Diễn đàn đại hội

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Để có nhiều tác phẩm tốt hơn nữa

                           
                                                        Lê Xuân Giang
                                                       Chủ tịch Hội Văn nghệ Thanh Hóa


    Trong những năm gần đây trong các cuộc họp thường niên của ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam chúng ta thường nghe nói đến Tác phẩm đỉnh cao hay chất lượng cao. Đặc biệt từ ngày được Chính phủ dành riêng một khoản kinh phí đầu tư trực tiếp cho họat động sáng tạo văn học nghệ thuật mà ở Thanh Hóa chúng ta vẫn gọi là Tài trợ của Chính phủ (để phân biệt với kinh phí tài trợ của địa phương) thì tác phẩm đỉnh cao hay chất lượng cao lại trở thành nỗi canh cánh đối với những người làm quản lý văn nghệ và văn nghệ sỹ cả nước như một món nợ
    Tôi tin rằng trong những năm vừa qua những người làm công tác quản lý văn nghệ từ trung ương đến địa phương đã tổ chức rất nhiều hoạt động những mong có được những tác phẩm chất lượng cao. Tổ chức những cuộc thi những cuộc vận động sáng tác xét và trao giải thưởng hàng năm 5 năm rồi tài trợ trực tiếp cho tác giả v.v… Nói cách khác làm được gì cho những tác phẩm đỉnh cao hoặc chất lượng cao ra đời các Hội văn nghệ từ chuyên ngành trung ương đến các địa phương đều đã làm và làm rất nhiều so với những thời kỳ trước đây.
    ở Thanh Hóa cũng vậy.
    Chỉ tính từ năm 2001 đến nay Hội Văn nghệ Thanh Hóa đã tổ chức gần 20 chuyến đi thực tế ra ngoài tỉnh và hàng chục chuyến  đi thực tế khác ở trong tỉnh. Đã tổ chức 4 trại sáng tác tập trung dài ngày và hàng chục cuộc thi cuộc vận động sáng tác về các đề nông nghiệp miền núi miền duyên hải về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng. Riêng việc tài trợ sáng tác trong vòng 6 năm đầu thế kỷ XXI Hội Văn nghệ Thanh Hóa đã tài trợ cho 128 tác phẩm và công trình văn học nghệ thuật bằng nguồn kinh phí của tỉnh và 103 tác phẩm và công trình khác được tài trợ bằng nguồn kinh phí của Chính phủ với tổng số tiền gần 1 tỷ đồng. Cũng trong 6 năm đầu thế kỷ XXI Thanh Hóa đã trao giải thưởng 5 năm của ủy ban nhân dân tỉnh cho 69 tác phẩm và 156 tác phẩm khác được trao giải thưởng Lê Thánh Tông hàng năm của Hội. Để đưa tác phẩm văn học nghệ thuật đến với công chúng Hội Văn nghệ Thanh Hóa đã tổ chức 34 cuộc triển lãm Mỹ thuật và Nhiếp ảnh phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa sản xuất trên 60 chương trình tác giả tác phẩm để quảng bá thành tựu mới của hội viên. Chuyên ngành sân khấu đã dàn dựng hàng chục vở diễn gần hai chục đêm nhạc phục vụ nhân dân từ miền núi đến miền duyên hải Thanh Hóa v.v…
    Có thể khẳng định từ khi có nguồn đầu tư kinh phí của Chính phủ hoạt động của các Hội Văn học nghệ thuật cả nước nói chung và ở Thanh Hóa nói riêng sôi nổi hẳn lên như được tiếp thêm động lực mới. Riêng ở Thanh Hóa nguồn động lực ấy đã tạo ra những chuyển đổi theo chiều hướng tích cực của Văn học nghệ thuật Thanh Hóa những năm đầu thế kỷ XXI.
Sự chuyển đổi ấy trước hết phải kể đến là sự chuyển đổi về mặt đề tài. Có 2 đề tài được văn nghệ sỹ quan tâm trong những năm gần đây là đề tài lịch sử và công cuộc đổi mới. Về đề tài lịch sử chỉ tính riêng cuộc chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng anh hùng trong vài ba năm đã có 3 tập tiểu thuyết 2 tập truyện ngắn 3 trường ca 4 hợp xướng và gần chục bức tranh sơn dầu. Đó là chưa kể đến  các tác phẩm khác viết về Đào Duy Từ Hồ Quý Ly về Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn về Chiến khu Ngọc Trạo về cuộc khởi nghĩa Ba Đình v.v…
Về đề tài đổi mới ngoài hàng trăm bài ký đã xuất hiện trường ca tiểu thuyết đề cập đến những vấn đề đương đại.
    Sau đề tài là sự chuyển đổi về mặt thể loại. Đã xuất hiện ngày càng nhiều những tác phẩm có quy mô lớn có tầm khái quát cao được coi là trụ cột của nền văn học nghệ thuật tỉnh nhà như tiểu thuyết trường ca trong văn học tổ khúc hợp xướng giao hưởng trong âm nhạc tượng đài tranh sơn dầu sơn mài trong mỹ thuật sách ảnh trong ảnh nghệ thuật và những vở kịch mang tính sử thi hoành tráng được dàn dựng công phu trong sân khấu v.v… Nói riêng về tiểu thuyết một thể loại ở thế kỷ trước xuất hiện rất thưa thớt thì những năm đầu thế kỷ này đã trở thành thể loại được hầu hết các cây bút văn xuôi Thanh Hóa quan tâm. Trong vòng 5 năm đã có gần 20 tập tiểu thuyết của các cây bút văn xuôi Thanh Hóa trình làng gần bằng số tiểu thuyết của nửa thế kỷ trước cộng lại.
    Cùng với đề tài và thể loại về mặt nội dung văn học nghệ thuật Thanh Hóa cũng có sự chuyển đổi đáng kể. Hiện thực đời sống được phản ánh trong văn học nghệ thuật Thanh Hóa hiện nay không còn đơn điệu một chiều mà là một hiện thực với tất cả tính đa dạng phức tạp của nó; ở đó khát vọng và quyền sống của con người được đề cao nhiều giá trị mang tầm vóc thời đại đã được khẳng định. Chính sự chuyển đổi sâu sắc về nội dung này mà một số tác phẩm của văn nghệ sỹ Thanh Hóa được đánh giá cao được nhận giải thưởng của các chuyên ngành trung ương. Đặc biệt ở chuyên ngành văn xuôi Thanh Hóa là tỉnh hiếm hoi trong vòng 3 năm đầu thế kỷ XXI cả thể loại ký truyện ngắn tiểu thuyết đều được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng. Đó là bài ký Tiền chùa của Nguyễn Văn Đệ được trao giải nhì cuộc thi ký; truyện ngắn Gốc gội xù xì của Hà Thị Cẩm Anh được trao giải nhất cuộc thi truyện ngắn trên báo Văn nghệ và tiểu thuyết Cõi người của nhà văn Từ Nguyên Tĩnh được trao Tặng thưởng trong cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam.
Những chuyển đổi theo chiều hướng tích cực ấy tạo ra diện mạo mới của văn học nghệ thuật Thanh Hóa để văn nghệ Thanh Hóa bước cùng nhịp với văn nghệ cả nước.
    Nói những điều trên đây để khẳng định sự tài trợ của Chính phủ là động lực tạo ra sự chuyển đổi mới theo chiều hướng tích cực trong đời sống văn học nghệ thuật cả nước nói chung và Thanh Hóa nói riêng.
Tuy nhiên bình tĩnh nhìn lại chúng ta dễ dàng nhận thấy những tác phẩm đỉnh cao hay chất lượng cao có sức sống lâu bền trong công chúng vẫn còn khá thưa thớt. Có lẽ đây là vấn đề mà không chỉ các nhà lãnh đạo mà chính văn nghệ sỹ cũng hết sức quan tâm. Có thể chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này trong đó có những nguyên nhân chúng ta chưa thể lý giải một cách nôn nóng vội vàng được.
    Trong bài viết này từ thực tiễn họat động văn học nghệ thuật ở Thanh Hóa tôi xin nêu một số vấn đề.
    Trong hàng chục chuyến đi thực tế được Hội văn nghệ Thanh Hóa tổ chức có một chuyến đi được đánh giá là hết sức thành công. Đó là chuyến đi sáng tác ký họa của 15 họa sỹ trên đường Hồ Chí Minh đoạn qua đất Thanh Hóa. Sau ba ngày trên mặt đường dưới cái nắng chang chang của nắng tháng 5 đỏ lửa các họa sỹ xứ Thanh đã mang về gần 100 bức ký họa hết sức sinh động. Toàn bộ số ký họa này được trưng bày trong cuộc triển lãm ký họa "Đường Hồ Chí Minh trên đất Thanh Hóa" vào dịp kỷ niệm 116 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Triển lãm được công chúng yêu nghệ thuật và cả Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đánh giá rất cao không chỉ ở ý nghĩa chính trị mà cả ở chất lượng nghệ thuật của nó.
    Một chuyến đi thực tế như vậy ai không cho là đã thắng lợi rực rỡ. ấy vậy mà khi một số họa sỹ chuyển từ ký họa sang tranh sơn dầu sơn mài đem đi triển lãm khu vực Bắc miền Trung thì không còn được đánh giá cao nữa thậm chí có tác phẩm không đạt đủ chất lượng nghệ thuật để được treo chứ chưa nói để có giải.
    Việc tổ chức trại sáng tác cũng vậy. 5 đoàn nghệ thuật ở Thanh Hóa khát kịch bản đến ghê gớm. Hội Văn nghệ tổ chức hẳn một trại sáng tác dành riêng cho các nhà viết kịch ở Tam Đảo. Có tới 22 kịch bản bao gồm các thể loại: Chèo tuồng cải lương kịch nói được hoàn thành ở trại sáng tác này. Nhưng khi chuyển các kịch bản ấy cho 5 đoàn nghệ thuật thì gần như không dàn dựng được một kịch bản nào. Những vở diễn để lại ấn tượng trên sân khấu Thanh Hóa như: Đời cát Người cần được bảo vệ.v.v... đều phải vay mượn của các nhà viết kịch ngoài tỉnh.
    Chuyên ngành âm nhạc chỉ nói riêng số nhạc sỹ sáng tác ca khúc ở Thanh Hóa có gần 30 tác giả trong đó có trên một nửa là hội viên Hội Nhạc sỹ Việt Nam hàng năm sản xuất ra gần 100 ca khúc. Nhưng phần lớn những ca khúc này được sáng tác theo đơn đặt hàng của các địa phương ban ngành đoàn thể từ làng xã đến cấp tỉnh nhằm phục vụ những ngày kỷ niệm hoặc lễ hội truyền thống. Không ai nói rằng ca khúc phục vụ chính trị như vậy là không cần thiết và bổ ích trong đời sống văn nghệ quần chúng. Nhưng để có lấy một một ca khúc hay có sức sống lâu bền với thời gian viết về Thanh Hóa trong thời kỳ đổi mới này thì hình như chưa có.
ở các chuyên ngành khác cũng vậy.
    Chúng ta đang sống giữa những ngày đất nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Quá trình đô thị hóa diễn ra vô cùng sôi động và hết sức gay gắt trên khắp mọi miền đất nước. Quá trình này tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Với một nước có truyền thống làm nông nghiệp có độ bền vững của văn hóa làng xã như ở Việt Nam quá trình đô thị hóa tạo ra sự chuyển đổi hết sức sâu sắc trong từng làng bản thôn xóm đến tận mỗi gia đình.
    Trong lịch sử văn học thế giới đã có không ít tác phẩm viết về thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa như thế này đến nay trở thành những kiệt tác.
ở Thanh Hóa một tỉnh đất rộng người đông có lịch sử hào hùng được tạo dựng lên hàng ngàn năm qua nhiều triều đại phong kiến tập quyền bước vào đô thị hóa càng chứa đựng nhiều mâu thuẫn hết sức gay gắt. Từ ngày bước vào đổi mới đến nay ở Thanh Hóa thành công cũng nhiều nhưng cũng không ít những sự kiện làm chấn động dư luận cả nước.
    Chỉ tiếc rằng từ khi đổi mới đến nay đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XXI hiện thực sống động trong công cuộc đổi đời vĩ đại này vẫn còn thiếu vắng trong văn học nghệ thuật xứ Thanh.
    Từ thực trạng ấy tôi cạn nghĩ phải chăng những họat động của các Hội văn nghệ như ở Thanh Hóa từ đi thực tế mở trại sáng tác rồi tài trợ sáng tác.v.v… (có loại hình hoạt động nào chúng ta đã tổ chức hết) mới chỉ là những thao tác còn những tác phẩm chất lượng cao hay đỉnh cao còn phải chờ vào linh hồn của chủ thể sáng tạo đó là tài năng của văn nghệ sỹ. Mà tài năng đâu có nhiều nhặn gì cho cam.
    Vì vậy tôi rất tâm đắc với tiêu đề ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đặt ra tại cuộc hội thảo cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên tháng 8 năm 2007 vừa qua ở Nha Trang. Tiêu đề đó là: "Phấn đấu để có nhiều tác phẩm tốt hơn nữa". Tiêu đề đó phải chăng là một quan điểm một cách nhìn đối với tình hình sáng tác hiện nay. Tiêu đề ấy như một lời kêu gọi hơn là một tiêu đề cho một cuộc hội thảo khoa học.
    Bởi vì những năm sau này nữa các Hội Văn học nghệ thuật từ trung ương đến các địa phương vẫn phải tổ chức đi thực tế vẫn phải mở trại vẫn phải tài trợ vẫn phải trao giải thưởng mặc dù tác phẩm chúng ta hằng mong ước là đỉnh cao hay chất lượng cao vẫn chưa xuất hiện. Và còn bởi vì những họat động ấy vẫn còn có ích cho văn nghệ sỹ.
                                                                   Thanh Hóa tháng 9/207
                                                                               L.X.G







Tình hình hoạt động của tạp chí
Văn nghệ Xứ Thanh nhiệm kỳ VI (2001-2006)
và phương hướng hoạt động
nhiệm kỳ VII (2007-2012)
(Trích)



    II . Những kết quả tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh đã đạt được trong nhiệm kỳ này
    1 . Công tác chuyên môn.


    Trong 5 năm của nhiệm kỳ 2001-2006 tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh đã xuất bản được 78.583 cuốn tạp chí. Trong đó giới thiệu được 245 truyện ngắn 914 bài thơ gần 100 bài bút ký phóng sự hàng trăm bài nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật. Hàng trăm tranh ảnh minh họa bản nhạc in trên tạp chí đã làm đẹp thêm và tôn thêm giá trị của nghệ thuật. Nhiều truyện ngắn đăng trên tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh đã được Đài Tiếng nói Việt Nam chọn đọc trên đài trong buổi Phát thanh Văn nghệ. Đã được chuyển thể thành câu chuyện truyền thanh tạo ra sự rộng rãi cho người đọc
    Tạp chí đã giữ được dáng nét riêng của văn nghệ xứ Thanh không bị cơ chế thị trường chi phối không bị thương mại hóa. Đặc biệt tạp chí đã không để lọt vào các tác phẩm đồi trụy độc hại phi luân… làm ảnh hưởng đến cảm quan nhận thức thẩm mỹ của bạn đọc và gây độc hại nền văn hóa lành mạnh của dân tộc.
    Từ 10 năm trở lại đây tạp chí đã dần đi vào thế ổn định. Công tác của một tòa soạn tuy ít người nhưng mỗi cán bộ phóng viên biên tập viên đều có thể kiêm nhiệm nhiều việc. Biên tập viên là người có tay nghề nhưng cũng là người sáng tác để có cái nhìn không sơ cứng trong biên tập.
Tuyệt đối chống lại biên tập theo gu theo thói quen của một người làm cho tạp chí in ra trở thành đơn điệu nghèo nàn.
    Nhờ có sự chỉ đạo của Đảng đoàn và sự quan tâm của tỉnh mà trực tiếp là Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tạp chí không bị chệch hướng tôn chỉ mục đích của mình.
    Tạo ra được các cuộc tranh luận học thuật bổ ích. Thu hút được các cây bút có uy tín ở các tỉnh bạn làm giàu thêm diện mạo của tạp chí.
Tạp chí còn mở được cuộc thi truyện ngắn (2005-2007) đã in được 47 truyện ngắn. Cuộc thi sẽ kết thúc và trao giải vào dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 năm nay.

    2 . Công tác phát hành và Tổ chức cộng tác viên

    a . Công tác phát hành.

    Nhiệm kỳ 2001-2006 tạp chí in và phát hành được 78.583 cuốn tạp chí. Đây cũng đã là con số đáng tự hào so với các tạp chí báo văn nghệ của các tỉnh thành phố trong cả nước (trừ hai thành phố lớn là Hà Nội và t.p Hồ Chí Minh). Nhiều tỉnh mỗi kỳ họ cũng chỉ in vài ba trăm cuốn để phát trong hội viên và biếu lãnh đạo tỉnh. Nhưng ở tỉnh Thanh Hóa chúng ta so với số dân gần 4 triệu người thì số lượng tạp chí văn nghệ in và phát hành như thế là quá thấp. Nhiều năm qua nhờ sự ủng hộ và giúp đỡ của Bưu điện tỉnh Thanh Hóa tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh đã được đưa đến gần 600 điểm bưu điện văn hóa xã trong toàn tỉnh. Mỗi số tạp chí phát hành và giao lưu với bạn đọc cả nước khoảng 100 cuốn biếu các đồng chí lãnh đạo và các cơ quan hơn 100 cuốn chuyển cho Văn phòng Hội để phát cho hội viên 200 cuốn. Như vậy về mặt phát hành tạp chí gặp rất nhiều khó khăn nếu không có một cơ chế phát hành mang tính xã hội hóa

    b . Công tác phát triển cộng tác viên của tạp chí trong những năm qua.

    Hội viên có xu hướng và có quyết tâm sáng tác để trở thành tác giả gồm ở các bộ môn VHNT. Nhưng khi gửi bài cho tạp chí họ trở thành bình đẳng với giá trị của tác phẩm. Không vì là hội viên mà tạp chí coi nhẹ giá trị nghệ thuật. Vì vậy đã tạo ra sự yên tâm của cộng tác viên không phải là hội viên.
Cộng tác viên là những người con Thanh Hóa và các cây bút yêu mến Xứ Thanh không quản nhuận bút thấp đã cộng tác nhiệt tình và lâu dài. Chính họ là người tuyên truyền và làm cho tạp chí thêm phong phú đa dạng.
Nhìn chung lực lượng viết trẻ rất khan hiếm. Sự đột khởi tạo ra hiện tượng VHNT không có. Tạp chí cũng không tạo ra được không khí sôi động.
Nhìn chung tạp chí giữ được mối quan quan hệ thân thiết trả lời bài vở in ấn trả nhuận bút được kịp thời không để mất uy tín với cộng tác viên.
Trong các loại hình nghệ thuật cộng tác viên mỹ thuật những năm gần đây có lực lượng trẻ tham gia. Làm cho có sức mới trong khâu minh họa và giới thiệu tranh ảnh nói chung.

    III . Phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ VII (2007-2012)

    1. Tạp chí tiếp tục làm tốt nhiệm vụ của mình là cơ quan ngôn luận của Hội VHNT Thanh Hóa và là cơ quan báo chí.
    2. Tiến hành xây dựng trang Website của tạp chí để đưa tạp chí đến với bạn đọc bằng nhiều kênh khác nhau.
    3 . Đề nghị tỉnh hỗ trợ kinh phí để có thể cấp tạp chí đến tất cả các trường học ở miền núi vùng sâu vùng xa mỗi trường 1 cuốn (khoảng 500 cuốn).

    Đào tạo cán bộ cho chuyên môn.

    1. Có kế hoạch để đào tạo cán bộ biên tập. Cán bộ biên tập phải là người tốt nghiệp đại học ngành xã hội và nhân văn có khả năng biên tập và sáng tác tốt ưu tiên các văn nghệ sỹ là con em Thanh Hóa. Đặc biệt ưu tiên lực lượng trẻ.
    2. Mở các cuộc thi văn học làm cho tạp chí sinh động nhằm phát hiện những cây bút có năng khiếu và có triển vọng sáng tác giúp Hội phát triển hội viên.
    3. Tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan báo chí. Quan hệ tốt giữa các cơ quan báo chí trong tỉnh cụ thể là báo đài để thu hút người viết và tuyên truyền cho tạp chí rộng rãi trong cả tỉnh.
    4. Quan hệ giao lưu tạp chí với các tỉnh bạn để thu hút lực lượng cộng tác viên thu hút các tác giả quê Thanh Hóa ở tỉnh ngoài.
    5. Học tập các tạp chí tỉnh bạn để hoàn thiện tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh.
                           

                                                                        Ban Biên tập tạp chí V.N.X.T
 
 
 
 
 
Khép lại một nhiệm kỳ năm năm

của văn xuôi Thanh Hóa
 


                                                   Nhà văn Trần Hiệp
 
 

    Từ sau Đại hội Văn nghệ Thanh Hóa lần thứ VI đến nay quê hương và đất nước có nhiều biến đổi. Nhưng các hội viên văn xuôi Thanh Hóa vẫn chưa có gì biến đổi về cơ bản: số hội viên cái tâm của người sáng tác và sự miệt mài chăm chỉ vẫn thế. Có chăng là ở số lượng tác phẩm được công bố và chất lượng của một số tác phẩm là sự biến chuyển đáng kể.
    Về số lượng hội viên 5 năm qua mới kết nạp được hai chuyển đi hai người và hai hội viên qua đời số hội viên còn lại là 19 người. Trong đó có một số nhiều năm liền không có tác phẩm được công bố. Chỉ còn trên dưới mười hội viên năm nào cũng có một số tác phẩm được in trên các báo tạp chí đã có hơn 10 tập sách được ấn hành trong đó có một nửa là tiểu thuyết.
    ở đây được ghi nhận các tập truyện Đám mây dĩ vãng của Cẩm Hương Đêm triều cường của Viên Lan Anh Hoa hậu làng của Hoàng Trọng Cường Cổ tích làng của Đỗ Văn Phác Bài xường rutừ núi của Hà Thị Cẩm Anh Những con đường những cuộc đời của Kiều Vượng Cá heo con làm xiếc của Nguyễn Văn Đệ Lạc đàn và Nỗi niềm ta hiểu cho nhau là hai tập truyện của Trần Hiệp. Về tiểu thuyết có Cõi người của Từ Nguyên Tĩnh Quả ngọt của Đỗ Văn Phác. Riêng Trần Hiệp có 3 tập là Giải hạn Những mảnh vỡ đời người và Quân sư Đào Duy Từ.
    Năm năm qua tạm tính trung bình mỗi năm có 2000 trang in số lượng ấy chia cho số tác giả thực sáng tác cũng là nhiều. Về chất lượng không chỉ kỳ này mà ở thời kỳ nào cũng khó đánh giá được chính xác ở đây chỉ lấy các giải thưởng làm tiêu chí thì năm nào ngành văn xuôi cũng có giải A giải B của Hội. Đặc biệt với truyện ngắn Gốc gội xù xì của Hà Thị Cẩm Anh một tác phẩm được đánh giá là sự bứt phá vượt lên chính mình của chị. Sự bứt phá ấy được đánh giá bằng giải nhất cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn nghệ là một bước nhảy vọt của các cây bút viết truyện ngắn ở Thanh Hóa. Cũng trong thời kỳ này có hai tiểu thuyết được nhận tặng thưởng của trung ương. Tiểu thuyết Cõi người của Từ Nguyên Tĩnh viết về nông thôn nông dân với vốn sống phong phú và đa dạng đã đem đến cho người đọc một tác phẩm văn học có sự cuốn hút với những tình tiết chi tiết lý thú về xã hội nông thôn. Tác phẩm đã được Hội Nhà văn Việt Nam tặng thưởng trong cuộc thi tiểu thuyết năm 2005. Tiểu thuyết Giải hạn của Trần Hiệp cũng viết về nông thôn nông dân nhưng lại đề cập đến vấn đề cán bộ đảng viên ở một địa phương kéo bè kéo cánh lật đổ người có tài có đức để dễ bề thao túng. Đây cũng là tác phẩm được đông đảo bạn đọc mến mộ và được ủy ban Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao tặng thưởng. Nhìn lại 5 năm họat động và sáng tác của Ban văn xuôi chúng ta không thấy sự rầm rộ hay có một sự thể nghiệm nào thật sự đặc biệt. Nhưng phải nói là anh chị em nào cũng đang cố bứt lên chính mình. Không bị câu thúc vì một hợp đồng kế hoạch nào cả trong khi đời sống kinh tế xã hội lấy lợi nhuận làm thước đo thì các nhà văn cần mẫn sáng tạo mà nào dám nghĩ đến lợi nhuận chỉ mong tác phẩm được công bố với chút đỉnh tiền nhuận bút thế mà hầu hết anh chị em không bỏ nghề không tách khỏi đội ngũ những người cầm bút. Với sự nỗ lực ấy hai cây bút Hà Thị Cẩm Anh Nguyễn Văn Đệ đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
    Điều còn lại mà ai cũng thấy đó là đội ngũ những người viết văn. Một số lâu năm không có tác phẩm được công bố một số đã cao tuổi quỹ thời gian sáng tác không còn nhiều một số có viết nhưng chưa bứt lên được vẫn đi theo lối viết của nhiều năm trước. Trong khi đó lực lượng viết văn trẻ vẫn còn lờ mờ hiện đấy ẩn đấy chưa rõ những ai sẽ là cây bút văn xuôi trẻ của xứ Thanh trong những thập kỷ tới. Đó là điều đáng lo lắng.
    Mặt khác trong tất cả các tác phẩm đã được công bố thế hiện ở một số tác phẩm có cảm giác như đầu Ngô mình Sở. Điều ấy không coi là khuyết điểm hay yếu kém mà đó là sự trăn trở để có cách vượt lên. Nhưng quan trọng là viết là cái gì. Sự nghiệp đổi mới 20 năm qua đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề nhiều con người cụ thể. Đó là cái mỏ để mỗi cây bút văn xuôi khai thác. Cái còn lại là chúng ta đã thâm nhập thực tế chưa chúng ta thâu nhận vào tâm khảm mình được bao nhiêu vốn liếng để có thể đủ làm nên tác phẩm? Đã lâu lắm rồi Hội chưa có lần nào tổ chức hoặc tạo điều kiện cho các hội viên văn xuôi đi thực tế dài ngày trong khi hội viên người thì bận bịu công việc cơ quan gia đình người thì đời sống khó khăn nếu không có sự giúp đỡ tạo điều kiện của Hội thì khó mà đắm mình vào thực tế mươi lăm ngày.
    Trong phương pháp tư tưởng cũng như phương châm của người cầm bút thì giữa xây và chống bao giờ cũng phải lấy xây làm chính làm chủ đạo nêu nhiều cái tốt cái hay để cải tạo cái xấu cái dở. Nhưng hoàn toàn không đả động đến cái xấu cái sai là không đúng. Đặc biệt đối với tệ nạn tham nhũng. Chúng ta phải khẳng định chúng là kẻ thù của đất nước cản trở bước đi lên của đất nước làm giảm lòng tin của dân đối với Đảng với Nhà nước mỗi người cầm bút phải góp phần đánh đổ chúng tiêu diệt chúng. Chúng ta đã khám phá những con người rất bình dị tưởng như ngu ngơ thế mà trở thành điển hình tiên tiến của thời kỳ đổi mới trở thành chủ trang trại trở thành giám đốc doanh nghiệp. Tại sao có kẻ miệng nói đạo đức nhân nghĩa vì dân vì nước nhưng lại đục khoét của dân của nước mà chúng ta không khám phá ra? Sức mạnh và sự hấp dẫn của mỗi tác phẩm là sự khám phá là đưa đến cho bạn đọc những điều mà họ có nhu cầu thưởng thức. Những điều đó rất có thể là chúng ta cùng tiếp tục suy nghĩ trong 5 năm tới.

                                                                                         T.H






Nhìn lại năm năm thơ Thanh Hóa
 


                                                    Nhà thơ Mạnh Lê
 


    Qua 25 năm nước nhà hoàn toàn giải phóng và qua mười năm đổi mới thơ Thanh Hóa đã có được những thành tựu hòa chung với nền thơ cả nước khẳng định phẩm chất anh hùng của nhân dân của dân tộc trước những thử thách lớn lao của lịch sử. Những bài thơ được tuyển chọn trong những tuyển tập thơ những bài thơ chùm thơ được giải ở trung ương những tập thơ được giải thưởng văn học Thanh Hóa 5 năm qua 2 lần bình chọn từ 1990 - 2000 và một số bài thơ tập thơ tuy không dự giải nhưng vẫn khẳng định giá trị ở công chúng bạn đọc.
    Hạn chế chủ yếu giai đoạn này là lực lượng sáng tác được bổ xung vào ban thơ khá đông nhưng lực lượng những cây bút trẻ còn rất mỏng manh. Cuộc sống đổi mới kéo theo sự đổi mới của cả nền văn học trong đó sự đổi mới đã trở thành yêu cầu bức xúc song thơ Thanh Hóa đổi mới chậm. Sự đổi mới cách cảm cách nghĩ kể cả sự thể hiện trong thơ Thanh Hóa còn dẫm chân tại chỗ. Thơ Thanh Hóa vẫn tiếp tục phát huy thành tựu của thơ ca chống Pháp và chống Mỹ của thơ ca cả nước là thơ phản ánh hiện thực đời sống hiện thực tâm trạng và chủ yếu là cảm hứng ngợi ca.
    Đây là thời kỳ đòi hỏi thơ Thanh Hóa phải có sự thay đổi trong cách nhìn cách cảm và cách biểu hiện. Trong mỗi bài thơ tập thơ dù chưa hay nhưng phải có những yếu tố mới. Cuộc sống đổi mới thì yêu cầu ở bạn đọc và công chúng yêu thơ cũng thay đổi. Thơ Thanh Hóa đã có tìm tòi trong cách nhìn mới. Hiện thực tâm trạng đã chú ý tới những góc khuất của cá nhân của cộng đồng trong sự va đập của số phận của nhân dân trước số phận của đời sống xã hội. Thơ biểu hiện cái ta chung qua cái tôi riêng một cách đậm nét hơn. Dẫu sao đây cũng là những cố gắng của các tác giả đã có kết quả và kinh nghiệm trong sáng tác còn sự bùng phát ở những lực lượng viết trẻ ở Thanh Hóa hầu như còn quá ít.
    Trong năm năm chúng ta đã xuất bản được 37 tập thơ và trường ca. Trong số 35 tập thơ và trường ca này chúng ta đạt 19 giải thưởng Lê Thánh Tông trong đó 1 giải A 6 giải B và 5 giải C.
    Thời gian năm năm để người sáng tác đầu tư cho một tập thơ có chất lượng cao không nhiều. Song với một phong trào sáng tác tức là số đông những người phấn đấu cho sự đổi mới và phát triển của thơ thì kết quả ấy vẫn còn hạn chế. Một số nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế này:
    - Những người sáng tác chưa thực sự say mê và dồn hết tâm sức cho hoạt động sáng tác thơ.
    Nền thơ Việt Nam đang chuyển động và đổi mới. Nhiều tác phẩm thơ Thanh Hóa không theo kịp với sự chuyển động và biến đổi của thơ hôm nay. Nhiều hội viên chưa có môi trường xã hội và môi trường sách báo để tiếp xúc với không khí đổi mới.
    Cơ chế thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến việc công bố tác phẩm của tác giả và thị hiếu tiếp nhận thơ của độc giả.
Để có tác phẩm thơ có chất lượng cao (tức là thơ hay) phụ thuộc chủ yếu vào tài năng của người sáng tác. Song tài năng phụ thuộc vào sự phấn đấu và rèn luyện của từng cá thể sáng tạo. Việc phát hiện và đầu tư cho những lực lượng sáng tác thơ trẻ của Ban và Hội còn hạn chế.
    Kết quả đạt được của Ban Thơ trong năm năm qua là thơ Thanh Hóa vẫn duy trì và phát huy những kết quả của những chặng đường trước đó. Sơ với trước đây nhiều tác giả thơ đã có ý thức trong việc tìm tòi để đổi mới chậm so với một số địa phương khác lực lượng sáng tác thơ trẻ chưa được bổ sung và ảnh hưởng của thơ Thanh Hóa chưa có tác phẩm thơ đỉnh cao tiêu biểu đóng góp vào sự hình thành một vóc dáng mới của nền thơ Việt Nam thế kỷ XXI.
    Trong năm năm qua so với nhiệm kỳ trước Ban Thơ dù chưa có nhiều tác phẩm thơ có chất lượng cao song vẫn duy trì được hoạt động sáng tác thơ. Mặc dù lực lượng hội viên đông song lực lượng sáng tác trẻ hầu như không có. Thơ Thanh Hóa chưa có được ảnh hưởng trong khu vực và và cả nước. Cái chính là lực lượng sáng tác vẫn chưa có sự say mê quyết tâm cao trong việc  tạo ra những tác phẩm đỉnh cao. Nhiều tác giả còn chạy theo số lượng mà không chú ý tới chất lượng. Thanh Hóa là tỉnh đã có truyền thống thơ có màu sắc và tầm vóc hiện đại như các tác giả thơ thời kháng chiến chống Pháp như Trần Mai Ninh Thôi Hữu Hồng Nguyên Hữu Loan… chắc chắn cùng với sự đầu tư của Hội và sự cố gắng của các tác giả Thanh Hóa sẽ có những tác phẩm thơ đỉnh cao trong sự phát triển chung của nền thơ cả nước.

                                                                                        M.L





Hoạt động nghiên cứu - lý luận
phê bình - dịch thuật Thanh Hóa
năm năm qua
 


                                  Nguyễn Mạnh Hùng
 


    Ban Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình - Dịch thuật có ít người nhưng hoạt động tích cực và hiệu quả. Các hội viên trong Ban đều tập trung khai thác các đề tài lịch sử truyền thống văn hóa của dân tộc địa phương. Đề tài cách mạng và đời sống văn hóa tinh thần thời hiện đại. Nhiều đầu sách công trình được đánh giá có chất lượng về nội dung và nghệ thuật. Đặc biệt trong công tác khảo sát nghiên cứu phê bình.
    Nhiệm kỳ VI các hội viên trong Ban đã ra được 13 đầu sách. Chủ yếu là nghiên cứu phê bình; một đầu sách sáng tác thơ và một đầu sách dịch.
    Ngoài ra còn có hàng chục bài nghiên cứu phê bình văn học in trên các báo tạp chí của trung ương và địa phương. Trong nhiệm kỳ đồng chí Hoàng Tuấn Phổ đã ra 6 đầu sách trong đó có 2 đầu sách: "Hát nhà trò Văn Trinh" "Văn hóa dân gian huyện Hà Trung" được giải của Hội Văn nghệ dân gian việt Nam. 2 đầu sách được giải Lê Thánh Tông của Hội Văn nghệ Thanh Hóa: "Trong mắt tôi" và "Hát nhà trò Văn Trinh". Các đồng chí Nguyễn Xuân Dương xuất bản đợc 3 đầu sách Trịnh Quốc Tuấn 2 đầu sách và Nguyễn Mạnh Hùng lần đầu trình làng tác phẩm "Một vùng quê văn học" đã được trao giải thưởng Lê Thánh Tông.
    Nhiều bài viết mang tính tranh luận phê bình văn học thực sự có tính khoa học được công chúng đón đọc góp phần định hướng thưởng thức thẩm mỹ trong công chúng nghệ thuật. Hoạt động văn hóa-văn nghệ ở cơ sở cụ thể là cơ quan công tác của hội viên những hội viên trong Ban đều là những người hoạt động nòng cốt. Đó là những hoạt động văn hóa văn nghệ học đường của ngành Giáo dục hưởng ứng ngày Thơ Việt Nam rằm tháng Giêng; Tọa đàm Văn nghệ trên sóng phát thanh và truyền hình Thanh Hóa… Các hội viên Hoàng Tuấn Phổ Lưu Đức Hạnh Hỏa Diệu Thúy Nguyễn Mạnh Hùng Trịnh Quốc Tuấn đều có những đóng góp tích cực và hiệu quả.
    Toàn thể hội viên trong Ban đều có ý thức đoàn kết trân trọng công việc của nhau nâng niu từng sản phẩm sáng tạo. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh về tổ chức mặc dù ít người. Công tác của mỗi người đều có hiệu quả và có tín nhiệm trong Hội.
    Tuy vậy Ban cũng có những hạn chế nhất định. Cũng như tình hình trong cả nước công tác lý luận nghiên cứu phê bình đặc biệt là lý luận còn lúng túng khả năng định hướng sáng tác chưa cao; công tác phê bình còn mang tính phong trào chưa dám chỉ ra những hạn chế trong sáng tác và tạo được các cuộc tranh luận bổ ích gây sự chú ý theo dõi trong công luận.
Phát huy tinh thần luôn học hỏi lẫn nhau trong học thuật trau dồi phẩm chất chính trị tốt bản lĩnh nghề nghiệp và chịu trách nhiệm với những công trình sáng tạo của mình. Mỗi hội viên trong Ban đều đang âm thầm làm việc khiêm tốn đóng góp công sức của mình bằng những công trình và tác phẩm vì một nền văn học nghệ thuật tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và rõ nét văn hóa xứ Thanh.
                                                                               N.M.H

More...

Diễn đàn đại hội

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Mỹ thuật Thanh Hóa năm năm qua


                                                                       Họa sĩ Thanh Sơn
 
 
    Trong nhiệm kỳ vừa qua Hội Văn nghệ Thanh Hóa đã trực tiếp tổ chức và phối kết hợp với Bộ VH-TT Hội Mỹ thuật Việt Nam Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa trường Cao đẳng VH-NT Thanh Hóa Trung tâm văn hóa - thông tin tỉnh Thanh Hóa và đặc biệt là Trung tâm Triển lãm - Hội chợ - Quảng cáo tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức trưng bầy 21 cuộc triển lãm mỹ thuật tập thể và nhóm tác giả bao gồm 958 tác phẩm hội họa đồ họa điêu khắc ký họa.v.v… của 560 lượt tác giả trong đó đã tham gia các cuộc triển lãm Mỹ thuật khu vực Bắc miền Trung và Tây Nguyên và triển lãm mỹ thuật Toàn quốc có 8 cuộc gồm 147 tác phẩm của 127 lượt tác giả. Ngoài ra Sở VH-TT đã xét giải thưởng và chọn gần 10 ngàn bản tranh cổ động để tuyên truyền ngày Bầu cử Quốc hội khóa XI Bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và Chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVI. Trước những thoạt động sôi động đó Mỹ thuật Thanh Hóa đã nhận được 106 giải thưởng trong đó có 19 giải thưởng trung ương và 87 giải thưởng địa phương. Đó là kết quả của sự nỗ lực chủ động say mê sáng tác của toàn thể giới mỹ thuật tỉnh ta người trực tiếp sáng tạo tác phẩm cho dù hoàn cảnh và điều kiện sống môi trường công tác.v.v.. có những thuận lợi và khó khăn rất khác nhau.
    Có thể nói trong năm năm qua hoạt động sáng tạo mỹ thuật có những bước tiến bộ mới. Nội dung đề tài được mở rộng các tác giả bắt đầu có ý thức cấu tứ để thành tranh ngôn ngữ tạo hình một bước được tìm tòi sáng tạo hơn so với những năm trước bởi được tiếp thu học hỏi giao lưu qua các kỳ triển lãm mỹ thuật toàn quốc khu vực… Các tác giả là hội viên cao tuổi vẫn tiếp tục sự nghiệp sáng tạo bên cạnh các họa sĩ trẻ đầy nhiệt huyết năng nổ say mê sáng tác tìm tòi cái mới. Một số tác phẩm có giá trị về đề tài lịch sử cách mạng kháng chiến và công cuộc đổi mới đã đáp ứng được một phần nào đó cuộc sống ở tỉnh ta hôm nay. Tuy nhiên các tác giả mặc dù đã được đầu tư bằng tài trợ sáng tác của chính phủ và của tỉnh song vẫn chưa chú trọng tìm tòi những chất liệu mới để thể nghiệm. Điêu khắc đã bắt đầu được khởi sắc trong 4 năm gần đây một số tác phẩm phù điêu tượng tròn đã được xuất hiện trong Triển lãm Mỹ thuật trong tỉnh khu vực Toàn quốc và đã giành được giải thưởng điều đó rất đáng tự hào. Đồ họa được phát triển mạnh mẽ và thu được những thành công đáng kể. Các loại hình tranh cổ động để phục vụ chính trị biểu trưng (lô gô) bìa sách minh họa nhãn hàng thương phẩm v.v…đã đi vào đời sống ứng dụng tốt trong đời sống nhân dân và giành được nhiều giải thưởng trong đó có giải thưởng cao qua các kỳ triển lãm mỹ thuật trong tỉnh và khu vực. Tuy vậy vẫn còn vắng bóng các loại tranh khắc gỗ đồng thạch cao v.v… Công tác lý luận phê bình mỹ thuật còn yếu mặc dù đã có một số bài viết về nghiên cứu mỹ thuật nhưng chưa sâu chưa chuyên nghiệp và vẫn còn quá ít được xuất hiện trên các tờ báo và tạp chí trong tỉnh cũng như là trung ương để được trao đổi thể nghiệm về học thuật nhằm mang đến cho độc giả hiểu rõ hơn về giá trị của các tác phẩm nghệ thuật góp phần định hướng thẩm mỹ cho công chúng và thúc đẩy sự nghiệp sáng tác phát triển.

                                                                           T.S



Âm nhạc Thanh Hóa năm năm qua


                                                            Nhạc sỹ Mai kiên


    Năm năm qua lãnh đạo Hội Văn nghệ đã luôn tạo điều kiện để ban Âm nhạc hoạt động sáng tác nghiên cứu nâng cao trình độ. Tổ chức cho ban Âm nhạc đi tham quan giao lưu với các tỉnh bạn. Tạo kinh phí để các tác giả tổ chức đêm nhạc và in ấn giới thiệu tác phẩm với công chúng.
Về phần mình các nhạc sỹ cũng luôn bám sát thực tế để sáng tác. Nhiều tác phẩm đã được in ấn dàn dựng giới thiệu trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình Thanh Hóa và trung ương trong các cuộc hội diễn trong tỉnh và cả nước. Các nhạc sỹ đã tích cực tham gia các cuộc thi sáng tác do trung ương ngành tỉnh phát động như cuộc thi sáng tác về đề tài an toàn giao thông sáng tác về miền núi và dân tộc cuộc thi sáng tác ca khúc chào mừng kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ cuộc thi sáng tác về các lãnh tụ cuộc thi sáng tác ca khúc chào mừng kỷ niệm 200 năm thành phố Thanh Hóa.
    Về lực lượng Ban có 39 hội viên trong đó có 14 hội viên Hội Nhạc sỹ Việt Nam. Hầu hết các tác giả đã bám sát thực tế đổi mới của quê hương đất nước sáng tác hàng trăm tác phẩm âm nhạc bằng nhiều thể loại: Nhạc không lời hợp xướng thanh xướng kịch ca khúc… với chất lượng ngày càng được nâng cao. Phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị được quần chúng yêu âm nhạc yêu mến.
    - Về nhạc không lời: có xô nát "Quê hương" của Đồng Tâm "Âm điệu xưa" của Xuân Liên.
    - Về hợp xướng: có hợp xướng về dầu khí Vũng Tầu của Hoàng Sâm "Kỷ niệm Hàm Rồng" của Đồng Tâm Thanh xướng nhạc-kịch của Hoàng Sâm.
    - Về sáng tác ca khúc: Hàng trăm ca khúc mới nhiều tác phẩm chất lượng khá đã được dàn dựng biểu diễn giới thiệu trên sóng phát thanh truyền hình trung ương như: "Về làm dâu Sông Mã" "Hát về anh thương binh" "Em chỉ là em thôi"của Đồng Tâm "Xin đừng mãi vô tình" của Nguyễn Liên "Sông quê" của Thế Việt "Em yêu trường Pù Nhi" "Quan họ lên Sa Pa" "Rộn rã cồng chiêng" của Mai Kiên "Cây bút mùa xuân" của Đoàn ứng "Pha Lát mây" của Băng Xuân…
    Nhiều ca khúc đoạt giải trong các cuộc thi của các tác giả: Xuân Liên Hoàng Sâm Hoài Nam Mai Kiên Thế Việt Đồng Tâm; cùng nhiều ca khúc chất lượng khá của Đức Phong Đỗ Hoài Nam Lê Khanh Cao Ngôi Văn Tuyên Xuân Chung…
    - Về in ấn giới thiệu tác giả tác phẩm: Hội và Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh giới thiệu trên sóng cho các tác giả âm nhạc. Hội đã tài trợ kinh phí cho 4 đêm nhạc của 4 tác giả đạt kết quả tốt. Ngoài ra các tác giả đã tuyển chọn in ấn xuất bản các tập ca khúc của Hoàng Sâm Mai Kiên Cao Văn anh. Đồng thời còn phối hợp cùng Sở Văn hóa - Thông tin tuyển chọn giới thiệu tập "Nửa thế kỷ ca khúc xứ Thanh" gồm các ca khúc có chất lượng của các tác giả là hội viên Âm nhạc Thanh Hóa.
    - Sưu tầm nghiên cứu lý luận Âm nhạc: Có ba tác giả đi sâu vào lĩnh vực này là Văn Hòe Hoàng Sâm Nguyễn Liên. Văn Hòe tập trung sưu tầm nghiên cứu giới thiệu công trình hò sông Mã; nghiên cứu diện mạo tầm vóc Ca công Thanh Hóa; Nhạc tấu ngũ chương. Hoàng Sâm đi sâu vào đề tài dân ca hò sông Mã và đã thành công. Nguyễn Liên ngoài giảng dạy lý luận ở trường anh đã hoàn thành công trình "Âm nhạc trong diễn xướng dân gian múa đèn Thanh Hóa".
    - Hoạt động biểu diễn: Ngoài những hội viên già yếu các hội viên khác luôn say sưa hoạt động biểu diễn phục vụ tốt nhu cầu văn nghệ của quần chúng nhân dân.
Tóm lại Nhiệm kỳ VI Ban Âm nhạc Hội Văn nghệ Thanh Hóa đã luôn sáng tác sưu tầm nghiên cứu biểu diễn ngày một chất lượng hơn. Đảm bảo đúng quan điểm đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng: Tiên tiến hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc. Xét trên bình diện chung là lực lượng khá mạnh so với một số tỉnh bạn. Góp phần vào thành tích chung của Hội Văn nghệ Thanh Hóa.

                                                                                   M.K





Lao động sáng tạo vì sự nghiệp Múa


                                           Biên đạo múa Thiều quang Toa


    Đại hội VI Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa được tổ chức vào giữa những năm đầu của thế kỷ XXI (năm 2001) Ban Múa lúc bấy giờ có 10 hội viên. Đến giữa nhiệm kỳ (năm 2003) phát triển thêm được 3 hội viên. đến nay Ban Múa có 13 hội viên gồm đủ các "binh chủng" nghề nghiệp của chuyên nghành Múa: Sáng tác (Biên đạo) huấn luyện diễn viên. Hội viên Múa số đông tập trung làm việc tại Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn còn một bộ phận nhỏ đã nghỉ hưu thì rải khắp địa bàn trong tỉnh.
    Do đặc điểm trên nên việc sinh hoạt Ban không được thường xuyên nhưng anh em đoàn kết động viên nhau lao động sáng tạo để có nhiều chương trình múa đáp ứng nhu cầu của đông đảo khán giả và đòi hỏi của phong trào.
Nghệ sỹ ưu tú Hoàng Hải Biên đạo Quang Toa và những biên đạo trẻ như NSUT Hoàng Dùng Xuân Phú Quang Trung Minh Thuần Minh Thu Mạnh Hoàng Hoàng Oanh… đã tham gia sáng tác dàn dựng hàng trăm lượt đơn vị trong suốt năm năm qua rất nhiều chương trình ca nhạc và các tiết mục múa độc lập để Nhà hát cũng như các đơn vị các ngành trong toàn tỉnh đi tham gia liên hoan hội diễn ngành khu vực trung ương… Trên địa bàn toàn tỉnh hễ có Liên hoan ca - múa - nhạc hội diễn văn nghệ là đội quân biên đạo múa lại ra quân và lần nào cũng đem về thành tích cao…
    Ngoài công việc dàn dựng chương trình sáng tác tiết mục cho các cuộc hội thi hội diễn giao lưu… lực lượng múa còn đảm đương các chương trình lễ hội lớn của tỉnh như Lễ hội Lam Kinh lễ hội Lê Hoàn Mai An Tiêm Ba Đình Ngọc Trạo… các màn múa đông người (quần vũ) cho các Đại hội thể thao các ngày lễ của tỉnh và các ban nghành của tỉnh.
    Nhiệm kỳ VI Ban Múa đã khởi sắc. Trình độ chuyên môn đã được nâng lên một cách rõ rệt từ các nguồn đào tạo như Khoa Biên đạo múa - Trường đại học Sân khấu điện ảnh Hà Nội các trại sáng tác các lớp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ của Hội nghệ sĩ Múa Việt Nam. Hội viên Múa lần lượt được cử đi trau dồi nghiệp vụ. Biên đạo múa Xuân Phú Hoàng Oanh tốt nghiệp đại học SKĐA Hà Nội Hoàng Dùng Quang Trung Minh Thu Minh Thuần lần lượt được cử đi dự các trại các lớp do Hội nghệ sỹ Múa Việt Nam tổ chức. Do vậy nên hầu hết các biên đạo đều có từ 1 đến 3 tác phẩm múa độc lập điều mà trước kia chưa có được. Đáp ứng tốt một phần của sân khấu chuyên nghiệp và nhu cầu ngày càng tăng của múa phong trào.
    Bám sát thực tiễn cuộc sống động viên hỗ trợ nhau trong công việc sáng tạo say sưa vì trách nhiệm của người nghệ sĩ và vì sự nghiệp Múa Ban Múa quyết tâm phát huy những kết quả đã đạt được làm động lực cho sự phát triển của nghệ thuật Múa địa phương góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng đời sống mới làm đẹp giàu cho con người và quê hương xứ Thanh.
                              
                                                                                 T.Q.T



Sân khấu Thanh Hóa trong

cơ chế thị trường


                                  Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Quyền


    Sau một thời kỳ nóng bỏng trong không khí "sát nhập" "giải thể" đến nay các đơn vị nghệ thuật của chúng ta đã tạm bình ổn.
    Chúng ta cần lên tiếng để mọi người nhận thức rằng các đơn vị nghệ thuật sân khấu không chỉ là nơi giải quyết công ăn việc làm cho mấy chục con người mà họ là những người được tuyển chọn năng khiếu được học tập và đào tạo để gìn giữ tài sản tinh thần nghệ thuật quý báu của tiền nhân để lại. Làm ấm lòng người hôm nay chuyển lửa cho mai sau và làm giàu làm say làm đẹp cho miền quê chúng ta. Kinh tế ngày càng phát triển cơ sở vật chất đời sống xã hội được nâng cao các tài sản nghệ thuật ấy càng trở nên quý giá. Có thể hiện tại kinh tế của chúng ta còn khó khăn nên gom nhặt vài ba đơn vị sân khấu vào một tổ chức để tiết kiệm dăm bảy định biên nhưng để cho nghệ thuật phát triển thì nhất định phải hướng tới chuyên môn sâu. Giải thể sát nhập không khó. Nhưng sẽ khó hơn nhiều khi chỉ lo xây dựng các cơ sở kinh tế thương mại thể thao mà không quan tâm tới bộ mặt văn hóa đặc sắc riêng của địa phương mình. Sân khấu luôn là phần lộ thiên của diện mạo văn hóa đó.
    Thích nghi dần với hoạt động nghệ thuật trong cơ chế kinh tế thị trường các đơn vị sân khấu đã bớt ỷ lại vào kinh phí ngân sách. Biết huy động nhiều nguồn lực mở rộng địa bàn tăng cường quảng cáo tiếp thị làm đất hoạt động cho diễn viên tăng thu nhập và kéo khán giả đến với sân khấu.
Điều dễ thấy nhất ở sân khấu tỉnh ta rất lành nhưng chưa mạnh. Thiếu các vở diễn thật mới lại đủ sức lôi cuốn khán giả. Một số vở diễn dàn dựng nghiêm túc có vở đạt mức hoành tráng diễn viên giỏi nhưng tìm khán giả vẫn khó như: "Đời cát" "Người cần được bảo vệ" "Trống trận Ba Đình" "Bí sử chốn thâm cung"…
    Sân khấu dân tộc truyền thống an tâm với việc bảo lưu tác phẩm trình thức… mà ít có những tìm tòi thử nghiệm táo bạo hiệu quả.
Sân khấu có các vở diễn hiện đại nhưng vẫn nặng về tính thời sự báo chí. Để đạt tới đỉnh cao là tác phẩm nghệ thuật ta vẫn thấy thiếu vắng cái gì đó. Các nhân vạt chưa có sức thuyết phục với tư cách là một hình tượng. Nghệ sĩ trẻ của sân khấu truyền thống lấy việc thuộc lòng vai mẫu làm đích phấn đấu. ít ai có ý thức chủ động làm thanh xuân vai diễn không chỉ bằng tuổi tác mà cả bằng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Những năm qua đời sống xã hội được nâng cao tỉnh ta diễn ra nhiều lễ hội lớn trong đó phần lớn là chương trình sân khấu hóa. Đây là một bộ môn nghệ thuật mới. Nhiều tác giả đạo diễn lễ hội ra đời. Chính các diễn viên ở các đơn vị nghệ thuật và diễn viên không chuyên ở các địa phương là lực lượng chủ lực tham gia lễ hội. Họ tôn vinh được bản sắc nghệ thuật xứ Thanh và tham gia tích cực việc khôi phục các vùng văn hóa: Miền biển đồng bằng miền núi. Được các vị quan khách nhân dân khắp nơi khen ngợi. Rất tiếc loại hình nghệ thuật này chưa được giới nghệ thuật chúng ta chấp nhận và vun đắp cho nó ngày càng phát triển.
    Trong nhiệm kỳ qua Ban đã làm tốt là cầu nối giữa Thường trực Hội và hội viên. Tham gia các hội đồng xét giải thưởng Lê Thánh Tông và xét tài trợ hàng năm. Bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của hội viên trong đó có sáng tạo nghệ thuật và giới thiệu nghệ sĩ trẻ vào Hội đảm bảo chất lượng.
Từ đại hội đến đại hội có những người trong chúng tôi đã hoàn thành sứ mệnh nghệ sĩ nghiệt ngã đầy hoa và nước mắt của mình. Nhiều người đang bước tiếp chặng đường vất vả khắt khe nhưng chúng tôi nguyện là con tằm mãi mãi vương tơ góp phần thêu dệt cho bức tranh văn học nhệ thuật quê nhà nên gấm nên hoa.
                                                                                N.Q




Sáng tạo kiến trúc và hoạt động của

Hội Kiến trúc sư Thanh Hóa

                                                         
                                                         Kiến trúc sư Thanh Long


    Sự chuyển đổi cơ chế đòi hỏi ngày càng cao của các chủ đầu tư nhiều tư vấn thiết kế phải tham gia đấu thầu nhiều dự án kiến trúc phải tổ chức thi tuyển các nhân tố trong lựa chọn và cạnh tranh ngày càng gay gắt quyết liệt đã đưa nền kiến trúc có những thay đổi đột biến. Kiến trúc hôm nay có được nhiều hơn những gì cần cho hành nghề cho sáng tạo kiến trúc hơn hẳn giai đoạn những năm trước đây.
    Với cách nhìn tổng quát và có giới hạn từng khu vực chúng ta dễ nhận ra bộ mặt kiến trúc thành phố Thanh Hóa các thị xã thị trấn huyện lỵ các khu vực dân cư đô thị các khu chức năng kinh tế tập trung hạ tầng đô thị v.v… đã có sự đa dạng phong phú trong các công trình công sở công trình văn hóa công trình công cộng các khu nhà ở khu công nghiệp tập trung. Song trong sáng tác kiến trúc công trình trong bố trí quy hoạch sự kết hợp được hài hòa giữa công năng và hình thức để đạt được mọi yêu cầu quả là vấn đề khó. Vì vậy kiến trúc đô thị ở Thanh Hóa còn bộc lộ nhiều thiếu sót chưa tạo được sự hấp dẫn và thực chất chưa có bản sắc riêng. Và dù có du nhập các trào lưu kiến trúc ở khắp đất nước thì sự chọn lọc còn thiếu tinh tế kỹ càng.
    Các công trình đẹp công trình tiêu biểu xuất hiện rất ít. Đây là vấn đề mang tính thách thức với giới kiến trúc sư Thanh Hóa. Các thủ pháp nghiên cứu đòi hỏi tư duy sáng tạo trong tổ chức không gian bố cục mặt bằng hình khối mặt đứng cách sử dụng vật liệu màu sắc kỹ thuật hoàn thiện và thổi hồn truyền thống dân tộc vào phong cách kiến trúc hiện đại chưa làm được mấy.
    Tốc độ xây dựng nhanh vốn đầu tư không phải ít song vẫn chưa tạo ra được bộ mặt đô thị hiện đại thể hiện ở khâu quy hoạch kế hoạch đầu tư tổ chức và quản lý đô thị. Tính quy hoạch và phong cách kiến trúc chưa tạo lập được những tổng thể kiến trúc đẹp thậm chí cả những đại lộ những đường phố quan trọng trong đô thị. Giải pháp nhà chia lô liền kề nhà ống cần được cân nhắc một cách cẩn trọng. Đúng là đường phố có lớn thêm nhà xây cao hơn mà phố vẫn chưa đẹp.
    Hiện tại mức độ đô thị hóa của cả nước đang diễn ra rất nhanh đặc biệt là vùng nông thôn. Nếu không thận trọng trong nghiên cứu quy hoạch thiết kế công trình chúng ta rất dễ mắc sai lầm là đem cái phong thái kiến trúc từ thành phố về nông thôn áp dụng một cách vụng về cắt xén thêm bớt một cách tùy tiện làm cho công trình không thích dụng thiếu mỹ quan phô trương hình thức một cách kệch cỡm trong khi điều kiện khí hậu phong tục tập quán cảnh quan điều kiện kinh tế mỗi nơi mỗi khác.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng các chính sách chế độ quản lý của nhà nước đối với ngành nghề tư vấn thiết kế kiến trúc năm năm qua với lực lượng hội viên là 43 người (trong đó gần 1/2 số hội viên hoạt động ở các lĩnh vực quản lý nghỉ hưu sức khỏe yếu… nên không trực tiếp tham gia thiết kế sáng tác kiến trúc) song nhiệm kỳ 2000 - 2005 Hội Kiến trúc sư (KTS) Thanh Hóa đã tham gia thiết kế và sáng tác kiến trúc khoảng 1.650 công trình lớn nhỏ trên tất cả các thể loại ở hầu hết các địa bàn trong tỉnh đáp ứng phần quan trọng trong yêu cầu xây dựng của tỉnh nhà.
    Nhiệm kỳ qua Hội đã được Hội KTS Việt Nam giao 2 công trình điều tra nghiên cứu thuộc T.Ư là điều tra lập quy hoạch một làng xã có tính đặc thù ở Thanh Hóa và nhận xét đánh giá xu hướng kiến trúc ở Việt Nam sau 10 năm đổi mới. Đã được hội đồng nghiệm thu của Hội KTS Việt Nam đánh giá vào loại tốt.
    Nhiệm kỳ qua hội viên của Hội KTS Thanh Hóa đã được Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa trao giải thưởng Lê Thánh Tông gồm: 01 giải A; 01 giải B; 01 giải C.
    Ngoài thực hiện nhiệm vụ nghề nghiệp Hội KTS Thanh Hóa đã tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa khác đáp ứng được kỳ vọng của hội viên cũng như mong muốn của mọi người.
    Đất nước ta đang bước vào thế kỷ 21 thế kỷ có nhiều biến động đổi mới mạnh mẽ: Công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa hội nhập quốc tế…
Sự nghiệp kiến trúc và công tác sáng tác của KTS đang là mối quan tâm của nhân dân và của toàn xã hội. Hội KTS đang thâm nhập vào cuộc sống một cách sinh động mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Góp phần làm nhịp điệu cuộc sống thêm sôi động phản ánh bước đi lên của toàn xã hội. Nhận thức được vai trò của KTS trong sự nghiệp phát triển kinh tế văn hóa xã hội phát triển đô thị và nông thôn trong tỉnh hoạt động của Hội cần có chiều sâu cả về chất lượng lẫn phong trào. Tập hợp được đông đảo KTS nhằm phát huy trí tuệ từng người và của Hội. Phát huy được những nhân tố cần thiết của người sáng tác nhằm cống hiến ngày càng nhiều hơn cho sự phát triển bản sắc kiến trúc xứ Thanh và đất nước.
                                                                                T.L

More...

Diễn đàn đại hội

By Văn Nghệ Xứ Thanh


ảnh nghệ thuật Thanh Hóa
nhiệm kỳ VI

                                  Xuân Thắng


    thể khẳng định chưa bao giờ hoạt động nhiếp ảnh lại sôi nổi hào hứng và đạt được nhiều thành tựu như trong nhiệm kỳ VI.
Khác với các bộ môn khác hoạt động sáng tác của nghệ sỹ nhiếp ảnh nằm ngay trong quá trình đi thực tế. Vì vậy Hội đã tổ chức 4 cuộc vận động sáng tác lớn là: Cuộc vận động sáng tác ảnh đẹp xứ Thanh cuộc vận động sáng tác ảnh miền Tây Thanh Hóa cuộc thi sáng tác ảnh về Thanh phố Thanh Hóa và cuộc vận động sáng tác ảnh về Đồng bằng và duyên hải Thanh Hóa Bám sát vào chủ đề 3 cuộc vận động tác tác trên hội viên Ban ảnh đã sôi nổi hào hứng mở nhiều đợt đi thực tế sáng tác mang về nhiều tác phẩm ảnh đẹp về con người và vùng đất xứ Thanh.
    Hội cũng đã tổ chức cho các nghệ sĩ nhiếp ảnh 5 lần đi thực tế ra ngoài tỉnh vào các dịp liên hoan ảnh khu vực.
    Ngoài hình thức đi tập thể do Hội tổ chức lãnh đạo Ban ảnh và anh em hội viên còn chủ động tổ chức nhiều chuyến đi thực tế theo hình thức nhóm tổ hoặc cá nhân. Hầu hết các nghệ sỹ nhiếp ảnh ở vùng thành phố và ven biển đã nhiều lần đi thực tế tại vùng núi miền Tây Thanh Hóa và ngược lại các nghệ sỹ ở miền Tây cũng hăng hái đi sáng tác tại duyên hải. Việc chủ động tổ chức những chuyến đi thực tế chéo như vậy đã tạo cho ảnh Thanh Hóa đa dạng về chủ đề cách thể hiện lại tránh được tình trạng chồng chéo lên nhau.
    Những chuyến đi thực tế ấy đã mang về hàng trăm tác phẩm nhiếp ảnh trong đó có một số tác phẩm đạt chất lượng cao  được treo và đoạt giải thưởng cao trong các triển lãm ảnh khu vực và toàn quốc.
    Từ thực tế hoạt động của nhiếp ảnh Thanh Hóa nhiệm kỳ VI vừa qua có thể khẳng định rằng: Hoạt động sáng tác của nhiếp ảnh chính là những chuyến đi thực tế nằm ngay trong quá trình đi thực tế. Không đi thực tế không bao giờ có ảnh nghệ thuật.
    Trong nhiệm kỳ VI Hội đã tổ chức trưng bày 5 cuộc triển lãm tập thể là: Triển lãm ảnh đẹp xứ Thanh có 105 tác phẩm được trưng bày; Triển lãm ảnh miền Tây Thanh Hóa có 98 tác phẩm được trưng bày; Triển lãm ảnh về thành phố Thanh Hóa có 79 tác phẩm được trưng bày; Triển lãm ảnh về kiến trúc Thanh Hóa có 110 tác phẩm được trưng bày và sắp tới triển lãm về Đồng bằng và duyên hải Thanh Hóa dự kiến 80 tác phẩm được trưng bày.
Bên cạnh việc triển lãm tập thể nhiệm kỳ VI cũng là nhiệp kỳ tổ chức được nhiều cuộc triển lãm cá nhân với quy mô lớn tạo được dấu ấn trong công chúng yêu ảnh nghệ thuật Thanh Hóa. Những cuộc triển lãm đó là: Triển lãm Nét đẹp xứ Thanh của Trần Đàm; Triển lãm Miền đất ngọt của Trương Bá Vinh; Triển lãm của nhóm tác giả Trần Đàm Xuân Thắng và Lê Dậu; Triển lãm của 2 tác giả Trương Bá Vinh và Nguyễn Thống.
    Trong nhiệm kỳ VI ảnh Thanh Hóa đã tham gia 6 lần liên hoan ảnh khu vực trong đó có một lần Hội Văn nghệ Thanh Hóa đăng cai. Trong 14 kỳ dự liên hoan ảnh khu vực từ năm 1994 đến nay lần đầu tiên Thanh Hóa có Huy chương Vàng. Ngoài 1 Huy chương Vàng trong liên hoan ảnh khu vực từ năm 2001 đến nay Thanh Hóa còn có 3 Huy chương Bạc và một số giải khuyến khích.
    Trong triển lãm ảnh toàn quốc các năm 2001 2003 2006 Thanh Hóa đều có ảnh được trưng bày trong đó năm 2006 có tới 5 tác phẩm là năm Thanh Hóa có số tác phẩm được treo trong triển lãm toàn quốc nhiều nhất từ trước tới nay.
    Chất lượng về nội dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện cũng có tiến bộ khá rõ rệt. Đặc biệt mảng ảnh về công trình thủy điện Cửa Đặt một công trình mang tầm cỡ quốc gia là mảng ảnh thành công của nhiếp ảnh Thanh Hóa. Riêng mảng ảnh về công trình thủy điện Cửa Đặt này đã có 5 giải thưởng trong các triển lãm khu vực và toàn quốc.
Tuy nhiên nhiếp ảnh Thanh Hóa còn bộc lộ 2 hạn chế cơ bản sau đây:
- Nhìn chung ảnh Thanh Hóa vẫn là ảnh phong cảnh và sinh hoạt thông thường những tác phẩm có tầm khái quát cao tạo ra đột biến hầu như chưa có.
    Bên cạnh sự lao động hăng hái cần mẫn nhiếp ảnh Thanh Hóa vẫn cần một sự đầu tư về trí tuệ và cả vật chất để vượt lên.
Cũng trong nhiệm kỳ VI Ban ảnh kết nạp được 9 hội viên là một trong những Ban kết nạp được nhiều hội viên nhất của Hội.
Cũng trong nhiệm kỳ VI có 5 hội viên Ban nhiếp ảnh được kết nạp vào Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam. Việc thành lập Chi hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam tại Thanh Hóa đã tạo ra động lực mới cho phong trào nhiếp ảnh Thanh Hóa phát triển. Đến nay Ban ảnh nghệ thuật Thanh Hóa có 28 hội viên đang sinh sống và công tác trong tỉnh trong đó có 5 là hội viên Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam.
    Việc phối hợp hoạt động giữa Chi hội nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam tại Thanh Hóa với Thường trực Hội và Ban ảnh vẫn gắn bó chặt chẽ. Đó là những thuận lợi cơ bản để hoạt động nhiếp ảnh Thanh Hóa tiếp tục phát triển trong những năm tới.
    Chúng ta hy vọng rằng nhiệm kỳ VII là nhiệm kỳ phong trào nhiếp ảnh Thanh Hóa phát triển mạnh mẽ và bền vững cả hai phương diện đội ngũ và chất lượng tác phẩm.
                                                                                           X.T   

More...

Nghiên cứu-phê bình

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh qua tác phẩm



Gian nan rèn luyện mới thành công

(Văn thung mễ thanh - Nghe tiếng giã gạo)



                                                        Lê Xuân Đức



        Mễ bị thung thì hấn thống khổ
        Ký thung chi hậu bạch như miên;
        Nhân sinh tại thế dã giá dạng
        Khốn nạn thị nhỉ ngọc thành thiên.

Văn Trực - Văn Phụng dịch thơ:

        Gạo đem vào giã bao đau đớn
        Gạo giã xong rồi trắng tựa bông;
        Sống ở trên đời người cũng vậy
        Gian nan rèn luyện mới thành công.(1)

    Có nhà nghiên cứu văn học coi bài thơ này của Bác như một câu chuyện ngụ ngôn và phân tích nó như cách phân tích một truyện ngụ ngôn. Có lẽ nhầm ở chỗ bài thơ một phần giống đặc điểm của truyện ngụ ngôn là nói sự vật để nói con người nói một vấn đề nhân sinh. Đây hoàn toàn không phải là câu chuyện ngụ ngôn hay coi như là một truyện ngụ ngôn được mà là một chuyện thực.         Bác Nghe tiếng giã gạo đầu đề bài thơ đã nói thế.
    Câu thơ mở đầu Bác nói chuyện gạo đang bị giã và sự đau đớn của nó. Nhưng câu thơ dịch không chuẩn đã làm sai ý thơ của Bác: gạo đang bị giã chứ không phải gạo đem vào giã. Nguyên chữ nghĩa là Mễ bị thung thì hấn thống khổ tức là Gạo lúc đang bị giã rất đau đớn. ở trong tù Bác nghe tiếng giã gạo tưởng tượng đến những hạt gạo đang bị giã trầy da trớt vỏ ngập chìm trong đau đớn bị giã hoàn toàn ở thế bị động. Cái hay của hai câu thơ đầu là sự chuyển từ thế bị động sang thế chủ động. Lúc đang bị giã đến khi giã xong rồi và từ bao đau đớn đến trắng tựa bông phải qua thời gian một quá trình:
        Mễ bị thung thì hấn thống khổ
        Ký thung chi hậu bạch như miên;
        (Gạo đem vào giã bao đau đớn
        Gạo giã xong rồi trắng tựa bông)
    Từ chuyện giã gạo Bác nghĩ đến chuyện đời người chuyện con người ở đời:
        Nhân sinh tại thế dã giá dạng
        Khốn nạn thị nhỉ ngọc thành thiên.
        (Người sống trên đời cũng như vậy
        Gian nan là dịp rèn rũa mình thành ngọc)
    Câu thơ dịch Gian nan rèn luyện mới thanh công đã toát được cái diện mạo tinh thần của bài thơ cái chân lý chung ở đời nhưng chưa gắn được với cái cụ thể gian nan lúc ấy là lúc mà Bác đang trải qua Gian nan là dịp rèn rũa mình.
    Bài thơ có nói đến chuyện người ở đời đến cái chung nhưng cái chính vẫn là Bác đang tự nói về mình nói với mình tự động viên mình tự khuyên mình. Mình đang bị cầm tù bị đầy đọa như gạo đang bị giã nhưng nhất quyết không để cho gian nan khổ cực mà phải chủ động biến đau đớn thành dịp rèn rũa mình thành ngọc. Phải có phương pháp đúng hành động đúng để đi đến thành công. Bài thơ tự nó tỏa rạng một trí tuệ một bản ngã. Và cũng tự nó bộc lộ một quan điểm một triết lý nhân sinh giúp ích cho đời.
    Kể cũng cần nói thêm một chút về kết cấu bài thơ và ý nghĩa của kiểu tổ chức kết cấu phục vụ cho việc bộc lộ chủ đề. Bài thơ Nghe tiếng giã gạo có hai tầng nghĩa: tầng nghĩa thực và tầng nghĩa triết lý. Loại thơ này ta bắt gặp một số bài trong Nhật ký trong tù như: Nghe tiếng gà gáy Cột cây số Tự khuyên mình. ở tầng nghĩa thực Bác thường kể hoặc miêu tả quá trình sự vật hiện tượng làm tiền đề để bật ra tầng nghĩa triết lý. Tầng nghĩa triết lý là tư tưởng bài thơ được bộc lộ hoặc rút ra ở cuối bài thơ nhưng bản thân sức thuyết phục lại nằm ở tầng nghĩa thực. Gạo đang bị giã đau đớn. Gạo giã xong trắng tựa bông. Con người ở đời cũng cũng vậy gian nan khổ cực rèn luyện mới thành công. Bài thơ đi vào lòng người thuyết phục là từ sự đau đớn của hạt gạo mà sau khi bị giã đã trắng tựa bông. Thơ triết lý thơ suy tưởng thơ hành động mà ôn tồn không rơi vào loại khẩu khí là chính vì nó xuất phát từ sự việc thực hiện tượng thực để nói về một suy nghĩ thực.

                                                                                         L.X.Đ


(1) Bản dịch của Quách Tấn:
Gạo đương giã biết bao cay đắng
Giã xong rồi gạo trắng như bông
Trên đời lẽ ấy lẽ chung
Gian nan có trái thì công mới thành.

More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Hoàng Trọng Cường

Hoàng hôn màu lá

Truyện ngắn

    Tôi đứng bần thần hồi lâu trước ngôi nhà của chị. Ngôi nhà ngói cấp bốn nằm lọt giữa um tùm cây lá và lối đi nhỏ sau nhà dẫn xuống bờ sông mới hôm nào còn in bóng người phụ nữ nhỏ nhắn ngày ngày cặm cụi xuống sông gánh nước tưới cây giờ chợt trở nên hoang vắng. Mùi ổi chín thơm nồng nàn dậy khắp quanh nhà càng làm tôi thêm nhớ chị. Tôi băn khuăn:
    - Tại sao chị lại bỏ ra đi vào lúc này? Liệu trong đời chị em mình có còn được gặp lại nhau nữa không hả chị Sâm ơi?
     Chị họ tôi chị Sâm hơn tôi năm tuổi. Hai nhà ở cách nhau non chục cây số. Nhà chị ở ven thị xã. Đấy là một làng cổ nằm dọc theo sông Lê. Bốn mùa xanh um cây ăn quả. Nhà nào cũng có mươi cây thị và một vườn ổi. Thứ ổi đào quả nhỏ nhưng quả chín rất thơm. Trong làng quanh năm không khi nào vắng tiếng chim. Nhất là mùa ổi chín. Chim kéo về đậu kín các vườn cây. Tiếng chim râm ran dóng dả suốt ngày. Khoảng giữa nhà tôi và nhà chị là dãy núi đá vôi có ngọn đá hình người đàn bà trông chồng đứng chót vót trên đỉnh núi đăm đắm nhìn hút vào khoảng thinh không. Hồi nhỏ rất nhiều lần chị dẫn tôi trèo tít lên đỉnh Vọng Phu. Ngồi dưới chân pho tượng chị kể cho tôi nghe sự tích người đàn bà trông chồng hóa đá. Và lần nào kể xong chị cũng khóc. Những lúc ấy tôi chỉ ngạc nhiên tại sao chị lại mau nước mắt thế. Sau này khi đã trưởng thành mỗi lần đi thăm chị qua núi Vọng Phu tôi thường dừng lại một lát ngắm nhìn ngọn núi và băn khoăn tự hỏi: Không biết cái mạch đất vọng phu này có chảy qua nhà chị không? Mà phận của chị lại lận đận long đong đến thế!
    Bác họ tôi bác Lãm bố chị Sâm làm cán bộ ở ty giao thông. Vợ chồng bác chỉ sinh được hai người con gái: Chị Lý và chị Sâm. Khi sinh chị Sâm bác gái bị thấm hơi lạnh của nước mưa mắc chứng sản rốc. Người bác cứ teo tóp đi rồi mất khi chị Sâm được chừng bảy tám tuổi. Nghề nghiệp của bác trai hay phải đi xa theo những công trình làm cầu làm đường nên bác gửi chị Sâm cho bố mẹ tôi. Hai chị em tôi gần như lớn lên bên nhau. Chị siêng năng tháo vát. Rất cưng chiều tôi. Nên hồi nhỏ tôi cứ lẵng nhẵng bám theo chị như cái bóng.
Năm 1965 máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc dữ dội. Thị xã sơ tán bác Lãm gửi luôn chị Lý lên nhà tôi rồi đi sơ tán theo cơ quan. Nhà của bác bác cho nhà nước mượn làm kho chứa hàng.
    Chị Lý đã thành thiếu nữ. Chị đẹp lắm. Người chị thon thả cao da trắng tóc dài. Trở thành trung tâm thu hút các anh con trai trong làng xã và con cái của các bác cán bộ sơ tán về làng. Nhất là anh Thái.Anh Thái hơn chị Lý hai tuổi nhưng vì đi học muộn nên học cùng lớp với chị Sâm. Ngày ấy ở quê nhiều tuổi mới đi học hoặc học ba bốn năm một lớp là chuyện thường. Do vậy học trò lớp năm lớp sáu đã là thanh niên. Anh thái mê chị Lý. Nhà anh Thái ở cạnh nhà tôi nên toàn nhảy qua bờ rào sang nhà tôi bám riết chị Lý. Chị Lý cũng mến chàng trai to khỏe vui tính có khiếu hài hước lại thổi sáo trúc rất hay. Tôi biết địa điểm hò hẹn của hai anh chị. Đấy là căn hầm trú ẩn nửa chìm nửa nổi của nhà tôi ở sau vườn. Mấy lần tôi định lon ton mách với mẹ thì đều bị chị Sâm tìm cách chặn lại. Có vẻ chị Sâm cũng nhiệt tình ủng hộ mối tình của hai anh chị.
    Chiến tranh lan rộng. Anh Thái nhập ngũ. Anh là con một không phải đi bộ đội nhưng anh viết đơn bằng máu nằng nặc đòi đi bằng được nên xã đội và gia đình phải đồng ý. Chị Lý thức cả đêm để thêu chiếc khăn tay tặng anh Thái. Hôm tiễn anh Thái lên đường trở về hai mắt chị đỏ hoe sưng húp vì khóc.
    Nửa năm sau thì chị Lý cũng đi học ở trường y sĩ. Thi thoảng chị về thăm nhưng thời gian chủ yếu ở nhà là ở bên nhà anh Thái.
Công việc đồng áng và việc nhà lúc này chủ yếu do mẹ tôi và chị Sâm đảm nhận. Tôi chỉ việc học và giúp mẹ bằng cách đi chăn bò.
Chị Sâm lớn phổng lên. Còn xinh đẹp có phần hơn cả chị Lý. Đôi má lúc nào cũng hồng hồng như có phấn. Chị hay cười hay hát làm việc quần quật luôn tay. Nhưng mẹ tôi lại thở dài:
    - Con gái mà đi như chạy. Đầu lúc nào cũng chúi ra phía trước thì không khéo vất vả khổ sở cả đời đấy con ạ.
Nghe mẹ nói thế dù chẳng hiểu mô tê gì nhưng chợt tôi cũng thấy lo lo. Vì tôi yêu quý chị. Rồi một hôm mẹ tôi và chị Sâm đi đâu đó suốt từ chiều cho đến tận chiều tối hôm sau mới thấy mình mẹ mệt mỏi trở về nằm vật ra giường khóc tấm tức. Tôi hỏi mẹ:
    - Chị Sâm đâu mẹ?
    Mẹ tôi đáp lừng chừng: Chị bận.
    Mãi sau này tôi mới biết chuyện. Hôm ấy trường của chị Lý đi lao động đắp đê. Bất ngờ máy bay Mỹ ập đến thả bom trúng giữa đoàn người. Chị Lý bị hơi bom thổi bay đi cả chục mét. Điều lạ là chị bị bay mất sạch quần áo nhưng lại không tìm thấy một vết thương nào trên người. Mọi người đưa chị vào viện. Khi tỉnh lại chị hầu như bị mất sạch trí nhớ. Không còn nhận ra người thân nữa. Chị cứ ôm đầu ngồi thu lu ở góc giường. Nhưng mỗi khi nghe tiếng máy bay nhất là khi nghe tiếng đạn cao xạ nổ là chị lao vùng ra chạy trốn. Bác sỹ bảo chị bị mắc chứng hoảng loạn. Lại đang thời kỳ chiến tranh ác liệt. Bố tôi đạp xe đến công trường tìm bác Lãm. Nhà của bác lại cũng bị bom cháy sạch. Bệnh tình của chị Lý lại đòi hỏi phải có người thường xuyên ở bên cạnh. Bố tôi và bác đưa chị về nhà tôi để tiện việc chăm sóc. Chị Sâm đang học cấp ba cứ nhất quyết đòi nghỉ học để ở nhà chăm sóc chị Lý nhưng bố mẹ tôi không đồng ý. Các cụ bảo dù khó khăn đến mấy thì chị Sâm cũng không được bỏ học. Còn chị Lý thì cả nhà sẽ cùng thay phiên nhau trông nom. Chị bị sốc nhưng dần dà chắc cũng sẽ hồi phục dần. Bác Lãm ở nhà tôi chỉ lầm lì hút thuốc lao vặt. Mặt bác dúm lại căng thẳng đau đớn lắm.
    Mấy ngày sau bác lên cơ quan rồi xin nghỉ việc.
    Thuyết phục bác đừng bỏ cơ quan không được bố tôi giúp bác dựng một ngôi nhà nhỏ ngay trong vườn nhà tôi để bác và hai chị ra đấy ở.
    Chiến tranh phá hoại của Mỹ kết thúc bác quyết định trở về nhà cũ. Chị Sâm cũng đã đi học ở trường sư phạm của tỉnh. Chị bảo: để cho gần nhà và tiện đỡ đần cho bố chăm sóc chị Lý. chị Lý thì có nhận biết được những người xung quanh nhưng vẫn ngơ ngơ ngẩn ngẩn thế nào và thi thoảng lại lên cơn hoảng loạn một lần. Thi thoảng bố tôi lại đến nhà bác giúp bác trồng lại vườn cây hoặc xây giếng xây tường nhà. Mỗi chủ nhật về nhà thế nào chị Sâm cũng lên nhà tôi nhưng cứ vội vội vàng vàng đến tội.
Tôi học hết cấp ba thì vào quân đội. Biền biệt mấy năm trời. Tôi nhận được đều đặn những lá thư của chị. Chị đã tốt nghiệp trường sư phạm và được ưu tiên về dạy ở trường cấp hai trong xã. Cũng có điều kiện thuận lợi để chăm sóc người thân. Thư nào chị cũng căn dặn tôi đủ thứ cứ làm như tôi còn bé bỏng lắm không bằng. Đọc những lời dặn dò của chị tôi bật cười nhưng lòng tôi thì thấy rưng rưng. Chị kể chuyện nhà. Sức khỏe của chị Lý bác Lãm. chuyện trường lớp chuyện học trò...Và rồi cái tin mà tôi mong mỏi nhất cũng đã đến. Chị báo tin chị lấy chồng. Chồng chị cũng là bộ đội đang đóng quân ở một huyện miền biển cách nhà ba mươi cây số. Chị gặp anh khi đi thăm một học sinh trong lớp. Anh mới về nghỉ phép. Hai người quen nhau chóng vánh và yêu nhau từ phút gặp gỡ đầu tiên. Cả anh và gia đình anh rất thông cảm với hoàn cảnh của gia đình chị. Đám cưới được tổ chức giản dị nhưng rất vui. Đọc thư chị tôi cảm được niềm hạnh phúc trong chị trào dâng theo từng con chữ trong lá thư dài nhất mà chị viết cho tôi.
 

                                                       *
 
    Sau ba năm ở chiến trường nước bạn tôi được về phép. Về nhà tôi mới biết thì ra bao nhiêu thư chị và gia đình tôi viết cho tôi chỉ kể toàn chuyện vui còn bao chuyện buồn thì chị giấu biệt. Mẹ tôi sụt sùi kể: Sau khi cưới được một tháng thì đơn vị của chồng chị hành quân đi chiến đấu và anh đã hy sinh trên một dòng sông ở miền Tây Nam Bộ. Một loạt pháo của địch bắn trúng đội hình của đơn vị khi đang vượt sông. Nhiều người không tìm được xác trong đó có anh. Anh Thái cũng đã phục viên hai năm trước. Anh cương quyết không chịu lấy vợ theo lời khuyên của mọi người mà tuyên bố chị Lý là vợ của anh. Anh còn xin đất làm nhà cạnh nhà bác Lãm. Đưa mẹ anh xuống ở để tiện chăm sóc cả bà lẫn chị Lý. Bác Lãm không ngăn được anh đành im lặng. Từ ngày có anh bên cạnh bệnh của chị Lý có vẻ ổn định hơn nhiều.
    Lại tiếp năm năm xa nhà nữa tôi mới được chuyển về quê công tác. Về đến nhà hôm trước thì hôm sau tôi phóng xuống thăm chị Sâm. Chị mừng húm. Rối rít bắt gà. Đi chợ. Trong bữa cơm chị chỉ ngồi gắp thức ăn ép tôi ăn. Nhìn chị rạng rỡ trong chốc lát tôi lựa lời hỏi chị. Đại ý là anh ấy hy sinh cũng đã lâu. chị cũng nên có một người đàn ông để chung vai gánh vác việc nhà đỡ đần cho chị nhất là khi trái gió trở trời. Chị nhìn hút ra ngoài vườn hồi lâu rồi nói lảng sang chuyện khác. Tôi bâng khuâng thương cảm buồn vui lẫn lộn.

                                                         *

    Rồi tôi cũng bị cuốn vào công việc và lo toan cuộc sống gia đình. Chỉ thi thoảng ghé thăm chị thoáng chút lại đi ngay.
    Mấy cái đận lụt bão mất mùa kéo theo sự sa sút kinh tế của cả nước. Cả hàng chục năm trời mọi người chạy vạy cuống cuồng lo cái ăn hàng ngày. Với chị Sâm lại càng lận đận hơn. Ngoài công việc ở trường chị tất bật chăm sóc vườn cây trồng rau nuôi lợn làm hàng xáo nấu rượu và chăm sóc người già người ốm. Chị xin với gia đình nhà chồng về nhà bố đẻ để chăm người chị bệnh tật mỗi ngày một nặng thêm chăm bố nhưng vẫn thường xuyên chạy đi chạy lại chăm sóc bố mẹ chồng. Bố mẹ chồng ốm rồi mất. Một tay chị lo toan. Lại tiếp đến chị Lý trong một cơn hoảng loạn đã ngã xuống sông chết đuối. Chưa được bao lâu thì bác Lãm cũng qua đời. Lại tiếp đến anh Thái đột nhiên ngã bệnh nằm liệt giường. Bấy năm nay anh đã như người trong nhà. Nay nằm đó chị đâu nỡ đứng nhìn. Bốn năm năm chị chạy vạy thuốc thang nâng giấc tắm rửa giặt giũ cho anh với cả tấm lòng người mẹ. Cho đến ngày anh ra đi. Nhìn người chị héo hắt teo tóp lưng còng lại tóc bạc đến hai phần dù chị mới ở tuổi năm mươi mà tôi xốn xang nhưng cũng chẳng giúp được gì nhiều ngoài mấy lời thăm hỏi.
    Chỉ còn một mình chị ngôi nhà trở nên trống trải lạ lùng. Dãy cây thị ở rìa bờ sông hàng ổi trong vườn đến mùa vẫn chín vàng ươm thơm ngào ngạt. Đàn chim vẫn ríu rít kéo về mỗi mùa ổi chín. Nhưng dường như chị đã thành một chiếc bóng. Đùng một cái chị làm đơn xin nghỉ chế độ một lần. Ai cũng bảo chị dại. Có người còn nghĩ chị bị tâm thần. Khi tôi biết tin định khuyên can chị thì đã nhận tiền và về nghỉ ở nhà rồi. Có điều tôi thấy chị rất điềm tĩnh. Đành thở dài an ủi chị vài câu rồi lại chúi mũi vào công việc của mình.

                                                          *

    Khi tôi nhận được thư của chị hốt hoảng đến nhà thì chị đã đi được mấy ngày rồi.
    Thư chị viết:
    “ Bình ơi!
    Dạo này chị thường mơ thấy chồng chị trở về bảo chị vào với anh kẻo anh lạnh lắm.
    Vì vậy chị đã chuẩn bị sẵn cho chuyến đi này. Chị đã cải táng và xây cất phần mộ cho bố mẹ chị chị Lý và anh Thái rồi. Và chị cũng đã đưa bài vị của họ gửi vào chùa Đại Bi. Như vậy là chị yên tâm về họ.
    Chị đi tìm anh ấy đây. Chị sẽ tìm và xin vào tu ở một ngôi chùa nào đó quanh nơi anh ấy ngã xuống. Cuộc đời thế tục của chị dừng lại ở đây thôi. Chị vào chùa không phải để mong cứu độ chúng sinh hay mong thành chánh quả; mà chỉ để được ở bên linh hồn của anh ấy. Mong anh ấy và đồng đội được siêu thoát được yên nghỉ. Thế là chị bằng lòng rồi. Chị không dám gặp em vì sợ rằng em biết em sẽ cản chị. Hơn nữa chị sợ rằng chị sẽ không đi nổi.
Ngôi nhà của chị nếu ai mua em bán đi lấy chút tiền chăm sóc sức khỏe cho thím. Chị có lỗi với công sức nuôi dưỡng của chú thím. Hãy tha lỗi cho chị. Chị em mình có còn được gặp lại nhau nữa không. Còn phụ thuộc vào duyên định. Chị chỉ luôn cầu mong cho gia đình ta được bình yên các em và các cháu luôn mạnh khỏe hạnh phúc.
                                                                                  Chị của em.
                                                                                      Sâm”.
    Mẹ tôi sụt sùi: Cái con Sâm sao mà nó khổ thế hả trời? Khổ từ khi lọt lòng mẹ đến già. Mà việc gì con phải bỏ làng đi đâu hả con ơi. Bây giờ biết nó ở đâu mà tìm. ở nhà gì thì cũng còn có họ hàng thân thuộc. Thân gái một mình biết nương dựa vào ai?
    Tôi an ủi mẹ: Chị ấy đã chuẩn bị kỹ càng mọi việc thế này chắc có cái lý của chị ấy. Mẹ cứ bình tĩnh dần dà rồi con tính.
Miệng nói cứng như vậy nhưng kỳ thực ruột gan tôi cũng rối bời. Tôi chỉ hy vọng vào một điều mơ hồ rằng biết đâu ở một nơi nào đó chị đã tìm thấy chốn bình an cho chị. Và như vậy chị cũng được thanh thản hạnh phúc hơn những tháng ngày cơ cực đã qua.
    Một làn gió ào qua rung vườn cây xào xạc. Tôi ngước lên. Hoàng hôn đã về tự lúc nào. Trong khu vườn của chị những xác lá ánh lên trong nhập nhoạng một màu xanh mướt mát lạ kỳ. Một hoàng hôn màu lá lần đầu tôi được gặp.

                                                                              H.T.C

More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Nguyễn Bá Doanh


Tự nguyện


Truyện ngắn dự thi


    biết chị Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện mời rất thật lòng nhưng cô không thể ở lại ăn bữa cơm trưa với chị em trong cơ quan được. Cô viện lý do còn phải đi rất nhiều nơi mà thời gian cho chuyến đi đã sắp hết ba ngày nữa cô phải có mặt ở tòa soạn để chuẩn bị cho số báo sắp tới. Cô nói vậy để từ chối cho dễ chứ thực ra từ lúc chị Chủ tịch Hội kể về cảnh ngộ của cô Hương nào đấy lòng cô thấp thỏm không yên sao mà giống cảnh ngộ của chị dâu cô đến vậy! Cũng lấy chồng gần chục năm trời chẳng có con đành phải bỏ nhà chồng đi tìm hạnh phúc mới. Chỉ có khác rằng cô Hương còn có con chồng để bồng để bế còn chị dâu của cô giờ chẳng biết trôi dạt nơi nào? Nghề làm báo cho cô đến được nhiều nơi gặp gỡ rất nhiều các đối tượng. Vậy mà không hiểu sao lần này trong thâm tâm cô cứ đinh ninh rằng đó chính là chị dâu cô. Chị dâu cô tên là Phương có thể do cách phát âm của người địa phương nó chệch ra Hương lắm chứ! Cô chỉ muốn ngay lập tức có mặt ở nhà cô Hương để xem hư thực thế nào. Lòng cô hối thúc nên cô từ chối bằng được để ra đi. Chị chủ tịch và mấy chị em trong cơ quan Hội cũng đành phải lưu luyến tiễn cô ra đến tận cổng.
                                                        *
    Chẳng biết anh chị yêu nhau từ khi nào hay hai bên gia đình đã hẹn ước từ trước mà khi anh Hải cô được nghỉ tranh thủ bảy ngày để đi B mẹ cô đã làm ngay đám cưới. (Bố cô đã mất khi cô chưa chào đời). Hãy hiểu và cảm thông cho bà bà chỉ có duy nhất một đứa con trai đang phải ra nơi hòn tên mũi đạn biết sống chết thế nào. Thôi thì đám cưới có hơi vội vàng một chút nhưng biết đâu nhờ phúc ấm tổ tiên bà lại được một thằng cu nối dõi nếu chẳng may anh cô không trở về. Đám cưới những năm bom đạn trang trí sơ sài không có tiệc trà tiệc đứng hay bữa cơm thân mật như bây giờ nhưng vui và đầm ấm lắm. Chỉ có cây đàn măng-đô-luyn của bác Vân già và cái kèn ác-mô-ni-ka của anh chàng Sức đi "chấm phẩy" mà thanh niên nam nữ hát say sưa toàn những bài: "Ta vượt qua triền núi cao Trường Sơn…";"Ta đi giữa mùa xuân trên đường ra trận…"; "Đêm qua cấy lúa ven cầu dưới ánh đèn dù soi sáng đêm thâu…" Đất nước có chiến tranh hạnh phúc lứa đôi cũng mang hơi thở của cuộc chiến.
Bẩy ngày nghỉ phép của anh cô nhưng chị dâu cô chỉ được làm vợ vẻn vẹn có ba ngày. Ba ngày ngắn ngủi vậy hoa không đậu quả cũng là chuyện dễ hiểu thôi nhưng khi tổ quốc thống nhất anh cô được chuyển ngành về một cơ quan chỉ cách nhà chưa đầy năm cây số sáng đạp xe đi tối đạp xe về ăn cơm với vợ mà mãi chẳng thấy chị dâu cô có động tĩnh gì. Sốt ruột mẹ cô gợi ý muốn có đứa cháu cho vui cửa vui nhà anh cô gạt đi với lý do là mới ở chiến trường ra vi trùng sốt rét đang còn ở trong người lúc thì anh bảo phải dành thời gian để phấn đấu lúc thì lại bảo kinh tế còn eo hẹp v.v... Nhưng anh làm sao qua được mắt bà! Rồi một hôm không thể nghe mãi cách trả lời cho xong chuyện của anh bà gọi cả hai vợ chồng lên nhà trên (anh chị ở nhà dưới). Sau khi thắp hương lên bàn thờ tổ tiên xong bà nghiêm giọng:
    - Bây giờ tôi hỏi anh chị phải nói thật: Đến nay tôi vẫn chưa có cháu là tại ai? Tại anh hay tại chị?
    Như kẻ trộm bị bắt quả tang mặt chị dâu cô tái mét sợ sệt nhìn chồng. Còn anh bối rối thật sự hết đưa tay lên gãi gãi ở vành tai rồi lại vuốt tóc nhưng rồi anh cũng lấy lại được thế chủ động. Nhìn thẳng vào mẹ anh trả lời:
    -Dạ thưa... Mẹ đã hỏi vậy con cũng không dám dấu mẹ nữa chiến tranh đã cướp mất cái quyền được làm bố của con rồi.
    -Hả ? Anh nói sao? - Bà chỉ hỏi được có thế mặt tái nhợt đi rồi từ từ ngã vật xuống đất. Cũng may anh nhanh tay đỡ được bà chứ không thì chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra! Nhưng dù vậy cả nhà vẫn bị một phen hú vía.
Sau cái đận ấy mẹ cô cũng đôi lần nhắc đến chuyện thuốc thang chữa chạy cho anh nhưng anh tỉnh bơ:
    - Người ta có bệnh mới cần đến thuốc chữa chứ con thì… có phải bệnh đâu!
Thế là từ đấy cô không thấy mẹ nhắc gì đến chuyện cháu chắt nữa. Hình như bà cố tình tránh để không động chạm đến nỗi đau của anh chị. Còn bà bà cố lấy công việc để khỏa lấp nỗi đau. Những đêm đêm giật mình tỉnh giấc quờ tay bên trái không thấy mẹ quờ tay bên phải giường cũng trống không hốt hoảng cô bật dậy bước ra ngoài trời ơi! Trên chiếc sập kê ở giữa nhà bà bó gối ngồi lặng như một pho tượng mắt đăm đắm nhìn mãi vào khoảng không vô định. Cô hỏi bà chỉ trả lời: "Có tuổi rồi ngủ ít nằm không ngủ được lại hay trở mình sợ con thức giấc". Nhưng cô biết tuổi của mẹ đâu đã gọi là già.
Cứ tưởng chuyện trong đêm khuya khuắt chỉ có hai mẹ con gái biết với nhau nào ngờ anh chị cô cũng biết. Một hôm mẹ vắng nhà anh bảo cô: "Em cố gắng động viên mẹ hộ anh cứ để mẹ thức trắng đêm thế này hại sức khỏe lắm. Rồi anh chị sẽ xin đứa con nuôi. "Chị dâu cô rơm rớm nước mắt: "Hay là để em..." Anh cô trừng mắt chị vội im bặt.
    Hồi ấy cô đã là một thiếu nữ tuy còn non nớt về lẽ đời nhưng cô cũng cảm nhận được nỗi khổ tâm của mẹ. Cây phả hệ của dòng họ Đoàn Văn đã bốn thế hệ độc đinh đến đời anh cô coi như là cụt ngọn. Cô càng thương mẹ nhiều hơn. Đêm đêm vâng lời anh dặn cô trở lại làm trẻ thơ nũng nịu bắt mẹ phải nằm bên "ngủ một mình con sợ..." Còn anh cô bóng gió kể về những người con nuôi hiếu thảo ở trong làng trong xã. Nhưng mẹ cô hình như không quan tâm đến điều đó mà lại quan tâm nhiều đến chị dâu cô. Mẹ bảo cô: "Lấy chồng theo phúc phận nhà chồng. Chẳng may nhà mình như vậy con cái không có nỗi khổ không biết để đâu cho hết. Con phải biết thương lấy nó". Nhưng trước mặt chị dâu thì mẹ lại bảo: "Chẳng may chồng con đã như vậy rồi con cũng phải có tương lai chứ. Thôi thì tùy con nếu muốn đi bước nữa mẹ cũng không cấm". Nghe mẹ nói vậy chị dâu cô chỉ biết ôm lấy mặt khóc tấm tức.
Gia đình cô thời kỳ ấy như nhà có tang. Một không khí buồn tẻ bao trùm cả nhà trên nhà dưới. Chỉ có anh cô là còn đủ bản lĩnh để nói để cười nhưng xem ra cũng chỉ "Ném đá ao bèo". Anh cô đi rồi thì đâu lại vào đấy việc ai người ấy làm lặng lẽ như một cái bóng. Chị dâu cô hình như dấu mẹ giấu cô khóc nhiều hơn. Gương mặt thanh tú nhẹ nhõm là vậy giờ lúc nào cũng như phủ một lớp mây u ám. Nhưng rồi cái gì cũng có giới hạn của nó. Sức chịu đựng của con người cũng vậy thôi. Cô còn nhớ rất rõ bữa ấy là mùa thu cô vừa bước vào năm học mới được vài tuần. Sáng hôm ấy cô cũng dậy sớm để học bài như thường lệ vừa bước ra sân để làm vài động tác thể dục cô đã linh cảm có điều gì khang khác nhìn quanh đúng là khác thật. Thường thì vào giờ này chị dâu cô cũng đã dậy nấu cám lợn hoặc dọn dẹp những công việc lặt vặt ở trong nhà. Nhưng hôm nay thì im ắng quá. Cửa nhà dưới khép hờ bếp không đỏ lửa. Cô vội bước xuống gọi chị (Anh cô đi họp trên thành phố mấy hôm nay không về) gọi hai ba lần không thấy chị thưa hốt hoảng cô đẩy cửa bước vào thì ôi thôi chị dâu cô đã bỏ nhà đi từ lúc nào rồi. Trên chiếc bàn nhỏ là một tờ giấy phê-đúp viết kín cả bốn mặt. Hai mặt trước chị viết cho mẹ cô:
"… Con lạy mẹ tha tội cho con. Mẹ không có cháu để bồng không phải như chồng con nói mà lỗi là ở nơi con. Đã mấy lần con định thưa thật với mẹ nhưng anh ấy không cho. Anh ấy bảo nói điều ấy ra là tự mình tuyên án ly hôn cho mình. Mà con thì mẹ cũng biết đấy con yêu chồng con đến thế nào con không muốn mất chồng ngược lại anh ấy cũng không muốn mất vợ. Anh ấy bảo cứ từ từ rồi sẽ xin đứa con nuôi. Con nuôi có hiếu cũng như con đẻ có sao đâu! Thương chồng con phải vâng lời nhưng lòng con day dứt không yên con không nỡ nhìn thấy mẹ cứ ngày một héo hắt đi còn chồng con cứ phải gượng nói gượng cười con khổ tâm lắm. Mẹ ơi! Nỗi bất hạnh này chỉ mình con chịu là đã quá đủ rồi con phải ra đi…"
    Hai mặt sau chị viết riêng cho chồng đau đớn tủi hờn khi phải trốn chồng ra đi. Nhưng chẳng còn cách nào khác. Mong anh hãy vì mẹ vì cả dòng họ Đoàn Văn mà quên chị đi để tìm hạnh phúc mới. Kèm theo là một lá đơn xin ly hôn của chị. Chị viết sẵn và đã ký tên.

                                                           *

    Anh chàng lái xe ôm quả là một tay khá tháo vát và thông thạo địa hình. Chỉ hai lần dừng xe hỏi thăm anh ta đã đưa cô đến nhà chị Hương. Ngôi nhà lợp cỏ tranh một gian hai chái theo kiểu nhà miền Trung nhưng đã xập xệ lắm rồi. Xung quanh nhà san sát những gốc cây Thiên Long cằn cỗi cành nhánh khẳng khiu như những cánh tay chới với giơ lên trời. Thấy có khách một cậu bé chừng mười bốn mười lăm tuổi từ trong nhà chạy ra. Cô thoáng rùng mình trước một gương mặt ngây ngô dị dạng của nó. Mắt lõm mũi to mồm méo xệch chảy xệ xuống che lấp cả cái cằm. Hỏi nó chỉ lắc hoặc gật sau này cô mới biết nó phát âm rất khó khăn nên rất ít nói. Nó đưa cô vào nhà. Sau những tiếng ú ớ của nó trên chiếc giường kê ở góc nhà người phụ nữ đang nằm quay mặt vào vách mệt mỏi ngồi dậy cô đã không làm chủ được mình hét lên: "Chị Phương!" Rồi lao đến ôm chầm lấy chị. Còn chị Hương sau phút ngỡ ngàng chị cũng đã nhận ra cô chị không sao cất được lên lời cứ ôm lấy mái đầu của cô ép chặt vào bầu ngực đã lép kẹp của mình mà khóc mặc cho hai hàng nước mắt cứ lã chã rơi xuống mái tóc cô. Phải một hồi lâu hai chị em mới buông được nhau ra.
    - Sao chị lại đổi tên là Hương ? - Cô hỏi.
    Chị cười nhìn cậu bé trìu mến:
    - Chị vẫn tên là Phương đấy chứ nhưng khi cháu nó tập nói lại nói ngọng nữa cứ gọi "mẹ Phương" thành "ẹ Hương" xóm làng nhại theo cháu mãi thành quen. - Nghỉ một lát chị mới hỏi - Mẹ có khỏe không? Anh ấy được mấy cháu rồi?
    - Được hai chị ạ. Một trai một gái - Cô trả lời.
    - Mừng… Chị mừng… - Giọng chị nghèn nghẹn nước mắt lại trào ra.
    Anh cô bây giờ đã là một giám đốc công ty đang làm ăn phát đạt vợ đảm con ngoan học hành chăm chỉ nhưng nói ra lúc này chỉ khứa thêm vào nỗi đau của chị. Cô lái câu chuyện sang hướng khác:
    -Thế còn chị? Từ bấy đến nay chị sống ra sao?
Chị cười buồn:
    - Chẳng biết kiếp trước chị phạm tội gì mà kiếp này chị phải trả cô ạ. Đời chồng trước chị phải bỏ chồng đến đời chồng sau thì chồng lại bỏ chị...- Chị ngước nhìn lên ban thờ lồng trong khung kính là tấm ảnh anh bộ đội đeo hàm trung úy hình như cũng đang nhìn lại chị mỉm cười.
Cái đêm chị bỏ nhà ra đi ấy chị đã gặp được anh trên một chuyến tàu xuôi về phương Nam. Anh lên từ ga Hà Nội có ghế ngồi nhưng cháu bé quấy quá cứ khóc nhềnh nhệch bắt anh phải bế vác trên vai đi đi lại lại. Còn chị lên từ ga Thanh Hóa có vé nhưng lại không có chỗ ngồi đành phải đứng xắm lắm chỗ này hoặc ngồi ghé vào chỗ kia. Thấy vậy anh bảo chị:
    - Cô đến ghế của tôi mà ngồi tôi thấy cô đứng suốt từ lúc lên tàu đến giờ chắc cũng mỏi lắm rồi đấy.
Không phải chỉ có mỏi. Đôi chân cô đang tê cứng lại bấm chẳng thấy đau.         Nhưng… Chị thoáng chút ngần ngại. Hiểu ý anh lại bảo:
    - Cô cứ ngồi đi mà. Dù sao thì lúc này tôi cũng đang phải đứng đã.
Chị lý nhí cảm ơn rồi bước lại số ghế của anh ngồi xuống. Duỗi thẳng hai chân vào gầm ghế của người đối diện chị thấy thoải mái và dễ chịu hẳn. Chị đưa mắt nhìn về phía anh dáng đi hơi khập khễnh đã gần cuối toa tàu vừa đi anh vừa vỗ về cho cháu bé ngủ.
    Nhưng sự việc không dừng lại ở đấy. Tàu vào ga B người khách ngồi cạnh xuống tàu anh bế cháu bé lại ngồi xuống cạnh chị vừa là để nghỉ chân vừa là để giữ ghế ngồi. Cháu bé không nghe nó phản đối quyết liệt bằng cách quẫy đạp và khóc toáng lên. Thấy vậy chị bảo:
    - Anh đưa cháu em bế đỡ cho.
    - Vâng! Phiền chị bế đỡ cho một lúc. Cháu quấy quá tôi bế mỏi rũ cả hai cánh tay rồi.
    Lạ thật! Cháu bé sang tay chị chỉ ấm ức khóc thêm một chút nữa rồi áp mặt vào bầu ngực chị ngủ ngon lành. Tàu chuyển bánh lúc sau anh cũng chìm vào giấc ngủ. Giấc ngủ mê mệt khiến anh không làm chủ được mình cứ nghẹo đầu vào vai chị mà ngủ. Đã mấy lần chị định ngồi xịch ra tránh cái đầu của anh nhưng chị lại không nỡ. Lần đầu tiên trong đời có một người đàn ông không phải là chồng tựa vào da thịt chị cứ thấy nó thế nào ấy. Bất giác chị lại nhớ đến chồng. Chắc giờ này anh đang phát điên lên tất tả đi tìm chị khổ thân anh! Duyên phận đã ưu ái cho chị được gặp anh nhưng ông trời lại cay nghiệt bắt chị phải mất anh. Chị chỉ muốn ngay bây giờ được sà vào lòng anh gục đầu vào bộ ngực vạm vỡ của anh mà khóc để rồi lại được anh an ủi vỗ về: "Thôi nào ! Đừng tự mình làm khổ mình nữa không có con đẻ mình xin đứa con nuôi lo gì."
    Con tàu đang chạy đều đều bỗng đột ngột đứng khựng lại. Mất thăng bằng anh bị xô mạnh về phía trước giật mình anh mở đôi mắt mệt mỏi nhìn quanh rồi dừng lại trước dáng ngồi của chị lặng lẽ đắm đuối ngắm thằng bé đang ngủ say. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê anh đã thốt lên: “Hiền! Hiền phải không?"
    Chị quay lại:
    - Anh gọi em?
    Bấy giờ anh mới tỉnh ngủ hẳn:
    - Không! Không! Xin lỗi tôi nói mê đấy mà. - Và rồi anh cũng kể cho chị nghe về cảnh ngộ của mình. Thì ra cái dáng ngồi của chị lúc nãy sao mà giống dáng ngồi của Hiền - Người vợ đoản mệnh của anh - đến vậy. Chỉ khác rằng mỗi lần ngắm nhìn thằng bé ngủ gương mặt cô ấy rầu rĩ khổ sở cứ như chực khóc. Một mặc cảm có lỗi với vợ lại trào lên quặn thắt lòng anh. Chiến tranh chất độc da cam là những cánh rừng trụi lá là những quả đồi trọc lóc nham nhở đất gan gà. Nhưng người lính các anh còn có cách lựa chọn nào khác! Phải sống trằn mình ra mà sống phải bám trụ để chiến đấu đến cùng. Còn giờ đây hòa bình nó lại là nỗi bất hạnh nhè vào đầu người vợ. Khổ thế!         Nhưng anh còn biết làm gì?
    Mười chín tuổi lấy chồng nhưng mãi hai mơi bốn tuổi chị mới mang thai. Khao khát chờ mong ngày đứa con cất tiếng chào đời. Nào ngờ đứa trẻ sinh ra không khóc không chân không tay đầu tròn trùng trục. Nhìn con chị chỉ rú lên một tiếng rồi ngất xỉu. Đứa trẻ đã không kịp làm người mà bỏ chị “đi” ngay sau đó. Còn đến thằng bé này khi sinh cháu ra cháu hoàn toàn bình thường khỏe mạnh nhưng bác sĩ cảnh báo: "Cháu rất khó là người bình thường". Vậy nên mỗi lần ôm con vào lòng nhớ lời bác sĩ chị lại nhìn con bằng ánh mắt phấp phỏng lo âu không dấu diếm.
    Lúc thằng bé được hơn một tuổi một hôm hai vợ chồng đi cuốc rẫy trồng sắn chẳng may chị bị rắn độc cắn vào chân không đau đớn gì nên chị xem thường không nói cho anh biết đến khi nọc độc phát tán chị tím tái hết cả người đùng đùng lên cơn sốt chị mới cho anh hay thì đã muộn quá rồi. Anh vội vã cõng chị chạy về trạm y tế nhưng chưa được nửa đường thì chị đã tắt thở. Trước khi chết chị đau đớn quằn quại trên lưng anh cứng hàm nói không còn rõ nữa anh chỉ nghe lào thào bên tai: "Dù đói khổ phải ăn mày ăn xin anh cũng cố nuôi con đừng để bệnh tật cướp nó đi anh nhé." Nói được ngần ấy tiếng với anh chị mới oằn mình lên một lần nữa rồi mới trút hơi thở cuối cùng.
Sau cái chết oan ức của chị chỉ vài tháng sau đó thằng bé cũng bất đầu xuất hiện triệu chứng "không bình thường". Ban đầu là bệnh vẩy nến ở hai cổ tay rồi đến chảy máu tai cổ họng sưng. Khổ nỗi cứ chữa được bệnh này thì chỉ thời gian ngắn lại phát sinh bệnh khác nên một năm bố con anh cứ phải vài lần đến viện. Được cái các bệnh viện cũng thông cảm với hoàn cảnh của anh thương binh lại bị nhiễm chất độc da cam nên cũng miễn cho một phần viện phí. Gần đây con mắt phải của cháu bị lệch hẳn về phía đuôi mắt anh phải đưa cháu ra Hà Nội cũng may gặp thầy gặp thuốc lại chữa chạy kịp thời nên cũng tạm ổn rồi. Bệnh viện cho thuốc về nhà điều trị tiếp. Anh dừng kể quay sang hỏi chị:
    - Thế còn cô cô đi đâu? Xuống ga nào?
    - Em xuống ga H
    - Vậy là cô xuống trước tôi một ga. Cô về huyện nào vậy?
    - Huyện T.N anh ạ.
    - Huyện T.N à? Thế thì cách nhà tôi chưa đầy ba mươi cây số. Nếu có điều kiện lúc nào rảnh mời cô sang nhà tôi chơi. Tôi ở…
Lời mời đó cho dù rất thật lòng nó cũng chỉ là lời mời xã giao nếu như…
Thằng bé sau giấc ngủ ngon lành giờ tỉnh như sao sáo rất hiếu động. Hết ngồi ở lòng chị lại trườn sang lòng anh chân tay chẳng để yên lúc nào. Người mới lên tàu cứ tưởng đó là một gia đình nhỏ hạnh phúc đang đưa nhau về thăm quê. Còn chị không biết từ lúc nào chị cũng đã thích được ôm bế nó để được nó quẫy đạp trên tay được chiều chuộng nó khi nó vòi vĩnh lúc thì đòi nhìn ra cửa sổ lúc thì đòi chị cõng nhông nhông trên lưng đi đi lại lại… Hình như thằng bé cũng cảm nhận được tình cảm yêu thương như mẹ của chị dành cho nó nên khi tàu vào ga H nó cứ ôm chật lấy chị không chịu rời. Dỗ dành mấy nó cũng không chịu sang với bố đến nỗi anh phải gần như giằng lấy nó từ tay chị.
    Chị xách va li bước xuống tàu thằng bé khóc điên cuồng đuổi theo chị quay lại đôi mắt thằng bé phản chiếu ánh hoàng hôn trong veo đen láy nhìn chị như van xin như cầu cứu… Bước đi không đành chị quay lại áp mặt vào đôi má bầu bĩnh của nó hít hà làn da thịt trẻ con của nó lần nữa rồi dứt khoát bước thẳng ra phía cổng. Đến lúc tàu rúc còi chuyển bánh chị mới dám quay nhìn lại thằng bé được bố bế trên tay đang nhoài ra cửa sổ bắt chước bố giơ cả hai tay vẫy vẫy. Chị cũng giơ tay vẫy lại cho đến khi con tàu khuất hẳn sau dãy núi phía tây. Đến lúc ấy chị mới hay gương mặt chị cũng đã nhạt nhòa nước mắt không biết nước mắt chị hay là nước mắt của thằng bé lúc nãy dây sang. Và cũng từ đấy hình ảnh thằng bé cứ ám ảnh tâm trí chị khiến chị nhớ nó da diết. Trong thời gian nghỉ tạm ở nhà chị họ chờ xin vào làm ở nông trường cà phê chị đã vài lần lần theo địa chỉ anh cho lên thăm nó. Chị cũng chẳng ngần ngại kể cho anh nghe cảnh ngộ của mình. Cảm thông và chia sẻ với nhau. Anh chị đã nên vợ nên chồng.
    Chị kể giọng cứ đuối dần rồi bất ngờ đổ vật ra giờng mồ hôi mồ kê toát ra thở dốc. Cậu bé từ nãy đến giờ đứng lơ ngơ nghe hai người nói chuyện thấy vậy nó chạy ra sân tru lên những tiếng dài thảm thiết. Mấy người hàng xóm chạy sang xúm vào làm những động tác cấp cứu. Chị tỉnh dần.
Thấy cô là người lạ xóm làng tưởng là cán bộ trên tỉnh trên huyện về thăm nên nói năng có vẻ e dè nhưng khi biết cô là người nhà họ mạnh bạo hơn. Cũng nhờ vậy mà cô biết được chị cô đang bị một căn bệnh quái ác: Thiểu năng tuần hoàn não. Các bác sỹ bảo phải mổ để cắt bỏ khối u chèn động mạch. Mà gia cảnh nhà chị lấy tiền đâu để mổ? Chồng chết một tay chị tảo tần nuôi đứa con chồng nay bệnh viện trên mai bệnh viện dưới. Cháu sống được làm người như thế này là phúc đức lắm rồi. Bố mẹ cháu ở dưới suối vàng vong linh chắc cũng được mát mẻ.
    Chị đã tỉnh hẳn khẽ lắc đầu ra hiệu cho mấy người hàng xóm đừng kể cho cô nghe "nỗi khổ" của chị. Hiểu ý họ chuyển sang hỏi thăm gia đình cô. Cô mới giật mình nhớ ra cô chưa báo tin về cho mẹ. Cô đi ra ngoài vườn mở nắp chiếc di động nhấn số gọi về nhà cô nghe giọng mình run run còn giọng mẹ cô lạc hẳn đi: "Hả? Có thật không? Lạy trời lạy phật phúc đức nhà mình còn to lắm! Chồng con nó thế nào? Cái gì? Con nói cái gì? Khổ! Sao ông trời cứ đầy đọa nó mãi vậy! - Giọng bà nghẹn lại hình như bà khóc - Con cứ ở đấy nhé… Để mẹ điện ngay cho thằng Hải… Phải… phải đưa cả hai mẹ con nó về đây để thuốc thang chữa chạy…"
    Cô gập nắp máy lại lòng rưng rưng…
                                                                                        N.B.D

More...

Truyện ngắn

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Đào Hữu Phương



Cửa thiền mở sớm



Truyện ngắn

    Tôi lên chùa thắp cho bố mẹ nén hương. Đêm Vu lan đã khuya mà trong chùa vẫn còn rất nhiều người đến lễ Phật. Trước bồn hương lớn đặt giữa sân tôi lóng ngóng mãi mà vẫn không thể nào bật lửa để đốt hương được. May sao lúc ấy có một chú tiểu đi ngang. Thấy tôi chỉ có một tay chú dừng lại lễ phép:
    - Bác để con bật lửa cho. Chỉ nên thắp mỗi nơi một nén thôi bác ạ!
Tôi đưa bật lửa và cả bó hương to cho chú rồi rút lấy một nén. Ngọn lửa ga bùng lên tôi cúi xuống châm hương bỗng nghe chú thốt lên:
    - Ôi bác!
    Tôi ngạc nhiên nhìn chú. Trong ánh sáng dịu nhẹ của bóng đèn cao áp tôi nhận ra ở chú một gương mặt quen quen. Nhưng tôi vội xua cái ý nghĩ ấy đi vì thật ra lâu nay tôi đã được tiếp xúc với một chú tiểu nào đâu. Từ ngày ngôi cổ tự này được trùng tu tôn tạo lại và đón sư về trụ trì đây là lần đầu tôi lên chùa dâng hương. Em đã lầm tôi với ai đó chăng?
    Đợi tôi thắp hương xong chú tiểu lại nhỏ nhẹ hỏi tiếp:
    - Con xin lỗi. Bác có phải nhà là nhà văn…
    Tôi khấp khởi mừng vì không ngờ chốn cửa thiền cũng có người đọc và biết đến mình nên quay lại hỏi:
    - Em cũng đọc truyện của tôi rồi à?
    - Dạ… con chưa được đọc chuyện của bác. Nhưng con biết bác là nhà văn vì con đã được gặp bác hồi bác vào Nha Trang sáng tác.
Nha Trang! Cái tên nhắc tôi nhớ lại kỷ niệm một chuyến đi xa năm năm trước khi chúng tôi được Hội Văn nghệ tổ chức cho một trại viết mười ngày ở Nhà sáng tác Nha Trang. Nhưng tôi nhớ trong mười ngày ấy kể cả hôm đoàn lên thăm ngôi chùa có pho tượng phật nổi tiếng của thành phố tôi cũng đâu có được tiếp xúc hoặc trò chuyện với một chú tiểu nào. Điều lạ lùng là gương mặt này đúng là tôi cảm thấy rất quen và mang máng nhớ hình như mình đã gặp em ở thành phố ấy. Chú tiểu nói:
    - Chắc là lâu ngày nên bác đã quên rồi. Nhưng con thì con vẫn nhớ vì bác có đặc điểm rất dễ nhận là chỉ có một cánh tay. Lúc ấy con còn là một thằng bé đánh giày trông rất nhếch nhác. Bác đã ngồi hỏi chuyện con trong một quán cóc bên bờ biển ngay trước Nhà sáng tác Nha Trang.
    - A di đà phật! - Tôi thốt lên - Vậy thì bác nhớ ra rồi. Nhưng vì sao con lại xuống tóc đi tu? Con đến ở chùa này lâu chưa?
    - Dạ cũng hơn bốn năm rồi. Sau ngày các bác về Thanh mấy tháng thì con gặp sư thầy trên đường từ thành phố Hồ Chí Minh ra. Biết hoàn cảnh của con sư thầy đã đưa con về đây giúp việc quét dọn hương đèn và cho con được tiếp tục đi học. Năm nay con lên lớp chín. Con bị chậm mất một năm. Trong chùa này còn mấy anh em quê ở nhiều nơi khác nhau mỗi người một hoàn cảnh cũng đang được sư thầy cưu mang tạo điều kiện cho ăn học. Lớn nhất là con. ít tuổi nhất là em Bình năm nay mới lên lớp ba.
    - Hàng ngày ngoài chuyện học hành các con còn làm những chuyện gì?
    - Cũng không có việc gì nặng nhọc lắm. Lớn thì phụ giúp thầy hương đèn cơm nước chăm mấy luống hoa cây cảnh và vườn rau để có cái dùng hàng ngày. Nhỏ thì lo quét dọn trong ngoài sau trước. Bọn con chỉ bận mấy ngày cuối năm vì dịp này thầy cho gói rất nhiều bánh chưng để phân phát khắp các hộ nghèo của cả mấy xã trong vùng. Bận nhưng mà vui bác ạ!
    - Vậy à? - Tự nhiên tôi thấy mình rất muốn được ngồi nói chuyện với sư thầy nên hỏi - Giờ này sư thầy có bận không con?
    - Dạ thầy vẫn đang làm lễ trên điện. Chắc cũng phải nửa giờ nữa mới xong.
    - Vậy con giúp bác thắp hương khắp các ban thờ trong chùa rồi lát nữa đưa bác vào thăm để bác được nói chuyện với sư thầy một lúc.
Em vui vẻ nhận lời rồi vừa làm người hướng dẫn vừa giúp tôi đốt hương. Tôi chỉ phải làm mỗi động tác cắm hương vào bát rồi cúi đầu kính cẩn lạy các đấng thần linh. Câu chuyện về buổi gặp gỡ tình cờ với cậu bé đánh giày ở Nha Trang năm năm trước lần lượt trở về trong ký ức tôi…
    Hôm ấy tôi đang ngồi ngắm biển thì một cậu bé chừng mười mười một tuổi xách cái thùng đồ nghề đến rụt rè hỏi:
    "Bác ơi bác cho con đánh giày nhé!"
    Nó nói giọng Bắc cách phát âm nghe rất giống tiếng trẻ em mấy xã vùng biển Tĩnh Gia Hậu Lộc mà tôi từng có dịp ghé qua. Tôi nói:
"Giày của bác là loại giày hạng bét. Có cần phải đánh không cháu?"
    Nó cười nhẫn nại:
    "Bác cứ để con đi một lớp xi là nổi ngay thôi mà".
Thằng bé thật dễ thương. ánh mắt và giọng nói của nó làm tôi phải xiêu lòng. Nhưng bản chất vốn là một kẻ quê mùa việc mang giày với tôi đã là chuyện bất đắc dĩ còn đi giày được đánh xi đen bóng thì càng cảm thấy ngường ngượng thế nào nên tôi kiếm lý do từ chối khéo:
"Thế này nhé! Lát nữa bác còn phải vào xứ đạo Ba Làng chơi nên để lúc khác đánh một thể. Cháu ngồi uống với bác lon nước rồi xem ai cần thì đánh cho họ trước đi."- Tôi dúi vào tay nó tờ năm ngàn - "Chỗ tiền này cháu cầm lấy xem như cháu đã làm cho bác rồi! "
Nó tỏ ra thất vọng đưa trả tiền lại cho tôi và nói:
    "Bác không muốn đánh thì con đành phải đi chỗ khác vậy. Con cảm ơn bác."
"Kìa cháu!" - Tôi níu áo nó lại - "Thôi thế này. Cháu đánh đại đi cho bác cũng được."
    Nét mặt nó vụt tươi tỉnh trở lại. Nó đặt hòm đồ nghề xuống để đôi dép nhựa cạnh chân tôi rồi nhanh nhẹn tháo giày của tôi ra. Tôi bảo:
"Cháu uống lon nước đi đã. Thong thả mà làm." - Rồi tôi hỏi - "Cháu quê ở đâu? Bác nghe giọng cháu quen quá."
    Nó vừa lúi húi làm vừa trả lời:
    "Con ở Hậu Lộc Thanh Hóa."
    "Vậy à? Bác cũng là người Thanh Hóa đây! Các bác vào trong này làm việc mười ngày."- Vừa nói tôi vừa chỉ tay sang khu nhà sáng tác.
"Thế ạ!" - Nó ngước nhìn tôi bằng cả ánh mắt cảm phục - "Vậy ra bác là nhà văn?"
    Tôi hơi ngượng trước cái nhìn của nó:
"ừ nhưng là nhà cấp bốn! Bác chỉ viết được ít truyện cho thiếu nhi đọc thôi.         Thế cháu vào trong này lâu chưa? Cháu làm nghề đánh giày từ khi nào? Thu nhập có khá không?" Tôi đặt ra một loạt câu hỏi mà mình quan tâm. Nó trả lời:
"Con vào trong này được một năm rồi. Lúc đầu con đi rửa bát thuê. Con chỉ mới làm nghề này bảy tám tháng nay thôi. Mỗi ngày con kiếm cũng được hai ba chục ngàn".
    Tôi hỏi nó:
    - ở thành phố Thanh Hóa bây giờ cần đánh giày cũng nhiều sao cháu không ở ngoài ấy mà làm lại phải vào mãi trong này?
    Nó ngước nhìn tôi rồi lại nhìn ra biển giọng buồn buồn:
    "Không phải con vào trong này chỉ vì chuyện kiếm tiền. Con đi tìm xác bố con!"
    "Cháu nói cái gì?" - Tôi không tin ở tai mình nữa - "Bố cháu bị làm sao?"
"Bố con gặp nạn trên biển trong cơn bão số năm cùng con thuyền và bốn người khác. Con đã mất hơn một tháng lang thang khắp các làng chài ven biển mấy tỉnh miền Trung để hỏi thăm tung tích bố nhưng không có kết quả gì. Đến Nha Trang thì hết tiền con phải đi làm thuê để có cái sống. Rồi sau đó tình cờ con gặp được một anh người ngoài mình vào đây làm nghề đánh giày đã lâu anh ấy truyền nghề cho con tặng con bộ đồ này để con tự kiếm sống."
    Tôi nhìn nó ái ngại:
    "Cháu đi biệt tăm cả năm thế này không sợ mẹ ở nhà sẽ rất lo à?"
Câu hỏi của tôi vô tình khứa thêm vào một nỗi đau của nó. Nét mặt nó càng buồn hơn:
    "Mẹ con mất trước ngày bố con tử nạn hai năm rồi. Bây giờ con không còn ai thân thích nữa."
    Tôi không ngờ chuyện đời của em lại buồn đến vậy Giày em đã đánh xong mà tôi chẳng buồn xỏ chân vào. Lúc sau tôi hỏi:
"Vậy bây giờ cháu định thế nào? Có muốn về quê không? Nếu muốn chiều mai cháu quay lại đây bác nói với các bác ấy cho đi cùng."
"Con còn phải ở lại kiếm thêm ít tiền để lúc về có cái trả nợ. Trước khi đi con đã cắm sổ đỏ để vay tiền rồi"
    "Thế còn chuyện học hành?" - Tôi hỏi.
    "Việc ấy… đành gác lại thôi bác ạ!" - Nó đáp đôi mắt buồn buồn nhìn theo cánh diều bị đứt dây đang bay mất hút trên nền trời - "Nếu bố con không bị cơn bão cướp đi…"- Từ trong khóe mắt nó hai giọt nước trong suốt ứa ra lăn trên gò má xạm nắng.
    Hai hôm sau trại kết thúc. Chúng tôi lên xe trở ra Bắc.
Rồi tôi lại trở về với vùng quê tĩnh lặng và ngôi nhà nhỏ của mình. Những kỷ niệm đẹp về một thành phố biển theo thời gian cũng dần mờ phai nhưng câu chuyện buồn của cậu bé đánh giày thì vẫn cứ làm tôi băn khoăn mãi. Sau này mỗi lần nhớ lại tôi lại thấy lòng day dứt và luôn tự hỏi không biết giờ này em đang ở đâu.
    Tiếng tụng kinh niệm phật cùng tiếng nõ đều đều đột ngột dừng lại. Không gian trở nên yên tĩnh lạ thường. Tôi bước thêm một bước lên thềm để nhìn vào gian chính điện. Sư thầy làm lễ xong đã đứng dậy. Dưới ánh sáng những chùm đèn màu trong tấm áo cà sa trông người có dáng vẻ đạo mạo và nét mặt thật từ bi nhân hậu. Em bảo tôi:
    - Thầy con đã làm lễ xong rồi. Con mời bác vào nhà khách nghỉ để con đi thưa lại với thầy.
    Tôi giơ tay ngăn em lại:
    - Thôi con. Khuya rồi để thầy đi nghỉ kẻo mệt. Ngày mai bác lên thăm và nói chuyện với thầy cũng được.
    Những vị khách cuối cùng cũng đã ra về trả lại cho nhà chùa cái không gian tĩnh lặng của chốn cửa thiền giữa mùa báo hiếu. Các chú tiểu trong bộ áo nâu sồng nhanh nhẹn tỏa đi đóng cửa và làm mấy việc vặt. Lúc này tôi mới sực nhớ là mình còn quên chưa làm một việc mà mỗi người đi chùa nên làm tôi vội bảo em nói với hai chú tiểu đang chuẩn bị khiêng cái hòm công đức đặt giữa sân dừng lại tồi lấy tất cả số tiền tròng túi thả vào hi vọng những đồng tiền ít ỏi của mình sẽ góp một phàn nhỏ bé cùng nhà chùa làm thêm nhiều việc thiện.
                                                                               Đ.H.P


More...

Thơ

By Văn Nghệ Xứ Thanh


Văn Đắc


Biển cả



Biển:
- Ta có dám bỏ sông mà đi đâu. Dẫu đi mãi về những chân trời xa lạ nào thì sóng của ta cũng phải có bờ.
Sông:
- Ta ở mãi trong đất liền lắm khi thấy chật chội quen cũ đến lì cả hai vai lắm khi quẫy đập mà ra cùng biển cả. Trong biển có máu mặn của ta đấy.
Biển:
- Những cây buồm thả xuống từ rừng đã nói với ta. ở làng này có một thi sỹ đã thả ngôi nhà bằng ván sáu mặt khép kín đưa mẹ về Cõi trời nước. Ngôi nhà của mẹ nổi lên như một chiếc thuyền rồng. Chiếc thuyền thơ ấy dẫu đi đâu về đâu cũng không bỏ được ngọn nguồn - Đất Mẹ.


                                                                                         V.Đ

 



Từ Nguyên Tĩnh



Chiều I


Chiều
    Là chiều muộn
            Buồn
Nhà ở thành phố như chiếc gai
đâm
    Trong tầm mắt
Lòng ta kính trọng những người ở thành phố
Hàng trăm năm
Những đứa con
        ra đời
Trong những ngôi nhà tròn như ống tăm

Có lẽ ta
Là chàng nhà quê nhỏ bé
Nên chiều về
thấy cô đơn
Nhìn những ngôi nhà cao
Cao
Chóng mặt
Nghe những câu hát
Hát
Moi hết cả ruột gan
gặp những bộ mặt
Mặt
dửng dưng
trơ lì

Những khuôn mặt buồn
Buồn
Lầm lũi
Đi tìm những miếng ăn

Ta nhớ chiều xa
Xăm…
Cưỡi trâu về
Chiều
Nhuốm màu
        như vũng trâu đằm
Bạn bè lấm bùn như ta cả
Hát...
Hát câu hát nhăng cuội
Cuốn cả hoàng hôn của cánh đồng

                 2-8-2007
                   T.N.T




Nguyễn Ngọc Quế


Tìm ngọc ở hợp phố


                   Tặng Ô Thận Ô Phú


Ta một mình về Hợp Phố
Biển bắc đây Khâm Châu đây
Lớp lớp trùng khơi sóng vỗ
Phương nam là nhà ta

Có phải xưa cha ông đến đây xăm mình mò ngọc
Mò ngọc một đời hóa cá hóa sam
Hóa câu thơ "Châu về Hợp phố…"
Nước mắt còn trắng xóa sóng cồn.

Chim bay núi bắc cá lội bể nam
Thương người bạc tóc đi sứ
Ta vốc nắm cát trắng tinh bên bờ Bắc Hải
Nghe ngọc đang rũa mài trong ào ạt sóng xô

Xa em nhiều tầng núi nhiều tầng mây
Biển ồn ã ta cô đơn đến vậy
Nhà chọc trời và siêu thị dăng đầy
Nam ngọc bày bán nhiều như muối

óng ánh nghìn dây đâu là ngọc?
Ta lầm lũi giữa dòng người sành điệu Trung Hoa
Trời nam hỡi! Nhớ quê nghèo ứa nước mắt
Sao nỡ bỏ em ở nhà đi tìm ngọc phương nao!

                       Bắc Hải 20-7-2007
                                 N.N.Q





Lã Hoan



Thơ vui bất chợt


Xe nặng nhọc trườn lên đỉnh dốc
Nặng nhọc trườn qua những ổ gà
Đến trời đất cũng còn nghiêng lệch
Nữa là em nữa là ta!

Cây trinh nữ bên đường ngơ ngác nhìn ra
Như muốn hỏi điều không thể hỏi
Ta muốn nói điều không thể nói
Lam lũ một đời nghiêng lệch chút hề chi
Và con đường cứ mãi hút ta đi!


                         L.H

 




Lê Hai


Bài thơ giải nhất


Những trận bóng đá làm say mê đảo điên cả triệu người
Ngôi sao sân cỏ thuộc về những đôi chân lắt léo

Cả triệu người hoang mang trước võ đài thách đấu
Giải nhất thuộc về người nào đấm được nhiều quả
vào mặt nhau
Những thân hình thiếu nữ non tơ mỡ màng trình
làng mỗi lần thi hoa hậu
Vương niệm thuộc về người nào làm cho nhiều kẻ
thèm khát được trao

Những người hay buồn tổ chức thi làm thơ
Các trang báo cuồng lên hối hả
Mỗi trang giấy thêm ngôn từ mới lạ
Có câu thơ ngùn ngụt bốc lửa
Có câu thơ tí tách giọt buồn
Trăm tác giả có thơ in lên
Trăm trái tim người dự thi thắc thỏm…

Còn anh chỉ mong đến ngày em hẹn
Để môi mình được run lên mắt em
Một bài thơ không âm vang
Không đăng báo chỉ mình em đọc
Bài thơ trong mắt em là giải nhất

Giám khảo một người
Giải nhất một người trao
                      6-2007
                  L.H
                     



Phạm Văn Sĩ



Huyền thoại hoa cỏ may




Không vô tình hoa cỏ may
Hóa từ lông ngỗng trở đầy đồi hoang
Tìm nhau nơi mất tích đường
Bên xanh cỏ bên đại dương sóng cồn
Tay giơ chẳng hóa cánh buồm
Hài mang chẳng hóa mảng thuyền vượt khơi
Lời kêu không cánh chơi vơi!
Duyên chi cắc cớ chân trời tìm nhau!
Tình chi Trọng Thủy Mỵ Châu?
Nước non ai quẩy qua cầu đánh rơi?
Chuyện xưa cũ mấy người ơi
Mà lông ngỗng vẫn đầy trời bay bay
Đậu rồi vụt hóa cỏ may.
Nở bông huyền thoại kín dày thời gian

                   Tháng 2-2000
                  P.V.S






Phạm Khang


Gam màu



Phong tình lênh đênh
Gam màu không chờ được nữa
Họa sĩ tìm không gian cho nhân vật của mình
Nhân vật của tài năng và định mệnh
Một nhân vật lớn vượt qua mọi giới hạn của kích cỡ

Thế gian này vốn quá nhiều màu sắc
Chúng cãi lộn và đấu đá nhau nhiều khi họa sĩ buông
 xuôi bất lực
Thế giới đa đoan những ngả đường nghệ thuật
Tả chân siêu thực
Tranh vỉa hè như bướm bay xao xác
Đâu là hoàng hôn của nghệ thuật
Đâu là bình minh của tương lai
Đâu là màu sắc tối ưu cho nhân vật dừng chân trú ngụ
Sẽ chẳng ra gì nếu như bỏ quên cuộc sống có
khuôn mặt vừa trắng lại vừa đen
Nơi hạnh phúc và cạm bẫy chỉ là một cái mặt nạ rẻ tiền
Ranh giới mỏng manh ủ mầm cho cái thiện bật khóc
Phiêu diêu linh hồn nhân vật trong từng khời khắc
 của khuôn tranh

Họa sĩ cuối cùng cũng được giải thoát
Khi nhân vật mỉm cười đối thoại một cách
sòng phẳng với hiện thực



Ly khai gam màu của thứ nghệ thuật cặn bã
Ly khai cái nhìn một chiều cải lương giáo điều thiên vị
Bức tranh trở về nơi chính nó được thai nghén và sinh ra
Một dòng sông xanh
Một con đò nhỏ
Một cánh cò bay đỏ ráng chiều!
                             11-2006
                                 P.K



Lê Đăng Sơn


Tìm hương



Đi tìm hương của đất
Gặp sắc biếc ngút xanh
Nhựa sống trào ngây ngất
Hoa thơm trái ngọt lành

Đi tìm hương non xanh
Gặp núi rừng lộc biếc
Tiếng chim chiều da diết
Gặp hương rừng đắm sâu

Vượt đèo cao suối sâu
Đi tìm hương của đất
Chỉ màu xanh chân chất
Nói bao điều yêu thương…
            L.Đ.S




Nguyễn Xuân Nha



Kỷ niệm tìm về



Rời bỏ gốc bàng chờ đợi
Rời bỏ thời con gái nhiều mơ mộng
Em biền biệt theo chồng
Quán nước nhỏ ngày nào dưới tán bàng giờ không
còn nữa.

Có những bí mật không bao giờ được nói ra
Chỉ anh cùng em thấu hiểu
Là ánh mắt nụ cười nhớ nhung em trao anh lặng lẽ
Và anh âm thầm đón nhận
Âm thầm hạnh phúc
Thứ hạnh phúc thiêng liêng chớm nở của tình yêu.
Có những bí mật không bao giờ được nói ra
Có ngày vui không trở lại
Chân trời em đi giờ xa lắc
Mà anh chẳng thể đi tìm…

                Tháng 12-2006
                 N.X.N





Đào Phụng



Thi nhân



             Tặng Trịnh Thanh Sơn




Cạn chiều "rót biển vào chai" (*)
Đối đầu với cõi xưa nay "tuổi trời"

Như men như muối như chơi
Hóa thơ cả chỗ rượu ngồi sủi tăm

Còn nồng còn ấm tri ân
Xác xao đã vội thi nhân tạ từ.

Người như tằm nhả hết tơ
Thì yên bầu rượu túi thơ mà thiền!

                     Thanh Hóa ngày 25-8-2007
                                      Đ.P


(*) ý một câu thơ của Trịnh Thanh Sơn





Lâm Bằng



Thuyết giả



        Nhân nghe đài Truyền hình đưa tin về
           hiện tượng truyền đạo trái phép.



Thánh đường bọc nhung
Uy nghi vương giả
Giao thoa ý nghĩ không bảo hành.

Kẻ cuồng tín thuyết phục vành tai
Lời réo rắt nhởn nhơ tà lý
Ngôn ngữ lên đồng…

Đồ tể mổ xẻ Đức tin
Chợ trời nhan nhản
Đức tin bày sàng héo úa.

Bội thực những cám dỗ trực quan
Ngôn ngữ đầu thai nhầm chỗ
Ngồn ngộn ngồn ngộn mâm son…
Sai khẩu vị.

Tư duy lổn nhổn
Lời mạ kền
Thực đơn quên dấu phẩy.

Thuật ngữ triết học
Thuật ngữ siêu hình
Sự thăng hoa của cơm canh và bia bọt.


Giá có trường dạy khôn ngoan cho màng nhĩ
Giá có kỹ thuật phanh phui ý nghĩ
Giá có kính chiếu yêu
Giảng giả còn dám đăng đàn ?…
                
                                21-10-2006
                                      L.B


 

Trịnh Minh Châu


Nắng hạ



Ngẩn ngơ bước xuống cầu thang
Tình cờ gặp phải cô nàng xinh tươi
Long lanh ánh mắt đang cười
Lời nghe dịu ngọt như lời ai quen

Bồi hồi thức dậy trong tim
Tưởng băng giá cả một miền xa xôi
Gió lào trưa hạ nắng nôi
Sao mùa thu tới mưa rơi tận lòng

Ơi em cô gái má hồng
Xinh tươi thế đã có chồng hay chưa
Lời chưa gửi mắt chưa đưa
Cầu thang thì ngắn khổ chưa hỡi người…

Chung chiêng đất chung chiêng trời
Trái tim thức dậy một thời non tơ.

                Hè 2007
                 T.M.C


More...

PHÊ BÌNH-LY LUÂN

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Đọc “Bản Thảo 1”

nghĩ về một giọng điệu thơ riêng

                                  
                                                   Mạnh Lê


    Tập thơ bản thảo 1 (*) của nhà văn Từ Nguyên Tĩnh bao gồm 67 bài thơ được xuất bản vào tháng 7-2007. Nếu tính thời gian làm thơ từ bài thơ đầu tay xuất hiện năm 1967 cho đến nay tác giả đã có 40 năm gắn bó với thơ mặc dù trước khi xuất bản tập thơ này tác giả đã cho ra mắt bạn đọc hàng 7 tập truyện ngắn và 4 tiểu thuyết. Vậy đây là thơ của một nhà văn làm thơ và tập thơ này mới là Bản thảo 1 thì chắc chắn tác giả sẽ còn xuất bản tiếp bản thảo 2 3… nữa.
    Cũng là cách cảm cách nghĩ về cuộc sống song ở khoảng cách thời gian cách xa nhau nên cách cảm cách nghĩ cũng khác xa nhau. Đây là hình ảnh đàn gà ở một trận địa pháo ngày chiến tranh tàn phá của giặc Mỹ ngay sau khi trận đánh vừa kết thúc: Lũ gà gọi nhau ra ngay/Gà giò tìm hoa mào gà để chọi/Gà nhép tìm mẹ để nói/Gà mẹ dẫn đàn con mới nở đi ra/Gà trống cất cao tiếng gáy/Th...ắng...l...ợi...r...ồ...i... (Đàn gà khẩu đội) và đây là hình ảnh con trâu kéo cày trong tâm tưởng của tác giả: Mày đi/Ngạo nghễ đường cày/Cày đi/Cày đi/Như là số kiếp/Mày là ai trong cõi luân hồi?/Ôi! con trâu ta hỏi?/ Sao mày lắc đầu/Mày là nhà hiền triết của loài trâu. (Nói chuyện với con trâu). Cách cảm nghĩ mang màu sắc triết lý dần thay thế cách miêu tả xúc cảm bằng  hình ảnh. Điểm giống nhau ở các bài thơ sáng tác ở các thời điểm cách xa nhau này là ở giọng điệu. Hầu hết các bài thơ trong tập không viết theo các thể thơ truyền thống mà chủ yếu viết theo thể thơ tự do không phụ thuộc vào âm nhịp vần luật...song đọc lên vẫn có âm điệu riêng bởi cách ngắt câu vẫn dựa vào chủ định bộc lộ tứ thơ và cảm xúc. Đây là một cách tác giả nói về lao động sáng tác của mình: Tôi một người cày cuốc trên trang giấy/Đen và trắng thô và mịn màng/Từng nín thở chờ đợi người nhận bài ghi vào sổ tên mình/Tôi từng chờ đợi và chờ đợi/Tên mình được trương lên tờ báo tinh khôi/Nhưng nhiều lần thất vọng/vì tên mình không đến được chân trời...(Bản thảo). Có thể coi 67 bài thơ là 67 lời tâm sự và cái hay của thơ Từ Nguyên Tĩnh lại nằm ở chỗ tác giả đã thể hiện được những lời tâm sự ấy bằng một giọng điệu riêng.
    Tác giả định danh tất cả các sự vật mà mình nói tới. Tất cả các sự vật định danh đó là nhữnh hình tượng trữ tình là những cá tính đời sống mà bản thân tác giả có sự đồng điệu và cảm thông. Dù viết về những đấng cao siêu như Phật nghìn mắt nghìn tay Tản Viên Sơn... đến những người có quan hệ ràng buộc máu thịt như cha mẹ chú bác vợ con.. cho đến những thân phận thấp hèn như Làm đĩ người đàn bà không chồng nói chuyện với con trâu... tác giả luôn có thái độ trân trọng yêu thương và cảm thông sâu sắc. Cái hay của thơ Từ Nguyên Tĩnh chính là tình cảm chân thành nhân hậu là thái độ quan tâm cứu rỗi linh hồn: Phật ngàn mắt ngàn tay ngàn khối óc/Hiểu hết thảy mọi điều/ Phật và người không con cách biệt/ Có và không. (Phật ngàn mắt ngàn tay).Thân phận những cô gái mà cha mẹ nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa phải rời quê đi làm đĩ bỡi: Cô là câu hát cũ/Mà loài người mang theo.(Làm đĩ). Trong những lời tâm sự của tác giả về con người tác giả luôn chú ý tới cá tính đời sống tức là cái bản ngã. Chính vì lẽ đó mà hình tượng thơ gợi cảm và chân thực: Cha tôi một cút rượu/Ngồi làm bạn đêm thâu/Đời tố ông/Tội chửi vợ mắng con/Làm cả làng mất ngủ/Cá bạc hết cả gia tài/ Ra đi/Để lại vợ con trắng tay/Thiên hạ bảo: may!/Con bạc bảo: Sướng! (Cha). Đọc đoạn thơ này bạn đọc nhận ra ngay cái cách kể cách tả của tác giả rất khác so với cách kể cách tả của những giọng điệu thơ khác. Mỗi câu thơ như một lời nói có đủ kết cấu chủ vị thể hiện tròn vẹn một trạng thái xúc cảm mặc dù có nhiều câu đặc biệt(Câu chỉ có một từ). Cách tạo câu phóng khoáng này giúp tác giả chọn được những từ thể hiện được đặc trưng sắc thái biểu cảm mà vẫn gần gụi với ngôn ngữ đời sống. Chính sự lặp đi lặp lại một lối viết đã tạo nên một giọng điệu thơ riêng biệt độc đáo. Đó là một giọng điệu thơ góc cạnh tự nhiên đậm chất tự sự nhưng vẫn trữ tình sâu lắng.
    Đọc Bản thảo 1 thấy rõ dấu ấn sáng tạo để tạo ra bản thảo của một nhà thơ. Nhiều bài thơ được viết theo cách luận đề. ở những bài thơ này kết cấu tự sự là những câu chuyện có cốt truyện. Bài thơ Từ bi chú tiểu du chuông nghe thấy tiếng chuông ngày hôm nay vang hơn ngày hôm qua nhà sư giải thích rằng lòng từ bi của chú tiểu hôm nay nhiều hơn hôm qua. Nhà sư du chuông một lần ngàn lần và chuông kêu Từ bi. Cái triết lý sâu xa của của bài thơ nằm ở ý nghĩa của câu chuyện. Thời chiến tranh bữa cơm người lính sắp bát theo hình vòng tròn. Bát của người lính sau trận đánh không trở về để lại là chiếc bát thừa. Ta gặp ở tình xóm nhỏ câu chuyện cảm động của ông già mang cả mấy gian nhà ra lát đường để thông đường cho xe ra mặt trận và ông mang cả món cuối cùng ra lát đường là cỗ quan tài với câu nói thật hóm hỉnh: “Vô lý chưa “áo” của tui mà tui đang còn!”. Đọc xong những bài thơ này tự dưng bạn đọc ứa nước mắt.
    Cái cách luận đề của tác giả hồn nhiên mà sâu sắc. Viết về nông dân: Mùi mồ hôi chua/áo xống cũng chua/hương/vị/ấy/theo/mùa/nông/dân/… Mùi phân trâu/khăm khẳm/nên dần thành hương. (Nông dân). Tác giả định nghĩa về mình: Còn tôi/cọng rơm rác rụng rơi/Cha mẹ mất cả rồi/Không ai nhớ nổi ngày tháng/đành phó thác cho nhà điêu khắc chán đời/nhằm lúc không vừa ý/đẽo ra tôi (Gửi nhà điêu khắc). Với quan niệm nhà văn phải có cá tính và giải thích: Lầm Lỗi này là do người thợ/muốn đẽo tôi theo ý thích của mỗi người/Không ai chịu thua ai/nên tôi thành tôi thôi/. (Lỗi lầm do người thợ). Cảm và nghĩ là hai mặt của tư duy sáng tác thơ song cá tính sáng tạo ở mỗi nhà văn là mức độ của mỗi mặt tư duy đó chính vì vậy mà hiệu quả tác động thẫm mỹ tới bạn đọc cũng khác nhau. Thơ Từ Nguyên Tĩnh nghiêng về nghĩ nhiều hơn cảm nên thơ đậm đặc màu sắc triết lý hơn gợi cảm.
    Tất cả những nét riêng đó của Bản Thảo 1 đã khắc họa rõ dần một cá tính thơ: cần cù nhẫn nại làm mới mình trên từng con chữ. Đó là một lao động Bản thảo có chính kiến riêng của người viết. Không đi lại những lối mòn đã cũ tự mình tìm đến một cách nói riêng không lẫn với người khác.
    Gấp lại Bản thảo 1 còn lại trong lòng bạn đọc một âm điệu trầm buồn day dứt về những ám ảnh suy tư về mình về người không phải bằng cảm quan hiện thực mà bằng ý thức trải nghiệm cuộc sống của nhà văn. Bạn đọc có thể coi đây là những chuẩn bị ban đầu để khẳng định một giọng điệu thơ một cá tính thơ riêng.
                                                                       Hàm Rồng tháng 8-2007
                                                                                       M.L


(*) Bản thảo thơ Từ Nguyên Tĩnh Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2007.

More...

Nghiên cứu-phê bình

By Văn Nghệ Xứ Thanh

Cầm Giang nhà thơ tự giấu mình


                                                     Mai Ngọc Thanh


    Tôi nhớ gần trưa một ngày cuối tháng 4 năm 1965 một người trạc tuổi tôi đi xe đạp tới gặp nhà văn Nguyễn Thế Phương và tôi lúc này đã ở nơi sơ tán là làng Vạn Lộc xã Đông Ninh huyện Đông Sơn.
    Anh tự giới thiệu mình là Cầm Giang công tác ở Tây Bắc: "Nghe tin tỉnh nhà có tạp chí Người bạn Văn hóa tôi rất mừng. Trước là thăm các anh nhân thể gửi các anh bài thơ vừa làm khi tôi đưa vợ mới cưới về thăm quê". Bài thơ có tên Nguyệt Viên tên làng anh chỉ cách cầu Hàm Rồng một ki lô mét. Sau đó bài thơ đã in trong Người bạn Văn hóa số 5 năm 1965.
    Lâu nay tôi chỉ biết Cầm Giang qua đọc bài thơ mang nhịp điệu hào sảng như một tráng ca của anh Núi mường Hung - Dòng sông Mã…
    Khi chuẩn bị cho Người bạn Văn hóa ra số đầu tiên một ý tưởng đã thành chủ trương là ngoài việc giới thiệu sáng tác của các cây bút tại chỗ là chính giành một số trang nhất định giới thiệu sáng tác của các cây bút là người Thanh Hóa đang sống ở các địa phương khác. Kể cả những cây bút tuy không phải quê quán Thanh Hóa nhưng có sáng tác tốt về Thanh Hóa. Thế là bài thơ đã được in trong tạp chí số đầu tiên. Sau này qua những tập thơ tuyển thơ do Hội Văn nghệ Thanh Hóa ấn hành bài thơ lại được giới thiệu. Và rất lâu sau nữa năm 1992 Tuyển tập thơ khổ lớn "Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng 8" của Nhà xuất bản Văn học với tên Thơ lại thấy bài thơ được in ở đây. Việc bài thơ được in đi in lại nhiều lần chứng tỏ sức sống của nó trong thời gian và trong người đọc. Và không nghi ngờ khi nói Núi mường Hung - Dòng sông Mã là một trong những bài thơ hay của thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp.
Đã được đọc thơ - thơ hay giờ lại được gặp người của thơ ấy thì niềm vui lớn hơn bội phần.
    Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên và cũng là duy nhất này tôi chỉ chăm nhằm cho anh biết một sự thật: "Hai bài thơ nổi tiếng Nhớ vợ và Em tắm có phải là của anh không? Một số nhà thơ thời chống Pháp nói như đóng đinh rằng của anh chứ ở Tây Bắc thời ấy làm gì có ai là Cầm Vĩnh Ui và Bạc Văn ùi làm thơ viết văn làm được những vần thơ kỳ lạ đến thế". Suốt cả cuộc nói chuyện anh chỉ một lời: "Chả phải đâu. Các anh chưa tìm được tác giả nên nói đoán vậy thôi."
Vậy là hơn 50 năm rồi ẩn số của hai bài thơ bất hủ đó vẫn chưa ai giải được. Qua các tuyển thơ sáng tác với Cầm Giang người đọc chỉ gặp lại mỗt một bài Núi mường Hung - Dòng sông Mã còn bài Nguyệt Viên thì chỉ được in một lần ở Thanh Hóa. Ngoài ra những bài Người con gái Châu Yên (ghi là dịch của dân tộc Thái); Nấm mộ bên đường (ghi là dịch của dân tộc Thái); Giải phóng quê em (ghi là dịch của dân tộc Khạ); Thương anh du kích bản Mo (ghi là dịch của dân tộc Puộc); Dặn con (ghi là dịch của dân tộc Xá). Tất cả 5 bài thơ này đều là đề tài hiện đại. Thì có lý do nào lại là thơ của cả một tập thể tác giả - dân gian.
    Như vậy Cầm Giang chỉ có một bài thơ sáng tác và 5 bài thơ dịch thuật. Còn Nhớ vợ và Em tắm thì chưa thể khẳng định là của Cầm Giang.
Trong những năm công tác ở Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa tôi có gặp nhà văn Mạc Phi đôi ba lần khi ra họp ở Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Mạc Phi là người miền xuôi nhưng sống và công tác ở Tây Bắc cho tới ngày về hưu. Hỏi anh về tác giả của Nhớ vợ và Em tắm thì anh nói liền: "Tây Bắc thì có mấy người viết mà đến nỗi không biết nhau. Nhất nữa lại là người viết ra những bài "kỳ thi" khiến người ta phải giật mình. Của Cầm Giang đó nhưng anh ta giấu tên thật. Và sự suy luận của anh Mạc Phi cũng rất giống sự phán đoán của anh Nguyễn Thế Phương và tôi sau buổi gặp Cầm Giang tháng 4 năm 1965; Những cấm kỵ trong văn chương khiến Cầm Giang phải giữ mình chứ. Công khai tên thật ra với hai bài thơ như thế giữa lúc đang đánh giặc thì chắc sẽ ăn đòn. Màu tím hoa sim của Hữu Loan đó có được in ra đâu mặc dầu nhiều người truyền nhau đọc đến thuộc lòng.
    Rồi nữa trong chuyến thăm Trung Quốc của đoàn nhà văn Việt Nam tháng 9 năm 2003 có nhà thơ Vương Trung người dân tộc Thái ở Sơn La. Cả đời nhà thơ này chỉ sống tại quê hương mình. Tôi hỏi anh tỉ mỉ về Cầm Giang về Nhớ vợ và Em tắm về 5 bài thơ ghi là dịch. Thì câu trả lời của anh cũng tương tự như nhà văn Mạc Phi: "Của anh ta đó mà! Bọn tôi đã tìm hoài nhưng Tây Bắc không có cây bút nào thì tài hoa đến thế mới có tên là Cầm Vĩnh Ui và Bạc Văn ùi. Ông Hoàng Quảng Uyên (nhà nghiên cứu văn học các dân tộc miền núi) cũng đã nói thế." Vương Trung cũng cho rằng Cầm Giang mượn tên khác vì sợ. Đang lúc cần thanh niên ra trận mà lại làm thơ Nhớ vợ lại xin chỉ huy Về ôm vợ hai đêm để khi trở lại đơn vị thì Tôi càng bắn đúng Tây / Vì tay có hơi vợ. Lại còn thế này nữa nếu được cấp trên tặng cái bằng khen Tôi sẽ rọc đôi liền / Gửi cho vợ một nửa. Và bài Em tắm. Tuy có nhẹ cân hơn Nhớ vợ nhưng rất là gợi: Cái cảnh Da của em trắng ngần / Là của anh tất cả / Không phải người xa lạ / Việc gì mà trộm xem. Thời buổi bao nhiêu thanh niên đàn ông chưa có hay đã có vợ đang sống mái với quân thù ngoài mặt trận mà thơ thế ấy sẽ bị qui là phản động đấy chứ.
    Nhớ vợ và Em tắm thì là một lẽ. Thế 5 bài thơ ghi là dịch thì sao? Một số nhà thơ nhà văn cũng cho là Cầm Giang tự giấu mình thôi. Cũng giống trường hợp nhà thơ Ngọc Anh thời đánh Mỹ ở Tây Nguyên với bài Bóng cây Kơnia đã ghi là phỏng dịch của dân tộc Hơ rê.
Trong nhiều năm độc giả cứ tưởng anh là người dân tộc Thái vì cái tên Cầm Giang. Anh sinh ra ở làng Nguyệt Viên nay là xã Hoằng Quang huyện Hoằng Hóa Thanh Hóa. Vốn có tên là Đỗ Gia Hợp. Sau khi đỗ Primaire (tiểu học) Đỗ Gia Hợp mới 14 tuổi dời quê ra Hà Nội tìm việc làm kiếm sống thì gặp được một người tên Lương Hữu Ca quê trên huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc nhận làm con nuôi. Bốn năm sau tròn 18 tuổi vào bộ đội lấy theo họ bố nuôi và đổi tên thành Cầm Giang. Địa bàn chiến đấu của anh trong thời kỳ chống Pháp chủ yếu là miền Tây Bắc nên sau chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954 anh ở lại luôn đây hoạt động văn hóa văn nghệ. Nên chi anh là bạn rất quen thuộc với các nhà văn nhà thơ Mạc Phi Lương Qui Nhân Vương Trung Hoàng Quảng Uyên…
    Cầm Giang tự giấu mình cho tới lúc qua đời cũng không hề cải chính một điều gì. Anh qua đời ngày 26-5-1989 tại xã Vĩnh Thịnh huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc quê của bố nuôi và cũng là quê của người vợ thứ ba. Anh có cuộc sống riêng không được suôn sẻ. Người vợ đầu do cha mẹ cưới cho lúc 13 tuổi chẳng bao lâu anh phải chia tay trước ngày ra Hà Nội. Người vợ thứ hai thì chết vì bệnh tật. Những người thân thích ruột thịt của anh từ năm 1989 đến giờ cũng chưa từng hé lộ chút nào trong cuộc đời sáng tác của anh. Có ai trong số họ đã găm giữ bí mật ấy của Cầm Giang không? Hơn năm chục năm đã qua chẳng thấy ai là Cầm Vĩnh Ui và Bạc Văn ùi hoặc hậu duệ của họ xuất hiện để nhận bản quyền mặc dầu không ít báo chí tuyển tập in đi in lại nhiều lần Nhớ vợ và Em tắm. Có thể lý giải thế này chăng. ấy là một cách tự quên mình rất cao thượng. Miễn là thơ đạt được mục đích nhân văn còn cái tên tác giả thì có quan trọng gì. Cả ở 5 bài anh chỉ ghi nhận là mình dịch cũng biểu hiện một nhân cách đẹp như vậy.
    Song với Núi mường Hung - Dòng sông Mã và 5 bài thơ dịch thì Cầm Giang cũng đã là nhà thơ xứng đáng được tôn vinh và mãi mãi còn trong nền thơ ca Việt Nam (*).
                                                                                      2-2007
                                                                                       M.N.T



 (*) Theo nhà thơ Nguyễn Bao thì Cầm Giang cũng là người được mời dự Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957

More...