thự nơi đi về nghỉ mát của trai gái thành thị một thời cũng không còn lại dấu vết gì.
Hòa bình lập lại những khu nhà nghỉ đồng loạt được xây lên theo đất cấp cho các Bộ. Những Bộ ngành tiêu biểu được cấp đất mặt tiền dọc theo bờ biển với những mảnh đất đẹp ngon lành. Các Bộ chậm chân hơn như Giáo dục y tế... thì lui dần về phía sau. Kiến trúc cũng có trật tự xã hội của nó. Và Sầm Sơn vẫn thế gần gũi quen thuộc nhưng Sầm Sơn phải đổi thay.
Ngày ấy đã đến. Lễ kỷ niệm một trăm năm du lịch Sầm Sơn là dịp tốt để Sầm Sơn có được bộ mặt mới. Ai về lại Sầm Sơn trong những ngày tháng này đều thấy mới lạ. Đường phố trải nhựa bằng phẳng mới mẻ. Các khách sạn nhà nghỉ được sửa sang quét vôi trang trí đẹp mắt hơn. Chính quyền thị xã kiên quyết chấn chỉnh để có một Sầm Sơn sạch ưa mắt hấp dẫn du khách. Các thứ hàng quán vặt sống dựa dẫm nhếch nhác đều bị xóa bỏ. Kinh doanh phải có đăng ký từ quán ăn đến người đạp xích lô. Bãi biển Sầm Sơn cũng có vẻ đẹp mới cát mịn trải dài sạch sẽ có thể nằm trên cát ngắm trời xanh. Người bán rong không được xuống biển bám khách. Chỉ còn vài anh thợ chụp ảnh hành nghề. Đặc biệt những chú ngựa vằn cũng vắng bóng. Nhớ lại năm xưa khi Viện Văn học vào nghỉ ở Sầm Sơn thấy mất hút giáo sư Hoàng Trinh không về ăn cơm trưa. Chờ mãi ông về hớt hải khoe với mọi người những tấm ảnh chụp giáo sư trên lưng ngựa nào thong dong cho ngựa thả bước nào ngồi trên ngựa đội mũ đỏ lệch một bên người nhô lên về phía trước như vị tướng cao tuổi vừa ở trận tuyến về. Ông nói: Nó ép mình chụp nhiều kiểu hết gần hai trăm nghìn đồng. Cũng chuyện về con ngựa vằn năm vừa qua khi tôi ghé qua Sầm Sơn. Tôi xuống bãi tắm các anh chụp ảnh ngựa xô vào mời chào. Tôi nói là đã cao tuổi không trèo được lên lưng ngựa. Một anh cúi xuống sát đất chống hai tay  và bảo: "Bác cứ trèo lên lưng em rồi lên ngựa". Tôi nói: "Ai lại thế" - Anh chụp ảnh trả lời "Không sao em vẫn phục vụ các bà các cô theo hình thức này. Lúc đầu họ cũng ngại như bác sau họ bỏ giày dép ra lần lượt dẫm lên lưng em. Công việc phải thế thôi". Tôi từ chối thì hai anh ôm xốc tôi lên lưng ngựa. Ngựa trắng sơn vằn đen phỏng theo giống ngựa vằn châu Phi nhưng trông bé và tủn mủn hơn. ảnh chụp lấy ngay vài tháng sau thì cả người lẫn ngựa đều mất đi vài bộ phận. Bà chủ quán bên bờ biển cho biết là có lệnh cấm ngựa ở bãi biển ngựa chuyển lên kinh doanh trên núi vì ngựa dễ làm mất vệ sinh bãi biển. Còn mọi chuyện vui chơi khác thì vẫn như xưa. Hàng quán ân cần mời mọc. Một năm chỉ làm ăn trong vài tháng như cách nói hiện nay là "thời gian vàng" dễ hớt ra tiền của còn khi gió lạnh thổi về thì lại đóng cửa ngủ dài như loài gấu ngủ đông. ở Sầm Sơn người đạp xích lô thường có lời chào mời "Bác lên thăm chùa hay đi hóng mát theo bờ biển". Người khách là đàn ông còn sức lực thì mời thêm "Bác có đi đóng gạch xây dựng nhà mới không?". Du lịch xích lô đang bùng nổ ở vùng nghỉ mát này đường bằng phẳng gió biển mát thổi đều suốt ngày nên đi chơi bằng xích lô cũng là thú vui. Theo người trong nghề cho biết thì Sầm Sơn có đến vài trăm xích lô đi lại đan xen vui mắt. Điều mới lạ là số lượng nữ đạp xích lô khá đông cứ mười xe thì ba bốn do nữ đảm nhiệm. Tuổi đa phần là trung niên có một số đã cao tuổi. Tôi hỏi một chị đã gần năm mươi tuổi về công việc vất vả này. Chị trả lời "So với làm ruộng cày cấy thì đạp xích lô an nhàn chán lại có tiền thưởng ngay". Vào mùa hè chính vụ thì thế nhưng đến mùa đông giá lạnh thì sao? "Bác không phải lo dân chúng em quay việc theo mùa nhất là ở thời thị trường này". Nghĩ đến dáng người mảnh khảnh của chị tôi lại hỏi "Nếu phải chở khách Tây nặng hàng tạ thì chị có đạp được không? Chị trả lời: "Sầm Sơn không có khách Tây nên cũng không lo". "Tại sao Tây không đến Sầm Sơn?". "Tôi không biết bác học thì đi mà hỏi nó". Tôi cũng chưa trả lời được câu hỏi vì sao Sầm Sơn Cửa Lò chỉ là bãi tắm thuần Việt. Bên cạnh anh xích lô thô sơ Sầm Sơn đã có loại ô tô điện  màu trắng mui trần khoảng năm sáu chỗ chở khách xuôi ngược gợi không khí hiện đại.
Vào đầu hè Sầm Sơn thật dễ chịu. Khách chưa đông chưa ồ ạt tới mức cháy phòng chen chúc nhau như ăn lấy được chơi lấy được. Còn bây giờ thì khí hậu chưa nóng bức có thể tắm biển cả sáng lẫn chiều thức ăn ngon giá cả vừa phải. Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã chọn thời điểm ấy để tổng kết công việc ghi nhận những thành tích của một trường đầu ngành và chỉ ra những hạn chế để phát triển. Không tốn kém không khí lại thông thoáng mát mẻ nên càng dễ luận bàn nảy sinh nhiều ý tưởng mới. Khách sạn Hương Biển nâng cấp đặt thêm thang máy hiện đại có phòng họp sang trọng vài trăm chỗ. Đa số các thày ở các khoa đều còn trẻ tuy trường đã ở tuổi 50. Nơi đây nhiều giáo sư một thời qua đã "hiển thánh" và tên tuổi thành tên đường tên phố: Nguyễn Khánh Toàn Đặng Thai Mai Phạm Huy Thông Đào Duy Anh. Nơi đây đã đào tạo nên nhiều quan chức lớn hiện đương chức. Khi đi học đố ai đoán định được những anh học trò bình dị ấy như cơn gió lành một ngày lại có thể nổi phong ba mạnh mẽ. Nơi đây thế hệ các thày qua năm tháng cũng dần thay thế nhau nghỉ dần công việc. Một trường đại học lớn chỉ còn 6 7 giáo sư vài chục phó giáo sư. Phải có phép màu gì mới có thể trong năm bẩy năm sinh sôi ra hàng trăm hàng mấy trăm tiến sĩ. Tính trên con số mọi việc thật dễ dàng đơn giản còn thực tế lại khó khăn hơn. Chưa kể hàng năm nhiều thày nghỉ hưu có thầy về với cõi vĩnh hằng. Cách đây hai năm tôi còn được ở chung một căn phòng với giáo sư Trần Quốc Vượng vốn là bạn đồng môn. Ông vui chuyện được bạn bè quý mến. Về với biển Ông thích cởi trần không thích loại "May ô trung gian" kể cả khi tiếp khách. Ông phát biểu hấp dẫn làm râm ran hội trường và nay đã là người thiên cổ. Hội nghị hôm nay chỉ có vài thầy cao tuổi. Nhiều người nói: Biển không hợp với người già. Biển mang sức trẻ. Năm xưa cụ Bùi Văn Nguyên về nghỉ ở Sầm Sơn. Ông không dám tắm vẫn đóng nguyên bộ đi lang thang nhặt con sò con ốc. Người già về với biển càng thấy già nua cô đơn và ông than phiền "Về với biển không hợp lên núi cũng không xong không biết rồi nên cắm trại ở đâu?
Sầm Sơn đang mở ra một hướng tốt đẹp cho tương lai. Gần Hà Nội buổi sáng lên đường gần trưa đã có thể tắm mát và thưởng thức đồ biển ngon lành ở Sầm Sơn. Biển Sầm Sơn có bãi cát dài thoai thoải nước trong và con sóng đẹp hội đủ tư cách của nơi nghỉ mát biển lý tưởng. Sóng biển Sầm Sơn mạnh và đẹp nhưng không làm người nhảy sóng rỡn sóng khiếp sợ. Sóng xô đẩy dồn dập từng đợt từng đợt. Có lúc sóng như mơn man vỗ về làm dịu đi bao nỗi nhọc nhằn. Nhất là "Sóng nước lại trong" lộc của thần biển dành cho Sầm Sơn địa đầu của những bãi biển miền Trung trong trẻo  hiền hòa. Các con sông nhiều phù sa của đất Bắc đã làm cho biển Đồ Sơn Hải Thịnh thiếu đi con nước trong trẻo và bãi nhuần cát.
Sầm Sơn có phong cách núi non chùa chiền. Nếu đi xa vài chục cây số có những danh thắng kỳ thú tầm quốc gia như thành Nhà Hồ Lam Kinh cầu Hàm Rồng nổi danh một thời chống Mỹ.
Sầm Sơn có thức ăn ngon: nào cua gạch cá thu mực ống buổi sáng có bánh cuốn nhân tôm cháo ngao cháo cá. Nhiều loại thức ăn biển tuy xấu tên như con ghẹ con sam con nghêu con ngao con ngán con vẹm con còng con sò... những loại khoái khẩu và rẻ tiền. Buổi sáng các cụ già xuýt xoa với bát cháo ngao nóng. Các cô gái thành thị như thợ thủ công lành nghề bên đĩa ghẹ tay đập tay bóc nhặt thịt rồi chấm cay nhịp nhàng vừa lao động vừa thưởng thức
Sầm Sơn đang đổi thay. Cái khó của Sầm Sơn là dãy nhà mặt tiền hàng mấy cây số của các Bộ các quan chức xây dựng quá sớm và hiện nay đã có phần lạc hậu. Phá đi thì cũng tiếc mà để lại thì gây cảm giác cũ kỹ. Dọc bờ biển chạy theo đường Hồ Xuân Hương chỉ có hai khu nhà mới xây gây ấn tượng. Một là khu du lịch Vạn Chài kén khách và hai là khách sạn Biển Nhớ. Sầm Sơn phải có và trong tương lai phải có hàng trăm khách sạn lớn những trò chơi hiện đại trên sóng... rồi những nhà hát sân khấu hấp dẫn khách vào ban đêm. Đến Sầm Sơn không chỉ để tắm. Sầm Sơn phải là đất du lịch nhiều mùa. Còn nhiều việc làm để có một Sầm Sơn hấp dẫn hiện đại.
                                                                                    Tháng 5/2007
                                                                                          H.M.Đ

More...

THƠ THANG 8/2007

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Mạnh Lê


Mặt trời lúc rạng đông
(Trích chương 8 Trường ca Đất nước thủa Hùng Vương)


I . Đúc trống đồng

Đất nước đã qua bao nỗi thăng trầm
Các đời Hùng Vương nối nhau dựng nước
Gió thời gian cuộn hình trong vỏ ốc
Tiếng người gọi nhau qua tiếng đá tiếng đồng

Tổ tiên từng mài đá thành rìu
Rồi đục giáo lao qua... để trồng cây săn thú
Con cháu lại đúc đồng bằng khuôn đá
Ngọn lửa nấu đồng rực đỏ mấy ngàn năm

Người thợ đã nhận ra từng nét hoa văn
Trên mặt nước lá cây trong thớ gỗ
Trên mỗi đầu ngón tay phập phồng máu đỏ
Hoa văn lớn là mặt trời tỏa rạng mỗi bình minh

Từ cây rìu đá đến mặt trống đồng
Từ hang động đến nhà sàn mái cong đất nước truyền
 qua bao thế hệ
Con trẻ vui chơi chồng nụ chồng hoa
Trai gái đêm trăng tự tình bằng tiếng khèn câu hát...

Đất nước sẽ tượng hình từ hoa văn chim Lạc
Những con chim đuổi nhau quanh mặt trời



Những con thuyền chở người đánh trống cầm lao
bắn  cung bẻ lái
Giữa mặt trống là ngôi sao mười sáu cánh lung linh

Hội mùa tưng bừng tiếng gà gáy tiếng chim
Tiếng cối giã chày tay tiếng con thuyền khỏa nước
Người thợ đúc bao đêm không ngủ được
Đất nước sẽ nối đất với trời bằng tiếng trống đồng vang

Từ bếp thủ công người vào công xưởng
Công xưởng nặn khuôn công xưởng nấu đồng
Cái thớ đất xanh dẻo mềm mát mịn
Người thợ đào dưới đáy các dòng sông

Người thợ biết ngào đất cùng vỏ trấu
Chày tay thậm thình giã đất suốt canh thâu
Cái khuôn trống tượng hình dáng mẹ
Đất là mẹ hiền nén chịu những cơn đau

Những cơn đau những cơn đau sinh nở
Phoi đồng chảy ngày mai nở trong khuôn trống này
Những hình hoa nổi chìm theo dấu tay người thợ
Đất nước hiện hình lên theo mỗi dấu vân tay...

Bài đồng dao con trẻ hát đêm nay
Ông đếm cát ông đào sông ông kể sao ông tát bể
Đêm thao thức chờ bếp đồng đỏ lửa
Đêm phập phồng hơi thở trao nhau...

Những người thợ tạc khuôn mái tóc trắng hoa lau
Vầng trán hằn sâu bao nếp nghĩ
Đất nước còn nắng mưa giặc giã
Tiếng trống đồng là tiếng nói của muôn dân


ơi! những người trai lực lưỡng mình trần
Những người gái miệng nhai trầu đỏ thắm
Người kéo bễ nấu đồng trong nồi đất
Làng Chạ lặng im chờ đợi phút giây thiêng

Hùng Vương đã phất cờ! Bễ gió thổi bùng lên
Những ngọn lửa than hừng hực cháy
Lửa đỏ lửa xanh đồng đã chảy
Bễ gió giật liên hồi bụi than bay lên!

Bụi than bay lên!
Còn lại nồi nước đồng lấp lánh sáng trong
Lệnh Hùng Vương rót đồng vào khuôn trống

Hùng Vương bước lên
Người rỏ giọt máu từ cánh tay mình
Theo tay Người các Lạc hầu Lạc tướng
Các Mỵ Nương xin được rỏ máu hồng

Máu người đã thấm vào khuôn đất
Khuôn đất đỏ rực lên giữa lấp lánh trăng sao
Gió thổi vặn mình đêm biếc
Tay nắm tay mắt trong mắt nôn nao

Phía biển xa mặt trời đã nhô cao
Một bình minh ngày thường tỏa rạng
Người thợ đúc bóc từng phoi đất sáng
Sau lớp đất khuôn thân trống hiện hình

Hiện hình lên rực rỡ những hoa văn
Tiếng nói của người còn nằm trong ruột trống
Tiếng trống gọi mưa những ngày nắng hạn
Tiếng trống giục thuyền bay ngày hội đua thuyền...



Có một mặt trời đỏ ối trước rạng đông
Là mặt trống đồng thủa Hùng Vương dựng nước
Quanh thân trống là bầy chim Lạc
Tiếng trống rung chim cất cánh bay lên!

Tiếng trống rung trời đất đã mùa xuân
Trời và đất giao nhau qua tiếng trống
Tiếng trống thúc kẻ thù hốt hoảng
Tướng giặc kinh hoàng bạc tóc trước bình minh

Tiếng trống rung rạo rực Nghĩa Lĩnh Sơn
Hùng Vương dội chày tay lên mặt trống
Núi chụm đầu dòng sông vươn tới biển
Mặt trống tỏa ánh vàng lấp lánh tới muôn sau...

II. Truyền thuyết núi Đồng cổ

ở xã Trì Nê Thượng
Huyện Yên Định xứ Thanh
Thủa đất nước khai sinh
Đã mọc lên ngọn núi...

Núi lặng im không nói
Đến thời Lý Thái tông
Đi đánh giặc Chiêm Thành
Đêm canh ba thấy mộng

Một hình nhân dị tướng
Tiếng vang như tiếng đồng
Xin vua đi đánh giặc
Sẽ lập nhiều chiến công!





Thái tử nhìn dị nhân
Hao hao như hình trống
Tiếng nổi như tiếng sấm
Tiếng chìm như tiếng mưa

Nhận ra Trống đồng xưa
Đã thành thần giữ núi
Quân binh vui như hội
Có thần trống theo cùng

Tiếng thần trống chuyển rung
Giặc hồn bay phách lạc
Xô nhau chạy tan tác
Trước thần trống uy linh

Lý Thái tông thắng trận
Lập đền thờ phong vương
Đền Minh Linh Cảm ứng
Bảo Hựu Đại vương thần (*)

III. Khúc ngưỡng vọng Tám

Hình hài xương cốt núi sông
Bốn ngàn năm tiếng trống đồng còn vang
Ngôi sao rực rỡ ánh vàng
Vỗ lên mặt trống nhịp nhàng chày tay...

Hồn dân tộc nước non này
Tiếng đồng tiếng đá bàn tay người cầm
Nở trong ruột đất âm thầm
Nổi chìm tiếng trống trầm luân cõi người...




Hùng Vương đúc trống mặt trời
Bình minh đất nước rạng ngời hoa văn
Trống đồng hội tụ muôn dân
Trống đồng mở hội mùa xuân tưng bừng

Giặc nghe trống thúc kinh hoàng
Rung trời chuyển đất tiếng vàng truyền tay.
            
                    M.L



(*) Dựa theo truyện Thần núi Đồng Cổ (Lĩnh Nam chích quái)







Thanh Quế


 
Một gạch


Tôi thắp nhang bên mộ ba tôi
Nơi tấm bia
Ghi tên người
Nối năm sinh - năm mất
ở giữa có vạch ngang - một gạch

Chỉ một gạch thôi mà chứa cả cuộc đời
Ba đã sinh ra
Bước chân chập chững tuổi thơ
Đã đi học
Đã chiến đấu và công tác
Cũng chỉ trong một gạch ấy thôi

Và tôi nghĩ
Một gạch lớn vô cùng
Ai cũng phải bước qua
Bước sao cho trọn vẹn.
                  T.Q



Thanh Quế


Im lặng


Suốt bao năm ta đã nói nhiều rồi
Khi ở tuổi sáu mươi cần im lặng
Im lặng lắng nghe
Im lặng quan sát
Im lặng nhận xét
Im lặng cả khi người ta nói về mình
Im lặng sống
Im lặng viết
Như im lặng là người duy nhất
Khi bên mình không bè bạn người thân
Im lặng cầm tay ta dắt đến giây phút cuối cùng
                                           10/2004
                                              T.Q



Nguyễn Minh Khiêm


Ký ức


Một mình lặng trên đồi C4
trầm mặc dòng sông trầm mặc cây cầu
trầm mặc cánh đồng trầm mặc gió
rọi về những năm tháng cũ
bầu trời màu hoa gạo…

Đây là bia đồng đội hy sinh trong trận đánh mở đầu
đây là cây thông duy nhất sau đạn bom còn sót lại
đây là chỗ chị Hằng chỉ huy dân quân Nam Ngạn
đây là nơi chị Tuyển vác hai hòm đạn
đây là nơi mái tóc chị Dung…
đây là nơi bắt sống tên giặc lái…

Hàm Rồng trong anh
ngày nào cũng là ngày mùng ba mùng bốn
ngọn cỏ viên đá phù sa đều là những bảo tàng
khép lại là núi là sông
mở ra là chân trời cửa bể.

Cây lúa xanh vào câu hát
núi Ngọc núi Rồng đi vào huyền thoại
xương thịt vào hương khói
bầy trẻ nu na nu nống
cánh diều vào mây
con tàu rú còi như nhịp thở của người dân Việt
buổi sáng thanh bình tập thể dục
chạy từ Bắc vào Nam
                 6/2007
                 N.M.K


Lê Thám


Tiếng gọi bò


Trời sắp tối rồi
chót vót sườn non
chú bê con lồng lên tìm mẹ
loắt choắt sau bê là em bé
chấm vào hoàng hôn như một chiếc nấm con.

Giờ này mọi nhà quây quần bên mâm cơm
Tiếng gọi: Bò ơi nghe rất rõ
Mênh mang thế mà em tôi bé nhỏ
Trời tối rồi em xuống lối nào em?

Sương dần buông cùng với màn đêm
Em và chú bê con tôi nhìn không thấy nữa
Chỉ tiếng gọi của em nghe rất rõ
- Bò ơi…!
                L.T


 

Ngoảnh lại


Có lúc trên đường đời mê mải
Cuốn ta theo ngoảnh lại sau mình
Có gì đó níu bàn chân ta bước
Hay hào quang phía trước hút ta đi



Ta như nước dòng sông mê mải chảy
Quên trăm khe ngàn suối tạc nên hình
Lúc chỉ biết mình đang tồn tại
Tới biển rồi mới thấu hư vinh…

Xin cúi tạ tháng ngày vô tâm ấy
Những nơi ta qua biết mấy ân tình
Cảm ơn sóng bạc đầu đón nơi cửa bể
Nhắc cho ta ngoảnh lại phía sau mình
                L.T





Phạm Phú Lâm



Nhớ


Ngẩn ngơ hết đứng lại ngồi
Đèn lên trăng xuống sáng rồi… Nào hay!
Nhớ em - tôi đã cạn ngày
Chữ xô trang giấy lòng đầy sóng xô …
                        6/2007
                        P.P.L




Phan Anh Tuấn


Lẫn


Tôi ném muối xuống biển
Biển có mặn hơn không?
Sóng ơi! Sóng có biết
Biển sâu thẳm không cùng

Sóng tan vào với cát
Biết đâu những hạt vàng
Lẫn trong bến quên lãng
Lẫn vào bờ nhân gian
          Sầm Sơn hè 2007
            P.A.T



Phương Dung



Khi anh đến




Khi anh đến
Em không còn là giọt sương buổi sáng
Không phải trái ngọt đầu mùa
Em thiếu phụ
Mắt môi bàng bạc sương

Khi anh đến
Chưa hẳn cuối thu
Không là đầu hạ
Anh đến cùng cơn mưa

Em
Quả trái mùa
Em
Sương tối
Dẫu không còn là con gái
Em vẫn còn nguyên vẹn trái tim yêu
Gởi anh
Hương nhụy cánh hoa chiều!
             P.D



Phương Dung


Chiều Sầm Sơn


Cắn đầu ngón tay
Ngậm đầu sợi tóc
Vờ như người say
Nói cười trong mắt
Sầm Sơn chiều nay
Lòng mình như ngọn sóng
Trống Mái đá có đôi
Ta một mình lẻ bóng
             P.D




Chu giang phong


Người quê

Người ơi
Gió thổi em lạc phương nào
Mười năm lời thề trăng nấc nghẹn
Dòng sông quê vẫn chảy bên trời
Vỗ về giấc xa

Người ơi
Con bồng con bế rồi sao
Đến một ngày không còn là ta nữa
Nắng ngoài kia vẫn vàng hoa cúc dại

Người ơi
Có kẻ ra đi đến giờ tóc bạc
Mỏi gối chồn chân nghe gió gọi về
Thì thôi nhé lang thang giờ đã đủ
Ta lại về hát với sông quê

Người ơi
Không còn ngóng mỗi mùa hoa gạo đỏ
Em xõa tóc
Tháng ba vàng hoa cải
Nẻo anh về
Vắng tanh…
               Đại Lải 8/2006
                      C.G.P

More...

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Văn học trẻ và vấn đề đầu tư

bồi dưỡng lực lượng trẻ

trong văn học
 

                                                                       Thạch Quỳ
 
I
    Trước hết tôi xin trình với hội nghị bản liệt kê đơn thuần về tuổi tác các nhà văn.
1. Nhà văn nguyên Hồng viết "Bỉ vỏ" năm chưa đầy mười bảy tuổi.
2. Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp mất năm 22 tuổi để lại cho ta một tập thơ trong đó có bài "Chùa Hương" nổi tiếng.
3. Nhà văn Vũ Trọng Phụng mất năm 28 tuổi để lại 10 cuốn sách bao gồm tiểu thuyết ký sự… Ông xứng danh là một nhà văn lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
4. Nhà văn Nam Cao mất năm 36 tuổi các tác phẩm: Chí Phèo Lão Hạc Sống mòn đã ra đời khi nhà văn chưa đầy 30 tuổi.
5. Các nhà thơ Tố Hữu Xuân Diệu Chế Lan Viên Tế Hanh Huy Cận Thế Lữ Hàn Mạc Tử… đều rất nổi tiếng trên văn đàn khi tuổi đời của họ chưa tròn số 25. Tập thơ "Bức tranh quê" Tự Lực văn đoàn trao giải thưởng cho nữ sĩ Anh Thơ khi bà chưa tròn 16 tuổi.
ở thời ta chú Trần Đăng Khoa trình làng tập thơ "Góc sân và khoảng trời" khi tác giả vừa tròn 8 tuổi.
Các nhà thơ nhà văn thời chống Mỹ sinh sau năm 1940 hầu hết đã nổi tiếng trước năm 1970 họ làm chủ tiếng nói văn học của một thời đại.
Nhìn ngược lên theo tiến trình lịch sử của văn học nước nhà từ Trạng Hiền Lê Quý Đôn Nguyễn Du Hồ Xuân Hương Nguyễn Gia Thiều Đặng Trần Côn hay nhìn rộng ra bản đồ văn học thế giới ta luôn gặp các tác phẩm văn học nổi tiếng của các nhà thơ nhà văn trẻ tuổi. Chúng ta thường gọi các nhà văn từ 16 đến 30 tuổi là những nhà văn trẻ. Nhưng hãy dè chừng kinh nghiệm văn học đã chỉ rõ rằng đấy chính là lứa tuổi của thành công và sáng tạo. Nói thế để chúng ta đặt niềm tin của mình vào thế hệ ấy. Tuy nhiên tuổi trẻ chưa hẳn đã đồng nghĩa với văn học trẻ. Gớt đã viết "Phaoxtơ" tác phẩm bất hủ của mình ở tuổi ngoại 80.
II
Vấn đề văn học trẻ thực chất là vấn đề các thế hệ nối tiếp trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học. Nếu trong đời sống trong các mối quan hệ xã hội có vấn đề "Cha và Con" thì tương tự trong văn học có vấn đề văn học trẻ. Chúng ta biết tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái là vô bờ bến nhưng cha mẹ có hiểu biết có cảm thông với con cái hay không lại là một vấn đề lớn. Các nhà văn cũng vậy cũng tâm huyết với văn học càng đặt nhiều hy vọng vào thế hệ các nhà văn trẻ. Vấn đề nhà văn trẻ văn học trẻ là vấn đề kế thừa và phát triển của lịch sử văn học không riêng thời đại nào. Văn học Việt Nam từ thời Lý đến hậu Lê chừng như ít nổi cộm các vấn đề của văn học trẻ nếu đem so sánh với lịch sử văn chương cuối Lê đầu Nguyễn. Các bước nhảy vọt trong lịch sử văn học do các nhà văn trẻ tạo ra thường để lại những giây lát ngỡ ngàng ngỡ như là mâu thuẫn trong nhận thức văn học của các thế hệ. Nếu Thu cảm Thu điếu Thu vịnh của Nguyễn Khuyến chưa phá vỡ cái vỏ bọc âm sắc đăng đối nhịp điệu Đường thi thì "Cảm thu" của Tản Đà đã là một giọng điệu hoàn toàn khác hẳn.
                 Sông thu bạc
                Trăng thu vàng
                Khói thu xây thành
                Lá thu rơi rụng đầu ghềnh…

Nhưng rồi Tản Đà hẳn phải ngỡ ngàng trước quan niệm về thơ của Xuân Diệu Chế Lan Viên Hàn Mạc Tử và đặc biệt khác thường là quan niệm của Vũ Hoàng Chương Nguyễn Vĩ. Có lúc tôi ngỡ rằng Nguyễn Khuyến Tú Xương Tản Đà khó lòng mà chấp nhận cái vồ vập "miệng cười tay xiết" trong thơ Xuân Diệu và những cú say cả tâm hồn lẫn thể xác trong thơ Vũ Hoàng Chương. Cũng như vậy Lưu Trọng Lư Chế Lan Viên Xuân Diệu Huy Cận phải "lột xác" mình mới tập sự được thơ kháng chiến. Rồi thơ kháng chiến chống Mỹ lại vượt khỏi thơ kháng chiến chống Pháp cả một tầm cao trí tuệ. Sự ngỡ ngàng trong nhận thức văn học của thế hệ này với thế hệ khác là dấu hiệu đáng mừng trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hóa dân tộc.
Ngày nay sau năm 1975 đặc biệt là sau 1980 một thế hệ mới đã xuất hiện trong tiến trình đổi mới văn học của chúng ta. Đã có tiếng nói để gây tranh cãi. Đã có sự ngỡ ngàng trong quan niệm văn học của các thế hệ. Tuy chưa có thành công xuất sắc ở các tác phẩm cụ thể nhưng tiếng nói mới mẻ ấy đã có sức vang sức dội trên văn đàn chừng như đã hình thành nên hệ thống ngôn ngữ khác thường của nó. Những Vi Thùy Linh Văn Cầm Hải trong thơ Nguyễn Ngọc Tư và nhiều bạn trẻ khác trong văn đã có con đường đi riêng của họ. Tôi tin vào câu nói của Lỗ Tấn: "Mặt đất vốn dĩ không đường người ta đi mãi sẽ thành đường". Nhưng tiếc thay có nhiều bạn trẻ đã vượt tuổi 30 vẫn chỉ có tiếng tăm là kẻ "Mở" đường chứ chưa đi đến nơi cần đến ấy là tác phẩm văn học đích thực mới mẻ - cái chứng chỉ thành công cho con đường mình đã chọn.
Hình như các bạn trẻ vừa chậm chạp lại vừa nóng vội. Chậm chạp trước thành công nóng vội trước danh tiếng không phải là sự lựa chọn tối ưu của một nhà văn. Nhà văn là tác phẩm. Tác phẩm là hộ chiếu là chứng minh thư của nhà văn. Nhà văn hãy cầm lấy nó để đi qua các cửa trần gian thiên đường địa ngục đều không cần thị thực. Ai cũng biết nội lực của nhà văn quyết định sự nghiệp của nhà văn đó. Cái gì làm nên nội lực của nhà văn thì nhà văn tự biết!
Tuy vậy sự hỗ trợ giúp đỡ của các tổ chức xã hội nghề nghiệp đối với các nhà văn là rất cần thiết. Các nhà văn lớp trước đặc biệt là các biên tập viên các vị quan chức ở các nhà xuất bản báo chí rất nên có tư duy mở thông thoáng trong quan niệm văn học hiện đại để tạo điều kiện cho các tác phẩm mới được ra mắt công chúng. Tôi nghe nói tập thơ của Vi Thùy Linh có 3 nhà xuất bản từ chối phải om lại 3 năm phải thay tên sách tác phẩm mới được in ra. Khi viết những dòng này trước mắt tôi có tập "Đồng Tử" của Vi Thùy linh. Với trình độ chính trị còn nhiều hạn chế của bản thân tôi lấy làm khó hiểu vì sao các nhà xuất bản lại khó xử với tập thơ này như vậy? ý kiến tiếp theo của tôi là các nhà phê bình văn học nên để tâm đọc và giới thiệu cái hay cái dở cái mới lạ cái ngây ngô cái kỳ thú trong các tác phẩm trẻ. Những tác phẩm có vấn đề cần được tranh luận công khai trên báo chí. Nhiều người kêu thơ trẻ khó hiểu thậm chí là không có cái hiểu để hiểu. Theo ý tôi hiểu thơ theo nghĩa chữ là cách hiểu thơ ở cấp thấp nhất. Cái siêu của thơ là ở chỗ câu thơ bài thơ tạo ra một trường cảm nhận rồi người đọc người nghe gặt hái cảm xúc của mình từ trường cảm nhận do ngôn từ và các cấu trúc của nó tạo ra ở câu thơ bài thơ đó. Vì thế nếu thơ trẻ còn khó hiểu thì không chỉ người viết xét lại mà người đọc cũng nên lục soát lại khả năng cảm nhận văn học của chính mình nữa. Như trên đã nói cái mới bao giờ cũng gây ra một sự ngỡ ngàng. Chúng ta không nên biến một sự ngỡ ngàng thành sự tẩy chay đối với những cái quá mới quá lạ trong văn học trẻ.
Trong những năm gần đây Liên hiệp các Hội VHNT Hội Nhà văn các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương có chủ trương đầu tư cho các tác phẩm văn học mở các trại viết để thúc đẩy công việc sáng tác của các nhà văn. Cần nhìn rõ sự bất cập và yếu kém trong việc đầu tư tác phẩm và mở trại sáng tác của các Hội nhất là các Hội địa phương. Đầu tư nhưng không có tác phẩm. Mở trại nhưng không chọn lọc tác giả. Đầu tư và mở trại còn nặng về tính chất mặt trận tính chất "ăn cho đều kêu cho sọi" bênh vực sự công bằng kỳ quái sợ dư luận sợ thắc mắc. Không nhắm trúng hiệu quả của công việc là sự ra đời của các tác phẩm văn học có chất lượng. Do điều kiện hình thành và phát triển từ thời bao cấp duy ý chí các Hội Văn nghệ địa phương tùa vào tổ chức của mình đông đảo và dài dặc danh sách hội viên không ít hội viên trình độ hiểu biết và năng lực sáng tạo có thể nói là còn ở mức bi hài. Điều đó gây khó khăn lớn cho những người cầm chịch trong việc chia phần cái gói giữa làng khi bàn đến việc đầu tư và mở trại sáng tác. Trại sáng tác với một số người đã biến thành trại an dưỡng trại tham quan du lịch. Hội bỏ tiền đầu tư cho tác phẩm lớn nhưng trong văn học chỉ thấy xuất hiện những tác phẩm làng nhàng nhạt nhẽo khi có khi không. Nên chăng ở các hội địa phương ngoài ban lãnh đạo cần thành lập một hội đồng tư vấn có năng lực thẩm định tác phẩm giúp cho việc đầu tư và mở trại sáng tác có hiệu quả hơn.
Với các nhà văn trẻ những người thực sự có tâm huyết thực sự có cái gan lỳ bất chấp mọi trở ngại kiên trì con đường văn học chông gai và gian khổ chúng ta cần giúp đỡ họ cả tinh thần vật chất nghề nghiệp để họ viết được những tác phẩm lớn như niềm mong đợi của chúng ta.
Có 3 điều cụ thể sau đây tôi xin đề nghị:
1. Cần có thư viện tác phẩm lớn của văn học thế giới bao gồm văn thơ lý luận phê bình các tác phẩm mới nhất hiện đại nhất bằng các thứ tiếng Anh Pháp Nga Bồ Đào Nha và Trung Quốc. Các tác giả trẻ cần tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm đó không thông qua bản dịch. Sách cho mượn trực tiếp hoặc thông qua đường giây bưu điện để đến với các tác giả trẻ. Các tác giả trẻ cần nối mạng trực tiếp để đọc các tác phẩm lớn.
2. Mời các nhà văn lớn của thế giới tiếp xúc với các nhà văn trẻ Việt Nam như ngành tin học đã mời Đin-ghết ngành đá bóng đã mời Ma-ra-đo-na. Giúp các nhà văn trẻ tiếp xúc với văn học thế giới càng nhiều càng tốt.
3. Nếu nhà văn viết được tác phẩm lớn Hội cần có hướng dành tiền đầu tư để in tác phẩm dịch tác phẩm và quảng bá tác phẩm trên mạng trên quầy sách trung tâm tại thủ đô các nước.
Nhà văn nào có chí lớn có tài lớn cần được ưu đãi đặc biệt ít nhất cũng có được đời sống ngang hàng một cầu thủ bóng dá. Nhà nước nên có chính sách ưu tiên ưu đãi cho các tài năng văn học phù hợp với tiến trình dân chủ trước khi thả nổi văn chương cho cuộc sống tự nhiên trong xã hội kinh tế thị trường.
Văn chương là của tài năng. Nội lực nhà văn quyết định sự nghiệp của nhà văn đó. Sự đầu tư của nhà nước của các Hội công minh nhất là đầu tư đúng nơi đúng chốn đúng hiệu quả để góp phần thúc đẩy nền văn học của nước nhà tiến lên một bước mới trong cuộc hội nhập toàn cầu của nền văn hóa các dân tộc (*).
                                                                       Vinh 30/6/2007
                                                                                  T.Q
_______
(*) Tham luận tại hội thảo "Phấn đấu để có nhiều tác phẩm tốt hơn nữa" do ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tổ chức (Cụm các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên) tháng 7/2007.
 
 
 
Bước đầu tìm hiểu

truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

(Nhân đọc Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

NXB Công an nhân dân năm 2006)

                                                                             Đỗ Văn Phác



    Tuyển tập gồm 45 truyện ngắn. Đó là một phần trong gia tài truyện ngắn của nhà văn Từ Nguyên Tĩnh. Anh đến với văn chương từ những bài viết gương Người tốt việc tốt những bài thơ tươi rói hiện thực cuộc chiến nơi mà anh là người lính cao xạ cùng đồng đội đối mặt với đủ loại máy bay hiện đại của không lực Hoa Kỳ. Mãi đến cuối những năm tám mươi đầu chín mươi của thế kỷ XX anh mới thực sự sống chết với truyện ngắn mà những Mối tình  chàng Lung mù Người tình của cha là cái mốc quan trọng để anh bước vào làng văn một cách đĩnh đạc.
Nhìn chung truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh đi sâu vào ba mảng đề tài: những người ở quê hương anh từng sống và gắn bó thời trai trẻ những người lính đồng đội của anh những người anh bắt gặp trên đường công tác. Người viết bài này chia ra như thế thực ra chỉ là một cách chia tương đối. Tạm thời chia ra như thế cũng là một cách nhóm lại (nói theo thuật ngữ toán học) để dễ tìm hiểu đánh giá.
Xa quê từ năm 18 tuổi nhưng làng quê vẫn rất gần gũi quấn quýt trong tâm trí nhà văn. Phong cảnh làng quê với nhà ngói cây mít đường làng rợp bóng cây những đàn trâu đủng đỉnh nhai cỏ trên bờ ao những cánh đồng lúa chín rợp cánh cò bay những mái rạ phủ khói bếp vào buổi hoàng hôn... Tất cả như điểm xuyết cho một bức tranh phong cảnh. Nhưng điều nhà văn muốn nói đến trong truyện ngắn của mình khi viết về làng quê là những gương mặt người và thân phận của họ mà anh đã khắc vào bộ nhớ của mình từ tuổi ấu thơ. Đó là ông Thầu chú Tự (Họ hàng nông dân) lão Cao (Gã nhà quê) cô Mơ (Nợ làng quê) cô Nhi (Mẹ) anh Đất (Kiếp cầm ca) anh trai chị dâu (Tiếng thở dài của đất) chị Kén lão Cao (Kiếp người)...
Chú Thầu trong Họ hàng nông dân là một người có tư tưởng hãnh tiến. Ông muốn con em trong dòng họ học hành đỗ đạt ra làm quan mang lại niềm tự hào cho người thân. Nhưng khi không đạt được nguyện vọng ông lại tự tìm ra cho mình cái lý nông dân là tất cả là gốc rễ. Đi đâu rồi cũng phải về làng phải thành nông dân. Dù anh có là quan chức gì đi nữa cũng xuất thân từ cái nòi nông dân. Hết quan chức anh phải về làng và sẽ bị “nhuộm” thành nông dân. Cái lý của ông Thầu ít nhiều mang sắc thái chủ nghĩa tinh thần AQ. Hãy nghe ông Thầu “tuyên ngôn”:
- Họ ta toàn là nông dân. Từ đời này sang đời khác là nông dân. Bộ ai cũng ra thành thị mà sống lấy đâu ra thóc gạo mà nuôi con người. Đấy như chú bao năm lặn lội vào Nam ra Bắc nhưng “Cáo chết ba năm quay đầu về núi”. Đằng nào cũng phải thành nông dân. Tôi hỗn phép các cố nói cùng họ. Họ này là nông dân điều đó chỉ tự hào mà thôi (trang 17).
Nhân vật Lê Thị Hương Mơ trong Nợ làng quê  một cô gái xinh đẹp nết nết na thùy mị vì lòng yêu quê hương đã quyết tâm vào đại học nông nghiệp lấy tấm bằng kỹ sư ra trường về xây dựng quê hương vì ở đó cô có một mối tình đẹp như tiểu thuyết với Bùi (nhân vật xưng tôi trong truyện). Không ngờ khi Mơ quyết định ở lại quê thì Bùi lại ra đi theo đuổi một ước mơ khác. Ôm mối hận trong lòng Mơ lấy Quý tay chủ nhiệm HTX mắt lác trượt nghĩa vụ quân sự. Bùi nhận ra rằng mình là kẻ phản bội làng quê. Ngày cưới Mơ và Quý Bùi tìm về. Đó là một chút vớt vát trong tình cảm đối với Mơ. Còn món nợ làng quê thì Bùi chưa làm gì để trả được. Liệu có phải chỉ một nhân vật Bùi nợ làng quê?
Anh Đất và cô đào Tuyết Tuyết thuộc lớp người “xướng ca vô loài”. Là một người ngụ cư có năng khiếu đàn hát Đất gặp cô đào Tuyết Tuyết là dòng dõi ca công nhà trò. Họ kết hợp lại với nhau hành nghề kiếm ăn. Khi cần bọn quan phủ quan huyện hào lý chánh tổng bắt họ ca hát mua vui trong các tiệc rượu thừa mứa. Khi say chúng nó ngả ngớn mặc sức vày vò Tuyết Tuyết coi cô như một thứ đồ chơi của mình.
“... Vắng tiếng đàn dạo của thằng Đất và lời buông lơi của ả Tuyết Tuyết họ thấy thiêu thiếu một bộ phận nào đó trong con người mình. Bụng no rồi lại càng thấy thiếu. Rượu vào rồi lại càng trống vắng. Vợ con rồi mà vẫn ngẩn ngơ. Một lúc nào dù thảng hoặc hiếm hoi nhận ra rằng: Tất cả mọi thứ bậc đều nợ nần thằng Đất và ả Tuyết Tuyết. Ai cũng được nghe mà chưa một lần trả nợ cho cái kiếp cầm ca lạc loài...” (trang 80 81). Khi không cần họ đánh giá bình phẩm liếc xéo mắt bĩu môi: “Cái lũ vô loài hèn hạ. Ai bảo việc gì mà khóc cười bó gối đau đầu chau mày kia chứ ? Chúng nó làm gì ra được cuộc đời này kia chứ ? (trang 80). Như vậy bọn quan lại ăn trên ngồi trốc nhớ đó rồi quên đó ngay. Thân phận của người đàn bà làm nghề hát xướng mua vui cho họ chỉ như cánh bèo trôi dạt. Họ đang bận những việc khác. Đó là việc đấu đá tranh giành miếng xôi miếng thịt giữa sân đình làng tổng đến quyền lực chốn công đường uy nghi gươm giáo.
Trong những truyện nhà văn viết về làng quê Kiếp người là một truyện tác giả ký thác nhiều tâm sự của mình. Truyện kể về cuộc đời chị Kén. Chị xinh đẹp nhất làng con nhà nghèo. Nhiều chàng trai ngấp nghé. Chị đem lòng yêu anh Lượng. Anh Lượng là người cưỡi ngựa về cướp chính quyền ở làng Bàn Thạch (trang 150). Anh là con nhà gia thế. Giặc Pháp ném bom làng Bàn Thạch anh Lượng bị nghi ngờ phải ly khai khỏi tổ chức. Anh suy nghĩ dằn vặt tâm can nhức nhối sinh bệnh ho lao qua đời. Chị Kén bế con gái về nhà mẹ. Người đến hỏi chị làm vợ là ông Cao. Ông Cao là em kết nghĩa của bố mình nên mẹ chị từ chối gia đình chị từ chối. Ông Cao đến ỉa vào nhà. Chị Kén làm lẽ ông Hiến. Vợ ông Hiến đích thân mang lễ đến nhà chị hỏi vợ lẽ cho chồng nhưng về nhà ông Hiến chị bị đối xử như con ăn đứa ở. Thậm chí còn bị đánh đập tối tăm mặt mũi. Con gái chị lên ba tuổi là Tám bị bỏ đói không người chăm sóc. Cực chẳng đã chị Kén lại bế con quay về. Thương hoàn cảnh của chị đến một người băm bổ bặm trợn hèn mọn như ông Cao cũng động lòng trắc ẩn. “Ông Cao lại nhảy tót qua bờ rào sang giảng giải cùng mẹ tôi và chị Kén:
- Tao bảo trước mà... Có nghe tao mà đừng về bên ấy biết đâu. Cái quân ấy nó bạc lắm (trang 148). Chị Kén ốm lên ốm xuống rồi ra đi kết thúc một  kiếp người đau khổ đến tận cùng của sự đau khổ bỏ lại đứa con gái côi cút. Năm đói gia đình chị đành phải “sang tay” con Tám cho người khác để mong nó sống sót qua cơn hoạn nạn.
Không hiểu trong truyện ngắn này người xưng tôi có phải là tác giả không nhưng khi đọc không những tôi mà nhiều bạn đọc đều tin đây là bối cảnh gia đình nhà văn trong một đoạn quẫn bách nhất. Lúc bấy giờ trắng đen lẫn lộn người tốt bỗng chốc thành kẻ xấu và ngược lại. Những chuẩn mực và giá trị đạo đức thường bị đánh tráo bằng những khái niệm mơ hồ. Nhân vật Lượng chồng chị Kén chính là nạn nhân của những thứ khái niệm ấy kéo theo những chuỗi ngày đau khổ quằn quại suốt kiếp người chị. ở cuối truyện trong một cuộc rượu thằng em họ đã thổ lộ với nhân vật tôi: Tôi vẫn chờ nghe ở mục thông tin quảng cáo... Một tin thôi dù vắn tắt “...Tôi là Tám năm đói... cho ở chợ Neo... có tin còn sống...”. Tôi gạt phắt ý nghĩ đó nói với thằng em họ:
- Uống đi chú... Mấy khi...
Nhưng tôi đã uống nước mắt của mình. (trang 152)
Còn một điều nữa nhân vật Cao không những chỉ xuất hiện trong truyện ngắn Kiếp người mà còn ở truyện Gã nhà quê. Trong tiểu thuyết Cõi người nhân vật Cao cũng được nhà văn chăm chút. Không hiểu những nhân vật mang tên Cao này có phải cùng một nguyên mẫu? Nếu là một nguyên mẫu nào đó chắc “anh ta” phải là một điển hình để lại dấu ấn sâu đậm lắm trong ký ức của nhà văn !
Một mảng đề tài mà nhà văn Từ Nguyên Tĩnh khai thác nhiều với bút lực dồi dào phóng túng. Đó là mảng đề tài chiến tranh với nhiều góc nhìn: người lính trong chiến tranh sau chiến tranh số phận những người đàn bà sau chiến tranh. Là một pháo thủ trở thành người viết sử làm báo trong quân đội Từ Nguyên Tĩnh có dịp đi nhiều tiếp xúc nhiều với các chiến sĩ những cô gái dân quân. Đã từng chứng kiến những mối tình bất chợt nhưng đẹp đẽ đầy tính nhân văn. Rồi khi chiến tranh kết thúc trong bộn bề gian khổ của cuộc sống vật chất nhà văn có dịp chứng kiến bi kịch của nhiều cô gái quá lứa lỡ thì do chờ đợi người yêu chờ đợi chồng mà chỉ được đền đáp bằng những tin buồn. Cũng có những cô gái sau khi đã hẹn ước với một người lính nhưng xung phong lên đường vào Nam chiến đấu mang thương tích không muốn giáp mặt người yêu cũ. Mối tình tay ba giữa hai người lính là Dũng và Phúc với cô gái Vịnh (Người đàn bà sau chiến tranh) người phải gánh chịu nhiều đau khổ chính là Vịnh. Nghe tin Dũng hy sinh Vịnh yêu Phúc nhưng chiến tranh kết thúc bất chợt Dũng xuất hiện. Người đàn bà là Vịnh đứng giữa hai sự lựa chọn thật nghiệt ngã. Đó là mối tình giữa anh lính pháo thủ Hàm Rồng có tên Trọng Tân với cô gái dân quân ở cầu Tào có tên là Thủy trong truyện ngắn Chuyện tình bên cầu Tào. Thủy biết Trọng Tân đã có vợ là Như Phương và con gái Hà Mi nhưng vẫn thầm yêu trộm nhớ. Trong một trận chiến đấu với máy bay Mỹ Thủy tham gia tiếp đạn ngoài trận địa pháo bị thương mất máu. Chỉ có Trọng Tân cùng nhóm máu. Thủy được cứu sống trong người mang dòng máu của anh. Rồi Tân hy sinh Thủy cùng gia đình cô lo mồ yên mả đẹp mãn tang “sang áo” cho anh. Mẹ con Như Phương đợi khi chiến tranh kết thúc mới đi tìm mộ chồng và cha. Và họ đã gặp Thủy. Không ghen tuông hiềm khích. Họ trở nên thân thiết. Lê Văn Bùi bạn chiến đấu của Tân đã trở thành nhà báo biết rõ câu chuyện giữa hai người từ đầu chí cuối. Và anh đã thầm nói với bạn: “Tân à! Mày vẫn sống như ngày nào cùng tao bên cầu Tào. Tao nhớ rồi đến cái tên cũng phải hy sinh nhưng cũng được mọi người nhớ: tao Phương Thủy Hà Mi và có lẽ cả cầu Tào nữa...” (Chuyện tình bên cầu Tào trang 221). Đó là anh lính lái xe có tên San cùng cô gái dân quân Tuyết Mai. Trong một chuyến lỡ xe chờ thông đường ở Đò Lèn họ thân quen nhau rồi yêu nhau. Anh đi vào chiến trường. Hai năm sau trở lại Tuyết Mai đã vào Nam theo lệnh tổng động viên. Chiến tranh kết thúc San nhận được thư Mai nhưng từ chối gặp lại anh vì khuôn mặt tàn héo của mình do bom na pan làm biến dạng (Cô gái Đò Lèn). Đó là Vang Khánh cùng nhân vật tôi trong truyện ngắn Chờ B52. Sau chiến tranh mỗi người một số phận một nghề nghiệp nhưng những kỷ niệm thời khói lửa không ai quên được dù là những điều rất nhỏ nhặt. Đó còn là tình đồng đội chí cốt như ruột thịt giữa úc và Đạo chỉ vì một chút hiểu lầm mà mắc mớ với nhau. Rồi khi gặp lại nhau trong cảnh một người sắp lìa khỏi cõi đời họ mới bày tỏ gan ruột để người ra đi thanh tịnh người ở lại khỏi ngậm ngùi (Lầm lỗi một con người).
Mảng đề tài viết về những người bắt gặp trên đường công tác không nhiều nhưng là những truyện hay. Nhân vật chỉ được chấm phá một vài nét nhưng để lại ấn rượng rất đậm. Mối tình của anh lính cộng hòa với một cô Diệu Hương nào đó có bố làm việc cho ngụy quyền Sài Gòn được chính anh kể cho nhân vật tôi nghe thật mùi mẫn nhưng ẩn chứa những triết lý về tình yêu. Một điều mà muôn đời con người đã hiểu đã biết đã từng nói với nhau nhưng cũng có lúc mắc lỗi lầm: Tình yêu đó là sự rung động của trái tim là sự đồng điệu của tâm hồn. Do chiến tranh loạn lạc Diệu Hương sống ở chùa cứu được một người lính Giải phóng rồi yêu anh ta cuối cùng bị người yêu bội bạc. Cô nuôi con một mình. Đến lúc này Hải vẫn yêu Diệu Hương nhưng không dám thổ lộ vì biết cá tính của cô. Hải tình cờ gặp tôi thổ lộ cho tôi biết chuyện nhưng vẫn giấu Diệu Hương. “Chuyện của đàn ông với nhau... đừng kể cho người khác nghe Diệu Hương biết được mà tội nghiệp...” (Chuyện của đàn ông trang 390). Lão Tra trên đường từ đất tổ họ Nguyễn ở Thanh Hóa vào Huế tìm cha. Anh tìm gặp một người bà con thuộc dòng hoàng tộc. Người bà con đi Pháp. Lão không có tiền tìm đường trở về đành tìm cửa Phật nương nhờ. Gặp cha con một người quyền quý nhan sắc cô con gái đã quyến rũ Tra. Và thật bất ngờ chính cha cô gái tuyển Tra vào đội quân gác lăng mộ các vua nhà Nguyễn. Rồi tình cờ Tra lại cứu được cô gái con nhà quyền quý kia trên sông Hương. Sau lần ấy cô trở nên câm lặng nhưng ánh mắt của cô đã nói lời yêu Tra. Chuyện được chính nhân vật Tra kể lại. Và lão thấm thía một điều mặc dù là anh em thật nhưng một khi địa vị đã khác xa nhau thì tình thân không còn mặn mà. “Tra lúc cầm chiếc vé hỏa xa đi năm sáu chục năm sau lão dẫn người vợ về đứng lặng trước nấm cỏ xanh nơi đất quý hương mà cả đời lão thì thầm với lăng tẩm bệ rồng trước sự ngạc nhiên của dân làng thân thiết mà xa lạ. Lão không khỏi nhớ đến người cha nông dân của mình. Họ là vua đấy nhưng lý ra gọi con là bác và xưng cháu... (Chuyện tình của người gác lăng mộ - trang 400).
Truyện Người đàn bà quàng khăn màu hổ phách chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc chóng vánh. Trong một lần đi sáng tác tại Vũng Tàu sáng sáng ra biển tác giả cùng một bạn văn của mình bắt gặp một thiếu phụ quàng khăn màu hổ phách. Người đàn bà luôn đi tắm biển một mình. Hai nhà văn đã cùng nhau thử “đọc” những trang đời của người đàn bà kia qua phỏng đoán của mình. Rồi cái tính tò mò đáng yêu của mấy chàng văn sĩ mơ mộng đã thôi thúc hai anh bạn văn dò được tông tích của người thiếu phụ có sắc đẹp quyến rũ kia. Họ ra biển sau đến khách sạn Hoa Hồng tìm nàng. Và họ bắt gặp người đàn ông đã từng cúi nhặt tấm khăn màu hổ phách dưới bãi biển trao cho nàng trong sự ghẻ lạnh của người đàn bà đẹp. Ba người đàn ông (tác giả bạn văn có tên là Thái và người đàn ông si tình thứ ba có tên là Viễn) tìm đến khách sạn. Và chính Viễn đã được bức thư từ biệt của Huyền Trân (tên cô gái) cùng tấm khăn màu hổ phách mà anh rất thích đã đi theo một anh chàng ngoại quốc có tên là Bốp. Đến đây thì hai anh chàng nhà văn hiểu ra tất cả. Viễn đã bị Huyền Trân phản bội để đi theo Bốp ra nước ngoài. Ba người kéo nhau vào quán rượu. Chính Viễn đã buột ra miệng một “triết lý” mà nhà văn “nhặt” được “Cái thằng ngoại quốc giàu có thế mà đểu... Xì cho mình một ít tiền... Nó lấy đi của mình sắc đẹp... Không ai cho không ai cái gì cả... phải không ?” (Người đàn bà quàng khăn màu hổ phách trang 484).
Trong tuyển tập này có hai truyện ngắn Mối tình chàng Lung mù và Người tình của cha. Đó là hai truyện ngắn xuất hiện cách đây ngót hai chục năm đánh dấu con đường sự nghiệp của Từ Nguyên Tĩnh làm nên tư cách nhà văn của anh.
Đọc truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh ta thấy tác giả viết truyện bắt đầu từ những ý tưởng ít câu nệ vào cốt truyện. Chính vì viết từ những ý tưởng nên nhiều truyện lúc đầu đọc thấy lan man không hiểu tác giả định dẫn người đọc đi đến đâu. Nhưng khi đã “bắt” được ý tưởng của tác giả người đọc thầm kêu lên thích thú “A ra thế !”. Lối viết này còn thấy rất rõ trong tiểu thuyết Cõi người. Lối viết từ những ý tưởng có tính khái quát cao. Hiện thực cuộc sống được tái hiện trên bình diện rộng. Người viết có thể tung hoành trên những trang viết của mình mà không sợ sa đà. Mạch truyện không tuân thủ theo lối viết truyền thống là bổ dọc hoặc cắt ngang. Chi tiết trong các truyện ngắn tưởng chừng như bề bộn rườm rà nhưng khi đọc đến cái kết người đọc thấy sự rườm rà bề bộn đều có duyên cớ. Phần lớn truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh đều rậm rạp chi tiết nhưng chọn được chi tiết “đắc địa” thật không dễ. ở mỗi truyện ngắn của mình tác giả đều đưa vào được những chi tiết làm “cái đinh” khắc dấu ấn vào người đọc.
Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh bắt đầu từ những ý tưởng nên giàu chất triết lý. Hầu như ở truyện nào anh cũng đưa ra được một triết lý. Triết lý mà đọc vẫn không bị nhàm chán. Điển hình như truyện Quỷ sứ và thiên thần. Trong mỗi con người đều có quỷ sứ và thiên thần. Người có tư chất có bản lĩnh biết làm cho thiên thần lấn át quỷ sứ để trở thành người tốt. Vị luật sư du học nước ngoài về đã trả lời bạn: “Đúng! Trong con người tớ là cuộc hôn nhân giữa Quỷ sứ và Thiên thần (...) chỉ hơn kém nhau là sự nhốt giữ kẻ đạo tặc ấy hay thả rông ra mà thôi !” (trang 467). Kết cấu các truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh là kết cấu mở. Đằng sau những con chữ cụ thể là những thông điệp về nhân văn về thế thái nhân tình. Gấp lại những trang sách người đọc không thể không suy ngẫm về người đời việc đời. Nhân vật trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh đều có số phận tác giả nghiêng về khai thác những đau khổ mất mát mà con người phải gánh chịu. Người viết bài này cho rằng một người cầm bút không có nỗi đau đời không đồng cảm với những thân phận con người kém may mắn không thể viết được những trang văn thấm đẫm chất nhân văn như thế.
Ta bắt gặp một số vô lý: Ví dụ Ông bác dâu họ này (trang 13) (*) Chiếc lưng cháy nắng của mẹ (trang 64) Đi một hai tập võ bị (trang 135) Lý tưởng của Thích Ca. Cái lưng chứ không phải Chiếc lưng; tập võ thuật còn võ bị là trường. Lý tưởng của Thích Ca nghe hiện đại quá...
Có nhiều lỗi do in ấn mà người đọc kỹ sẽ bắt gặp. Với công nghệ in như bây giờ mà còn để nhiều lỗi là điều đáng lý không nên có.
Có thể nói lao động nhà văn là một thứ lao động “khổ sai” đầy cực nhọc. Suốt đời đánh vật với những suy nghĩ rồi thể hiện ra bằng những đường cày con chữ. Những năm tiến gần đến tuổi lục thập bất nhập đình trung Từ Nguyên Tĩnh đã cho ra đời tiểu thuyết Cõi người dày hơn 650 trang. Trong lúc đang viết tiểu thuyết Truyền thuyết sông Thu Bồn mà dung lượng không kém Cõi người anh lại cho ra tuyển tập truyện ngắn hơn 550 trang. Lại còn viết truyện ngắn ký thơ tiểu luận... cho tạp chí của mình và các báo tạp chí khác. Một sự lao động thật đáng nể trọng!
                                                                                      Đ.V.P
__________
(*) Trong tập sách câu “Ông bác đầu họ này” đã in sai thành “Ông bác dâu họ này” (Chú thích của BBT)
 
 

More...